Về cựu Tổng Thống Jimmy Carter (1924-2024) – Phùng Văn Phụng

Phùng Văn Phụng

Ông là vị Tổng thống thứ 39 (1977 – 1981) nghèo nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Ông sống trong một ngôi nhà giản dị, đơn sơ và thường mua đồ giảm giá tại Siêu thị.

Ông Jimmy Carter, vị Tổng thống Hoa Kỳ duy nhất không có dinh thự. Sau khi rời Nhà Trắng, ông và vợ sống trong một ngôi nhà nhỏ chỉ có giá trị 167.000 đô la. Tất cả đồ đạc của họ đều là đồ cũ được cha mẹ ông truyền lại. Chất lượng cuộc sống của ông có lẽ còn tệ hơn hầu hết mọi người.

Ông đã lái một chiếc Ford Taurus cũ trong nhiều năm, một chiếc xe đã hơn 25 năm tuổi.

Vậy tiền của ông đã đi đâu?

Ông là người sáng lập Trung tâm Carter và cũng đã chi không dưới 30 triệu đô la để chống lại bệnh mù sông và bệnh giun Guinea.  

Carter tiếp tục duy trì sự hợp tác tích cực và lâu dài với Tổ chức Hỗ trợ Gia cư (Habitat for Humanity), một tổ chức từ thiện Cơ Đốc với mục tiêu xây dựng nhà ở cho người nghèo.

Ông đã đích thân giúp xây nhà cho các gia đình thu nhập thấp và thậm chí còn tự tay xây hàng chục ngôi nhà, tiếp tục làm như vậy khi đã về già.

Cựu Tổng thống này đã qua đời tại nhà riêng ở Georgia vào khoảng 3:40 chiều theo giờ miền Đông vào ngày 29 tháng 12 năm 2024, thọ 100 tuổi.

Trích Từ Quora – (nguồn: haiphuoc47 & Nguyen NThu)

Trần Trung Đạo viết: “Tháng 6, 1981, người viết và hơn 80 đồng hương trên chiếc ghe chỉ dài hơn 10 mét, không thực phẩm, thiếu nước uống, đã được chiến hạm USS White Plains (AFS-4) vớt trên Biển Đông.

Chúng tôi biết ơn TT Jimmy Carter. Không có tổng thống, hàng trăm ngàn người Việt, trong đó có tôi, có thể đã chết trên Thái Bình Dương mênh mông đầy gió”.                                                                       

Hành động của TT Carter lúc đó không được dân chúng Mỹ đồng tình.

Theo thăm dò của Gallup, 57% chống đối chính sách tỵ nạn mới của TT Carter. Nhưng TT vẫn hành động theo lương tri và lòng thương cảm. Ông phát biểu: “Chúng ta sẵn sàng hành động với lòng trắc ẩn vốn là đặc điểm truyền thống của Hoa Kỳ khi đối mặt với những tình huống khủng hoảng con người như vậy.” (Catherine E. Shoichet, CNN, Sun June 4, 2023)

Đạo luật Tỵ Nạn (Refugee Act of 1980) được quốc hội Hoa Kỳ thông qua cuối năm 1979 và TT Jimmy Carter ký ban hành đầu 1980 đã nâng mức nhập cư người tỵ nạn từ 17,000 đến 50,000 người. Đây là một hành động của một vĩ nhân.

Báo Time đã lên hình của cựu Tổng Thống Jimmy Carter trên trang nhất tháng 01 năm 2025

******

Ngược lại lòng nhân từ là sự bạo ngược, trả thù.

Sau khi chiếm được miền Nam của cộng sản Bắc Việt, Đỗ Mười (Phó Thủ Tướng (1976-1981), Trưởng ban cải tạo Công thương nghiệp Xã hội chủ nghĩa) đã áp dụng học thuyết “đấu tranh giai cấp” nên đánh tư sản miền Nam, đuổi dân đi vùng kinh tế mới (những vùng nghèo nàn, đất hoang…) để trồng trọt, khai hoang… trả thù giai cấp, bắt giam, đày đọa, bỏ tù lâu dài những người ưu tú miền Nam như các nhà tư bản (gọi là tư bản bốc lột) ở miền Nam. Bắt giam, bỏ tù dài hạn các quân nhân, viên chức miền nam (gọi là cải tạo) có người bị ở tù đến 17 năm.

Hậu quả là nền kinh tế đất nước hoàn toàn kiệt quệ, đói kém, không có đủ gạo để ăn, phải ăn bo bo (thức ăn của trâu bò).

Lòng căm thù đã đẩy toàn dân Việt Nam vào hoàn cảnh khó khăn, chia ly, đau khổ, nghèo nàn … và người Việt phải tìm đường sống bằng cách vượt biên bằng những chiếc thuyền mỏng manh và đã bỏ mạng rất nhiều trong biển cả mênh mông.

Khác với cựu Tổng thống Jimmy Carter, cựu chủ tịch nước Việt Nam Cộng Sản Trần Đại Quang khi chết đã có khu mộ rộng đến khoảng 55,000 mét vuông (5 héc ta rưỡi)

Facebook Tạ Duy Anh- Hình ảnh khu mộ ông Trần Đại Quang

https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-49552560

Phùng Văn Phụng

Ngày 22 tháng 02 năm 2025


 

‘Thú tội trên truyền hình’ trước phiên tòa xét xử ông Lê Trung Khoa, Nguyễn Văn Đài

BBC

Chính phủ Việt Nam khép lại năm 2025 bằng hai phiên tòa “xuyên biên giới” thu hút sự chú ý của dư luận trong nước và quốc tế vào ngày 31/12.

Trong vụ thứ nhất, ông Lê Trung Khoa, 54 tuổi, quê Thanh Hóa, sẽ bị Tòa án nhân dân TP Hà Nội xét xử về hành vi “Làm, tàng trữ, phát tán, tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, theo khoản 2 Điều 117 Bộ luật Hình sự.

Nhà báo Lê Trung Khoa là chủ bút tờ Thoibao.de. Ông sống tại Đức, mang quốc tịch Đức và Việt Nam, nên đến nay công an Việt Nam chưa thể bắt giữ ông. Thay vào đó, Bộ Công an đã phát lệnh truy nã.

Ngoài ông Khoa, ba người khác bị đưa ra xét xử cùng tội danh trên gồm: ông Đỗ Văn Ngà (48 tuổi, quê Gia Lai), ông Huỳnh Bảo Đức (41 tuổi, TP HCM) và Phạm Quang Thiện (47 tuổi, quê Hưng Yên, trú tại phường Ô Chợ Dừa, Hà Nội).

Ông Thiện là cựu giám đốc Trung tâm Công nghệ và Truyền thông đa phương tiện thuộc Cổng thông tin điện tử Chính phủ.

Cả ba người này đều đang bị tạm giam.

Trong vụ án thứ hai cùng ngày, Tòa án nhân dân TP Hà Nội sẽ xét xử sơ thẩm luật sư Nguyễn Văn Đài (56 tuổi, quê Hưng Yên, hiện sống ở Đức).

Bị cáo Nguyễn Văn Đài bị Cơ quan an ninh điều tra Bộ Công an truy nã về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, quy định tại khoản 2 Điều 117 Bộ luật Hình sự.

Khoản 2 Điều 117 mà ông Khoa và ông Đài bị truy tố trong hai vụ khác nhau có hình phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.

Ông Nguyễn Văn Đài và ông Lê Trung Khoa bị xét xử vắng mặt do đang ở Đức, trong khi ông Ngà đã bị bắt giữ khi từ Thái Lan trở về Việt Nam vào tháng 11/2025.

Trong những ngày qua, báo chí chính thống do nhà nước kiểm soát tại Việt Nam đã đăng nhiều bài viết, phóng sự truyền hình về các bị cáo trong hai phiên tòa trên, tất cả đều theo hướng định tội dù chưa có phán quyết của tòa án.

Đáng chú ý, trong tối 28/12, ông Đỗ Văn Ngà đã xuất hiện trong một phóng sự truyền hình của Đài truyền hình Việt Nam VTV1, khóc và nhận tội trước máy quay.

Thú tội trên truyền hình

Ông Đỗ Văn Ngà khóc và thú tội trên sóng truyền hình quốc gia hôm 28/12/2025

Trong phóng sự phát trên sóng truyền hình quốc gia tối 28/12, ông Đỗ Văn Ngà nói nhiều lúc ông lấy tin sai sự thật để viết bài “câu view”, qua đó tiền từ người xem sẽ chảy vào Thoibao.de do ông Lê Trung Khoa làm chủ bút.

Ông Ngà nói rằng làm như vậy để kiếm tiền, ông đã “trượt dài” nên nghĩ rằng “phải quay trở về đối diện với pháp luật Việt Nam, sẵn sàng chịu mọi hình phạt và mong Đảng và Nhà nước khoan hồng”.

Theo cáo trạng, từ năm 2020, ông Ngà được ông Khoa móc nối, giao nhiệm vụ viết các bài “nói xấu Đảng và Nhà nước”.

Phóng sự này còn cho biết thêm ông Ngà khai rằng ông Khoa móc nối với nhiều người khác ở Thái Lan để đặt viết bài, sau đó thông qua ông để trả tiền cho họ.

Tính đến thời điểm bị bắt vào tháng 11/2025, ông Ngà bị cáo buộc nhận của ông Khoa hơn 41.000 euro tiền nhuận bút, tương đương 1,2 tỷ đồng.

Báo chính thống của Việt Nam không nêu rõ hoàn cảnh ông Ngà bị bắt.

Tuy nhiên, theo Liên đoàn Nhà báo Quốc tế (IFJ), ông Đỗ Văn Ngà được xác định “biến mất” vào ngày 8/11/2025, ngay sau khi từ Thái Lan hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất ở TP HCM và không rõ tung tích sau đó.

Chín ngày sau, tức là vào 17/11/2025, IFJ xác nhận ông bị chính quyền Việt Nam bắt giữ với cáo buộc “tuyên truyền chống nhà nước” theo Điều 117 Bộ luật Hình sự.

Theo IFJ, ông Ngà bị bắt ngay khi đang làm thủ tục nhập cảnh. Mục đích trở về Việt Nam của ông là để gia hạn hộ chiếu.

Ông Y Quynh Bđắp xuất hiện trên truyền hình, thú nhận đã “chỉ đạo” vụ nổ súng ở Đắk Lắk năm 2023

Bắt buộc bị cáo nhận tội và bày tỏ sự ăn năn công khai trên sóng truyền hình là cách làm không mới của công an và Đài Truyền hình Quốc gia Việt Nam.

Bên cạnh ông Ngà, một người khác trong một vụ án khác là ông Y Quynh Bđắp cũng bị buộc phải lên sóng truyền hình quốc gia thú tội hôm 29/12.

Ông Bđắp – nhà hoạt động người Ê đê, đồng sáng lập tổ chức Người Thượng vì Công lý – nói trước ống kính rằng ông đã chỉ đạo thực hiện vụ tấn công hai đồn công an ở Đắk Lắk vào năm 2023 khiến 4 công an, 2 cán bộ xã và 3 người dân thiệt mạng.

Ông cũng nói rằng đã được công an đối xử rất tốt, rằng ông hối hận và mong các nạn nhân của vụ “khủng bố” tha thứ.

Ông Bđắp từng bị tòa án Đắk Lắk xét xử vắng mặt vào tháng 1/2024 liên quan đến vụ việc nói trên và bị kết án 10 năm tù.

Ông luôn phủ nhận mọi cáo buộc, cho tới khi xuất hiện trên truyền hình hôm 29/12/2025.

Ông Bđắp bị dẫn độ từ Thái Lan về Việt Nam hôm 28/11 bất chấp các cảnh báo của nhiều tổ chức nhân quyền quốc tế về nguy cơ ông sẽ chịu tù đày và tra tấn.

Trước đó, ông tị nạn tại Thái Lan và có trong danh sách tị nạn của Cao ủy Nhân quyền Liên Hợp Quốc.

Theo một báo cáo chuyên sâu được Safeguard Defenders (SD – tổ chức nhân quyền có trụ sở ở Tây Ban Nha) xuất bản năm 2000, Việt Nam đã sử dụng hình thức “thú tội trên truyền hình” như một công cụ tuyên truyền, có thể bắt đầu từ năm 2007.

Hai trường hợp “thú tội trên truyền hình đầu tiên” mà tổ chức này ghi nhận là của luật sư Nguyễn Văn Đài (trong một vụ án cũ của ông Đài) và nhà bất đồng chính kiến Lê Thị Công Nhân năm 2007.

Theo thống kê của tổ chức này, đã có ít nhất 21 trường hợp “thú tội trên truyền hình” ở Việt Nam kể từ 2007 đến 2020.

Các nhóm phải “thú tội” bao gồm luật sư nhân quyền, nhà báo, các nhà hoạt động và người dân trong xung đột đất đai.

Báo cáo của SD cũng chỉ ra rằng hiện tượng “thú tội trên truyên hình” ở Việt Nam có một số nét tương đồng với mô hình mà Trung Quốc từng thực hiện và cho rằng Việt Nam có thể đã “học hỏi từ Trung Quốc”.

Ông Vũ Quốc Ngữ, Giám đốc Defend the Defenders (DD), tổ chức phối hợp với SD để thực hiện báo cáo nói trên, nói với BBC News Tiếng Việt năm 2020 rằng buộc thú tội trên truyền hình là một hình thức ép cung và bị cấm bởi luật pháp Việt Nam, bao gồm điều luật cấm bức cung trong Bộ luật Hình sự và quy định về suy đoán vô tội trong Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Theo luật pháp Việt Nam, người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định và có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Điều 60 Bộ luật Tố tụng Hình sự cũng khẳng định bị can có quyền “Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội”.

Báo cáo của SD cũng chỉ ra rằng “thú tội trên truyền hình” vi phạm các công ước nhân quyền mà Việt Nam đã tham gia, ký kết.

Trong đó, Điều 11 của Tuyên ngôn Nhân quyền phổ quát viết rằng: “Bị cáo về một tội hình sự được suy đoán là vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng phạm pháp trong một phiên xử công khai với đầy đủ bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ.”

Một số ý kiến của các luật sư tại Việt Nam cũng cho rằng việc thú tội trên truyền hình là vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội.

Theo đó, thú tội trên truyền hình không đảm bảo là chứng cứ để sử dụng trong vụ án mà còn làm bản chất vụ án bị hiểu sai, khiến việc kết tội trở nên hiển nhiên.

Trong khi, lẽ ra mọi chứng cứ và việc chứng minh có tội hay không phải qua một quá trình tố tụng và chỉ được xem xét thẩm tra trực tiếp tại tòa.

Ông Trịnh Xuân Thanh “thú tội trên truyền hình” năm 2017

Trường hợp thú tội trên truyền hình “chấn động” nhất có thể kể đến là vụ ông Trịnh Xuân Thanh, một cựu quan chức bị cáo buộc tham nhũng.

Sau thời gian lẩn trốn tại Đức, vào ngày 31/7/2017, ông Trịnh Xuân Thanh bỗng xuất hiện và “thú tội” trên truyền hình ở Việt Nam.

Chính phủ Đức cho tới nay vẫn cáo buộc công an Việt Nam đã bắt cóc ông Thanh vào năm 2017, khi ông đang lánh nạn tại Đức và vụ việc này đã gây rạn nứt mối quan hệ giữa hai nước trong một thời gian dài.

Ngoài ra, còn có vụ thú tội trên truyền hình của ba người dân thôn Hoành ngày 13/1/2020, trong đó có con và cháu ông Lê Đình Kình – một đảng viên lão thành – người thiệt mạng trong vụ đụng độ với lực lượng cảnh sát tại Đồng Tâm vào ngày 9/1/2020 liên quan tới tranh chấp đất đai.

Năm 2018, Will Nguyễn – một sinh viên người Mỹ gốc Việt – cũng bị buộc phải thú tội trên truyền hình sau khi anh bị bắt giữ và khởi tố do tham gia biểu tình phản đối Formosa ở TP Hồ Chí Minh.

Xét xử vắng mặt và khả năng dẫn độ

Play video, “Nhà hoạt động Nguyễn Văn Đài: 30 năm vẫn đấu tranh”, Thời lượng 5,18

05:18

Nhà hoạt động Nguyễn Văn Đài: 30 năm vẫn đấu tranh

Ông Lê Trung Khoa và ông Nguyễn Văn Đài vẫn đang sinh sống và làm việc tại Đức sau khi cơ quan công an Việt Nam phát lệnh truy nã.

Hiện chưa rõ Việt Nam đã chính thức yêu cầu chính phủ Đức dẫn độ ông Khoa và ông Đài về Việt Nam hay chưa.

BBC News Tiếng Việt đã liên hệ với cơ quan chức năng tại Đức để đề nghị bình luận về việc này.

Tòa án Nhân dân TP Hà Nội đã tuyên bố sẽ xét xử vắng mặt hai ông, đồng thời kêu gọi họ đầu thú để hưởng khoan hồng.

Cho tới nay, Việt Nam và Đức chưa ký kết hiệp ước dẫn độ.

Theo luật pháp hiện hành, nếu “bị can đang cư trú tại nước mà Việt Nam không có hiệp định dẫn độ thì việc dẫn độ không đơn giản” do “Việt Nam không có cơ sở pháp lý” để đề nghị thực hiện việc dẫn độ này, luật sư Lê Quốc Nghĩa, Phó Giám đốc Hãng luật Lê Hồng Hiển & Cộng sự, giải thích với BBC News Tiếng Việt hồi tháng 11/2025.

Trong trường hợp này, nếu muốn đưa bị can về nước thì Việt Nam có thể dựa trên nguyên tắc “có đi có lại”.

“Đây là nguyên tắc dựa trên cơ sở quan hệ giữa hai nước, sự tin cậy, thiện chí và sự cam kết khả năng dẫn độ trong tương lai với những trường hợp tương tự. Nói cách khác, dù không có thỏa thuận dẫn độ nhưng hai nước đã từng có hợp tác thực hiện thủ tục này thì Việt Nam có thể dựa vào đó để đề nghị giúp đỡ tương tự.

“Thường thì việc đề nghị dẫn độ trên nguyên tắc ‘có đi có lại’ sẽ được thực hiện bằng con đường ngoại giao giữa hai chính phủ. Tuy nhiên, trên cơ sở chủ quyền quốc gia, việc có dẫn độ người bị bắt hay không lại tùy thuộc vào quyết định của nước đã bắt giữ bị can,” ông Nghĩa nói.

Ông Khoa đã sinh sống tại Đức nhiều năm và là chủ bút trang Thoibao.de với nhiều bài viết bình luận về các chủ đề chính trị, xã hội tại Việt Nam.

Trong cuộc trả lời phỏng vấn BBC News Tiếng Việt mới đây, ông cho biết mình mang quốc tịch Đức từ năm 2024 nhưng vẫn giữ hộ chiếu Việt Nam.

Sau khi Bộ Công an tuyên bố truy nã, ông Lê Trung Khoa đã tự livestream ông trước cổng Đại sứ quán Việt Nam tại Đức và cho hay ông có quyền tự do ngôn luận tại Đức và được luật pháp Đức bảo vệ.

Ở trường hợp luật sư Nguyễn Văn Đài, ông nói với BBC News Tiếng Việt rằng hiện ông chỉ có hộ chiếu Việt Nam. Tuy nhiên, ông được chính phủ Đức chính thức tiếp nhận tị nạn chính trị, do đó được nước này bảo vệ.

Ông nói thêm rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đang muốn dập tắt tiếng nói bất đồng của người Việt ở hải ngoại.

Là một luật sư và nhà bất đồng chính kiến, ông Đài từng bị chính quyền kết án tù hai lần vào năm 2007 và 2018, lần lượt với án tù bốn năm và 15 năm, 5 năm quản chế, với cáo buộc “tuyên truyền chống nhà nước”.

Đêm 7/6/2018, ông được đưa ra khỏi nhà tù tới sân bay quốc tế Nội Bài để sang Đức tị nạn chính trị.

Từ khi tới Đức cho đến nay, ông Nguyễn Văn Đài tiếp tục chỉ trích gay gắt Đảng Cộng sản và giới lãnh đạo Việt Nam.

Việc hiện chưa có hộ chiếu Đức, theo ông Đài, có thể gây một chút bất lợi cho ông trong trường hợp ông rời nước Đức để đi du lịch tới một số nước thân thiện với Việt Nam, khi chính quyền Việt Nam muốn truy bắt ông. Nếu ông chỉ ở trong nước Đức thì ông được chính phủ Đức bảo vệ.

“Cảnh sát Đức bất cứ khi nào nhận được thông tin có những sự kiện gây bất lợi cho tôi về an ninh, họ sẽ đến nhà để hướng dẫn tôi cách tránh những rủi ro có thể xảy đến,” ông chia sẻ.

Cả ông Đài và ông Khoa đều cho hay hai ông sẽ “cẩn trọng hơn” trước các diễn biến mới từ Việt Nam, đồng thời đã thông báo về các vụ khởi tố, truy nã… cho cơ quan chức năng Đức.

Play video, “Bộ Công an Việt Nam khởi tố, ông Lê Trung Khoa lên tiếng”, Thời lượng 8,39

08:39

Bộ Công an Việt Nam khởi tố, ông Lê Trung Khoa lên tiếng


 

Quận Cam Đối Mặt Nguy Cơ Cắt Giảm Trợ Cấp Thực Phẩm Và Medi-Cal

Ba’o Dat Viet

November 29, 2025

 Trong khi hàng ngàn gia đình nghèo ở Orange County đang chuẩn bị đón Lễ Tạ Ơn và mùa Giáng Sinh, một cơn sóng ngầm âm thầm đe dọa cuộc sống của họ: chính quyền liên bang bắt đầu cắt giảm mạnh các chương trình trợ cấp thực phẩm và bảo hiểm y tế.

Theo tường thuật của Voice of OC ngày 25/11, các cơ quan xã hội trong quận hạt – gồm Sở Dịch Vụ Xã Hội, CalOptima, và OC Food Banks – đang đối diện một giai đoạn đầy bất an khi Đạo luật “To và Đẹp” (HR1), do Tổng thống Donald Trump ký ban hành vào ngày 4/7, chính thức có hiệu lực. Luật này cắt giảm $1,000 tỷ cho bảo hiểm y tế Medi-Cal và $4.5 tỷ cho chương trình CalFresh (Food Stamps) – vốn là nguồn sống thiết yếu của hàng trăm ngàn người thu nhập thấp ở California.

Tại Orange County, hơn 300,000 cư dân – tức khoảng 10% dân số quận hạt – đang nhận trợ cấp CalFresh, trong khi gần 900,000 người, tương đương 29% dân số, đang hưởng Medi-Cal thông qua CalOptima. Nhưng con số này có nguy cơ sụt giảm mạnh khi luật mới thắt chặt tiêu chuẩn hưởng trợ cấp.

Ông An Trần, Giám đốc Sở Dịch Vụ Xã Hội Orange County, cảnh báo:

“Chúng tôi đang phải đối mặt với sự thay đổi quá nhanh, trong khi hệ thống trợ giúp người nghèo vốn đã không đủ ngân sách. Rất nhiều gia đình sẽ phải dựa vào các nhà thờ, bếp ăn thiện nguyện hoặc trung tâm phân phát thực phẩm chỉ để sống qua ngày.”

Theo ông Trần, chương trình CalFresh của quận có thể mất hơn $44 triệu, đồng thời người thụ hưởng Medi-Cal trong độ tuổi 19–64 sẽ phải tái ghi danh mỗi sáu thángtrả thêm phí khi khám bệnh kể từ năm 2028. Đáng chú ý, từ năm 2027, người nhận Medi-Cal sẽ bị buộc phải có việc làm mới được hưởng bảo hiểm y tế – một yêu cầu bị nhiều tổ chức xã hội phản đối vì cho rằng “phi thực tế” với người tị nạn, người khuyết tật và các gia đình có hoàn cảnh đặc biệt.

Sự cắt giảm này không chỉ ảnh hưởng đến những người trưởng thành. Học sinh các trường công lập Orange County cũng bị liên lụy, khi nhiều em mất tiêu chuẩn nhận bữa trưa miễn phí do ngân khoản liên bang bị rút.
Kristin Hilleman, Giám đốc Dịch vụ Dinh dưỡng Học khu Capistrano, cho biết:

“Chúng tôi sẽ tiếp tục cung cấp bữa trưa miễn phí cho học sinh cho đến khi luật buộc phải dừng. Nhưng nếu ngân sách liên bang giảm, chúng tôi sẽ phải lấy tiền từ quỹ giáo dục – điều mà không ai muốn.”

Ngoài học đường, các food bank trong quận hạt đang bị đẩy vào tình trạng quá tải.
Ông Mark Lowry, Giám đốc OC Food Bank, lo ngại:

“Ngay cả trong tình huống tốt nhất, chúng tôi vẫn phải xoay sở từng đồng để có đủ thực phẩm. Nếu nguồn trợ cấp bị giảm thêm, Orange County sẽ thực sự rơi vào tình trạng bên bờ vực thiếu thực phẩm.”

Trong giai đoạn chính phủ liên bang tạm đóng cửa 43 ngày – dài nhất lịch sử nước Mỹ – hàng trăm ngàn cư dân OC đã “nếm mùi” không có CalFresh. Khi ấy, CalOptima phải chi $5 triệu để tặng thẻ $25 mua thức ăn cho người dân và tài trợ thêm $3 triệu cho hai tổ chức Second Harvest Food BankCommunity Action Partnership.
Tuy nhiên, theo bà Claudia Bonilla Keller, Giám đốc Second Harvest Food Bank, “những thiệt hại ấy chưa bao giờ được khắc phục hoàn toàn”:

“Ngay cả sau khi chính phủ mở cửa lại, chúng tôi vẫn chưa hồi phục được. Ảnh hưởng của việc mất trợ cấp CalFresh lan tới tận năm 2026.”

Orange County được xem là một trong những khu vực giàu nhất nước Mỹ, nhưng sau đại dịch COVID-19 và khủng hoảng lạm phát, tình trạng mất an ninh thực phẩm vẫn chưa chấm dứt. Những người lao động nhập cư, người già và người tị nạn là nhóm bị tổn thương nặng nề nhất, nhất là khi họ e ngại bị trục xuất nên không dám tiếp cận các trung tâm trợ giúp.

Bà Keller kêu gọi cộng đồng hãy lên tiếng:

“Hãy gọi cho dân biểu của quý vị. Hãy yêu cầu họ bảo vệ chương trình CalFresh. Không ai ở quận hạt này – một nơi đầy ắp siêu thị và nhà hàng – đáng phải đi ngủ với chiếc bụng rỗng.”

Với các cắt giảm đang đến gần, Orange County – dù giàu có và thịnh vượng – vẫn đang đứng bên bờ vực của một cuộc khủng hoảng nhân đạo âm thầm, nơi những người nghèo phải vật lộn giành lại từng bữa ăn trong mùa lễ hội của nước Mỹ.


 

Vì sao sếp nhà máy quốc phòng Nga tự thiêu ở Quảng trường Đỏ? – BBC

BBC

Hình ảnh các xe tăng và xe bọc thép của Nga bị phá hủy tại làng Dmytrivka, phía tây Kyiv, Ukraine hồi năm 2022

28 tháng 12/ 2025

Cuộc xâm lược toàn diện của Nga vào Ukraine đã mở ra một mỏ vàng tiềm năng cho Vladimir Arsenyev, theo Reuters.

Nhà khoa học 75 tuổi này đứng đầu một công ty tại Moscow chuyên sản xuất linh kiện cho thiết bị liên lạc dùng trong các kíp lái xe tăng.

Khi xe tăng Nga tiến vào Ukraine năm 2022, doanh nghiệp của ông ngập trong các đơn đặt hàng quốc phòng.

Nhưng những đơn hàng mà ông giành được hóa ra lại là chén thuốc độc, ông kể lại trong một loạt cuộc phỏng vấn. Đây là lần đầu tiên ông lên tiếng công khai về những khó khăn của mình. Ông đã phải tăng tốc sản xuất với tốc độ chóng mặt và giao hàng đúng hạn với mức giá do Bộ Quốc phòng Nga ấn định.

Thất bại là điều không thể chấp nhận. Gợi lại bóng ma của nhà độc tài Xô Viết Joseph Stalin, chính phủ Nga đã đe dọa các nhà sản xuất quốc phòng bằng án tù nếu họ không thực hiện đúng các nghĩa vụ hợp đồng.  

Đến mùa xuân năm 2023, nhà máy của Arsenyev đã bị chậm tiến độ sản xuất và các giám đốc cấp cao bắt đầu đấu đá lẫn nhau, theo các cuộc phỏng vấn với hai nhân vật chủ chốt và hồ sơ tòa án.

Sergei Mosiyenko, một cổ đông thiểu số, cho hay ông nhận thấy công ty sắp lỡ thời hạn bàn giao nên đã báo cáo vụ việc. “Bộ Quốc phòng là khách hàng,” ông nói. “Họ luôn luôn đúng.”

Vị giám đốc nhà máy nói những quan chức mà ông tìm đến để nhờ giúp đỡ đều phớt lờ ông.

 Khi công ty đang bên bờ vực phá sản, Arsenyev đã đi bộ vào Quảng trường Đỏ ở Moscow vào ngày 26 /7/2024. Phía ngoài Điện Kremlin, gần lăng của người sáng lập nhà nước Xô Viết Vladimir Lenin, ông đã đổ xăng lên người và tự thiêu.

Ông kể mình đã phải nằm viện nhiều tuần với những vết bỏng nặng.

Trả lời từ bệnh viện, Arsenyev phủ nhận việc các hợp đồng đang gặp rắc rối. Ông cho rằng những người muốn hãm hại ông đã gửi các khiếu nại vô căn cứ đến cơ quan chức năng.

“Tại sao một công ty – vẫn nhận được đơn hàng ngày càng nhiều và vẫn hoàn thành các đơn hàng đó – lại có thể đang chết dần được?” ông đặt câu hỏi. “Điều đó cho thấy có thể đang có một vấn đề nào đó.”

Điện Kremlin và Bộ Quốc phòng Nga đã không phản hồi các câu hỏi chi tiết về trường hợp của Arsenyev cũng như cách họ xử lý các hợp đồng quốc phòng nói chung.

Công nghiệp quốc phòng chịu áp lực

Hình ảnh những chiếc xe tăng Nga bị phá hủy gần làng Bohorodychne thuộc vùng Donetsk, Ukraine năm 2024

Những khó khăn tại công ty của Arsenyev, Viện Nghiên cứu Khoa học Trung ương Volna, đã phơi bày các áp lực đè nặng lên các doanh nghiệp quốc phòng Nga, vốn đã phải đối mặt với yêu cầu tăng tốc sản xuất trong nhiều năm qua.

Khó khăn của Arsenyev không phải là cá biệt, theo kết quả các phán quyết của tòa án Moscow.

Dựa trên các tài liệu được đăng tải trên trang web của các tòa án thẩm quyền chung tại Moscow, đã có ít nhất 34 người phải đối mặt với cáo buộc hình sự vì làm gián đoạn các đơn đặt hàng quốc phòng của nhà nước kể từ khi cuộc chiến Ukraine bắt đầu. Trong số đó có ít nhất 11 giám đốc công ty và 2 quản lý cấp cao.

Kể từ khi Tổng thống Nga Vladimir Putin ra lệnh đưa quân vào Ukraine vào tháng 2/2022, các nhà sản xuất của nước này đã tăng sản lượng đạn pháo, tên lửa, xe tăng và thiết bị không người lái (drone), vượt xa khả năng sản xuất hoặc nguồn cung từ các đồng minh phương Tây của Kyiv.

Tuy nhiên, theo Mathieu Boulegue, chuyên gia tư vấn tại Viện nghiên cứu Chatham House (Anh), cùng một số nhà phân tích an ninh phương Tây khác, lĩnh vực này cũng đang bị kìm hãm do sự kém hiệu quả và tham nhũng, dẫn đến chi phí leo thang, trì hoãn sản xuất và không đạt chỉ tiêu.

Trả lời phỏng vấn, ông Boulegue cho hay phản ứng của Điện Kremlin – bao gồm việc tập trung quyền quyết định vào Bộ Quốc phòng và tập đoàn quốc phòng nhà nước Rostec, đồng thời áp đặt các quy tắc cứng nhắc lên các nhà thầu – đang làm tổn hại đến khả năng đổi mới và hiện đại hóa của các công ty.

Trong một bài viết hồi tháng Bảy, ông Boulegue đánh giá trong ngắn hạn, điều này có thể sẽ không ảnh hưởng đến khả năng đe dọa của Nga đối với Ukraine và phương Tây, nhưng “sẽ khiến Nga khó duy trì sức cạnh tranh với các đối thủ của mình hơn”.

Tập đoàn Rostec đã bác bỏ và gọi những khẳng định về sự “suy thoái” của ngành công nghiệp quốc phòng Nga là “những câu chuyện tuyên truyền”.

“Mọi thứ của ngành công nghiệp quốc phòng Nga đều ổn,” Rostec tuyên bố trên tài khoản Telegram của mình. “Các đối thủ phương Tây chỉ có thể mơ về tốc độ tăng trưởng mà Rostec đang thể hiện.”

Tuy nhiên, rốt cuộc thì quân đội đã không nhận được các thiết bị cần thiết đúng hạn, theo Luch Factory – đơn vị lắp ráp các thiết bị liên lạc và thuộc sở hữu chung của Rostec thông qua một chuỗi công ty.

Trong báo cáo thường niên năm 2023, Luch Factory chỉ ra nguyên nhân một phần là do công ty của Arsenyev đã không cung cấp linh kiện đúng dự kiến, một cáo buộc mà Arsenyev phủ nhận. Báo cáo không nêu rõ quy mô đơn hàng hay thời gian trì hoãn là bao lâu.

Giám đốc Luch Factory, ông Andrei Pestryaev, từ chối cung cấp chi tiết.

Arsenyev cho biết một tranh chấp với chính phủ về giá linh kiện của Volna đã khiến công ty rơi vào tình trạng thiếu hụt tài chính.

Sau đó, các tài khoản của công ty đã bị phong tỏa do nợ thuế, theo thông tin từ Arsenyev và SPARK, một cơ sở dữ liệu do hãng thông tấn Interfax của Nga tạo ra để tổng hợp thông tin từ các hồ sơ doanh nghiệp và nhà nước. Lương nhân viên không được chi trả, dẫn đến các vụ kiện tụng.

“Chúng tôi đột nhiên thấy mình cận kề bờ vực phá sản,” ông Arsenyev nói.

Trang web của các nhân viên thi hành án cho thấy, khi họ được triệu tập để thu hồi nợ vào tháng 9/2024, họ đã không thể tìm thấy tài sản nào có thể tịch thu.

Để đáp ứng nhu cầu của quân đội, Luch Factory đã phải tự thiết kế và sản xuất phiên bản linh kiện riêng thay thế cho Volna, ông Pestryaev nói.

Tính đến tháng Một, các thiết bị của Luch Factory đang bị thiếu hụt, một thương nhân kinh doanh thiết bị quân sự, người cung cấp hàng cho các đơn vị tiền tuyến của Nga, cho hay trong điều kiện ẩn danh. Chưa thể xác định liệu tình trạng này còn tiếp diễn hay không. Ông Pestryaev từ chối bình luận.

Rostec đã không trả lời các câu hỏi về vụ việc này hay cách xử lý các hợp đồng quốc phòng. Phía quân đội cũng không đưa ra bình luận nào.


 

Sau ‘phụng sự’ tới thoái bộ và sốc – Trân Văn

Ba’o Nguoi-Viet

December 28, 2025

Trân Văn

Vingroup đã rút lại “đăng ký đầu tư” vào dự án “Đường sắt tốc độ cao Bắc-Nam” (dự án ĐSTĐC Bắc Nam)! Nếu chịu khó theo dõi hoạt động của Vingroup từ thập niên 1990 đến nay thì điều đó là bình thường. Vingroup từng tuyên bố đầu tư vào nhiều lĩnh vực rồi buông ngay, hoặc ngừng giữa đường  (VinDS, Vinlink, VinExpress, VinMart, Vinsmart, Vinpearl Air,…), hay thu hẹp hoạt động như VinFast ở Mỹ, ở Liên Âu.

VinSpeed, một công ty con thuộc tập đoàn Vingroup của tỷ phú Phạm Nhật Vượng bất ngờ rút khỏi dự án “Đường sắt tốc độ cao Bắc-Nam.” (Hình minh họa: Vietnam Finance)

Tuy nhiên, vì nhiều lý do, quyết định vừa kể của Vingroup có một số điểm đáng bàn. Tháng Năm vừa qua, Vingroup đề nghị được đầu tư vào dự án ĐSTĐC Bắc Nam, dài 1,541 cây số kết nối Hà Nội và TP. HCM, với tổng vốn đầu tư khoảng $67 tỷ. Đề nghị đó khiến thiên hạ sửng sốt vì Vingroup muốn vay 80% giá trị suất đầu tư từ công quỹ với lãi suất 0% trong 35 năm. Điều đó chẳng khác gì đẩy rủi ro cho chính quyền, chính xác hơn là dân chúng chia nhau gánh vác.

Thế rồi đến Tháng Mười Một, Vingroup tuyên bố vẫn giữ ý định đầu tư vào dự án ĐSTĐC Bắc Nam nhưng sẽ loại bỏ TOD khỏi đề nghị đầu tư. TOD là viết tắt của “Transit Oriented Development,” phát triển đô thị định hướng giao thông công cộng, nôm na là thực hiện mô hình quy hoạch đô thị mà ở đó các khu dân cư, các trung tâm thương mại-dịch vụ sẽ được xây dựng quanh các trung tâm vận tải công cộng như nhà ga của hệ thống đường sắt, hệ thống metro, …

Bởi vì TOD đồng nghĩa với lợi nhuận – động lực đầu tư. Bỏ TOD có nghĩa là lắc đầu với nguồn lợi khổng lồ, nhưng Vingroup vẫn khẳng định sẽ theo đuổi dự án nên thiên hạ hoang mang. Có tờ báo của Việt Nam nhận định, đại ý: Đó là lựa chọn mang dấu ấn của “tinh thần phụng sự.” Nhà nước được một dự án đường sắt theo cách nhanh nhất, còn Vingroup được vị thế nhưng mất tiền, mất dòng tiền và thậm chí mất an toàn tài chính.

“Tinh thần phụng sự” ấy chỉ tồn tại chưa đầy một tháng bởi vì Vingroup vừa rút “đăng ký đầu tư” vào dự án ĐSTĐC Bắc Nam với lý do cần tập trung nguồn lực vào các dự án hạ tầng, năng lượng trọng điểm, để gia tăng năng lực cho quốc gia như: Khu đô thị thể thao Olympic tại Hà Nội với diện tích khoảng 9,000 héc ta, tổng vốn đầu tư từ $35 tỷ tới $38 tỷ. Tuyến đường sắt tốc độ cao Bến Thành – Cần Giờ, tổng vốn đầu tư khoảng $4 tỷ. Tuyến đường sắt tốc độ cao Hà Nội – Quảng Ninh, tổng vốn đầu tư khoảng $5 tỷ. Chưa kể Vingroup khẳng định đang dốc toàn lực cho hàng loạt dự án hạ tầng, công nghiệp, và năng lượng quan trọng khác như: Siêu đô thị biển Cần Giờ (tổng vốn đầu tư khoảng $2.5 tỷ). Nhà máy sản xuất thép VinMetal (tổng vốn đầu tư khoảng $380 triệu), hai nhà máy điện gió tại Hà Tĩnh (tổng vốn đầu tư khoảng $1.5 tỷ), nhà máy Nhiệt Điện LNG Hải Phòng (tổng vốn đầu tư khoảng $6.8 tỷ),…

Theo Vingroup, vì còn vài tập đoàn cả tư nhân lẫn nhà nước cũng muốn đầu tư vào dự án ĐSTĐC Bắc Nam nên việc tập đoàn này rút lui sẽ không ảnh hưởng đến việc triển khai dự án này. Vingroup khẳng định đó là vì trách nhiệm trước chính phủ nhằm bảo đảm sẽ thực hiện tốt những dự án đã được giao, góp phần phát triển hạ tầng giao thông, năng lượng tái tạo, và đô thị theo hướng hiện đại, bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và chất lượng sống của người Việt.

Chưa rõ chính phủ Việt Nam có chia sẻ quan điểm này hay không nhưng trên thực tế, quyết định của Vingroup làm không ít người sốc, trong đó có những cá nhân, những nhóm rót vốn đầu tư vào thị trường chứng khoán. Theo Thị Trường Tài Chính (TTTC – chuyên san của Kinh Tế và Đô Thị), từ Tháng Bảy, sau khi Vingroup công bố sẽ tham gia dự án ĐSTĐC Bắc Nam, cổ phiếu VIC tăng một mạch 230.54% từ mức 45,950 đồng/cổ phiếu lên 169,900 đồng/cổ phiếu.

Còn tờ Tuổi trẻ thì kể rằng tin Vingroup quyết định rút lại “đăng ký đầu tư” vào dự án ĐSTĐC Bắc Nam làm nhóm cổ phiểu của tập đoàn đồng loạt giảm hết biên độ. Trong khi Tuổi Trẻ gọi đó là “nằm sàn” thì TTTC gọi đó là “lau sàn.” Znews cho biết, không chỉ nhà đầu tư vào các cổ phiếu liên quan tới Vingroup bị ảnh hưởng mà các nhà đầu tư vào những cổ phiếu khác cũng bị vạ lây. Thị trường chứng khoán Việt Nam trải qua cú rơi đột ngột chỉ trong vòng vài phút cuối phiên 25 Tháng Mười Hai. VN-Index mất khoảng 40 điểm.

VnExpress ước đoán “cú rơi đột ngột vừa kể” có thể khiến tài sản của ông Phạm Nhật Vượng tổn thất khoảng $1.9 tỷ. CafeF thì nhận định, “vốn hóa thị trường của hệ sinh thái Vingroup bị thổi bay hàng trăm nghìn tỷ đồng qua các phiên sau tin rút lui” nhưng không ai, nơi nào thử tính xem các nhà đầu tư với tư cách cá nhân, đặc biệt những người gần đây bắt đáy cổ phiếu VIC/H với giá cao đã thiệt hại ra sao.

Trong thực tế, chuyện doanh nghiệp đa ngành đột ngột chuyển hướng không hiếm, nhưng việc quảng bá rầm rộ những dự định, kế hoạch của Vingroup tạo ra sự hưng phấn nơi công chúng, thu hút sự quan tâm của thị trường, khiến cố phiếu tăng giá. Cũng vì vậy, khi Vingroup thoái bộ, đặc biệt là khi họ rút khỏi những dự án có quy mô lớn, được kỳ vọng cao, rất khó xác định thiệt hại mà các nhà đầu tư vào thị trường chứng khoán phải gánh chịu!

***

Không phải tự nhiên mà gần đây, nhiều người bày tỏ sự lo ngại trên mạng xã hội về các đại dự án mà Vingroup được chọn để đầu tư như siêu đô thị biển Cần Giờ, khu đô thị thể thao Olympic tại Hà Nội, các tuyến đường sắt tốc độ cao,… Với những gì đã biết và đang thấy, không ai rõ kết quả sẽ như thế nào. Liệu việc triển khai có tạo ra thêm cú sốc nào cho kinh tế-xã hội Việt Nam vốn đang thiếu cả niềm tin về tương lai lẫn nhiều yếu tố để ổn định? [đ.d.]


 

Giảm Án Hàng Loạt Quan Chức Nhận Hối Lộ: Một Phán Quyết Gây Bức Xúc

Ba’o Dat Viet

December 23, 2025

Phiên phúc thẩm kéo dài gần hai tuần tại Hà Nội đã khép lại hôm 22 Tháng Mười Hai với kết quả khiến dư luận không khỏi chua chát: hàng loạt quan chức cấp cao từng giữ trọng trách ở Vĩnh Phúc và Quảng Ngãi được giảm án đáng kể, dù tội danh nhận hối lộ đều đã rõ ràng.

Báo Tuổi Trẻ cho biết nhân vật gây chú ý nhất – Hoàng Thị Thúy Lan, cựu bí thư Tỉnh Ủy Vĩnh Phúc, người gắn với giai thoại “một ngón tay, một triệu đô” – được giảm án từ 14 năm xuống còn 11 năm 6 tháng tù. Lý do mà Hội Đồng Xét Xử đưa ra: bị cáo xuất trình thêm huân chương, bằng khen, cùng nhiều tình tiết về “hoàn cảnh gia đình khó khăn” và “mắc nhiều bệnh”.

Sự khoan hồng này không phải trường hợp cá biệt. Lê Duy Thành, cựu chủ tịch tỉnh Vĩnh Phúc, được giảm từ 12 năm xuống còn tám năm rưỡi tù, chỉ vì đã nộp thêm tiền “khắc phục hậu quả” và được đánh giá là “tích cực hoạt động thiện nguyện”. Phạm Hoàng Anh, cựu phó bí thư thường trực tỉnh, cũng được giảm từ tám xuống sáu năm tù.

Điều gây phản ứng mạnh trong dư luận hải ngoại lẫn trong nước là việc nhiều cựu lãnh đạo tỉnh khác – như Phạm Văn Vọng, Phùng Quang Hùng, Hà Hòa Bình – không chỉ được giảm án mà còn chuyển thành án treo, một mức độ khoan dung hiếm thấy với tội nhận hối lộ hàng chục tỷ đồng. Ngay cả hai bị cáo ở Quảng Ngãi, Lê Viết Chữ và Đặng Văn Minh, dù không kháng cáo nhưng vẫn được giảm án nhờ “gia đình và nhiều tổ chức” xin giúp.

Nhìn lại hồ sơ vụ án, sự khoan hồng này càng khó lý giải. Theo bản án sơ thẩm, các lãnh đạo tỉnh đã “lợi dụng chức vụ quyền hạn”, nhận tiền của Nguyễn Văn Hậu để tạo điều kiện cho tập đoàn Phúc Sơn và công ty Thăng Long trúng các dự án, gói thầu. Tổng số tiền mà Hậu bỏ ra để “bôi trơn” lên đến 132 tỷ đồng – tương đương hơn $5 triệu. Riêng Lan thu gần $2 triệu; Thành hưởng lợi gần 50 tỷ đồng.

Những khoản hối lộ khổng lồ ấy nhằm đổi lấy chỉ đạo và can thiệp trái luật: không thu hồi dự án vi phạm, không dừng hoạt động, cho gia hạn tiến độ… Nói cách khác, lợi ích doanh nghiệp được đặt lên trên pháp luật và quyền lợi của người dân – một thực trạng vốn quá quen thuộc dưới sự cai trị của bộ máy Cộng Sản Việt Nam.

Điều khiến cộng đồng hải ngoại chú ý đặc biệt là thái độ của bị cáo Lan trong phiên sơ thẩm. Khi được nói lời sau cùng, bà ta “khóc nghẹn”, xin lỗi tổng bí thư Tô Lâm trước khi xin lỗi đảng bộ và người dân Vĩnh Phúc. Hình ảnh ấy, đối với nhiều người, phơi bày rõ bản chất của bộ máy quyền lực: quan chức phạm tội không hướng về nhân dân – những người họ gây thiệt hại – mà trước hết tìm cách lấy lòng cấp trên, như một chìa khóa để được giảm nhẹ hình phạt.

Ở một đất nước nơi quyền lực đảng đứng trên pháp luật, nơi giới chức có thể đưa ra huân chương, bằng khen hay đơn xin giảm án từ “nhiều tổ chức” để đổi lấy tự do, bản án phúc thẩm này chỉ củng cố thêm niềm tin rằng hệ thống tư pháp của Nhà Cầm Quyền Việt Nam không phục vụ công lý, mà phục vụ sự ổn định của chính nó.

Trong lúc người dân chịu hậu quả từ tham nhũng, ngân sách thất thoát và niềm tin vào nhà nước tiếp tục mòn mỏi, những phán quyết kiểu này lại gửi đi một thông điệp đầy nản lòng: có tiền, có quyền, thì án tù chỉ là chuyện có thể thương lượng.

Một lần nữa, Bộ máy Cộng Sản Việt Nam cho thấy họ có thể mạnh tay với dân thường, nhưng lại vô cùng mềm mỏng với chính các quan chức của mình – kể cả khi họ nhận hàng triệu đô la hối lộ ngay giữa ban ngày.


 

Ở Thụy Điển, có một sáng kiến nhỏ bé nhưng khiến người ta phải mỉm cười thật lâu

Những Câu Chuyện Thú Vị

Người cao tuổi sống trong các viện dưỡng lão được “mượn” chó từ trại cứu hộ để cùng nhau đi dạo mỗi tuần. Không phải để huấn luyện, không phải để trị liệu theo cách khô khan, mà đơn giản là để cùng bước chậm lại, cùng thở và cùng hiện diện.

Điều ít ai biết là chương trình này ra đời từ một thực tế rất đời thường. Nhiều người cao tuổi từng có thú cưng suốt nửa đời người, nhưng khi về già, họ không còn đủ sức khỏe hay điều kiện để nuôi một con chó trọn vẹn. Trong khi đó, các trại cứu hộ lại có rất nhiều chú chó cần vận động, cần được vuốt ve và cần cảm giác được ai đó chờ đợi. Thế là hai thế giới tưởng như xa nhau ấy được kết nối bằng… một sợi dây dắt chó.

Mỗi tuần, các cụ già đội mũ, khoác áo, tay cầm dây dắt, chậm rãi bước ra ngoài cùng những chú chó từng bị bỏ rơi. Không ai vội vàng. Chó không thúc ép, người cũng không bị giục giã. Chỉ có tiếng bước chân đều đều, hơi thở hòa nhịp và cảm giác mình có lý do để ra ngoài hôm nay. Nhiều nhân viên chăm sóc cho biết, những cụ trước đây gần như không muốn rời phòng, nay lại háo hức hỏi: “Hôm nay đến lượt tôi dắt chó chưa?”.

Lợi ích không chỉ nằm ở vận động thể chất. Các bác sĩ và người chăm sóc ghi nhận rõ rệt sự cải thiện về tâm trạng, khả năng ăn uống và giao tiếp xã hội của người cao tuổi. Với các chú chó, những buổi đi dạo đều đặn cùng con người lớn tuổi – nhẹ nhàng, kiên nhẫn – lại giúp chúng trở nên bình tĩnh hơn, thân thiện hơn và dễ được nhận nuôi hơn. Một vòng tròn tử tế cứ thế hình thành, không cần khẩu hiệu, không cần chiến dịch truyền thông rầm rộ.

Nhưng có lẽ điều sâu sắc nhất nằm ở chỗ này: chó không hỏi bạn đã từng là ai, không quan tâm bạn còn lại bao nhiêu sức. Chúng chỉ biết bạn đang ở đó. Và với nhiều người cao tuổi, cảm giác được một sinh linh khác tin tưởng, chờ đợi và bước đi cùng mình – dù chỉ một vòng quanh khu nhà – là liều thuốc tinh thần vô cùng quý giá.

Giữa một thế giới ngày càng số hóa, câu chuyện từ Thụy Điển nhắc chúng ta rằng đôi khi, chữa lành không đến từ công nghệ cao hay phương pháp phức tạp, mà từ những kết nối rất giản dị. Một con đường nhỏ, một buổi chiều yên tĩnh, một người già và một chú chó – thế là đủ để cả hai cùng khỏe hơn, cả về thể chất lẫn tâm hồn.

#ChuyenTuTe #NhanVan #NguoiGia #ChoCuuHo #ChuaLanhTinhThan #KetNoiConNguoi #DulichVanHoa #Plutos_Sales #Hotdeal365 #Dulichvanhoa

ST.


 

Phùng Thắng- Phùng Thăng. Từ khởi đầu hấp thụ với nền tảng triết lý Tây Phương thời thịnh đạt

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Nguyễn Văn Lục

28/12/2025

Ni Trưởng Thích Nữ Trí Hải

Phùng Thắng- Phùng Thăng. Từ khởi đầu hấp thụ với nền tảng triết lý Tây Phương thời thịnh đạt, Phùng Thăng, Phùng Thắng đã đưa ra những góc nhìn văn hóa mới.

Hai chị em Phùng Thắng, sau này là ni sư Trí Hải-  và em là Phùng Thăng là những nhà văn hóa phụ nữ thế hệ tuổi trẻ chúng tôi. Thế hệ 1960- 1970.

Có nghĩa là khởi đầu cùng được đào tạo dưới mái trường của truyền thống triết lý Hy Lạp từ thời Platon-Aristote.

Nếu ví dòng triết lý ấy như một cái “Cây triết lý”, thì sau này, nó mọc ra rất nhiều nhánh rẽ. Có một J.P Sartre, nhưng cũng có nhiều nhánh như một Merleau Ponty, một Heidegger, một K. Jasper, một A. Malraux.

Nhưng trên hết như một biểu tượng là J.P. Sartre với rất nhiều tác phẩm: La nausée( 1938), Le Mur ( 1939), rồi Sartre cho ra đời nhiều tác phẩm đồ sộ như: Les chemins de la liberté, Les Mouches.

Phùng Thăng là người đầu tiên dịch tác phẩm Les Mouches ra tiếng Việt: Những ruồi.

Điều đó chứng tỏ rằng sau này một thiên tài cứ thế mà PT tỏa sáng.

Tác phẩm lớn tiếp theo của J.P. Sartre  là L’Etre et le néant. Huis clos (1944) Les mains sales (1948), Le Diable et le bon Dieu(1951).

 Với sự nghiệp như thế, Sartre trở thành đứa con tinh thần của giới trí thức và của cả nước Pháp.

Bên cạnh đó, rất nhiều danh từ của Sartre trở thành thời thượng như vấn đề dấn thân, vấn đề trách nhiệm. Rồi hiện hữu và hư vô, vấn đề hoài nghi, phủ nhận, vấn đề hiện sinh tại thế, hiện hữu và yếu tính.. Đời phi lý, buồn chán, thừa thãi, và con người nổi loạn.

Khi Sartre chết năm 1980, nước Pháp đã tiễn đưa ông với những lễ nghi vinh dự mà họ đã dành cho Víctor Hugo 100 năm trước.

Về phía Việt Nam, cuộc di cư năm 1954 đã mở đầu cho sự có mặt của Sartre và A.Camus kéo dài trong suốt nhiều năm.

Những ngữ từ triết học trở thành sự quyến rũ mời gọi và biến hóa thành cái gọi là “mốt hiện sinh” mà những lời giải đáp đôi khi chỉ là một sự trống rỗng, những câu hỏi không có lời giải đáp..

Và tôi gọi giai đoạn này bằng  một danh hiệu mới:

 Những đứa con hoang của J.P.Sartre.

Nó ảnh hưỡng một cách nào đó trên các nhà văn như Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Quách Thoại, Chu Tử và một số các nhà văn nữ thập niên 60 như: Túy Hồng, Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng, ít nhiều cho thấy bóng dáng của F.Sagan hiện diện trong truyện của họ.

Bên cạnh đó, phải kể đến vô số các giáo sư dạy triết thế hệ thứ hai như Đặng Phùng Quân, Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Quốc Trụ, Trần Công Tiến, Nguyễn Trọng Văn..với những luận án cao học.

Thú thật, bản thân tôi đã mệt mỏi với những luận đề triết học nên không mấy quan tâm đến những luận đề triết học.

Tôi không hiểu có bao nhiêu người đọc họ và những luận văn ấy và nhất là hiểu họ viết gì?

Tôi không đủ tư cách để trả lời thay cho họ.

Hay liệu đó có phải chỉ là những luận án có tính thời thượng, theo đuôi hay bắt chước?

Câu trả lời có thể được trả lời một cách gián tiếp qua cái hướng nhìn của Phùng Khánh, nhất là Phùng Thăng theo cái hướng mà tôi tạm gọi là: Hướng nhìn về phương Đông.

Phần tôi, đã bước qua ngưỡng cửa triết học Tây Phương với nhữn câu hỏi, không có câu trả lời mà tìm cho mình một hướng đi mới, thiết thực và hấp dẫn hơn.

Nhưng trước hết, tôi xin được phép giới thiệu đến Tôn Nữ Phùng Thăng và Phùng Khánh.

Tên thật của PT là Công Tằng Tôn Nữ Phùng Thăng, sinh năm 1943, tại Huế. PT là em út trong một gia đình có 6 anh chị em. Chị của Phùng Thăng là Phùng Khánh, tức ni sư Trí Hải, sau này đi tù về vụ Tuệ Sỹ, Thích Trí Siêu hay Thích Mạnh Thát chống đối nhà cầm quyền cộng sản. Với tư cách bà là thủ quỹ, Sư bà Trí Hải lãnh án tù 4 năm. Sau này, Trí Hải bị tử nạn trong một tai nạn giao thông vào ngày 7-tháng 12- năm 2003.

Phần gia đình Phùng Thăng rất sùng đạo Phật.

Thuở nhỏ, PT ở thôn Vỹ Dạ, học tiểu học tại trường Thế Dạ. Lên Trung học, những năm đầu học tại trường Trần Hưng Đạo Đà Lạt. Sau chuyển về học tại trường Đồng Khánh Huế. Nhưng hồi đó Đồng Khánh chưa có đệ nhất nên PT phải phải chuyển qua học triết học..ban C2, ở Quốc Học cùng với Thái Thị Kim Lan.

Theo Thái Thị Kim Lan, một người cùng học lớp đệ nhất C2 với bà cho thấy: PT hiền dịu, ít nói, chăm chú vào việc học, học giỏi nhiều môn làm cho các bạn đồng lớp có phần kính nể..

Trong khi đó, các bạn của bà như Thái thị Kim Lan bốc đồng và sôi nổi tuổi trẻ nhất thời chạy theo phong trào đấu tranh Phật giáo do Thích Trí Quang- một nhà sư với nhiều tham vọng, đôi mắt sắc sảo, giọng nói khàn đục đầy mê hoặc- đẩy một số tăng ni vào các vụ tự thiêu vô tiền khoáng hậu, coi mạng người như cỏ rác..

Thái kim Lan viết tiếp: bà dệt mơ ước học trò, hãnh tiến và không biết sợ, lên đường, tham gia vào các vụ biểu tình, tuyệt thực dưới sự hướng dẫn và chỉ đạo của Thích Trí Quang.

Trí Quang đã trao cho Thái Kim Lan như người đại diện chính thức thay cho Trí Quang.

Bạn đọc cần biết thêm, lúc 5 tuổi, cha của TKL vốn là một viên chức bưu điện đã bị cộng sản hạt sát. Sau này bà chị TKL có chồng là một sĩ quan phải đi học tập tập trung. Trong một lần đi tiếp tế cho chồng trở về, bà đã bị một tài xế việt cộng cán chết. Sau đó, bọn cộng sản đã đến đền bù bằng một bao gạo..

Phần TKL, bà như quên cái quá khứ đau buồn ấy và tiếp tục mê say Trí Quang vừa như người thày, vừa như một người tình trong rất nhiều năm trời như tôi được biết và được nghe kể từ chính Thái Kim Lan..

Và đây cũng có thể là ngã rẽ giữa bọn nữ sinh nông nổi, hãnh tiến khác với Phùng Thăng.

Xin ghi một đôi nét về Phùng Thăng dưới ngòi bút của Thái Kim Lan:

Áo trắng, dáng ngồi thẳng, nghiêm trang, nét mặt thanh tú, làn da trong sáng, tóc bín hai con rết thắt nơ trắng. Hai con rết và cái nơ tòng teng tiết lộ sự trẻ thơ so với nét mặt có sống mũi cao, nghiêm nghị của “ người lạ ấy”. Chị không cười mặc dù đôi môi hồng tươi, như tiết kiệm hay muốn giữ bí mật của cả tâm hồn hay của đôi hàm răng mà sau này tôi có đôi lần nhìn được rất trong. Môi không cười cho nên nét diễn tả tâm tình hầu như dồn nơi đôi mắt sáng lấp lánh đầy chân thiện, chị cười bằng mắt rất lặng lẽ. Gương mặt ấy hầu như chỉ biết cúi xuống trang sách hay nhìn lên bảng đen, hiếm khi thấy chị nhìn ngang hay liếc dọc để quan sát chuyện chung quanh mình..”

Và cứ tính ngược lại những điều trên của PT thì chính là chân dung đích thực của Thái kim Lan

Trong khi đó, Phùng Thăng ở ngoài những vùng xoáy lịch sử ấy lấy việc chuyên tu làm hướng đi của đời bà. Bà tiếp tục học lên Đại học, bà học khoa Triết, đại học văn khoa, Huế.

Ra trường, luận văn tốt nghiệp của PT là: Chỉnh lý tư tưởng Tây Phương.

Rất tiếc, hiện nay, tôi không có cơ hội tiếp cận luận văn này. Tuy nhiên, cái từ chỉnh lý tự nó nói lên một sự giải trình không đồng ý hay hơn nữa là một chống đối các triết lý Tây phương..

(Xin đọc thêm Trần Hoài Thư trên Thư Quán bản thảo, số 59, tháng ba 2014).

Xin mở một dấu ngoặc là trước khi tôi được tiếp cận với các bản dịch của Trí Hải và Phùng Thăng như câu chuyện của dòng sông, tôi có cơ duyên đọc chuyện Đôi bạn chân tình của nhà văn Herman Hesse do bản dịch tuyệt vời của Vũ Đình Lưu, tự Cô Liêu.

Câu chuyện xoay quanh hai nhân vật chính: một là nhà tu sĩ khổ hạnh, sống cuộc đời chiêm nghiệm, hy vọng tìm ra ý nghĩa cuộc đời đâu là hạnh phúc của cuộc đời, đâu là đau khổ?

Nhân vật thứ hai, một người trẻ, cũng một thời theo vết chân của người thầy là vị tu sĩ khổ hạnh.

Nhưng rồi, ông nhận ra rằng con đường chiêm nghiệm khổ hạnh là không có lối thoát.

Chàng trai trẻ ấy đã quyết định rời bỏ tu viện và lăn vào đời và với tuổi trẻ, thông minh, tài tuấn, ăn nói hay đày nghị lực nên được rất nhiều phụ nữ trẻ say mê, đeo đuổi.

Ông đã chan hòa hưởng thụ nhiều thân xác phụ nữ như một hiến dâng mà không đòi hỏi..

Chàng trai trẻ vì thế đã thỏa mãn những khát khao được nâng niu, được thăng hoa của người phụ nữ.

Anh đã lấp đầy những cơn bảo cảm xúc, lấp đầy những nỗi trống trải hoang sơ của người phụ nữ.

Anh đã cảm nghiệm được thế nào là mưa dầm thấm lâu.

Đồng thời, người trai trẻ đã hiểu được thế nào là nếm trải được trái cấm ngọt bùi giữa biển đời giông bão.

Nhất là chàng trai trẻ cũng đã được nếm trải nụ hoa hàm tiếu đầu đời của những người người con gái tinh tuyền..Cái đó nó mới quý lam sao, trân quý làm sao. Và ngoài kia nắng đã lên, thiên nhiên và con người quyện vào nhau như một bản hòa tấu..

Cuối cùng, chàng trai trẻ như đạt đỉnh đã gieo trồng những giọt hạnh phúc tưới mát vào những vùng sâu kín trên những vùng cỏ rậm rạp khôi nguyên trinh bạch của người phụ nữ và được nồng nhiệt đón nhận. Và người tình đã chờ đợi, đã sẵn sàng ẩm ướt và cuối cùng đạt tới đỉnh của một thứ hạnh phúc si mê, cuồng nhiệt của đôi lứa.

Đã không biết có bao nhiêu phụ nữ đã dâng hiến cái tiết trinh ngàn vàng cho chàng trai trẻ mà không một lời nuối tiếc.

Từ những trải nghiệm sống ấy, chàng thanh niên tuấn tú, thông minh và nay được trải nghiệm nắm bắt được thế nào là hạnh phúc ở đời mà nhà tu khổ hạnh đã không bao giờ có cơ hội nắm bắt được.

Và trong số những phụ nữ mà ông gieo trồng trên những thửa đất đã được cầy sới, gieo mầm đã tạo ra một mầm sống như một phép mầu.

Ông đã sống cận kề  và chăm sóc người phụ nữ ấy trong tiến trình mang thai với rất nhiều khổ đau quặn thắt và nỗi cô đơn một mình của người phụ nữ mà không một ai có thể chia xẻ nỗi đau đớn tột cùng ấy.

Người phụ nữ ấy giống như như người đi biển một mình, hạnh phúc thì được xẻ chia, nhưng khi gian nan thì một mình trước những phong ba, bão táp của cuộc đời.

Chàng trai trẻ sau nhiều năm tháng tràn ngập nguồn vui hạnh phúc nay tóc đã hoa râm, ngậm ngùi nhìn ngắm thân thể người phụ nữ ấy mà đã có thời họ chan hòa hạnh phúc.

Nay mái tóc đã hai mầu, đi đứng đã có phần khó khăn, mắt đã mờ, tai đã nghễnh ngãng nhận thấy cái thân thể trần chuồng của người phụ nữ đã một thời ấy trong một nỗi bất lực như những cơn bão va vật, tiếng đau gào thét trước khi đứa bé chào đời mà bên ngoài là một trận đại dịch trong sự bơ vơ, cô quạnh.

Từ những trải nghiệm ấy, ông hiểu được thế nào là nỗi đau tận cùng, sự mong manh của kiếp người như thể một chân bước vào hư vô và ảo vọng.

Nhưng cũng từ khoảnh khắc ngắn ngủi và mong manh này, ông hiểu được thế nào là hạnh phúc, thế nào là đau khổ của kiếp người mà nhà tu khổ hạnh không bao giờ hiểu và đạt được.

Phải chăng, đó là luật của cuộc đời có trả vay, có được có mất mà con người không bao giờ nắm bắt và hiểu hết được trong cuộc hành trình nhân thế như một vòng xoáy mà không nắm bắt được đâu là điểm đến và đâu là cõi đi về!!!

Câu chuyện Đôi Bạn Chân tình, Câu chuyện của dồng sông cũng là một phần đời sau này của Phùng Thăng.

  • Cuộc đời ngắn ngủi của Phùng Thăng.

Sau khi tốt nghiệp đại học văn khoa, Huế, Phùng Thăng được bổ nhiệm về dạy tại Hội An Huế.

Hội An như một mảnh đất chật hẹp với những biến động chính trị và với những tranh dành quyền lực nhỏ nhen của phe phái khiến bà nghĩ tới lúc phải rời bỏ cái khung trời nhỏ hẹp ấy.

Bà lập gia đình với Trần Xuân Kiêm. Hai người có với nhau một đứa con gái. Bà đặt tên con gái là Tiểu Phượng. Nhưng không hiểu vì lý do gì, sau đó hai người chia tay.

Phùng Thăng tiếp tục cuộc sống của một “Single mom” mà đời sống khá là vất vả.

Năm 1973, PT cho xuất bản một tác phẩm của Simone Well mà tựa đề là: “Kẻ lạ ở thiên đường”. Qua bản dịch của PT, người ta nhận thấy tâm hồn của Simone Well là một sự cô đơn, trống vắng đi tìm một quê hương đích thực cho đời sống tâm linh. Phải chăng đó cũng là phản ánh tâm hồn Phùng Thăng mà một nỗi cô đơn trống vắng của tâm linh?                 

          Kẻ lạ ở thiên đường được chọn làm tên chung cho bản dịch với 6 bức thư gửi cho linh mục Perrin và 5 bài trần thuyết về năm đề tài tôn giáo. Qua toàn văn phẩm, tâm hồn Simone Well vẫn là một tâm hồn quằn quại cô đơn, nhưng rất sáng suốt trong công cuộc đi tìm một quê hương tâm linh đích thực cho mình.. Chính sự sáng suốt ấy đã đưa Simone Well đến chỗ khước từ thiên đường hữu hạn để chọn hỏa ngục vô biên vì quá sót thương và muốn chia sớt những lầm than của trần thế.

Trong nguyện ước của nàng, như có vọng âm những lời phát nguyện của các vị bồ tát của Phật giáo của từ muôn nghìn thế kỷ. Trên thiên đường hữu hạn ấy, nếu được, Simone Well vẫn mãi mãi là kẻ xa lạ, lạc loài.

Nàng chỉ ước muốn Thiên Đường chính thực, Quê hương bình đẳng cho tất cả loài người.

Simone Well mất ngày 24-8-1943

. Phùng Thăng ra đời ngày 9-10-1943.

Bước chân của Simone Well đã được tiếp nối bước chân của Phùng Thăng. Simone Well là một triết gia. Phùng Thăng cũng vậy. Có khác gì đâu.

Thử xem nào, ngoài Phùng Thăng ra có một phụ nữ trẻ nào mang tư tưởng mình qua” Theo dấu tình yêu”, hay “chỉnh lý tư tưởng Tây Phương”..

Thử xem, những buồn nôn, những ruồi, Bắt trẻ đồng xanh, Con sói đồng hoang, Thế giới Thiền, Kẻ lạ ở Thiên đường, khi số tuổi của chị mới dưới 25.

Hãy lẳng lặng mà nghe khi Thái Kim Lan ngưỡng mộ, giật mình khi cả lớp ngồi lắng nghe bài triết của Phùng Thăng..

Thử xem, thử xem nhánh sông Vỹ Dạ thấy bóng hai nàng tôn nữ, mà trăng, mà sao, mà tiếng chuông chùa đã bềnh bồng trong giấc ngủ.. Để rồi một người tìm sự cứu rỗi cho mình bằng con đường xuất gia, người kia lại chọn con đường nhập thế, mang bình bát đựng cả ngàn năm lao khổ lên núi, xuống biển.

Vai thì mong manh mềm yếu. Vậy mà phải gánh cả một trời oan nghiệt xuống đôi vai.

Cộng với nỗi Buồn nôn của JP. Sartre, PT đã dẫn đưa người đọc vào một góc khác của tâm linh.

Một người trí tuệ và tài hoa, thông hiểu triết học Ấn Độ.

Một người có cái nhìn về Phương Đông trong  bản dịch” Câu chuyện của dòng sông”, dịch từ chuyện Siddharta của văn hào Đức, thế kỷ XX.

Văn hào Đức mà các tác phẩm đều toát lên một nỗi niềm cô đơn tâm linh của con người, đi tìm một lối giải thoát ra ngoài của kiếp nhân sinh trong nỗi bơ vơ, bất lực.

Qua “câu chuyện của dòng sông”, “ Sói đồng hoang của Hermann. Hesse Băt trẻ đồng xanh, của J.D Salinger. Con người vẫn bám víu vào đời sống như một mẫu hình muôn thuở của cuộc đời. Câu chuyện một dòng sông vẫn là một hình ảnh cao đẹp, soi sáng trí tuệ và tư tưởng của cả một thế hệ tuổi trẻ mà cả hai chị em- họ cách nhau 5 tuổi- Phùng Thắng lấy cử nhân anh văn, Phùng Thăng cử nhân triết.

Cả hai chị em Phùng Khánh, Phùng Thăng như một của báu vật muốn trao gửi lại cho chúng ta, cho đời như một di sản văn hóa.

Đầu tháng 5, 1975, nghĩa là chỉ một tháng sau khi cs Bắc Việt thôn tính miền Nam, bà đã có một quyết định táo bạo là dẫn con gái, 9 tuổi theo đường bộ, tìm đường vượt biên. Trên một chiếc ghe ra đảo Thổ Chu, thuộc xã Nam Du với hy vọng được tàu Mỹ đón.

Nhưng thật quá trễ. Lúc bấy giờ quân Pol Pot, lợi dụng hòn đảo bỏ trống đã tấn công đảo và chiếm vào ngày 10 tháng 5, lùa theo hơn 515 người, trong đó có một số người vượt biên như mẹ con Phùng Thăng.

Và kể từ đó, gia đình chị không còn biết bất cứ tin tức gì về mẹ con chị.

Sau này, do một thày ngoại cảm tìm lại được thân xác và con gái, bị trói, đầu bị bể sọ, bị chôn vùi nông như một chúng tích dã man “cáp duồn” của bọn Pol Pốt

Phần gia đình chị, sau một thời gian tìm tung tích hai mẹ con đã lấy ngày 10-6-1975 làm ngày giỗ mẹ con chị.

Thật đau lòng và đứt ruột cho một tài hoa đã không may mắn mệnh yểu. Xin rỏ một giọt nước mắt xót thương chị mà số phận hình như đã được định trước theo nghĩa: tài hoa bạc mệnh (xin đọc thêm bài Tìm dấu Phùng Thắng).


 

Chùm Khế Ngọt ! – Sơn Tùng

Kimtrong Lam

Sơn Tùng

Trương Thế Phát là một thương gia trẻ ở kinh đô Thăng Long. Ông có tàu bè chở hàng đi buôn bán ờ trong và ngoài nước. Khi quân Pháp tiến đánh thành Hà Nội và chiếm Bắc Ninh, Thái Nguyên, ông lên tàu đem gia đình ra ngoại quốc. Sau bao ngày lênh đênh trên biển cả, gia đình ông đến Xiêm La (Thái Lan), rồi định cư tại đây.

Nhờ có tàu bè, ông mang theo một mớ gia sản nên khi qua Xiêm ông đã có sẵn một gia tài. Với tài kinh doanh, ông đã gây dựng một sự nghiệp khá lớn, gồm các cửa tiệm kim hoàn, cửa tiệm vải vóc lụa là, và Trà Thất Mây Tần.

Là một nhà kinh doanh, công việc bận rộn, nhưng ông luôn thương nhớ quê hương. Ông nhớ Hà Nội ba mươi sáu phố phường, với năm cửa Ô xưa. Ôi! Những cô gái hàng Đào, hàng Bạc… má đỏ, môi hồng, quần điều, áo lụa trắng, đeo xà tích bạc. Ông nhớ cốm Vòng, nhớ phở, nhớ xôi và bánh cuốn Hà Nội. Ông nhớ Hồ Gươm, hồ Tây, chùa Trấn Quốc, chùa Một Cột… Xiêm La có nhiều chùa lớn và nhiều lễ hội nhưng không đâu bằng hội chùa Hương…

Ông nhớ những bài hát ru, những điệu quan họ. Xiêm La có nhiều trái cây nhưng không bằng nhãn, vải, cam, quít… Hà Nội. Ở Xiêm La ông có nhiều bạn mới, nhưng lòng ông vẫn nhớ nhung các bạn Hà Nội và những kỷ niệm thời ấu thơ. Nhất là buổi đầu, ngôn ngữ bất đồng, phong tục khác biệt làm cho ông chao đảo như con thuyền không lái.

Lúc bấy giờ nhiều người trong nước cũng bỏ nước ra đi. Họ ra đi mang theo một bầu nhiệt huyết, một lý tưởng cao siêu là khôi phục đất nước, giải phóng dân tộc. Có nhiều nhóm hoạt động. Họ từ trong nước ra. Họ cũng từ Trung Quốc, Nhật Bản sang Xiêm hoạt động. Họ ở lại Xiêm mà cũng có người đi qua, đi lại. Tuy là nhiều tổ chức khác nhau, tựu trong có hai nhóm. Một nhóm thuộc phe quốc gia, một phái thuộc phe quốc tế.

Trà Thất Mây Tần do con trai của ông là Trương Thế Đạt trông coi, còn các tiệm khác thì do phu nhân, con trai thứ và các con gái ông quản lý. It lâu sau, Trương Thế Phát mất, cơ nghiệp truyền lại cho phu nhân và các con. Trương Thế Đạt tiếp tục kinh doanh Trà thất Mây Tần.

Trà Thất Mây Tần ở thủ đô Băng Cốc là một nơi trai thanh gái lịch lui tới tấp nập. Không những người Xiêm La mà người Cao Miên, Lào, Trung Quốc, Ấn Độ đều thường xuyên tới uống trà, và thưởng thức ca vũ nhạc. Một hôm, có mấy người khách Á Đông tới trà thất Mây Tần uống trà, uống rượu, Trương Thế Đạt nhận ra có một số khách là người Việt Nam.

Ông bèn tới chào hỏi, mới biết họ quả là người Việt Nam. Nghe giọng nói của họ, ông nhận ra họ là người Bắc, người Trung, và người Nam. Ông hỏi thăm họ thì họ cho biết họ qua đây lập nghiệp. Trương Thế Đạt rất vui mừng khi gặp lại đồng bào Việt Nam. Tâm trạng hai bên thật vui vẻ như câu thơ “Thiên lý tha hương ngộ cố tri”. Họ hỏi ông tại sao đặt tên Trà Thất là Mây Tần. Ông nói ông rất yêu quê hương, lòng luôn nhớ băm sáu phố phường Hà Nội. “Hồn quê theo ngọn Mây Tần xa xa”.

Dần dần, hai bên quen nhau, Trương Thế Đạt mời họ về nhà chơi. Kể từ đó hai bên liên lạc thân mật. Sau một thời gian, khách hiểu rõ gia đình Trương là một gia đình yêu nước, vì không cam tâm làm tôi tớ bọn ngoại xâm mà bỏ nước ra đi. Vì quen thân, họ cũng cho biết họ thuộc đảng cách mạng tiến bộ Việt Nam, được thế lực quốc tế như Liên Sô, Trung Quốc yểm trợ, thế lực rất mạnh, bám rễ trong và ngoài nước, có mục đích bài phong đả thực, xây dựng một xã hội công bằng tự do, người không bóc lột người. Đảng có Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Hùynh Thúc Kháng tham gia, và có khoảng mười triệu đảng viên.

Lực lượng đảng trong nước đã vùng lên như Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Thái Học, Hoàng Hoa Thám đã chiếm được nhiều tỉnh trong nước, giết vô số thực dân Pháp. Trương Thế Đạt nghe họ nói vậy cũng tin tưởng, ủng hộ cho họ một số vàng để làm quỹ hoạt động cứu quốc. Trương Thế Đạt mất, con trai là Trương Thế Vinh nối nghiệp cha kinh doanh trong ngoài, và ông cũng giữ mối liên lạc với tổ chức quốc tế, và cũng đóng góp vàng bạc cho họ. Trà thất Mây Tần và nhà của Trương Thế Vinh trở thành nơi ẩn náu và hoạt động của đảng cách mệnh.

Ông được chi bộ đảng khen ngợi là “nhân sĩ yêu nước”, và những Việt kiều ở Thái Lan theo Cộng Sản được gọi là “Việt kiều yêu nước”. Gia đình Trương Thế Vinh đã được chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa gửi giấy ban khen là gia đình yêu nước, đã có công với cách mạng.

Sau 1945, Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt, Việt Minh cướp chính quyền. Một số dân chúng vì nạn đói, vì sợ Cộng Sản và thực dân Pháp nên đã bỏ nước sang Lào, Miên, Xiêm La, hoặc Pháp. Những người Việt Nam sinh sống tại Xiêm La ngày càng đông, và những người theo phe Cộng Sản càng mạnh.

Năm 1954, Hiệp Định Geneve chia đôi Việt Nam. Nước “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” giao thương với Xiêm La tức Thái Lan, và đặt tòa đại sứ tại Băng Cốc. Những đảng viên Cộng Sản Việt Nam ra mặt công khai hoạt động. Họ ra sức vận động “Việt kiều” tại Thái Lan về xây dựng đất nước. Chính sách này cũng được phát triển nhiều nơi như Pháp, Lào, Miên…

Họ bảo “đất nước ngày nay cần nhiều bàn tay đóng góp. Việt Nam nay đã tiến lên Xã Hội Chủ Nghĩa, nông dân có ruộng cày, thoát khỏi cảnh làm nô lệ cho bọn phú nông địa chủ; xã hội bây giờ không còn nạn người bóc lột người. Sinh viên học sinh được tự do học hành, không phải đóng học phí mà còn được chính phủ nuôi ăn học, cấp sách vở cho đến khi thành tài.

Trong nước ai cũng có công ăn việc làm, không ai thất nghiê.p. Họ gửi tặng ông nhiều sách báo, có nhiều thơ ca, âm nhạc và tiểu thuyết ca ngợi sự lãnh đạo tài ba của đảng và chính phủ”. Trương Thế Vinh tuy sinh tại Thái Lan, nhưng được nghe cha ông ca tụng về con người và đất nước Việt Nam, nay lại được nghe thêm những lời tuyên truyền của cộng sản nên càng thêm yêu nước, và càng nhớ quê hương. Ông luôn luôn mở đài Hà Nội, và những bài thơ, bản nhạc đã gieo vào lòng ông tình yêu quê hương, tổ quốc.

“Quê hương là chùm khế ngọt

Cho con trèo hái mỗi ngày

Quê hương là đường đi học

Con về rợp bướm vàng bay

Quê hương là cầu tre nhỏ

Mẹ về nón lá nghiêng che

Là hương hoa đồng cỏ nội

Bay trong giấc ngủ đêm Hè”

Lúc bấy giờ công việc buôn bán ngày càng khó khăn khiến Trương Thế Vinh chán nản. Nay được “cán bộ” cộng sản kêu gọi và khuyến khích, vì vậy ông quyết định trở về góp sức xây dựng quê hương. Ông nay được ban khen là “gia đình có công với cách mạng”. Nếu về Việt Nam chắc ông sẽ được đảng và nhà nước quý trọng. Con đường tương lai rộng mở trước mắt ông.

Ta về ta tắm ao ta!

Ông muốn trở về tắm ao ta, về làm người hùng cứu nước, còn hơn là sống ở quê người, dù là triệu phú cũng có mặc cảm là kẻ tha phương cầu thực, kẻ lưu đày, là công dân bậc hai!

Ôi! Nước ta nay đã độc lập, không còn bọn thực dân Pháp xâm chiếm quê hương. Vì thực dân Pháp mà nhân dân ta khốn khổ điêu tàn. Vì thực dân Pháp mà tổ phụ ông phải bỏ quê hương mà đi. Nay là một dịp để ông trở về quê hương, về 36 phố phường Hà Nội và năm cửa Ô xưa! Tình yêu quê hương không còn là một mớ tình cảm bâng khuâng mà đã biến thành sự thực.

Ông lo bán nhà cửa, hàng hóa và các cơ sở kinh doanh thu được năm trăm lượng vàng và mười ngàn đô la Mỹ. Sau khi đã thanh toán mọi thứ, ông đã “đăng ký” mua máy bay trở về Hà Nội thân yêu. Nhưng tòa đại sứ Việt Nam CS tại Thái Lan đã lo mọi sự. Tất cả “Việt kiều” tại Thái Lan sẽ cùng nhau về Việt Nam bằng đường hàng không sang Cam Bốt rồi từ đó sẽ đi xe ô tô hay máy bay về Việt Nam.

Sau khi đoàn “Việt kiều” Thái Lan về đến Cam Bốt, họ được chuyển ngay lên xe ô tô Liên Sô là loại xe bốn bề kín mít chở ngay về Quảng Bình Việt Nam. Khi về đến biên giới Việt Nam, cả đám được cán bộ Cộng Sản đeo súng yêu cầu xuống xe để vào một trung tâm, bốn bề rào kín và có lính gác. Họ bảo:

“các Việt kiều tạm ở lại đây một thời gian để học tập đường lối chính sách của Đảng và nhà nước. Họ ra lệnh các Việt kiều tập họp lại, gia đình nào theo gia đình đó. Họ bảo mọi người không được ra khỏi trung tâm nếu không được trung tâm cho phép”. Họ đưa mọi người vào hội trường. Viên “thủ trưởng” tỏ ra rất lịch sự. Ông nói:

“Chào các đồng bào và các đồng chí,

Hôm nay tôi xin thay mặt mặt đảng và chính phủ chào mừng những người con yêu trở về tổ quốc.”

Ông vừa dứt lời, mọi người vui vẻ hoan hô, tiếng vỗ tay nghe vang như tiếng pháo.

Tiếp theo, ông nói:

“ Thưa các đồng chí và đồng bào,

“Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, những người ngoại quốc đã ước mơ trong một đêm được trở thành người Việt Nam. Các đồng bào và đồng chí nay đã thành người nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Trước tiên, yêu cầu mọi người giao nộp thẻ căn cước, thẻ quốc tịch và khai sinh ngoại quốc để Nhà nước làm thủ tục hành chánh.”

Ông nói xong thì lui bước, để cho một đại biểu khác lên tiếng yêu cầu đồng bào làm bản tự khai hồ sơ, lý lịch, nhất là phải kê khai vàng bạc, kim cương, hột xoàn và đô la. Trong khi mọi người tập trung ở hội trường, cán bộ cộng sản đã vào khám xét hành lý của Việt kiều. Những ai có chìa khóa va ly hay khóa các hộp kín, họ đến bảo nhỏ giao nộp chìa khóa cho họ làm thủ tục kiểm tra.

Ngay hôm đó, họ bắt mọi người giao nộp vàng, kim cương, nữ trang và đô la.

Ông cán bộ nói:

“Đảng sẽ giữ tài sản cho họ vì sợ bọn biệt kích Mỹ ngụy cướp của giết người.. Cứ yên tâm đưa chính phủ giữ dùm, rồi chính phủ sẽ trả lại cho các gia đình sau khi tình hình đã được ổn định.”

Tiếp theo, mọi người làm thủ tục y tế. Mọi người phải vào phòng kín, cởi hết áo quần để y sĩ khám xét. Không thử máu, không nghe tim mạch, mà chỉ khám tổng quát. Thủ tục này thì cũng nhanh thôi, ngoại trừ những ai còn cất giấu tài sản trong người là bị tịch thu và bị phê bình, kiểm thảo. Các gia đình Việt kiều được cán bộ rút sổ tay, xé giấy viết biên nhận bằng những tờ giấy vàng úa xấu xí với những dòng chữ nguệch ngoạc, không rõ chữ viết và con số, và cũng không ghi ngày tháng, chữ ký và tên người nhận:

….Đã nhận 300 miếng kim loại bề ngoài màu vàng… Đã nhận một ngàn tiền nước ngoài… Đã nhận hai mươi viên đá nhỏ óng ánh…

Đến đây thì các Việt kiều biết mình đã lầm, đã mắc gian kế. Họ cũng như Thúy Kiều trong ngày đầu gặp Mã Giám Sinh đã kêu lên:

Xem gương trong bấy nhiêu ngày

Thân con chẳng kẻo mắc tay bợm già!

Vài ngày sau, các “Việt kiều” được “phân phối” về các thôn xóm ở miền Bắc. Gia đình Trương Thế Vinh được “phân phối” về một làng ở Quảng Bình. Ông chất vấn cán bộ:

– Chúng tôi xin về Hà Nội là quê hương của tôi và đã được Tòa Đại Sứ Việt Nam ở Băng Cốc chấp thuận. Nay sao các ông lại bắt tôi về Quảng Bình?

Tên cán bộ trong “ban Việt kiều yêu nước” nói:

”Nay chúng ta đang xây dựng Hà Nội thành một thủ đô to lớn và văn minh hơn mười lần xưa. Hà Nội tương lai sẽ có những tòa cao 40-50 tầng, vĩ đại hơn Mỹ. Vi là xây cất chưa xong, nên chưa có nhà cho đồng bào ở. Vậy ông tạm ở lại Quảng Bình một thời gian, rồi sẽ đưa gia đình về Hà Nội sau”.

Biết rằng phản đối cũng vô ích cho nên gia đình ông phải lên xe về Quảng Bình. Gia đình ông được đổ xuống Quốc Lộ I, rồi được công an dẫn bộ tới một làng nhỏ, cách quốc lộ vài cây số. Làng này cho ông một miếng đất ven sông để ở và canh tác. Nơi ông ở là bãi sông vắng, cách xa xóm làng vài cây số.

Ông là một kẻ ngụ cư. Hơn nữa, ông là một kẻ nguy hiểm. Dân làng không ai dám giao thiệp cùng gia đình ông vì họ coi gia đình ông như một những kẻ gián điệp từ ngoại quốc về để phá hoại xã hội chủ nghĩa.

Tiền của mất sạch, gia đình ông trở thành kẻ bần cùng nhất nước, cô đơn nhất nước. Thư ông gửi đi không có hồi âm. Ông không nhận được lá thư nào từ Thái Lan hay Hà Nội. Ở Thái Lan, ông có tài sản, bạn bè, nhưng về đây, quê hương Việt Nam,Trương Thế Vinh và gia đình bị lưu đày và cấm cố. Gia đình ông vì yêu nước mà trở về nay lại bị coi là kẻ thù của dân tộc. Sống ở Thái Lan, ông tự coi là người xa lạ, nay về Việt Nam, ông lại trở thành người xa lạ trên chính quê hương mình.

Ông suy nghĩ xa gần mà lòng đau như cắt. Ông trách ông ngu dại. Nước Thái Lan đã cho ông nương tựa, giúp ông làm giàu, con cái ông học hành thành tựu, thế mà ông bỏ Thái Lan mà về Việt Nam, về quê mẹ, nhưng quê mẹ đã giết gia đình ông, cướp đoạt tài sản và hy vọng của ông!

Kẻ sát nhân cướp bóc chính là những kẻ mà ông đã nuôi nấng, kẻ đã rao giảng tự do, nhân đạo và bình đẳng! Ông đã bỏ mồi bắt bóng! Ông là người ngu xuẩn nghe theo những lời phỉnh nịnh để rồi làm hại mình và con cháu!

Vài năm sau, chiến tranh bùng nổ, miền Bắc bắt thanh niên nam nữ “sinh Bắc tử Nam”. Trương Thế Vinh có một trai, một gái. Con trai ông phải vào “bộ đội” rồi tử thương tại chiến trường miền Nam. Con gái ông phải đi “thanh niên xung phong”, lâm bệnh rồi chết trên Trường Sơn. Hai vợ chồng cắn đắng nhau.

Bà trách ông nhẹ dạ tin lời kẻ cướp. Bà không chịu nổi đời sống kham khổ và nỗi uất hận vì bị lường gạt nên mắc bệnh, không thuốc men mà chết. Còn ông, trong cơn đau khổ, uống rượu say rồi chửi Cộng Sản. Kết cuộc ông bị công an bắt bỏ tù rồi chết trong trại tù Thái Nguyên.

Sơn Tùng.


 

Brigitte Bardot vừa qua đời ở tuổi 91

Le Thanh Hoang Dan

Sáng nay đọc tin Brigitte Bardot vừa qua đời ở tuổi 91, buồn. Bà lớn hơn tôi 2 tuổi, là một trong những minh tinh thời của tôi. Tôi 89, đã đi đến tận chân trời rồi, có lẽ cũng sắp biến mất khỏi cõi đời này. Tôi trân quí mỗi phút giây còn sống Trời (Chúa) cho. Sống vui, trọn vẹn, yên bình và hạnh phúc. Sống thật với chính mình.

“Brigitte Bardot sinh năm 1934 và được xem là biểu tượng gợi cảm hàng đầu của điện ảnh Pháp cũng như thế giới qua những bộ phim gây tiếng vang lớn những năm 1950. Bộ phim gắn liền với tên tuổi, hình ảnh của Brigitte Bardot là Và Chúa đã tạo ra người đàn bà, do Roger Vadim đạo diễn.

Theo Variety, mặc dù thời kỳ đỉnh cao của Brigitte Bardot với tư cách là ngôi sao điện ảnh ăn khách tương đối ngắn ngủi, và bà đã giải nghệ vào đầu những năm 70, nhưng tầm ảnh hưởng lại rất sâu rộng khi đưa hình ảnh những cô gái tóc vàng trẻ trung, quyến rũ, cùng các đường cong gợi cảm lên màn ảnh rộng.

Vẻ đẹp nữ tính của bà với những nét đặc trưng như mái tóc chải phồng, đôi môi như hờn dỗi, đôi mắt viền đen sắc sảo… trải qua nhiều thập kỷ vẫn được xem là niềm mơ ước, chuẩn mực với phái đẹp. Sức ảnh hưởng về nhan sắc Brigitte Bardottừng được so sánh những minh tinh như Marilyn Monroe hay Audrey Hepburn.

Sự hợp tác của Brigitte Bardot và Roger Vadim cũng tạo nên bước ngoặt đáng nhớ trong lịch sử điện ảnh Pháp, châu Âu và rộng ra là cả thế giới khi thể hiện một cách đầy mới mẻ, táo bạo chủ đề tình dục.

Trong sự nghiệp của mình, bên cạnh đóng phim, Brigitte Bardot còn ca hát và nổi tiếng là một người đấu tranh bảo vệ động vật.” (vtv.vn)

#CàPhêBuổiSáng #ĐiểmBáo


 

Chuyện tình khó quên của cha đẻ chiếc áo dài Việt Nam!

Xuyên Sơn

Chuyện tình khó quên của cha đẻ chiếc áo dài Việt Nam!

Lê Thiếu Nhơn

Họa sĩ Nguyễn Cát Tường (sinh năm 1912, mất năm 1946)

chính là cha đẻ của chiếc áo dài

Việt Nam. Từ kiểu áo Lemur của Nguyễn Cát Tường, chiếc áo dài tiếp tục được cải tiến và dần dần trở thành trang phục truyền thống tôn vinh vẻ đẹp phụ nữ nước ta. Thế nhưng, ít ai biết rằng, một trong những người đầu tiên góp công phô diễn chiếc áo dài của họa sĩ Nguyễn Cát Tường, chính là vợ ông – bà Nguyễn Thị Nội!

Họa sĩ Nguyễn Cát Tường sinh ra và lớn lên ở Sơn Tây – Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, họa sĩ Nguyễn Cát Tường cộng tác với báo Phong Hóa do nhà văn Nhất Linh làm chủ biên.

Bằng con mắt liên tài, nhà văn Nhất Linh nhận ra chàng họa sĩ trẻ Nguyễn Cát Tường ngoài sở trường vẽ tranh minh họa còn có khả năng đưa ra những ý kiến bổ ích để tư vấn làm đẹp cho phái nữ.

Vì vậy, trên báo Phong Hóa số 85 ra ngày 11/2/1934, nhà văn Nhất Linh mở chuyên mục

“Vẻ đẹp riêng tặng các bà, các cô” và giao cho họa sĩ Nguyễn Cát Tường phụ trách.

Sau 4 số báo nhẩn nha phân tích về trang phục phụ nữ Việt, họa sĩ Nguyễn Cát Tường nhấn mạnh:

“Quần áo tuy dùng để che thân thể, nhưng nó có thể như tấm gương phản chiếu trình độ trí thức của một nước.

Bộ quần áo rồi sẽ phải như thế nào? Trước hết, nó phải hợp với khí hậu xứ ta, với thời tiết các mùa, với công việc, với khuôn khổ, với mực thước của thân hình mỗi bạn.

Sau nữa, nó phải gọn gàng, giản dị, mạnh mẽ và có vẻ thẩm mỹ lịch sự. Nhưng dù thế nào, nó cũng phải có cái tính cách riêng của nước nhà mới được. Các bạn là phụ nữ Việt Nam, vậy áo của các bạn phải có một vẻ riêng để người khác khỏi nhầm các bạn với phụ nữ nước ngoài, như nước Tàu, nước Pháp, nước Nhật Bản chẳng hạn”.

Với quan niệm ấy, trên báo Phong Hóa số 90 ra ngày 23/3/1934, họa sĩ Nguyễn Cát Tường đã công bố bản vẽ chiếc áo dài đầu tiên, đặt tên là áo dài Lemur. Nhà văn Thạch Lam đã lên tiếng ủng hộ áo dài Lemur rất nồng nhiệt:

“Sự cải cách y phục của phụ nữ ta có thể bởi cái nguyên nhân sau:

cái dáng điệu tự nhiên của thân thể người ta mà các họa sĩ biết thưởng thức. Biết sự mềm mại tha thướt của dáng điệu, rồi làm thế nào cho cái ống quần, cái tà áo theo cái mềm mại tha thướt đó, để làm tăng vẻ đẹp của thân hình cô thiếu nữ trẻ trung”.

Để chiếc áo dài Lemur bước từ trang báo ra cuộc đời, họa sĩ Nguyễn Cát Tường đã hợp tác với hiệu may Cử Chung ở số 100 phố Hàng Bông – Hà Nội và hiệu may Phạm Tá ở số 23 phố Bờ Hồ – Hà Nội để khuyến khích phụ nữ trưng diện trang phục này.

Đích thân họa sĩ Nguyễn Cát Tường đã đi tìm những phụ liệu nhằm làm tăng thêm sức hấp dẫn cho chiếc áo dài.

Và một lần ra ga Hàng Cỏ để gặp một ông chủ xưởng dệt ren ở Bắc Ninh lên, họa sĩ Nguyễn Cát Tường đã nhận được món quà nhân duyên lớn nhất đời mình!

Khi tàu từ Bắc Ninh vào ga Hàng Cỏ,

họa sĩ Nguyễn Cát Tường chờ mãi không thấy ông chủ xưởng dệt ren đã có hẹn với mình. Đang mắt trái mắt phải ngó nghiêng kiếm tìm, họa sĩ Nguyễn Cát Tường sửng sốt khi phát hiện một cô gái đi ngang. Không trang điểm, trên đầu lại chít khăn xô đại tang, nhưng nhan sắc của cô gái làm họa sĩ Nguyễn Cát Tường ngơ ngẩn.

Sau mấy phút choáng váng, họa sĩ Nguyễn Cát Tường hoàn hồn và chạy theo cô gái. Lễ nghi lúc ấy không cho phép trai gái làm quen sỗ sàng, họa sĩ Nguyễn Cát Tường dò la biết được cô gái kia tên là Nội cũng ở Bắc Ninh và là con gái một chủ xưởng dệt ren vừa qua đời.

Họa sĩ Nguyễn Cát Tường xã giao với người kéo xe của cô Nội để nhờ đưa thư. Sau mấy lần thư đi thư lại và thưởng không ít bạc cho người kéo xe, họa sĩ Nguyễn Cát Tường được thông báo rằng cô Nội hẹn ông ở chuyến tàu Bắc Ninh – Hà Nội dịp cuối tuần.

Đúng giờ, họa sĩ Nguyễn Cát Tường chưng diện bảnh bao để đứng đợi cô Nội ở ga Hàng Cỏ.

Cô Nội xuống tàu thật, với hai chiếc va li to đùng. Họa sĩ Nguyễn Cát Tường nhào đến, cúi chào cô Nội rất điệu đàng kiểu quý ông.

Cô Nội hơi ngơ ngác nhưng vẫn không tỏ thái độ gì, chỉ nhìn xuống… hai cái va li. Dù không phải loại người khỏe mạnh, nhưng họa sĩ Nguyễn Cát Tường cũng tỏ ra ga- lăng, hai tay nhấc bổng hai cái va li lên.

Cứ thế, nàng nhẹ nhàng đi trước, chàng hổn hển theo sau.

Ra khỏi cổng ga, nàng đi thẳng vào… đồn cảnh sát.

Hơi khó hiểu, nhưng chàng cũng vào luôn và hồn xiêu phách tán khi nghe nàng tố giác tội phạm:

“Ông này lấy cắp hai cái va li của tôi!”.

Nhân chứng và vật chứng đều có đủ, họa sĩ Nguyễn Cát Tường không biết cách nào biện hộ cho bản thân, đành lấy mấy lá thư của cô Nội mà mình lúc nào cũng mang bên mình để chứng minh cả hai có quan hệ với nhau. Cô Nội khăng khăng

“không phải chữ của tôi”, và mượn giấy bút của cảnh sát để biểu diễn chữ viết hoa mỹ gấp trăm lần thứ chữ viết mà họa sĩ Nguyễn Cát Tường nhận được.

Trời đất như sụp đổ dưới chân họa sĩ Nguyễn Cát Tường.

Cô Nội thì nhận lại hai cái va li để đi xa rồi, còn họa sĩ Nguyễn Cát Tường phải ngồi ở đồn cảnh sát để tường trình sự việc và chờ người của báo Phong Hóa đến bảo lãnh.

Tất nhiên, thuở đó nhà văn Nhất Linh – chủ báo Phong Hóa cũng là nhân vật có quyền lực, nên họa sĩ Nguyễn Cát Tường nhanh chóng thoát nạn.

Bấy giờ, họa sĩ Nguyễn Cát Tường mới vỡ lẽ bị người kéo xe giở trò lừa đảo.

Cái gọi là thư của cô Nội, đều do người kéo xe tự viết để mong có mấy đồng tiền thưởng từ họa sĩ Nguyễn Cát Tường.

Oan gia ngõ hẹp, mấy ngày sau họa sĩ Nguyễn Cát Tường nhận được trát của tòa án.

Lý do, cô Nội về nhà kể lại cho mẹ nghe những điều đã xảy ra trên Hà Nội.

Và bà góa chủ xưởng thêu ren ở Bắc Ninh quyết không buông tha kẻ đã bôi nhọ thanh danh con gái cưng của mình bằng sự vu vạ “viết thư cho trai”. Thủ phạm là người kéo xe bị vạch mặt, nhưng họa sĩ Nguyễn Cát Tường vẫn thua kiện và phải “bồi thường một đồng danh dự” cho cô Nội.

Hình ảnh cô Nội ngỡ đã tan thành mây khói trong giấc mộng của họa sĩ Nguyễn Cát Tường, thì cái câu “hữu duyên thiên lý năng tương ngộ” lại ứng nghiệm.

Tuy chồng đã qua đời, nhưng cam kết cung cấp nguyên liệu cho việc may áo dài vẫn được người vợ thừa kế xưởng dệt ren thực hiện.

Họa sĩ Nguyễn Cát Tường được mời xuống Bắc Ninh để gặp mặt tiếp tục thỏa thuận cho một thương vụ êm thắm. Thật bất ngờ, cô gái của bà chủ xưởng thêu ren thay mẹ rót trà mời khách, không ai khác, chính là cô Nội.

Không giống như sự giận dữ trước đây đối với kẻ xúc phạm con gái mình, mẹ của cô Nội hết sức khen ngợi tài năng của họa sĩ Nguyễn Cát Tường và không giấu giếm ý muốn nhận họa sĩ Nguyễn Cát Tường làm con rể.

Cuối năm 1936, sau khi mãn tang thân phụ, Nguyễn Thị Nội xuất giá.

Đám cưới được tổ chức tưng bừng ở Bắc Ninh. Trong ngày vu quy, cô dâu Nguyễn Thị Nội mặc chiếc áo dài do tân lang Nguyễn Cát Tường thiết kế.

Vốn có gien kinh doanh của gia tộc, Nguyễn Thị Nội từ ngày làm vợ họa sĩ Nguyễn Cát Tường, đã giúp chồng phát triển thương hiệu áo dài Lemur rất thịnh vượng tại Hà Nội. Hiệu may Lemur với đặc sản áo dài được mở tại số 16 phố

Lê Lợi, trở thành địa chỉ nổi tiếng nhất về y phục phụ nữ.

Bà chủ Nguyễn Thị Nội không chỉ khéo léo chiều chuộng khách hàng,

mà còn là người mẫu thuyết phục nhất để người ta yêu thích chiếc áo dài.

Cũng nhờ người mẫu Nguyễn Thị Nội, họa sĩ Nguyễn Cát Tường có cảm hứng sáng tạo rất nhiều mẫu áo dài, để in thành cuốn sách “50 mẫu y phục phụ nữ Lemur” do Nhà xuất bản Đời Nay ấn hành.

Năm 1939, hiệu may Lemur chuyển về số 14 phố Hàng Da.

Và tại địa chỉ này, bà Nguyễn Thị Nội đã mở phòng trà Thiên Hương quy tụ những nghệ sĩ lừng lẫy nhất thủ đô hội ngộ hàng đêm.

Bà Nguyễn Thị Nội sinh cho họa sĩ Nguyễn Cát Tường cả thảy 5 người con, 3 trai 2 gái.

Ngày 17/12/1946, họa sĩ Nguyễn Cát Tường qua đời, hiệu may Lemur cũng đóng cửa.

Sau năm 1954, bà Nguyễn Thị Nội đưa gia đình vào Sài Gòn, và một mình làm lụng nuôi các con khôn lớn.

Bây giờ bà Nguyễn Thị Nội cũng đã thành người thiên cổ, nhưng những ngày bà cùng chồng mình – họa sĩ Nguyễn Cát Tường quảng bá chiếc áo dài, xứng đáng được thế hệ sau truyền tụng. Bởi lẽ, tình yêu của họ đã giúp người Việt Nam có được một trang phục truyền thống mang vẻ đẹp quyến rũ, như nhà thơ Nguyên Sa bồi hồi: 

“Có phải em mang trên áo bay/

Hai phần gió nổi một phần mây/

Hay là em gói mây trong áo/

Rồi thở cho làn áo trắng bay”,

hoặc như nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên xao xuyến:

“Tháng giêng em áo dài trang nhã/

Tỉnh lỵ còn nguyên nét Việt Nam/

Đài các chân ngà ai bước khẽ/

Quyện theo tà lụa cả phương Đông”.

Mời nghe radio

https://nongnghiep.vn/…/hoa-si-nguyen-cat-tuong-hanh…

Sưu tầm

My Lan Phạm


 

GP Cần Thơ sẽ tổ chức Thánh Lễ Phong Thánh LM Trương Bửu Diệp năm 2026

Ba’o Nguoi-Viet

December 21, 2025

CẦN THƠ, Việt Nam (NV) – Giáo Phận Cần Thơ, Việt Nam, sẽ tổ chức Thánh Lễ Phong Chân Phước Cố Linh Mục Trương Bửu Diệp vào Thứ Năm, 2 Tháng Bảy, 2026, tại Trung Tâm Hành Hương Tắc Sậy, xã Phong Thạnh, tỉnh Cà Mau.

Hôm Thứ Sáu, 19 Tháng Mười Hai, Giám Mục Lê Tấn Lợi, giám mục Giáo Phận Cần Thơ, gởi ra thông cáo cho biết như vậy.

Tượng Linh Mục Trương Bửu Diệp tại văn phòng Truong Buu Diep Foundation, Garden Grove. (Hình minh họa: Facebook Truong Buu Diep Foundation)

“Trong tâm tình tạ ơn Thiên Chúa, Tòa Giám Mục Giáo Phận Cần Thơ hân hoan loan báo một niềm vui trọng đại của giáo phận và của giáo hội tại Việt Nam: Tòa Thánh đã chính thức chấp thuận việc tổ chức Thánh Lễ Phong Chân Phước cho Tôi Tớ Chúa – Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp, do đặc sứ của Đức Thánh Cha Leo XIV là Đức Hồng Y Luis Antonio G. Tagle, quyền bộ trưởng Bộ Loan Báo Tin Mừng, chủ sự,” thông cáo cho biết.

Giám Mục Lê Tấn Lợi cho biết thêm: “Đây là hồng ân đặc biệt Chúa ban cho giáo phận chúng ta, đồng thời là niềm khích lệ lớn lao cho mọi thành phần dân Chúa noi gương Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp trung thành sống đức tin, nồng nàn yêu mến Chúa và tận tâm hy sinh phục vụ tha nhân.”

“Xin toàn thể cộng đoàn dân Chúa hiệp thông trong lời tạ ơn Thiên Chúa, đồng thời sốt sắng cầu nguyện cho công việc chuẩn bị và tổ chức Thánh lễ Phong Chân Phước được diễn ra tốt đẹp và sinh nhiều hoa trái thiêng liêng,” vị giám mục chánh tòa Cần Thơ thêm.

Giám mục kêu gọi: “Tôi tha thiết kêu gọi quý linh mục, tu sĩ nam nữ và anh chị em giáo dân, trong khả năng và trách nhiệm của mình, nhiệt tình cộng tác và chung tay góp phần để việc tổ chức Thánh Lễ Phong Chân Phước Phanxicô Trương Bửu Diệp được sốt sắng, chu đáo và tràn đầy ý nghĩa đức tin.”

Được biết đây là lần đầu tiên có một Thánh Lễ Phong Chân Phước được cử hành tại Việt Nam. 

Thông cáo của Giám Mục Lê Tấn Tới nói về việc tổ chức Thánh Lễ Phong Chân Phước Cố Linh Mục Trương Bửu Diệp. (Hình: Giáo Phận Cần Thơ)

Tiểu sử Linh Mục Trương Bửu Diệp

Theo Vatican News, Linh Mục Trương Bửu Diệp sinh ngày 1 Tháng Giêng, 1897, tại họ đạo Cồn Phước, làng Tấn Đức, nay thuộc ấp Mỹ Lợi, xã Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Thân phụ của linh mục là ông Trương Văn Đặng và thân mẫu là bà Lê Thị Thanh. Năm 1904, sau khi mẹ qua đời, vị linh mục tương lai theo cha sang tỉnh Battambang, Cambodia, sinh sống.

Năm 1909, linh mục vào Tiểu Chủng Viện Cù Lao Giêng, sau đó, tiếp tục tu học tại Đại Chủng Viện Phnom Penh, Cambodia, và được thụ phong linh mục tại thủ đô nước này năm 1924.

Từ năm 1924 đến năm 1927, linh mục được bổ nhiệm làm phó xứ Hố Trư, một họ đạo của người Việt Nam sinh sống tại tỉnh Kandal, Cambodia. Từ năm 1927 đến năm 1929, Linh Mục Trương Bửu Diệp về làm giáo sư tại Tiểu Chủng Viện Cù Lao Giêng.

Từ năm 1930, linh mục được bổ nhiệm làm chánh xứ họ đạo Tắc Sậy, tỉnh Bạc Liêu, nay thuộc xã Phong Thạnh, tỉnh Cà Mau.

Suốt 16 năm thi hành sứ vụ, linh mục tận tụy chăm sóc đoàn chiên, đặc biệt yêu thương người nghèo, không phân biệt lương giáo. Giữa thời loạn lạc chiến tranh, dù được khuyên lánh nạn, linh mục vẫn kiên quyết ở lại với giáo dân, khi nói: “Tôi sống giữa đoàn chiên và nếu có chết cũng giữa đoàn chiên.”

Ngày 12 Tháng Ba, 1946, Linh Mục Trương Bửu Diệp bị Nhật bắt cùng với hơn 70 giáo dân họ Tắc Sậy. Linh mục đứng ra tranh đấu cho dân, đồng thời an ủi những người cùng bị giam. Sau lần thứ ba bị mời đi làm việc, linh mục không trở về. Sau đó vài ngày, giáo dân tìm thấy xác linh mục tại một cái ao, với vết chém sau ót ngang mang tai và thân xác trần trụi như Chúa Giêsu trên thập giá.

Thi hài linh mục được vớt lên và chôn cất trong phòng thánh nhà thờ Khúc Tréo, Bạc Liêu, đến năm 1969 thì được di dời về an táng tại Tắc Sậy, nơi ngày nay trở thành điểm hành hương của đông đảo tín hữu kính nhớ một vị mục tử đã sống và chết vì đoàn chiên.

Sau khi linh mục qua đời, rất nhiều tín hữu bắt đầu đến kính viếng mộ linh mục, xin linh mục chuyển cầu và nhận được nhiều phép lạ.

Nhà thờ Tắc Sậy ở xã Phong Thạnh, tỉnh Cà Mau. (Hình: Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo Việt Nam)

Án phong Chân Phước 

Năm 2013, Giám Mục Tri Bửu Thiên, giám mục Giáo Phận Cần Thơ,  mở án điều tra cấp giáo phận, thu thập chứng cứ, lời chứng, và các phép lạ. Hồ sơ được hoàn tất vào năm 2017 và được gửi sang Vatican. Năm 2019, Bộ Tuyên Thánh kết luận điều tra có giá trị để khởi sự án phong Chân Phước.

Ngày 25 Tháng Mười Một, 2024, trong cuộc tiếp kiến dành cho Hồng Y Marcello Semeraro, bộ trưởng Bộ Phong Thánh, Đức Giáo Hoàng Francis cho phép bộ ban hành sắc lệnh nhìn nhận sự tử đạo của Linh Mục Trương Bửu Diệp (bị giết vì sự căm thù đức tin).

Trong thư đề ngày 3 Tháng Mười Hai, gởi đến Linh Mục Cleber Willian Lopes Pombal, thuộc Dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ, Tổng Giám Mục Edgar Pena Parra, phụ tá quốc vụ khanh Tòa Thánh Vatican, cho biết, theo ý định của Đức Giáo Hoàng Leo XIV, nghi thức tuyên phong Chân Phước cho Đấng Đáng Kính Tôi Tớ Chúa Phanxicô Trương Bửu Diệp sẽ được cử hành vào vào Tháng Bảy, 2026, như đã nêu ở trên.

Nhà thờ Tắc Sậy 

Theo trang web vietnamtourist.com, nhà thờ Tắc Sậy, hay còn biết đến là nhà thờ Cha Diệp, được xem là một trong những nhà thờ Công Giáo đẹp nhất miền Tây sông nước. Đây cũng là nơi an nghỉ cuối cùng của Linh Mục Trương Bửu Diệp.

Nhà thờ được xây dựng năm 1925 và Linh Mục Trần Minh Kính là chánh xứ đầu tiên, từ Tháng Tám, 1926. Năm 1930, Linh Mục Trương Bửu Diệp là chánh xứ.

Tên Tắc Sậy xuất phát từ đặc điểm địa hình vùng này, có nhiều lau sậy, muốn đi vào nhà thờ phải đi qua một con đường tắt. Do người Nam biến âm “tắt” thành “tắc,” cho nên có tên Tắc Sậy.

Ngày nay, nhà thờ là một trong những điểm hành hương nổi tiếng nhất Việt Nam, thu hút nhiều du khách và giáo dân đến chiêm ngưỡng, dâng lễ, cầu nguyện, và khấn vái,…nhất là trong dịp Tết, những ngày lễ lớn của người Công Giáo, và ngày giỗ Linh Mục Trương Bửu Diệp. (Đ.D.)