Gương Mục Tử trung tín thời bách Đạo

ĐGM chui Pham văn Dụ và tấm gương hy sinh cho chiên

Giám Mục 3 không:

  • Không tấn phông, không mũ, chờ đội trong 19 năm rồi đuọc tấn phong chui ở Tòa Giám Mục Bắc Ninh.
  • Không tòa giám mục, không văn phòng, không phụ tá, không tùy tùng. Không được phép đi xa khỏi nhà quá 5 cây số, bị công an quản chế 33 năm theo lệnh của chính quyền trung ương.
  • Không bị rũa nát thi hài sau khi qua đời được 23 năm.

Ơn Thánh:

  • Sống giữa đoàn Chiên để chăm sóc Chiên, cùng lao động như Chiên. Theo Chúa trong mọi hoàn cảnh khó khăn, đau khổ.
  • 30 năm lặn lội phục vụ trong miền núi rừngThất Khê, biên giới phía cực Bắc.
  • Đức Cha chuyên cần dậy giáo lý cho các cá nhân tín hữu trong mọi cơ hội để giữ gìn Đức Tin cho Chiên.

TIỂU SỬ ĐỨC CHA PHẠM VĂN DỤ

Chân dung linh mục Việt Nam: Đức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ
Đức cha Vinh Sơn PHẠM VĂN DỤ,
Giám mục Chính Tòa tiên khởi GP Lạng Sơn
(1960 – 1998)

Giáo phận Lạng Sơn đã được các linh mục Dòng Ða Minh đến truyền giáo từ năm 1908. Năm 1913, Lạng Sơn thành Phủ Doãn Tông Tòa, và năm 1960 trở thành Giáo phận Chính tòa với vị giám mục đầu tiên người Việt Nam là Ðức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ.

Ðức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ, sinh ngày 14 tháng 10 năm 1922, trong một gia đình sùng đạo tại Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Ngày mùng 5 tháng 3 năm 1960, cha Dụ được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Giám mục hiệu tòa, coi sóc giáo phận Lạng Sơn. Ngày 26 tháng 11 năm 1960, cùng với việc thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam, Ðức cha Phạm Văn Dụ lại được bổ nhiệm làm Giám mục chính tòa Lạng Sơn. Nhưng hoàn cảnh lúc đó không cho phép Ðức cha được tấn phong Giám mục. Mãi đến ngày mùng 1 tháng 5 năm 1979, Ðức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ mới được tấn phong Giám Mục, do Ðức cha Phạm Ðình Tụng, giám mục Bắc Ninh. Sau đây là sơ lược tiểu sử và hành trình ơn gọi của ngài.

Những năm tháng ẩn dật (1960-1990)

Theo lý tưởng chung của các gia đình công giáo đạo hạnh thời đó, mấy anh em của Vinh Sơn đều muốn đi tu cả. Phạm Văn Thuyết là anh cả vào học chủng viện nhưng không bền đỗ. Anh thứ hai là Phạm Văn Lượng đi tu dòng Đaminh được gởi sang học tại Hồng Kông và đã khấn dòng nhưng cũng không lên tới chức linh mục. Phạm Thị Nhiệm là em gái út đi tu dòng nữ Đa minh tại Waterloo bên Bỉ.

Lúc còn nhỏ, Vinh Sơn theo học trường đệ tử dòng Phanxicô Thanh Hóa. Năm 1939 Vinh Sơn xin vào Tiểu Chủng Viện Thánh Têrêxa Lạng Sơn trong chương trình lớp đệ nhị. Sau đó thì được gởi đi Đại chủng viện Xuân Bích, Hà Nội. Thầy Dụ đã chịu chức linh mục năm 1948 do tay Đức cha Hedde. Sau khi ngài chịu chức, Đức cha có ý định gởi ngài xuống làm phụ tá cha Jeffro lúc đó đang làm bề trên nhà dòng Đa Minh. Nhưng vì địa phận chuẩn bị mở lại Tiểu chủng viện, cha Dụ được gởi lên làm cha phó tại Đồng Đăng để cha Haag rảnh rang về Lạng Sơn tu sửa khu Văn Miếu làm Tiểu chủng viện.

Sau khi Đức cha Jacq, cha Guibert và cha Nerdeux là những vị truyền giáo cuối cùng đã bị trục xuất khỏi địa phận Lạng Sơn, cha Dụ được Tòa Thánh đặt lên chức Tổng quản địa phận. Khi được tin ấy, chính quyền Việt Nam đề nghị cha Dụ lên Thất Khê coi xứ thay cha Guibert.

Tại Thất Khê, ngày 5 tháng 3 năm 1960 cha Dụ được Tòa Thánh bổ nhiệm Giám mục, hiệu tòa Boseta. Thế rồi, ngày 26 tháng 11 năm 1960, cùng với việc thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam, Đức cha Dụ được đặt lên làm Giám mục chính tòa Lạng Sơn. Dù vậy, Đức cha vẫn không được đi đâu để chịu lễ tấn phong Giám mục. Ngay trong dịp Đức cha Hedde qua đời tại Lạng Sơn ngày 4 tháng 5 năm 1960, Đức cha Dụ cũng không có mặt trong đám tang. Với Đức cha Dụ, theo nguyên tắc, Lạng Sơn đã thành địa phận Chính tòa, sau khi được các cha Đaminh Pháp tỉnh Lyon gầy dựng vun tưới trong vòng 50 năm. Lúc này, ngoài Đức cha Dụ ra, chỉ còn 3 linh mục phục vụ trong địa phận: cha Thu ở Cao Bằng, cha Khái ở Mỹ Sơn và cha Đức ở Lộc Bình.

Từ khi lên Thất Khê 1960, Đức cha Dụ sống âm thầm một mình, rất ít liên lạc với thế giới bên ngoài. Khi quân Trung Hoa tràn sang Việt Nam năm 1979, Đức cha Dụ đã cùng với một số giáo dân tản cư về Bắc Ninh. Thừa dịp này, Đức cha Phạm Đình Tụng, giám mục Bắc Ninh đã làm lễ tấn phong cho Đức cha Dụ trong một nhà nguyện nhỏ tại Tòa Giám Mục Bắc Ninh ngày 1 tháng 5 năm 1979. Sau lễ tấn phong, Đức cha đã trở về Thất Khê, không có sự thay đổi gì.

Ngày 2 tháng 4 năm 1979, Đức cha Micae Nguyễn Khắc Ngữ từ Long Xuyên báo tin ra ngoại quốc như sau:

“Đức Cha Dụ biên thư cho tôi từ Bắc Ninh ngày 15 tháng 3 năm 1979 và Đức cha Tụng ngày 19 tháng 3, Ngài cho biết là Đức cha Dụ sau mười ngày tản cư qua rừng, đã tới Bắc Ninh ngày 28 tháng 2 để bắt đầu Mùa Chay. Tại đây có thầy Quỳnh và 100 giáo hữu Lạng Sơn cũng tản cư về. Còn cha Khái đã về Bùi Chu, cha Đức không tin gì, thầy Thảo có lẽ bị pháo kích chết tại Đồng Đăng. Đàng khác, quân Tầu phá sụp gác chuông Nhà thờ Chính tòa Lạng Sơn; khu nhà các bà Notre Dame des Missions (Văn Miếu) ở Cửa Nam cũng bị phá. Nhà xứ Thất Khê chỗ thì mất mái, chỗ đổ tường. Còn Cao Bằng chưa rõ tin gì… Những ngày hai Đức cha ở cùng nhau vui vẻ êm đẹp lắm, và như vậy tinh thần Đức Cha Dụ lên khá cao, để trở về tái thiết giáo phận từ con số không. Ngài xin chúng tôi giúp đỡ, chúng tôi sẽ cố.”

Ngày 30 tháng 12 năm 1986 Đức cha Vinh Sơn viết ra ngoại quốc: “Tháng 7 vừa qua chúng tôi bị một cơn lụt kinh khủng, đến nóc nhà thờ Thất Khê. Không bị ai chết, nhưng về đồ đạc của cải thì giục xuống bùn cả. Ngẫm nghĩ mà thấy ứng nghiệm biết bao lời của các cụ xưa đã bảo: nạn vô đơn chí.”

Từ năm 1987 thì Đức cha có vẻ tự do hơn về tin tức. Ngày 25 tháng 8 năm 1987 ngài viết: “Tôi ngồi đây gần 30 năm rồi, có được tự do đi đến đâu đâu! Hội đồng Giám mục thế giới đến nơi, dĩ nhiên tôi chả hy vọng chút nào được đi. Tôi thông công bằng lời cầu nguyện vậy…”

Năm 1987, chị dòng Phạm Thị Nhiệm, người em gái của Đức cha ở Âu châu có được về thăm ngài trong những ngày từ 15 đến 21 tháng 11. Chị viết:

“Nhìn thấy cái bàn giấy của anh sao mà buồn thế; có mấy quyển sách nó xấu xí; con hỏi tại sao thì anh nói bị ướt vì năm vừa rồi bị lụt. Bàn ghế cũng chả ra sao cả. Rồi cái màn cửa để chia từ phòng giấy qua phòng ngủ lại là một miếng bao tải, trông thảm ơi là thảm. Sau khi con hỏi những sách em gởi về ở đâu. Ngài nói, “Có người họ cần hơn, anh để cho người ta”.

Chị chia sẻ tiếp: “Con thấy anh con sống rất là đơn sơ, không có vội vã và rất là bình tĩnh, con thì lo sợ, xong thấy anh con cứ rửng rưng. Con có cảm tưởng như có người anh “độc ẩn sĩ” và mục đích của anh là sống theo tinh thần Phúc âm.”

Ngày 11 tháng 2 năm 1989 Đức cha viết: “Năm nay tôi được lên dâng lễ Noel mãi trên Cao Bằng. Lễ nửa đêm sau vài chục năm im lặng, không khí cảm động khác thường. Đứng trên bàn thờ, tôi phải im lặng đến hơn 15 phút, vì họ chen chúc nhau đông quá, tưởng như nhà thờ sắp bể.”

Những năm tháng hy vọng (từ 1991 đến 2-9-1998)

Năm 1990, Đức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ về Lạng Sơn sau 31 năm ẩn dật tại Thất Khê. Toà giám mục được tạm thời đặt tại khu Văn Miếu, Cửa Nam.

Trong tạp chí “Các Giáo Hội Á Châu” (Pháp ngữ) cũng đề cập đến Đức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ. Theo nguồn tin của tạp chí này số 101 ngày 16 tháng 12 năm 1990 cho hay, chính quyền Việt Nam đã thừa nhận Đức cha Vinh Sơn là Giám mục Lạng Sơn Cao Bằng sau khi phái đoàn Hồng y Etchegaray gặp gỡ và thương lượng với chính phủ từ ngày 6 đến ngày 12 tháng 11 năm 1990. Dầu vậy Đức cha Vinh Sơn vẫn không thu xếp kịp để cùng đi với 21 Giám mục Việt Nam sang triều yết Đức Thánh Cha vào những ngày cuối tháng 11 và đầu tháng 12 năm 1990.

Sau khi được thừa nhận làm Giám mục, Đức cha bắt đầu được tự do đi lại. Ngày 21 tháng 1 năm 1991 Đức cha đã viết sang Pháp cho cha Phạm Phúc Khánh như sau:

“Chắc cha đã cầu nguyện nhiều nên nay tôi được viết mấy chữ này cho cha từ thành phố Hồ Chí Minh. Phải, cha có thể tưởng tượng được không? Tôi đã được giấy vào đây 25 ngày để thăm Đức cha Ngữ. Vừa rồi chính quyền Lạng Sơn đã gọi và bảo cho tôi hay là nhà nước đã công nhận tôi là giám mục của Lạng Sơn. Sau 31 năm chờ đợi, tôi cũng đã già rồi, chả còn sức để đi đây đó trong địa phận để làm ích cho giáo dân. Cha già Quỳnh đã hơn 80 tuổi rồi, nhưng ngài vẫn còn hăng hái lắm. Kỳ đi vắng này tôi giao cả địa phận cho ngài. Tôi được nhà nước công nhận, nhưng vẫn còn phải ở Thất Khê, chưa được về Lạng Sơn. Sự thực cũng khó nghĩ vì bây giờ về Lạng Sơn thì không biết rúc vào đâu. Cha về mau mà xây dựng lại địa phận. Được công nhận là Giám mục, tôi nói đến vấn đề Ad limina, nhưng Ban Tôn giáo trung ương nói: từ từ”.

Ngày 19 tháng 8 năm 1991 Đức cha Dụ đã đáp máy bay sang Rôma để triều yết Đức Thánh Cha và nhân tiện chữa bệnh luôn. Ngài nghỉ tại nhà quản lý Phát Diệm ít ngày rồi đi chữa bệnh tại Clinique Regina Mundi, Roma.

Theo báo “Dân Chúa”, số 110 tháng 12 năm 1991 thì lúc 7 giờ sáng ngày 18 tháng 11 năm 1991, Đức cha Dụ đã dâng Thánh Lễ với Đức Thánh Cha trong nhà nguyện riêng tại Vatican. Cùng dâng Thánh Lễ còn còn có 6 linh mục Việt Nam đến từ thành phố Hồ Chí Minh và Hoa Kỳ. Sau Thánh Lễ, Đức Thánh Cha đã mời Đức cha Dụ dùng bữa sáng với ngài. Đức Thánh Cha đã tặng Giám Mục Lạng Sơn một chén lễ quý giá.

Sau khi Đức cha chữa bệnh ít lâu tại Rôma, các bác sĩ cho biết bệnh tình của ngài không thể chữa khỏi hẳn được. Ngày 22 tháng 11, ngài được phép sang Bỉ thăm người em gái đồng thời đi hành hương Lộ Đức và Lisieux. Đến lúc cần phải đi Lyon cùng với Đức cha Jacq để gặp cha quản lý tỉnh Dòng Đaminh thì ngài mệt không đi được. Ngày 7 tháng 12 Đức cha đã trở về Việt Nam. Kể từ đó ngài dọn về ở Tòa Giám Mục Lạng Sơn.

Bước sang năm 1993 thì đời sống của Đức cha bắt đầu trở nên bình thường. Tuần Thánh năm đó, giáo dân các nơi trong khu vực kéo đến mừng lễ Phục Sinh rất sầm uất và long trọng. Mừng lễ Phục sinh ở Lạng Sơn xong, Đức cha đi các nơi: Thất Khê, Cao Bằng, Bố Từ, Tà Lùng. Đi đến đâu, ngài cũng phải một mình làm mọi việc: giải tội, rửa tội, cho chịu lễ lần đầu, xức dầu bệnh nhân, giải quyết các đôi vợ chồng rối ren. Năm ấy địa phận chỉ còn có Đức cha, khi ấy đã 71 tuổi và cha già Quỳnh 87 tuổi hoạt động trong cả miền.

Năm 1993, khởi công xây Toà giám mục. Dự định sẽ xây tiếp nhà thờ chính toà nhưng chưa thành.

Tòa Giám Mục Lạng Sơn do Đức Cha Dụ xây dựng

Năm 1995, khởi công xây dựng nhà thờ Thanh Sơn, Cao Bằng. Năm 1996, xây nhà thờ Cao Bình. Sang năm 1997, sức khoẻ của Đức cha ngày một giảm sút. Ngày 9-3-1998, Toà Thánh phê chuẩn đơn xin nghỉ hưu của Đức cha. Bệnh tình ngày càng trầm trọng, ngài đã qua đời lúc 0 giờ 45 ngày 2 tháng 9 năm 1998, sau 38 năm phục vụ Hội Thánh Chúa trong lặng lẽ ngang qua chức vụ giám mục của mình.

 

[Tóm tắt theo: Lm Phạm Phúc Khánh, Lược Sử Địa Phận Lạng Sơn, Cannes, 1994]

Cập Nhật Bệnh Trạng Ung Thư của Đức Giáo Hoàng Leo 14

Reuters

Theo Hãng tin Reuters, Tòa thánh Vatican cho biết Giáo hoàng Leo XIV đã được phẫu thuật cắt bỏ thùy dưới của phổi phải trong ngày 13-10 và được chẩn đoán mắc ung thư biểu mô tuyến phổi (lung adenocarcinoma), một dạng ung thư phổi phổ biến.

Vị giáo hoàng 71 tuổi được đưa vào Bệnh viện Gemelli ở Rome (Ý) vào hôm 13-10 để phẫu thuật cắt bỏ một khối u ở phổi được các bác sĩ phát hiện trong đợt kiểm tra sức khỏe gần đây.

Bác sĩ phẫu thuật chính của Đức Giáo hoàng, ông Stefano Margaritora, và bác sĩ riêng của ngài, ông Luigi Carbone, cho biết ca phẫu thuật kéo dài khoảng 90 phút, diễn ra thành công và không có biến chứng.

“Để điều trị triệt căn, chúng tôi đã cắt bỏ thùy dưới của phổi phải bằng kỹ thuật có hỗ trợ video” – hai bác sĩ cho biết, đồng thời nhấn mạnh mục tiêu của ca phẫu thuật là loại bỏ toàn bộ mô ung thư.

Phổi người có 5 thùy, trong đó phổi phải có ba thùy và phổi trái có hai thùy.

Một chuyên gia y tế cho biết để đánh giá tình trạng của Giáo hoàng, cần biết kích thước khối u và liệu ung thư đã di căn đến các hạch bạch huyết hay chưa. Vatican chưa cung cấp ngay những thông tin này.

Giáo hoàng đã tỉnh lại bình thường và đang nghỉ ngơi trong phòng bệnh. Trước đó, Vatican nói rằng Giáo hoàng dự kiến nằm viện một tuần để hồi phục và tất cả sự kiện trước công chúng của ngài đã bị hủy cho đến ngày 20-10.

 

toàn bộ phần khoanh tròn trong hình màu xanh là phần thùy dưới phải, bị cắt bỏ, nó là một mảnh khá lớn của lá phổi. Thùy dưới phổi phải chiếm khoảng 25% đến 30% tổng dung tích phổi.

Trong một phẫu thuật cắt thùy phổi tiêu chuẩn, các bác sĩ phẫu thuật sẽ cắt bỏ toàn bộ thùy phổi đó chứ không chỉ cắt riêng nốt khối u nhỏ. 

Các điểm chính về thủ thuật này:

  • Độ chính xác trong phẫu thuật: Việc cắt bỏ toàn bộ thùy phổi (phẫu thuật cắt thùy) giúp đảm bảo loại bỏ sạch sẽ các rìa mô xung quanh nốt ung thư để ngăn ngừa tái phát, thay vì chỉ cắt bỏ một miếng mô nhỏ.

  • Sự bù đắp của cơ thể: Vì các thùy phổi còn lại (thùy trên phải, thùy giữa phải và cả hai thùy phổi trái) sẽ giãn nở để lấp đầy khoảng trống, hầu hết mọi người đều phục hồi tốt và duy trì được sinh hoạt bình thường sau khi lành vết thương.

Hãng tin AFP dẫn một nguồn tin từ Vatican cho biết các xét nghiệm bổ sung đang được tiến hành để xác định liệu ung thư đã di căn hay chưa.

“Dù đã có chẩn đoán, chúng ta vẫn chưa biết bệnh đang ở giai đoạn nào. Điều này rất quan trọng đối với tiên lượng và điều trị” – bác sĩ Stephen Liu, chuyên gia ung thư phổi tại Đại học Georgetown (Mỹ), cho biết.

Ông giải thích: “Nếu khối u ở phổi còn nhỏ và ung thư chưa lan đến các hạch bạch huyết, chỉ riêng phẫu thuật nhiều khả năng đã có thể chữa khỏi bệnh. Tuy nhiên, nếu kết quả phân tích cuối cùng cho thấy ung thư đã lan rộng hơn, điều đó đồng nghĩa với tiên lượng kém khả quan hơn”.

Các tín hữu và cộng đồng trên khắp thế giới đang hướng về Tòa thánh Vatican, gửi những lời cầu nguyện chân thành nhất cho sức khỏe và sự phục hồi nhanh chóng của Đức Giáo hoàng. Sự quan tâm và tình cảm ấm áp từ mọi nơi là nguồn động viên lớn lao trong thời gian Ngài dưỡng bệnh sau phẫu thuật.

Buôi lần hạt cầu nguyện cho Đức Giáo Hoàng ở nhà nguyện bênh viện Gemelli, Rô Ma.

Sau ca phẫu thuật trên, Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio cho biết ông và vợ cùng cầu nguyện cho sức khỏe của Giáo hoàng Leo sau khi ngài được chẩn đoán mắc bệnh. “Cầu xin Chúa ban sức mạnh cho ngài” – ông Rubio viết trên mạng xã hội X.

Thủ tướng Úc Anthony Albanese cho biết ông cũng cầu nguyện cho Giáo hoàng, đồng thời gọi ngài là “tiếng nói vì hòa bình, lòng nhân ái và lý trí trong thế giới hiện đại của chúng ta”.

NGƯỜI BỊ ĐUỔI KHỎI TỔNG Y VIỆN CỘNG HOÀ NGÀY 30 THÁNG 04, 1975 ĐÃ QUA ĐỜI…

 
Nhân vật trong bức ảnh lịch sử ngày 30 Tháng Tư 1975 đã qua đời.
Tin từ Bình Phước cho hay, cựu Quân nhân VNCH Võ Phùng Dương đã qua đời do tuổi già sức yếu, một phần vì những di chứng chiến tranh đi kèm lao động nặng nhọc suốt một thời gian dài.
Ông Võ Phùng Dương là nhân vật trong bức ảnh lịch sử về người thương binh VNCH đang chữa trị ở Tổng Y Viện Cộng Hòa, Sài Gòn, đã phải chống nạng và dìu đồng đội thương tật nặng hơn mình bước ra khỏi Tổng Y Viện Cộng Hoà sau khi VC tràn vào, đuổi hết mọi người ra ngoài, kể cả những người đang mổ giữa chừng.
Đôi mắt buồn và ngơ ngác trước sự thật quá phũ phàng của người quân nhân Võ Phùng Dương trong bức ảnh, được sử dụng nhiều trên các tờ báo nước ngoài về cuộc ngừng bắn vào buổi trưa ngày 30 Tháng Tư 1975. (Sài Gòn trong tôi/ SGN/ Y Nguyên).
Thương phế binh Võ Phùng Dương, Số quân: 74/145 811, KBC: 3506, Tiểu Đoàn 52, Liên Đoàn 3, Biệt Động Quân, tạ thế vào 23g45, ngày 3 Tháng Ba 2023, (hưởng thọ 69 tuổi).
Linh cữu của ông được quàn tại nhà ở thị trấn Chơn Thành, huyện Chơn Thành, Bình Phước – vốn là một miếng đất của Ông chủ vườn… đã thuê mướn ông từ giai đoạn “kinh tế mới”, thương tình cho… để cất nhà.
Từ năm 1979 ông sống ở đó, trồng rau nuôi gà để mưu sinh.
Trong một phóng sự đi tìm nhân vật chứng nhân lịch sử với bức ảnh nổi tiếng, chúng tôi đã tìm đến nhà Ông và thăm hỏi, chia sẻ và thương mến một Công dân VNCH không khuất phục thời thế và cuộc đời của mình.
(Sài Gòn trong tôi/ SGN/ Y Nguyên)
Lúc đó, nhắc về nguyên cớ của việc có bức hình này… Ông Dương kể với giọng buồn buồn: “Người chụp tấm hình đó, là bạn của chú, cũng bị đuổi từ Tổng Y Viện ra, ảnh tên Lài.
Sẵn tay đang cầm cái máy Kodak, ảnh kêu tên chú rồi chụp luôn.
Không ngờ tấm hình đó sống dai vậy” !
Ông Dương nói rằng giờ cũng không biết Lài ở đâu, còn sống hay đã chết với những ngày tháng cam go không thua gì như cuộc chiến, sau cái Tháng Tư đó”.
Sau năm 1975, khi có các phái đoàn quốc tế đến tìm hiểu cách ứng xử với các cựu quân nhân VNCH sau ngày 30 Tháng Tư 1975, nhiều nhân chứng có kể về việc họ bị đẩy ra khỏi giường bệnh, bị đuổi ra đường không có thuốc men chuẩn bị cho các ngày kế.
Nhưng không ai có mang giá trị lịch sử đầy sức nặng như ông Võ Phùng Dương, vì ông là người chứng kiến, là nạn nhân trực tiếp, và hình ảnh xuất hiện trên khắp thế giới.
Nhắc lại giờ phút đó, ông Võ Phùng Dương nói, suýt bật thành tiếng chửi thề:
“Họ nói giọng Bắc, kêu đ*t mẹ chúng mày, cút ra hết”.
Tất cả phải lặng lẽ kéo nhau ra bằng Cổng sau, vì phía quân Bắc Việt không muốn bị dân chúng nhìn thấy cảnh tàn nhẫn này.
Ông Võ Phùng Dương là Thương phế binh VNCH, nhưng chưa một lần ghé đến được Chương trình Tri ân TPB VNCH của các Cha Dòng Chúa Cứu Thế vì quá xa xôi và đi đứng bất tiện.
Ông nói mình chỉ muốn gặp anh em là chính, chứ đời sống thì có thể tự lo toan được.
Quà hỗ trợ, ông nói là để nhường cho anh em khó khăn hơn.
Sự ra đi của ông Dương cũng là điều buồn và tiếc nuối của những người có lòng với di sản VNCH và khát khao ghi lại những chứng tích lịch sử, mà chưa có cơ hội để thực hiện.
Y Nguyên
(Sài Gòn trong tôi/ SàiGònNhỏ)

Tự giải thoát hay là ảo giác, ảo tưởng và ảo vọng

Bài của Gemini AI

Ảo tưởng mình có thể tự giải thoát  bằng cách buông bỏ hết, thực ra, đó là tính cách kiêu ngạo ẩn danh khi “cái tôi” khinh chê, đi trốn và tự tách ra khỏi xã hội

Sự tự tôn vinh bản thân giống như một làn mây mù: nó tạo ra ảo ảnh rằng ta đang ở trên đỉnh núi, nhưng thực chất chỉ đang làm ta mất phương hướng trong thung lũng. Ranh giới giữa sự vĩ đại thật sự và sự ảo tưởng chính là lòng khiêm nhường.

 

Chỉ khi biết hạ mình xuống, nhìn nhận sự yếu đuối của bản thân để đón nhận Ơn Cứu Chuộc và mở lòng kết nối bình đẳng với mọi người, con người mới tìm lại được sự minh triết trong tâm trí, sự bình an trong tâm hồn và niềm vui sống giữa cộng đồng.

Như lời mời gọi của Đức Kitô : “Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên”.

 

Trong hành trình định hình bản thân, ranh giới giữa lòng tự trọng lành mạnh và sự tự tôn vinh thái quá (kiêu ngạo, tự đôn mình lên cao) thường rất mong manh. Khi một cá nhân tự đặt mình lên vị trí cao hơn người khác—dù về trí tuệ, đạo đức hay địa vị—họ vô tình rơi vào một cạm bẫy tâm lý nguy hại. Sự tự tôn vinh bản thân không mang lại tầm vóc thực sự; trái lại, nó tạo ra những ảo tưởng sai lệch, dẫn đến sự mơ hồ trong tư duy và cuối cùng đẩy con người ta rời xa, xa lánh khỏi các hoạt động xã hội.

1. Ảo Tưởng Tự Tạo Và Sự Mất Kết Nối Với Thực Tai

Tự tôn vinh bản thân sinh ra từ mong muốn khẳng định giá trị, nhưng khi vượt quá giới hạn, nó trở thành một cơ chế phòng vệ lệch Lạc. Người sống trong sự tự tôn vinh bắt đầu xây dựng một ảo tưởng về sự ưu việt: họ tin rằng mình đặc biệt hơn, sáng suốt hơn hoặc phải gánh vác những sứ mệnh mà người thường không hiểu nổi.

Can meditation Give you Superpowers: Harnessing the Power of ...

Ảo tưởng này bóp méo nhận thức của họ về thực tế. Họ từ chối tiếp nhận các phản hồi mang tính xây dựng vì coi đó là sự xúc phạm; họ phủ nhận những sai sót của bản thân để bảo vệ bức tượng đài hoàn hảo tự dựng lên. Khi không còn nhìn nhận bản thân và thế giới bằng sự khách quan, con người ta dần sống trong một “tháp ngà” khái niệm, nơi sự thật bị thay thế bởi những suy tưởng tự thổi phồng.

2. Sự Mơ Hồ Và Căng Thẳng Trong Nội Tâm

Sống sau một lớp vỏ kiêu ngạo luôn đi kèm với một cái giá rất đắt về tâm lý. Sự tự tôn vinh tạo ra xung đột gay gắt giữa bản chất thật (với đầy đủ sự tổn thương, giới hạn của một con người) và hình mẫu ảo tưởng mà họ phải cố gồng gánh.

Chính khoảng cách này gieo rắc sự mơ hồ và hoang mang trong tâm trí:

  • Họ luôn lo sợ bị bóc trần hoặc bị đánh giá không đúng với “tầm vóc” họ tự nhận.

  • Sự mơ hồ khiến họ khó phân biệt đâu là tình cảm chân thành, đâu là sự vuốt ve ego (cái tôi).

  • Nhận thức bị mất gốc (unrounded) khiến họ dễ rơi vào trạng thái hoài nghi, mất phương hướng và hoang tưởng rằng thế giới xung quanh không đủ thấu hiểu hoặc đang chống lại mình.

3. Sự Xa Lánh Xã Hội: Từ “Độc Hành” Đến Cô Lập

Hệ quả tàn nhẫn nhất của sự tự tôn vinh bản thân chính là sự rút lui và rời xa các hoạt động xã hội. Khi một người tự coi mình ở một tầng bậc khác, họ bắt đầu nhìn nhận các mối quan hệ xã hội thông thường là “tầm thường” hoặc “tốn thời gian”.

Sự xa lánh này diễn ra qua hai cấp độ:

  • Chủ động rút lui: Họ từ bỏ các sinh hoạt cộng đồng, tránh né việc giao lưu với bạn bè hay đồng nghiệp vì cho rằng không ai cùng “tầng tần số” với mình. Họ nhầm lẫn sự cô lập này với sự tĩnh lặng của bậc hiền triết, nhưng thực chất đó là sự trốn chạy thực tại.

MINSHUKU KINJO - Reviews (Zamami-son, Japan - Okinawa Prefecture)

  • Bị xã hội đẩy ra: Mối quan hệ con người bền vững dựa trên sự bình đẳng và lắng nghe. Sự coi thường, trịch thượng xuất phát từ kẻ tự tôn vinh sẽ dần đẩy những người xung quanh ra xa. Không ai muốn ở cạnh một người luôn tìm cách dìm người khác xuống để nâng mình lên.

Cuối cùng, sự “độc hành” mà họ tự hào lại trở thành một nhà tù cô đơn, nơi họ tự giam mình trong sự ruồng bỏ xã hội và mất đi nguồn nâng đỡ tinh thần từ cộng đồng.

Kết luận:

Đạo Công Giáo đặt căn bản trên lòng tin vào ơn cứu độ đến từ Thiên Chúa độc nhất, toàn năng, nhân từ chứ không phải từ bất cứ một thế lực, nhân lực, thần lực nào khác.

Giải Nobel hòa bình thảm hại năm 1973

Dưới đây là bài luận chi tiết  về thảm họa lịch sử của Giải Nobel Hòa bình năm 1973 và cú sốc địa chính trị hai năm sau đó khi Miền Nam Việt Nam sụp đổ vào năm 1975- Bài do AI Gemini viết:

Khi Biểu Tượng Hòa Bình Che Lấp Thực Tại Lịch Sử: Thảm Họa Nobel Hòa Bình 1973 và Sự Cố Năm 1975

Chân dung những cá nhân từng đạt giải Nobel Hòa bình, trong đó có ông Kissinger (hàng trên cùng, thứ hai từ trái sang), được trưng bày tại Viện Nobel Na Uy ở Oslo. Ảnh: Reuters.

Chân dung những cá nhân từng đạt giải Nobel Hòa bình, trong đó có ông Kissinger (hàng trên, thứ hai từ trái sang), được trưng bày tại Viện Nobel Na Uy ở Oslo. Ảnh: Reuters.

Trong lịch sử hơn 120 năm của Giải Nobel Hòa bình, Ủy ban Nobel Na Uy ở Oslo từng đưa ra nhiều quyết định gây tranh cãi. Tuy nhiên, không có sự kiện nào bộc lộ sự sai lầm thảm hại giữa kịch bản ngoại giao trên giấy tờ và thực tại tàn khốc trên chiến trường rõ ràng như quyết định trao giải năm 1973 cho cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Henry Kissinger và nhà ngoại giao Bắc Việt Lê Đức Thọ.

Diễn biến lịch sử hai năm sau đó — khi quân đội Bắc Việt tràn vào Sài Gòn, xóa bỏ hoàn toàn Việt Nam Cộng hòa vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 — không chỉ làm sụp đổ Hiệp định Paris mà còn giáng một đòn chí mạng vào uy tín của tổ chức trao giải tại Oslo.

 Hiệp Định Paris 1973: Tấm Màn Ngoại Giao Cho Một Lối Thoát

Tháng 1 năm 1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết. Ngay lập tức, Ủy ban Nobel tại Oslo đã vội vã vinh danh Henry Kissinger và Lê Đức Thọ vì đã “thương lượng thành công một thỏa thuận hòa bình”.

Tuy nhiên, giới quan sát và các nhà phân tích địa chính trị sắc bén thời đó đã sớm nhận ra bản chất thực sự của thỏa thuận này:

  • Chiến lược “Khoảng cách Thích hợp” (Decent Interval): Đối với Washington, Hiệp định Paris thực chất là một chiến thuật rút quân trong danh dự cho nước Mỹ. Mục tiêu chính là đưa tù binh Mỹ về nước và rút toàn bộ bộ binh Mỹ ra khỏi chiến trường, tạo ra một “khoảng thời gian chấp nhận được” trước khi tình hình Miền Nam tự biến động.

  • Sự gạt bỏ bên liên quan trực tiếp: Hiệp định được đàm phán chủ yếu giữa hai thế lực lớn, đặt chính quyền và quân dân Việt Nam Cộng hòa vào thế đã rồi. Việc cho phép hàng trăm ngàn quân chủ lực Bắc Việt tiếp tục ở lại lãnh thổ Miền Nam sau khi Mỹ rút đi đã tạo ra một sự mất cân bằng quân sự chí mạng.

Saigon in Vietnam on April 30, 1975 - North Vietnamese tanks entered ...

2. Lời Thú Nhận Sự Thật Từ Chính Những Người Trong Cuộc

Sự phi lý của giải thưởng lớn đến mức chính các nhân vật chính cũng không thể che đậy:

  • Lê Đức Thọ từ chối nhận giải: Ông trở thành người đầu tiên trong lịch sử tuyên bố thẳng thắn từ chối Giải Nobel Hòa bình. Ông thẳng thắn chỉ ra rằng hòa bình thực sự chưa hề lặp lại ở Việt Nam và các bên vẫn đang vi phạm thỏa thuận. Thực tế, phía Bắc Việt xem khoảng thời gian này là cơ hội vàng để củng cố tuyến đường tiếp vận Trường Sơn và chuẩn bị cho trận chiến quyết định.

  • Henry Kissinger muốn trả lại huy chương: Sau khi Sài Gòn thất thủ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, Kissinger đã gửi điện văn đề nghị trả lại tấm huy chương và tiền thưởng Nobel, thừa nhận rằng Hiệp định Paris đã thất bại hoàn toàn. Tuy nhiên, Ủy ban Nobel đã từ chối nhận lại vì quy chế tổ chức không cho phép tước hay hủy giải thưởng.

  • Làn sóng phản đối nội bộ: Lần đầu tiên trong lịch sử Nobel, hai thành viên trong chính Ủy ban Nobel Na Uy đã từ chức để phản đối quyết định này. Báo chí quốc tế lúc bấy giờ cay đắng gọi đây là “Giải thưởng Chiến tranh” (The War Prize).

3. Sự Sụp Đổ Năm 1975 và Bài Học Về Niềm Tin

Chỉ hai năm sau khi Ủy ban Oslo ăn mừng “hòa bình”, các đoàn xe tăng Bắc Việt húc văng cổng Dinh Độc Lập vào mùa xuân năm 1975, chính thức chấm dứt sự tồn tại của Việt Nam Cộng hòa. Sự kiện này mang lại những bài học đắt giá:

  1. Rủi ro của việc vội vã vinh danh “Ý định”: Việc trao giải thưởng dựa trên những lời hứa ngoại giao thay vì kết quả thực chứng bền vững trên thực địa là sai lầm chết người.

  2. Sự mù kìm của các tổ chức quốc tế: Khi các tổ chức quốc tế ưu tiên các kịch bản ngoại giao đẹp mắt mà phớt lờ ý đồ chiến lược thực sự và cán cân lực lượng thực tế, họ tự biến mình thành công cụ hợp thức hóa cho một cuộc can thiệp hoặc chiếm đóng tiếp theo.

  3. Xói mòn niềm tin công chúng: Khi một tổ chức nhân danh hòa bình lại trao thưởng cho một thỏa thuận dẫn đến sự sụp đổ của cả một quốc gia và thảm cảnh hàng triệu người phải bỏ nước ra đi (làn sóng người vượt biển – Boat People), niềm tin của công chúng vào tính trung lập và sắc bén của tổ chức đó sẽ bị tổn thương vĩnh viễn.

Kết Luận

Sự kiện năm 1975 là minh chứng lịch sử đắt giá nhất cho thấy: Mọi tờ giấy cam kết ngoại giao hay giải thưởng danh giá đều trở nên vô nghĩa nếu nó thoát thoát khỏi logic thực tế và bản chất của quyền lực.

Thảm họa Nobel Hòa bình năm 1973 không chỉ là một vết đen trong hồ sơ của Ủy ban Oslo, mà còn là lời nhắc nhở vĩnh viễn cho nhân loại rằng: Hòa bình thực sự không thể được xây dựng bằng sự ngụy biện ngoại giao hay những ảo tưởng trên giấy tờ.

Chưa bao giờ XHCN Nước ta lại giầu đến thế – Nước, Nhà, Xe, Hóa Chất, Ung Thư

PHÉP LẠ THỜI HIỆN ĐẠI: RƠI TỰ DO TỪ MÁY BAY F15 MÀ KHÔNG CHẾT

 
 
Video “Đó là một phép màu” – Phi công F-15 tiết lộ 50 giờ sinh tồn và chiến dịch giải cứu nghẹt thở (do SGP Thuyết Minh đăng tải, chuyển thể từ phóng sự của 60 Minutes của đài CBS) kể lại câu chuyện sinh tồn và được giải cứu của một phi công tiêm kích Không quân Hoa Kỳ sau khi bị bắn rơi trong lãnh thổ đối phương, Iran.
Hình minh họa

Tóm tắt về “Phép màu” rơi tự do mà không tử vong!

  • Cánh Dù  không bung: Sau khi phóng ghế khỏi máy bay bị trúng đạn, Đại tá Bravo phát hiện dù cứu hộ của mình đã bị hư hỏng nặng và không thể bung ra do sức ép vụ nổ  từ tên lửa vác vai của Iran, khiến ông rơi tự do xuống đất.

  • Va chạm cực mạnh: Dựa trên các chấn thương và mô tả hiện trường, các chuyên gia y học hàng không quân sự ước tính ông đã va chạm với mặt đất ở tốc độ 70 đến 100 dặm/giờ (113–161 km/h)—vận tốc va chạm thông thường luôn gây tử vong.

  • Sống sót thần kỳ: Dù mô tả cú va chạm “như bị một đoàn tàu băng băng lao vào và tông cho tan tác”, ông vẫn sống sót mà không bị tổn thương nội tạng gây tử vong hay bị liệt. Ông bị gãy cột sống, gãy tay, gãy xương vai, bong gân cổ chân và rách nhiều vị trí trên mặt.

  • Lẩn tránh & Được giải cứu: Vẫn giữ được ý thức, ông cầu nguyện và phát tin nhắn “God is good” (Chúa thật tốt lành) qua thiết bị định vị. Dù bị gãy nhiều xương, ông đã bò và leo lên dãy núi Zagros ở độ cao hơn 2.100m (7.000 feet) để lẩn tránh khoảng 1.500 quân địch đang truy quét, trước khi được Lực lượng Đặc nhiệm Hoa Kỳ giải cứu sau 50 giờ.

Trong cuộc phỏng vấn với chương trình 60 Minutes của đài CBS, Đại tá Bravo chia sẻ rằng việc sống sót sau cú va chạm tốc độ cao và 50 giờ sinh tồn giữa vùng địch là một “phép màu thời hiện đại” nhờ  sự che chở đặc biệt của Thượng Đế.

“Lạy Chúa, xin cho ý Ngài được nên trọn, nhưng nếu con phải vượt qua tình cảnh này, xin cứu giúp con”  (Đại tá Bravo)

Cha Tùng Lương Dòng Chúa Cứu Thế Chia sẻ

Mình đọc các văn bản của Tòa Thánh và Quy chế Sách lễ Rôma, việc rước lễ thông thường là trên miệng, còn tùy HĐGM. địa phương định liệu phương cách khác, ví dụ trên tay... Cho nên mình không từ chối ai xin rước lễ trên miệng, nhất là các dịp lễ lớn như Giáng Sinh, hành hương ở các trung tâm... nơi rất đông người thuộc tôn giáo khác trà trộn vào thường dễ sinh ra nguy cơ phạm thánh.

Tin tức:

Toà Thánh nhắc nhở 2 Giám Mục Argentina vì từ chối cho giáo dân Rước Lễ bằng miệng
Ngày 13/05/2026, nguồn tin thân Vatican đưa tin Thánh bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích của Toà Thánh đã sửa sai và nhắc nhở 2 Giám Mục Argentina rằng các tín hữu có toàn quyền Rước Lễ bằng miệng và quỳ, không được bắt buộc ai phải Rước Lễ bằng tay, sau khi nhận được tin giáo quyền 2 giáo phận của 2 Giám Mục này hạn chế hoặc cấm các tín hữu Rước Lễ theo hình thức đó.
2 Giám Mục đó là Tổng Giám Mục Marcelo Colombo của tổng giáo phận Mendoza, chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Argentina, và Giám Mục Gabriel Barba của giáo phận San Luis.
Thánh bộ Phụng tự khẳng định: các tín hữu được tự do nhận Thánh Thể theo các hình thức được Giáo Hội thiết lập, và quyền đó không thể bị giới hạn. Các hình thức hợp pháp là đón nhận Thánh Thể bằng miệng hoặc bằng tay, khi đứng hoặc quỳ.
Việc can thiệp của Toà Thánh xảy ra sau những tranh cãi lớn từ tháng 09/2025. Cụ thể, vào thời gian trên, TGM Colombo yêu cầu rằng “ở Argentina, chỉ được Rước Lễ đứng và bằng tay”. Sau đó, tại Vương cung Thánh đường San Francisco ở Mendoza, một cha dòng Phan Sinh đã quát một nhóm giáo dân “Đứng lên” khi những người này cố tình quỳ để Rước Lễ. Nhóm giáo dân đó chấp nhận đứng lên, trừ 1 người, và cuối cùng người quỳ này bị từ chối ban Thánh Thể.
Ở giáo phận San Luis, Đức cha Gabriel Barba yêu cầu tất cả các thừa tác viên Thánh Thể phải Rước Lễ bằng tay để làm gương cho các giáo dân, và yêu cầu giáo dân hạn chế Rước Lễ bằng miệng. Giám Mục tiền nhiệm của giáo phận này lại là người hết sức khuyến khích Rước Lễ bằng miệng.
Tổng Giám Mục Colombo giải thích rằng quy định của ngài tuân theo những hướng dẫn trong sách lễ Rôma và quyết định của Hội Đồng Giám Mục Argentina, Toà Thánh bác bỏ và nhấn mạnh rằng mọi quy định không được trái nghịch huấn thị chung của Hội Thánh, được quy định trong Redemptionis Sacramentum.
Những diễn biến này xảy ra trong lúc tranh cãi giữa những người theo chủ nghĩa truyền thống và hiện đại vẫn xung đột nhau: những người gắn bó với truyền thống đang cảm thấy bị loại trừ và phân biệt đối xử khi muốn Rước Lễ theo hình thức cổ là quỳ và Rước Lễ bằng miệng.
Trong quá khứ, Toà Thánh cũng đã nhiều lần cố bảo đảm quyền Rước Lễ bằng tay và bằng miệng cho các tín hữu. Năm 2004, trong huấn thị Redemptionis Sacramentum của Thánh bộ Phụng tự nói: “mỗi tín hữu luôn có quyền Rước Lễ trên lưỡi. Thật không phải phép khi từ chối cho Rước Lễ với bất kỳ tín hữu Chúa Kitô nào chỉ vì những lý do như người đó muốn rước Thánh Thể khi quỳ hay đứng.” Huấn thị này tiếp nối chỉ dẫn của huấn thị Memoriale Domini năm 1969, trong đó cho phép Rước Lễ bằng tay như một đặc quyền ban thêm trong khi vẫn duy trì Rước Lễ bằng miệng như hình thức thông thường phổ quát.
Trường hợp ở Argentina là phản chiếu tình hình rộng lớn hơn đang diễn ra trên thế giới, trong đó nhiều Hội Đồng Giám Mục và Giám Mục địa phương, thậm chí cha xứ, đã thiết lập những quy tắc giới hạn quyền của tín hữu trái với luật Hội Thánh. Dĩ nhiên Đấng bản quyền địa phương có thể đưa ra những hướng dẫn đời sống đạo cho các tín hữu thuộc quyền mình, nhưng không thể cấm những điều luật chung Hội Thánh cho phép.
Ở Việt Nam, nhiều nơi cũng đang áp đặt hình thức Rước Lễ bằng tay (cấm Rước Lễ miệng) dù Toà Thánh luôn cho phép tín hữu tuỳ chọn Rước Lễ bằng tay hoặc bằng miệng tuỳ cảm thức. Hy vọng các Đấng bản quyền và các cha xứ suy nghĩ lại để tuân thủ đúng đắn hơn các chỉ dẫn của Toà Thánh.
Theo Catholic Herald
Gioakim Nguyễn biên dịch

Cải chính của Đức TGM Marcelo Daniel Colombo

Desmienten una “reprimenda” del Vaticano y en San Luis también consideran  falsa la versión | DePolítica

TGM Daniel Colombo                                             GM Gabriel Barba

Hôm thứ Hai , Tổng Giám mục Mendoza, Marcelo Daniel Colombo , đã lên tiếng bác bỏ một cách dứt khoát, thông qua hãng thông tấn Công giáo Argentina AICA, một phiên bản lan truyền trên mạng xã hội và các trang web liên kết với thế giới Công giáo, cho rằng Vatican đã khiển trách ông và Giám mục San Luis, Gabriel Barba , vì những hạn chế được cho là đối với các tín hữu muốn rước lễ quỳ và bằng lưỡi.

Về tình hình tại Mendoza (thực tế ở địa phương):

⚠️ Đã có tranh cãi và một số thực hành hạn chế trước đây

⚠️ Chưa thấy công bố rõ ràng rằng giáo phận đã chính thức sửa luật địa phương

👉 Nhưng sau khi Vatican lên tiếng, việc cấm là không còn hợp với luật chung của Giáo hội

Tô Lâm đang bị rớt điểm trong bộ Chính Trị – Tranh Chấp nội bộ căng thẳng trước kỳ bầu Tổng Bí Thư Đảng

TRÀN NGẬP THÔNG TIN RÒ  RỈ VÀ BÌNH LOẠN TRÊN MẠNG CỦA CÁN BỘ VÀ DÂN ĐEN

BÌNH LUẬN CỦA ĐÀI BBC

bản tin HOA THỊNH ĐỐN

Một số người đặt niềm tin vào phe quân đội có thể lật đổ được phe Tô Lâm; nhưng nên nhớ, Tô Lâm có khá nhiều thân tín trong Bộ Quốc phòng như Đại tướng Trịnh Văn Quyết, Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến…

Hồi 9/10, mạng xã hội rộ lên thông tin Phan Văn Giang thay Tô Lâm làm tổng bí thư. Nguồn cơn là từ Facebook ông Đinh Bá Truyền đăng lên. Theo đó, sau khi Hội nghị Trung ương 13 bế mạc, Phạm Minh Chính, Lương Cường và Trần Thanh Mẫn coi như sẽ về vườn.

Đồng thời, ông Truyền cũng cho rằng Bộ Chính trị đã thực hiện cuộc bỏ phiếu kín cho vị trí Tổng Bí thư nhiệm kỳ sau. Trong đó, Phạm Minh Chính chỉ được 1 phiếu (có thể do ông Chính tự bầu cho mình), Tô Lâm được 6 phiếu, và điều bất ngờ là Phan Văn Giang được 9/16 phiếu bầu. Điều này có nghĩa Phan Văn Giang đang chiếm ưu thế trong cuộc đua giành ghế Tổng Bí thư.

Tới ngày 12/10, câu chuyện tiếp tục được bàn tán khi Tô Lâm và Phan Văn Giang tới dự lễ kỷ niệm 80 năm ngày truyền thống lực lượng vũ trang Quân Khu 4 tổ chức ở tỉnh Nghệ An. Tại đây, người dẫn chương trình của Quân khu 4 đã đọc Đại tướng Phan Văn Giang là Bí thư Quân Ủy Trung Ương. Trong khi đó chức danh lãnh đạo tối cao của quân đội này đang là của Tô Lâm, Phan Văn Giang chỉ là Phó Bí thư Quân uỷ Trung ương…

BÁO TIẾNG DÂN

Tấm hình Tô Lâm (phải) ăn thịt bò dát vàng ở London khi người dân tại Việt Nam đang khốn đốn với đại dịch COVID-19, Tháng Mười Một, 2021. (Hình: Cắt từ clip tiktok của Nusr-Et)

Khởi đầu, nhiều người phấn khích trước tin ông Tô Lâm bị buộc phải rời cương vị hiện tại (tổng bí thư) ở nhiệm kỳ tới. Kế đó, không ít người thất vọng khi nghe nói, đội ngũ lãnh đạo Bộ Chính Trị đảng CSVN nhiệm kỳ tới (khóa 14) gần như không có thay đổi nào đáng kể.

Sẽ có nhiều cá nhân lẽ ra phải rời chính trường vì quá độ tuổi đã được xác định trong Điều Lệ Đảng CSVN nhưng cuối cùng vẫn tiếp tục “cầm cân, nảy mực” vì được BCH TƯ đảng khóa này xem là “trường hợp đặc biệt!”

Tuyên bố của ông Tô Lâm về việc lựa chọn cá nhân lãnh đạo đảng CSVN nhiệm kỳ tới phải có “năm cộng” (ngoài các tiêu chí như đã biết phải thêm năm yếu tố là “đức, tài, uy tín, tầm nhìn, khả năng triển khai mục tiêu lớn”) giống như một kiểu nói đùa làm thiên hạ… ứa lệ!

 

Mạng Đại Ngu

Tô Lâm không đủ tiêu chuẩn làm Tổng bí thư nhiệm kỳ 2026-2031?

 
Chiểu theo tiêu chuẩn, bác Tổng bí thư hiện nay Tô Lâm không đủ điều kiện để làm Tổng bí thư nhiệm kỳ 2026-2031, vì:
 
1. Bác Tô Lâm không có phẩm chất đạo đức lối sống và ý thức tổ chức kỷ luật. Cụ thể:
– Nghi vấn liên quan tới vụ án MobiFone-AVG …
– Vụ án bắt cóc Trịnh Xuân Thanh ở Đức …
– Hình ảnh ăn bò dát vàng do đầu bếp Salt Bae cung cấp ngày 3/11/2021
– …
 
2. Về trình độ năng lực, uy tín và khả năng quy tỵ đoàn kết:
– Những thất bại trong các dự án thay đổi giấy chứng minh nhân dân, căn cước công dân, thẻ công dân…
– Những xáo trộn xã hội, xáo trộn hệ thống chưa có hồi kết sau quyết định sáp nhập tỉnh, xoá hệ thống chính quyền 3 cấp.
– … 
 
3. Về độ tuổi: Ông Tô Lâm sinh ngày 10/7/1957, tính đến nay đã tròn 68 tuổi, nằm trong độ tuổi nghỉ hưu trừ phi được Ban Chấp hành Trung ương đảng quyết định cho làm trường hợp đặc biệt.
 
4. Phẩm chất, năng lực: Không đáp ứng yêu cầu về phẩm chất, năng lực ít nhất ở mục có uy tín cao trong nhân dân. Những thống kê sơ bộ trên các trang mạng xã hôi và ngoài đời cho thấy tỷ lệ ủng hộ ông Tô Lâm được làm Tổng bí thư là rất thấp so với Đại tướng Phan Văn Giang.
 
Ngoài ra, ông Tô Lâm còn có một số dấu hiệu bè phái, địa phương chủ nghĩa khi sử dụng quyền uy của mình để sắp xếp, bố trí nhân sự trước Đại hội. Cụ thể:
 
– Cất nhắc các ông Lương Tam Quang, Nguyễn Duy Ngọc (cùng quê Hưng Yên, cùng ngành công an, cùng vây cánh) vào Bộ Chính trị khi cả hai ông này chưa đáp ứng đủ tiêu chuẩn theo quy định 241: Làm trọn một nhiệm kỳ trong Ban chấp hành Trung ương đảng.
 
– Đưa ông Vũ Hồng Văn (em trai của vợ cũ) lên chức Thiếu tướng dù ông này chỉ là lính nghĩa vụ công an chuyển sang chuyên nghiệp, sau đó đưa vào nắm chức Bí thư tỉnh uỷ Đồng Nai.
 
– Cất nhắc con trai (Tô Long) lên làm Cục trưởng Cục an ninh đối ngoại, tặng Huân chương Chiến công.
 
– Đưa ông Nguyễn Thanh Tùng, Mai Hoàng, Tô Anh Dũng… cùng quê Hưng Yên nắm các vị trí Giám đốc công an HN, HCM và Thanh Hoá, làm cho tổng số người nắm chức vụ cao trong đảng và chính quyền của riêng tỉnh Hưng Yên và những người có quan hệ họ hàng với Tổng bí thư lên con số cao bất thường…
Hoàng Dũng
 

Cuộc Cách Mạng về Phim Đạo được công chiếu ở Việt Nam năm 2025

  • Cuộc đời của Chúa Giê Su được công chiếu ở các rạp chiếu bóng lớn ở Việt Nam ngay trong thời XHCN.
  • “Vua của các Vua” diễn tả trung thực Kinh Thánh bằng ngôn ngữ hoạt hình 3D.
  • Phim được quảng bá ở những nơi trang trọng nhất
  • Phim được lồng tiếng Việt với các diễn viên thượng thặng: Hứa Vĩ Văn và Thành Lộc.
  • Dù phim  bị cấm cho trẻ em dưới 13 tuổi xem, nhưng lại có  con số khán giả đông đảo  trong mùa giáng sinh 2025.

Câu chuyện sử dụng một thủ pháp kể chuyện độc đáo :
Charles Dickens cố gắng kể lại câu chuyện Giáng Sinh nhưng cuối cùng lại thuật lại cuộc đời của Chúa Giê-su cho con trai mình là Walter. Thông qua trí tưởng tượng phong phú, Walter và chú mèo của cậu cùng tham gia vào hành trình của Chúa Giê-su—chứng kiến ​​sự giáng sinh, các phép lạ và cuộc Khổ nạn. Bộ phim nhấn mạnh đức tin, sự cứu chuộc và tình yêu thương , khiến nó trở nên dễ tiếp cận với gia đình và trẻ em.