Một thời để Người Kitô hữu nhập thế

Một thời để Người Kitô hữu nhập thế

Bài của Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI
Đan Quang Tâm dịch
Giáng sinh là một thời gian vui vẻ hân hoan và một dịp để suy tư sâu sắc, Đức
giáo hoàng Bênêđictô XVI nói
“Của Xêda, trả về Xêda; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa” là câu trả lời của
Đức Giêsu khi được hỏi về việc đóng thuế. Dĩ nhiên, những kẻ hỏi Người đang gài
bẫy Người. Họ muốn buộc Người phải đứng về phía nào trong cuộc tranh luận chính
trị nảy lửa về việc cai trị của Rôma tại đất nước Israel. Cái bẫy nằm ở chỗ
này: Nếu Đức Giêsu quả thực là Đấng Mêsia được mong đợi từ lâu, thì Người chắc
chắn sẽ chống lại những kẻ thống trị Rôma. Cho nên câu hỏi đã được suy tính
nhằm làm cho Đức Giêsu phải lộ diện như một mối đe dọa đối với chế độ hoặc như
một kẻ lừa đảo.
Câu trả lời của Đức Giêsu khéo léo chuyển cuộc tranh luận lên một bình diện cao
hơn, nhẹ nhàng khuyến cáo đừng có chính trị hóa tôn giáo lẫn thần thánh hóa quyền lực nhất thời, để mà mê mải tìm kiếm của cải.
Những kẻ đang nghe Người nói cần được nhắc nhở rằng Đấng Mêsia không phải là Xêda, và Xêda không phải là Thiên Chúa. Vương quốc mà Đức Giêsu đã đến để thiết lập thuộc về một lĩnh vực hoàn toàn cao hơn. Như Người đã bảo Phongxiô Philatô: “Nước tôi không thuộc về thế gian này”.
Những câu truyện Giáng sinh trong Tân ước nhằm chuyển tải một sứ điệp tương tự.
Đức Giêsu sinh vào thời có chiếu chỉ “kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ”
của Xêda Augúttô, vị hoàng đế nổi tiếng với việc mang Pax Romana (nền hòa bình
của đế quốc Rôma – người dịch) đến các vùng đất dưới quyền thống trị Rôma. Thế
nhưng, hài nhi này, được sinh ra ở một góc hẻo lánh và xa xôi của đế quốc, sẽ
cống hiến cho thế giới một nền hòa bình lớn lao hơn nhiều, có phạm vi thực sự
mang tính hoàn vũ và vượt trên mọi giới hạn về không gian và thời gian.
Đức Giêsu được trình bày với chúng ta như người thừa kế của Vua Đavít, thế
nhưng sự giải thoát mà Người mang lại cho dân Người lại không phải về việc đánh
đuổi quân thù; sự giải thoát của Người là về việc chiến thắng vĩnh viễn tội lỗi
và sự chết.
Việc Đức Kiô giáng sinh thách thức ta đánh giá lại các ưu tiên của ta, các giá trị của ta, chính cách sống của ta. Hiển nhiên Giáng sinh là một khoảng thời gian để ta vui vẻ hân hoan, nhưng đó cũng là một dịp để ta suy tư sâu sắc, thậm chí để ta vấn tâm xét mình. Vào cuối một năm rất khó khăn về kinh tế đối với nhiều người, ta có thể học được gì từ cảnh khiêm hạ, nghèo khó, đơn sơ của hang Bêlem?
Giáng sinh có thể là thời gian để ta học đọc Tin Mừng, học biết Đức Giêsu không
những chỉ là hài nhi nơi máng cỏ, mà còn là  hài nhi trong đó ta nhận ra Thiên Chúa đã làm người. Chính nơi Tin Mừng các Kitô hữu tìm thấy nguồn linh hứng cho cuộc sống hàng ngày của mình và tham gia các việc trần thế – cho dù tại Quốc hội hay thị trường chứng khoán. Người Kitô hữu không được xuất thế xa lánh thế gian; họ cần nhập thế. Thế nhưng việc họ tham gia chính trị và kinh tế cần phải vượt lên trên mọi hình thái ý thức hệ.
Người Kitô hữu đấu tranh chống nghèo đói, xuất phát từ sự nhìn nhận phẩm giá
tối cao của mỗi con người, được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa và được dành
ban cho sự sống đời đời. Họ cộng tác nhằm chia sẻ công bằng hơn các tài nguyên
của trái đất, xuất phát từ niềm tin rằng – với tư cách người quản lý các tạo thành của Thiên Chúa – chúng ta có nhiệm vụ chăm sóc những người yếu nhất và dễ bị thương tổn nhất. Các Kitô hữu chống lại sự tham lam và bóc lột, xuất phát từ niềm xác tín rằng sống quảng đại và yêu thương vô vị kỷ, như Đức Giêsu Thành Nazareth đã dạy và đã sống, là con đường dẫn đến sự sống viên mãn. Niềm tin vào vận mệnh siêu việt của mỗi người khiến cho công tác cổ vũ hòa bình và công lý cho mọi người trở nên khẩn cấp.
Vì các mục tiêu này được biết bao người chia sẻ, nên việc hợp tác sinh hoa kết
quả giữa các Kitô hữu và những người khác là điều có thể thực hiện được. Thế
nhưng người Kitô hữu chỉ trả lại cho Xêda những gì thuộc về Xêda, chứ không
phải những gì thuộc về Thiên Chúa. Trong lịch sử, đôi khi người Kitô hữu không
thể tuân thủ những đòi hỏi của Xêda. Từ thói tôn thờ hoàng đế thời cổ đại Rôma
đến những chế độ toàn trị trong thế kỷ qua, các Xêda đã cố chiếm đoạt vị trí
của Thiên Chúa.
Khi người Kitô hữu từ chối cúi mình trước các thần ngụy tạo được đề xuất thời nay, thì điều đó không xuất phát từ một thế giới quan cũ mèm. Sở dĩ như vậy là vì họ hoàn toàn tự do thoát khỏi những kiềm tỏa của ý thức hệ, và được linh hứng bởi tầm nhìn về vận mệnh con người, cao quý đến nỗi họ không thể nào thỏa hiệp với bất kỳ điều gì đe dọa tầm nhìn đó.
Tại Ý, người ta dựng nhiều cảnh hang Bêlem nổi bật trước hậu cảnh các phế tích
dinh thự Rôma thời cổ đại. Điều này cho thấy sự ra đời của hài nhi Giêsu đã
đánh dấu sự kết thúc trật tự cũ, thế giới ngoại giáo, trong đó các yêu cầu của
Xêda hầu như không thể tranh cãi được. Bây giờ đã có một vì vua mới, vị vua này không cậy vào sức mạnh của vũ khí, nhưng dựa vào sức mạnh của tình yêu.
Người mang hy vọng đến cho tất cả những ai, cũng giống như Người, đang sống bên
lề xã hội. Người mang hy vọng đến cho tất cả những người dễ bị thương tổn trước
các biến động kinh tế của một thế giới bấp bênh. Từ máng cỏ, Đức Kitô kêu gọi chúng ta hãy sống như những công dân của nước trời do Người lập, một vương quốc mà tất cả các người thiện chí đều có thể góp phần xây dựng tại đây, trên trái đất.
Tác giả là Giám mục Rôma và tác giả “Đức Jesus Thành Nazareth:  Các Trình
Thuật Thời Thơ Ấu”
Đan Quang Tâm dịch

TRUNG THÀNH VÀ CHÂN THẬT

TRUNG THÀNH VÀ CHÂN THẬT

Tác giả: Sr. Minh Nguyệt

nguồn:thanhlinh.net

… Cách đây vài năm, vào dịp Lễ Giáng Sinh, tờ ”Ecco tua Madre – Đây là Mẹ con” đăng chứng từ của anh Jean – cựu tù nhân – về một vị Linh Mục anh dũng người Hoa. Vị Linh Mục là đan sĩ cao niên dòng Xitô. Anh Jean là tín hữu Công Giáo người Pháp. Xin giới thiệu trọn chứng từ.

Nơi trại tù lao động cải tạo Trung Cộng ở phía nam Bắc Kinh, vào cuối năm 1961,
tôi nhìn thấy vị Linh Mục lần chót. Từ đó đến nay bao năm trôi qua, nhưng cứ
mỗi độ Giáng Sinh về, khuôn mặt gầy guộc của vị Linh Mục lão thành người Hoa
lại hiện lên rõ nét trong ký ức tôi. Đó là một khuôn mặt nhăn nheo với đôi mắt
tinh anh không dễ bị chế ngự. Tôi có cảm tưởng như lại trông thấy vị Linh Mục
đứng đó, trong cơn gió lạnh, tay cầm bánh và rượu giơ lên đọc Lời Truyền Phép,
với ý thức rõ ràng mình sẽ gặp hiểm nguy nếu bất chợt bị khám phá điều đang
làm.

Tôi biết Cha Xuân – tạm gọi tên vị Linh Mục người Hoa – vào đầu năm xa xôi ấy,
khi một toán tù nhân đông đảo được chuyển đến trại chúng tôi dưới sự canh chừng
khe khắt của ông cai tù tên Giang. Tôi được chỉ định làm trưởng nhóm tù nhân
gồm 18 người. Chúng tôi có nhiệm vụ rửa chuồng heo, khuân vác các bao phân bón
và chôn cất người chết. Cha Xuân ngủ trên chiếc chiếu nằm bên cạnh tôi.

Ngay từ ngày có mặt giữa chúng tôi, Cha Xuân trở thành đối tượng khiến mọi
người phải lo âu. Cha mang dáng dấp của một cụ già thật yếu ớt, vậy thì làm sao
có thể chu toàn các công tác lao động vô cùng nặng nhọc? Hơn thế nữa – và đây
mới là mối bận tâm lớn lao nhất của chúng tôi – Cha là một đan sĩ Xitô và vì
thế, Cha luôn luôn nói với chúng tôi về THIÊN CHÚA. Cha nhắc chúng tôi nhớ rằng
THIÊN CHÚA sẽ luôn luôn trợ giúp chúng tôi nếu chúng tôi không đánh mất Đức Tin
nơi Ngài.

Mà thật sự thì chúng tôi bỏ mất Đức Tin từ lâu lắm rồi! Chính những người cộng
sản vô thần đã nghĩ đến điều này và đã lo liệu cho chúng tôi. Đối với người
cộng sản thì tôn giáo là thuốc phiện mê dân, là mê tín dị đoan và nó đã hoàn
toàn bị tước bỏ khỏi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc rồi! Nếu có ai còn ngoan cố tin
vào sự hiện hữu của một quyền lực cao hơn quyền lực của ông chủ tịch
Mao-Trạch-Đông, thì người ấy sẽ bị nghiêm khắc trừng phạt, bị kết án tử! Nói
tóm lại, các Kitô hữu bị bách hại cũng chỉ vì cái tội dám công khai thờ lạy
THIÊN CHÚA của đế quốc thực dân!

Cha Xuân – là người hơn ai hết – phải biết rõ hiểm nguy đó, vì Cha bị kết án 20
năm tù cải tạo lao động chỉ vì cái tội duy nhất là làm Linh Mục!

Vậy mà Cha không sợ hãi gì hết. Cha cứ tiếp tục cầu nguyện và sống đạo, dũng
mạnh y như Kitô Giáo của Cha. Tất cả tù nhân chúng tôi biết thế, nên để Cha yên
và dĩ nhiên là tìm cách xa lánh Cha. Chúng tôi đã có quá nhiều nguy hiểm rồi,
không cần gánh thêm cái hiểm nguy đến từ tôn giáo của Cha Xuân! Nhưng Cha Xuân
không mảy may khiếp sợ. Tôi không biết làm thế nào mà Cha Xuân khám phá ra tôi
là tín hữu Công Giáo duy nhất trong nhóm tù nhân, ngoài Cha ra.

Một ngày trong lúc nghỉ xả hơi, Cha Xuân tiến lại gần tôi và nói:

– Con vẫn luôn là tín hữu Công Giáo tốt phải không? Nhất là con vẫn giữ đạo
trong lòng phải không?

Tôi mệt mỏi cau có trả lời:

– Tôi là tù nhân, ông lão ơi! Hãy để tôi yên thân!

Cha Xuân có vẻ như không nghe lời tôi nói nên vẫn tiếp tục:

– Chúng ta có thể cầu nguyện chung, Jean à! Rồi Cha cũng có thể nghe con
xưng tội nữa!

Tôi tỏ ra sừng sộ – vì sợ mấy tù nhân chung quanh có thể nghe lời ông cụ già
điên khùng này – nên tôi nói:

– Nếu ông muốn tự đưa đầu cho người ta chém thì đó là chuyện của ông. Còn tôi,
tôi muốn cứu lấy mạng sống tôi. Ông có hiểu không?

Nhưng lời nói vô lễ của tôi vẫn không làm Cha Xuân phật ý. Cha dịu dàng tiếp
tục:

– Không sao hết con à, Cha hiểu! Cha chỉ muốn con nhớ rằng Cha là bạn của con.

Rồi Cha Xuân lãng ra xa để lấy cái bao phân bón mang đi. Đôi môi Cha mấp máy
đọc lời Kinh Mân Côi.

Mặc dầu thân xác gầy gò ốm yếu, nhưng người ta không thể hiểu được làm sao mà
Cha Xuân lại có thể gánh hai bao phân – mỗi bao nặng 35 ký – và bước đi trên
đường đất gồ ghề. Người Cha như gập làm đôi dưới sức nặng quá lớn. Chưa hết.
Chẳng những Cha thi hành công tác dành cho Cha mà còn làm thêm công tác của
những người ốm yếu hơn Cha! Thật là chuyện không thể tưởng tượng được! Có lần
một người trong chúng tôi đặt câu hỏi:

– Ai biết điều gì ban sức mạnh cho cụ già vẫn tiếp tục tiến bước không?

Một người nhanh nhẹn trả lời:

– Chính THIÊN CHÚA! Khi ông cai tù không canh gác thì THIÊN CHÚA ngự xuống
và vác cái bao phân bón cho cụ già!

Câu giải thích khiến mọi người cất tiếng cười vang. Chúng tôi có rất ít dịp để
cười! Chúng tôi lao động từ sáng sớm tới chiều tối mà phần ăn thì thật ít ỏi.
Tối đến thì ngủ trong cái chòi giam đầy dẫy ruồi muỗi kêu vo ve. Mỗi ngày đều
phải chôn cất người chết. Chúng tôi phải mang xác chết leo lên đồi để chôn ở
nghĩa trang.

Mùa hè năm ấy tôi nghĩ là đã đến lượt tôi sẽ được chôn cất nơi nghĩa trang. Tôi
bị suy nhược vì lao động quá mức và vì thiếu dinh dưỡng. Tôi bị ngất xỉu nhiều
lần nên được mang lên bệnh xá. Trong mấy ngày liền tôi mê man bất tỉnh.

Rồi một đêm, khi tỉnh lại, tôi thấy Cha Xuân đang ngồi cạnh tôi và quạt gió mát
lên mặt tôi. Cha lén lút đút vào miệng tôi cháo nóng được nấu bằng gạo và rau.
Sau mỗi muỗng cháo, tôi cảm thấy như sức lực dần dần hồi phục trong tôi. Rồi
Cha Xuân thì thầm vào tai tôi:

– Họ có thể hành hạ và giết chết thân xác chúng ta, con à. Nhưng họ không
thể nào chạm đến linh hồn chúng ta. Chính chúng ta có nhiệm vụ gìn giữ linh hồn
chúng ta. Hơn thế nữa, còn có Đức Mẹ MARIA trợ giúp chúng ta.

Sau đó Cha Xuân còn đến thăm tôi ba lần nữa và mỗi lần đều mang theo cháo nóng.
Chỉ vào tháng 9 khi đủ sức trở lại lao động với nhóm tù nhân, tôi mới biết Cha
Xuân đã thành công trong việc cổ động các tù nhân khác tìm kiếm rau cỏ ăn được
trong các giờ nghỉ, còn chính Cha thì lén lút lấy trộm mỗi khi một ít gạo, rồi
để dành cho đến lúc đủ số lượng nhỏ thì bắt nồi lên nấu cháo. Tôi cảm động cám
ơn Cha Xuân và hổ thẹn vì đã cư xử bất nhã bất kính đối với vị Linh Mục lão
thành.

Một ngày, Cha Xuân kể cho tôi nghe câu chuyện Cha bị bắt giam.

Vào năm 1947, mấy người cộng sản hùng hổ tiến vào chiếm quyền cai trị nơi thành
phố quê sinh của Cha. Cha vắng mặt ở Đan Viện Xitô, và lúc trở về thì thấy các
anh em đan sĩ đã bị giết chết, còn đan viện thì bị đập phá tan tành. Các người
lính cộng sản sát máu trông thấy Cha liền bắt Cha tống giam. Sau khi bị tra
khảo trong vòng 2 năm trời, Cha bị kết án 20 năm tù ”cải tạo bằng lao động”.
Nghe xong tôi nhẹ nhàng nhận xét:

– Thôi thì ít ra là Cha vẫn còn sống!

Cha nhìn thẳng mặt tôi và nói:

– Cha còn sống bởi vì Chúa muốn thế. Cha tin rằng Chúa muốn trao cho Cha một
sứ vụ. Nếu không phải như thế thì Cha ao ước được thông phần số phận của các
đan sĩ anh em của Cha hơn!

Tháng 11 cùng năm ấy – 1961 – ông cai tù Giang chỉ định tôi làm trưởng nhóm tù
nhân có nhiệm vụ chuẩn bị cánh đồng lúa ở trại 23. Một thời ngắn sau đó ông gọi
tôi đến và nói rằng có người báo cáo cho ông biết là Cha Xuân cầu nguyện lén
lút vào ban đêm. Rồi ông hét lớn:

– Có đúng vậy không?

Tôi mỉm cười nói vớt vát:

– Không phải vậy đâu, đó chỉ là chuyện một ông già lao lực suốt ngày nên đêm
đến thì mệt mỏi và nói ú ớ trong giấc ngủ thôi!

Ông Giang nhìn chằm chặp mặt tôi dò xét hồi lâu rồi nói với giọng hăm dọa:

– Nếu ngày nào tôi biết được là ông ấy đọc kinh thì tôi sẽ nghiêm khắc trừng
phạt cả nhóm và đặc biệt là hai người. Phải nói cho ông ta biết như thế.

Vừa về đến chòi giam tôi tìm gặp ngay Cha Xuân và nói:

– Xin Cha ý tứ. Con có thể bị biệt giam vài tháng. Nhưng Cha thì .. mạng sống
lâm nguy.

Cha Xuân bình thản nhìn tôi và nói:

– Mạng sống của Cha quan trọng đến thế sao?

Rõ thật khổ, không có cách gì làm cho cụ già này lý luận bình thường được!

Tháng 12 đến. Trời lạnh cắt da và gió buốc thổi từ đông bắc đến. Một ngày gần
cuối tháng 12, Cha Xuân tìm đến gặp tôi nơi bờ ruộng và hỏi xem Cha có thể nghỉ
ngơi vài phút không. Tôi nói:

– Còn chút nữa thì đến giờ nghỉ. Cha không đợi được sao?

Cha đáp:

– Không, bởi vì sau đó thì tới giờ lính canh đến.

Có lẽ Cha muốn nói thêm điều gì đó nhưng không biết nói sao nên Cha hỏi tôi:

– Con có biết hôm nay ngày gì không?

Tôi khó chịu trả lời:

– Thứ hai 25 tháng 12!

Nói xong tôi bỗng im lặng vì trong tích-tắc tôi hiểu rằng, không phải chỉ là Lễ
Giáng
Sinh mà là cụ già muốn cầu nguyện! Tôi nói gần như khẩn khoản:

– Cha biết rõ đây là hiểm nguy mà!

Cha Xuân bình tĩnh nói:

– Nhưng Cha phải cầu nguyện. Rồi Cha cũng muốn con cầu nguyện với Cha nữa,
bởi vì chỉ với riêng hai chúng ta thì ngày này mới có một ý nghĩa gì đó. Đức
Chúa GIÊSU đã sinh ra từ Đức Trinh Nữ MARIA!

Tôi nhìn quanh quất. Không thấy lính canh, còn tù nhân gần nhất thì đang đứng ở
giữa đường từ trại đến. Tôi nói:

– Cha xuống cái hố khô nước đi. Con chỉ cho Cha 15 phút thôi. Không hơn đâu
nhé!

Cha hỏi:

– Con không xuống sao?

Tôi đáp:

– Con đứng ở đây!

Thật là những giây phút kinh hoàng tiếp theo đó. Cứ mỗi lần nghe tiếng gió rít,
tôi có cảm tưởng như nghe tiếng hét của lính canh. Thế rồi, không hiểu một cái
gì đó giúp tôi thắng vượt nỗi sợ hãi và đẩy nhanh tôi xuống cái hố. Và điều tôi
trông thấy như muốn đè bẹp tôi.

Lần đầu tiên từ bốn năm qua – tôi quên bẵng ông cai tù Giang và trại tù – để
chỉ còn nhớ thế nào là điều thật ý nghĩa khi tin tưởng vào một cái gì đó cao cả
hơn là cuộc sống bình thường.

Dưới cái hố khô nước, Cha Xuân đang cử hành Thánh Lễ. Thánh Đường là mảnh đất
hoang nằm ở miền Bắc Trung Quốc. Bàn Thờ là cụm đất cứng lạnh. Áo Lễ là chiếc
áo tù nhân. Chén Lễ là cái tách bể. Rượu Lễ được vắt từ mấy trái nho được cẩn
thận cất giữ. Bánh Lễ là một miếng bánh khô. Không có nến cháy nhưng thay vào
đó là cành củi cháy. Ca Đoàn là tiếng gió rít liên tục như làm thành bản Thánh
Thi. Hình như ngọn lửa nhỏ mang lời cầu nguyện của vị Linh Mục lão thành anh
dũng bay đến tận Trời Cao và ngọn gió mang đi phân phối đến tận bốn gốc bể chân
trời.

Trong phút chốc tôi bỗng cảm thấy niềm ao ước sâu xa được san sẻ Đức Tin của
Cha Xuân. Tôi nghĩ rằng không nơi nào trên thế giới, kể cả trong những thánh
đường đồ sộ nguy nga nhất của Kitô Giáo, không ai có thể cử hành – vào đúng
ngày Lễ Giáng Sinh – một Thánh Lễ ý nghĩa như thế.

Một cách vô thức không ngờ, tôi bỗng cất cao lời thánh thiêng:

– Et cum spiritu tuo – Và ở cùng Cha!

Không hề lộ vẻ ngạc nhiên Cha Xuân đọc tiếp như khích lệ tôi:

– Ite Missa est – Lễ đã xong!

Miệng tôi phát ra lời kinh tưởng chừng như quên bẵng từ rất lâu:

– Deo gratias – Tạ ơn Chúa!

Thánh Lễ đã kết thúc.

Cha Xuân nói với tôi:

– Chúa sẽ tha thứ cho chúng ta và hiểu rằng chúng ta không thiếu sự tôn
kính. Đây chỉ là cách thức thích hợp nhất cho hoàn cảnh của chúng ta!

Tôi thấy cổ họng nghẹn cứng. Nỗi sợ hãi lớn lao nhất của Cha Xuân không phải là
sợ bị bắn chết mà là sợ xúc phạm đến THIÊN CHÚA! Sau cùng, điều

mà vị Linh Mục lão thành cố gắng làm cho tôi hiểu suốt trong thời gian này
chính là:

– Sự sống còn – như bất cứ loài động vật nào – tạo nên từ sự khéo-léo ma-lanh
và làm cho khiếp đảm, thì không thể đủ cho con người. Con người cần phải có cái
gì khác bên trên chính con người để có thể sống còn, như một giấc mơ, một niềm
tin chẳng hạn.

Tôi nói với Cha Xuân:

– Con tin là Chúa sẽ hiểu và sẽ tha thứ cho chúng ta.

Cha Xuân đáp:

– Cám ơn con, Jean à! Xin THIÊN CHÚA bảo vệ con. Xin Đức Mẹ MARIA chúc lành cho
con.

Và lần đầu tiên kể từ bốn năm qua, tôi tin rằng lời Cha Xuân nói đã ứng nghiệm.
Vừa lúc đó thì tôi trông thấy ông cai tù tên Giang đang đạp xe về hướng cái hố
khô nước. Trong chớp nhoáng tôi đủ giờ để nhảy xuống hố và làm bộ giơ tay trên
ngọn lửa như tìm cách sưởi ấm, trước khi ông ta kịp nhìn xuống hố nghi ngờ dò
xét. Ông ta hạch hỏi:

– Mấy người làm gì dưới hố?

Tôi trả lời đánh trống lãng kèm theo nụ cười ngây thơ:

– Cụ già muốn làm chút lửa để sưởi ấm.

Ông Giang hét lớn:

– Công việc chỉ được ngừng khi đến giờ nghỉ, chứ không phải trước giờ nghỉ! Hãy
trở lại với công việc đang làm!

Vài ngày sau biến cố trên đây diễn ra cuộc thay đổi và di chuyển tù nhân.

Cha Xuân không còn ở chung đội tù với tôi nữa. Và từ đó trở đi tôi không còn
trông thấy Cha Xuân nữa. Nhưng cái ngày đáng ghi nhớ ấy vẫn ghi khắc trong ký
ức tôi suốt trong thời gian kinh hoàng còn lại của cuộc sống lao động tù đày.
Nó nằm sâu nơi một góc nhỏ an toàn kín ẩn trong trái tim tôi mà không một ai có
thể lọt vào, kể cả ông cai tù Giang và các tên lính canh. Thật an toàn và không
sợ hãi.

Có lẽ hôm nay khi tôi viết những hàng này thì Cha Xuân vẫn còn sống. Hay có lẽ
Cha đã trở thành người thiên cổ. Nhưng cho dầu những người cộng sản Trung Hoa
đã giết chết Cha, thì họ cũng chỉ có thể giết chết thân xác Cha mà thôi, còn
hồn thiêng bất tử của Cha, họ vẫn không thể nào chạm tới.

… ”Bấy giờ tôi thấy Trời rộng mở: kìa một con ngựa trắng, và người cỡi
ngựa mang tên là ”Trung Thành và Chân Thật”, Người theo công lý mà xét xử và giao chiến. Mắt Người như ngọn lửa hồng, đầu Người đội nhiều vương miện, Người mang một danh hiệu viết trên mình, mà ngoài Người ra chẳng ai biết được. Người khoác một áo choàng đẫm máu, và danh hiệu của Người là: ”Lời của THIÊN CHÚA”. Các đạo quân thiên quốc đi theo Người, họ cỡi ngựa trắng, mặc áo vải gai mịn trắng tinh. Từ miệng Người phóng ra một thanh gươm sắc bén để chém muôn nước.
Chính Người sẽ dùng trượng sắt mà chăn dắt chúng. Người đạp trong bồn đạp nho chứa thứ rượu là cơn lôi đình thịnh nộ của THIÊN CHÚA Toàn Năng. Người mang một danh hiệu viết trên áo choàng và trên vế: ”VUA các vua, CHÚA các chúa”

(Sách Khải Huyền 19,11-16)
.

(”PRO DEO ET FRATRIBUS – Famiglia di Maria”, Veniva nel mondo La Luce Vera,
Novembre/Dicembre 2009, Publicazione mensile, Anno 20, N 144-145, trang 8-13)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

Nguồn:vietvatican.ne

 

Đức Giáo Hoàng cầu nguyện cho hòa bình trong thông điệp Giáng Sinh

Đức Giáo Hoàng cầu nguyện cho hòa bình trong thông
điệp Giáng Sinh

Đức Giáo Hoàng cử hành Thánh lễ Đêm Giáng Sinh tại Đại giáo đường Thánh Phê-Rô, 24/12/2012.
25.12.2012
Đức Giáo hoàng Benedicto 16 đã cầu nguyện cho hòa bình, nhất là ở vùng Trung Đông, trong thánh lễ Đêm Giáng Sinh, giữa lúc tín đồ Cơ đốc giáo trên khắp thế giới mừng ngày Chúa Giê Su ra đời hơn 2.000 năm trước.
Phát biểu trước các tín đồ tại Đại giáo đường Thánh Phê-Rô đông nghẹt người hồi
tối thứ hai, Đức Giáo Hoàng kêu gọi chấm dứt đổ máu ở Syria, Li Băng, Iraq và
các nước láng giềng.
Ngài cũng cầu nguyện cho Israel và Palestine có thể chung sống hòa bình với nhau.
Hàng vạn du khách trên khắp thế giới tụ tập ở thị trấn Bethlehem ở Vùng Tây
Ngạn để mừng ngày lễ ở nơi mà người ta tin là Chúa Giê Su chào đời.
Người Palestine chủ nhà đặc biệt vui mừng trong lễ Giáng Sinh năm nay vì tháng
trước Palestine được Liên hiệp quốc thừa nhận là một quốc gia độc lập.
Trong bài thuyết giảng trước Giáng Sinh hàng năm, Giám mục Fouad Twal, chức sắc
hàng đầu của Giáo hội Thiên chúa giáo La mã trong khu vực, đã tán dương thành
tựu đó của người Palestine và thúc giục họ làm việc chung với người Israel để
chấm dứt cuộc xung đột dường như không có hồi kết trong khu vực.

THIÊN ĐÀNG (TRỜI)

THIÊN ĐÀNG (TRỜI)

Thánh Kinh thường dùng Nước Trời (Trời) chỉ dùng từ Thiên Đàng 3 lần. Lần thứ nhất, khi Đức Giêsu đã nói đến thiên đàng khi hứa hẹn với người trộm ăn năn trở lại trên thập giá (Lc 23,43). Lần thứ hai, Thánh Phaolô nói: “Tôi biết có một người môn đệ Đức Ki-tô, trước đây mười bốn năm đã được nhắc lên tới tầng trời thứ ba -có ở trong thân xác hay không, tôi không biết, có ở ngoài thân xác hay không, tôi cũng không biết, chỉ có Thiên Chúa biết. Tôi biết rằng người ấy đã được nhắc lên tận thiên đàng -trong thân xác hay ngoài thân xác, tôi không biết, chỉ có Thiên Chúa biết và người ấy đã được nghe những lời khôn tả mà loài người không được phép nói lại” (2Cr 12,1-4). Lần thứ ba, Sách Khải Huyền nói đến lời hứa ban thưởng cho người chiến thắng, và cho những ai hoàn tất các điều Ðức Giêsu đã truyền (Kh 2,26). Phần thưởng ấy là được ăn quả cây sự sống trồng ở trên thiên đàng (Kh 2,7) không hề bị cái chết thứ hai làm hại  (Kh 2,11).
Thánh Kinh phân biệt rõ ràng bầu trời vật lý có cùng bản chất với đất, “trời và đất”; còn trời của Thiên Chúa là trời không phải là đất. Tuy nhiên ý niệm bầu trời vật lý thường cho phép con người suy tưởng đến trời của Thiên Chúa.
1. Trời và đất
Người Do thái cũng như chúng ta quan niệm rằng trời là một phần của vũ trụ, khác biệt với đất nhưng lại tiếp giáp với trái đất. Trời là một bán cầu bao trùm trái đất và cùng với trái đất tạo thành vũ trụ. Vì thiếu danh từ để đặt tên cho vũ trụ nên người Do thái gọi vũ trụ là “trời và đất” (St 1,1; Mt 24,35).
2. Trời không phải là đất
Nhìn vũ trụ vĩ đại, bao la nhưng có trật tự, điều hòa, kỳ diệu và huyền bí, nên con người thường cho rằng tất cả những gì chất chứa vũ trụ này đều mang mầu nhiệm không thể biết hết được. Con người không thể dò thấu các chiều kích sâu thẳm của trái đất và đại đương mênh mong được (G 38,4-16). Vì vậy, những gì không hiểu thấu kia của bầu trời, con người cho đó là trời mà chưa ai lên đó (Ga 3,13; Cn 30,4; Rm 10,6), chỉ Thiên Chúa Chúa ngự ở trên đó mà thôi, “Trời là trời của Chúa nhưng Ngài đa ban trái đất cho con cái Ađam” (Tv 115,16).
3. Trời, nơi Thiên Chúa ngự
Sau khi mở rộng cõi trời như trải rộng tấm lều, Thiên Chúa đã xây cung điện Ngài trên sóng nước (Tv 104,2tt) từ đó Ngài thăng ngự tận cõi mây ngàn (Tv 68,5.34; Đnl 33,26) và tiếng Ngài vang dội uy hùng trên sóng nước đại dương giữa các tiếng gầm vang trong gió bão (Tv 29,3). Ngài đặt ngai tòa trên đó và hội họp triều thần của Ngài hay còn gọi là “đạo binh thiên quốc”, để loan truyền và chu toàn mệnh lệnh của Ngài tới tận cùng thế giới (1V 22,19; Is 6,1tt; G 1,6-12). Ngài thật là Thiên Chúa của trời (Nkm 1,4; Đn 2,37). Thiên Chúa ngự trên trời gợi lên tính chất siêu việt bất khả xâm phạm của Ngài đồng thời cho biết sự hiện diện rất gần của Ngài nữa, tựa như Ngài có
mặt khắp nơi của bầu trời trái đất với con người vậy.
Vì Thiên Chúa của Israel là một vị Thiên Chúa cứu thế và Ngài ngự ở trên trời cao nên Ngài luôn tuôn đổ nguồn ơn cứu rỗi xuống mặt đất. Cụ thể, từ trời cao Gabriel xuống trên Đaniel (9,21) để hứa hẹn sự kết liễu thời kỳ tủi nhục (9,25). Con Người phải xuất hiện trên mây trời để trao ban vương quốc cho các đấng thánh ( Đn 7,13). Và sau hết từ trời cao, Gabriel được sai đến với Zacaria (Lc 1,11-19) và với Maria (Lc 1,26-38), và chính trời cao các thiên thần xuống mặt đất để ca tụng và loan tin “vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời và bình an dưới thế cho loài người Chúa thương” (Lc 2,14). Sự
hiện diện của các thiên thần Thiên Chúa giữa chúng ta là dấu chỉ Thiên Chúa đã
thực sự vạch xé mây trời đến ngự giữa chúng ta, Emmanuel nghĩa là Thiên Chúa ở
cùng chúng ta.
3. Trong Đức Giêsu Kitô, trời hiện diện trên mặt đất
a. Đức Giêsu nói về trời
Đức Giêsu luôn nói về Trời nhưng Trời ở đây không bao giờ chỉ một thực tại tự hữu, độc lập với Thiên Chúa. Đức Giêsu nói đến phần thưởng dành trên trời cho những ai vâng giữ và thi hành Lời Chúa (Mt 5,12), đó là cả một kho tàng vô cùng quí báo đã được tạo lập trên trời (Mt 6,20; 19,21). Trời ở đây cũng chính là sự hiện diện của Chúa Cha tuy vô hình nhưng ân cần, ôm ấp cả thế  gian và chim trời (Mt 6,26), bao phủ người công chính lẫn tội nhân (Mt 5,45) với lòng nhân từ vô bờ của Ngài (Mt 7,11). Con người không nhận ra sự hiện diện này nhưng chỉ nhờ Đức Giêsu đến nói cho chúng ta biết và minh chứng điều Ngài đã thấy ở trên trời (Ga 3,11).
b. Đức Giêsu từ trời đến
Đức Giêsu vốn ở trên trời (Ga 3,13) nên Người mang định mệnh trên trời xuống cho con người và rồi trở về trời (Ga 6,62). Vì vậy các công trình của Ngài đều thuộc về trời và công trình thiết yếu là hy lễ bằng thịt bằng máu Người, đó là bánh Thiên Chúa ban cho chúng ta, bánh từ trời xuống (Ga 6,33-58) và là bánh thông ban sự sống đời đời, sự sống của Chúa Cha, sự sống ở trên  trời.
c. Dưới đất cũng như trên trời
Đức Giêsu từ trời xuống và trở về trời dĩ nhiên người Kitô hữu cũng về trời cùng với Người, và Chúa Cha đã phục sinh cho họ và cho họ đồng bàn trên Nước Trời (Ep 2,6; Cl 2,12). Dù thế, công trình của Đức Giêsu vẫn được tiếp tục. Công trình này hệ tại ở chỗ liên kết đất với trời một cách bền vững để cho Nước Trời ngự đến, ý Chúa được thể hiện dưới đất cũng như trên trời (Mt 6,10) và để nhờ Người mà mọi vật được hòa giải dưới đất cũng như trên trời (Cl  1,20). Khi sống lại, Đức Giêsu lãnh nhận mọi quyền năng trên trời dưới đất (Mt 28,18), Ngài vào trong đền thánh Thiên Chúa tức là trời ( Dt 4,14), được tôn lên cao hơn các tầng trời ( Dt 7,26) và ngự bên hữu Thiên Chúa. Người đã đính kết một giao ước mới giữa trời và đất (Dt 9,25) và Người ban cho Giáo Hội quyền lực của Người khi Người hoàn tất trên trời các hoạt động mà Giáo Hội thực hiện dưới đất (Mt 16,19; 18,19).
d. Các tầng trời mở ra
Nhờ sự hòa giải mà Đức Giêsu thực hiện, nhiều dấu chỉ được bày tỏ cho chúng ta: Các tầng trời mở ra (Mt 3,16), Thần Khí Thiên Chúa đa ngự xuống trên Con Người (Ga 1,31), và các Tông đồ (Cvtđ 2,2).
4. Niềm hy vọng lên trời
Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giê-su Ki-tô từ trời đến cứu chúng ta. Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy  mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người(Pl 3,20). Tất cả đặc điểm của bầu trời hy vọng Kitô giáo đều được kết tụ nơi đây: một thành đô, một cộng đoàn được thành lập cho chúng ta, một Giêrusalem mới (Kh 3,12). Giêrusalem mới này là vũ trụ mới (Kh 21,5) do trời mới đất mới tạo nên, như vũ trụ của chúng ta đây (2Pr 3,13) trong đó sẽ không còn chết chóc, lệ sầu, rên siết, khổ cực (Kh 21,4), ô uế (21,27), đêm tối (Kh 22,5) nhường chỗ cho hạnh phúc và niềm vui bất tận đó là sự hiệp thông với Chúa (1Tx 4,17)
Maria Thanh Mai gởi

Một ngày trong trại lao cải thời Xô Viết

Một ngày trong trại lao cải thời Xô Viết

Thứ ba, 20 tháng 11, 2012

Cuốn Một ngày trong đời Ivan Denisovich

Một ngày trong Đời Ivan Denisovicht của Solzhenitsyn là một trong những tác phẩm nổi bật nhất thế kỷ 20

Một ngày trong Đời Ivan Denisovich, tiểu thuyết kinh điển của Solzhenitsyn, được xuất bản vào tháng này 50 năm trước. Câu chuyện ngắn gọn đơn giản kể về người tù cố gắng sống sót trong Gulag – hệ thống trại cải tạo của Liên Xô – nay được coi là một trong những cuốn sách nổi bật nhất thế kỷ 20.

Trời vẫn tối, dù một luồng sáng màu xanh lá đã bừng lên ở phía đông. Làn gió mảnh, gian trá lén lút tiến về cùng hướng. Chẳng có khoảnh khắc nào tồi tệ hơn lúc anh phải có mặt để xếp hàng trong đoàn người đi lao động buổi sáng. Trong bóng tối, trong cái lạnh cứng người, mang theo bụng rỗng và cả ngày đang chờ phía trước. Anh mất đi sức mạnh phát ngôn…

Tháng 11/1962, cuốn truyện đã làm rung chuyển cả đất nước Xô Viết.

Alexander Solzhenitsyn miêu tả một ngày trong đời của tù nhân Ivan Denisovich Shukhov.

Nhân vật là hư cấu. Nhưng có cả  triệu người như ông ta – những người dân vô tội, cũng như chính tác giả, từng bị đẩy tới Gulag trong làn sóng kinh hoàng thời Joseph Stalin.

Gulag

  • Tên  Gulag xuất phát từ chữ viết tắt của Tổng cục Lao Cải Liên Xô
  • Khoảng  14 triệu người từng bị giam trong các trại này giai đoạn 1929 – 1953.
    Trong đó có 1.6 triệu người chết trong trại
  • Các  trại Gulag bắt đầu đóng cửa sau cái chết của Stalin năm 1953, chính thức
    chấm dứt năm 1960

Kiểm duyệt và nỗi sợ hãi đã cản trở sự thật về những khu trại này tới được công chúng, riêng quyển này vẫn được in. Liên Xô không bao giờ trở lại được như xưa.

“Chúng tôi hoàn toàn bị tách biệt khỏi thông tin, và ông ta bắt đầu làm chúng tôi mở mắt,” nhà văn, nhà báo Vitaly Korotich nhớ lại.

Cuộc sống trong trại từng là những điều “chẳng dám nghĩ tới”, ông nói. “Tôi đọc đi đọc lại cuốn sách và tôi chỉ nghĩ tới một điều đơn giản là ông ấy dũng cảm làm sao. Chúng tôi có rất nhiều nhà văn nhưng chưa từng có người nào dũng cảm thế.”

Chính là lãnh đạo Xô Viết Nikita Khrushchev đã phê chuẩn cho xuất bản tiểu thuyết của Solzhenitsyn, khoảng một thập niên sau cái chết của Stalin.

Ông ta nghĩ rằng, cho phép cuốn sách về Gulag ra đời sẽ giúp hạ bệ sự tôn sùng Stalin. Nhưng chuyện không chỉ dừng ở đó.

“Sau khi xuất bản, không gì có thể kìm hãm được nó,” Korotich kể lại. “Chúng tôi ngay lập tức nhận được bao nhiêu tài liệu bị cấm xuất bản. Nhiều người từng trong tù bắt đầu nhớ lại thời kỳ đó.

“Lúc đó không phải là thời của máy tính và máy in. Sách được in trên giấy cuốn thuốc lá, là cách duy nhất để in được số lượng lớn. Xô Viết bị phá hủy bởi thông tin, và chỉ một thông tin. Và làn sóng này bắt đầu từ cuốn Một ngày của Solzhenitsyn.”

Tom Courtenay played Ivan Denisovich in a 1970 film adaptation

Tom Courtenay đóng vai chính Ivan Denisovich trong bộ phim chuyển thể từ tiểu thuyết năm

Theo tài liệu của ông ta thì Shukhov phải vào đây vì âm mưu phản quốc. Ông ta đã thú nhận trong một cuộc điều tra – phải, ông ta đã đầu hàng để phản bội lại đất nước và quay về từ trại tù chiến tranh để thực hiện nhiệm vụ tình báo cho Đức. Nhiệm vụ này là gì, cả Shukhov lẫn người thẩm tra ông ta cũng chẳng tưởng tượng được. Họ để ngỏ nó ở đấy – chỉ là “một nhiệm vụ”. Các cậu trai của công tác phản gián đánh ông rã người. Lựa chọn cũng đơn giản: đừng ký và mặc áo khoác gỗ, hay là ký và sống lâu hơn được chút đỉnh…

Các nhà theo học thuyết cộng sản chủ nghĩa cố ẻm đi vụ này. Nikita Khrushchev bị phế truất, các hoạt động phô bày tội ác của Stalin bị ngừng, và đến năm 1974 Solzhenitsyn bị bắt và trục xuất.

Nhưng điều đó cũng không cứu được Liên Xô. Một khi Liên Xô tan rã, toàn bộ tội ác của Stalin trở nên rõ ràng.

Bên rìa Moscow, Anatoly Mordashev chỉ cho tôi thấy 13 nấm mộ tập thể trải dài khoảng một cây số trên cánh đồng.

Alexander Solzhenitsyn 1918 – 2008

Từng phục vụ xuất sắc ở Hồng binh trong Thế chiến II

Bị kết án tám năm lao động năm 1945 do viết chỉ trích về Stalin

Một số tác phẩm khác gồm có Cancer Ward and The Gulag Archipelago, ba tập truyện không hư cấu

Giải Nobel văn chương năm 1970

Tước quyền công dân Xô Viết và bị trục xuất năm 1974

Sống ở Hoa Kỳ tới năm 1994 rồi trở lại Nga từ đó

Điều xảy ra ở đây, trường bắn Butovo, được giữ bí mật trong suốt hơn nửa thế kỷ.

Giữa tháng 8/1937 và tháng 10/1938, 20.760 phạm nhân bị chuyển tới đây và bị cảnh sát mật của Stalin tử hình. Người dân sống xung quanh được trả lời về tiếng súng nổ là do người ta tập bắn.

Những người bỏ mạng ở đây là công nhân và nông dân Xô Viết, là nhà khoa học và dân chơi thể thao, là kỹ sư và nhân viên văn phòng. Họ bị tuyên là kẻ thù của nhân dân.

Mà đây chỉ là một trong số rất nhiều cánh đồng chết của kỷ nguyên Stalin trải trên khắp Liên Xô.

Mordashev nói với tôi, bây giờ thì nước Nga đã biết sự thật, họ sẽ không bao giờ làm ngơ với những gì đã xảy ra.

Nhưng nước Nga bắt đầu quên rồi.

“Ở cấp quốc gia, không ai từng tuyên bố cộng sản chủ nghĩa là tội ác, hay Stalin là kẻ bạo ngược khơi dậy chiến tranh trong chính nhân dân của mình.”

Natalya Dmitrievna, vợ tác giả Solzhenitsyn

Tôi tới thăm trường học ở Moscow và nói chuyện với vài học sinh tầm 16 tuổi. Chúng vẫn chưa được học về Stalin trên lớp.

Cuốn Một ngày trong Đời Ivan Denisovich nằm trong chương trình giảng dạy của trường, nhưng chỉ có ba trong số 21 học sinh từng đọc. Vậy chúng biết gì về Stalin?

“Tôi cũng không thể nói là mình có thích ông ta hay không vì tôi không biết nhiều,” một học sinh thừa nhận.

“Ở thời Stalin, mọi người chắc chắn là khi học xong đại học thì sẽ tìm được việc làm và họ có thể sống được,” đứa khác nói. “Nhưng thời này thì mọi người còn chẳng chắc được việc đó, họ còn không biết là mình có được đi làm hay không.”

Học sinh thứ ba nói với tôi: “Tôi khá chắc là Stalin thực sự muốn đưa Liên Xô thành quốc gia lớn, có ảnh hưởng mạnh tới tất cả mọi người. Ông là hình tượng vĩ đại. Nhưng màu sắc cá tính của ông thì khá đen tối.”

Trong cuộc trò chuyện của tôi với mấy học sinh, cảm giác như chúng tôi đang bàn luận về một nhân vật lịch sử xa xôi nào đó, tách biệt hẳn hiện tại cả nhiều thế kỷ – một lãnh đạo như Oliver Cromwell hay Ivan Bạo chúa chẳng hạn. Nhưng Stalin chỉ qua đời chưa đầy 60 năm trước.

Theo cuộc khảo sát gần đây, 48% người Nga ngày nay tin rằng Stalin có ảnh hưởng tích cực tới đất nước. Chỉ có 22% cho là tiêu cực.

Thánh giá đặt ở trường bắn Butovo nơi tù nhân bị tử hình

Người vợ góa của Solzhenitsyn, Natalya Dmitrievna, trách các lãnh đạo thời hiện đại của Nga, trong đó có Mikhail Gorbachev và Boris Yeltsin, thất bại trong việc đưa đất nước đối diện với quá khứ.

“Họ chẳng có hoạt động phô bày tội ác thời Stalin,” bà nói với tôi. “Ở cấp quốc gia, không ai từng tuyên bố cộng sản chủ nghĩa là tội ác, hay Stalin là kẻ bạo ngược khơi dậy chiến tranh trong chính nhân dân của mình. Giờ đã quá muộn cho tất cả các ngôn từ,” bà nói.

“Toàn bộ Đông Âu thời hậu Liên Xô cố gắng kết thúc bằng cách sống cộng sản, ở Ba Lan, ở Đức, ở khắp nơi,” Korotich nhớ lại.

“Ở đây thì không. Chúng tôi cần có Nuremberg như từng xảy ra ở Đức. Nhưng chúng tôi chưa từng có nó. Và cho tới khi chúng tôi bàn về các vấn đề chủ nghĩa cộng sản ở cấp độ mà Solzhenitsyn khởi đầu từ 50 năm trước, chúng tôi sẽ vẫn sống ở đất nước bán-Xô Viết này, cố gắng hòa nhập với nhân loại, nhưng lại sợ lộ thông tin về lịch sử của chính mình.

Chúc mừng Lễ Giáng Sinh và năm mới 2013:

Nhân mùa Chúa Giáng Sinh và năm mới 2013:

Ban Biên Tập “Kẻ đi tìm” xin Cầu chúc các bạn:

Nim tin làm mi th trnên dễ dàng;

Hy vng làm mi th đều chất chứa niềm vui.

Tình yêu làm mi thđều  tốt đẹp.

Thân mến Chúc bn có c3 điu y
trong mùa Giáng Sinh này và mãi mãi về sau.

18 lÝi chúc ¥n t°ãng nh¥t ngày lÅ Noel - 1

Xin mời thưởng thức:

We wish you a Merry Christmas Song Video! – lyrics

httpv://www.youtube.com/watch?v=V_S0Rd48hfU

Abba – Happy New Year

httpv://www.youtube.com/watch?v=3Uo0JAUWijM

Cám ơn Nguyễn Thọ đã gởi hai Video này.

10 bức ảnh khiến dân mạng rơi nước mắt

10 bức ảnh khiến dân mạng rơi nước mắt
1. Tình bạn chân thành của hai cậu bé
2. Cậu bé 2 tuổi khóc bên xác mẹ
3. Học sinh quỳ đất trong lễ khai giảng
4. Cậu bé ôm di ảnh mẹ thiệt mạng tại Nga

Ngày 11.09.2012 vừa qua đã xảy ra vụ hỏa hoạn kinh hoàng tại một xưởng may tại
Nga khiến 14 công nhân Việt Nam thiệt mạng. Trong ảnh là cậu bé Nguyễn Ngọc
Minh (10 tuổi, quê Nghệ An) khi đi nhận di hài của mẹ tại sân bay. Cậu bé ngồi
gục trên sàn, một tay cầm di ảnh của mẹ, một tay ôm mặt khóc nức nở. Sau 5 năm
xa cách, Minh “đón” mẹ về nước nhưng mãi mãi không được gặp mẹ nữa.

 

5. Bà cụ mù nép mình bên ghế đá kiếm tiền nuôi con


Giữa đêm Hà Nội mưa lạnh, một bà cụ mù đã gần 90 tuổi ngồi khép nép bên ghế đá ở Hồ Gươm, trên người chỉ có bộ quần áo mỏng và chiếc áo mưa đã sờn rách. Cụ vừa tránh mưa vừa mong bán thêm được chút hàng để kiếm tiền nuôi những đứa con tàn phế và không nghề nghiệp.
6. Hai anh em mồ côi ngủ trên bậc cầu thang

Đây là hình ảnh hai em nhỏ mồ côi ôm nhau ngủ vội bên bậc cầu thang, quần áo
đen bẩn, rách rưới, bên cạnh chỉ có một bình nước nhỏ. Nỗi mệt mỏi, nhọc nhằn
còn hằn sâu trên khuôn mặt của hai em khiến người xem không khỏi xót xa.

7. Nghị lực sống của người đàn ông không tay, không chân

 

Một người đàn ông không còn tay, không chân và chỉ có thể di chuyển trên tấm trượt. Hoàn cảnh của người đàn ông này khiến nhiều người thương cảm, nhưng nghị lực sống phi thường của anh khiến không ít người phải ngưỡng mộ.
8. Em nhỏ ăn thức ăn thừa trên đường
Thêm một bức ảnh khiến nhiều người rơi nước mắt vì nỗi cực khổ của  những em nhỏ lang thang, cơ nhỡ. Trong ảnh là một em nhỏ trong bộ quần áo cũ rách đang nhặt nhạnh thức ăn thừa mà người ta rơi vãi trên đường để ăn vội qua cơn đói khát.

9. Em nhỏ bị bỏ rơi trên lan can đường

Bức ảnh này có thể khiến bất cứ ai bật khóc. Một người mẹ nhẫn tâm  nào đó đã bỏ rơi đứa trẻ và đặt trên bụi cây ven đường khi trên người chỉ quấn mảnh vải mỏng. Đáng thương hơn, em nhỏ đã bị côn trùng bò kín khắp người.

10. Hai chị em nghèo bên bãi rác

Cám ơn anh chị Thụ & Mai gởi
Xem các hình trên ai cũng phải rơi lệ.