Rousseau – Nhà triết học Khai sáng vĩ đại… hay một “kẻ phản động”?-Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng –

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng

04/08/2026

Ngày còn học đại học, tôi từng nghĩ triết học là môn học khô khan và khó hiểu nhất. Đó là vì chúng tôi chỉ được học triết học Mác – Lênin. Mãi nhiều năm sau, khi đọc Jean-Jacques Rousseau, tôi mới nhận ra rằng triết học cũng có thể rất giản dị. Có những nhà triết học chỉ cần một câu đã khiến người đọc phải suy nghĩ cả đời: “Con người sinh ra vốn tự do, nhưng ở khắp nơi lại bị xiềng xích.”

Jean-Jacques Rousseau được xem là một trong những nhà triết học vĩ đại nhất của thời đại Khai sáng và là một trong những người đặt nền móng cho tư tưởng chính trị hiện đại. Ảnh hưởng của ông vượt xa phạm vi triết học, lan sang giáo dục, đạo đức, chính trị và cả cuộc Cách mạng Pháp. Cho đến hôm nay, những khái niệm như chủ quyền nhân dân, quyền công dân, tự do và bình đẳng vẫn mang đậm dấu ấn tư tưởng của Rousseau.

Cái khác biệt của Rousseau là ông không bắt đầu từ nhà nước hay quyền lực, mà bắt đầu từ con người.

Theo Rousseau, con người trong trạng thái tự nhiên vốn lương thiện. Họ sống giản dị, tự do, biết thương người và chưa bị lòng tham hay sự ganh đua chi phối. Chính xã hội, cùng với sự xuất hiện của sở hữu tư nhân, bất bình đẳng và cuộc chạy đua vì quyền lực, mới làm cho con người dần trở nên ích kỷ, giả tạo và tha hóa.

Câu nói nổi tiếng của Rousseau vừa có sức gợi hình rất mạnh, vừa có chiều sâu triết học. Ông mượn hình ảnh chiếc xiềng sắt để nói về những chiếc xiềng vô hình còn phổ biến hơn nhiều. Đó là lý do câu nói này trở thành một trong những câu mở đầu nổi tiếng nhất trong lịch sử triết học: “Con người sinh ra vốn tự do, nhưng ở khắp nơi lại bị xiềng xích”. Câu nói này không chỉ là lời than thở về số phận con người, mà còn là câu hỏi lớn của triết học chính trị: làm thế nào con người có thể sống trong xã hội mà vẫn giữ được tự do?

Đó chính là mục đích của tác phẩm Khế ước xã hội (Du Contrat social).

Rousseau cho rằng con người cần từ bỏ một phần tự do tự nhiên để xây dựng một cộng đồng chính trị. Nhưng sự từ bỏ ấy không phải để phục tùng một ông vua hay một tầng lớp thống trị. Mỗi cá nhân trao quyền của mình cho toàn thể cộng đồng, và đổi lại, họ trở thành một phần của chủ quyền chung.

Từ đó, Rousseau đưa ra một tư tưởng mang tính cách mạng: chủ quyền hoàn toàn thuộc về nhân dân,không phải của nhà vua, không phải của quý tộc, lại càng không phải của bất kỳ đảng phái hay tầng lớp nào tự cho mình quyền cai trị nhân dân.

Theo Rousseau, luật pháp chỉ có giá trị khi phản ánh ý chí chung (volonté générale, tôi đã nói ở bài trước), tức là lợi ích chung của toàn xã hội chứ không phải lợi ích của một nhóm người. Chính phủ chỉ là cơ quan thi hành ý chí của nhân dân, chứ không phải chủ nhân của quyền lực.

Đối với Rousseau, tự do không có nghĩa là muốn làm gì thì làm. Tự do đích thực là được sống dưới những đạo luật mà chính mình, với tư cách một công dân, đã tham gia xây dựng và tự nguyện chấp nhận. Đó là nền tảng của khái niệm tự do công dân trong các nền dân chủ hiện đại.

Chính những tư tưởng ấy đã ảnh hưởng sâu sắc đến Cách mạng Pháp, đến Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền, và sau đó là hầu hết các nền dân chủ trên thế giới.

Đọc Rousseau ngày nay, hầu như ai cũng thừa nhận ông là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất của nhân loại.

Nhưng hãy thử làm một phép so sánh nhỏ và quay trở về đời sống của chúng ta hiện nay.

Nếu chủ quyền thực sự thuộc về nhân dân, thì nhân dân có quyền tự do lựa chọn người cầm quyền hay không? Nếu luật pháp phải phản ánh ý chí của nhân dân, thì nhân dân có quyền tranh luận, phản biện và chỉ trích chính quyền hay không?

Nếu không một cá nhân hay tổ chức nào được đứng trên chủ quyền của nhân dân, thì liệu có ai có quyền tự nhận mình là lực lượng duy nhất đại diện cho nhân dân hay không?

Đó đều là những câu hỏi mà Rousseau đã đặt ra từ hơn hai thế kỷ trước.

Và cũng chính vì những câu hỏi ấy, nếu đem tư tưởng của Rousseau đối chiếu với cách sử dụng khái niệm “phản động” ở một số nơi ngày nay, thì nghịch lý xuất hiện.

Ông phủ nhận quyền lực tuyệt đối, trao chủ quyền cho nhân dân, đòi hỏi quyền lực phải chịu sự kiểm soát của nhân dân, không chấp nhận bất kỳ quyền lực nào tự đặt mình cao hơn nhân dân.

Như vậy, không còn nghi ngờ gì nữa Rousseau là kẻ phản động nguy hiểm nhất mọi thời đại hay nói theo ngôn ngữ bây giờ ông là « Tổ sư phản động », sinh 1712 – tử 1778

Rousseau không chống lại nhân dân. Trái lại, ông là một trong những người đầu tiên trong lịch sử đặt nhân dân vào vị trí tối cao của quyền lực chính trị.

Và có lẽ chính đó mới là điều hài hước nhất của lịch sử:

Một trong những nhà triết học Khai sáng vĩ đại nhất của nhân loại, người đặt nền móng cho dân chủ hiện đại, nếu bị chính quyền ngày nay mang ra xét xử, chắc chắn sẽ bị quy kết là… một “kẻ phản động”


 

ICE từng âm thầm hợp tác với Iran trục xuất người Iran về nước

Ba’o Nguoi-Viet

August 20, 2026

WASHINGTON, DC (NV) – Giới chức di trú Mỹ âm thầm hợp tác với Iran để trục xuất người Iran về nước vào cuối năm 2025 và đầu năm 2026, theo hàng trăm email mới được công bố, CBS đưa tin hôm Thứ Năm, 20 Tháng Tám.

Những email này được giới chức di trú Mỹ gửi cho nhau. Hội Đồng Quốc Gia Người Mỹ Gốc Iran (NIAC) lấy được những email này và công bố hôm Thứ Ba.

Đặc vụ di trú liên bang thi hành lệnh bắt giữ thành viên băng đảng ở Boston, Massachusetts hôm 9 Tháng Sáu. (Hình: ICE)

Theo những email này, hai bên hợp tác với nhau trục xuất hơn 100 người Iran bằng ba chuyến bay khác nhau vào Tháng Chín và Tháng Mười Hai, 2025 và Tháng Giêng, 2026.

Những email này cho thấy giới chức Iran cũng có tiếng nói trong việc trục xuất người Iran nào về nước, và có vẻ Cảnh Sát Di Trú Mỹ (ICE) làm theo một số điểm thay đổi vào phút chót trong danh sách trục xuất mà Iran yêu cầu.

“Theo Tòa Đại Sứ Iran yêu cầu, tôi đưa thêm vài trường hợp vào,” một giới chức ICE, không được nêu tên, viết trong email cuối Tháng Tám năm ngoái, một tháng trước chuyến bay trục xuất đầu tiên. Hơn một tuần sau, người nào đó cùng chức vụ lại điều chỉnh danh sách trục xuất sau khi cho hay họ vừa gặp “Giám đốc tại Tòa Đại Sứ Iran.”

“Iran vừa yêu cầu tôi sửa lại danh sách trước và đẩy nhanh thủ tục trục xuất,” giới chức này viết.

Hợp tác thực hiện những chuyến bay này vẫn là điều ưu tiên hàng đầu bất chấp giới chức ICE thừa nhận trong nội bộ rằng người Iran đang bỏ chạy khỏi đất nước giữa cuộc chiến 12 ngày của Mỹ và Israel với Iran hồi Tháng Sáu, 2025, theo những email này. Chuyến bay đầu tiên cất cánh chỉ vài tháng sau khi Mỹ và Israel đạt thỏa thuận ngưng bắn với Iran.

Sự hợp tác này đi ngược lại thông lệ hàng chục năm của Mỹ là sẵn sàng đón người bất đồng chính kiến, người lưu vong và nhiều người khác từ Iran kể từ khi Cuộc Cách Mạng Hồi Giáo Năm 1979 buộc rất nhiều người Iran bỏ nước ra đi.

Các tổ chức nhân quyền từng kịch liệt lên án trục xuất người Iran về quốc gia mà chính phủ có xu hướng bạo hành phụ nữ, nhóm tôn giáo thiểu số và người bất đồng chính kiến.

Tháng Chín, 2025, giới chức Iran thừa nhận có thể có tới 400 người Iran sẽ bị trục xuất theo thỏa thuận với chính quyền Tổng Thống Donald Trump. Giới chức Iran cho hay hầu hết những người đó vượt biên bất hợp pháp từ Mexico vào Mỹ và một số người đang gặp vấn đề di trú.

Bộ Nội An (DHS), cơ quan giám sát ICE, chưa trả lời thư của CBS News yêu cầu nhận xét về thông tin này. (Th.Long) [kn]


 

 BÔNG HOA LÀI CẮM BÃI CỨT TRÂU – Truyen ngan HAY

Nguyen Quốc

 BÔNG HOA LÀI CẮM BÃI CỨT TRÂU

Khi giấc mơ đổi đời biến hôn nhân thành một canh bạc

Trong dân gian từng có câu:

“Bông hoa lài cắm bãi cứt trâu.”

Một cách ví von cay nghiệt, thô ráp nhưng thường được dùng để nói về một người con gái xinh đẹp, hiền lành lại trao đời mình cho một người đàn ông không xứng đáng.

Ngày nay, câu nói ấy đôi khi xuất hiện trong những cuộc hôn nhân vượt biên giới: một cô gái trẻ chấp nhận lấy một người đàn ông từ Mỹ trở về, dù chưa hiểu rõ tính tình, quá khứ và hoàn cảnh của người ấy. Chỉ cần nghe hai chữ “Việt kiều”, thấy tấm hộ chiếu Hoa Kỳ hoặc viễn cảnh được bảo lãnh sang Mỹ, nhiều người đã vội tưởng cánh cửa hạnh phúc đang mở ra.

Nhưng không phải con đường nào dẫn đến nước Mỹ cũng dẫn đến thiên đường. Và không phải người nào sống ở Mỹ cũng là người tử tế.

Tấm hộ chiếu không phải giấy chứng nhận nhân cách

Một trong những ngộ nhận nguy hiểm nhất là lấy nơi cư trú để đo phẩm giá con người.

Người sống tại Mỹ có thể thành đạt, lương thiện và có trách nhiệm. Nhưng cũng có thể là người thất nghiệp, nghiện ngập, cờ bạc, bạo hành, mang nợ hoặc đã trải qua nhiều cuộc hôn nhân đổ vỡ. Quốc tịch chỉ xác định quan hệ pháp lý giữa một cá nhân và một quốc gia; nó không chứng minh người ấy biết yêu thương, chung thủy hay tôn trọng phụ nữ.

Tấm hộ chiếu có thể giúp người ta bước qua cửa khẩu, nhưng không thể bảo đảm người cầm nó có một trái tim tử tế.

Thẻ xanh có thể cho một người quyền cư trú, nhưng không thể trao cho họ phẩm hạnh.

Ngôi nhà ở Mỹ có thể rộng hơn căn nhà ở quê, nhưng nếu bên trong là sự kiểm soát, nhục mạ và bạo hành thì đó vẫn chỉ là một nhà tù được trang trí đẹp đẽ.

Bởi vậy, lấy chồng chỉ vì người ấy “có quốc tịch Mỹ” là đặt cả cuộc đời vào một canh bạc mà phần thua thường thuộc về người phụ nữ.

Khi hôn nhân bị biến thành con đường xuất cảnh

Không thể phủ nhận rằng có những phụ nữ mong muốn kết hôn với Việt kiều để tìm một tương lai ổn định hơn. Đằng sau lựa chọn ấy có thể là hoàn cảnh kinh tế khó khăn, trách nhiệm với cha mẹ, mong muốn giúp đỡ gia đình hoặc khát vọng thoát khỏi một môi trường sống bế tắc.

Chúng ta có thể hiểu ước mơ ấy. Nhưng hiểu không có nghĩa là phải tô hồng nó.

Khi mục tiêu “đi Mỹ” trở nên lớn hơn mục tiêu tìm một người chồng tốt, hôn nhân rất dễ biến thành một cuộc trao đổi: một bên trao tuổi trẻ và tình cảm; bên kia trao lời hứa bảo lãnh cùng viễn cảnh định cư.

Trong cuộc đổi chác ấy, cả hai có thể bắt đầu bằng sự tính toán. Nhưng người phụ nữ thường là người chịu nhiều rủi ro hơn. Cô phải rời gia đình, bỏ lại bạn bè, bước vào một xã hội xa lạ và phụ thuộc vào người chồng về ngôn ngữ, tiền bạc, phương tiện đi lại cũng như thủ tục pháp lý.

Nếu gặp người tử tế, đó có thể là khởi đầu của một gia đình hạnh phúc. Nếu gặp kẻ lợi dụng, cô gần như bị đặt vào thế cô lập giữa một đất nước rộng lớn mà không biết phải cầu cứu ai.

Cái giá của một quyết định vội vàng khi ấy không chỉ là một cuộc ly hôn. Nó có thể là những năm tháng bị kiểm soát, đánh đập, xúc phạm, cưỡng ép, cô lập hoặc đe dọa bằng hồ sơ di trú.

Hào quang Việt kiều và những chiếc mặt nạ

Có người ở nước ngoài trở về quê với quần áo sang trọng, thuê xe đẹp, tổ chức những bữa tiệc lớn và kể về một cuộc sống giàu có. Nhưng vài tuần xuất hiện ở Việt Nam không đủ để chứng minh cuộc sống thật của họ ở Mỹ.

Chiếc xe có thể là xe thuê. Tiền tiêu trong chuyến về quê có thể là tiền vay. Ngôi nhà trong ảnh có thể không thuộc về họ. Công việc được giới thiệu là “kỹ sư”, “doanh nhân” hoặc “chủ hãng” đôi khi chỉ là câu chuyện được dựng lên để gây ấn tượng.

Đáng sợ hơn, có người cố tình tìm một cô gái trẻ, ít kinh nghiệm và yếu tiếng Anh vì họ biết cô sẽ dễ phụ thuộc, khó phản kháng và ít hiểu quyền lợi của mình.

Đó không còn là tình yêu. Đó là việc sử dụng ưu thế quốc tịch và kinh tế để thiết lập quyền kiểm soát.

Tình yêu chân thành không sợ sự kiểm chứng. Một người đàn ông nghiêm túc sẽ không ngăn người phụ nữ tìm hiểu về công việc, tình trạng hôn nhân, tài chính và quá khứ của mình. Anh ta cũng không thúc ép cưới gấp, không dùng lời hứa bảo lãnh để buộc cô phải phục tùng và không xem số tiền gửi về cho gia đình cô như giá mua quyền sở hữu cuộc đời cô.

Nhưng đừng biến người phụ nữ thành bị cáo

Khi một cuộc hôn nhân như thế đổ vỡ, xã hội thường rất nhanh miệng:

“Ham đi Mỹ thì chịu.”

“Tham giàu nên mới khổ.”

“Biết người ta lớn tuổi vẫn lấy.”

Những lời ấy dễ nói, nhưng đôi khi tàn nhẫn hơn chính hoàn cảnh mà người phụ nữ đang phải chịu đựng.

Đúng là mỗi người phải chịu trách nhiệm về lựa chọn của mình. Nhưng không phải mọi lựa chọn đều được thực hiện trong điều kiện bình đẳng. Có người thiếu thông tin. Có người bị lừa dối. Có người chịu áp lực từ gia đình. Có người lớn lên trong nghèo khó nên nhìn thấy một lối thoát mà không nhận ra chiếc bẫy nằm phía sau.

Một quyết định thiếu sáng suốt không trao cho bất kỳ người chồng nào quyền đánh đập, sỉ nhục, cưỡng ép hoặc giam cầm vợ mình.

Không ai đáng bị bạo hành chỉ vì từng mơ ước đổi đời.

Không ai mất quyền được bảo vệ chỉ vì đã lựa chọn sai một người.

Và một người phụ nữ từng đặt niềm tin nhầm chỗ không vì thế mà mất đi phẩm giá.

“Bông hoa lài” vẫn là bông hoa lài. Nơi nó từng bị đặt xuống không quyết định giá trị và hương thơm của nó.

Nỗi đau của những người mẹ

Trong nhiều gia đình, chính cha mẹ cũng góp phần thúc đẩy con gái lấy chồng Việt kiều. Họ nghĩ rằng con sang Mỹ sẽ có cuộc sống sung túc rồi gửi tiền về giúp gia đình. Đám cưới đôi khi được xem như ngày cả nhà đổi vận.

Nhưng cha mẹ cần tự hỏi: mình đang gả con cho một con người hay gửi con theo một tấm vé xuất cảnh?

Một người đàn ông có nhà, có xe và có quốc tịch chưa chắc đã đem lại hạnh phúc cho con gái mình. Điều cần tìm hiểu không chỉ là anh ta kiếm được bao nhiêu tiền, mà là anh ta đối xử với cha mẹ, người vợ cũ, con riêng, đồng nghiệp và những người yếu thế như thế nào.

Đừng vì mong con đổi đời mà đẩy con vào một cuộc đời không lối thoát.

Tiền con gửi về không thể bù được những đêm con khóc một mình nơi đất khách. Căn nhà mới xây ở quê không thể che lấp những vết thương trên thân thể và tâm hồn của con. Niềm tự hào “có con lấy chồng Mỹ” cũng không đáng giá bằng sự bình an của chính người con gái ấy.

Muốn lấy chồng xa, càng phải tỉnh táo

Tình yêu xuyên biên giới không có gì đáng lên án. Rất nhiều gia đình Việt–Mỹ được xây dựng bằng tình yêu chân thành, sự hy sinh và lòng tôn trọng. Điều cần phê phán không phải là việc lấy chồng Việt kiều, mà là tâm lý lấy chồng bằng mọi giá chỉ để được đi Mỹ.

Trước hôn nhân, người phụ nữ cần có quyền và trách nhiệm tìm hiểu:

* Tình trạng hôn nhân thực tế của người ấy.

* Công việc, thu nhập, nơi ở và trách nhiệm tài chính.

* Tiền án, tiền sự hoặc lịch sử bạo hành nếu có.

* Quan hệ với vợ cũ và con riêng.

* Thái độ đối với phụ nữ, tiền bạc và quyền tự do cá nhân.

* Kế hoạch học tập, làm việc và hội nhập của người vợ sau khi sang Mỹ.

* Khả năng tự lập nếu cuộc hôn nhân không diễn ra như mong đợi.

Quan trọng nhất, đừng giao toàn bộ giấy tờ, tiền bạc và tương lai cho người phối ngẫu. Hãy học tiếng Anh, tìm hiểu pháp luật, duy trì liên lạc với gia đình và xây dựng khả năng tự đứng trên đôi chân của mình.

Một tình yêu bắt buộc người phụ nữ phải mù quáng không phải là tình yêu lành mạnh.

Một người đàn ông phản đối việc người vợ tìm hiểu quyền lợi của mình thường không tìm kiếm một người bạn đời; anh ta đang tìm kiếm một người lệ thuộc.

Hạnh phúc không mang quốc tịch

Người phụ nữ Việt Nam không cần một người chồng giàu nhất, sang trọng nhất hay sở hữu tấm hộ chiếu quyền lực nhất. Điều cô cần là một người biết tôn trọng, biết giữ lời, biết chia sẻ trách nhiệm và không dùng tiền bạc để định giá vợ mình.

Thà sống giản dị bên một người tử tế còn hơn sống trong căn nhà lớn với một kẻ xem vợ như tài sản.

Thà tự mình bước đi chậm rãi còn hơn ngồi trên chiếc xe hào nhoáng chạy thẳng vào bất hạnh.

Thà ở lại quê nhà trong phẩm giá còn hơn sang Mỹ bằng một cuộc hôn nhân khiến mình đánh mất tự do và lòng tự trọng.

Nước Mỹ không có lỗi. Ước mơ đi Mỹ cũng không có lỗi. Nhưng biến hôn nhân thành phương tiện xuất cảnh là một lựa chọn chứa đầy nguy hiểm. Bởi khi người ta bước vào hôn nhân vì một đất nước thay vì một con người, đến lúc giấc mơ địa lý phai màu, họ có thể phải đối diện với sự thật rằng mình chưa từng biết người nằm bên cạnh là ai.

Lời kết: Đừng lấy một tấm hộ chiếu

Xin đừng hỏi người đàn ông ấy có thể đưa con gái mình đến quốc gia nào. Hãy hỏi anh ta có thể đưa cô ấy đến một cuộc đời như thế nào.

Xin đừng nhìn chiếc xe anh ta lái khi về Việt Nam. Hãy nhìn cách anh ta đối xử với người phục vụ, với cha mẹ, với vợ cũ và với những người không thể đem lại lợi ích cho anh ta.

Xin đừng nghe anh ta hứa sẽ cho cô gái những gì. Hãy quan sát những điều anh ta sẵn sàng hy sinh và chịu trách nhiệm.

Và xin nhắn với những cô gái đang đứng trước ngưỡng cửa hôn nhân:

Đừng lấy nước Mỹ.

Đừng lấy thẻ xanh.

Đừng lấy những bức ảnh hào nhoáng.

Đừng lấy lời hứa đổi đời.

Hãy lấy một con người có nhân cách.

Bởi hôn nhân không phải chuyến bay một chiều đi tìm miền đất hứa. Đó là hành trình dài giữa hai con người bình đẳng. Nếu không có tình yêu, sự hiểu biết và lòng tôn trọng, dù điểm đến là Hoa Kỳ, cuối con đường vẫn có thể chỉ là cô đơn.

Đừng để một bông hoa lài phải sống cả đời trong nơi không xứng đáng với hương thơm của nó.

Nhưng nếu chẳng may đã đặt nhầm niềm tin, xin cũng đừng cúi đầu chịu đựng. Một bông hoa bị vùi xuống bùn vẫn có quyền vươn lên tìm ánh sáng.

Phẩm giá của người phụ nữ không nằm trong tay người đàn ông đã cưới cô. Phẩm giá ấy thuộc về chính cô và không một cuộc hôn nhân, một tấm hộ chiếu hay một giấc mơ dang dở nào có quyền tước đoạt.

Nói cho cùng, thường thì những thanh niên thành công và ngon lành ở Mỹ thì không rãnh để về Việt Nam cưới vợ đâu… hầu hết là dạng cà lơ phất phơ ở Mỹ.

Còn những đàn ông lớn tuổi thì đa số là bị vợ bỏ nên mới về Việt Nam lấy vợ đưa qua Mỹ rồi bị vợ bỏ tiếp…

Quốc Nguyên

(Người về từ lòng đại dương) 


 

75 NĂM TRƯỚC, CỤ PHẠM QUỲNH ĐƯỢC “MờI” VÀ…MẤT TÍCH

Xuyên Sơn

  75 NĂM TRƯỚC, CỤ PHẠM QUỲNH ĐƯỢC “MờI” VÀ…MẤT TÍCH

– Vũ Thế Khôi

75 năm trước, vào 14h ngày 23 – 08 – 1945, một nhóm người có vũ trang đi xe ô-tô ập vào ấp Hoa Đường trên bờ sông An Cựu, “mời” cụ Phạm Quỳnh đi gặp chính quyền Cách mạng Thừa Thiên-Huế.

Cụ Phạm không bao giờ trở về nữa.

Một thời gian dài có những lời biện bạch rằng cụ Phạm bị một nhóm dân quân manh động sát hại.

May thay, 8 năm trước đại tá TS Nguyễn Văn Khoan đã viết ra sự thật trong sách do Nxb CAND in ấn: “Báo “Quyết Thắng”, cơ quan tuyên truyền và tranh đấu của Việt Minh Trung Bộ, số 11 ra ngày 9 – 12 – 1945 cho biết: “cả 3 tên Việt gian đại bợm (Ngô Đình Khôi, Phạm Quỳnh, Ngô Đình Huân) bị bắt ngay trong giờ cướp chính quyền, 2 giờ (chiều) ngày 23 – 8 và đã bị Uỷ ban khởi nghĩa kết án tử hình và đã thi hành ngay trong thời kỳ thiết quân luật”.

Chủ tịch Uỷ ban Khởi nghĩa Thừa Thiên-Huế bấy giờ là Tố Hữu…

“Vậy tại sao Hồ Chủ tịch gọi cụ Phạm Quỳnh là “học giả” và viết thư mời ra cộng tác với Cách mạng?

Nguyễn Cảnh Thuỵ: Lúc chuẩn bị được “mời đi”, cụ còn có vẻ phấn khởi, dặn các con lấy hết vải đỏ ra may cờ cho Việt Minh. Khi bị gọi đi, các con nhắc cụ chưa uống thuốc, cụ bảo chốc về uống.

Cụ có ngờ đâu họ tóm cụ đi… thủ tiêu(!)

________________

Tôi đi cải táng thầy tôi

– Phạm Tuân*

…Năm 1948, anh Bích tôi – (Phạm Tuân – PT ghi chú) lúc bấy giờ làm Bí thư cho Quốc trưởng Bảo Đại đã dò hỏi được nơi Thầy tôi bị giết và chôn nhưng không thực hiện được việc tìm kiếm.

Phần vì địa điểm là một nơi xa xôi, hẻo lánh, hiểm trở, lại là một vùng “xôi đậu” thiếu an ninh.

Phần vì nghe lời khuyên can của những người am hiểu tình hình: không nên mạo hiểm, vì rất có thể đây là cái bẫy…giăng ra để bắt và tiêu diệt những người có liên hệ với các nạn nhân…

Một hình thức “nhổ cỏ phải nhổ cho sạch rễ” vậy.

Mãi cho đến năm 1956… bỗng một hôm gia đình chúng tôi được thông báo chuẩn bị sẵn sàng để đi nhận lãnh hài cốt Thầy tôi!

Một niềm vui mừng khôn tả, đồng thời một nỗi xúc động vô biên tràn ngập trong lòng anh chị em chúng tôi.

Lập tức chúng tôi đi tìm những tin tức chính xác hơn.

Được sự giới thiệu của ông Hoàng Hùng (Bộ trưởng Bộ Kiến Thiết) (là con trai một người bạn Phạm Quỳnh, từng ở nhà Phạm Quỳnh thời còn đi học ở Hà Nội – PT ghi chú) và ông Võ Văn Hải (Văn phòng Phủ Tổng thống), chúng tôi tìm đến gặp ông Võ Như Nguyện.

Được biết ông Võ Như Nguyện ( tỉnh trưởng Bình Định) cùng ông Hoàng Ngọc Trợ (Quận trưởng quận Phong Điền,Thừa Thiên) là những người được Tổng thống Ngô Đình Diệm trao cho việc tìm kiếm (hài cốt cha con Ngô Đình Khôi, anh của Ngô Đình Diệm – PT ghi chú).

Việc tìm kiếm hài cốt không đơn giản mà là một công tác lớn lao, đòi hỏi nhiều thời gian, nhân lực, phương tiện và an ninh tuyệt đối.

Ngày 5 tháng 2 năm 1956 (cận Tết) tôi và chị Hảo (Phạm Thị Hảo, con gái thứ ba trong tám con gái của Phạm Quỳnh – PT ghi chú) tôi đi Huế để cùng với một phái đoàn của chính phủ tìm và nhận hài cốt các nạn nhân.

…Thật “nghịch đời”, lúc sinh thời, Thầy tôi và cụ Khôi vì khác chính kiến nên đã trở thành thù địch, thề “không đội trời chung”, thế mà khi thác lại nằm chung một hố.

Chúng tôi (tôi và chị Hảo) phải ở lại Huế lâu hơn dự định, vì như đã tả ở trên,

địa điểm là một nơi xa xôi, khó đi lại nên chính phủ phải huy động công binh khai quang, ủi đất làm đường, bắc cầu cho xe hơi đi…trên mười lăm cây số.

Ngoài ra còn phải điều động binh sĩ đến giữ an ninh quanh vùng.

Nói tóm lại là cả một công trình nan giải mà chỉ có một chính quyền mới thực hiện được mà thôi…

…Nhưng đôi lúc tôi tự hỏi, giả sử như Thầy tôi không bị chôn vùi cùng huyệt với cụ Khôi và ông Huân, những người thân của Tổng thống, thì chúng tôi có được sự giúp đỡ này không?

Suốt ngày 8 tháng 2 năm 1956, đào xới đất, kết quả chỉ bới lên được một bộ hài cốt không phải là của một trong ba người.

Mọi người đều thất vọng, lại lo rằng sau mười một năm, trải qua bao mùa lũ lụt, có thể các di hài bị nước lũ cuốn trôi đi chăng?

Đến chiều hôm sau, cận Tết, dưới trời mưa lâm râm, bỗng xuất hiện một cụ già đi ngang qua.

Cụ hỏi toán dò tìm:

“Đã tìm thấy các cụ chưa? Đào mương nào, mương cũ hay mương mới?”.

Thì ra có hai mương…

Cụ già nói tiếp:

“Cách đây mười một năm tại đây tôi có đào một con mương để dẫn nước từ sông lên ruộng.

Hôm sau, ra tát nước thì thấy mương bị lấp. Du kích trong làng cấm không cho tới gần.

Vài năm sau, có người đến thầu mấy thửa ruộng của tôi, cũng đào mương,

thì bị khuyến cáo không được đào thẳng mà phải đào chếch sang một bên”.

Thì ra đây là “mương mới”, chỗ tìm ra hài cốt độc nhất nói trên. Toán công binh tiếp tục đào sâu hơn, với chu vi rộng lớn hơn, thì quả nhiên tìm được ba bộ hài cốt ở vị thế đúng như những chi tiết thâu lượm được.

Gần đến hài cốt, để tránh đụng đến xương, đám người có phận sự ngưng sử dụng cuốc, xẻng mà chỉ dùng đũa cả khơi đất ra từng mảng.

Sau cùng lộ ra rõ rệt ba bộ hài cốt nằm chồng lên nhau.

Hài cốt của Thầy tôi rất dễ nhận vì dài và ngay cạnh, tôi nhận ra được đôi mắt kính cận…

Hài cốt của cụ Khôi và ông Huân thì ngắn và nhỏ bé.

Thân nhân nhà họ Ngô còn nhận ra được hai chiếc răng vàng và cái thắt lưng to bản (quân phục Nhật) của ông Huân.

Ban tổ chức đã chuẩn bị sẵn ba cái tĩnh, vải liệm trắng đỏ, ba chậu tráng men lớn chứa đầy cồn 90 để rửa xương.

Việc thử nghiệm, rửa hài cốt và tẩm liệm kéo dài đến khi trời tối.

Tại làng Văn Xá, quan tài cụ Khôi và ông Huân được quàn dưới một lều vải lớn, có thể chứa cả trăm người, có đèn điện thắp sáng choang, vòng hoa phúng viếng bày la liệt, lính mặc lễ phục túc trực hai bên, các bộ trưởng thứ trưởng âu phục trắng cà vạt đen, các đại biểu, cán bộ đủ mọi cấp ra vào tấp nập…

Tiếng cầu kinh của giáo chúng thập phương vang rền suốt đêm.

Được biết, ngày hôm sau sẽ di chuyển hai quan tài về Hiền Sĩ.

Tại đây, một nhà thờ lớn đã được dựng lên để cử hành tang lễ trọng thể theo nghi thức quốc táng, có đông người tham dự và sau mồng ba Tết mới đưa về Phú Cam chôn cất.

Trong khi đó, trên một ngọn đồi thấp cách đấy không xa, trong một chiếc lều nhà binh nhỏ bé, dưới ánh sáng mờ ảo của mấy ngọn nến, hai chị em tôi cùng cụ bà Ưng Trình (thông gia với gia đình chúng tôi) thay phiên thắp nhang bên linh cữu Thầy tôi.

Chúng tôi có mời một thượng toạ trụ trì tại một ngôi chùa nhỏ trong làng đến làm lễ cầu siêu.

Bên chính quyền cũng cử một đại diện đến phúng điếu và phân ưu.

Sau đó, cắt cử hai quân nhân mặc lễ phục nghiêm chỉnh túc trực bên quan tài.

Như trên đã nói, ban tổ chức có cung cấp ba tĩnh bằng sành để đựng hài cốt…

Cả ba có nắp in hình thánh giá của công giáo, nên chị tôi đã tế nhị từ chối để chỉ dùng cái tĩnh đã mua sẵn dành riêng cho đệ tử nhà Phật với chữ “Vạn” trên nắp.

Quá tủi thân trước sự khắc biệt, lòng ngậm ngùi thê thiết, chị em chúng tôi quyết định thuê đò chở quan tài Thầy tôi về Huế ngay đêm hôm ấy…

Tám giờ sáng hôm sau thì đến chùa Vạn Phước.

Thượng toạ trụ trì đã chờ sẵn.

Sau nghi thức đơn giản, đúng chín giờ thì hạ huyệt.

Một số đông bạn học cũ của các anh chị tôi tại hai trường Khải Định và

Đồng Khánh đến chia buồn và tiễn đưa.

Thời gian dài kế tiếp sau đấy, người dân Sài Gòn được thấy một con đường lớn, rộng từ phi cảng Tân Sơn Nhất vào trung tâm thủ đô mang tên Rồi đến thời Đệ nhị Cộng hoà của Tổng thống Thiệu “nghe nói” tên Thầy tôi đã được đặt cho một con đường nhỏ, gần đường Triệu Đà trong Chợ Lớn…

Chị tôi và tôi lân la đi tìm, nhưng chẳng thấy tăm hơi…

Tất cả chỉ là một “dự tính” mà thôi.

Ôi, thế thái nhân tình…

P.T.

__________

(Trích bài Sống lại với ký ức thuở ngày xưa, báo Ngày Nay

(tiểu bang Minesota), số 385, ngày 30-6-2005 và Việt Học tạp chí phổ thông, số 2 (Nam Califonia) tháng 6-2005).

* Ông Phạm Tuân là con trai út trong năm con trai của Phạm Quỳnh, sinh năm 1936 tại Huế, định cư tại Mỹ.

Nguồn fb Nguyễn Xuân Diện.

https://www.facebook.com/photo?fbid=2369914379978186… 


 

Nữ thực tập sinh gốc Việt, cư dân Texas, tố cáo bị hiếp dâm ở Phú Thọ

Ba’o Nguoi-Viet

August 19, 2026

PHÚ THỌ, Việt Nam (NV) – Hôm 17 Tháng Tám, Cơ Quan Cảnh Sát Điều Tra Công An Tỉnh Phú Thọ đã khởi tố bị can Nguyễn Minh Hiếu, 23 tuổi, ở phường Từ Liêm, Hà Nội, về tội “hiếp dâm” theo đơn tố giác của cô NTQT., 24 tuổi, quốc tịch Mỹ, xảy ra tại một khu nghỉ dưỡng ở xã Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.

Cơ quan điều tra cấm bị can Hiếu đi khỏi nơi cư trú và cấm xuất cảnh để phục vụ quá trình tố tụng.

Dãy phòng nhà nghỉ SK, trong đó có phòng SK125, nơi cô QT tố giác bị hiếp dâm. (Hình: Phụ Nữ Việt Nam)

Theo báo Phụ Nữ Việt Nam, cô QT tốt nghiệp Đại Học Texas A&M vào Tháng Năm, 2025, và dự trù sẽ tốt nghiệp thạc sĩ vào Tháng Mười Hai tới tại Đại Học St. Thomas, thành phố Houston, tiểu bang Texas.

Theo lời kể của cô T., cô nhập cảnh Việt Nam hôm 8 Tháng Năm vừa qua để tới Hà Nội tham gia một chương trình thực tập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng tại LPBank.

Thông qua bạn bè, cô T. quen một nhóm bạn trẻ tại Hà Nội và được họ mời tham gia chuyến nghỉ dưỡng tại khu nghỉ dưỡng Lynn Times ở xã Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.

Trước chuyến đi, cô được thông báo nhóm có sáu người và không nghe nói có bị can Hiếu tham gia. Chỉ đến khi tập trung xuất phát, cô T. mới biết anh ta cũng có tham gia với đoàn.

Tối 4 Tháng Bảy, tại khu nghỉ dưỡng, cô T. cùng nhóm bạn ăn tối, hát karaoke và được mời uống rượu khá nhiều. Sau đó, cô trở về căn hộ SK125 tại khu nghỉ dưỡng Lynn Times nghỉ ngơi.

Cũng theo cô T., rạng sáng 5 Tháng Bảy, tại phòng ngủ trên tầng một căn hộ SK125, bị can Nguyễn Minh Hiếu đã dùng sức khống chế cưỡng dâm cô, mặc dù nhiều lần bị cô phản kháng, yêu cầu dừng lại nhưng anh ta không buông tha.

Khi trở về Hà Nội, sức khỏe và tâm lý cô T. bắt đầu xuất hiện những biểu hiện bất thường như đau rát vùng kín, mất ngủ, lo âu, hoảng loạn, không thể ăn uống bình thường. Thậm chí, có những lúc cô T. không kiểm soát được cảm xúc và cảm thấy vô cùng cô độc. Tình trạng tâm lý, theo nạn nhân là “nghiêm trọng đến mức phải vào bệnh viện điều trị nội trú.”

Những tổn thương tâm lý khiến cô T. chưa thể trình báo với nhà chức trách ngay sau sự việc.

Sau khi được tư vấn pháp lý và hiểu rõ quyền của mình theo luật pháp Việt Nam, nạn nhân gọi cho cha mình bay từ Mỹ về Việt Nam để làm rõ trắng đen, mặc dù gia đình bị can Hiếu lên tiếng sẵn sàng bỏ ra số tiền lớn để hòa giải.

Hôm 20 Tháng Bảy, cô T. đã đến Đại Sứ Quán Hoa Kỳ tại Hà Nội để thông báo sự việc và để được sự hỗ trợ lãnh sự dành cho công dân Mỹ.

Thông báo khởi tố vụ án của Cơ Quan Cảnh Sát Điều Tra Công An Tỉnh Phú Thọ. (Hình: FB Lê Quốc Vinh)

Sang ngày 21 Tháng Bảy, cô T. đến trình báo với cơ quan Công An Tỉnh Phú Thọ, cùng luật sư cung cấp lời khai, tài liệu và thông tin có liên quan đến sự việc.

“Điều khiến tôi và gia đình càng bất an là trong thời gian tôi nằm viện, người bị tôi tố giác và gia đình họ đã biết chính xác nơi tôi điều trị và tìm đến bệnh viện. Việc họ xuất hiện tại nơi điều trị khiến tôi vô cùng hoảng sợ, khiến tình trạng tâm lý trở nên nghiêm trọng hơn. Sau đó, tôi phải rời khỏi nơi đang điều trị để tìm một chỗ ở mà mình cảm thấy an toàn hơn,” cô T. trình bày trong đơn.

Bộ Công An Việt Nam hiện đang thu thập tài liệu, chứng cứ và phối hợp với Viện Kiểm Sát Tỉnh Phú Thọ để củng cố hồ sơ xử lý theo quy định. Sự việc này mang yếu tố “ngoại giao đặc biệt” vì nạn nhân là công dân Hoa Kỳ.

Được biết, gia đình nạn nhân cũng đã thông báo tới các văn phòng Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ như John Cornyn và Ted Cruz của tiểu bang Texas.

“Giờ đây, tôi không còn đấu tranh chỉ vì bản thân mình nữa. Tôi đấu tranh vì mọi nạn nhân từng bị buộc phải im lặng, bị làm nhục hoặc rơi vào thế yếu thế, bởi lẽ hệ thống [pháp luật Việt Nam] thường xuyên bỏ mặc những người thiếu tiền bạc, quyền lực hay các mối quan hệ.

Những gì tôi đã trải qua thật kinh khủng, nhưng tôi tin rằng Chúa đặt tôi vào hoàn cảnh này đều có lý do. Kinh Thánh dạy chúng ta phải lên tiếng bênh vực những người không thể tự lên tiếng và bảo vệ quyền lợi của những người yếu thế. Tôi tin Chúa đã ban cho tôi sức mạnh và tiếng nói để tiếp tục hành trình này, không chỉ vì bản thân, mà còn vì những người không có tiếng nói, quyền lực hay tiền bạc để đấu tranh cho công lý tại Việt Nam…,” cô QT bày tỏ với truyền thông. (Tr.N) [kn]


 

“NGƯỜI VN SINH RA ĐỂ…CHỜ…CHẾT”

Xuyên Sơn

 “NGƯỜI VN SINH RA ĐỂ…CHỜ…CHẾT”

Ở Việt Nam, cứ nói đến chính trị thì bị cho là rảnh hơi và nếu bạn không cùng ý kiến với nhà nước, bạn sẽ bị xếp vào những thành phần sau :

– Nếu là đảng viên thì bị cho là: đạo đức suy thoái.

– Nếu bạn là trí thức thì bị cho là: bất mãn với thời cuộc

– Nếu là kẻ nghèo thì bị cho là: bị kẻ xấu kích động

– Nếu là kẻ ít học thì bị cho là: bị dụ dỗ lợi dụng

– Lên facebook bày tỏ quan điểm : bạn sẽ bị cho là kẻ phản động ..

Thế đấy, tùy theo “khẩu nghiệp” mà bạn nhận được danh hiệu do họ phong tặng.

Và khi tôi và những người khác lên tiếng để mong có một tương lai tốt đẹp cho đất nước này, thì bạn nói: “sống ở xã hội này thì phải chấp nhận như thế, có nói cũng chẳng làm được gì.”

Vậy:

– Khi nhà bạn có người gần chết, đưa vào bệnh viện mà chưa có tiền đóng viện phí, người ta không cứu, bạn đừng khóc vì khóc cũng chẳng thay đổi được gì.

– Nhà bạn có người bị tai nạn, xung quanh người ta đi lại, chỉ ném một cái nhìn vào chỗ người thân bạn đang nằm chổng vó ra đấy mà chẳng thèm làm gì hơn,

bạn đừng trách sao họ thờ ơ vô cảm.

– Con cái bạn bị những kẻ vô loài hãm hiếp, mà pháp luật vẫn để những kẻ đó nhởn nhơ, bạn đừng kêu oan vì kêu cũng chẳng làm được gì.

– Bạn ra đường mà có bị cướp giật hay bị trộm mất xe ngay trước mặt,

thì tốt nhất bạn hãy im miệng vào, vì có kêu thì cũng không ai nghe thấy đâu.

– Bạn bị công an bắt xe không lý do thì cũng nên vui vẻ mà nộp phạt, ấm ức cái gì?

– Sau này đất đai nhà bạn có bị quy hoạch và được trả giá 200k/m2, thì cũng đừng có kêu gào làm gì, không ai quan tâm việc nhà bạn đâu.

– Bạn đi khám mà chẳng may mắc bệnh ung thư giai đoạn cuối, thì cũng nên vui vẻ mà chấp nhận sống nốt cuộc đời còn lại, vì ở cái xã hội thờ ơ tràn lan thực phẩm bẩn này mỗi ngày có khoảng 300 người chết vì bệnh ung thư chứ không riêng gì bạn đâu.

…… Và còn nhiều điều khốn nạn nhưng rất đỗi bình thường, ở cái đất nước này, khi xảy đến với bạn thì tốt nhất bạn cũng nên ngậm chặt miệng vào, vì xã hội VN nó thế!

Người Việt Nam sinh ra để làm gì?

Người Việt Nam sinh ra để …chờ c.hết!

Và bây giờ hãy tiếp tục im miệng để  sắp phải làm nô lệ cho Tàu ngay trên chính quê hương mình.”

Nguồn fb Nguyen Minh 


 

Những địa danh ở Sài Gòn đang bị viết sai

Những địa danh ở Sài Gòn đang bị viết sai

Cát Lái, Rạch Chiếc, Gò Vấp, Hàng Xanh, Thanh Đa… là những địa danh quen thuộc ở Sài Gòn nhưng được cho là bị viết sai so với ban đầu.

Hàng Xanh

Là nút giao thông lớn ở cửa ngõ phía Đông của TP HCM, Hàng Xanh là địa danh rất quen thuộc với người Sài Gòn. Vùng Hàng Xanh, bao gồm một phần địa bàn các phường 24, 25 (quận Bình Thạnh), còn có chợ Hàng Xanh, ngã tư Hàng Xanh.

Tuy nhiên, theo tìm hiểu của tác giả Nguyễn Thanh Lợi (trong quyển Sài Gòn – Đất và Người) qua nhiều tài liệu cũ, địa danh này viết đúng phải là Hàng Sanh. Theo sách Đại Nam quốc âm tự vị của nhà ngôn ngữ học Huỳnh Tịnh Của, Sanh “là thứ cây lớn, nhánh có tua, về loại cây da, mà lá nhỏ”. Ngày trước, dọc theo hai bên đường nay là Bạch Đằng có 2 hàng cây sanh, dân thường gọi là Hàng Sanh. Nên có thể kết luận, Hàng Xanh do đọc chệch từ Hàng Sanh mà ra.

Cát Lái

Theo các nhà nghiên cứu, phải gọi là bến phà Các Lái thì mới đúng với nguồn gốc tên gọi ban đầu, còn tên gọi Cát Lái là vô nghĩa. Ảnh: H.C

 Hiện, tại TP HCM có các địa danh: ngã ba Cát Lái, phường Cát Lái, bến phà Cát Lái, sông Cát Lái… (quận 2) và rạch Cát Lái Lớn, rạch Cát Lái Bé (xã Lý Nhơn, huyện Nhà Bè). Theo các nhà nghiên cứu viết như thế là vô nghĩa.

Nguyên các vùng kể trên ngày xưa lái buôn tụ về buôn bán nên dân gian gọi là vùng của các lái. Trong dân gian vẫn còn lưu truyền những bài vè về các lái buôn ghe bầu từ miền Trung vào Gia Định với hai bài Vè Lái vô và Vè Lái ra. Vì vậy phải viết là Các Lái mới có nghĩa.

Gò Vấp

Là tên gọi của quận vùng ven tại TP HCM. Theo các nhà nghiên cứu, đúng ra phải là Gò Vắp vì đây vốn là vùng đất cao có trồng nhiều cây vắp. Loại cây thân gỗ rất cứng thuộc họ măng cụt, hiện vẫn trồng nhiều nơi tại TP HCM như khuôn viên vườn Tao Đàn, khu vực đường Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Xuân Hương gần đó.

Thanh Đa

Người Sài Gòn từ lâu đã quen với các địa danh như Kinh Thanh Đa, cư xá Thanh Đa, chợ Thanh Đa… ở phường 26 và 27 của quận Bình Thạnh. Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu, địa danh này có nguồn gốc từ tên gọi Thạnh Đa.

Thôn Thạnh Đa thuộc tổng Bình Trị (sau thuộc Bình Trị Thượng), huyện Bình Dương, có từ năm 1818. Trong sách Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức và Monographie de la provine de Gia Định (Chuyên khảo về Gia Định, xuất bản năm 1902 tại Sài Gòn) đều có ghi tên thôn Thạnh Đa. Về sau, do bỏ dấu khi in trên bản đồ thời Pháp, nên địa danh Thạnh Đa biến thành Thanh Đa như hiện nay.

Rạch Chiếc

Cầu Rạch Chiếc ở cửa ngõ phía Đông TP HCM. Ảnh: H.

Rạch Chiếc là con rạch nằm trên địa bàn phường Phước Bình (quận 9) nối sông Sài Gòn với sông Đồng Nai ở phía đông bằng tắt Đồng Nhiên, bắt đầu từ rạch Trao Trảo đến sông Sài Gòn, cắt ngang xa lộ Hà Nội, dài khoảng 6.000 m. Cầu Rạch Chiếc nổi tiếng với trận đánh giải phóng Sài Gòn hồi tháng 4/1975.

Theo các nhà nghiên cứu địa danh học, viết Rạch Chiếc là không đúng mà phải là Rạch Chiết, do xưa rạch này có nhiều cây chiết là “thứ cây mọc hoang, thấp nhỏ, lá lớn, hay mọc hai bên mé sông, thường ra lá non, mùi chát chát có thể ăn như rau”. Nếu viết là Rạch Chiếc thì không có ý nghĩa.

Chí Hòa và Kỳ Hòa

Ở TP HCM hiện tồn tại đồng thời hai địa danh được cho là giống nhau đó là Chí Hòa và Kỳ Hòa. Theo các nhà nghiên cứu, Chí Hòa nguyên là tên một làng ở Gia Định, đã được lấy để đặt cho một đại đồn của quân đội ta xây nên để chống Pháp. Khi quân Pháp dồn lực lượng tấn công, đại đồn Chí Hòa thất thủ.

Về địa điểm của đại đồn Chí Hòa, nhà văn Sơn Nam cho biết: “Tướng Tôn Thất Hiệp rồi tướng Nguyễn Tri Phương đều chọn lựa cuộc đất nằm trong địa phận làng Chí Hòa Phú Thọ dọc theo rạch Nhiêu Lộc, lấy con đường đi Tây Ninh (Cách Mạng Tháng Tám ngày nay) làm trung tâm để xây đồn lũy…”. Như vậy, Chí Hòa ban đầu là tên làng, mà hiện nay vẫn còn tên gọi như đình Chí Hòa, nhà thờ Chí Hòa… Về sau, Chí Hòa đã trở thành tên một cái đồn được xây dựng tại đó để chống Pháp…

Còn tên Kỳ Hòa xuất hiện vào thời điểm nào? Theo tác giả Trần Trọng Kim trong quyển Việt Nam Sử Lược, thì Kỳ Hòa là cách gọi của người Việt, Chí Hòa là cách gọi của người Pháp. Nhưng tác giả lại không nêu cứ liệu. Còn theo nhà văn Sơn Nam trong quyển Địa danh TP HCM thì Chí Hòa mới là âm gốc, Kỳ Hòa là cách gọi sai lạc vì ngày nay còn địa danh Chí Hòa và ở Nam Bộ không có địa danh mang yếu tố Kỳ ở trước.

Bên cạnh các địa danh xưa, nhiều tên đường tại TP HCM hiện cũng bị viết sai mà các nhà nghiên cứu, nhà văn như: Vương Hồng Sển, Sơn Nam, Nguyễn Đình Đầu, Lê Trung Hoa… đã đề cập đến, hoặc đã được nêu lên trong những công trình biên soạn về Sài Gòn – TP HCM mấy chục năm qua.

Chẳng hạn như đường Sương Nguyệt Ánh ở quận 1, đúng ra phải là Sương Nguyệt Anh. Tuy nhiên, bao lâu nay trên các biển hiệu cũng như trong giao dịch, làm việc, người ta vẫn ghi là “Ánh” thay vì “Anh”.

Nguyên ban đầu chỉ có hai chữ Nguyệt Anh (con gái thứ 5 của cụ Nguyễn Đình Chiểu có sắc đẹp và tài làm thơ) đến sau ngày chồng qua đời bà thêm chữ Sương tức “người đàn bà góa chồng” đứng trước để thành biệt hiệu Sương Nguyệt Anh. Bà làm chủ bút tờ báo phụ nữ đầu tiên xuất bản ở Sài Gòn năm 1918 là tờ Nữ giới chung (tiếng chuông của giới nữ).

Đường Lương Nhữ Học nằm trên địa bàn quận 5, thuộc khu vực Chợ Lớn, TP HCM cũng được cho là bị viết sai. Tên chính xác của vị danh nhân này phải là Lương Như Hộc – là quan, danh sĩ thời hậu Lê. Ông cũng là người hai lần làm sứ giả sang Trung Quốc và có công truyền lại nghề khắc bản gỗ in cho dân làng Liễu Tràng, Hồng Lục (tỉnh Hải Dương ngày nay) khiến nghề in nơi đây trở nên phát triển. Chính vì vậy ông được tôn xưng là “ông tổ” nghề khắc ván in.

Đường Lương Nhữ Học ở quận 5, TP HCM được cho là đang viết sai. Ảnh: H.C

Một con đường khác cũng bị viết sai là Kha Vạn Cân. Kỹ sư Kha Vạng Cân, nguyên là Bộ trưởng Công nghiệp nhẹ đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, còn là một nhân sĩ trí thức nổi tiếng của miền Nam, từng tham gia kháng chiến chống Pháp và hoạt động cách mạng từ trước năm 1945. Vậy mà không biết vì lý do gì khi đặt tên ông cho một con đường lớn ở quận Thủ Đức, người ta lại viết thành Kha Vạn Cân.

Đường Trương Quốc Dung trên địa bàn quận Phú Nhuận cũng được đặt tên không chính xác vì đúng phải là Trương Quốc Dụng. Trong lịch sử Việt Nam không có vị danh nhân nào như tên con đường đang có. Chỉ có ông Trương Quốc Dụng, là nhà văn, nhà sử học, nhà thiên văn nổi tiếng của Việt Nam và là người có công chấn hưng lịch pháp thời nhà Nguyễn.

Theo Trung Sơn

From: taberd & NguyenNThu


 

Nếu hôm đó người đi ngược chiều là một shipper, một sinh viên, một người lao động bình thường, liệu anh ta có được “miễn truy cứu” không?

Thoibao.deTam Truong Nguyen

 Mọi thấy cậu con trai của bà bộ trưởng bộ giáo dục có cái nét giống ông Tổng Bí thư Tô Lâm không ?

Lan Hue

 Tối qua xem bản tin VTV, tôi đã ngồi lặng đi rất lâu. Không phải vì bất ngờ, mà vì cái cảm giác bất lực quen thuộc ấy lại quay về.

Một cô gái 18 tuổi, vừa đứt lìa chân trên phố Nguyễn Huy Tự vào ngày 30/5/2025, đã chết sau một tuần trong bệnh viện. Cô chết ngay trước kỳ thi tốt nghiệp, cái tuổi mà đáng lẽ ra cô phải được bước vào phòng thi, chứ không phải nhà tang lễ.

Người cầm lái chiếc BMW X3 30H-369.09 đi ngược chiều, tông thẳng vào cô, tối qua được VTV và Công an Hà Nội xác nhận là ông Nguyễn Sỹ Cương, nguyên Đại biểu Quốc hội, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội.

Và rồi câu chốt của bản tin: Ông Cương được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự vì “thành khẩn khai báo, tích cực khắc phục hậu quả và gia đình nạn nhân có đơn xin miễn”.

Tôi nghe xong, chỉ thấy tim mình thắt lại. Chúng ta đã từng tìm hiểu luật và luật pháp ghi rằng, trong một vụ tai nạn chết người do đi sai làn, khởi tố không phụ thuộc vào đơn bãi nại. Đơn bãi nại chỉ là tình tiết giảm nhẹ. Luật sư nào cũng nói vậy. Nhưng hóa ra, luật đó chỉ đúng khi người gây tai nạn là dân thường chăng?.

Còn khi người gây tai nạn là một nguyên Đại biểu Quốc hội, chồng của một người hiện đang giữ chức Bộ trưởng, thì luật lại có một lối rẽ khác: lối rẽ mang tên “miễn truy cứu”.

Tôi bất lực vì tôi nhớ lại hơn một năm qua, báo chí chỉ dám viết tắt “N.S.C.”, không dám đăng ảnh, không dám gọi tên. Tôi bất lực vì tôi thấy những bó hoa trắng người dân đặt ở gốc cây số 55 Nguyễn Huy Tự bị dọn sạch dưới sự giám sát của công an, phải có người đứng canh. Đến một nén nhang, một bông hoa tưởng niệm cho người đã khuất cũng không được yên.

Và tôi mất niềm tin, không phải vì một cá nhân được miễn tội, mà vì cách người ta hợp thức hóa sự miễn tội đó một cách trơn tru, đúng quy trình đến đáng sợ. Họ dùng chính những từ ngữ đẹp đẽ nhất của pháp luật – “thành khẩn”, “khắc phục”, “nhân đạo” – để bao bọc cho một sự thật trần trụi: một mạng người đã mất, nhưng người gây ra cái chết đó không phải chịu một ngày tù nào.

Tối qua, sau bản tin, tôi lướt Threads, thấy cả triệu bài viết. Không ai chửi bới vô cớ. Người ta chỉ hỏi một câu duy nhất: Nếu hôm đó người đi ngược chiều là một shipper, một sinh viên, một người lao động bình thường, liệu anh ta có được “miễn truy cứu” không?

Câu trả lời ai cũng biết. Và chính vì ai cũng biết câu trả lời, nên niềm tin mới vỡ vụn.

Chúng ta không đòi hỏi gì ghê gớm. Chúng ta chỉ đòi hỏi công lý phải mù mắt như bức tượng của nó: không nhìn xem kẻ đứng trước vành móng ngựa là đại biểu hay dân thường. Nhưng tối qua, VTV đã cho chúng ta thấy, công lý ở đây có mắt, và nó nhìn rất rõ ai là ai.

Cô gái 18 tuổi ấy đã không có cơ hội đi thi. Còn chúng ta, những người ở lại, đang trượt dài trong một kỳ thi khác – kỳ thi về niềm tin. Và thật đau đớn, chúng ta đang rớt. 


 

Phụ nữ Việt trong ngành nail ở California và câu chuyện phía sau bàn làm móng

Ba’o Nguoi -Viet

August 18, 2026

SACRAMENTO, California (NV) – Cô Trish Nguyễn nhớ quãng thời gian làm móng tay và làm chân tại một tiệm nail ở Westminster, Orange County. Mùi acetone quanh bàn làm việc thường khiến cô chảy nước mắt, nước mũi như bị dị ứng. Đó là mở đầu bài viết “Module 4: Nail Salon Workers: Ethnic Labor Migration” của hai tác giả Tracy Lai và Kim Geron trên trang web Foundations and Futures mới đây.

Foundations and Futures là một cơ quan truyền thông đa dạng, thuộc Đại Học UCLA, chuyên viết về cuộc sống người gốc Châu Á-Thái Bình Dương ở Hoa Kỳ.

Người Việt chiếm tỉ lệ lớn trong lực lượng thợ nail tại California, một ngành tạo sinh kế cho nhiều gia đình di dân. (Hình minh họa: Storyblocks.com).

Theo bài báo, những người làm nail là một lực lượng lao động đông đảo, phần lớn là phụ nữ di dân, với những vấn đề kéo dài về tiền lương, sức khỏe tại nơi làm việc, và cách phân loại người lao động.

Từ sinh kế của người tị nạn đến một ngành dịch vụ phổ biến

Đầu thế kỷ 20, làm móng tại tiệm còn là dịch vụ xa xỉ, chủ yếu dành cho phụ nữ khá giả. Sang thập niên 1970, những dụng cụ mới giúp rút ngắn thời gian làm móng tay và chân, cùng lúc nhiều phụ nữ di dân và tị nạn gốc Á bước vào nghề. Trong số đó, phụ nữ Việt Nam giữ vai trò nổi bật, góp phần đưa nail từ một dịch vụ đắt tiền thành lựa chọn quen thuộc của cả tầng lớp trung lưu lẫn người có thu nhập thấp.

Dấu ấn ấy đặc biệt rõ tại California. Năm 2023, tiểu bang có 127,480 giấy phép hành nghề nail còn hiệu lực, trong khi dữ liệu doanh nghiệp năm 2021 ghi nhận 6,147 tiệm. Gần một nửa thợ nail ở California tập trung tại ba quận hạt Los Angeles, Orange, và San Diego. Riêng Orange County chiếm khoảng 17% lực lượng thợ và 11% số tiệm. Trong lực lượng này, phụ nữ chiếm đa số, phần lớn là người gốc Á Châu và sinh ra bên ngoài nước Mỹ, trong đó người gốc Việt chiếm tỉ lệ rất cao.

Ngành nail tại California chủ yếu gồm những cơ sở nhỏ. Khoảng 69% tiệm có dưới năm nhân viên và thêm 22% có từ năm đến chín người. Quy mô ấy cho thấy nghề nail gắn chặt với sinh kế của nhiều gia đình di dân, đồng thời cũng khiến các chủ tiệm phải xoay xở giữa tiền lương, chi phí bảo hiểm, yêu cầu an toàn, và áp lực cạnh tranh về giá.

Thu nhập vẫn là bài toán khó của thợ nail

Quy mô của ngành nail khá lớn, nhưng thu nhập của người thợ vẫn ở mức thấp. Theo Foundations and Futures, khoảng 78% thợ nail thuộc nhóm lao động lương thấp, được xác định là có thu nhập dưới 2/3 mức lương trung vị (median) của người làm việc toàn thời gian. Trong các ngành nghề nói chung, tỉ lệ này chỉ khoảng 33%. Tiền tip giữ vai trò đáng kể trong thu nhập của thợ, dù trên thực tế nhiều người vẫn có những ngày làm việc mà gần như không nhận được khoản này.

Áp lực thu nhập của thợ lại gắn với sức ép mà các tiệm nhỏ phải chịu. Việc tuân thủ các quy định về lao động, sức khỏe và an toàn có thể làm chi phí kinh doanh tăng, trong khi chủ tiệm vẫn phải cạnh tranh với những cơ sở giữ giá dịch vụ thấp hơn nhờ cắt giảm các khoản chi cần thiết. Chính mối quan hệ giữa giá dịch vụ, tiền công của thợ, và chi phí bảo đảm điều kiện làm việc khiến bài toán sinh kế trong ngành nail trở nên phức tạp hơn nhiều so với tên tuổi của một ngành nghề phổ biến và có giá dịch vụ phải chăng.

Hóa chất và sức khỏe của thợ nail

Mùi acetone mà cô Trish Nguyễn nhớ trong những ngày làm việc tại Westminster chỉ là một phần của môi trường nghề nghiệp trong tiệm nail. Foundations and Futures cho biết thợ thường phải ngồi nhiều giờ để mài, cắt, sơn, và đánh bóng móng trong những không gian thông gió kém, qua đó tiếp xúc thường xuyên với hóa chất. Cơ Quan Quản Lý An Toàn và Sức Khỏe Nghề Nghiệp (OSHA) cũng cảnh báo một số sản phẩm làm móng có chứa acetone, formaldehyde, và các hợp chất methacrylate. Việc tiếp xúc kéo dài có thể gây ngứa mắt, da, mũi và họng, đau đầu, hen suyễn cùng nhiều vấn đề sức khỏe khác.

Thợ nail thường làm việc nhiều giờ trong môi trường tiếp xúc với hóa chất, đặt ra những yêu cầu ngày càng rõ ràng hơn về an toàn sức khỏe và điều kiện lao động. (Hình minh họa: Storyblocks.com).

Một trở ngại khác nằm ở việc thông tin an toàn không phải lúc nào cũng đến được với người thợ bằng ngôn ngữ họ sử dụng thành thạo. Foundations and Futures cho biết nhiều người chưa được huấn luyện đầy đủ về cách ứng phó với hóa chất, trong khi tài liệu hướng dẫn an toàn có thể chưa được dịch sang ngôn ngữ chính của họ. Với một lực lượng lao động có tỉ lệ người sinh ngoài nước Mỹ rất cao, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tự bảo vệ trong công việc. California hiện có Chương Trình Công Nhận Tiệm Nail Lành Mạnh (Healthy Nail Salon Recognition Program – HNSR) do Cơ Quan Kiểm Soát Chất Độc Hại California (DTSC) phụ trách. Chương trình cho phép các địa phương công nhận những tiệm nail tự nguyện áp dụng các tiêu chuẩn nhằm giảm mức tiếp xúc với hóa chất và cải thiện điều kiện an toàn cho cả thợ lẫn khách hàng.

W-2 hay 1099 ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi người thợ nail

Một vấn đề quan trọng trong ngành nail là người thợ được xếp vào diện nhân viên (employee) hay nhân viên làm việc độc lập (independent contractor). Foundations and Futures cho biết gần 1/3 thợ nail tại California được xếp vào nhóm tự làm chủ, tức là “independent contractor,” cao gấp ba tỉ lệ của lao động trong các ngành khác. Cách phân loại này ảnh hưởng trực tiếp đến tiền lương và các quyền lợi đi kèm.

Theo luật Mỹ, nhân viên được trả lương và khai thuế dạng W-2, còn nhân viên làm việc độc lập được trả lương theo dạng 1099.

Nhân viên (W-2) được bảo vệ về lương tối thiểu, làm thêm giờ, nghỉ bệnh, giờ nghỉ, và bồi thường tai nạn lao động, trong khi nhà thầu độc lập (1099) có ít quyền lợi hơn.

Tại California, từ ngày 1 Tháng Giêng, 2025, cách xác định thợ nail là nhân viên hay nhà thầu độc lập được áp dụng chặt chẽ hơn. Theo Bộ Quan Hệ Lao Động California (DIR), người làm việc tại tiệm nail thường được xem là nhân viên. Chỉ khi chủ tiệm chứng minh người thợ thực sự làm việc độc lập và đáp ứng đủ ba điều kiện của bài kiểm tra ABC, người đó mới có thể được xếp là nhà thầu độc lập. Việc trả tiền theo mẫu 1099 hoặc gọi người thợ là “contractor” chưa đủ để xác định họ là nhà thầu độc lập.

Từ sức khỏe đến tổ chức lao động

Năm 2005, một nhân viên của Asian Health Services ở Oakland nhận thấy nhiều thợ nail Việt Nam có những vấn đề sức khỏe giống nhau. Từ đó, tổ chức này hỗ trợ thành lập Liên Minh Tiệm Nail Lành Mạnh California (California Healthy Nail Salon Collaborative – CHNSC), ban đầu tập trung vào vấn đề hóa chất an toàn và điều kiện làm việc, sau đó mở rộng sang vấn đề tiền lương và quyền lợi lao động.

Các chiến dịch tương tự sau đó lan tới New York, Boston, Seattle, và Minneapolis. Tại New York, giới vận động cho thợ nail góp phần thúc đẩy dự luật “Nail Salon Workers’ Bill of Rights” năm 2015, trong đó đưa ra mức lương hợp pháp, các biện pháp bảo vệ sức khỏe, đường dây báo vi phạm, và yêu cầu cung cấp phiên dịch nội dung kỳ thi cấp phép sang nhiều ngôn ngữ, kể cả tiếng Việt.

Việc thực thi luật cũng tiếp tục được siết chặt. Năm 2024, Bộ Lao Động Mỹ (DOL) buộc chủ ba tiệm nail tại Rhode Island trả $753,500 tiền lương còn thiếu và bồi thường nhân viên, đồng thời chấm dứt hành vi trả đũa người lao động. Những diễn biến này cho thấy vấn đề bảo vệ thợ nail ngày nay bao gồm cả sức khỏe, tiền lương, địa vị việc làm, và quyền lên tiếng tại nơi làm việc.

Một tiệm nail lớn của người Việt ở Orange County (Hình minh họa: Facebook Kim Tran).

Một phần khác của câu chuyện nghề nail

Nghề nail từ lâu là một trong những dấu ấn kinh tế rõ rệt nhất của cộng đồng Việt tại Mỹ. Nghề này tạo sinh kế cho hàng chục ngàn gia đình, mở đường cho nhiều người từ thợ lên chủ và góp phần thay đổi một ngành dịch vụ. Các nghiên cứu lao động bổ sung cho phần ít xuất hiện trong câu chuyện ấy. Đó là mức lương thấp, phơi nhiễm hóa chất, sự phức tạp của W-2 và 1099, cùng khoảng cách giữa luật trên giấy và sự thực thi tại hàng ngàn tiệm nail nhỏ.

Với California, đặc biệt là Orange County, những vấn đề của ngành nail tồn tại ngay trong đời sống cộng đồng. Triển vọng duy trì hoạt động của các tiệm nail luôn gắn chặt với tiền lương, phúc lợi, điều kiện thông gió, mức độ an toàn của hóa chất, và việc xác định địa vị lao động của người thợ. Từ sinh kế của những gia đình tị nạn thuở ban đầu, nghề nail của người Việt ngày nay đã đi một chặng đường dài và tạo nên dấu ấn rõ nét trong đời sống kinh tế địa phương. Chặng đường phía trước sẽ được đo bằng phẩm chất việc làm, sức khỏe, và mức độ bảo đảm quyền lợi cho những người vẫn ngồi bên bàn nail mỗi ngày. (T.C.) [đ.d.]


 

Họ đã truy tố chị vì lý do: SỰ NGHIÊM MINH CỦA PHÁP LUẬT.

Trần Trân

Đây là chị Phạm Hồng Nhị, 41 tuổi, nhà chị ở Đá Bạc, Cà Mau. Gia cảnh chị nghèo khó, nuôi 2 con đang đi học và mẹ già mất khả năng lao động. Dẫu vậy nhưng vợ chồng chị vẫn luôn chí thú làm ăn để tương lai bớt vất vả hơn cho con của mình.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, chồng chị chở chị đi đi dự tiệc khai trương tiệm bán cá của một người bạn ở An Xuyên, Cà Mau cách nhà chị khoảng vài mươi cây số.

Sau buổi tiệc, chồng chị quá say xỉn, không thể chạy xe được nên chị đành chạy xe chở chồng về, chị cũng đã có uống 2 lon bia.

Trên đường về thì chị lạc tay lái, tông vô gốc cây ven đường. Chồng chị không may qua khỏi, chị thì bị thương nặng. Những tưởng đã là tột cùng của bi kịch, khi giờ đây chỉ còn một mình chị gồng gánh cả gia đình, hai con thì quá nhỏ, nhưng không!

Sau khi xuất viện, chị bị tòa án tuyên thêm một năm 6 tháng tù giam vì tội vi phạm quy định khi tham gia giao thông gây hậu quả nghiêm trọng.

Một chi tiết đáng chú ý ngoài lề là: chị đã khắc phục hậu quả dân sự 100/120 triệu. Người ta nói vì thiếu 20 triệu nữa nên gia đình chồng đã rút lại đơn bãi nại trước đó. Nhưng lưu ý:

Cụ thể với Điều 260 BLHS:

Một vụ tai nạn làm ch.ết người, nếu cơ quan tố tụng xác định có dấu hiệu của Điều 260, thì:

Gia đình người ch.ết làm đơn bãi nại  không có nghĩa là người gây tai nạn đương nhiên không bị xử lý hình sự.

Mặt khác, Gia đình rút bãi nại cũng không làm phát sinh trách nhiệm hình sự một cách tự động.

Cơ quan điều tra vẫn phải căn cứ vào hành vi vi phạm, lỗi, hậu quả, quan hệ nhân quả và các chứng cứ khác để quyết định có khởi tố hay không.

Nói cách khác, cơ quan chức năng hoàn toàn có thể không truy tố chị, nhưng họ đã truy tố vì lý do: SỰ NGHIÊM MINH CỦA PHÁP LUẬT.

Và giờ đây, 2 con chị bơ vơ, cha chết, mẹ đi tù người bà thì mất khả năng lao động, tương lai vô cùng mịt mờ.

Nhưng ở đâu đó, giữa lòng thủ đô, người ta chạy ngược chiều bằng xe hơi, người ta, cả 2 người trên xe hơi trốn ngay lập tức khỏi hiện trường, báo chí giấu nhẹm thông tin về hung thủ sau một năm 3 tháng. Công an đo nồng độ cồn 1 ngày sau xảy ra tai nạn, mà lúc đó, ngày 31/05/2025 còn chưa có đơn vị hành chính nào tên là: Phường Hai Bà Trưng. Vậy nhưng trong giấy lại có mới tài.

Cơ quan công an kết luận: không khởi tố đúng quy trình.

Có lẽ, do hung thủ là đại biểu quốc hội, là chồng của bà bộ trưởng bộ văn hóa, là những kẻ lãnh đạo tài tình sáng suốt trên đất nước này.

Nắng rồi sẽ lên

Nhắc nhau nghe rằng:

Người Việt Thương Người Việt

Nguồn Bàn Tròn Chính Trị

#vietnam#quocgiavietnam 


 

TẠI SAO CHÚNG TA PHẢI BẢO VỆ CÔNG LÝ – Đoàn Bảo Châu

Chau Doan  

TẠI SAO CHÚNG TA PHẢI BẢO VỆ CÔNG LÝ

Ở Hà Nội, mỗi sáng có hàng triệu người bước ra khỏi nhà và mặc nhiên tin rằng tối mình sẽ trở về.

Bố đi làm. Mẹ đưa con đến trường. Người trẻ chen vào dòng xe cho kịp giờ chấm công. Đứa nhỏ ngồi sau xe máy, ôm lưng mẹ, có khi vẫn còn ngái ngủ.

Những cuộc chia tay buổi sáng thường rất sơ sài. “Con đi học đây.” “Bố đi làm nhé.” “Ừ, tối về ăn cơm.” Chẳng ai ôm nhau lâu, chẳng ai dặn dò gì hệ trọng, bởi người ta vẫn nghĩ vài tiếng nữa sẽ gặp lại.

Trưa ngày 30 tháng 5 năm 2025, một người cha chở con gái trên đường Nguyễn Huy Tự. Ông đi cẩn thận, như mọi người cha chở con đều đi cẩn thận. Rồi một chiếc xe từ làn bên kia lao sang, và nó chỉ dừng lại khi đâm vào một gốc cây.

Người cha gãy chân, nằm giữa đường, quơ tay tìm con, gọi mãi.

Cô gái mười tám tuổi bị đứt lìa chân phải, nằm đó chừng hai mươi phút, người sơ cứu cho em là một bác sĩ tình cờ đi ngang. Những người bước xuống từ chiếc xe kia nhìn một lượt rồi bỏ đi.

Em chống chọi bảy ngày trong bệnh viện rồi mất. Em tên là Đỗ Ngọc Phương Thùy. Ở nhà, mọi người gọi em là Mina.

Hôm ấy trong nhà em có một chiếc va li đang xếp dở, và một giấy báo trường bên Anh.

Từ ngày ấy đến nay là 444 ngày.

Trong 444 ngày ấy, không một quyết định tố tụng nào được công bố. Cái tên người gây tai nạn được thu gọn thành ba chữ viết tắt trên báo chí. Cho đến khi những người trẻ mang hoa cúc trắng đến đặt dưới gốc cây số 55, thì cái tên ấy mới được đọc lên trên sóng truyền hình quốc gia — kèm theo lời tuyên bố ông ta đủ điều kiện được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, và kèm theo lời răn đe những người đã cầm hoa.

Nhiều người bảo: chuyện của gia đình người ta, mình xen vào làm gì. Gia đình họ đã đồng ý rồi, mình còn nói gì nữa.

Xin thưa, đây là lý do tôi vẫn nói.

Bởi vì một vụ tai nạn làm chết người không phải chuyện riêng của hai gia đình. Nó là chuyện của cả xã hội. Luật hình sự sinh ra không phải để trả thù cho người đã mất, mà để răn đe những người còn sống. Khi trách nhiệm hình sự bị xóa bằng một tờ đơn của người đang kiệt sức vì mất con, thì thứ bị xóa không phải là hình phạt dành cho một người. Thứ bị xóa là lời răn đe dành cho tất cả những người khác đang cầm vô lăng ngoài kia.

Và đây mới là điều đáng sợ nhất.

Nếu hôm nay chuyện này được cho qua, thì một tiền lệ đã được dựng lên: gây tai nạn chết người, bỏ mặc nạn nhân, rồi bồi thường, rồi có đơn xin miễn, thế là xong. Ngày mai, con cái các quan chức sẽ hiểu điều đó. Chúng sẽ uống rượu, sẽ phóng xe bạt mạng trên phố, bởi trong đầu chúng đã có sẵn một phép tính: đâm chết người thì mất bao nhiêu tiền, và bố mẹ mình quen ai.

Cái giá của một mạng người sẽ trở thành một con số có thể tra bảng.

Xin đừng nghĩ đó là chuyện xa xôi. Người ngồi sau xe máy ngày mai có thể là con anh, cháu chị, hay chính chúng ta. Đường phố này không có hàng rào nào ngăn cách giữa gia đình quyền thế và gia đình thường dân. Chỉ có luật pháp là hàng rào duy nhất. Khi hàng rào ấy được nhấc lên cho một chiếc xe đi qua, thì nó đã được nhấc lên cho tất cả những chiếc xe khác cùng loại.

Đó chính là điều mà những người trẻ mang hoa ra gốc cây đang hỏi. Họ không đòi ai phải chết thay ai. Họ không tự phong mình làm quan tòa. Họ chỉ hỏi một câu mà bất kỳ xã hội nào cũng phải trả lời được: nếu ngày mai một người dân bình thường rơi vào hoàn cảnh y hệt, họ có được đối xử y hệt hay không?

Nếu có, đó gọi là pháp quyền. Nếu không, thì hãy gọi đúng tên của nó.

Có người nói với tôi rằng thôi, cuộc đời vô thường, cầu mong mọi người bình an là được. Tôi hiểu, và tôi cũng cầu mong như vậy. Nhưng xin phân biệt cho rõ: có những chiếc ghế trống trong nhà là do vô thường. Và có những chiếc ghế trống là do một người lái xe sang làn ngược chiều, rồi bỏ đi, rồi không ai phải trả giá.

Vô thường thì ta chỉ có thể chấp nhận. Còn bất công là do con người tạo ra — mà cái gì do con người tạo ra thì con người sửa được.

Cầu an không giữ được mâm cơm đủ người. Chỉ có công lý mới giữ được.

Cho nên khi những đứa trẻ mua hoa bằng tiền túi của chúng đem đặt dưới một gốc cây, chúng không làm việc đó cho một người xa lạ. Chúng đang làm việc đó cho cái ghế trong nhà chúng, cho mâm cơm nhà chúng, cho ngày mai của chính chúng.

Người ta có thể hốt hết hoa lên xe rác. Người ta có thể cử người ra ngồi canh một gốc cây. Người ta có thể ra thông báo cấm sinh viên tưởng niệm khi chưa được phép.

Nhưng có một thứ không hốt đi được: 444 ngày kia vẫn nằm nguyên trên tờ lịch.

Đại văn hào Tolstoy có một câu tôi rất thích: nếu bạn thấy đau, bạn đang sống; nhưng nếu bạn thấy được cái đau của người khác, thì bạn mới là con người.

Xin hãy giữ lấy điều đó. Bởi thế giới này trở nên tồi tệ không phải vì kẻ ác ngày càng mạnh, mà vì những người tử tế ngày càng im lặng.

Mina đã không kịp bước lên chuyến bay của em.

Chúng ta thì vẫn còn ở đây, và mỗi sáng vẫn còn được nói với người thân một câu rất bình thường: tối về ăn cơm nhé.

Xin hãy làm điều gì đó để câu nói ấy còn có nghĩa.

Đoàn Bảo Châu


 

Dưới Gốc Cây Ấy, Người Ta Đặt Xuống Không Chỉ Là Những Bông Hoa

 Ryan Phan is in Atlanta, GA.

Dưới Gốc Cây Ấy, Người Ta Đặt Xuống Không Chỉ Là Những Bông Hoa

Có một đoạn văn từng đọc được ở đâu đó, mà càng ngẫm càng thấy lạnh người vì nó đúng.

Nếu bạn cầm súng và tôi cũng cầm súng, chúng ta có thể ngồi xuống nói chuyện với nhau về luật pháp. Nếu bạn cầm dao và tôi cũng cầm dao, chúng ta có thể bàn với nhau về quy tắc. Nếu bạn đến tay không và tôi cũng đến tay không, chúng ta có thể nói chuyện phải trái với nhau bằng lý lẽ. Nhưng nếu bạn có súng còn tôi chỉ có con dao, thì chân lý nằm gọn trong tay bạn. Và nếu bạn có súng còn tôi chẳng có gì trong tay, thì thứ bạn đang cầm không còn đơn thuần là một vũ khí nữa. Nó là mạng sống của tôi.

Đọc xong mấy dòng đó, người ta hiểu ra một điều giản dị mà cay đắng: những khái niệm đẹp đẽ như luật pháp, quy tắc, đạo đức, thật ra chỉ có ý nghĩa khi chúng đứng trên một nền tảng duy nhất, đó là sự bình đẳng. Khi hai bên ngang sức ngang quyền, luật pháp là thứ giữ cho cuộc chơi công bằng. Nhưng khi một bên mạnh áp đảo, còn một bên yếu thế trơ trọi, thì những quy tắc ấy rất dễ biến thành một thứ khác hẳn. Nó không còn là tấm khiên bảo vệ kẻ yếu, mà trở thành cây gậy trong tay kẻ mạnh.

Mấy ngày nay, có một câu chuyện khiến lòng nhiều người trĩu nặng. Xin phép không nhắc lại chi tiết, không gọi tên ai, bởi điều đáng nói ở đây không phải là một sự việc cụ thể, mà là cái cảm giác nhức nhối mà nó khơi dậy trong lòng biết bao con người. Cái cảm giác rằng, trong cuộc chơi này, không phải ai cũng cầm cùng một thứ vũ khí. Rằng có những người bước vào với cả một kho súng đạn quyền lực sau lưng, còn có những người bước vào chỉ với hai bàn tay trắng và một nỗi đau.

Ở một góc đường, dưới một gốc cây, những ngày qua người ta lặng lẽ đến đặt xuống những bó hoa. Hoa cúc trắng. Vài ngọn nến. Đôi khi chỉ một nhành hoa dại hái vội bên đường. Phần lớn những người đến đặt hoa chẳng hề quen biết người đã khuất. Họ đến vì một điều gì đó thôi thúc từ sâu bên trong, một điều mà chính họ đôi khi cũng khó gọi thành tên.

Bởi vì dưới gốc cây ấy, người ta đặt xuống không chỉ là những bông hoa. Người ta đặt xuống cả một nỗi niềm. Một nỗi niềm về sự công bằng.

Có một sự thật về con người mà giữa bộn bề cuộc sống ta hay quên: sâu trong lòng mỗi người đều cháy âm ỉ một khát khao công lý. Không phải công lý theo nghĩa trả thù hay trừng phạt, mà là một niềm tin gần như bản năng, rằng thế giới này phải có một sự công bằng nào đó để mà bám víu. Rằng mọi sinh mạng đều đáng quý như nhau. Rằng nỗi đau của một người dân thường cũng đáng được nhìn thấy, được lắng nghe, được xem trọng ngang với nỗi đau của bất kỳ ai. Khi cái niềm tin ấy bị lung lay, khi người ta thấy dường như có những sinh mạng được coi trọng hơn những sinh mạng khác, thì trong lòng trỗi lên một nỗi bất an rất khó gọi tên. Và những bó hoa lặng lẽ dưới gốc cây, thực ra, chính là cách người ta nói lên nỗi bất an ấy mà không cần đến một lời nào.

Người xưa có một câu nói phũ phàng nhưng thật: khi đồng tiền cất lời, sự thật thường phải im lặng. Và khi quyền lực lên tiếng, thì đôi khi ngay cả đồng tiền cũng phải lùi lại vài bước. Đó là một sự thật cay đắng của cuộc đời mà ai sống đủ lâu rồi cũng phải chạm tới. Những người đặt ra luật lệ đôi khi lại chính là những người đầu tiên biết cách lách qua nó. Quy tắc, trong tay người này, là sợi xích trói buộc; nhưng trong tay người khác, lại là một công cụ tiện lợi.

Nhưng nếu câu chuyện chỉ dừng ở đó, thì nó quá bi quan, và cũng không công bằng với chính bản chất con người. Bởi vì có một điều mà tiền bạc và quyền lực không bao giờ mua được, không bao giờ đè bẹp được hoàn toàn: đó là lương tri của những con người bình thường. Chính cái đám đông lặng lẽ đặt hoa dưới gốc cây kia là bằng chứng cho điều đó. Họ không có quyền lực gì. Họ không cầm trong tay thứ vũ khí nào. Nhưng họ có một thứ mà không ai tước đoạt được: cái khả năng rung động trước nỗi đau của một người xa lạ, và cái khát khao được sống trong một thế giới công bằng hơn. Đó là thứ vũ khí duy nhất của kẻ yếu, nhưng cũng là thứ vũ khí bền bỉ nhất, vì nó không nằm trong tay ai để mà bị tịch thu.

Có một câu nói xưa đáng để khắc vào lòng: công lý không chỉ cần được thực thi, mà còn cần được nhìn thấy là đã được thực thi. Bởi vì công lý không chỉ là chuyện của những trang giấy, những kết luận, những thủ tục. Nó còn là chuyện của niềm tin. Khi người dân thường tin rằng công lý được áp dụng như nhau cho tất cả, không phân biệt kẻ sang người hèn, thì họ yên lòng mà sống, mà làm ăn, mà nuôi hy vọng. Nhưng một khi cái niềm tin đó bị tổn thương, thì thứ mất đi không chỉ là lòng tin vào một sự việc, mà là một điều lớn hơn nhiều, cái chất keo vô hình gắn kết cả một cộng đồng lại với nhau.

Điều đáng mong mỏi, sau tất cả, không phải là cơn giận. Giận dữ rồi cũng nguôi đi, và hiếm khi đưa người ta đến đâu tốt đẹp. Điều đáng mong là lòng trắc ẩn được giữ lại. Là mỗi người, khi thấy một nỗi đau, dù nó xảy đến với ai, ở đâu, cũng dừng lại một chút để thấy rằng nỗi đau ấy là thật, và người đang mang nó cũng là một con người bằng xương bằng thịt như mình. Là đừng để trái tim chai sạn đi trước những bất công, dù nhỏ hay lớn. Bởi vì cái ngày mà con người thôi rung động trước nỗi đau của đồng loại, thôi khao khát sự công bằng cho những kẻ yếu thế, thì đó mới thật sự là ngày đáng sợ nhất.

Dưới gốc cây ấy, những bó hoa rồi sẽ héo. Người ta rồi cũng sẽ dọn chúng đi. Nhưng có một thứ không héo, và không ai dọn đi được: đó là cái khát khao công bằng, cái lòng trắc ẩn, cái niềm tin rằng mọi sinh mạng đều đáng quý, đang lặng lẽ cháy trong lòng biết bao con người. Ngọn lửa ấy nhỏ nhoi, âm thầm, nhưng nó là điều tốt đẹp nhất còn sót lại trong bản chất con người. Và chừng nào người ta còn biết cúi xuống đặt một bó hoa cho một người xa lạ, thì chừng đó lòng người vẫn chưa nguội lạnh, và hy vọng vẫn còn.

Xin được thắp một nén nhang trong lòng, cầu cho những sinh mạng vô tội đã ra đi khi còn quá trẻ, ở bất cứ nơi đâu trên cõi đời này, được về một nơi bình yên, nơi không còn bất công, không còn nước mắt, nơi mà cuối cùng, mọi người đều thật sự bình đẳng như nhau.

Còn bạn, điều gì trong lòng khiến bạn dừng lại và xót thương, khi nghe về nỗi đau của một người mà mình thậm chí chưa từng quen biết?

Ryan Phan