CHUYỆN 13 THANH NIÊN MÔNG CỔ THUỘC “THÀNH PHẦN PHẢN ĐỘNG”

Trần Trung Đạo

 (Bài này còn có tựa “Cách Mạng Dân Chủ Qua Kinh Nghiệm Mông Cổ”)

Cách mạng dân chủ từ Âu sang Á đều phát xuất từ sức mạnh của các tầng lớp nhân dân lựa chọn sự dứt khoát với quá khứ, đồng hành về phía tương lai tự do dân chủ của dân tộc và thời đại.

Trong lịch sử hiện đại chưa có sự thay đổi căn bản của một xã hội từ độc tài CS sang dân chủ tự do bằng thư thỉnh nguyện.

Người viết đã trình bày khá nhiều về các cuộc cách mạng Liên Xô, Đông Âu, các nước Bắc Phi và gần đây là Miến Điện, nơi đó các lãnh tụ cách mạng là những nhân vật được thế giới quan tâm theo dõi và độc tài lo ngại khi phải nặng tay với họ. Lần này, xin giới thiệu với bạn đọc những lãnh tụ dân chủ còn khá xa lạ với chúng ta.

Trước hết một anh tên là Tsakhiagiin Elbegdorj, sinh năm 1963, một trong những lãnh tụ của phong trào dân chủ Mông Cổ.

Năm 1989, Elbegdorj, người được ca ngợi như là Thomas Jefferson của Mông Cổ, chi là một thanh niên 26 tuổi mới từ Liên Xô trở lại quê hương sau khi hoàn tất chương trình đại học báo chí và triết học Mác Lê.

Trên đường từ Moscow về lại Ulaanbaatar, hành trang của Elbegdorj không phải là sách vở về chủ nghĩa CS mà anh học ở trường đảng nhưng là những đổi thay từ chính sách Glasnost (Cởi mở) của Mikhail Gorbachev.

Anh đã suy nghĩ rất nhiều khi nhìn những hạt mưa dân chủ đang bắt đầu nhỏ giọt xuống vùng đất bảy mươi bốn năm hạn hán trong độc tài CS và mơ ước những đổi thay sẽ đến cho dân tộc anh.

Mông Cổ có một vị trí địa chính trị rất khó khăn. Quốc gia vùng trái độn này nằm giữa hai siêu cường CS Liên Xô và Trung Cộng, phía tây là một nhóm các quốc gia Trung Á độc tài và xa hơn phía Đông là một Bắc Hàn cô lập.

Một khi có tình huống bất lợi, Trung Cộng có thể sẽ áp lực chính trị và ngay cả có thể can thiệp bằng quân sự để ngăn chặn phong trào dân chủ như vết dầu loang.

Những ai học kinh tế chính trị của các trường đảng CS trung ương, Mông Cổ thường được dùng làm ví dụ để chứng minh cho quan điểm “đột biến cách mạng” của Lenin khi ông ta cho rằng một nước lạc hậu, phong kiến có thể nhảy vọt lên xã hội chủ nghĩa không phải “kinh qua” giai đoạn tư bản. Điều đó cho thấy, ngay cả các nước CS cũng thừa nhận Mông Cổ còn trong vòng lạc hậu.

Tuy nhiên, nỗi lo lắng lớn nhất của Elbegdorj là hơn suốt 71 năm, quê hương của Đại Đế Thành Cát Tư Hãn chưa hề nghe đến hai chữ “tự do,” “dân chủ”.

Ngoại trừ nền độc lập ngắn ngủi năm 1911, chiều dài lịch sử của Mông Cổ hiện đại bị che phủ trong bóng đen của tư tưởng độc tài CS. Nhưng Elbegdorj cũng tin rằng nếu nhân dân Mông Cổ đoàn kết vì tương lai dân chủ, Mông Cổ sẽ vượt qua được những khiếm khuyết bên trong cũng như đe dọa từ bên ngoài. 

Elbegdorj biết những “đổi mới” tại Liên Xô hay một số nước CS Đông Âu chỉ là những biện pháp vá víu tạm thời. Theo anh chỉ có dân chủ mới cứu được Mông Cổ. Dân chủ là đôi cánh đưa Mông Cổ ra khỏi vòng nghèo đói, độc tài, bế tắc của một quốc gia vùng độn (buffer state).

Trong diễn văn ngày 28 tháng 11, 1989, Elbegdorj phát biểu “Mông Cổ cần dân chủ và minh bạch” và kêu gọi các tầng lớp nhân dân ủng hộ mục đích này.

Từ quan điểm đó, thay vì viết thư thỉnh nguyện lãnh đạo CS Mông Cổ thực hiện các chính sách tương tự như Glasnost của Mikhail Gorbachev, Elbegdorj và các bạn chủ trương Mông Cổ phải dứt khoát thay đổi từ CS sang dân chủ bằng một cuộc cách mạng bất bạo động.

Sau khi về nước 1989, Elbegdorj sáng lập một tờ báo đối lập và anh đặt tên  báo là Dân Chủ.

Nhóm bạn của Elbegdorj tổ chức các cuộc biểu tình, các buổi tuyệt thực đòi dân chủ và minh bạch.

Cuộc biểu tình tuyệt thực đầu tiên ngày 10 tháng 12 năm 1989 do 13 người trẻ phát động.

Ngày nay lịch sử Mông Cổ gọi họ một cách kính trọng là “13 nhà dân chủ Mông Cổ đầu tiên” nhưng dĩ nhiên trong năm 1989, bộ máy tuyên truyền CS Mông Cổ gọi họ là “mười ba tên phản động”.

Danh sách 13 người đầu tiên của phong trào dân chủ Mông Cổ 1990:

  1. Tsakhiagiin Elbegdorj (27 tuổi, lãnh tụ phong trào dân chủ, Thủ tướng Cộng hòa Mông Cổ)
  2. Erdeniin Bat-Üül (Lãnh tụ Đảng Dân Chủ Mông Cổ)
  3. Davaadorjiin Ganbold (Lãnh tụ Đảng Tiến Bộ Dân Tộc Mông Cổ )
  4. Khoovzoin Maam (Lãnh tụ Đảng Lao Động Tự Do Mông Cổ)
  5. Punsalmaagiin Ochirbat (Tổng thống đầu tiên của Mông Cổ được bầu 1990)
  6. Dumaagiin Sodnom (Thủ tướng Mông Cổ, 1990)
  7. Sharavyn Gungaadorj (Thủ tướng Mông Cổ từ tháng 3 đến tháng 9, 1990)
  8. Dashiin Byambasüren (Thủ tướng Mông Cổ sau tháng 9, 1990)
  9. Dari-Sukhbaatar
  10. Chimediin Enkhee
  11. Bat-Erdeniin Batbayar
  12. Jambyn Batmönkh
  13. Gombojavyn Ochirbat

Nhưng những nhà dân chủ Mông Cổ đầu tiên đó không phải là những người làm nên lịch sử.

Cuộc cách mạng dân chủ không làm rơi một giọt máu nào ở Mông Cổ là do đại đa số trong số 2.8 triệu dân Mông Cổ chọn đứng về phía tương lai, chọn dứt khoát với quá khứ, chọn đi trên con đường thời đại, trong số đó có cả Tổng Bí Thư CS thức thời Jambyn Batmönkh.

Sau cách mạng dân chủ thành công, năm 1998, Elbegdorj được bầu vào chức vụ Thủ Tướng Cộng Hòa Mông Cổ và lần nữa nhiệm kỳ 2004-2006, và năm 2009, ông được bầu làm Tổng thống Cộng Hòa Mông Cổ.

Học bài học đấu tranh dân chủ của Elbegdorj và nhân dân Mông Cổ để củng cố niềm tin và hy vọng cho cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam. Anh Elbegdorj không cô đơn khi ngồi tuyệt thực đòi minh bạch giữa mùa đông Mông Cổ và rồi người Việt cũng sẽ không cô đơn khi xuống đường đòi minh bạch trên khắp nẻo đường Việt Nam.

Elbegdorj không phải là con của khai quốc công thần như Aung San Suu Kyi, không phải là luật sư nổi tiếng như Nelson Mandela, không phải là lãnh tụ của phong trào Solidarity Ba Lan được cả Đức Giáo Hoàng và TT Reagan ủng hộ như Lech Wałęsa, không phải là người được trao giải Nobel Hòa Bình như cả ba người được nhắc trên đây.

Trước 1989 không ai biết gì về Elbegdorj vì anh ta chỉ là một người thợ mỏ, con trai của một người dân du mục chăn cừu trên thảo nguyên Mông Cổ.

Nhưng Elbegdorj có tình yêu sâu đậm dành cho đất nước và khát vọng tự do cho quê hương. Tình yêu nước và lương tri thời đại đã là ngọn đuốc thắp sáng quê hương anh và sáng cả tâm hồn người Việt cùng khát vọng như anh. Trong buổi phỏng vấn dành cho báo The New York Times năm 2004, Thủ tướng Elbegdorj nhắc lại kỷ niệm buổi tuyệt thực đầu tiên “Chúng tôi muốn cho thế giới thấy rằng các giá trị thường được gọi là giá trị Tây phương không phải thuộc về Hoa Kỳ, châu Âu, Nam Hàn và Nhật Bản thôi nhưng còn thuộc về Mông Cổ.”

Các thế hệ trẻ Việt Nam chỉ cần thay hai chữ Mông Cổ bằng Việt Nam trong câu nói của Elbegdorj, “Giá trị tự do dân chủ không phải thuộc về Hoa Kỳ, châu Âu, Nam Hàn và Nhật Bản hay Mông Cổ mà còn là của Việt Nam nữa”.

Trần Trung Đạo


 

Mỹ-Châu Âu và bài học ‘người đốn củi, kẻ gánh nước’- Trúc Phương/Người Việt

Ba’o Nguoi-Viet

March 19, 2026

Trúc Phương/Người Việt

Trong cuộc phỏng vấn POLITICO Pub (Munich, Đức) ngày 14 Tháng Hai, 2026, đại sứ Mỹ tại NATO Matthew Whitaker ám chỉ quan hệ Mỹ và Châu Âu giờ là chuyện “thân ai nấy lo, hồn ai nấy giữ.” Hãy làm tốt việc của mình. Kẻ đốn củi cứ đốn củi và người gánh nước thì lo gánh nước (nguyên văn: “We just need to, every single day, chop wood and carry water, ignore all of the political noise”). Mỹ đang thấm thía “bài học” này hơn bao giờ hết…

Tổng Thống Donald Trump (phải) và Thủ Tướng Đức Friedrich Merz trong lần gặp nhau tại Tòa Bạch Ốc, hôm 3 Tháng Ba, 2026, chỉ ít ngày sau khi Mỹ và Israel tấn công Iran. (Hình: Andrew Caballero-Reynolds/AFP via Getty Images)

Gáo nước lạnh của các đồng minh

Trump chưa bao giờ giận đến mức kinh khủng như vậy. Ông đã bị gáo nước lạnh tạt vào mặt từ những đồng minh mà liên tục nhiều năm qua ông mạt sát họ hết lời. Họ thẳng thừng từ chối “lệnh” của ông, yêu cầu tham gia bảo vệ eo biển Hormuz.

Ngày 17 Tháng Ba, Trump trút lửa thịnh nộ lên Truth Social: “Nhờ những thành công quân sự, chúng ta không còn ‘cần’ hay mong muốn sự hỗ trợ từ các nước NATO – thực ra là CHƯA BAO GIỜ CẦN! Tương tự với Nhật, Úc hay Nam Hàn. Với tư cách tổng thống Hoa Kỳ, quốc gia hùng mạnh nhất thế giới, CHÚNG TA KHÔNG CẦN SỰ GIÚP ĐỠ CỦA BẤT KỲ AI!”

Những ngày gần đây, Trump liên tục kêu gọi các đồng minh, thậm chí cả đối thủ địa chính trị Trung Quốc, hỗ trợ bảo vệ eo biển Hormuz. Những gì Trump nhận được là “cục lơ.” “Chúng tôi không châm ngòi cho cuộc chiến này” – Bộ Trưởng Quốc Phòng Đức Boris Pistorius phát biểu ngày 16 Tháng Hai. Phó Thủ Tướng Luxembourg Xavier Bettel nói, yêu cầu của Trump là “một kiểu tống tiền.” Phần mình, Tổng Thống Pháp Emmanuel Macron nói chiến dịch tấn công Iran là bất hợp pháp. Với Anh, Thủ Tướng Keir Starmer khẳng định rằng nước ông “sẽ không bị kéo vào một cuộc chiến lan rộng”…

Trong thực tế, quan hệ Mỹ-Âu thời Trump luôn trong tình trạng cực kỳ căng thẳng. Một số nhà bình luận ví von đây là mối quan hệ chua chát tương tự sống với một “bạn đời” không chỉ ưa quát tháo vô cớ, thích “đá thúng búng niêu,” mà còn khoái bạo hành và thao túng tâm lý. Nhiều người hẳn còn nhớ, tại hội nghị an ninh Munich 2025, Phó Tổng Thống JD Vance đã sỉ nhục Châu Âu như thể họ là đám học trò lôi thôi cần mắng chửi nặng hết mức thì may ra mới “dạy dỗ” được.

“Giờ đây xuất hiện một phương trình mới, nơi bạn thực sự không biết ai là bạn, ai là đồng minh” – nhận định của Kaja Kallas, người đứng đầu chính sách đối ngoại và an ninh của Ủy Ban Châu Âu. Từ các bộ trưởng, nghị viên đến tướng lĩnh quân đội Châu Âu, tất cả đều thừa nhận rằng những giá trị chung từng gắn kết Washington với các đồng minh Châu Âu nay gần như không còn. Mất mát lớn nhất là niềm tin.

Elbridge Colby, thứ trưởng Quốc Phòng phụ trách chính sách tại Ngũ Giác Đài, nói rằng ông không chắc những “tụng ca và tín điều” một thời về giá trị chung Mỹ-Âu còn đúng hay không. Colby nhấn mạnh, ở đây không bàn đến chuyện “(Mỹ) rút lui” ở mức độ nào, mà cần phải đặt quan hệ trên nền tảng bền vững và thực chất hơn, đặc biệt các lợi ích chung.

Tuy nhiên, vấn đề là lợi ích an ninh của Mỹ chồng lấn với lợi ích Châu Âu ở cấp độ nào. Từ góc nhìn Châu Âu, thách thức an ninh then chốt của họ là cuộc chiến của Nga ở Ukraine, cũng như khả năng Moscow nhắm tới các nước Baltic và những khu vực khác thuộc Liên Minh Châu Âu. Quan điểm này gần như hoàn toàn khác với Mỹ. Trump chưa bao giờ đặt nặng mối đe dọa Nga. Ông thậm chí treo hình Vladimir Putin trong Tòa Bạch Ốc.

Cần nhắc lại, tại hội nghị an ninh Munich 2026 cách đây một tháng, bài phát biểu của Ngoại Trưởng Marco Rubio không hề đề cập đến Nga. Thay vào đó, Rubio cảnh báo về hiểm họa của nhập cư ồ ạt vào Châu Âu, vấn đề mậu dịch “không kiểm soát” và “hiện tượng” đánh động thái quá về tình trạng nóng toàn cầu.

Rubio nói thêm, dù vận mệnh Châu Âu không phải là điều không liên quan Mỹ nhưng “chúng tôi sẵn sàng, nếu cần, tự mình làm những gì chúng tôi muốn làm.” Một lần nữa, tương tự bóng gió của đại sứ Mỹ tại NATO Matthew Whitaker, Rubio hàm ý rằng Châu Âu cần Mỹ hơn là ngược lại và Mỹ sẵn sàng “đi một mình” (“go it alone”) khi cảm thấy cần thiết như vậy.

Chẳng ai có thể “sống một mình”

Hai tuần trước khi Mỹ-Israel thực hiện chiến dịch “thanh toán” Tehran, Thủ Tướng Đức Friedrich Merz đã viết một xã luận trên Foreign Affairs (“How to Avert the Tragedy of Great-Power Politics”), qua đó có thể thấy quan điểm của ông và thông điệp mà ông muốn gửi đến Trump:

“Như triết gia Đức Peter Sloterdijk gần đây đã viết, Châu Âu đã chấm dứt ‘một kỳ nghỉ mà lịch sử dường như vắng mặt’ kéo dài. Chúng ta đã bước qua ngưỡng cửa để tiến vào một kỷ nguyên u ám hơn, một lần nữa được định hình bởi sự phô diễn sức mạnh và nền chính trị cường quốc. Vị thế lãnh đạo toàn cầu mà Hoa Kỳ tuyên bố nắm giữ đang bị thách thức, thậm chí dường như đang bị đánh mất. Và trật tự quốc tế vốn dựa trên các quyền và quy tắc, dù vốn dĩ không hoàn hảo ngay cả trong những ngày tháng tươi đẹp nhất, giờ đây không còn tồn tại (…)

“Khi tiến về phía trước, chúng ta cần nhìn nhận bức tranh toàn cảnh và vạch ra một lộ trình rõ ràng: Người Đức hiểu rằng một thế giới mà ở đó chỉ có quyền lực lên ngôi sẽ là một nơi tăm tối. Đất nước chúng tôi từng đi theo con đường này trong thế kỷ 20, để rồi phải đón nhận một kết cục cay đắng và đầy chua cay.

“Ngày nay, chúng tôi lựa chọn con đường khác. Đất nước chúng tôi gắn kết vững chắc với Liên Minh Châu Âu, với NATO, cũng như với một mạng lưới các quan hệ đối tác chiến lược ngày càng mở rộng. Chúng tôi tin tưởng vào giá trị của những mối quan hệ đối tác đáng tin cậy, được xây dựng trên nền tảng những giá trị và lợi ích chung, sự tôn trọng lẫn nhau cùng niềm tin vững chắc. Sau năm 1945, chính Hoa Kỳ là quốc gia đã truyền cảm hứng cho người Đức về ý tưởng đầy mạnh mẽ này…”

Không còn đường lùi

Mối bất hòa nghiêm trọng từ việc Châu Âu để Mỹ “tự gánh củi” và “tự gánh nước” trong cuộc chiến Trung Đông là sự kiện “giọt nước tràn ly” khiến quan hệ Mỹ-Âu không còn kỳ vọng trở lại trạng thái bình thường như trước thời Trump, ngay cả khi Trump rời nhiệm sở. Cần nhắc lại, ngay trước thềm hội nghị an ninh Munich 2026, Châu Âu đã công khai nói rằng Trump là một “quả cầu đập phá” (“wrecking ball”) và là một trong những “kẻ phá bĩnh” hủy hoại các chuẩn mực và thể chế trật tự quốc tế.

Quan hệ rạn nứt Mỹ-Âu không chỉ thể hiện trên nghị trường. Chưa bao giờ dân Châu Âu nhìn Mỹ, chính xác hơn là Trump, bằng cặp mắt khác như lần này. Cuộc khảo sát do Cluster17 thực hiện trung tuần Tháng Hai với 7,498 người tại bảy quốc gia Châu Âu đã đưa ra kết quả đầy sửng sốt. Đại đa số ý kiến ủng hộ việc điều động quân đội Châu Âu đến bảo vệ Greenland trong trường hợp căng thẳng leo thang. 51% ý kiến đánh giá Trump là kẻ thù của Châu Âu, trong khi chỉ vỏn vẹn 8% xem ông là bạn.

Tất nhiên Châu Âu không thể cắt đứt quan hệ với Mỹ, về chính trị lẫn kinh tế. Tuy nhiên, họ bắt đầu tìm cách giảm lệ thuộc, không chỉ về quân sự mà cả mạng lưới tài chính và hệ thống công nghệ, nhằm giữ được chủ quyền tiền tệ và chủ quyền kỹ thuật số. Nói cách khác, họ cố “gỡ” nhiều nhất có thể những sợi dây lệ thuộc móc dính vào hệ thống Mỹ.

Mức độ lệ thuộc các công ty công nghệ lớn của Mỹ (như Amazon, Google và Microsoft trong lĩnh vực điện toán đám mây) cũng như các ông trùm dịch vụ tài chính (Mastercard và Visa cho các hệ thống thanh toán) đều được rà soát lại. Tổng Thống Pháp Emmanuel Macron cảnh báo rằng những phụ thuộc như vậy khiến Châu Âu ngày càng dễ bị tổn thương hơn trước sức ép về kinh tế và chính trị từ một tổng thống bất thường như Trump.

Giới lãnh đạo Châu Âu thậm chí bắt đầu xem xét các công cụ cấm vận mà Washington từng dành riêng cho một số đối thủ như Iran hay Bắc Hàn giờ đây có thể được sử dụng để chống lại họ. Trong thực tế, Trump đã nhúng sâu vào chính trị Châu Âu khi áp đặt lệnh trừng phạt nhằm vào các chánh án và công tố viên tại Tòa Án Hình Sự Quốc Tế (La Hague) vì tội dám điều tra việc Israel có phạm tội ác chiến tranh ở Gaza hay không.

Nói cách khác, ngoài việc tăng cường ngân sách quốc phòng – điều mà Trump luôn dùng để gây sức ép, Châu Âu đang tước dần những công cụ mà Trump có thể sử dụng để bắt thóp họ. Sau tất cả, niềm tin mà hai bên dành cho nhau đã vĩnh viễn xuống đến đáy.

Có thể ngày mai Châu Âu sẽ nhân nhượng và giúp Trump phần nào trong bi kịch chiến tranh Trung Đông mà Trump đang sa lầy nghiêm trọng, nhưng ít nhất, hôm nay, họ đã dạy ngược lại Trump bài học rằng trong thế giới hỗ tương ngày nay khi các bên ít nhiều ràng buộc lẫn nhau thì không thể có chuyện “chơi một mình.” Dù mạnh đến đâu, chẳng ai có thể tự “đốn củi” và “gánh nước” mà không cần ai giúp. [kn]


 

‘SAVE Act,’ coi chừng lợi bất cập hại!-Hiếu Chân/Người Việt

March 20, 2026 

Hiếu Chân/Người Việt

Hôm 17 Tháng Ba, Thượng Viện Hoa Kỳ bỏ phiếu 51-48 đưa dự luật cải cách bầu cử Safeguard American Voter Eligibility Act (SAVE Act) ra tranh luận khoáng đại sau khi một dự luật tương tự, gọi là H.R.22, đã được Hạ Viện thông qua tháng trước. Các dự luật này ảnh hưởng thế nào tới cử tri và liệu nó có tăng lợi thế cho đảng Cộng Hòa trong cuộc bầu cử giữa kỳ Tháng Mười Một năm nay?

Một cử tri bỏ phiếu bầu qua thư ở California. (Hình minh họa: FREDERIC J. BROWN/AFP via Getty Images)

Phải chứng minh tư cách công dân

Nói vắn tắt, SAVE Act bắt buộc cử tri chứng minh tư cách công dân (quốc tịch) khi đi bầu nhằm loại trừ những người chưa phải là công dân, người cư trú bất hợp pháp, bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử liên bang.

(1) Để ghi danh đi bầu, cử tri phải xuất trình tài liệu chứng minh mình là công dân Hoa Kỳ, đang có quốc tịch Hoa Kỳ. Bằng chứng là sổ thông hành (passport), thẻ căn cước quân đội của quân nhân hiện dịch (active military ID), giấy khai sinh hoặc bản chính giấy chứng nhận nhập tịch (certificate of naturalization). Người ghi danh phải trực tiếp nộp bằng chứng tại cơ quan bầu cử, không chấp nhận ghi danh qua thư (mail-in) hoặc ghi danh trực tuyến (online).

Nên để ý, bằng lái xe và thẻ căn cước Real ID không được coi là bằng chứng quốc tịch, trừ thẻ Real ID của năm tiểu bang New York, Washington, Vermont, Michigan và Minnesota. Phụ nữ đã kết hôn và đổi họ theo họ chồng, thì giấy khai sinh ghi tên họ thời con gái sẽ không được chấp nhận là bằng chứng quốc tịch. Chứng chỉ hôn nhân (marriage license) không thể hiện quốc tịch nên không được chấp nhận là bằng chứng.

(2) Khi bỏ phiếu, cử tri phải trình thẻ căn cước có ảnh. Muốn bỏ phiếu khiếm diện qua thư cử tri phải nộp bản sao hai mặt thẻ căn cước cùng với ba chữ số cuối của số an sinh xã hội (SSN) khi yêu cầu lá phiếu và khi nộp phiếu cho cơ quan bầu cử.

(3) Cơ quan bầu cử tiểu bang phải đối chiếu danh sách cử tri (vote roll) với cơ sở dữ liệu SAVE Database của Bộ Nội An (DHS) để nhận diện và loại trừ những người chưa phải là công dân. Việc đối chiếu và loại trừ này phải được thực hiện mỗi 30 ngày một lần. Ngoài ra, tiểu bang cũng phải chia sẻ danh sách cử tri đầy đủ (unredacted) với chính quyền liên bang để DHS kiểm chứng tư cách công dân của những người ghi danh đi bầu.

Ngoài ra, dự luật cũng đặt hình phạt nặng những viên chức bầu cử ghi danh bỏ phiếu cho những cá nhân không xuất trình bằng chứng quốc tịch, cho phép công dân được khởi kiện viên chức bầu cử khi họ tin rằng viên chức đó không làm đúng luật.

Liêm chính hay cản trở?

Tổng Thống Trump và các dân cử Cộng Hoà cho rằng dự luật SAVE Act là cần thiết để bảo đảm tính liêm chính của bầu cử, ngăn ngừa gian lận của những người chưa phải là công dân Hoa Kỳ, từ đó phục hồi niềm tin của công chúng vào kết quả bầu cử.

Mặc dù Hiến Pháp quy định chỉ công dân Hoa Kỳ mới có quyền bỏ phiếu bầu cử liên bang, nghiêm cấm người chưa là công dân Hoa Kỳ đi bỏ phiếu và hình phạt cho hành vi này rất nặng nhưng những người ủng hộ dự luật vẫn cho rằng đòi hỏi bằng chứng quốc tịch khi ghi danh cử tri là biện pháp duy nhất bảo đảm quyền bầu cử chỉ thuộc về công dân.

Theo luật, tổ chức bầu cử thuộc thẩm quyền của tiểu bang và địa phương, cho nên mỗi tiểu bang có luật lệ và thể thức bầu cử khác nhau. Dự luật SAVE Act nhắm “thống nhất” cách thức bầu cử sao cho cử tri ở mọi tiểu bang đều tuân theo những tiêu chuẩn bầu cử giống nhau.

Phía đảng Dân Chủ và các tổ chức dân quyền thì cho rằng dự luật này thổi phồng một vấn đề không có thực (phantom problem) nhằm gây cản trở quyền bầu cử hợp pháp của cử tri Mỹ và phân biệt đối xử.

Số liệu của nhiều tổ chức độc lập cho biết, hiện nước Mỹ có gần một nửa dân số không có sổ thông hành, khoảng 21 triệu công dân có quyền bầu cử nhưng không có giấy khai sinh do đó không thể ghi danh đi bầu theo luật SAVE Act. Phần lớn số cử tri này là người cao tuổi, người ở vùng nông thôn dân cư thưa thớt hoặc người có thu nhập thấp.

Phụ nữ là người bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Theo Hội Người Hưu Trí Mỹ (AARP), 69 triệu phụ nữ Mỹ hiện có họ tên trên thẻ căn cước không trùng với họ tên trên giấy khai sinh do đổi họ theo chồng. Theo luật SAVE Act, những phụ nữ này sẽ phải trình giấy chứng nhận kết hôn bản gốc và xin lệnh toà cho phép ghi danh cử tri – một thủ tục không dễ dàng.

Với những đòi hỏi chặt chẽ về chứng minh quốc tịch, dự luật SAVE Act cũng sẽ loại bỏ phương thức bầu cử qua thư, bầu cử khiếm diện bởi vì cử tri khó mà xuất trình được bằng chứng quốc tịch với cơ quan bầu cử để được xác nhận tư cách công dân, được nhận phiếu bầu và gửi phiếu qua đường bưu điện.

Gian lận bầu cử – vấn đề không có thực

Tổng Thống Trump và nhiều cử tri Cộng Hoà từ lâu đã than phiền rằng hệ thống bầu cử của Mỹ dễ bị lũng đoạn và gian lận bầu cử là phổ biến. Họ cho rằng có một số lượng lớn những người chưa phải là công dân Hoa Kỳ đã đi bỏ phiếu, làm sai lệch kết quả bầu cử, do đó luật bầu cử cần được cải cách, bắt buộc cử tri chứng minh tư cách công dân ngay từ khi ghi danh đến khi bỏ phiếu vào thùng.

Trước cuộc bầu cử tổng thống 2024, Chủ Tịch Hạ Viện Mike Johnson nói ông biết “theo trực giác” rằng “rất nhiều di dân bất hợp pháp đã bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử liên bang.” Hội nghị toàn quốc đảng Cộng Hòa hồi Tháng Bảy 2024 nhắc lại những tuyên bố vô căn cứ như vậy. Rồi đến Tháng Mười Một 2024, ông Trump tái đắc cử tổng thống, đảng Cộng Hòa giành được đa số ở cả hai viện Quốc Hội thì không thấy họ nhắc tới chuyện di dân không giấy tờ đi bầu cử nữa.

Nhưng việc xem xét cẩn thận kết quả bầu cử chứng tỏ không có hiện tượng người chưa là công dân đi bầu đủ để làm sai lệch kết quả. Heritage Foundation – tổ chức nghiên cứu bảo thủ, nơi biên soạn Đề Án 2025 (Project 2025) làm kim chỉ nam cho việc trị quốc của ông Trump – đã mất nhiều năm tìm hiểu về gian lận bầu cử và cuối cùng phải thừa nhận chuyện người chưa phải là công dân Mỹ đi bỏ phiếu chỉ là một huyền thoại!

Cơ sở dữ liệu bầu cử của Heritage Foundation, thu thập trong bốn thập niên từ 1985 đến 2025, ghi nhận “1,546 trường hợp gian lận bầu cử,” trong đó chỉ có 68 trường hợp người bỏ phiếu chưa phải là công dân Mỹ, kể cả 10 trường hợp là người nhập cư không giấy tờ, còn lại là vi phạm của công dân Mỹ. So với hơn một tỷ lá phiếu của nhiều cuộc bầu cử liên bang suốt 40 năm mà Heritage Foundation xem xét, tỷ lệ phiếu bất hợp pháp của người chưa phải là công dân chỉ chiếm chưa tới một phần triệu (0.0001%).

Một nghiên cứu khác của Brennan Center – một tổ chức nghiên cứu phi đảng phái về bầu cử – phân tích 23.5 triệu lá phiếu ở 42 khu vực năm 2016 ghi nhận chỉ 30 trường hợp bỏ phiếu của người chưa phải là công dân Mỹ, tỷ lệ cũng chỉ một phần triệu (0.0001%).

Điều tra của cơ quan bầu cử nhiều tiểu bang cũng ghi nhận kết quả tương tự: hiện tượng người chưa là công dân đi bỏ phiếu là có, nhưng vô cùng hiếm, không phải là một vấn đề nghiêm trọng đến mức cần phải đặt ra những rào cản khắc nghiệt như dự luật SAVE Act.

Đã có án lệ là năm 2013 tiểu bang Kansas ban hành luật bầu cử SAFE (Secure And Fair Elections Act) nội dung giống hệt đạo luật SAVE Act hiện nay, hậu quả là hỗn loạn: 31,000 cử tri, chiếm 12% tổng số cử tri tiểu bang, bị tước quyền bỏ phiếu dù họ là công dân Mỹ chỉ thiếu những giấy tờ quốc tịch.

Tháng Sáu 2018, đạo luật SAFE bị tòa án liên bang tuyên “vi hiến” và bị huỷ bỏ. Năm 2013 Tối Cao Pháp Viện đã bác bỏ quy định của tiểu bang Arizona đòi cử tri phải chứng minh quốc tịch vì vi phạm Luật Ghi Danh Cử Tri Quốc Gia (National Voter Registration Act – NVRA) năm 1993.

Coi chừng “gậy ông đập lưng ông”

Ông Trump và các đồng minh Cộng Hoà coi dự luật SAVE Act là yếu tố quyết định thắng thua của đảng Cộng Hòa trong cuộc bầu cử giữa kỳ năm 2026. “Bầu cử Mỹ bị Gian Lận, bị Đánh Cắp, là Trò Cười cho cả Thế Giới. Chúng ta hoặc phải chấn chỉnh, hoặc sẽ không còn Đất Nước nữa,” ông Trump viết trên Truth Social. Ông cho rằng, dự luật sẽ mang lại cho đảng Cộng Hoà thắng lợi “chắc chắn” trong cuộc bầu cử sắp tới và ông đe doạ trừng phạt các vị dân cử Cộng Hoà nào không bỏ phiếu thuận cho dự luật SAVE Act của ông.

Tuy nhiên, các nhà phân tích cảnh báo, luật SAVE Act bắt buộc cử tri phải xuất trình sổ thông hành/giấy khai sinh để ghi danh, chưa chắc đã có lợi cho đảng Cộng Hoà.

Dữ kiện và các cuộc khảo sát ghi nhận cử tri Cộng Hoà ít sở hữu sổ thông hành hơn người Mỹ nói chung. Hãng tin Reuters phân tích dữ liệu của Center for American Progrees ghi nhận, ở cuộc bầu cử 2024, trong 17 tiểu bang có tỷ lệ người dân sở hữu sổ thông hành cao nhất nước Mỹ thì 14 tiểu bang bỏ phiếu cho bà Kamala Harris, mười hai tiểu bang có tỷ lệ sở hữu sổ thông hành thấp nhất bỏ phiếu cho ông Trump. Hầu hết các tiểu bang có tỷ lệ sở hữu sổ thông hành thấp đều là vùng nông thôn, cử tri ít có nhu cầu ra nước ngoài du lịch hoặc làm việc, nghĩa là ít có cơ hội ghi danh bầu cử hơn.

Tỷ lệ sở hữu sổ thông hành tỷ lệ thuận với trình độ học vấn. Năm 2024, ông Trump thắng lớn trong số cử tri có trình độ trung học hoặc thấp hơn, còn bà Harris giành được phiếu của cử tri có trình độ đại học và cao hơn.

Một nghiên cứu năm 2023 của Pew Research Center được Reuters dẫn lại cho biết, khi lấy chồng, phụ nữ theo đảng Dân Chủ có xu hướng giữ lại họ tên thời con gái nhiều gấp đôi phụ nữ Cộng Hoà. Còn phụ nữ độc thân, không gặp khó khăn về họ tên khi ghi danh bầu cử, có xu hướng bỏ phiếu cho Dân Chủ nhiều hơn, tỷ lệ 61%-38% theo khảo sát của CNN trong cuộc bầu cử 2024.

Điều ông Trump sợ nhất là đảng Dân Chủ giành đa số Quốc Hội trong cuộc bầu cử sắp tới. Đảng Cộng Hoà đã vận dụng nhiều thủ pháp, từ vẽ lại bản đồ khu vực bầu cử, cho đồng minh thâu tóm các công ty truyền thông như CBS, CNN, các công ty sản xuất và vận hành máy bỏ phiếu như Dominion, và thay đổi luật bầu cử. Cho dù sắp tới luật SAVE Act giành được 60 phiếu thuận ở Thượng Viện thì đó chưa chắc đã là điều hay cho đảng Cộng Hoà. [kn]


 

Iran thách thức Hoa Kỳ với chiến tranh du kích trên biển

Làm thế nào để giành chiến thắng trong một trận hải chiến ? Đó là câu hỏi đang dấy lên tại Washington trước một đối thủ bị cho là chỉ có « những phương tiện vừa cũ kỹ, lỗi thời và nghèo nàn » như Iran. Hoa Kỹ xác nhận đã đánh chìm hơn 120 tàu chiến của Iran nhưng cho đến ngày 20/03/2026 Teheran vẫn phong tỏa eo biển Hormuz nhờ chiến lược « du kích biển ».

Đăng ngày: 20/03/2026 

Thanh Hà

YouTube player

Mặc dù đã  điều hai hàng không mẫu hạm và huy động đến 1/3 các khả năng của Hải Quân Hoa Kỳ đến Trung Đông, hàng ngàn lính Mỹ đang được điều đến khu vực, hôm 15/03/2026 tổng thống Trump đã kêu gọi các  « đồng minh » và Trung Quốc chung sức bảo đảm an toàn và tự do giao thương hàng hải. Trước mắt, cộng đồng quốc tế trước mắt không mấy hào hứng chia sẻ gánh nặng xuất phát từ một cuộc chiến mà Mỹ và Israel đã khởi xướng mà quốc tế không  không tham khảo ý kiến và cũng không trong khuôn khổ của Liên Hiệp Quốc. 

Iran và những thiệt hại trong 2 tuần đầu chiến tranh

Họp báo hôm 19/03/2026 bộ trưởng Quốc Phòng Pete Hegseth cho biết Hoa Kỳ và Israel đã phá hủy « 85 % các hệ thống phòng không và radar, 70 % khả năng phóng tên lửa đạn đạo » của Cộng Hòa Hồi Giáo Iran. Trên biển « hơn 120 trong số từ 200-300 tàu của Iran đã bị nhận chìm ». Ngoạn mục hơn cả là vụ hôm 04/03, một tàu hộ tống của Iran ở mãi tận ngoài khơi Sri Lanka ngư lôi phóng đi từ một tàu ngầm của Mỹ đánh chìm, gần 90 thủy thủ thiệt mạng hơn 60 người mất tích.

Theo các tổng kết gần đây nhất, sau gần 3 tuần chiến tranh, hải quân Iran đã chịu nhiều thiệt hại. Ít nhất 4 tàu corvet, 1 tàu chở conterner còn mới nguyên đã bị nhận chìm. Căn cứ hải quân Bandar-Abbas, nơi cũng là « tổng hành dinh » của chi nhánh đường biển được đặt dưới sự điều hành của Vệ Binh Cách Mạng đã nhiều lần là mục tiêu bị nhắm tới.

QUẢNG CÁO

Cảng nước sâu Konarak – Chabahar hướng ra Ấn Độ Dương cũng đã bị nhiều thiệt hại, tương tự như căn cứ ở Buchehr, nơi có các cơ sở hạt nhân của Iran.

Nhưng Teheran vẫn làm chủ tình hình ở eo biển Hormuz và dọa « không một giọt dầu nào » trong Vịnh có thể đi qua cửa khẩu này cho tới chấm dứt chiến tranh

Những mũi nhọn trong chiến thuật « du kích biển »

Trong bài tham luận mang tựa đề Làm thế nào giải tỏa Hormuz ? Những kịch bản chiến thuật nhằm bảo đảm an ninh trong vùng Vịnh đăng trên báo Le Grand Continent, chuyên gia quân sự Stéphane Audrand, một nhà tư vấn độc lập chuyên về những rủi ro quốc tế nhận định : Đóng cửa eo biển Hormuz là kịch bản mà dường như Nhà Trắng đã không tính đến, như thể bất chấp những báo động của Lầu Năm Góc Mỹ – Israel đã cố tình loại bỏ khả năng Iran lao vào một cuộc hải chiến.

Nhà phân tích Louis Borer chuyên nghiên cứu về các mối đe dọa đường biển thuộc cơ quan tư vấn Đan Mạch Rish Intelligence được báo Le Monde trích dẫn lưu ý : Teheran từ lâu nay đã rất xuất sắc trong chiến thuật « du kích biển », chủ yếu sử dụng khoảng 200 tàu hộ tống cỡ nhỏ và tàu tuần tra, kết hợp với việc sử dụng drone do chính Iran tự tạo và tên lửa hành trình không quá tốn kém mà một phần là do Trung Quốc cung cấp.

Lấy số đông làm sức mạnh

Ngoài ra, Iran áp dụng mô hình « lấy số đông làm sức mạnh » mà chuyên gia Pháp Stéphane Audrand gọi là chiến thuật « ong vỡ tổ » : tức là hy động rất nhiều tàu tuần tra, nhỏ và gọn nhẹ, để áp đảo đối phương. Mỗi tàu nhỏ này thường chỉ mang theo « vũ khí nhẹ như rocket, tên lửa nhỏ hoặc thủy lôi từ tính gắn vào thân tàu ». Phương án này hiệu quả ở eo biển Hormuz và trong vùng Vịnh Ba Tư : đó là một « cửa biển hẹp mà lại rất đông tàu thuyên qua lại ».

Nhìn từ phía Hoa Kỳ thì có nhiều yếu tố bất thuận lợi khi can thiệp trong vùng Vịnh và eo biển Hormuz : Các bờ biển của Iran là những vách núi đá cho phép các loại tàu nhỏ ẩn núp và cất giữ vũ khí, đạn dược. Địa hình đó thuận lợi cho « chiến tranh du kích ». Theo thẩm định của Stéphane Audrand, bên cạnh khoảng 15 căn cứ hải quân, hơn 100 cảng -chủ yếu phía tây Hormuz và vô số vịnh nhỏ nơi các tàu nhỏ ẩn nấp và cất giữ vũ khí. Đây là một « cơn ác mộng » đối với các nhà chiến lược của Mỹ.

Làm thế nào để bảo đảm an toàn cho một « hành lang đường biển » có chiều dài hơn 1500 km dọc theo duyên hải của Iran ? 

Hải quân Iran : Phương tiện không nhiều nhưng « hiệu quả »

Vẫn chuyên gia quân sự Stéphane Audrand nhắc lại vài cột mốc quan trọng trong học thuyết hải quân của Iran. Đầu tiên hết là một sự tổ chức lại hồi 2007. Các nhiệm vụ « bảo vệ lãnh hải, kiểm soát các nguồn đánh bắt cá hay an ninh biển, chống hải tặc … vẫn thuộc về lực lượng hải quân truyền thống. Nhưng về những phương tiện và chiến lược tác chiến thì lại thuộc thẩm quyền của  Vệ Binh Cách Mạng trong tay giáo chủ Ali Khamenei. Đó là thời điểm Teheran chuyển sang phát triển các phương tiện can thiệp « gọn và nhẹ, mà lại ít tốn kém » như drone, drone biển, và các loại tàu nhỏ mà giới trong ngành gọi là những « hạt bụi biển »

Những phương tiện này cuối 2023 đã được lực lượng Hồi giáo Houthi ở  Yemen, thuộc phe hệ phái Shia sử dụng. Với ít phương tiện nhưng cũng đủ để phe này thách thức các tàu hàng của phương Tây đi qua Hồng Hải và làm rối loạn giao thương đường biển trong vùng.

Chiến thuật này của phe Houthi ở Yemen làm giới trong ngành liên tưởng đến trường phái Jeune Ecole – được Hải Quân Pháp phát triển vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.

Trong một bài nghiên cứu đăng trên trang nhà tạp chí Conflits  chuyên gia Kevin D. McCranie thuộc Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ đã nhắc lại quân Houthi ngày nay dùng số nhiều và sử dụng các phương tiện « vừa gọn, vừa nhẹ » và không quá tốn kém được Iran trang bị để nhắm vào các tàu hàng của phương Tây. Ở góc đài bên kia, Mỹ và các đồng minh đã phải huy động những loại tên lửa rât tối tân và tốn kém để đáp trả. Lần này tại eo biển Hormuz, đối mặt với Iran, Hoa Kỳ đã gửi 2  hàng không mẫu hạm cùng một đội ngũ các tàu hộ tống tháp tùng và hàng ngàn quân sang Trung Đông.

Phía Iran đã tìm ra một phương thức khác ít tốn kém hơn để cho dù trong thế « châu chấu đá voi » nhưng cũng đủ để đẩy siêu cường quân sự số 1 thế giới vào cái thế « bị động », đủ để phương án Washington huy động tàu chiến hộ tống các tàu dầu tại vùng nóng này bị coi là « vô ích », đủ để tại Washington Lầu Năm Góc phải « cân nhắc thách thức mà Teheran đang đặt ra liên quan đến vấn đề an ninh hàng hải của cả một vùng biển rộng lớn và phức tạp hơn » chứ không chỉ khoanh vùng ở eo biển Hormuz.

Chuyên gia quân sự Pháp Stéphane Audrand trong bài tham luận trên tạp chí Le Grand Continent nhấn mạnh : bảo đảm an ninh cho Vùng Vịnh, eo biển Hormuz không phải là « cốt lõi của vấn đề ». Hơn thế nữa, với chiến tranh Trung Đông lần này Iran đang « thách thức vai trò của Mỹ trong mục tiêu bảo vệ các đồng minh, thách đố luôn cả mức độ bền bỉ của kinh tế toàn cầu ». Bất luận kết cục ra sao, các quốc gia dầu hỏa trong khu vực cũng sẽ phải « rà soát lại » mối liên minh của họ với Hoa Kỳ.

Một số nhà quan sát khác tại châu Á được báo Asia Times trích dẫn còn đi xa hơn khi nói đến « Những bài học Trung Quốc đang rút ra từ chiến tranh giũa một bên là Mỹ-Israel và bên kia là Iran »     


 

 NHÀ THỜ TRUYỀN TIN – VIÊN NGỌC CÔNG GIÁO BỊ LÃNG QUÊN, BỊ CHIẾM DỤNG TRÊN ĐƯỜNG PHỔ QUANG, TÂN BÌNH, SÀI GÒN

Người Giồng Trôm

 NHÀ THỜ TRUYỀN TIN – VIÊN NGỌC CÔNG GIÁO BỊ LÃNG QUÊN, BỊ CHIẾM DỤNG TRÊN ĐƯỜNG PHỔ QUANG, TÂN BÌNH, SÀI GÒN

Giữa dòng xe cộ hối hả của đường Phổ Quang, phường 2, quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh ngày nay, có một góc khuất mà ít ai để ý: một ngôi thánh đường Công Giáo nhỏ bé, cổ kính, nằm lặng lẽ bên cạnh doanh trại quân đội (nay là Quân khu 7). Từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngôi nhà thờ này bị chiếm dụng, đóng cửa kín mít, khuôn viên từng là nơi cầu nguyện thiêng liêng nay trở thành bãi đậu xe tải của ngành điện lực, cỏ dại mọc um tùm, tường vôi loang lổ, mái ngói phủ bụi thời gian. Nhiều người Sài Gòn sinh ra sau 1975, sống ngay quanh khu vực này, thậm chí đi qua hàng trăm lần, vẫn không biết đây là nhà thờ gì, thuộc Tin Lành hay Công Giáo. Tra Google Maps hay tìm kiếm trên mạng, kết quả gần như bằng không – như thể ngôi thánh đường này đã bị lịch sử xóa sổ khỏi ký ức tập thể.

Nhưng với những bậc tiền bối Bắc di cư năm 1954 còn sống sót quanh giáo xứ Tân Sa Châu, Bùi Phát (vùng Ông Tạ xưa), họ vẫn nhớ rõ như in: Đây chính là Nhà Thờ Truyền Tin – một trong những nhà thờ Công Giáo quan trọng nhất phục vụ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) thời chiến tranh. Tên gọi “Truyền Tin” lấy từ mầu nhiệm Lễ Truyền Tin (Annunciation) – ngày Sứ Thần Gabriel truyền tin cho Đức Maria rằng Bà sẽ mang thai Con Thiên Chúa. Ngôi nhà thờ được xây dựng để dành riêng cho các linh mục tuyên úy dâng Thánh Lễ, chăm sóc đời sống thiêng liêng cho hàng ngàn quân nhân đóng quanh phi trường Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng Tham Mưu (TTM), và các đơn vị binh chủng Truyền Tin, Không Quân, cùng gia đình họ ở khu gia binh gần đó.

Lịch sử xây dựng và những năm tháng huy hoàng

Ngôi nhà thờ được khởi công vào những năm đầu thập niên 1960, thuộc giáo khu Truyền Tin, giáo xứ Tân Sa Châu, dưới sự quản lý của Tổng Giáo phận Sài Gòn. Viên đá đầu tiên được đặt vào dịp Noel, ngày 23 tháng 12 năm 1961, và hoàn thành chỉ trong vòng chưa đầy một năm – ngày 13 tháng 8 năm 1962. Ban đầu, một số người gọi là “Nhà Thờ Không Quân” vì khu vực phi trường Tân Sơn Nhất lúc ấy chỉ có nhà thờ Công Giáo này phục vụ quân nhân. Sau đó đổi tên thành Nhà Thờ Truyền Tin vì nằm sát khu vực binh chủng Truyền Tin và cư xá gia binh Truyền Tin.

Người trực tiếp đảm trách và góp phần lớn vào việc xây dựng là Linh mục Phan Phát Huồn, dòng Chúa Cứu Thế (DCCT). Cha Huồn sinh ngày 5 tháng 10 năm 1926 tại họ đạo Thợ Đúc, giáo xứ Trường An, Hương Thủy, Huế. Năm mới 11 tuổi (1937), ngài đã vào tu tại Dòng Chúa Cứu Thế – một quyết định dấn thân sớm lạ thường. Khấn dòng năm 1948, thụ phong linh mục ngày 27 tháng 6 năm 1955. Từ năm 1957, cha được chọn tham gia ngành Tuyên Úy Công Giáo Quân Lực VNCH, với cấp bậc cao nhất là Trung tá Tuyên úy, Phó Giám đốc Nha Tuyên Úy Công Giáo QLVNCH.

Không chỉ là linh mục tuyên úy, cha Huồn còn là một sử gia Công Giáo lỗi lạc. Tác phẩm đồ sộ nhất của ngài là bộ “Việt Nam Giáo Sử” (2 tập, xuất bản năm 1965 bởi Cứu Thế Tùng Thư tại Sài Gòn) – một công trình nghiên cứu công phu, chi tiết về lịch sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam từ thời khai phá đến thế kỷ 20. Sau 1975, sách được tái bản tại Mỹ. Ngoài ra, cha còn làm Chủ bút Nguyệt san Tinh Thần, Giám đốc Chương trình Phát thanh Nha Tuyên Úy, mở trường Trung Tiểu học Tinh Thần, Trung Tiểu học Truyền Tin, Trung Tiểu học Lê Văn Duyệt… để chăm lo giáo dục cho con em quân nhân.

Thánh Lễ tại Nhà Thờ Truyền Tin thường diễn ra vào sáng Chúa Nhật, do các linh mục tuyên úy luân phiên chủ tế, nổi bật là cha Nguyễn Ái (người gốc Huế, cấp bậc trung úy, sau là trung tá). Cha Ái có người em là linh mục Nguyễn Ân (cấp bậc đại tá). Không khí thánh đường lúc ấy tràn đầy hy vọng, tiếng kinh nguyện hòa lẫn tiếng máy bay cất cánh từ Tân Sơn Nhất, tiếng cầu xin bình an giữa bom đạn chiến tranh.

Sau 1975: Bi kịch chiếm dụng và lãng quên

Ngày 30/4/1975, mọi thứ thay đổi. Như bao cơ sở tôn giáo, quân sự của chế độ cũ, Nhà Thờ Truyền Tin bị nhà nước tiếp nhận. Khuôn viên bị biến thành nhà kho chứa thiết bị, vật tư điện lực cao thế. Xe tải điện lực đậu kín sân, cổng khóa chặt, không còn tiếng chuông, không còn Thánh Lễ. Người coi sóc cuối cùng cũng đã qua đời. Hầu hết quân nhân, gia đình từng tham dự lễ ở đây nay đã cao niên, phần lớn định cư nước ngoài theo diện HO hoặc các chương trình khác.

Riêng cha Phan Phát Huồn, như bao tuyên úy và quân nhân khác, phải trải qua 13 năm tù cải tạo (1975–1988), từ Nam chí Bắc: Tam Hiệp, Thanh Phong, Nam Hà… Ngài được thả tự do năm 1988, định cư tại Hoa Kỳ năm 1992 theo diện HO. Tại Mỹ, cha tiếp tục sinh hoạt trong Dòng Chúa Cứu Thế hạt Long Beach, làm Đặc trách Nhà dòng, Chủ bút Nguyệt san Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp (tái bản sau khi bị đình bản tại Việt Nam), Giám đốc Chương trình Phát thanh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, Linh hướng chương trình truyền hình Ánh Sáng Niềm Tin… Cha qua đời ngày 16 tháng 10 năm 2015 tại Mỹ, để lại di sản tinh thần lớn lao.

Gần 50 năm trôi qua: Di sản vẫn chưa được trả lại

Gần nửa thế kỷ, tài sản của Giáo Hội vẫn nằm trong tay nhà nước, chưa được trả lại để giáo dân tu sửa, biến nơi đây thành chốn thờ phượng. Khu vực Phổ Quang xưa kia có hai địa điểm tôn giáo phục vụ quân nhân VNCH: Nhà Thờ Truyền Tin và Chùa Phổ Quang. Chùa Phổ Quang đã được trả lại cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trùng tu khang trang, trở thành điểm hành hương đẹp đẽ. Còn Nhà Thờ Truyền Tin thì vẫn im lìm, hoang phế, như một vết thương chưa lành của lịch sử.

Nhà Thờ Truyền Tin không nằm trong danh sách thái “giao tặng” lại một số cơ sở tôn giáo cho Giáo phận Sài Gòn. Thiết nghĩ, Tòa Tổng Giám mục Sài Gòn nên có những động thái cụ thể, khẩn thiết hơn: gửi văn bản chính thức, vận động, đối thoại để đòi lại ngôi thánh đường này. Kẻo để lâu, công trình sẽ hư hại hoàn toàn – mái sụp, tường đổ, và lặp lại bi kịch của không ít nhà thờ, cơ sở tôn giáo khác trong lịch sử đau thương sau 1975.

Đây không chỉ là một ngôi nhà thờ nhỏ trên đường Phổ Quang. Đây là di sản thiêng liêng, là ký ức của biết bao người đã từng quỳ gối cầu nguyện giữa khói lửa chiến tranh, là nơi cha Phan Phát Huồn – một linh mục, một sử gia, một tuyên úy – đã dâng hiến tuổi trẻ và cả cuộc đời cho đức tin và quê hương. Và quan trọng hơn, đây là lời nhắc nhở về công bằng, về quyền tự do tôn giáo, về việc trả lại những gì thuộc về Giáo Hội.

Lm. Anmai, CSsR

PS : Linh mục Phan Phát Huồn cũng chính là người sáng lập Giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Xóm Mới.


 

Chiến sự hôm nay cho thấy một bước ngoặt nguy hiểm-Lê Diễn Đức

Nguyễn Kim Chi

Lê Diễn Đức

Chiến sự hôm nay cho thấy một bước ngoặt nguy hiểm: cuộc đối đầu không còn dừng ở các mục tiêu quân sự, mà đã chuyển sang đánh thẳng vào hạ tầng năng lượng – huyết mạch của nền kinh tế toàn cầu.

Việc Israel tấn công vào mỏ khí South Pars của Iran và Iran lập tức đáp trả bằng các đòn đánh vào chuỗi cơ sở năng lượng tại Vùng Vịnh không chỉ là ăn miếng trả miếng, mà là sự chuyển pha sang một dạng chiến tranh mới – nơi mỗi đòn đánh đều mang tính hệ thống.

Bề ngoài, Israel vẫn là bên chiếm ưu thế rõ rệt. Khả năng tấn công chính xác, năng lực tình báo và kiểm soát không gian tác chiến giúp họ đánh trúng những mục tiêu có giá trị cao trong lòng Iran. Nhưng nếu chỉ nhìn vào các đòn đánh này để kết luận cục diện, thì sẽ bỏ qua phần quan trọng nhất của cuộc chiến: cách Iran “chơi game”.

Iran không cố thắng theo cách truyền thống. Họ hiểu rõ mình không thể cạnh tranh trực diện với Israel, càng không thể đối đầu đối xứng với Mỹ. Vì vậy, chiến lược của Tehran là chuyển cuộc chiến từ một ván cờ quân sự sang một trò chơi tiêu hao và phá vỡ hệ thống. Thay vì bảo vệ tuyệt đối lãnh thổ, Iran chấp nhận bị đánh, nhưng đổi lại họ mở rộng chiến trường ra toàn khu vực – nơi mà bất kỳ đòn tấn công nào cũng có thể gây chấn động dây chuyền.

Đòn phản công của Iran vào các cơ sở năng lượng ở Qatar, Saudi Arabia hay UAE là minh chứng rõ nhất. Đây không chỉ là hành động quân sự, mà là một tín hiệu: nếu Iran bị đẩy vào chân tường, họ sẵn sàng khiến cả hệ thống năng lượng toàn cầu rung chuyển. Nói cách khác, họ biến cuộc chiến thành một bài toán mà chi phí của việc đánh bại Iran có thể vượt xa lợi ích thu được.

Chính điểm này đã đặt Mỹ vào một tình thế cực kỳ khó xử. Về quân sự thuần túy, Mỹ có thể áp đảo Iran. Nhưng vấn đề không nằm ở việc “đánh thắng”, mà ở việc “kết thúc được chiến tranh”.

Nếu Washington lựa chọn leo thang, họ sẽ đối mặt với một kịch bản quen thuộc: chiến thắng nhanh về quân sự, nhưng sa lầy trong một không gian bất ổn kéo dài – nơi các lực lượng ủy nhiệm, xung đột cục bộ và phá hoại kinh tế liên tục bào mòn nguồn lực.

Bài học từ Chiến tranh Afghanistan vẫn còn rất mới. Mỹ đã lật đổ Taliban chỉ trong thời gian ngắn, nhưng phải mất hai thập kỷ để nhận ra rằng việc kiểm soát một xã hội phức tạp bằng sức mạnh quân sự là điều gần như bất khả thi.

Trước đó, Chiến tranh Iraq cũng cho thấy việc loại bỏ một chế độ không đồng nghĩa với việc xây dựng được một trật tự ổn định. Và Nội chiến Libya là ví dụ điển hình cho một khoảng trống quyền lực biến thành hỗn loạn kéo dài.

Iran thậm chí còn là một bài toán khó hơn. Đây không phải là một quốc gia dễ sụp đổ theo kiểu “cắt đầu là xong”. Họ có một hệ thống quyền lực đa tầng, một bản sắc quốc gia mạnh, và quan trọng hơn, một mạng lưới ảnh hưởng trải rộng khắp Trung Đông. Ngay cả trong kịch bản cực đoan nhất – Mỹ đánh bại chế độ hiện tại – thì việc “xóa sổ toàn bộ hệ thống” gần như là điều không tưởng. Những gì còn lại có thể là một Iran phân mảnh, bất ổn và thậm chí nguy hiểm hơn.

Vì vậy, nghịch lý của cuộc chiến này nằm ở chỗ: càng leo thang, Mỹ càng tiến gần đến một chiến thắng quân sự – nhưng lại xa dần một kết thúc chiến lược. Iran hiểu điều đó, và họ đang chơi đúng vào điểm yếu này. Họ không cần thắng nhanh; họ chỉ cần kéo dài, mở rộng và làm cho đối phương phải trả giá ngày càng đắt.

Nhìn từ góc độ này, có thể thấy cục diện hiện tại không phải là một cuộc chiến có bên thắng rõ ràng. Israel đang thắng trong từng trận đánh. Iran đang làm biến dạng toàn bộ cuộc chơi. Còn Mỹ, dù là siêu cường, lại bị đặt vào thế phải lựa chọn giữa hai con đường đều rủi ro: hoặc không hành động đủ mạnh để chấm dứt xung đột, hoặc hành động quá mạnh và tự đẩy mình vào một vòng xoáy sa lầy mới.

Và đó chính là điều khiến cuộc chiến này trở nên nguy hiểm: không phải vì nó chưa có người thắng, mà vì ngay cả người có thể thắng cũng không chắc sẽ thoát ra được.


 

Grimshaw đã mua hòn đảo với giá khoảng 11.000 USD.

My Lan Pham

 Năm 1962, một người đàn ông đã mua một hòn đảo nhiệt đới bị bỏ hoang với giá chỉ nhỉnh hơn giá một căn nhà. Thay vì xây khách sạn, ông chọn dành cả cuộc đời mình cho nơi đó.

Người đàn ông ấy là Brendon Grimshaw, một nhà báo người Anh. Trong một chuyến đi đến Seychelles, ông bị cuốn hút bởi một hòn đảo nhỏ không có người ở tên là Moyenne.

Vào thời điểm đó, hòn đảo gần như bị bỏ mặc hoàn toàn ,chỉ có vài cái cây, đất khô cằn và hầu như không có động vật. Nó là một nơi bị lãng quên.

Grimshaw đã mua hòn đảo với giá khoảng 11.000 USD.

Ông không làm điều đó để làm giàu.

Ông không làm điều đó vì du lịch.

Ông quyết định hồi sinh hòn đảo.

Trong những năm sau đó, ông đã biến đổi hòn đảo bằng sự kiên nhẫn và gần như làm việc một mình. Ông trồng hơn 16.000 cây, tạo nên một khu rừng thực sự nơi từng là vùng đất cằn cỗi. Ông tự tay làm hàng kilomet đường mòn và khôi phục môi trường tự nhiên của đảo.

Mục tiêu tham vọng nhất của ông là đưa động vật trở lại hòn đảo.

Trong số đó có rùa khổng lồ Aldabra, một trong những loài rùa lớn nhất và hiếm nhất trên Trái Đất. Theo thời gian, hòn đảo trở thành nơi trú ngụ của chim biển, bò sát và nhiều loài sinh vật khác.

Moyenne không còn là một hòn đảo hoang nữa.

Nó đã trở thành một khu bảo tồn thiên nhiên.

Khi năm tháng trôi qua, danh tiếng của hòn đảo tăng lên — và sự quan tâm của các nhà đầu tư cũng vậy. Nhiều doanh nhân đã đề nghị những khoản tiền khổng lồ để mua lại và biến nó thành khu nghỉ dưỡng sang trọng.

Có lời đề nghị lên tới 50 triệu USD.

Grimshaw đã từ chối.

Với ông, Moyenne không phải là tài sản để khai thác. Đó là một nơi cần được bảo vệ. Ông tin rằng hòn đảo nên luôn mở cửa cho con người và trên hết là cho thiên nhiên.

Năm 2009, một điều đáng chú ý đã xảy ra.

Đảo Moyenne chính thức được đưa vào Công viên biển quốc gia Sainte Anne, trở thành công viên quốc gia nhỏ nhất thế giới.

Brendon Grimshaw tiếp tục sống ở đó cho đến cuối đời.

Khi ông qua đời năm 2012, ông đã dành gần 50 năm trên hòn đảo ấy để trồng cây, bảo vệ động vật và bảo vệ một ý tưởng đơn giản nhưng hiếm có: thiên nhiên không phải lúc nào cũng để bán.

Ngày nay, Moyenne vẫn ở đó xanh tươi và yên bình.

Và mỗi cái cây đều kể cùng một câu chuyện: câu chuyện về một người đàn ông đã có thể trở nên vô cùng giàu có, nhưng lại chọn để lại cho thế giới một điều còn quý giá hơn tiền bạc.

Theo Live healthy live better

My Lan Phạm


 

Pakistan không kích vào thủ đô của Afghanistan, hơn 400 người chết

Ba’o Nguoi-Viet

March 17, 2026

KABUL, Afghanistan (NV) – Giới chức Taliban ở Afghanistan cho biết Pakistan đã không kích vào một bệnh viện cai nghiện ma túy ở Kabul khiến hơn 400 người thiệt mạng và 250 người khác bị thương, theo CBS hôm Thứ Ba, 18 Tháng Ba.

Vụ không kích xảy ra vào khoảng 9 giờ tối Thứ Hai, theo giới chức Taliban.

Nhân viên an ninh Taliban khiêng thi thể tại bệnh viện cai nghiện ở Kabul sau cuộc không kích của Pakistan hôm 16 Tháng Ba. (Hình: Wakil Kohsar / AFP via Getty Images)

“Chính quyền quân sự Pakistan đã ném bom một cơ sở cai nghiện ma túy 2,000 giường có tên là ‘Omid’. Phần lớn cơ sở đã bị phá hủy,” ông  Hamdullah Firtat, phát ngôn viên của Taliban, cho biết trên X.

“Thật không may, số người tử vong cho đến nay đã lên tới 400 người, và có tới 250 người khác bị thương.”

Ông Sharafat Zaman, phát ngôn viên của Bộ Y Tế Công Cộng Taliban, nói với CBS News rằng số người chết có thể tăng lên khi lực lượng cứu hộ vẫn đang tiếp tục kéo các thi thể ra khỏi đống đổ nát.

Các video được Taliban chia sẻ với CBS cho thấy bệnh viện cai nghiện bốc cháy khi lính cứu hỏa và các đội cứu hộ cố gắng dập lửa và khiêng những người chết và bị thương trên cáng ra ngoài.

Pakistan phủ nhận cáo buộc của Taliban, cho rằng họ đó là “tuyên bố sai sự thật.” Họ nói rằng “các vụ nổ tiếp theo có thể được nhìn thấy cho thấy rõ ràng ở nơi đó có các kho đạn dược lớn”.

Phía Pakistan cho biết họ thực hiện “không kích chính xác” nhắm vào các cơ sở quân sự của Taliban ở các tỉnh Kabul và Nangarhar.

“Cơ sở hạ tầng hỗ trợ kỹ thuật và các cơ sở lưu trữ đạn dược tại hai địa điểm ở Kabul đã bị phá hủy trên thực tế,” ông Attaullah Tarar, bộ trưởng Thông Tin Và Phát Thanh Truyền Hình Pakistan, cho biết trên mạng xã hội.

Các cuộc không kích này diễn ra sau nhiều xung đột biên giới dữ dội giữa Afghanistan và Pakistan vốn bùng phát hồi cuối Tháng Hai.

Pakistan nói rằng họ đang trong “tình trạng chiến tranh công khai” với Afghanistan và nhắm vào “các nhóm khủng bố”. (NNL) [kn]


 

Tòa ra lệnh 1,000 nhân viên VOA quay lại làm việc

Ba’o Nguoi-Viet

March 18, 2026

WASHINGTON, DC (NV) – Chánh án liên bang vào chiều Thứ Ba 17 Tháng Ba đã ra lệnh cơ quan chủ quản của đài Voice of America (VOA) phải cho 1.042 nhân viên toàn thời gian của đài, những người trước đó bị buộc nghỉ phép, quay trở lại làm việc trước ngày 23 Tháng Ba và đồng thời tái tục hoạt động phát sóng của đài, theo New York Times loan tin.

Bảng hiệu đài VOA trước trụ sở đài này ở Washington, DC. (Hình: Alex Wong/Getty Images)

Trong phán quyết đưa ra, ông Royce C. Lamberth, chánh án liên bang ở Washington, DC, tuyên bố những nỗ lực giải thể VOA của bà Kari Lake, lãnh đạo Cơ Quan Truyền Thông Toàn Cầu Hoa Kỳ (USAGM) là “độc đoán và tùy tiện.” Ông Lamberth nói rằng bà đã không thông qua ý của Quốc Hội khi phân bổ ngân sách cho cơ quan này cũng như mạng lưới truyền thông USAGM, không cân nhắc những hệ quả có thể xảy ra từ việc đóng cửa tổ chức này.

NPR trích lời giám đốc VOA, ông Michael Abramowitz, phát biểu sau khi phán quyết được công bố:

“Chúng tôi vô cùng vui mừng trước phán quyết của Chánh Án Lamberth và mong sớm được trở lại làm việc. VOA chưa bao giờ trở nên cần thiết hơn lúc này.”

Bà Kari Lake và cả người phát ngôn của cơ quan đều chưa phản hồi ngay lập tức trước yêu cầu bình luận từ NPR. Trước đây, bà Lake từng tuyên bố sẽ kháng cáo các phán quyết của Chánh Án Lamberth, đồng thời cáo buộc vị chánh án này là một nhà hoạt động đang thực hiện việc lập pháp ngay trên ghế xét xử.

VOA, còn được biết là Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ, được thành lập vào thời điểm khởi đầu Đệ Nhị Thế Chiến nhằm đối trọng với các hoạt động tuyên truyền của Đức Quốc Xã tại những vùng lãnh thổ bị chiếm đóng. Nhằm tạo dựng mạnh mẽ uy tín trung thực, đài VOA đã đưa tin về cả những thất bại lẫn các chiến thắng của phe đồng minh.

Khi Chiến Tranh Lạnh trỗi dậy từ đống tro tàn của cuộc chiến, Hoa Kỳ đã mở rộng quy mô VOA như một công cụ “quyền lực mềm,” cung cấp thông tin cho những quốc gia nơi báo chí tự do bị ngăn chặn, bị đe dọa hoặc không đủ điều kiện tài chính để tồn tại. Đài cũng đóng vai trò như một hình mẫu minh họa cho diện mạo của báo chí trong một nền dân chủ đa nguyên – một nền báo chí sẵn sàng phản ánh cả những tin tức bất lợi cũng như các quan điểm bất đồng.

Theo các hồ sơ tòa án do NPR tường trình, trước đợt cải tổ dưới thời bà Lake, đài VOA tiếp cận 361 triệu thính giả mỗi tuần thông qua 49 dịch vụ ngôn ngữ khác nhau tại hơn 100 quốc gia. Cơ quan này cho biết, tính đến đầu năm nay, con số đó đã sụt giảm xuống chỉ còn sáu dịch vụ ngôn ngữ.

Bà Kari Lake bước vào Tòa Bạch Ốc với bản lý lịch bao gồm kinh nghiệm làm người dẫn chương trình tin tức truyền hình địa phương, hai lần thất bại khi tranh cử vào các chức vụ cấp tiểu bang tại Arizona và với tư cách là một người ủng hộ Tổng Thống Trump một cách nhiệt thành.

Theo NPR, khi được ông Trump chọn là người đứng đầu USAGM, bà Lake đã bộc lộ ý định duy trì sự tồn tại của đài VOA, nhưng lại định hình đài này theo một hình ảnh mang đậm phong cách của Tổng Thống Trump hơn. Năm ngoái, bà đã hủy bỏ các hợp đồng với hai hãng tin Reuters và Associated Press, đồng thời ký thỏa thuận với mạng lưới tin tức cực hữu One America News Network để phát sóng miễn phí các bản tin của họ.

Tháng trước, ông Royce C. Lamberth đã phán quyết rằng bà Kari Lake không có quyền làm những việc bà đã làm để dẹp bỏ hầu như toàn bộ đài VOA. Dù được Tổng Thống Trump giao phụ trách USAGM, nhưng từ đó tới nay, bà Lake vẫn chưa được Thượng Viện chuẩn thuận nên Chánh Án Lamberth xác định bà không có thẩm quyền lãnh đạo USAGM.Do đó, tất cả hành động của bà kể từ khi gia nhập cơ quan này với tư cách là cố vấn cấp cao đều bị coi là vô hiệu.

Chánh Án Lamberth đưa ra phán quyết này trong vụ kiện của ba nhân viên đài VOA, gồm bà Patsy Widakuswara, bà Kate Neeper và bà Jessica Jerreat. Ba người này nằm trong số nhân viên VOA bị bà Lake sa thải.

CNN trích lời ba nhân viên này trong một tuyên bố chung rằng họ “rất mong muốn bắt tay vào khắc phục những tổn hại mà Kari Lake đã gây ra cho cơ quan cũng như các đồng nghiệp của chúng tôi; trở lại thực hiện sứ mệnh theo ủy nhiệm của Quốc Hội; và gây dựng lại niềm tin nơi độc giả toàn cầu – những người mà chúng tôi đã không thể phục vụ trong suốt một năm qua.”

“Chúng tôi hiểu rằng chặng đường khôi phục hoạt động và uy tín của VOA sẽ còn dài và đầy gian nan,” các nhân viên chia sẻ, vẫn theo CNN. “Chúng tôi hy vọng rằng người dân Mỹ sẽ tiếp tục ủng hộ sứ ​​mệnh của chúng tôi: làm báo chí chân chính, chứ không phải tuyên truyền.” (K.L)


 

Tuổi già đến một cách âm thầm

Bang Uong

Tuổi già đến một cách âm thầm

Posted on 7 Tháng Ba 2026 by banmaihong

Ba tôi có một nguyên tắc, giữ hơn năm mươi năm nay rồi:

“Ai đang làm việc thì đừng làm phiền họ.”

Ít nhất… là cho đến hai tuần trước.

Tôi tên Julien, 46 tuổi, làm nghề đo đạc công trình. Ngày nào cũng chạy như con thoi: công trường, cuộc hẹn, kẹt xe, hết chỗ này tới chỗ kia.

Sáng hôm đó, điện thoại tôi rung.

Màn hình hiện: Papa.

Ba tôi là kiểu người của thời xưa. Ông từng làm thợ hồ. Bàn tay to, chai cứng, đầy vết nứt của xi măng, vôi vữa và những năm tháng làm việc cực nhọc. Với ông, nhờ ai giúp đỡ luôn là một điều gì đó… giống như thua cuộc.

Tôi bắt máy ngay.

— “Ba hả? Ba có sao không?”

Im lặng. Một khoảng im lặng nặng nề. Rồi ông nói, giọng nhỏ hơn bình thường:

— “Julien… ba xin lỗi vì làm phiền. Cái lò sưởi… nó hết nhiên liệu rồi. Ba không nhấc nổi cái bao để đổ vào.”

Một bao nhiên liệu nặng khoảng 15 ký.

Với người đàn ông từng vác hai bao xi măng trên vai cùng lúc, thì 15 ký… lẽ ra chẳng là gì.

Tôi nói:

— “Ba đợi đó, con tới liền.”

— “Không cần đâu. Con làm việc đi.”

— “Con tới liền.”

Tôi đi ngay lập tức. Khi bước vào nhà, tôi thấy lạnh. Cái lò sưởi tắt ngấm.

Bên cạnh là cái bao mở dở, hạt nhiên liệu rơi vãi trên sàn.

Ba tôi nói nhỏ:

— “Ba thử ba lần rồi.”

Ông nhìn đôi tay mình.

— “Ba nhấc lên… nhưng tay ba run.”

Ông đưa tay lau mặt.

— “Thật vô lý… Cả đời ba xây nhà cho người ta. Mà giờ thua một cái bao nhựa.”

Trong mắt ông không phải là buồn.

Mà là giận. Cái giận của một người nhận ra thời gian đang lấy dần sức lực của mình… từng chút một.

Phản xạ đầu tiên của tôi là nói:

— “Để con làm cho.”

Nhưng rồi tôi chợt hiểu… nếu tôi làm hết, thì chẳng khác nào xác nhận nỗi sợ của ông.

Tôi cởi áo khoác.

— “Ba còn nhớ hồi hai cha con mình sửa mái garage không? Lúc đó con không giữ nổi cái xà. Ba nói với con: ‘Không phải lúc nào cũng cần mạnh. Chỉ cần có người cùng làm.’”

Tôi cúi xuống cái bao.

— “Hai cha con mình làm chung.”

Ông đứng im vài giây. Rồi ông bước lại. Ông đặt tay lên cái bao.

Tôi đỡ phía dưới.

— “Một… hai… ba.”

Hai cha con cùng nhấc.

Cái bao trượt vào lò Ngọn lửa cháy lại. Hơi ấm từ từ lan ra khắp phòng.

Ông không ôm tôi.Ông không phải kiểu người như vậy.

Nhưng ông vỗ nhẹ vào lưng tôi.

— “Ba mừng vì con tới.”

— “Con cũng vậy, ba.”

Hai cha con ngồi uống cà phê trong bếp.

Nói chuyện bóng đá. Nói chuyện thời tiết. Nói những chuyện bình thường.

Những chuyện thật ra… rất quan trọng.

Trước khi tôi về, ông đưa tôi một hũ nước sốt ông tự làm.

— “Đem về cho tụi nhỏ.”

Đó là cách ông nói: Ba thương con.

Trên đường về, tôi chợt hiểu một điều.

Cha mẹ mình không già đi trong một ngày.

Họ già đi… âm thầm.

Từng chút một.

Một túi đồ trở nên quá nặng. Một cái nắp không mở nổi.

Một cái bao không nhấc lên được nữa.

Họ không muốn nhờ mình. Không phải vì họ không cần.

Mà vì họ sợ trở thành gánh nặng.

Nên nếu một ngày nào đó, họ gọi bạn chỉ vì một chuyện nhỏ xíu…

Một cái bóng đèn. Một cái remote. Một cái lò sưởi.

Hãy đi.

Không phải vì cái bóng đèn.

Không phải vì cái lò sưởi.

Mà vì họ cần bạn. Khi căn bếp vẫn còn sáng đèn.

Khi tiếng cà phê vẫn còn sôi trên bếp.

Khi vẫn còn người nói với bạn:

“Lái xe cẩn thận nha con.”

Vì sẽ có một ngày…

Điện thoại sẽ chẳng reo nữa.

Và ngày đó, Bạn sẽ đánh đổi mọi thứ

Chỉ để được nghe lại cuộc gọi ấy  Thêm một lần.


 

Cuộc chạy đua tái vũ trang: Thực tế của các con số và sự cấp bách của hòa bình

Tin Mừng Cho Người Nghèo

Cuộc chạy đua tái vũ trang: Thực tế của các con số và sự cấp bách của hòa bình

Ngày 18 tháng 9 năm 2025, trong một cuộc phỏng vấn với tờ Daily Mail, cựu Phó Tư lệnh NATO, Tướng Sir Richard Shirreff, tuyên bố rằng chỉ trong 100 giờ – tức chưa đầy năm ngày – Tổng thống Nga Vladimir Putin có thể phá hủy châu Âu. Nhưng bỏ qua mọi cân nhắc luân lý, liệu có thật sự có thể tiêu diệt hoàn toàn đối phương bằng chiến tranh thông thường mà không sử dụng vũ khí hạt nhân – điều chắc chắn sẽ dẫn đến một thảm họa hạt nhân toàn cầu?

Nhận định của Shirreff, ít nhất cũng đáng nghi ngờ, và thực tế đang diễn ra trên chiến trường – cũng như trong nhiều cuộc chiến khác – cho thấy tình hình phức tạp hơn nhiều.

Các báo cáo về máy bay không người lái

Trong cùng những tuần khi các cảnh báo được đưa ra trong giới quân sự NATO về sức mạnh quân sự của Nga, nhiều báo cáo xuất hiện về các máy bay không người lái bay trên bầu trời châu Âu.

  • Ngày 9/9, máy bay chiến đấu phải cất cánh tại Ba Lan và nhiều sân bay bị đóng cửa.
  • Ngày 22/9, tình trạng tương tự xảy ra ở Copenhagen và Oslo.
  • Đầu tháng 10, Munich phải dừng giao thông hàng không.
  • Cuối tháng 10 và đầu tháng 11, đến lượt các sân bay Berlin và Bremen.
  • Ngày 7/11 tại Bỉ.
  • Và cuối cùng ngày 4/12, gần căn cứ tàu ngầm hạt nhân Brest (Pháp).

Tuy nhiên, trong tất cả các trường hợp này, sau đó không có xác nhận chính thức về nguồn gốc của các máy bay không người lái (ban đầu có nghi ngờ từ Nga) cũng như mức độ nguy hiểm của chúng.

Chẳng hạn, theo báo cáo của Cơ quan Kiểm soát Không lưu Đức (DFS), chỉ riêng trong năm 2025 tại Đức đã có 225 lần gián đoạn chuyến bay do drone. Vì vậy, có thể đặt câu hỏi: liệu những cảnh báo ấy có bị thổi phồng hay không?

Luật ngân sách và việc tái vũ trang

Trong cùng thời gian đó, các nước Liên minh châu Âu cũng đang thông qua luật ngân sách, với yêu cầu tăng đáng kể chi tiêu quân sự.

Các quốc gia Eurozone phải trình Kế hoạch Ngân sách Dự thảo cho Ủy ban châu Âu trước ngày 15 tháng 10, sau đó được thảo luận và phê chuẩn tại các quốc hội trước cuối năm.

Chi tiêu quân sự toàn cầu tăng liên tục trong những năm gần đây:

  • +9,4% chỉ riêng năm 2024, theo Niên giám SIPRI 2025: Vũ khí, Giải trừ quân bị và An ninh quốc tế.

NATO – theo thỏa thuận tại Hội nghị Thượng đỉnh La Haye tháng 6 – đặt mục tiêu:

  • 5% GDP cho quốc phòng vào năm 2035
  • 3,5% cho vũ khí
  • 1,5% cho an ninh mở rộng

Tuy nhiên, quyết định chiến lược tái vũ trang sẽ tất yếu kéo theo việc chuyển nguồn lực khỏi:

  • chính sách xã hội
  • y tế
  • giáo dục
  • việc làm
  • bảo vệ môi trường

Tháng 3 năm 2025, Đức Hồng y Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, nhận định:

“Chính sách của Tòa Thánh từ Thế chiến thứ nhất luôn là thúc đẩy giải trừ quân bị chung và có kiểm soát trên bình diện quốc tế. Vì thế chúng ta không thể vui mừng trước hướng đi hiện nay.”

Những tình huống bị cảm nhận như mối nguy nghiêm trọng có thể khiến dư luận dễ dàng chấp nhận cuộc chạy đua tái vũ trang. Việc nhấn mạnh nguy cơ Nga xâm lược châu Âu – ngoài cuộc chiến ở Ukraine – cũng có thể thu hẹp không gian tranh luận phê phán, đúng vào lúc các ngân sách quốc gia đang được thông qua.

Cuộc chạy đua vũ trang trong lịch sử

Lịch sử cho thấy chi tiêu quân sự thường được coi là cần thiết theo chu kỳ.

Sau Thế chiến II, với 60 triệu người chết và sự khởi đầu của Chiến tranh Lạnh, việc tái vũ trang được xem là điều kiện sống còn.

Học thuyết răn đe hạt nhân và thế cân bằng giữa các khối khiến việc tăng chi tiêu quân sự gần như trở thành bắt buộc.

Sau khi Liên Xô sụp đổ, tình hình thay đổi:

  • chi tiêu quân sự giảm hoặc ổn định
  • quân đội mở rộng nhiệm vụ sang
  • gìn giữ hòa bình
  • can thiệp nhân đạo
  • quản lý khủng hoảng khu vực

Nhưng ngày nay, chiến tranh lại quay trở lại trong đời sống quốc tế:

  • xung đột cường độ cao
  • cạnh tranh giữa các cường quốc
  • suy giảm tôn trọng luật pháp quốc tế

Một số hiệp ước kiểm soát vũ khí cũng không còn được gia hạn.

Ví dụ mới nhất là Hiệp ước New START, hết hạn ngày 5/2/2026, vốn nhằm giảm và giới hạn vũ khí hạt nhân giữa Mỹ và Nga.

So sánh các con số

Ước tính năm 2025 cho thấy:

NATO

  • GDP: 57.000 tỷ USD
  • Chi tiêu quân sự: 1.495 tỷ USD (2,62% GDP)

Trong đó:

  • Mỹ:
  • GDP: 30.620 tỷ USD
  • quân sự: 921 tỷ USD (3,01%)
  • Các nước NATO khác:
  • GDP: 26.380 tỷ USD
  • quân sự: 574 tỷ USD (2,18%)

Nga

  • GDP: 2.540 tỷ USD
  • quân sự: 187 tỷ USD (7,4%)

Trung Quốc

  • GDP: 19.398 tỷ USD
  • quân sự: 314 tỷ USD (1,62%)

Những con số này cho thấy sự bất cân xứng lớn giữa nguồn lực NATO và Nga.

Vì thế câu hỏi đặt ra:

Liệu cách chúng ta phản ứng với các mối đe dọa hiện nay có thực sự làm giảm chúng, hay lại càng làm chúng gia tăng?

Ngành công nghiệp vũ khí

Chỉ cần tăng 1% GDP cho quốc phòng tương đương khoảng 600 tỷ USD mỗi năm.

Cổ phiếu ngành vũ khí cũng tăng mạnh:

  • Europe Stoxx Aerospace & Defence: +28,97%
  • S&P Aerospace & Defense (Mỹ): +73,45%

Nhưng cuộc chạy đua vũ trang cũng mang theo:

  • chi phí chính trị
  • gánh nặng kinh tế
  • nợ công
  • hạn chế tự chủ của các quốc gia

Lời Đức Thánh Cha về giải trừ quân bị

Trong Sứ điệp Ngày Hòa bình Thế giới 2026, Đức Thánh Cha Lêô XIV viết:

“Những lời kêu gọi gia tăng chi tiêu quân sự thường được trình bày như một phản ứng hợp lý trước các mối đe dọa bên ngoài. Nhưng ý tưởng về sức mạnh răn đe quân sự – đặc biệt là răn đe hạt nhân – dựa trên một quan niệm phi lý về quan hệ giữa các quốc gia: không dựa trên luật pháp, công lý và niềm tin, mà trên nỗi sợ và sự thống trị bằng vũ lực.”

Chi tiêu quân sự toàn cầu đã đạt 2.718 tỷ USD, tương đương 2,5% GDP toàn cầu.

Theo Đức Thánh Cha, ngày nay còn xuất hiện cả:

  • chiến dịch truyền thông
  • chương trình giáo dục

nhằm nuôi dưỡng cảm giác đe dọa, và hứa hẹn rằng an ninh chỉ có thể đạt được bằng vũ trang.

Ngài nhấn mạnh:

An ninh ngày nay không thể chỉ được hiểu qua sức mạnh quân sự. Giải trừ quân bị – về văn hóa, chính trị và tinh thần – phải được coi là một con đường nghiêm túc.

Nguy cơ tận thế hạt nhân

Thế giới hiện có khoảng 12.000 đầu đạn hạt nhân:

  • Nga: 5.459 (1.718 sẵn sàng phóng)
  • Mỹ: 5.177 (khoảng 1.700 sẵn sàng)

Sức mạnh của chúng đủ để hủy diệt nền văn minh nhân loại hàng trăm lần.

Chỉ 50 đầu đạn cũng đủ gây thảm họa toàn cầu.

Học thuyết hủy diệt lẫn nhau (MAD) cho thấy:

  • không bên nào có thể thắng
  • bên tấn công trước cũng sẽ bị hủy diệt bởi đòn đáp trả.

Con đường duy nhất

Chiến tranh hiện đại – với công nghệ và trí tuệ nhân tạo – có sức tàn phá khổng lồ và kéo dài vô tận.

Vì thế giải pháp duy nhất, như Huấn quyền của các Giáo hoàng nhắc nhở, là:

  • ngoại giao
  • đối thoại
  • đàm phán
  • giải trừ quân bị

Đức Thánh Cha Lêô XIV nhắc lại lời Chúa Giêsu với thánh Phêrô trong vườn Cây Dầu:

“Hãy xỏ gươm vào vỏ.”

Ngài nói:

“Đó là lời gửi đến những người quyền lực trên thế giới: hãy can đảm giải trừ vũ khí! Nhưng đồng thời cũng là lời mời gọi mỗi người chúng ta giải trừ chính trái tim mình, bởi vì nếu chúng ta không có bình an trong lòng, chúng ta không thể trao ban bình an cho người khác.”

Và cũng là lời mời gọi:

hãy nhìn thế giới từ vị trí thấp hơn — từ đôi mắt của những người đang đau khổ, chứ không phải từ vị trí của kẻ quyền lực.

Andrea Tornielli

Nguồn: Vatican News