Cha Tuyên úy Thủy quân Lục Chiến hy sinh tại chiến trường Việt Nam đang trên tiến trình tuyên thánh.

Nguyễn Lai is with Thái Lai Anna.

#GNsP – Đó là cha Vicent Capodanno, Hoa Kỳ. Cậu bé Capodanno sinh năm 1929 gần thành phố New York, trong một gia đình đạo hạnh. Là con út trong một gia đình mười anh chị em có gốc Ý di cư đến Hoa Kỳ. Cha mẹ cậu là dân lạo động. Hằng ngày phải thức khuya dậy sớm để nuôi bầy con đông đúc. Cha là thợ đóng tàu, mẹ buôn bán tạp hóa. Tuy nhiên sau một ngày lao động vất vả, cả gia đình quây quần đọc kinh tạ ơn Chúa.

Cha từng nói rằng, “gia đình chúng tôi  rất thân thiện, gần gũi, và yêu thương đùm bọc lẫn nhau. Chúng tôi luôn làm việc chung với nhau. Bữa ăn tối là trọng tâm của gia đình tôi. Chúng tôi không bao giờ ăn cho đến khi mọi người ngồi vào bàn, ngay cả chú chó cũng quẩn quanh gần bàn!”

Ông James, người anh trai của cha vẫn còn sống và kể lại rằng, cha Vincent thưở bé “rất bình dị và bình thường, nhưng em có một niềm tin vững mạnh và lòng đạo đức tốt lành. Em luôn hăng say trong những sinh hoạt của cộng đoàn giáo xứ, nhiệt tâm trong các công tác đoàn thể.”

Năm 1949, vào học kỳ I tại Đại học Fordham, chàng sinh viên trẻ Vicent Capodanno tâm sự với một người bạn thân rằng, chàng muốn trở thành một linh mục chứ không muốn làm bác sĩ, như chàng nghĩ trước đây.

Cùng năm đó, Capodanno xin vào dòng Truyền giáo Maryknoll, vì bị thu hút bởi sứ mệnh truyền bá Tin mừng cho những người đặc biệt nơi các vùng đất xa xôi. Khi trở thành tu sĩ Dòng Maryknoll, thầy Capodanno rất ngưỡng mộ Đức Giám mục Phanxicô Xavier Ford, vị Giám mục chết rũ tù Cộng sản tại Hoa Lục năm 1950, với khẩu hiệu Giám mục của ngài là “cùng chịu đau khổ với Chúa”. Người thứ hai mà thầy Capodanno ngưỡng mộ nữa là Đức Giám Mục Patrick Byrne, vị Giám mục bị Cộng sản Bắc Hàn bắt bỏ tù. Đức cha Patrick Byrne đã từng nói rằng “nếu tôi bị xử bắn, tôi sẽ vui chịu để thông hiệp với những thương đau của anh em tôi.”

Những lời ấy của vị Giám mục luôn ghi khắc trong tim thầy. Khi chịu chức linh mục, vào năm 1958 cha Capodanno đã tình nguyện xin đến phục vụ cho những người Hakka ở Đài Loan. Sau 7 năm làm việc ở Đài Loan, cha Capodanno được thuyên chuyển về trường trung học ở Hồng Kông. Cha không vui lắm trước sự hoán chuyển này! Vì là một nhà truyền giáo Maryknoll, cha thích đi ra truyền giáo hơn là ở một chỗ dạy học.

Sau đó cha Capodanno xin được làm cha Tuyên úy cho Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đang tham chiến tại Việt Nam. Cha đã được Bề trên chấp thuận lời xin này vào năm 1965. Gần 1 năm sau, tức vào Tuần Thánh năm 1966 cha được gửi về Tiểu Đoàn 1, Trung Đoàn 7, đóng ở phía Nam Đà Nẵng, một thành phố ở miền Đông Nam Việt Nam. Ngài là một Tuyên úy Công giáo duy nhất trong vùng, nên trách vụ của Ngài thật nặng nề.

Những người lính Thủy Quân Lục Chiến nhanh chóng đặt cho cha Capodanno biệt danh “kẻ phục dịch”, vì ngài chia sẻ mọi sự cho họ. Bất cứ khi nào họ cần tới cha, cha dường như đang ở đó – cầu nguyện với người bị thương, an ủi người đang hấp hối, và khuyến khích những người đi chiến đấu. Điều đáng trân quí nhất mà tất cả mọi người lính đều nhìn nhận cha Capodanno là một người trong số họ, cha không phải là kẻ xa lạ hay giai cấp, mặc dầu cha không bao giờ mang vũ khí, ngoại trừ khi có nghĩa vụ phải làm như vậy! Vũ khí của cha là tình yêu và tinh thần.

Cha Capodanno là người đồng hành với trung đoàn trên mọi chiến trường, liều mạng vì quân binh của mình. Trong một trận đánh bị Việt cộng tấn công bằng lựu đạn, khiến nhiều binh sĩ thương vong,  cha đã trực tiếp băng bó cho các binh sĩ. Lần khác cha đã cõng một người lính bị thương băng qua đám cháy để cứu sống anh. Trong các trận địa, cha làm người tải thương, cha cầu nguyện chúc lành, xức dầu bệnh nhân cho các binh sĩ trong cơn nguy tử… Cha chẳng màng tới sự an toàn cho sinh mạng mình, mặc dù cha đã từng thừa nhận mình cũng là người “rất sợ chết.” Cha Capodanno làm việc không ngưng nghỉ, mỗi ngày cha dâng lễ, ngồi tòa giải tội và luôn sẵn sàng để hướng dẫn tâm linh cho binh lính. Lúc rảnh rỗi cha thường đi bộ và lắng nghe những người lính tâm sự.

Thiếu tá Ray Harton nhớ lại một trong những cuộc gặp mặt đầu tiên của ông với cha Capadanno khi ông đang chuẩn bị cho một chiến dịch tấn công địch. “Cha ấy chỉ đi lướt qua và dừng lại một thoáng, nhưng ánh mắt của ngài như có một thần lực thu hút tôi… làm cho tâm hồn tôi dâng trào thổn thức!”

Vào sáng ngày 4 tháng 9 năm 1967, cha Capodanno tình nguyện đi tác chiến với đơn vị Thủy Quân Lục Chiến để giải cứu một đơn vị khác đang bị Việt Cộng tấn công ở Quế Sơn. Biết rằng đây là cuộc chiến đầy khốc nghiệt, ngài đã dành nhiều giờ trong đêm để cầu nguyện cho những người lính đã hy sinh và đang nguy tử. Không bao lâu sau máy bay chở cha Capadanno hạ cánh, đơn vị của cha bị một lực lượng gần hai ngàn quân Cộng Bắc Việt bao vây. Khi đội quân Thủy Lục Chiến của cha vượt qua đỉnh đồi, thì bị trọng pháo và đại liên bắn liên hồi… Người lính truyền tin vừa điện cho hay “Quân binh của chúng ta đang bị càn quét!”. Và rồi một tin nhắn khác “Có nhiều người bị thương và hấp hối…”

Nghe tin ấy cha Vincent quyết tâm đến với anh em binh lính của cha. Cha đã chạy như con thoi đến với các binh sĩ bị thương và ban bí tích cuối cùng cho những người hấp hối. Mặc dù bị bắn hai lần – một lần vào mặt và một lần vào tay phải – cha vẫn tiếp tục tìm kiếm người bị thương, nói với họ, “Chúa Giêsu nói: con hãy vững tin. Chúa là sự thật và là sự sống”.

Nhìn thấy một quân nhân khác bị thương, rên lên đau đớn, cha Capodanno đã quên thân mình chạy ùa đến với anh. Khi cha vừa quỳ xuống bên anh, một loạt liên thanh nổ rền giết chết cả hai người ngay lập tức. Vài giờ sau, một trong những người lính lấy xác cha Capodanno cho hay, khắp thân thể cha bị nát nhừ với 27 viên đạn, nhưng gương mặt “Cha như đang mỉm cười, và mắt cha khép lại như đang ngủ hay đang cầu nguyện.”

Cha Vincent Capodanno đã được Hoa Kỳ trao tặng Huân chương danh dự cao quí nhất của Quốc hội vì lòng dũng cảm của cha.

Tin tức về cái chết của cha Capodanno làm rung động toàn thể Thủy Quân Lục Chiến trên khắp miền Nam Việt Nam. Chỉ trong một thời gian ngắn mà cha đã gây nhiều âm hưởng cho cuộc sống của anh em binh lính một cách sâu xa. Một năm sau, nhiều anh em Thủy quân Lục Chiến đã thốt lên “Cha Capadanno đã dâng hiến mạng sống của cha, không ai trên trần thế này có thể làm được gì nữa ngoại trừ Đức Kitô… Nhiều anh em Thủy quân lục chiến và binh lính đã trở lại đạo Công giáo nhờ tấm gương hy sinh của cha. Họ nói “đối với tôi, cha ấy là một vị thánh.”

Cha Capodanno đã sống và chết như một vị tử đạo phục vụ cho những binh sĩ trong một cuộc chiến chính nghĩa. Qua cái chết, Cha Capodanno đã truyền cảm hứng về lòng quả cảm và hy vọng cho tha nhân. Nhiều người đã đến khấn xin ngài và đã nhận được những ơn chữa lành qua lời bầu cử của ngài. Trong số đó có một nữ tu Việt Nam được chữa lành khỏi bệnh ung thư. Một trường hợp khác là ông Ernest, một bác sĩ thú y Việt Nam đang thất vọng và muốn tự vẫn, tình cờ ông ta mở chiếc ví ra thấy một tờ giấy của mẹ ông viết lại lời cầu nguyện với cha Capadanno. Ông đã đọc những lời nguyện ấy và nhờ lời cầu nguyện của cha Capodanno, Ernest đã vượt qua được giờ phút khủng khoảng. Ông Ernest vẫn còn sống cho tới ngày nay. Một cậu bé khác bị ung thư máu đã được cha mình đưa đến mộ của cha Capodanno trên đảo State cầu nguyện xin ơn chữa lành và cậu bé đã được khỏi bệnh cách kỳ diệu đến các bác sĩ phải hết sức kinh ngạc.

Ngày 21 tháng 5 năm 2006, Đức Thánh Cha Benêdictô XVI đã tôn vinh cha Capodanno lên hàng “Tôi Tớ Chúa”. Và với ba trường hợp lành bệnh cách mầu nhiệm trên cùng những hy sinh trên chiến trường Việt Nam, cha đang được điều tra để tiến đến việc tuyên phong Hiển Thánh.

(NguồnTin Mừng cho Người Nghèo do LM Vũ Hoàng Trương biên soạn dựa trên bài viết của Thanh Quảng 2017)


 

Được xem 1 lần, bởi 1 Bạn Đọc trong ngày hôm nay