Bắn chết người gần Little Saigon, trốn về Việt Nam, nghi can gốc Việt bị giải về Mỹ

Ba’o Nguoi-Viet

January 26, 2026

ORANGE COUNTY, California (NV) – Lê Việt Quốc Bảo, 21 tuổi, bị tình nghi bắn hai thiếu niên ở Stanton, California, làm một người chết và một bị thương nặng, sau đó trốn về Việt Nam, rồi bị bắt và bị giải giao về Mỹ hôm 21 Tháng Giêng, theo Văn Phòng Biện Lý Orange County (OCDA) cho biết hôm Thứ Hai, 26 Tháng Giêng.

Nghi can đang bị giam tại nhà tù Orange County và sẽ bị truy tố tội giết người và âm mưu giết người.

Nghi can Lê Việt Quốc Bảo. (Hình: OCDA)

Ngoài ra, còn có hai nghi can gốc Việt khác trong án mạng này là Danny Huỳnh và Troy Quang Lư cũng bị giam ở nhà tù quận hạt.

Theo OCDA, nghi can Lê Việt Quốc Bảo bị tố cáo là một trong năm đồng phạm và là một trong hai người nổ súng bắn chết em Samuel Vidal, 15 tuổi, cư dân San Bernardino, vào ngày 5 Tháng Bảy, 2025.

Sự việc xảy ra vào khoảng 2 giờ trưa ở khu nhà có dãy số 11000 đường Court, giữa đường Beach với trường trung học Rancho Alamitos High School.

Bốn ngày sau, nghi can gốc Việt trốn về Việt Nam, FBI được xác nhận với sự trợ giúp của cơ quan điều tra phía Việt Nam.

Bắt đầu từ Tháng Mười, 2025, FBI, cùng với sự trợ giúp của Sở Cảnh Sát Orange County và đơn vị điều tra tội phạm của Biện Lý Cuộc Orange County, bắt đầu cuộc truy lùng quốc tế đối với nghi can Lê Việt Quốc Bảo.

Theo yêu cầu của FBI, an ninh Việt Nam bắt Lê Việt Quốc Bảo, rồi Bộ Công An phối hợp với Bộ Ngoại Giao Việt Nam tiến hành giải giao nghi can về Mỹ.

Ngày 21 Tháng Giêng, nghi can Lê Việt Quốc Bảo được đưa lên máy bay về Mỹ và đưa vào nhà tù Orange County qua sự phối hợp của nhiều cơ quan liên bang và địa phương.

Nghi can Ali Ibrahim Alsouqi. (Hình: OCDA)

Hai nghi can gốc Việt khác – Danny Huỳnh, 24 tuổi, bị tố cáo là người nổ súng, và Troy Quang Lư, 21 tuổi, bị tố cáo là người lái xe cùng đồng bạn bỏ trốn lúc xảy ra sự việc – cũng bị truy tố nhiều tội hình, bao gồm giết người và có ý định giết người, và đang bị giam tại nhà tù Orange County.

Còn nghi can thứ tư, Ali Ibrahim Alsouqi, đang trốn ở Jordan, OCDA tin là như vậy. 

Nghi can thứ năm chưa được xác định, vẫn theo OCDA. 

Theo thông cáo, vào ngày 5 Tháng Bảy, 2025, Ali Ibrahim Alsouqi dàn xếp cho bốn người khác đến nhà anh ở Garden Grove, nơi họ lên kế hoạch bắn các thành viên băng đảng đối thủ.

Hôm đó, nghi can Lê Việt Quốc Bảo gặp Danny Huỳnh, Troy Quang Lư, và một người chưa được xác định tại nhà nghi can Alsouqi.

Tất cả năm người sau đó lên chiếc Mercedes Benz màu đen của Troy Quang Lư. Chủ xe sau đó che bảng số xe trước khi lái đến Stanton để thực hiện kế hoạch.

Khoảng 2 giờ chiều, Vidal và người bạn 13 tuổi đụng độ những thanh niên che mặt trên chiếc Mercedez ở đường Court. Danny Huỳnh bước ra khỏi xe, bắt đầu nổ súng vào hai thiếu niên.

Lê Việt Quốc Bảo, lúc đó ngồi phía trước, bên cạnh người lái xe Troy Quang Lư, nổ súng ra.

Nạn nhân Vidal bị bắn năm phát, thủng tim, phổi, gan, và tụy, chết tại chỗ.

Thiếu niên 13 tuổi bị bắn vào ngực, nhưng sống sót.

Vài giờ sau, Troy Quang Lư bị bắt.

Đoạn đường ở Stanton, nơi xảy ra án mạng. (Hình: Google Maps)

Các nhà điều tra xác nhận Danny Huỳnh, Lê Việt Quốc Bảo, Ali Ibrahim Alsouqi, và một người chưa xác định là những người ngồi trong xe cùng với Troy Quang Lư.

Nếu bị kết tội, nghi can Lê Việt Quốc Bảo có thể bị tối đa từ 50 năm tù tới chung thân vì đồng lõa với bốn người khác trong án mạng ngày 5 Tháng Bảy, 2025, giết chết Samuel Vidal, và làm bị thương nặng thiếu niên 13 tuổi, bạn của nạn nhân.

Troy Quang Lư có thể bị tối đa từ 25 năm tù tới chung thân và Danny Huỳnh có thể bị tối đa từ 50 năm tù tới chung thân.

Nghi can Alsouqi bị truy tố một tội âm mưu giết người và có thể bị tối đa từ 25 năm tù tới chung thân, nếu bị kết tội.

Stanton có khoảng 40,000 cư dân, tọa lạc sát phía Bắc Little Saigon, nơi có cộng đồng người Việt lớn nhất hải ngoại.

Thành phố từng có một nghị viên gốc Việt đầu tiên và duy nhất vào năm 2019. (Đ.D.)


 

Linh Mục Pietro Palazzini đang rửa bát trong nhà bếp Vatican thì nghe thấy những tiếng la hét.

Gieo Mầm Ơn Gọi

Linh Mục Pietro Palazzini đang rửa bát trong nhà bếp Vatican thì nghe thấy những tiếng la hét.

Ngày 16/10/1943. Rome vừa rơi vào tay phát xít Đức được năm tuần. Pietro chạy đến cửa sổ.

Những gì ông nhìn thấy đã thay đổi cuộc đời mình mãi mãi.

Xe tải quân sự lấp đầy những con phố hẹp của khu Do Thái. Lính SS lôi các gia đình ra khỏi nhà. Trẻ em gào khóc gọi cha mẹ khi bị đẩy lên xe. Người già loạng choạng, hai tay bị trói quặt ra sau lưng.

Pietro chứng kiến hơn 1.200 người bị bắt đi. Ông hiểu rất rõ điều đó có nghĩa là gì.

Hai ngày sau, những chuyến tàu rời Rome hướng về Auschwitz. Chỉ có 16 người sống sót trở về.

Nhưng điều ám ảnh Pietro nhất là những người đã thoát được trong hỗn loạn ,các gia đình tản mác trốn chạy. Họ đang ở đâu? Họ có thể sống sót được bao lâu trong một thành phố đầy rẫy lính Đức Quốc xã?

Đêm đó, Pietro đưa ra một quyết định.

Chủng viện chỉ cách nơi lùng bắt vài dãy nhà. Những bức tường đá dày, các phòng ngủ bỏ trống ,và một thứ mà Đức Quốc xã không dễ chạm tới: sự bảo hộ của Vatican.

Pietro bắt đầu âm thầm, trò chuyện với các linh mục khác. Không lâu sau, gia đình đầu tiên xuất hiện ,một gia đình Do Thái tuyệt vọng tìm nơi trú ẩn.

Ông dẫn họ lên căn phòng tầng ba. “Ở đây các bạn sẽ an toàn,” ông nói. Nhưng chính ông cũng hiểu: sự bảo vệ của Vatican không phải là tuyệt đối.

Rồi nhiều gia đình nữa đến. Nhà Rosenberg. Nhà Cohen. Nhà Segre. Mỗi người chạy trốn, chỉ mang theo những gì kịp vơ lấy. Pietro biến chủng viện thành nơi trú ẩn bí mật. Phòng ngủ thành nơi ở. Kho chứa thành bếp. Trẻ con được dạy phải nói thì thầm ,ngay cả khi chơi đùa.

Nhưng ẩn náu thôi chưa đủ. Họ cần giấy tờ.

Pietro chưa từng làm giả giấy tờ bao giờ. Nhưng nỗi sợ là một người thầy rất nhanh. Ông nghiên cứu giấy chứng nhận rửa tội cho đến khi có thể sao chép hoàn hảo. Ông làm việc dưới ánh nến, xóa đi những danh tính cũ và tạo ra những cuộc đời mới.

Gia đình Rosenberg trở thành Romano.

Sarah Cohen trở thành Maria Colombo.

Mỗi tờ giấy là một canh bạc. Nếu bị phát hiện, cái chết là điều chắc chắn.

Mỗi ngày trôi qua là một cuộc đếm ngược. Tuần tra. Lục soát. Tin đồn. Mỗi đêm, Pietro lắng nghe, sợ hãi tiếng giày đinh vang lên trên nền đá.

Ba mươi bảy người. Mười hai đứa trẻ.

Mùa đông đến sớm. Thức ăn cạn dần. Hệ thống sưởi gần như không hoạt động. Sốt lan rộng. Cha mẹ ôm con khóc trong im lặng, hiểu rằng cuộc sống cũ đã không còn.

Nhưng họ vẫn còn sống.

Tháng Hai, Pietro nghe tin về một cuộc đột kích tại San Lorenzo ,mười hai gia đình bị phát hiện và trục xuất. Ông quen các linh mục ở đó. Những người đã đưa ra lựa chọn giống mình.

Đêm đó, nỗi sợ suýt đánh gục ông. Ông đã nghĩ đến việc yêu cầu các gia đình rời đi. Rủi ro quá lớn.

Nhưng rồi bé Sarah ,giờ là Maria ,đưa cho ông một bức vẽ: hình ảnh chủng viện, phía dưới là hai từ viết nguệch ngoạc:

“Ngôi nhà an toàn.”

Pietro giữ bức vẽ ấy suốt phần đời còn lại.

Đến mùa xuân, hy vọng xuất hiện. Quân Đồng minh đang tiến gần. Các gia đình bắt đầu dám nói về “sau này”.

Ngày 4/6/1944, xe tăng Mỹ tiến vào Rome.

Pietro đứng trước cổng chủng viện khi các gia đình bước ra ánh sáng lần đầu tiên sau tám tháng. Họ khóc. Họ ôm chầm lấy ông, hứa sẽ không bao giờ quên.

Ba mươi bảy người bước vào với thân phận kẻ chạy trốn.

Họ rời đi với tư cách những người sống sót.

Sau chiến tranh, Pietro trở lại cuộc sống bình thường: giảng dạy chủng sinh, lo những công việc thường nhật. Năm 1973, Giáo Hoàng Paul VI phong ông làm Hồng y.

Pietro hiếm khi nhắc đến chiến tranh. Ngay cả khi các nhà báo tìm đến “vị linh mục anh hùng”, ông vẫn kín tiếng.

Ông mang ký ức ấy một mình ,tiếng trẻ con khóc, những giấy tờ giả trong túi áo, và gương mặt của những người không kịp đến cửa ông đúng lúc.

Năm 1985, khi 73 tuổi, Israel vinh danh ông là Người Công Chính giữa các Dân Tộc. Ông gặp lại những người mình từng che chở và bế trên tay những đứa cháu ,tương lai được tạo nên từ những lựa chọn của ông.

“Tôi chỉ làm điều mà bất kỳ ai cũng nên làm,” ông nói.

Nhưng ai cũng biết đó không phải là sự thật giản đơn.

Không phải ai cũng dám liều mạng vì người xa lạ.

Không phải ai cũng biến nơi làm việc thành nơi trú ẩn.

Không phải ai cũng tạo dựng lại những cuộc đời khi Đức Quốc xã đang tuần tra ngoài kia.

Pietro Palazzini qua đời năm 2000, hưởng thọ 88 tuổi ,56 năm sau ngày những chuyến xe lăn bánh về Auschwitz.

Tại lễ tang của ông, người đứng lên phát biểu không phải là các Hồng y hay chức sắc cao cấp.

Mà là những gia đình.

Những đứa trẻ năm xưa giờ đã là người lớn. Những người từng thì thầm tên thật của mình sau cánh cửa chủng viện, nay bế trên tay chính các cháu của họ.

Họ nói về một linh mục trẻ đã chọn mở cửa giúp người khác, vào thời điểm mà quay lưng làm ngơ mới là lựa chọn an toàn và dễ dàng nhất.

Pietro Palazzini chưa bao giờ chắc chắn rằng mình đã cứu được đủ người. Ông mang theo suốt đời nỗi day dứt về những người không kịp gõ cửa. Nhưng có một điều không thể phủ nhận:

Ba mươi bảy con người đã sống sót vì ông đã hành động.

Và từ ba mươi bảy sinh mạng ấy, hàng chục, rồi hàng trăm cuộc đời khác đã được sinh ra.

Họ mang theo ký ức, sự sống và lòng can đảm ấy đi tiếp.

Điều đó quan trọng hơn mọi danh hiệu.

Quan trọng hơn mọi lời ca ngợi.

Vì trong một thời đại mà im lặng đồng nghĩa với an toàn,

Pietro Palazzini đã chọn can đảm.

Và nhờ vậy, lịch sử có thêm những người được sống.

(Theo Inspire Daily )


 

Ít nhất 34 người chết vì bão tuyết, hơn 11,000 chuyến bay bị hủy hoặc trễ

Ba’o Nguoi-Viet

January 26, 2026

NEW YORK, New York (NV) Hàng ngàn người ở Mỹ sẽ trải qua một đêm lạnh cóng nữa mà không có điện sau khi bão mùa Đông lớn trút thêm tuyết xuống vùng Đông Bắc và phủ băng giá tại nơi ở miền Nam hôm Thứ Hai, 26 Tháng Giêng, theo AP.

Tính tới 7 giờ tối Thứ Hai (giờ miền Tây Hoa Kỳ), ít nhất 34 người thiệt mạng ở những tiểu bang bị ảnh hưởng, theo USA TODAY.

Công nhân dọn dẹp tuyết trên vỉa hè sau trận bão tuyết ở Silver Spring, Maryland, hôm Thứ Hai, 26 Tháng Giêng. (Hình: Chip Somodevilla/Getty Images)

Tuyết rơi dày đặc, hơn 1 foot trải dài 1,300 dặm từ Arkansas  tới vùng New England, làm giao thông bị ngưng trệ, hàng loạt chuyến bay bị hủy và  trường học khắp nơi phải đóng cửa hôm Thứ Hai. Cơ Quan Khí Tượng Quốc Gia (NWS) dự báo nhiều nơi phía Bắc Pittsburgh, Pennsylvania, tuyết rơi tới 20 inche và gió lạnh tới âm 25 độ F cuối hôm Thứ Hai tới Thứ Ba.

Cái lạnh khắc nghiệt ảnh hưởng tới 2/3 nước Mỹ này chưa dứt. Hôm Thứ Hai, NWS cho hay một đợt không khí lạnh khác từ Bắc Cực dự trù sẽ giữ nhiệt độ lạnh cóng ở những nơi hiện đã bị tuyết và băng đá bao phủ. Và chuyên gia dự báo thời tiết cho biết một trận bão mùa Đông khác có thể ập vào nhiều khu vực miền Đông cuối tuần này.

Trong ít nhất 29 người chết, có hai người bị xe cào tuyết cán ở Massachusetts và Ohio, một số người thiệt mạng do tai nạn xe trượt tuyết ở Arkansas và Texas, và thi thể một phụ nữ bị tuyết chôn vùi được cảnh sát tìm thấy sau khi người ta nhìn thấy phụ nữ này ra khỏi quán rượu ở Kansas. Ở thành phố New York, giới chức loan báo tám người được phát giác thiệt mạng ngoài trời cuối tuần qua.

Tính tới tối Thứ Hai, hơn 670,000 căn nhà vẫn còn bị cúp điện, theo poweroutage.com, hầu hết ở miền Nam, nơi mưa tuyết làm cành cây bị gãy và dây điện bị đứt, khiến phía Bắc Mississippi và nhiều nơi ở Tennessee bị cúp điện.

Hôm Thứ Hai, hơn 11,000 chuyến bay khắp nước Mỹ bị hủy hoặc bị hoãn, theo trang web theo dõi chuyến bay flightaware.com. Trước đó, hôm Chủ Nhật, 45% chuyến bay ở Mỹ bị hủy, nhiều nhất kể từ đại dịch COVID-19, theo công ty phân tích hàng không Cirium.

Theo dự báo, tuyết tiếp tục rơi từ nhẹ tới trung bình ở vùng New England tới hết tối Thứ Hai.

Hàng loạt văn phòng liên bang, tiểu bang, địa phương và trường học loan báo đóng cửa ít nhất tới hết Thứ Hai tuần này, theo USA Today.

Vì nhiều vụ cúp điện xảy ra khắp miền Đông đất nước, chuyên gia khí tượng và giới chức tình trạng khẩn cấp đang ngày càng lo ngại về cái lạnh khắc nghiệt theo sau trận bão này vào Thứ Hai.

“Vẫn chưa hết nguy hiểm cho dù bão tan,” ông Brian Hurley, chuyên gia Cơ Quan Khí Tượng Quốc Gia (NWS), nói với USA Today. “Nhiều nơi vẫn còn bị đóng băng nặng nề, mưa lạnh cóng, mưa tuyết và tuyết rơi, sẽ tiếp tục lạnh dưới mức đóng băng tới hết tuần làm việc.”

“Chúng tôi đang lo người dân sẽ hứng nhiệt thời tiết lạnh cóng mà không có điện,” ông Hurley nói.

Trận bão tuyết này lan qua vùng Trung Đại Tây Dương nửa đêm hôm Thứ Bảy rồi di chuyển qua vùng Đông Bắc hôm Chủ Nhật. (Th.Long) [kn]


 

ĐÊM Ở BỆNH VIỆN CHỢ RẪY…

8 SÀI GÒN

ĐÊM Ở BỆNH VIỆN CHỢ RẪY…

Ở Bệnh viện Chợ Rẫy, dường như người ta không đo thời gian bằng đồng hồ, mà bằng những cái thở dài, những tiếng gọi khẽ trong đêm, và bằng ánh mắt chờ đợi, sợ hãi và hy vọng của người thân ngồi co ro ngoài hành lang.

Tôi thấy những chiếc giường kê sát nhau, trong và cả ngoài hành lang, thấy người nhà ngủ gục trên ghế nhựa, trên sàn lạnh, thấy những bữa ăn vội, những chai nước truyền chậm từng giọt.

Lên xuống cầu thang hay bước qua văn phòng các Khoa, tôi gặp các bác sĩ bước nhanh giữa ca trực đêm, mắt đỏ vì thiếu ngủ, tay vẫn vững khi ghi hồ sơ.

Có những y tá, điều dưỡng cúi xuống chỉnh lại tấm mền cho bệnh nhân, nhẹ như sợ làm đau thêm một niềm hy vọng mong manh.

Chợ Rẫy quá tải – vâng, đã quá tải thật sự – điều đó ai cũng biết. Nhưng giữa sự quá tải ấy, người ta vẫn thấy sự tận tâm không hề cạn.

Không phải ai đến đây cũng vì bệnh nặng nhất, nhưng ai đến đây cũng mang theo nỗi sợ lớn nhất của đời mình.

Và khi đứng giữa ranh giới mong manh của sinh vs tử, người ta chọn nơi mà họ tin là “còn nước còn tát”.

Chợ Rẫy không chỉ chữa bệnh, Chợ Rẫy đang gánh niềm tin của cả một xã hội – niềm tin rằng khi khó khăn nhất, vẫn có một nơi để họ gửi gắm hy vọng.

Nếu có điều gì khiến người ta lặng đi khi rời bệnh viện, thì đó không chỉ là nỗi mệt mỏi, mà là một suy nghĩ rất dài: “Làm sao để những nơi như thế này bớt gánh nặng, để những con người thầm lặng này được làm việc trong điều kiện xứng đáng hơn?”

Bởi y tế không chỉ là chữa bệnh. Y tế là nơi người dân gửi gắm niềm hy vọng cuối cùng. Và Chợ Rẫy – trong sự chật chội và ồn ào của mình – vẫn đang làm điều đó, mỗi ngày.

LÊ TUẤN


 

GEORGE WASHINGTON VÀ KHOẢNH KHẮC ÔNG TỪ CHỐI TRỞ THÀNH VUA

My Lan Pham

Năm 1783, tại Newburgh, bang New York, George Washington đứng trước một lựa chọn có thể làm rẽ hướng lịch sử nước Mỹ.

Ông nắm trong tay sự trung thành tuyệt đối của quân đội ,đủ để chiếm lấy quyền lực tối cao. Nhưng ông đã chọn kết thúc chiến tranh và bảo vệ nền cộng hòa non trẻ, thay vì trở thành vị vua đầu tiên của nước Mỹ.

Khoảnh khắc ấy nguy hiểm hơn nhiều so với cách sách lịch sử thường kể lại.

Chiến tranh giành độc lập về cơ bản đã kết thúc, nhưng đất nước thì chưa ổn định. Quốc hội cạn tiền. Binh sĩ nhiều tháng, thậm chí nhiều năm không được trả lương. Sự phẫn nộ lan rộng trong quân đội. Một số sĩ quan bắt đầu bàn bạc việc kéo quân về Washington, giải tán chính quyền dân sự và trao quyền lực cho Washington như một nhà vua hoặc lãnh tụ quân sự.

Âm mưu ấy có tên gọi: Âm mưu Newburgh.

Mọi cuộc cách mạng đều có khoảnh khắc này ,nơi lý tưởng va chạm trực diện với quyền lực.

Washington hiểu rõ điều đó. Quân đội yêu mến ông. Ông đã cùng họ chịu đựng mùa đông khắc nghiệt ở Valley Forge, bệnh tật, đói khát và những thất bại cay đắng. Nếu ông muốn nắm quyền, không ai có thể ngăn cản. Nền cộng hòa khi ấy vẫn chỉ là một ý tưởng mong manh. Còn Washington thì là một con người thật, với quyền lực thật trong tay.

Ngày 15 tháng 3 năm 1783, Washington bước vào căn phòng nơi các sĩ quan đang chờ đợi.

Họ mong ông ủng hộ.

Họ mong ông nổi giận.

Họ mong ông cho phép.

Nhưng ông đã làm điều ngược lại.

Washington lên tiếng một cách điềm tĩnh. Ông bác bỏ âm mưu, nhắc nhở họ về mục tiêu của cuộc chiến và cảnh báo hậu quả nếu quân đội quay lưng lại với chính quyền dân sự. Căn phòng vẫn căng thẳng. Không ai lay chuyển.

Rồi Washington làm một điều không ai ngờ tới.

Ông lấy ra một lá thư để đọc. Ông nhìn xuống, dừng lại một chút, rồi đeo kính vào. Sau đó, ông nói chậm rãi:

“Thưa các ngài, xin hãy thứ lỗi cho tôi.

Tôi đã già đi trong sự phục vụ các ngài,

và giờ đây, đôi mắt tôi cũng không còn như trước nữa.”

Căn phòng lặng đi hoàn toàn.

Đó không phải là diễn xuất.

Đó là sự thật được nói ra đúng lúc.

Lần đầu tiên, các sĩ quan nhìn thấy cái giá của cuộc chiến hiện rõ trên chính cơ thể người chỉ huy của họ: tuổi trẻ đã mất, sức khỏe suy kiệt, một đời sống bị bào mòn bởi trách nhiệm. Washington không xin sự phục tùng. Ông nhắc họ rằng quyền lực không kiểm soát sẽ phá hủy chính điều họ đã chiến đấu để giành lấy.

Âm mưu Newburgh chấm dứt ngay trong khoảnh khắc đó.

Cuối năm ấy, Washington từ chức Tổng tư lệnh quân đội và trở về Mount Vernon. Vua George III của Anh, khi nghe tin này, đã nói rằng nếu Washington thật sự từ bỏ quyền lực, “ông ta sẽ là người vĩ đại nhất thế giới.” Đó không phải lời khen ,mà là sự kinh ngạc. Bởi quyền lực hiếm khi tự nguyện được đặt xuống.

Sau này, khi được mời làm Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, Washington chấp nhận một cách miễn cưỡng. Và rồi ông lại làm điều khác thường thêm một lần nữa: ông rời nhiệm sở sau hai nhiệm kỳ, dù không có điều luật nào buộc ông phải làm vậy. Ông hiểu rằng ở lại lâu hơn sẽ làm suy yếu nền cộng hòa mà ông góp phần tạo dựng.

George Washington không phải con người hoàn hảo.

Ông sở hữu nô lệ.

Ông từng đưa ra những quyết định quân sự sai lầm.

Ông có thể cứng rắn đến tàn nhẫn khi cho rằng sự sống còn của quốc gia bị đe dọa.

Chính vì thế, bài học từ ông không nằm ở sự hoàn hảo ,mà ở sự kiềm chế.

Sự vĩ đại của Washington không nằm ở việc giành chiến thắng.

Nó nằm ở chỗ ông biết khi nào phải buông tay khỏi quyền lực.

Đế chế được tạo ra khi lãnh đạo bám víu quyền lực.

Cộng hòa tồn tại khi họ biết rời đi.

George Washington không được nhớ đến chỉ vì ông đã thắng một cuộc chiến.

Ông xứng đáng được nhớ đến vì, khi chiến tranh kết thúc, ông từ chối trở thành thứ mà mình đã chiến đấu để lật đổ.

Theo True Stories

My Lan Phạm


 

CHUYẾN ĐI TRÊN LƯNG NGỰA TỪ HÀ NỘI TỚI ĐÀ NẴNG CỦA MỘT TỔNG THỐNG PHÁP

My Lan Pham

CHUYẾN ĐI TRÊN LƯNG NGỰA TỪ HÀ NỘI TỚI ĐÀ NẴNG CỦA MỘT TỔNG THỐNG PHÁP

Nhiều nhân vật nổi tiếng thế giới đã tới Việt Nam để khám phá vẻ đẹp của đất nước chúng ta. Nhưng ít người biết, một chính trị gia từng làm tới chức Tổng thống Cộng hòa Pháp, đã có chuyến đi dã ngoại suốt từ Hà Nội vào Đà Nẵng trên ngựa trong một tuần!

Người đó là ông Paul Doumer (1857-1932), Toàn quyền Đông Dương giai đoạn 1897-1902, sau là Tổng thống Pháp từ 1931-1932. Ông tiến hành chuyến đi nói trên, vì mục đích khám phá, không cần tiện nghi, khi mới sang Đông Dương nhậm chức chưa lâu.

Ông Doumer là chính trị gia thuộc nhóm cấp tiến tại Paris. Xuất thân trong gia đình lao động, ông tốt nghiệp cử nhân Toán học, sau đó lấy thêm bằng Luật rồi trở thành chuyên gia tài chính. Ông cũng là nhà báo. Năm 1895, ông là Bộ trưởng Tài chính.

Ông Doumer sang làm Toàn quyền Đông Dương khi mới 38 tuổi, để lại 5 người con đang học tập tại Paris. Sau này trong chiến tranh thế giới thứ nhất, 4 người con của ông đã hy sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ nước Pháp.

“NGỰA SẢI THẲNG ĐÉT”

Câu chuyện về chuyến đi suốt từ Bắc vào Trung của viên Toàn quyền được ông ghi lại trong cuốn hồi ký L’Indochine Française (Souvenirs) kể lại đoạn đường 800 km mà ông cùng người tùy tùng, thiếu tá Nicolas, trải qua (từ trang 232 đến 236). (1)

Thực ra không phải ông đi vì thú du sơn ngoạn thủy. Ông đi vì công việc. Ông muốn tự mình xem xét địa thế để xây dựng con đường xe lửa xuyên Đông Dương.

“Vào mùa khô ráo trên đất Bắc (Tonkin), tức tháng Giêng, tháng Hai dương lịch, có một lần tôi thử cưỡi ngựa chạy từ Hà Nội xuống đến Đà Nẵng, đường dài độ tám trăm cây số”, ông viết. “Ấy là tôi muốn tận mắt xem xét lấy phong cảnh và địa hình địa thế những nơi nào thuận tiện để đặt con đường sắt, phóng tàu hỏa xuyên Đông Dương, trước khi các kỹ sư chuyên môn dâng đồ án thiết kế cho tôi sau này. Tôi không cần nghi lễ đón tiếp long trọng, không cần cờ xí, kèn trống và tiệc tùng linh đình. Hành lý của viên võ quan hộ vệ của tôi, chỉ thu gọn lại trong một cái túi da (serviette) treo bên hông ngựa là đủ”.

Ông Doumer chỉ cần các quan Nam triều sắp đặt sao cho mỗi dịch trạm có ngựa khỏe thay cho ngựa mỏi, vài tên quân lính biết săn sóc ngựa và rành rẽ đường sá để chỉ dẫn nếu cần.

Chắc rằng ban đầu, các nhà cầm quyền Pháp đã nhắm hướng tuyến xe lửa vòng từ Phủ Lý xuống Nam Định, khi ông Doumer kể rằng: “Cho ngựa phi nước đại suốt Nam Định qua Ninh Bình, trải qua các tỉnh lị từ Thanh Hóa đến Nghệ An, có dừng chân vài chỗ để xem xét những vị trí nên đặt đường xe lửa sau này. Nhờ khí trời mát mẻ, phong cảnh quang đãng, ngựa sải thẳng đét, chạy được suốt ngày đến cả trăm cây số mà không biết mệt”.

Ông mô tả khá kỹ lưỡng khí hậu ở các vùng đất đi qua: “Qua đến địa phận Hà Tĩnh thì trời đổi khác. Hết nắng tới mưa dạt dào. Đã có mươi phen, chúng tôi phải dùng đến chiếc áo mưa che bằng cao su, nhưng hễ tạnh đôi chút thì phải cởi, vì áo nặng trĩu trên vai khó chịu. Mặc dù vậy, nhờ đất cứng, ngựa chạy không lún móng, nên vẫn phi được nước đại như thường”.

ƯỚT NHƯ CHUỘT LỘT

Qua những dòng nhật ký của Doumer, chúng ta cũng mới hình dung phong cảnh đèo Ngang hồi cuối thế kỷ 19:

“Đến dãy Hoành Sơn (Portes d’Annam) tức cửa ải để vào mấy tỉnh miền Trung, chúng tôi phải xuống ngựa đi bộ, leo triền núi dốc như thang đứng, tay nắm chặt sợi cương dắt ngựa, chân bước gập ghềnh, trời thì mưa tầm tã, rồi lại phải nương tay dắt ngựa xuống dốc, rồi gặp cả một vùng cát lún, nhưng cũng không có gì là khổ cực cho lắm.

Tuy nhiên, qua khỏi dãy Hoành Sơn thì khí hậu không còn như khí hậu xứ Bắc. Mưa ôi là mưa, nước ôi là nước. Nước từ trên trời rơi xuống, nước từ trong không khí thấm vào, nước từ dưới đất xông lên. Mưa như xối, mưa không dứt hột, mưa đầy đồng, đất mềm lún, nước chan hòa, ngựa không thấy đường… Khe rạch đều ngập.

Chưa đầy một giờ đi dưới cơn mưa trút nước này, những áo cao su của chúng tôi, tuy là thứ áo chắc chắn, chế tạo từ bên Pháp, đều thấm nước trở nên vô dụng. Nước mưa thấm vào vai, ướt dần vào, áo nỉ, áo lót đều ướt rượt, và từng giọt từng giọt, nước mưa chảy vào giày ống, biến nó thành “ống chứa nước”, hết còn là giày!

Tội nghiệp cho đôi ngựa, thấy nặng, chở thêm, rồi thấy thêm nặng vì đất thêm mềm, chân ngựa chạy lún, đất trở nên sình lầy, giữ chân ngựa lại”.

Đến thị xã Đồng Hới, trời vẫn mưa không ngớt, hai thầy trò nghỉ ngơi một giờ tại nha môn dinh Công sứ Quảng Bình, có cơm no, có lửa hơ sau lưng làm quần áo bớt ướt, rồi lại từ giã lên đường. Các khe suối đều tràn ngập, ngựa lội nước, ngập tới ức ngựa rồi tới bộ yên, khiến hai người “ướt như chuột lội” không còn chỗ nào có thể ướt thêm nữa. Sự mệt mỏi thể hiện qua từng dòng nhật ký:

“Chúng tôi cũng đã đi đến nước không còn thiết tha đến sự gì nữa, cũng không cần kéo chân lên, khi ngựa lội qua chỗ cạn cũng không cần tránh lúc ngựa làm nước văng tung tóe. Đến lúc hoàng hôn, chúng tôi đến một ngôi chùa dự định là nơi tá túc đêm này và cũng là nơi thay hai ngựa. Nhưng chỉ trơ trọi hai giường chõng bằng tre, vạt giường cũng bằng tre, chùa thì vách phên không có, trống trơn một nóc. Trời lạnh ở mức 8-10 độ, có thể ngủ lại trong bộ quần áo ướt rượt này không?”.

Vậy là hai thầy trò chỉ dừng chân nghỉ, rồi tiếp tục lên đường, vì tính toán khi ngựa chạy, máu huyết trong người cũng vận động, nên tuy dầm mưa, vẫn ấm người hơn.

Thầy trò ông Doumer đi suốt đêm không ngừng, tin cậy người lính An Nam đưa đường nói rằng biết đường rành rẽ. Hai ngựa cứ phi nước đại theo chân người lính trong màn đêm huyền bí, cho tới khi tới một nơi nghỉ chân mà theo dự kiến sẽ nghỉ vào sáng hôm sau. May là ngựa mới để thay đã có sẵn. Một chuyện đáng chú ý là khi người lính dẫn đường loay hoay chọn lối tại một ngã ba, nhiều dân làng (được báo trước là có quan lớn đi qua) đã đốt đuốc đưa đường dẫn quan Toàn quyền đi đến chốn. Khi tới trạm nghỉ, ông Doumer tặng họ mấy đồng bạc, họ đều lấy làm ngạc nhiên khi ông quan Tây to nhất xứ Đông Dương không những chịu dầm mưa dãi nắng mà còn đối xử tử tế với người phục dịch.

Đến một bến sông, cây cầu bị nước dâng ngập, trời tối không nhìn rõ, phải nhờ người vào làng tìm thuyền, ông tìm đến một túp lều sẵn có đống lửa.

Những dòng nhật ký cho thấy ông Doumer đúng kiểu là người rất thích hợp với các chuyến đi “bụi”, không nề hà chuyện thiếu tiện nghi:

“Tôi kéo lại gần nửa một cái ghế băng làm bằng cây tạp, bề ngang độ hai gang tay, rồi nằm trên băng ghế, quay mặt vào lửa. Ôi, nó êm khoái làm sao. Thật là sung sướng, hạnh phúc tràn trề… Tôi trở mình trên băng, cái băng vừa chật hẹp, tôi cố giữ thăng bằng rồi ngủ vùi lúc nào không hay.

Tôi dám khuyên các vị khách lữ hành, một khi đã chán chê với cảnh cực lạc nhung lụa của các nước văn minh, xin hãy nếm thử cảnh đìu hiu cô quạnh như tôi hôm nay vậy, họa may mới biết thú”.

Chiều hôm đó, thầy trò Doumer đến Huế, đồ hành lý chuyển theo tàu thủy đã đến nơi trước. Sau bữa tiệc chiêu đãi của Khâm sứ Trung kỳ, sáng hôm sau, thầy trò lại lên ngựa, chạy miết đến ba giờ chiều, hết quãng đường dài 110km đã sửa sang tốt đẹp, nối liền thành phố Huế, vượt đèo Hải Vân qua thành phố Đà Nẵng.

Như vậy, quãng đường 800km từ Hà Nội vào Đà Nẵng, ông Doumer cưỡi ngựa đi hết đúng một tuần.

MỘT NGƯỜI LIÊM KHIẾT VÀ KHÔNG VỤ LỢI

Tuy là người thay mặt nước Pháp cai trị cả 3 nước Đông Dương, nhưng ông là người không thích lễ nghi quan cách. Như lần triều đình Huế tiễn ông chính thức từ kinh đô vào Đà Nẵng để lên tàu đi công cán, cử phụ chánh đại thần Nguyễn Thân (ông viết “nhân vật đứng thứ 3 trong triều đình”) cùng đoàn tùy tùng võng lọng kèn nhạc hộ giá, với nghi lễ như của nhà vua tuần du, thì ông cùng sĩ quan tùy tùng quất ngựa chạy thẳng vào Đà Nẵng trước, để đoàn quân triều đình khiêng võng che tàn cho viên lính thủy đánh giày phục vụ Toàn quyền tên là Picard!

Paul Doumer là người để lại rất nhiều công trình có giá trị về nhiều mặt cho Việt Nam, như Viện Viễn đông Bác cổ, lập Trường Cao đẳng ở Hà Nội để học sinh không còn phải qua Trung Quốc học. Năm 1901, ông đã đến Đà Lạt và quyết định chọn nơi đây thành đô thị nghỉ mát cho người Pháp tại Đông Dương và tài trợ cho bác sĩ Yersin xúc tiến việc thành lập thành phố.

Ngoài ra ông còn là người rất chú trọng công tác xây dựng các công trình hạ tầng. Cùng với đường sắt xuyên Việt, ông còn để lại ba cây cầu ở ba miền là cầu Long Biên (sau được gọi tên là cầu Doumer), cầu Tràng Tiền, và cầu Bình Lợi cho xe lửa chạy ở Sài Gòn.

Ngoài ra, nhiều cây cầu khác cũng xuất hiện trong thời kỳ trị nhậm của ông như ở Hải Phòng, Hải Dương, Việt Trì, Lào Cai, cầu Hàm Rồng ở Thanh Hóa. Ông cũng là người chủ trương mở mang cảng Hải Phòng và xây dựng tuyến đường sắt lên Vân Nam để khai thác tài nguyên. Báo chí Pháp đã mỉa mai gọi ông là “người theo chủ nghĩa đường sắt”.

Dưới thời Paul Doumer, Hà Nội là một trong những thành phố đầu tiên tại Châu Á được lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng, lập Trường Viễn Ðông Bác Cổ, nha khí tượng, nha địa chất, trường đại học Y Dược…

Ở miền Nam, năm 1901, ông còn cho khởi công con đường đá từ Sài Gòn đi Tây Ninh để thông thương với Campuchia. Tuy nhiên, để có tiền phục vụ các công trình này, ông cũng cho tăng các thứ thuế.

Henri Lamagat, tác giả cuốn Souvernirs d’un vieux Journalistre Indochinois, có nhận xét ông Doumer là “một nhân vật vĩ đại của nước Pháp và của thuộc địa Pháp, liêm khiết và không chút vụ lợi”. Ông Lamagat cho rằng ông Doumer chỉ có một lỗi duy nhất là chỉ chú tâm vun vén cho đất Bắc mà không bỏ phần cho đất Nam.

Từ năm 1902, sau khi về nước, với thành tích sáng chói ở Đông Dương ông lại sôi nổi tham gia hoạt động chính trị. Từ chức Chủ tịch Thượng viện, ông được bầu làm Tổng thống Pháp năm 1931, là tổng thống thứ 14 của Cộng hòa Pháp. Tuy nhiên, ngày 6.5.1932, Paul Doumer bị một người tâm thần là cựu y sĩ trong hồng quân Liên Xô tên là Gorguluff bắn, và qua đời vào ngày hôm sau, lúc đó ông 75 tuổi.

Là con của một công nhân đường sắt, những công trình đường sắt mà ông Doumer xây dựng trên đất Việt Nam hơn 100 năm qua, đến nay vẫn còn có giá trị lớn.

(1). Nhà xuất bản Vuibert & Nony, Paris in năm 1903. Đã được học giả Vương Hồng Sển dịch lại một số phần đăng trong cuốn di cảo “Dỡ mắm”, NXB Trẻ, 2014.

Chuyện của Sơn

Ảnh: Paul Doumer và vua Thành Thái năm 1899 và Thái Sơn lên màu


 

Khi tiếng Việt bị biến thành cháo loãng – Đoàn Xuân Thu

Đoàn Xuân Thu

Tiếng Việt xưa nay vốn giàu đẹp, phong phú như một khu vườn trăm hoa đua nở. Có những chữ lấp lánh như ngọc, có những thành ngữ sâu sắc như triết lý sống. Từ ca dao tục ngữ cho đến văn chương bác học, tiếng Việt từng đủ sức mô tả sự uy nghi của sông núi, vẻ thanh lịch của người Tràng An, hay nét mộc mạc của hoa nhài đầu ngõ.

Ấy vậy mà từ khi rơi vào tay tập đoàn cai trị cộng sản, vốn từ ngữ ấy bị mổ xẻ, băm nát, chế biến dở tệ như mâm cơm tập thể của hợp tác xã. Ngôn ngữ biến thành cháo loãng, sính chữ kêu, lười tư duy. Người dân thì học nói theo báo đài tuyên truyền, còn bọn văn nô, bồi bút thì tha hồ bịa đặt, xào nấu chữ nghĩa để ca tụng cái hũ mắm thối thành sơn hào hải vị.

1.“Hoành tráng” – đặc sản của dân hang Pắc Bó.
Ngày xưa, muốn khen bữa tiệc, người ta dùng “linh đình, thịnh soạn.” Nói đến cung điện thì “nguy nga, tráng lệ.” Áo quần thì “sang trọng, lộng lẫy.” Tiếng Việt phong phú như thế, nhưng nay tất cả bị nấu chảy thành một chữ “hoành tráng”: Bữa tiệc hoành tráng; Biệt thự hoành tráng; Đám cưới hoành tráng. Thậm chí… cái nhà vệ sinh công cộng cũng “hoành tráng” tuốt!

Nguồn gốc chữ này vốn là từ Hán, nghĩa là “bề thế.” Nó chẳng hề có trong từ điển tiếng Việt cổ điển. Những người tự xưng là “người ngàn năm văn vật” nào có văn vật, chỉ có dịch vật, xài bừa bãi đến mức hễ cái gì to xác, lòe loẹt cũng được tôn vinh là “hoành tráng.” Người Tràng An xưa thanh lịch, ví hoa nhài trắng muốt, hương thơm thoang thoảng mà bền lâu. Còn “người Tràng An” thời nay chỉ biết gào “hoành tráng” như tiếng chó tru sủa trăng.

2.“Giọng ca đẹp” – trò lai căng mù chữ bắt chước Mỹ.
Các giám khảo gameshow ngày nay thi nhau khen thí sinh: “Giọng ca đẹp quá!”
Giọng hát chỉ có thể truyền cảm, du dương, trong trẻo, trầm ấm, có ai nhìn thấy đâu mà đẹp? Người Mỹ nói “beautiful voice” với nghĩa bóng. Nhưng đám dốt nát bắt chước Mỹ bê nguyên cái chữ “đẹp” về, tưởng thế là sang. Trong khi người Việt xưa vốn có bao nhiêu cách ví von: “Giọng ngọt như mía lùi,” “Giọng trong veo như suối đầu nguồn,” “Giọng oanh vàng véo von.”

Người Tràng An xưa biết phân biệt mười mấy cung bậc cái đẹp. Còn dân bây giờ cầm nguyên cái chổi “đẹp” quét sạch vốn từ cả ngàn năm.

3.“Tặc hóa” – bệnh dịch văn nô bồi bút.

Hễ có gì xấu là dán chữ “tặc” vào: Cát tặc, lâm tặc, đinh tặc, cáp tặc, chó tặc. Một thứ trò đùa vô văn hóa. “Tặc” vốn chỉ kẻ cướp, quân giặc. Thế mà nay, bọn bồi bút bôi ra như mắm nêm, khiến người nghe phát ngấy. Nếu cứ đà này, chắc sớm muộn gì ta cũng nghe: “Wifi tặc” (xài ké mạng). “Phở tặc” (ăn phở mà quỵt tiền). “Tình tặc” (cướp người yêu).

Ngôn ngữ bị biến thành trò hề, còn trí tuệ thì teo tóp. Người Tràng An xưa vốn biết gọi tên cho đúng bản chất: kẻ gian là “trộm,” kẻ dữ là “cướp.” Chế thêm “tặc” cho oai, chẳng khác nào con ếch cố phồng bụng để thành con bò.

4.“Hơi bị ngon” – kiểu ngược đời của kẻ rỗng óc.

Giới trẻ ngày nay chuộng câu “hơi bị ngon.” Nghe thì tưởng mới mẻ, thực ra chỉ là trò ngu ngốc. “Hơi bị” vốn mang nghĩa xấu: hơi bị hư, hơi bị dở. Ghép với “ngon” thì thành một thứ câu què quặt. Trong khi đó, người Việt xưa chỉ cần nói: “Ngon tuyệt,” “Món này rất ngon.” Ngắn gọn, sáng sủa, đầy đủ. Thế mà nay, khen món ăn ngon cũng phải đánh đu ngữ pháp. Đúng là cái thói thích làm màu, rốt cuộc chỉ để lòi cái dốt.

5.Những thói sính chữ rởm đời.
Ngoài các thảm họa kể trên, xã hội còn đầy rẫy cách dùng chữ trật lất: “Động não” – nói như thể bình thường người ta xài… não chết. “Manh động” – một chữ Hán để thay cho “hung hăng,” dùng cho oai. “Trẻ em hòa nhập” – nói như trước đó tụi nhỏ bị cách ly khỏi loài người. Những kiểu chữ nghĩa rởm này mọc lên như nấm, làm báo chí CS đỏ tràn ngập những bản sao chép vô hồn.

Ngôn ngữ xuống cấp, trí tuệ xuống cấp theo. Và đó mới chính là bi kịch. Dân tộc nào đánh mất sự tinh tế trong ngôn ngữ, dân tộc đó tự đánh mất trí tuệ và bản sắc.

Ngôn ngữ dĩ nhiên phải thay đổi theo thời đại, nhưng thay đổi không có nghĩa là phá hoại. Sáng tạo không đồng nghĩa với lười biếng. Đã đến lúc cần trả lại tiếng Việt cho đúng bản sắc: Khen bữa tiệc thì nói “linh đình.” Ngợi ca giọng hát thì gọi “truyền cảm,” “du dương.”
Chỉ mặt kẻ gian thì gọi đúng là “trộm,” “cướp.” Ăn món ngon cứ thẳng thắn: “ngon tuyệt.”

Không sửa, mai này tiếng Việt sẽ chỉ còn là thứ cháo loãng, trong đó mọi hương vị đều bị hòa tan.

Đoàn Xuân Thu

Khi tiếng Việt bị biến thành cháo loãng

From: Phi Phuong Nguyen

Trong lúc bão tuyết đang đến, Trump lại mỉa mai biến đổi khí hậu

Ba’o Nguoi-Viet

January 24, 2026

WASHINGTON, DC (NV) – Tổng Thống Donald Trump, vốn lâu nay vẫn bày tỏ hoài nghi đối với đồng thuận khoa học về biến đổi khí hậu, một lần nữa bác bỏ quan ngại này khi ngụ ý rằng cơn bão tuyết khổng lồ dự kiến đổ bộ lên phần lớn nước Mỹ vào cuối tuần này mâu thuẫn với hành tinh đang ấm lên, Time cho biết vào Thứ Sáu, 23 Tháng Giêng.

“Đợt lạnh kỷ lục dự kiến sẽ ảnh hưởng đến 40 tiểu bang. Hiếm khi thấy chuyện này trước đây,” ông Trump viết trên Truth Social. “Những kẻ nổi dậy môi trường có thể vui lòng giải thích – bất cứ chuyện gì xảy ra với sự ấm lên toàn cầu???”

Một người đàn ông quét tuyết trong xe của mình ở Brooklyn sau trận bão tuyết trong đêm hồi cuối Tháng Mười Hai năm ngoái ở New York. (Hình minh họa: Spencer Platt/Getty Images)

Trận bão tuyết này được dự báo sẽ mang theo băng gây hại, tuyết dày và gió giật mạnh với hơn 230 triệu người trên khắp đất nước bị ảnh hưởng từ Thứ Sáu đến Thứ Hai tuần sau. Ít nhất 14 tiểu bang, cùng với thủ đô Washington, D.C., đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp.

Tuy nhiên, các chuyên gia khí hậu cho rằng suy nghĩ mùa đông tàn khốc kiểu này có nghĩa là không có biến đổi khí hậu, như ông Trump nói, là quan niệm sai lầm.

“Là một ‘người nổi dậy môi trường’ tự hào, thật bực mình khi phải giải thích chuyện này mỗi khi mùa đông đến,” ông Christopher Callahan, giáo sư về khoa học khí hậu tại đại học Indiana University Bloomington, nói. “Trái Đất vẫn có các mùa, và chúng ta sẽ có thời tiết mùa đông bất kể chuyện gì xảy ra với biến đổi khí hậu.”

Như Giáo Sư Callahan giải thích, hành tinh nghiêng trên trục của nó, đó là lý do tại sao chúng ta có các mùa khác nhau. Và thậm chí ngay giữa biến đổi khí hậu, Trái Đất vẫn có các thay đổi thời tiết ngày qua ngày.”

“Bởi vì biến đổi khí hậu rốt cuộc là hiện tượng lâu dài, có thể có những lúc không theo quy luật; có thể có những lúc lên lúc xuống nhưng về lâu dài nhiệt độ vẫn tăng lên,” ông Callahan nói.

Các chuyên gia đồng ý rằng, trung bình, biến đổi khí hậu khiến cho mùa đông ngắn hơn và ôn hòa hơn. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng biến đổi khí hậu có thể làm một số hiện tượng thời tiết cực đoan – như đợt nóng, mưa lớn, lũ lụt nghiêm trọng, hạn hán, cháy rừng cực đoan và bão – dữ dội hơn và thường xuyên hơn. Một số chuyên gia đưa ra giả thuyết rằng biến đổi khí hậu cũng có thể làm cho các cơn trận bão tuyết trở nên dữ dội hơn.

Nhưng điều mà nhà khoa học đồng ý là, khi bầu khí quyển của Trái Đất ấm lên, nó mang theo nhiều hơi ẩm hơn, dẫn đến mưa và tuyết nhiều hơn.” (NNL)


 

Đọc mà nước mắt rơi…

Cuộc Sống Hằng Ngày

Người mẹ gầy gò, bước đi khó nhọc bước vào phòng gặp con trai trong trại giam. Vừa nhìn thấy Hồ Duy Hải bước ra, bà Nguyễn Thị Loan đã bật khóc nức nở, không kìm được. Bàn tay run rẩy nắm chặt tay con, nỗi đau đớn và bất lực hiện rõ. Luật sư đứng bên lặng lẽ chứng kiến giây phút đoàn tụ đầy nước mắt ấy

Gần 18 năm qua, bà Loan bán hết nhà cửa, ruộng vườn, cùng con gái đi khắp nơi kêu oan cho con trai mình. ‘Còn một hơi thở cuối cùng, tôi cũng phải đòi lại công lý cho Hồ Duy Hải’.

Một người mẹ, một gia đình tan nát vì vụ án kéo dài, đầy tranh cãi. Hy vọng một ngày nào đó, công lý thực sự được thực thi, để bà Loan được ôm con trai ngoài tự do, không còn phải khóc trong những cuộc gặp tù tội nữa

#HoDuyHai #KeuOan #CongLyChoHoDuyHai #MeConDoanTu


 

Việt kiều Mỹ đòi lại nhà ở Sài Gòn: Bị ‘đánh úp’ trước ngày cưỡng chế

Ba’o Nguoi-Viet

January 21, 2026

SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Sau 17 năm đi kiện đòi lại căn nhà mặt tiền ở Sài Gòn nhờ một người bạn đứng tên, khi chuẩn bị được nhận lại nhà, ông Việt kiều Mỹ bất ngờ bị “đánh úp” vào phút chót.

Theo báo VnExpress hôm 21 Tháng Giêng, Viện Kiểm Sát Tối Cao vừa chấp nhận đề nghị của bà Huỳnh Thị Minh Thư và ra quyết định kháng nghị bản án phúc thẩm của Tòa Án TP.HCM về việc tuyên buộc bà Lê Thị Vựng và các con (trong đó có bà Thư) giao trả lại căn biệt thự số 10A Cửu Long, phường 2, quận Tân Bình, nay là phường Tân Sơn Hòa, cho ông Huỳnh Larry Hưng, còn gọi là Huỳnh Hưng Lợi, 74 tuổi, Việt kiều Mỹ.

Ông Huỳnh Larry Hưng đứng trước căn biệt thự mua 20 năm trước, chờ cơ quan thi hành án cưỡng chế bàn giao cho mình, nhưng bất ngờ buổi làm việc bị tạm hoãn. (Hình: Hải Duyên/VnExpress)

Viện Kiểm Sát Tối Cao đề nghị Hội Đồng Thẩm Phán Tòa Án Tối Cao hủy bản án của Tòa Án TP.HCM, giao hồ sơ cho Tòa Án Khu Vực 4 thụ lý xét xử lại.

Trong kháng nghị lần này, Viện Kiểm Sát Tối Cao tiếp tục xác định “tòa án cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hưng, buộc bị đơn phải giao trả nhà là có căn cứ,” song quá trình giải quyết vụ án “có vi phạm tố tụng.”

Cụ thể, “tòa án các cấp không đưa Ủy Ban Nhân Dân có thẩm quyền tham gia tố tụng về tranh chấp đất được công nhận chủ quyền; không xem xét yêu cầu của bị đơn về việc “tính công sức, bảo quản gìn giữ tài sản…”

“Tòa chưa làm rõ diện tích đất khuôn viên có nhiều thay đổi qua các thời kỳ, dẫn đến phán quyết thiếu cơ sở và khó thi hành án,” kháng nghị nêu.

Đây là lần thứ ba vụ án bị kháng nghị “đúng vào phút chót” khi Cơ Quan Thi Hành Án TP.HCM chuẩn bị cưỡng chế để bàn giao cho ông Huỳnh Larry Hưng căn biệt thự ước trị giá gần trăm tỷ đồng.

Như vậy, vụ án ông Hưng 17 năm mòn mỏi đòi nhà nhờ bạn thân đứng tên với sáu bản án sơ thẩm, phúc thẩm và hai quyết định giám đốc thẩm, có nguy cơ quay về vạch xuất phát, mặc cho các bản án trước đó đều xác định ông Hưng là chủ sở hữu hợp pháp căn nhà và buộc bà Vựng, vợ của người đứng tên giúp (người này hiện đã chết) và các con phải trả lại.

Theo báo Pháp Luật TP.HCM, hồi năm 1995, khi còn đang định cư Mỹ, ông Hưng bỏ tiền mua căn nhà trên rồi nhờ một người bạn đứng tên và trông coi giùm. Đến khi ông trở về Việt Nam, muốn lấy lại nhà thì vợ của người bạn này (bà Vựng) từ chối trả nhà, thời điểm đó bạn ông đã qua đời.

Năm 2009, ông Hưng bắt đầu hành trình gian nan đi kiện để đòi nhà.

“Nhà đất này được mua bằng tiền mà tôi tích lũy được sau những năm tháng lao động chân tay với đủ nghề nơi xứ người, chỉ mong có được chốn an cư khi trở về Việt Nam dưỡng già. Tuy nhiên, gần 20 năm qua, tôi phải đi ở nhờ để theo đuổi vụ kiện đòi lại nhà mình. Nay đã 74 tuổi, sức yếu, tôi không biết còn sống được bao lâu, chỉ mong lúc nhắm mắt xuôi tay được ở trong căn nhà của mình,” ông Hưng nói.

Ông Hưng cũng cho hay, trong suốt quá trình giải quyết vụ án qua nhiều lần xét xử, bà Vựng và gia đình không đưa ra yêu cầu cụ thể nào về công sức đối với tài sản đứng tên giúp.

Hồi năm 2024, phán quyết của Tòa Án TP.HCM tuyên, tài sản thi hành án là toàn bộ căn nhà và đất tọa lạc tại 10A Cửu Long, nằm trên khu đất rộng 466.61 mét vuông. Tuy vậy, kết quả xác minh thực tế thì căn nhà và đất nêu trên rộng đến 716.6 mét vuông.

Quá trình giải quyết vụ án, gia đình bà Vựng không hợp tác cho tòa án vào đo vẽ, nên tòa phải sử dụng các bản vẽ do gia đình bà Vựng đã đo vẽ được kiểm tra nội nghiệp để giải quyết vụ án.

Ông Huỳnh Larry Hưng mất 17 năm đi kiện đòi nhà. (Hình: An Bình/Pháp Luật TP.HCM)

Hôm 18 Tháng Mười Hai, 2025, Cơ Quan Thi Hành Án Dân Sự TP.HCM đã lên kế hoạch cưỡng chế bàn giao căn nhà cho ông Hưng, song phải dừng vào phút chót để “xem xét yêu cầu kháng nghị của người liên quan.”

“Tôi kiệt sức vì phải theo đuổi vụ án suốt 17 năm qua. Nếu Tòa Án Tối Cao chấp nhận kháng nghị lần này, tôi có thể không chờ được đến ngày nhận lại ngôi nhà của mình nữa,” ông Hưng ngao ngán nói. (Tr.N) [kn]


 

Chính trong sự vô hình ấy, bà đã cứu lấy ký ức của cả một dân tộc.

My Lan Pham

Trong suốt bốn năm dài, một người phụ nữ ngồi lặng lẽ trong một bảo tàng ở Paris, trong khi phát xít Đức cướp bóc hàng nghìn tác phẩm nghệ thuật ngay xung quanh bà.

Chúng không bao giờ ngờ rằng bà hiểu từng lời chúng nói.

Tháng 10 năm 1940. Bảo tàng Jeu de Paume vừa bị chiếm đóng và biến thành trung tâm đầu não của mạng lưới buôn bán nghệ thuật bị cướp bóc: tại đây, những kiệt tác bị tước đoạt từ các gia đình Do Thái được phân loại trước khi chuyển về Đức.

Và người phụ nữ tưởng chừng tầm thường vẫn tiếp tục làm việc giữa những bức tường ấy là ai?

Đối với chúng, bà vô hình. Chỉ là một nhân viên quèn. Im lặng. Vô hại.

Nhưng chúng đã nhầm.

Bà tên là Rose Valland. Khi đó bà 42 tuổi, được đào tạo tinh hoa tại Sorbonne và École du Louvre, nhưng lúc ấy chỉ mang danh một tình nguyện viên không lương — ít nhất là bề ngoài.

Thực chất, bà đã chấp nhận một sứ mệnh có thể khiến mình mất mạng: ở lại, quan sát và ghi chép mọi tội ác.

Trong khi phát xít đóng gói tranh của Cézanne, Monet, Renoir như những món hàng vô tri, bà âm thầm ghi chép.

Ngày qua ngày, Hermann Göring — cánh tay phải của Hitler — đã đến bảo tàng 21 lần để chọn những tác phẩm treo trong lâu đài của hắn. Rose luôn ở đó. Trông có vẻ phục tùng, nhưng thực chất là tỉnh táo và quan sát từng chi tiết.

Bà nói tiếng Đức hoàn hảo. Nhưng không ai biết điều đó.

Bà ghi lại số toa tàu, tuyến đường sắt, tên người, từng chi tiết nhỏ. Ban đêm, bà viết tất cả vào những cuốn sổ bí mật. Nếu bị phát hiện, bà sẽ bị xử bắn như một gián điệp.

Thế nhưng, bà chưa từng dừng lại. Bà chuyển thông tin cho lực lượng Kháng chiến, cứu được nhiều đoàn tàu và những kho báu vô giá khỏi bị hủy hoại.

Tháng 7 năm 1943, bà chứng kiến điều không tưởng: 500 bức tranh của Picasso, Miró, Klee bị phát xít thiêu rụi trên mái bảo tàng, bị gán nhãn là “nghệ thuật suy đồi”.

Rose không thể làm gì. Nhưng bà không quay mặt đi. Bà ghi nhận mất mát ấy và tiếp tục bước tiếp.

Năm 1944, khi phát xít tìm cách tháo chạy cùng chiến lợi phẩm, Rose biết mọi thứ: số thùng, điểm đến, giờ tàu chạy. Bà cung cấp toàn bộ cho Kháng chiến. Đoàn tàu bị chặn lại. Nghệ thuật được cứu.

Thế nhưng sau khi Paris được giải phóng, bà lại bị bắt: có nghi ngờ đối với những ai từng làm việc dưới thời chiếm đóng.

Rồi sự thật được phơi bày — và gây chấn động.

Rose sở hữu một hồ sơ tỉ mỉ: hơn 20.000 tác phẩm được ghi lại với ngày tháng, địa điểm và lộ trình. Một bản đồ kho báu để thu hồi những gì đã bị cướp đoạt.

Năm 1945, bà được phong hàm trung úy quân đội Pháp.

Bà từ chối mọi đặc quyền. Bà trực tiếp tham gia các nhiệm vụ thu hồi cùng nhóm Monuments Men. Nhờ bà, các kho cất giấu bí mật trong lâu đài, mỏ đá và boongke đã được phát hiện.

Năm 1946, tại các phiên tòa Nürnberg, Rose đứng lên đối diện Hermann Göring.

Chính người đàn ông đã phớt lờ bà suốt nhiều năm. Và bà đánh gục hắn bằng những bằng chứng chi tiết.

Cuối cùng, bà đóng vai trò then chốt trong việc thu hồi 60.000 tác phẩm nghệ thuật, trong đó 45.000 được trả lại cho chủ nhân hợp pháp.

Rose Valland chưa từng cầm súng.

Không đặt bom.

Không có hành động phô trương.

Sự kháng cự của bà là sự im lặng.

Nhưng mỗi dòng ghi chép là một hành động phản kháng.

Mỗi ánh nhìn là một nhát dao vào trái tim của chế độ.

Và chính trong sự vô hình ấy, bà đã cứu lấy ký ức của cả một dân tộc.

Chia sẻ từ Magazine Fanpage

My Lan Phạm


 

CHUYỆN TÌNH SAU NGÔI MỘ CỔ CỦA CON TRAI NGƯỜI “GIÀU NHẤT TRỜI NAM”

Hai pho tượng, vợ trước mộ chồng và chồng trước mộ vợ

Hai bên hông thánh đường nhà thờ Hạnh Thông Tây nổi bật lên trước mắt mọi người những pho tượng đầy giá trị nghệ thuật và vô cùng sống động.

Từ ngoài vào, phía bên trái là bức tượng người phụ nữ quỳ trên gối, hai tay cầm 2 bó hoa huệ ôm choàng lấy tấm bia mộ. Đầu bà để trần, tóc búi cao, đầu hơi chếch hướng vào ngôi mộ phía sau.

Chiếc áo dài trên người bà bình dị. Trên cổ bà đeo sợi dây chuyền có mặt ngọc, dưới chân mang dép mũi hài…

Tượng trông như người thật khiến tôi ngẩn ngơ. “Anh có biết pho tượng này là ai không?”. Tôi quay người nhìn lại, đó là một cụ già.

Cụ cho biết, người phụ nữ ôm tấm bia là bà Trần Thị Thơ. Bà Thơ là vợ ông Lê Phát An – người nằm trong ngôi mộ phía sau. Từ đây nhìn thẳng sang phía đối diện, một người đàn ông đầu đội khăn đóng, mặc áo dài quỳ trên gối.

Trước gối quỳ có đặt bó hoa. Ông có ria mép và đôi mày rậm. Hai bàn tay ông không chấp lại mà lại đan vào nhau. Nét mặt ông thành kính, đôi mắt nhìn vào tấm bia như muốn thì thầm trò chuyện.

Người đàn ông ấy là ông Lê Phát An và người trong nấm mộ chính là vợ ông, bà Trần Thị Thơ. Cả hai pho tượng đều được làm bằng đá cẩm thạch trắng và mộ bằng đá hoa cương.

Tác giả của 2 ngôi mộ và 2 pho tượng này là hai nhà kiến trúc và điêu khắc nổi tiếng người Pháp là A.Contenay và Paul Ducuing. Hai ông đã thể hiện đầy đủ nét đặc trưng miền Nam qua chân dung của ông bà Lê Phát An.

Hai pho tượng, vợ trước mộ chồng và chồng trước mộ vợ đã nói lên tình cảm của 2 người lúc sinh thời. Trước mộ ông Lê Phát An có tượng bà mặc áo dài quỳ gối dâng bó hoa và cầu nguyện cho ông. Bên mộ bà Trần Thị Thơ thì có tượng của ông mặc áo dài quỳ phục dâng bó hoa và cầu nguyện cho bà.

Với nét tạc tượng điêu luyện, hai pho tượng nhìn vào rất sống động và toát lên được những tình cảm mà người thực hiện muốn phục dựng. Qua những dòng chữ khắc trên bia mộ chúng ta có thể nhẩm tính ra ông hơn bà 4 tuổi nhưng lại mất sau bà đến 14 năm.

*GẢ CHÁU GÁI CHO VUA*

Sinh ra trong gia đình giàu có nhất Đông Dương, ông Lê Phát An (1868-1946) là một phú hộ nổi tiếng thập niên 1930-1940 ở miền Nam. Cha ông là Lê Phát Đạt, còn gọi là Huyện Sĩ, là người đứng đầu của 4 người giàu nhất trong câu “Nhất Sĩ ( Sỹ) , Nhì Phương, Tam Xường, Tứ Hỏa”.

Ông Huyện Sĩ có cách giáo dục con cái rất nghiêm. Những người con của ông dù trai hay gái đều là những người thông minh, hiểu biết và biết phát huy tiềm lực kinh tế của gia đình.

Ông Lê Phát An từng được gia đình cho du học bên Pháp. Sau khi về nước, ông đã cùng vợ chồng người em là Lê Thị Bính lên Đà Lạt mở đồn điền trồng trà và cà phê. Người em này có một cô con gái vừa xinh đẹp vừa giỏi giang.

Theo nhiều tài liệu còn ghi lại, trong thời gian ở Đà Lạt, ông nhận được giấy mời của Đốc lý thành phố Đà Lạt là ông Darle. Darle mời ông An và cô cháu gái xinh đẹp đến dự dạ tiệc ở khách sạn Palace. Đặc biệt trong buổi dạ tiệc này có vua Bảo Đại tham dự.

Cháu gái ông – Nguyễn Hữu Thị Lan – không muốn dự nhưng được ông thuyết phục cũng đã miễn cưỡng đồng ý đến. Cô trang điểm nhẹ và mặc chiếc áo bình thường bằng lụa đen đến dự tiệc.

Nhờ được học qua các lễ nghi, cô Lan đã đến trước mặt hoàng thượng và hành lễ. Vua chào lại. Cũng vừa lúc ấy điệu nhạc tango vang lên. Vua mời cô cùng nhảy. Mối quan hệ bắt đầu nẩy nở từ đó cho đến năm 1934, Nguyễn Hữu Thị Lan trở thành Hoàng hậu Nam Phương.

Ngày cưới – cậu của hoàng hậu – ông An đã gởi đến cháu món quà mừng một triệu đồng bạc Đông Dương. Số tiền này tương đương với 20.000 lượng vàng.

Sau đó, Vua Bảo Đại đã phong tước An Định Vương, tước hiệu cao quý nhất của triều đình và chỉ phong cho một người duy nhất ở miền Nam thuộc hàng dân dã cho ông Lê Phát An.

Tuy có tước hiệu của triều đình nhưng ông An vẫn là một điền chủ. Ông được cha giao cho cai quản một khu đất rộng lớn ngày nay thuộc quận Gò Vấp, .

Nhờ biết làm ăn, ông đã đưa vùng đất này phát triển đến mức cực thịnh. Những việc làm của ông luôn được người dân đồng tình và ủng hộ. Vì là người có tước hiệu cao nhất trong triều đình, ông gặp nhiều thuận lợi trong việc thực hiện các chính sách đổi mới nhằm đưa mức sống của người dân lên cao.

Năm 1921, ông bỏ tiền ra thuê nhà thầu Baader và nhà thầu Lamorte xây dựng nhà thờ Hạnh Thông Tây trong 3 năm mới hoàn thành. Ngày 18/1/1932 bà Trần Thị Thơ mất. Sau 14 năm , ngày 17/9/1946, ông Lê Phát An qua đời.

Để ghi lại công ơn của đôi vợ chồng trong việc xây dựng ngôi nhà thờ, ông bà được an táng ngay bên trong thánh đường với những pho tượng tuyệt đẹp…

Bích Hải Trần.