Cựu Thủ Tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ qua đời, thọ 97 tuổi

Ba’o Nguoi-Viet

August 12, 2026

BẮC KINH, Trung Quốc — Cựu Thủ Tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ (Zhu Rongji,) một trong những kiến trúc sư quan trọng nhất của công cuộc cải cách kinh tế Trung Quốc và là người đóng vai trò then chốt đưa quốc gia này gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO), vừa qua đời tại Bắc Kinh, sau một thời gian lâm bệnh, thọ 97.

The New York Times (NYT) sáng Thứ Tư, 12 Tháng Tám, dẫn tin từ Tân Hoa Xã, hãng thông tấn chính thức của Trung Quốc, công bố. Tin không nêu rõ nguyên nhân mà chỉ cho biết ông Chu Dung Cơ qua đời sau khi các nỗ lực điều trị y tế không thành công.

Cựu thủ tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ. (Hình: GERARD CERLES/AFP via Getty Images)

Ông Chu Dung Cơ giữ chức thủ tướng Trung Quốc từ năm 1998 đến 2003, dưới thời Chủ Tịch Giang Trạch Dân, và được xem là một trong những nhà kỹ trị có ảnh hưởng nhất trong giai đoạn Trung Quốc chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang một nền kinh tế ngày càng dựa vào thị trường và thương mại quốc tế. Các sáng kiến ​​của ông Chu đã thúc đẩy sự tăng trưởng nhanh chóng tại Trung Quốc. Đà tăng trưởng này duy trì liên tục, dù có đôi chút chững lại giữa chừng, cho đến khi thị trường bất động sản bắt đầu sụp đổ vào năm 2021.

Trump ‘bí mật’ đổi phi cơ ở Thổ Nhĩ Kỳ vì lo ngại hỏa tiễn vác vai

Ba’o Nguoi-Viet

August 12, 2026

WASHINGTON, DC (NV) – Tổng Thống Donald Trump phải đổi phi cơ khác để về nước sau khi dự hội nghị thượng đỉnh NATO ở Thổ Nhĩ Kỳ tháng trước vì chiếc Air Force One có thể bị bắn bằng hỏa tiễn vác vai, một người biết vấn đề này cho hay, theo CNN hôm Thứ Tư, 12 Tháng Tám.

Mối đe dọa đó xuất hiện vào ngày cuối cùng của hội nghị và cụ thể tới mức giới chức Mỹ lo sợ tính mạng Tổng Thống Trump sẽ gặp nguy hiểm nghiêm trọng nếu bay về nước bằng chiếc Air Force One cũ hoặc chiếc Boeing 747-B được Qatar tặng mà ông dùng để tới dự hội nghị. Vậy là giới chức Mỹ vội vàng lập kế hoạch kín đáo đưa ông Trump ra khỏi Thổ Nhĩ Kỳ bằng phi cơ khác.

Tổng Thống Donald Trump phát biểu với báo chí sau khi xuống phi cơ Air Force One tại Joint Base Andrews, Maryland hôm 11 Tháng Tám. (Hình: Anna Moneymaker/Getty Images)

Người này từ chối cho biết thông tin về mối đe dọa đó từ đâu ra, nhưng lưu ý giới chức Mỹ tin như vậy vì phía Iran dường như biết cụ thể chi tiết lịch của Tổng Thống Trump ở Thổ Nhĩ Kỳ. Ông Trump ở thủ đô Ankara một đêm, tại khách sạn sang trọng ở trung tâm thành phố, và đi lại nhiều lần giữa khách sạn với nơi tổ chức hội nghị NATO.

Giới chức quân sự và Sở Mật Vụ Mỹ mau chóng lập kế hoạch cho Tổng Thống Trump lên phi cơ khác bằng cách để ông núp trên xe chở thức ăn để đổi máy bay khác bay ra khỏi Thổ Nhĩ Kỳ trong vòng vài giờ.

Trước đó, cùng đi với ông tới nước này có Ngoại Trưởng Marco Rubio, Bộ Tưởng Tài Chính Scott Bessent, Bộ Trưởng Quốc Phòng Pete Hegseth và Tướng Dan Caine, tổng tham mưu trưởng quân đội Mỹ. Nhưng lúc về, không phải tất cả họ được đi chung với ông Trump trên chiếc C-32A nhỏ hơn.

Cả ông Rubio lẫn ông Bessent đều ở lại trên chiếc Air Force One cùng với phụ tá khác của Tòa Bạch Ốc, giới chức quân sự và ký giả, theo giới chức Mỹ. Hầu hết họ đều không biết Tổng Thống Trump không có mặt trên phi cơ.

Chỉ có phụ tá thân cận được đi chung với Tổng Thống Trump trên chiếc phi cơ nhỏ hơn chở họ tới căn cứ quân sự ở Anh, theo một người biết kế hoạch này. Trong số đó, có bà Natalie Harp, phụ tá thường tháp tùng ông Trump mỗi khi ông công du; ông Dan Scavino, phó chánh văn phòng Tòa Bạch Ốc; và ông Walt Nauta, giám đốc điều hành Oval Office cũng thường xuyên tháp tùng ông Trump.

Ông Hegseth, ông Nauta và bà Harp đều có mặt trong video cùng với Tổng Thống Trump Trump tại căn cứ ở Anh khi ông Trump bước xuống chiếc Air Force One cũ và lên chiếc phi cơ được Qatar tặng để bay về Mỹ.

Hôm Thứ Ba, Tổng Thống Trump xác nhận chi tiết chung chung nhưng nói giảm tầm quan trọng của kế hoạch này.

“Tôi chỉ làm theo những gì họ muốn làm. Tôi làm theo Sở Mật Vụ và quân đội. Họ muốn tôi đi chuyến bay khác, phi cơ khác, an toàn như nhau, nhưng họ muốn tôi làm như vậy, nên tôi làm. Họ nói sao tôi làm vậy,” ông Trump phát biểu với báo chí khi từ Ohio về tới căn cứ Joint Base Andrews ở Maryland.

Tổng Thống Trump cho hay, lúc đó, giới chức không nói rõ với tại sao phải đổi phi cơ. Ông tuyên bố không lo sợ có thể bị hỏa tiễn vác vai bắn khi rời Thổ Nhĩ Kỳ.

“Thực tình, tôi chẳng lo lắng điều gì,” ông nói. “Dù chuyện gì xảy ra, quý vị biết thái độ của tôi mà? Bất cứ chuyện gì.”

Trước đó, trong ngày cuối cùng hội nghị NATO, Tổng Thống Trump tỏ ra bận tâm tới mối đe dọa của Iran cho tính mạng ông. Ông liên tục nêu vấn đề này với báo chí. Từ lâu, chính phủ Mỹ cảnh báo có thể Iran tìm cách sát hại ông để trả thù vụ ông ra lệnh không kích tiêu diệt Tướng Qasem Soleimani của Iran năm 2020.

Trong những ngày trước khi Tổng Thống Trump đi Thổ Nhĩ Kỳ, người biểu tình ở Iran kêu gọi sát hại ông trong tang lễ ông Ali Khamenei, lãnh tụ tối cao Iran thiệt mạng ngay ngày đầu cuộc chiến của Mỹ và Israel với Iran hôm 28 Tháng Hai. (Th.Long) [kn]


 

CUỘC DI CƯ ĐẾN BAO GIỜ CHẤM DỨT… Nguyễn Thị Oanh

CHUYỆN THIÊN HẠ

 CUỘC DI CƯ ĐẾN BAO GIỜ CHẤM DỨT…

Nguyễn Thị Oanh

Cuối cùng cũng đến ngày em gái út cùng chồng và con sang Mỹ định cư. Thế là lại thêm một gia đình người thân nữa của tôi rời bỏ đất nước này.

43 tuổi, em đang có việc làm ổn định ở một doanh nghiệp nhà nước với mức thu nhập vài chục triệu đồng mỗi tháng. Hai vợ chồng có biệt thự, xe hơi và chồng còn sở hữu một cơ ngơi làm ăn riêng, tuy nhỏ nhưng cũng đáng để cho nhiều người phải mơ ước. Vậy mà điều gì đã khiến các em bỏ hết mọi thứ và dắt díu ba đứa con nhỏ dại từ giã quê hương để bắt đầu làm lại cuộc sống nơi xứ người cách đây nửa vòng trái đất? Câu trả lời nghe vẫn quen thuộc như nhiều lần tôi đã từng nghe: “Vì tương lai con cái!”

Vâng! Đó là lý do mà rất nhiều người Việt trong dòng chảy nhập cư nước ngoài những năm gần đây thường  nêu lên để giải thích cho việc ra đi của mình. Thật chua chát khi hơn 48 năm sau ngày 30-4-1975, ký ức “thuyền nhân” lại trở về dưới một dạng thức khác. Lần này, các “thuyền nhân” ra đi không phải trong tâm thế trốn chạy hoảng loạn, vội vã mà là được cân nhắc, chuẩn bị cẩn thận. Không phải trên những chiếc thuyền lênh đênh đầy bất trắc mà là trên những chuyến bay tiện nghi, an toàn. Không phải lén lút, vô định mà là công khai và được chuẩn bị sẵn mọi thứ cho đến khi cầm visa trong tay mới lên đường. Các công ty tư vấn nhập cư dạo này nhan nhản khắp nơi với những chương trình mời gọi đi định cư châu Âu, Mỹ, Canada, Úc

Giờ gặp nhau, người ta hỏi thăm đã có PR (permanent resident) của nước nọ nước kia chưa, như một điều bình thường! Người có tài tìm đường đi theo dạng skill worker hoặc doanh nhân khởi nghiệp. Người có tiền thì bỏ tiền ra mua quốc tịch hoặc “thẻ xanh” cho nhanh. Người ít cả tiền và tài thì hy vọng kiếm được một suất đi lao động nước ngoài rồi tìm đường ở lại bằng đủ cách. Lớp trẻ đi du học hầu hết cũng không muốn trở về. Năm 2014, báo chí thông tin có 12/13 quán quân của cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia” không trở về nước sau khi kết thúc thời gian du học ở Úc với học bổng toàn phần cho người chiến thắng chung cuộc. Con số đó đến nay chắc đã tăng thêm sau bốn năm.

Tháng 7-2017, Hiệp hội Quốc gia chuyên viên địa ốc Hoa Kỳ công bố báo cáo hằng năm cho thấy Việt Nam đứng trong top 10 nước hàng đầu mua nhà tại Mỹ. Trả lời BBC, tổ chức này cho biết chỉ trong thời gian từ tháng 4-2016 đến tháng 3-2017, công dân Việt Nam đã mua bất động sản tại Mỹ trị giá lên tới 3,06 tỷ USD. Đó là mới tính số tiền chuyển đi để mua nhà tại Mỹ chứ chưa tính ở các nước khác và tất nhiên, đó cũng chỉ là phần nổi của tảng băng! Đất nước như một bao gạo bị thủng để trí lực, tài lực cứ chảy dần ra nước ngoài cho đến khi rỗng ruột. Quê hương chôn nhau cắt rốn ở đây mà dường như chỉ là chốn dừng chân tạm bợ với rất nhiều người Việt bây giờ…

Làm sao có thể trách em tôi cũng như hàng triệu người dân khác đã và đang tính bỏ nước ra đi? Bởi cái lý do “vì tương lai con cái” nghe nhẹ bâng vậy mà trĩu nặng quá chừng! Sự lo toan và hy sinh vô bờ cho con cái vốn là nét văn hoá đặc trưng của người Việt. Những bậc cha mẹ thuộc nhiều thế hệ đã trải qua các cuộc chiến tranh trên đất nước nhỏ bé này, càng khổ cực nhiều ở đời mình lại càng thấm thía sâu sắc ước mơ về một cuộc sống bình yên và hạnh phúc cho đời con cháu. Nhưng nỗi lo bây giờ không còn là chuyện cơm ăn áo mặc hàng ngày cho phần “con”, như trong thời kỳ phải thắt lưng buộc bụng vì chiến tranh và sự mông muội. Nỗi lo bây giờ là về chất lượng cuộc sống cho nhu cầu của phần “người”. Có  thể nào sống an yên khi môi trường bị phá hoại tàn khốc, tài nguyên đất nước bị khai thác tới cạn kiệt, thực phẩm bẩn tràn lan khắp nơi và tham nhũng thì như ổ dịch bệnh hoành hành từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài? Có thể nào sống hạnh phúc khi nền giáo dục và y tế ngày càng xuống cấp, các phúc lợi xã hội không chỉ kém chất lượng mà còn tiếp tục giảm sút, các giá trị văn hoá – đạo đức bị tha hoá và đảo lộn?

Bây giờ, bước ra đường là thấy lo: Lo nạn cướp giật, móc túi; lo tai nạn giao thông; lo ăn uống bị ngộ độc thực phẩm; lo hít khói bụi bị ung thư; lo bọn trẻ bị dụ dỗ sa vào ma túy hoặc bị xâm hại, bắt cóc… Cứ thế mà ngút ngàn triền miên lo. Thà chỉ phải lo cơm áo như ngày xưa còn dễ hơn bội phần! Xã hội càng bất ổn, lòng người càng bất an. Làm sao có thể yên tâm để con cái lớn lên trong một môi trường sống như vậy? Chưa kể, những lời đồn đoán về một tương lai xám xịt của đất nước gắn với những thỏa thuận của Việt Nam và Trung Quốc trong Hội nghị Thành Đô năm 1990 cũng là một trong những nguyên nhân gây hoang mang khiến cho nhiều người phải tính đường tháo chạy trước. 33 năm qua, Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam vẫn giữ bí mật, nhất quyết không công khai những nội dung đã ký kết với Đảng cộng sản và Nhà nước Trung Quốc trong Hội nghị Thành Đô. Vì thế, những đồn đãi càng ngày càng lan rộng, bất chấp mọi nỗ lực trấn an dân chúng của chính quyền. Và dù đã bước sang thế kỷ 21, thế nhưng nhà nước Việt Nam vẫn chủ trương quản lý, định hướng về tư tưởng và bưng bít thông tin không khác gì ở trong thế kỷ trước.

Hôm biết tin Quốc hội đã thông qua Luật An ninh mạng, một người quen của tôi là tiến sĩ trong lĩnh vực tài chính từng hăm hở từ Mỹ trở về nước cách đây 10 năm ngậm ngùi chia sẻ: “Em đã hoàn tất thủ tục cho cả gia đình trở lại Mỹ cách đây mấy tháng, nhưng vẫn còn cố nấn ná… Giờ thì phải ra đi thôi chị ạ, không thể để bọn trẻ lớn lên trong bầu không khí ngày càng ngột ngạt thế này…”. Bao nhiêu người trẻ có tri thức và nặng tình với quê hương đã “vội vã trở về, vội vã ra đi” như thế?

***

Hồi đi thăm Israel, tôi thường đứng lặng thật lâu trước hình ảnh những con tàu hồi hương hiện diện khắp mọi nơi, như một niềm kiêu hãnh trong lịch sử lập quốc của đất nước này. Đó là những chuyến tàu từ châu Âu, châu Mỹ… đưa hàng triệu người Do Thái ở khắp nơi trên thế giới trở về xây dựng quê hương sau khi Israel chính thức được thành lập vào năm 1948. Những gương mặt người Do Thái hồi hương khi ấy còn vương nét nhọc nhằn sau Thế chiến, nhưng vẫn bừng sáng niềm hy vọng vào tương lai và ý chí quyết tâm kiến thiết quốc gia. 75 năm sau khi lập quốc, ngày nay Israel đã trở thành một trong số các quốc gia phát triển hàng đầu và là nền kinh tế lớn thứ 34 thế giới (tính theo GDP danh nghĩa năm 2016). Những chuyến tàu hồi hương ngày đó đã mang về cho quốc gia này vốn liếng quý nhất là những con người tinh hoa để xây dựng thành công một đất nước đã từng không có tên trên bản đồ thế giới.

Còn chúng ta? Sau ( 1945 ) 78 năm thành lập và thống nhất đất nước (dài hơn thời gian lập quốc của Israel), những chuyến tàu (cả tàu thuỷ và máy bay) sao lại chỉ mang dân ta ra đi mà không có trở về? Lịch sử dân tộc Việt Nam dường như gắn liền với các cuộc di dân, nhưng chua xót hơn là cho tới tận bây giờ, những cuộc di dân ra nước ngoài vẫn chưa biết bao giờ mới dừng lại? Bao câu hỏi cứ quay quắt trong tôi khi nghĩ đến em gái. Ngoài kia, trời Sài Gòn vẫn vần vũ mưa. Tiếng hát Thái Thanh vọng từ nhà ai đó nghe nức nở: “Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui,  khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi…”.

Và trong tôi, không hiểu sao cứ thấp thoáng khôn nguôi hình ảnh những con tàu hồi hương về Israel cùng những con tàu ly hương rời Việt Nam.

Nguyễn Thị Oanh

Việt Luận copy


 

MỘT NỬA SỰ THẬT

Xuyên Sơn

MỘT NỬA SỰ THẬT

Ở trường học chúng ta được dạy rằng:

“Tháng 8 năm 1945 Mỹ ném 2 quả bom nguyên tử xuống 2 thành phố Hirosima và Nagasaki – Nhật Bản, buộc Nhật Hoàng phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện trước quân Mỹ”, chấm hết.

Sách giáo khoa đã nói đúng sự thật, nhưng không đề cập đến một sự thật trước và sau khi Mỹ ném bom xuống Nhật.

Một nửa sự thật chưa phải là sự thật. Đây là phần sự thật mà chúng ta không được dạy.

Một thời gian ngắn trước khi ném hai quả bom nguyên tử kia, Mỹ đã rãi hơn 5 triệu truyền đơn xuống 33 thành phố của Nhật, trong đó có Nagasaki và Hiroshima.

Nội dung như sau:

“Hãy đọc thật kỹ vì nó có thể cứu lấy mạng sống của chính bạn, người thân hay bạn bè của bạn.

Trong vài ngày tới, một số hoặc tất cả những thành phố được liệt kê trong danh sách ở mặt sau truyền đơn này sẽ bị phá hủy bởi những quả bom của người Mỹ. Những thành phố này đang sở hữu các hãng xưởng, nhà máy lắp ráp chế tạo thiết bị quân sự.

Chúng tôi quyết tâm tiêu diệt tất cả những trang thiết bị mà các phe phái quân sự đang sử dụng để kết thúc cuộc chiến vô nghĩa này.

Nhưng, không may, những quả bom không có mắt.

Vì vậy, theo các chính sách nhân đạo của Mỹ, Không quân Mỹ, chúng tôi không muốn làm tổn thương người vô tội, do đó chúng tôi cảnh báo và yêu cầu bạn hãy di tản khỏi những thành phố được liệt kê để cứu lấy mạng sống của chính bạn.

Người Mỹ không chiến đấu chống lại nhân dân Nhật Bản, mà chiến đấu chống lại các thế lực quân sự đang sử dụng nhân dân Nhật Bản.

Nền hòa bình mà Mỹ mang lại sẽ giải thoát cho người dân như các bạn đang phải sống trong sự áp bức của quân đội Nhật và đồng thời cũng có ý nghĩa mang đến một Nhật Bản mới tốt đẹp hơn.

Các bạn có thể mang hòa bình trở lại bằng cách chọn ra những người lãnh đạo mới và giỏi, những người thật sự muốn kết thúc chiến tranh.

Chúng tôi không thể hứa rằng những thành phố này sẽ được an toàn, một số hoặc tất cả sẽ bị phá hủy.

Do vậy, hãy chú ý đến cảnh báo này và sơ tán khỏi các thành phố này ngay lập tức!”

*

Sau quả bom đầu tiên, Mỹ tiếp tục gửi truyền đơn và đồng thời phát radio từ Saipan (Mỹ đang nắm giữ) cứ mỗi 15 phút với nội dung tương tự như sau:

“Nước Mỹ yêu cầu các bạn ngay lập tức tuân thủ những gì chúng tôi nói trong truyền đơn này.

Chúng tôi đang sở hữu những quả bom kinh khủng nhất lịch sử loài người.

Một trong số những quả bom mà chúng tôi đang nghiên cứu có sức công phá đến hơn 2.000 lần những gì mà một cái máy bay khổng lồ B-29 có thể mang lại.

Thực tế khủng khiếp này là một lý do để bạn suy nghĩ và chúng tôi bảo đảm rằng điều đó là tuyệt đối chính xác.

Chúng tôi chỉ mới bắt đầu sử dụng loại vũ khí này để chống lại quê hương các bạn. Nếu các bạn vẫn nghi ngờ, hãy xem lại những gì đã xảy ra ở Hiroshima khi chỉ có một quả bom nguyên tử rơi xuống thành phố đó.

Trước khi sử dụng bom này để tiêu diệt mọi nguồn lực của quân đội mà họ có được để kéo dài cuộc chiến tranh vô ích này, chúng tôi kêu gọi các bạn hãy yêu cầu Nhật Hoàng kết thúc chiến tranh.

Tổng thống của chúng tôi đã soạn ra cho các bạn 13 quyền lợi bảo đảm cho một lần đầu hàng danh dự.

Chúng tôi khuyến khích bạn chấp nhận những quyền lợi này và bắt đầu công việc xây dựng một nước Nhật mới, một Nhật Bản tốt hơn và yêu hòa bình.

Các bạn nên bắt đầu thực hiện những bước cần thiết để đình chiến.

Nếu không, chúng tôi sẽ kiên quyết sử dụng bom này và tất cả các loại vũ khí vượt trội khác để phản ứng kịp thời và kết thúc chiến tranh.”

*

Sau khi Nhật Hoàng đầu hàng, thống tướng MacArthur và Quân đội Mỹ đặt chân đến Nhật Bản, chuẩn bị cho công cuộc chiếm đóng nước Nhật của mình.

Với tư cách là bên thắng cuộc, chính phủ  và nhân dân Nhật phải nằm dưới sự quản lý và những chính sách do Mỹ đưa ra.

Một trong những việc đầu tiên mà tướng MacArthur làm là, khẩn cấp xin chính phủ Mỹ viện trợ lương thực và tiền để kiến thiết nước Nhật trước thực trạng đổ nát của chiến tranh.

Với nỗ lực của MacArthur, chính phủ Mỹ tức tốc gửi đến nước Nhật 3,5 triệu tấn lương thực cùng hơn 2 tỷ USD.

Tại trường học, trẻ em Nhật được ăn một bữa trưa miễn phí; lần đầu tiên trong lịch sử nước mình, phụ nữ được trao thêm nhiều quyền lợi hơn, trong đó có quyền bầu cử và ứng cử; tại các địa phương người dân được tạo điều kiện để tham gia sinh hoạt chính trị.

Ngày 3/2/1946, tướng MacArthur chỉ thị cho Tổng bộ Liên minh soạn thảo

Hiến pháp Nhật Bản theo hướng dân chủ, chủ quyền đất nước thuộc về quốc dân chứ không phải Thiên hoàng.

Thiên hoàng là biểu tượng cho sự đoàn kết và văn hóa Nhật, giống như Nữ hoàng Anh, nhưng không mang quyền lực chính trị thực tế.

Thiên hoàng chỉ được tiến hành các hành vi liên quan đến việc nước theo quy định của bản Hiến pháp này và Thiên hoàng không có quyền lực liên quan tới chính phủ.

Quốc hội Nhật là cơ quan chính trị có quyền lực cao nhất, thành viên quốc hội là những người được dân chúng chọn ra trong một cuộc  bầu cử tự do,…

Trước thực trạng nông dân không có đất canh tác, tháng 10/1946 Quốc hội thông qua “Luật cải cách ruộng đất”, tiến hành thu mua đất của của giới địa chủ và bán nợ lại cho nông dân không có đất.

Ngày 31/3/1947 Quốc hội ban hành “Luật Giáo dục”.

Theo đó, mục tiêu hàng đầu của giáo dục là

“Tôn trọng sự tôn nghiêm của cá nhân, bồi dưỡng cho mọi người có lòng nhiệt huyết vì chân lý và hòa bình”.

Đây cũng là lần đầu tiên Chính phủ bị mất quyền quản lý giáo dục và kiểm duyệt sách giáo khoa.

Thay vào đó một “Ủy Ban Giáo Dục” do dân bầu ra đảm trách những việc ấy. Giáo viên dạy học sinh về tinh thần dân chủ chứ không phải tôn thờ Nhật Hoàng.

Năm 1951 Quân đội Mỹ tự khắc rút khỏi nước Nhật, trao trả lại nền độc lập cho Nhật Bản sau khi “sứ mệnh” kiến thiết nước Nhật của mình hoàn thành.

Người Nhật gọi tướng MacArthur là vị Shogun Mỹ.

Shogun nghĩa là Sứ Quân, là người đứng đầu một lãnh địa, vào thời Nhật còn bị nạn sứ quân chia cắt.”

https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=1809248755995220&id=100007303381806

Từ fb Jeny Nguyen.

Nguồn fb Chinh Le 


 

‘NỮ TƯỚNG’ LÊ THỊ THU THỦY RỜI BAN LÃNH ĐẠO CẤP CAO VINGROUP

BBC News Tiếng Việt

 ‘NỮ TƯỚNG’ LÊ THỊ THU THỦY RỜI BAN LÃNH ĐẠO CẤP CAO VINGROUP

Gần ba năm trước, tại New York, Hoa Kỳ, bà Lê Thị Thu Thủy tham gia màn IPO của VinFast trong vai trò tổng giám đốc của hãng xe điện Việt Nam – sự kiện được truyền thông khi đó mô tả là “mang chuông đi đánh xứ người”.

Thế nhưng, chưa đầy ba năm sau, khi “giấc mơ Mỹ” chưa thành hiện thực, người phụ nữ này đã rời khỏi các chức vụ từng đảm nhiệm, gồm tổng Giám đốc VinFast toàn cầu (2021–2024) và Chủ tịch HĐQT VinFast (2024–2026).

Truyền thông Việt Nam từng dùng hàng loạt mỹ từ để mô tả bà như “nữ hổ tướng”, người “thách thức” Elon Musk, “bông hồng gai”, người giúp VinFast “vươn tầm thế giới”,…


 

Thời kỳ cai trị của nhà độc tài Augusto Pinochet (1973–1990) so nguoi chet la bao nhieu?

Thời kỳ cai trị của nhà độc tài Augusto Pinochet (1973–1990) so nguoi chet la bao nhieu?

GEMINI tra loi:

Theo các báo cáo chính thức từ chính phủ Chile (như Báo cáo Rettig năm 1991 và Báo cáo Valech năm 2004, 2011) về thời kỳ cai trị của nhà độc tài Augusto Pinochet (1973–1990):

  • Số người bị sát hại hoặc mất tích: Ít nhất 3.065 người đã bị sát hại hoặc mất tích do các lý do chính trị.
  • Số người bị tra tấn và giam giữ trái phép: Khoảng 38.000 đến 40.000 người bị bắt giam, tra tấn hoặc bức hại chính trị.
  • Số người bị lưu vong: Hàng trăm nghìn người Chile đã phải bỏ nước ra đi tị nạn chính trị trong giai đoạn này.

 

Dưới thời Adolf Hitler và chế độ Đức Quốc Xã lãnh đạo (1933–1945), bao nhieu nguoi da chet?

Xin hoi: Dưới thời Adolf Hitler và chế độ Đức Quốc Xã lãnh đạo (1933–1945), bao nhieu nguoi da chet?

GEMINI Tra loi:

Dưới thời Adolf Hitler và chế độ Đức Quốc Xã lãnh đạo (1933–1945), ước tính tổng số người thiệt mạng liên quan trực tiếp đến Chiến tranh Thế giới thứ II ở Châu Âu và các chính sách diệt chủng, đàn áp của Đức Quốc Xã là từ 70 triệu đến hơn 80 triệu người.

Con số này bao gồm các nhóm nạn nhân chính sau đây:

1. Nạn nhân của cuộc Đại diệt chủng (Holocaust) và đàn áp chủng tộc/chính trị

  • Người Do Thái: Khoảng 6 triệu người bị tàn sát hàng loạt tại các trại tập trung, trại diệt chủng và qua các cuộc thảm sát lưu động (Einsatzgruppen).
  • Các nhóm nạn nhân khác bị Đức Quốc Xã diệt chủng hoặc tàn sát:
    • Tù binh chiến tranh Liên Xô: Bị chết do hành quyết, bỏ đói và lao động khổ sai (khoảng 3,1 – 3,3 triệu người).
    • Dân thường Ba Lan (không phải Do Thái): Khoảng 1,8 – 2 triệu người.
    • Người La Mã/Sinti (Roma): Khoảng 220.000 – 500.000 người.
    • Người khuyết tật và bệnh nhân tâm thần: Hơn 250.000 người (qua chương trình “Aktion T4”).
    • Người bất đồng chính kiến, đối thủ chính trị, tù nhân tôn giáo, người đồng tính, v.v.: Hàng trăm nghìn người.

2. Thương vong do Chiến tranh Thế giới thứ II tại Châu Âu (Đức khơi mào)

  • Liên Xô: Bị thiệt hại nặng nề nhất với ước tính 27 triệu người chết (bao gồm khoảng 8,7 triệu lính và gần 19 triệu dân thường).
  • Đức: Khoảng 7 triệu đến 9 triệu người chết (bao gồm khoảng 5,3 triệu binh lính và hơn 1,5 – 3 triệu dân thường do ném bom, giao tranh và bị trục xuất sau chiến tranh).
  • Các quốc gia Châu Âu khác: Hàng triệu lính và dân thường ở Ba Lan, Pháp, Anh, Ý, Yugoslavia, Greece,… tử trận hoặc chết do hậu quả của chiến tranh, đói xót và bệnh tật.

Tổng cộng, Hitler và chính sách của Đức Quốc Xã đã dẫn đến cái chết của khoảng 11 đến 17 triệu người trong các chương trình diệt chủng/đàn áp trực tiếp, cùng với hàng chục triệu người khác thiệt mạng do cuộc chiến do Đức phát động ở Châu Âu.


 

Tuổi Già Của Người Việt Ở Mỹ: Cô Đơn Giữa Một Căn Nhà Đầy Đủ Tiện Nghi

Ryan Phan – Chuyện tuổi Xế Chiều

Tuổi Già Của Người Việt Ở Mỹ: Cô Đơn Giữa Một Căn Nhà Đầy Đủ Tiện Nghi

Có một loại cô đơn rất đặc biệt, một loại cô đơn mà chỉ những người từng chứng kiến mới hiểu hết. Đó không phải là cái cô đơn của người thiếu thốn, đói khổ. Ngược lại là đằng khác. Đó là cái cô đơn của một cụ già ngồi giữa một căn nhà khang trang ở Mỹ, có máy sưởi mùa đông, máy lạnh mùa hè, tủ lạnh lúc nào cũng đầy ắp thức ăn, có tivi màn hình lớn, có mọi tiện nghi mà cả một đời ở quê nhà có nằm mơ cũng không thấy. Vậy mà trong ánh mắt của cụ, người ta vẫn đọc được một nỗi trống vắng mênh mông không gì lấp nổi.

Câu chuyện này lặp đi lặp lại trong biết bao gia đình người Việt trên đất Mỹ, quen thuộc đến mức gần như đã thành một khuôn mẫu. Những người con, sau bao năm vất vả, cuối cùng cũng ổn định, cũng mua được nhà, cũng có công có việc. Và điều đầu tiên nhiều người nghĩ đến là đón cha mẹ già từ Việt Nam sang, để phụng dưỡng, để báo hiếu, để cha mẹ được hưởng những năm cuối đời trong sung túc. Đó là một tấm lòng đẹp, một ý định hoàn toàn xuất phát từ tình thương. Không ai có thể trách được cái mong muốn ấy.

Nhưng rồi thực tế lại diễn ra theo một cách mà ít ai lường trước.

Buổi sáng, các con đi làm từ sớm, có khi trời còn chưa sáng hẳn. Các cháu thì lên xe bus đến trường, hoặc được chở đi từ tinh mơ. Và thế là căn nhà rộng rãi ấy, chỉ vài phút sau khi mặt trời lên, đã trở nên vắng lặng như tờ. Còn lại một mình cụ già, giữa bốn bức tường đầy đủ tiện nghi, với cả một ngày dài trước mặt không biết phải làm gì cho hết.

Cụ không lái xe được. Ở cái xứ mà không có xe thì gần như không có chân này, điều đó có nghĩa là cụ bị giam lỏng trong chính ngôi nhà của mình. Muốn ra ngoài đi dạo cũng khó, vì đường sá mênh mông, nhà nào biết nhà nấy, vỉa hè nhiều nơi còn chẳng có người đi bộ. Cụ không biết tiếng Anh, nên dù có ra ngoài, gặp người hàng xóm bản xứ cũng chỉ biết gật đầu cười trừ, không thể trò chuyện dù chỉ một câu. Cái tivi thì đầy những kênh mà cụ không hiểu người ta đang nói gì. Cái điện thoại thông minh con cái mua cho thì phức tạp quá, học mãi không thạo.

Và thế là những giờ đồng hồ cứ trôi qua trong im lặng. Cụ ngồi bên cửa sổ nhìn ra con đường vắng, đếm những chiếc xe thi thoảng chạy qua. Cụ đi từ phòng khách xuống bếp, rồi từ bếp lên phòng khách, lặp đi lặp lại. Cụ ngóng đồng hồ, đợi đến giờ con cháu về, bởi đó là khoảnh khắc duy nhất trong ngày căn nhà có tiếng người. Nhưng khi con cháu về đến nơi, sau một ngày làm việc mệt nhoài, ai cũng bơ phờ, cũng vội vàng với cơm nước, bài vở, rồi lại điện thoại, máy tính. Bữa cơm chung, nếu có, cũng trôi qua chóng vánh. Đôi khi cả ngày cụ chỉ nói được vài ba câu, và những câu ấy cũng chỉ là “con ăn cơm chưa”, “cháu đi học về rồi à”.

Điều nghịch lý đến quặn lòng là: khi còn ở Việt Nam, những cụ già ấy thường sống trong những căn nhà đơn sơ hơn nhiều, thiếu thốn tiện nghi hơn nhiều. Nhưng họ lại giàu có ở một thứ mà đồng tiền không mua được. Buổi sáng, mở cửa ra là gặp bà hàng xóm sang mượn củ hành, hỏi thăm đêm qua ngủ có ngon không. Ra đầu ngõ là gặp ông bạn già ngồi uống trà, bàn chuyện thời sự, kể lại những chuyện từ mấy chục năm trước mà cả hai đều đã nghe đến thuộc lòng nhưng vẫn cười vang. Chiều đến có người rủ đi bộ, đi chùa, đi lễ. Con cháu ở xa nhưng hàng xóm ở gần, và cái tình làng nghĩa xóm ấy đủ để lấp đầy những khoảng trống trong ngày. Ở quê nhà, dù nghèo hơn về vật chất, người già không bao giờ phải cô đơn.

Sang đến Mỹ, mọi thứ đảo ngược. Vật chất thì dư dả, nhưng cái tình người gần gũi kia thì biến mất. Xã hội Mỹ vận hành theo một nhịp điệu khác — mạnh mẽ, hiệu quả, nhưng cũng lạnh lùng và cô lập. Mỗi ngôi nhà là một ốc đảo riêng. Người ta có thể sống cạnh nhau nhiều năm mà không biết tên hàng xóm. Cái sự riêng tư được xem là văn minh ấy, đối với một người trẻ đi làm cả ngày thì không sao, nhưng đối với một cụ già chỉ ở nhà, nó trở thành một nhà tù êm ái, đầy đủ tiện nghi nhưng vẫn là một nhà tù.

Có một câu ngạn ngữ của người châu Phi mà mình rất tâm đắc: nuôi một đứa trẻ cần cả một ngôi làng. Nhưng ít ai nói đến vế còn lại, cái vế cũng đúng không kém: chăm sóc một người già cũng cần cả một ngôi làng. Con người, dù ở tuổi nào, cũng cần một cộng đồng xung quanh mình — cần những gương mặt quen thuộc, những câu chuyện được sẻ chia, cái cảm giác mình thuộc về một nơi nào đó, mình vẫn còn ý nghĩa với ai đó. Sự phụng dưỡng đầy đủ về vật chất, dù quý giá, cũng không thể thay thế được cái nhu cầu sâu xa ấy. Một người già không chỉ cần được cho ăn, được ở trong ấm áp. Họ cần được trò chuyện, được lắng nghe, được cảm thấy mình vẫn còn là một phần của cuộc sống, chứ không phải một món đồ quý được cất kỹ trong một căn phòng đẹp.

Và đây chính là bi kịch âm thầm của lòng hiếu thảo thời hiện đại. Những người con không hề thiếu tình thương. Họ đón cha mẹ sang chính vì thương. Họ làm việc quần quật cũng một phần vì muốn lo cho cha mẹ một cuộc sống tốt hơn. Nhưng cái guồng quay của cuộc sống ở Mỹ khắc nghiệt đến mức cuốn phăng đi thứ mà cha mẹ họ cần nhất: thời gian, và sự hiện diện. Người ta có thể mua cho cha mẹ một căn nhà đẹp, nhưng không mua được cho họ một người bạn già để trò chuyện. Người ta có thể trả tiền cho mọi tiện nghi, nhưng không thể trả tiền để mua lại cái tình làng nghĩa xóm đã bỏ lại ở quê nhà. Lòng hiếu thảo, trong hoàn cảnh ấy, trở thành một điều gì đó vừa đẹp đẽ vừa bất lực.

Đó cũng là lý do vì sao không ít cụ già, sau vài năm sống ở Mỹ trong đầy đủ tiện nghi, cuối cùng lại xin được về Việt Nam. Về để sống những năm tháng cuối đời trong một căn nhà giản dị hơn, thiếu thốn hơn, nhưng có tiếng người, có hàng xóm, có những buổi chiều ngồi trước hiên nhà nhìn người qua lại. Với nhiều người, cái quyết định rời bỏ sự sung túc để về với sự gần gũi ấy không phải là một sự lựa chọn khó khăn. Bởi ở cái tuổi gần đất xa trời, người ta hiểu rõ hơn ai hết rằng thứ quý giá nhất không phải là tiện nghi, mà là được sống giữa tình người, được chết ở một nơi mình thuộc về.

Viết những dòng này, mình không có ý trách cứ ai cả. Không trách những người con, bởi họ đã làm điều tốt nhất mà hoàn cảnh cho phép. Cũng không trách nước Mỹ, bởi mỗi xã hội có một cách vận hành riêng. Mình chỉ mong, những ai đang có cha mẹ già sống cùng trên đất khách, hãy thử một lần đặt mình vào vị trí của các cụ. Thử tưởng tượng một ngày dài của mình sẽ ra sao nếu không thể ra khỏi nhà, không nói được với ai một câu trọn vẹn, chỉ ngồi đợi từ sáng đến tối để nghe một tiếng người thân thuộc. Và rồi, biết đâu, giữa cái guồng quay bận rộn kia, ta sẽ cố dành ra thêm vài phút mỗi ngày để ngồi xuống bên cha, bên mẹ, hỏi han vài câu, kể cho các cụ nghe một chuyện nhỏ trong ngày. Đôi khi, món quà lớn nhất mà một người già cần không phải là một căn nhà đầy tiện nghi, mà chỉ đơn giản là vài phút được thấy mình vẫn còn quan trọng với những người mình thương yêu.

Còn bạn, lần gần nhất bạn ngồi xuống trò chuyện thật lâu với cha mẹ hoặc ông bà của mình, không vội vàng, không điện thoại, là khi nào?

Ryan Phan –— in Atlanta, GA.


 

Dưới thời cai trị của Khmer Đỏ do Pol Pot lãnh đạo bao nhieu nguoi da chet?

Dưới thời cai trị của Khmer Đỏ do Pol Pot lãnh đạo bao nhieu nguoi da chet?

GEMENI tra loi:

Dưới thời cai trị của Khmer Đỏ do Pol Pot lãnh đạo (1975–1979), ước tính có từ 1,5 triệu đến 2 triệu người thiệt mạng, tương đương khoảng 20% đến 25% dân số Campuchia thời bấy giờ.

Các nguyên nhân tử vong chính bao gồm:

  • Hành quyết và thảm sát: Hàng trăm nghìn người bị quy kết là “kẻ thù của cách mạng” (bao gồm trí thức, quan chức chính quyền cũ, người dân tộc thiểu số và những người bị nghi ngờ không trung thành) bị giam giữ, tra tấn và sát hại tại các trại cải tạo và “cánh đồng chết”.
  • Lao động khổ sai và đói khát: Chính sách cưỡng bức di dời toàn bộ dân cư từ thành thị về nông thôn để thực hiện mô hình nông nghiệp tập trung dẫn đến tình trạng kiệt sức và nạn đói nghiêm trọng trên diện rộng.
  • Bệnh tật và thiếu y tế: Hệ thống y tế bị phá hủy hoàn toàn, thuốc men thiếu hụt cùng điều kiện sống tồi tàn khiến vô số người chết vì các bệnh truyền nhiễm.

Một số số liệu từ các tổ chức và nghiên cứu uy tín:

  • Chương trình Nghiên cứu Nạn diệt chủng Campuchia (Đại học Yale): Ước tính khoảng 1,7 triệu người (khoảng 21% dân số).
  • Trung tâm Tư liệu Campuchia (DC-Cam): Dựa trên việc thống kê các hố sát hại tập thể, ước tính số nạn nhân dao động từ 1,7 triệu đến 2 triệu người.
  • Các ước tính tổng hợp khác: Tùy thuộc vào phương pháp thống kê, con số dao động trong khoảng từ 1,2 triệu cho đến gần 3 triệu người.

BỊ TRIỆU TẬP VÌ BẤM THEO DÕI MỘT TRANG FACEBOOK

Chân dung Tô Lâm – The True Portrait of To Lam

BỊ TRIỆU TẬP VÌ BẤM THEO DÕI MỘT TRANG FACEBOOK

Ngày 4/8/2026, Công an xã Mường Phăng triệu tập hai công dân L.T.Đ và L.T.A. Lý do: họ đã bấm theo dõi trang Facebook “Hoàng Dũng”.

Không phải chia sẻ bài viết. Không phải bình luận. Không phải viết status thể hiện quan điểm. Chỉ đơn giản là bấm nút theo dõi, một hành động mà hàng triệu người dùng mạng xã hội thực hiện mỗi ngày mà không hề nghĩ đó có thể là vấn đề.

Hãy dừng lại và suy nghĩ về điều đó. Theo dõi một trang Facebook có nghĩa là bạn muốn thấy nội dung của trang đó xuất hiện trên newsfeed của mình. Nó không có nghĩa là bạn đồng ý với mọi thứ trang đó đăng. Nó không có nghĩa là bạn tham gia vào bất kỳ hoạt động nào của trang đó. Nó chỉ đơn giản là một cú click để theo dõi thông tin, giống như bạn theo dõi hàng chục, hàng trăm trang khác về ẩm thực, du lịch, giải trí, tin tức.

Khi hành động đơn giản đó đủ để bị triệu tập lên đồn công an, thì ranh giới của những gì được coi là bình thường trên mạng xã hội đã bị thu hẹp đến mức đáng báo động.

Lý do được đưa ra thường là phòng ngừa thông tin xấu độc. Nghe có vẻ hợp lý ở bề mặt. Nhưng ai quyết định thông tin nào là xấu độc? Dựa trên tiêu chí nào? Có quy trình minh bạch nào để một trang mạng xã hội được xác định là nguồn thông tin xấu độc hay không, hay quyết định đó hoàn toàn phụ thuộc vào việc trang đó có đăng tải điều gì khiến ai đó không hài lòng?

Khi không có tiêu chí rõ ràng, thì bất kỳ trang nào, bất kỳ quan điểm nào khác với luồng chính thống đều có thể bị gán nhãn xấu độc, và bất kỳ ai theo dõi trang đó đều có thể trở thành đối tượng bị triệu tập.

Quyền tự do ngôn luận không chỉ là quyền được nói. Nó còn bao gồm quyền được nghe, được tiếp cận thông tin đa chiều, được tự mình quyết định nguồn tin nào mình muốn theo dõi và tự mình đánh giá độ tin cậy của thông tin đó. Đó là quyền cơ bản được ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.

Khi việc theo dõi một trang thông tin trở thành hành vi có thể bị triệu tập, thì quyền tiếp cận thông tin đa chiều đó không còn tồn tại trên thực tế nữa, dù nó vẫn được ghi trong văn bản pháp luật.

Có một nghịch lý đáng chú ý trong cách xử lý này. Nếu nội dung trên trang Facebook đó thực sự sai sự thật, thực sự nguy hiểm, thực sự cần được ngăn chặn, thì cách xử lý hợp lý là chứng minh nó sai, phản bác bằng thông tin chính xác, hoặc xử lý người quản lý trang đó theo đúng quy trình pháp lý.

Nhưng việc truy tìm và triệu tập những người chỉ đơn thuần theo dõi trang đó lại là một cách tiếp cận khác hoàn toàn. Nó không nhằm vào nguồn thông tin. Nó nhằm vào người tiếp nhận thông tin. Và điều đó tạo ra hiệu ứng răn đe rộng hơn nhiều: không chỉ người viết phải sợ, mà cả người đọc cũng phải sợ.

Khi nỗi sợ đó lan rộng, điều gì sẽ xảy ra? Người dân sẽ tự kiểm duyệt không chỉ những gì họ viết, mà cả những gì họ đọc, những gì họ theo dõi, những trang nào họ dám bấm like. Không gian thông tin sẽ dần thu hẹp lại, không phải vì bị cấm một cách công khai và rõ ràng, mà vì mỗi người tự rút lui khỏi những nguồn thông tin có thể mang lại rủi ro, dù họ không biết chính xác rủi ro đó là gì.

Các chuyên gia pháp lý quốc tế đã nhấn mạnh rằng quyền tự do thông tin là nền tảng của một xã hội văn minh. Việc quy chụp hành vi theo dõi một trang cá nhân thành vi phạm pháp luật không bảo vệ được trật tự xã hội. Nó chỉ cho thấy sự bất an của một hệ thống trước những tiếng nói độc lập, trước khả năng người dân tự tiếp cận thông tin và tự hình thành quan điểm của riêng mình mà không cần thông qua kênh chính thống.

Một hệ thống tự tin vào tính đúng đắn của mình không cần phải sợ một nút like. Khi nó sợ, đó chính là lúc câu hỏi về sự tự tin đó cần được đặt ra nghiêm túc nhất.


 

TỪ PHIÊN LIVE CỦA BÀ NGUYỄN PHƯƠNG HẰNG VÀ LÝ DO AN NINH VIỆT NAM SỢ TRUYỀN THÔNG

Chân Trời Mới Media

TỪ PHIÊN LIVE CỦA BÀ NGUYỄN PHƯƠNG HẰNG VÀ LÝ DO AN NINH VIỆT NAM SỢ TRUYỀN THÔNG

“Phản động”, “thế lực thù địch” đó là những cụm từ mà công an Việt Nam dùng để gán cho những người bất đồng chính kiến. “Các đối tượng thiếu hiểu biết”, “tiếp tay cho phản động” là những cụm từ dùng để gán tội cho những người tương tác với các kênh truyền thông độc lập. Vì thế, đây không còn là chiến dịch trấn áp, mà còn là một nỗi sợ. Vậy, tại sao nhà cầm quyền Việt Nam lại “sợ” truyền thông?

Vừa qua vào ngày 5/08/2026, Bà Nguyễn Phương Hằng đã livestream trên nền tảng tiktok thu hút hơn 2 triệu lượt xem trước khi bị đánh sập. Trong nội dung livestream, có đoạn bà nhắc đến bê bối của các cựu quan chức của Việt Nam với cái tên “anh Hai”, “anh Ba”, “anh Tư”, “anh Bảy”. Dư luận nhận ra bà đang muốn nhắn đến ông Lê Thanh Hải, Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang và Nguyễn Xuân Phúc. Nên phiên livestream diễn ra được khoảng một tiếng thì bị đánh sập do “đưa tin thiếu kiểm chứng”.

Một phiên live thu hút được hàng triệu view, một con số được cho là quá lớn. Nội dung thì lại thu hút dư luận, các cái tên được Bà Hằng nhắc đến, dư luận hiện tại vẫn đang bàn tán xôn xao. Vì thế, nhiều người nhận định, đó là lý do tại sao nhà cầm lại “sợ” truyền thông. Vì sức ảnh hưởng thì quá lớn, mà lại còn nằm ngoài sự kiểm duyệt của Đảng và Nhà nước, nên “sợ là phải”.

#NguyenPhuongHang #Livetream #chantroimoi 


 

So nguoi chet duoi thoi Mao Trach Dong la bao nhieu nguoi?

So nguoi chet duoi thoi Mao Trach Dong la bao nhieu nguoi?

GEMINI tra loi:

Số lượng người chết dưới thời Mao Trạch Đông (1949–1976) không có một con số thống nhất tuyệt đối do sự thiếu hụt tài liệu chính thức từ chính phủ Trung Quốc và sự khác biệt trong phương pháp thống kê của các nhà sử học. Tuy nhiên, phần lớn các ước tính độc lập và nghiên cứu lịch sử uy tín đưa ra tổng con số tử vong dao động từ 40 triệu đến 80 triệu người.

Các nguyên nhân tử vong chính bao gồm:

  1. Đại nhảy vọt và Nạn đói lớn (1958–1962):
    • Đây là chiến dịch gây ra số lượng tử vong lớn nhất do chính sách tập thể hóa nông nghiệp và quản lý kinh tế yếu kém.
    • Hầu hết các nhà nhân khẩu học và sử học (như Dương Kế Thằng, Frank Dikötter, Judith Banister) ước tính số người chết vì đói và bị bạo hành trong giai đoạn này khoảng từ 30 triệu đến 45 triệu người.
  2. Cách mạng Văn hóa (1966–1976):
    • Các cuộc đấu tố, thanh trừng nội bộ do Hồng vệ binh và quân đội thực hiện dẫn đến bạo lực diện rộng.
    • Con số tử vong do bạo lực, tự sát hoặc bị đàn áp ước tính khoảng 1 triệu đến 3 triệu người.
  3. Cải cách ruộng đất và các chiến dịch đàn áp chính trị (1949–1957):
    • Bao gồm Cải cách ruộng đất, Chiến dịch tiêu diệt phản cách mạng, và Chiến dịch Chống phe Hữu.
    • Số lượng địa chủ, đối thủ chính trị và tầng lớp trí thức bị hành quyết hoặc chết trong các trại cải tạo ước tính từ 1 triệu đến 5 triệu người.
  4. Hệ thống trại cải tạo lao động (Lao cải):
    • Hàng triệu người đã trải qua các trại lao cải trong nhiều thập kỷ, với con số tử vong do điều kiện khắc nghiệt và bị ngược đãi ước tính từ vài triệu đến 20 triệu người tùy theo phạm vi tính toán của các nhà nghiên cứu.

Tóm tắt các nguồn ước tính tiêu biểu:   

  • Chính sử / Giới nghiên cứu độc lập phương Tây & Trung Quốc (Yang Jisheng, Frank Dikötter, Daniel Leese): Ước tính khoảng 40 – 45 triệu người.
  • Một số sách nghiên cứu như Cuốn sách đen của Chủ nghĩa Cộng sản (The Black Book of Communism) hoặc tiểu sử Mao của Jung Chang & Jon Halliday: Ước tính từ 65 triệu đến 70 triệu người.
  • Ước tính cao nhất (R.J. Rummel): Lên tới 77 triệu người.