Thời kỳ cai trị của nhà độc tài Augusto Pinochet (1973–1990) so nguoi chet la bao nhieu?

Thời kỳ cai trị của nhà độc tài Augusto Pinochet (1973–1990) so nguoi chet la bao nhieu?

GEMINI tra loi:

Theo các báo cáo chính thức từ chính phủ Chile (như Báo cáo Rettig năm 1991 và Báo cáo Valech năm 2004, 2011) về thời kỳ cai trị của nhà độc tài Augusto Pinochet (1973–1990):

  • Số người bị sát hại hoặc mất tích: Ít nhất 3.065 người đã bị sát hại hoặc mất tích do các lý do chính trị.
  • Số người bị tra tấn và giam giữ trái phép: Khoảng 38.000 đến 40.000 người bị bắt giam, tra tấn hoặc bức hại chính trị.
  • Số người bị lưu vong: Hàng trăm nghìn người Chile đã phải bỏ nước ra đi tị nạn chính trị trong giai đoạn này.

 

Dưới thời Adolf Hitler và chế độ Đức Quốc Xã lãnh đạo (1933–1945), bao nhieu nguoi da chet?

Xin hoi: Dưới thời Adolf Hitler và chế độ Đức Quốc Xã lãnh đạo (1933–1945), bao nhieu nguoi da chet?

GEMINI Tra loi:

Dưới thời Adolf Hitler và chế độ Đức Quốc Xã lãnh đạo (1933–1945), ước tính tổng số người thiệt mạng liên quan trực tiếp đến Chiến tranh Thế giới thứ II ở Châu Âu và các chính sách diệt chủng, đàn áp của Đức Quốc Xã là từ 70 triệu đến hơn 80 triệu người.

Con số này bao gồm các nhóm nạn nhân chính sau đây:

1. Nạn nhân của cuộc Đại diệt chủng (Holocaust) và đàn áp chủng tộc/chính trị

  • Người Do Thái: Khoảng 6 triệu người bị tàn sát hàng loạt tại các trại tập trung, trại diệt chủng và qua các cuộc thảm sát lưu động (Einsatzgruppen).
  • Các nhóm nạn nhân khác bị Đức Quốc Xã diệt chủng hoặc tàn sát:
    • Tù binh chiến tranh Liên Xô: Bị chết do hành quyết, bỏ đói và lao động khổ sai (khoảng 3,1 – 3,3 triệu người).
    • Dân thường Ba Lan (không phải Do Thái): Khoảng 1,8 – 2 triệu người.
    • Người La Mã/Sinti (Roma): Khoảng 220.000 – 500.000 người.
    • Người khuyết tật và bệnh nhân tâm thần: Hơn 250.000 người (qua chương trình “Aktion T4”).
    • Người bất đồng chính kiến, đối thủ chính trị, tù nhân tôn giáo, người đồng tính, v.v.: Hàng trăm nghìn người.

2. Thương vong do Chiến tranh Thế giới thứ II tại Châu Âu (Đức khơi mào)

  • Liên Xô: Bị thiệt hại nặng nề nhất với ước tính 27 triệu người chết (bao gồm khoảng 8,7 triệu lính và gần 19 triệu dân thường).
  • Đức: Khoảng 7 triệu đến 9 triệu người chết (bao gồm khoảng 5,3 triệu binh lính và hơn 1,5 – 3 triệu dân thường do ném bom, giao tranh và bị trục xuất sau chiến tranh).
  • Các quốc gia Châu Âu khác: Hàng triệu lính và dân thường ở Ba Lan, Pháp, Anh, Ý, Yugoslavia, Greece,… tử trận hoặc chết do hậu quả của chiến tranh, đói xót và bệnh tật.

Tổng cộng, Hitler và chính sách của Đức Quốc Xã đã dẫn đến cái chết của khoảng 11 đến 17 triệu người trong các chương trình diệt chủng/đàn áp trực tiếp, cùng với hàng chục triệu người khác thiệt mạng do cuộc chiến do Đức phát động ở Châu Âu.


 

Tuổi Già Của Người Việt Ở Mỹ: Cô Đơn Giữa Một Căn Nhà Đầy Đủ Tiện Nghi

Ryan Phan – Chuyện tuổi Xế Chiều

Tuổi Già Của Người Việt Ở Mỹ: Cô Đơn Giữa Một Căn Nhà Đầy Đủ Tiện Nghi

Có một loại cô đơn rất đặc biệt, một loại cô đơn mà chỉ những người từng chứng kiến mới hiểu hết. Đó không phải là cái cô đơn của người thiếu thốn, đói khổ. Ngược lại là đằng khác. Đó là cái cô đơn của một cụ già ngồi giữa một căn nhà khang trang ở Mỹ, có máy sưởi mùa đông, máy lạnh mùa hè, tủ lạnh lúc nào cũng đầy ắp thức ăn, có tivi màn hình lớn, có mọi tiện nghi mà cả một đời ở quê nhà có nằm mơ cũng không thấy. Vậy mà trong ánh mắt của cụ, người ta vẫn đọc được một nỗi trống vắng mênh mông không gì lấp nổi.

Câu chuyện này lặp đi lặp lại trong biết bao gia đình người Việt trên đất Mỹ, quen thuộc đến mức gần như đã thành một khuôn mẫu. Những người con, sau bao năm vất vả, cuối cùng cũng ổn định, cũng mua được nhà, cũng có công có việc. Và điều đầu tiên nhiều người nghĩ đến là đón cha mẹ già từ Việt Nam sang, để phụng dưỡng, để báo hiếu, để cha mẹ được hưởng những năm cuối đời trong sung túc. Đó là một tấm lòng đẹp, một ý định hoàn toàn xuất phát từ tình thương. Không ai có thể trách được cái mong muốn ấy.

Nhưng rồi thực tế lại diễn ra theo một cách mà ít ai lường trước.

Buổi sáng, các con đi làm từ sớm, có khi trời còn chưa sáng hẳn. Các cháu thì lên xe bus đến trường, hoặc được chở đi từ tinh mơ. Và thế là căn nhà rộng rãi ấy, chỉ vài phút sau khi mặt trời lên, đã trở nên vắng lặng như tờ. Còn lại một mình cụ già, giữa bốn bức tường đầy đủ tiện nghi, với cả một ngày dài trước mặt không biết phải làm gì cho hết.

Cụ không lái xe được. Ở cái xứ mà không có xe thì gần như không có chân này, điều đó có nghĩa là cụ bị giam lỏng trong chính ngôi nhà của mình. Muốn ra ngoài đi dạo cũng khó, vì đường sá mênh mông, nhà nào biết nhà nấy, vỉa hè nhiều nơi còn chẳng có người đi bộ. Cụ không biết tiếng Anh, nên dù có ra ngoài, gặp người hàng xóm bản xứ cũng chỉ biết gật đầu cười trừ, không thể trò chuyện dù chỉ một câu. Cái tivi thì đầy những kênh mà cụ không hiểu người ta đang nói gì. Cái điện thoại thông minh con cái mua cho thì phức tạp quá, học mãi không thạo.

Và thế là những giờ đồng hồ cứ trôi qua trong im lặng. Cụ ngồi bên cửa sổ nhìn ra con đường vắng, đếm những chiếc xe thi thoảng chạy qua. Cụ đi từ phòng khách xuống bếp, rồi từ bếp lên phòng khách, lặp đi lặp lại. Cụ ngóng đồng hồ, đợi đến giờ con cháu về, bởi đó là khoảnh khắc duy nhất trong ngày căn nhà có tiếng người. Nhưng khi con cháu về đến nơi, sau một ngày làm việc mệt nhoài, ai cũng bơ phờ, cũng vội vàng với cơm nước, bài vở, rồi lại điện thoại, máy tính. Bữa cơm chung, nếu có, cũng trôi qua chóng vánh. Đôi khi cả ngày cụ chỉ nói được vài ba câu, và những câu ấy cũng chỉ là “con ăn cơm chưa”, “cháu đi học về rồi à”.

Điều nghịch lý đến quặn lòng là: khi còn ở Việt Nam, những cụ già ấy thường sống trong những căn nhà đơn sơ hơn nhiều, thiếu thốn tiện nghi hơn nhiều. Nhưng họ lại giàu có ở một thứ mà đồng tiền không mua được. Buổi sáng, mở cửa ra là gặp bà hàng xóm sang mượn củ hành, hỏi thăm đêm qua ngủ có ngon không. Ra đầu ngõ là gặp ông bạn già ngồi uống trà, bàn chuyện thời sự, kể lại những chuyện từ mấy chục năm trước mà cả hai đều đã nghe đến thuộc lòng nhưng vẫn cười vang. Chiều đến có người rủ đi bộ, đi chùa, đi lễ. Con cháu ở xa nhưng hàng xóm ở gần, và cái tình làng nghĩa xóm ấy đủ để lấp đầy những khoảng trống trong ngày. Ở quê nhà, dù nghèo hơn về vật chất, người già không bao giờ phải cô đơn.

Sang đến Mỹ, mọi thứ đảo ngược. Vật chất thì dư dả, nhưng cái tình người gần gũi kia thì biến mất. Xã hội Mỹ vận hành theo một nhịp điệu khác — mạnh mẽ, hiệu quả, nhưng cũng lạnh lùng và cô lập. Mỗi ngôi nhà là một ốc đảo riêng. Người ta có thể sống cạnh nhau nhiều năm mà không biết tên hàng xóm. Cái sự riêng tư được xem là văn minh ấy, đối với một người trẻ đi làm cả ngày thì không sao, nhưng đối với một cụ già chỉ ở nhà, nó trở thành một nhà tù êm ái, đầy đủ tiện nghi nhưng vẫn là một nhà tù.

Có một câu ngạn ngữ của người châu Phi mà mình rất tâm đắc: nuôi một đứa trẻ cần cả một ngôi làng. Nhưng ít ai nói đến vế còn lại, cái vế cũng đúng không kém: chăm sóc một người già cũng cần cả một ngôi làng. Con người, dù ở tuổi nào, cũng cần một cộng đồng xung quanh mình — cần những gương mặt quen thuộc, những câu chuyện được sẻ chia, cái cảm giác mình thuộc về một nơi nào đó, mình vẫn còn ý nghĩa với ai đó. Sự phụng dưỡng đầy đủ về vật chất, dù quý giá, cũng không thể thay thế được cái nhu cầu sâu xa ấy. Một người già không chỉ cần được cho ăn, được ở trong ấm áp. Họ cần được trò chuyện, được lắng nghe, được cảm thấy mình vẫn còn là một phần của cuộc sống, chứ không phải một món đồ quý được cất kỹ trong một căn phòng đẹp.

Và đây chính là bi kịch âm thầm của lòng hiếu thảo thời hiện đại. Những người con không hề thiếu tình thương. Họ đón cha mẹ sang chính vì thương. Họ làm việc quần quật cũng một phần vì muốn lo cho cha mẹ một cuộc sống tốt hơn. Nhưng cái guồng quay của cuộc sống ở Mỹ khắc nghiệt đến mức cuốn phăng đi thứ mà cha mẹ họ cần nhất: thời gian, và sự hiện diện. Người ta có thể mua cho cha mẹ một căn nhà đẹp, nhưng không mua được cho họ một người bạn già để trò chuyện. Người ta có thể trả tiền cho mọi tiện nghi, nhưng không thể trả tiền để mua lại cái tình làng nghĩa xóm đã bỏ lại ở quê nhà. Lòng hiếu thảo, trong hoàn cảnh ấy, trở thành một điều gì đó vừa đẹp đẽ vừa bất lực.

Đó cũng là lý do vì sao không ít cụ già, sau vài năm sống ở Mỹ trong đầy đủ tiện nghi, cuối cùng lại xin được về Việt Nam. Về để sống những năm tháng cuối đời trong một căn nhà giản dị hơn, thiếu thốn hơn, nhưng có tiếng người, có hàng xóm, có những buổi chiều ngồi trước hiên nhà nhìn người qua lại. Với nhiều người, cái quyết định rời bỏ sự sung túc để về với sự gần gũi ấy không phải là một sự lựa chọn khó khăn. Bởi ở cái tuổi gần đất xa trời, người ta hiểu rõ hơn ai hết rằng thứ quý giá nhất không phải là tiện nghi, mà là được sống giữa tình người, được chết ở một nơi mình thuộc về.

Viết những dòng này, mình không có ý trách cứ ai cả. Không trách những người con, bởi họ đã làm điều tốt nhất mà hoàn cảnh cho phép. Cũng không trách nước Mỹ, bởi mỗi xã hội có một cách vận hành riêng. Mình chỉ mong, những ai đang có cha mẹ già sống cùng trên đất khách, hãy thử một lần đặt mình vào vị trí của các cụ. Thử tưởng tượng một ngày dài của mình sẽ ra sao nếu không thể ra khỏi nhà, không nói được với ai một câu trọn vẹn, chỉ ngồi đợi từ sáng đến tối để nghe một tiếng người thân thuộc. Và rồi, biết đâu, giữa cái guồng quay bận rộn kia, ta sẽ cố dành ra thêm vài phút mỗi ngày để ngồi xuống bên cha, bên mẹ, hỏi han vài câu, kể cho các cụ nghe một chuyện nhỏ trong ngày. Đôi khi, món quà lớn nhất mà một người già cần không phải là một căn nhà đầy tiện nghi, mà chỉ đơn giản là vài phút được thấy mình vẫn còn quan trọng với những người mình thương yêu.

Còn bạn, lần gần nhất bạn ngồi xuống trò chuyện thật lâu với cha mẹ hoặc ông bà của mình, không vội vàng, không điện thoại, là khi nào?

Ryan Phan –— in Atlanta, GA.


 

Dưới thời cai trị của Khmer Đỏ do Pol Pot lãnh đạo bao nhieu nguoi da chet?

Dưới thời cai trị của Khmer Đỏ do Pol Pot lãnh đạo bao nhieu nguoi da chet?

GEMENI tra loi:

Dưới thời cai trị của Khmer Đỏ do Pol Pot lãnh đạo (1975–1979), ước tính có từ 1,5 triệu đến 2 triệu người thiệt mạng, tương đương khoảng 20% đến 25% dân số Campuchia thời bấy giờ.

Các nguyên nhân tử vong chính bao gồm:

  • Hành quyết và thảm sát: Hàng trăm nghìn người bị quy kết là “kẻ thù của cách mạng” (bao gồm trí thức, quan chức chính quyền cũ, người dân tộc thiểu số và những người bị nghi ngờ không trung thành) bị giam giữ, tra tấn và sát hại tại các trại cải tạo và “cánh đồng chết”.
  • Lao động khổ sai và đói khát: Chính sách cưỡng bức di dời toàn bộ dân cư từ thành thị về nông thôn để thực hiện mô hình nông nghiệp tập trung dẫn đến tình trạng kiệt sức và nạn đói nghiêm trọng trên diện rộng.
  • Bệnh tật và thiếu y tế: Hệ thống y tế bị phá hủy hoàn toàn, thuốc men thiếu hụt cùng điều kiện sống tồi tàn khiến vô số người chết vì các bệnh truyền nhiễm.

Một số số liệu từ các tổ chức và nghiên cứu uy tín:

  • Chương trình Nghiên cứu Nạn diệt chủng Campuchia (Đại học Yale): Ước tính khoảng 1,7 triệu người (khoảng 21% dân số).
  • Trung tâm Tư liệu Campuchia (DC-Cam): Dựa trên việc thống kê các hố sát hại tập thể, ước tính số nạn nhân dao động từ 1,7 triệu đến 2 triệu người.
  • Các ước tính tổng hợp khác: Tùy thuộc vào phương pháp thống kê, con số dao động trong khoảng từ 1,2 triệu cho đến gần 3 triệu người.

BỊ TRIỆU TẬP VÌ BẤM THEO DÕI MỘT TRANG FACEBOOK

Chân dung Tô Lâm – The True Portrait of To Lam

BỊ TRIỆU TẬP VÌ BẤM THEO DÕI MỘT TRANG FACEBOOK

Ngày 4/8/2026, Công an xã Mường Phăng triệu tập hai công dân L.T.Đ và L.T.A. Lý do: họ đã bấm theo dõi trang Facebook “Hoàng Dũng”.

Không phải chia sẻ bài viết. Không phải bình luận. Không phải viết status thể hiện quan điểm. Chỉ đơn giản là bấm nút theo dõi, một hành động mà hàng triệu người dùng mạng xã hội thực hiện mỗi ngày mà không hề nghĩ đó có thể là vấn đề.

Hãy dừng lại và suy nghĩ về điều đó. Theo dõi một trang Facebook có nghĩa là bạn muốn thấy nội dung của trang đó xuất hiện trên newsfeed của mình. Nó không có nghĩa là bạn đồng ý với mọi thứ trang đó đăng. Nó không có nghĩa là bạn tham gia vào bất kỳ hoạt động nào của trang đó. Nó chỉ đơn giản là một cú click để theo dõi thông tin, giống như bạn theo dõi hàng chục, hàng trăm trang khác về ẩm thực, du lịch, giải trí, tin tức.

Khi hành động đơn giản đó đủ để bị triệu tập lên đồn công an, thì ranh giới của những gì được coi là bình thường trên mạng xã hội đã bị thu hẹp đến mức đáng báo động.

Lý do được đưa ra thường là phòng ngừa thông tin xấu độc. Nghe có vẻ hợp lý ở bề mặt. Nhưng ai quyết định thông tin nào là xấu độc? Dựa trên tiêu chí nào? Có quy trình minh bạch nào để một trang mạng xã hội được xác định là nguồn thông tin xấu độc hay không, hay quyết định đó hoàn toàn phụ thuộc vào việc trang đó có đăng tải điều gì khiến ai đó không hài lòng?

Khi không có tiêu chí rõ ràng, thì bất kỳ trang nào, bất kỳ quan điểm nào khác với luồng chính thống đều có thể bị gán nhãn xấu độc, và bất kỳ ai theo dõi trang đó đều có thể trở thành đối tượng bị triệu tập.

Quyền tự do ngôn luận không chỉ là quyền được nói. Nó còn bao gồm quyền được nghe, được tiếp cận thông tin đa chiều, được tự mình quyết định nguồn tin nào mình muốn theo dõi và tự mình đánh giá độ tin cậy của thông tin đó. Đó là quyền cơ bản được ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.

Khi việc theo dõi một trang thông tin trở thành hành vi có thể bị triệu tập, thì quyền tiếp cận thông tin đa chiều đó không còn tồn tại trên thực tế nữa, dù nó vẫn được ghi trong văn bản pháp luật.

Có một nghịch lý đáng chú ý trong cách xử lý này. Nếu nội dung trên trang Facebook đó thực sự sai sự thật, thực sự nguy hiểm, thực sự cần được ngăn chặn, thì cách xử lý hợp lý là chứng minh nó sai, phản bác bằng thông tin chính xác, hoặc xử lý người quản lý trang đó theo đúng quy trình pháp lý.

Nhưng việc truy tìm và triệu tập những người chỉ đơn thuần theo dõi trang đó lại là một cách tiếp cận khác hoàn toàn. Nó không nhằm vào nguồn thông tin. Nó nhằm vào người tiếp nhận thông tin. Và điều đó tạo ra hiệu ứng răn đe rộng hơn nhiều: không chỉ người viết phải sợ, mà cả người đọc cũng phải sợ.

Khi nỗi sợ đó lan rộng, điều gì sẽ xảy ra? Người dân sẽ tự kiểm duyệt không chỉ những gì họ viết, mà cả những gì họ đọc, những gì họ theo dõi, những trang nào họ dám bấm like. Không gian thông tin sẽ dần thu hẹp lại, không phải vì bị cấm một cách công khai và rõ ràng, mà vì mỗi người tự rút lui khỏi những nguồn thông tin có thể mang lại rủi ro, dù họ không biết chính xác rủi ro đó là gì.

Các chuyên gia pháp lý quốc tế đã nhấn mạnh rằng quyền tự do thông tin là nền tảng của một xã hội văn minh. Việc quy chụp hành vi theo dõi một trang cá nhân thành vi phạm pháp luật không bảo vệ được trật tự xã hội. Nó chỉ cho thấy sự bất an của một hệ thống trước những tiếng nói độc lập, trước khả năng người dân tự tiếp cận thông tin và tự hình thành quan điểm của riêng mình mà không cần thông qua kênh chính thống.

Một hệ thống tự tin vào tính đúng đắn của mình không cần phải sợ một nút like. Khi nó sợ, đó chính là lúc câu hỏi về sự tự tin đó cần được đặt ra nghiêm túc nhất.


 

TỪ PHIÊN LIVE CỦA BÀ NGUYỄN PHƯƠNG HẰNG VÀ LÝ DO AN NINH VIỆT NAM SỢ TRUYỀN THÔNG

Chân Trời Mới Media

TỪ PHIÊN LIVE CỦA BÀ NGUYỄN PHƯƠNG HẰNG VÀ LÝ DO AN NINH VIỆT NAM SỢ TRUYỀN THÔNG

“Phản động”, “thế lực thù địch” đó là những cụm từ mà công an Việt Nam dùng để gán cho những người bất đồng chính kiến. “Các đối tượng thiếu hiểu biết”, “tiếp tay cho phản động” là những cụm từ dùng để gán tội cho những người tương tác với các kênh truyền thông độc lập. Vì thế, đây không còn là chiến dịch trấn áp, mà còn là một nỗi sợ. Vậy, tại sao nhà cầm quyền Việt Nam lại “sợ” truyền thông?

Vừa qua vào ngày 5/08/2026, Bà Nguyễn Phương Hằng đã livestream trên nền tảng tiktok thu hút hơn 2 triệu lượt xem trước khi bị đánh sập. Trong nội dung livestream, có đoạn bà nhắc đến bê bối của các cựu quan chức của Việt Nam với cái tên “anh Hai”, “anh Ba”, “anh Tư”, “anh Bảy”. Dư luận nhận ra bà đang muốn nhắn đến ông Lê Thanh Hải, Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang và Nguyễn Xuân Phúc. Nên phiên livestream diễn ra được khoảng một tiếng thì bị đánh sập do “đưa tin thiếu kiểm chứng”.

Một phiên live thu hút được hàng triệu view, một con số được cho là quá lớn. Nội dung thì lại thu hút dư luận, các cái tên được Bà Hằng nhắc đến, dư luận hiện tại vẫn đang bàn tán xôn xao. Vì thế, nhiều người nhận định, đó là lý do tại sao nhà cầm lại “sợ” truyền thông. Vì sức ảnh hưởng thì quá lớn, mà lại còn nằm ngoài sự kiểm duyệt của Đảng và Nhà nước, nên “sợ là phải”.

#NguyenPhuongHang #Livetream #chantroimoi 


 

So nguoi chet duoi thoi Mao Trach Dong la bao nhieu nguoi?

So nguoi chet duoi thoi Mao Trach Dong la bao nhieu nguoi?

GEMINI tra loi:

Số lượng người chết dưới thời Mao Trạch Đông (1949–1976) không có một con số thống nhất tuyệt đối do sự thiếu hụt tài liệu chính thức từ chính phủ Trung Quốc và sự khác biệt trong phương pháp thống kê của các nhà sử học. Tuy nhiên, phần lớn các ước tính độc lập và nghiên cứu lịch sử uy tín đưa ra tổng con số tử vong dao động từ 40 triệu đến 80 triệu người.

Các nguyên nhân tử vong chính bao gồm:

  1. Đại nhảy vọt và Nạn đói lớn (1958–1962):
    • Đây là chiến dịch gây ra số lượng tử vong lớn nhất do chính sách tập thể hóa nông nghiệp và quản lý kinh tế yếu kém.
    • Hầu hết các nhà nhân khẩu học và sử học (như Dương Kế Thằng, Frank Dikötter, Judith Banister) ước tính số người chết vì đói và bị bạo hành trong giai đoạn này khoảng từ 30 triệu đến 45 triệu người.
  2. Cách mạng Văn hóa (1966–1976):
    • Các cuộc đấu tố, thanh trừng nội bộ do Hồng vệ binh và quân đội thực hiện dẫn đến bạo lực diện rộng.
    • Con số tử vong do bạo lực, tự sát hoặc bị đàn áp ước tính khoảng 1 triệu đến 3 triệu người.
  3. Cải cách ruộng đất và các chiến dịch đàn áp chính trị (1949–1957):
    • Bao gồm Cải cách ruộng đất, Chiến dịch tiêu diệt phản cách mạng, và Chiến dịch Chống phe Hữu.
    • Số lượng địa chủ, đối thủ chính trị và tầng lớp trí thức bị hành quyết hoặc chết trong các trại cải tạo ước tính từ 1 triệu đến 5 triệu người.
  4. Hệ thống trại cải tạo lao động (Lao cải):
    • Hàng triệu người đã trải qua các trại lao cải trong nhiều thập kỷ, với con số tử vong do điều kiện khắc nghiệt và bị ngược đãi ước tính từ vài triệu đến 20 triệu người tùy theo phạm vi tính toán của các nhà nghiên cứu.

Tóm tắt các nguồn ước tính tiêu biểu:   

  • Chính sử / Giới nghiên cứu độc lập phương Tây & Trung Quốc (Yang Jisheng, Frank Dikötter, Daniel Leese): Ước tính khoảng 40 – 45 triệu người.
  • Một số sách nghiên cứu như Cuốn sách đen của Chủ nghĩa Cộng sản (The Black Book of Communism) hoặc tiểu sử Mao của Jung Chang & Jon Halliday: Ước tính từ 65 triệu đến 70 triệu người.
  • Ước tính cao nhất (R.J. Rummel): Lên tới 77 triệu người.

 

So nguoi chet duoi che do Staline la bao nhieu nguoi?

So nguoi chet duoi che do Staline la bao nhieu nguoi:

GEMINI Tra loi:

Ước tính số người thiệt mạng dưới chế độ của Joseph Stalin (từ khoảng năm 1924 đến 1953) vẫn là một chủ đề có nhiều sự khác biệt giữa các nhà lịch sử, do tính chất phức tạp của việc truy cập hồ sơ lưu trữ và cách phân loại nguyên nhân tử vong (hành quyết trực tiếp, chết trong trại cải tạo Gulag, hay chết vì nạn đói).

Các con số ước tính phổ biến bao gồm:

  • Tài liệu lưu trữ chính thức của Liên Xô (sau năm 1991): Các nhà lịch sử truy cập hồ sơ lưu trữ chính thức sau khi Liên Xô sụp đổ ước tính có khoảng 6 đến 9 triệu người thiệt mạng do các chính sách trực tiếp và gián tiếp của Stalin. Trong đó:
    • Hành quyết chính trị: Khoảng 800.000 đến 1,2 triệu người bị tuyên án tử hình và hành quyết (đặc biệt trong thời kỳ Đại thanh trừng 1937–1938).
    • Hệ thống trại Gulag: Khoảng 1,5 đến 1,7 triệu người chết do điều kiện khắc nghiệt, bệnh tật và kiệt sức trong các trại lao động cải tạo.
    • Cưỡng bức di dời và lưu tày: Khoảng 500.000 đến 1 triệu người thiệt mạng trong quá trình di dời hàng loạt các sắc tộc và đối tượng chính trị.
    • Nạn đói (1932–1933): Khoảng 3,5 đến 5 triệu người chết vì nạn đói do chính sách tập thể hóa nông nghiệp, đặc biệt là sự kiện Holodomor tại Ukraine và nạn đói ở Kazakhstan.
  • Ước tính của các nhà nghiên cứu phương Tây (trước và sau thời kỳ Mở cửa): Trước khi hồ sơ lưu trữ được công bố, một số nhà lịch sử phương Tây (như Robert Conquest) đưa ra con số cao hơn nhiều, ước tính từ 15 đến 20 triệu người tử vong khi tính gộp cả nạn đói đại trà, tử vong trong chiến dịch giải thể tầng lớp phú nông (Kulak), và điều kiện sống khắc nghiệt thời chiến.

Tổng hợp lại, đa số các nhà lịch sử hiện đại đồng thuận rằng con số tử vong trực tiếp và gián tiếp do các chính sách của Stalin nằm trong khoảng từ 6 triệu đến 20 triệu người.

Con trai tiết lộ Biden bị ung thư di căn, rất đau đớn

Ba’o Nguoi-Viet

August 9, 2026

WASHINGTON, DC (NV) – Bệnh ung thư nhiếp hộ tuyến (tiền liệt tuyến) của cựu Tổng Thống Joe Biden lan ra bộ phận khác của cơ thể và làm ông đau đớn, con trai ông tiết lộ, theo CBS News hôm Thứ Bảy, 8 Tháng Tám.

Trong cuộc phỏng vấn với BBC News cuối hôm Thứ Sáu, ông Hunter Biden trở nên xúc động khi nói về tình trạng thân phụ ông. Ông cho hay tình trạng của vị cựu tổng thống nhìn rất đau lòng.

Cựu Tổng Thống Joe Biden phát biểu trong buổi gây quỹ cho đảng Dân Chủ South Carolina tại Columbia Museum of Art ở Columbia, South Carolina hôm 27 Tháng Hai. (Hình minh họa: Sean Rayford/Getty Images)

“Bệnh ung thư đã lan ra, di căn vào xương và nhiều chỗ,” ông Hunter Biden cho biết. “Ông rất đau đớn và suy yếu rất nhiều.”

Ông Hunter Biden nói thêm, “Nhìn rất đau lòng. Về sức khỏe của ông ngay lúc này, tôi chỉ muốn nói ước gì ông than phiền nhiều hơn, vì không tốt.”

Nhưng ông Hunter Biden nhấn mạnh thân phụ ông vẫn “còn đó,” công khai lên tiếng về những vấn đề quan trọng đối với ông.

“Ông vẫn làm công việc của mình,” ông Hunter Biden nói. “Ông vẫn tin tưởng đất nước này.”

Cựu Tổng Thống Biden, 83 tuổi, từng là tổng thống đương nhiệm lớn tuổi nhất lịch sử Mỹ, và tuổi tác của ông là điều khiến người ta lo ngại hầu như suốt bốn năm ông làm tổng thống. Cả ông lẫn nhóm cố vấn của ông ở Tòa Bạch Ốc đều bị chỉ trích kịch liệt vì bị nghi che giấu mức độ bệnh tật của ông, đặc biệt sau khi ông bị ép buộc dừng tái tranh cử năm 2024 sau màn tranh luận tệ hại với ông Donald Trump, ứng cử viên tổng thống đảng Cộng Hòa lúc đó và cuối cùng, là người kế nhiệm ông Biden.

Tháng Năm năm ngoái, chưa đầy bốn tháng sau khi hết nhiệm kỳ, cựu Tổng Thống Biden công bố bị ung thư. Lúc đó, văn phòng ông loan báo ông bị ung thư giai đoạn cuối.

Tháng Chín năm ngoái, ông Biden cũng được mổ để điều trị bệnh ung thư da. Và hồi Tháng Mười, ông được xạ trị thêm một đợt để điều trị bệnh ung thư nhiếp hộ tuyến, văn phòng ông cho hay.

Trong cuộc phỏng vấn của CBS News hồi Tháng Năm, cựu Đệ Nhất Phu Nhân Jill Biden cho biết gia đình bàng hoàng khi hay tin ông bị ung thư. Bà cũng tỏ ý nói bác sĩ không phát giác ông bị ung thư lúc ông làm tổng thống.

Cựu Tổng Thống Biden sẽ xuất bản quyển hồi kỳ “Promise Me, America” (Tạm dịch: “Hãy Hứa Với Tôi, Nước Mỹ”) sau cuộc bầu cử giữ nhiệm kỳ vào Tháng Mười Một. (Th.Long) [dt]


 

 JOE BIDEN – KHI MỘT ĐỜI QUYỀN LỰC CUỐI CÙNG CŨNG TRỞ VỀ VỚI PHẬN NGƯỜI

Hoai Linh Ngoc Duong

 JOE BIDEN – KHI MỘT ĐỜI QUYỀN LỰC CUỐI CÙNG CŨNG TRỞ VỀ VỚI PHẬN NGƯỜI

Có những lúc chính trị nên im tiếng để nhường chỗ cho tình người.

Trong cuộc phỏng vấn được phát sóng những ngày qua, Hunter Biden đã nghẹn ngào khi nói về người cha 83 tuổi của mình. Căn bệnh ung thư tuyến tiền liệt của cựu Tổng thống Joe Biden đã di căn vào xương và xa hơn.

Hunter nói rằng nó “rất đau đớn” và khiến cha ông suy kiệt về nhiều mặt. Đó là một thông tin buồn, dù chúng ta cần thận trọng rằng gia đình Biden chưa nói ông đang ở những ngày cuối đời. (Reuters⁠)

Nhưng có lẽ chính vào những thời khắc như thế này, con người mới cảm nhận sâu sắc nhất bốn chữ tưởng như đã quá quen thuộc: sinh, lão, bệnh, tử.

Một đời người có thể đi qua những hành lang quyền lực lớn nhất thế giới, có thể ngồi trong Thượng viện Hoa Kỳ, bước vào Nhà Trắng với tư cách phó tổng thống rồi tổng thống, có thể ký những đạo luật ảnh hưởng đến hàng trăm triệu con người.

Nhưng cuối con đường, trước bệnh tật, một tổng thống cũng chỉ là một con người. Quyền lực không thể ra sắc lệnh cho những tế bào ung thư ngừng phát triển. Danh vọng không thể thương lượng với tuổi già. Tiền bạc có thể đem lại những phương pháp điều trị tốt nhất, nhưng không thể mua được sự bất tử.

Có lẽ đó chính là bài học nhân sinh lớn nhất mà bệnh tật nhắc lại cho tất cả chúng ta: quyền lực rồi sẽ hết, chức vụ rồi sẽ trao lại, những cuộc tranh cãi chính trị rồi sẽ trở thành vài trang trong sách sử. Cuối cùng điều còn lại là một con người đã sống như thế nào và để lại điều gì cho những người đến sau.

Cuộc đời Joe Biden, bất kể người ta đánh giá những quyết định chính trị của ông ra sao, là một cuộc đời rất dài trong nền dân chủ Mỹ.

Ông bước vào Thượng viện năm 1973 khi mới 30 tuổi và ở đó suốt 36 năm, chứ không chỉ 30 năm. Sau đó là tám năm làm phó tổng thống dưới thời Barack Obama và bốn năm làm Tổng thống thứ 46 của Hoa Kỳ. (U.S. Senate⁠)

Nhưng phía sau con đường chính trị ấy là một cuộc đời nhiều mất mát.

Chỉ vài tuần sau khi Biden lần đầu đắc cử thượng nghị sĩ năm 1972, người vợ Neilia và cô con gái nhỏ Naomi chết trong một tai nạn xe hơi; hai người con trai Beau và Hunter bị thương.

Biden đã tuyên thệ nhậm chức thượng nghị sĩ ngay trong bệnh viện nơi các con đang điều trị. Sau đó, ông lựa chọn mỗi ngày đi lại giữa Delaware và Washington để có thể trở về với các con vào buổi tối. (Joe Biden⁠)

Vì thế mới có một “Amtrak Joe” rất khác với hình ảnh của một chính trị gia Washington: một người cha trên chuyến tàu trở về nhà sau giờ làm việc.

Hàng chục năm sau, bi kịch lại tìm đến gia đình ấy. Beau Biden mắc ung thư não. Trong những ngày con trai bệnh nặng, Joe Biden từng tính đến chuyện bán căn nhà của mình để bảo đảm gia đình Beau không gặp khó khăn tài chính nếu Beau phải nghỉ việc. Barack Obama khi biết chuyện đã đề nghị giúp đỡ để Biden không phải bán nhà.

Chi tiết ấy có ý nghĩa không phải bởi một phó tổng thống nghèo hay giàu. Nó đáng nhớ bởi trong khoảnh khắc ấy, chức danh “Phó Tổng thống Hoa Kỳ” bỗng trở nên nhỏ bé trước hai chữ người cha.

Một người cha có thể ngồi cách Tổng thống Hoa Kỳ vài bước trong Phòng Bầu dục, nhưng khi con mình mắc bệnh hiểm nghèo, ông cũng suy nghĩ như hàng triệu người cha bình thường khác: nếu cần, tôi sẽ bán những gì mình có để con và gia đình của con được bình an.

Beau qua đời năm 2015, mới 46 tuổi.

Và hôm nay, vòng quay nghiệt ngã của đời người lại đảo chiều: người cha từng đứng bên giường bệnh của con giờ trở thành người bệnh; Hunter Biden, người con từng được cha chăm sóc sau tai nạn khi còn nhỏ, giờ phải nhìn người cha già chống chọi với căn bệnh ung thư.

Có lẽ không có triết lý nào về vô thường mạnh mẽ hơn chính cuộc đời.

Joe Biden không phải một vị thánh. Không một chính trị gia dân chủ nào nên được biến thành thánh. Ông đã có những quyết định đúng, những quyết định sai, những thành tựu và những thất bại. Chính bản chất của dân chủ đòi hỏi người dân được quyền phê phán tất cả những điều đó.

Nhưng có một điểm đáng được ghi nhận: Biden dành hơn nửa thế kỷ hoạt động trong những định chế của nền dân chủ Hoa Kỳ. Ông thắng bầu cử, ông từng thất bại trong những cuộc tranh cử tổng thống, ông tranh luận với đối thủ, thương lượng với Quốc hội và cuối cùng rời quyền lực khi nhiệm kỳ kết thúc.

Trong Thượng viện, ông từng giữ những vị trí hàng đầu tại Ủy ban Tư pháp và Ủy ban Đối ngoại và là tác giả quan trọng của Violence Against Women Act. (Joe Biden⁠) Trong tám năm làm phó tổng thống, ông tham gia chính quyền Obama trong quá trình phục hồi kinh tế sau cuộc khủng hoảng tài chính và thông qua Affordable Care Act. (Joe Biden⁠)

Khi làm tổng thống, chính quyền Biden thông qua những khoản đầu tư lớn vào hạ tầng, trong đó có khoảng 66 tỷ USD dành cho đường sắt – một sự trùng hợp đẹp đối với người đàn ông đã dành phần lớn đời nghị sĩ trên những chuyến tàu Amtrak. (AP News⁠)

Và một trong những chủ đề lớn nhất những năm cuối sự nghiệp chính trị của Biden chính là bảo vệ nền dân chủ.

Có thể đồng ý hoặc không đồng ý với cách ông thực hiện điều đó. Nhưng trong bài phát biểu chia tay tại Phòng Bầu dục tháng 1/2025, Biden vẫn cảnh báo nước Mỹ về nguy cơ hình thành một tầng lớp tài phiệt khi tiền bạc và quyền lực tập trung quá mức trong tay một số ít người. (Reuters⁠)

Đó cũng là điều đẹp đẽ của một nền dân chủ: không cần yêu một tổng thống mới có thể ghi nhận những gì ông đã cống hiến; không cần phủ nhận những sai lầm của ông mới có thể cảm thông với nỗi đau của ông.

Bởi đến trước bệnh tật, những nhãn hiệu Democrat hay Republican cuối cùng đều trở nên thứ yếu.

Năm 2025, khi thông báo mình mắc ung thư tuyến tiền liệt thể ác tính cao, Gleason 9, đã di căn xương, Biden từng viết một câu rất giản dị: “Cancer touches us all” – ung thư chạm đến tất cả chúng ta. (CBS News⁠)

Có lẽ không cần một diễn văn nào dài hơn thế.

Ung thư không hỏi chúng ta bỏ phiếu cho ai. Tuổi già không phân biệt tổng thống với người công nhân. Cái chết không biết đến quyền lực, tài khoản ngân hàng hay số người theo dõi trên mạng xã hội.

Rồi một ngày, tất cả chúng ta đều phải rời khỏi chiếc ghế mình đang ngồi.

Và vì vậy, giá trị cuối cùng của một đời người có lẽ không nằm ở việc người ấy đã nắm bao nhiêu quyền lực, mà ở câu hỏi giản dị hơn: khi còn có quyền lực trong tay, người ấy đã sử dụng nó để làm gì?

Khi còn thời gian, người ấy đã dành nó cho ai? Và khi ra đi, người ấy để lại cho những thế hệ sau một xã hội tốt hơn hay tồi tệ hơn xã hội mà mình từng nhận được?

Joe Biden đã đi một hành trình rất dài: từ chàng trai 29 tuổi đắc cử Thượng viện; người cha tuyên thệ bên giường bệnh của những đứa con vừa mất mẹ và em gái; người nghị sĩ hàng chục năm sáng đi Washington, tối trở về Delaware; người cha từng nghĩ đến chuyện bán nhà vì tương lai gia đình của đứa con mắc ung thư; rồi phó tổng thống, tổng thống và cuối cùng lại trở về làm một ông già ở tuổi 83 đang chống chọi với bệnh tật.

Một vòng đời gần như đã đi qua tất cả những gì con người có thể trải nghiệm: thành công và thất bại, quyền lực và mất mát, vinh quang và nước mắt, được và mất, gặp gỡ và chia lìa.

Hôm nay có lẽ không phải lúc để hỏi Joe Biden thuộc đảng nào.

Chỉ nên cầu mong những phương pháp điều trị có thể giúp ông giảm bớt đau đớn, và mong Jill, Hunter, Ashley cùng những người thân có đủ sức mạnh để ở bên ông trong giai đoạn khó khăn này.

Bởi phía sau danh xưng “Tổng thống thứ 46 của Hoa Kỳ”, cuối cùng vẫn chỉ là Joe – một người chồng, một người cha, một người ông và một con người đang đi qua quy luật khắc nghiệt mà không ai trong chúng ta có thể trốn tránh:

Sinh – lão – bệnh – tử.

Và có lẽ khi đứng trước giới hạn cuối cùng ấy, điều đáng quý nhất mà con người có thể để lại không phải là quyền lực.

Mà là dấu chân của mình trong cuộc đời những người còn ở lại. 


 

TƯỞNG VÀO VIỆN DƯỠNG LÃO LÀ AN NHÀN, 6 THÁNG SAU TÔI MỚI HIỂU

Tĩnh Lặng Mỗi Đêm

TƯỞNG VÀO VIỆN DƯỠNG LÃO LÀ AN NHÀN, 6 THÁNG SAU TÔI MỚI HIỂU

Có người từng nói: Tuổi già đáng sợ nhất không phải là bệnh tật, mà là cảm giác mình không còn được ai xem trọng.

Ngày bước chân vào viện dưỡng lão, tôi đã tin rằng mình vừa đưa ra một quyết định đúng đắn.

Ở đó có người nấu ăn, có người chăm sóc, có bác sĩ theo dõi sức khỏe, lại có những người cùng tuổi để trò chuyện mỗi ngày.

Tôi nghĩ, cuối cùng mình cũng có thể sống những năm tháng cuối đời trong sự an nhàn.

Nhưng chỉ sau sáu tháng, tôi mới hiểu một điều rất khác.

Tuổi già không chỉ cần được chăm sóc, mà còn cần được đối xử như một con người.

Tôi vẫn nhớ như in những ngày đầu ở viện.

Mọi thứ đều sạch sẽ, ngăn nắp và có quy củ.

Giờ ăn, giờ ngủ, giờ tập thể dục, giờ thăm nuôi… tất cả đều được sắp xếp sẵn.

Ban đầu, tôi thấy điều đó rất chuyên nghiệp.

Cho đến một buổi sáng, tôi nhờ người chăm sóc giúp lấy cho mình một món đồ ở trên cao.

Cô ấy nhìn tôi rồi nói: “Bà còn đi lại được mà, sao phải nhờ?”

Đó chỉ là một câu nói rất bình thường, không hề quát mắng hay nặng lời.

Nhưng không hiểu sao, tôi thấy lòng mình chùng xuống.

Từ hôm ấy, tôi dần nhận ra rằng ở viện dưỡng lão, mọi thứ đều vận hành theo quy trình.

Ai cũng bận, ai cũng có phần việc của mình.

Không ai cố ý vô tâm, nhưng cũng rất ít người còn đủ thời gian để quan tâm đến cảm xúc của từng cụ già.

Bữa cơm vẫn đầy đủ dinh dưỡng, nhưng chẳng có hương vị của bữa cơm gia đình. Người cùng phòng gặp nhau mỗi ngày, nhưng mỗi người đều mang trong lòng những nỗi cô đơn riêng.

Không ai thực sự làm phiền ai, cũng chẳng ai thật sự bước vào cuộc sống của ai.

Điều khiến tôi mệt mỏi nhất không phải là thiếu thốn vật chất.

Mà là cảm giác mình đang được quản lý, hơn là được sống.

Sáu tháng sau, tôi quyết định trở về nhà.

Tôi thuê một người chăm sóc.

Chị ấy không học cao, cũng chẳng biết nói những lời hoa mỹ.

Nhưng chị nhớ tôi thích ăn nhạt, nhớ những hôm trái gió trở trời lưng tôi hay đau, nhớ buổi tối tôi thường khó ngủ nên luôn pha sẵn một ly nước ấm đặt cạnh đầu giường.

Có hôm tôi không muốn ăn đúng bữa, chị chỉ cười rồi bảo: “Khi nào bác thấy đói thì con hâm lại.”

Một câu nói rất đơn giản, nhưng đủ để tôi cảm thấy mình vẫn còn được tôn trọng.

Mỗi tối, chị xoa bóp lưng cho tôi bằng rượu thuốc.

Những bữa cơm được nấu theo đúng khẩu vị của tôi.

Cuộc sống không còn quá nhiều quy định cứng nhắc, cũng không còn cảm giác mình phải cố gắng thích nghi với một guồng quay đã được lập trình sẵn.

Dần dần, tôi ngủ ngon hơn.

Sức khỏe cũng khá hơn.

Điều thay đổi lớn nhất lại không nằm ở cơ thể, mà ở tinh thần.

Tôi cảm thấy mình vẫn là chính mình.

Dĩ nhiên, tôi cũng hiểu rằng không phải ai cũng may mắn gặp được một người chăm sóc tận tâm.

Có người thuê nhầm người, có người liên tục thay đổi người giúp việc, thậm chí còn mệt mỏi hơn cả khi ở viện dưỡng lão.

Vì thế, sẽ không có lựa chọn nào hoàn hảo cho tất cả mọi người.

Viện dưỡng lão có sự chuyên nghiệp, an toàn và thuận tiện.

Ở nhà có sự gần gũi, tự do và ấm áp.

Mỗi hoàn cảnh sẽ có một đáp án khác nhau.

Nhưng sau tất cả, tôi nhận ra một điều rất đáng suy ngẫm:

Điều quan trọng không phải là mình sống ở đâu, mà là mình được đối xử như thế nào.

Con người, dù ở tuổi nào, cũng luôn cần được lắng nghe, được tôn trọng và được quan tâm bằng cả sự chân thành.

Tuổi già không nhất thiết phải có căn phòng đẹp nhất, bữa ăn sang nhất hay lịch sinh hoạt hoàn hảo nhất.

Điều người già cần, đôi khi chỉ là có một người nhớ mình thích gì, hỏi hôm nay mình có khỏe không, và khiến mình cảm thấy bản thân vẫn có giá trị.

Bởi cuối cùng, ai rồi cũng sẽ già đi.

Và điều mỗi chúng ta mong mỏi nhất, không phải chỉ là được nuôi dưỡng.

Mà là được sống những năm tháng cuối đời với sự bình yên, lòng tự trọng và tình người.

Xin cảm ơn quý vị đã dành thời gian lắng nghe.

Kính chúc quý vị luôn mạnh khỏe, bình an và có thật nhiều niềm vui trong cuộc sống.

Hẹn gặp lại quý vị trong những câu chuyện tiếp theo của Tĩnh Lặng Mỗi Đêm.

#TuoiGia #Happiness #KienTaoCuocSong #TriTue #TĩnhLặngMỗiĐêm