Một nữ tu người Pháp 63 tuổi tên là Sơ Emmanuelle Maillard…

Cang Huynh

MỖI NGÀY MỘT CÂU CHUYỆN.

Năm 1971, một nữ tu người Pháp 63 tuổi tên là Sơ Emmanuelle Maillard bước vào khu ổ chuột Moqattam ở Cairo, Ai Cập, và quyết định ở lại đó trong hai thập kỷ.

Sau 40 năm dạy văn học cho học sinh giàu có trong những lớp học tiện nghi, sơ đã từ bỏ cuộc sống nghỉ hưu yên bình. Sơ đặt một câu hỏi đơn giản:

“Những người nghèo nhất ở Ai Cập sống ở đâu?”

Mọi người đều chỉ về phía bãi rác khổng lồ của thành phố, nơi sinh sống của 40.000 người được gọi là Zabaleen. Họ thu gom rác thải của bảy triệu công dân bằng tay không, sống mà không có nước sạch, điện hay trường học.

Khi sơ hỏi liệu sơ có thể sống giữa họ không, người dân địa phương đã rất sốc.

Họ xây cho sơ một căn phòng nhỏ bằng bê tông chỉ có một chiếc giường, một cây Thánh giá và một cuốn Kinh Thánh.

Điều kiện sống thật đau lòng. Các cô gái trẻ sinh con khi mới 12 tuổi, trẻ em chết vì những bệnh nhiễm trùng nhẹ, và đàn ông bị đứt tay hàng ngày vì mảnh kính vỡ mà không có thuốc men cơ bản.

Sơ Emmanuelle không đến để thuyết giáo hay cải đạo ai cả.

Sơ chỉ đơn giản muốn chia sẻ cuộc sống của họ.

Sơ bắt đầu bằng việc băng bó vết thương, viết thư cho các bà mẹ và dạy trẻ em đọc trên những con phố bụi bặm.

Sơ nhanh chóng nhận ra rằng những người thu gom rác không nghèo vì lười biếng, mà vì xã hội đối xử với họ như những người vô hình.

Sơ quyết định dùng tiếng nói của mình để giúp họ xây dựng một tương lai thực sự.

Sơ viết thư khắp châu Âu và tiếp cận các nhà hảo tâm giàu có để tài trợ cho tầm nhìn của mình.

Đến năm 1980, những nỗ lực không ngừng nghỉ của sơ đã được đền đáp. Sơ đã xây dựng một trường tiểu học miễn phí, một phòng khám mở với các loại thuốc căn bản và một trung tâm cung cấp các lớp học xóa mù chữ cho phụ nữ.

Sơ thậm chí còn hợp tác với một kỹ sư để xây dựng một nhà máy ủ phân biến phân chuồng thành phân bón.

Điều này đã mang lại thu nhập ổn định cho những người thu gom rác.

Khi những người chỉ trích đặt câu hỏi về những phương pháp táo bạo của sơ ở khu ổ chuột, bao gồm cả việc cung cấp các nguồn lực kế hoạch hóa gia đình cho các bé gái, bà vẫn kiên định.

“Tôi đứng về phía người nghèo. Tôi sẽ làm bất cứ điều gì người nghèo cần.”

Sơ Emmanuelle sống trong khu ổ chuột đó cho đến năm 84 tuổi, chịu đựng những mùa hè nóng như thiêu đốt và những đợt dịch bệnh nghiêm trọng mà không hề than phiền.

Sơ dùng một chiếc xô đơn giản làm nhà vệ sinh và mặc cùng một bộ áo tu màu xám trong nhiều năm.

Danh tiếng của sơ ngày càng tăng sau khi sơ xuất bản sách về người Zabaleen, và sơ đã tận dụng mọi lần xuất hiện trên truyền hình để quyên góp hàng triệu đô la cho thiện nguyện của mình.

Khi dòng tu của sơ cuối cùng triệu hồi sơ về Pháp vào năm 1993, sơ đã dành mười lăm năm tiếp theo để nói chuyện trên các đài phát thanh và tham dự các hội nghị để hỗ trợ các dự án trên khắp tám quốc gia.

Sơ qua đời thanh thản trong giấc ngủ vào năm 2008, chỉ vài tuần trước sinh nhật lần thứ 100 của mình.

Trở lại Cairo, những người thu gom rác đã tổ chức một buổi lễ cảm động để tưởng nhớ người phụ nữ mà họ gọi là Mẹ Emmanuelle.

Những đứa trẻ từng sống ở bãi rác, nay là bác sĩ, giáo viên và y tá, đã tụ tập để tưởng nhớ sơ.

Câu chuyện của sơ cho thấy rằng không bao giờ là quá muộn để tạo ra sự khác biệt.  Ở độ tuổi mà hầu hết mọi người thường chậm lại, Sơ Emmanuelle đã chọn bắt đầu một chương mới, chứng minh rằng tình yêu không phải là những lời nói hoa mỹ, mà là sự hiện diện và luôn bên cạnh người mình cần.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Chaque jour une histoire.


 

Sự trỗi dậy của phong trào Công Giáo chống AI – Vũ Văn An

Vũ Văn An

24/Aug/2026

Việc phản đối AI phát sinh [generative AI] không chỉ là quan điểm riêng của người Công Giáo, vì người dân trên khắp thế giới đang tổ chức để ngăn chặn sự mở rộng của Kỹ thuật này. (ảnh: minh họa của Victoria Arruda/EWTN News; hình ảnh nguồn: Sergey Poplev

Jonah McKeown của tạp chí National Catholic Register, ngày 20 tháng 8 năm 2026, cho hay: Giống như nhiều người Công Giáo khác, Eliza Monts rất háo hức đọc hướng dẫn của Đức Giáo Hoàng Leo về trí tuệ nhân tạo (AI) khi thông điệp được mong đợi của ngài, Magnifica Humanitas, được công bố vào tháng Năm.

Là một nhà văn và người sáng tạo nội dung mạng xã hội nổi tiếng sống ở Charleston, Nam Carolina, Monts đã quyết định chắt lọc phân tích của Đức Giáo Hoàng về AI thành một danh sách khách quan về ưu điểm và nhược điểm. Ví dụ, “Tốc độ và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ được tăng lên” được liệt kê là một “ưu điểm”, trong khi những tác động tiêu cực của việc lạm dụng AI đối với giáo dục của giới trẻ được xếp vào mục “nhược điểm”.

Nhưng sau khi đọc kỹ thông điệp dài 42,000 từ của Đức Giáo Hoàng, sự phân tích này không hề sát nhau. Monts chỉ đếm được năm ưu điểm — và 37 nhược điểm.

Thao tác này chỉ càng củng cố thêm niềm tin mà Monts đã có về AI.

“Là con người rất quan trọng và khác biệt, bởi vì chúng ta được tạo ra theo hình ảnh và họa ảnh Thiên Chúa, còn robot thì không”, Monts, 27 tuổi, nói với tờ Register trong một cuộc phỏng vấn. “Tôi tin tưởng mạnh mẽ vào phong trào không muốn thấy con người bị gạt sang một bên để nhường chỗ cho robot.”

“Phong trào” mà Monts nói đến là một số lượng ngày càng tăng những người Công Giáo đã quyết định không sử dụng AI, đặc biệt là loại “phát sinh”: Kỹ thuật được cho là tạo ra văn bản, hình ảnh, âm thanh hoặc mã máy tính mới bằng cách dựa trên các mẫu thống kê trong các cơ sở dữ liệu khổng lồ. Hầu hết mọi người đều đã trải nghiệm trí tuệ nhân tạo phát sinh thông qua các “chatbot” như ChatGPT, Claude, Grok và Gemini.

Việc phản đối trí tuệ nhân tạo phát sinh không chỉ là quan điểm riêng của người Công Giáo, vì người dân trên khắp thế giới đang tổ chức để ngăn chặn sự mở rộng của Kỹ thuật này. Những mối lo ngại lớn khác, chẳng hạn như tác động môi trường của các trung tâm dữ liệu AI, cũng đang thúc đẩy sự phản kháng.

Nhưng giữa phong trào văn hóa rộng lớn này, những người Công Giáo phản đối AI tự coi mình đang bổ sung một quan điểm dựa trên đức tin độc đáo, một quan điểm tập trung vào việc bảo vệ phẩm giá của con người, được tạo ra theo hình ảnh của Chúa, với sự sáng tạo và trí tuệ được ban tặng bởi Chúa Thánh Thần.

Và mặc dù những người Công Giáo này không nhận được sự lên án mạnh mẽ đối với các chatbot AI từ Đức Giáo Hoàng Leo XIV như họ mong đợi, họ vẫn tin rằng lập trường của họ đang được ủng hộ.

“Nó không chỉ xảy ra trong một tòa nhà, hay chỉ xảy ra ở một giáo xứ,” Marc Barnes, biên tập viên của tạp chí Công Giáo New Polity, nói về phong trào này. “Điều này đang xảy ra ở khắp mọi nơi, nơi mọi người cảm thấy thật nhàm chán và buồn tẻ khi bạn bè của họ nói chuyện với những người ảo.”

Một Liên minh Đa dạng

Những người Công Giáo phản đối AI đến từ nhiều tầng lớp khác nhau, và lập luận của họ chống lại Kỹ thuật này vừa mang tính triết học vừa mang tính thực tiễn.

Phong trào này bao gồm các nhà báo và nhà tư tưởng có ảnh hưởng, chẳng hạn như Matthew Walther, người sáng lập tạp chí Công Giáo The Lamp, người đã gọi AI là “một điều ác mà tất cả mọi người nên bác bỏ”. Tương tự, Lily Abadal, giáo sư triết học tại Đại học Nam Florida, St. Petersburg, đã cảnh báo rằng “Chúa Thánh Thần không hướng dẫn các xuất lượng” của chatbot.

Các nghệ sĩ thị giác, bị sốc trước sự lan tràn trực tuyến của “sản phẩm rác” do AI tạo ra, đã đặc biệt lên tiếng. Chris Lewis, người sáng lập xưởng nghệ thuật Công Giáo Baritus, đã gọi nghệ thuật AI là “một sự chế nhạo hoặc bắt chước sự sáng tạo đích thực”, trong khi nghệ sĩ thánh Kate Capato đã cảnh báo trong một bài đăng dài trên blog rằng người Công Giáo “phải cảnh giác trước sự xâm nhập của hình ảnh AI vào không gian thánh của chúng ta, và đặc biệt là trong phụng vụ của chúng ta”.

Trong số những tiếng nói này, New Polity, ấn phẩm do Barnes lãnh đạo, đã nổi lên như một điểm tập hợp cho điều gọi là “liên minh chống chatbot”. Ngoài việc dành toàn bộ một số báo gần đây cho những điều xấu xa được cho là liên quan đến AI, ấn phẩm này sẽ tổ chức một sự kiện vào mùa xuân tới tại Pittsburgh nhằm mục đích hình thành một phong trào phản kháng Công Giáo có tổ chức chống lại việc bình thường hóa AI phát sinh.

Một mối đe dọa đến phẩm giá con người

Một số lập luận chống AI đã nhận được sự ủng hộ rộng rãi trong văn hóa đại chúng cũng thu hút nhiều người Công Giáo. Ví dụ, các trung tâm dữ liệu tiêu tốn nhiều tài nguyên cần thiết để xử lý AI đang tác động xấu đến môi trường; có nguy cơ sử dụng Kỹ thuật để thay thế chứ không phải tăng cường nhận thức của con người; và có nhiều bằng chứng cho thấy chatbot nguy hiểm đối với trẻ em.

Trong khi tất cả những lập luận đó vẫn đang được tranh luận sôi nổi, mối quan tâm chính đối với người Công Giáo, đặc biệt là việc nói chuyện với một thực thể phi nhân loại theo cách giống con người — ngay cả khi người dùng biết rằng họ không nói chuyện với một người thật — là không tự nhiên, phi lý và không phù hợp với quan điểm Công Giáo về phẩm giá con người.

Barnes, một giáo sư tại trường Cao đẳng Thánh Giuse Thợ ở Steubenville, đã gây xôn xao năm ngoái với một bài luận có tiêu đề ngắn gọn “Chatbot AI là Ác quỷ”, một quan điểm mà ông đã bảo vệ trong nhiều cuộc tranh luận kéo dài nhiều giờ.

Barnes cũng thẳng thừng kêu gọi “xóa bỏ” Magisterium — một sản phẩm AI phổ biến được đào tạo chỉ dựa trên các nguồn Công Giáo và sử dụng giao diện trò chuyện — nhắc lại quan điểm của ông rằng chatbot nói chung là ác quỷ “bởi vì, về mặt thiết kế, chúng liên quan đến con người trong một hành động phi lý”. Ông lập luận rằng chatbot chỉ chọn từ ngữ của chúng thông qua xác suất, và do đó không thể “làm chứng” trực tiếp cho chân lý của đức tin Công Giáo như con người có thể.

Hơn nữa, Barnes cho rằng chatbot làm trầm trọng thêm tình trạng cô đơn và xa lánh vốn đã phổ biến bằng cách khuyến khích kết nối với một thực thể phi nhân bản. Ngược lại, khi một đời sống Công Giáo được sống trọn vẹn trong sự hiệp thông với chính Chúa Kitô và với các tín hữu khác, “Trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng trở nên kém hấp dẫn như một phương thuốc cho căn bệnh cô đơn đặc trưng của nền văn hóa chúng ta”, ông tiếp tục.

Trong khi một số người Công Giáo phản đối AI khẳng định với tờ Register rằng họ tin Kỹ thuật mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) làm nền tảng cho AI có thể có những ứng dụng hợp pháp, thì vấn đề giao diện dựa trên trò chuyện — ngay cả khi được sử dụng cho AI “Công Giáo” — vẫn là một điểm vướng mắc nghiêm trọng.

Monts coi thông điệp tháng Giêng của Đức Giáo Hoàng Leo nhân Ngày Truyền thông Xã hội Thế giới lần thứ 60 — trong đó vị Giáo hoàng mô tả hành vi của chatbot là “lừa dối, đặc biệt là đối với những người dễ bị tổn thương nhất” — là “điểm tựa” của cô trong việc ủng hộ quan điểm của mình về AI dựa trên trò chuyện, vốn rất phù hợp với quan điểm của Barnes.

Trên Substack của mình, Monts thường xuyên đăng bài với các tiêu đề như “Liệu AI có thực sự đáng để bạn hủy hoại trí tuệ của mình?” và “Làm thế nào để loại bỏ AI khỏi cuộc sống của bạn trong 15 phút”. Trong một bài đăng thẳng thắn vào cuối tháng 7, trong đó cô mô tả sự đấu tranh bản thân khi chứng kiến nội dung do AI tạo ra lan tràn, cô đã cầu xin độc giả hãy quan tâm rằng, theo quan điểm của cô, hàng triệu người đang tự nguyện làm giảm đi những món quà trí tuệ và sáng tạo mà Chúa ban cho bằng cách giao phó các hoạt động trí tuệ cho robot.

“Điều đó làm chúng ta đau lòng rất nhiều… nhưng từ góc độ ích kỷ, bạn phải thuyết phục mọi người rằng những mặt tiêu cực lớn hơn những mặt tích cực,” cô nói.

Sự khác biệt trong cách diễn giải

Những người Công Giáo phản đối AI nói với tờ Register rằng họ tin rằng các tiêu chuẩn phân định mà Đức Giáo Hoàng Leo đã nêu ra trong Magnifica Humanitas ủng hộ mạnh mẽ kết luận rằng người Công Giáo không nên sử dụng AI phát sinh. Nhưng cách diễn giải này không phải là phổ quát.

Một trong những đoạn gây tranh cãi gay gắt nhất trong thông điệp là Đoạn 100, trong đó Đức Giáo Hoàng viết rằng “AI có thể là một công cụ có giá trị” mà “đòi hỏi một cách tiếp cận thận trọng và có chừng mực.”

Những người Công Giáo hoài nghi về trí tuệ nhân tạo (AI) coi lời kêu gọi kiềm chế của Đức Giáo Hoàng là lý do để không dành cho Kỹ thuật này, và những người tạo ra nó, sự khoan dung. Nhưng những người Công Giáo lạc quan hơn về việc sử dụng AI lại đọc đoạn văn này không phải như một lời khiển trách để từ chối Kỹ thuật mà là như một “mệnh lệnh” – một thách thức đối với người Công Giáo trong việc sử dụng và định hướng Kỹ thuật hướng tới những mục đích tốt đẹp và tích cực.

Matthew Harvey Sanders, người sáng lập Magisterium AI, cho biết sau khi thông điệp được ban hành rằng những lời chỉ trích của Đức Giáo Hoàng Leo chỉ ra kết luận rằng người Công Giáo không nên rút lui khỏi lĩnh vực AI mà thay vào đó nên tham gia vào việc xây dựng các hệ thống AI tốt hơn từ đầu.

Tương tự, Taylor Black, một người Công Giáo giữ chức giám đốc hệ sinh thái AI và đầu tư mạo hiểm của Microsoft, nói với tờ Register rằng ông không coi AI khác biệt so với các Kỹ thuật khác mà người Công Giáo đã “thánh hóa” và sử dụng để giúp truyền bá Tin Mừng trong suốt nhiều thế kỷ.

Trong khi đó, một số người Công Giáo chỉ trích mạnh mẽ AI đã bày tỏ lo ngại rằng hướng dẫn của Đức Giáo Hoàng còn thiếu sót so với một lệnh cấm toàn diện. Ví dụ, cựu giám đốc điều hành Thung lũng Silicon Ned Desmond đã viết trên First Things rằng Magnifica Humanitas là một “cơ hội bị bỏ lỡ” để nhấn mạnh những nguy hiểm của chatbot.

Và Walther, trong một bài phê bình thẳng thắn trên tờ The New York Times, đã viết rằng ông thấy cách xử lý AI trong thông điệp này “đáng thất vọng vì quá thận trọng và dè dặt” và thậm chí là “ngây thơ”, nói rằng tầm nhìn tích cực rõ ràng của vị Giáo hoàng về AI như một công cụ có mục đích sử dụng đạo đức có nguy cơ bị hiểu nhầm là giấy phép cho phép AI lan tràn.

Nếu không có bất kỳ lệnh cấm nào của Giáo hoàng về việc sử dụng AI, Walther nói rằng những người Công Giáo bình thường nên thể hiện sự hiện diện cá nhân bằng cách sống đức tin của họ và tham gia vào các bí tích, thay vì hình thành bất cứ mối quan hệ nào với một thực thể phi vật chất, phi nhân bản.

Một Phong Trào Phản Văn Hóa

Mặc dù ý nghĩa của Magnifica Humanitas có thể gây tranh cãi, nhưng thông điệp này không phải là hướng dẫn duy nhất của Vatican về AI. Ví dụ, Đức Giáo Hoàng Leo đã kêu gọi rõ ràng việc loại trừ một số cách sử dụng AI nhất định, cảnh cáo các linh mục không nên sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để viết bài giảng và khuyên giới trẻ không nên để AI làm bài tập về nhà hộ mình. Ngài cũng đã cảnh báo mạnh mẽ về việc mô phỏng giọng nói và khuôn mặt con người, và trong thông điệp của ngài, ngài đã bày tỏ sự hoài nghi sâu sắc và lo ngại về việc sử dụng AI trong chiến tranh.

Về phần mình, Barnes cho biết ông đánh giá cao việc Đức Giáo Hoàng không cấm hoàn toàn người Công Giáo sử dụng AI, mà thay vào đó, với “tốc độ hoàn hảo”, ngài đang kêu gọi các tín hữu quay trở lại những nguyên tắc cơ bản và thúc giục họ trau dồi khả năng phân định của riêng mình. Nếu một sự lên án của Giáo Hoàng đối với AI phát sinh từng diễn ra, Barnes cho biết ông nghi ngờ điều đó sẽ chỉ xảy ra sau rất nhiều cuộc tranh luận, tương tự như cách Giáo Hội đã mất nhiều năm để nghiên cứu và phân định trước khi khẳng định lệnh cấm truyền thống đối với việc kiểm soát sinh sản nhân tạo vào những năm 1960.

Dù điều gì có thể xảy ra tiếp theo, Monts cho biết cô đang tập trung vào việc đáp lại hiện tượng AI không chỉ bằng luận lý và lập luận, mà còn bằng lời cầu nguyện. Cô cũng suy gẫm rằng trong một tương lai có thể xảy ra khi nội dung do AI tạo ra trở nên phổ biến hơn nữa, việc cung cấp ngôn từ và tác phẩm nghệ thuật do con người tạo ra có thể được coi là một “việc làm bác ái tinh thần thứ tám” một cách không chính thức.

Đối với Monts, những ngày đầu của phong trào phản kháng chống lại AI do phần lớn giáo dân dẫn đầu này không khác gì những gì cô đã đọc về những ngày đầu của phong trào bảo vệ sự sống ở Hoa Kỳ. Nhưng cô cũng cảm thấy an ủi trước số lượng ngày càng tăng của những người Công Giáo không chỉ bày tỏ sự hoài nghi về AI phát sinh mà còn đưa ra quyết định đi ngược lại với văn hóa hiện đại là không sử dụng nó.

“Xu hướng đang thay đổi, về mặt thống kê. Mọi người ghét các trung tâm dữ liệu. Họ ghét AI phát sinh. Trong thế giới thế tục rộng lớn hơn của Hoa Kỳ, [mọi người] đang lên tiếng mạnh mẽ về điều đó,” cô nói. Cô nói thêm rằng cô thường nhận được nhiều tin nhắn trực tiếp từ những người Công Giáo cảm ơn cô vì thông điệp chống AI hơn là bày tỏ sự phản đối.

“Tôi phải tự nhắc nhở mình điều đó rất nhiều,” cô nói. “Rằng tôi thực sự không đơn độc.”


 

Ông Hồ Chí Minh cướp chính quyền Thủ tướng Chính phủ Trần Trọng Kim do Vua Bảo Đại bố nhiệm

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Nguyễn Văn Khánh 

23/08/2026

Sách giáo khoa học sinh sinh viên ở Việt Nam học sách lịch sử do đảng cộng sản biên soạn giáo dục như sau:

Là cuộc cách mạng bằng bạo lực vĩ đại nhất, long trời lở đất trong 4000 lịch sử dựng nước và giữ nước !

Công đầu do lãnh tụ Hồ Chí Minh thiên tài ra chỉ thị phải cướp chính quyền của chế độ phong kiến bằng mọi giá, với bài viết “thời cơ Nhật Bản, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, ông hồ cùng với nhóm Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng … Lãnh đạo cướp chính quyền thành công ở Hà Nội ngày 19.8.1945, ngày 2.9.45, ông hồ tuyên bố thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa !

Vậy cướp chính quyền là gì ?

Một lực lượng chính trị hành động bất ngờ, không thông qua bầu cử, hoặc chuyển giao hợp pháp theo luật hiện hành, chiếm các cơ quan nhà nước, lật đổ chính quyền hiện tại và nắm quyền lực.

* Đặc điểm cướp chính quyền là không có bầu cử, dùng sức mạnh bạo lực vũ trang, biểu tình chiếm trụ sở, lật đổ chính quyền cũ, thành lập chính quyền mới.

Như vậy chính quyền cộng sản Hồ dùng bạo lực cách mạng cướp chính quyền Trần Trọng Kim bất hợp pháp.

Vua Bảo Đại là vị vua triều Nguyễn, hình thức cao lớn, thông minh có tài ngoại giao, ông đã thành công khi được chính quyền Pháp trao trả độc lập cho nước Việt Nam, đồng thời chính quyền Nhật Bản trao trả độc lập cho nước Việt Nam vì bối cảnh thua trận trong chiến tranh thế giới thứ hai 1945.

Chính quyền Trần Trọng Kim tồn tại với danh xưng tên nước ” Đế Quốc Việt Nam “,

Trong thời gian ngắn nắm chính quyền, Chính phủ Trần Trọng Kim làm rất nhiều việc tốt cho đất nước Việt Nam nếu bạn đọc xem lịch sử thật của chính quyền Trần Trọng Kim sẽ biết rất rõ.

Tại sao chính quyền Trần Trọng Kim bị đảng cộng sản hồ cướp chính quyền dễ dàng như thế ?

Do Trần Trọng Kim là một trí thức khoa bảng nổi tiếng giỏi chuyên môn nhưng không có kinh nghiệm chính trị.

Trần Trọng Kim không xây dựng tổ chức đảng chính trị có dự án tư tưởng, không có quân đội và lực lượng cảnh sát, an ninh bảo vệ chính quyền.

Bị mất chỗ dựa khi Nhật Bản thua trận 15.8.1945, nên không được quân đội Nhật Bản giúp sức bảo vệ chính quyền non trẻ.

Nên ông hồ Lưu manh cướp giật chính quyền 19.8 .45 từ Trần Trọng Kim !

Nếu ông hồ cướp từ Pháp , từ Nhật Bản thì lại chuyện khác ! Ông hồ cướp chính quyền kiểu hớt tay trên, Đúng bản chất Lưu manh của con người ông ta và đảng cộng sản.

Với bản chất cả tin, nhẹ dạ , bao dung của Trần Trọng Kim và vua Bảo Đại thì ông hồ lừa đảo dễ dàng, cướp mất chính quyền dân chủ sơ khai, non trẻ sau 4 tháng ! Đó cũng là số phận dân tộc Việt Nam còn yếu kém, văn hóa khổng giáo, nho giáo lạc hậu so với thế giới văn minh nói chung.

Vua Bảo Đại có chính danh dòng dõi vua chúa Việt Nam, ông biết thế yếu nên không đối đầu với đế quốc Pháp thời đó, đấu tranh bằng phương pháp ôn hòa, dần dần Chính quyền Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam và rút quân đội về nước.

Cướp chính quyền Trần Trọng Kim năm 1945 , chính quyền cộng sản gây ra nội chiến Việt Nam 30 năm, trong đó 10 năm đánh Pháp , 20 năm nội chiến Việt Nam với chính quyền Việt Nam cộng hòa và sự giúp đỡ trực tiếp của quân đội Mỹ, cuối cùng chiến thắng thuộc về chính quyền cộng sản sau 1975 , thiết lập nhà nước cộng sản với cái tên ” nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam “.

Nội chiến Việt Nam với những hệ lụy lâu dài như 6 triệu người Việt chết và bị thương, hàng triệu người vượt biên qua Biển Đông, chết hàng trăm ngàn người.

Cướp chính quyền là thành công của đảng cộng sản, nên dùng thủ đoạn bằng chế độ công an trị, không bầu cử tự do thông qua lá phiếu, không chấp nhận đảng phái khác hoạt động ôn hòa, bắt giữ bỏ tù hàng nghìn người vì đòi hỏi dân chủ tự do, quyền con người phổ quát cho dân tộc Việt Nam.

Nhân ngày cướp chính quyền do đảng cộng sản lãnh đạo thành công với ông hồ mang chủ nghĩa Mác Lê Nin vào Việt Nam, chúng tôi những nhà báo độc lập viết bài này cho bạn đọc hiểu thêm về lịch sử dân tộc Việt Nam bi tráng và hào hùng 4000 năm lịch sử, đảng cộng sản chỉ 81 năm cầm quyền như chớp mắt dưới thời gian dài lịch sử chính trị thế giới.

19/8/2026 


 

Tổng thống Trump ký sắc lệnh đổi tên Hồ Ontario của Canada thành Hồ America (RFI)

(RFI)

Trong bối cảnh đang đối đầu thương mại với Canada, tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump hôm qua, 27/08/2026, đã ký một sắc lệnh hành pháp đổi tên “Hồ Ontario”, nằm vắt ngang biên giới Mỹ – Canada, thành “Hồ America – Hồ nước Mỹ”. Thủ tướng Canada đã phản đối ngay lập tức.  

Đăng ngày: 28/08/2026

Hi`nh Ba’o Thanh Ho’a

Tại Nhà Trắng, ngày 27/08/2026, tổng thống Mỹ Donald Trump giới thiệu với báo chí sắc lệnh mà ông đã ký, theo đó tên hồ Ontario được đổi thành «Hồ America – Hồ nước Mỹ»

Thanh Phương

Theo hãng tin AFP, một tấm bản đồ được trưng bày tại Phòng Bầu dục của Nhà Trắng cho thấy cho thấy Hồ Ontario, một trong Ngũ Đại Hồ nằm ở khu vực biên giới, đã được ghi là Lake America ​​bằng những chữ cái màu đỏ cỡ lớn. Sắc lệnh hành pháp do Nhà Trắng công bố sau đó nêu rõ: “Hoa Kỳ tuyên bố chủ quyền đối với phần lớn thể tích của hồ, vì những khu vực sâu nhất nằm trong lãnh thổ Hoa Kỳ.” Tuy nhiên quyết định này của ông không có nghĩa là quốc tế công nhận tên mới của hồ Ontario. Trước đó, vị tổng thống Cộng hòa đã nhiều lần bày tỏ ý định sáp nhập toàn bộ Canada để biến nước này thành bang thứ 51 của Hoa Kỳ. Kể từ khi trở lại Nhà Trắng, Donald Trump đã công bố các bản đồ thể hiện Canada, Groenland (vùng lãnh thổ tự trị của Đan Mạch) và thậm chí cả eo biển Hormuz là lãnh thổ của Mỹ. 

Trên mạng xã hội X, thủ tướng Mark Carney đã phản ứng gay gắt: “Người dân Canada hiểu rằng mọi thứ cần được gọi đúng tên của chúng, và hồ này có tên là Hồ Ontario, hôm nay và mãi mãi.” Thủ tướng Carney lưu ý tên “Ontario“, cũng là tên một tỉnh của Canada, bắt nguồn từ chữ “Ontari’io” trong tiếng bản địa Huron, có nghĩa là “hồ đẹp, hồ lớn“. Ông nói thêm rằng tên gọi này đã có từ “hơn 400 năm trước, rất lâu trước khi Liên bang Canada được thành lập và trước cả Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ.” 

Ngay đầu nhiệm kỳ thứ hai, Donald Trump từng ra lệnh đổi tên “Vịnh Mexico” thành “Vịnh America- Vịnh nước Mỹ“. Hôm qua, ông Trump tuyên bố: “Chúng ta đã có một vịnh và một hồ. Giờ chỉ còn thiếu một đại dương nữa thôi. Có lẽ chúng ta sẽ đổi luôn tên Đại Tây Dương hoặc Thái Bình Dương. Hoặc có thể đổi cả hai.” 


 

SỰ ĐỐI LẬP GIỮA RONALD  REAGAN – BIỂU TƯỢNG CỦA ĐẢNG CỘNG HÒA VỚI DONALD TRUMP

Dolphin TranSự Thật Lề Đường (STLĐ)

SỰ ĐỐI LẬP GIỮA RONALD  REAGAN – BIỂU TƯỢNG CỦA ĐẢNG CỘNG HÒA VỚI DONALD TRUMP

   Năm 1988 Ronald Reagan: Chúng ta cần cảnh giác trước những kẻ mị dân sẵn sàng tuyên bố chiến tranh thương mại với các nước bạn bè, gây tổn hại cho nền kinh tế và an ninh quốc gia của chính chúng ta cũng như toàn bộ thế giới tự do.

   Bài phát biểu năm 1988 của Reagan mang lại bài học vượt thời gian về cuộc chiến kinh tế mà Trump đang tiến hành với Canada.

Đó không phải là bài phát biểu năm 1988 về Liên Xô, mà là bài phát biểu ngay sau cuộc bầu cử ở Canada, khi Thủ tướng Brian Mulroney người ủng hộ Hiệp định Thương mại Tự do Mỹ-Canada vừa tái đắc cử.

   Ronald Reagan: “Các đối tác thương mại hòa bình không phải là kẻ thù, mà là đồng minh của chúng ta. Chúng ta cần cảnh giác trước những kẻ mị dân sẵn sàng tuyên bố chiến tranh thương mại với bạn bè mình, gây tổn hại cho nền kinh tế, an ninh quốc gia và cả thế giới tự do, trong khi lại toan tính trục lợi bằng cách phất cao lá cờ Mỹ.”

Reagan khi đó đã có những phát biểu cho đến bây giờ vẫn là thời sự nóng hổi của Mỹ và cả thế giới tự do.

Năm 1930, Quốc hội Mỹ thông qua thuế Smoot-Hawley và Reagan cho rằng nó đã dẫn tới Đại Suy thoái, nhưng Trump lại vừa lôi ra để đánh Canada.

Năm 1988 Reagan ký Luật Thực thi Hiệp định Thương mại Tự do Mỹ-Canada ngày 28/9/1988, tiền thân của NAFTA và sau này là USMCA.

Lập luận cốt lõi của Reagan, Thương mại không phải là chiến tranh. Trong chiến tranh, một bên thắng thì bên kia thua. Trong thương mại, cả hai bên cùng thắng, và thương mại giúp củng cố thế giới tự do.

Vì sao phát biểu của Reagan được nhắc lại khi nước Mỹ của Trump đã gây ra cuộc chiến thuế quan với Canada hiện nay.

So sánh chính sách của Reagan với Trump mà nhiều nhà bình luận rút ra.

Reagan nói về Canada như là đồng minh, láng giềng thân thiện không phải đối thủ, nhưng Trump lại áp dụng ngược lại.

Cuộc chiến thương mại Mỹ-Canada 2025-2026 do chính Trump gây ra, đã xóa sạch chính sách đối với Canada của Reagan.

  Reagan cho rằng Chủ nghĩa bảo hộ thường được ngụy trang bằng chủ nghĩa dân tộc giá rẻ – “một dạng chủ nghĩa dân tộc rẻ tiền, một tấm bình phong che đậy” – để che đậy sự thiếu ý chí duy trì sức mạnh quân sự và đối đầu với kẻ thù thực sự.

  Kết quả mà Reagan đã cảnh báo, làm suy yếu nền kinh tế, an ninh quốc gia và toàn bộ thế giới tự do của chúng ta.

Cố Tổng thống Mỹ Ronald Reagan trong các bài phát biểu về thương mại tự do vào thập niên 1980, trong đó ông cảnh báo rằng thuế quan cao và chiến tranh thương mại sẽ làm suy yếu kinh tế và tổn hại các nước đồng minh. Reagan từng nhắc lại bài học lịch sử từ đạo luật thuế quan Smoot-Hawley thập niên 1930, vốn đã châm ngòi cho chiến tranh thương mại toàn cầu và làm trầm trọng thêm cuộc Đại suy thoái. Reagan cho rằng các quốc gia thân thiện và đồng minh cần hợp tác thương mại công bằng thay vì dựng lên các hàng rào thuế quan gây tổn hại lẫn nhau. Reagan nhấn mạnh rằng việc kích động chủ nghĩa bảo hộ dưới vỏ bọc yêu nước thực chất mang lại rủi ro lớn cho nền kinh tế và vị thế quốc tế của nước Mỹ.

   Chính vì sự đối lập rõ rệt giữa Reagan – biểu tượng của Đảng Cộng hòa ủng hộ tự do thương mại và Trump – người chủ trương dùng thuế quan như vũ khí chính sách, mà bài phát biểu 1988 này được trích lại rất nhiều trong năm qua như một lời cảnh báo vượt thời gian.


 

‘Cơn ác mộng’ giấy vệ sinh đang quay lại với người Mỹ?

Ba’o Nguoi-Viet

August 26, 2026

WASHINGTON, DC (NV) – Sử dụng nhà vệ sinh hay thậm chí là lau nước mắt khi khóc sẽ sớm trở nên… đắt đỏ đối với người dân Mỹ, khi cuộc chiến thương mại Mỹ và Canada bước vào một sàn đấu toàn diện, đe dọa xóa sạch nhiều thập niên giao thương hòa bình giữa hai quốc gia. Thủ phạm là do giấy vệ sinh, theo The Guardian hôm Thứ Tư, 26 Tháng Tám.

Cuộc chiến thương mại giữa Hoa Kỳ và Canada có thể khiến người dân Mỹ phải trả giá cao hơn cho giấy vệ sinh và khăn giấy, do các sản phẩm này dù được sản xuất tại Hoa Kỳ nhưng lại sử dụng nhiều nguyên liệu gỗ nhập cảng từ Canada.

Các sản phẩm này dù được sản xuất tại Hoa Kỳ nhưng lại sử dụng nhiều nguyên liệu gỗ nhập cảng từ Canada. (Hình minh họa: Joe Raedle/Getty Images)

Sau khi các cuộc đàm phán thương mại giữa hai nước đổ vỡ vào cuối tuần trước, Thủ Tướng Canada Mark Carney đã tuyên bố sẽ áp thuế đáp trả Mỹ theo tỷ lệ “từng đô la” và công bố danh sách gần 900 mặt hàng của Mỹ sẽ phải chịu mức thuế từ 25% đến 50% kể từ ngày 8 Tháng Chín.

Rất rủi ro là các sản phẩm giấy nằm trong số những mặt hàng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, khi Canada đe dọa áp thuế từ 25% đến 50% đối với “giấy vệ sinh hoặc giấy lau mặt dạng cuộn/khổ lớn” để đáp trả việc Tổng Thống Donald Trump tăng thuế 50%.

Mặc dù giấy vệ sinh và khăn giấy của Mỹ thường được sản xuất trong nước, nhưng ngành này lại phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu từ Canada – quốc gia có trữ lượng gỗ dồi dào.

Procter & Gamble, công ty sở hữu thương hiệu giấy vệ sinh Charmin, từng thông báo vào năm ngoái rằng họ buộc phải tăng giá bán do các mức thuế quan được áp dụng vào thời điểm đó.

Theo Ngân Hàng Thế Giới, năm 2024, Mỹ đã nhập cảng từ Canada một lượng giấy vệ sinh trị trị giá $328 triệu, biến quốc gia này thành nhà cung cấp lớn nhất, bỏ xa các đối thủ khác trên thị trường Mỹ. Các nhà bán lẻ, bao gồm cả Costco, cũng nhập phần lớn các sản phẩm giấy từ quốc gia này.

Mặc dù chỉ chiếm 4% dân số thế giới, nhưng Mỹ chiếm hơn 20% lượng tiêu thụ giấy vệ sinh và khăn giấy toàn cầu, theo The Guardian. Trung bình mỗi người Mỹ sử dụng 141 cuộn giấy vệ sinh mỗi năm, đưa họ lên vị trí dẫn đầu thế giới về mức tiêu thụ loại sản phẩm này, xếp ngay trên người Đức (với mức trung bình 134 cuộn/năm).

Diễn biến này không thể không làm người tiêu dùng nhớ đến thời kỳ khan hiếm giấy vệ sinh khi đại dịch COVID-19 xảy ra. Vào giữa Tháng Ba, năm 2020, khi số ca nhiễm COVID-19 bắt đầu tăng mạnh tại Hoa Kỳ, dường như nhiều người Mỹ chỉ nghĩ đến một việc trước khi bước vào giai đoạn hạn chế đi lại và ở yên trong nhà: mua giấy vệ sinh và mua thật nhiều.

Tâm lý đó đã gây ra tình trạng thiếu hụt giấy vệ sinh nghiêm trọng thời gian đầu của đại dịch. Nhưng may mắn điều này chỉ mang tính tạm thời tại các cửa hàng trên toàn thế giới, do hành vi mua sắm hoảng loạn đột ngột và sự chuyển dịch lớn từ chuỗi cung ứng thương mại sang chuỗi cung ứng phục vụ nhu cầu tại gia, theo phân tích của NBC News.

Không chỉ các sản phẩm giấy mới có nguy cơ tăng giá. Cuộc chiến thương mại đã làm mối liên kết kinh tế giữa hai quốc gia rạn nứt, trong bối cảnh người tiêu dùng ở cả hai bên biên giới vẫn tiếp tục lo ngại về tình trạng lạm phát.

Các mức thuế quan của Hoa Kỳ đang tác động trực tiếp đến rượu mạnh của Canada, bao gồm các thương hiệu whisky nổi tiếng như Crown Royal và Canadian Club – những loại hiện đang chịu mức thuế 50%.

Mặc dù Canada không áp thuế lên rượu mạnh của Hoa Kỳ, nhưng hầu hết các tỉnh bang của nước này đã ban hành lệnh cấm riêng đối với rượu của Mỹ nhằm đáp trả các mức thuế trước đó áp đặt lên hàng hóa Canada. Tổng Thống Donald Trump viện dẫn các lệnh cấm rượu Mỹ tại các tỉnh bang này như một phần cơ sở pháp lý cho các mức thuế quan mới mà ông áp đặt lên Canada. (KL) [kn]


 

Từ việc dọa giết Barron Trump: Iran thực hiện các vụ ám sát như thế nào?-Trúc Phương/Người Việt

Ba’o Nguoi -Viet

August 26, 2026

Trúc Phương/Người Việt

Ngày 24 Tháng Tám, đài truyền hình nhà nước Iran phát một video với nội dung cho thấy mọi nhất cử nhất động của Barron Trump, cậu ấm nhà Trump, đều được giám sát. Với tiêu đề “Chúng ta nên giết Barron Trump ở đâu và bằng cách nào?” video treo giải thưởng $10 triệu cho việc ám sát Barron.

Barron Trump, hình chụp Tháng Giêng , 2025 tại Washington, DC. (Hình: Tasos Katopodis/Getty Images)

Cùng ngày, Thủ Tướng Israel, Benjamin Netanyahu, nói với Channel 14 rằng tính mạng con trai ông cũng bị Iran dọa giết. Tháng Bảy, cơ quan an ninh Israel phải tăng cường biện pháp bảo vệ bà Sara – vợ ông Netanyahu, cùng hai con trai là Yair và Avner…

Tất cả đều có “dấu tay” IRGC

Cho đến giờ, lực lượng Vệ Binh Cách Mạng Hồi Giáo Iran (IRGC) chưa dám thực hiện bất kỳ cuộc ám sát nhân vật cấp cao nào của Israel lẫn Mỹ nhưng xét về khả năng thì họ hoàn toàn có thể làm được. Điều khiến họ chùn tay, ở thời điểm này, là yếu tố hậu quả chính trị. Trong thực tế, IRGC liên tục thực hiện các vụ ám sát hoặc cảnh cáo ám sát nhằm vào những nhân vật Iran lưu vong. Pouria Zeraati là một điển hình.

Từ khi sống lưu vong ở Anh, nhà báo Pouria Zeraati thường xuyên bị quấy nhiễu, từ những tin nhắn nặc danh đến việc xuất hiện những kẻ lạ mặt đeo khẩu trang lảng vảng bên ngoài nhà.

38 tuổi, Zeraati đến Anh năm 2007 để học kỹ thuật cơ khí. Sau khi tốt nghiệp, anh làm phóng viên cho Manoto, một kênh truyền hình tiếng Ba Tư có trụ sở tại London. Năm 2022, Zeraati bắt đầu dẫn chương trình “The Last Word” trên Iran International – kênh truyền hình vệ tinh nổi tiếng với các bản tin chỉ trích gay gắt chính quyền Teheran.

Bộ trưởng tình báo Iran, Esmail Khatib, cáo buộc Iran International là “tổ chức khủng bố,” trong khi hãng tin Fars tung ra áp phích với chữ “TRUY NÃ: SỐNG HOẶC CHẾT” bên dưới ảnh chân dung Zeraati cùng bốn phát thanh viên khác. Có lần cảnh sát Anh phải đưa xe bọc thép đến văn phòng Iran International khi phát hiện loạt đe dọa nghiêm trọng. Hình ảnh nơi ở của Zeraati bị phát tán trên mạng xã hội. Một lần, vợ anh bị hai gã đi xe mô tô  bám theo đến phòng gym. Chúng nói với cô bằng tiếng Ba Tư rằng cả cô và chồng sẽ bị giết thảm.

Đầu năm 2023, hai kẻ lạ đeo khẩu trang xuất hiện bên ngoài nhà Zeraati ở Wimbledon. Chúng là người Romania. Một kẻ tên George Stana, 22 tuổi, đến Anh vài tuần trước đó. Các tin nhắn từ điện thoại của hắn cho thấy một kẻ chỉ đạo giấu mặt, có biệt danh “Em,” hướng dẫn hắn đến địa chỉ này. Âm mưu sát hại Zeraati cuối cùng bị lộ. Khi được cảnh sát Anh thả, Stana trở về Bucharest.

Một năm sau, hắn quay lại London, thuê một phòng khách sạn với hai tên Romania khác. Florina – em gái Stana – chuyển tiền cho nhóm sát thủ để mua thẻ SIM, quần áo, chi trả chỗ ở và mua một chiếc Mazda.

Một ngày Thứ Sáu Tháng Ba, 2024, khoảng 3 giờ chiều, Zeraati rời nhà để đến trường quay Iran International. Khi Zeraati đi bộ ra xe, một thanh niên Romania tiến lại gần và xin “ba bảng Anh.” Cùng lúc, một người Romania nhào đến ôm chặt Zeraati từ phía sau. Thế rồi tên kia rút dao đâm túi bụi vào chân nạn nhân. Đó chỉ là màn cảnh cáo. Khi Zeraati nằm gục trong vũng máu, hai hung thủ chạy về phía chiếc Mazda. Kẻ cầm lái là Stana. Đến một đoạn, chúng vất xe, cởi quần áo ném vào thùng rác rồi bắt taxi phóng ra phi trường Heathrow. Đáp chuyến bay tới Geneva, sau đó chúng về Bucharest (“Journalist targeted by Iran reacts to U.K.’s crackdown on IRGC”/CBS).

Theo bài báo điều tra của Cora Engelbrecht đăng trên The New Yorker ngày 24 Tháng Tám, câu chuyện “dằn mặt” nhà báo Pouria Zeraati kể ở trên là một phần trong chiến dịch ngày càng được mở rộng mà IRGC thực hiện.

Trong nhiều vụ, IRGC thuê mướn giang hồ được tuyển từ nhiều nơi, từ Nga, Romania, đến Thụy Điển. Trong quá khứ, IRGC từng thực hiện nhiều vụ sát hại thành phần đối lập sống ở nước ngoài. Một trong những vụ tấn công chấn động diễn ra tại Berlin vào năm 1992, khi đặc vụ Iran nổ súng sát hại một nhóm lãnh đạo phe đối lập người Kurd trong lúc họ dùng bữa tại một nhà hàng Hy Lạp. Công tố viên Đức cho biết vụ này được chính lãnh tụ tối cao ra lệnh.

Nhiều năm nay, IRGC chưa bao giờ ngừng các chiến dịch ám sát. Tại Viện Chính Sách Cận Đông ở Washington DC, chuyên gia Matthew Levitt thường xuyên theo dõi các âm mưu ám sát và phá hoại ở nước ngoài của IRGC kể từ cuộc Cách Mạng Hồi Giáo 1979. Levitt ghi nhận có hơn 200 vụ trong 5 năm qua, gần gấp đôi con số được thống kê từ năm 1979 đến 2021.

Một chiến dịch như vậy đã bị ngăn chặn vào năm 2021, khi một nhóm sát thủ, trong đó có một thành viên thuộc băng giang hồ Hells Angels ở Mỹ, sử dụng dịch vụ tin nhắn mã hóa Sky E.C.C. để lên kế hoạch ám sát hai người Iran sống tại Maryland. Vụ này được chỉ đạo trực tiếp từ chính phủ Iran và được điều phối bởi một tội phạm có nhiều tiền án tên Naji Sharifi Zindashti hiện sống tại Tehran.

Theo Suzanne Turner, phó giám đốc Ban Phản Gián FBI, thời gian gần đây, Iran tăng cường thuê các nhóm sát thủ để “sát hại cư dân Mỹ trên đất Mỹ.” Năm 2022, một người Azerbaijan mang theo AK-47 xộc đến nhà Masih Alinejad (nhà hoạt động người Mỹ gốc Iran) tại Brooklyn với lệnh bằng mọi giá phải giết chết nạn nhân. Sứ mạng bất thành. Hung thủ bị bắt. Hắn khai có hai thành viên thuộc mạng lưới tội phạm Nga thuê thực hiện vụ ám sát.

Không đến mức rợn tóc gáy như thời các tổ chức khủng bố cực đoan Hồi Giáo thực hiện các vụ khủng bố đánh bom liều chết, các chiến dịch quậy phá “âm thầm” mà IRGC thực hiện vẫn khiến chính phủ nhiều nước phương Tây luôn đặt họ trong tình trạng báo động để phản ứng kịp thời. Khó khăn lớn nhất cho việc đề phòng là IRGC gần như luôn thuê mướn các nhóm tội phạm địa phương, qua nhiều tầng lớp trung gian. Năm 2024, tình báo phương Tây có bằng chứng cho thấy các băng giang hồ tại Scandinavia đứng ra thuê thanh niên địa phương để thực hiện các chỉ thị từ Iran.

Năm 2024, chỉ vài tháng sau khi xảy ra sự kiện một thiếu niên 14 tuổi bị bắt do liên quan vụ nổ súng tại Đại Sứ Quán Israel ở Stockholm, người ta cũng phát hiện hai thiếu niên Thụy Điển bay qua Đan Mạch và ném lựu đạn vào Đại Sứ Quán Israel ở Copenhagen. Theo tình báo Thụy Điển, âm mưu này do băng Foxtrot Network chỉ đạo, nằm trong mạng lưới do Rawa Majid (biệt danh “Kurdish Fox”) cầm đầu. Tên này hiện sống tại Iran.

IRGC có dám đụng đến gia đình Trump?

Teheran thường xuyên dọa ám sát Trump. Viện dẫn “qisas” (luật trả đũa hay công lý báo thù), họ nhấn mạnh việc giết Trump không chỉ là đòn “máu trả bằng máu” mà còn là một “nghĩa vụ” trong việc phải tiêu diệt kẻ chịu trách nhiệm cho hành động giết chết Lãnh tụ Tối cao của họ.

Trên đài truyền hình nhà nước Iran, bình luận viên Mohammad-Javad Larijani nói rằng “qisas” là “quyền bất khả xâm phạm” của Cộng Hòa Hồi Giáo. Đề cập những kẻ chịu trách nhiệm về cái chết của Giáo chủ Ali Khamenei, Larijani nói: “Chúng tôi sẽ làm bất cứ điều gì trong khả năng, và không có rào cản pháp lý quốc tế nào có thể ngăn cản chúng tôi…” Đích thân Lãnh Tụ Tối Cao Mojtaba Khamenei cũng thề trả thù cho cái chết của cha.

Năm 2022, công tố viên liên bang tại Washington, DC kết tội một thành viên IRGC liên quan âm mưu sát hại cựu cố vấn an ninh quốc gia John Bolton nhằm trả đũa cho cái chết của Tướng Qasem Soleimani. Tên IRGC này móc nối và đưa ra cái giá $300,000 cho một người Mỹ gốc Iran để thực hiện kế hoạch giết Bolton.

Trong thời gian Trump vận động tranh cử vào Tháng Mười, 2024, IRGC cũng chỉ đạo một đặc vụ Iran “tập trung theo dõi và ám sát” Trump cùng nhà bất đồng chính kiến Masih Alinejad tại Brooklyn, New York (kể ở trên). Tên đặc vụ Iran móc nối với hai người – Carlisle Rivera (49 tuổi, ở Brooklyn) và Jonathan Loadholt (36 tuổi, ở Staten Island) – và đưa ra cái giá $100,000 để thực hiện phi vụ.

Tháng Bảy, 2024, một người Pakistan tên Asif Merchant bị bắt với kế hoạch mưu sát các chính trị gia Mỹ. Kế hoạch bại lộ khi Merchant, theo chỉ đạo IRGC, đang tìm sát thủ thực hiện trực tiếp. Tháng Mười Một, 2024, ngay sau khi Trump đắc cử nhiệm kỳ thứ hai, Bộ Tư Pháp công bố cáo trạng nhằm vào Farhad Shakeri (công dân Afghanistan), cũng với âm mưu ám sát Trump.

Thời gian gần đây, IRGC thường xuyên đe dọa nhằm vào gia đình Trump. Tháng Bảy, hãng tin Tasnim (có liên kết với IRGC) phát một video có tiêu đề “Có thể tiếp cận Melania Trump ở đâu và bằng cách nào?” Cuối Tháng Năm, tờ New York Post đưa tin về một âm mưu nhắm vào Ivanka Trump.

Liệu IRGC có dám “chơi lớn” khi ám sát thành viên gia đình Trump, như cách mà Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ thường xuyên cảnh báo? Khó có thể biết đó là báo động thật hay giả. Về năng lực và ý chí, không thể loại trừ khả năng IRGC tấn công một thành viên gia đình Trump. Như kể ở trên, Teheran có thể sử dụng tội phạm, sát thủ thuê hoặc mạng lưới trung gian. Điều đó phần nào giúp Iran tạo ra “chứng cứ ngoại phạm.”

Tuy nhiên, xét về hậu quả chính trị, ám sát Barron Trump hay Melania Trump là bước leo thang cực kỳ nguy hiểm. Khác với việc giết một cựu quan chức hay nhà bất đồng chính kiến, tấn công cá nhân tổng thống Mỹ hoặc thành viên gia đình tổng thống Mỹ, bất luận là Trump hay ai khác, chẳng khác nào một hành động rồ dại ngu xuẩn khi tuyên chiến trực tiếp với toàn bộ nước Mỹ. Hậu quả chắc chắn cực kỳ tàn khốc. IRGC hẳn biết điều đó. Và họ cũng biết rõ hiệu quả của trò tâm lý chiến về mặt truyền thông. [kn]


 

Giang…VÀ NHỮNG TÔ PHỞ KHÔNG KỂ HẾT CHUYỆN ĐỜI

Giang…VÀ NHỮNG TÔ PHỞ KHÔNG KỂ HẾT CHUYỆN ĐỜI

Ở Westminster, California, có những con đường mà chỉ cần chạy xe ngang qua, người Việt đã thấy như mình đang trở về một nơi nào đó rất xa.

Trên đường Bushard, những bảng hiệu tiếng Việt chen nhau giữa những cửa tiệm, nhà hàng, tiệm tóc, chợ và quán ăn.Trong một tiệm phở có cái tên nghe rất Mỹ, Phở Holic. Giang làm việc mỗi ngày.

Giang không phải chủ tiệm.

Cũng chẳng phải người nổi tiếng.

Chỉ là một người đứng phía sau quầy, bưng phở, dọn bàn, tính tiền, đôi khi phụ bếp khi khách đông.

Nhưng Giang có một thứ mà không phải ai cũng có.

Đó là khả năng nhìn người.

Giang từng nói:

— Ở đây, nhìn người ta ăn một tô phở là biết được nhiều chuyện lắm.

Người ta tưởng Giang nói đùa.

Không. Giang nói thật. Bởi mỗi ngày, Giang gặp hàng trăm người Việt.

Có người bước vào quán với bộ quần áo sang trọng, đồng hồ đắt tiền, nói chuyện điện thoại bằng tiếng Anh.

Có người đi chiếc xe cũ, ngồi một mình ở góc bàn, gọi đúng một tô phở nhỏ.

Có những ông già ngồi hàng giờ bên ly trà đá, không ăn gì thêm.

Có những bà cụ đi với con cháu, nhưng cả buổi chẳng nói một câu.

Và cũng có những người cứ mỗi lần bước vào quán là kể lại một chuyện cũ.

Một chuyện đã xảy ra cách đây mấy chục năm.

Như thể thời gian chưa từng trôi.

Có người thành công.

Giang nhớ một ông khách khoảng ngoài sáu mươi. Ông thường đến vào buổi trưa. Áo sơ mi bỏ trong quần, giày bóng, nói chuyện điện thoại toàn tiếng Anh.

Một hôm, ông vừa ngồi xuống đã gọi:

— Cho tôi tô tái nạm. Ít bánh. Nhiều rau.

Giang mang phở ra.

Ông ăn rất chậm. Điện thoại reo.

— Yes, I’m coming tomorrow. The meeting is at nine.

Nói xong, ông tắt máy.

Giang hỏi:

— Chú làm ăn lớn lắm hả chú?

Ông cười:

— Cũng đủ sống.

Một câu trả lời rất Mỹ.

Nhưng sau vài lần gặp, ông mới kể.

Ngày xưa ông đến Mỹ chẳng có gì.

Không tiền.

Không tiếng Anh.

Không nghề nghiệp.

Ban ngày đi làm.

Ban đêm đi học.

Có thời gian ông ngủ ngay trong xe.

Sau này ông mở được công ty. Mua nhà. Con cái học đại học. Bây giờ người ta gọi ông là thành công.

Nhưng một hôm ông nói với Giang:

— Con biết không, cái khó nhất không phải là nghèo. Cái khó nhất là lúc mình có tất cả rồi mà chẳng biết mình đang tìm cái gì nữa.

Giang đứng im.

Ông cúi xuống tô phở.

— Hồi nhỏ, chỉ cần có một tô phở nóng là vui. Bây giờ muốn ăn tô phở như hồi nhỏ cũng không tìm lại được.

Giang nhìn ông. Có lẽ ông không thiếu tiền. Ông chỉ thiếu một thời đã mất.

Có người thất bại Rồi có một người đàn ông khác. Ông thường đến vào buổi chiều.

Một mình. Áo khoác cũ. Tóc bạc. Lúc nào cũng chọn cái bàn sát cửa sổ.

Ông gọi:

— Một tô đặc biệt.

Giang mang ra.

Có lần Giang thấy ông đếm từng tờ tiền trước khi trả.

Không đủ tiền.

Giang nói:

— Thôi chú, lần sau trả cũng được.

Ông lắc đầu.

— Không. Để tôi trả.

Giang không hỏi nữa.

Nhưng một hôm ông tự kể. Ông từng có nhà.

Có vợ.

Có con.

Có công việc tốt.

Rồi làm ăn thất bại.

Nợ nần. Ly dị. Con cái không còn nói chuyện. Nhà bán. Xe bán. Cuối cùng ông thuê một căn phòng nhỏ.

Ông nói:

— Người ta thường hỏi tôi tại sao thất bại.

Ông cười buồn.

— Chẳng ai hỏi tôi đã cô đơn bao lâu.

Giang nghe mà thấy nghẹn.

Bởi thất bại ở Mỹ đôi khi không phải là không có tiền.

Mà là một ngày thức dậy, phát hiện chẳng còn ai gọi mình bằng hai tiếng:

Ba ơi.

Có người sống bằng hoài niệm. Nhưng có những người đến quán không phải để ăn.

Họ đến để nhớ. Một nhóm các ông già thường ngồi với nhau vào sáng Chủ Nhật.

Họ gọi phở. Gọi cà phê. Rồi nói chuyện Việt Nam.

Sài Gòn.

Đà Lạt.

Huế.

Nha Trang.

Những con đường cũ.

Những người bạn không còn gặp.

Những người đã nằm lại ở một nơi nào đó mà họ không thể trở về.

Giang nghe mãi thành quen.

Có ông nói:

— Hồi đó, Sài Gòn đẹp lắm.

Ông khác cãi:

— Đẹp gì mà đẹp. Tao nhớ nhất là cái nóng.

Người thứ ba cười:

— Tao nhớ nhất là mấy cô nữ sinh.

Cả bàn cười vang. Nhưng sau tiếng cười ấy thường là một khoảng im lặng.

Bởi ai cũng biết: Có những thứ chỉ có thể nhớ. Không thể quay lại.

Một ông khách từng nói với Giang:

— Tụi chú không sống bằng hiện tại đâu con.

Giang hỏi:

— Vậy sống bằng gì?

Ông nhìn ra ngoài cửa kính.

— Sống bằng ký ức.

Và có người muốn quên. Nhưng cũng có một nhóm người khác. Họ rất ít khi nói chuyện Việt Nam. Một thanh niên khoảng ngoài ba mươi, sinh ra ở Mỹ.

Một lần Giang hỏi:

— Ba mẹ em người Việt hả?

Anh trả lời:

— Yes.

— Em có nói tiếng Việt không?

— Một chút.

Rồi thôi. Không nói thêm.

Giang không hỏi nữa. Nhưng một lần khác, anh đi cùng cha.

Người cha gọi phở bằng giọng miền Nam rất rõ. Còn người con ngồi đối diện, nhìn điện thoại suốt bữa ăn. Hai cha con gần như không nói chuyện.

Đến lúc tính tiền, người cha đứng lên.

Ông nói:

— Ba đi trước.

Người con đáp:

— Okay.

Chỉ một chữ.

Giang nhìn theo hai người.

Một người mang theo cả Việt Nam trong lòng.

Một người dường như muốn để Việt Nam lại phía sau.

Nhưng Giang nghĩ:

Có những thứ mình muốn quên chưa chắc đã quên được.

Bởi chỉ cần một ngày nghe lại một bài hát cũ… Ngửi thấy mùi nước mắm… Hay bất chợt ăn một tô phở giống tô phở mẹ từng nấu…

Ký ức có thể quay về.

Không cần xin phép.

Mỗi tô phở là một câu chuyện. Giang dần hiểu rằng mình không chỉ bán phở.

Giang đang đứng giữa một dòng người Việt đi qua lịch sử.

Có người rời Việt Nam khi còn trẻ.

Có người vượt biển.

Có người sang Mỹ bằng máy bay.

Có người sinh ra ở Mỹ nhưng vẫn nói tiếng Việt.

Có người giàu lên.

Có người nghèo xuống.

Có người giữ được gia đình.

Có người mất cả gia đình.

Có người muốn con mình nhớ quê hương.

Có người lại sợ con mình nhớ quá nhiều.

Có người kể chuyện Việt Nam suốt ngày.

Có người nghe hai chữ “Việt Nam” là muốn đổi đề tài.

Nhưng cuối cùng… Tất cả đều có lúc ngồi xuống trước một tô phở. Khói phở bay lên. Mùi hành ngò. Mùi thịt bò.

Tiếng muỗng chạm vào thành tô. Một thứ rất bình thường. Nhưng đôi khi, chính những thứ bình thường ấy lại kéo người ta về với những năm tháng tưởng đã mất.

Một buổi tối, quán vắng.

Giang lau bàn. Ngoài đường, xe chạy qua. Ánh đèn neon phản chiếu trên mặt kính.

Một ông cụ bước vào. Ông ngồi xuống chiếc bàn quen thuộc.

Giang hỏi:

— Hôm nay chú ăn gì?

Ông đáp:

— Như cũ.

Giang cười:

— Phở tái nạm?

Ông lắc đầu.

— Không.

Giang ngạc nhiên.

Ông nhìn Giang rồi nói:

— Hôm nay cho chú tô phở giống hồi còn nhỏ.

Giang đứng yên.

— Hồi còn nhỏ chú ăn phở ở đâu?

Ông cụ nhìn ra ngoài.

Rất lâu mới trả lời:

— Ở Sài Gòn. Với má chú.

Giang không hỏi thêm.

Anh quay vào bếp. Nước phở vẫn sôi. Hành vẫn xanh. Bánh phở vẫn trắng. Thịt vẫn mềm.

Mọi thứ chẳng có gì khác.

Chỉ có người ngồi trước tô phở là đã đi qua gần cả một đời người.

Giang đặt tô phở xuống. Ông cụ chắp hai tay trước mặt.

Không ăn ngay. Ông chỉ nhìn.

Rồi nói rất nhỏ:

— Má ơi…

Giang quay đi.

Anh giả vờ bận rộn. Bởi có những lúc, người đứng phục vụ cũng cần giữ cho mình một khoảng im lặng.

Đêm đó, khi đóng cửa quán, Giang đứng ngoài nhìn bảng hiệu. Anh chợt hiểu:

Westminster không chỉ là nơi người Việt đến để ăn phở.

Đó còn là nơi người Việt mang theo quá khứ của mình.

Người thành công mang theo những ngày nghèo khó.

Người thất bại mang theo những ngày từng hy vọng.

Người già mang theo quê hương.

Người trẻ mang theo một quê hương mà đôi khi chính họ chưa từng biết.

Và những người muốn quên…

cũng mang theo một phần ký ức mà họ tưởng mình đã bỏ lại.

Giang chỉ là người đứng trong một tiệm phở. Nhưng mỗi ngày, anh nhìn thấy cả một cộng đồng đi ngang qua đời mình.

Họ đến. Gọi một tô phở. Ngồi xuống. Ăn. Rồi đứng lên. Ra về.

Có người để lại tiền tip.

Có người để lại một câu chuyện.

Có người chẳng để lại gì.

Nhưng Giang biết…

Mỗi người bước ra khỏi cánh cửa ấy đều mang theo một câu chuyện riêng.

Và có những câu chuyện…

cả đời họ cũng không thể kể hết.

Phạm Sơn liêm

From: Kristie Phan & KimBang Nguyen


 

Giám đốc CIA John Ratcliffe đến Matxcơva để trao đổi với các lãnh đạo tình báo Nga (RFI)

(RFI)

Giám đốc cơ quan tình báo Mỹ CIA John Ratcliffe đã đến Matxcơva hôm qua để trao đổi với lãnh đạo các cơ quan tình báo Nga, theo lời phát ngôn viên Điện Kremlin hôm nay, 26/08/2026, được hãng tin AFP trích dẫn.  

Đăng ngày: 26/08/2026 

Tổng thống Mỹ Donald Trump (T) và giám đốc Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA) John Ratcliffe sau cuộc họp nội các tại Camp David ở Thurmont, bang Maryland, Mỹ, ngày 31/07/2026. © Nathan Howard / Reuters

Thanh Phương

Ông Peskov xác nhận với báo chí: “Đã có các cuộc tiếp xúc giữa các cơ quan tình báo, nhưng không có cuộc gặp nào với tổng thống Nga.” Phát ngôn viên Điện Kremlin mô tả các cuộc tiếp xúc này là “tích cực”, nhưng không nói rõ hai bên đã thảo luận về những chủ đề nào. Ông Peskov cho biết “còn quá sớm để nói cuộc tiếp xúc này sẽ tác động như thế nào đến quá trình đưa quan hệ  ( Nga-Mỹ ) thoát khỏi khủng hoảng.” 

Trước đó, theo các cơ quan truyền thông Hoa Kỳ CBS và Axios, giám đốc CIA John Ratcliffe đã đến Matxcơva hôm qua. Đây là chuyến thăm Nga đầu tiên của ông Ratcliffe kể từ khi nhậm chức giám đốc CIA vào năm 2025. Tuy nhiên, mục đích của chuyến đi vẫn chưa được tiết lộ.

Có nhiều hồ sơ có thể lý giải cho chuyến đi hiếm hoi này của giám đốc CIA : xung đột tại Ukraina, căng thẳng với Iran trong bối cảnh Washington gây sức ép kinh tế đối với Teheran, hoặc khả năng trao đổi tù nhân giữa Nga và Mỹ. Hai nước đã từng thực hiện các cuộc trao đổi như vậy, nhưng Washington vẫn tiếp tục yêu cầu trả tự do cho một số công dân Mỹ đang bị giam giữ tại Nga. 

Theo tờ nhật báo Anh Financial Times, Mỹ đã nhận được cam kết từ Ukraina vào đầu tuần rằng Kiev sẽ không sử dụng drone để tấn công Matxcơva hay một số khu vực khác, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho chuyến thăm của quan chức cấp cao Mỹ. Gần đây, lực lượng Ukraina đã gia các cuộc tấn công vào sâu trong lãnh thổ Nga, đôi khi nhắm vào những mục tiêu cách rất xa tiền tuyến. 

Chuyến thăm Nga gần nhất của một giám đốc CIA là vào tháng 11/2021, trước khi xung đột tại Ukraina bùng phát vào tháng 02/2022.

Vatican kêu gọi đàm phán Nga – Ukraina 

Cũng tại Matxcơva hôm qua, trong một cuộc gặp hiếm hoi với người đồng cấp Nga Sergueï Lavrov, ngoại trưởng của Vatican, tổng giám mục Paul Richard Gallagher, đã kêu gọi Nga và Ukraina tiến hành đàm phán nhằm chấm dứt cuộc chiến. Đây là chuyến thăm Nga đầu tiên của một quan chức cấp cao Tòa Thánh kể từ tháng 11/2021, thời điểm trước khi Nga phát động cuộc chiến tranh xâm lược Ukraina vào tháng 02/2022.

Vatican vẫn giữ thái độ trung lập và chủ trương không cắt đứt quan hệ với các bên tham chiến, tuy quan hệ với Matxcơva đã xấu đi đáng kể.


 

TỪ PHẬT GIÁO, KỸ SƯ HÓA HỌC ĐẾN LINH MỤC CÔNG GIÁO

Con Tin Chúa Ơi

Cha Adrian Suyanto, sinh năm 1994, là người Indonesia, lớn lên trong một gia đình theo Phật giáo. Thời niên thiếu, ngài học tại Surabaya, Đông Java.

Điều đặc biệt là ngay từ khi còn rất trẻ, Adrian đã bắt đầu tìm hiểu Kitô giáo. Năm 14 tuổi, dù lớn lên trong một gia đình Phật giáo, cậu đã chủ động xin được lãnh nhận Bí tích Rửa tội và gia nhập Giáo hội Công giáo.

Sau khi hoàn thành bậc phổ thông, Adrian sang Australia du học tại Đại học New South Wales (UNSW), Sydney, theo ngành Kỹ thuật Hóa học.

Chính những năm đại học lại trở thành một bước ngoặt quan trọng trong đời sống đức tin của Adrian. Anh tích cực tham gia hoạt động của Tuyên úy Công giáo tại trường và Catholic Asian Students Society – Hội Sinh viên Công giáo Á Châu.

Sau này Adrian nhớ lại:

“Nhiều người nói rằng họ đánh mất đức tin ở đại học, nhưng với tôi, đó thực sự là nơi tôi gặp Đức Kitô và trưởng thành trong đức tin.”

Tốt nghiệp đại học, Adrian làm việc khoảng hai năm tại Canberra. Nhưng trong lòng anh, lời mời gọi trở thành linh mục ngày càng mạnh mẽ.

Ban đầu Adrian từng không muốn đi tu. Anh cũng mong được kết hôn, có gia đình và sống như bao người khác. Thế nhưng tiếng gọi ấy cứ âm thầm trở lại. Sau thời gian cầu nguyện và phân định với linh hướng, năm 2017, Adrian quyết định bước vào Đại Chủng viện Good Shepherd tại Homebush, Sydney, để bắt đầu hành trình đào tạo linh mục.

Ngày 16/12/2023, ngài được truyền chức phó tế.

Và ngày 11/07/2024, tại Nhà thờ Chính tòa St Mary, Sydney, Đức Tổng Giám mục Anthony Fisher OP đã đặt tay truyền chức linh mục cho Adrian Suyanto, cùng hai tiến chức khác.

Từ một cậu bé lớn lên trong gia đình Phật giáo tại Indonesia, đến một sinh viên kỹ thuật hóa học, rồi một người trẻ dám từ bỏ dự định riêng để đáp lại tiếng Chúa gọi – cuối cùng Adrian đã trở thành linh mục của Tổng Giáo phận Sydney.

Hiện nay, Cha Adrian Suyanto đang phục vụ với tư cách linh mục phó tại Giáo xứ St Anthony of Padua, Austral, Sydney.

Một hành trình thật đẹp để thấy rằng: Thiên Chúa có thể gọi một con người từ những con đường mà chúng ta không thể ngờ tới. Từ một gia đình Phật giáo, ở tuổi 14 Adrian đã mở lòng đón nhận đức tin; và nhiều năm sau, chính người thanh niên ấy lại dâng trọn cuộc đời để đưa Đức Kitô đến với người khác.

Xin cầu nguyện cho Cha Adrian luôn trung thành và nhiệt thành trong sứ vụ linh mục của mình. 

#ConTinChúaƠi #ƠnGọi 


 

Chi phí nhà ở và giữ trẻ ‘ngốn’ hơn nửa thu nhập gia đình Mỹ

Ba’o Nguoi-Viet

August 25, 2026

ORANGE COUNTY, California (NV) – Một gia đình lao động điển hình tại Mỹ, nếu mua nhà và trả tiền giữ trẻ toàn thời gian cho một đứa con, phải dành khoảng 52% thu nhập hằng năm cho hai khoản này, theo báo cáo do Redfin công bố hôm 17 Tháng Tám.

Báo cáo do Dana Anderson và Yingqi Xu thực hiện, sử dụng dữ liệu nhà ở của Redfin cùng dữ liệu từ Winnie, nền tảng cung cấp thông tin về dịch vụ giữ trẻ và giáo dục sớm. Nhóm nghiên cứu tính chi phí mua nhà và giữ trẻ tại 100 khu đô thị đông dân nhất nước Mỹ, sau đó so sánh với thu nhập trung vị (median) của hộ gia đình tại từng khu vực.

Một gia đình có con nhỏ trong căn nhà mới. Chi phí mua nhà và giữ trẻ hiện chiếm hơn một nửa thu nhập của gia đình lao động điển hình tại Mỹ. (Hình minh họa: Storyblocks.com)

Kết quả cho thấy gánh nặng tài chính chênh lệch rất lớn tùy địa phương. Tại Little Rock, Arkansas, hai khoản này chiếm 39.8% thu nhập hộ gia đình, thấp nhất trong 100 khu đô thị. Một gia đình lao động điển hình tại đây chi khoảng $29,151 mỗi năm, trong khi thu nhập trung vị (median) của khu vực là $73,170.

Los Angeles, California, đứng đầu danh sách đắt đỏ. Một gia đình có thu nhập trung vị phải chi khoảng $94,613 mỗi năm cho nhà ở và giữ trẻ, tương đương 96.8% thu nhập. Tổng chi phí chỉ thấp hơn khoảng $3,000 so với mức thu nhập trung vị $97,775 của khu vực.

Chi phí giữ trẻ thay đổi theo độ tuổi

Kết quả trên phản ánh rõ nhất giai đoạn gia đình phải trả tiền giữ trẻ toàn thời gian, thường kéo dài đến khi trẻ vào tiểu học. Số tiền thực trả của từng gia đình có thể thấp hơn nếu trẻ được nhận vào chương trình tiền mẫu giáo công lập hoặc gia đình đủ điều kiện hưởng trợ cấp giữ trẻ.

California, Florida và Wisconsin cung cấp chương trình tiền mẫu giáo công lập miễn phí. New York City đang triển khai chương trình giữ trẻ phổ cập, còn San Francisco có các chương trình miễn phí hoặc giá thấp dành cho nhiều gia đình.

Chi phí giữ trẻ thường giảm khi trẻ đủ tuổi vào lớp tiền mẫu giáo công lập hoặc mẫu giáo. Gánh nặng tài chính của một gia đình có con nhỏ có thể thay đổi đáng kể chỉ sau vài năm.

Miền Trung Tây và miền Nam dễ kham nổi hơn

Các khu đô thị có tổng chi phí nhà ở và giữ trẻ thấp nhất so với thu nhập tập trung chủ yếu tại miền Trung Tây và miền Nam.

Xếp sau Little Rock là Oklahoma City, Oklahoma, với 40.8% thu nhập; Des Moines, Iowa, 41.8%; Warren, Michigan, 42.2%; và St. Louis, Missouri, cũng 42.2%.

Giá nhà bán trung vị (median) tại Little Rock vào khoảng $254,054, thấp hơn nhiều so với mức trung vị toàn quốc $408,000. Một gia đình lao động điển hình tại đây chi khoảng $9,600 mỗi năm cho việc giữ trẻ, thấp nhất trong 100 khu đô thị được phân tích.

Thu nhập tại các khu vực này thường thấp hơn những thành phố ven biển, song giá nhà và tiền giữ trẻ cũng thấp hơn đáng kể. Riêng Des Moines có thu nhập hộ gia đình trung vị gần $94,000, thuộc nửa trên trong danh sách 100 khu đô thị.

California và New York chịu áp lực nặng nhất

Sau Los Angeles, New York đứng thứ hai với chi phí nhà ở và giữ trẻ chiếm 95% thu nhập hộ gia đình. San Francisco đứng kế tiếp với 94.2%, Anaheim 93.5% và San Jose 83.1%.

California chiếm bảy trong số 10 khu đô thị có tổng chi phí cao nhất so với thu nhập, chủ yếu do giá nhà tại tiểu bang này quá đắt. Tại San Francisco, một gia đình điển hình phải chi tổng cộng $152,646 mỗi năm cho nhà ở và giữ trẻ, trong khi thu nhập trung vị của khu vực là $162,118.

Bảy khu đô thị California nằm trong nhóm 10 địa phương đắt đỏ nhất gồm Los Angeles, San Francisco, Anaheim, San Jose, San Diego, Oxnard và Riverside.

Springfield, Massachusetts, cũng nằm trong nhóm này. Chi phí nhà ở tại đây thấp hơn các thành phố ven biển California, song tiền giữ trẻ thuộc hàng cao nhất nước. Một gia đình điển hình tại Springfield trả khoảng $26,340 mỗi năm cho việc giữ trẻ và $35,200 cho nhà ở.

Theo Redfin, giá nhà bán trung vị tại Mỹ tăng gấp đôi trong 10 năm qua, còn chi phí giữ trẻ tăng 40%. Cả hai mức tăng đều cao hơn lạm phát trong cùng thời gian.

Nhà rẻ, tiền giữ trẻ chiếm phần lớn hơn

Tại một số khu vực có giá nhà tương đối thấp, tiền giữ trẻ chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tổng số tiền dành cho nhà ở và chăm sóc con nhỏ.

Buffalo, New York, đứng đầu với tiền giữ trẻ chiếm 45.8% tổng chi phí nhà ở và giữ trẻ. Rochester, New York, đứng kế tiếp với 44.7%; Detroit, Michigan, 43.6%; Gary, Indiana, 43%; và Springfield, Massachusetts, 42.8%.

Tại Buffalo, một gia đình lao động điển hình chi $20,448 mỗi năm cho việc giữ trẻ. Khoản này chiếm gần một nửa tổng chi phí do tiền nhà tại khu vực tương đối thấp, khoảng $24,162 mỗi năm.

Nếu xét riêng tiền giữ trẻ, Dallas, Texas, là khu vực dễ kham nổi nhất. Một gia đình điển hình dành 11% thu nhập, tương đương $11,376 mỗi năm, cho dịch vụ này. Springfield đứng cuối danh sách với 32.2% thu nhập hộ gia đình dành cho việc giữ trẻ.

Nếu xét riêng nhà ở, Akron, Ohio, có mức chi thấp nhất, tương đương 25.6% thu nhập hộ gia đình. Một gia đình điển hình tại đây chi khoảng $20,133 mỗi năm cho nhà ở, trong khi thu nhập trung vị là $78,753.

San Francisco đứng cuối bảng về khả năng chi trả nhà ở. Một gia đình phải dành 80.2% thu nhập chỉ cho khoản này. Giá một căn nhà điển hình tại khu vực vào khoảng $1.7 triệu, còn chi phí sở hữu nhà trung bình gần $129,978 mỗi năm.

Redfin tính chi phí giữ trẻ theo mức phí trung vị (median) hàng tháng dành cho một đứa trẻ được giữ toàn thời gian. Chi phí sở hữu nhà được tính từ giá bán nhà trung vị, lãi suất vay mua nhà cố định 30 năm, thuế địa ốc, bảo hiểm nhà và bảo hiểm vay mua nhà tư nhân, với giả định người mua trả trước 15%. Dữ liệu nhà ở được lấy trong khoảng Tháng Giêng đến Tháng Sáu, 2026. (Ng.Tr.) [t.c.]