ĐẠO CHÚA VỚI LUÂN HỒI

                                                                                           tác giả PHÙNG VĂN HOÁ

 Trong giới trí thức Phương Tây ít năm gần đây, người ta háo hức chạy theo Phật Giáo và tỏ ra rất hâm mộ Thuyết Luân Hồi vì cho rằng chỉ có nó mới có thể giải quyết được rốt ráo vấn đề sinh tử, tử sinh của con người. Trước tình hình không mấy sáng sủa đó, những người tha thiết với việc bảo vệ Đức Tin Công Giáo không  thể thờ ơ. Mới đây, để chuẩn bị cho Đại Lễ Phục Sinh, Đức Hồng Y Godfried Daneels, Tổng Giám Mục Malines ( Bỉ ) đã cho phổ biến Thư Mục Vụ mang tựa đề “Bên kia cõi chết” trong đó ngài  nhấn mạnh những khác biệt căn bản giữa Đức tin Kitô Giáo vào sự Phục Sinh và niềm tin vào Luân Hồi” ( KinhThanhvn.com ).

 Để có thể nhận ra  sự khác biệt ấy là như thế nào, thiết nghĩ cũng cần nên biết quan điểm của Thư Mục Vụ về cả hai lãnh vực Phục Sinh và Luân Hồi.

Về  sự Phục Sinh được đề cập thì đây không phải sự Sống Lại của Đức Kitô nhưng là của mọi con người sau khi chết. “Cái chết không có nghĩa là sự  kết  thúc của hữu thể nhân loại, họ vẫn tiếp tục sống bên cạnh Thiên Chúa là Đấng đưa họ vào mãi mãi  trong cuộc  sống mới cùng với một thân xác được tôn vinh, tất cả những điều này vì cái chết và sự Phục Sinh của Đức Kitô. Đấng không ở lại trong mồ nhưng quyền uy  Thiên Chúa đã làm cho Ngài về lại  cõi sống” ( KinhThanhvn.org ).

 Còn đây là  cái hiểu về Luân Hồi: “Sau khi chết, hữu thể nhân loại trở về lại cuộc sống dương thế nhưng là trong một thân xác khác. Tiến trình này thay đi đổi lại một số lần không xác định được, như vậy có khả năng “làm lại cuộc đời” ( KinhThanhvn.org ).

      Ta có thể tóm kết sự khác biệt ấy  thế này:

Phục Sinh  dược hiểu  như là con người chỉ sống có một kiếp sống. và sau khi chết đều được về sống bên cạnh Thiên Chúa. Còn Luân Hồi thì phải trải qua vô số kiếp không thể xác định.

Lập luận sau khi chết, con người đều được phục sinh còn được khẳng định thêm một lần nữa: “Sau cuộc sống trần thế này, cuộc sống duy nhất và không còn tái hiện nữa. Thiên Chúa  sẽ hồi sinh chúng ta, mỗi người theo cách cá nhân như Người đã làm cho Con của Người. Vì Người yêu mỗi người chúng ta theo từng cá thể, và tất cả chúng ta trong mắt Người đều mang một danh tính duy nhất. Chúng ta  không phải là một hạt ngọc trai ở vòng cổ gồm những cuộc tái sinh  không ngừng diễn ra để rồi không ngừng tiến đến cái chết. Cái chết  đã bị Đức Kitô  đánh bại một lần cho tất cả. Vì thế chúng ta được giải thoát khỏi sự chết và khỏi mọi sự luân hồi” ( KinhThanhvn.org ).

 Vấn đề có hay không sự khác biệt giữa Phục Sinh và Luân Hồi sẽ được bàn tới sau. Nhưng nếu bảo rằng Đức Kitô đến để giải thoát tất cả  khỏi sự chết và khỏi mọi sự luân hồi là điều không thể chấp nhận. Tại sao ? Bởi như thế  là chẳng hiểu một chút chi cả về Phục Sinh lẫn Luân Hồi.

      Đức Kitô đến cõi thế như  lời Ngài  nói, mục đích là để rao giảng Tin Mừng Nước Trời ( Lc 4, 42 – 43 )  và Nước Trời ấy là nước mầu nhiệm nội tại, cần phải hết sức nỗ lực mới có thể vào “Luật pháp và tiên tri đến Gioan là hết. Rồi từ đó Tin Mừng Nước Trời  được rao giảng và ai nấy đều phải nỗ lực mà vào” ( Lc 16, 16 ).  Chúa đến rao giảng Tin Mừng Nước Trời là để cho ta biết tìm đường mà  “VÀO” ( Thể Nhập ), chứ làm gì có cái chuyện cứu tất cả  ra khỏi luân hồi ?

 Luân Hồi là một luật và luật này bao quát trong cả hai lãnh vực vô tình cũng như hữu tình. Quả đất xoay quanh cái trục nghiêng của  chính nó, đồng thời quanh mặt trời. Phía hướng về mặt trời  thì sáng, phía bị khuất thì tối. Hết tối lại sáng, hết sáng lại tối, đó là luân hồi. Ngoài ra còn có bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông xoay vần đắp đổi, đó là luân hồi. Hạt gieo xuống  nảy mầm thành cây, cây ra hoa kết quả, quả lại được gieo xuống  để nảy mầm thành cây, đó là luân hồi. Thở ra  rồi lại hít vào, hít vào rồi lại thở ra, đó là luân hồi.

 Đấy là trong giới vô tình, còn trong giới hữu tình thì luân hồi lại gắn liền với nghiệp báo gọi là nghiệp báo luân hồi. Tạo nghiệp thiện sẽ được  quả thiện, tạo nghiệp ác sẽ gặp quả ác v.v… Luân hồi là một định luật mà hễ đã là luật thì không bao giờ có thể thay đổi.  Đức Kitô đến không phải để  phá luật: “Chớ tưởng Ta đến để phá luật pháp hoặc ngôn sứ. Ta đến không phải để phá đâu nhưng là để kiện toàn” ( Mt  5, 17 ).

Vả lại, chính Chúa cũng công nhận luật luân hồi  khi Ngài ám chỉ việc Ngôn Sứ Elia tái sinh nơi Gioan Baotixita ( Mt 17, 10 – 13 ).  Chúa đến không phải để phá luật  nhưng kiện toàn, nghĩa là  Ngài đem lại  cho việc thi hành luật một giá trị mới,  đó là  thể nhập ( VÀO )  Nước Trời ở nơi mỗi một tâm hồn.

 Điều kiện thiết yếu cho việc  thể nhập ấy, trước hết là cần phải tái sinh. Đức Kitô nói  với Nicôđêmô:  “Quả thật, Ta nói cùng ngươi, nếu ai không tái sinh thì không thể  thấy được Nước Trời” ( Ga 3, 3 ). Tái sinh là sinh lại, đồng thời cũng tức là Phục Sinh. Chúa nói bất cứ ai  cũng phải tái sinh mới  vào được Nước Trời,  chứ không phải hễ cứ chết là  được  phục sinh về sống bên cạnh Thiên Chúa đâu ?  Phục sinh  tức là tái sinh nhưng nghĩa tái sinh của Đạo Chúa hoàn toàn không phải là luân hồi.

       I.  Phân biệt  tái sinh và luân hồi nghiệp quả

      Tái sinh theo như ý của Chúa muốn nói là điều rất khó để mà tiếp nhận. Sau khi  nghe Chúa  nói con  người cần phải tái sinh mới thấy được Nuớc Trời  thì Nicôđêmô nêu ngay thắc mắc: “Người đã già thì làm sao sinh ra được ? Có thể nào vào lòng mẹ lần thứ hai mà sinh ra được  nữa sao ? ( Ga 3, 4 ).  Trước câu hỏi hết sức ngớ ngẩn ấy, Đức Kitô  một lần nữa  quả quyết và lần này giải thích có phần rộng rãi hơn: “Nếu người nào chẳng bởi nước và Thánh linh mà sinh thì không thể vào Nước Trời được. Hễ chi sinh bởi xác thịt là xác thịt, hễ chi sinh bởi Thánh Linh là Thánh Linh. Chớ lấy làm lạ vì cớ Ta đã nói với các ngươi.  Các ngươi cần phải tái sinh,  gió muốn thổi đâu thì thổi, ngươi nghe tiếng nó nhưng chẳng biết nó đến từ đâu và đi đâu. Hễ người nào sinh bởi Thánh Linh thì cũng như vậy” ( Ga 3, 5 – 8 ).

Việc tái sinh của mỗi một tín hữu cần phải được thực hiện thông qua Bí Tích Rửa Tội. Phép Rửa này có người thắc mắc, vừa mới sinh ra thì nào đã có tội tình gì  đâu mà phải… rửa ?  Nghe vậy xem chừng có lý, thế nên có ai đó đề nghị  thay  cho rửa tội  thì nên gọi là nghi lễ nhập đạo.  Thế nhưng giải như  vậy là chưa hiểu được tính chất sâu xa của Bí Tích mà chính Chúa cũng đã lãnh nhận  bởi Gioan Tiền Hô: “Song Gioan  ngăn cản mà rằng: Chính tôi cần Ngài làm phép rửa mà Ngài lại đến cùng tôi sao ? Chúa đáp: Bây giờ hãy làm đi, vì chúng ta đáng phải hòan tất  mọi điều công chính như thế” ( Mt 3, 13 – 15 ). Chúa chịu phép rửa  nơi Gioan  không phải là để làm gương cho chúng ta về sau nhưng như Ngài nói: “chúng ta”, ám chỉ Ngài và Gioan  đáng phải hoàn tất điều công chính ấy. Cần nên nhớ chỉ khi Chúa chịu phép rửa xong lên khỏi mặt nước  thì tầng trời mới mở ra, “Ngài thấy Thánh Linh của Đức Chúa Trời  ngự xuống như  chim bồ câu đậu trên Ngài và này có tiếng từ trời phán: Đây là Con Ta yêu dấu, đẹp lòng Ta mọi đàng” ( Mt 3, 16 – 17 ).

 Chúa là Đấng hoàn toàn vô tội mà cũng chịu phép rửa, điều ấy  cho chúng ta  thấy việc tái sinh  bởi nước và Thánh Thần quan hệ biết chừng nào cho phần rỗi linh hồn  của mỗi người. Mặc dù Bí Tích Rửa Tội mang một dấu ấn không thể phai mờ trong tâm hồn người tín hữu.  Thế nhưng rất có thể đó chỉ là một thứ hình thức  lễ nghi  chẳng đem lại một kết quả nào nếu ta không thực sự tái sinh tức sống lại phần linh hồn.

Con người ( chúng sinh ) không ai lại không bởi tội mà sinh và sinh bởi tội như thế  là sinh trong sự chết. Tội nguyên tổ như đã biết đó là tội phân biệt thiện ác ( x. St 2, 9 ).  Mỗi khi tâm khởi phân biệt là tâm đi vào cõi chết: “Một mai ngươi ăn ắt hẳn phải chết” ( St 2, 17 ).  Tâm khởi phân biệt là đã bước vào cõi chết. Ngược lại, bỏ tâm phân biệt đi thì lại được vào cõi sống ( Tái sinh ). Như vậy tính chất sâu xa của việc tái sinh  trong Đạo Chúa  tức là bỏ đi tâm phân biệt. Điều này trái ngược hẳn với  luân hồi củng có nghĩa là tái sinh nhưng  tái sinh trong nghiệp.

       Luân Hồi trong phạm vi chúng hữu tình luôn gắn  với nghiệp thế nên  gọi là luân hồi nghiệp báo ( Báo ứng ). Hiểu như vậy thì Luân Hồi  là sự trở đi trở lại  của nghiệp  mà nhân của nó là  vô minh.  Đức Phật Thích Ca  sau 21 ngày đêm tham thiền nhập định  đã giác ngộ  được chân lý của sự khổ và  nguyên nhân gây ra cho nó bao gồm trong mười hai duyên gọi là Thập Nhị Nhân Duyên  ( Vô Minh, Hành, Thức,  Danh Sắc, Lục Nhập, Xúc, Thọ,  Ái, Thủ, Hữu, Sinh, Già,  Chết ).

 Vì Vô Minh nên phát sinh dục vọng ( Hành ). Do nơi dục vọng mà nhận  biết ( Thức ). Từ chỗ nhận biết ấy mà có cái gọi là Tâm và Thân ( Danh Sắc ). Thân tâm bao gồm ngũ quan và  ý  thức ( Lục nhập ). Năm giác quan cùng với ý  thức  là sáu cánh cửa để tiếp xúc  với ngoại vật ( Xúc ). Có tiếp xúc thì có lãnh nhận ưng chịu ( Thọ ). Ưng chịu phát sinh sự yêu thích ( Ái ). Yêu thích thì muốn nắm giữ ( Thủ ) Nắm giữ đi liền với sở hữu, quyết giữ lấy ( Hữu ). Từ chỗ giữ lấy đó mà sinh  đi sinh lại  trong luân hồi lục đạo ( Thiên, nhân, Atula, ngạ quỷ, súc sinh, địa ngục ) ( Sinh ).  Hễ đã có sinh thì phải có già và chết ( Chết ).

 Thập nhị nhân duyên diễn ra trong một vòng tròn khép kín, cái này làm nhân cho cái kia  và ngược lại vì vậy mà gọi nó là luân hồi hay vòng tử sinh, sinh diệt. Vòng sinh tử xét trong một kiếp sống  thì gọi  là phần đoạn sinh tử. Còn xét trong tính chất sâu xa của nó thì mười hai nhân duyên ấy cũng chỉ gồm thâu trong một niệm  gọi là Nhất  Niệm Vô Minh.

Trong con mắt phàm tục thì thấy  con người ta sinh ra  sống trên đời này một thời gian vắn dài nào đó rồi thì ai ai cũng phải chết, và khi chết rồi thì mờ mịt chẳng biết đi đâu, về đâu. Nhưng với con mắt của những bậc đại giác thì  kiếp sống ấy chỉ là những niệm tưởng tiếp nối, niệm này nối tiếp  niệm kia  và nếu còn ở trong vòng vô minh thì sẽ không bao giờ có thể dứt. Tôn giáo có mặt là để đem lại sự giải thoát. Thế nhưng sự giải thoát ấy cần phải được nhận thức đó là thoát ra khỏi sự vô minh ở nơi chính mình.

       II.  Con  đường  chuyển  hóa  của Đạo  Chúa

      Có một sự thực  nhưng rất khó để mà nhận biết, đó là con người cứ nghĩ rằng mình sống với thân thể nhưng thật ra là sống với tư tưởng. Ta  ví  tư tưởng  là  người tài xế,  còn thân thể  là chiếc xe hơi. Khi nhìn chiếc xe, thấy nó chạy bon bon chỗ này chỗ kia, quẹo trái quẹo phải, đối với người có trí khôn thì ai cũng phải nghĩ đó là do người tài xế ngồi bên trong điều khiển. Người ta chỉ nhìn  thấy chiếc xe  chứ không thấy tài xế nhưng khi xe chạy  thì biết liền trong xe có người cầm lái. Ngược lại đối với người thiểu năng tâm trí hoặc ở rừng sâu núi thẳm mới ra phố lần đâu  thấy xe chạy liền cho rằng  đó là cái xe nó chạy. Xe chạy biết ngay là có người điều khiển là người có trí khôn, ngược lại là dại là khờ.

Hiểu như vậy thì hết thảy chúng ta những con người  trần mắt thịt này  đều là dại hết bởi lẽ không hề biết phân biệt tư tưởng và người tư tưởng. Mặc dầu vậy, nói có tư tưởng và người tư tưởng  thì cũng chẳng đúng. Tại sao ? Bởi phân biệt như thế  thì cũng  chẳng khác nào công nhận có một chủ thể cho tư tưởng. Chủ thể ấy chính là “Cái Tôi”. Nếu tôi là chủ thể của tư tưởng  thì đáng lẽ ra tôi có thể điều khiển được  tư tưởng, muốn nó vui liền được vui, muốn nó hướng thượng thì liền hướng  thượng v.v…

Thực tế thì đâu phải vậy, biết bao lần khi ta đọc kinh  dự lễ nghe giảng không muốn chia lòng chia trí  hoặc… ngủ gật mà nào có được đâu ? Nhiều khi ta chẳng muốn uống rượu say xỉn  nhưng rồi bạn bè lôi kéo  lại say lại xỉn, vợ con mè nheo bực cả mình… Về ý tưởng này Thánh Phaolô  đã có một câu nói rất ư chính xác: “Vì lòng muốn ở nơi tôi  nhưng quyền lực làm điều thiện thì lại không có. Cho nên điều thiện tôi muốn thì  tôi lại không làm. Còn điều ác không muốn thì tôi lại làm. Song nếu tôi làm điều tôi không muốn  thì chẳng còn phải là tôi làm điều đó nữa, bèn là tội lỗi ở trong tôi” ( Rm 7, 18 – 20 ).

       Không muốn nhưng lại cứ làm, điều ấy chứng tỏ tôi  không phải là chủ sở hữu của tư tưởng. Nói cách khác, chính tội lỗi nó làm chủ chứ không phải là tôi.  Tội lỗi làm chủ tức là nghiệp xấu nó dẫn dắt vào con đường mà mình không hề muốn. Nghiệp có thể ví  nó như một tên độc tài, nó bắt làm gì thì phải làm. Tuy nhiên nghiệp không từ trên trời rớt xuống, cũng không phải ở dưới đất chui lên mà nó  là do  chính  mình tạo nên.

Một  tên nghiện rượu,  ma túy chẳng hạn thì có ai bắt ép nó phải uống phải chích choác đâu ? Có lẽ ban đầu nó cũng thấy rượu là cay là đắng nhưng một khi đã nghiền nó rồi  thì làm nô lệ cho nó, không uống thì nó hành cho vật vã khốn khổ… Nghiệp là do mình tạo nhưng không phải cứ có nghiệp là xấu, nhưng có nghiệp xấu ác thì cũng có nghiệp thiện lành. Tạo nghiệp xấu ác phải lãnh quả xấu ác.  Trái lại tạo nghiệp thiện lành  sẽ được quả thiện lành. Quan trọng ở chỗ là phải làm cách sao  để tạo ra được nghiệp thiện nghiệp lành,  đó mới là vấn đề.

Chúng ta đọc tiếp lời Thánh Phaolô để thấy được câu trả lời:  “Vậy tôi thấy trong tôi có luật này, khi tôi muốn làm điều thiện thì điều ác lại cặp theo. Vì theo người bền trong  tôi vẫn vui thích luật pháp của Đức Chúa Trời. Nhưng tôi  thấy trong chi thể tôi  có một luật khác chiến đấu với luật trong tâm trí tôi bắt tôi làm nô lệ  cho luật của tội lỗi vẫn ở trong chi thể tôi. Ôi ! Tôi là người khốn khổ biết dường nào. Ai sẽ giải cứu tôi khỏi thân thể của sự chết này ? Cảm tạ Đức Chúa Trời đó là nhờ Giêsu Kitô Chúa chúng ta. Như vậy chính mình tôi lấy tâm trí phục luật pháp của Đức Chúa Trời nhưng lấy xác thịt phục luật pháp của tội lỗi” ( Rm 7, 21 – 25 ).

Qua những lời phải nói là tâm huyết của Thánh Phaolô, một con người được ơn Chúa cho trở lại, đã cho thấy cuộc đời  tín hữu chúng ta luôn là một cuộc chiến cam go giữa hai thế lực thiện ác mà nếu không có ơn Chúa thì không một ai có thể lướt thắng.  Mỗi người là một ông vua nhưng là một thứ vua ươn hèn, không cai trị nổi đám quan quân tướng sĩ ( mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý ), mặc chúng tác yêu tác quái, muốn ăn ngủ, chơi bời, nói năng  nghĩ tưởng thế nào cũng được.  Biết đó là không hay không tốt  nhưng bởi trót  đã để cho chúng lấn quyền nên đành bất lực buông trôi.

Trong tất cả đám quần thần đó thì Ý  Thức là quan trọng nhất, công  rất nhiều nhưng tội cũng  lắm ( Công vi thủ, tội vi khôi ). Cứ nắm được Ý là nắm đầu được tất cả, nhưng để nắm được Ý  thì nhất định là phải có phương pháp và phương pháp ấy chính là sự chuyển hóa tâm thức.  Tâm ta từ vô lượng kiếp do bởi ảnh hưởng của tội nguyên tổ là tội phân biệt thì nay  phải nhất quyết  chuyển nó thành Tâm Vô Phân Biệt. Chúa dạy  yêu người thì đừng có phân biệt  người thân kẻ thù ( Mt 5, 43 – 44 ). Làm phúc bố thí thì đừng cho tay trái biết việc tay phải làm ( Mt 6, 3 – 4 ).  Bao lâu còn sống với Tâm Phân Biệt  thì còn quanh đi quẩn lại trong vòng tử sinh sinh tử  rất khó để mà thoát ra khỏi nó.

 Điều khó ấy tự sức con người  không một ai có thể, nhưng  nếu biết cậy dựa vào Ơn Chúa  thì lại được, bởi vì “Ơn Ta đủ cho ngươi, vì quyền năng của Ta nên trọn trong sự yếu đuối” ( 2Cr 12, 9 ).

PHÙNG VĂN HÓA

RA KHỎI MỒ

                                               RA KHỎI MỒ

                                                 Suy Niệm Lời Chúa CN Phục Sinh 2012

 “Maria Mađalêna đi ra mồ từ sáng sớm khi trời còn tối và bà thấy tảng đá đã được lăn ra khỏi mồ, bà liền chạy về tìm Simon-Phêrô và người môn đệ kia được Chúa Giêsu yêu mến, bà nói với các ông rằng: “Người ta đã lấy xác Thầy khỏi mồ, và chúng tôi không biết người ta đã để Thầy ở đâu”

Phêrô và Gioan cũng đến mồ và chỉ thấy còn lại: “những khăn liệm để đó”, “những dây băng nhỏ để đó”, “khăn liệm che đầu cuộn lại để riêng một chỗ”.

Chúa Giêsu đã sống lại và đi ra khỏi mồ. Ngôi mộ trống. Đúng là: “theo Thánh Kinh, thì Người phải sống lại từ cõi chết”. (x.Ga 20, 1-9)

 Đối với các Kitô hữu công giáo hôm nay, thì việc Chúa Giêsu sống lại là một tín điều, buộc phải tin. Nhưng khổ nỗi, điều gì buộc thì cũng không thoải mái cho bằng điều tự nguyện. Vì thế, từ đức tin “buộc phải tin” đến đức tin “tự nguyện tin”, các tín hữu Chúa đã phải trải qua hành trình “sống niềm tin phục sinh”, cảm nhận được niềm vui kỳ diệu, và cuối cùng là tự nguyện tin và tin tuyệt đối.

 Tin vào Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh không phải là niềm tin nói, niềm tin viết, niềm tin giảng dạy thuyết pháp, niềm tin tranh luận phân tích, càng không phải là niềm tin phong trào hay lễ hội, nhưng là niềm tin được thể hiện bằng chính sự anh dũng dám buông bỏ tất cả, dám hy sinh tất cả, dám chết cả bạc tiền, cả danh dự, cả sự nghiệp, và cả những nhu cầu của cuộc sống thế trần này, để chỉ đổi lấy một sự sống lại ngay lúc này và mai sau. Người ước được sống lại ngay lúc này, là người biết mình đang bị giam hảm, đang mất tự do, đang bị nô lệ thần chết, hay đúng hơn, sống mà như đang chết trong tội lỗi. Người sống mầu nhiệm phục sinh, sống niềm vui phục sinh phải là người được thoát ra khỏi vòng giam hảm, người được tự do, người tinh tuyền trong trắng. Ấy vậy, khi suy gẫm về mầu nhiệm phục sinh, thì “ta hãy xin cho đặng sống lại thật về phần linh hồn”. Cách hành văn câu kinh có vẻ cũ kỹ, nhưng chất chứa một ý nghĩa luôn luôn mới, luôn luôn thời sự cho mỗi chúng ta.

 Bạn và tôi có thể đã nhận bao nhiêu lời chúc mừng, bao nhiêu tin nhắn, cuộc điện thoại, điện thư với nội dung: “Alleluia. Mừng Chúa Sống Lại” hoặc “Alleluia. Happy Easter” trong ngày Đại Lễ Phục Sinh. Nhưng thử hỏi: có ai mừng lễ tôi, mừng lễ bạn mà dám gửi cho chúng ta câu này “Bạn đã sống lại thật về phần linh hồn chưa?” để nhắc nhở chúng ta rằng: chỉ có “sống lại thật về phần linh hồn” mới là niềm vui chính đáng của tôi, của bạn trong ngày Đại Lễ.

Thật đáng tiếc, chúng ta đã và đang Mừng Chúa Sống Lại như một lễ hội, hơn là mừng biến cố sống lại của chính linh hồn mình.

 Này nhé, chúng ta đã qua một mùa chay nhiệm nhặt. Đã qua một tuần thánh sốt sắng buông bỏ mọi thứ ở đời, sốt sắng đến với tòa cáo giải, sốt sắng tham dự phụng vụ và những giờ ngắm…sốt sắng…ủ dột…phiền não…

Hôm nay, Đại Lễ Phục Sinh. Luật Hội Thánh buộc nghỉ việc xác để chúng ta mừng lễ. Nhưng mừng lễ thế nào? Mừng Chúa sống lại và mừng chúng ta được sống lại thật về phần linh hồn chứ?

Hay là mừng lễ như thế này:

Người chuẩn bị con heo quay, người con cầy tơ, người mấy con gà đi bộ hay dăm con vịt…mấy thùng bia, vài lít rượu hoặc ngơm ngã hơn là kiếm một chai Tây cho oách. Người mời thêm vài thân hữu, vài đồng nghiệp, vài người hàng xóm. Cứ nghĩ ăn càng to, khách càng đông thì như vậy là mừng lễ cách long trọng, xứng mặt anh hùng, đúng tầm đại gia hay ra vẻ nghệ sĩ sành điệu nhất. 10g sáng nhập tiệc mừng đại lễ. Cứ chén thoải mái. Tàn tiệc rồi mà chưa bí tỉ thì kéo nhau đi “tăng” hai vừa hát karaoke vừa lai rai thêm vài thùng nữa cho đến hồi vừa nói nói tiếng tây lẫn tiếng tàu, vừa vung tay lẫn đá chân đi hàng hai hàng ba mất thăng bằng. Đã vậy, còn đưa nhau đi “tăng” ba, phòng trà ca nhạc hay quán cà phê ôm nào mờ mờ ảo ảo cho nó sướng cái người. Mừng hết một ngày lễ Phục Sinh, chơi luôn đêm, xả láng sáng về sớm.

Đội quân tín hữu tóc dài cũng không kém. Nghỉ việc xác và mừng lễ Phục sinh lại là cơ hội chứng tỏ mình là phụ nữ mới trong cái xã hội gọi là giải phóng. Mà cụ thể nhất là giải phóng phụ nữ khỏi cái thân phận “trong nhà” để bà cũng được hưởng chế độ “ngoài cửa” khỏi lãng phí một đời hoa. Họ là những người buôn bán. Ai cũng đứng một sạp ở chợ. Mừng lễ, năm bảy chị thuê bao một chiếc 16 chỗ đi dã ngoại Phục Sinh. Ở đó, họ đã hẹn với cũng năm bảy ông cán bộ thuế vụ, công an. Và họ vui chơi thoải mái. Mừng lễ Phục sinh lại là cơ hội giảm thuế, cơ hội làm ăn. Khuya mới về. Như thế là mừng lễ.

Những người hơi có tí tuổi, đã vậy, thì trách chi tuổi trẻ. Quán nhậu nào cũng đông khách, cũng ồn ào. Quán karaoke nào cũng hết phòng, có phòng một cặp, có phòng đôi ba cặp trai gái. Đâu đâu cũng nghe thấy tiếng xe đua inh ỏi, ngửi thấy mùi khói khét, thi thoảng, kinh hồn hơn, lại có vài vụ ẩu đả…

Sáng thứ hai, tuần mới bắt đầu. Mùa phục sinh mới bắt đầu. Và đâu rồi lại cũng vào đấy. Chờ đến sang năm, sẽ mừng lễ to hơn…

 May mắn thay, tôi được nghe kể lại có người ăn mừng lễ cách điệu nghệ hơn nhiều: Sau thánh lễ Phục Sinh, họ về nhà ăn điểm tâm phục sinh với vợ con một tí, rồi hẹn nhau một chuyến đi bất ngờ. Hai ông chở nhau trên chiếc Honda 79 cũ kỷ. Quần áo hơi luộm thuộm lùa thùa nếu không nói là chỉ vừa tươm tất chút nhưng không có vẻ gì là sang trọng cả. Họ vào làng kia, trong hóc núi. Họ định với nhau đóng vai người đi mua củ mì tươi để đến thăm từng nhà trong hóc núi. Ở đó, hai ông đã tìm được những niềm vui Phục Sinh lạ thường: Ít là có 7 gia đình công giáo trong hóc núi. Họ chẳng biết hôm nay lễ Phục Sinh.

-“Lâu rồi, tui không đến nhà thờ vì xa quá, lại chẳng có đứa mô chở đi”.

-“12 năm rồi tui chưa xưng tội ông à. Nhưng tui nghĩ ở mãi trong hóc núi nầy cũng chẳng có cái tội gì ngoài tội không xưng tội”.

-“Dạ, em đã trốn vào ở đây để làm rẫy được 3 năm rồi. Ban ngày, một mình với trời đất thiên nhiên, ban đêm, một mình với Chúa. Em không về dự lễ ở Giáo Xứ em, sinh dịp cho họ nguyền rủa em mà mang tội. Thỉnh thoảng về nhà thờ Chánh Tòa Phan Thiết xưng tội, dự lễ, rồi lại trở vào đây. Năm nay không dự lễ Phục Sinh được vì chị hàng xóm người lương,  bên cạnh nhà em kìa, đang hấp hối”.

 Có thể bạn còn nhiều cách mừng lễ hay hơn, đẹp hơn, nhưng thiết nghĩ không có cách nào tuyệt vời hơn là sống lại với Đức Kitô, cùng Đức Kitô ra khỏi mồ. Vâng, vì niềm vui Phục sinh đã được chuẩn bị từ một mùa chay thành tâm sốt sắng, một tuần thánh thánh thiện là để đi đến quyết định “ta hãy xin cho được sống lại thật về phần linh hồn”.

Vậy như Chúa Giêsu đã sống lại thật và đi ra khỏi mồ, mỗi tín hữu Chúa mừng Đại Lễ Phục Sinh của Chúa cũng chính là mừng cho mình có những quyết tâm sống lại và ra khỏi mồ, quyết tâm không trở lại nằm trong những nấm mồ tội lỗi nữa.

Ra khỏi mồ, và không bao giờ trở lại nấm mồ ích kỷ, tham lam đã từng chôn chặt đời mình chung với những bó tiền vô nghĩa chất đống chẳng sinh ích lợi gì cho phần rỗi đời mình.

Ra khỏi nấm mồ dững dưng hờ hững từng chôn chặt đời mình trong tối tăm làm cho đôi mắt mình không thể ngó ra ngoài cái ngục tù kinh khủng ấy để nhìn thấy được bao nỗi đọa đày của nhân gian.

Ra khỏi nấm mồ vô cảm vô tâm từng chôn chặt con tim mình như con tim đóng băng lạnh lùng không có chỉ một chút lòng trắc ẩn, thương người.

Ra khỏi những nấm mồ nhơ nhớp dưới dáng vẻ sang trọng tiện nghi của những khách sạn, nhà hàng, sàn nhảy, từng giam hảm đời mình trong thú vui nhục dục.

Ra khỏi nấm mồ kiêu căng tự phụ để có thể nhận ra mình là hạt bụi tiểu tốt vô danh…

Hãy tưởng tượng, hãy hình dung, và hãy nhận thực ra rằng chúng ta đang sống trong những nấm mộ khi ta hãy đang còn sống.

Và hãy nhớ cho rằng sống niềm tin và niềm vui phục sinh là khẩn trương ra khỏi những nấm mồ ấy, và không bao giờ trở lại nữa.

Vâng, nấm mồ đời tôi, nấm mồ đời bạn, không là những nấm mồ trong tương lai như những nấm mồ hiện tại ở nghĩa trang Bình Hưng Hòa, hay nghĩa trang Giáo Xứ của tôi của bạn -trong đó, thân xác con người đang thối vữa, đang tan biến thành cát bụi chóng vánh, may ra, còn lại cái hộp sọ ghê rợn và vài chiếc xương khô mòn phai dần theo thời gian, năm tháng, nhưng là nấm mồ tội lỗi ngay hôm nay đang chôn chặt linh hồn mình. Nấm mồ cứ đầy hơn, cửa mồ mỗi kiên cố hơn, khi chúng ta bằng lòng để cho tội lỗi ngập ngục, khống chế.

 Hãy anh dũng bước ra khỏi mồ.

“Thứ năm thì gẫm, Đức Chúa Giêsu sống lại. Ta hãy xin cho đặng sống lại thật về phần linh hồn”.

 Nguyện xin ơn Phục Sinh của Chúa Giêsu giúp chúng con anh dũng đi ra khỏi những nấm mồ tội lỗi, để chúng con “đặng sống lại thật về phần linh hồn” và được hân hoan niềm vui phục sinh ngay khi còn sống trên dương gian này . A men.

        PM. Cao Huy Hoàng, 08-4-2012

                       

 

Đạo bất khả tu du ly dã.

        Đạo bất  khả tu du ly dã.                                                                                                                         (Không thể rời xa Đạo dù chỉ trong tích tắc.)                                                                                                            Trung Dung 

Đây là chuyện tôi nghe: 

Có thầy nọ sống đời tu hành rất mực thánh thiện. Không kể những lúc bắt buộc phải nhín chút thời gian dành cho các sinh hoạt cần thiết của đời thường, thầy luôn cố gắng thu xếp tối đa thời gian trong ngày để cầu nguyện, tụng kinh, ngồi thiền, v.v… Đầu óc thầy hầu như không còn chỗ nào trống trải cho các tà niệm sái quấy có thể thừa cơ len lỏi vào. Sau nhiều năm dài tu hành tinh nghiêm, cẩn mật như thế, thầy thấy mãn nguyện trước sự tiến bộ tâm linh. 

Thế rồi khuya hôm nọ, sau khi xong cữ thiền giờ Tý, thầy đi ngủ và mơ thấy mình dự một buổi tiệc lớn gồm toàn những bậc đạo cao đức trọng. Trong lúc chủ tiệc chưa ra tiếp khách, mọi người lần lượt được rước tới bàn ăn rất to và dài. Ai cũng có chỗ ngồi trang trọng theo đúng thứ bậc vì chủ tiệc đã gắn sẵn trên mặt bàn những tấm thẻ nhỏ ghi họ tên từng thực khách. Thầy thấy mình được vinh dự xếp ngồi gần chủ tiệc, nhưng ở vị trí thứ nhì. Vị trí thứ nhất dành cho người bán tạp hóa ở khu phố không xa nơi thầy cư trú. 

Sáng hôm sau, thầy tìm tới tiệm tạp hóa, lựa một góc và nhẫn nại đứng quan sát rất lâu. Tiệm không lớn lắm nhưng lúc nào cũng có khách hàng vào ra nườm nượp. Chủ tiệm chẳng hở tay bán hàng, thu tiền, thối tiền… vẻ mặt lúc nào cũng tươi cười, nói năng hòa nhã… Tuyệt nhiên không thấy chủ tiệm có cử chỉ, động tác đặc biệt gì tỏ ra ông đang tĩnh tâm hay cầu nguyện. 

Nhân một lúc ngớt khách, thầy bước tới chào chủ tiệm và kể lại giấc mơ kỳ lạ. Chủ tiệm ôn tồn nói: “Tôi cần chiết dầu ăn từ cái thùng hai mươi lít ra hai mươi cái chai xếp sẵn ở góc kia. Xin thầy giúp một tay. Đừng để chai nào đầy quá hay vơi quá. Đừng làm sánh dầu ra ngoài chai nhớp nháp. Lát nữa sẽ tiếp tục câu chuyện của thầy.” 

Thầy chiết dầu vừa xong thì đúng lúc chủ tiệm được ngơi tay bán hàng. Ông ta bước tới hỏi: “Nãy giờ cắm cúi lo chiết dầu ra chai, trong đầu thầy có giây phút nào nhớ nghĩ tới Trời tới Phật không?”

Thầy bẽn lẽn: “Tôi làm không quen, ráng tập trung rót dầu vào từng chai theo đúng yêu cầu của ông, mệt toát mồ hôi. Do đó chẳng được phút giây nào rảnh trí mà nhớ nghĩ tới Phật Trời!”

Chủ tiệm cười hiền: “Nếu thầy bận bịu buôn bán như tôi cả ngày, lu bu quanh năm suốt tháng, thì tâm thầy ắt xa Trời xa Phật mịt mù luôn! Tôi không có phước lớn để được rảnh rang chuyên lo tu hành như thầy. Tôi chỉ ráng tập thành thói quen cho tâm tôi lúc nào cũng nhớ Trời nhớ Phật. Khi bán hàng cho khách tôi nguyện không để ai phải phiền lòng vì bị cân non đong thiếu. Khi chiều chuộng khách hàng tôi nguyện không để ai mích lòng vì thấy tôi thiên vị. Gặp khách hàng xấu tính, tôi nói cười nhã nhặn, thầm nhắc nhở: Thánh Thần giả dạng thường dân tới thử thách mình đây. Tôi tu như vậy đó, thưa thầy.

Huệ Khải

 

Ăn đói sống lâu

Có nhiều người tin tưởng chìa khóa để có thể sống thêm 20 năm là luôn luôn giữ sao cho ở tình trạng đói một chút thì hơn. Đừng quên thái quá và bất cập trong ăn uống đều làm cơ thể suy nhược khó chống với bệnh tật và tuổi già.
Quan niệm này được gọi là hạn chế calori và một trường hợp điển hình của tín đồ đạo này là Oprah Winfrey, một ngôi sao điều khiển một chương trình nổi tiếng trên màn ảnh truyền hình Mỹ, đã thực hiện. Oprah đã quảng cáo cho phép giữ cho thân thể thon thon trong mấy chục năm bằng chính vẻ trẻ trung và năng động của mình.
Hạn chế calori đã có nhiều người ứng dụng và thành công. Cứ xem cư dân Okinawa, Nhật Bản, thì rõ. Nơi này có thể kể là có nhiều cư dân sống tới tuổi bách niên nhiều nhất trên thế giới cho tới khi nó phải nhường kỷ lục cho vùng Shimane ở duyên hải phía nam Nhật. Theo con số thống kê chính thức của chính quyền Nhật Bản thì trong năm nay quận Shimane cho biết đổ đồng cứ 100.000 người dân có tới 74,3 vị thọ ở tuổi bách niên trong năm 2010, trong khi Okinawa chỉ có 66,7 vị.

Mặc dù đối với tuổi thọ thì vai trò của di truyền rất quan trọng. Cái gien sống lâu trong cơ thể một người được cho rằng giữ vai trò quyết định tới khoảng trên dưới 50 phần trăm cho tuổi thọ của người đó. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu tìm thấy những vị thọ tới trăm tuổi ở Okinawa đã theo một chế độ sinh hoạt khắc khổ khác thường, năng động và tất cả dựa trên sự điều độ. Dân Okinawa chỉ ăn già lưng bụng (khoảng 80 phần trăm) chứ không ăn no căng và trong thực đơn thì nhiều trái cây, rau đậu nành và cá.

Trong ăn uống để có sức khỏe, không mấy ai trong chúng ta không biết phải theo tiêu chuẩn nào, như nên ăn uống ra sao và chọn thực phẩm nào. Nhưng một nhóm những người theo nguyên tắc sống này đã đi sâu hơn trong việc thực hành và tin tưởng rằng bỏ bớt bữa ăn và tìm cách giảm mức hấp thụ calori vào cơ thể khoảng 30 phần trăm sẽ hy vọng trẻ mãi không già.

Brian Delaney, chủ tịch của hiệp hội quốc tế chủ trương giảm calori có tên là Calorie Restriction Society International, thì thực đơn hằng ngày có thể khởi đầu bằng một bữa ăn với một chén lớn đầy hạt (như mì, mạch…), trái cây và yogurt, sẽ đem lại cho cơ thể khoảng chừng 900 calori. Bữa ăn này có thể giúp nuôi dưỡng cơ thể trong 10 tiếng đồng hồ tới khi cơ thể có thể ăn một bữa trưa giản dị và khiêm tốn với cá và rau.

Trong một cuộc phỏng vấn qua điện thoại, Delaney ở Colombia, tiết lộ với một ký giả: Khi tôi mới bắt đầu chương trình này tôi muốn sống lâu hơn. Nhưng sau đó động lực thúc đẩy là tôi cảm thấy khỏe khoắn hơn nhiều.

Craig Willcox, một chuyên gia lừng danh nghiên cứu về lão niên (gerontologist), giáo sư tại Đại học Okinawa International, trong bao nhiêu năm qua đã nghiên cứu các trường hợp thọ trăm tuổi tại Nhật Bản, đã cho biết trong thực tế giảm thiểu lượng calori nhập vào cơ thể có thể giúp giảm các căn bệnh do tuổi già mang lại như tim mạch, ung thư và sự suy thoái toàn bộ nói chung.

Brian Delaney, chủ tịch của hiệp hội quốc tế chủ trương giảm calori có tên là Calorie Restriction Society International, thì thực đơn hằng ngày có thể khởi đầu bằng một bữa ăn với một chén lớn đầy hạt (như mì, mạch…), trái cây và yogurt, sẽ đem lại cho cơ thể khoảng chừng 900 calori. Bữa ăn này có thể giúp nuôi dưỡng cơ thể trong 10 tiếng đồng hồ tới khi cơ thể có thể ăn một bữa trưa giản dị và khiêm tốn với cá và rau.

Trong một cuộc phỏng vấn qua điện thoại, Delaney ở Colombia, tiết lộ với một ký giả: Khi tôi mới bắt đầu chương trình này tôi muốn sống lâu hơn. Nhưng sau đó động lực thúc đẩy là tôi cảm thấy khỏe khoắn hơn nhiều.

Craig Willcox, một chuyên gia lừng danh nghiên cứu về lão niên (gerontologist), giáo sư tại Đại học Okinawa International, trong bao nhiêu năm qua đã nghiên cứu các trường hợp thọ trăm tuổi tại Nhật Bản, đã cho biết trong thực tế giảm thiểu lượng calori nhập vào cơ thể có thể giúp giảm các căn bệnh do tuổi già mang lại như tim mạch, ung thư và sự suy thoáitoàn bộ nói chung.

Giảm thiểu mức thu calori giúp cơ thể không phải miễn cưỡng hấp thụ năng lượng không cần thiết, một việc tránh cho bộ máy đã bắt đầu suy yếu phải làm việc quá sức dẫn tới bệnh hoạn tuổi già dễ dàng ập tới. Mặc dù nhìn nhận yếu tố di truyền giúp cho nhiều tinh hoa của Okinawa sống tới tuổi bách niên nhưng Willcox vẫn cho rằng nhìn chung, ngăn ngừa tuổi già tới quá nhanh và giữ được sức khỏe thì ước lượng 30 phần trăm nhờ di truyền còn 70 phần trăm nhờ cách sinh hoạt điều độ.

Nhà nghiên cứu này viết trong một email: Tôi cho rằng thói quên sinh hoạt rất quan trọng cho sức khỏe tuổi già. Gien và môi sinh luôn luôn đồng bộ tác dụng vào cuộc sống nhưng nếp sống của quý vị cũng là một yếu tố không thể coi nhẹ.

Hạn chế calori là một trong chiến lược đã kể như Willcox đã cùng với người em là Bradley, viết trong bộ sách Okinawa Program được New York Times từng giới thiệu là sách bán chạy nhất. Các tác giả cho rằng thay vì nhịn đói, thì nên dùng các thực phẩm có ít calori (căn cứ vào thành phần ghi trên thực đơn hay ngoài bao bì là một lượng thực phẩm chứa đựng có bao nhiêu calori).

Trong những thập niên mới đây, các nhà nghiên cứu sau những công trình nghiên cứu hạn chế lượng calori đối với loài vật thì thấy loài gặm nhấm nếu giảm thiểu số lượng calori hấp thụ từ 30 tới 60 phần trăm thì tuổi thọ có khả năng tăng tới 60 phần trăm. Loài chuột hạn chế mức hấp thụ calori cũng ít bệnh tuổi già mạn tính kéo dai dẳng hơn nhưng con được ăn uống thỏa thích.

Một số chuyên gia cho rằng vì chúng ta hạn chế lượng calori thu nhập vào cơ thể, thì cơ thể có khả năng trở nên hoạt động bén nhạy hơn. Thay vì nó phải cố gắng làm việc cho sự tăng trưởng và quá trình biến hóa cần thiết, thì nó có thể chú trọng tới việc bảo trì và sửa chữa những gì cơ thể cần thiết để sinh tồn. Delaney giải thích trong tình trạng đói cơ thể chuyển sang dạng sinh tồn (survival mode) và ưu tiên cho việc bảo vệ hơn là sản xuất và tăng trưởng.

Như thế nếu chúng ta biết ăn uống một cách lành mạnh, chẳng phải chúng ta có thể kéo dài thời điểm hết hạn sử dụng của bộ máy cơ thể của chúng ta hay sao?

Theo nhà chuyên nghiên cứu về bệnh tuổi già Michael Gordon thuộc hệ thống Baycrest săn sóc bệnh già có tên Baycrest Geriatric Health Care System, thì nhờ giảm calori chúng ta đã tích cực giảm được yếu tố di truyền bệnh hoạn mà chúng ta nhận được từ cha mẹ từ khi lọt lòng. Chẳng hạn nếu bệnh tim là chứng bệnh gia đình thường gặp, thì ăn uống kiêng khem và tập luyện thường xuyên có khả năng giúp chúng ta sống khỏe mạnh thêm nhiều năm trước khi phát bệnh và cũng giúp cho chúng ta nếu bị bệnh cũng hy vọng bình phục.

Bea Levis, một vị cao niên ở Mỹ, cho rằng một cuộc sống có thói quen lành mạnh giúp cho tuổi già khỏi đau đớn và phiền muộn. Nhà giáo 92 tuổi này mỗi ngày ăn một bữa xà lát và cà tô mát và đi bộ ít nhất 30 phút. Bà không ăn thịt đỏ và cho tới nay ngoài chứng thấp khớp, sức khỏe của bà còn rất tốt.
Còn một bí quyết sống lâu và khỏe mạnh là hoạt động. Bea Levis lúc nào cũng lạc quan và năng động. Gordon nhận xét: Những người tính tình lạc quan thích giao tiếp xã hội và tiếp xúc với mọi người, khi già sẽ có nhiều cơ hội sống thoải mái với môi trường chung quanh. Đó là một yếu tố bổ ích cho sức khỏe.

Ngoài những công việc tình nguyện, tham gia các câu lạc bộ và trong bữa cơm với gia đình và bè bạn, Bea chẳng mấy khi nhàn rỗi. Bà tuyên bố: Tôi rất tin tưởng vào việc dấn thân vào cộng đồng. Ta càng dấn thân vào thế giới chung quanh bao nhiêu, thì càng có cơ hội giao tiếp qua lại với người khác bấy nhiêu , nhờ đó phẩm chất cuộc sống của ta tốt hơn và động lực sống của ta càng mạnh.

Từ thế kỷ XVI, đại triết gia Nguyễn Bỉnh Khiêm của ta đã từng khuyên mọi người:

Như sơ đương nhục, bộ đương cư
Tâm dật thân nhàn tứ thể thư

(Ăn rau thay thịt, bộ thay xe

Thần khí an nhàn, bụng hả hê.)


Phải chăng lời khuyên ăn rau quả và hoạt động chính là phương pháp trường xuân và trường thọ mà ngày nay các khoa học gia xác nhận.

(Theo Aging gracefully is all about food –

Tác giả Vivian Song, đăng trên Toronto Star ngày 20/11/2010)

Trỗi dậy từ cõi chết

Lễ Phục sinh 2012                                                                                          +TGM.Giuse Ngô Quang Kiệt

Cv 10, 34a.37-43; Col 3, 1-4; Ga 20, 1-9

Chúa Giêsu đã sống lại. Sống lại lúc nào và thế nào thì không ai được chứng kiến. Tuy nhiên chắc chắn Chúa đã sống lại vì các tông đồ đã được gặp Chúa Phục Sinh. Cuộc gặp gỡ đó làm thay đổi cuộc đời và con người của các ngài.

Ta thấy sự thay đổi cụ thể của thánh Phêrô trong Bài trích sách Công vụ Tông đồ hôm nay. Trước cuộc Khổ Nạn của Chúa, Ngài nhút nhát chối Thầy, nay Ngài mạnh mẽ, hùng hồn rao giảng Chúa Kitô Phục Sinh cho đông đảo quần chúng, kể cả nơi công đường trước mặt các vị chức sắc cao cấp. Trước đây Ngài không hiểu Lời Chúa, nay Ngài thông suốt Sách Thánh và minh chứng rằng “Tất cả các tiên tri đều làm chứng về Người”. Có sự thay đổi đó vì Ngài đã được gặp gỡ Chúa Phục Sinh như lời Ngài xác quyết: “Còn chúng tôi đây xin làm chứngNgày thứ ba, Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy, và cho Người xuất hiện tỏ tưởng”.

Sáng sớm ngày thứ nhất, mọi người đổ xô ra mộ và đã không thấy gì trừ ngôi mộ trống. Hòn đá bật tung, khăn liệm xếp gọn gàng, còn Người thì họ không thấy. Tất cả không phải là những bằng chứng thuyết phục. Chỉ sau khi gặp Chúa Phục Sinh, các môn đệ mới thật sự tin tưởng và hiểu được ý nghĩa của việc Chúa Phục Sinh. Niềm tin và hiểu biết đó có những bước tiệm tiến.

Thoạt tiên khi gặp Chúa Phục Sinh, các tông đồ tưởng là thấy ma. Trong đời sống bình thường, thấy người chết là thấy hồn ma của họ.  Hồn ma thuộc về thế giới kẻ chết. Nhưng Chúa Phục Sinh không phải là hồn ma. Người cho các ông xem chân tay. Ma đâu có da thịt thế này. Người ăn uống với các ông. Ma đâu có ăn uống thế này(x. Lc 24, 36-43). Rõ ràng Chúa Phục sinh đang sống. Và Chúa là Thiên Chúa của kẻ sống nên Người ở trong thế giới kẻ sống.

Không phải hồn ma, Chúa Phục Sinh cũng không phải con người cũ, trở về sự sống cũ trong thân xác cũ. Chúa Phục Sinh không giống như đứa con trai bà góa thành Naim, hay như Lazaro Chúa cho chết bốn ngày sống lại. Sống lại như thế là trở lại thân xác cũ, để rồi một ngày kia cũng phải chết như mọi người khác. Chúa Phục Sinh có một thân xác khác. Tuy vẫn còn mang những vết thương nhưng đó là thân xác hiển vinh. Có thể đi qua những cánh cửa đóng kín. Có thể cùng lúc hiện diện ở nhiều nơi khác nhau. Có thân xác nhưng không còn là thân xác cũ nên các môn đệ không nhận ra Người nếu Người không cho họ biết. Như Bà Madalena(x. Ga 20, 11-18). Như hai môn đệ trên đường đi Emmaus(x. Lc 24, 13-33). Như các môn đệ đánh cá tại Biển Hồ(x. Ga 21, 1-8). Sự sống sau phục sinh của Chúa có gì rất mới, rất lạ. Đó là sự sống trong Thiên Chúa, đồng hiện hữu với Thiên Chúa.

Tuy đồng hiện hữu với Thiên Chúa, Chúa Kitô Phục Sinh không phải là Thiên Chúa xa cách. Gặp gỡ Chúa vẫn là gặp gỡ sống động với một nhân vật cụ thể, chứ không phải chỉ là một cảm nghiệm thần bí. Chúng ta có thể chiêm ngưỡng các cuộc gặp gỡ thật sống động và cảm động khi Chúa cho ông Tôma đụng tay vào các vết thương(x. Ga 20, 24-29). Khi Chúa nướng cá và cùng ngồi ăn với các môn đệ(x. Ga 21, 9-14). Khi Chúa giải nghĩa Kinh Thánh cho các môn đệ trên đường Emmaus(x. Lc 24, 13-33). Khi Chúa hỏi Phêrô về tình yêu mến và trao quyền cho ông bên bờ hồ Galilê(x. Ga 21, 15-19). Đức Thánh Cha Bênêđíchtô, trong tác phẩm “Chúa Giêsu thành Nagiaret tập 2 đã ghi nhận điều đó nơi thánh Phaolo: “Thánh Phaolo phân biệt rõ ràng giữa những kinh nghiệm thần bí – tỉ như được nâng cao lên tầng trời thứ ba như được diễn tả trong 2 Cor 12, 1-4 – với cuộc gặp gỡ của ngài với Đấng Phục Sinh trên đường Đamas, đó là một sự kiện trong lịch sử, một cuộc gặp gỡ với một nhân vật sống động” (Joseph Ratzinger, Chúa Giêsu thành Nagiaret tập 2, bản dịch Nguyễn văn Trinh, nxb Tôn giáo, 2011, tr. 328).

Chính những cuộc gặp gỡ sống động này đã biến đổi các tông đồ. Mở ra cho các ngài một chân trời mới lạ chưa từng có. Một cảm nghiệm thực đến từng chân tơ kẽ tóc đó là Chúa Phục Sinh vượt lên trên tất cả. Vượt qua mọi không gian và thời gian. Chẳng  có gì giam hãm được Người. Người vượt qua thế giới hữu hạn để bước vào thế giới vô biên, trong bầu trời tự do vô hạn. Tự do đối với quyền lực phàm trần. Với Chúa Phục Sinh các môn đệ xác tín rằng cái ác không thể có tiếng nói cuối cùng. Công lý của Chúa cao vượt trời xanh. Chúa Phục Sinh vượt lên trên trần gian tầm thường, nhỏ nhen, ti tiện. Người đã mở ra chân trời cao thượng, tha thứ tất cả, chấp nhận tất cả, yêu thương tất cả. Và nhất là Chúa Phục Sinh mở ra chiều kích mới cho hiện sinh con người để con người không còn tuyệt vọng vì những giới hạn và tính chất bọt bèo của thân phận, nhưng tràn đầy hi vọng vì con người có thể triển nở đến vô biên và đạt đến tầm vóc viên mãn trong Thiên Chúa. Từ cõi chết, Chúa Phục Sinh làm một bước nhẩy vọt, vươn đến một cuộc sống mới với những phẩm chất cao vượt. Mở ra cho con người một tương lai tràn đầy niềm tin yêu và hi vọng. Đó là một tin vui mừng lớn lao. Đó là lẽ sống của nhân loại.

Xác tín vì gặp Chúa Phục Sinh sống động. Choáng ngợp vì chân trời mới lạ do Chúa Phục Sinh mở ra, các tông đồ phấn khởi, mạnh dạn ra đi loan tin vui mừng cho mọi tạo vật, bất chấp mọi khó khăn, gian lao, thử thách, kể cả tù đầy, khổ hình và tử hình.

Chúa nhật Phục Sinh được gọi là Chúa Nhật Áo Trắng. Vì đây là ngày dành riêng cho người Tân Tòng. Người Tân Tòng vừa được chịu bí tích Thánh Tẩy, mặc áo trắng tượng trưng cho linh hồn rất tinh tuyền đã được rửa sạch trong máu Chúa Kitô. Linh hồn người tân tòng vừa cùng Chúa Kitô chết đi cho con người cũ và cùng Chúa Kitô Phục Sinh sống lại cho con người mới. Con người trong sạch. Con người vượt trên sự sống trần gian. Con người mới thuộc thượng giới. Con người trở thành con Thiên Chúa.  Xin chúc mừng chị Maria Giang đã được sống  lại với Chúa Kitô trong đời sống mới. Và xin mượn lời của thánh Phaolo trong thư gửi tín hữu Côlose trong bài Sách Thánh thứ 2 gửi đến chị: “Anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Kitô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới… Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới”. Đó chính là ý nghĩa của tất cả đời sống người tín hữu.

Lạy Chúa Kitô Phục Sinh, xin cho con được sống lại thật về phần linh hồn. Amen.

+TGM.Giuse Ngô Quang Kiệt

Uống bia có lợi cho sức khỏe như thế nào ?

 

 
Có lẽ đây là một điều khá ngạc nhiên cho nhiều người, nhưng dựa vào những kết quả nghiên cứu gần đây, thì nếu uống bia có chừng mực sẽ tạo nhiều tác dụng tốt cho sức khỏe. Tuy nhiên, cũng xin lưu ý với độc giả là với bài viết này, chúng tôi không khuyến khích các bạn nên uống bia, vì có khi bia cũng có những điều đáng quan tâm…   

  1-Khiến cho xương được cứng cáp hơn.

Nghiên cứu của đại học Tuft năm 2009 cho thấy cường độ đặc của xương cao hơn ở những người uống từ một đến 2 lon bia một ngày, nhất là bia làm bằng lúa mạch dựa theo kết quả sau khi thí nghiệm trên 100 loại bia.

2-Làm cho tim mạnh hơn.

 Kết quả nghiên cứu năm 2011 dựa trên 200.000 người cũng chứng minh là nguy cơ bị nhồi máu tim giảm 31% ở những người uống bia chừng mực trong khi nguy cơ này lại tăng cao ở những người uống quá nhiều.
Một báo cáo của đại học Harvard cho biết uống chút bia mỗi ngày sẽ làm lượng HDL tăng lên, giảm nguy cơ bị nghẽn mạch máu.

3- Làm cho thận tốt hơn.

 Vì bia ngăn ngừa và làm giảm việc cấu thành sạn thận đến 40% dựa theo sự giải thích là chất calcium sẽ hỗ trợ cho xương được cứng hơn, và calcium sẽ không xâm lấn và thành sạn trong thận.

4- Tăng cường trí nhớ.

Tác dụng khác của bia là chống lão hóa. Dựa vào một thống kê so sánh 11.000 phụ nữ lớn tuổi thì những vị uống một lon bia mỗi ngày có trí óc trẻ hơn những ai không uống đến 18 tháng tuổi.5- Giảm nguy cơ bị ung thư. Ướp thịt với bia trước khi nướng cũng đã được thử nghiệm để chứng minh là chất đường tiết ra từ bia khi nướng đã ngăn ngừa sự cấu thành của acid HCA, một chất tố có thể gây ung thư.

6-Tăng trưởng chất bổ trong cơ thể.
 

 Viện nghiên cứu về dinh dưỡng và thực phẩm ở Hòa Lan khám phá rằng những người uống bia điều độ có 30% lượng vitamin B6 nhiều hơn người không hề uống, ngoài ra bia cũng tạo nhiều hàm lượng B9 và B12 cho cơ thể.

 7- Giúp chống liệt não.Đây cũng là kết quả một công trình nghiên cứu ở Harvard, cho thấy nếu hấp thụ đúng liều lượng rượu hoặc bia sẽ ngừa được việc máu bị đóng cục, giúp máu lưu thông dễ dàng lên tim, lên cổ và não như vậy sẽ giảm cơ nguy bị liệt não Các nhà nghiên cứu ở Harvard cũng khuyến khích những người trung niên uống bia điều độ hơn vì kết quả quan sát 31.000 nam giới ở độ tuổi trung niên là khả năng bị bệnh tiểu đường loại 2 giảm 25%.
 

8-Giảm nguy cơ bị tiểu đường.

Các nhà nghiên cứu ở Harvard cũng khuyến khích những người trung niên uống bia điều độ hơn vì kết quả quan sát 31.000 nam giới ở độ tuổi trung niên là khả năng bị bệnh tiểu đường loại 2 giảm 25%.

9- Giảm bệnh cao áp huyết.

Rượu đỏ có tiếng là tốt cho tim nhưng căn cứ vào thử nghiệm của Harvard với 25.000 phụ nữ trong khoảng từ 25 đến 40 tuổi, thì những người tiêu thụ một liều lượng bia vừa phải gần như không hề bị cao áp huyết so với những người uống rượu.


10- Sống lâu hơn.

Kết luận này được nêu lên dựa vào sự tổng hợp của hơn 50 nghiên cứu, bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ ước lượng rằng việc uống bia điều độ đã góp phần giảm mức tử vong đến 26 ngàn người mỗi năm. Và một báo cáo ở bên Châu Âu cũng có kết quả tương tự cho rằng nếu ngưng uống bia một cách chừng mực thì tuổi thọ có thể giảm đi 2 năm.

Vậy thì quy luật chung để có kết quả tốt nhất cho sức khỏe thì dù là uống rượu đỏ hay bia cũng phải có sự chừng mục và điều độ. Nếu lạm dụng thì phản ứng sẽ ngược lại và còn tai hại hơn là không uống. Dựa vào rất nhiều công trình nghiên cứu, mức độ tiêu thụ vừa phải là một chai hoặc lon bia 12oz đối với nữ giới và nhiều nhất là 2 chai đối với nam giới cho mỗi ngày.

 Phước An

 

 

Hồng Ân làm con cái Chúa

  

HỒNG ÂN LÀM CON CÁI CHÚA

                                                                                           Thịnh Trần

Vào cuối năm 2000 và chỉ còn 3 tiếng nữa thì sẽ qua năm mới của 2001( tết Tây). Lúc bấy giờ, gia đinh tôi chuẩn bị đón năm mới và hai cháu mở TV ra, và coi những chương trình “countdown” Năm Mới của Mỹ. Bỗng nhiên điên thọai reo lên và tôi chỉ nghĩ đây là bạn bè gọi để chúc mừng mà thôi. Nhưng khi nghe tiếng của Bác Lĩnh, bố chồng của chị vợ tôi, với một giọng hoảng hốt la lên: “Anh Minh, chị Thái và cháu Jeremy bị lật xe….và … chị Thái thì không qua khỏi…. chị….đã… chết rồi cháu”…Khi nghe tới lúc đó thì người tôi bàng hoàng và không cầm vững được điện thoại. Vợ tôi lúc nghe được tin này thì la lên mà khóc…. Vợ tôi nói: chị Thái mới ở nhà mình sáng này, hai chị em còn đùa giỡn lúc chia tay về New Mexico mà giờ đây thì chỉ đã mất rồi….

Chúng tôi thì đạo Phật, còn chị Thái thì đạo Công Giáo theo chồng…. Chị Thái lúc nào cũng nói cho vợ tôi là nên vô đạo đi, tại vì chị thấy rất tốt, rất đạo đức, bình an..v…v… Nhưng lúc nào gia đình chúng tôi cũng gạt bỏ ý kiến đó…..

Vì theo đạo chồng, cho nên lễ an táng phải theo nghi lễ Công Giáo…. Tôi vẫn còn nhớ khi mà gia đình tôi bước vào nhà thơ Thánh Linh, ở Fountain Valley, tôi, vợ tôi và hai cháu cảm thấy quá “Linh Thiêng” và rất xúc động.  Nước mắt chúng tôi không cầm được. Trong đầu tôi chỉ biết nói là: “CHÚA, xin cho con một hy vọng vào CHÚA”…. Và vợ tôi cũng nghĩ như vậy nhưng không ai nói cho ai biết….Sau buổi lễ đó thì tôi và vợ tôi muốn tìm hiểu về Đạo….và từ đó cả gia đình chúng tôi vô Đạo…..

Câu chuyện khi viết ra thì rất nhiều thiếu thốn và chi tiết vì gia đình chúng tôi còn cảm nghiệm được hồng ân CHÚA quá bao la….

Thịnh Trần

Phép lạ tình yêu

Phép lạ tình yêu
 
 
Bác sĩ Gerald Jampolsky
 
Bác sĩ tâm lý Gerald Jampolsky viết: “Tôi lớn lên trong Do Thái giáo. Khi lên 16, một người bạn bị chết trong tai nạn xe hơi và từ đó tôi bỏ mọi niềm tin vào Chúa. Tôi là người vô thần hầu suốt đời tôi. Theo tiêu chuẩn xã hội, tôi có đủ thứ tôi muốn. Tôi có tiền, tôi nổi tiếng là một bác sĩ tâm lý giỏi. Nhưng tôi bị dằn vặt bên trong. Tôi cảm thấy trống vắng, một cảm giác cô đơn, không được thương, một cảm giác bị xa cách với mọi người và với Chúa. Tôi trở nên say rượu đến nỗi cảnh sát bắt tôi. Nghề nghiệp tôi như bị đổ vỡ, đời tôi như tan tành. Nếu có ai nói với tôi về Chúa tôi sẽ đi ngay sang bên kia đường. Tôi không muốn nghe. Rồi một hôm tôi như nghe có tiếng bên tai: “Thầy thuốc hãy chữa lấy mình.” Tôi cảm được ngay sự nối kết với Chúa và với mọi người. Tôi biết tôi sẽ sống đời tôi phục vụ cho Chúa, cho đi chứ không tìm lấy. Từ đó, bác sĩ Jampolsky khởi công một trung tâm cho những người bệnh gần chết, dựa trên nguyên tắc Chúa Giêsu dạy: “Khi quên mình để lo cho người khác là khi ấy sống trọn vẹn hơn cả.” Đúng thế, chỉ có cuộc sống thật khi chỉ có một thực tại là tình yêu, yêu không điều kiện, tình yêu mạnh đủ để thắng mọi cám dỗ kết án một ai khác, tình yêu mạnh đủ để sống mọi giây phút tin tưởng rằng tha thứ là chìa khóa duy nhất của hạnh phúc. Chỉ có sống thật khi tin rằng cảm nghiệm được Chúa khi giúp đỡ người khác và khi làm như vậy, chúng ta liên kết Chúa, ta và tha nhân.” Tới nay ông đã mở trên 35 trung tâm cho những người bệnh nguy kịch như thế tại Hoa Kỳ, Anh và Úc.
Trong các trung tâm, các em trải qua cơn bệnh hiểm nghèo, lập tức trở thành tông đồ cho các em khác. Có một cậu 11 tuổi đã được bác sĩ cho biết sắp chết. Trong nhóm chia sẻ, một em khác hỏi: “Greg, cậu nghĩ gì khi biết chắc trong 3 tuần nữa cậu sẽ chết?” Cậu thanh thản trả lời: “bạn hãy để thân xác sang một bên bởi vì nó không thực sự tồn tại. Khi bạn vào thiên đàng bạn trở nên một với mọi người. Và đôi khi bạn trở lại, bạn đóng vai một thiên thần cho người nào đó.”
Vào một dịp nọ, các môn đệ đến với Chúa Giêsu và hỏi Người, “Ai là người lớn nhất trong Nước Trời?” Chúa Giêsu gọi một em bé, để giữa các ông rồi nói: “Thật, Ta nói cho anh em, anh em phải trở nên trẻ nhỏ mới được vào Nước Trời. Ai không đón nhận Nước Trời với thái độ một em bé không thể vào được. Ai hạ mình xuống như những trẻ nhỏ sẽ là người lớn trong Nước Trời” (Mt 18:1-4).
Sự viên mãn đời đời của chúng ta là do đức tin, không phải đức tin như chúng ta xác định  nhưng đức tin như Chúa Giêsu xác định. Đức tin có nghĩa là tin một cách đơn sơ, cởi mở, vô điều kiện vào Thiên Chúa toàn năng, Đấng tạo dựng và ban sự sống. Đức tin có nghĩa là tin tưởng như trẻ nhỏ vào lời hứa của Chúa, Ngài là Đấng không bao giờ rút lại tình yêu đối với mỗi người chúng ta. Đức tin có nghĩa là tin như trẻ nhỏ vào sự chiến thắng của Chúa ngay cả trên sự chết. Đức tin có nghĩa là tin tưởng vào quyền năng cứu chuộc của tình yêu Chúa được mạc khải nơi Chúa Kitô. Đức tin có nghĩa là tin tưởng như người đàn bà trong Phúc Âm hôm nay. “Xin thương xót tôi, lạy Con Vua Đavít, con gái tôi bị quỉ ám” bà kêu lên (Mt 15:22). Bà không nghe được câu trả lời của Chúa, chỉ có các môn đệ muốn đuổi bà đi cho rồi. Họ không làm lay chuyển đức tin của bà nơi sức mạnh cứu độ của Chúa Giêsu. Bà đến quì trước Ngài và van xin một cách chân thành và đơn sơ, “Lạy Ngài, xin giúp đỡ tôi” (Mt 15:25). Chúa Giêsu trả lời, “Này bà, đức tin của bà mạnh. Bà được như bà tin” … “Lập tức, con gái bà được lành” (Mt 15:28).
Tin ở Chúa và chúng ta sẽ được ban những ơn hơn lòng chúng ta mong ước. Bác sĩ Jampolsky một lần viết đơn xin giúp đỡ 20 ngàn Đô. Những người phân phối tiền từ thiện không thích lắm đơn xin của Jampolsky. Họ gặp ông và hỏi làm sao ông điều hành nổi nhà thương. Jampolsky trả lời: “Làm sao tôi có tiền để trang trải nhà thương ư, làm sao chúng tôi có sự hiện diện ư! Chúng tôi tin ở Chúa.” Hai mươi phút sau, ông giám đốc từ thiện đề nghị: “Chúng tôi cấp cho nhà thương ông 300 ngàn Đô.”
Tin ở Chúa không phải trong những việc có thể nhưng nhất là những việc thật khó khăn. Chúa sẽ giúp ta tìm ra cách giải quyết. Một cô gái không xem thấy từ mới sinh, vì những sơ ý của nhân viên nhà thương. Cô đến bác sĩ Jampolsky xin giúp đỡ. Cô hỏi, “Liệu có thể xem thấy được không?” Bác sĩ nói, “Luôn luôn có hy vọng.” Bác sĩ nói tiếp, “Sức khỏe là sự chữa lành từ trong trí, sức khỏe là sự yên tĩnh trong người, chữa lành là bỏ đi sự lo âu. Cách chúng ta chữa lành từ trong trí là học để tha thứ.” Ông hỏi cô mù là cô chưa tha thứ cho ba má và nhân viên nhà thương. Cô nhận thật là chưa. Họ cảm nhận sự hiện diện của Chúa và bỏ qua quá khứ. Chỉ trong tám tháng, khả năng nhìn xem dần dần trở lại. Bác sĩ nha khoa của cô lấy làm ngạc nhiên. Cô đã không cần chó dẫn, đang tập lái xe và dự định lập gia đình. Hằng ngày cô bắt đầu bằng lời cầu nguyện: “Hôm nay, con nhìn mọi sự theo cái nhìn của Chúa. Xin cho con không kết đoán ai nhưng đem lại cho mọi người phép lạ của tình yêu. Nơi thánh thiêng nhất là nơi trước kia oán ghét, nay trở nên yêu thương.” Sức mạnh chữa lành của Chúa đến với chúng ta khi chúng ta trao mọi khó khăn cho Chúa và để Ngài biến đổi chúng.

Đức tin không phải tự nhiên xảy đến. Đức tin được dọn đường bằng khiêm nhượng nhận thật chúng ta không thể tự mình giải quyết điều gì. Đức tin được dọn đường bằng chân nhận chúng ta lệ thuộc vào một nguồn lực bên trên chúng ta. Người đàn bà xứ Cana, qua hành động đức tin, nhận thực bà hoàn toàn lệ thuộc vào Chúa Giêsu. Và đó là sứ điệp của Phúc Âm hôm nay. Lạy Chúa xin thương con, xin cứu giúp con!

Bác sĩ Gerald Jampolsky

Tại sao phải cầu nguyện?

 

 
“Bạn không thể nói yêu một người mà bạn không hề nghĩ đến người đó, tâm sự với người đó, và chứng tỏ tình yêu của mình qua hành động đối với người đó!”
 
Bạn thân mến,
 
Sau khi bài viết “Cầu Nguyện Như Thế Nào?” được gởi đi, thì có một bạn email hỏi tôi là:
“Khi cầu nguyện thì mình nên nói những gì?” Câu hỏi này làm tôi liên tưởng đến một câu chuyện khá thú vị mà tôi xin chia sẻ với quý bạn như sau:
 
Hồi đó tôi khoảng độ 9, 10t, rất tinh nghịch, tò mò, và hay chọc phá người khác. Gần nhà tôi có một công viên, và cứ khoảng chập tối, thì có nhiều cặp tình nhân đến đó ngồi tâm sự hay tán tỉnh gì đó. Vì tôi tò mò muốn biết họ nói với nhau những gì, nên tôi mới rủ thêm một thằng bạn cũng trạc tuổi với tôi, lén ra ngồi sau một cặp tình nhân để rình nghe lén họ nói chuyện với nhau. Chúng tôi còn bàn tính với nhau là sẽ đốt một viên pháo đại trước khi “rút quân” để cho “địch” hốt hoảng khỏi “truy nã” và chúng tôi dễ bề tẩu thoát. Lần đầu tiên chúng tôi nghe họ nói những chuyện mà chúng tôi chưa từng được nghe, và tôi thấy cũng hơi lạ và ngồ ngộ. Nhiều khi tôi cũng thấy buồn cười nhưng phải ráng nhịn. Quay qua thằng bạn, tôi thấy nó cũng đang lấy tay bịt miệng để khỏi cười thành tiếng. Trong lúc 2 đứa chúng tôi đang hồi hộp nín thở vì câu chuyện đang “hấp dẫn”, thì đột nhiên thằng bạn “phải gió” của tôi nó hắt xì một cái thật to, thế là 2 chúng tôi phải bỏ chạy….. mất dép!
 
Tôi nghĩ là nếu tôi lén ghe nhiều cặp khác nhau thủ thỉ, thì tôi cũng sẽ được nghe những lời tâm sự khác nhau. Trong vấn đề cầu nguyện cũng vậy, không ai cầu nguyện giống ai, vì cách tỏ tình mỗi người mỗi khác.
 
Trở lại vấn đề cầu nguyện, như tiêu đề của bài viết, thì cầu nguyện không phải là một việc nên làm, nhưng là một việc phải làm! Đó là điều răn thứ nhất trong 10 điều răn của Thiên Chúa: “Phải thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự.”
Nếu tôi nói tôi kính mến Chúa, mà tôi lại không cầu nguyện cùng Chúa, thì tôi là một kẻ nói dối. Có lẽ bạn cũng đồng ý với tôi về điểm này?
 
 
Cầu nguyện Là gì?
 
Trước khi nói về vấn đề phải cầu nguyện, tôi xin được giải thích cầu nguyện là gì. Vì nếu chúng ta không hiểu cầu nguyện là gì, thì chúng ta cũng không thể hiểu tại sao chúng ta phải cầu nguyện. Tôi thường được nghe nhiều người giải thích:  “Cầu nguyện là nâng tâm hồn lên với Chúa”. Lời giải thích tuy ngắn gọn, nhưng rất mơ hồ, và không giúp ích được gì cho người ta biết cầu nguyện thế nào cho đúng. Nếu nói “cầu nguyện là tâm sự với Chúa”, thì có lẽ dễ hiểu và đúng nghĩa hơn, vì cầu nguyện không phải chỉ là độc thoại, chỉ có ta nói chuyện với Chúa, nhưng ta cũng phải lắng nghe Ngài nói với ta (qua Kinh Thánh và qua những biến cố trong
cuộc đời).
 
Theo như Kinh Thánh đã dạy, thì cầu nguyện là:
 
a)  Chúc tụng, ngợi khen, tôn vinh Thiên Chúa như trong Kinh Lạy Cha và Kinh Sáng
      Danh, và lắng Nghe Lời Chúa như Chúa Cha đã phán khi Chúa Giêsu biến hình trên
      núi Tabore: “Đây là Con Ta yêu dấu, các con hãy lắng nghe Lời Người!”  (Mc. 9:7)  
 
b) Tạ ơn, và xin ơn như trong Kinh Lạy Cha.
 
     Trong trường hợp cầu nguyện cùng Đức Mẹ cũng vậy, trong phần 1 của Kinh Kính
     Mừng, chúng ta chúc tụng, tôn vinh và ngợi khen Mẹ, và phần 2 của Kinh Kính Mừng
     là chúng ta cầu xin Mẹ cầu bầu cho chúng ta.
 
 
Có nhiều lý do mà chúng ta phải cầu nguyện, nhưng tôi chỉ xin được chia sẻ với quý bạn một ít lý do căn bản và thiết yếu như sau:
 
1)      Cầu nguyện để khỏi bị cám dỗ và thoát khỏi sự dữ.
2)      Cầu nguyện là thể hiện lòng tin, cậy, mến một cách thiết thực nhất.
3)      Cầu nguyện là thể hiện sự công bằng.
4)      Cầu nguyện là điều kiện thiết yếu để nên thánh.
5)      Cầu nguyện là trở nên giống Chúa Kitô.
 
 Cầu nguyện để khỏi bị cám dỗ và thoát khỏi sự dữ.
 
Nếu quý bạn theo dõi hằng ngày trên báo chí, truyền hình và trên Internet,  quý bạn thấy là khắp nơi trên thế giới, kể cả những nước tân tiến như Anh, Mỹ, Pháp, Ý, Nhật, v.v…. đều xảy ra những thiên tai, nhân tai, bạo loạn, ngộ độc, bệnh tật, scandals, v.v… GHCG bị bách hại từ những thế lực trần thế, từ những tổ chức bí mật, từ những tổ chức công khai với những chiêu bài “tự do”, “bình đẳng”, “nhân quyền”, “từ thiện bác ái”, v.v… và đau buồn hơn nữa, là chính những người trong GH lại bách hại GH nhiều nhất và gây nên những sự hoang mang cho đoàn chiên của Chúa! Nếu như chúng ta không cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ và để thoát khỏi mọi sự dữ, thì chúng ta làm sao tránh khỏi những nguy hiểm đang rình rập khắp nơi?
 
“Các con hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn để có thể thoát khỏi những việc sắp xảy đến, và để có thể đứng vững trước mặt Con Người.” (Lc. 21:36)
 
“Anh  em hãy tỉnh thức mà cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ, vì tinh thần thì nhanh nhẹn, nhưng thể xác thì nặng nề”. (Mc. 14: 38)
 
Các môn đệ hỏi Chúa Giêsu: ”Tại sao chúng con lại không thể trừ quỷ đó được?” Chúa Giêsu đáp: ”Loại quỷ đó không thể trừ được, nếu không cầu nguyện và ăn chay.” (Mc. 9,20-29).
 
Cầu nguyện và ăn chay có thể có thể ngăn ngừa được chiến tranh, thiên tai, bệnh tật, và nhiều sự dữ khác. Bởi nhiều người không nghe lời khuyên của Mẹ Fatima, nên thế ngày nay mới lâm vào tình trạng “văn minh sự chết”. 
 
 Cầu nguyện là thể hiện lòng tin, cậy, mến một cách thiết thực nhất.
 
Nếu chúng ta không cầu nguyện, có nghĩa là chúng ta không tin rằng Thiên Chúa là Cha của chúng ta; hoặc nói cách khác, là chúng ta không cần Thiên Chúa! Chúng ta tin vào chính mình hơn là chúng ta tin vào Ngài. Theo thời gian. Chúng ta có thể mất đức tin lúc nào mà chúng ta cũng không hay. Đức tin được tăng trưởng qua sự cầu nguyện. Nếu không cầu nguyện, đức tin  dễ bị thoái hóa (yếu dần), hoặc biến hóa (lạc giáo). “Thầy bảo các con: hãy xin và sẽ được ban cho, hãy tìm thì sẽ thấy, hãy gõ cửa thì sẽ được mở. Bời vì ai xin thì nhận được, và ai tìm thì sẽ thấy và ai gõ thì sẽ được mở” (Lc. 11,9-10).
 
Khi chúng ta muốn xin sự giúp đỡ của người khác, thì chúng ta hy vọng là người đó sẽ giúp chúng ta. Nếu chúng ta không hy vọng là người đó có thể giúp chúng ta, thì chúng ta không dại gì mất công và mất thì giờ để cầu xin người đó. Đối với Thiên Chúa cũng vậy, khi chúng ta cầu nguyện xin Chúa giúp chúng ta, thì chúng ta cũng hy vọng là Chúa sẽ ban cho chúng ta, nếu chúng ta cầu xin với niềm xác tín, và những điều chúng ta xin là chính đáng và đẹp lòng Ngài.
 
Nếu bạn yêu ai, thì bạn mới tâm sự với người đó. Trừ khi chúng ta cầu nguyện theo thói quen, Chúng ta sẽ cảm thấy cầu nguyện là một niềm hạnh phúc, vì chúng ta được tâm sự với Người Cha và Người Mẹ tuyệt hảo và yêu thương chúng ta nhất. Bằng chứng là có những vị thánh,
như thánh Đa Minh, thân ngài bay bổng lên không trung khi ngài cầu nguyện. Ngài có thể
cầu nguyện suốt đêm trước Thánh Thể mặc dù sau một ngày dài làm việc mệt nhọc, vì ngài cầu nguyện với tất cả niềm tin, cậy, mến một cách trọn hảo.
 
Khi chúng ta cầu nguyện cho một linh hồn trở lại, thì cả Thiên Đàng vui mừng. Đó là chúng ta thể hiện lòng yêu mến đối với Thiên Chúa và đối với tha nhân một cách thiết thực nhất. Còn gì cao quý hơn, khi chúng ta cầu nguyện cho những kẻ thù ghét và ngược đãi mình? Chỉ khi chúng ta ở trong Chúa, và Chúa ở trong chúng ta, thì chúng ta mới làm được những điều đó.
 
Tôi bảo các ông: Cũng vậy, trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải, hơn là vì chín mươi chín người công chính, những kẻ không cần phải ăn năn (Lc.15:7)
 
“Các con hãy yêu thương kẻ thù địch, làm ơn cho những người ghét chúng con, chúc lành cho những người nguyền rủa các con, cầu nguyện cho cả những người vu cáo chúng con…”
(Lc. 6: 27-28).
 
“Còn Thầy, Thầy bảo anh em: Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ ngược đãi anh em.”
(Mc. 5,44)
 
 Cầu nguyện là thể hiện sự công bằng.
 
Theo như kinh nghiệm của tôi, thì khi tôi được ơn hoán cải, là không phải do tôi, mà do những lời cầu nguyện của nhiều người khác mà tôi cũng không biết những người đó là ai. Một con chim bị nhốt vào lồng thì tự nó không thể nào thoát ra được. Bởi vậy, khi chúng ta cầu nguyện, thì chúng ta cũng phải cầu nguyện cho những người đã cầu nguyện cho chúng ta, mặc dù chúng ta không biệt họ là ai. GHCG là GH thông công, nên mọi người cũng cầu nguyện cho nhau, và đó là luật công bằng: được nhận thì cũng phải cho đi.
 
 Cầu nguyện là điều kiện thiết yếu để nên thánh.
 
Bạn không thể nên thánh nếu bạn không thích cầu nguyện! Đối với các thánh nhân, các ngài
rất hạnh phúc khi cầu nguyện. Các ngài muốn có cơ hội để được cầu nguyện. Nếu chúng ta nói “phải cầu nguyện”, thì đó chỉ là cầu nguyện một cách tiêu cực. Chỉ khi nào chúng ta thích được cầu nguyện, thì chúng ta mới có hy vọng trở nên thánh, nghĩa là chúng ta đã tìm được Nước Trời ở nơi trần thế này.
 
 Cầu nguyện là trở nên giống Chúa Kitô.
 
Trước khi Chúa Giêsu đi rao giảng, thì Ngài bắt đầu bằng 40 ngày đêm ăn chay cầu nguyện và chịu ma quỷ cám dỗ. Mặc dù Thánh Kinh không đề cập tới Ngài nhiều trước khi Ngài bắt đầu sứ mạng của Ngài, chắc chắn là Ngài cũng rất thường cầu nguyện cùng Đức Chúa Cha. Trong thời gian 3 năm rao giảng, Kinh Thánh nhiều lần có đề cập tới việc cầu nguyện của Chúa Giêsu. Ngài cầu nguyện sáng tối, và có khi Ngài thức suốt đêm để cầu nguyện.
 
“Sáng sớm hôm sau khi trời hãy còn tối, Chúa Giêsu thức dậy ra khỏi nhà. Ngài đến một nơi vắng vẻ và cầu nguyện ở đó” (Mc. 1,35).
 
“…Và Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa.” (Lc 6,12)
 
Nếu bạn yêu một người nào, thì bạn cũng muốn trở nên giống người đó. Bạn thích những gì người yêu thích: “yêu nhau yêu cả đường đi”. Nếu bạn yêu mến Chúa Giêsu, thì bạn cũng
muốn trở nên giống Ngài. Bạn không thể trở nên giống Ngài nếu bạn không có sự liên hệ mật thiết với Ngài qua sự cầu nguyện. Có khi chúng ta nói yêu Chúa Giêsu, nhưng chúng ta chỉ
thích nhìn những phép lạ Người làm, thích nghe những Lời Người giảng dạy, và thích chiêm ngắm khi Ngài lên Trời, nhưng chúng ta không thích thấy Ngài ăn chay cầu nguyện, không thích thấy Ngài đánh đuổi các con buôn trong đền thờ, không thích nghe Ngài lên án quở trách những người luật sỹ và Pharixieu, không thích thấy Ngài vác thập giá và chịu chết treo trên thập giá. Chúng ta không muốn mình phải trở nên giống Chúa, nhưng chúng ta muốn Chúa phải trở nên giống mình. Chúng ta không muốn tuân phục GH, nhưng chúng ta muốn GH phải theo ý riêng của chúng ta. Những trường hợp đó, chắc chắn là chúng ta không cầu nguyện, hoặc chúng ta cầu nguyện không đúng, không đẹp lòng Chúa, vì chúng ta  không muốn vâng theo ý Chúa, nhưng chúng ta  muốn Chúa theo ý chúng ta.
 
 Cầu nguyện phải đi đôi với việc làm, sự hy sinh (ăn chay hãm mình), và lòng tin cậy mến.
 
“Không phải những người thưa với Thầy: Lạy Chúa, lạy Chúa, là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng là những người thi hành ý muốn của Cha Thầy, là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi” (Mt. 7,21).
 
Nếu bạn yêu một người, mà bạn chỉ có nói mà không chứng minh bằng việc làm cụ thể đối với người đó, thì người đó sẽ nghĩ gì về bạn? Con người ta khôn lanh hơn ma quỷ ở chỗ là: “những gì tốt là do mình làm ra, còn những gì xấu là do ma quỷ”. Nhiều khi ma quỷ cũng bị oan ức lắm, nhưng xét cho cùng thì nó cũng đáng thôi! Nhiều khi chúng ta cho rằng những của cải chúng ta có được là do công lao khó nhọc của chúng ta làm ra. Nhưng chúng ta quên mất một điều, là nếu Chúa không ban cho chúng ta tài năng sức lực, thì chúng ta cũng không có được những của cải đó. Nhiều khi chúng ta đem của cải giúp đỡ những người nghèo khó mà không vì tình yêu mến Chúa, thì cũng chẳng khác gi chúng ta, nói theo kiểu dân gian,  “mượn hoa cúng Phật”. Những gì chúng ta có riêng ta để dâng lên Thiên Chúa chính là tấm lòng tin yêu, những sự hy sinh hãm mình, chịu đựng những đau khổ và nghịch cảnh trong cuộc sống, và sự quan tâm tới tha nhân.
 
Hy vọng những sự chia sẻ của tôi, không phải chỉ là một mớ lý thuyết, nhưng là những kinh nghiệm và cảm nghiệm của cả một đời người, có thể giúp cho những bạn trẻ tìm được hạnh phúc thật sự ngay giữa trần thế đầy chông gai và thử thách này…!
 
Cám ơn quý bạn đã cùng tôi chia sẻ, và xin Chúa chúc lành cho qúy bạn và những người thân!
 
San Jose, ngày 7, tháng 7, năm 2011
 
Joseph V. Bùi

Chúa đi tìm tôi, tôi đi tìm Chúa

CHÚA ĐI TÌM TÔI, TÔI ĐI TÌM CHÚA 


                                                     Anne du Saint’ Esprit NGUYỄN HẢI TRIỀU

 Chúa đã phải vất vả đi tìm tôi nhiều lần.
 
1. Hồi nhỏ, tôi ở cùng cha mẹ, anh chị em tôi trong một ngôi chùa nhỏ miệt Gia Định. Những năm sống trong chùa, tôi tụng kinh với sư thầy, chơi đùa và học chữ với các ni cô, cho đến khi Chúa vào chùa tìm gặp tôi, Người quyết định đem tôi đi nơi khác . Tôi từ giã gốc đa sân chùa để theo cha mẹ lên sống trên cao nguyên.
 
2. Trên cao nguyên, cha tôi có cơ hội gặp gỡ một linh mục dòng Châu Sơn, rồi cha mẹ tôi trở lại Đạo, đồng thời Chúa cũng tạo điều kiện cho tôi chọn Chúa. Tiếc thay, ở chặng này, tôi đã không hợp một ý với cha tôi là đem hình Phật Thích Ca, tượng Quan Thế Am Bồ Tát, chuông, mõ, bát nhang dâng cúng chùa để lập bàn thờ Chúa. Bấy giờ, tôi ngắm Tượng Chúa Chịu Nạn cha tôi mới đưa về một cách lạnh lùng và ác cảm, . Hỡi ôi, chẳng hiểu vì sao, từ lúc bấy giờ, tôi bắt đầu ghét Chúa, tôi ghét Người Chịu Chết Treo Đau Thương trên Thánh Giá ấy biết bao ! Tôi dõng dạc thưa cha tôi rằng con vẫn theo đạo Phật.
 
Có lẽ hồi đó Chúa khóc nhiều vì tôi….
 
 Chúa tìm dịp khác để được gần gũi tôi . Hồi đó, cha tôi mang về nhà những tập Thánh Ca khổ nhỏ với nhiều bài hát ngắn dễ thuộc, để anh tôi làm bài tập đàn ghitar …. Tôi tuy còn nhỏ, nhưng nghe anh đàn hát cũng thuộc được nhiều bài hát mà chỉ có người Công Giáo quen đi nhà thờ mới biết hát. Như bài :”Con kính dâng Cha cùng bánh và rượu nho, hồn con đây với xác con đây”, thì tôi thuộc luôn cả các Tiểu Khúc sau đó. Không biết khi nghe một tiểu Phật Tử như tôi hát Thánh Ca mà lòng vô tư như hát “ Tết Trung Thu rước đèn đi chơi “vậy thôi thì Chúa có mỉm cười không nhỉ !
 
Vậy rồi vài năm sau đó, Chúa lại đưa gia đình tôi trở xuống Saigon. Ở Sàigòn, chúng tôi rơi vào giữa một xóm Đạo, riêng tôi phải học trường Dòng. Hai môi trường này làm cực lòng tôi lắm. Chúa đang đi tìm một Phật Tử trong một gia đình Công Giáo đây, nhưng tôi đã ghét Chúa, bây giờ càng ghét thêm, bởi vì tôi phải đọc kinh, phải học chung với những người mặc áo Dòng đen, phải trốn vào buồng tắm mỗi sáng Chúa Nhật vào giờ các bà Quản, ông Trùm ghé nhà viếng thăm và dạy Giáo lý cho anh em chúng tôi.
 
Một ngày nọ, cha tôi ra lệnh: “Thôi các con hãy chịu đi Rửa Tội thì các ông bà sẽ không tới nhà ta nữa”. Lập tức, tôi bị điệu vào cha Xứ để người chọn ngày rửa tội cho. Tôi là đứa ương ngạnh và đang trong tâm trạng bất mãn vì bị ép buộc như vậy nên khi linh mục ban Bí Tích Rửa tội cho tôi, tôi đã lãnh nhận mà bất phục, bất ưng. Trời ơi, làm sao thành việc !
 
Về nhà, tôi không đi lễ, không đọc kinh. Tôi chối Chúa rồi.
 
Chúa lại phải đi tìm tôi lần nữa, bởi vì tôi còn bỏ cả trường Dòng, bởi vì ở đâu có sự hiện diện của Chúa, của Đạo Công Giáo thì tôi ghét cay ghét đắng nơi đó.
 
Nhưng không dễ cho tôi đâu. Chúa lôi cổ tôi trở về nơi chốn cũ, bắt tôi phải học chung với các Tu sĩ áo đen nọ.
 
Tôi học chăm vì không thích nói chuyện với ai, tan học là về nhà, hóa ra lại thuộc hạng có hạnh kiểm tốt, vì thế có một soeur rủ tôi : “Đi tu nhé. ” Cho tới nay, thật tình tôi không hiểu nổi tại sao, chỉ sau một ngày, ngày hôm sau, chính tôi lại là người mở miệng xin với soeur ấy dẫn tôi vào gặp Bề Trên tu viện để xin nhập Dòng . Ai thay đổi lòng dạ tôi lúc bấy giờ ? Ai mở miệng tôi ? Tôi không biết. Chúa biết. Chỉ có Chúa biết . Chúa tìm tôi làm gì và Chúa định gì thì cứ thế mà theo. Lần đầu tiên trong đời tôi tỏ ra ngoan ngoãn với Chúa. Chắc hồi đó Chúa cười vui rồi.
 
Tôi đi tu. Vào Dòng, tôi được rửa tội lại với đầy đủ ý thức, ý muốn, tự do và lòng yêu mến. Tôi thực sự gia nhập vào đời sống của một Tu sĩ Công Giáo, đó là cầu nguyện và làm việc theo Tôn chỉ Dòng. Tôi yêu mến đời sống tu trì. Bây giờ tình thế đảo ngược rồi : Tôi đi tìm Chúa. Tôi đon đả, háo hức đi tìm Chúa và muốn tận hiến cho Người.
 
Nhưng không, sau một thời gian dài, Chúa lại dọn đường cho tôi đi nẻo khác. Tôi hiểu rằng tôi phải về với gia đình thôi vì bây giờ chính gia đình mới là nơi tôi sống chứ không phải nơi nào khác. (Lần này tôi cũng vâng lời Chúa rất ngoan). Tôi tiếp tục đi tìm Chúa nơi hoàn toàn vô định, đầy rẫy khó khăn chứ không hề êm ả, bằng yên như trong nhà Dòng, nơi có cha tôi đang trong cơn lâm tử, nơi có mẹ tôi vất vả trăm chiều, nơi không có 1 hạt gạo trắng mà chỉ có bo bo, mì sợi, nơi tôi lao động mà chẳng có lương và cần thiết nhất, nơi ấy, những người thân tôi đang xa Chúa. Ước mong sao anh chị em tôi nhận ra tiếng Chúa gọi trong đời, Chúa vẫn đang đi tìm họ, Chúa thương yêu và muốn họ trở về với Người biết bao. Kính xin độc giả, người đọc những dòng tâm tình này, vì cánh đồng của Chúa, xin cho họ một lời cầu. Xin đa tạ.
 
Cảm tạ lòng Thương Xót Chúa một đời con, trăm triệu bài Thánh Ca không nói hết.
 
 Con đã gặp Chúa rồi, xin đừng bao giờ để con xa lìa Chúa nữa.
 
 
Sài gòn, ngày 16 tháng 10 năm 2008.
 
 Kỷ niệm ngày mẹ tôi thuận đến với
 
 Giờ Cầu nguyện Lòng Thương Xót Chúa.
 
 Anne du Saint’ Esprit NGUYỄN HẢI TRIỀU
 
 (Cựu thành viên Ban Thánh Nhạc GP Sài gòn)

Phép lạ: Mẹ Hằng Cứu Giúp che chở


                             PHÉP LẠ: MẸ HẰNG CỨU GIÚP CHE CHỞ

 

 

                                                                                  Kim Nguyễn

Chúa Nhật 11-5-2008 vừa qua, chúng con trong “Hội Bảo Trợ Ơn Gọi Dòng Chúa Cứu Thế” đã được kêu gọi tới để dự phiên họp TỔ CHỨC KỲ 10 cho Tĩnh Tâm 3 ngày hành hương kính Đức Mẹ Hằng Cứu Gíup vào cuối tháng 6 năm 2008 này tại Nhà Dòng Chúa Cứu Thế Houston, Texas.

Sau đó Cha Bề Trên Phụ Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế là Cha Dominic Đinh Minh Hải có bàn một chút về “Căn Nhà Hành Huơng ĐỨC MẸ”. Chúng con được biết phí tổn dự trù khoảng trên một triệu. Lễ đặt viên đá đầu tiên đã khởi sự vào ngày 14-10-2006. Tuy sự trợ giúp của Cộng Đồng Dân Chúa và các cơ sở thương mại cũng khá nhưng cho tới nay vẫn chứa thể tiến hành được vì nguồn tài trợ vẫn chưa đạt đủ tiêu chuẩn. Cha Bề Trên Phụ Tỉnh Đominic Đ- M -Hải đã xin mọi người góp ý tìm cách nào để có thêm được sự đóng góp cho công cuộc xây cất “NHÀ MẸ” được mau chóng hoàn thành hầu giúp khách hành hương khắp nơi về Tĩnh Tâm có chỗ tiện nghi an toàn không sợ mưa gió bão táp làm sập lều như hồi năm 2005.

Cũng chính về vụ Lều bị sập nên Nhà Dòng CCT đã quyết định xây “Đền Mẹ”. Con còn nhớ kỳ hè năm đó, chính là năm 2005. Cũng như mọi năm , hành hương kính Đức Mẹ tại Nhà Dòng Chúa Cứu Thế (Texas) lại được tổ chức. Hôm đó, vào ngày thứ Bảy tức là ngày thứ nhì của “Tĩnh Tâm”. Mưa gió đã bắt đầu từ thứ sáu, sang ngày thứ Bảy thì có vẻ trầm trọng hơn như là bão sắp tới. Con cũng muốn đi tham dự, nhưng vì nhà Dòng xa nhà con khỏang gần 1 giờ lái xe mà khí hậu lại không tốt, đường đi thì trơn trượt, nên con đành ở nhà cầu kinh thôi. Chiều tối có 3 chị trong Hội Đạo Binh Hồn Nhỏ đã kêu điện thoại cho con để báo một hung tin: lều bị sập, làm con kinh hoàng.
Con mường tượng lại chiếc lều khổng lồ này có thể chứa tới cả 1000 người như không.

Hằng năm cứ vào khoảng tháng 6 là có những ngày Tĩnh Tâm kính Đức Mẹ HCG và căn lều lại được dựng lên với biết bao công lao khó nhọc của các Cha, các Thầy trong Dòng và nhiều người trong Cộng Đồng các giáo xứ đã đến giúp. Thật không ngờ, đến kỳ Hành Hương thứ 7 lại xẩy ra chuyện không hay. Cha Bề Trên lúc đó là Cha Châu Xuân Báu đang ở trong Nhà Nguyện khi vừa hay tin không lành liền quì sấp xuống đất đấm ngực ăn năn tội để nài xin Lòng Chúa Thương Xót cùng xin Mẹ đỡ nâng, phù hộ. Nhiều người đã bật lên tiếng than khóc thảm thiết và chạy toán loạn để tìm người thân, cũng như tìm đường về nhà. Thật là hỗn loạn, như sắp tận thế đến nơi.  Nhưng qúa lạ lùng ! Lúc đó, trong Lều với số người khá đông khoảng 300 người và khi gió thổi mạnh , những cây cột gỗ dựng lều chuyển động rồi thình lình đổ ập xuông tứ phía và căn lều siêu vẹo sụp xuống. Ai ai cũng kinh sợ, cho rằng các cây gỗ cao và lớn như vậy mà ngã xuống rồi đè lên đám đông thì chắc chắn sẽ có nhiểu người thiệt mạng, nêú không cũng bị thương tích rất nặng . Nhưng không như mọi ngừơi tưởng . Kiểm điểm tổng quát lại tất cả sau khi biến cố xẩy ra, chỉ có vài người bị sướt da đôi chút là vì xô nhau chạy nên té mà thôi. (Con chỉ nghe có 3 người : 2 người bị trầy da chút xíu và 1 người bị đau cánh tay, thế thôi) không một ai bị nặng cả . Cũng như các nơi dùng cho Cung Thánh, bàn thờ và các dụng cụ âm thanh , đều còn nguyên không hư hại . Một điều nữa là hệ thống dây điện được giăng khắp nơi cho đèn và âm thanh cũng không có dây đìện nào chạm nhau để có thể gây ra hoả hoạn.

Các dụng cụ cũng không bị hư hại gì. Đó là điều mà tất cả mọi người có mặt đều phải tin rằng có “Bàn tay Hiền Mẫu” nhúng vào che chở con cái Mẹ. Nhà Dòng đã dâng Thánh Lễ Tạ Ơn sau đó. Chúng con nghe được chuyện “Lều Sập” và mọi người được an toàn nên đã sấp mình xuống cảm tạ Thiên Chúa và Mẹ vô cùng vì có Mẹ cầu bầu liên lỉ với Chúa nên con cái được bảo vệ cách riêng.

Giờ đây thấy Cha Bề Trên, các Cha và các Thầy lo lắng xin mọi người cầu nguyện và góp ý cho việc tài trợ xây cất ĐỀN MẸ HCG CHÓNG HOÀN THÀNH thay thế cho căn lều đã bị sập. Chúng con chỉ biết ngày đêm cầu xin cùng cố gắng đóng góp trong khả năng mình có thể và kêu gọi kính mời mọi người xa gần hửơng ứng.  Mong rằng có thể đạt được mục đích thiêng liêng mà Nhà Dòng ước nguyện:
*Tổ chức Đại Hội & Hành Hương kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp.
*Đón Tiếp các cuộc Tỉnh Tâm, Cấm Phòng, các Khóa Giáo Lý, Tĩnh Huấn, Canh Tân Đức Tin cho người lớn & giơí trẻ.
*Tiện dụng cho các hội họp Tông Đồ của mọi đoàn thể Công Giáo và các sinh hoạt văn hóa.
 

Có một điều chúng con cũng xin thưa rõ hơn là hằng năm khách hành hương kéo về Dòng Chúa Cứu Thế không phải chỉ có Giáo Dân khắp nơi, mà còn rất nhiều người ngọai đạo và đã có nhiều người được Chúa ban nhiều ơn qua các linh mục đã xin Mẹ Hằng Cứu Giúp cầu bầu cùng CHÚA như chuyện Bác B. M. trên 70 tuổi, là nhà văn đã đi nhiều nhà thờ để nghe giảng. Cho đến một hôm , bác đến nhà Dòng CCT và được nghe Cha Antôn N-Q-Dũng thuyết giảng, tự nhiên Bác cảm nhận được Tình Yêu tuyệt vời của Thiên Chúa. Bác ra về và đã viết một bài đăng báo về sự cảm nhiệm này. Bác cũng tỏ ý định muốn được làm con cái Chúa. Kính xin mọi người cầu cho Bác và cho dân ngoại. Nếu đúng là Ý Chúa thì Dòng Chúa Cứu Thế sẽ trở thành Trung Tâm Truyền Giáo mạnh mẽ nhất.
 

Chúng con nhớ đến một năm , hành hương kính Mẹ . Đó là năm 2004 cũng chính là năm bão lụt ở Houston,Texas rất nặng. Cha Micae Giuse N-T-Luân từ Nhà Dòng Chúa Cứu Thế ở Long Beach, Cali. đã về Nhà Dòng CCT ở Houston, Texas Tĩnh Tâm, và có nhiều người được ơn chữa lành. Đặc biệt có 1 ngừơi bị tê liệt cả 2 chân , phải ngồi trên xe lăn đã lâu vì các bắp thịt ở chân teo nhỏ lại , được Chúa chữa lành đi lại được, và bắp thịt ở chân đã trở lại bình thường sau khi Cha đặt tay cầu nguyện, trước sự chứng kiến trên 400 người. Ngày hôm sau, con đã tới Nhà Dòng và may mắn tiếp xúc trực tiếp với anh đó, trông anh thật khỏe mạnh, đi lại bình thường.  Kỳ tổ chức Đại Lễ kinh Lòng Chúa Thương Xót 2007. Có một tấm hình chụp khi rước kiệu, khi rửa ra thì thấy hình có 2 luồng ánh sáng đỏ và trắng chiếu từ trời xuống trên đoàn người đi rước chỗ Cha PhaoLô Ng-v-Thạch. Còn nhiều dấu lạ khác nữa nếu có dịp chúng con xin chia xẻ sau.

Riêng chúng con trong Hội Đạo Binh Hồn Nhỏ cũng xin cảm tạ về muôn Hồng Ân Chúa ban xuống cho mọi người và cho chúng con qua các Linh mục đã xin Mẹ HCG cầu bầu.
*** Năm nay,cuối tháng 6(27, 28, 29) năm 2008, lại một lần nữa , cha Micae-Giuse N-T-Luân về thuyết giảng với đề tài “ĐỨC MẸ THƯƠNG XÓT”, và đặt tay cầu nguyện xin Thiên Chúa chữa lành phần hồn, phần xác. Xin thông báo tới toàn thể Cộng Đồng Dân Chúa xa gần.

Sau đây , con xin trích một đọan các Cha Nhà Dòng đã kêu mời đóng góp như sau:
YỂM TRỢ XÂY DƯNG NHÀ HÀNH HƯƠNG DÂNG KÍNH ĐỨC MẸ HẰNH CỨU GIÚP
Xin Qúy Vị rộng rãi hổ trợ chúng tôi xây dựng Mái Nhà Hành Hương Tôn Kính Mẹ Hằng Cứu Giúp và phục vụ nhu cầu tâm linh cho mọi giới đoàn chiên Chúa. Qúi Ân Nhân Nhà Mẹ sẽ được hưởng quyền lợi thiêng liêng gồm Thánh Lể và lời khẩn cầu chúng tôi dâng mỗi ngày tại Nguyện Đường Mẹ HCG, theo ý chỉ đặc biệt của Qúi Vị.

Chính vì vậy kính xin Quí Cha , Quí Tu Sĩ và Cộng Đồng Dân Chúa dâng lời cầu xin cho “ĐỀN MẸ” được thành hình mau chóng.
Rất mong ý kiến xây dựng, cầu nguyện và lòng hảo tâm đóng góp của tất cả Qúi vị khắp nơi .
Kính chúc Qúi Cha, Qúi tu sĩ và Quí vị hồn an xác mạnh trong Chúa và Mẹ

Mọi chi tiết và yểm trợ, xin vui lòng gởi thẳng về:
DÒNG CHÚA CỨU THẾ TẠI HOUSTON , TEXAS
3417 W. Little York St. Houston , TX 77091
Phone: (713) 681-5144

Số không trong Hội Đaọ Binh Hồn Nhỏ
Kim Nguyễn

                                                                                                           

Chúa đã biến đổi cuộc đời của tôi

                             Chúa đã biến đổi cuộc đời của tôi 

                                                                                       Maria Thanh Nguyễn

 Tôi tên là Maria Thanh Nguyễn xin làm chứng và chia sẻ, về những ơn Chúa Thánh Thần đã biến đổi con người và chữa lành bệnh tật cho tôi.  Nhờ những lần đi Tĩnh Tâm CTDS, Chúa Thánh Thần đã dạy cho tôi biết nhận ra ý nghĩa của một cuộc sống làm người Kitô. Tôi luôn đọc chuỗi Kính Lòng Chúa Thương Xót lúc 3 giờ, năng xưng tội và đi Lễ hàng ngày, lúc trước tôi không bao giờ đi Lễ ngày thường.

Sau ngày 30 – 4 -1975, chúng tôi cũng chung một số phận nước mất nhà tan, nhà tôi ở trong quân đội phải đi trình diện và không thấy về.

 Lúc ấy tôi mang thai được hơn 3 tháng, đang sống hạnh phúc, nay còn một mình trong căn nhà của gia đình tôi.  Mãi gần 4 năm sau, nhận được thư của nhà tôi từ miền Bắc gửi về, tôi lo đưa con đi thăm chồng. Gặp mặt và nói chuyện chừng 20 phút là hết giờ, cha biết mặt con gái đầu lòng, bao nhiêu năm xa cách, bao nhiêu chuyện muốn nói mà không nên lời.

 Hơn 7 năm chờ đợi nhà tôi cũng được về với gia đình, chúng tôi có thêm 1 cháu trai và chờ đoàn tụ với gia đình, bất ngờ nhà tôi phát bệnh, những chứng bệnh ảnh hưởng thời gian tù đày , thiếu thốn nơi rừng thiêng nước độc. Anh đã bỏ lại tất cả, ra đi một mình.

 Rồi mẹ con tôi cũng được bảo lãnh sang Mỹ, tôi cứ tưởng Mỹ là thiên đàng như mọi người ở VN đều nghĩ vậy, sang đến nơi mới thấy trở ngại đủ thứ, thời tiết thì khắc nghiệt. Gia đình tôi ở miền Bắc nước Mỹ mùa đông thì dài, mùa hè rất ngắn. Các cháu đi học, còn tôi thì thầy chẳng ra thầy, thợ chẳng ra thợ, tôi chán nản và chỉ muốn trở về VN, nhưng biết có về cũng không được sống an lành, nghĩ đến tương lai các con nên tôi ở lại. Từ đó tôi lạnh nhạt và xa Chúa, rồi bao nhiêu chuyện xảy ra cho gia đình, tôi đã oán trách và còn có ý định bỏ Chúa nữa, lúc đó tôi chỉ biết oán trách, mà không nghĩ đến mình là kẻ tội lỗi, vô ơn bội nghĩa. Nhưng Thiên Chúa đầy lòng nhân hậu, đã tha thứ hết lỗi lầm, Ngài luôn đồng hành che chở và gìn giữ chúng ta.

Năm 2001 con gái tôi đi học về lái xe đường trơn tuyết đụng vào thành cầu, xe hoàn toàn hư.  Hai năm sau, con trai tôi vì lái xe nhanh đụng vào những thanh sắt mà người ta để vào những khúc đường quanh co, xe lật nhiều vòng thành 1 đống sắt.  Chúa đã bảo vệ, gìn giữ các cháu không bị thương tích gì, một phép lạ rõ ràng, tôi cũng chỉ biết cảm tạ Chúa, đi tạ ơn nhưng rồi lại quên, vẫn không thay đổi đời sống của mình.

Cũng trong năm này trong gia đình tôi lại xảy ra chuyện buồn nữa, tôi đau khổ đến tận cùng gần ngã gục, tôi đã chạy đi xin khấn khắp nơi. Chúa đã nhẹ nhàng đưa tay đỡ tôi lên, và cứu chúng tôi.  Ngài thật là tuyệt vời, đã làm những điều kỳ diệu, và bao ân sủng Ngài đã thương ban cho chúng tôi. Gia đình con muôn đời cảm tạ Chúa, chúng con nguyện yêu Chúa với hết cuộc đời còn lại của chúng con.  Muôn đời cảm tạ Chúa đã cho con cơ hội ăn năn sửa lỗi lầm , thay đổi đời sống, nhờ những lần đi Tĩnh Tâm do cha Phêrô Nguyễn Đức Mầu hướng dẫn, Chúa Thánh Thần đưa cha về nhà thờ St Helena ở Philadelphia, Pa. Hôm đó tôi đi cùng vợ chồng người em gái, cô ấy đã đi khóa ở CA. Còn tôi thì mới đi lần đầu, thật sự cũng vì tò mò mà đi, nhưng Chúa Thánh Thần đã đến và thanh tẩy tôi, rồi những khóa kế tiếp, qua bàn tay cha Mầu, Chúa Thánh Thần đã chữa lành bệnh đau bao tử, và tay phải của tôi đã hết đau.

 Nhờ những lời dạy dỗ của Cha mà chúng tôi biết mở lòng ra, thương yêu chia sẻ với mọi người, biết đọc kinh Phụng Vụ, Thánh Kinh. Ngày trước không bao giờ tôi đọc vì mỗi lần mở sách thấy chữ nhiều chi chít nên ngại lắm, rồi lại bỏ, bây giờ tôi đọc say mê mà chỉ sợ hết, nên phải đọc từ từ. Tôi biết đọc chuỗi Kính Lòng Chúa Thương Xót, và thích nghe những bài hát Thánh Linh, mở mắt ra là hát cả ngày, các con tôi nói ” mẹ lúc này vui vẻ yêu đời qúa”, tôi nói với các cháu “Phải luôn nhớ cảm tạ Chúa, vì bao nhiêu ơn lành Ngài đã thương ban cho chúng ta”.  Chúng con cũng cảm tạ Chúa đã ban cho Giáo Hội có nhiều nam nữ Tu Sĩ, Kitô hữu tài giỏi sáng tác ra những bài Thánh Ca tuyệt vời đầy ý nghĩa, đánh động những tâm hồn chai đá, làm thay đổi đời sống nhiều người.

Chúa Thánh Thần cũng đã đưa cha Mầu về Giáo Xứ chúng tôi ở Pennsylvania. Sau 3 ngày Tĩnh Tâm như luồng gió mới của Chúa Thánh Thần thổi đến cộng đồng, rất nhiều người được chữa lành, và thay đổi đời sống Tâm Linh, cộng đồng tôi đã có 2 người xin vào đạo. Cha còn lập nhóm cầu nguyện Betania (Canada), nhóm Phoenixville, Philadelphia bây giờ lại có thêm nhóm Lòng Chúa Thương xót ở NJ.

Chúng con cám ơn cha, cám ơn các anh chị trong nhóm Betania lúc nào cũng sát cánh, đã không ngại đường xa, đi giúp cha tĩnh tâm ở khắp nơi, kể cả VN và Âu Châu, các anh chị đã bỏ công ăn việc làm và bỏ cả tiền túi để làm phương tiện di chuyển. Xin Chúa ban nhiều ơn lành cho cha và các anh chị.

Nay tôi đã dọn về Oklahoma, nhưng vẫn liên lạc với các em để biết về sinh hoạt của các nhóm, và những lần cha về Tĩnh Tâm, rất tiếc vì không có cơ hội đi nhiều như hồi còn ở bên đó. Tôi nhận thấy tất cả anh chị em trong các nhóm Thánh Linh đều dễ thương, ai cũng có lòng bác aí hi sinh và luôn nghĩ đến những người khác.  Mới về Ok tôi buồn và nhớ những lần được đi Tĩnh Tâm, cảm tạ Chúa nay tôi đã gặp được các bạn cùng chung một chí hướng. Chúng con xin cảm tạ chúc tụng, tôn vinh Chúa Cha Chúa Con và Chúa Thánh Thần, đã thương yêu và biến đổi cuộc đời chúng con.  

 Và sau hết, Đấng mà chúng con luôn kính mến là Đức Maria Trọn Đời Đồng Trinh Vô Nhiễm Nguyên Tội, là Mẹ Thiên Chúa và là Mẹ của chúng con, xin ấp ủ chúng con trong vòng tay yêu thương của Mẹ. Lạy Nữ Vương Thiên Đàng xin nhận nơi đây lòng yêu mến chân thành của chúng con.

 Maria Thanh Nguyễn, OK

NIỀM VUI VÀ HẠNH PHÚC KHI TIN NHẬN CHÚA GIÊSU

CÁM ƠN ĐỨC CHÚA JESUS VÌ NGÀI ĐÃ CỨU CHUỘC TÔI

                                                                                          Thắng Cung – California

Tôi không bao giờ quên được ngày ấy 14 tháng 9 năm 1986, khoảng 11 giờ sáng tôi chơi tennis với một người Mỹ, ông Al Buabier.  Sau 1 tiếng đồng hồ hai bên quyết hạ nhau, chúng tôi mệt nhoài, toát mồ hôi ngồi nghỉ mệt và có dịp tâm sự với nhau. Tôi chia sẻ với Al về cuộc đời của tôi.  Sinh ra và lớn lên trong một gia đình Phật giáo tại Việt Nam, học hết bậc trung học tôi được động viên vào trường bộ binh Thủ Đức.  Sau đó tôi đã tình nguyện vào binh chủng Thủy Quân Lục Chiến chiến đấu với cộng sản Bắc Việt, đến cuối tháng 3 năm 1975 bị thương và bị bắt nhốt tù đến cuối tháng 3 năm 1977 được phóng thích về Sài Gòn. Năm 1981, tôi vượt biên tới Nam Dương, sau đó định cư tại Hoa Kỳ…

Ông Al nhìn tôi với vẻ thương xót rồi nói (tất nhiên bằng Anh ngữ) “ông cần Chúa Jesus.  Chúa nói “Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ…” Ông đến với Chúa đi.”  Tôi hỏi lại ông “Đến với Chúa, nghĩa là gì?”  Ông AL nói ”Nếu ông thực sự muốn biết, hãy gặp tôi tại nhà thờ của tôi lúc 6 giờ rưỡi chiều.  Bây giờ tôi về nhà cầu nguyện cho ông.”  Sau đó chúng tôi chia tay.

Tôi về nhà và nôn nao trong lòng cách lạ kỳ.  Tôi muốn sớm được gặp lại ông Al tại nhà thờ.  Lúc ấy “thì giờ không phải như tên bay” mà là như rùa bò nhưng rồi cũng tới lúc.  Tôi đến nhà thờ của Al khoảng 6 giờ chiều, Al đã có mặt ở đó.  Ông bắt đầu giải thích cho tôi “đến với Chúa” nghĩa là “tin rằng Chúa Jesus là con của Đức Chúa Trời hằng sống” và “tiếp nhận Ngài là Cứu Chúa của mình.” Rồi ông giải thích cho tôi sự cứu rỗi của Chúa Jesus.  Ngài là Đức Chúa Trời thành nhân chịu chết trên thập tự giá để chuộc tội cho nhân loại.  Vì mọi người đã phạm tội…Chỉ một mình Ngài là Đấng Cứu Thế mới có thể chuộc tội cho họ….v..v..

Sau đó ông hỏi tôi có công nhận mình là một tội nhân không?  Với sự thành tâm ăn năn tôi trả lời : Yes!  Ông hỏi tiếp tôi có muốn tiếp nhận Chúa Jesus là Cứu Chúa của mình không?  Với lòng khao khát ước mong tôi trả lời:  Yes!

Cảm tạ Đức Chúa Trời, Ngài đã ban cho tôi một đức tin như một trẻ thơ, những giây phút đó tôi đã không hoài nghi hay thắc mắc chi cả.  Sau đó Al nắm tay tôi và hướng dẫn tôi cầu nguyện tin nhận Chúa, mời Ngài làm chủ đời tôi và Cứu Chúa của tôi.

Sau đó chúng tôi chia tay, Al tặng tôi một cuốn NIV Kinh Thánh, và một cassette tape loại “Praise The Lord – Ca ngợi Chúa”.  Tối hôm ấy, mở cassette tape nghe bài “Jesus! What a wonder You are!’’ tôi vô cùng xúc động. Tôi nghe đi nghe lại nhiều lần, tôi đã khóc nức nở vì quá sung sướng, vì tội lỗi đã được tha thứ và linh hồn đã được cứu rỗi, được làm con Đức Chúa Trời toàn năng.  Cảm tạ Chúa, Ngài đã tái sinh tôi, tái tạo tâm linh tôi… Ngợi khen Chúa.  Hallelujah!!!

CÁM ƠN ĐỨC CHÚA JESUS VÌ NGÀI ĐÃ VÀ ĐANG THÁNH HÓA ĐỜI TÔI.

Sau khi đã cứu chuộc tôi, chọn lựa tôi là con của Ngài, quyền năng của Chúa đã làm cho tôi không còn đam mê thế gian này, và làm cho tôi say mê lời Ngài.  Lời Chúa qua Kinh Thánh soi sáng tôi (open my mind), giúp tôi xa lánh tội lỗi, sống một cuộc đời thanh khiết đẹp lòng Chúa.  Chúa biến đổi tôi rất nhiều, điển hình như ”bỏ hút thuốc lá’’, khi chưa biết Chúa tôi rất ghiền và hút rất nhiều.  Đã hai lần bỏ vì biết thuốc lá rất hại, xong chỉ bỏ được ít lâu rồi hút trở lại và khi hút thì lại hút gấp đôi.  Nhớ lời Chúa nói rằng… Thân thể chúng ta là đền thờ của Chúa Thánh Linh…

Tôi cậy ơn Chúa và cầu xin Ngài giúp “bỏ hút thuốc” cách tự do (1986).  Tới nay không bao giờ hút trở lại. Bây giờ mùi khói thuốc làm tôi rất khó chịu.  Đồng thời tôi cũng bỏ ruợu, bia… ngoài ra từ một con người tham danh, ham lợi, tham quyền Chúa đã khiến tôi chẳng còn ham hố cái gì nữa của cuộc đời tạm này mà chỉ còn ham Chúa mà thôi.  Khi trước tôi hay nóng nảy, hay sân-si.  Ngày nay Chúa làm cho biết khiêm tốn, thích nhu mì.  Thế  là tam độc “Tham—Sân—Si” lúc còn là một Phật tử tôi đã cố gắng bỏ mà không được, nay nhờ ơn Chúa “tam độc” không còn nữa… cũng như “tư vô lương tâm: từ bi hỉ xả.”  Trước kia muốn thực hiện nhưng khó quá, ngày nay bởi ơn Chúa, cùng bước với Ngài mỗi ngày, thực hiện “tư vô lương tâm” trở nên dễ dàng và nhẹ nhàng.  Cám ơn Chúa!  Chúa khiến tôi yêu tha nhân hơn vì có tình yêu của Chúa ở trong lòng, Chúa biến đổi nhiều lắm đến nỗi bạn bè của tôi nói rằng con người tôi khi xưa và ngày nay như hai mặt của bàn tay.  Chúa làm cho tôi ngày càng trở nên giống như Ngài… Tạ ơn Chúa!  Hallelujah !!!

CÁM ƠN ĐƯC CHÚA JESUS VÌ NGÀI ĐÃ CHỮA LÀNH BỊNH CỦA TÔI.

Thời gian ở trong tù cộng sản (1975-1977) tôi đã bị bịnh “đau cột sống” vì hằng ngày phải vào rừng chặt cây, phải vác những khúc cây thật nặng và di chuyển thật xa.  Sau khi được phóng thích tôi đã đến nhiều bệnh viện ở Việt Nam để chữa trị (bệnh viện Chợ Rẫy, Sài Gòn, Phan Thanh Giản..vv..) nhưng chỉ tiền mất, tật mang.  Sau đó tôi đổi sang Đông Y, uống thuốc bắc và nhờ các thầy châm cứu nhưng cũng không thuyên giảm chút nào.  Đến khi qua Mỹ được chữa trị bằng phương pháp vật lý trị liệu, bằng chiropractic nhiều nơi nhiều lần cũng không khá gì hơn.

Sau khi được biết Chúa, tôi đã cầu khẩn Ngài chữa bịnh cho tôi, vài tháng sau đó bịnh ‘’đau cột sống’’ đã tiêu tan một cách kỳ diệu.  Cùng năm đó (1986) bao tử tôi bị loét (ulcer) bác sĩ gia đình gởi đi X-Ray và thử phân (phân có máu) qua các kết quả đó bác sĩ đề nghị tôi đi giải phẫu nhưng tôi đã từ chối và cầu nguyện xin Chúa chữa bịnh.  Vài tuần sau triệu chứng đau bao tử không còn nữa.  Tôi báo cáo cho bác sĩ, ông gởi đi X-Ray trở lại, kỳ diệu thay vết loét không còn nữa, bác sĩ nói đúng là phép lạ!  Quả thật “Ngài là Jehovah Đấng Chữa Lành tôi!”  Ngợi khen Chúa.  Hallelujah!!!

CÁM ƠN ĐỨC CHÚA JESUS VÌ NGÀI LÀ ĐẤNG CHĂN DẮT TÔI.

Chúa đã tạo dựng nên tôi, Ngài có một chương trình cho đời tôi.  Trong thời gian chiến tranh tại chiến trường Quảng Trị nơi tuyến đầu lửa đạn, thời kỳ “Mùa Hè Đỏ Lửa” năm 1972 đơn vị chúng tôi đã tái chiếm “cổ thành” khi là quốc kỳ được cắm tại cổ thành thì rất nhiều đồng đội của tôi đã nằm xuống, nhưng Chúa đã thương xót tôi, gìn giữ mạng sống tôi, đến “Tháng Ba Gẫy Súng” (3/1975) vì Mỹ bỏ Việt Nam, Tổng thống Thiệu bán nước chúng tôi phải rút lui khỏi vùng một, đơn vị tôi bị tan rã, tôi bị thương và bị việt cộng bắt, tôi đã toan tự sát để khỏi rơi vào bàn tay cộng sản nhưng không thành.  Trong trại giam lúc quá tuyệt vọng tôi đã rủa xả Hồ Chí Minh để cho bọn việt cộng bắn tôi vì nghĩ rằng biết đâu chết sẽ hóa kiếp khác đỡ khổ hơn.  Ba bộ đội cộng sản đã bao vây tôi , dí AK50 vào người tôi, vào đầu tôi…nhưng một cấp chỉ huy đã ra lệnh “Đừng bắn!  Nó điên rồi!”  Thế mới biết mỗi người sanh ra đều phải một lần chết, khi nào chết?  Chúa là Đấng tạo dựng con người, Ngài định đoạt đời sống con người. Khi Ngài đã gọi về muốn ở thêm một giây trên cõi đời này cũng không được.  Khi Ngài gọi, muốn giã từ thế gian một phút sớm hơn cũng không xong.

Đó là trường hợp của tôi…. Tôi cảm tạ Chúa!  Nhưng lần đó nếu tôi đã chết nhưng không có Chúa Jesus là Cứu Chúa của tôi thì tôi có thể phải ở trong “hỏa ngục” đời đời.

Nhưng phước hạnh thay!  Chúa cho tôi còn sống, cho tôi được biết Ngài, được làm con của Ngài để rồi những ngày còn lại trong cuộc đời, hàng ngày, được tương giao với Chúa qua việc đọc Kinh Thánh và cầu nguyện, hằng tuần (mỗi Chúa Nhật) được thờ phượng Chúa với các anh chị em cùng niềm tin, được sống làm vinh hiển danh Chúa.  Ôi!  Sung sướng làm sao.  Tôi không thể nào diễn tả được phước hạnh bằng lời nói vì đó là một cảm nghiệm trong nội tâm.  Sung sướng nhất là được rao truyền ơn cứu rỗi của Chúa Jesus cho người khác, được “Chúa tái lâm” đem về nước vinh hiển của Ngài để đời đời được tôn vinh Chúa, thờ phượng Ngài.

“Ôi ! Thật là một ” Ân sủng diệu kỳ”!  Cảm tạ Chúa!

HALLELUJAH! HALLELUJAH! HALLELUJAH!….. AMEN.

Qua lời chứng này tôi ước ao và cầu nguyện rằng quý vị nào có dịp đọc lời chứng của tôi nhưng chưa tin nhận Chúa Jesus là Cứu Chúa của mình, xin hãy “đến với Chúa”, mời Ngài ngự vào lòng mình, làm chủ cuộc đời mình, chắc chắn quý vị sẽ kinh nghiệm quyền năng tái tạo của Đức Chúa Trời trên đời sống mình.  Ngài sẽ ban cho quý vị một cuộc đời mới vô cùng ý nghĩa và một sự sống mới–Sự sống đời đời— Amen.

Thắng Cung – California
www.thanhlinh.net

Cảm tưởng của một cựu tân tòng.

Cảm tưởng của một cựu tân tòng.

Kính thưa Cha Quản Nhiệm,

Kính thưa các bạn Tân tòng và Quí vị đọc giả rất quí mến,

Khi con ghi lên những cảm tưởng này, không phải để tự đề cao mình, nhưng chỉ vì một lý do duy nhất là để cảm tạ Chúa vì muôn ngàn ơn phúc Chúa đã ban xuống cho chính con cũng như gia đình con.

1. Cảm tưởng trước khi theo đạo:

 

Trước đây con là một người lương dân không biết Chúa là ai, mà tính tình con lại ngang bướng và  nóng nảy, điều gì con đã không thích thì khó mà thuyết phục được.Lúc 18 tuổi khi con quen biết một cô gái, tính tình nhỏ nhẹ, dễ thương, và con đã đem lòng luyến ái và tỏ ý đi đến hôn nhân. Nhưng ngặt một điều: gia đình con rất sùng Phật, mà người bạn gái con lại rất sùng kính Chúa.  Dầu mở thì có thể ép được nhưng nợ duyên làm sao ngăn cản được. Kết quả chúng con đã đi đến biện pháp: xin phép chuẩn., đạo ai nấy giữ và chúng con đã tổ chức đám cưới lúc con lên 19 tuổi.

Trước khi làm đám cưới con hứa với Cha chủ lễ là con để cho vợ con tự do giữ đạo và sinh con ra sẽ cho chịu phép Rửa tội. Nhưng sau khi cưới xong thì trái hẳn, nên hai con trai của con đã lên 10 và 12 tuổi mà vẫn chưa được Rửa tội. Vợ con phải đi lễ chui. Vợ con vẫn kiên trì giữ đạo và cầu nguyện cho con.

Dù con chưa muốn theo đạo, nhưng con vẫn tin vào Chúa vì thế trước khi đi vượt biên, con đã nguyện xin cùng Chúa và cầu xin cùng Thánh Martinô de Pores tại nhà thờ Ba Chuông, nghĩa là con đã chọn Thánh Bổn mạng cho con từ lúc đó.

Đến năm 1979 gia đình con vượt biên qua đảo và đến Canada bình yên. Một ơn lạ đã đánh động lòng con khi con thấy biết bao kẻ đi vượt biên đã bỏ mình trên biển cả, gia đình con lại được đoàn tụ trọn vẹn, và khi đến trại tỵ nạn, con thấy người lương cũng như người đạo khắc bản “Tạ ơn” gắn đầy vách tường. Những điều đó làm con suy nghĩ rất nhiều. Vì thế, sau khi đến Canada, con bắt đầu tìm hiểu đạo. Mới đầu mỗi tuần con làm việc 7 ngày, sau đó con làm việc 6 ngày.  Mỗi Chúa Nhật con đều dẫn vợ và các con đi lễ. Sau đó hai con trai của con được lảnh nhận bí tích Thanh tẩy.

Trước ngày lễ Tôn phong các Thánh Tử Đạo Việt Nam 19-6-1988, được ơn Chúa thôi thúc con đã đi qua Rôma để dự lễ Phong Thánh. Con chứng kiến nghi thức quá trọng thể, đầy cảm động và sự uy hùng của Giáo hội Công giáo làm cho đức tin của con thêm vững mạnh. Sau đó con đi qua Pháp để viếng thăm Lộ Đức, nơi Đức Mẹ hiện ra năm 1858 và Đền thờ kính Bà Thánh Têrêsa Hài Đồng GiêSu tại Lisieux. Khi đến đây dự lễ con thấy mọi người đều sốt sắng lên rước lễ, duy mình con là người Việt, lại là lương dân nữa, con nghĩ rằng, những người này lên rước lễ họ sẽ được nhiều ơn lành, do đó, mặc dầu là người lương nhưng con cũng lên rước lễ, vì hy vọng được nhiều ơn Chúa để chống trả các tính xấu.

Sau khi trở về lại Toronto, sự quyết định theo đạo của con trở thành mạnh mẽ. Vào tháng 6 năm 1993, sau khi nghe tin Khóa Song nguyền của Chương trình Thăng Tiến Hôn Nhân Gia Đình do Cha Chu Quang Minh phụ trách, hai vợ chồng chúng con cùng tham dự. Trong ba ngày học hỏi con tiếp thu được nhiều điều, hay nhất là được Chúa cải hóa lòng con và con đã xin nhận bí tích Rửa tội.

Ngày hồng phúc đã đến với con: Thứ tư ngày 16-6-1994, con được diễm phúc lảnh nhận bí tích Rửa tội bởi Cha Phêro Chu Quang Minh và Cha Giuse Trần Xuân Lãm với sự tham dự của anh chị em trong Chương Trình Thăng Tiến Hôn Nhân Gia Đình. Từ giây phút này, con cảm nhận rằng: Chúa thương con quá nhiều, mặc dầu trước đây con xem Chúa như là người xa lạ, đôi khi con còn chống lại Chúa nữa. Nhưng Chúa vẫn kiên tâm chờ đợi sự đáp trả của con. Hôm nay đây lòng con tràn ngập vui mừng vì đã được chính thức trở thành con cái Chúa, tên tuổi con đã được ghi vào sổ sách của Hội Thánh. Một người khác vui mừng không kém hơn con đó là Anna Đinh thị Nhu, một người vợ đã nhẫn nhục hơn 30 năm để cầu nguyện cho con, bà vui mừng đến nỗi nước mắt trào dâng, vì Chúa đã nhận lời bà khấn nguyện. Chúng con muôn đời xin tạ ơn Chúa.

2- Cảm tưởng sau khi theo đạo:

 

Trước đây con hung hăng khó tính với vợ con bao nhiêu thì bây giờ con lại nhẹ nhàng với vợ con bấy nhiêu. Con không còn cấm vợ con đi lễ mà trái lại con nhắc nhở vợ con đi lễ. Nhờ ơn Chúa con tham dự các ngày lễ Chúa Nhật và ngay cả ngày thường khi rảnh con vẫn đi lễ sáng. Con về thăm Việt Nam 4 lần, suốt cả tuần, con đều thức dậy sớm để đi lễ vì con đã hiểu được ý nghĩa cao trọng của Thánh lễ Misa.

Từ ngày con qua Canada đến nay Chúa ban cho gia đình con bình an, cuộc sống được ổn định. Đặc biệt Chúa ban cho chúng con thêm một cháu gái nữa. Cháu này sinh ra đã được làm con Chúa rồi. Cho đến nay gia đình đã có được hai con trai đã ra trường và cháu gái sắp vào trung học.

Điều làm con ngạc nhiên nhất là tính con nóng nảy, bướng bỉnh, khô khan như vậy đó thế mà Chúa đã uốn nắn con thành người mềm mỏng, biết phục thiện. Từ đó con xác tín rằng dù là người khô khan nguội lạnh và cố chấp đến đâu Chúa cũng cải hóa được, nếu ai biết tìm đến với Ngài.

Nhân dịp này con xin chân thành cám ơn quí vị ân nhân đã giúp con trong cuộc hành trình tìm kiếm Chúa. Con xin cám ơn quí Cha, cha mẹ đôi bên, cha mẹ tinh thần, các anh chị trong gia đình Thăng Tiến Hôn Nhân đã nâng đỡ tôi từng bước trên con đường tìm đến Chúa, đặc biệt tôi xin cám ơn người vợ hiền của tôi, bà hiểu tôi hơn ai hết. Bà đã chịu đựng tính tình của tôi và kiên trì cầu nguyện cho tôi hơn 30 năm qua. Tôi nghĩ rằng sự hy sinh và kiên nhẫn của nhà tôi mà Chúa đã hoán cải con người của tôi. Tôi thành thật xin lỗi và cám ơn nhà tôi. Xin Thiên Chúa trả công bội hậu cho tất cả quí vị ân nhân đã làm ơn cho tôi.

3- Đôi lời tâm sự với anh chị em tân tòng:

 

Các bạn tân tòng thân mến,

Trong tình bạn tân tòng với nhau, tôi thành thật chia sẻ cùng các bạn một vài tâm tình. Chắc các bạn cũng như tôi, làm sao chúng ta quên được những giây phút linh thánh và đầy cảm động của ngày chúng ta được lảnh bí tích Rửa tội. Chính ngày đó song thân của chúng ta, cha mẹ đỡ đầu, anh chị em hoặc chính vợ chồng hay con cái của chúng ta cùng nhau chung vui tiệc mừng và chụp hình kỷ niệm vì đó là ngày đại hỷ của chúng ta.

Thưa các bạn, quả thật, chúng ta là những người được diễm phúc vì một chuỗi thời gian khá dài chúng ta không biết Chúa là ai! Thế nhưng Chúa vẫn chờ đợi chúng ta và gọi chúng ta vào làm vườn nho của Ngài lúc trời đã xế bóng. Cuối cùng Ngài vẫn trả cho chúng ta “Một đồng”giống như những người khởi công từ lúc sáng sớm. Phải chăng Ngài đã quá yêu thương và ưu đãi chúng ta.

Hạnh phúc được làm con Chúa thật quá lớn lao, không biết lấy gì sánh ví. Chắc các bạn còn nhớ rõ những tư tưởng đã học trong lớp: Tất cả những chức tước ở trần gian này, không có chức tước nào lớn lao và cao trọng bằng tước hiệu người Kitô hữu. Chúng ta đã được diễm phúc đó.Vậy chúng ta hãy cầu xin Chúa cho chúng ta luôn yêu quí danh hiệu đó và cố gắng sống xứng đáng một người Kitô hữu đúng nghĩa. Đó chính là nguyện ước của anh chị em tân tòng chúng ta.

Kính thưa quí Cha và quí đọc giả, đó là những tâm tình, cảm nghĩ phát xuất tự đáy lòng con xin được chia sẻ với mọi người để chúng ta cùng nhau dâng lên Thiên Chúa lời ngợi khen, cảm tạ vì lòng Chúa yêu thương nhân loại vô cùng.

Ngày 6-8-1999

Martinô Trần văn Dần

Lời chứng của Maria Phạm

ĐAU KHỔ TRONG ÂN PHÚC

Lời chứng của Maria Phạm

             Nghe ra thật nghịch lý và thật khó để chấp nhận là bây giờ, với cái tuổi đời 50 của tôi, mới thật sự cảm nhận được tất cả.   Cuộc đời trải qua của tôi quả là một phép lạ.   Tôi được sinh trưởng trong một gia đình thật đạo đức và được cha mẹ thương yêu một mực giáo dục con cái rất cẩn thận, nên nhờ thế mà khi lớn khôn tôi có được một đức tin thật vững vàng và có nền tảng.   Ấy thế mà vì để có một việc làm trong thời bao cấp, tôi ngang nhiên từ chối Chúa, tôi cũng giống như Thánh Phêrô chối Chúa thuở xưa vậy!   Đồng thời, trong suốt thời gian ấy bao nhiêu năm trời dài đằng đẵng ấy, tôi đã bỏ đạo, để phấn đấu, để được tiếng khen tặng của người đời, và trong tôi dần dần đã quên Chúa.   Cuộc sống cứ thế êm đềm trôi qua bao nhiêu năm tháng, và Chúa vẫn lặng lẽ sống trong tôi; Ngài đang chờ đợi tôi!?  Tưởng chăng cuộc đời nếu cứ mãi cho tôi hạnh phúc, nhưng chẳng được gì ngoài những bất công, dối trá, và tất cả sống như sẵn sàng dẫm đạp lên nhau trong công việc và trong cuộc sống ngày lại ngày.   Tôi bắt đầu cảm thấy bất mãn và chán nản.   Sau đó, tôi bỏ nhiệm sở vào thành phố, bỏ lại sau lưng bao mơ ước bao kỳ vọng, và tôi đã lập gia đình khi đã được 23 tuổi đời.   Chồng tôi lại là người ngoại đạo.   Chúng tôi đến với nhau và ăn ở với nhau một cách tự nguyện, không có đám cưới, cũng không có đám hỏi, và cũng không ai chứng dám.  

Tôi cho đó là định mệnh của cuộc đời đưa đẩy!?  Tôi làm dâu trong một gia đình có tất cả 4 người con.   Chồng tôi lại là con trai trưởng trong gia đình chồng.   Vô phước cho tôi, anh là một người đàn ông có tính rất trăng hoa.   Anh luôn sẵn sàng đánh đập tôi nếu tôi phản đối việc làm sai quấy và tội lỗi của anh ấy!    Tôi đã sống trong những tháng năm đau khổ của cuộc đời làm thân phận đàn bà và làm vợ.   Thật tuyệt vọng cho tôi, và thật tội nghiệp cho tôi, là có những lúc tôi chỉ còn nghĩ đến chuyện tự huỷ cuộc đời mình, hy vọng rằng tôi có thể thoát được cuộc đời phiền khổ và hệ lụy không hy vọng, không tia sáng, không lối thoát này chăng!?  Nhưng bởi tình mẹ quá bao la, thương con mình sẽ không có ai trên đời đùm bọc và che chở, nên tôi đã cố gắng sống trong chịu đựng, trong nhục nhã, và trong ê chề.  

Cuộc sống của tôi cứ thế từng ngày trôi qua trong nặng nề, cho đến một ngày sự chắt chiu của tôi, đã giúp tôi mua được cho mình một căn nhà.   Nói là nhà cho nó sang, chứ nó chỉ là nền đất, vách là xi măng được trộn với báo, bên trên che nắng che mưa bằng mái tôn.   Dẫu sao tôi cũng có được một nơi riêng cho mẹ con tôi, có chỗ trú ẩn chui ra chui vào của riêng mình.   Trong suốt thời gian này, tôi vẫn bỏ Chúa.   Tôi vẫn can đảm chịu đựng những trận đòn nhừ tử của chồng tôi những lúc ổng về trong say xỉn, vẫn triền miên đổ xuống trên thân thể ốm o của tôi.   Đã bao nhiêu trăm lần tôi có ý định bỏ nhà ra đi, nhưng rồi còn đi đâu cho được khi đã có 2 con cùng chồng.   Đã thế sau đó tôi lại phải hứng chịu cảnh chồng tôi bị thất nghiệp, gia đình chúng tôi bị bế tắc trong cảnh thiếu thốn, khó khăn, và khốn khổ, nhất là thương cho 2 con của tôi.   Nên tôi đã chịu khó tìm đến những nơi nào mà có người chỉ cho tôi biết là linh thiêng, tôi sẽ tìm mọi cách để chạy đến mà khấn nguyện, mà xin van, mà khóc lóc, nhưng mãi lâu tôi vẫn chẳng thấy được gì?.
Nhưng bỗng vào một đêm thật khuya trong giấc chiêm bao, tôi đã được diễm phúc mơ thấy Mẹ Maria.   Tôi chợt tỉnh thức và đã khóc như mưa vì được Mẹ cho thấy như được Mẹ nhắc nhở, và như người vừa mới được hồi sinh sau một cơn bạo bịnh.   Sáng hôm sau, tôi đã dùng xe đạp của tôi tìm đến nhà thờ FATIMA quỳ dưới ảnh Mẹ.   Được khóc với Mẹ và xin với Mẹ tha thứ bao nhiêu tội lỗi của tôi đã phạm trong quá khứ và trong hiện tại của tôi.   Xin Mẹ dủ lòng thương mà cứu vớt cho gia đình chúng tôi.   Không gì vui sướng cho bằng là lời van cầu thành khẩn của tôi đã được Mẹ nghe, tha thứ và ban ơn trên gia đình của chúng tôi, vì sau đó 3 ngày chồng tôi đã có việc trở lại, và cuộc sống của tôi sau đó cũng được tạm ổn.   Tự tôi sau đó cũng chỉnh đốn lại cuộc sống của mình vì Đức Tin quá yếu kém và cố gắng sửa đổi cuộc sống cho xứng đáng với tình yêu thương của Chúa và Mẹ đã ban cho.   Tôi đã siêng năng đi Lễ.   Mua những bài giảng của cha Kham về nghe và từ đó tôi như được Chúa Thánh Linh đốt nóng lên trong trái tim tôi một tình yêu vô bờ bến mà tôi chưa từng cảm nhận được như thế bao giờ, giúp cho tôi càng ngày càng được thấm nhuần trong tư tưởng khao khát muốn tìm kiếm Chúa nhiều hơn trong cuộc sống, và chỉ có Ngài mới đem lại cho tôi cuộc sống thật sự hạnh phúc và trong no thỏa.  
Tôi đã thuyết phục được chồng tôi sau một thời gian liên lỉ cầu xin cùng Ngài là cả hai vợ chồng tôi được làm Phép Chuẩn để tôi được Rước Lễ và được mãn nguyện sống trong Chúa mà không sợ phạm tội cùng Ngài.   Tôi cũng bắt đầu gia nhập vào hội đoàn, cố gắng xin Chúa thánh hóa bản thân, cầu nguyện không ngừng nghỉ, đã nhận được biết bao nhiêu ân huệ Chúa ban.   Như hiện giờ trong 3 đứa con của tôi, đã có 2 cháu theo đạo và được Ngài quan phòng tất cả.   Các cháu lập gia đình, có vợ ngoan hiền và có Đạo, nên tôi rất sung sướng và muôn đời tôi vẫn luôn muốn ca ngợi, cảm tạ, và tri ân Ngài, một tình yêu quá bao la và vô tận vô cùng.   Nhưng bên cạnh những hoan lạc ấy, thì sự chịu đựng của tôi vẫn còn, nhưng không như ngày xưa là tôi thường oán trách Chúa, gào thét, hay luôn than vãn; còn bây giờ, tôi biết phó mặc tất cả cho Chúa định đoạt và lo liệu.   Nhờ ơn Chúa Thánh Linh, tôi đã hiểu ra Lòng Thương Xót của Ngài thật sâu thẳm, thật vô biên hải hà, và độ lượng.   Ngài không bao giờ trao cho ai Thánh Giá nặng hơn sức của mình chịu đựng.    Chỉ duy một điều là chúng ta có đón nhận Ngài và tình yêu của Ngài hay không mà thôi! Nếu nặng nề, chúng ta xin Chúa giúp sức và thêm sức, để chúng ta cảm thấy Thánh Giá được trở nên nhẹ nhàng và bình an.   Cuộc sống đau khổ thì lúc nào cũng len lỏi, nhưng theo kinh nghiệm sống của tôi đã quá thấm thía.   Tôi có một thói quen là ngồi trước tượng Chúa Chịu Nạn để ngắm nhìn, chiêm ngưỡng, và cầu nguyện.   So sánh với Chúa chịu nạn, thì sự khổ đau của chúng ta trên cõi đời này thì nào thấm thía chi!??  Thế là tôi đối thoại cùng Chúa, lắng nghe tiếng chỉ bảo của Ngài, và mọi ưu tư buồn phiền, đã tan biến đi. 

Lậy Chúa! Chúa đã yêu thương và chờ đợi tất cả chúng con.   Chúa đã kiên nhẫn dù chúng con thật bất xứng trước Thiên Nhan Chúa.   Chúa vẫn sẵn sàng tha thứ, chờ đợi con trở về, bồng ẵm con lên, như đứa con tội lỗi hoang đàng sống xa lánh Chúa đã từ lâu.   Tình yêu của Chúa, con biết lấy gì đền đáp cho xứng!??  Cảm ơn Chúa đã tẩy xóa tất cả tội lỗi của con và xin dâng lên Chúa thân xác đớn hèn này như hy tế để đền tội của con và của gia đình con. 

Nguồn:

http://thanhlinh.net/thanhthan/chungtu/MaryPham.htm