HAPPY VALENTINE-Lời Ngọt Ngào Yêu Thương-Love Story -Minh Ngoc Piano
httpv://www.youtube.com/watch?v=PS716dHotZs&list=PLfe9JTtbGcgUIoL78zOY5vd4cqI4mYjd3&index=3
Xin cám ơn anh Tran Nang Phung gởi

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
httpv://www.youtube.com/watch?v=PS716dHotZs&list=PLfe9JTtbGcgUIoL78zOY5vd4cqI4mYjd3&index=3
Xin cám ơn anh Tran Nang Phung gởi
ĐÔI DÒNG CẢM NGHĨ VỀ VIỆC ĐỨC THÁNH CHA BIỂN ĐỨC XVI TỪ CHỨC
Tác giả: Lm. PX. Ngô Tôn Huấn
nguồn:conggiaovietnam.net
Tin Đức Thánh Cha Benedict 16 đột nhiên tuyên bố từ chức sáng thứ hai 11-2 vừa qua đã làm chấn động thế giới và kinh hoàng mọi người trong toàn Giáo Hội Công Giáo.
Thật vậy, đây quả là biến cố trọng đại nhất trong Giáo Hội từ 600 năm qua sau ngày cố Đức Giáo Hoàng Gregorio 12 tự ý thoái vị năm 1415 để giúp chấm dứt tình trạng Đại ly giáo phương Tây ( Great Western Schism) xảy ra trong Giáo Hội từ năm 1378 và dọn đường cho Đức Giáo Hoàng Martin V lên cai trị Giáo Hội
Trong lịch sử Giáo Hội thì đã có 3 lần các Đức Giáo Hoàng tự ý thoái vị hay từ chức như sau:.
1- Đầu tiên là Thánh Giáo Hoàng Pontian lên ngôi ngày 21-7-230 ( 230-235 ) Ngài từ chức trong đợt Hoàng đế Maximinus Thrax bách hại các Kitô hữu và các thủ
lãnh Giáo hội năm 235. Ngài bị lưu đầy qua Sardinia cùng với Hippolitus
và ở đây, Ngài tuyên bố thoái vị ngày 26-9-235 và được phúc tử Đạo cùng
với Hippolitus. Sau đó Ngài được phong hiển thánh với ngày lễ kinh là 19 tháng
11 hàng năm.
2- Kế đến là Đức Thánh Cha Celestine V, một tu sĩ Biển Đức, lên ngôi Giáo Hoàng ngày tháng 7 năm 1294 ở tuổi 84. .Nhưng đến ngày 13 tháng 12 năm đó,
ngài xin từ chức vì không am hiểu nhiệm vụ được trao phó, và không muốn bị chi
phối bởi Vua Charles V của lãnh địa Naples muốn khuynh đảo Giáo Hội. Ngài
mất năm 1296 và được phong thánh năm 1313 tại Avignon ( Pháp Quốc) nơi Tòa
Thánh còn đóng đô ở đây.
3- Tiếp theo là Đức Giáo Hoàng Gregory XII lên kế vị Giáo Hoàng Innocent VII ngày 30-11-1406 với hy vọng chấm dứt cuộc Đại ly giáo Tây phương đã kéo dài từ năm 1378 mà hậu quả là có hai Giáo Hoàng nữa là Alexander V và Gioan XXIII cũng tranh Tòa Phêrô với ngài.
Để chấp dứt tình trạng này và cũng để chữa vết thương ly giáo, ĐứcGiáo Hoàng Gregory XII. đã xin thoái vị ngày 4-7-1414, dọn đường cho Công Đồng Constance đang họp để truất phế ngụy giáo Hoàng Gioan XXIII ( ngụy Giáo Hoàng Alexander V đã chết cách bí ẩn ngày 3-5-1410 sau 10 tháng tại chức) và bầu Đức Martin V lên làm Giáo Hoàng thống nhất của Giáo Hội. Đức Gregory XII qua đời ngày 18-19-1417.Vì Joan XXIII không được công nhận là Giáo Hoàng , nên năm 1958 khi Hồng Y Angelo Giuseppe Roncalli đắc cử Giáo Hoàng, ngài đã chọn lại tước hiệu Gioan XXIII.
Như vậy, trước Đức Thánh Cha Biển Đức XVI , đã có ba Giáo Hoàng từ nhiệm vì những hoàn cảnh và lý do khác nhau. Tuy nhiên, vì đã sáu thế kỷ qua chưa có thêm Giáo Hoàng nào từ nhiệm, nên quyết định rời bỏ ngai tòa Phêrô của Đức đương kim Giáo Hoàng đã là một tiếng sét vang động khắp Giáo Hội và thế giới ngày thứ hai 11-2
vừa qua.
Lý do mà ngài tự ý xin từ nhiệm là vì “tuổi tác và sức khỏe” không còn đủ để cho phép Ngài tiếp tục Sứ Vụ cai quản Giáo Hội nữa. Thật là một biến cố ngoài sức tưởng tượng của toàn thể Giáo Hội khiến mọi người đều đang còn bàng hoàng về tin quá bất ngờ này. Tuy nhiên ai cũng phải nhìn nhận rằng đây là một quyết định rất can đảm và đầy khiêm nhu của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, người Cha chung rất đáng kính
yêu của Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ, đã khôn ngoan, sáng suốt chèo lái Con
Thuyền Phêrô trong suốt gần 8 năm qua.
Ngài được bầu lên ngôi Giáo Hoàng rất nhanh chóng ngày 19-4-2005, để kế tục sứ mạng chăn dắt Giáo Hội do Đức cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II để lại. Trong gần 8 năm qua, ngài đã chứng tỏ là một Thầy dạy Đức tin rất vững vàng, một thần học gia uyên thâm, một mục tử tha thiết với đoàn chiên và một sứ giả của hòa bình và đại kết ( ecumenism).
Theo gương mục vụ của Đức cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II, Ngài đã thăm viếng mục vụ các Giáo Hội địa phương ở nhiều quốc gia trên thế giới. trong đó có Hoa Kỳ, Anh Quốc, Pháp, Đức. ÚC Châu, Ba Lan, Tây ban Nha., Ba Tây, Do Thái, Palestine …
Chắc chắn sự từ nhiệm của ngài đang gây luyến tiếc cho mọi người trong Giáo Hội hiện nay.
Tuy nhiên ,sự sừ nhiệm này đã diễn ra đúng với điều Giáo Luật số 332, triệt 2 đã dự liệu như sau:
“ Nếu xảy ra trường hợp Đức Thánh Cha từ chức, thì để được hữu hiệu, sự từ chức phải được tự do và được bày tỏ cách hợp thức nhưng không cần được ai chấp nhận.”
Trong tuyên bố từ chức sáng thứ hai vừa qua, Đức Thánh Cha đã nói rõ lý do như sau:
“ ..để lèo lái Con Thuyền Phêrô và để công bố Tin Mừng, sức mạnh thể xác và tinh thần đều cần thiết. Nhưng trong vài tháng qua sức mạnh đó trong tôi đã suy giảm đến mức tôi phải nhìn nhận là tôi không còn đủ năng lực để chu toàn sứ vụ đã được trao phó cho tôi. Vì thế, ý thức rõ về tầm mức quan trọng của quyết định này và với tự do hoàn toàn, tôi tuyên bố từ bỏ sứ vụ Giám mục Rôma, Người kế vị Thánh Phêrô mà các vị Hồng Y đã trao cho tôi ngày 19-4-2005.”
Như thế, lý do vững chắc mà Đức Thánh Cha nêu ra đã phù hợp với tinh thần giáo luật nêu trên, và sự từ nhiệm của ngài là hợp thức, có hiệu lực vì không cần ai chấp nhận.
Ngài sẽ chính thức rời bỏ nhiệm vụ Giáo Hoàng vào lúc 20 giờ địa phương ngày 28 tháng 2 này và các Hông Y dưới 80 tuổi sẽ họp Mật Nghi ( Conclave ) để chọn Giáo Hoàng mới cho Giáo Hội.
Là đoàn chiên trong Giáo Hội, chúng ta tha thiết cầu xin cho ĐứcThánh Cha Biển Đức XVI để ngài được an vui, mạnh khỏe sau khi rời Tòa Phêrô, cũng như cầu xin cho Giáo Hội sớm có Chủ Chiên mới để chăn dắt đoàn chiên của Chúa Kitô trong giai đoạn mới này.
Sau hết, một điều phải tránh là hãy bỏ ngoài tai những lời đồn đoán và “tiên tri giả” đang loan truyền những điều huyền hoặc vô căn cứ về Giáo Hoàng mới sắp được bầu lên. Chúng ta hãy tin tưởng và phó thác Giáo Hội cho Chúa Thánh Thần để Người soi sáng các Hồng Y trong việc chọn Tân Giáo Hoàng trong những ngày sắp tới. Chắc chắn Chúa sẽ hướng dẫn Giáo Hội trong mọi quyết định quan trọng và chúng ta sẽ có Chủ Chăn mới đúng theo ý muốn của Người.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn
Vợ chồng đừng thử thách nhau
13/02/2013
Tác giả: Lm Đan Vinh
THỰC TẬP XÂY DỰNG HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH
VỢ CHỒNG ĐỪNG THÁCH THỨC NHAU
1. LỜI CHÚA: Đức ái tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cr 13,1-7)
2.CÂU CHUYỆN:
Gần nhà tôi có đôi vợ chồng tuổi trung niên lấy nhau được mười lăm năm va đã có với nhau hai mặt con. Hằng ngày anh chồng chạy xe ôm đều mang tiền về nhà nuôi vợ con. Gần đây khi xăng lên giá, việc chạy xe thu nhập không còn được như trước. Ngày nào đưa tiền về không đủ sở hụi là chị vợ mặt nặng mày nhẹ và nói những câu chì chiết khiến anh tức bực sinh ra rượu chè. Nhiều lần nghe vợ nói cạnh nói khóe bị chạm tự ái nhưng vẫn cố nín nhịn bằng cách lấy xe đi ra khỏi nhà để tránh cãi nhau. Hôm đó nghe vợ chê trách, trước khi bỏ đi anh chồng đã nói thòng thêm một câu cho đỡ quê : “Cô có im đi không? Cô mà nói thêm là coi chừng ăn đòn !”. Bị chạm tự ái vì câu hăm dọa của anh chồng xưa nay vốn hiền lành nhẫn nhịn, chị vợ đã chạy theo nắm lấy tay anh và thách thức : “Nè, có “ngon” thì đánh tui đi ! Đánh đi ! Chớ đừng
nói rồi không dám làm thì hèn lắm!”. Và thế là “bốp ! Bốp !…” Chị vợ bị hai
cái tát trên má. Chị lại la tóang lên: “Anh dám đánh tui hả? Ối làng nước ơi!
Nó đánh tui!”. Cũng may mà có mấy người hàng xóm nghe tiếng xô xát đã kịp thời
chạy tới can ngăn nên gia đình mới tạm yên. Về sau khi đã bình tĩnh, anh chồng
đã tâm sự với anh bạn hàng xóm: “Thực ra, tôi không muốn đánh cổ làm chi. Nhưng
cổ thấy tôi nhẫn nhịn lại càng làm tới thách thức, nên tôi không giữ được bình
tĩnh đã phải tát cho cô ấy hai cái để mong được yên thân”.
3.SUY NIỆM:
1.Vợ bị chồng đánh do thái độ thách thức: Sự thực thì có những ông chồng có
thói vũ phu, sau khi có tí hơi men mà vợ nói động tới là không thể nhịn được mà
phải đánh đập vợ con cho hả cơn giận. Nhưng bên cạnh đó cũng có những ông chồng
bất đắc dĩ mới phải đánh vợ vì ý thức rằng: “Mình là đàn ông, có sức khỏe, giỏi
thì đánh nhau với mấy tên ngang cơ ! Chứ còn đánh thứ đàn bà chân yếu tay mềm
thì hèn lắm!” Hoặc: “Vợ chồng nào mà chẳng có chuyện bất đồng ý kiến
tranh cãi nhau. Tức quá thì mình dọa mấy câu cho bả ấy ngán mà im miệng. Ai dè
bả lại cãi lại và còn thách thức : “Này, dám đánh không ? Nói mà không làm là
hèn, là hạng …tiểu nhân !”. Như vậy là do tự ái, nên anh chồng mới phải chứng
tỏ “quân tử nhất ngôn”. Vậy là nhiều bà vợ đã bị ăn đòn do tội thách thức khinh
thường chồng!
2.Hậu quả của thách thức là sự thiệt hại cả về tinh thần lẫn vật chất: Anh
chồng thích uống rượu nhưng do tửu lượng kém nên chỉ cần uống một hai ly là đã
say xỉn. Một hôm uống một vài ly chưa đã như mọi lần, anh yêu cầu chị vợ mua
thêm cho anh một xị nữa để uống tiếp kèm theo lời đe dọa : “Không đi mua thì cứ
mà chết với ông!”. Nghe vậy chị vợ tự ái liền hét to lên: “Tôi không đi mua đó.
Anh làm gì tôi thì làm đi!” Anh chồng tức giận xô chị ngã chạm vào thành giường
bị trặc cánh tay, phải đi bó thuốc mất cả tháng trời mới khỏi. Bị chồng xô té,
chị tức quá vào tủ lấy hết số tiền năm triệu do mới bán lứa heo sữa quăng
cho anh chồng với lời nói dỗi : “Anh có ngon thì đi mà nhậu hết đi”. Làm như
vậy chị nghĩ anh chồng chắc sẽ không dám tiêu xài vì số tiền đó hai vợ chồng đã
nhất trí sẽ dùng để sửa nhà bếp sắp sập do bị mối ăn. Anh chồng nghe vợ thách
thức, liên ôm gói tiền đi luôn. Mãi ba ngày sau mới quay về nhà, trong túi
không còn một đồng bạc nào!! Anh đã thành tâm xin lỗi vợ. Sau khi cằn nhằn mấy
câu chị sẵn sàng tha thứ cho anh. Nhưng về sau mỗi khi nghĩ tới chị lại tiếc rẻ
và tự trách: “Giá đứng mang tiền ra thách thức anh ta thì gia đình đâu có bị
mất số tiền lớn như vậy”.
3.Vợ cũng có thể làm liều khi bị thách thức: Không phải chỉ có những ông chồng, mà ngay cả các bà vợ, khi bị chạm tự ái, thì cơn giận cũng nổi lên: “Liên tiếp
hai tuần qua, ngày nào ông chồng cũng phải ăn cơm ngòai, vì chị vợ đã quyết làm
theo lời “thách thức” của ông, khi hai người cãi nhau chỉ vì chị lỡ làm cháy
món nhậu của ông. Trong lúc tức giận ông đã chì chiết vợ: “Làm đàn bà có mỗi
công việc làm bếp mà làm không xong thì bà còn làm được gì nữa? Thôi dẹp luôn
cái bếp này đi, cả nhà đi ăn cơm tiệm luôn!”. Về sau chị đã kể tội của chồng
cho bà hàng xóm : “Cô coi: Cứ hở ra chuyện gì là “ổng” lại bảo: Dẹp bà nó đi!
Vứt hết đi! Bà đi đâu cho khuất mắt tôi! Hỏi cô ai mà không tức? Bị ổng nói
nhiều lần như vậy rồi, nay tôi mới quyết làm theo cho “ổng” biết thân”. Biết
thân ai đâu không thấy, chỉ thấy tháng đó cả nhà bị hụt tiền, phải đi vay mượn
hàng xóm để trả cho cái món nợ hai người phải ra ăn cơm tiệm hằng ngày.
4. Đừng thách thức nhau: Nguyên nhân dẫn đến giận hờn ly hôn giữa hai vợ chồng chính là những lời khích bác coi thường và thách thức nhau. Người ta thường hay thách thức nhau do thói sĩ diện hão hay tự ái vặt. Do đó, vợ chồng cần tránh nói lời thách thức lẫn nhau. Mỗi khi nghe lời thách thức, vợ chồng cần áp dụng phương
cách tránh gây hậu quả nghiêm trọng như sau:
1) “Bíet mình biết người trăm trận trăm thắng”: Người ta khác nhau là do “gien” di truyền, do nền giáo dục gia đình hay nhà trường, do tâm sinh lý sai biệt giữa
hai phái nam nữ… Một khi hiểu rõ những khác biệt đó, vợ chồng sẽ dễ cảm thông
cho nhau và biết cách ứng xử phù hợp với hòan cảnh và tâm lý của chồng vợ mình
để tránh tranh cãi to tiếng như người xưa dạy: “Biết mình biết người trăm trận
trăm thắng”. Cần tránh nói lời cay độc xúc phạm danh dự của nhau vì : “Lời nói
không mất tiền mua. Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”.
2) “Mau nghe, chậm nói, khoan giận”: Khi bị chạm tự ái và cơn giận đang bốc lên, vợ chồng hãy áp dụng thuật “hoãn binh chi kế” của người xưa. Nghĩa là đừng vội làm gì trong lúc nóng giận vì “giận quá mất khôn”. Thánh Gia-cô-bê cũng dạy các tín hữu về cách ứng xử như sau: “Mau nghe, chậm nói, khoan giận” (Gc 1,19).
3) “Một sự nhịn bằng chín sự lành”: Đừng vội trả đũa khi nghe những lời nói xúc phạm của chồng hay vợ mình. Một linh mục già nhiều kinh nghiệm mục vụ đã khuyên các đôi tân hôn như sau: “Khi hai vợ chồng chúng con sắp tranh cãi to tiếng với nhau, thì mỗi người hãy tự nhủ: “Đừng nóng! Chuyện đâu còn đó. Hãy đợi đến sáng mai sẽ
tính”. Và đến hôm sau, sẽ thấy sự việc kia là chuyện nhỏ, không đáng để hai vợ
chồng gây gỗ, làm sứt mẻ tình nghĩa phu thê”.
4) Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11,29): Để
dẹp được tính tự ái vốn có sẵn trong mỗi người, chúng ta hãy nhìn vào ấm hình
Thánh Tâm Chúa Giê-su và xin Người ban ơn nhẫn nhịn chịu đựng noi gương Người.
Thánh Phao-lô cũng khuyên các tín hữu Phi-lip-phê: ”Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là
Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên
Chúa. Nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống
phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi
bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2,6-8).
4.THẢO LUẬN:
1)Bạn nên ứng xử thế nào khi bị chồng hay vợ nói lời thách thức?
2)Bạn sẽ làm gì để tạo bầu khí thuận hòa yêu thương trong gia đình ?
5.LỜI CẦU:
Lạy Chúa, xin cho các đôi vợ chồng sống yêu thương đòan kết, tránh lời nói việc làm gây tranh cãi bất hòa. Xin cho các gia đình tín hữu chúng con năng cầu nguyện trong giờ kinh tối gia đình và quan tâm phục vụ lẫn nhau để làm chứng cho Chúa trước mặt người đời.
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.-
Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.
LM ĐAN VINH
(Hiệp Hội Thánh Mẫu)
Toàn Văn Sứ Điệp Mùa Chay Năm 2013
nguồn:Thanhlinh.net
Tin trong Đức Mến khơi dậy lòng Bác ái
“Chúng ta đã biết và đã tin vào tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta.” (1
Ga 4, 16)
Anh chị em thân mến,
Cử hành Mùa Chay trong bối cảnh Năm Đức Tin cho chúng ta cơ hội quý giá để suy
niệm về mối tương quan giữa đức tin và đức ái: giữa tin vào Thiên Chúa – Thiên
Chúa của Đức Giêsu Kitô – và tình yêu, là hoa trái của Chúa Thánh Thần vốn
hướng dẫn chúng ta trên con đường dâng hiến cho Thiên Chúa và tha nhân.
1. Đức tin như một lời đáp lời tình yêu Thiên Chúa
Trong Thông điệp đầu tiên của mình, tôi đã đưa ra một vài suy tư về mối tương
quan gần gũi giữa hai nhân đức đối thần: đức tin và đức ái. Khởi đi từ một
khẳng định nền tảng của Thánh Gioan: “Còn chúng ta, chúng ta đã biết tình yêu
của Thiên Chúa nơi chúng ta, và đã tin vào tình yêu đó” (1 Ga 4,16). Tôi nhận
xét rằng: “Khởi đầu cho cuộc sống Kitô hữu không phải là một quyết định đạo đức
hay một tư tưởng vĩ đại, nhưng là sự gặp gỡ với một biến cố với một Con Người,
Đấng đem lại cho đời sống chúng ta một chân trời mới và một định hướng dứt
khoát.…Vì Thiên Chúa đã yêu chúng ta trước (x. Ga 4,l0), nên tình yêu không còn
là một “giới luật”, nhưng là lời đáp trả cho hồng ân “tình
yêu” qua đó Thiên Chúa đến gặp gỡ chúng ta. (Thiên Chúa là Tình Yêu, số
1). Đức tin là một sự gắn kết cá nhân, bao gồm toàn thể khả năng của chúng ta,
với mạc khải tình yêu vô điều kiện và thương xót của Thiên Chúa, được mạc khải
trọn vẹn nơi Đức Kitô. Cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa là Tình yêu không chỉ hệ tại
ở con tim nhưng bao gồm cả lý trí: “Việc nhận biết Thiên Chúa hằng sống là con
đường đi đến tình yêu và tiếng thưa vâng của ý chí chúng ta đối với ý muốn của
Người kết hợp sự hiểu biết, ý chí và cảm xúc trở thành một hành động trọn vẹn
của tình yêu. Đây rõ ràng là một tiến tình vẫn luôn chuyển động: tình yêu không
bao giờ “kết thúc” và trọn vẹn được” (ibid., số 17). Vì thế, mọi Kitô
hữu, đặc biệt là những ai “lao tác cho đức ái”, cần đức tin vì “họ cần được
hướng dẫn đến gặp gỡ Thiên Chúa trong Đức Kitô, cuộc gặp gỡ này sẽ đánh thức
tình yêu trong họ và mở rộng con tim của họ cho tha nhân, đến độ tình yêu tha
nhân đối với họ không còn là một giới răn được thiết đặt tự bên ngoài, nhưng đó
là bước tiếp nối của đức tin, chính đức tin đó: hoạt động trong tình yêu
(ibid., 31a). Kitô hữu là những người được tình yêu Thiên Chúa khuất phục và do
đó, dưới tác động của tình yêu – “Tình yêu Đức Kitô thúc bách tôi” (Caritas
Christi urget nos) (2 Cr 5,14) – họ mở ra để yêu mến tha nhận một cách
trọn vẹn trong những việc làm cụ thể (Ibid, 33). Thái độ này chính yếu nảy sinh
từ việc ý thức mình được yêu, được tha thứ và thậm chí là được phục vụ bởi
Thiên Chúa, Đấng đã cúi mình để rửa chân cho các Tông đồ và đã trao hiến chính
mình trên Thập giá để đưa dẫn con người về với tình yêu Thiên Chúa.
“Đức tin chỉ cho chúng ta Thiên Chúa, Đấng đã ban Con của Người cho chúng ta và
ban cho chúng ta niềm xác tín bất khuất: Thiên Chúa là tình yêu! … Niềm tin, ý
thức tình yêu của Thiên Chúa tự tỏ lộ nơi trái tim bị đâm thâu của Đức Giêsu
trên thập giá, niềm tin đến phiên mình sẽ làm nảy sinh tình yêu. Tình yêu là
ánh sáng – cuối cùng là ánh sáng duy nhất – sẽ làm cho một thế giới đen tối
được sáng trở lại và ban cho chúng ta sự can đảm để sống và để hành động”
(Ibid., 39). Tất cả điều này giúp chúng ta hiểu rằng điều làm cho đời sống của
người Kitô hữu trở nên trổi vượt chính là vì “tình yêu được đặt nền tảng trên
đức tin và được nhào nặn bởi đức tin” (ibid., số 7).
2. Đức mến như một cuộc sống trong đức tin
Toàn thể đời sống Kitô hữu là một lời đáp lại tình yêu của Thiên Chúa. Lời đáp
đầu tiên là việc đón nhận đức tin, đầy ngỡ ngàng và biết ơn, đối với một sáng
kiến chưa từng có của Thiên Chúa, đi trước và gọi hỏi chúng ta. Và tiếng xin
vâng của đức tin đánh dấu một sự khởi đầu cho một lịch sử chói sáng về tình bạn
với Thiên Chúa vốn đổ đầy và trao ban một ý nghĩa trọn vẹn cho toàn bộ đời sống
con người. Nhưng đối với Thiên Chúa, nếu chúng ta chỉ đơn thuần đón nhận tình
yêu nhưng không của Ngài thì không đủ. Ngài không chỉ yêu thương chúng ta, Ngài
còn muốn lôi kéo chúng ta đến với Ngài, để biến đổi chúng ta một cách sâu xa
đến nỗi như thánh Phaolô, chúng ta có thể thốt lên rằng: “Tôi sống, nhưng không
còn là tôi, mà là Ðức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).
Khi chúng ta dọn chỗ cho tình yêu Thiên Chúa, thì chúng ta trở nên giống Ngài
và chia sẻ chính đức ái của Ngài. Nếu chúng ta mở lòng mình ra cho tình yêu ấy,
chúng ta cho phép Ngài sống trong chúng ta và làm cho chúng ta yêu mến Ngài,
trong Ngài và trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài. Chỉ khi đức tin của chúng
ta “hành động nhờ đức ái” (Gl 5,6), thì Thiên Chúa mới thực sự ở trong chúng ta
(xem 1 Ga 4,12).
Đức tin nhận biết chân lý và gắn chặt với chân lý (x. 1 Tm 2,4); đức ái là bước
đi trong chân lý (x. Ep 4,15). Nhờ đức tin, chúng ta đi vào mối tương quan tình
bạn với Thiên Chúa, qua đức ái, mối tình này được sống động và được dưỡng nuôi
(x. Ga 15,14). Đức tin làm cho chúng ta ôm ấp lệnh truyền của Thiên Chúa và của
Thầy; đức ái trao ban cho chúng ta niềm vui khi chúng ta thực hành lệnh truyền
ấy (x. Ga 13,13-17). Trong đức tin, chúng ta được sinh ra với tư cách là con
Thiên Chúa; với đức ái, chúng ta gìn giữ mối tình con thảo của chúng ta với
Ngài và trổ sinh hoa trái của Chúa Thánh Thần (x. Gl 5,22). Đức tin giúp chúng
ta nhận ra những quà tặng mà Thiên Chúa tốt lành và quảng đại tặng ban cho ta;
đức ái làm cho những món quà ấy trổ sinh hoa trái (x. Mt 15,14-30).
3. Mối liên kết bất khả phân ly giữa đức tin và đức ái
Trong ánh sáng này, rõ ràng chúng ta không thể tách rời hoặc đối nghịch giữa
đức tin và đức ái. Hai nhân đức đối thần này liên kết mật thiết với nhau, và
thật sai lầm khi đặt chúng trong một tương quan đối nghịch hay “biện chứng”.
Trái lại, chúng ta cũng cần tránh việc quá nhấn mạnh đến sự ưu tiên và tầm quan
trọng quyết định của đức tin đến độ coi nhẹ và hầu như coi thường những công
việc bác ái cụ thể, coi chúng chỉ là những hành vi nhân đạo tổng quát mà thôi.
Trái lại, chúng ta cũng không nên quá phóng đại vị trí ưu việt của đức ái và
những hoạt động của đức ái, như thể là việc làm có thể thay thế đức tin. Một
đời sống thiêng liêng trưởng thành cần tránh hai thái cực trên, cần phải xa
tránh thuyết duy tín (fidéisme) cũng như thái độ duy hoạt động về luân lý
(moral activism).
Đời sống Kitô hữu hệ tại ở việc liên lỉ lên núi để gặp Chúa, để rồi “hạ sơn”,
tựa nương vào tình yêu và sức mạnh đã kín múc nơi Ngài, phục vụ anh chị em với
tình yêu của chính Thiên Chúa. Trong Kinh Thánh, chúng ta thấy lòng hăng say
rao giảng Tin Mừng và khơi dậy đức tin nơi người khác của các tông đồ liên kết
chặt chẽ với mối quan tâm đức ái trong việc phục vụ người nghèo (x. Cv 6,1-4).
Trong Giáo hội, chiêm niệm và hoạt động, trong một cách thức nào đó, được tượng
trưng bằng hình ảnh của Maria và Martha trong Tin Mừng, phải đồng tồn tại và bổ
túc cho nhau (x. Lc 10,38-42). Mối tương quan với Thiên Chúa phải là ưu tiên
hàng đầu, và sự chia sẻ của cải đích thực, theo tinh thần của Tin Mừng cần cắm
rễ sâu trong đức tin (Tiếp Kiến Chung, 25-04-2012). Thực tế, đôi lúc chúng ta
có xu hướng giản lược thuật ngữ “đức ái” xuống thành tình liên đới hay chỉ là
hoạt động trợ giúp nhân đạo đơn thuần. Tuy nhiên, điều quan trọng cần nhớ là
công việc bác ái lớn nhất chính là việc truyền giảng Tin Mừng, nghĩa là “sứ vụ
của Lời”. Không có hành động nào có tính bác ái hơn là hành động nuôi dưỡng tha
nhân bằng lời Chúa và sẻ chia với họ những Tin Vui của Phúc Âm, giới thiệu cho
họ đi vào mối tương quan với Thiên Chúa: rao giảng Tin Mừng chính là sự thăng
tiến nhân bản cao cả nhất và đầy đủ nhất. Trong Thông điệp Phát Triển Các Dân
Tộc (Populorum Progressio), tôi Tớ Chúa, Đức Phao-lô VI viết rằng
việc công bố về Đức Giêsu Kitô là sự đóng góp đầu tiên và quan trọng nhất cho
sự phát triển. Chân lý căn bản về Tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta
chính là việc sống và công bố tình yêu ấy, vì điều này sẽ giúp đời sống chúng
ta đón nhận tình yêu này và làm cho sự phát triển hội nhất của nhân loại và của
mỗi người trở nên khả thi (x. Tình Yêu Thiên Chúa, số 8).
Một cách thiết yếu, mọi thứ đến từ tình yêu và hướng về Tình yêu. Tình yêu
nhưng không của Thiên Chúa được tỏ cho chúng ta qua việc rao giảng Tin Mừng.
Nếu chúng ta vui vẻ đón nhận Tin Mừng với đức tin, chúng ta đang lãnh nhận để
đi với một tương tác trước hết và không thể tách rời với Thiên Chúa. Mối tương
quan này làm cho chúng ta “phải lòng với Tình Yêu”, và rồi, chúng ta sẽ ở lại
trong Tình Yêu, lớn lên và hân hoan loan báo về Tình yêu ấy cho người khác.
Liên quan đến mối tương quan giữa đức tin và việc làm của đức ái, một đoạn
trong thư gửi Tín hữu Ê-phê-sô cung cấp cho chúng ta một tường thuật tốt nhất
về mối liên kết giữa hai nhân đức này: “Quả vậy, chính do ân sủng và nhờ lòng
tin mà anh em được cứu độ: đây không phải bởi sức anh em, mà là một ân huệ của
Thiên Chúa; cũng không phải bởi việc anh em làm, để không ai có thể hãnh diện.
Thật thế, chúng ta là tác phẩm của Thiên Chúa, chúng ta được dựng nên trong Ðức
Kitô Giêsu, để sống mà thực hiện công trình tốt đẹp Thiên Chúa đã chuẩn bị cho
chúng ta” (2,8-10). Ở đây, chúng ta có thể thấy toàn bộ kế hoạch cứu độ khởi đi
từ Thiên Chúa, từ ân sủng của Ngài và từ sự tha thứ của Ngài được lãnh nhận nhờ
đức tin. Thế nhưng, sáng kiến của Thiên Chúa không hạn chế tự do và trách nhiệm
của chúng ta, trái lại, sáng kiến này làm cho chúng trở nên chân thực và hướng
chúng đến công việc của đức ái. Đây không phải là kết quả của những nỗ lực của
chúng ta, để rồi chúng ta phải hãnh diện, nhưng chúng sinh ra từ đức tin và
tuôn trào từ ân sủng mà Thiên Chúa đã trao ban một cách rất phong phú. Đức tin
không có việc làm tựa như cây không trổ sinh hoa trái: hai nhân đức này bao hàm
trong nhau. Qua những thực hành truyền thống của đời sống Kitô hữu, Mùa Chay
mời gọi chúng ta biết dưỡng nuôi đức tin của mình bằng cách chú tâm, siêng năng
lắng nghe Lời Chúa và lãnh nhận các bí tích, và đồng thời lớn lên trong đức ái
và tình yêu dành cho Thiên Chúa và tha nhân qua những việc làm cụ thể như ăn
chay, đền tội và làm việc bố thí.
4. Vị thế ưu tiên của đức tin, chỗ đứng thứ nhất của đức mến
Như mọi quà tặng của Thiên Chúa, đức tin và đức ái có nguồn gốc nơi hoạt động
của cùng một Chúa Thánh Thần ( x. 1Cr 13); Thần Khí ngự trong chúng ta và giúp
chúng ta thưa lên rằng “Abba, Cha ơi” (Gl 4,6) và chính Ngài cũng làm chúng ta
tuyên xưng: “Đức Giêsu là Chúa!” (1 Cr 12,3) và “Maranatha” (1 Cr 16,12; Kh
22,20).
Đức tin, như một quà tặng và một lời đáp trả, giúp chúng ta nhận biết chân lý
của Đức Giêsu Kitô như là Thiên Chúa nhập thể và chịu đóng đinh khi hoàn toàn
vâng phục Thánh ý Cha và lòng thương xót vô biên dành cho con người; đức tin
ghi khắc vào con tim và tâm trí chúng ta một niềm xác tín vững chắc rằng chỉ có
Tình Yêu đó mới có thể chiến thắng sự dữ và cái chết. Đức tin cũng mời gọi
chúng ta hướng về tương lai với nhân đức hy vọng, trong sự mong chờ đầy tin
tưởng vào cuộc vinh thắng của Đức Kitô sẽ được viên mãn. Về phần mình, đức ái
thúc giục chúng ta đi vào tình yêu của Thiên Chúa được mạc khải nơi Đức Giêsu
Kitô và làm cho chúng ta đi vào tình yêu tự hiến và hoàn hảo của Đức Giêsu dành
cho Chúa Cha và cho anh chị em mình một cách cá vị và sống động. Bằng cách đổ
đầy tình yêu này, Chúa Thánh Thần làm cho chúng ta trở nên những kẻ chung phần
trong tình yêu con thảo của Đức Giêsu dành cho Thiên Chúa và tình yêu huynh đệ
đối với tha nhân (Rm 5,5).
Mối tương quan giữa hai nhân đức này tựa như mối tương quan giữa hai bí tích
nền tảng của Giáo hội: Bí tích Rửa tội và Bí tích Thánh Thể. Bí tích Rửa tội
(bí tích đức tin – sacramentum fidei) đến trước bí tích Thánh Thể
(bí tích đức ái – sacramentum caritatis). Nhưng bí tích Rửa tội là
sự chuẩn bị của bí tích Thánh Thể, và bí tích Thánh Thể giúp người Kitô hữu đi
trọn hành trình của mình. Cũng vậy, đức tin đến trước đức ái nhưng đức tin chỉ
trở nên chân thực nếu đạt đến cực điểm nhờ đức ái. Mọi sự khởi đi từ việc đón
nhận đầy khiêm hạ của đức tin (biết rằng tôi được Thiên Chúa yêu), nhưng đức
tin phải đạt đến chân lý là đức ái (biết yêu Thiên Chúa và tha nhân), vốn tồn
tại mãi mãi và là sự viên mãn của tất cả các nhân đức (1 Cr 13,13).
Anh chị em thân mến, trong Mùa Chay này, như là dịp chúng ta chuẩn bị kỷ niệm
biến cố Tử Nạn và Phục sinh – một biến cố mà tình yêu Thiên Chúa đã cứu độ thế
giới và chiếu tỏa ánh sáng vào lịch sử – tôi ước mong rằng tất cả anh chị em có
thể dùng thời gian này để thắp lại ngọn lửa đức tin vào Đức Giêsu. Nhờ đó chúng
ta có thể cùng với Ngài đi vào tình yêu đầy năng động dành cho Cha, cho anh chị
em mình, những người mà chúng ta gặp gỡ trong đời sống của chúng ta. Vì lý do
này, tôi dâng lời nguyện này lên Chúa, và nguyện xin Thiên Chúa chúc lành cho
mỗi người và cho mỗi cộng đoàn!
Từ Vatican, 15 tháng 10 năm 2012
Nguyễn Minh Triệu sj
Người lớn ơi, xin một lần lắng nghe trẻ em nói…
Tác giả: KHƯƠNG DUY
nguồn: tuanvietnam.net
Người lớn luôn muốn trẻ em có tâm hồn rộng mở, luôn muốn ngắm nhìn nét hồn nhiên trên gương mặt ngây thơ. Nhưng người lớn đang đánh cắp tuổi thơ của trẻ em theo cách chúng ta tưởng rằng tốt đẹp.
Suốt bao nhiêu năm nay, việc chăm lo cho trẻ em luôn được coi là ưu tiên hàng đầu bởi ai cũng thuộc lòng khẩu hiệu “Trẻ em là tương lai của đất nước”. Ở bất cứ nơi đâu chúng ta đều nghe thấy lời khẳng định: xã hội phải dành những gì tốt nhất cho trẻ em. Nhưng thực sự, sau những ngôn từ hoa mĩ ấy, chúng ta đã dành cho trẻ em những gì?
Nhân ngày Quốc tế thiếu nhi năm nay, cùng những bài diễn văn ca ngợi thành tích chăm sóc, bảo vệ trẻ em đang vang khắp các hội trường, xin được góp vài lời để phần nào giải đáp câu hỏi này.
Đầu tiên, xin thưa rằng người lớn chúng ta ảo tưởng nhiều lắm về sự sung sướng của
trẻ em. Khi những đứa trẻ đòi hỏi điều này hay điều kia, người lớn chúng ta thường mắng chúng vòi vĩnh và đem sự nghèo khổ của ông bà, bố mẹ xưa kia ra so sánh. Xét về nhiều mặt, trẻ em hôm nay sung sướng hơn thế hệ đi trước rất nhiều với hàng trăm hàng ngàn loại trò chơi, đồ ăn thức uống mà chúng ta ngày trước có mơ cũng không bao giờ dám nghĩ tới.
Nhưng trẻ em có sung sướng không khi bị đe dọa từng miếng ăn, giấc ngủ vì từ rau, đậu, thịt, cá đến món đồ chơi ưa thích, thứ gì cũng có nguy cơ nhiễm độc? Trẻ em hạnh phúc không khi ra đường, muốn bỏ khẩu trang ra để thở cũng không được vì khói bụi, muốn tung tăng bay nhảy trên phố cũng phải lấm lét canh chừng những “anh hùng xa lộ” sẵn sàng cán người rồi bỏ chạy?
Khi còn nhỏ, ai trong số những người lớn chúng ta phải sống trong những nỗi sợ hãi giống như trẻ em hôm nay?
Người lớn luôn tự khen mình đã dành tất cả những gì tốt nhất cho trẻ em. Nhưng có một thứ trẻ em còn rất thiếu: người lớn không cho các em quyền được tin.
Chúng ta muốn trẻ em tin những điều tốt đẹp, nhưng chúng ta chỉ cho chúng thấy những điều nham nhở, xấu xí.

Trẻ em Hà Giang, Ảnh: Đoàn Bảo Châu
Làm sao trẻ em có thể tin rằng xã hội đang chung tay bảo vệ môi trường khi có những quan chức vào tù vì rút tiền ngân sách dành cho môi trường để tư lợi?
Làm sao trẻ em có thể tin vào lời khuyên “cây ngay không sợ chết đứng” khi những người dám nói thẳng, nói thật như thầy Đỗ Việt Khoa trở thành “cây ngay” cô độc giữa rừng cây xiêu vẹo, cực chẳng đã đành phải bỏ nghề?
Làm sao trẻ em có có thể tin mình được xã hội nâng niu khi chứng kiến những đứa trẻ cùng trang lứa như bé Hào Anh bị người lớn đánh đập dã man trước sự thờ
ơ của chính quyền sở tại? Những đứa trẻ lớn lên thiếu hành trang niềm tin vào cuộc sống, vào lẽ phải hoàn toàn do lỗi của người lớn chúng ta.
Người lớn luôn muốn trẻ em có tâm hồn rộng mở, luôn muốn ngắm nhìn nét hồn nhiên trên gương mặt ngây thơ. Nhưng người lớn đang đánh cắp tuổi thơ của trẻ em
theo cách chúng ta tưởng rằng tốt đẹp. Trẻ em còn lúc nào để bay bổng và ước mơ khi lịch học chính, học phụ dày đặc đã chiếm hết thời gian từ lúc các em bước vào lớp một?
Trẻ em sao có thể mở rộng tâm hồn với thế giới bên ngoài khi bị người lớn khóa kín trong những căn nhà kín cổng cao tường hoặc phải sống chen chúc trong những
ngõ sâu chật hẹp, “chỉ chính ngọ mới thấy mặt trời”.
Vài chục năm nữa, liệu trẻ em có còn được chiêm ngưỡng cảnh làng quê yên bình với cánh đồng xanh mướt, đàn cò bay thẳng cánh, đàn trâu nhẩn nha gặm cỏ – những cảnh trí đã dung dưỡng tâm hồn bao thế hệ người Việt Nam – khi những dự án sân golf, biệt thự, bãi đào vàng đang được người lớn bật đèn xanh không ngơi tay?
Người lớn chẳng những không cho trẻ em cuộc sống an toàn, không cho chúng niềm tin, không cho trẻ em một tuổi thơ theo đúng nghĩa mà còn “ăn vèn” cả vào tương lai của trẻ em. Khi những đứa trẻ lớn lên, chúng ta sẽ trả lời các em ra sao về hàng triệu, hàng tỷ tấn khoáng sản đã bị thế hệ trước khai thác, sử dụng hoang phí và bán với giá rẻ mạt cho nước ngoài để thỏa mãn những nhu cầu không đáy?
Cuốn sách địa lý của thế hệ tương lai sẽ viết về nguồn tài nguyên của đất nước ra sao
khi những mỏ vàng, bạc, dầu thô, than đá chẳng còn gì ngoài những hố sâu thăm thẳm và môi trường sinh thái bị tàn phá nặng nề?
Hãy tự hỏi chúng ta chia cho trẻ thơ được bao nhiêu từ món tiền thu được từ việc bán tống bán tháo tài nguyên, khoáng sản hôm nay. Phần chúng ta dành cho các em
có phải là những ngôi trường dột nát ở vùng cao? Hay đó là những sợi cáp mắc qua sông như ở Đắk Nông để các em trượt từ bờ bên này qua bờ bên kia tới trường ngay trên đầu sóng dữ?

Chúng ta kỳ vọng trẻ em sẽ biến đất nước thành rồng, thành hổ nhưng đã vô tình đeo đá vào đôi cánh mỏng manh của các em… Ảnh Đoàn Bảo Châu
Và chao ôi, những gì chúng ta dành cho chúng liệu có xứng đáng với những món nợ hàng trăm tỷ đô-la chúng ta đang vay nợ nước ngoài để đầu tư cho những dự
án trên trời dưới biển. Chúng ta hỉ hả khi năm sau vay được nhiều hơn năm trước, chúng ta giận lẫy vài hôm khi có vị quan chức nọ xà xẻo vốn ODA nhưng rồi cũng tặc lưỡi bỏ qua. Chúng ta an ủi nhau rằng trẻ em ngày sau sẽ tài giỏi hơn thế hệ hôm nay và sẽ trả hết những gì chúng ta đang vay mượn để vung tay quá trán và thả sức cho rơi rớt dọc đường.
Vâng, tôi tin lắm vào tài năng, trí tuệ của trẻ em Việt Nam. Chúng ta có những thần đồng toán học, âm nhạc, thể thao ngang tầm quốc tế; chúng ta có những đôi
bàn tay tài hoa ngay ở tuổi thiếu thời. Nhưng có tủi cho trẻ em không khi cha ông chúng trông vào những bàn tay khối óc ấy để trả những món nợ xuyên thế kỷ?
Chúng ta kỳ vọng trẻ em sẽ biến đất nước thành rồng, thành hổ nhưng đã vô tình đeo đá vào đôi cánh mỏng manh của các em bằng một thứ tội tổ tông truyền.
Vậy đấy, hành trang cho trẻ em vào tương lai tưởng như rất đầy mà thực ra lại rất vơi.
Chúng ta chẳng cho trẻ em được bao nhiêu so với những gì chúng ta lấy đi của trẻ em. Những người lớn ích kỷ chỉ biết nhắm mắt và tưởng tượng ra những điều vĩ đại đã làm cho con trẻ, nhưng nếu mở mắt ra chúng ta sẽ bàng hoàng khi trẻ em đang trở thành nạn nhân của thói tham lam, mù quáng và ích kỷ của chúng ta.
Xin được mượn câu hát của Trịnh Công Sơn để gọi tên nỗi niềm tôi dành cho những đứa trẻ trong ngày trọng đại này:
Trẻ thơ ơi, trẻ thơ ơi
Tin buồn từ ngày mẹ
cho mang nặng kiếp người.
Anh chị Thụ & Mai gởi
THÔNG ĐIỆP CỦA NGÀY LỄ TRO
Linh mục Inhaxiô Trần Ngà
Đừng chỉ chăm sóc thân xác mà lãng quên linh hồn.
Nhà kia có hai đứa con. Một đứa thì được cha mẹ chăm só…c tối đa: cho ăn cho mặc, cho tiêu xài, cung cấp cho đủ thứ, không từ chối nó bất cứ điều gì nó muốn, thậm chí nó đòi hỏi những điều trái luân thường đạo lý thì cũng cho luôn.
Còn đứa con thứ hai thì không được cha mẹ đoái hoài: không cho ăn, không cho mặc, không cho thuốc men, không cho bất cứ gì nó cần.
Làm cha mẹ như thế có công bằng không? Có xứng đáng làm cha mẹ nữa không? Làm cha mẹ như thế có đáng bị lên án không?
Hai đứa con nói trên tượng trưng cho hai thành phần của tôi : linh hồn và thân xác. Con người tôi có xác nhưng cũng có linh hồn. Vậy mà tôi chỉ biết chăm lo cho thân xác mà quên mất linh hồn. Châm ngôn sống của tôi là: Tất cả cho thân xác, tất cả cho cuộc sống đời nầy.
24 giờ của một ngày, tôi đều dành trọn cho thân xác.
168 giờ của một tuần, tôi cũng đều dành trọn cho thân xác.
720 giờ của một tháng cũng đều dành trọn cho thân xác.
Và cứ thế, từ ngày nầy trải qua ngày khác, hết tháng nầy đến tháng kia, tôi chỉ biết chăm lo cho thân xác mà thôi.
Còn linh hồn thì bị bỏ rơi, không được đoái hoài. Suốt 24 giờ của mỗi ngày, 168 giờ của mỗi tuần, 720 giờ của một tháng… tôi chẳng dành cho linh hồn một phút nào.
Thế rồi mai đây thân xác tôi sẽ ra sao ?
Lời Chúa vang lên trong nghi thức xức tro nhắc nhở tôi nhớ đến số phận mình:
“Hỡi người, hãy nhớ mình là bụi tro, mai sau người sẽ trở về với bụi tro.
Những hạt bụi tro li ti rắc trên đầu trong ngày lễ tro hôm nay nhắc nhở chúng ta nhớ rằng mai đây, sớm muộn gì thân xác ta cũng sẽ hóa thành bụi tro như thế. Bụi tro là chung cuộc của thân xác con người. Sống thêm một năm là nhích lại gần nấm mồ hơn một chút. Tăng thêm một tuổi là rút ngắn thêm một chặng nữa tiến trình hóa thành tro bụi của thân xác mình.
Thế là cuối cùng, thân xác tôi chỉ còn là một nắm tro bụi li ti.
Không lẽ hôm nay tôi đầu tư hết tất cả thời gian, công sức, trí tuệ, tài năng, nghị lực, tiền bạc của mình cho thân xác nầy để rồi cuối cùng chỉ thu hoạch được một nắm tro!
Như thế có khác chi những con dã tràng cố công xây những lâu đài trên cát để rồi chốc lát sau sóng biển ập đến và xóa sạch không để lại vết tích gì.
Nói như thế không phải để bi quan chán sống, nhưng để tìm cách sống sao cho kiếp người có một kết cục tươi sáng vẻ vang hơn.
Biết như thế để từ nay, ta không mê muội đầu tư tất cả cho thân xác, không để cho những đam mê xác thịt nhận chìm hồn thiêng của ta trong địa ngục muôn đời, nhưng biết chăm lo xây dựng đời sống thiêng liêng, quyết tâm vun đắp đời sống tâm linh để cho hồn thiêng của mình mãi mãi trường tồn trong vinh quang thiên quốc.
Biết thế thì ta phải công bằng với linh hồn ta. Thân xác nầy nay còn mai mất thì ta chăm sóc vừa đủ, còn linh hồn ta sống mãi muôn đời thì phải được chăm lo chu đáo hơn.
Chỉ vài giờ sau khi Đức Giáo hoàng Benedict bất ngờ tuyên bố sẽ từ chức, một tia chớp đã lóe lên trên đỉnh mái vòm thánh đường St Peter.
Tia chớp lóe lên vào lúc trước 6 giờ chiều, giờ địa phương. St Peter, nằm trong Vatican City, được xem là một trong những địa điểm Thiên chúa giáo thiêng liêng nhất.
httpv://www.bbc.co.uk/vietnamese/multimedia/2013/02/130212_pope_lightening.shtml

Lm. Chân Tín: Luồng gió mới – Chân dung Đức Mẹ (37)
Đăng bởi lúc 2:05 Sáng 12/02/13
nguồn:chuacuuthe.com

VRNs (12.02.2013) – Sàigòn
Chân dung Đức Mẹ
Cách đây mấy tháng, một anh bạn tinh nghịch hỏi tôi: “Có phải Cha thích ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp phải không?”. Tôi vui vẻ đáp: “Lẽ dĩ nhiên rồi”. Và đón được ý nghĩ của ông bạn, tôi nói tiếp: “Nhưng xin ông bạn chớ nên cho rằng tôi thích ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp hơn cả chỉ vì tôi là tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế và là chủ nhiệm một tờ nguyệt san mang tên Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp đâu nhé”.
Trên phương diện lịch sử và mỹ thuật, thì ảnh Đức Mẹ hằng Cứu Giúp
đứng vào bậc nhất, vì ảnh ấy họa lại bức ảnh Đức Mẹ chỉ đường (Hodegetria), tức
là ảnh cổ kính nhất trong Giáo hội đã được tôn kính ở Constantinople, như bạn
Thanh Dũng sẽ nói trong số báo này. Mặc dầu chúng ta không biết được khuôn mặt
Đức Mẹ ra sao, như lời thánh Augustin đã nói về thế kỷ thứ tư: “Chúng tôi không
được biết gì về khuôn mặt của Nữ Trinh Maria” (De Trin. VIII,5,7), nhưng khuôn
mặt hình trái xoan của Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp có những nét rất Á Đông và tuyệt
đẹp, khiến nhiều nhà nghệ sĩ lừng danh đã không hết lời ca ngợi.
Nhưng trên phương diện đức tin và thần học, bức ảnh ấy là một tuyệt tác diễn tả chân dung tinh thần của maria cách trung thành hơn hết. Mỗi nét đều nói lên sứ mạng cao cả của Maria.
Trước tiên bức ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp nêu cao chức làm Mẹ Thiên
Chúa. Trên nền vàng tượng trưng vinh quang thiên đàng, nổi lên hình bán thân
của Đức Mẹ. Nhưng Mẹ Maria không đứng một mình. Với Mẹ có cả Chúa Giêsu. Ở phía trên có mấy chữ Hy Lạp: “Mẹ Thiên Chúa”. Mẹ là Mẹ Thiên Chúa và tất cả vinh
quang, tất cả những đặc ân khác của Mẹ đều bắt nguồn từ Chúa Kitô. Nơi Mẹ, tất
cả đều hướng về Chúa Kitô. Chúa Kitô là trung tâm của Mẹ. Vì thế lòng sùng kính
của ta đối với Mẹ Maria cũng nhằm một mục đích: Đức Kitô, Vị Cứu tinh và Trung
gian độc nhất giữa Thiên Chúa và loài người.
Là Mẹ Thiên Chúa, Đức Maria còn là Mẹ của chúng ta, Mẹ của đoàn người được cứu rỗi, Mẹ của Giáo hội, đúng với tước hiệu mà Đức Phaolô VI đã tuyên bố trong Công đồng Vatican II: Trước hình cụ tử nạn do hai thiên thần dâng lên, Chúa Giêsu run sợ, như ngài sẽ run sợ một ngày kia trong vườn cây dầu. Phần Đức Mẹ, tâm hồn Mẹ tràn ngập đau thương đến trào ra nơi đôi khóe mắt đầy u buồn. Nhưng Mẹ không có một cử động nào để ngăn cản cuộc tử nạn của Con. Mẹ chấp nhận mọi khổ đau, Mẹ cùng chịu tử nạn trong tâm hồn với Chúa Giêsu để chúng ta được cứu rỗi.
Là Mẹ giáo hội, Mẹ Maria luôn chăm nom đến Giáo hội, chăm nom đến
mỗi con người, để đưa tất cả về với Chúa Kitô. Vì thế Mẹ xứng đáng mang tước
hiệu Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp: Đôi mắt dịu hiền của Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp không nhìn về Chúa Giêsu, nhưng nhìn về chúng ta, an ủi, nâng đỡ ta. Cái nhìn âu yếm và
đau buồn của Mẹ đã sưởi ấm bao tâm hồn, đã lay tỉnh bao đứa con hoang đàng. Mắt
Mẹ hướng về chúng ta, nhưng tay Mẹ nắm chặt lấy hai tay của Chúa Kitô. Nắm
chặt, không phải để cản ngăn Chúa trừng phạt loài người, nhưng là để đón nhận
tất cả ân huệ của Chúa Cứu Thế. Đón nhận cho Mẹ một cách dồi dào và đón nhận
cho con cái của Mẹ.
Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Giáo hội, Mẹ Hằng Cứu Giúp, đó là ba điểm son của bức chân dung mà Thiên Chúa đã dùng để đưa mọi người về với Đức Maria và sau cùng, về với Chúa Kitô, Đấng Cứu Chuộc của Đức Mẹ và của chúng ta.
Nguyệt san Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp
Số 203-4/1966
Phản ứng của thế giới tôn giáo và chính trị về sự kiện ĐGH Bênêđictô XVI từ chức
Đăng bởi lúc 7:37 Sáng 12/02/13
nguồn: chuacuuthe.com

VRNs (12.02.2013) – Roma, Italia – Ngay sau khi Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đích thân loan báo ngài sẽ từ chức, thì các cơ quan truyền thông nhanh chóng đăng tải sự kiện này. Riêng truyền hình quốc gia Trung Quốc CCTV không đưa tin. Dưới đây là một vài lời phát biểu của các quan chức tôn giáo và chính trị Tây phương.
Cha Federico Lombardi, phát ngôn viên của Tòa Thánh nói, “ĐTC làm tất cả chúng ta ngạc nhiên”.
Đức Hồng y Angelo Sondano, Niên trưởng Hồng y Đoàn nói: “Đây thực sự là một tiếng sét giữa bầu trời thanh quang”.
Đức cha Wojciech Polakl, Thư ký HĐGM Ba Lan: “Sự từ chức của ĐTC làm tất cả chúng ta hết sức ngạc nhiên. Nhưng ĐGH đã suy nghĩ kỹ xem ngài có còn đủ sức khỏe để chu toàn sứ vụ của người kế vị thánh Phê rô khi tuổi đã cao”.
Rabbi Yona Metzger, Giáo trưởng Do Thái giáo, phát biểu: “Dưới triều đại của ngài (ĐGH Bênêđictô XVI), quan hệ giữa Giáo hội và giáo trưởng Do Thái đã cải thiện rất nhiều. Tôi hy vọng xu hướng này sẽ được tiếp tục”.
Đức Tổng Giám Mục Léonard, HĐGM Bỉ: “Trước hết tôi muốn diễn tả lòng biết ơn đối với một trong những vị giáo hoàng sáng chói nhất trên phương diện tri thức và thần học trong 150 năm vừa qua. Đó là một trí tuệ mẫn tiệp, một tấm lòng khiêm
nhường, đặc biệt là khả năng hiểu biết, tinh thần tổng hợp nhưng cũng hài hước.
Bênêđictô XVI là mẫu người khác hẳn vị tiền nhiệm Gioan Phaolo II, chắc chắn
ngài không cảm thấy thoải mái trong đám đông, nhưng với ngài chúng ta có thể có
những cuộc trò chuyện riêng tư rất thú vị. Ngài là bạn tôi hồi xa xưa nhưng
chúng tôi rất hiểu nhau và tôi rất ngạc nhiên và vui mừng khi ngài được bầu làm
giáo hoàng năm 2005, mặc dù trước đó có những lời đồn đại bất công của một vài
người đối với ngài”.
Đức Tổng Giám mục Justin Welby, Giáo chủ Anh giáo, phát biểu: “Với tấm lòng trĩu nặng và với sự thông cảm hoàn toàn, chúng tôi hiểu quyết định từ chức giám mục Roma sáng nay của ĐGH Bênêđictô XVI, chức vụ mà ngài đã chu toàn bằng phẩm giá, bằng sự hiểu biết và bằng lòng can đảm lớn lao. Trong chuyến viếc thăm vương quốc Anh, ĐGH đã cho mọi người thấy một phần trong ơn gọi của sứ vụ giám mục Roma trên phương diện thực tiễn là làm chứng cho tầm ảnh hưởng hoàn vũ của Tin mừng và trở thành sứ giả mang niềm hy vọng trong lúc niềm tin Kitô giáo đang bị đặt vấn đề. Chúng tôi cầu xin Thiên Chúa chúc lành cho ĐGH trong khi về hưu, để ngài lòng trí ngài được bình an và chúng tôi phó thác cho Chúa Thánh thánh những ai có trách nhiệm bầu chọn người kế vị ngài”.
Ông Romana Prodi, cựu Thủ tướng Ý và cũng là cựu Chủ tịch Ủy Ban châu Âu nói: “Tôi cảm thấy vô cùng gần gũi với Đức Thánh Cha trong quyết định nghiêm trọng và khó khăn này. Trong lúc này tôi thấy cần thiết phải có bổn phận diễn tả lòng biết ơn của chúng ta, vì sự quyết định mới mẻ và bất ngờ của Đức Thánh Cha, góp phần mang lại một sự đổi thay sâu xa trong Giáo Hội”.
Mario Monti, đương kim Thủ tướng Ý nói: “Tôi hết sức bàng hoàng vì tin này. Tôi mới biết cách đây vài phút. Đấy là một tin “tuyệt đối”. Trả lời câu hỏi của các nhà báo về mối quan hệ của nước Ý với Vaticano, ông thủ tướng nói: “Tôi thực sự không muốn bình luận về một đề tài quan trọng và sâu sắc thế này trước khi hiểu biết các sự kiện”.
Giorgio Napolitano, Tổng thống Cộng hòa Ý: “Như thực tế chứng tỏ và như chúng
ta đã nhận biết là ĐTC đã rất mệt mỏi và khó có thể đảm đương chức vụ. Tôi tin
quyết định của ngài là một hành động cực kỳ can đảm và được thực hiện trong
tinh thần trách nhiệm. Gánh vác trên vai một nhiệm vụ đòi phải dân thân một
cách phi thường như chức vụ giáo hoàng cần phải cân nhắc, trường thọ nhưng
nhưng không phải luôn luôn trong điều kiện tương ứng với việc chu toàn được
nhiệm vụ”. ĐGH Bênêđictô đã có một hành động can đảm lớn lao và một sự quảng
đại lớn lao. Bản thân tôi hết sức kính trọng ngài”.
Pier Luigi Bersani, Tổng Thư ký của Đảng Dân chủ Ý phát biểu trên Radio
Montecarlo: “Đấy là một quyết định có tầm mức lịch sử. ĐGH Bênêđictô là một nhà
thần học lớn, đã dùng thần học để phục vụ Giáo hội. Quyết định từ chức của ngài
là một hành động độc đáo, đặt cơ sở cho tương lai”.
Ông Angelino Alfano, Thư ký Đảng Nhân dân vì Tự do Ý, phát biểu: “Tôi diễn tả lòng biết ơn sâu xa đối với những gì ĐGH đã thực hiện với quyền giáo huấn của ngài và đối với những gì ngài sẽ tiếp tục thực hiện trong tương lai”.
Bà Merkel, Thủ tướng Đức bày tỏ: “Lòng kính trọng sâu nhất đối với quyết định từ nhiệm của ĐGH vì lý do tuổi cao”. Bà cũng nói rằng “ĐGH là một trong những nhà tư tưởng tôn giáo quan trọng nhất của thời đại chúng ta. Ngài đã đưa ra quyết định từ chức là vì lợi ích của Giáo Hội và của các tín hữu trong Giáo Hội”.
Ông Francois Hollande, Tổng thống Pháp: “Đấy là một quyết định
đáng được kính trọng cách tuyệt đối. Tổng thống Cộng hòa Pháp đón chào quyết
định này của Đức Thánh Cha nhưng không có bình luận nào thêm về sự kiện trước
nhất thuộc về Giáo Hội. Đó là một quyết định nhân bản và là một quyết định gắn
kết với một ý chí cần phải được tôn trọng”.
Ông Barack Obama, Tổng thống Hoa Kỳ: “Nhân danh nhân dân Hoa Kỳ trên thế giới, Michelle và bản thân tôi muốn diễn tả lòng biết ơn và lời cầu nguyện của chúng ta dành cho Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI. Tôi đánh giá cao công việc mà chúng ta đã cùng nhau thực hiện 4 năm vừa qua, mà trong đó có một số chính sách, nhất là trong lãnh vực ngừa thai, đã tạo nên những va chạm với các tổ chức công giáo Hoa Kỳ. Giáo hội Công giáo đóng một vai trò chủ chốt tại Hoa Kỳ và trên thế giới và tôi muốn gửi những lời cầu chúc của tôi đối với những ai sắp tham dự bầu chọn người kế vị
ĐGH”
Ông Cameron, Thủ tướng Anh: “Tôi xin gửi lời chúc mừng đến ĐGH Bênêđictô XVI. Ngài đã làm việc không ngừng để củng cố mối quan hệ giữa Vatican với Vương quốc Anh. Chuyến viếng thăm Vương quốc Anh của ngài năm 2010 được ghi nhớ với lòng kính trọng và yêu mến”.
Ông Kris Peeters, Thủ tướng kiêm Tổng thống Bỉ diễn tả lòng “kính trọng
đối với quyết định của ĐGH Bênêđictô XVI”, muốn chuyển giao chức vụ cho người
kế vị “ngược với truyền thống”. Thời đại chuyển biến nhanh chóng này đòi hỏi
rất nhiều trên bình diện kinh tế, xã hội và “điều này cũng có giá trị đối với
những nhà lãnh đạo tinh thần”. Kris nhấn mạnh rằng “họ phải tìm được sự quân
bình chính đáng giữa đòi buộc chính thức và sự thích nghi, giữa truyền thống
của quá khứ và những thách thức của thời đại và những con người ấy phải có khả
năng hành động với niềm tin lớn lao, dựa trên một sức khỏe khả quan”.
Thăng Long, VRNs
Tổng hợp từ báo chí Tây phương