Hàng trăm con người nằm vật vạ ngoài lề đường, gốc cây, dưới màn trời…

Phong AnhSAIGON KỶ-NIỆM

Giữa đêm khuya ở Sài Gòn, vòng quanh những bệnh viện lớn như Chợ Rẫy, Bình Dân, Đại học Y Dược… là những cảnh tượng không khác gì địa ngục. Hàng trăm con người nằm vật vạ ngoài lề đường, gốc cây, dưới màn trời, quạt mo, bạt tạm bợ. Gương mặt tiều tụy, lo âu, mệt mỏi vì thức trắng đêm chờ thân nhân bên trong đang thập tử nhất sinh. Cơ sở y tế địa phương không đủ khả năng, buộc phải chuyển lên tuyến trên. Và tuyến trên thì chật cứng. 

Đây không phải chuyện hiếm, không phải “mùa dịch”, mà là tình trạng kéo dài nhiều năm của y tế Việt Nam. Bệnh viện công tuyến cuối luôn trong cảnh quá tải kinh niên. Bệnh nhân phải nằm ghép, nằm hành lang, chờ khám cả ngày. Người nhà thì “màn trời chiếu đất” để túc trực.

Ai dám chắc mình và người thân sẽ không bao giờ rơi vào cảnh ấy? Một tai nạn, một cơn bệnh nặng, hay đơn giản là ung thư, tim mạch – những thứ có thể xảy đến với bất kỳ ai – lập tức đẩy gia đình vào vòng xoáy khốn cùng về tiền bạc, thời gian và sức khỏe tinh thần.

Nguyên nhân sâu xa không chỉ là “thiếu tiền”.

Hệ thống y tế cơ sở yếu kém khiến người dân mất niềm tin, dồn hết lên bệnh viện lớn. Thiếu nhân lực chất lượng cao, bác sĩ tuyến dưới không đủ trang thiết bị và kinh nghiệm. Cơ chế tự chủ bệnh viện đôi khi đẩy chi phí lên cao, trong khi bảo hiểm y tế vẫn hạn chế với nhiều dịch vụ. Quan trọng nhất là sự quản lý và đầu tư chiến lược thiếu tầm nhìn dài hạn.

Trong đó, trách nhiệm của những người từng đứng đầu ngành không thể phủ nhận. Bà Nguyễn Thị Kim Tiến – cựu Bộ trưởng Y tế – đang phải hầu tòa với cáo buộc vi phạm quy định quản lý tài sản nhà nước, gây thất thoát lãng phí hơn 803 tỷ đồng tại hai dự án cơ sở 2 của Bệnh viện Bạch Mai và Việt Đức.

Những dự án lẽ ra phải giảm tải cho tuyến trên, nhưng lại “đắp chiếu” nhiều năm do sai phạm trong lựa chọn nhà thầu, phê duyệt, dẫn đến đình trệ kéo dài. 

Khi những người nắm quyền lại để xảy ra lãng phí hàng trăm tỷ đồng trong khi dân nghèo nằm ngoài đường chờ cứu chữa, thì lời chỉ trích mạnh mẽ là có cơ sở.

Lãnh đạo ngành y không chỉ quản lý chuyên môn mà còn phải chịu trách nhiệm về đạo đức và lương tâm. Để người dân phải chịu đựng cảnh “thân nhân thập tử nhất sinh, người nhà ngủ vỉa hè” trong khi ngân sách nhà nước bị thất thoát, là điều không thể chấp nhận.

Y tế là quyền con người cơ bản. Một xã hội văn minh không thể để người dân phải đánh đổi tính mạng bằng cảnh màn trời chiếu đất. Cần thay đổi thực sự:

  • Tăng mạnh đầu tư và nâng cao năng lực y tế cơ sở, tuyến huyện, tỉnh để giảm tải cho tuyến cuối.
  • Minh bạch chi phí, chống tham nhũng, lãng phí dự án.
  • Thu hút nhân tài, cải thiện thu nhập và môi trường làm việc cho bác sĩ.
  • Xây dựng niềm tin để người dân không nhất thiết phải đổ dồn về thành phố lớn.

Cảnh tượng ngoài cổng bệnh viện đêm khuya không chỉ là nỗi đau của những gia đình cụ thể, mà là vết nhơ của cả hệ thống. Ai cũng có thể trở thành nạn nhân.

Vì vậy, đây không chỉ là vấn đề của “người bệnh”, mà là vấn đề của toàn xã hội. Cần tiếng nói mạnh mẽ và hành động quyết liệt hơn nữa để y tế Việt Nam thực sự phục vụ nhân dân, chứ không phải để một số cá nhân “phè phỡn trên nỗi đau đồng loại”.

Đau lòng, nhưng phải nhìn thẳng vào sự thật để thay đổi. 


 

GIẤY CHỨNG SINH EM BÉ ĐẦU TIÊN RA ĐỜI TRÊN ĐẢO HOÀNG SA NĂM 1939…

8 SÀI GÒN

GIẤY CHỨNG SINH EM BÉ ĐẦU TIÊN RA ĐỜI

TRÊN ĐẢO HOÀNG SA NĂM 1939…

Ít ai biết rằng một trong những tài liệu đặc biệt nhất về Hoàng Sa lại là một giấy chứng sinh được lập cách đây gần một thế kỷ.

Đó là giấy chứng sinh của Mai Kim Quy, sinh ngày 07/12/1939 trên đảo Hoàng Sa. Dù đã hơn 86 năm trôi qua, tờ giấy vẫn còn được lưu giữ và ghi rõ nơi sinh là đảo Hoàng Sa, cùng đầy đủ thông tin về cha mẹ, người làm chứng và đại diện hành chính trên đảo thời bấy giờ.

Cha của Mai Kim Quy là ông Mai Xuân Tập, nhân viên khí tượng đang công tác tại Hoàng Sa. Hai người làm chứng gồm bác sĩ Nguyễn Tăng Chuẩn và ông Đỗ Đức Mai, Giám đốc Đài Phát thanh. Tài liệu còn có chữ ký xác nhận của đại diện phái đoàn hành chính trên đảo.

Điều thú vị là tờ giấy này cho thấy Hoàng Sa không chỉ là nơi có các hoạt động quản lý, khí tượng hay thông tin liên lạc, mà còn từng có những gia đình người Việt sinh sống, làm việc và sinh con ngay trên đảo.

Ngày nay, giấy chứng sinh của Mai Kim Quy được xem là một trong những tư liệu lịch sử có giá trị, phản ánh đời sống dân sự của người Việt tại Hoàng Sa từ trước năm 1940.

Một tờ giấy nhỏ đã nhuốm màu thời gian, nhưng vẫn lưu giữ nguyên vẹn câu chuyện về sự hiện diện của người Việt trên quần đảo Hoàng Sa cách đây gần một thế kỷ, trở thành tư liệu sinh động khẳng định chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

IFACT 


 

Trump ngậm cái gân gà Iran. Nuốt không trôi; nhả ra bị quê – Đoàn Xuân Thu

Đoàn Xuân Thu

Trump ngậm cái gân gà Iran. Nuốt không trôi; nhả ra bị quê.

Trong chính trị thế giới, có những lúc người ta cứ tưởng trò chơi chỉ là “ai mạnh hơn ai”. Nhưng với Donald Trump và Iran hiện nay, thì “mạnh” không chỉ tính bằng súng ống, mà còn bằng lời lẽ, ánh mắt và… truyền hình trực tiếp.

Hình ảnh hàng ngàn người Iran đổ ra đường, hô vang “Chết cho Mỹ nó chết” dưới biển cờ Iran đã trở thành biểu tượng của tinh thần bất khuất.

Trong khi đó, Trump thì dùng mạng xã hội như gươm báu, đe dọa, nhưng vẫn chưa dám mạo hiểm bước chân vào lãnh thổ Iran.

Ai đang thắng, ai đang thua, hay chỉ là đang “gặm gân gà” một cách căng thẳng?

Hàng đêm, ở Tehran, người dân được chính quyền vận động tham gia các cuộc “họp đêm”, hô khẩu hiệu, giương cờ, và học cách sử dụng AK-47. Các cô gái trẻ, mặc chador đen, còn được hướng dẫn tháo lắp súng như những chiến binh cừ khôi.

Trên sóng truyền hình nhà nước, MC Hossein Hosseini bắn súng lên trần studio; Mobina Nasiri thì cầm súng tươi cười, thông báo rằng cô cũng nhận được vũ khí từ Quảng trường Vanak để… học bắn.

Một kịch bản vừa nghiêm trọng, vừa có phần hài hước – như trong phim hành động Hollywood – nhưng lại là thực tế ngoài đời.

Tuy nhiên, không phải tất cả người Iran đều mơ thấy bom đạn và khẩu súng. Ở công viên gần Bảo tàng Điện ảnh, những cặp tình nhân tay trong tay, người già đọc sách, trẻ em chơi đùa, nhắc nhở rằng cuộc sống vẫn diễn ra bình thường giữa tâm bão.

Một giáo sư đại học thì lén nói với phóng viên “Chúng tôi chỉ muốn sống trong một đất nước bình thường, nơi con cái có tương lai.”

Một thanh niên trẻ lướt qua thì lắc đầu: “Không chiến tranh!”

Điều này chứng tỏ rằng, bên cạnh chính quyền cứng rắn, vẫn tồn tại một lớp dân thường tìm kiếm hòa bình, minh chứng rằng không phải ai cũng muốn đứng trên mặt trận.

Còn Trump thì sao? Ông tổng thống Mỹ vẫn tung lời đe dọa trên mạng xã hội, kiểu: “Đối với Iran, đồng hồ đang đếm ngược, họ nên hành động nhanh, nếu không sẽ không còn gì lại cho họ.”

Nghe thì oai phong, nhưng thực tế, ông chỉ dám bắn tên lửa từ căn cứ ở nước láng giềng, có thể dẫn đến lính Mỹ tử vong, mà chưa dám đặt chân vào đất Iran. Chính sách này giống như “ăn gân gà”: đối phương căng thẳng, nhưng không liều lĩnh nhảy vào chảo lửa. Chiêu này vừa tạo sức ép ngoại giao, vừa giảm nguy cơ thiệt hại trực tiếp cho quân đội Mỹ – một kiểu toán học chiến tranh vừa an toàn, vừa… căng thẳng tinh thần.

Trung Quốc cũng không đứng ngoài cuộc. Trump muốn nhờ Tập Cận Bình gây áp lực Iran nhượng bộ về hạt nhân, nhưng ngược lại, Tập có thể đòi hỏi Mỹ nhượng bộ về Đài Loan. Chuyện này làm cho bàn cờ quốc tế càng thêm phức tạp. Một bên “đang ăn gân gà”, một bên “giữ dao trong tay”, cả ba phe đều đang xem ai sẽ nháy mắt trước.

Chương trình hạt nhân của Iran là trung tâm của mọi tính toán. Người dân Iran thừa nhận chưa có bom hạt nhân, nhưng nhấn mạnh quyền phát triển công nghệ hạt nhân và tên lửa để bảo vệ biên giới. “Chúng tôi cần năng lượng sạch, không phải bom,” họ nói.

Trong khi đó, Trump muốn Iran chấm dứt chương trình hạt nhân, coi đó là điều kiện để ngừng chiến tranh.

Một bế tắc ngoạn mục: người Mỹ ép, người Iran phòng vệ, và dân chúng chia rẽ giữa chiến tranh và hòa bình.

Thông điệp từ Tehran còn được nhấn mạnh trên sóng truyền hình: những người dẫn chương trình cầm súng bắn trực tiếp, các quầy huấn luyện công khai, học sinh, phụ nữ, trẻ em đều được dạy cách dùng vũ khí. Đây là chiến lược “răn đe mềm”, vừa nhắm vào tâm lý dân chúng, vừa gửi thông điệp tới Mỹ: Iran sẵn sàng chiến đấu nếu bị khiêu khích. Và quả thật, Trump biết rằng một bước sai lầm có thể khiến mọi thứ bùng nổ ngoài kiểm soát.

Xét tổng thể, tình hình hiện nay là một vở kịch ngoại giao kỳ lạ: Trump “ăn gân gà”, Iran vừa chuẩn bị chiến tranh vừa duy trì hình ảnh đoàn kết dân tộc, Trung Quốc đứng bên cạnh như một người cầm cân nảy mực.

Mọi động thái nhỏ đều có thể tạo ra hiệu ứng domino: từ leo thang xung đột Trung Đông đến tác động chiến lược toàn cầu. Chính trị quốc tế, vì thế, không chỉ là súng đạn, mà còn là lời hăm dọa, truyền thông, và cả… nghệ thuật diễn xuất.

Bài học rút ra là, trong thế giới hôm nay, chiến tranh và hòa bình nằm trong tay lời nói, hình ảnh, và chiến lược tinh thần nhiều hơn là trong khẩu súng. Dù Trump tung lời đe dọa, Iran tập huấn dân chúng, hay Trung Quốc quan sát từ xa, ranh giới giữa áp lực và chiến tranh thật mong manh. Trump muốn thắng, nhưng giờ giống như Trump nhai gân gà.

Trong khi thế giới theo dõi từng nhịp điệu của cuộc chơi chính trị này, câu hỏi vẫn còn đó: liệu ngoại giao có thể thắng chiến tranh? Hay tất cả sẽ chỉ là một chuỗi hăm dọa, huấn luyện súng ống và căng thẳng tinh thần, để rồi cuối cùng, ai cũng mệt, nhưng chưa ai thực sự giành phần thắng? Chỉ có thời gian sẽ trả lời, nhưng một điều chắc chắn: trong trò chơi này, cả Trump lẫn Iran đều phải tập “gặm gân gà” thật khéo để sống sót.

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne.

Theo CNN.


 

Mỹ ra chính sách mới: người muốn xin thẻ xanh phải về nước nộp đơn (BBC)

BBC

Một gia đình gốc Việt trong ngày chính thức được ghi nhận là công dân Mỹ hôm 23/6/2020

Tác giả, Nardine Saad

và Tác giả,Sareen Habeshian

23 tháng 5 2026

Mỹ vừa công bố một chính sách mới, theo đó hầu hết người nhập cư muốn xin thẻ xanh sẽ phải rời Mỹ và nộp đơn tại đại sứ quán hoặc lãnh sự quán ở nước ngoài.

Cơ quan Di trú và Nhập tịch Hoa Kỳ (USCIS) cho biết hôm 22/5 rằng những người muốn thay đổi tình trạng cư trú phải thực hiện thông qua quy trình lãnh sự bên ngoài nước Mỹ “trừ những trường hợp đặc biệt”.

Động thái này – một phần trong nỗ lực của chính quyền Trump nhằm hạn chế nhập cư bất hợp pháp – đã bịt kín một kẽ hở cho phép người có thị thực và khách du lịch nộp đơn xin thẻ xanh khi vẫn còn ở Mỹ.

Những người chỉ trích cho rằng chính sách trước đây, vốn đã được áp dụng trong thời gian dài, cho phép nhiều người ở lại Mỹ cùng gia đình trong lúc chờ hồ sơ được xét duyệt – một quá trình thường mất khá nhiều thời gian.

Phương thức mới này cũng có thể khiến một số người rời Mỹ để xin thẻ xanh – loại giấy tờ cho phép thường trú tại Mỹ – gặp khó khăn hoặc thậm chí không thể quay trở lại Mỹ.

Xem trong (BBC)

Góc Nhìn Của Một “Thùng Nhân” Quá Hãi Hùng / Thụy My Biên Tập 

Góc Nhìn Của Một “Thùng Nhân” Quá Hãi Hùng / Thụy My Biên Tập 

Nội dung : tại sao đã 51 năm rồi kể từ ngày cộng sản chiếm miền Nam mà người VN vẫn tìm đường ra nước ngoài. Như vậy chế độ cộng sản có mang lại cho cơm no áo ấm và hạnh phúc cho người dân chưa thì bài viết này đã là một câu trả lời. Thương dân Việt quá. Trước năm 1975 dưới chính thể của VNCH không ai muốn ra nước ngoài cả. Đi du học xong là quay về đóng góp và phục vụ cho đất nước.

Nhìn lại dòng nhạc miền Nam từ bước khởi đầu với triển vọng sau này như một giấc mơ trong niềm hãnh diện sáng ngời

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Nguyễn Văn Lục

21/05/2026

Nhìn lại hơn nửa thế kỷ, dòng nhạc miền Nam từ bước khởi đầu với triển vọng sau này như một giấc mơ trong niềm hãnh diện sáng ngời…với giới nhạc sĩ và những ca sĩ quyện vào nhau tuyệt vời

  • Sau này, may mắn là tất cả các nhạc sĩ lẫn các ca sĩ đã lần lượt được các chương trình Paris By Night của trung tâm Thúy Nga giới thiệu. Nhờ thế, các dòng nhạc VN còn được ghi lại một cách sống động đến ngày nay.
  • Những bước khởi đầu của một thời kỳ hồng hoang.

Trong giai đoạn hòa trộn dòng nhạc cổ điển Tây Phương với những với Tino Rossy bên cạnh dòng nhạc ca trù, hát chèo, hát quan họ với cây đàn bầu, đàn nhị..Một số nhạc sĩ trẻ đã chọn cho bản thân một lối đi riêng mở đường  cho một dòng nhạc Việt Nam: Dzõan Mẫn, Đặng Thế Phong và Hùng Lân.

  • Nhạc sĩ Dzoãn Mẫn (15-10-1919). Với một bài hát nhẹ nhàng, nhìn thấy các buổi chia tay của các đôi lứa chia tay trên ga xe lửa Hàng Cỏ. Ông đã viết bài Biệt Ly..Biệt ly nhớ nhung từ đây.. chiếc lá rơi theo mong manh người về có hay…( Bài Biệt ly đã bị cấm trình bày một thời gian dài ở ngoài Bắc. Nhưng tại miền Nam, nó đã được Thái Thanh hát tự do.)
  • Nhạc sĩ Đặng Thế Phong (16-4- 1918. Ông lìa đời ở tuổi 24, năm 2-8-1942, ông mất vì bệnh lao phối.

Ông xuất thân ở Nam Định, học trường St. Thomas d’Aquin, ông chỉ để lại cho đời có ba bài hát: Con thuyền không bến, Đêm thu, Giọt mưa thu.

Những bài này sau này đã được thể hiện qua giọng hát của Khánh Ly, Thái Thanh, Thanh Thúy, Ngọc Hạ.

Con thuyền không bến:

Đêm nay thu sang cùng heo mây… Đêm nay sương lam mờ trên mây.Thuyền ai lờ lững trôi theo dòng..

 Lướt theo chiều gió.. Trôi trên sông Tương, nước chảy đôi dòng. Nào ai biết nông sâu.

Bài giọt mưa thu:  Ngoài kia giọt mưa thu thánh thót rơi.. Trời nắng u buồn mây hắt hiu buồn trôi. Nghe gió thoảng mơ hồ..

Bài nào cũng nhẹ nhàng, ngọt ngào đi vào não trạng con người

Ông có người yêu là cô Tuyết. Cô Tuyết yêu ông nên cô đã túc trực ngày đêm trên giường bệnh để chăm sóc ông trong những ngày cuối đời.

Khi ông tắt thở, cô xin phép gia đình đôi bên, cầm bó hoa trắng, chít khăn tang đi đầu như một người vợ, mặc dầu chính thức họ chưa hề kết hôn.

Cảnh ấy xót thương làm sao và cũng đẹp làm sao!!

Đó một mối tình như thể thiên thu bất tận! Đẹp làm sao mà cũng não lòng làm sao..

Vài nhận xét: Mặc dầu ông không được học âm nhạc một cách bài bản.. Nhưng những dòng nhạc của Đặng Thế Phong đượm u buồn man mát, lắng sâu và đi vào lòng người. Và những nét buồn ấy ảnh hưởng tới hoặc gợi cảm hứng có thể cho các nhạc sĩ như Văn Cao, Cung Tiến và Trịnh Công Sơn sau này.

  • Nhạc sĩ Hùng Lân(Tên Phê rô Hoàng Văn Hường- 1986-2022)

Ông thuộc một gia đình công giáo với nhiều sáng tác cho thiếu niên, thanh niên với giọng điệu hùng mạnh, lý tưởng cứu quốc, sôi sục ý chí thanh niên và tinh thần quốc gia khác hẳn với những ca từ của Đặng Thế Phong. Như:Khỏe vì nước, Hè về, Việt Nam Minh chầu trời đông và bản dịch bài Silent night- Đêm thánh vô cùng.

Xin giới thiệu bài Khỏe vì nước:

Khỏe vì nước kiến thiết quốc gia

Đoàn thanh niên ta góp tài ba

Tạo nguồn dân sinh mới hùng mạnh trong nam giới.

Hợp lực xây dựng hưng thịnh chung quốc gia

Khỏe vì nước, ý chí cương kiên

Giống lạc hồng uy hùng vô biên

Trong khốn nguy can trường sống thác ta coi thường

Việt nam thanh niên anh dũng muôn năm.

Ông cũng là người thành lập ra Nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh 1945. Cũng như mở nhiều lớp nhạc cho thanh niên thiếu nữ.

Giữa Hùng Lân và Đặng Thế Phong là những người mở đường cho âm nhạc Việt. Khác nhau, nhưng không có vấn đề hơn kém, chỉ có vấn đề bổ túc và bù trừ cho buổi bình minh của dòng nhạc Việt mở đường sau này cho những Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Cung Tiến, Từ Công Phụng.

  • Dòng nhạc Phạm Duy

Phạm Duy là một thiên tài đa dạng, nhiều cung bậc… Ông để lại gần 1000 bài ca phổ nhạc đủ loại. Hùng mạnh có, ý nghĩa thâm trầm có, da diết có, buồn vui có nhớ thương khôn cùng. Thiền ca, đạo ca cũng không thiếu. Ông là cả một bầu trời ca nhạc bao la. Trước ông và sau ông không có ai- trừ Trịnh Công Sơn.

Bài tiêu biểu:

Tôi xin chọn bài: Việt Nam, Việt Nam ngay từ vào đời. Việt Nam hai câu nói trên vành môi. Việt Nam nước tôi, Việt Nam quê hương đất nước sáng ngời. Việt Nam tên gọi là Người.. ( Hùng ca sử Việt.)

Nhạc sĩ Trúc Hồ, trên SBTN coi bài này của Phạm Duy như bài quốc ca của VN.. Và sau này, đi đâu, trong các buổi lễ, các chương trình thường dùng bài ca này như một kết thúc cho chương trình.

Cá nhân tôi khi nghe bài này, như nổi da gà vì rúng động như đụng chạm tới tâm hồn tuổi trẻ VN.

Thật không diễn tả nổi và không có ngôn từ nào có thể sánh bì.

Ông cũng là người đưa Phạm Thiên Thu và Nguyễn Tất Nhiên chấp cho họ đôi cánh, đưa thi  ca và âm nhạc của họ cùng cất cánh bay lên!!!

Phạm Thiên Thu với người yêu Hoàng Thị Ngọ qua bài thơ: Ngày xưa Hoàng thị:

Em tan trường về

Đường xưa nho nhỏ

Mà thương mà nhớ

Dáng em nho nhỏ trong cõi xa vời…

Đó là lời tỏ tình dệt bằng hoa gấm, dễ thương và say nắng của một thời tuổi trẻ không gì hay hơn được…

Tiếp đến là nhà thơ Nguyễn  Tất  Nhiên,- học trò trường  Ngô quyền mà nay nhiều người đã từng sống như những nhân chứng một thời với nhà thơ.

Tôi từng được nghe nữ ca sĩ Thanh Lan, người ca sĩ không có tuổi với nốt ruồi trên khóe môi trái, duyên dáng và mời gọi đã hát chung với Vũ Khanh như thể một đôi tình nhân:

Đưa em về dưới mưa. Nói năng chi cũng thừa.. Đôi ta vào quán trưa.. Em hiền như ma sơ

Thật hồn nhiên và cảm động mà không ngôn từ nào nói cho đủ.

Tôi ngậm ngùi thương tiếc một tài năng thiên bẩm đã vội vã ra đi khỏi cõi trần thế ô trọc này..

Tôi cũng đã đôi lần gặp lại nhà thơ tại Cali, nơi báo Saigòn Nhỏ nơi mà mà tôi cộng tác.

Tôi cũng tiếc nguồi nguội là chỉ có 6 bài của nhà thơ được Phạm Duy phổ nhạc.

Nhưng cũng phải nhìn nhận một sự thật rằng: không có Phạm Duy phổ nhạc, không  thể có một Ngày xưa Hoàng Thị cũng không có Em hiền như ma sơ của Nguyễn Tất Nhiên…

Tôi viết vài dòng cảm tưởng này để gửi đến các học sinh Ngô Quyền đã học tôi trong 5 niên khóa vắn vỏi… mà không thể nói lên lời ( 1970-1975)

Sau này, tôi cũng lại có dịp  nghe Thanh Lan và Vũ Khanh đã cùng hát bài Trả lại em yêu của nhạc sĩ Phạm Duy. (Trung tâm Asia. )

Trả lại em yêu, khung trời đại học. Con đường Duy Tân, cây dài bóng mát.. tóc em thơm nồng, dáng em hiền hòa..Anh sẽ ra đi về miền mông muối..

Chủ nhật hẹn hò đây đó, uống ly chanh đường.Uống môi em ngọt ngào..

Tình yêu như thể không có tuổi. Tôi uống những lời ca ngọt ngào như thể hóa thân là chính mình là người trong cuộc. Ký ức của cả một thời mômg muội.. ngậm ngùi nhớ lại cho riêng mình, cho tuổi trẻ miền Nam, cho đất nước chia đôi, cho một một thời đã không còn nữa..

Bài phổ nhạc: Kiếp nào có yêu nhau.  (thơ Minh đức Hoài Trinh. Phạm Duy phổ nhạc)

Bài này đã được nhiều ca sĩ như Thái Thanh, Lệ Thu trình diễn. Một lần nữa cho thấy thiên tài phổ nhạc của Pham Duy.

Đừng nhìn em nữa anh ơi. Hoa xanh đã phai rồi, hương trinh đã tan rồi. Đừng nhìn em, đừng nhìn em nữa anh ơi đôi mi đã buông xuôi, môi răng đã quên…

Giọng hát của một nữ ca  sĩ Lệ Thu như xé nát con tim, như van nài, thổn thức.

Tôi nghe mà lòng thổn thức.

Điều này cho thấy, người nghe thường có thói quen gắn cặp Trịnh Công Sơn-Khánh Ly, Phạm Duy-Thái Thanh. Điều này thoạt đầu như thể là thật.

Tôi nhớ lại, Trịnh Công Sơn cầm cây đàn Guitare, Khánh ly đi chân trần, say sưa hát trên sân cỏ trường đại học văn khoa.

Nó vừa thật một cách hoang dại tuổi trẻ, nó vừa hòa đồng vào tuổi trẻ sinh viên miền Nam đã một thời như vậy..

Phải nhìn nhận, nó thật đẹp, lãng mạn và quyến rũ.

Nó là cả một thời, nhưng thời gian qua đi xem ra đã không còn như thế nữa.

Nhiều ca sĩ thế hệ sau đã thể hiện một cách bài bản và trọn vẹn trong giọng ca, trong cách thể hiện, cách ăn mặc kín đáo mà vẫn thể hiện được phong cách người phụ nữ..

Tôi vẫn không chia xẻ được những sô trình diễn trên Paris By Night của một số diễn viên, ca sĩ một cách phản cảm. Hình như thể, họ dùng thân xác phô bày như một cách lôi cuốn người xem vốn được nhiều khán giả ưa chuộng.

Xin minh chứng bằng trường hợp nữ ca sĩ Mộc San-Đà Lạt.

Cô ăn mặc rất đẹp mà kín đáo. Trình diễn có nghệ thuật, hấp dẫn, lôi cuốn với chỉ một tiếng đàn guitare làm nền.

Để minh chứng rõ hơn về cách thể hiện, xin đưa ra trường hợp một ban nhạc đường phố tại Pháp, giọng một ca sĩ giọng nam, người Pháp với giọng ca mạnh và lôi cuốn đã hát bài Huế, Sài Gòn, Hà Nội của Trịnh Công sơn, anh vừa hát theo một bản dịch tiếng Pháp, vừa theo bản tiếng Việt cùng với 5,6 nhạc công phụ họa đã lôi kéo đám đông trên đường phố.

Tiếp đến là phần đầu của bản Gia Tài của mẹ cũng do nhóm nhạc đường phố trên trình diễn.

Nó cho tôi thấy rằng, bài hát hay không chỉ tùy thuộc vào tác giả sáng tác mà còn tùy thuộc vào cách thể hiện, cách trình bày.

Bằng chứng là nữ ca sĩ Mộc San cũng có dịp trình bày bài hát này.

Nhạc Trịnh, nhạc Phạm Duy đã có nhiều dịp tỏa sáng tại Pháp nhờ vào lối trình diễn sống động và lôi cuốn hòa nhịp vào đám đông..
Bản nhạc Diễm xưa của Trịnh Công Sơn cũng được một nữ ca sĩ người Nhật hát rất đạt.

Tôi cũng đã được nghe bài hát: Ta đã thấy gì trong đêm nay Qu,avons-nous vu dans cette nuit của Trịnh Công Sơn với nhiều ca sĩ tài tử và người nghe hát đồng loạt nhún nhảy theo điệu nhạc. Thật vui và ấn tượng.

Dòng nhạc như thể vượt mọi rào cản biên giới quốc tịch để dễ dàng chia xẻ và thấm nhập vào lòng người.

Tôi cũng rất thích thú nghe Trịnh Công Sơn, tự đánh đàn và hát bài: Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui.. với nhiều ý nghĩa..sâu đặm, với niềm vui chia xẻ đến mợi người.

Nhưng tôi cũng nhận thấy nhạc tình Việt đã không được trình bày tỏa sáng do các ca sĩ Mỹ hát.

Cuối cùng, phải nhìn nhận với nhau rằng hai nhạc sĩ Phạm Duy- Trịnh Công Sơn, mỗi người một cách thể hiện là những thiên tài trong âm nhạc miền Nam mà sau này cho đến bây giờ, khó có nhạc sĩ nào có thể thay thế được họ..

  • Dòng nhạc tình Việt Nam muôn thuở.

Có thể nói, nhạc VN là thứ nhạc tình thường đượm buồn nhẹ nhàng lay lắt, chia ly xa cách với mùa thu lá bay..

-Nhạc sĩ Hoàng Quý- Lê Thương.

– Cô láng giềng- một mối tình sôi động khi được tin người yêu đi lấy chồng.

Hôm này trời xuân bao tươi thắm.. Cô láng giềng ơi, không biết cô còn nhớ tới tôi.

  • Nhạc sĩ Lê Thương.

Em không nghe mùa thu, lá thu rơi xào xạc.. đạp trên lá vàng khô..

-Nhạc sĩ Văn Cao

Văn Cao là một con người đa tài, tài hoa, Văn, thi sĩ, họa sĩ, nhất là nhạc sĩ.(Sau này, những bức tranh ông vẽ sau này được triển lãm tại Hà Nội)

Đặng Thái Mai gọi ông là một viên ngọc trong giới nghệ sĩ.

Ông đã để lại cho đời những bản tình ca, nhẹ nhàng, buồn hiu hắt bất hủ như:  Suối mơ,Thu Cô Liêu, Buồn Tàn thu Làng tôi.

 Bên cạnh đó, còn những bản hùng ca, lẻ loi ca tụng Hồ Chí Minh..Bài tiếng Quân ca ông sáng tác năm 1944 sau này trở thành bài quốc ca.

Nhưng số phận ông không được may mắn như Phạm Duy ở miền Nam.

Năm 1958, tên ông bị rút ra khỏi danh sách giới nghệ sĩ mặc dù ông không bị đi tù hay tra khảo.

Cuộc sống bị hắt hủi, bỏ rơi trong nỗi cô tịch và túng thiếu.

Cây đàn piano ông xử dụng thật ra chỉ là thuê với giá 7 đồng rưỡi, cộng với tiền thuê nhà hàng tháng  là 15 đồng.

Thật tiếc cho một tài hoa đất Bắc không được trọng dụng.

Và đã có nhiều văn nghệ sĩ cũng chung số phận như Văn Cao.

Trong suốt 38 năm còn lại của cuộc đời, ông đã làm thinh, không còn sáng tác một bài nào nữa..

Phải chăng sự làm thinh ấy là một hình thức chống đối lại chế độ?

  • Ban Hợp ca Thăng Long

Đây là một ban Hợp ca xuất phát từ đất Bắc từ những năm 1946, đến năm 1951, sau đó như nhiều giới văn nghệ sĩ khác, họ dinh tê về Hà Nội, rồi khi vào Sài gòn, nơi có tự do, họ trở thành  ban nhạc danh tiếng như một huyền thoại.

Đặc biệt Ban Hợp ca này đều mang dòng họ Phạm. (hoặc dâu rể) như Phạm thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng (mất 1999), vợ Phạm Duy.

Hoài Trung Phạm Đình Viêm (2002). Con trai là nhạc sĩ Phạm Đình Chương ( mất 1991)- vợ là ca sĩ Khánh Ngọc ( mất 2021), Khánh Ngọc là ca sĩ, bà còn là một tài tử điện ảnh. Con gái út là Phạm thị Băng Thanh, tức ca sĩ Thái Thanh (2020).

Trong số ấy nổi bật ba người: Hoài Bắc Phạm Đình Chương- Thái Thanh-và Hoài Trung Phạm Đình Viêm.

Biến cố năm 1960, trong vụ được gọi là ăn chè nhà Bè giữa Pham Duy và Khánh Ngọc làm tan rã ban Hợp ca Thăng Long.

Sau đó Khánh Ngọc bỏ sang Mỹ. Cõi lòng Phạm Đình Chương tan nát đã để lại một số bài ca như: Người đi qua đời tôi, Khi cuộc tình đã chết, Nửa hồn thương đau.

  • Nhạc sĩ Từ Công Phụng (27-07-1942)

Nhạc sĩ Từ Công Phụng, tác gỉả những dòng nhạc trữ tình lãng mạn bất hủ như:  Bây giờ tháng mấy.. Tuổi xa người.. Giữ đời cho nhau.

Xin trích dẫn vài dòng nhạc:

Nếu có điều gì vĩnh cửu, thì em ơi. Đó là tình yêu chúng ta.. bờ vai ngoan.. Nếu có điều gì vĩnh cửu.. rồi mai đây, anh sẽ đón em về…

Tạ ơn em.. tạ ơn em

Bài giọt lệ cho ngàn sau. :

Mưa soi dấu em qua cầu..

Theo những cánh rong trôi mang niềm đau..

Đời em đã khép đi vội vàng..

Tình ta cũng lấp lối thiên đàng..

Lời nhạc của Từ Công Phụng hòa quyện với tiếng hát sang trọng của Lệ Thu tạo nên một tuyệt phẩm ít ai sánh bì..

Ông cũng là một nhạc sĩ sau 1975 vẫn còn sáng tác và điều đặc biệt hơn mọi nhạc sĩ khác, ông có một giọng ca đầy nam tính, trầm buồn, đầy ma mị.

Tôi yêu giọng ca ấy, thái độ ấy khi ông cất tiếng hát. Nó hòa quyện vào từng lời ca như hơi thở như từ xa vọng về..

  • Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông

Ông vốn  là một sĩ quan quân đội VNCH, sau này lên đến cấp bậc đại tá năm 30 tháng tư, 1975..

Những bản nhạc của ông mang bóng dáng người lính VNCH như, tôi ghi lại như một kỷ ức khó quên. Nó rất đẹp và nhẹ nhàng :

  • Chiều mưa biên giới.
  • Đêm gác

-Xác hoa mầu tím.

Chiều mưa biên giới anh đi về đâu…Sao còn đứng ngóng nơi giang đầu.. Kìa rừng chiều âm u rét mướt..

Bây giờ,  tôi ngồi một mình nghĩ lại, gậm nhấm với nỗi buồn xa xứ, nghe mà lòng đau thắt.

  • Nhạc sĩ Vũ Thành An

Ông để lại nhiều ca khúc là  Những bài ca không tên. Tôi gần như không nghe cũng như cuộc đời ông trong trại cải tạo mà tôi bỏ qua không xét đến.

Tôi chỉ giới thiệu một bài hát duy nhất : Rồi cũng già

Ngày mai rồi mình cũng già….Ngày xưa như mới hôm qua.. Thời gian như cánh chim bay. Tiếng cầu kinh đời đời vẫn vậy.. Được thua thì cũng thế thôi. Một tin yêu xin trao cho nhau…. Tạ ơn trên cho ta sống chốn này..

Nhận Xét

Bài ca như lời trăn trối, như gửi gắm lúc cuối đời. Được thua cũng thế thôi. Chỉ còn lại chút tin yêu cho nhau. Và cuối cùng tạ ơn trên đã cho ta cuộc sống ở chốn này..

Bài Rồi cũng già đã được nhiều ca sĩ hát và phổ biến.

Nhưng gây cho tôi nhiều xúc động là giọng ca nam như một lời nhắn gửi và chia xẻ lúc cuối đời.

  • Ban AVT

Có điều gì khác lạ, có điều gì gây ngạc nhiên..gây thich thú với việc xử dụng các cây đàn cổ truyền, thấm nhuần văn hóa dân gian với cuộc sống êm đềm,  tự do và thường được trình diễn trong các dịp lễ tết cuối năm. Đó là trường hợp ban AVT với sự kết hợp ba tài hoa là Trần Đăng, Lữ Liên và Vân Sơn.

Lời trình bày của tôi chắc không đủ để diễn tả.

Quý vị cần phải nghe chính họ trình diễn một cách nhịp nhàng, vui nhộn qua các bài như: Du xuân, Lời chúc xuân, một ông hai bà, Trấn thủ lưu đồn…
Xin mọi người hãy tự tìm đến mà nghe, mà thưởng thức cho đời thêm vui.

  • Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang(1944-2011)

Ông thuộc thế hệ đàn em của tôi học trường Trần Hưng Đạo Đà lạt. Gia đình có người anh cả và ba chị gái ở lại midền Bắc. Chỉ có Nguyễn Đức Quang và đứa em trai út vào miền Nam Sau này ban nhạc của ông có dịp trình diễn tại giảng đường Spellman của đại học Đà lạt, nơi tôi từng học.

Ông là người sáng lập và là linh hồn của Phong Trào Du Ca. Mục đích của phong trào là viết cho quê hương, cho giới thanh niên với tinh thần dân tộc.

Trong bối cảnh xã hội chính trị thời ấy.. Có một số thanh niên quá khích biểu tình, hô hào đả đảo chính quyền miền Nam, tôi gọi bọn họ là Bọn  xuống đường. Còn nhóm Nguyễn Đức Quang, tôi trân trọng gọi họ là nhóm Lên Đường.

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang tiêu biểu cho giới trẻ miền Nam thời ấy.

Những bản nhạc sáng tác của ông như : Về với mẹ cha- Bên kia sông-Xin chọn nơi này làm quê hương. Nhất là bài :Việt Nam quê hương ngạo nghễ.

Rất tiếc cho một thanh niên tài hoa, đầy nhiệt huyết, ông bị tai biến mạch máu não và qua đời ngày 27-5 -2011, tại California..
Còn một nhạc sĩ cuối cùng mà tôi không thể không nói đến: nhạc sĩ Cung Tiến. (1938-2022)

Cung Tiến- tức Cung Thúc Tiến, sinh tại Hà Nội, có dịp học nhạc với nhạc sĩ Chung Quân và Thẩm Oánh. Ngay từ lúc 14, 15 tuổi đã sáng tác các bài Thu Vàng..và Hương xưa.

“ Chiều hôm qua lang thang trên đường. hoàng hôn xuống chiều thắm muôn hương..Chiều hôm qua, mình tôi bâng khuâng…rồi:

Mùa thu vàng tới, nhặt lá vàng rơi.. có mùa thu vàng bao nhêu là thương..

Hương xưa: Ôi những đêm dài, một kiếp xa xôi..

Tôi lại yếu hèn, thổn thức theo dòng nhạc của tác giả..

Như tự bên trong tôi, tôi nhủ thầm được may mắn sinh sống tại một miền đất miền Nam tự do,đã nuôi dưỡng tôi thành một người trí thức miền Nam mà tôi tự hào không ngượng nghịu…với ký ức vàng son của một thời kỳ âm nhạc VN..

Để chấm dứt hơn nửa thế kỷ dòng âm nhạc miền Nam..

Xin được dùng bài hát của nghê sĩ Nam Lộc như khép lại bài viết này: Bài nhạc: Sài Gòn ơi!! Vĩnh biệt.


 

Quyền tự do căn bản của người Việt Nam trước năm 1975 – Phùng Văn Phụng

 Phùng Văn Phụng

Những ai có học trường Đại Học Luật Khoa Sài Gòn trước năm 1975 đều có biết cuốn sách Luật Hiến Pháp và Chính Trị Học của Giáo sư Nguyễn Văn Bông, có viết về Đối Lập chính trị.

Hiến Pháp ngày 01 tháng 04 năm 1967 (cách nay trên 60 năm) cũng ghi nhận đầy đủ quyền tự do của con người nhất là quyền đối lập chính trị, quyền thành lập đảng phái chính trị. Có tam quyền phân lập rõ ràng: Quyền Hành Pháp, Quyền Tư Pháp (Tối Cao Pháp Viện), Quyền Lập Pháp (Quốc Hội).

Do đó trước năm 1975 có rất nhiều đảng phái chính trị được hoạt động như Đai Việt, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đảng Nhân Xã, Đảng Tân Đại Việt, Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến v.v…

Báo chí hoàn toàn tự do cho nên có nhiều báo chí đối lập với chính quyền như báo Cấp Tiến, báo Đại Dân Tộc, báo Tin Sáng, báo Chính Luận v.v… và rất nhiều tờ báo khác nữa tôi không thể nhớ hết được.

Đúng là thời kỳ vàng son của tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do nghiệp đoàn, tự do tôn giáo, tự do thành lập đảng phái chính trị (phê bình, chỉ trích, nói khác với nhà cầm quyền không bị chụp mũ phản động và bỏ tù) v.v…

Hy vọng sẽ có ngày mọi người đều có được tự do như thế trên đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta???

Phùng Văn Phụng


 

VÌ SAO CHÍNH QUYỀN CSVN KHÔNG CHẤP NHẬN NHỮNG SO SÁNH VỚI NƯỚC MỸ SAU NỘI CHIẾN?

Hoai Linh Ngoc Duong 

VÌ SAO CHÍNH QUYỀN CSVN KHÔNG CHẤP NHẬN NHỮNG SO SÁNH VỚI NƯỚC MỸ SAU NỘI CHIẾN?

Bài viết về Abraham Lincoln mà người trí thức trong nước đăng tải thoạt nhìn chỉ là một câu chuyện lịch sử về tinh thần hòa giải sau nội chiến Mỹ. Nhưng điều khiến chính quyền khó chịu không nằm ở Lincoln, mà nằm ở thông điệp chính trị ẩn phía sau sự so sánh đó.

Bởi càng đọc kỹ người ta càng thấy: điều làm nước Mỹ mạnh sau nội chiến không đơn thuần là lòng nhân đạo của Lincoln, mà là mô hình quyền lực mà nước Mỹ lựa chọn sau chiến tranh — một nền cộng hòa đa đảng có hiến pháp kiểm soát quyền lực, nơi phe thua trận vẫn tiếp tục tồn tại về chính trị thay vì bị xóa sổ hoàn toàn.

Đó chính là điểm khác biệt căn bản giữa nước Mỹ sau năm 1865 và Việt Nam sau năm 1975.

Cuộc nội chiến Mỹ kết thúc với chiến thắng quân sự của miền Bắc Liên bang trước Liên minh miền Nam. Nhưng sau chiến tranh, nước Mỹ không xây dựng một chế độ độc đảng để cai trị vĩnh viễn phe thua trận. Họ không thủ tiêu toàn bộ đối lập chính trị miền Nam. Không cấm tuyệt đối tư tưởng bảo thủ miền Nam. Không tuyên bố chỉ duy nhất một đảng có quyền lãnh đạo đất nước đời đời.

Ngược lại, hệ thống hiến pháp Mỹ vẫn giữ nguyên bản chất “checks and balances” — tam quyền phân lập và cạnh tranh quyền lực.

Phe thất bại cuối cùng vẫn:

  • có quyền tham gia chính trị,
  • có quyền tranh cử,
  • có quyền kiểm soát chính quyền thông qua bầu cử,
  • và nhiều thập niên sau chính các bang miền Nam lại trở thành thành trì chính trị mạnh mẽ của phe bảo thủ Mỹ.

Điều quan trọng nhất là: nước Mỹ sau nội chiến không xây dựng một nhà nước dựa trên “chân lý độc quyền”.

Không có đảng nào được quyền tuyên bố:

“Chỉ có ta mới đại diện cho tổ quốc.”

“Chỉ dưới sự lãnh đạo của ta nhân dân mới hạnh phúc.”

“Phe còn lại mãi mãi là phản động.”

Đó là lý do hòa giải dân tộc ở Mỹ có thể diễn ra, dù vẫn đầy đau đớn và bất công lịch sử.

Ngược lại, sau năm 1975, chính quyền miền Bắc chiến thắng ở Việt Nam lại đi theo một con đường hoàn toàn khác:

– thiết lập chế độ độc đảng,

– xóa bỏ toàn bộ hệ thống chính trị miền Nam,

– cải tạo quân cán chính,

– kiểm soát báo chí,

– cấm đối lập,

– và đặt đảng lên trên nhà nước.

Nói cách khác, mục tiêu không phải là tạo ra một nền cộng hòa nơi các phe cạnh tranh quyền lực dưới hiến pháp, mà là xây dựng một hệ thống trong đó chỉ duy nhất một lực lượng được quyền lãnh đạo vĩnh viễn.

Đó là lý do nhiều lời kêu gọi “hòa hợp hòa giải” ở Việt Nam luôn gặp giới hạn rất lớn.

Bởi hòa giải thật sự chỉ có thể tồn tại khi:

– các bên được thừa nhận quyền tồn tại chính trị,

– có quyền tự do bày tỏ quan điểm,

– có quyền cạnh tranh quyền lực,

– và không phe nào độc quyền chân lý quốc gia.

Nếu một phía vẫn giữ toàn bộ quyền lực tuyệt đối và yêu cầu phía còn lại “hòa giải” trong khi không được phép:

– lập đảng,

– tranh cử,

– phản biện,

– hay kiểm soát quyền lực,

thì đó không phải hòa giải theo nghĩa chính trị hiện đại, mà gần hơn với yêu cầu “chấp nhận trật tự do bên thắng trận áp đặt”.

Chính vì vậy, những bài viết ca ngợi tinh thần Lincoln thường gây khó chịu cho hệ thống tuyên truyền chính thống.

Vì nếu người dân bắt đầu đặt câu hỏi:

“Tại sao Mỹ sau nội chiến vẫn cho phe thua trận quyền tham gia chính trị?”

“Tại sao nước Mỹ cần đối lập để kiểm soát quyền lực?”

“Tại sao hòa giải ở Mỹ gắn với hiến pháp và cạnh tranh bầu cử?”

thì họ sẽ tiếp tục đặt câu hỏi lớn hơn:

“Tại sao Việt Nam không như vậy?”

Đó mới là điều nhạy cảm nhất.

Nhiều trí thức Việt Nam thường nhìn vào tinh thần hòa giải của Lincoln mà quên mất nền tảng tạo ra hòa giải ấy chính là cấu trúc quyền lực của nền cộng hòa Mỹ.

Lincoln không hòa giải bằng cách yêu cầu dân miền Nam “tin tưởng tuyệt đối vào một đảng duy nhất”. Ông hòa giải bằng cách giữ cho nước Mỹ tiếp tục là một quốc gia pháp trị nơi mọi phe cuối cùng phải cạnh tranh dưới hiến pháp.

Chính “checks and balances” mới là điều quan trọng nhất.

Bởi nếu không có:

– bầu cử tự do,

–  báo chí độc lập,

– đối lập hợp pháp,

– và cơ chế thay đổi quyền lực hòa bình,

thì mọi lời kêu gọi hòa hợp cuối cùng rất dễ biến thành:

“Các anh hãy quên quá khứ và chấp nhận để chúng tôi cai trị mãi mãi.”

Đó là lý do nhiều người cho rằng:

muốn có hòa giải dân tộc thật sự trước hết phải có quyền lực thuộc về nhân dân chứ không thuộc độc quyền về một đảng.

Lịch sử cho thấy hầu như không có chế độ độc quyền quyền lực nào tự nguyện trao lại quyền kiểm soát cho dân nếu không chịu áp lực xã hội cực lớn.

Không phải vì cá nhân lãnh đạo tốt hay xấu, mà vì bản chất của quyền lực tuyệt đối luôn có xu hướng tự bảo vệ chính nó.

Và đó cũng là bài học lớn nhất từ nước Mỹ:

điều làm một quốc gia mạnh không phải chỉ là chiến thắng trong nội chiến, mà là khả năng xây dựng một hiến pháp khiến ngay cả phe thắng trận cũng không thể nắm quyền vĩnh viễn mà không bị kiểm soát. 

Screenshot
Screenshot
Screenshot

 

Bán con để tồn tại: Người cha Afghanistan đưa ra lựa chọn nghiệt ngã (BBC)

BBC

Abdul Rashid Azimi nói rằng ông sẵn sàng bán một trong những cô con gái của mình để nuôi những người còn lại

Abdul Rashid Azimi nói rằng ông sẵn sàng bán một trong những cô con gái của mình để nuôi những người còn lại

Tác giả, Yogita Limaye

Vai trò, Phóng viên Nam Á và Afghanistan

20 tháng 5 2026

Khi bình minh ló dạng, hàng trăm người đàn ông đi đến một quảng trường bụi bặm tại Chaghcharan, thủ phủ của tỉnh Ghor ở Afghanistan.

Họ đứng dọc đường với hy vọng có ai đó đến đề nghị giúp đỡ. Công việc này sẽ quyết định liệu gia đình họ có được ăn trong ngày hôm đó hay không.

Tuy nhiên, khả năng thành công rất thấp.

Juma Khan, 45 tuổi, chỉ tìm được việc làm trong ba ngày trong sáu tuần qua với mức lương từ khoảng 62.000-83.000 VND mỗi ngày.

“Các con tôi đã phải đi ngủ trong cơn đói ba đêm liên tiếp. Vợ tôi khóc, các con tôi cũng vậy. Thế nên tôi đã phải xin một người hàng xóm ít tiền để mua bột mì,” ông kể.

“Tôi sống trong nỗi sợ hãi rằng các con tôi sẽ chết đói.”

Câu chuyện của ông không phải là trường hợp cá biệt.

Cảnh báo: Bài viết này chứa những chi tiết đau lòng

 Tại Afghanistan ngày nay, theo Liên Hợp Quốc, có đến ba phần tư người dân không thể đáp ứng được các nhu cầu cơ bản của bản thân. Tỉ lệ thất nghiệp cao, hệ thống chăm sóc sức khỏe gặp nhiều khó khăn.

Các khoản trợ cấp từng cung cấp những nhu yếu phẩm cơ bản cho hàng triệu người nay đã giảm xuống chỉ còn một phần nhỏ so với trước đây.

Đất nước này hiện đang đối mặt với nạn đói ở mức độ kỷ lục, với 4,7 triệu người – hơn một phần mười dân số Afghanistan – được ước tính đang đứng trước nguy cơ chết đói.

Ghor là một trong những tỉnh bị ảnh hưởng nặng nề nhất.

Những người đàn ông ở đây đang tuyệt vọng.

“Tôi nhận được cuộc gọi nói rằng con mình đã không có gì ăn trong hai ngày,” Rabani nghẹn ngào nói.

“Tôi muốn tự tử. Nhưng rồi tự hỏi điều đó sẽ giúp ích gì cho gia đình tôi? Vì vậy, tôi ở đây để tìm việc làm.”

Nguồn hình ảnh,

Imogen Anderson/BBC

Ông Juma Khan (giữa), 45 tuổi, chỉ kiếm được ba ngày công trong sáu tuần

Ông Juma Khan (giữa), 45 tuổi, chỉ kiếm được ba ngày công trong sáu tuần

Khwaja Ahmad chỉ kịp nói vài lời trước khi bật khóc nức nở.

“Chúng tôi đang chết đói. Những đứa con lớn của tôi đã chết, nên tôi cần phải làm việc để nuôi sống gia đình. Mà tôi già rồi, nên chẳng ai muốn thuê tôi làm việc cả,” ông nói.

Khi một tiệm bánh địa phương gần quảng trường mở cửa, chủ tiệm phân phát bánh mì cũ cho đám đông. Chỉ trong vài giây, những ổ bánh mì đã bị giật lấy, nửa tá người đàn ông tranh giành từng miếng bánh quý báu.

Đột nhiên, một cuộc chen lấn khác xảy ra. Một người đàn ông đi xe máy đến muốn thuê một người lao động để khiêng gạch. Hàng chục người đàn ông lao vào ông ta.

Trong hai giờ chúng tôi ở đó, chỉ có ba người được thuê.

Tại các cộng đồng lân cận – những ngôi nhà trống trải nằm rải rác trên những ngọn đồi cằn cỗi, màu nâu, đối lập với những đỉnh núi phủ tuyết của dãy núi Siah Koh – tác động tàn khốc của nạn thất nghiệp là điều rõ ràng.

Abdul Rashid Azimi dẫn chúng tôi vào nhà và chỉ hai đứa con của mình – cặp song sinh bảy tuổi Roqia và Rohila. Ông ôm chúng thật chặt, giải thích lý do tại sao ông lại phải đưa ra những lựa chọn khó khăn đến vậy.

“Tôi sẵn sàng bán cả con gái mình,” ông khóc nức nở. “Tôi nghèo, nợ nần chồng chất và bất lực.

Tôi đi làm về với đôi môi khô khốc, đói khát, đau khổ và hoang mang. Các con tôi đến nói với tôi: ‘Bố ơi, cho chúng con ít bánh mì’. Nhưng tôi biết cho gì đây? Công việc ở đâu chứ?”

Ông ôm Rohila, hôn cô bé trong khi khóc.

“Điều này làm tôi đau lòng nhưng đó là cách duy nhất để nuôi những đứa con khác của mình.”

Nguồn hình ảnh,

Imogen Anderson/BBC

Người lao động đến đây từ sớm với hy vọng tìm được công việc vốn đã khan hiếm

Người lao động đến đây từ sớm với hy vọng tìm được công việc vốn đã khan hiếm

“Chúng tôi chỉ có bánh mì và nước nóng để ăn uống, thậm chí không có cả trà,” mẹ của những đứa trẻ, Kayhan, nói.

Hai người con trai tuổi thiếu niên của bà làm nghề đánh giày ở trung tâm thị trấn. Một người khác thì đi nhặt rác, thứ mà Kayhan dùng làm nhiên liệu để nấu ăn.

Saeed Ahmad kể với chúng tôi rằng ông đã buộc phải bán con gái năm tuổi của mình, Shaiqa, sau khi cô bé bị viêm ruột thừa và u nang gan.

“Tôi không có tiền để trả chi phí y tế. Vì vậy, tôi đã bán con gái mình cho một người họ hàng,” ông kể lại.

Ca phẫu thuật của Shaiqa đã thành công. Số tiền cho ca phẫu thuật đến từ khoảng 3.200 USD mà cô bé được bán với giá đó.

“Nếu tôi lấy toàn bộ số tiền lúc đó, ông ta sẽ đưa con bé đi. Vì vậy, tôi nói với người đó chỉ cần đưa cho tôi đủ tiền chữa trị cho con bé bây giờ, và trong 5 năm tới ông có thể đưa cho tôi phần còn lại, sau đó anh ta có thể đưa con bé đi,” Saeed giải thích.

Cô bé vòng cánh tay nhỏ xíu của mình quanh cổ cha. Mối quan hệ thân thiết của họ rất rõ ràng, nhưng trong 5 năm nữa, cô bé sẽ phải rời đi và đến sống với người thân.

“Nếu tôi có tiền, tôi sẽ không bao giờ đưa ra quyết định này,” Saeed nói.

“Nhưng rồi tôi nghĩ, nếu con bé chết mà không được phẫu thuật thì sao? Bằng cách này, ít nhất con bé vẫn còn sống.”

Nguồn hình ảnh,

Imogen Anderson/BBC

Saeed Ahmad nói mình đã phải bán cô con gái năm tuổi Shaiqa

Saeed Ahmad nói mình đã phải bán cô con gái năm tuổi Shaiqa

Chỉ hai năm trước, Saeed vẫn nhận được một vài sự hỗ trợ.

Khi đó, ông và gia đình – giống như hàng triệu người Afghanistan khác – nhận được viện trợ lương thực: bột mì, dầu ăn, đậu lăng và thực phẩm bổ sung cho trẻ em.

Nhưng việc cắt giảm viện trợ mạnh mẽ trong vài năm qua đã tước đi phần lớn sự hỗ trợ cứu sinh này.

Mỹ – từng là nhà tài trợ hàng đầu cho Afghanistan – đã cắt giảm gần như toàn bộ viện trợ cho nước này vào năm ngoái. Nhiều nhà tài trợ quan trọng khác cũng đã giảm đáng kể đóng góp, bao gồm cả Anh.

Số liệu hiện tại của Liên Hợp Quốc cho thấy viện trợ nhận được cho đến nay trong năm nay thấp hơn 70% so với năm 2025.

Hạn hán nghiêm trọng – đã ảnh hưởng đến hơn một nửa số tỉnh thành trong cả nước – làm trầm trọng thêm vấn đề.

“Chúng tôi không nhận được sự giúp đỡ từ ai cả – không phải chính phủ, cũng không phải các tổ chức phi chính phủ,” người dân làng Abdul Malik nói.

Chính phủ Taliban, nắm quyền vào năm 2021, cũng đổ lỗi cho chính quyền tiền nhiệm của Afghanistan – bị buộc phải từ chức khi lực lượng nước ngoài rút khỏi đất nước.

“Trong suốt 20 năm xâm lược, một nền kinh tế nhân tạo đã được tạo ra nhờ dòng tiền đô la Mỹ đổ vào,” Hamdullah Fitrat, phó phát ngôn viên của chính phủ Taliban, nói với BBC.

“Sau khi cuộc xâm lược kết thúc, chúng tôi thừa hưởng sự nghèo đói, khó khăn, thất nghiệp và các vấn đề khác.”

Tuy nhiên, chính sách của Taliban, đặc biệt là những hạn chế đối với phụ nữ, cũng là một lý do chính khiến các nhà tài trợ quay lưng.

Khi được hỏi, chính phủ Taliban bác bỏ mọi trách nhiệm về việc các nhà tài trợ rút lui, thay vào đó tuyên bố rằng “viện trợ nhân đạo không nên bị chính trị hóa”.

Fitrat cũng chỉ ra các kế hoạch của Taliban “nhằm giảm nghèo và tạo việc làm bằng cách thực hiện các dự án kinh tế lớn”, nêu tên một vài dự án cơ sở hạ tầng và khai thác mỏ.

Nhưng trong khi các dự án dài hạn có thể giúp ích vào một ngày nào đó, rõ ràng là có hàng triệu người sẽ không thể sống sót nếu không có sự trợ giúp khẩn cấp.

Giống như Mohammad Hashem, người có con gái 14 tháng tuổi đã qua đời vài tuần trước.

“Con tôi chết vì đói và thiếu thuốc… Khi một đứa trẻ ốm yếu và đói khát, rõ ràng là chúng sẽ chết,” ông nói. Một vị trưởng lão địa phương cho biết tỉ lệ tử vong ở trẻ em, chủ yếu do suy dinh dưỡng, đã “tăng vọt” trong hai năm qua.

Tuy nhiên, ở đây không có hồ sơ chính thức nào về số người chết. Nghĩa trang là nơi duy nhất tìm thấy bằng chứng về sự gia tăng số ca tử vong ở trẻ em.

Vì vậy, giống như những lần trước, chúng tôi đã đếm riêng các ngôi mộ nhỏ và lớn. Số lượng mộ nhỏ nhiều gấp đôi số mộ lớn – cho thấy số trẻ em nhiều gấp đôi số người lớn.

Nguồn hình ảnh,

Imogen Anderson/BBC

Y tá Fatima Husseini cho biết việc trẻ sơ sinh tử vong đã trở thành điều bình thường

Y tá Fatima Husseini cho biết việc trẻ sơ sinh tử vong đã trở thành điều bình thường

Có thêm nhiều bằng chứng tại bệnh viện chính của tỉnh ở Chaghcharan.

Khoa sơ sinh là nơi bận rộn nhất. Mọi giường đều chật kín, có giường có hai em bé. Hầu hết đều nhẹ cân và đa số đều khó thở.

Một y tá đẩy vào một chiếc nôi nhỏ với hai bé gái sinh đôi. Hai em sinh non hai tháng. Một bé nặng 2kg, bé kia chỉ 1kg.

Tình trạng của hai em rất nguy kịch và ngay lập tức được thở oxy.

Mẹ của hai bé, Shakila 22 tuổi, đang hồi phục tại khoa sản.

“Con tôi yếu vì hầu như không ăn gì khi mang thai, chỉ có bánh mì và trà,” bà ngoại của hai bé, Gulbadan giải thích. “Đó là lý do tại sao các cháu tôi lại trong tình trạng như vậy.”

Vài giờ sau khi chúng tôi rời bệnh viện ngày hôm đó, bé gái nặng cân hơn đã qua đời trước khi kịp được đặt tên.

“Các bác sĩ đã cố gắng cứu cháu nhưng cháu đã chết,” bà ngoại đau khổ nói vào ngày hôm sau. “Tôi quấn lấy thân hình nhỏ bé của con bé và đưa về nhà. Khi mẹ nó biết chuyện thì liền ngất xỉu.”

Gulbadan chỉ vào đứa bé còn sống và nói thêm: “Tôi hy vọng ít nhất con bé sẽ sống sót.”

Nguồn hình ảnh,

Imogen Anderson/BBC

Hai bé sinh đôi chào đời non tháng và gặp khó khăn trong việc thở

Hai bé sinh đôi chào đời non tháng và gặp khó khăn trong việc thở

Y tá Fatima Husseini nói có những ngày có tới ba em bé tử vong.

“Lúc đầu, tôi thấy rất khó khăn khi chứng kiến ​​trẻ em chết. Nhưng giờ thì điều đó gần như đã trở nên bình thường với chúng tôi rồi,” cô nói.

Bác sĩ Muhammad Mosa Oldat, người điều hành khoa sơ sinh, cho biết tỉ lệ tử vong lên tới 10%, điều này là “không thể chấp nhận được”.

“Nhưng vì nghèo đói, số lượng bệnh nhân ngày càng tăng,” ông nói.

“Và ở đây chúng tôi cũng không có đủ nguồn lực để điều trị cho các em bé một cách đúng đắn.”

Trong phòng chăm sóc đặc biệt nhi khoa, bé Zameer sáu tuần tuổi đang bị viêm màng não và viêm phổi. Cả hai bệnh đều có thể chữa khỏi, nhưng các bác sĩ cần phải chụp cộng hưởng từ (MRI) và họ không có thiết bị phù hợp.

Nhưng có lẽ điều gây sốc nhất mà các nhân viên y tế nói với chúng tôi là bệnh viện công không có đủ thuốc cho hầu hết bệnh nhân, các gia đình phải mua thuốc từ các hiệu thuốc bên ngoài.

“Đôi khi, nếu còn thuốc thừa từ những em bé của gia đình khá giả, chúng tôi sẽ dùng cho những em bé mà gia đình không đủ khả năng mua thuốc,” Fatima nói.

Thiếu tiền đang buộc nhiều gia đình phải đưa ra những quyết định khó khăn.

Cháu gái còn sống của bà Gulbadan đã tăng cân một chút và nhịp thở ổn định hơn. Nhưng vài ngày sau, gia đình đã đưa em về nhà. Họ đơn giản là không đủ khả năng để giữ em ở lại bệnh viện.

Bé Zameer cũng được bố mẹ đưa về nhà vì lý do tương tự.

Những cơ thể nhỏ bé của hai em giờ đây sẽ phải tự mình chiến đấu để sinh tồn.

Imogen Anderson, Mahfouz Zubaide và Sanjay Ganguly tường thuật bổ sung


 

Nguồn gốc đích thực ngày 30 tháng 4

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Nguyễn Thị Cỏ May

19/05/2026

Một buổi họp mặt thân hữu giữa mươi người cộng sản tổ chức tại tư gia của bà Nguyễn thị Bình, Phó Chủ tịch nước, và do bà mời. Mọi người đang thảo luận về tình trạng đất nước bi đát: kinh tế tụt hậu, đạo đức băng hoại, chánh trị độc tài, … bổng bà Bình hỏi «Vậy, theo các anh, chúng ta sai từ bao giờ ?».

Ai cũng đều nói chúng ta sai từ năm 1951, khi đại hội lần thứ hai của Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lê-nin và tư tưởng Mao Trạch-đông làm kim chỉ nam cho mọi đường lối chánh sách của mình. Riêng nhà văn Nguyên Ngọc lại nói: Ta sai từ đại hội Tours.

Bà Bình không đồng ý. Nhưng qua ngày hôm sau, bà Bình bảo ông Nguyên Ngọc: “Chị đã suy nghĩ suốt đêm qua, Nguyên Ngọc nói đúng đấy!”.

Câu chuyện «Ta sai từ đại hội Tours» (*) được nhà văn Lê Phú Khải kể lại trong «Lời Ai điếu » (Người Việt xb, Huê kỳ). Và ông còn cay đắng nhận xét thêm như một kết luận về sự chọn lựa đó “Một đất nước được lãnh đạo bởi những con người hoang tưởng và lố bịch như thế thì đất nước sẽ đi về đâu? Nhân dân sẽ sống thế nào? Còn đám trí thức kia thì chỉ ngậm miệng ăn tiền mà thôi.”

Ông Nguyên Ngọc có lý? Vậy nếu không có Hội nghị Tours và không theo cộng sản, Hồ Chí Minh có thể tìm ngỏ khác để giành độc lập được không? Và theo cộng sản phải chăng là để ông tìm con đường giải phóng Việt nam khỏi ách đô hộ thực dân pháp, chỉ vì thật lòng yêu nước?

Hội nghị Tours 1920

Hội nghị diễn ra từ 25 tới 30 tháng 12 năm 1920 ở Tours, Thành phố phía Tây-Nam Paris, cách Paris 230 km. Trong hội trường, treo hai biểu ngữ lớn «Hỡi vô sản toàn thế giới, các bạn hảy đoàn kết lại» và « Giải phóng thợ thuyền là sự nghiệp của anh em lao động».

Tháng 11 năm 1918, Đệ I Thế chiến kết thúc làm xáo trộn lớp chánh trị pháp, nhứt là những đảng phái của giới thợ thuyền. Đảng Lao động pháp (SFIO= Section Française Internationale Ouvrière – Phân Bộ Pháp Quốc tế Thợ thuyền), sau khi lãnh tụ Jean Jaurès bị ám sát, dần dần bị phân hóa. Ở Đại hội Tours, một bộ phận lớn của SFIO, do ảnh hưởng cách mạng bôn-sơ-vít nga 1917, chọn theo SFIC (Section Française Internationale Communiste – Phân bộ Pháp Quốc tế Cộng sản) của Lê-nin, tiền thân của đảng cộng sản pháp (PCF) ngày nay. Phần còn lại thiểu số cực lực chống lại Lê-nin ở Đại hội Tours, theo Leon Blum, giữ đảng Xã hội (Quốc tế II).

Hồ Chí Minh, năm 1919 đã gia nhập Đảng Xã hội pháp (SFIO), tham dự Đại hội Tours với tư cách Đại biểu ngoại vi của nhóm hoạt động thuộc địa, không phải Đại biểu cao cấp, nhưng có tiếng nói ở Đại hội Tours về vấn đề dân thuộc địa pháp. Khi Đại hội bỏ phiếu, Hồ Chí Minh ngả theo nhóm đa số của đảng Xã hội pháp, chọn cộng sản.

Bỏ phiếu chọn cộng sản, Hồ Chí Minh làm một chọn lựa có suy nghĩ hay chỉ theo xu hướng đa số?

Có nhiều ý kiến, nhứt là cộng sản hà nội, cho rằng Hồ Chí Minh bỏ phiếu theo đa số ở Hội nghị Tours, bỏ đảng Xã hội chọn chạy theo SFIC, cộng sản pháp, là một chọn lựa có hiểu biết, chớ không hoàn toàn vì xu hướng số đông.

Trước đó vài tháng, ông được đọc «Bản Luận cương của Lê-nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa» (Les Thèses de Lénine sur les Questions Nationales et Coloniales, L’Humanité 16-7/7/1920, Paris) trong đó, Lê-nin phê phán luận điểm sai lầm về vấn đề dân tộc và thuộc địa, như tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ích kỷ, đồng thời nhấn mạnh nhiệm vụ của đảng cộng sản là phải lãnh đạo thật sự phong trào cách mạng của các nước thuộc địa, giai cấp vô sản các nước tư bản phải đoàn kết chặt chẽ với quần chúng cần lao của tất cả các dân tộc để chống kẻ thù chung là đế quốc và phong kiến. Những luận điểm này của Lê-nin đã mê hoặc Hồ Chí Minh như đó là chơn lý ông vừa bắt được .Sau này, khi kể lại chuyện đó, ông không ngớt lời ca ngợi: “Luận cương của Lê-nin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta! Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”. 

Ông mê luận cương của Lê-nin cũng đúng vì Lê-nin là người mác-xit đầu tiên đặt thẳng vấn đề giải phóng các nước bị thực dân đô hộ trong lúc đó, Đệ II Quốc tế chỉ chủ trương uu tiên tranh đấu thăng tiến giới lao động và thợ thuyền .

Nhưng với vốn hiểu biết căn bản rất giới hạn và hoàn toàn bị mê hoặc bởi điều mới vừa bắt được, Hồ Chí Minh không đủ khả năng nhận thức rỏ hơn về cộng sản và Lê-nin . Như khi cộng sản nắm chánh quyền thì đất nước sẽ vận hành ra sao ? Đời sống xã hội sẽ như thế nào?

Ta sai từ Hội nghị Tours

Ông Nguyên Ngọc nói «Ta sai từ Hội nghị Tours», tức ý muốn nói mọi nguồn gốc gây ra tình trạng thảm hại của đất nước ngày nay là ở Hội nghị Tours, nơi và lúc Hồ Chí Minh chọn theo Quốc tế III, tức chấp nhận hệ tư tưởng léninisme, đặt đảng cộng sản trên dất nước dân tộc : vì « đảng cộng sản chủ trương độc quyền lãnh đạo, thực thi chuyên chính vô sản, bạo lực cách mạng, đặt lợi ích quốc tế III, tức cộng sản thế giới, lên trên lợi ích dân tộc » .

Từ đó, khi lợi dụng lòng yêu nước của toàn dân cướp được chánh quyền, Hồi Chí Minh đem áp dụng ngay mô hình xây dựng Việt nam rặp theo khuôn mẩu léniniste :

– Nhà nước và xã hội do Đảng kiểm soát tuyệt đối,

– Không có cạnh tranh chính trị. Ai lở có ý kiếng phê phán đảng và nhà nước bị tù vì tội chống nhơn dân,

– Xã hội vận hành theo ý thức hệ, làm lợi cho cộng sản là mục tiêu tối thượng, hòan toàn không cần biết pháp luật.

– Kinh tế kế hoạch hóa tập trung . (Việt nam, tới 1986, chịu không nổi nữa, bèn « đổi mới » thành kinh tế thị trường theo địng hướng xhcn) .

Dĩ nhiên một chế độ độc tài như vậy làm sao không đưa đất nước tới hệ quả về lâu về dài dẫn tới:

– kinh tế suy thoái,

– độc tài chính trị, xã hội bị kiểm soát bởi công an – tổ chức đảng,

– sự thật bị thay bằng “đường lối” dối trá,

– đạo đức suy đồi, tham nhủng lên ngôi, giá trị tiêu chuẩn là tiền qui định đẳng cấp xã hội

Đó đúng là ý của ông Nguyên Ngọc mà bà Nguyễn thị Bình, sau một đêm không ngủ, suy nghĩ, sáng ra, bảo với ông nguyên Ngọc «Em nói đúng!»

Nhưng sau đó, chỉ ít lâu thôi, trả lời phỏng vấn của ông Xuân Hồng trên đài BBC, cũng chính bà Nguyễn thị Bình đó, lại rất bình thường, bảo «suốt thời gian theo Hồ Chí Minh, hoạt động cách mạng giải phóng đất nước, bà hoàn toàn không làm điều gì sai trái để ngày nay phải hối hận, ngoài những trường hợp đáng lẽ ra bà đã làm tốt hơn nhiều!».

Nếu không có Hội nghị Tours

Giả thử không có Hội nghị Tours hay có mà Hồ Chí Minh không theo cộng sản, thật sự vì lòng yêu nước, ông có thể có những chọn lựa khác hơn để đem lại độc lập cho Việt nam không ?

Có thể lắm chớ . Và còn có nhiều cơ hội nữa .

Như Hồ Chí Minh vẫn đi theo chủ nghĩa Marx nhưng không theo Quốc tế III, như nhiều trí thức thật lòng yêu nước thời đó, tìm đọc Mác vì tác giả phê phán chủ nghĩa đế quốc . Mà « marxisme» không phải là thứ « léninisme » của Lénine . Mác-xít vẫn tả khuynh, chống tư bản, chống đế quốc thực dân, hô hào bảo vệ quyền lợi nhơn dân lao động, không quá khích ác ôn như lê-nin-nít, ngày nay hảy còn hoạt động ở Âu châu và giúp các nước đó phát triển tốt đẹp .

Đó là chủ nghĩa «xã hội dân chủ» ..

Nếu chỉ theo « marxisme »,tức « xã hội dân chủ », Việt nam vẫn độc lập mà không cộng sản, không bị đồng hóa «đảng=dân tộc» , «yêu đảng=yêu nước» . Hơn nữa, Hồ Chí Minh vẫn có thể không thèm theo mác-xít, chỉ làm người Việt nam thuần tứy yêu nước thật lòng, vẫn có thể góp công tiếp thu và xây dựng một Việt nam độc lập được mà không bị quá nhiều di hại như hàng mươi triệu thanh niên chết vì đánh nhau cho có ngày 30/04.

Thật vậy, năm 1941, khi Thế Chiến II còn đang tiếp diễn, theo đề nghị của Tổng Thống Huê Kỳ Franklin Roosevelt, các Đế quốc Tây phương Anh, Mỹ, Pháp, Hòa Lan đã họp nhau tại Newfoundland, Canada, để công bố « Hiến Chương Đại Tây Dương » theo đó các thuộc địa và bảo hộ sẽ được trao trả độc lập khi chiến tranh kết thúc .

Ngày 8 tháng 5 năm 1945, Đức Quốc xã đầu hàng, đồng minh họp Hội Nghị San Francisco để thành lập Liên Hiệp Quốc và long trọng ban hành « Quyền Dân Tộc Tự Quyết » (Quyền này vẫn còn giá trị pháp lý, nhưng thực tế ?) . Từ 1946 đến 1949, các Đế quốc Tây phương như Mỹ, Anh, Pháp, Hòa Lan đã lần lượt trao trả độc lập cho các thuộc địa ở Á châu :

-năm l946 : Phi-luật-tân thuộc Hoa kỳ, Syrie và Liban thuộc Pháp,

-năm l947: Ấn-độ và Đại hồi thuộc Anh,

-năm l948: Miến-điện, Tích-lan và Palestine thuộc Anh,

-năm l949 : Việt nam (Hiệp định Pháp-Việt, tức Hiệp định Elysee, ngày 8 tháng 3 năm 1949, Việt nam hoàn toàn độc lập, thu hồi hoàn toàn chủ quyền, kinh tế, ngoại giao, quân sự, thống nhứt Nam, Trung, Bắc), Ai-lao, Cao-mên thuộc Pháp, và Nam-dương thuộc Hoà-lan .

Nhưng Hồ Chí Minh không đồng ý vì độc lấp đó là của Việt nam, không phải của cộng sản đệ III . Đã có nhiều cơ hội Việt nam có độc lập và có thể giử được nền độc lập nếu đã có sự hợp tác với nhau vì lòng yêu nước . Hồ Chí Minh đã chọn cộng sản, theo cộng sản và tự tôi luyện từ làm chỉ điểm cho Quốc tế Nông hội dưới bí danh Ferdinand để từng bước trở thành người cộng sản tinh ròng, trước sau,ông chỉ biết phục vụ cộng sản và chết, cũng chỉ theo cụ Mác, cụ Lê, chớ không thèm theo ông bà ông vải .

Có người nói, giai đoạn đầu, Hồ Chí Minh theo chủ nghĩ dân tộc , tranh đấu giải phóng dân tộc, hoàn toàn không đúng vì léninisme chủ trương mượn chiêu bài dân tộc để tổ chức quần chúng, lãnh đạo quần chúng nhằm mục tiêu cộng sản .

Đây, để đừng mơ hồ về Hồ Chí Minh là người yêu nước, từng tranh đấu cho dân tộc độc lập, hảy nghe chính ông bộc bạch rỏ về tâm huyết của ông ta : “Người khẳng định Chủ nghĩa Lê-nin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái cẩm nang thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là “mặt trời” soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản” (hcm toàn tập, tập xii, xb chánh trị quốc gia, hà nôi, 2011)

Ông Nguyên Ngọc nói đúng . Thật đúng đấy, nên ngày nay, ông nằm ở nhà, bạn bè tới thăm không được phép lên nhà ông vì bị đám “dùi cui” ngăn chặn . Cả chị ở giúp việc trong nhà cũng có nhiệm vụ lo bảo vệ ông, không cho ông tiếp khách sợ ông mệt.

———————————————-

(*) Về chuyện ông Nguyên Ngọc nói “Ta sai từ Hội nghị Tours”, nhà thơ Thái Bá Tân có bài thơ kể rỏ lại câu chuyện rất đầy đủ

Nguyễn thị Cỏ May


 

LY HƯƠNG, SỰ LỰA CHỌN NGHIỆT NGÃ

Xuyên Sơn

 LY HƯƠNG, SỰ LỰA CHỌN NGHIỆT NGÃ

Cuối cùng cũng đến ngày em gái út cùng chồng và con sang Mỹ định cư. Thế là lại thêm một gia đình người thân nữa của tôi rời bỏ đất nước này.

43 tuổi, em đang có việc làm ổn định ở một doanh nghiệp với mức thu nhập vài chục triệu đồng mỗi tháng.

Hai vợ chồng có biệt thự, xe hơi và chồng còn sở hữu một cơ ngơi làm ăn riêng, tuy nhỏ nhưng cũng đáng để cho nhiều người phải mơ ước.

Vậy mà điều gì đã khiến các em bỏ hết mọi thứ và dắt díu ba đứa con nhỏ dại từ giã quê hương để bắt đầu làm lại cuộc sống nơi xứ người cách đây nửa vòng trái đất?

Câu trả lời nghe vẫn quen thuộc như nhiều lần tôi đã từng nghe:

“Vì tương lai con cái!”.

Vâng! Đó là lý do mà rất nhiều người Việt trong dòng chảy nhập cư nước ngoài những năm gần đây thường nêu lên để giải thích cho việc ra đi của mình.

Thật chua chát khi hơn 40 năm sau ngày 30-4-1975, ký ức “thuyền nhân” lại trở về dưới một dạng thức khác.

Lần này, các “thuyền nhân” ra đi không phải trong tâm thế trốn chạy hoảng loạn, vội vã mà là được cân nhắc, chuẩn bị cẩn thận.

Không phải trên những chiếc thuyền lênh đênh đầy bất trắc mà là trên những chuyến bay tiện nghi, an toàn. Không phải lén lút, vô định mà là công khai và được chuẩn bị sẵn mọi thứ cho đến khi cầm visa trong tay mới lên đường.

Các công ty tư vấn nhập cư dạo này nhan nhản khắp nơi với những chương trình mời gọi đi định cư châu Âu, Mỹ, Canada, Úc…

Giờ gặp nhau, người ta hỏi thăm đã có PR (permanent resident) của nước nọ nước kia chưa, như một điều bình thường!

Người có tài tìm đường đi theo dạng skill worker hoặc doanh nhân khởi nghiệp.

Người có tiền thì bỏ tiền ra mua quốc tịch hoặc “thẻ xanh” cho nhanh.

Người ít cả tiền và tài thì hy vọng kiếm được một suất đi lao động nước ngoài rồi tìm đường ở lại bằng đủ cách.

Lớp trẻ đi du học hầu hết cũng không muốn trở về.

Năm 2014, báo chí thông tin có 12/13 quán quân của cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia” không trở về nước sau khi kết thúc thời gian du học ở Úc với học bổng toàn phần cho người chiến thắng chung cuộc.

Con số đó đến nay chắc đã tăng thêm sau.

Tháng 7-2017, Hiệp hội Quốc gia chuyên viên địa ốc Hoa Kỳ công bố báo cáo hằng năm cho thấy Việt Nam đứng trong top 10 nước hàng đầu mua nhà tại Mỹ.

Trả lời BBC, tổ chức này cho biết chỉ trong thời gian từ tháng 4-2016 đến tháng 3-2017, công dân Việt Nam đã mua bất động sản tại Mỹ trị giá lên tới 3,06 tỷ USD.

Đó là mới tính số tiền chuyển đi để mua nhà tại Mỹ chứ chưa tính ở các nước khác và tất nhiên, đó cũng chỉ là phần nổi của tảng băng!

Đất nước như một bao gạo bị thủng để trí lực, tài lực cứ chảy dần ra nước ngoài cho đến khi rỗng ruột.

Quê hương chôn rau cắt rốn ở đây mà dường như chỉ là chốn dừng chân tạm bợ với rất nhiều người Việt bây giờ…

Làm sao có thể trách em tôi cũng như hàng triệu người dân khác đã và đang tính bỏ nước ra đi?

Bởi cái lý do “vì tương lai con cái” nghe nhẹ bâng vậy mà trĩu nặng quá chừng!

Sự lo toan và hy sinh vô bờ cho con cái vốn là nét văn hoá đặc trưng của người Việt.

Những bậc cha mẹ thuộc nhiều thế hệ đã trải qua các cuộc chiến tranh trên đất nước nhỏ bé này, càng khổ cực nhiều ở đời mình lại càng thấm thía sâu sắc ước mơ về một cuộc sống bình yên và hạnh phúc cho đời con cháu.

Nhưng nỗi lo bây giờ không còn là chuyện cơm ăn áo mặc hàng ngày cho phần “con”, như trong thời kỳ phải thắt lưng buộc bụng vì chiến tranh và sự mông muội.

Nỗi lo bây giờ là về chất lượng cuộc sống cho nhu cầu của phần “người”.

Có thể nào sống an yên khi môi trường bị phá hoại tàn khốc, tài nguyên đất nước bị khai thác tới cạn kiệt, thực phẩm bẩn tràn lan khắp nơi và tham nhũng thì như ổ dịch bệnh hoành hành từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài?

Có thể nào sống hạnh phúc khi nền giáo dục và y tế ngày càng xuống cấp,

các phúc lợi xã hội không chỉ kém chất lượng mà còn tiếp tục giảm sút,

các giá trị văn hoá – đạo đức bị tha hoá và đảo lộn?…

Bây giờ, bước ra đường là thấy lo:

Lo nạn cướp giật, móc túi; 

lo tai nạn giao thông;

lo ăn uống bị ngộ độc thực phẩm;

lo hít khói bụi bị ung thư;

lo bọn trẻ bị dụ dỗ sa vào ma túy hoặc bị xâm hại, bắt cóc…

Cứ thế mà ngút ngàn triền miên lo.

Thà chỉ phải lo cơm áo như ngày xưa còn dễ hơn bội phần!

Xã hội càng bất ổn, lòng người càng bất an. Làm sao có thể yên tâm để con cái lớn lên trong một môi trường sống như vậy?

Chưa kể, những lời đồn đoán về một tương lai xám xịt của đất nước gắn với những thỏa thuận của Việt Nam và Trung Quốc trong Hội nghị Thành Đô năm 1990 cũng là một trong những nguyên nhân gây hoang mang khiến cho nhiều người phải tính đường tháo chạy trước.

28 năm qua, Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam vẫn giữ bí mật, nhất quyết không công khai những nội dung đã ký kết với Đảng cộng sản và Nhà nước Trung Quốc trong Hội nghị Thành Đô.

Vì thế, những đồn đãi càng ngày càng lan rộng, bất chấp mọi nỗ lực trấn an dân chúng của chính quyền.

Và dù đã bước sang thế kỷ 21, thế nhưng nhà nước Việt Nam vẫn chủ trương quản lý, định hướng về tư tưởng và bưng bít thông tin không khác gì ở trong thế kỷ trước.

Hôm biết tin Quốc hội đã thông qua Luật An ninh mạng, một người quen của tôi là tiến sĩ trong lĩnh vực tài chính từng hăm hở từ Mỹ trở về nước cách đây 10 năm ngậm ngùi chia sẻ:

“Em đã hoàn tất thủ tục cho cả gia đình trở lại Mỹ cách đây mấy tháng,

Znhưng vẫn còn cố nấn ná…

Giờ thì phải ra đi thôi chị ạ, không thể để bọn trẻ lớn lên trong bầu không khí ngày càng ngột ngạt thế này…”.

Bao nhiêu người trẻ có tri thức và nặng tình với quê hương đã “vội vã trở về, vội vã ra đi” như thế?

***

Hồi đi thăm Israel, tôi thường đứng lặng thật lâu trước hình ảnh những con tàu hồi hương hiện diện khắp mọi nơi, như một niềm kiêu hãnh trong lịch sử lập quốc của đất nước này.

Đó là những chuyến tàu từ châu Âu, châu Mỹ… đưa hàng triệu người Do Thái ở khắp nơi trên thế giới trở về xây dựng quê hương sau khi Israel chính thức được thành lập vào năm 1948.

Những gương mặt người Do Thái hồi hương khi ấy còn vương nét nhọc nhằn sau Thế chiến, nhưng vẫn bừng sáng niềm hy vọng vào tương lai và ý chí quyết tâm kiến thiết quốc gia.

70 năm sau khi lập quốc, ngày nay Israel đã trở thành một trong số các quốc gia phát triển hàng đầu và là nền kinh tế lớn thứ 34 thế giới (tính theo GDP danh nghĩa năm 2016). Những chuyến tàu hồi hương ngày đó đã mang về cho quốc gia này vốn liếng quý nhất là những con người tinh hoa để xây dựng thành công một đất nước đã từng không có tên trên bản đồ thế giới.

Còn chúng ta?

Sau hơn 73 năm thành lập và thống nhất đất nước (dài hơn thời gian lập quốc của Israel), những chuyến tàu (cả tàu thuỷ và tàu bay) sao lại chỉ mang dân ta ra đi mà không có trở về?

Lịch sử dân tộc Việt Nam dường như gắn liền với các cuộc di dân, nhưng chua xót hơn là cho tới tận bây giờ, những cuộc di dân ra nước ngoài vẫn chưa biết bao giờ mới dừng lại?

Bao câu hỏi cứ quay quắt trong tôi khi nghĩ đến em gái.

Ngoài kia, trời Sài Gòn vẫn vần vũ mưa. Tiếng hát Thái Thanh vọng từ nhà ai đó nghe nức nở:

“Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui, khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi…”.

Và trong tôi, không hiểu sao cứ thấp thoáng khôn nguôi hình ảnh những con tàu hồi hương về Israel cùng những con tàu ly hương rời Việt Nam…

Chúa Nhật, 12 tháng Tư năm 2020 

Tác Giả: Nguyễn Thị Oanh

http://saigonecho.com/images/ra_di.jpg