Vì sao Nhất Linh Nguyễn Tường Tam tự tử?

Xuân Hồng 

Vì sao Nhất Linh Nguyễn Tường Tam tự tử?

Thấy có một số bạn kết án TT Ngô Đình Diệm đã ” ép” Nhất Linh chết. Mọi thứ đều có nguồn cơn

Văn nhân kiêm chánh trị gia Nhất Linh Nguyễn Tường Tam sanh ngày 25-7-1905 tại Cẩm Giàng, Hải Dương

Ông là học sinh trường Bưởi Hà Nội. Năm 1923 đậu tiểu học, năm 1924 học y và mỹ thuật ở Hà Nội, nhưng sau đó bỏ ngang hông

Năm 1926, vào Nam Kỳ, qua Miên

Năm 1927, sang Pháp, nghiên cứu nghề báo và xuất bản. Năm 1930, tốt nghiệp cử nhơn khoa học giáo khoa chuyên ngành lý hoá tại Pháp

Trở về nước, Nguyễn Tường Tam dạy học tại trường Thăng Long và Gia Long Hà Nội.

Năm 1932, làm giám đốc báo Phong Hoá.

Năm 1933, thành lập Tự Lực Văn Đoàn. Nhất Linh là cây bút trụ cột của Tự Lực Văn Đoàn

Hồi năm 1939 Nhất Linh hoạt động chánh trị, lập đảng chống Pháp lấy tên là Hưng Việt sau đổi thành Đại Việt Dân Chính

Năm 1942, Nguyễn Tường Tam sang Trung Quốc hoạt động trong Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội với Nguyễn Hải Thần và Hồ Chí Minh

Sau đó, ông về Việt Nam Quốc Dân Đảng làm Bí thư trưởng của Việt Nam Quốc dân Đảng (Đại Việt Dân chính đảng hợp nhứt với Việt Nam Quốc dân đảng và Đại Việt Quốc dân đảng)

Năm 1945 Nguyễn  Tường Tam tham gia Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất  làm Phó chủ tịch, Nguyễn Hải Thần Chủ tịch, và là đối lập với Việt Minh

Sau dưới áp lực của Tưởng Giới Thạch, Nguyễn Tường Tam giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao trong Chánh phủ Liên hiệp Kháng chiến của ông Hồ Chí Minh

Ngày 5-3-1946, Nguyễn Tường Tam từ chức bộ trưởng ngoại giao và tháng 12-1946 bỏ qua Tàu cùng với cựu hoàng Bảo Đại

Năm 1949, Nguyễn Tường Tam trở về Hà Nội, tuyên bố không hoạt động chánh trị nữa 

Năm 1953, ông lên Đà Lạt ở ẩn, 1958 trở về Sài Gòn hoạt động văn nghệ

Năm 1960 thời VNCH của TT Ngô Đình Diệm, Nhất Linh tham gia thành lập Mặt trận Quốc dân đoàn kết, ủng hộ đại tá Nguyễn Chánh Thi và trung tá Vương Văn Đông đảo chánh tấn công dinh Độc Lập nhằm lật đổ TT Ngô Đình Diệm vào ngày 11/11/1960

Vụ đảo chánh bất thành

Những người cầm đầu như Vương Văn Đông, Hoàng Cơ Thuỵ, Nguyễn Chánh Thi chạy thoát sang Cam Bốt

Những chính khách ở lại đều bị bắt gồm: Phan Quang Đán, Phan Khắc Sửu, Vũ Hồng Khanh, Phan Bá Cầm, Bùi Lượng, Trần Văn Tuyên, Nguyễn Xuân Chữ, Đinh Xuân Quảng, Nguyễn Thành Phương, Nguyễn Thành Vinh, Vĩnh Lợi, Trần Tương, Trương Bảo Sơn, luật sư Lê Ngọc Chấn và …..Nhất Linh Nguyễn Tường Tam

TT Ngô Đình Diệm đã nương tay với Nhất Linh

Tội “xâm phạm an ninh quốc gia” tham gia đảo chánh là tội nặng phải bắt nhốt vô tù, nếu tại ngoại bị giam lỏng thì 3 ngày trước khi xét xử phải bị giam, nhưng riêng Nhất Linh Nguyễn Tường Tam thì không bị giam ngày nào

Nguyễn Tường Tam bị điều tra sơ khởi tại Nha Cảnh Sát, nha an ninh quân đội và thẩm tòa án quân sự đặc biệt

Ông khai ông không biết gì đảo chánh

TT Diệm cho bắt giam hết các nhân sĩ và lãnh tụ đảng phái và giáo phái khác, không trừ một ai,nhưng trừ Nhất Linh Nguyễn Tường Tam khi ông này vẫn ở nhà chung cư chợ An Đông, tất nhiên bị an ninh canh chừng

Phiên tòa sẽ xét xử ngày 08/07/1963

Chủ tọa phiên tòa “viết thơ mời” Nguyễn Tường Tam chứ không phải ra trát đòi yêu cầu ông ngày đó nhớ đi hầu tòa.

Ai dè ngày  7-7-1963 Nguyễn Tường Tam tự sát bằng thuốc

Ra tòa đặng làm sáng tỏ, cũng là thể hiện bản lãnh người làm chánh trị, nhưng ông không ra tòa, ông tự sát

Chúng ta thắc mắc, vậy rốt cuộc Nhất Linh có dính cuộc đảo chánh TT Ngô Đình Diệm hay không?

Trong một bài viết,con trai ông là Nguyễn Tường Thiết viết:

“Sau này được tiếp xúc với Giáo Sư Nguyễn Thành Vinh, một đàn em cũng là đồng chí của ông cụ, anh Vinh xác nhận với tôi: “Anh Tam đã tuyên bố không làm chính trị, vì vậy anh đứng ngoài, anh chỉ ủng hộ ngầm việc làm của các anh em mà thôi. Tất cả các buổi họp quan trọng trước ngày đảo chánh đều không có mặt anh Tam. Tuy nhiên anh được thông báo mọi diễn tiến. Vì vậy anh Tam biết trước có vụ đảo chánh xẩy ra.”

Nhất Linh có dính cuộc đảo chánh

Ông Thiết viết và lý giải vì sao cha ông là ông Nguyễn Tường Tam được tự do ở nhà trong khi đồng sự, đàn em bị bắt tạm giam hết

(Trích)

” Sự việc không bắt cha tôi, ngoài lý do không có bằng cớ, tôi cho còn là một sự tính toán cân nhắc lợi hại của chính quyền họ Ngô chứ chưa hẳn do cảm tình riêng của ông Diệm đối với ông cụ tôi như nhiều người nghĩ.

Thứ nhất không bắt ông cụ để ông cụ vô can tức là chứng tỏ cho dân chúng biết Nhất Linh không hề bất mãn và phản đối chế độ ông Diệm.

Thứ hai họ nghĩ rằng chặt hết tay chân của ông cụ tôi thì ông cụ tôi còn làm gì được nữa?

Nhưng không bắt bớ không có nghĩa là để cho ông cụ tôi được hoàn toàn tự do.

Trong cuốn “Nhất Linh Cha Tôi” trang 36 tôi ghi lại lời của cha tôi nói với tôi buổi sáng ngày 7 tháng 7, 1963: “Cậu chẳng sợ kết quả (ra tòa) ngày mai ra sao vì ở nhà hay ở tù thì cũng mất tự do như nhau.” (Hết trích)

Nhất Linh chọn ngày song thất 7 tháng 7 năm 1963 tự tử chết là trù và rủa ông Diệm vì ông lên làm Tổng Thống cũng vào ngày song thất

Nhất Linh để lại di ngôn 71 chữ :

“Đời tôi để lịch sử xử, tôi không chịu để ai xử cả. Sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử Đối lập Quốc Gia là một tội nặng sẽ làm cho nước mất về tay Cộng Sản. Tôi chống đối sự đó và tự hủy mình cũng như Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để cảnh cáo những người chà đạp mọi thứ tự do,Nhất Linh Nguyễn Tường Tam.7-7-1963”

Ông  noi gương ông  Thích Quảng Đức

Có ba nhận định về cái chết của Nhất Linh

Chúng ta hậu thế đọc đủ 3 dòng này

– Ông Nguyễn Văn Lục viết sách nói Nhất Linh “tự tử vì căn bệnh tâm thần” từ trước, tức có chứng bịnh suy nhược thần kinh và ông đã muốn chết từ trước 

-Lê Nguyên Phu nói Nhất Linh chết  “tự tử để tránh khỏi phải ra tòa đối chất với thuộc hạ”

Và thứ ba là của những người chống đối TT Diệm và của gia đình Nhất Linh nói Nhất Linh Nguyễn Tường Tam tự tử chết để phản đối  sự xâm phạm quyền tự do ngôn luận của chế độ TT Ngô Đình Diệm Ngô, chống lại gia đình trị độc tài

Ai hiểu sao cứ hiểu

Trong lịch sử, từ xưa đã có nhiều trí thức tự chọn cách tự tử một cách tiêu cực để rủ bỏ nợ trần ai

Khuất Nguyên là bậc đại trí thức thời kì chiến quốc, ông ôm giữ tấm lòng tận trung báo quốc với tài năng, đức độ và sự chánh trực của mình.

Thế nhưng có lẽ ông chỉ là một ngọn đuốc lẻ loi, một kỵ binh đơn thương độc mã, cuối cùng Khuất Nguyên ôm bọc đá nhảy xuống sông Mịch La tự trầm

“Tránh điều lỗi, mặc đời xoi mói!

Nén chí xưa, cam nỗi xót xa.

Thánh hiền xưa cũng như ta,

Thẳng ngay mà chết, ấy là chết trong”

(Ly tao-Khuất Nguyên)

Đời Hậu Trần, vua tôi Trùng Quang Đế,Đặng Dung, Nguyễn Súy khi rơi vào tay quân Minh đều tự vẫn, đó là tấm gương trung liệt cho đời

“Đầu bạc giang san thù chửa trả,

Long Tuyền mấy độ bóng trăng soi”

(Đặng Dung-Cảm hoài)

Quan Phan Thanh Giản sau khi giao thành trì cũng tự vẫn để giữ tròn khí tiết

Chúng ta không ca ngợi và đề cao cái chết của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, nhưng cũng không dám phê phán nó, làm chánh trị mà hở chút …tự tử chết thì hao người lắm. Nhưng cũng tôn trọng sự lựa chọn của ông

Chánh trị kiểu ông Thích Quảng Đức cũng là tạo sự kiện chánh trị thôi

Vũ Hoàng Chương có viết bài văn tế Nhất Linh, lấy hai câu kết bài

“Than ôi! Đời chính trị lông hồng gieo núi Thái, ngẩng đầu lên sấm sét vẫn chưa nguôi;

Việc văn chương một tấc để ngàn thu, ngoảnh mặt lại đá vàng sao khỏi thẹn.”

Chúng ta hậu thế, phải đọc và hiểu rõ nguồn gốc, ngọn ngành để tránh bị dẫn đường như người mù trong bóng tối.

Theo FB Nguyễn gia Việt


 

Có một thời như thế đó! – Tác giả: Vũ Đông Hà

Nếu ai hỏi tôi rằng sau ngày 30 tháng 4, 1975 cái gì mà cộng sản không thể “giải phóng” được; cái gì vẫn âm thầm nhưng vũ bão giải phóng ngược lại tâm hồn khô khốc của người dân miền Bắc lẫn nhiều cán binh cộng sản; cái gì vẫn miệt mài làm nhân chứng cho sự khác biệt giữa văn minh và man rợ, giữa nhân ái và bạo tàn, giữa yêu thương và thù hận; cái gì đã kết nối tâm hồn của những nạn nhân cộng sản ở cả hai miền Nam Bắc… 

              *****     Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam *****

Nếu ai hỏi tôi, ảnh hưởng lớn nhất để tôi trở thành người ngày hôm nay, biết rung động trước hình ảnh của Ngoại già lầm lũi quang gánh đổ bóng gầy dưới ánh đèn vàng, biết nhung nhớ một khe gió luồn qua hai tấm ván hở của vách tường ngày xưa nhà Mẹ, biết man mác buồn mỗi khi đến hè và trống vắng với một tiếng gà khan gáy ở sau đồi, biết tiếc nuối một mặt bàn lớp họckhắc nhỏ chữ tắt tên người bạn có đôi mắt người Sơn Tây, biết ngậm ngùi trăn trở chỉ vì một tiếng rao hàng đơn độc đêm khuya… 

Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.    

Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành một chất keo gắn chặt cuộc đời tôi vào mảnh đất mang tên Việt Nam. Âm Nhạc Miền Nam đã làm tôi là người Việt Nam.

*Tôi lớn lên theo những con đường đất đỏ bụi mù trời và cây reo buồn muôn thuở. Niềm say mê âm nhạc đơm mầm từ các anh lớn của Thiếu và Kha đoàn Hướng Đạo Việt Nam, trổ hoa theo những khúc hát vang vang của các anh giữa vùng trời Đạt Lý đang vào mùa cà phê hoa trắng nở: 

*Tôi muốn mọi người biết thương nhau. Không oán ghét không gây hận sầu. Tôi muốn đời hết nghĩa thương đau. Tôi muốn thấy tình yêu ban đầu…”

* Các bậc đàn anh như nhạc sĩ Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang của Phượng Hoàng đã lót đường nhân ái cho đàn em nhỏ chúng tôi chập chững trở thành người, để biết ngước mặt nhìn đời và :

“cười lên đi em ơi, dù nước mắt rớt trên vành môi, hãy ngước mặt nhìn đời, nhìn tha nhân ta buông tiếng cười…”

* Những đêm tối, giữa ngọn đồi nhiều đại thụ và cỏ tranh, bên nhau trong ánh lửa cao nguyên chập chờn, chúng tôi cảm nhận được niềm hãnh diện Việt Nam với bước chân của cha ông và bước chân sẽ đi tới của chính mình: 

“Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng. Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm. Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng chân tươi. Ôm vết thương rĩ máu ta cười dưới ánh mặt trời…”

* Và anh Nguyễn Đức Quang, người nhạc sĩ của thị xã đèo heo hút gió đã trở thành thần tượng của chúng tôi. Có những buổi chiều buông trong Rừng Lao Xao bạt ngàn, những đứa bé chúng tôi theo anh ngậm ngùi số phận 

* Xương sống ta đã oằn xuống, cuộc bon chen cứ đè lên. Người vay nợ áo cơm nào, thành nợ trăm năm còn thiếu. Một ngày một kiếp là bao. Một trăm năm mấy lúc ngọt ngào. Ôi biết đến bao giờ được nói tiếng an vui thật thà.

* Nhưng cũng từ anh đã gieo cho chúng tôi niềm lạc quan tuổi trẻ: 

“Hy vọng đã vươn lên trong màn đêm bao ưu phiền. Hy vọng đã vươn lên trong lo sợ mùa chinh chiến. Hy vọng đã vươn lên trong nhục nhằn tràn nước mắt. Hy vọng đã vươn dậy như làn tên…”

* Và từ anh, chúng tôi hát cho nhau *”Không phải là lúc ta ngồi mà đặt vấn đề nữa rồi. Mà phải cùng nhau ta làm cho tươi mới.”

* Cô giáo Việt văn của tôi đã mắng yêu tôi – tụi em thuộc nhạc Nguyễn Đức Quang hơn thuộc thơ của Nguyễn Công Trứ! 

Nguyễn Công Trứ. Đó là ngôi trường tuổi nhỏ có cây cổ thụ già, bóng mát của tuổi thơ tôi bây giờ đã chết. Tôi nhớ mãi những giờ cuối lớp tại trường, Cô Trâm cho cả lớp đồng ca những bài hát Bạch Đằng Giang, Việt Nam Việt Nam,

Về Với Mẹ Cha… Đứa vỗ tay, đứa đập bàn, đứa dậm chân, chúng tôi nở buồng phổi vang vang lên:

 “Từ Nam Quan, Cà Mau. Từ non cao rừng sâu Gặp nhau do non nước xây cầu. Người thanh niên Việt Nam. Quay về với xóm làng. Tiếng reo vui rộn trong lòng…” 

*Nhìn lên lớp học lúc ấy, có những biểu ngữ thủ công nghệ mà cô dạy chúng tôi viết: 

*Tổ quốc trên hết, Ngày nay học tập ngày sau giúp đời, Không thành công cũng thành Nhân.*.. 

Nhưng đọng lại trong tôi theo năm tháng vẫn là những câu hát :

“Tình yêu đây là khí giới, Tình thương đem về muôn nơi, Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người…”

* Cô giáo của tôi đã ươm mầm Lạc Hồng vào tâm hồn của chúng tôi và cứ thế chúng tôi lớn lên theo dòng suối mát, theo tiếng sóng vỗ bờ, theo tiếng gọi lịch sử của âm nhạc Việt Nam, để trở thành những công dân Việt Nam yêu nước thương nòi và hãnh diện về hành trình dựng nước, giữ nước của Tổ tiên. 

Trong cái nôi nhiều âm thanh êm đềm nhưng hùng tráng ấy, trừ những ngày tết Mậu Thân khi tiếng đạn pháo đì đùng từ xa dội về thành phố, cho đến lúc chui xuống gầm giường nghe tiếng AK47 và M16 bắn xối xả trước nhà vào ngày 10 tháng 3, 1975, tuổi thơ tôi được ru hời bởi dòng nhạc trữ tình của miền Nam để làm nên 

*Những Ngày Xưa Thân Ái*của chúng tôi.

*Những ngày xưa thân ái xin buộc vào tương lai*

*Anh còn gì cho tôi tôi còn gì cho em*

*Chỉ còn tay súng nhỏ giữa rừng sâu giết thù*

*Những ngày xưa thân ái xin gởi lại cho em…*

Các anh, những người anh miền Nam đã khoác áo chinh nhân lên đường đối diện với tử sinh, làm tròn lý tưởng Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm, đã hy sinh cuộc đời các anh và để lại sau lưng các anh những ngày xưa thân ái cho đàn em chúng tôi. Nhờ vào các anh mà chúng tôi có những năm tháng an lành giữa một đất nước chiến tranh, triền miên khói lửa.

Lần đầu tiên, chiến tranh tưởng như đứng cạnh bên mình là khi chúng tôi xếp hàng cúi đầu đưa tiễn Thầy của chúng tôi, là chồng của cô giáo Việt Văn, một đại úy sĩ quan Dù đã vị quốc vong thân. 

Cô tôi, mồ côi từ nhỏ, một mình quạnh quẻ, mặc áo dài màu đen, tang trắng, đứng trước mộ huyệt của người chồng còn trẻ. Cô khóc và hát tặng Thầy lần cuối bản nhạc mà Thầy yêu thích lúc còn sống :

“Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo… Đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa! Trên cõi đời này, trên cõi đời này. Từ nay mãi mãi không thấy nhau…”

* Và tôi say mê Mùa Thu Chết từ dạo đó. Trong những cụm hoa thạch thảo đầy lãng mạn ấy có đau thương đẫm nước mắt của Cô tôi. Có hình ảnh lá cờ vàng ba sọc đỏ phủ nắp quan tài của người Thầy Đại úy Sĩ quan Binh chủng Nhảy Dù vào mùa Hè hầm hập gió Nồm năm ấy.

Từ những ngày xa xăm tuổi nhỏ, những người lính VNCH là thần tượng của chúng tôi . Tôi mơ được làm một người lính Dù bởi *anh là loài chim quý, là cánh chim trùng khơi vạn lý, là người ra đi từ tổ ấm để không địa danh nào thiếu dấu chân anh*, và cuối cùng anh bi hùng ở lại Charlie. 

Giữa những đau thương chia lìa của chiến tranh, những dòng nhạc của Trần Thiện Thanh đã cho tôi biết thương yêu, kính trọng những người lính không chân dung nhưng rất gần trong lòng chúng tôi. Những *”cánh dù ôm gió, một cánh dù ôm kín đời anh”* cũng là những cánh dù ôm ấp lý tưởng đang thành hình trong tâm hồn tuổi nhỏ của chúng tôi.

Nhìn lại quãng thời gian binh lửa ấy, tôi nhận ra mình và các bạn cùng lứa không hề biết rõ Phạm Phú Quốc là ai, chỉ biết và say mê huyền sử của một người được 

*”Mẹ yêu theo gương người trước chọn lời. Đặt tên cho anh, anh là Quốc. Đặt tên cho anh, anh là Nước. Đặt tên cho Người. Đặt tình yêu Nước vào nôi”*, chỉ ước ao một ngày chúng tôi cũng được như anh, cũng sẽ là những 

*”Thần phong hiên ngang chẳng biết sợ gì!”.*

Chúng tôi, nhiều đứa núi đồi, rừng rú, chưa bao giờ thấy biển nhưng thèm thuồng màu áo trắng và đại dương xanh thẳm, thuộc lòng câu hát 

*”Tôi thức từng đêm, thơ ấu mà nghe muối pha trong lòng. Mẹ là mẹ trùng dương, gào than từ bãi trước ghềnh sau. Tuổi trời qua mau, gió biển mặn nuôi lớn khôn tôi. Nên năm hăm mốt tuổi, tôi đi vào quân đội. Mà lòng thì chưa hề yêu ai”* .

Chúng tôi cũng không tìm đọc tiểu sử, cuộc chiến đấu bi hùng của Đại tá Nhảy Dù Nguyễn Đình Bảo, cũng không biết địa danh Charlie nằm ở đâu, nhưng Đại tá Nguyễn Đình Bảo là biểu tượng anh hùng của chúng tôi để chúng tôi thuộc lòng khúc hát 

*”Toumorong, Dakto, Krek, Snoul. Trưa Khe Sanh gió mùa, đêm Hạ Lào thức sâu. Anh! Cũng anh vừa ở lại một mình, vừa ở lại một mình. Charlie, tên vẫn chưa quen người dân thị thành.”*

Chúng tôi không biết “Phá” là gì, “Tam Giang” ở đâu, nhà thơ Tô Thùy Yên là ai, nhưng 

“*Chiều trên phá Tam Giang anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ ôi niềm nhớ đến bất tận. Em ơi, em ơi…” *đã thân thiết chiếm ngự tâm hồn để chúng tôi biết thương những người anh chiến trận đang nhớ người yêu, nhớ những người chị, cô giáo của chúng tôi ngày ngày lo âu, ngóng tin từ mặt trận xa xăm.

Trong cái nôi của những ngày xưa thân ái ấy, từ nơi khung trời đầy mộng mơ của mình chúng tôi chỉ biết đến nỗi niềm của các anh bằng những 

*”Rừng lá xanh xanh lối mòn chạy quanh, Đời lính quen yêu gian khổ quân hành”*. 

Giữa mùa xuân pháo đỏ rộn ràng con đường tuổi thơ thì chính âm nhạc nhắc cho những đứa bé chúng tôi biết đó cũng là *”ngày đầu một năm, giữa tiền đồn heo hút xa xăm, có người lính trẻ, đón mùa xuân bằng phiên gác sớm”*.

Giữa những sum vầy bình an bên cạnh mai vàng rực rỡ, thì ở xa xăm có những người con rưng rưng nhớ đến Mẹ già và gửi lời tha thiết 

*”bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường, không lẽ riêng mình êm ấm, Mẹ ơi con xuân này vắng nhà…”* 

Âm nhạc Việt Nam đã gieo vào tâm hồn chúng tôi hình ảnh rất bình thường, rất người, nhưng lòng ái quốc và sự hy sinh của thế hệ đàn anh chúng tôi – những người lính VNCH – thì ngời sáng. 

Và chúng tôi biết yêu thương, khâm phục, muốn noi gương các anh là cũng từ đó.

Sau ngày Thầy hy sinh, chúng tôi gần gũi với Cô giáo Việt Văn của mình hơn. Nhiều đêm thứ bảy, tôi và các bạn ghé nhà thăm Cô. Đó là lúc chúng tôi đến với Một thời để yêu – Một thời để chết. Chúng tôi bắt đầu chạm ngõ tình yêu với những Vũng lầy của chúng ta, Con đường tình ta đi, Bây giờ tháng mấy,

Ngày xưa Hoàng Thị, Tình đầu tình cuối, Em hiền như Ma Soeur, Trên đỉnh mùa đông, Trả lại em yêu… 

Đó là lúc Cô đọc thơ Chiều trên Phá Tam Giang của Tô Thùy Yên cho chúng tôi nghe, giảng cho chúng tôi về tài nghệ “thần sầu” của Trần Thiện Thanh trong lời nhạc *”anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ… ôi niềm nhớ…….. đến bất tận. Em ơi… em ơi!…”* khi diễn tả nỗi nhớ ngút ngàn, và sau đó chú Trần Thiện Thanh Toàn – em ruột của nhạc sĩ Nhật Trường ở Sài Gòn lên thăm Cô, vừa đàn vừa hát. 

Những buổi tối này, mình tôi ở lại với Cô tới khuya. Cô đọc thơ và hát nhạc phổ từ thơ của Nguyễn Tất Nhiên, chỉ cho tôi tính lãng đãng của lời nhạc Từ Công Phụng, khắc khoải của Lê Uyên Phương, mượt mà của Đoàn Chuẩn – Từ Linh, sâu lắng của Vũ Thành An… 

Và qua âm nhạc, Cô kể tôi nghe chuyện tình của Cô và Thầy. Hai người đến với nhau khởi đi từ bản nhạc mà Cô hát khi Cô còn là nữ sinh Đệ Nhất và Thầy là Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. 

Bản nhạc ấy có những dòng như sau:

*”Nhưng anh bây giờ anh ở đâu*

*con ễnh ương vẫn còn gọi tên anh trong mưa dầm*

*tên anh nghe như tiếng thở dài của lòng đất mẹ*

*Dạo tháng Ba tên anh lẫn trong tiếng sấm đầu mùa mưa*

*nghe như tiếng gầm phẫn nộ đến từ cuối trời.”*

Thầy và cô tôi yêu nhau từ sau khúc hát Người Tình Không Chân Dung và *”người chiến sĩ đã để lại cái nón sắt trên bờ lau sậy này” * cũng là định mệnh Thầy, của cuộc tình bi thương giữa một cô giáo trẻ và người lính VNCH. 

Cô tôi sống một mình và qua đời vào năm 2010. Bạn cùng lớp của tôi là Phương lùn, vào một ngày cuối năm, từ Sài Gòn trở về Ban Mê Thuột, xách đàn đến trước mộ Cô và hát lại :

*”Ta ngắt đi một cụm hoa Thạch Thảo”* để thay mặt những đứa học trò thơ ấu kính tặng hương hồn của Cô. Còn tôi, năm tháng trôi qua nhưng tôi biết rõ trong dòng máu luân lưu và nhịp đập của tim mình vẫn đầy tràn những thương yêu mà Cô đã gieo vào tôi bằng Âm Nhạc Miền Nam.

Một buổi tối chúng tôi ngồi hát với nhau. Các bạn từ Hà Nội, Nam Định, Yên Bái, Đà Nẵng, Sài Gòn… nhưng chỉ có mình tôi là sinh ra và lớn lên trước 1975. Các bạn tôi, hay đúng ra là những người em đang cùng đồng hành trên con đường đã chọn, đã thức suốt đêm hát cho nhau nghe. Rất tự nhiên, rất bình thường: toàn là những ca khúc của miền Nam thân yêu.

Đêm hôm ấy, cả một quãng đời của những ngày xưa thân ái trong tôi sống lại. Sống lại từ giọng hát của những người em sinh ra và lớn lên trong lòng chế độ độc tài. Các em hát cho tôi nghe về những người lính miền Nam mà các em chưa bao giờ gặp mặt :

*”Anh sẽ ra đi nặng hành trang đó, đem dấu chân soi tuổi đời ngây thơ, đem nỗi thương yêu vào niềm thương nhớ, anh sẽ ra đi chẳng mong ngày về…”.*

Tôi hát cho các em mình về những ngày tháng mộng mơ trước “giải phóng” của những :

“*Con đường tuổi măng tre, nắng vàng tươi đẹp đẽ, bóng người dài trên hè, con đường tình ta đi…

“* Các em tâm sự về cảm nhận đối với người lính VNCH qua những dòng nhạc êm đềm, đầy tình người giữa tàn khốc của chiến tranh: 

“*Tôi lại gặp anh, người trai nơi chiến tuyến, súng trên vai bước lê qua đường phố; tôi lại gặp anh, giờ đây nơi quán nhỏ, tuổi 30 mà ngỡ như trẻ thơ…

“* Tôi chia sẻ với các em về nỗi ngậm ngùi quá khứ:

 *”Như phai nhạt mờ, đường xanh nho nhỏ, hôm nay tình cờ, đi lại đường xưa đường xưa. Cây xưa còn gầy, nằm phơi dáng đỏ, áo em ngày nọ, phai nhạt mây màu, âm vang thuở nào, bước nhỏ tìm nhau tìm nhau”…*

Đêm ấy, khi các bạn nói lên cảm nhận về những mượt mà, êm ả, nhân ái của Âm Nhạc Miền Nam, tôi đã tâm sự với các bạn rằng:

–  Chỉ cần lắng nghe và hát lên những dòng nhạc ấy, các em sẽ hiểu thấu được những mất mát khủng khiếp của con người miền Nam.

Những mất mát không chỉ là một cái nhà, một mảnh đất, mà là sự mất mát của cả một đời sống, một thế giới tâm hồn, một đổ vỡ không bao giờ hàn gắn lại được. Khi những mượt mà, nhân ái ấy đã bị thay thế bởi những :

*”Bác cùng chúng cháu hành quân” *và *”Tiến về Sài Gòn” *thì các em hiểu được tuổi thanh xuân và cuộc đời của những thế hệ miền Nam đã bị đánh cắp hay ăn cướp như thế nào.

Gần 42 năm trôi qua, Âm Nhạc Miền Nam vẫn như dòng suối mát trôi chảy trong tâm hồn của người dân Việt. Chảy từ đồng bằng Cửu Long, xuôi ngược lên Bắc, nhập dòng sông Hồng để tưới mát tâm hồn của mọi người dân Việt đang bị thiêu đốt bởi ngọn lửa bạo tàn cộng sản.

Dòng suối trong mát ấy cũng cuốn phăng mọi tuyên truyền xảo trá của chế độ về xã hội, con người miền Nam trước 1975 cũng như về tư cách, phẩm giá, lý tưởng của những người lính VNCH và tình cảm trân quý, yêu thương của người dân miền Nam dành cho họ.

Gần 42 năm trôi qua, trong tuyệt vọng của những kẻ thật sự đã thua trận trong cuộc chiến giữa chính nghĩa và gian tà, nhà cầm quyền cộng sản đã tìm mọi cách để tiêu diệt Âm Nhạc Miền Nam. 

Nhưng họ không biết rằng, dòng âm nhạc đó không còn là những bản in bài hát, những CD được sao chép, bán buôn.. 

Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành máu huyết và hơi thở của người dân Việt, bất kể Bắc – Trung hay Nam, bất kể sinh trưởng trước hay sau 1975.

Bạo tàn và ngu dốt có thể đem Âm Nhạc Miền Nam vào những danh sách cấm đoán vô tri vô giác, nhưng không bao giờ đem được Âm Nhạc Miền Nam ra khỏi con người Việt Nam.

Ai giải phóng ai? Hãy hỏi* Con Đường Xưa Em Đi* và đốt đuốc đi tìm xem *Bác Cùng Chúng Cháu Hành Quân* đang nằm trong cống rãnh nào trên những con đường Việt Nam!!!

Tác giả: Vũ Đông Hà 

From: Tu-Phung


 

63 NGƯỜI DÂN TƯƠNG TÁC VỚI KÊNH CỦA ÔNG LÊ TRUNG KHOA BỊ “BẾ LÊN ĐỒN”

Việt Tân 

 63 NGƯỜI DÂN TƯƠNG TÁC VỚI KÊNH CỦA ÔNG LÊ TRUNG KHOA BỊ “BẾ LÊN ĐỒN”

Vừa qua, công an tỉnh Quảng Ngãi đã triệu tập 63 người dân với cáo buộc “tương tác, chia sẻ thông tin xấu độc” trên mạng xã hội. Và kênh mà những người này thường xuyên tương tác là của ông Lê Trung Khoa, người từng bị chính quyền Việt Nam kết án vắng mặt 17 năm tù giam bởi cáo buộc “tuyên truyền chống phá nhà nước”.

Hai trong số 63 người bị triệu tập lần này đã phải đóng phạt 12,5 triệu đồng, những người còn lại “may mắn” hơn chỉ bị răn đe.

Cả một chính quyền cộng sản với hàng triệu tay sai, là công an, dân phòng, bảo vệ dân phố, thế mà lại sợ một người đàn ông ngoài 50 tuổi, lại còn sống cách Việt Nam gần nửa vòng trái đất.

Chỉ vài lời nói của ông Lê Trung Khoa có thể làm cả chế độ cộng sản run sợ. Tại sao? Chỉ có thể là vì những lời ông ấy nói là sự thật, là điều mà chính quyền luôn muốn che giấu. Chế độ này không thể bịt miệng ông Khoa như cách họ vẫn thường làm với dân thường trong nước, nên chỉ biết đe dọa những người yếu thế hơn.

Thay vì tìm cách bịt miệng những người đối đầu, chính quyền nên dành thời gian chăm lo cho đời sống của người dân. Vì cây ngay thì sẽ không sợ bị chết đứng.


 

Số lính thương vong trong cuộc chiến Ukraine vượt 2 triệu

Ba’o Nguoi – Viet

July 2, 2026

KIEV, Ukraine (NV) – Hơn 2 triệu binh sĩ Nga và Ukraine tử trận hoặc bị thương trong bốn năm Nga xâm lăng Ukraine, theo kết quả nghiên cứu mới hôm Thứ Tư, 1 Tháng Bảy, New York Times đưa tin.

Cuộc chiến Ukraine có lẽ đã vượt qua trận Stalingrad thời Đệ Nhị Thế Chiến, trận chiến được coi là đẫm máu nhất lịch sử, theo CNN.

Lính Ukraine khiêng quan tài anh Yaroslav Varnak, 23 tuổi, tử trận trong cuộc chiến với Nga, ở Kiev hôm 8 Tháng Sáu. (Hình: Tetiana Dzhafarova/AFP via Getty Images)

Theo kết quả nghiên cứu được Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược và Quốc Tế (CSIS) ở Mỹ công bố, Nga bị tổn thất nặng hơn: 1.4 triệu quân thiệt mạng hoặc bị thương kể từ Tháng Hai, 2022, khi ông Vladimir Putin, tổng thống Nga, xua quân qua xâm lăng Ukraine.

Trong số đó, 450,000 tử trận, nhiều gấp bốn lần số lính Mỹ thiệt mạng trong tất cả cuộc chiến từ Đệ Nhị Thế Chiến cộng lại.

Ukraine có 525,000 tới 625,000 lính tử trận hoặc bị thương, trong đó, số người thiệt mạng khoảng 125,000 tới 150,000.

Giới chức từng cảnh báo rất khó ước tính số thương vong trong cuộc chiến này vì họ cho rằng Nga thường đếm bớt đi con số thực sự, còn Ukraine không tiết lộ số thương vong chính thức của nước này. Cuộc nghiên cứu của CSIS dựa vào con số mà chính phủ Anh và Mỹ và một số nguồn khác ước tính.

“Những con số này đáng kinh ngạc,” ông Seth G. Jones và ông Riley McCabe, hai người thực hiện cuộc nghiên cứu này, cho hay.

Về thương vong, Nga ngày càng bị tổn thất nhiều hơn Ukraine nhiều, ông Jones và ông McCabe cho biết. Trong sáu tháng đầu năm nay, tỉ số thương vong có lẽ tăng lên gần 8:1, nghĩa là cứ mỗi lính Ukraine thiệt mạng hoặc thương vong thì tám lính Nga bị như vậy, theo hai ông này.

Hầu hết bốn năm chiến tranh, tỉ số đó khoảng hai tới ba lính Nga thiệt mạng hoặc thương vong so với một lính Ukraine bị như vậy. Ông Jones và ông McCabe cho hay tỉ số đó hiện đang tăng lên vì Ukraine đạt tiến bộ trong chương trình “drone” (máy bay điều khiển từ xa), đặc biệt là có thể mở rộng “vùng tiêu diệt” xung quanh tiền tuyến.

Ở Nga, số thương vong trong cuộc chiến này không xảy ra đều khắp nơi: Vùng nghèo hơn và sắc tộc thiểu số có lính thương vong nhiều hơn. Tin tức về những ngôi làng nhỏ, hẻo lánh hầu như không còn đàn ông đang trở nên phổ biến trên báo chí đối lập ở nước này. Và theo cuộc nghiên cứu của CSIS, hiện tại, số quân mà Nga tuyển thêm không theo kịp số thương vong mà nước này đang hứng chịu. (Th.Long)


 

Về già chỉ nên trông cậy vào tiền bạc

Lê Đình Hùng

Mai Ton T TuyetNHỮNG BÀI POST HAY.

«Về già chỉ nên trông cậy vào tiền bạc»: Kết luận chuẩn xác của một người đàn ông lớn tuổi.

(Trích dẫn của K.A.A – Về Hạnh phúc – Thật đơn giản)

****

«Tiền bạc còn tốt hơn con cháu và thứ tình yêu giả tạo của chúng».

Gửi các đồng niên và tất cả những ai vẫn còn đang nghĩ rằng tuổi già là câu chuyện về sự an nhàn và vui vầy bên con cháu.

Tôi không phải nhà tâm lý học, tôi chỉ là một người đàn ông bình thường. Tôi đã sống 65 năm trên đời, trong đó 5 năm cuối là những năm tháng hạnh phúc, bất chấp mọi bệnh tật.

Tôi muốn nói ra những điều người ta thường không dám nói thành tiếng, để tránh làm vỡ mộng những kỳ vọng của người khác.

Tại sao tôi lại hạnh phúc? Chính vì tôi đã nhận ra một điều đơn giản.

Đến năm 60 tuổi, tôi hiểu ra điều cốt lõi: Trở thành nhà vô địch ở độ tuổi này không có nghĩa là chạy nhanh hơn tất cả mọi người.

Nó có nghĩa là biết cách sống sót dưới áp lực, khi cơ thể đau nhức, còn tâm lý thì lung lay vì huyết áp, tiểu đường và đủ thứ bệnh tật. Và đó chính xác là thực tế tuổi già của tôi.

Mà tuổi già, các bạn ạ, có một đặc tính rất khốn nạn — nó luôn giáng những đòn chí mạng vào những niềm hy vọng.

Tôi từng hy vọng các con mình sẽ sống ở gần. Nhưng con trai tôi đã chuyển đến Moscow, lấy vợ thành phố, và cô con dâu thì bảo thẳng là “thấy ngại” khi phải về vùng quê hẻo lánh của chúng tôi.

Con gái tôi thì ở Serbia, chồng nó là một cậu trai tốt. Nhưng quá xa xôi. Cậu con trai út sống cách tôi không xa, có ba đứa con trai — tức là ba đứa cháu nội của tôi. Cứ ngỡ thế là: «Đến đây với ông nào».

Lúc nhỏ thì đúng là như thế. Nhưng cứ hễ chúng lên 13 tuổi một cái là hết. Ông chẳng còn cần thiết nữa. Chúng chỉ nhớ đến ông khi cần tiền.

Quan sát những người ở độ tuổi trên 55, tôi đã rút ra vài kết luận cay đắng.

Bắt đầu từ nỗi thất vọng lớn nhất — Con cái.

Chúng ta sinh chúng ra, đầu tư tất cả vào chúng, rồi ngồi chờ chúng sẽ trở thành chỗ dựa cho mình. Sẽ không có chuyện đó đâu. Con cái không cứu nổi bạn khỏi sự cô đơn.

Thực ra, chúng chẳng cứu bạn khỏi bất cứ điều gì cả. Nếu chúng ở ngay cạnh bạn — điều đó có nghĩa là bạn đang cướp đi cuộc sống của chúng và bào mòn tài nguyên của chúng.

Tôi đã chứng kiến những người phụ nữ quen biết già đi nhanh chóng vì phải chăm sóc mẹ già, khi các bà mẹ hút cạn những năm tháng thanh xuân của con gái mình.

*Đàn ông không có quyền làm như vậy.

Phụ nữ có lẽ có thể — họ có những vai trò khác. Nhưng tôi nói với tư cách là một người đàn ông: Con cái hoàn toàn tự do và không nợ nần gì bạn cả.

Chúng có cuộc sống riêng. Chúng là niềm vui, là lý do để bạn mỉm cười, nhưng không phải là cái nạng của bạn khi về già, cũng không phải là tấm bảo hiểm cho một cái kết đột ngột.

Tự nhiên đã an bài rằng đàn ông là “vật liệu tiêu hao” và các ông già thì phải ra đi trước các bà già.

Sự quan tâm của con cái chỉ là một phần thưởng thêm (bonus), không hơn không kém. Đòi hỏi chúng phải quan tâm liên tục là sự ích kỷ thuần túy của tuổi già, thứ biến bạn thành một đứa trẻ hay hờn dỗi. Đừng tự cho phép mình trở nên như vậy.

Bây giờ là về những thứ thực sự có thể dựa dẫm: Sức khỏe và Tiền bạc.

Đó mới là nguồn vốn chính.

Không phải con cái, không phải các mối quan hệ, cũng không phải công lao trong quá khứ. Chỉ có những gì bạn có thể sờ thấy và tiêu được mà thôi. Những điều giản đơn đã trở thành cứu cánh của tôi. Không vội vã — đó là luật.

Hãy chấp nhận tuổi tác, tự giới hạn bản thân, và đừng chen chân vào những nơi dành cho giới trẻ.

Lương hưu không phải là cuộc sống, đó là sự sinh tồn.

Trông cậy vào nhà nước là tự hạ thấp lòng tự trọng của mình. Tuổi già của bạn là trách nhiệm của chính bạn. Lương hưu chỉ là khoản bố thí từ nhà nước. Họ cũng muốn bỏ mặc bạn lắm chứ, nhưng vì bạn là cử tri, nên họ phải giữ cho bạn không bị chết đói.

Vì vậy, chỉ nên tính toán dựa trên số tiền tiết kiệm của chính mình — dù ít ỏi, nhưng phải là của cá nhân bạn. Chúng mang lại sự tự tin. Chúng cho bạn quyền tự do xoay xở.

Những kết luận cuối cùng mà tôi đã ghi lại trong nhật ký:

*Thứ nhất: Tiền bạc đáng tin hơn con cái. Nghe có vẻ phũ phàng? Đúng vậy. Nhưng đó là thực tế.

  Tiền của bạn là tiền của bạn. Tiền của con cái là tiền của chúng. Nếu con cái tự nguyện giúp đỡ — hãy hạn chế sự nhiệt tình đó của chúng. Đàn ông là người tạo ra nguồn lực, chứ không phải đi tước đoạt.

*Thứ hai: Sức khỏe là mối quan tâm hàng đầu của bạn. Suốt cả cuộc đời. Nhưng từ năm 60 tuổi, nó là một chế độ đặc biệt.

Nếu không đủ sức để đứng dậy và ép bản thân làm điều gì đó — tất cả những thứ khác đều mất đi ý nghĩa. Tuyệt đối mọi thứ.

*Thứ ba: Đừng mong đợi bất cứ điều gì từ bất kỳ ai. Cuộc sống của bạn — ngày vui của bạn. Tự mình tổ chức — tự mình ăn mừng. Họ không đến — thì thôi, chẳng sao cả.

*Thứ tư: Tuổi già có cái lợi của nó. Ốm yếu có cái lợi. Yếu đuối có cái lợi. Nhưng tất cả những điều đó đều là sự ích kỷ. Một thứ lợi ích sai lầm. Tuổi già là dành cho những người mạnh mẽ. Những kẻ yếu đuối sẽ bị chìm nghỉm trong đó.

*Thứ năm: Thời trẻ chúng ta sống vì tương lai. Sau tuổi 60, phải sống cho hiện tại. Không có tương lai nào cả. Cuộc đời là hữu hạn. Ở tuổi 60 của chúng ta, cha mẹ hầu như đều đã ra đi. Và chính họ đã tặng cho chúng ta sự thấu hiểu về cái kết của đời người. Vì vậy, phải sống cho kịp. Không phải để tích lũy — mà là để sống cho kịp.

Tuổi già là kỳ thi bài bản về sự trưởng thành.

Đó là một giải đấu vô địch. Đó là một trò chơi roulette. Con đường này bạn sẽ phải đi một mình — ốm đau, yếu ớt, bất lực, già nua, lú lẫn. Kỳ thi này sẽ không có ai thi hộ bạn cả. Con cái yêu thương bạn ư?

Tuyệt vời. Sự giúp đỡ của chúng là phần thưởng thêm, không phải là nền tảng vững chắc.

Lựa chọn rất đơn giản — sự cam chịu (thuận theo tự nhiên).

Cam chịu không phải là yếu đuối. Đó là lòng dũng cảm để chấp nhận sự thật. Hoặc là bạn chấp nhận tuổi già và tự xây dựng kịch bản cá nhân theo luật chơi của nó.

Hoặc là bạn ngồi chờ một phép màu không bao giờ đến. Bởi vì cái kết sẽ đến. Không một lời cảnh báo. Nhưng nếu bạn đã chấp nhận điều đó — bạn đã là người chiến thắng rồi.

Tôi đã học được cách tự ăn mừng một mình.

Như vậy đối với tôi dễ dàng hơn.

Vợ tôi mất cách đây 6 năm vì bạo bệnh. Tôi không muốn có thêm bất kỳ ai ở bên cạnh mình nữa.

(LĐH* st & dịch) 


 

50 NĂM ĐỔI TÊN: BẢN SẮC CỦA SÀI GÒN LÀ TỰ DO

BBC News Tiếng Việt  

50 NĂM ĐỔI TÊN: BẢN SẮC CỦA SÀI GÒN LÀ TỰ DO

Lịch sử, cùng với vinh quang của người này là nỗi tổn thương, mất mát của người khác song hành trong một cộng đồng dân tộc.

Sài Gòn, thủ đô của một Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, được thay tên bằng Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã tròn 50 năm [ngày 2/7/1976].

Cái tiếc nhất của tôi là bầu khí trí thức và khoáng đạt của đại học, sự sôi động của báo chí và văn học nghệ thuật thuở đó.

Giờ đây, chúng ta có phố đi bộ Nguyễn Huệ rộng rãi hơn, vẫn có thể dễ dàng thưởng thức một ly nước mía mát lạnh, những chiếc bánh pâté chaud nóng và cà phê ngon ở bất cứ đâu.

Nhưng chắc chắn không thể tìm thấy một môi trường học thuật tự do, cùng cái mã thượng hay sự tôn trọng sự khác biệt chính kiến của nhau như thời đó.

Bạn học, trong chúng tôi, ai theo Việt Cộng, ai theo Thiệu – Kỳ, ai làm mật thám chỉ điểm… ai cũng biết ai. Nhưng chúng tôi vẫn chơi với nhau. Không có đấu tố.

Chúng tôi tự in sách báo, tạp chí… tự do biểu đạt tư tưởng, tự do sáng tác. Chúng tôi chửi Mỹ, giễu cợt Thiệu – Kỳ. Chúng tôi chống chiến tranh, chúng tôi xuống đường và chúng tôi cũng đi lính… diệt Cộng.

Chúng tôi tôn trọng sự khác biệt chính kiến, tư tưởng và lối sống của nhau. Đấy là tự do và chúng tôi không dùng tự do của mình để chà đạp tự do của người khác.

Mời các bạn đọc toàn bài của nhà văn Nguyễn Viện gửi cho BBC trong link bài viết dưới phần bình luận.

#BBCNewsTiengViet #SaiGon #TPHCM #lichsu – BBC News Tiếng Việt

Các bạn đọc bài ở đây: https://www.bbc.com/vietnamese/articles/cn4d218e8zzo

 

Người hành hương đổ về Tắc Sậy trước lễ Tuyên Phong Chân Phước cha Trương Bửu Diệp

Ba’o Nguoi-Viet

June 30, 2026

CÀ MAU, Việt Nam (NV) – Mặc dù còn hai ngày nữa mới đến ngày lễ Tuyên Phong Chân Phước Linh Mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp (Cha Trương Bửu Diệp) nhưng người hành hương từ khắp nơi đã đổ về Trung Tâm Hành Hương Tắc Sậy, xã Phong Thạnh, tỉnh Cà Mau, trải chiếu ngủ lại để chờ ngày chính lễ đặc biệt này.

Nghi thức Tuyên Phong Chân Phước cho Cha Trương Bửu Diệp sẽ chính thức bắt đầu lúc 8 giờ sáng 2 Tháng Bảy tới đây tại Trung Tâm Hành Hương Tắc Sậy, nhưng từ hôm 29 Tháng Sáu, nhà thờ Tắc Sậy đã bắt đầu đón những đoàn người từ các tỉnh Điện Biên, Hưng Yên, Hà Nội, Vĩnh Long… tìm về. Họ đến sớm để có một chỗ nghỉ ở nhà thờ và chờ đợi ngày mà nhiều người nói rằng mình “đã mong từ rất lâu.”

Từ hôm 29 Tháng Sáu, nhà thờ Tắc Sậy đã bắt đầu đón những đoàn người hành hương từ các nơi tìm về dự lễ. (Hình: Chúc Ly/VnExpress)

Nói với báo Thanh Niên, ông Đào Văn Song, 61 tuổi, ở tỉnh Hưng Yên, cho biết mình cùng đoàn người trong làng đi hai xe đò 50 chỗ vào miền Tây. Chuyến đi kéo dài gần hai ngày nhưng cảm giác nhẹ nhõm khi đặt chân đến nơi mình mong muốn.

“Chúng tôi đi sớm mấy ngày vì sợ đông quá không vào được. Vào được tới đây rồi thì yên tâm,” ông Song vui vẻ cho biết.

Còn bà Dương Thị Đâu, 71 tuổi, ở Vĩnh Long, cho biết nhóm của bà đã lên kế hoạch từ nhiều tháng trước khi hay tin lễ Tuyên Phong Chân Phước cho Cha Diệp sẽ được tổ chức ở Tắc Sậy.

“Đi sớm để có chỗ nằm. Đi trễ đông người quá sẽ khó ở lại. Mình chờ ngày này lâu rồi nên không muốn bỏ lỡ,” bà Đâu nói.

Khi trời dần tối, nhiều người tranh thủ nghỉ ngơi, trong khi một số người vẫn tiếp tục đi lại trong khuôn viên nhà thờ. Không khí khá yên tĩnh dù lượng người đổ về ngày một đông, khác với hình dung của nhiều người về một sự kiện dự kiến đón hàng chục ngàn người tham dự.

Theo báo VnExpress, chiều 30 Tháng Sáu (giờ Việt Nam), Đức Hồng Y Luis Antonio G. Tagle, 69 tuổi, người Philipines, quyền tổng trưởng Bộ Loan Báo Tin Mừng của Tòa Thánh Vatican, cũng đã đến Hà Nội để thay mặt Đức Thánh Cha Leo XIV làm chủ sự lễ Tuyên Phong Chân Phước cho Cha Trương Bửu Diệp.

Đức Tổng Giám Mục Marek Zalewski, đại diện Tòa Thánh tại Việt Nam, cùng hai Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Năng và Vũ Văn Thiên, chủ tịch và phó chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, đã đến đón Đức Hồng Y Tagle.

Đức Hồng Y Luis Antonio G. Tagle (cầm hoa) được Đức Tổng Giám Mục Marek Zalewski, đại diện Tòa Thánh Việt Nam và Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đón tại phi trường Nội Bài, Hà Nội. (Hình: Đức Dũng/VnExpress)

Theo Linh Mục Giuse Võ Văn Hoài, chánh sở Họ Tắc Sậy, đây là lần đầu tiên sau gần 500 năm kể từ khi Công Giáo vào Việt Nam, một lễ Tuyên Phong Chân Phước được tổ chức tại Việt Nam thay vì tại Vatican.

Dự trù hôm 1 Tháng Bảy tại nhà thờ Tắc Sậy sẽ có bốn Thánh Lễ từ sáng đến chiều.

Lễ đài 10,000 chỗ ngồi, khuôn viên đối diện nhà thờ Tắc Sậy hiện đã hoàn thiện, sẵn sàng phục vụ giáo dân, khách hành hương dự lễ.

Ngoài ra, còn có khu nhà nghỉ trước lễ dành cho đức hồng y và các đức giám mục, khu ẩm thực sau lễ và nhiều khu chức năng khác.

Các họ đạo trong giáo phận Cần Thơ đã tổ chức Tuần Cửu Nhật cầu nguyện cho đại lễ. Giáo dân vận động được 47,000 phần ăn sáng và 200,000 chai nước uống phục vụ người tham dự; chuẩn bị 1,850 áo lễ tặng các đức giám mục và linh mục, cùng 14,000 phần ăn dành cho khách mời trong sân lễ. (Tr.N)


 

Nhân cách Jimmy Carter-Đoàn Xuân Thu

Đoàn Xuân Thu

 Nhân cách Jimmy Carter

Có những con người mà khi họ đi qua đời sống chính trị, dấu chân của họ không dừng lại ở dinh tổng thống hay phòng họp quốc hội, mà còn in xuống những nền đất bùn, những khung nhà gỗ, và cả những bàn tay chai sạn của kẻ nghèo. Trong số hiếm hoi ấy, có một người Mỹ tên là Jimmy Carter – một cựu Tổng thống không chọn lui vào bóng mát quyền lực, mà lại chọn đứng giữa nắng gió công trường suốt mấy chục năm trời sau khi rời nhiệm sở.

Câu chuyện bắt đầu bằng một buổi sáng Chủ nhật tưởng như bình thường. Ông vừa tròn chín mươi lăm tuổi được năm ngày thì té ngã trong nhà, trán va vào cạnh sắc, phải vào bệnh viện khâu mười bốn mũi. Người ta tưởng sau cú ngã ấy, một con người ở tuổi “cổ lai hy” như vậy sẽ chịu nằm yên. Nhưng không. Vài hôm sau, ông xuất hiện với vết bầm đen trên mặt, băng trắng dán ngang trán, đội mũ bóng chày, bước lên sân khấu ở Nashville giữa tiếng vỗ tay của hàng trăm tình nguyện viên.

Và sáng hôm sau, ông lại có mặt ở công trường. Cầm búa.

Cái hình ảnh ấy, nếu nhìn bằng con mắt hành chánh thuần túy, có thể chỉ là một ông già “không biết giữ gìn sức khỏe”. Nhưng nếu nhìn bằng con mắt của một xã hội từng trải, nó lại giống như một lời tuyên ngôn lặng lẽ: con người này không sống để nghỉ ngơi, mà sống để tiếp tục làm việc có ích cho tha nhân.

Ông Carter sinh năm 1924 tại Plains, Georgia – một thị trấn bé đến mức nếu không để ý, người ta có thể chạy ngang mà tưởng chỉ là một trạm xăng cũ. Gia đình ông không có tiện nghi hiện đại trong những năm đầu đời. Điện, nước máy, những thứ mà thành thị xem là hiển nhiên, chỉ đến với ông khi đã gần tuổi thiếu niên. Cha là nông dân, mẹ là y tá – một người phụ nữ về sau, ở tuổi gần bảy mươi, lại tình nguyện tham gia Peace Corps, như thể đời sống vẫn chưa đủ dài để ngừng phục vụ người khác.

Trong môi trường ấy, khái niệm “phục vụ” không phải là khẩu hiệu chính trị. Nó là nếp sống.

Ông đi qua Hải quân Hoa Kỳ, rồi bước vào chính trường Georgia, làm Thống đốc, rồi trở thành Tổng thống thứ 39 của Hoa Kỳ từ năm 1977 đến 1981. Nhưng điều khiến người ta nhớ đến ông không nằm ở những bức tường Nhà Trắng, mà nằm ở điều xảy ra sau khi ông rời khỏi nơi đó.

Thông thường, cựu tổng thống là một vị trí nghỉ ngơi có tổ chức: diễn thuyết, hồi ký, cố vấn, quỹ từ thiện mang tên mình. Nhưng Carter lại rẽ sang một hướng khác, có phần… thô sơ hơn, nếu nói theo kiểu chính trị: ông cầm búa, đội mũ bảo hộ, đi xây nhà cho người nghèo.

Từ năm 1984, ông tham gia Habitat for Humanity – một tổ chức chuyên xây dựng và sửa chữa nhà ở cho người thu nhập thấp. Ban đầu, có lẽ ông nghĩ đó chỉ là một lần thử. Nhưng đời sống đôi khi không hỏi ý định ban đầu của con người. Nó chỉ lặng lẽ biến một thói quen thành định mệnh.

Carter không xây nhà một mình. Ông kéo theo vợ mình, bà Rosalynn Carter, đi từ công trình này sang công trình khác. Hai người già, giữa đám tình nguyện viên trẻ, cùng trộn hồ, đóng ván, dựng tường. Có khi họ xuất hiện ở New York, thấy một công trình thiếu người, liền xắn tay vào làm và gọi thêm người khác đến.

Người ta nói về “lãnh đạo bằng hành động” rất nhiều trong sách vở. Nhưng ở đây, nó không còn là lý thuyết. Nó là mùi gỗ mới cắt, là mồ hôi thấm áo, là những mái nhà hoàn thành cho những gia đình vốn không có gì ngoài hy vọng.

Trong hơn ba thập kỷ, vợ chồng Carter đã góp phần xây dựng, sửa chữa và phục hồi hàng ngàn căn nhà trên khắp thế giới. Không phải để ghi tên, mà để người khác có chỗ mà ghi địa chỉ.

Thế rồi đến năm 2015, ông bước vào một thử thách khác: ung thư di căn lên não. Ở tuổi chín mươi, với chẩn đoán ấy, người ta thường chuẩn bị cho đoạn kết. Nhưng Carter, vẫn với giọng bình thản lạ lùng, nói rằng ông đã có một cuộc đời đẹp và sẵn sàng cho bất cứ điều gì đến.

Nhưng y học hiện đại, với liệu pháp miễn dịch mới, lại viết thêm một đoạn khác cho câu chuyện ấy. Sau vài tháng điều trị, bệnh tình lui lại. Và ông tiếp tục trở lại công trường, như thể vừa rời một cuộc họp dài hơi.

Có một chi tiết rất nhỏ nhưng đáng nhớ: ông từng ngã lần nữa vào năm 2019, chấn thương hông. Người ta lại tưởng lần này ông sẽ dừng. Nhưng không lâu sau, ông lại xuất hiện, vẫn công việc cũ, vẫn nhịp búa cũ.

Rồi đến một buổi sáng Chủ nhật khác, năm chín mươi lăm tuổi, cú ngã trong nhà, mười bốn mũi khâu, gương mặt bầm tím. Nhưng chỉ vài ngày sau, ông lại đứng trên sân khấu Ryman Auditorium, và sáng hôm sau lại ra công trường.

Người ta có thể đặt câu hỏi: đây là nghị lực hay là cố chấp? Là lý tưởng hay là thói quen? Nhưng có lẽ, với Carter, ranh giới ấy không còn quan trọng. Bởi khi một đời sống đã gắn với việc “làm điều có ích”, thì việc dừng lại trở nên khó hiểu hơn việc tiếp tục.

Có một câu nói rất giản dị nhưng mang nhiều tầng nghĩa: “Some people talk about what they believe. Jimmy Carter built it.” – có người nói về điều họ tin, còn Carter thì xây nó lên.

Nếu nhìn rộng hơn, câu chuyện này không chỉ là tiểu sử của một cựu tổng thống Mỹ. Nó là một kiểu phản chiếu cho thời đại: thời đại mà quyền lực thường được đo bằng chức vụ, nhưng giá trị lâu dài lại được đo bằng mức độ con người đó có thể rời bỏ quyền lực mà vẫn tiếp tục hữu ích cho xã hội hay không.

Trong một thế giới mà danh vọng thường đi kèm với nghỉ ngơi, Carter chọn lao động. Trong một thời đại mà tuổi già thường được định nghĩa bằng sự rút lui, ông lại biến nó thành một dạng tiếp tục.

Ông qua đời ngày 29 tháng 12 năm 2024 tại Plains, Georgia, thọ một trăm tuổi – trở thành vị tổng thống sống thọ nhất lịch sử Hoa Kỳ. Nhưng điều đáng nói không phải là con số trăm năm ấy, mà là cách ông đã sử dụng gần như trọn vẹn thời gian sau khi rời quyền lực.

Người ta có thể đồng ý hoặc không đồng ý với các chính sách của ông khi còn tại vị. Lịch sử chính trị không bao giờ đơn giản. Nhưng khi nhìn lại phần đời sau cùng, khó ai có thể phủ nhận một điều: ông đã biến khái niệm “phục vụ công chúng” thành một hành vi kéo dài, không cần chức danh, không cần diễn đàn.

Trong một xã hội dễ mỏi mệt, nơi con người thường ngừng lại rất sớm vì nghĩ rằng mình đã “làm đủ”, hình ảnh một ông già chín mươi lăm tuổi đội mũ bóng chày, cầm búa trên công trường, có thể không giải quyết được vấn đề gì lớn lao. Nhưng nó gợi một câu hỏi khác, âm thầm hơn: rốt cuộc, chúng ta dừng lại vì đã hết khả năng, hay vì đã hết ý muốn?

Và có lẽ, chính ở chỗ đó, câu chuyện của Carter không kết thúc bằng cái chết, mà tiếp tục sống trong những căn nhà mà ông từng giúp dựng lên – nơi có người ở, có ánh đèn, có tiếng trẻ con, và có một dấu vết rất nhỏ của một người tin rằng việc sống là để làm điều gì đó cho người khác.

Đoàn Xuân Thu. (Melbourne)


 

BÁO CHÍ TP HCM: SỐNG SÔI NỔI VÀ CHẾT ÂM THẦM DƯỚI NGỌN CỜ CỦA ĐẢNG

BBC News Tiếng Việt

 BÁO CHÍ TP HCM: SỐNG SÔI NỔI VÀ CHẾT ÂM THẦM DƯỚI NGỌN CỜ CỦA ĐẢNG

(Photo by HOANG DINH NAM/AFP via Getty Images)

Hôm nay, báo giấy Tuổi Trẻ ra số cuối cùng. Những ngày kế tiếp, Tuổi Trẻ chỉ còn phiên bản điện tử.

Báo Người Lao Động, Pháp luật TP HCM, Phụ nữ TP HCM, Thời báo Kinh tế Sài Gòn… thì ngưng hẳn.

Một nền báo chí sôi động hậu 1975 ở Sài Gòn-TP HCM đã “hoàn thành sứ mệnh”.

Như một sự tái hiện lịch sử: Ngày này 45 năm trước, báo Tin Sáng của Lực lượng thứ ba cũng được chính quyền tuyên bố “đã hoàn thành nhiệm vụ”. Tin Sáng là tờ báo hiếm hoi trước 1975 được phép tái bản sau ngày Sài Gòn thất thủ, nhưng thời gian hoạt động cũng không dài.

Cùng nhìn lại nền báo chí cách mạng của thành phố thịnh vượng nhất nước trong 50 năm qua.

#BBCNewsTiengViet #BaochiVietNam #XahoiVietNam #ChinhtriVietNam


 

Tắc Sậy, ngày 2 Tháng Bảy: Khi Vatican phải đến tận một cánh đồng ở Cà Mau

Nguoi-Viet 

 Tắc Sậy, ngày 2 Tháng Bảy: Khi Vatican phải đến tận một cánh đồng ở Cà Mau

Vũ Đình Trọng tổng hợp

Suốt gần 500 năm, mọi nghi thức tuyên Chân Phước liên quan đến người Việt đều diễn ra ở Roma. Lần này, Vatican cử cả một Hồng Y bay sang Cà Mau. Sáng 2 Tháng Bảy, tại một khu đất 5 hécta đối diện nhà thờ Tắc Sậy, hơn 70,000 người sẽ đứng giữa nắng để chứng kiến giáo hội làm điều chưa từng làm cho một linh mục Việt Nam: mang nghi thức tuyên Chân Phước về đúng nơi ông đã sống và chết.

Người được vinh danh là linh mục Phanxicô Trương Bửu Diệp, cái tên giáo dân miền Tây vẫn gọi thân thương là “Cha Diệp.” Ông sinh ngày 1 Tháng Giêng, 1897 tại họ đạo Cồn Phước, An Giang. Thụ phong Linh mục năm 1924 ở Nam Vang. Sáu năm sau, ông về nhận xứ Tắc Sậy, và ở đó cho đến ngày cuối cùng.

Một quyết định không có trong sách giáo lý

Tháng Ba, 1946, chiến sự loạn lạc, quân Nhật bắt giữ cha Diệp cùng hơn 70 giáo dân. Ông được khuyên lánh đi. Ông từ chối, với một câu nói mà sau này trở thành biểu tượng: “Tôi sống giữa đoàn chiên và nếu có chết cũng giữa đoàn chiên.”

Sau lần thứ ba bị gọi đi “làm việc,” ông không trở về. Vài ngày sau, giáo dân tìm thấy xác ông tại một cái ao, vết chém ngang sau ót. Thi hài ban đầu được chôn tại họ đạo Khúc Tréo. Đến năm 1969 mới được cải táng về Tắc Sậy, nơi từ đó trở thành điểm hành hương lớn nhất miền Tây, đón cả người không theo Công Giáo.

Đó là phần lịch sử mà hầu như ai quan tâm đến Cha Diệp cũng đã biết. Phần ít người để ý nằm ở chỗ khác.

Mười ba năm cho một buổi sáng hai giờ

Án điều tra cấp giáo phận mở năm 2013. Hồ sơ hoàn tất năm 2017, chuyển sang Roma. Năm 2019, Bộ Phong Thánh xác nhận đủ căn cứ để khởi sự án. Phải đến 25 Tháng Mười Một, 2024, Đức Giáo Hoàng mới ký sắc lệnh công nhận đây là một vụ tử đạo thực sự, bị giết vì lòng căm thù đức tin, không phải một cái chết ngẫu nhiên giữa thời loạn.

Mười ba năm, để đi đến một buổi lễ kéo dài khoảng hai giờ.

Người chủ trì buổi lễ phong Thánh là Hồng Y Luis Antonio G. Tagle, 69 tuổi, người Philippines, Quyền Tổng Trưởng Bộ Loan Báo Tin Mừng, đặc phái viên do Giáo Hoàng Lêô XIV cử sang Việt Nam. Ông sẽ công bố Tông Sắc tuyên phong ngay tại lễ đài, trước sự chứng kiến của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và một số giám mục thuộc Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu.

Bài toán của 70,000 người và một trục đường

Giáo Phận Cần Thơ chia khu vực tổ chức thành hai phần: khu nhà thờ và phần mộ Cha Diệp chứa khoảng 25,000 người; khu đất 5 hécta đối diện làm quảng trường chính, chứa thêm khoảng 47,000. Cộng lại, ban tổ chức tính ra con số chính thức: hơn 70,000. Một lãnh đạo Sở Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch Cà Mau nói với báo giới con số thực tế có thể chạm tới 100,000.

Vấn đề không phải là chỗ ngồi. Vấn đề là một con đường.

Trước Trung Tâm Hành Hương chỉ có một trục lộ chính, Quốc Lộ 1. Công an Cà Mau quyết định không bố trí xe trung chuyển, vì thêm xe vào trục đường độc đạo đó chỉ khiến ùn tắc nặng hơn. Giải pháp: khách hành hương xuống xe tại một vòng xoay cách lễ đài 500 đến 700 thước, rồi đi bộ vào. Quốc Lộ 1 đoạn qua Tắc Sậy sẽ cấm xe hoàn toàn từ 4 giờ sáng đến 5 giờ chiều ngày 2 Tháng Bảy. Một bệnh viện dã chiến cùng các trạm y tế vệ tinh được dựng lên. Giáo dân trong giáo phận tự nguyện chuẩn bị hơn 40,000 phần ăn sáng miễn phí.

Không ai ra lệnh phải làm những việc đó. Nhưng tất cả đều được làm, cho một linh mục đã qua đời 80 năm.

Một chi tiết gia đình ít ai nhắc

Có một sợi dây ít xuất hiện trên các bản tin chính thức: Cha Diệp là bác họ của Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, cố Tổng Giám Mục Sài Gòn, và được ghi nhận có vai trò dẫn dắt vị hồng y này trên đường tu đạo. Một linh mục xứ nghèo ở Cà Mau, gián tiếp đặt nền cho một trong những vị giáo phẩm cao nhất của Công Giáo Việt Nam sau này, đó là một chi tiết nằm khuất phía sau những con số 70,000 người và hai giờ nghi thức.

Còn một chi tiết nhỏ hơn, mang tính kỹ thuật nhưng cũng đáng nói: theo sổ rửa tội tại họ đạo Cồn Phước, tên thánh chính xác của ông là “Phanxicô,” không có “Xaviê.” Nhưng phần lớn báo chí, kể cả văn bản giáo phận, vẫn dùng song song hai cách gọi, một sự nhầm lẫn nhỏ đã sống lâu hơn nhiều thứ khác.

Ngày 2 Tháng Bảy, khi Hồng Y Tagle công bố Tông Sắc giữa cánh đồng Cà Mau, đám đông 70,000 người đứng đó sẽ không ai hỏi về tên thánh hay những con số hậu cần. Họ đến vì một lý do đơn giản hơn nhiều: gần một thế kỷ sau cái chết của một linh mục nghèo, lòng tin của người dân vẫn đủ lớn để buộc cả Vatican phải thay đổi nơi tổ chức nghi thức. Câu hỏi còn lại, có lẽ không nằm ở giáo hội, mà ở chính những người sẽ đi bộ 700 thước dưới nắng sáng đó: điều gì, sau 80 năm, vẫn kéo người ta về một ngôi mộ ở Tắc Sậy?

***

Khu vực Thánh đường Tắc Sậy được chỉnh trang trước đại lễ Phong Thánh. Hình: Thanh Niên


 

 96 Tuổi, Clint Eastwood Và Sự Thật Không Phải Ai Cũng Muốn Nghe Về Tuổi Già

 My Lan Pham  

 96 Tuổi, Clint Eastwood Và Sự Thật Không Phải Ai Cũng Muốn Nghe Về Tuổi Già

Ở tuổi 96, Clint Eastwood đã phá vỡ mọi ảo tưởng dễ chịu về tuổi già. Ông không cố tô hồng thực tế, cũng không kể những câu chuyện an ủi rằng tuổi xế chiều chỉ toàn bình yên và hạnh phúc.

Trong một bài phát biểu gần đây, ông chia sẻ thẳng thắn về những thay đổi của cơ thể theo năm tháng. Xương khớp mất dần sự linh hoạt. Mọi cử động đều chậm hơn. Ánh sáng chói khiến đôi mắt đau nhức. Ngay cả việc hít thở đôi khi cũng trở thành một nỗ lực.

Và đó mới chỉ là khởi đầu.

Với phong thái cứng cỏi vốn đã trở thành dấu ấn của mình, Eastwood nói về điều mà rất nhiều người né tránh. Ông không hứa hẹn rằng tuổi già là khoảng thời gian thanh thản vô tận.

Thay vào đó, ông vẽ nên một bức tranh chân thực về những gì xảy ra khi một con người tiến gần đến cột mốc một thế kỷ.

“Ánh sáng làm đau mắt bạn, và ngay cả việc thở cũng có thể trở nên nặng nhọc. Cơ thể không còn hợp tác như trước nữa, và mỗi bước đi đều cần phải tính toán.”

Theo ông, sự suy yếu của xương và cơ bắp chỉ là phần nổi của tảng băng.

Điều nặng nề nhất của tuổi già lại nằm ở cảm xúc và tinh thần.

Khi bước sang tuổi chín mươi, thế giới quen thuộc quanh bạn thay đổi một cách sâu sắc.

Bạn nhìn lại và nhận ra rằng phần lớn những người từng biết mình khi còn trẻ, những người cùng chia sẻ ký ức, những câu chuyện cười chỉ riêng hai bên hiểu và những năm tháng khó khăn, giờ đây đều đã rời xa.

Vòng tròn những gương mặt thân quen ngày càng thu hẹp.

Điện thoại hiếm khi còn reo.

Nhịp sống chậm lại đến mức tĩnh lặng.

Viên thuốc đắng nhất không phải là những cơn đau thể xác.

Mà là cảm giác không còn ai thật sự muốn ngồi xuống và lắng nghe bạn.

Khi hiện tại trở nên cô đơn và yên ắng, con người tự nhiên tìm về quá khứ.

Eastwood cho rằng việc sống lại những ký ức cũ không phải là dấu hiệu của sự suy giảm trí nhớ.

Đó là cách con người tìm kiếm sự kết nối với chính cuộc đời mình.

Có lẽ vì vậy mà người già thường kể đi kể lại cùng một câu chuyện, thêm vào vài chi tiết nhỏ rồi lại quay về những ký ức quen thuộc.

Không phải vì họ muốn khoe khoang hay chiếm lấy cuộc trò chuyện.

Mà vì ở đó, họ từng mạnh mẽ, từng được yêu thương và từng có ý nghĩa.

“Bạn thấy mình cứ lặp lại những câu chuyện cũ, thêm vài chi tiết, không phải để thuyết phục ai, mà chỉ để cảm thấy mình vẫn còn gắn kết với điều gì đó. Bạn cố truyền lại những điều mình biết cho thế hệ trẻ, ngay cả khi nhìn thấy sự chán nản trong ánh mắt của họ.”

Chúng ta đang sống trong một xã hội coi tuổi thọ như một chiếc cúp chiến thắng.

Mọi người chúc mừng ai đó chỉ vì họ sống đủ lâu.

Nhưng lại quên mất sự cô đơn khủng khiếp đi kèm với tuổi thọ ấy.

Chúng ta ca ngợi cái mới, cái nhanh và sự kết nối không ngừng.

Trong khi gần như không còn chỗ cho nhịp sống chậm rãi, lặp lại và bình lặng của những người rất già.

Clint Eastwood là một huyền thoại điện ảnh.

Nhưng những lời ông nói không chỉ dành cho riêng mình.

Đó cũng là tiếng lòng của biết bao cụ ông, cụ bà vô danh đang sống ở khu phố của chúng ta hay lặng lẽ ngồi trong những bữa cơm gia đình.

Họ là những thư viện sống của lịch sử.

Trong họ chứa đựng những câu chuyện đã góp phần tạo nên thế giới mà chúng ta đang sống hôm nay.

Khi chúng ta chậm lại một chút, cất điện thoại sang một bên và thật lòng lắng nghe, điều kỳ diệu sẽ xảy ra.

Khoảng cách giữa các thế hệ được thu hẹp.

Cuối cùng, những nếp nhăn trên gương mặt người già không chỉ là dấu vết của thời gian.

Đó là tấm bản đồ của một cuộc đời đã được sống trọn vẹn.

Và được ngồi bên họ, lắng nghe hành trình ấy, chính là một đặc ân.

#MyLanPham #ClintEastwood #TuoiGia #GiaTriCuocSong #LangNghe #NguoiGia #SongCham #CamHung #CuocSong 


 

Động đất ở Venezuela : Gần 1.000 người chết và hơn 50.000 người mất tích (RFI)

RFI

Ít nhất 920 người đã thiệt mạng và hơn 50.000 người vẫn đang mất tích sau trận động đất kép xảy ra hôm 24/06/2026 tại Venezuela. Trong bối cảnh số thương vong không ngừng tăng lên, sự bất bình của người dân cũng ngày càng gia tăng do công tác cứu trợ của chính quyền được cho là còn chậm và hạn chế.

Ngày: 27/06/2026 

Chiến dịch cứu hộ tại Catia La Mar, phía bắc Caracas, Venezuela, ngày 26/06/2026. © Fernando Vergara / AP Photo

Phan Minh

Hai trận động đất mạnh 7,2 và 7,5 độ Richter đã tàn phá nghiêm trọng khu vực phía bắc Venezuela. Thành phố ven biển La Guaira, nằm gần thủ đô Caracas, là một trong những nơi bị tác động nặng nề nhất. Hôm qua 26/06, chủ tịch Quốc Hội Venezuela Jorge Rodriguez cho biết số người thiệt mạng đã tăng lên 920.

Tại Genève, Thụy Sĩ, điều phối viên phụ trách viện trợ nhân đạo của Liên Hiệp Quốc Tom Fletcher cho AFP biết rằng hiện vẫn còn hơn 50.000 người mất tích. Ông cảnh báo đây là một chiến dịch cứu hộ vô cùng phức tạp và số người thương vong có thể còn tiếp tục tăng đáng kể.

Trong bối cảnh hệ thống y tế Venezuela đã xuống cấp trầm trọng, công tác tìm kiếm vẫn diễn ra chậm chạp và nhiều thi thể vẫn còn nằm dưới các đống đổ nát. Tuy nhiên, người dân nước này cho thấy tinh thần đoàn kết sâu sắc để vượt qua thảm kịch.

Trở về từ Catia La Mar, thông tín viên Alice Campaignolle tường trình :

Hôm qua, tinh thần đoàn kết của người dân nơi đây đã được thể hiện rõ rệt. Trong khi chính quyền vẫn chậm triển khai công tác cứu trợ, người dân Venezuela đã tự quyên góp các nhu yếu phẩm và đưa chúng đến vùng ven biển.

Tôi đã có dịp trò chuyện với những người đến từ khắp nơi trên toàn quốc. Có người mang theo quần áo, có người mang thực phẩm và rất nhiều người mang nước uống, một nhu yếu phẩm vô cùng quan trọng. Ngoài ra còn có các đội cứu hộ tình nguyện, trong đó có những người đã vượt hàng trăm cây số để đến hỗ trợ các nạn nhân.

Một số doanh nghiệp thậm chí còn huy động cả máy móc công trình. Tuy nhiên, nhân lực vẫn đang thiếu hụt, bởi dù đã có máy xúc và máy đào, nhưng thường lại không có đủ người điều khiển các thiết bị đó.

Người dân Venezuela đang cho thế giới thấy một bài học lớn về lòng nhân ái. Đáng tiếc là tất cả những sáng kiến này không được điều phối thống nhất, nên tình hình khá hỗn loạn. Đặc biệt, giao thông đường bộ đã bị tê liệt do quá nhiều xe cá nhân đổ về khu vực, làm cản trở việc di chuyển của các phương tiện cứu hộ, trong đó có xe cứu thương.