NHÀ TÔI, 7 NGƯỜI ĐI 3 NGƯỜI ĐẾN
Liem Pham ·
NHÀ TÔI, 7 NGƯỜI ĐI 3 NGƯỜI ĐẾN
(Lời kể của cô Ba Lành, 71 tuổi, Mountain View, California)
LỜI TỰA
Có những câu chuyện không phải để đọc cho biết.
Mà để… không quên.
Có những cái chết không có mộ.
Chỉ có sóng.
Và có những người sống sót…
là để mang giùm ký ức của những người đã chìm xuống.
Nếu đọc đến đây mà tim bạn còn yên, thì xin đọc tiếp.
Còn nếu thấy cổ họng bắt đầu nghẹn lại…
thì bạn đang chạm vào một phần của lịch sử.
——
Sài Gòn, 1979
Ba tôi là Trung úy Địa Phương Quân.
Sau 75, ông đi tù cải tạo hơn 3 năm mới về.
Ngày ông bước vô nhà, tôi suýt không nhận ra.
Người gì mà chỉ còn da bọc xương, tóc bạc trắng, mắt trũng sâu như hai cái giếng cạn.
Má tôi đứng chết lặng.
Rồi bà run run:
— “Ông… còn sống thiệt hả ông?”
Ba tôi cười. Cái cười không thành tiếng:
— “Chưa chết… chắc tại tụi nó quên.”
Nhà chín miệng ăn.
Hộ khẩu bị cắt.
Tem phiếu không tới lượt.
Gạo không có.
Tiệm vải của má bị niêm phong, dán giấy đỏ chói.
Họ gọi là “đánh tư sản”.
Má tôi gọi là… “đánh nát đời người”.
Đêm nào bà cũng quay mặt vào vách mà khóc. Không dám khóc lớn. Sợ hàng xóm nghe.
Anh Hai ngồi bó gối một góc, giọng khàn:
— “Ở lại… là chết mòn đó má.”
Má im lặng rất lâu.
— “Đi… thì đi hết.”
——
Rạch Giá, đêm không trăng.
Ghe dài 11 mét. Nhét 63 con người.
Chủ ghe vỗ ngực:
— “Yên tâm, ghe này đi trót lọt hai chuyến rồi!”
Tụi tôi bị nhét dưới hầm máy.
Nước ngập mắt cá.
Mùi dầu, mùi người, mùi ói… trộn lại thành thứ mùi không bao giờ quên.
Em Út nắm tay tôi, run:
— “Chị Hai… mình có chết không?”
Tôi nuốt nước bọt:
— “Không… mình đi tìm sống mà.”
Ghe vừa ra cửa biển.
Đèn pha quét ngang.
— “Biên phòng!”
Tiếng ai đó hét lên.
Đạn xé gió. “Vèo! Vèo!”
Có tiếng kêu:
— “Ối trời ơi !”
Rồi… im bặt.
Sáng ra mới biết… thím Tám chết. Không kèn, không trống.
Chỉ một tấm chiếu, buộc lại.
Má tôi quay mặt đi. Không dám nhìn. Xác thím thả xuống biển. Như một hòn đá. Không ai biết… biển sâu bao nhiêu.
——
Cướp biển.Gần Koh Kra.
Hai tàu Thái Lan áp sát. Những bóng người nhảy qua như quỷ.
Dao.
Súng.
Mắt lạnh như không phải người.
— “Gold! Dollar! Fast!”
Không có… là đánh. Ba tôi bị đập báng súng. Ngã xuống.
Máu chảy ướt cả trán.
Má tôi lao tới:
— “Đừng! Ông ấy bệnh rồi! Xin tụi bay!” Một cú đá.
Má văng ra.
Rồi… chúng bắt đầu lôi phụ nữ.
Tôi. Em Út. Con bé 12 tuổi.
Nó khóc thét:
— “Má ơi!!! Má ơi!!!”
Má tôi bò theo, ôm chân tụi nó:
— “Tao lạy tụi bay… trả con tao lại… nó còn nhỏ… nó chưa biết gì hết…”
Một tên cười.
Đá mạnh.
— “Shut up!”
——
Sáu tiếng sau. Không ai hỏi.
Không ai dám hỏi. Khi chúng thả tụi tôi về… em Út không khóc nữa.
Không nói.
Không nhìn ai.
Chỉ ngồi… như một cái xác còn thở.
Má ôm tụi tôi.
Cắn chặt môi… đến bật máu.
— “Con ơi… con ơi…”
Tôi muốn khóc.
Nhưng không còn nước mắt.
Trên ghe… 63 người.
Không một ánh mắt nào dám nhìn tụi tôi.
Không phải họ vô tâm.
Mà vì… ai cũng sợ phải thấy địa ngục.
——-
Ngày 11. Biển nuốt người. Hết nước từ ngày thứ 7.
Thằng Tèo 6 tuổi khát quá.
Nó lén uống nước biển.
Tối đó… nó co giật.
Má ôm nó, lay:
— “Tèo! Uống miếng nước nữa nè con… Tèo ơi… đừng bỏ má…”
Nó nhìn má.
Môi khô nứt.
— “Má… con khát…”
Rồi… tắt. Trên tay má.
Má không khóc thành tiếng nữa. Chỉ có tiếng… gió biển.
——
Ba tôi thức trắng ba đêm.
Đến đêm 11, ông bắt đầu nói sảng:
— “Tụi bay… ráng sống… đừng quay lại…”
Anh Hai nắm tay ông:
— “Ba… đừng nói vậy…”
Ba tôi nhìn xa xăm. Không còn thấy tụi tôi nữa.
— “Ba mệt rồi…”
Ông gục xuống. Không thở nữa.
Má ngồi đó. Không khóc.
Chỉ nói một câu… nhỏ như gió:
— “Ông đi trước… tui theo sau…”
Ngày 13.
Thằng Tý 9 tuổi… cũng đi.
Ghe còn 59 người.
Nhưng không ai còn là người như lúc đi nữa.
——
Pulau Bidong, 1979
Ngày 15.
Một giàn khoan của Shell thấy ghe. Họ quăng nước xuống. Bánh mì.
Có người vừa ăn vừa khóc.
Có người… không còn sức để khóc.
Ghe được kéo vào đảo.
7 người đi.
Còn 3 người đến.
Má.
Anh Hai.
Và tôi.
Em Út… chết sau 2 tháng.
Không bệnh nặng.
Chỉ là… nó không nói nữa.
Không ăn.
Không sống.
Má tôi bế nó lần cuối:
— “Con nói với má một câu thôi… một câu thôi…”
Con bé không mở miệng.
Nó đi… như một người đã đi từ lâu rồi.
——
Những năm sau đó. Gia đình tôi sang Mỹ.
Anh Hai nhập ngũ.
Năm 2004… nó chết ở Iraq.
Ngày nhận giấy báo tử, tôi nhìn má.
Bà không khóc.
Chỉ hỏi:
— “Nó… có lạnh không?”
Má tôi mất năm 2015.
Trên tay… vẫn nắm cái lai áo cũ.
Chỗ ngày xưa may 5 cây vàng.
San Jose. 2026
Tôi 61 tuổi.
Nhiều đêm… vẫn giật mình vì tiếng máy ghe.
Tiếng đạn.
Tiếng “Má ơi…”
Con cháu tôi sinh ở Mỹ. Tụi nó học trường lớn. Sống đời khác.
Tôi không kể.
Vì… không biết bắt đầu từ đâu.
Chỉ mỗi tháng Tư…
tôi ra biển Santa Cruz Beach.
Đốt 3 nén nhang.
Thả 3 bông cúc trắng.
Tôi nói nhỏ:
— “Ba… Tèo… Tý…
Con còn sống.”
Sóng vẫn vỗ.
Như chưa từng có gì xảy ra.
⸻
Sử sách… có thể quên. Nhưng biển… không quên.
Dưới đó… không chỉ có 3 người nhà tôi. Mà là… hàng trăm ngàn người.
Và hàng triệu câu chuyện…
chưa bao giờ được kể hết.
Nếu bạn đọc đến đây… mà thấy cổ họng nghẹn lại,
xin đừng lau nước mắt vội.
Vì…
có những giọt nước mắt,
là thứ cuối cùng nối người sống…
với người đã nằm lại giữa biển.
Phạm Sơn liêm
Người đàn ông Việt Nam đoàn tụ với mẹ ruột sau nhiều thập kỷ (BBC)
Sau gần ba thập kỷ, Ike Robin quay lại Việt Nam để gặp mẹ ruột
Tác giả, Marcus Boothe
Vai trò, Phía Tây nước Anh
5 tháng 4 2026
Một người đàn ông được nhận nuôi từ Việt Nam mới đây đã vượt hàng ngàn kilomet trở về gặp mẹ ruột và cho biết hành trình này đã giúp anh hiểu được “mảnh ghép còn thiếu” trong cuộc đời mình.
Ike Robin, 27 tuổi, đến từ thành phố Bath (Anh), được nhận nuôi khi mới sáu tháng tuổi và lớn lên ở thành phố Brighton cùng ba người chị em nuôi từ Trung Quốc.
Ike cho biết anh luôn có những câu hỏi về nguồn gốc và bản sắc của mình, và muốn biết cuộc sống sẽ khác sao nếu anh không được nhận nuôi.
Anh nói mình từng trải qua “hội chứng kẻ mạo danh”, cho biết dù cảm thấy “may mắn” nhưng vẫn có những lúc anh nghĩ rằng “đây lẽ ra không phải cuộc đời của mình”.
Ike sinh ra với hai lỗ thủng nhỏ ở tim và bị suy dinh dưỡng nghiêm trọng. Anh nói mình mang ơn gia đình nuôi vì đã cứu sống anh.
Hiện đang làm nghề bảo mẫu, Ike cho biết anh luôn biết mình là con nuôi, nhưng những câu hỏi về cội nguồn ngày càng trở nên thôi thúc hơn khi anh lớn lên.
“Khi còn nhỏ, việc được nhận nuôi không có nhiều ý nghĩa với tôi,” anh nói. “Nhưng khi lớn lên, tôi bắt đầu tự hỏi nhiều hơn rằng cuộc sống của mình sẽ ra sao nếu tôi không được nhận nuôi.”
Ike Robin
Ike đã cùng bạn gái trở về Việt Nam để tìm hiểu về cội nguồn của mình
Cuối năm 2025, anh đã đi khắp Việt Nam cùng bạn gái và cha mẹ nuôi, rồi sau đó gặp lại mẹ ruột của mình lần đầu tiên sau gần ba thập kỷ.
“Tôi không biết mình nên cảm thấy thế nào, vì đó là mẹ tôi, nhưng đồng thời cũng là một người xa lạ,” anh nói.
Khi bà xuất hiện, Ike cho biết anh nhận ra ngay lập tức.
“Tôi lập tức biết đó là mẹ mình,” anh nói. “Như thể là linh cảm ấy.
Bà Kimberley Fuller cho biết trẻ được nhận nuôi có thể gặp khó khăn trong việc định hình bản sắc và cảm giác mình thuộc về đâu
Theo yêu cầu của mẹ ruột, danh tính của bà không được tiết lộ.
Ike dự định chỉ gặp mẹ ruột, nhưng thay vào đó anh còn được anh chị em, họ hàng và cả bà ngoại chào đón.
Nhà trị liệu tâm lý Kimberly Fuller cho biết trải nghiệm của Ike phản ánh những câu hỏi phức tạp về bản sắc mà nhiều người được nhận nuôi xuyên quốc gia phải đối mặt khi trưởng thành.
Bà cho biết trẻ được nhận nuôi có thể gặp khó khăn với “bản sắc và cảm giác mình thuộc về đâu”, đặc biệt khi bước vào tuổi thiếu niên và giai đoạn sau này của cuộc đời.
“Với một số trẻ, các em có thể hòa nhập với gia đình và những người không nhận ra các em được nhận nuôi, và các em có thể che giấu phần đó trong bản sắc của mình.
“Tuy nhiên, nếu là nhận nuôi khác chủng tộc thì ngay từ đầu đã rất khó, vì đã có sự khác biệt sẵn và còn có thêm sự khác biệt rõ ràng về ngoại hình so với gia đình,” bà nói.
Điều đó có thể khiến người khác đặt câu hỏi mà không cân nhắc tới cảm xúc hoặc cách những câu hỏi đó được tiếp nhận ra sao, bà Fuller nói thêm.
Bà giải thích rằng trẻ có thể cảm thấy bị tách rời không chỉ khỏi gia đình ruột mà còn cảm thấy xa rời với văn hóa, ngôn ngữ và những bản sắc bộc lộ ra ngoài.
Bà Fuller cũng cho biết những người được nhận nuôi có thể trải qua những cảm xúc mâu thuẫn, bao gồm sự biết ơn đối với cuộc sống họ có, đồng thời cũng tiếc nuối những gì đã mất.
Gia đình bố mẹ nuôi và bạn gái Ike đã cùng anh trở về để gặp mẹ đẻ
Đối với mẹ nuôi của Ike, cuộc đoàn tụ là một trải nghiệm xúc động và không hề mang tính đe dọa.
“Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình là người mẹ duy nhất của con,” bà Julia Fleming nói. “Bà ấy là mẹ của thằng bé, và tôi cũng là mẹ của nó.”
Bà cho biết gia đình luôn cố gắng giữ cho con cái họ kết nối với nguồn cội và đã ủng hộ việc Ike liên lạc với mẹ ruột từ khi anh lên bảy.
Ike nói rằng cuộc đoàn tụ không phải là dịp để trách móc, mà là để thấu hiểu.
“Thông điệp chính tôi muốn truyền tải là tôi không hề có cảm xúc tiêu cực nào với bà,” anh nói. “Đây có thể là khởi đầu cho một hành trình mới tốt đẹp.”
Iran chuyển đến Mỹ « đề xuất 14 điểm » để chấm dứt hoàn toàn xung đột (RFI)
Theo các hãng tin Iran, được AFP hôm nay, 03/05/2026, dẫn lại, Teheran vừa chuyển cho Mỹ đề xuất « 14 điểm » đàm phán trong vòng 30 ngày để đạt giải pháp chấm dứt xung đột. Tổng thống Donald Trump cho biết sẽ xem xét đề nghị mới của Teheran, nhưng không loại trừ việc oanh kích Iran trở lại.

Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi. Ảnh tư liệu ngày 23/05/2025. AP – Alexander Kazakov
Theo hãng thông tấn Tasnim, đề xuất của Teheran, gửi đến Nhà Trắng thông qua Pakistan, yêu cầu Mỹ rút quân khỏi các khu vực gần Iran, dỡ bỏ lệnh phong tỏa các cảng của Iran, giải tỏa tài sản bị đóng băng của Iran, thanh toán tiền bồi thường chiến tranh, dỡ bỏ lệnh trừng phạt, thiết lập một « cơ chế » liên quan đến eo biển Hormuz, « chấm dứt chiến tranh trên tất cả các mặt trận, bao gồm cả ở Liban ». Vấn đề hạt nhân, vốn là một đòi hỏi trọng tâm của Mỹ, không được nhắc đến trong đề xuất này.
Phạm Đoan Trang trong số ’10 trường hợp khẩn thiết’ 2026 về tự do báo chí
May 3, 2026
New York City, NY (NV) – Nhà báo, nhà đấu tranh Phạm Đoan Trang của Việt Nam có tên trong danh sách “10 trường hợp khẩn thiết nhất” (Global ‘10 Most Urgent’ 2026) liên quan đến tự do báo chí, do hơn 40 cơ quan truyền thông toàn cầu cùng hợp tác trong Liên Minh One Free Press lập nên.
Tờ Forbes dẫn tin đúng vào Ngày Tự Do Báo Chí Thế Giới, hôm Chủ Nhật, 3 Tháng Năm.
Nhà báo Phạm Đoan Trang (Hình: icj.org)
Về trường hợp nhà báo Phạm Đoan Trang của Việt Nam, Liên Minh One Free Press cho biết:
“Năm 2021, nhà văn, nhà báo và nhà hoạt động Phạm Đoan Trang bị kết án chín năm tù vì tội ‘tuyên truyền chống nhà nước.’ Bà viết về dân chủ, tự do ngôn luận, nhân quyền và bạo lực của cơ quan công an. Trong thời gian bị giam, sức khỏe của bà suy giảm nghiêm trọng. Bà bị viêm xoang, viêm khớp, các vấn đề phụ khoa và các cơn đau chân kéo dài. Bà bị từ chối điều trị y tế bên ngoài và bị chuyển đến nơi giam giữ cách xa gia đình gần 1,600 km, như một hình thức trừng phạt bổ sung.”
Theo Ủy Ban Bảo Vệ Nhà Báo (CPJ), phần lớn các nhà báo bị giam giữ tính đến ngày 1 Tháng Mười Hai, năm 2025, chiếm 61% số người bị bỏ tù trên toàn cầu, bị giam giữ theo các cáo buộc “chống nhà nước”; “khủng bố” hoặc nhận tài trợ từ chính phủ ngoại quốc.
Danh sách được tổng hợp với sự hợp tác của CPJ, Quỹ Truyền Thông Phụ Nữ Thế Giới (IWMF) và Tổ Chức Phóng Viên Không Biên Giới (RSF.) Theo dữ liệu của CPJ, hiện có 330 nhà báo đang bị giam giữ trên toàn thế giới liên quan đến công việc của họ.
Ngoài bà Phạm Đoan Trang, chín nhà báo còn lại trong danh sách “Global ‘10 Most Urgent’” là: Ông Reza Valizadeh (Iran); ông Jimmy Lai (Hong Kong); bà Zhang Zhan (Trung Quốc); bà Ulfatkhonim Mamadshoeva (Tajikistan); nhà làm phim, nhiếp ảnh gia Tsi Conrad (Cameroon); nữ nhà báo Frenchie Mae Cumpio (Philippines); bà Sevinj Vagifgizi (Azerbaijan), chủ bút tờ Abzas Media; bà Genet Asmamaw (Ethiopia); nhà báo thể thao Christophe Gleizes (Algeria).
Trong năm qua, Liên Minh One Free Press đã đón mừng việc trả tự do cho ba nhà báo từng xuất hiện trong danh sách “10 trường hợp khẩn thiết nhất” vào Tháng Năm, năm 2025. Đó là Vladyslav Yesypenko (bị giam tại Crimea do Nga kiểm soát từ năm 2021), Shin Daewe (bị giam tại Myanmar từ Tháng Mười 2023) và Ihar Losik (bị giam tại Belarus.)
Liên Minh One Free Press đã liên kết với hơn một tỷ độc giả, sử dụng các nền tảng xã hội rộng khắp để hỗ trợ 10 nhà báo của “10 trường hợp khẩn thiết nhất” sau đây cùng các trường hợp khác bị đàn áp báo chí trong năm 2026. (K.L) [kn]
Cô khấn trọn đời vào năm 1970. Cô trở thành Sơ Dolores Hart
Cô đã hôn Elvis Presley. Rồi biến mất vào tu viện mãi mãi và người đàn ông yêu cô vẫn đến thăm mỗi dịp Giáng sinh.
Năm 1957, một nữ diễn viên trẻ đến từ Chicago tên là Dolores Hart bước lên phim trường và bước vào vòng tay của Elvis Presley. Cô 19 tuổi. Anh đã là một hiện tượng. Nụ hôn của họ trong bộ phim Loving You trở thành huyền thoại, không chỉ vì sự rung động mà còn vì những gì xảy ra sau đó.
Cô không biến mất. Cô vụt sáng.
Hai bộ phim với Elvis. Where the Boys Are là một hiện tượng văn hóa. Sân khấu Broadway. Một đề cử Tony. Làm việc cùng Montgomery Clift. Giới điện ảnh thì thầm tên cô bên cạnh Grace Kelly. Một hợp đồng hãng phim. Một căn hộ ở Manhattan. Một tương lai rực rỡ đến mức phải đeo kính râm mới nhìn nổi.
Và một người đàn ông tên Don Robinson, người yêu cô với một sự chắc chắn đủ để vạch ra cả một đời.
Rồi năm 1959, kiệt sức sau Broadway, một người bạn khuyên cô đến nghỉ ngơi ở một nơi yên tĩnh. Một tu viện Benedictine nằm giữa những ngọn đồi Connecticut, Regina Laudis Abbey, ở thị trấn Bethlehem.
Cô đến, miễn cưỡng. Ở lại một thời gian ngắn.
“Sau vài giờ,” cô sau này kể lại, “bạn sẽ cảm thấy đây là một nơi đặc biệt.”
Cô quay lại nhiều lần. Mỗi lần rời đi lại khó hơn.
Cô vẫn tiếp tục diễn xuất. Năm 1961, khi quay bộ phim Francis of Assisi tại Rome, cô gặp Pope John XXIII. Một điều gì đó trong cô thay đổi, thứ mà chính cô khi đó cũng chưa thể gọi tên.
Tu viện cứ thế gọi cô quay về.
Don chờ đợi. Hy vọng. Yêu cô.
Trong một trận bão tuyết tại tu viện, khi đang đi lên dốc hướng về một cây thánh giá gỗ, sự rõ ràng đến như tia chớp.
Cô hiểu.
Cô nói sự thật với Don.
Nhiều năm sau, ông kể lại khoảnh khắc đó với sự chân thành trần trụi:
“Đau đớn ư? Đùa sao? Tôi là con người. Tôi yêu cô ấy sâu sắc và đến giờ vẫn vậy.”
Don Robinson là một người Công giáo sùng đạo. Dù tan vỡ, ông vẫn chúc phúc cho lựa chọn của cô.
Năm 1963, ở tuổi 24, Dolores Hart hoàn thành bộ phim cuối cùng, nói lời tạm biệt với New York, lên xe và đến Regina Laudis.
Cô không bao giờ rời đi nữa.
Cô khấn trọn đời vào năm 1970. Cô trở thành Sơ Dolores Hart. Năm 2001, cô được bầu làm bề trên của cộng đoàn.
Hollywood vẫn hỏi điều gì đã xảy ra, cô đang chạy trốn điều gì.
Câu trả lời của cô chưa bao giờ thay đổi.
Cô không chạy trốn khỏi điều gì cả.
“Điều tôi khám phá ra là Chúa hiện diện trong mỗi con người bạn sống cùng. Bạn không tìm thấy Ngài tách rời khỏi những người bạn cùng sống và yêu thương.”
Cô không rời bỏ thế giới. Cô trở thành nữ tu đầu tiên được bầu làm thành viên có quyền bỏ phiếu của Academy of Motion Picture Arts and Sciences, vẫn gửi phiếu bầu Oscar mỗi năm từ sau những bức tường tu viện. HBO làm phim tài liệu về cuộc đời cô. Cô đồng viết hồi ký. Cô xây dựng một nhà hát ngoài trời tại tu viện, nơi các nữ tu biểu diễn nhạc kịch mỗi mùa hè.
Còn Don.
Ông không bao giờ kết hôn.
Ông vẫn lái xe đến tu viện mỗi dịp Giáng sinh và Lễ Phục Sinh.
Suốt sáu thập kỷ.
Ông từng nói, không chút cay đắng, với sự từng trải mà chỉ tình yêu thật sự mới dạy được
“Không phải tình yêu nào cũng cần đi đến hôn nhân.”
Sơ Dolores Hart giờ đã 87 tuổi. Bà đã sống tại Regina Laudis hơn 60 năm.
Don vẫn đến thăm hai lần mỗi năm.
Cô đã hôn Elvis Presley khi 19 tuổi. Cô chọn Chúa khi 24 tuổi. Cô đã yêu cả thế giới này và cả một điều gì đó vượt lên trên nó.
Tất cả đều là sự thật. Và không điều nào mâu thuẫn với điều nào.
Đó không phải bi kịch. Không phải bí ẩn.
Đó là một cuộc đời được sống trọn vẹn, chỉ là không phải cuộc đời mà ai cũng mong đợi.
Và chính điều đó khiến nó trở nên phi thường hơn nữa.
*Chiếc máy bay vàng hay delay của người Mỹ nghèo… hôm nay đã chết*
*Chiếc máy bay vàng hay delay của người Mỹ nghèo… hôm nay đã chết*
Tôi từng đôi lần bay Spirit Airlines trong nước Mỹ.
Ai đi hãng này rồi đều biết cảm giác rất đặc biệt: mua được tấm vé rẻ đến mức không tin nổi, nhưng từ lúc ra sân bay cho tới khi máy bay chạm bánh xuống đất thì chỉ biết… cầu nguyện.
Cầu nguyện đừng delay. Cầu nguyện đừng đổi gate phút chót. Cầu nguyện đừng bị tính thêm một đống tiền hành lý.
Ghế chật, dịch vụ tối giản, tiếp viên lạnh như tiền, và cái màu vàng chói chang của chiếc máy bay nhìn xa đã thấy “tiết kiệm”.
Spirit chưa bao giờ là hãng hàng không khiến người ta tự hào check-in, nhưng nó là hãng mà rất nhiều người Mỹ bình dân âm thầm biết ơn. Vì trong túi chỉ có vài chục đô, khi muốn đưa con đi chơi mùa hè mà không đủ tiền bay Delta, khi sinh viên cần một chuyến về thăm nhà, khi một gia đình lao động phải cân từng đồng trước kỳ nghỉ lễ… thì Spirit thường là cái tên cuối cùng còn hiện ra trên màn hình với mức giá “còn với tới được”.
Nói cách khác đó là chiếc máy bay của tầng lớp không dư dả nhưng vẫn cố giữ cho mình quyền được đi đâu đó.
Hôm nay chiếc máy bay vàng ấy đã chết!
Spirit Airlines ngừng toàn bộ hoạt động. 17.000 nhân viên bị đẩy vào cảnh mất việc hoặc treo việc vô thời hạn. Hàng ngàn hành khách đang mắc kẹt.
Bề ngoài đây là một tin doanh nghiệp phá sản, nhưng thật ra nó là một tín hiệu xã hội đáng sợ hơn nhiều.
Bởi Spirit không chết trong chân không. Nó chết đúng vào lúc giá nhiên liệu máy bay leo thang sau khi cuộc chiến Iran làm thị trường dầu toàn cầu chao đảo.
Với các hãng hàng không lớn, giá nhiên liệu tăng là một bài toán khó. Với Spirit, hãng sống bằng từng đồng vé rẻ mạt, đó là phát súng ân huệ.
Chi phí tăng nhưng họ không dám tăng vé, vì khách của Spirit là những người chỉ cần vé nhích thêm vài chục đô là sẽ thôi không đi nữa. Cho nên khi dầu tăng, điều bị bóp nghẹt đầu tiên không phải là kho dự trữ của tập đoàn lớn, mà là cơ hội di chuyển của người nghèo.
Người dân Mỹ không cần hiểu gì về eo biển Hormuz hay giá dầu Brent. Họ chỉ hiểu một điều rất cụ thể mùa hè này đổ xăng tốn hơn, đặt vé máy bay đắt hơn, và hãng bay rẻ nhất vừa biến mất.
Một cuộc chiến cách nửa vòng trái đất bỗng hiện hình ngay trong kế hoạch về thăm mẹ, chuyến đi Disney cho bọn trẻ, hay tấm vé đoàn tụ dịp Memorial Day.
Đó là lúc chiến tranh không còn nằm trên bản đồ Trung Đông nữa mà nằm trong ví tiền người Mỹ.
Người giàu vẫn còn Delta. Người trung lưu còn có United hay American. Nhưng với hàng triệu người sống paycheck to paycheck, Spirit là chiếc van xả áp cuối cùng của một nước Mỹ đang ngày càng đắt đỏ.
Khi chiếc van ấy biến mất, thông điệp tâm lý rất tàn nhẫn xuất hiện: ở nước Mỹ của những cuộc chiến mới, ngay cả quyền được bay giá rẻ cũng đang trở thành xa xỉ.
Điều nguy hiểm cho Donald Trump nằm chính ở đó.
Bởi Nhà Trắng có thể nói về chiến thắng quân sự, về sức mạnh quốc gia, về việc răn đe Iran.
Nhưng rất khó thuyết phục một bà mẹ lao động ở Ohio hay một sinh viên ở Texas rằng chiến tranh đang “được kiểm soát” khi họ vừa thấy vé máy bay đội giá và một hãng hàng không bình dân sụp đổ.
Những cuộc chiến luôn bắt đầu bằng tiếng nổ ở xa, nhưng sự ủng hộ dành cho chúng thường chết đi bằng những hóa đơn rất gần.
Spirit Airlines, chiếc máy bay vàng hay delay mà người Mỹ nghèo vẫn cắn răng bay, hôm nay đã trở thành một hóa đơn như thế.
Có thể đây chỉ là hãng hàng không đầu tiên ngã xuống.
Nhưng nó là lời nhắc rõ ràng rằng: quả bom đầu tiên từ chiến tranh Iran không rơi vào Tehran… mà rơi thẳng vào túi tiền dân Mỹ.
Giá xăng trung bình ở California lên hơn $6 một gallon
April 30, 2026
LOS ANGELES, California (NV) – Giá xăng trung bình loại thường ở California lên hơn $6 một gallon hôm Thứ Năm, 30 Tháng Tư, giữa lúc giá dầu vượt quá $120 một thùng, theo nhật báo The Orange County Register.
Đối với nhiều quận hạt Nam California, giá xăng hiện tại cao nhất kể từ năm 2023 tới nay. Thực ra, nhiều nơi ở vùng này, giá xăng đã trên $6 từ lâu, nhất là những khu nhà giàu ở Los Angeles.
Giá xăng tại trạm xăng Chevron ở Los Angeles, California, hôm 28 Tháng Tư. (Hình: Frederic J. Brown/ AFP via Getty Images)
Hôm Thứ Năm, giá xăng trung bình loại thường ở Orange County tăng 2.3 cent lên $6.07 một gallon, cao nhất từ Tháng Mười, 2023. Giá xăng ở quận hạt này tăng chín ngày liên tiếp, tổng cộng 22.2 cent, theo dữ liệu Hiệp Hội Xe Hơi Mỹ (AAA) và Cơ Quan Thông Tin Giá Dầu (OPIS).
Giá xăng trung bình ở Orange County hôm Thứ Năm tăng 18.4 cent so với một tuần trước, 13.8 cent so với một tháng trước và $1.344 so với một năm trước. Giá xăng này tăng $1.433 từ khi cuộc chiến Iran nổ ra hôm 28 Tháng Hai.
Ở Los Angeles County, giá xăng tăng lên $6.10 một gallon, cao nhất từ ngày 5 Tháng Mười, 2023. Giá xăng ở quận hạt này tăng tám ngày liên tiếp, tổng cộng 18.4 cent. Trước đó, giá xăng giảm 14 ngày liên tiếp, tổng cộng 12.8 cent.
Giá xăng trung bình ở Los Angeles County hôm Thứ Năm tăng 15.5 cent so với một tuần trước, 11 cent so với một tháng trước và $1.328 so với một năm trước. Giá xăng này tăng $1.41 từ khi cuộc chiến Iran nổ ra, và chỉ còn 39 cent nữa là bằng kỷ lục $6.494 ngày 5 Tháng Mười, 2022.
Ở Inland Empire, giá xăng trung bình tiến gần $6 một gallon hôm Thứ Năm. Giá xăng ở Riverside County lên $5.94, cao nhất từ ngày 5 Tháng Mười, 2023, còn ở San Bernardino County lên $5.97.
Hôm Thứ Năm, giá xăng trung bình loại thường ở Mỹ tăng 7.1 cent lên $4.30, cao nhất từ 27 Tháng Sáu, 2022. Giá xăng trung bình cả nước tăng tám ngày liên tiếp, tổng cộng 28 cent, gồm 5.3 cent hôm Thứ Tư.
Giá xăng trung bình ở Mỹ hôm Thứ Năm tăng 26.9 cent so với một tuần trước, 31 cent so với một tháng trước và $1.117 so với một năm trước. Giá xăng này tăng $1.318 từ khi cuộc chiến Iran nổ ra, và chỉ còn 71.6 cent nữa là bằng kỷ lục $5.016 ngày 14 Tháng Sáu, 2022. (Th.Long) [kn]
‘Gangster’ gốc Việt ‘Tony Playboy’ bị ICE bắt chờ trục xuất sau khi ở tù 35 năm
May 1, 2026
HOUSTON, Texas (NV) – Cảnh Sát Di Trú (ICE) vừa bắt giữ ông Nguyễn Tống Duy Minh, được biết là “gangster” gốc Việt nổi tiếng với biệt danh “Tony Playboy,” hôm 16 Tháng Tư, sau khi người này mãn hạn tù 35 năm trong bản án 45 năm ở tiểu bang Texas vì tội giết người.
Thông cáo của ICE hôm 28 Tháng Tư cho biết ông Minh đang bị cơ quan này giam giữ chờ làm thủ tục trục xuất.
Ông Nguyễn Tống Duy Minh, “gangster” gốc Việt nổi tiếng với biệt danh “Tony Playboy,” khi bị bắt. (Hình: ICE)
Theo ICE, “Tony Playboy” từng có liên hệ với Nomads, một băng đảng đường phố người Việt, hoạt động tại khu vực Houston. Băng đảng này nổi tiếng với những cuộc chiến giành lãnh địa đầy bạo lực và các vụ đột nhập nhà cư dân.
“Vào năm 1988, ông Minh bắt đầu tự phong mình là thủ lĩnh của một phe phái riêng. Ngay sau đó, một cuộc chiến giành lãnh địa nổ ra xoay quanh vấn đề địa bàn, danh dự, và phụ nữ. Kẻ có biệt danh ‘Tony Playboy’ này dẫn dắt phe nhóm của mình đi thanh trừng các thành viên đối địch trong băng đảng Nomads,” ICE cho biết.
“Ông Minh đến Hoa Kỳ với tư cách thường trú nhân hợp pháp vào năm 1980, nhưng đã đánh đổi thẻ xanh của mình để chọn một cuộc sống bạo lực băng đảng và sát hại hai người ngay trên đất Mỹ,” ông Todd Lyons, quyền giám đốc ICE, được trích lời nói.
Nghi can Nguyễn Tống Duy Minh lúc ở tù. (Hình: ICE)
Vào ngày 30 Tháng Giêng, 1989, ông Minh tham gia một vụ đấu súng tại tiệm bánh mì Givral’s ở khu vực Little Saigon, Houston. Vụ đấu súng này khiến hai người thiệt mạng và ba người khác bị thương.
“Trong khi hầu hết các thành viên băng đảng khác đều bị bắt giữ, thì nghi can trốn thoát được,” ông Todd Lyons cho biết trong thông báo.
Một tập của chương trình America’s Most Wanted tường thuật câu chuyện này cùng hình ảnh của ông Minh vào ngày 14 Tháng Giêng, 1990. Tập phim thu hút chú ý của dư luận đối với vụ án. Sau đó, ông Minh bị bắt giữ vào cuối tháng ở Canada. Một tháng sau, ông bị áp giải từ Toronto về Texas và bị giam giữ tại nhà tù Harris County. Bồi thẩm đoàn sau đó tuyên án ông phạm tội đối với tất cả các cáo buộc chỉ sau vài giờ nghị án.
“Tony Playboy” sau khi mãn hạn tù và bị ICE bắt giữ chờ trục xuất. (Hình: ICE)
Nghi phạm bị kết án về tội giết người vào Tháng Năm, 1990, bị tuyên 45 năm tù giam tại nhà tù tiểu bang, mặc dù các công tố viên từng cân nhắc đề nghị mức án tử hình. Các luật sư của nghi can kháng cáo, nhưng tòa kháng án giữ nguyên phán quyết của tòa sơ thẩm vào Tháng Tư, 1991.
Vào đầu những năm 1990, vụ án thanh trừng băng đảng của “Tony Playboy” đóng vai trò như một hồi chuông cảnh tỉnh đối với đại đa số công chúng về mức độ nghiêm trọng của bạo lực băng đảng trong các cộng đồng tại Mỹ, theo ICE.
Đối với một số người, “Tony Playboy” từng trở thành một biểu tượng tội phạm trong văn hóa đại chúng trong một khoảng thời gian ngắn. Giới chức di trú bắt đầu tiến hành thủ tục trục xuất đối với người này vào năm 1991, và đến năm 1998, Hội Đồng Kháng Cáo Di Trú chính thức ban hành lệnh trục xuất cuối cùng.
Sau hơn ba thập niên trong nhà tù, ông Minh bị ICE tại Houston giam giữ ngay sau khi ông được trả tự do. Và ICE đang làm thủ tục trục xuất ông. (K.L) [đ.d.]
30 tháng Tư. Một phút mặc niệm thương tiếc hơn 3 triệu người Việt Nam…
30 tháng Tư. Một phút mặc niệm thương tiếc hơn 3 triệu người Việt Nam hai bên chiến tuyến, đã nằm xuống trong cuộc chiến huynh đệ tương tàn.
#CàPhêBuổiSáng #ĐiểmBáo #30thángTư #VềThămLạiQuêHương #ThànhPhốSàiGòn #Lethanhhoangdan #NhữngNgàyHưuTrí
30 THÁNG 4
Xuyên Sơn
Xin các bạn nói chuyện với tôi đừng bao giờ nhắc đến từ ăn mừng ngày giải phóng 30 tháng 4 nhe, nếu các bạn còn coi tôi là bạn, bởi với tôi đó là một tháng 4 đen vì giải phóng vô đây có vạn người vui nhưng có triệu người buồn !
Hình 1:
Thiếu tá Đặng Sĩ Vinh vị sĩ quan QLVNCH đã tuẫn tiết cùng với vợ con khi hay quân CSBV đã tiến chiếm Saigon, ông thà chết vinh hơn sống nhục
Hình 2:
Trung tá Cảnh Sát Quốc Gia Nguyễn Văn Long tự sát trước tượng đài Thủy Quân Lục Chiến tại Saigon trong ngày 30 tháng 4 !
Ông chấp nhận cái chết chớ không muốn rơi vào tay giặc thù !
Anh Hùng Tử Khí Hùng Bất Tử
Mẹ Việt Nam Ơi,
Con Xin Tạ Lỗi Dưới Chân Người .!
Nguồn: fb Si Ngo
CÚ SỐC GIÁO DỤC MIỀN NAM QUA GÓC NHÌN CỦA GIẢNG VIÊN MIỀN BẮC…
Nhân ngày 30/4 báo chí thỉnh thoảng có những bài ghi lại những cảm nhận của những người từ miền ngoài vào ‘tiếp quản’ Sài Gòn lúc đó (1975).
Bài này (đăng ngày 30/4/2018) do Vietnamnet chạy cái tít hơi giật gân, nhưng nội dung thì rất đáng đọc vì viết về cảm nhận về nền giáo dục thời trước 1975 của một người trong cuộc.
Ts Nguyễn Kim Hồng là cựu hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm TPHCM (trước đây là một phân khoa của Viện Đại học Sài Gòn thời VNCH).
Ông kể rằng khi được phân công vào ‘tiếp quản’ nơi đây, ông đã bị sốc.
Cú sốc đầu tiên là ông ‘không ngờ Sài Gòn lớn và đẹp đến như vậy.’
Vào phân khoa sư phạm, ông ngạc nhiên khi thấy cơ sở vật chất của phân khoa tốt hơn hẳn ngoài Hà Nội.
Thời đó mà đã có các camera truyền hình ảnh trực tiếp. Về giảng viên, ông nhận xét rằng:
“Trong lĩnh vực khoa học xã hội, theo tôi những giảng viên trước 1975 ở miền Nam được đào tạo tốt hơn.”
Nhưng ông còn sốc hơn khi tiếp xúc với sinh viên miền Nam. Ông nói:
“Sinh viên Sài Gòn rất lễ phép. Đa phần sinh viên Sài Gòn thời điểm đó đều xưng con với tôi, mặc dù tôi chỉ hơn họ 3-4 tuổi thôi.
Việc khoanh tay để chào khách, chào thầy, cô ở miền Bắc được coi là hiếm nhưng ở Sài Gòn lại như một điều tất nhiên.
Tôi cảm giác nhà trường và các gia đình Nam Bộ chú ý nhiều hơn đến việc dạy lễ cho con em mình.
[…]
Tôi cho rằng trước năm 1975, họ đã được dạy về những giá trị cá nhân của con người nên không bao giờ để chuyện này xen vào công việc, vào đời sống chính trị. Đó là những điểm văn hóa rất khác với người miền Bắc.”
Nhà văn Vương Trí Nhàn cũng có những nhận xét về nền văn học, giáo dục miền Nam và người Nam giống giống như vậy. Ông còn cho biết rằng nhiều người miền Bắc khi vào miền Nam đều nghĩ vậy nhưng chẳng ai viết ra. Nhưng Ts Nguyễn Kim Hồng và Nhà văn Vương Trí Nhàn thì viết ra, và họ đóng góp vào một cái nhìn công tâm hơn về nền giáo dục thời xưa. Nhà văn viết:
“Nhìn rộng ra thấy không chỉ kinh tế tốt hơn mà giáo dục miền Nam lúc đó cũng hơn; không chỉ đường xá tốt, mà tư cách cá nhân của con người trong đó nói chung cũng trưởng thành hơn con người miền Bắc, trình độ hiểu biết và tuân thủ luật pháp tốt, giữa người với người có mối quan hệ tử tế, thanh thiếu niên lúc đó ham học và biết học hơn.”
Ngày nay, một số bạn trẻ cứ thắc mắc hỏi tại sao những người có tuổi thường hay nhắc về nền giáo dục thời xưa, thì hai vị này đã giúp cho họ có câu trả lời. Hồi đó, triết lý giáo dục được tóm lược trong 3 chữ: nhân bản, dân tộc, và khai phóng.
* Nhân bản có nghĩa là lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản; xem con người như một cứu cánh chứ không phải như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng phái, hay tổ chức nào khác. Với triết lí nhân bản, mọi người có giá trị như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.
* Dân tộc có nghĩa là đề cập đến việc tôn trọng giá trị truyền thống của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp, và quốc gia. Giáo dục phải bảo tồn và phát huy được những tinh hoa hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Dân tộc tính trong văn hóa cần phải được các thế hệ biết đến, bảo tồn và phát huy, để không bị mất đi hay tan biến trong những nền văn hóa khác.
* Khai phóng có nghĩa là cởi mở và cấp tiến, không phải đóng cửa và bảo thủ. Sẵn sàng tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới.
Thời gian gần đây nhiều học giả than phiền rằng Việt Nam chưa có một triết lý giáo dục.
Theo tôi, cứ lấy triết lý Nhân bản – Dân tộc – Khai phóng làm nền tảng cho nền giáo dục là thực tế nhứt, chẳng cần phải đi tìm đâu xa xôi.
(Thanks. Bài của Những Công Dân tự do…)
VIỆT LUẬN
















