BẬC QUÂN TỬ RỜI CÕI NHÂN GIAN

Patrick Lew Hayashi – PLB–Công Giáo Rôma

Nội dung do AI tạo

BẬC QUÂN TỬ RỜI CÕI NHÂN GIAN

(Nguyễn Bình Phương)

Một số người khi rời khỏi cuộc đời không để lại phía sau chỉ một khoảng trống, mà để lại một cách sống khiến người ở lại phải suy nghĩ. Thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương, một học giả xuất thân từ truyền thống Nho học và đã gặp gỡ Đức Kitô, là một con người như thế. Có lẽ điều đẹp nhất nơi thầy không nằm ở chỗ thầy đã biết bao nhiêu, mà ở chỗ những điều đã học cuối cùng đã trở thành một phong thái sống.

Một người xuất thân từ truyền thống Nho học, khi gặp Đức Kitô, không nhất thiết phải vứt bỏ tất cả những gì mình đã nhận được từ cha ông. Trái lại, nơi một tâm hồn đã được chuẩn bị bởi Nho học, Tin Mừng có thể được đón nhận không như một thứ xa lạ, mà như một ánh sáng mới soi vào những khát vọng sâu xa vốn đã có trong lòng người.

Nho gia nói đến người quân tử biết kính Trời, tu thân, trọng nghĩa, giữ mình và sống có trách nhiệm với tha nhân. Kitô giáo nói đến con người biết phó thác nơi Thiên Chúa, sống trong sự thật và yêu thương tha nhân. Hai bên dĩ nhiên không phải là một, và không thể giản lược Công giáo vào Nho giáo. Nhưng nơi một con người cụ thể, những giá trị nhân bản có thể gặp nhau, đối thoại với nhau và cùng hướng con người về một đời sống cao hơn chính mình.

Có lẽ vì thế mà nơi thầy Nguyễn Khắc Dương, người ta dễ nhận ra dáng dấp của một bậc quân tử hiếm hoi còn sót lại trong thời đại AI, nhưng là một quân tử đã đi qua cửa ngõ của Tin Mừng.

Không phải thứ quân tử của danh vọng, mà là quân tử của sự tự chủ. Không phải cái cao ngạo của người có học, mà là sự khiêm nhường của người càng biết nhiều càng ý thức mình còn nhỏ bé trước chân lý. Không phải sự cứng cỏi của một người luôn muốn bảo vệ cái tôi, mà là sự bình thản của người đã học được cách đặt mình xuống.

Một người từng học triết ở Sorbonne có thể trở thành một học giả. Nhưng một người có thể sống giản dị, khiêm cung và gần gũi đến mức nhiều người nhớ về thầy trước hết như một người cha tinh thần, đó lại là một chuyện khác. Bởi tri thức, nếu chỉ làm con người biết nhiều hơn, vẫn chưa đủ. Tri thức chỉ thật sự trở nên cao quý khi nó làm con người biết sống tốt hơn.

Có lẽ đây mới là điểm sâu nhất nơi cuộc đời thầy: tri thức cuối cùng không làm con người trở nên lớn hơn người khác, mà làm người ta nhỏ lại trước sự thật.

Càng hiểu biết, càng biết mình không phải là trung tâm của vũ trụ. Càng học nhiều, càng phải học cách lắng nghe. Càng đi xa trên con đường tư tưởng, càng nhận ra rằng có những câu hỏi mà lý trí có thể mở ra nhưng không thể tự mình khép lại.

Và ở đó, triết học gặp đức tin.

Không phải bằng một cuộc tranh luận thắng thua, mà bằng một đời người.

Thầy Nguyễn Khắc Dương đã sống giữa nhiều thế giới: giữa Đông và Tây, giữa Nho học và Kitô giáo, giữa triết học và đời sống, giữa giảng đường và đời sống tu trì, giữa một thế kỷ đầy biến động và một tâm hồn ngày càng đi vào thinh lặng. Chính vì đã đi qua nhiều thế giới ấy mà thầy trở thành một nhịp cầu tự nhiên giữa những con người vốn dễ nghĩ rằng mình thuộc về những thế giới khác nhau.

Có một điều rất đẹp trong truyền thống Nho gia: người quân tử không chỉ lo thành đạt, mà lo thành nhân. Và có lẽ Kitô giáo cũng đặt trước con người một câu hỏi tương tự, nhưng ở một chiều kích sâu hơn: con người sẽ trở thành ai trước mặt Thiên Chúa?

Nếu vậy, cuộc đời thầy Nguyễn Khắc Dương có thể được đọc như một hành trình rất dài của một con người đi tìm chân lý, nhưng cuối cùng nhận ra rằng chân lý không chỉ là điều để hiểu, mà còn là điều để sống.

Ngày 28 tháng 9 năm 2026, sau hơn một thế kỷ hiện diện giữa cuộc đời, thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương đã trở về với Chúa. Thầy vừa bước sang tuổi 102 được mấy ngày.

Một thế kỷ đủ dài để chứng kiến biết bao đổi thay của đất nước, của Giáo hội, của học thuật và của chính những hệ tư tưởng từng tưởng như sẽ tồn tại mãi mãi. Nhưng cuối cùng, những thứ ấy rồi cũng đi qua. Chức danh rồi cũng qua, học vị rồi cũng qua, một thời đại rồi cũng qua.

Điều còn lại là một con người.

Một người đã mang trong mình hồn cốt của một gia đình Nho học, bước qua triết học Tây phương, gặp Đức Kitô và sống phần đời còn lại trong âm thầm kiếm tìm Thiên Chúa.

Bởi thế, gọi thầy là một học giả có lẽ vẫn chưa đủ. Gọi thầy là một người Công giáo cũng chưa đủ. Có lẽ phải gọi thầy bằng một chữ rất cũ mà thời nay chúng ta ít dùng: quân tử.

Không phải quân tử của bảng vàng, áo mũ hay danh phận, mà là quân tử của tu thân, trọng nghĩa, kính Trời và sống tử tế giữa cõi nhân gian.

Và khi chữ “quân tử” ấy được soi sáng bởi Tin Mừng, nó không còn chỉ là lý tưởng của một nền đạo học, mà trở thành một lời mời gọi con người sống đẹp trước mặt Thiên Chúa.

Thầy đã đi qua cõi nhân gian như thế.

Âm thầm, Thanh bạch, Khiêm nhường.

Để rồi khi thầy rời cõi nhân gian, điều khiến người ta nhớ không chỉ là một học giả uyên bác, một giáo sư của nhiều vị giám mục và của cả một thời đại, hay một con người đã sống hơn một thế kỷ. Người ta nhớ một bậc quân tử đã đi qua những biến động của thời cuộc mà vẫn giữ được cốt cách của mình.

Và có lẽ đó cũng là câu hỏi thầy để lại cho những người còn ở lại: sau cùng, một đời người được đo bằng những gì mình đã sở hữu, hay bằng con người mà mình đã trở thành?

(Facebook Nguyễn Bình Phương) 


 

Bài giảng trong thánh lễ an táng thầy Stéphanô Nguyễn Khắc Dương của Linh mục Fx. Nguyễn Tiến Dưng, AA.

Thanh Nguyen

Bài giảng trong thánh lễ an táng thầy Stéphanô Nguyễn Khắc Dương

của Linh mục Fx. Nguyễn Tiến Dưng, AA.

Trong bài thơ SỞ NGUYỆN, Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương viết:

“Hành giả dừng chân tạm vỉa hè,

Tấm thân đất chở với trời che.

Cảm người bươn chải vòng cơm áo,

Thương người bôn ba nhịp ngựa xe.

Trần sắc mười phương đau đớn thấy,

Thế âm bốn cõi xót xa nghe.

Bao giờ cát bụi hoàn nguyên thể,

Nguyện lót chân êm khách vỉa hè.”

Công tội trông nhờ cây khổ giá,

Vui buồn ký thác chuỗi Mân Côi”

Đọc những vần thơ trên, ta có cảm giác mình bước từ triết lý Trung Hoa sang triết lý nhà Phật và cuối cùng là triết lý Ki-tô giáo. Từ “tấm thân đất chở với trời che”, ta nghe vọng về triết lý vũ trụ quen thuộc “cha trời-mẹ đất”, trời cho mưa xuống và đất nảy mầm, con người như một hữu thể hình thành từ tương tác âm-dương. Qua “nhịp ngựa xe”, “trần sắc mười phương đau đớn thấy”, “thế âm bốn cõi xót xa nghe” hình như là tiếng ai oán đau lòng của nhà Phật, nơi vẫn quan niệm “đời là bể khổ”. Sang “cát bụi hoàn nguyên thể, nguyện lót chân êm khách vỉa hè”, ta nhớ về mầu nhiệm sáng tạo từ bùn đất trong sáng thế ký -hởi người hảy nhớ mình là bụi tro và mai ngày sẽ trở về tro bui” và  ý nghĩa dấn thân một cách vô vị lợi của kiếp nhân sinh nơi Ki-tô giáo “nguyện lót chân êm khách vỉa hè”, để rồi tìm được sự cứu độ nơi “cây khổ giá” , qua sự chuyển cầu của Đức Trinh nữ Maria, mà sau này thầy diễn tả một cách rõ ràng hơn trong bài thơ “Ave Maria”: “Ave Maria, Mẹ là chiếc mâm vàng đôi đũa ngọc, con là rau hèn cỏ mọn tiến dâng lên, và cỏ mọn rau hèn nên đẹp mắt, Đâ’ng muôn trùng khấn nhận đời con”.

Cộng đoàn Phụng vụ thân mến,

Người đang nằm giữa chúng ta trong những giây phút ly biệt này được nhiều người yêu mến và kính trọng từ đáy lòng. Người thì gọi thầy là nhà tư tưởng, triết gia, thậm chí là thần học gia. Người khác lại cho rằng thầy là một thầy giáo uyên thâm với những suy tư độc đáo. Những ai quan tâm đến hội nhập văn hóa thì lại nhìn nơi thầy như là sự kết tinh, hội tụ độc đáo của tư tưởng Đông-Tây, lương duyên tuyệt đẹp giữa tinh hoa của văn hóa như là hoa trái của Hạt giống Ngôi Lời và Đức tin Ki-tô giáo. Những ai quan tâm đến đời sống tu trì thì xem thầy là bậc chân tu, dù thầy không còn khác lên mình áo cà-sa hay tà áo dòng.

Nhưng đối với Thầy Stéphanô Nguyễn Khắc Dương, Thầy tự ví mình như một hành giả, một kẻ truy tìm chân lý của đời mình và cho đời mình. Và rồi, nhờ hồng ân Thiên Chúa, Thầy đã gặp được được Đấng Thầy mong đợi. Tuy nhiên, để đến với chân lý này, Thầy đã phải chấp nhận những cuộc “tử đạo” trong đời thường. Bài đọc thứ nhất trích sách Tông Đồ Công Vụ kể về cách thức Stépano, vị thánh bổn mạng của Thầy, chịu tử đạo. Người thầy yêu quý của chúng ta không bị những hòn đá vật lý ném vào thân thể vốn luôn gầy gò, phải bị điệu ra khỏi thành Giesusalem. Nhưng để chọn lựa Đức Ki-tô, trái tim của Thầy có lẽ cũng có lúc đã rướm máu. Như chúng ta đã biết, sinh ra trong một gia đình Nho Giáo nên từ nhỏ, thầy Khắc Dương không mấy thiện cảm với Kitô giáo, thậm chí là khinh thường đạo này. Tuy nhiên, vì thi trượt vào trường Quốc Học ở Huế, nên Thầy vào học trường Thiên Hữu, nơi thầy đã có cơ hội tìm hiểu về Đạo và lãnh nhận bí tích Rửa tội ngày 9 tháng giêng năm 1949, tại nhà thờ Nghĩa Yên, Giáo phận Vinh và nay là Hà Tĩnh. Việc trở thành người Kitô hữu của thầy đã gặp sự chống đối rất lớn từ gia đình và dòng họ, nhất là mẹ của thầy. Bà mẹ chất vấn thầy rằng: “Ông bà tổ tiên của mày có tội gì, mà mày phải cúi đầu cho người ta rửa tội nguyên tổ?, Tội của mày là tội bất hiếu, tội này có cạo hết tóc trên đầu cũng không sạch được, vậy chỉ một chút nước trên đầu thì sao mà rửa sạch được chứ”. Cứ đặt chúng ta vào hoàn cảnh của thầy, một người hết lòng yêu mẹ mới hiểu được nỗi đau của thầy. Chính thầy cũng biết rằng mẹ hết mực yêu mình. Tình yêu của người mẹ đã làm cho bà có lúc cũng tự vấn: “Biết đâu địa ngục, thiên đường là đâu?”. Cũng như Đức Giê-su, thầy đã chọn cách “băng qua giữa họ mà đi”. Băng qua những dị nghị, băng qua những tập tục, băng qua triết lý nhà nho mà cả gia đình đang theo đuổi để đến với Đức Ki-tô. Thầy không dừng lại ở việc vào Đạo, nhưng hành giả của chúng ta đã chọn con đường triệt để qua ba lời khấn vâng lời, khó nghèo và khiết tịnh như Đức Ki-tô đã sống qua các dòng tu như Phan-xi-cô, Biển Đức và Carmel. Ai cũng biết về “niềm vui tu trì” theo cách nói của Giáo hoàng Phan-xi-cô, nhưng ai cũng hiểu đi tu là một cuộc tử đạo thường nhật, nếu người ta sống đúng căn tính tu trì: nhân đức sạch sẽ như lưỡi gươm đâm vào con tim vì trái tim máu thịt vốn luôn muốn yêu và được yêu, nó đâm thẳng vào thịt gia khi thân xác nổi loạn với những ước muốn của xác thịt vốn được tạo thành như thế; nhân đức vâng lời như mũ gai đội lên đầu vì con người luôn muốn ngẩng cao đầu với khuynh hướng muốn tự chủ tuyệt đối; nhân đức khó nghèo như giấm chua được đưa lên thập giá vì bản chất con người muốn sở hữu những gì cần thiết cho mình. Với một con người suy nghĩ chẳng giống ai, luôn đi ra ngoài những mô phạm suy tư truyền thống, một hành giả thích lang thang trên dòng đời thì chắc chắn những kỷ luật của dòng tu là những viên đá không dễ dàng đón nhận. Và mỗi lần chọn lựa ra hay vào là một lần trái tim rướm máu. Việc theo Stéphano sống đời tử đạo lớn nhất có lẽ là sau biến cố 1975. Một giáo sư danh tiếng về triết học, văn học của Đà Lạt và Sài gòn từ nay được những người tự mệnh danh là “đỉnh cao của trí tuệ” cho đi “cải tạo”. Hơn bao giờ hết, con người này cảm thấy đói và rét. Một người theo thích ăn phô-ma với bánh mì nóng cùng chút rượu vang đỏ từ nay bị dạ dày kêu gào. Hơn bao giờ hết, chính giai đoạn này, giai đoạn cho thầy hiểu thế nào là mầu nhiệm Thập giá đã cắm vào kiếp nhân sinh. Lâu nay, thầy rao giảng về thập giá, nhưng lúc này, thầy mới thật sự sống mầu nhiệm thập giá. Đặc biệt, nơi đây thầy thật sự theo Đức Ki-tô và Stêphanô, không một chút oán thù: “Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng lầm chẳng biết”. Những ai đã gặp thầy trong giai đoạn này thực sự cảm mến cung cách của hành giả Khắc Dương, một môn đệ của Đức Ki-tô chịu đóng đinh. Hôm nay suy tư về điều này, ta mới thấy rõ Thập giá đã nở hoa. Chính nơi vùng đất Bình Thuận mà thầy bị tù đày, thì cũng chính mãnh đất này đã ôm ấp thầy những năm tháng cuối đời nhờ sự chăm sóc tận tình của anh em Tu Đoàn Bác Ái Chúa Ki-tô Tôi Tớ. Và mãnh đất cải tạo ngày xưa nay đã mở ra đón nhận thân xác của thầy. Nếu đường đi của hành giả thật lắm chông gai, thì con đường ân sủng quan phòng luôn diệu kì gấp bội.

Con đường hành giả đi không chỉ về mặt địa lý, từ miền quê Hương Sơn tới Đức Thọ rồi ra thành phố Vinh; Từ Vinh của miền Bắc vào Nha Trang của miền Nam thời đất nước còn chia cắt; từ đông rồi sang Tây, từ miền quê đến Kinh Thành Ánh Sáng, nhưng là con đường rong ruỗi chọn lựa. Chính thầy đã có lần lý giải về việc “bỏ” gia đình để theo Đạo: “Nho Giáo là một tôn giáo dành cho người tri thức, sống thanh cao và sống “trên” người khác; không dành cho người bình dân. Phật Giáo thì quan niệm rằng “đời là bể khổ, nên phải tránh đời, tự bản thân tìm sự giải thoát cho riêng mình. Còn Kitô giáo thì ngược lại, Chúa Giêsu vốn là Con Thiên Chúa nhưng đã bước vào đời, sống như một người nghèo, chia sẻ thân phận làm người của con người, vui niềm vui của con người, đau nỗi đau của phận người và yêu con người một cách say đắm đến nỗi sẵn sàng chết vì yêu con người… Đây là một tôn giáo gần với con người, gắn liền với con người, là đạo của tình yêu…”. Ki-tô giáo không phải là “thuốc phiện ru ngủ con người” như ai đó từng nói. Việc tin vào Thiên Chúa Tạo Dựng đã thúc đẩy con người tiếp tục sáng tạo để làm cho thế giới này đẹp hơn; biến cố Đức Ki-tô nhập thể trong xác phàm làm cho con người tôn trọng thân xác, sống trọn vẹn kiếp người hơn; biến cố phục sinh trong thân xác mở ra một hy vọng cho vĩnh cửu rằng sự sống chiến thắng sự chết. Khi Stêphanô nhìn lên trời cao, ngài đã nhìn thấy Đức Ki-tô đứng bên hữu Thiên Chúa. Đây là một quan niệm hoàn toàn mới mẻ của Ki-tô giáo. Thông thường, ở các triều đình, vua chúa và các quan lại thường ngồi để xét xử. Nhưng Đức Ki-tô đã đứng, đứng như người chủ sẵn sàng thắt lưng để hầu hạ. Thiên Chúa của chúng ta đứng, đứng để đón nhận, đứng để phục vụ con người và hôm nay Ngài đứng để đón Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Để đi đến cửa trời, hành giả thân yêu của chúng ta đã theo một Đức Ki-tô không có nơi gối đầu như những môn đệ đầu tiên mà bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe đã kể lại. “Chim có tổ, chồn có hang, còn Con Người không có nơi gối đầu”. Quả thực, Đấng sáng tạo muôn loài đã chấp nhận lệ thuộc. Đấng Tòan Năng đã nằm bất động cho thụ tạo đóng đinh. Trên Thập giá, Đức Giê-su đã không có nơi tựa đầu. Ngài gục đầu trao ban Thần Khí. Hay nói đúng hơn, Ngài tựa đầu vào cung lòng của Chúa Cha. “Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha”. Một nghĩa nào đó, người thầy đáng kính của chúng ta cũng không có nơi gối đầu. Thầy không có nhà cao, cửa rộng. Với bộ quần áo nâu giản dị, thầy lang thang đây đó. Hai nơi tạm trú dài nhất là Tu Hội Bác Ái Bình Triệu và Tu Đoàn Bác Ái Chúa Ki-tô tôi tớ. Nhà tạm của thầy là trái tim của những học trò, nhà vĩnh hằng của thầy là cung lòng Thiên Chúa. Khi thời cuộc không cho phép, thầy đi dạy các nhóm tu chui. Thầy đến rồi thầy lại đi. Góc xó nào thầy cũng ngủ được. Thầy như là người cha. Nhiều khi giữ luôn vai trò người mẹ. Điều xem ra nghịch lý là thầy không có nơi gối đầu, nhưng thầy lại là một nhip cầu tìm nơi gối đầu cho người khác. Ai cô đơn thầy nâng đỡ; ai thất tình thầy ủi an; ai túng thiếu thầy cho ít tiền; ai học giỏi thầy cho cuốn sách; ai thất nghiệp thầy giới thiệu việc làm, ai muốn tu trì thầy gửi gắm một nhà dòng phù hợp.

Có lẽ việc không có nơi gối đầu đã giúp thầy thanh thoát, nhẹ bước ra đi đây đó theo chân Đức Ki-tô. Con người này không còn đóng khung trong tu viện để gặp Thiên Chúa nơi mỗi người và mọi người, “giữa chợ đời trưa sớm” như cách viết của thầy. Hành giả này không còn theo chuẩn mực giờ kinh phụng vụ, để có thể gặp Chúa mọi lúc, mọi nơi, vào giờ ta không ngờ, vào nơi ta không nghĩ. Vì thế, khi ta hẹn gặp thầy ở một nhà thờ nào hay một nhà dòng nào thì ta thường thấy thầy đến trước và quỳ ở một góc nguyện đường với tràng hạt trong tay.

Dù dấn thân như Thiên Chúa đã dấn thân trong lịch sử nhân loại để làm cho thế giới này linh thiêng và nhân bản và đáng sống hơn theo kiểu “nguyện lót chân êm khách vỉa hè”, nhưng hành giả của chúng ta tin vào sức mạnh của ân sủng, của Thập giá. Với thầy, tự độ là điều bất khả thể. Khi một con bò rơi xuống giếng, cần phải có ai đó đưa nó lên. Ngay cả sự khôn Ngoan của con người, vốn là ân huệ của Thiên Chúa sáng tạo, cũng có thể lệch lạc vì nó bị chi phối bởi nguyên tội cũng như sự hữu hạn của con người. Vì thế phải cần đến mặc khải thần linh, cần đến cây Thập tự. Chỉ có máu của Con chiên vẹn sạch mới xóa tội trần gian. Chỉ có Đấng từ trời xuống mới đưa con người từ đất lên trời. Chỉ có Đấng vô hạn mới kéo con người ra khỏi hữu hạn. Chỉ có Đấng vĩnh hằng mới bảo tồn sự sống. Chỉ có Đấng hằng sống mới cho con người được mãi mãi trường tốn. Chỉ có Đấng sống lại trong bản thể người mới cho thân xác con người được phục sinh từ cõi chết. Với thầy, sự dữ đã thực sự đi vào thế gian với muôn màu sắc thái, ví như đam mê tiền bạc thì ghê gớm, nhưng tình yêu của Thiên Chúa lớn lao vô tận. Ở đây ta cũng bắt gặp nghịch lý nội tại nơi con người của thầy. Thầy từ bỏ vật chất và thầy xem “tiền bạc là thánh thể của ma quỷ”, nhưng thầy lại hôn lên tờ dollar, nếu ai đó biếu thầy đồng bạc xanh. Phải kể đến một vài yếu đuối như thế để nói rằng hành giả của chúng ta vẫn rất người. Có lẽ cũng chính điều này mà thầy rất say mê câu nói của Charles Péguy: “Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng nên con từ bùn đất, xin Ngài đừng mỉm cười khi con sa chút bụi trần”!

Hôm nay chúng ta trả “cát bụi về nguyên thể”, để “lót chân êm khách vỉa hè”, đồng thời trả hồn thiêng về với vòng tay của Đấng Từ Bi đúng vào ngày lễ thánh Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su, một vị thánh mà thầy yêu quý. Xin Chúa ẳm Thầy vào lòng. Xin Cha cho hành giả lang thang tìm Cha trên cỏi đời được gặp lại Cha. Xin cho người không có nơi gối đầu này được tựa vào lòng Cha, bây giờ và mãi mãi muôn đời, nhờ lời bầu cử của Đức Trinh Nữ Maria, như thầy đã viết:

“Ave Maria

Trái tim Mẹ là nguyện đường mầu nhiệm,

Nơi hồn con chiêm ngưỡng Chúa Tình Yêu”.


 

Bắt Cóc Xuyên Quốc Gia — Thủ Tướng Úc Đã Lên Tiếng

Chau Doan 

Bắt Cóc Xuyên Quốc Gia — Thủ Tướng Úc Đã Lên Tiếng

Ngày 18/9, hai ông Trần Hiệp và Nguyễn Đức Thuận mất liên lạc tại Campuchia — đúng đêm trước giờ họ lên máy bay. Mười ngày sau, Bộ Công an công bố: bắt quả tang nhập cảnh trái phép, khởi tố tội khủng bố.

Sáng nay, Thủ tướng Úc Anthony Albanese lên tiếng: chính phủ đang hỗ trợ lãnh sự cho công dân của mình. Không còn là chuyện riêng giữa một tổ chức lưu vong và công an nữa.

Tôi chỉ ra một lỗi trong cáo trạng: là thành viên của một tổ chức không đồng nghĩa với việc thực hiện hành vi khủng bố. Phải chứng minh mục tiêu, kế hoạch, phương tiện cụ thể. Đến nay, không có gì được công bố.

Và tôi đặt vụ này cạnh những vụ trước — có vụ đã được cả một chính phủ châu Âu xác nhận là bắt cóc.

Tôi nói đủ trong video. Link ở bình luận đầu.


 

Tiểu sử tóm lược thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương

Linh Mục Mi Trầm

Tiểu sử tóm lược thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương

Sinh: ngày 24/9/1925, tại Hương Sơn, Hà Tĩnh, trong một gia đình Nho học nổi tiếng. Thân phụ là Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm. Thầy là em của bác sĩ, nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện, và anh của GS Nguyễn Khắc Phi, nhà văn Nguyễn Khắc Phê.

Thuở nhỏ học tại Trường Thiên Hựu (Providence), Huế.

Giai đoạn 1945–1949, thầy từng tham gia một thời gian trong các hoạt động xã hội và Đội Tuyên truyền Việt Minh Trung Bộ, sau đó trở về dạy học.

Năm 1949, thầy lãnh nhận Bí tích Rửa tội, chọn thánh Stêphanô làm bổn mạng. Đây là bước ngoặt rất lớn trong cuộc đời tìm kiếm đức tin của thầy.

1950–1954: vào tu học với Dòng Phanxicô tại Vinh, sau đó tiếp tục tu học tại Nha Trang.

Sau một thời gian thi hành nghĩa vụ quân sự, thầy trở lại đời sống tu trì.

1956–1965: sang Pháp học tập, tiếp tục tu học và học Triết học tại Đại học Sorbonne. Thầy tốt nghiệp Cử nhân Triết học. Điểm này cần lưu ý: một số nơi gọi thầy là “tiến sĩ” hoặc “giáo sư”, nhưng các nguồn nghiên cứu cho biết thầy không có bằng tiến sĩ; danh xưng “giáo sư” chủ yếu xuất phát từ quá trình giảng dạy và uy tín học thuật.

Những năm giảng dạy tại Đà Lạt

Sau khi trở về Việt Nam cuối năm 1965, thầy giảng dạy tại một số cơ sở Công giáo ở Sài Gòn rồi Viện Đại học Đà Lạt.

Tại đây, thầy từng giữ vai trò Trưởng Ban Triết học và quyền Trưởng khoa Văn – Triết, đồng thời được mời giảng tại một số đại học khác. Rất nhiều thế hệ sinh viên, linh mục và tu sĩ từng là học trò của thầy.

Điều đặc biệt là học trò thường gọi ông một cách kính trọng là “Thầy Nguyễn Khắc Dương”, dù về mặt học hàm chính thức ông không phải là giáo sư do Nhà nước phong.

Một cuộc đời tìm kiếm Thiên Chúa

Điểm nổi bật nhất trong cuộc đời thầy không chỉ là chuyện học hành hay giảng dạy, mà là một hành trình dài đi tìm ý nghĩa cuộc đời và chân lý đức tin.

Một nghiên cứu về cuộc đời thầy nhận xét rằng nơi Nguyễn Khắc Dương luôn có một sự thao thức, khao khát và tìm kiếm; cuối cùng, thầy tìm thấy ý nghĩa và niềm vui của đời mình trong Đức Giêsu Kitô.

Sau năm 1975, cuộc sống của thầy trải qua nhiều giai đoạn khác nhau: có thời gian ở Đà Lạt, làm việc tại Lâm Đồng, tiếp tục giảng dạy và sau này dành nhiều thời gian cho việc viết hồi ký, nghiên cứu và hướng dẫn triết học cho các chủng sinh, tu sinh.

Những năm cuối đời, thầy sống tại Tu đoàn Anh Em Bác Ái Chúa Kitô Tôi Tớ thuộc Giáo phận Phan Thiết.

Qua đời

Ngày 24/9/2026, thầy vừa mừng sinh nhật 102 tuổi.

Đến 20g15 ngày 28/9/2026, thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương qua đời, chỉ bốn ngày sau khi bước sang tuổi 102.

Theo Internet


 

SAU TUỔI 60 CÓ MỘT KIỂU “GIÀU CÓ”  MÀ TIỀN NHIỀU CHƯA CHẮC MUA ĐƯỢC

Ds Lê Tiện

Sau tuổi 60:

Có người tài khoản rất nhiều tiền…

nhưng bước đi phải có người dìu.

Có người nhà rất rộng…

nhưng đêm nằm mãi không ngủ được.

Có người con cháu thành đạt…

nhưng trong lòng lúc nào cũng nặng trĩu.

Và cũng có những cô bác cuộc sống rất giản dị…

Nhưng sáng tự mình thức dậy.

Tự đi bộ.

Tự ăn uống.

Tự chăm sóc bản thân.

Tối ngủ một giấc tương đối yên.

Gặp con cháu còn cười vui.

Theo DS. Lê Tiện, đó mới là một kiểu “giàu có” rất đáng quý của tuổi già.

  1. GIÀU SỨC KHỎE: MUỐN ĐI ĐÂU VẪN TỰ ĐI ĐƯỢC

Sau tuổi 60, đôi chân khỏe đôi khi quý hơn một chiếc xe đẹp.

Vì xe có thể mua.

Nhưng khả năng tự đứng lên khỏi ghế, tự bước lên cầu thang, tự đi chợ, tự tắm rửa…

Nếu đã mất đi, muốn lấy lại không hề dễ.

Cô bác đừng chỉ hỏi:

“Cholesterol của tôi bao nhiêu?”

Hãy hỏi thêm:

“Cơ chân của tôi còn khỏe không?”

“Tôi có đứng lên ngồi xuống dễ dàng không?”

“Tôi có đi bộ 20–30 phút mà không quá mệt không?”

Tuổi già giữ được khả năng tự lập là một tài sản rất lớn.

  1. GIÀU MỘT GIẤC NGỦ YÊN

Có những người cả đời kiếm tiền.

Đến khi có tiền rồi lại chỉ mong một điều rất đơn giản:

Đặt lưng xuống là ngủ được.

Không trằn trọc tới nửa đêm.

Không 2–3 giờ sáng thức giấc rồi nhìn trần nhà.

Không sáng dậy với cái đầu nặng trĩu.

Một giấc ngủ ngon không chỉ giúp cô bác dễ chịu hơn.

Nó còn liên quan đến trí nhớ, tâm trạng, huyết áp, chuyển hóa và sức khỏe tim mạch.

Sau tuổi 60, ngủ được tương đối yên đã là một loại phúc.

  1. GIÀU KHẢ NĂNG TỰ CHĂM SÓC MÌNH

Có thể tự ăn.

Tự tắm.

Tự mặc quần áo.

Tự đi vệ sinh.

Tự nhớ lịch thuốc.

Tự quyết định những việc quan trọng của đời mình.

Những việc khi trẻ ta thấy quá bình thường…

Đến một ngày mới hiểu:

Đó chính là tự do.

Vì vậy, đừng đợi đến lúc yếu mới nghĩ đến chuyện giữ cơ, giữ xương, giữ thăng bằng và giữ trí nhớ.

Hãy bắt đầu khi mình vẫn còn khỏe.

  1. GIÀU NHỮNG MỐI QUAN HỆ ẤM ÁP

Sau tuổi 60, cô bác không cần quá nhiều người bên cạnh.

Chỉ cần vài người thật lòng.

Một người có thể ngồi ăn cùng mình.

Một người để gọi điện khi buồn.

Một người sẵn sàng hỏi:

“Hôm nay mình có khỏe không?”

Tiền có thể thuê người chăm sóc.

Nhưng tiền không dễ mua được sự quan tâm thật lòng.

Vì thế, khi còn có thể…

Hãy đối xử tử tế với bạn đời.

Gần gũi với con cháu.

Giữ vài người bạn cũ.

Và đừng vì một chuyện nhỏ mà đánh mất một mối quan hệ đã đi cùng mình hàng chục năm.

  1. GIÀU MỘT CÁI TÂM NHẸ

Đây có lẽ là kiểu giàu khó nhất.

Có nhà đẹp mà lòng bất an thì vẫn mệt.

Có tiền nhiều mà ngày nào cũng so đo, giận dữ, tiếc nuối thì vẫn khổ.

Càng lớn tuổi, DS. Lê Tiện càng thấy:

Có những chuyện thắng cũng chẳng để làm gì.

Một lời nói cũ.

Một người từng làm mình phật ý.

Một chuyện xảy ra từ mười năm trước.

Nếu giữ mãi trong lòng…

Người mệt nhất vẫn là mình.

Tuổi già đẹp nhất không phải là không có chuyện buồn.

Mà là mình đã học được cách:

Chuyện đáng nhớ thì giữ.

Chuyện không đáng thì buông.

SAU TUỔI 60, “GIÀU” KHÔNG CHỈ NẰM TRONG TÀI KHOẢN

Mà còn là:

Chân còn khỏe để đi.

Tay còn khỏe để làm.

Đầu óc còn minh mẫn để tự quyết.

Đêm còn ngủ được.

Nhà còn tiếng người thân.

Và lòng mình còn đủ nhẹ để mỉm cười.

Nếu cô bác đang có phần lớn những điều này…

Xin đừng coi đó là chuyện bình thường.

Đó là một gia tài.

Và quan trọng hơn:

Gia tài này phải được chăm sóc mỗi ngày.

Ăn uống điều độ một chút.

Tập cơ mỗi ngày một chút.

Đi bộ vừa sức một chút.

Ngủ sớm hơn một chút.

Bớt giận một chút.

Thương mình nhiều hơn một chút.

Có thể cô bác không trở thành người giàu nhất.

Nhưng hoàn toàn có thể trở thành một người giàu sức khỏe, giàu bình an và giàu những năm tháng đáng sống.

Nếu thấy bài viết này đáng để nhắc mình, cô bác hãy lưu lại.

Và thử tự hỏi một câu:

“Ở tuổi của mình hôm nay, tôi đang giàu nhất ở điều gì?”


 

Chuyện xưa: Hạng Vũ và Lưu Bang

 Câu hỏi:

Hạng Vũ đánh với Lưu Bang, khi chiếm được thành nào, Hạng Vũ cũng đã  giết luôn cả đàn bà và con nít (trẻ con)? Có đúng không?

Gemeni trả lời:

Thông tin này hoàn toàn chính xác. Trong lịch sử Trung Quốc (đặc biệt là cuốn Sử Ký của Tư Mã Thiên), Hạng Vũ nổi tiếng là một vị tướng cực kỳ tàn bạo với chính sách “đồ thành” (tàn sát sạch sẽ toàn bộ người trong thành khi chiếm được).

Khác với Lưu Bang dùng chính sách thu phục lòng người (hứa “ước pháp tam chương”, không quấy nhiễu dân), Hạng Vũ lại nhiều lần tàn sát cả binh lính hàng phục lẫn dân thường, phụ nữ và trẻ em mỗi khi gặp sự kháng cự.

Dưới đây là các lần “đồ thành” tàn khốc điển hình của Hạng Vũ được sử sách ghi nhận:

  1. Đồ thành Tương Thành (năm 208 TCN)

Khi Hạng Lương và Hạng Vũ đánh Tương Thành, người trong thành chống trả dữ dội. Sau khi hạ được thành, vì tức giận, Hạng Vũ đã ra lệnh chôn sống toàn bộ quân dân trong thành, không phân biệt già trẻ gái trai, không để sống sót một ai.

  1. Đồ thành Thành Dương (năm 207 TCN)

Trong cuộc tiến quân đánh Tần, Hạng Vũ đánh chiếm Thành Dương và tiếp tục ra lệnh đồ thành, tàn sát sạch sẽ dân chúng trong vùng.

  1. Đồ thành Dĩnh Dương (năm 207 TCN)

Khi tiến đánh Dĩnh Dương, quân dân ở đây không chịu hàng ngay. Sau khi công phá được thành, Hạng Vũ lại ra lệnh thảm sát toàn bộ cư dân trong thành.

  1. Chôn sống 20 vạn hàng binh Tần ở Tân An (năm 206 TCN)

Sau khi tướng Tần là Chương Hàm đầu hàng, Hạng Vũ dẫn 20 vạn hàng binh Tần tiến về Hàm Dương. Vì lo sợ tù binh nổi loạn khi vào đất Tần, Hạng Vũ đã cho quân đêm tối bao vây và chôn sống toàn bộ 20 vạn hàng binh Tần tại Tân An.  

danviet

  1. Tàn phá và tàn sát ở Hàm Dương (năm 206 TCN)

Khi tiến vào kinh đô Hàm Dương của nhà Tần:

  • Mặc dù Tử Anh (vua Tần) đã ra hàng Lưu Bang từ trước, Hạng Vũ vẫn ra lệnh giết Tử Anh và toàn bộ hoàng tộc nhà Tần.
  • Cho quân lính cướp phá, tàn sát dân chúng, đốt sạch cung điện Áp Phòng (ngọn lửa cháy suốt 3 tháng mới tắt).
  1. Thảm sát người dân nước Tề (năm 205 TCN)

Khi đánh nước Tề (Điền Vinh), sau khi giành chiến thắng, Hạng Vũ đã cho san phẳng thành quách, đốt phá nhà cửa, chôn sống tất cả binh lính Tề hàng phục, bắt làm nô tỳ và tàn sát rất nhiều phụ nữ, trẻ em, người già. Hành động này tàn bạo đến mức khiến người dân nước Tề uất hận, đồng lòng đứng lên tiếp tục chống lại Hạng Vũ.

Nguyên nhân và hậu quả

  • Tâm lý trả thù và uy hiếp: Hạng Vũ dùng sự tàn bạo như một vũ khí tâm lý để đe dọa các thành khác phải đầu hàng ngay lập tức mà không dám kháng cự.
  • Mất lòng thiên hạ: Chính sách “đồ thành” giết hại cả phụ nữ, trẻ em và hàng binh đã làm cho quân dân khắp nơi căm phẫn. Đây là nguyên nhân cốt lõi khiến Hạng Vũ dần mất đi sự ủng hộ của dân chúng và giới sĩ phu, dẫn đến thất bại cay đắng trước Lưu Bang trong cuộc tranh hùng Hán – Sở.

 Ghi chú:

Hạng Vũ (Tây Sở Bá Vương) sinh năm 232 TCN và mất năm 202 TCN. Ông hưởng thọ khoảng 30 tuổi.

Lưu Bang (Hán Cao Tổ) sinh năm 256 TCN (hoặc 247 TCN theo một số ghi chép khác) và mất năm 195 TCN, hưởng thọ khoảng 62 tuổi


 

Nghề Nail ở Mỹ, ai trong nghề mới hiểu…

Phạm Sơn liêm

Có người hỏi tôi:

– Làm nail ở Mỹ chắc giàu lắm hả? 

Tôi cười.

– Giàu… kinh nghiệm thì có.

 Muốn biết nghề nail là gì, cứ đứng trước cửa tiệm lúc 9 giờ sáng.

 Chủ tiệm cầm ly cà phê chưa kịp uống.

Điện thoại reo.

– Chị ơi…

– Gì em?

– Hôm nay em nghỉ nha.

– Sao vậy?

– Xe em… không chịu nổ.

– Xe hư hả?

– Dạ… em chưa ra xe nữa, nhưng em có linh cảm.

 Chủ tiệm tắt điện thoại.

Thở dài. Mở cửa.

 Mỉm cười đón khách như chưa có chuyện gì xảy ra.

10 giờ.

Khách bước vào.

– Tôi có hẹn.

– Dạ, mời chị.

– Tôi chỉ có ba mươi phút thôi nha.

 Trong đầu chủ tiệm nghĩ:

“Ba mươi phút mà muốn full set, ombré, vẽ hoa, đắp bột, đính đá… chắc phải có phép màu.” 

Ngoài miệng vẫn cười:

– Dạ, tụi em cố gắng.

11 giờ.

 Thợ nhìn lịch.

– Hôm nay đông quá chị.

 12 giờ.

– Chị ơi… em xin về sớm.

– Sao vậy?

– Em mệt.

– Khách còn cả chục người.

– Dạ… em mệt thiệt.

 Thế là chủ tiệm lại xắn tay áo, kéo quần ngồi làm. Có ngày làm tới tối. Đứng lên mới biết… chân mình còn! 

Khách thì đủ hạng.

Có bà dễ thương. Làm xong.

– Cảm ơn em nhiều nha.

Tip hai mươi đô. Người thợ vui cả ngày.

 Nhưng cũng có bà… Làm hai tiếng rưỡi. Đổi màu ba lần.

 Sửa từng ngón.

 Xong đứng dậy. Để lại… Một đồng.

Rồi cười:

– See you next time!

 Người thợ cũng cười. Nhưng trong lòng chỉ muốn hỏi:

“Next time… chị nhớ mang theo cái ví lớn hơn nha!”

 Có ông chồng đưa vợ đi làm nail. Ngồi ghế chờ. Mười phút hỏi:

– Xong chưa?

Ba mươi phút sau.

– Còn bao lâu?

Một tiếng sau.

– Sao lâu dữ vậy?

 Đến khi tính tiền. Ông nhìn hóa đơn. Rồi nhìn bộ móng.

Lẩm bẩm:

– Anh thấy cũng giống hồi nãy mà… Bà vợ liếc một cái.

 Ông im luôn.

 Rồi đến mùa hè. Mùa cưới.

 Mùa prom. Mùa tốt nghiệp.

 Điện thoại reo liên tục.

– Chị còn chỗ không?

– Dạ hết rồi.

– Em làm giúp chị năm người.

– Dạ… hết thật rồi.

– Thôi ráng chen đi.

 Chủ tiệm nhìn lịch kín đặc. Chỉ biết cười trừ.

 Còn chuyện mở tiệm… Đó mới là câu chuyện dài. Hôm nay thấy bạn khai trương.

Tuần sau mình cũng mở.

 Tiệm nào cũng:

“Grand Opening.”

“Tặng quà.”

“Giảm giá.”

“Free design.”

“Free paraffin.”

 Khách thì vui. Chủ tiệm thì hồi hộp.

 Sáu tháng sau…

 Có tiệm đông nghịt. Có tiệm lặng như tờ. 

Có tiệm âm thầm sang bảng hiệu.

 Người ngoài tưởng làm chủ là oai. Người trong nghề mới biết… Làm chủ nhiều khi là người về sau cùng. Tắt đèn cuối cùng. Khóa cửa cuối cùng. Và là người thức khuya nhất để tính xem… Tháng này đủ tiền trả tiền thuê chưa?

 Hai mươi, ba mươi năm trôi qua. Biết bao gia đình người Việt lớn lên từ nghề nail.

 Có người từ đôi bàn tay cầm cây dũa mà nuôi con thành bác sĩ.

Có người nuôi con thành kỹ sư.

Có người trả xong căn nhà đầu tiên.

Có người đón được cha mẹ sang Mỹ đoàn tụ.

 Nghề nail không phải nghề sang.

Nhưng là nghề lương thiện.

Không phải nghề dễ.

 Nhưng là nghề đã cưu mang hàng trăm ngàn người Việt trên đất Mỹ.

Vì vậy, nếu một ngày bạn bước vào tiệm nail, hãy mỉm cười với người thợ.

Có thể họ đã ngồi tám tiếng liên tục.

Có thể lưng họ đang đau.

Có thể tối nay họ còn phải về đón con, nấu cơm, trả hóa đơn.

 Nhưng họ vẫn sẽ hỏi bạn bằng nụ cười quen thuộc:

“Hôm nay mình làm màu gì, chị?”

 Đó không chỉ là một câu hỏi.

 Đó là cách họ tiếp tục mưu sinh, nuôi gia đình và giữ lấy giấc mơ Mỹ bằng chính đôi bàn tay của mình.

 Phạm Sơn liêm


“Làm điều đúng đắn thật sự rất khó.” 

Những câu chuyện Nhân Văn –  Duc Minh Danh

John McCain đã dùng hành động quyền lực chính trị cuối cùng của mình để phá vỡ chiến dịch kéo dài suốt bảy năm của chính đảng ông về việc bãi bỏ luật chăm sóc sức khỏe, khi ông bỏ lá phiếu phản đối bằng một cái lắc ngón tay cái xuống lúc 1 giờ 30 sáng chỉ hai tuần sau khi được chẩn đoán mắc ung thư não giai đoạn cuối, thời điểm mà gần như không ai còn có thể gây áp lực hay trừng phạt ông nữa.

Phòng họp chật kín người. Đó là một cuộc điểm danh bỏ phiếu hiếm hoi diễn ra lúc 1 giờ sáng. Lãnh đạo phe đa số Thượng viện Mitch McConnell đã sắp xếp cuộc bỏ phiếu vào giữa đêm vì ông tin mình đã có đủ số phiếu cần thiết. Bốn mươi chín nghị sĩ Cộng hòa sẽ bỏ phiếu thuận. Hai người, Lisa Murkowski và Susan Collins, đã công khai tuyên bố bỏ phiếu chống. Điều đó đồng nghĩa tất cả những nghị sĩ Cộng hòa còn lại đều phải đồng ý. McConnell tin rằng McCain cũng sẽ như vậy.

McCain đã bay từ Arizona trở lại Washington chỉ để tham gia cuộc bỏ phiếu này. Trên mắt trái của ông vẫn còn vết sẹo phẫu thuật mới sau khi các bác sĩ cắt bỏ khối u. Hai ngày trước đó, ông đã có bài phát biểu tại Thượng viện, kêu gọi quay trở lại tiến trình hợp tác lưỡng đảng. Nhưng không ai thực sự hiểu ông muốn ám chỉ điều gì.

Phó Tổng thống Mike Pence cũng có mặt trong phòng họp. Ông ở đó để phá vỡ thế hòa nếu kết quả là 50–50. Sự hiện diện của Pence cho thấy Nhà Trắng biết cuộc bỏ phiếu sẽ vô cùng sít sao. Pence đã tiến đến chỗ McCain tại sàn Thượng viện và nói chuyện với ông suốt hai mươi phút. Nội dung cuộc trò chuyện không được ghi lại. Sau này, nhiều thượng nghị sĩ cho biết Pence đang cố thuyết phục McCain bỏ phiếu thuận vào phút cuối.

McCain lắng nghe. Ông gật đầu. Nhưng không nói gì.

Người thư ký bắt đầu gọi tên bỏ phiếu. Khi đến tên McCain, ông bước lên phía trước phòng họp. Ông đứng trước bàn của thư ký. Cả khán phòng lặng đi. Máy quay truyền hình đang phát trực tiếp. McConnell dõi theo từ bàn làm việc của mình. Pence đứng cách đó chỉ vài mét.

McCain giơ tay phải lên. Ông giữ nguyên trong giây lát. Rồi từ từ hạ ngón tay cái xuống.

Cả phòng họp bùng nổ. Các nghị sĩ Dân chủ sửng sốt. Một số thượng nghị sĩ Cộng hòa cúi gằm mặt. McConnell đứng chết lặng tại bàn làm việc. Pence rời khỏi sàn họp mà không nói một lời.

Kết quả cuối cùng là 49–51. Dự luật bãi bỏ Obamacare thất bại. Bảy năm chiến lược lập pháp của Đảng Cộng hòa sụp đổ chỉ vì một cử chỉ của một người đàn ông đang hấp hối vào lúc một giờ ba mươi sáng.

Đêm đó, McCain không giải thích lá phiếu của mình với báo chí. Ông rời Thượng viện, bay trở về Arizona và tiếp tục điều trị ung thư. Mười ba tháng sau, ông qua đời.

Nhà Trắng không bao giờ nói chuyện với ông thêm lần nào nữa. Những người ủng hộ đảng của chính ông gọi ông là kẻ phản bội. Các bình luận viên bảo thủ, những người từng ca ngợi sự phục vụ quân đội của ông suốt hàng chục năm, quay lưng với ông chỉ sau một đêm. Ông không đáp trả bất kỳ điều gì.

Một phóng viên CNN đã chờ sẵn tại tòa nhà Russell khi McCain bước ra khỏi văn phòng của mình ngay trước nửa đêm để đi bộ sang Điện Capitol. Ông đang nói chuyện điện thoại. Phóng viên chỉ kịp nghe được một câu trước khi cửa thang máy đóng lại:

“Làm điều đúng đắn thật sự rất khó.” 


 

GIÁO HOÀNG LEO LO SỢ AI ĐẨY NHÂN LOẠI VÀO TẬN THẾ

 

Giáo hoàng Leo đang xem trí tuệ nhân tạo là một trong những thách thức lớn nhất mà nhân loại phải đối mặt. Vatican nói họ đã cảnh báo về những nguy cơ tiềm ẩn của AI từ lâu, trước cả khi các tập đoàn công nghệ lớn đồng loạt lên tiếng về khả năng công nghệ này vượt khỏi tầm kiểm soát của con người.

Trong chuyến thăm Pháp bắt đầu từ ngày 25/9, Giáo hoàng Leo dự kiến tiếp tục nhấn mạnh sự cần thiết phải xây dựng các quy định toàn cầu cho AI. Trước đó, trong thông điệp hồi tháng 5, ông đã kêu gọi các nhà lãnh đạo thế giới phối hợp giám sát sự phát triển của công nghệ này thay vì để từng quốc gia hoặc doanh nghiệp tự quyết định.

Giáo hoàng Leo nhiều lần cảnh báo rằng AI có thể làm gia tăng tình trạng thông tin sai lệch, khoét sâu chia rẽ trong xã hội và thúc đẩy xung đột. Ông lo ngại việc các hệ thống AI ngày càng mạnh mẽ có thể khiến thế giới rơi vào những cuộc khủng hoảng kéo dài hoặc thậm chí các cuộc chiến không có điểm kết thúc rõ ràng.

Bên cạnh tác động xã hội, Vatican đặc biệt quan tâm đến việc AI được ứng dụng trong lĩnh vực quân sự. Giáo hoàng Leo cảnh báo các hệ thống vũ khí tự động, bao gồm drone và các loại vũ khí sử dụng AI trong chiến tranh, đang phát triển đến mức ngày càng vượt xa khả năng kiểm soát trực tiếp của con người.

Vatican ví mối đe dọa từ AI ngày nay với nỗi lo về vũ khí hạt nhân trong thế kỷ trước.

Nếu vũ khí hạt nhân có thể hủy diệt con người bằng sức mạnh vật lý, thì AI bị cho là có thể gây tổn hại đến nền tảng của xã hội thông qua việc thao túng thông tin, nhận thức và các mối quan hệ giữa con người với nhau.

#BBCNewsTiengViet – #Vatican – #GiaohoangLeo


 

Một người Việt ở Missouri bị cáo buộc lừa tiền điện tử hơn $50 triệu

Một người Việt ở Missouri bị cáo buộc lừa tiền điện tử hơn $50 triệu

Ba’o Nguoi-Viet

September 29, 2026

KANSAS CITY, Missouri (NV) – Ông Nguyễn Văn Trung, 37 tuổi, quốc tịch Việt Nam, bị buộc tội liên quan đến vụ lừa đảo tình cảm kết hợp đầu tư tiền điện tử (cryptocurrency) lên tới hơn $50 triệu đô la.

Văn phòng công tố Western District của Missouri thông báo trên trang web chính phủ vào Thứ Sáu, ngày 25 Tháng Chín, cho biết ông Trung phải đối mặt với hai tội danh rửa tiền sau khi ra hầu tòa lần đầu tại Los Angeles.

Trang web tiền điện tử Coinbase hiển thị trên màn hình máy tính vào ngày 12 Tháng Hai, năm 2026 tại Miami, Florida. (Minh họa: Joe Raedle/Getty Images)

Theo thông báo trên trang web, “Pig butchering” (tạm dịch: chiêu trò “mồi nhử tình cảm”) là một ngành công nghiệp lừa đảo trị giá hàng tỷ đô la, mang lại lợi nhuận khổng lồ và đã khiến hàng triệu người Mỹ trở thành nạn nhân. Thủ đoạn này bắt đầu khi kẻ lừa đảo tạo dựng lòng tin với nạn nhân, thường là thông qua các mối quan hệ tình cảm ảo, rồi dụ dỗ họ đầu tư vào những dự án tiền mã hóa giả mạo.

Cũng theo thông báo này, trong khoảng thời gian từ Tháng Sáu đến Tháng Tám, năm 2024, nạn nhân thứ nhất đã chuyển số tiền điện tử trị giá khoảng $16 triệu vì tin rằng mình đang đầu tư vào một nền tảng đầu tư tiền mã hóa có tên là “Triangle.” Một trong số các giao dịch chuyển tiền này diễn ra vào ngày 7 Tháng Tám, năm 2024, với giá trị hơn $569,000 tiền điện tử, được xác định có nguồn gốc trực tiếp từ ví tiền mã hóa của ông Trung.

Vào ngày 9 Tháng Tám, năm 2024, ví tiền mã hóa của ông Trung đã nhận sáu khoản chuyển tiền với tổng trị giá khoảng $569,569 tiền mã hóa từ nạn nhân thứ nhất.

Ngay sau khi nhận được số tiền này, ông Trung đã thực hiện chuyển số tiền mã hóa trị giá khoảng $567,999 qua bốn giao dịch đến một ví tiền mã hóa cá nhân không do tổ chức trung gian quản lý (un-hosted wallet) nằm ngoài mạng lưới blockchain tập trung.

Từ ngày 9 Tháng Hai năm 2018 đến ngày 17 Tháng Mười Hai, năm 2024, các ví tiền mã hóa của ông Trung đã nhận được lượng tài sản tiền mã hóa trị giá khoảng $53,275,939 từ các âm mưu lừa đảo qua chuyển khoản nhắm vào công dân Hoa Kỳ. Ví tiền này đã chuyển số tài sản tiền mã hóa tương đương khoảng $53,188,466 sang các tài khoản khác nằm ngoài mạng lưới blockchain tập trung.

Văn phòng công tố Western District của Missouri cho biết trong thông cáo báo chí, còn có nhiều nạn nhân khác tại Hoa Kỳ cũng báo cáo tổng thiệt hại lên tới hàng triệu đô la do các chiêu trò lừa đảo kiểu “mồi nhử tình cảm” khác nhau. Các vụ việc này đều liên quan đến một số ví tiền mã hóa nghi ngờ có luồng chuyển tiền về ví của ông Trung.

Dù được hướng dẫn chuyển tiền mã hóa đến các trang web khác nhau, các nạn nhân đều có chung một kịch bản bị lừa: Một người quen của họ giới thiệu họ đầu tư tiền mã hóa vào một “trang web” cụ thể với lời hứa hẹn về lợi nhuận tài chính cao. Nhưng không ai trong số họ rút được khoản tiền đã đầu tư và cuối cùng đều nhận ra mình đã bị lừa đảo.

“FBI, thông qua sự phối hợp chặt chẽ với các đối tác thực thi pháp luật và khu vực tư nhân, đã phát hiện và ngăn chặn âm mưu lừa đảo này, qua đó bảo vệ người dân khỏi việc bị chiếm đoạt số tiền mồ hôi nước mắt,” ông Chris Ormerod, đặc vụ phụ trách Văn Phòng FBI tại Kansas City, cho biết, theo thông báo từ văn phòng công tố Western District. “Vụ việc này khẳng định cam kết kiên định của FBI trong việc bảo vệ công chúng Mỹ và buộc những kẻ lừa đảo phải chịu trách nhiệm, bất kể chúng hoạt động hay thực hiện hành vi phạm tội ở đâu.”

Các vụ lừa đảo kiểu này thường khởi đầu bằng việc nạn nhân gặp gỡ ai đó trên trang web hẹn hò trực tuyến, hoặc nhận được tin nhắn ngẫu nhiên từ người lạ qua mạng xã hội, tin nhắn SMS hay ứng dụng nhắn tin, để rồi dần dần phát triển thành mối quan hệ đậm màu sắc tình cảm.

Sau đó, kẻ lừa đảo thuyết phục nạn nhân chuyển tiền vào một cơ hội đầu tư tiền mã hóa do chính chúng giới thiệu. Những tội phạm thường khoe khoang về những khoản lợi nhuận đầy hấp dẫn từ các khoản đầu tư ban đầu nhằm khuyến khích nạn nhân rót thêm những khoản tiền lớn hơn, cuối cùng đẩy nạn nhân vào cảnh khánh kiệt về tài chính. (KL)


 

XIN HIỆP Ý CẦU NGUYỆN CHO THẦY STÊPHANÔ NGUYỄN KHẮC DƯƠNG

Thanh Nguyen

 XIN HIỆP Ý CẦU NGUYỆN CHO THẦY STÊPHANÔ NGUYỄN KHẮC DƯƠNG

Một cuộc đời dài đã khép lại…

Vào lúc 20g15, thứ Hai, ngày 28/09/2026,

Thầy Stephanô Nguyễn Khắc Dương đã nhẹ nhàng được Chúa gọi về.

Trong giây phút lắng đọng và thương nhớ này, Tu Đoàn chúng con kính xin quý Đức cha, quý Cha, quý Tu sĩ, quý thân nhân, ân nhân và mọi người cùng hiệp ý cầu nguyện cho Thầy.

Hơn một thế kỷ của một kiếp người, với biết bao năm tháng, vui buồn, hy sinh và phó thác… giờ đây xin được trao lại tất cả trong vòng tay nhân từ của Thiên Chúa.

Thầy đã đi hết một hành trình thật dài.

Xin Thầy bình an trở về Nhà Cha.

Lạy Chúa, xin cho linh hồn Thầy Stephanô được nghỉ yên muôn đời,

và cho ánh sáng ngàn thu chiếu soi trên linh hồn Thầy.

Xin mọi người hiệp ý cầu nguyện


 

BAO GIỜ DÂN VIỆT MỚI BIẾT CHỮ “NHỤC “

Xuyên Sơn

Nước Nhật sau thế chiến 2 bị hủy diệt, đổ nát, hoang tàn và nghèo đói.

Người dân phải ăn cả cỏ để sống.

Thế nhưng, chỉ chưa đến 20 năm sau chiến tranh họ đã xuất hiện trở lại trước thế giới với Olympic Tokyo 1964.

Tới năm 1968 họ đã vượt lên tất cả các nước châu Âu trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới sau Mỹ.

Trong 30 năm từ 1951 đến 1980 kinh tế của họ tăng trưởng 73 lần,

vượt xa các nước Âu Mỹ.

Chiếc xe Honda 1967 của họ xuất hiện ở Saigon và vẫn tiếp tục chạy cho đến tận bây giờ, chạy bền bỉ ròng rã hơn nửa thế kỷ.

__________

Sau chiến tranh, người ta quay được những thước phim trẻ em và người già Nhật đứng xếp hàng đợi phát suất ăn từ thiện.

Nhưng rất ngắn ngủi và rất nhanh, cảnh đó đã sớm biến mất.

Trong khi đó, xứ Vịt đi đâu cũng thấy tự hào, từ hang cùng ngõ hẻm ra tận thế giới bên kia đại dương, nhục nhã thay lại coi việc đến mùa lũ lụt là “mùa thiện nguyện”,

năm này qua năm khác mà không hề mảy may thấy đó là một sự kỳ quái,

sự xấu hổ đáng phẫn nộ.

Người làm từ thiện đương nhiên là đáng trân quý rồi, nhưng nếu cứ thiện nguyện miết mà không đặt câu hỏi “tại sao lại thế?”;“bao giờ thì  chấm dứt cảnh này?”; “phải chăng đó là do thiên tai thật?

Hay là nhân tai?”…,

Thì bỗng dưng, việc thiện nguyện thành nghề thiện nguyện, bỗng dưng từ cứu người, một lúc nào đó lại thành việc dằn ấn người ta xuống thế phải cúi đầu chìa tay.

Dần dà cả tộc quen với hình ảnh đó, coi một phần của tộc là phải suốt đời sống với sự thương cảm/thương hại không ngẩng đầu lên nổi.

Không biết mọi người thế nào, chớ mình đến “mùa lũ lụt/mùa thiện nguyện” là lại muốn nhắm mắt quay đi trước cảnh “nô nức” làm thiện nguyện, hàng đoàn xe lớn bé đeo băng đỏ “ủng hộ đồng bào lũ lụt” chạy trên mọi nẻo đường quốc lộ, như một lễ hội carnaval kỳ quái.

Chớ đừng nói đến những đoạn clip lanh lảnh tiếng cô Tiên “chài ai lũ trôi mất dép đó hả”; “nè lại trôi mất dép nữa rồi nè”…,

Nửa suồng sã thân ái, nhưng lại phần nhiều như một trò đùa, sỉ nhục người phải đi xin.

Không chấp nhận việc phải xếp hàng đợi phát suất ăn từ thiện, người Nhật đã thoát khỏi cảnh xếp hàng đó.

Còn dân Vịt thì thương xót kiểu rủa nhau độc địa “đánh các nghệ sĩ rồi thì để mùa lũ này coi ai thiện nguyện cho dân miền Trung nữa nha”.

Thế nên cả tộc thành ăn mày, từ nguyên thủ cuốc gia túa nhau đi xin, đến nhân dân đồng bào, một năm dành không biết bao nhiêu thời gian là đi đưa cơm từ thiện, cả đời như thế.

__________

Bao giờ người đi cho cũng thấy mình nhục như đồng bào trước mặt đang chìa tay xin, để cùng nâng tay nhau đứng dậy ngẩng đầu, may ra…

Một quốc gia mà cứ “ thiện nguyện “ đi xin như vậy năm này sang năm khác thì như cái chữ “nhục” với lòng tự trọng con người nó đã mất đi từ khi có VỊT  ta lãnh đạo sáng suốt!

Nên dân toàn lãnh đạn !

Với lãnh bị đi xin !

Nỗi “ nhục “ như vậy kéo dài hàng năm mà dân việt họ quen dần cái nếp sống ấy !

Nên bao giờ nhận thức được chữ “ Nhục “ lòng tự ái, tự trọng ở con người thay đổi được thì may ra còn có thể phát triển được!

Còn như vậy hoài thì cả đời này, đời con rồi cháu vẫn nhơ nhơ mà chẳng nhận ra được lòng tự tôn dân tộc !

Nguồn fb Yến Huyền Hải Âu