Thư của vợ chồng NÔNG THỊ VÀNG (*)-TƯ LIỆU LỊCH SỬ

Hà Sĩ Phu

TƯ LIỆU LỊCH SỬ

Thư của vợ chồng NÔNG THỊ VÀNG (*)

(*) Nông Thị Vàng là em họ của Nông Thị Xuân-mẹ của Nguyễn Tất Trung-, Nguyễn Tất Trung là con của Nguyễn Tất Thành HCM. Trong thư của anh thương binh, họ Nông viết nhầm là họ Nguyễn)

     Cao Bằng ngày 29 tháng 7 năm 1983.

Kính gởi Ông Nguyễn hữu Thọ, Chủ tịch quốc hội nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

    Tôi là một thương binh đã 25 năm nay vô cùng đau khổ, không dám hé răng với ai. Không phải chỉ vì vết thương bom đạn, chiến tranh mà là một vết thương lòng vô cùng nhức nhối. Nay tôi sắp được từ giã cái xã hội vô cùng đen tối này đi sang thế giới khác, tôi phải chạy vạy rất khó khăn mới viết được bức thư này lên Chủ tịch, hy vọng ông còn lương tri, lương tâm đem ra ánh sáng một vụ bê bối vô cùng nghiêm trọng tàn ác, mà người vợ chưa cưới của tôi là một nạn nhân. Nay tôi hy vọng những tên hung thủ được lột mặt nạ trước công chúng, không để cho chúng ngồi trên đầu trên cổ nhân dân.

    Nguyên từ năm 1954 tôi có người yêu tên Nguyễn thị Vàng, 22 tuổi quê làng Hà Mạ, Xã Hồng Việt, huyện Hoà An, tỉnh Cao Bằng. Cô Vàng có người chị họ là Nguyễn thị Xuân, tên gọi trong gia đình là cô Sang tức Minh Xuân. Tôi nhập ngũ đi bộ đội cuối năm 1952. Cô Vàng và cô Xuân tình nguyện vào công tác hộ lý trong một đơn vị quân nhu. Ðược mấy tháng sau ông Trần Ðăng Ninh, Tổng cục trưởng Tổng cục hậu cần mấy lần đến gặp cô Xuân. Ðầu năm 1955 thì đem xe tới đón về Hà Nội, nói là để phục vụ Bác Hồ. Ðược mấy tháng sau thì cô Xuân cũng xin cho cô Vàng về Hà Nội, ở trên gác nhà 66 Hàng Bông Nhuộm với cô Xuân và cô Nguyệt con gái ông Hoàng văn Ðệ cậu ruột cô Xuân.

      Ðã luôn 2 năm tôi chỉ được tiếp thư chứ không được gặp cô Vàng, người yêu của tôi. Nhưng khoảng tháng 10 năm 1957 tôi bị thương nhẹ được đưa về điều trị tại bệnh viện Huyện Hoà An. Chúng tôi vô cùng sung sướng lại được gặp nhau. Trong một tuần lể cô Vàng kể lại mọi nỗi đau xót cô đã gặp phải cho tôi nghe. Tôi xin ghi lại tỉ mỉ những lời cô Vàng tâm sự với tôi, mà không bao giờ tôi có thể lãng quên đi được.

     Vàng kể:

     Ðầu năm 1955 cô Xuân được về gặp Bác Hồ. Bác Hồ định lấy cô Xuân làm vợ chính thức. Mấy tháng sau chị Xuân xin cho em cùng về ở trên gác nhà 66 Hàng Bông Nhuộm, Hà Nội. Còn tầng dưới thì cho ông Nguyễn Quý Kiên, Chánh văn phòng Thủ tướng phủ ở. Vì các lãnh đạo không cho chị Xuân cùng ở với Bác trên nhà chủ tịch phủ, giao cho ông Trần Quốc Hoàn, Bộ trưởng bộ Công an trực tiếp quản lý chị Xuân, cho nên chị Xuân mới được đem về ở 66 Hàng Bông Nhuộm, nhà của Công an.

     Cuối năm 1956 chị Xuân sinh được một cậu con trai. Cụ Hồ đặt tên là Nguyễn Tất Trung. Em có nhiệm vụ bế cháu. Ông Bộ trưởng Công an có nhiệm vụ quản lý chị Xuân nên thường đến luôn. Nhưng một buổi tối vào khoảng mồng 6 hay mồng 7 tháng 2 năm 1957, ông Hoàn tới, ngồi nói chuyện vu vơ một tí rồi nắm tay chị Xuân, kéo vào một cái buồng xép, từ cầu thang đi lên, vật chị Xuân lên một cái giường nhỏ, định hãm hiếp. Chị Xuân bị nhét khăn vào miệng nhưng vẫn ú ớ la lên. Em hoảng sợ la tru tréo. Còn chị Nguyệt sợ quá, rúm người lại ngồi một góc tường. Nghe tiếng cửa sổ nhà dưới xô xầm vào tường, lão Hoàn bỏ chị Xuân ra, rút khẩu súng lục trong túi áo hoa lên nói to: “Chúng mày im mồm, không ông cho chết hết” rồi hầm hầm chạy xuống thang ra ô tô chuồn.

    Chị Xuân thất thểu đi ra khóc nức nở, ôm choàng lấy em. Em hỏi nó nắm tay chị, sao chị không văng vào mặt nó để nó dắt đi ? Chị Xuân vừa nức nở vừa nói: Ðau khổ nhục nhả lắm. Chị phải nói hết để các em tha tội cho chị. Từ hôm chị mới về nhà này, có một bà già độ 60 tuổi ở một buồn dưới nhà, vợ một cán bộ Công an đã chết, lên thân mật nói chuyện với chị rằng: Sao cô ở đây một mình ? Bạn đàn bà để tôi nói thật cho cô biết. Cái lão đem cô về đây là một tên côn đồ lưu manh, dâm ô tàn ác vô kể. Tôi xin kể một vài chuyện cho cô nghe. Ông Lương Khánh Thiện, một Uỷ viên Trung ương, bị đế quốc Pháp giết có con gái tên là Bình. Chị Ðường, vợ anh Thiện đem con gái gởi bác Hoàn nhờ bác tác thành cho. Lão Hoàn đã hiếp nó, nó chửa rồi chọn một tên lưu manh vào làm Công an để gả cô Bình làm vợ. Lão lại đem một cô gái có nhan sắc nhận là cháu, cũng hiếp cô gái này cho tới chửa, rồi giết chết quăng xác xuống hồ Ha Le để khỏi mang tiếng. Cán bộ Công an nhiều người biết chuyện của nó, nhưng không ai dám hở răng, vì sợ lão vu cho tội gì bắt giam rồi thủ tiêu.

   Nghe chuyện đó chị cũng khủng khiếp, nhưng lại nghĩ là nó đối với mọi người khác, còn đối với mình thì nó đâu dám. Nhưng chỉ được mấy hôm sau chị nghe tiếng giầy đi nhè nhẹ lên gác, chị chạy ra thì thấy nó đi lên nhếch mép cười một cách xõ lá. Nó chào chị rồi đi thẳng vào nhà, nó ôm ghì lấy chị vào lòng rồi hôn chị.

    Chị xô nó ra nói:

“Không được hỗn, tôi là vợ ông chủ tịch nước”.

    Nó cười một cách nhạo báng:

“Tôi biết bà to lắm nhưng sinh mệnh bà nằm trong tay tôi”.

Rồi nó lại nói: “Sinh mệnh tất cả dân tộc Việt nam, kể cả bố mẹ anh chị nhà bà cũng nằm trong tay tôi. Tôi muốn bắt ở tù, thủ tiêu đứa nào tuỳ ý. Và tôi nói cho bà biết cụ già nhà bà cũng không ngoài tay với của tôi”.

    Rồi nó rút khẩu súng lục dí vào ngực chị.

Chị ngồi xụp xuống ghế nói:

“Anh cứ bắn đi”.

Nó cười khì khì :

“Tôi chưa dại gì bắn. Tôi tặng bà vật khác”.

    Nó dắt súng vào túi quần rồi rút ra một sợi dây dù to bằng chiếc đũa, đã thắt sẳn một cái thòng lọng. Nó quàng cái tròng vào cổ chị rồi kéo chị đi lại cái giường kia, đẩy chị nằm xuống, rồi đầu sợi giây nó buộc vào chân giường. Chị khiếp sợ run như cầy sấy.

     Nó nói “Bây giờ bà muốn chết tôi cho bà chết“. Rồi nó lột hết quần áo chị, nó ngồi xuống nó ngắm nghía ngâm nga:

     Rõ ràng trong ngọc trắng ngà,

  đào nguyên lạc lối đâu mà đến đây ?

      Phẩm tiên đã đến tay phàm,

  thì vin cành quýt cho cam sự đời.

Rồi nó nằm đè lên hiếp chị. Chị xấu hổ lấy tay che mặt.

Nó kéo tay chị nói: “Thanh niên nó phục vụ không khoái hơn ông già mà còn vờ làm gái“.

     Xong nó cởi thòng lọng cho chị, rồi nó ngồi bên chị tán tỉnh hàng giờ:

“Anh thương em lắm. Người ta gặp hạnh phúc phải biết hưởng hạnh phúc. Nếu em thuận tình thì muốn gì cũng có.

    Nó đeo vào tay chị một chiếc nhẫn vàng, chị đã ném vào nhà xí.

Nó lại dặn: “Việc này phải tuyệt đối bí mật, nếu hở ra thì mất mạng cả lũ và tôi nói cho cô biết ông cụ tin tôi hơn cô”.

   Rồi từ đó chị biến thành một thứ trò chơi của nó. Thấy bóng dáng nó chị như một con mèo nhìn thấy con cọp, hồn vía lên mây. Nó muốn làm gì thì tuỳ ý nó. Trong mấy tháng trời chị tính quẩn lo quanh, không biết tâm sự với ai mà không làm sao thoát khỏi nanh vuốt của nó.

    Nhớ lại lời nói của bà già, chị liền xin bác cho hai em về đây, mong tránh được mặt nó. Nhưng những hôm Công an gọi các em đi làm hộ khẩu, đi làm chứng minh thư lâu hàng buổi là nó tới hành hạ chị. Nó bảo chị phải nói cho hai em biết. Phải biết câm cái miệng nếu bép xép thì mất mạng cả lũ. Hôm nay nó lại đây trắng trợn như vậy vì nó tưởng chị đã dặn hai em rồi. Bây giờ việc đã xẫy ra chị thấy rất nguy hiểm.

    Em nói: “Hay là chị em ta trốn đi”.

Chị Xuân nói: “Sau ngày sinh cháu Trung, chị thưa với Bác, bây giờ đã có con trai, xin bác cho mẹ con ra công khai”.

   Bác nói: “Cô xin như vậy là hợp tình, hợp lý. Nhưng phải được Bộ Chính Trị đồng ý, nhất là mấy ông Trường Chinh, Lê Ðức Thọ, Hoàng Quốc Việt đồng ý mới được. Do đó cô đành phải chờ một thời gian nữa”.

  Mấy tuần trước Bác lại hỏi chị: “Các cô ở đó có nhiều người lạ tới thăm phải không ?”.

   Chị thưa: “Ba chị em không có ai quen biết ở Hà Nội. Còn bà con ở Cao Bằng không biết chị em ở đâu”.

    Bác nói: Không nhẽ ông Bộ Trưởng Công an nói dối.

Chị suy nghĩ mãi mới thấy rõ, nó muốn vu cáo chị em ta liên hệ với gián điệp hoặc đặc vu gì đó để định kế thoát thân nếu việc của nó bị bại lộ Bây giờ ta trốn cũng không làm sao thoát khỏi tay nó, mà nó còn vu cáo giết hại ba chị em chúng ta. 

   Chị Xuân lại nói: “chị bị giết cũng đáng đời, chị rất hối hận xin hai em về đây để chịu chung số phận với chị”.

Em thấy nguy hiểm vì tên Hoàn đã nổi tiếng ở Bộ Công an là một tên dâm bôn vô cùng tàn ác. Ðến độ một tuần sau, vào 7 giờ tối ngày 11 tháng 2 năm 1957, ngày em còn nhớ như đinh đóng cột. Một chiếc xe com măng ca thường đón chị Xuân lên gặp bác Hồ, anh Ninh xồm, người bảo vệ Trần Quốc Hoàn chuyển lên bảo vệ Bác, vào gặp chị Xuân nói lên gặp Bác. Chị Xuân mặc quần áo, xoa nước hoa rồi ra đi.

    Sáng hôm sau, 12 tháng 2, một nhân viên Công an Hà Nội đến báo tin chị Xuân gặp tai nạn ô tô chết rồi, hiện còn để ở nhà xác bệnh viện Phủ Doãn. Em hốt hoảng đưa cháu cho Chị Nguyệt, ra lên xe Công an vào bệnh viện. Em không được vô nhà xác, họ nói còn mổ tử thi. Lên một phòng chờ em thấy trong phòng đã khá đông người: Công an, Tòa án, Kiểm sát viên.

   Sau một tiếng, hai bác sĩ, một cán bộ Công an, một kiểm sát viên lên phòng chờ, đem theo một tờ biên bản đọc to lên cho mọi người nghe. Tử thi thân thể không có thương tích gì, thấy rõ không bị tai nạn ô tô và cũng không phải bị đâm chém đánh đập gì. Mổ tử thi trong cơ thể lục phủ ngũ tạng cũng không có thương tích gì. Da dầy không có thức ăn, không có thuốc độc. Tử cung không có tinh trùng biểu thị không bị hiếp dâm. Duy chỉ có xương đỉnh đầu bị rạn nức. Mổ sọ não không còn óc, mà chỉ còn nước nhờn chảy tuôn ra. Bác sĩ tuyên bố đây có thể bị chùm chăn lên đầu rồi dùng búa đánh vào giữa đầu. Ðây là phương pháp giết người của bọn lưu manh chuyên nghiệp của nhiều nước đã xử dụng.

   Em vô cùng đau khổ chạy về kể chuyện lại cho chị Nguyệt nghe để hai chị em cùng khóc. Ít lâu sau một cán bộ Công an đến bế cháu Trung đi, chúng em không được biết đem đi đâu. Rồi em thì được đi học một lớp y tá của khu tự trị Việt Bắc ở Thái Nguyên. Chị Nguyệt không biết họ cho đi đâu sống chết thế nào. Học mấy tháng thì em được chuyển về bệnh viện Cao Bằng, em khóc luôn, họ cho là em bị thần kinh nên cho về đây điều trị. May lại được gặp anh kể hết mọi chuyện cho anh nghe. Em nghĩ anh chỉ bị thương nhẹ, anh còn sống được lâu anh sẽ nói rõ cho toàn dân biết được vụ bê bối này. Còn em thì chắc chắn sẽ bị chúng giết vì em đã nói vụ này cho nhiều chị em bà con biết. Bọn hung thủ còn theo dõi em. Ở Cao Bằng có hôm em thấy thằng Ninh xồm tới gặp ông bác sĩ bệnh viện trưởng, được ít hôm họ tuyên bố em bị thần kinh được chuyển về điều trị tại Hoà An.

     Tôi chỉ được gặp Vàng em tôi có một tháng, đến ngày mồng 2 tháng 11 năm 1957 cô Vàng đi về thăm ông cậu Hoàng văn Ðệ. Hung thủ đi theo rồi giết chết em tôi quăng xác xuống sông Bằng Giang đến ngày mồng 5 tháng 11 mới nổi lên ở cầu Hoàng Bồ. Tôi được tin sửng sốt chạy về cầu Hoàng Bồ thì thi hài đã được kiểm nghiệm và chôn cất rồi. Nghe dư luận xôn xao bị đánh vở sọ, đồng hồ vẫn còn nguyên và người nhà đã nhận về chôn cất.

   Tôi đâm bổ về Hà Nội liên lạc được với một cậu bạn cùng học làm việc ở Toà án Hà Nội. Tôi kể vụ án em tôi bị giết thì bạn tôi sao cho tôi một bản Công Văn Viện Kiểm sát hỏi toà án về vụ em tôi và cô Xuân bị giết. Tôi xin sao bản văn đó trình ông để tiện việc điều tra. Vụ này nhiều người bị giết. Cô Xuân, vợ cụ Hồ Chí Minh, cô Vàng, vợ chưa cưới của tôi, cô Nguyệt, còn nhiều người ở Trường y tá Thái Nguyên nghe chuyện Vàng kể đi nói chuyện lại cũng bị giết lây.

   Mấy chục năm nay tôi tim gan thắt ruột, nghĩ cách trả thù cho em tôi nhưng sức yếu thế cơ đành ngậm hờn chờ chết. Theo Vàng dặn lại, tôi liên hệ với một số cán bộ về hưu Công an, kiểm sát họ cho tôi biết cậu Trung ngày đó đã được đưa về cụ Bằng nuôi. Ðộ 4, 5 tuổi thì gửi cho Chu Văn Tấn, đến năm 13 tuổi là năm 1969 ngày Bác Hồ mất thì giao cho ông Vũ Kỳ, nguyên Thư Ký của Bác, nay là Phó Giám đốc Bảo tàng Hồ chí Minh làm con nuôi. Vũ Kỳ có 2 con đẻ là Vũ Vinh và Vũ Quang, còn Vũ Trung là con nuôi; là con chị Xuân với Bác Hồ.

   Tôi một thương binh sắp đi qua thế giới khác, máu hoà nước mắt viết thư này nhờ một người bạn chí tình, thành tâm bảo vệ lẽ phải, đánh máy bức thư gởi tới trình ông. Mong ông lưu ý xét cho mấy việc:

  1. Các ông sẵn lòng bảo vệ chân lý điều tra cho ra những đứa thủ mưu, thủ ác, chứ không truy xét những người có lương tâm phát hiện lũ tàn ác.
  2. Ở xã Hồng Việt bà con bạn hữu chị Xuân vào trạc tuổi 45 trở lên còn khá nhiều đều biết rõ ràng cô Vàng, cô Xuân, cô Nguyệt và chắc gia đình của cô Xuân còn khá nhiều di vật của cô Xuân. Nhưng tất cả mọi người đều khiếp sợ, không dám hé răng. Mong ông cho điều tra thận trọng, bí mật, vì việc điều tra này bị lộ thì cả lô bà con này bị thủ tiêu.
  3. Cậu Nguyễn Tất Trung còn sống khoẻ mạnh nhưng việc điều tra lộ ra thì cậu cũng dễ dàng bị thủ tiêu. Tên hung thủ lái xe đón bà Xuân đi giết là Tạ Quang Chiến hiện nay là Tổng cục Phó Tổng cục Thể dục Thể thao. Còn tên Ninh xồm thì chúng tôi không hiểu đã leo lên chức vụ nào rồi.

Từ thế giới khác kính chúc Ngài nhiều hạnh phúc.

Vợ chồng Nguyễn thị Vàng

 


 

Người đã cứu tôi và 136 thuyền nhân khác giữa biển năm 1984

Nhật Ký Người Việt Ở Mỹ 

Thứ Hai, 2 Tháng 11, 2026 

 Năm 1988, khi đã ở Mỹ, tôi ngồi viết một lá thư. Gửi cho một người thuyền trưởng tên Ole. Người đã cứu tôi và 136 thuyền nhân khác giữa biển năm 1984.

Lá thư bị trả về. Người nhận đã chuyển đi.

Tới giờ, ở Mỹ, tôi vẫn chưa tìm lại được ông.

Ở phần 1, tôi đã kể tới lúc chiếc ghe 137 người bị hải tặc đập thủng, đang chìm. Thuyền trưởng tàu Panama đã từ chối cứu hai lần. Người ta khiêng tôi, một cô giáo Anh văn gần như bất tỉnh, lên thang dây…

Lên tới sàn tàu, bác sĩ với thủy thủ xúm lại cho tôi thở oxy, cho uống thuốc. Khoảng 15 phút sau tôi tỉnh lại. Tôi xin gặp thuyền trưởng.

Ông tên Ole.

Tôi kể hết bằng tiếng Anh. 137 người. 5 ngày trên biển. Một em bé chết khát. 5 cô gái bị bắt đi. Một chiếc ghe bị đập thủng đang chìm.

Ông buồn bã lắc đầu: “Tôi rất tiếc, tôi không thể cứu quý vị được.”

Tôi nhìn xuống chiếc ghe. Tôi biết quay lại đó là đi vào chỗ chết.

Tôi nhìn thẳng vào mắt ông, nước mắt chảy ròng: “Nếu ông cương quyết từ chối, tôi xin thay mặt hơn 100 người kính chào vĩnh biệt. Giờ phút tôi trở về chiếc ghe đó, tất cả chúng tôi sẽ chết dưới lòng biển. Xin vĩnh biệt thuyền trưởng.”

Ông đứng sững. Rồi ông hỏi trên ghe có bao nhiêu phụ nữ và trẻ em. Ông nói: “Chúng tôi chỉ cố gắng cứu phụ nữ và trẻ em. Còn đàn ông thanh niên xin tiếp tục lên đường.”

Thủy thủ đưa được 50 phụ nữ và trẻ em lên tàu.

Dưới ghe, những người cha, người chồng đứng vẫy tay. “Ba ráng bảo trọng.” “Tạm biệt anh.” “Tạm biệt con.”

Tôi đứng trên tàu nghe tiếng khóc mà không chịu nổi. 50 người chỉ chiếm một góc nhỏ xíu trên con tàu khổng lồ đó.

Tôi lại tới, quỳ xuống trước mặt ông: “Xin ông tha thứ cho tôi. Tôi đội ơn ông đã cứu mạng tôi. Nay xin ông cứu luôn những người còn lại. Chúng tôi không cần đồ ăn, không cần quần áo. Chúng tôi chỉ cần một chỗ để được sống. Chiếc tàu của ông là đất sống, chiếc ghe kia là cõi chết.”

Ông lặng người. Rồi ông gật đầu.

Cả chiếc ghe vỡ òa. 137 người lần lượt leo lên thang dây. Thủy thủ lấy búa chặt đứt sợi dây buộc ghe.

Điểm danh vừa đủ 137 người. Vài phút sau, một cơn bão ập tới. Sóng tràn lên boong, thủy thủ phải cột chúng tôi vô cột tàu. Chiếc ghe trống chở chúng tôi suốt 5 ngày bị sóng nuốt mất, chìm luôn xuống biển.

Nếu chậm vài phút thôi…

Đêm đó tụi tôi được tắm, được phát quần áo, mền ấm, chén súp nóng. Đó là giấc ngủ yên nhất đời tôi.

Sáng hôm sau, thuyền trưởng Ole dẫn tôi lên boong. Trước ánh bình minh, ông quỳ xuống làm dấu thánh giá. Ông nói: “Cám ơn Thượng đế đã nhờ cô cho tôi cơ hội cứu được 137 người.”

Ông chở thẳng chúng tôi về trại tị nạn. Trước khi chia tay, ông viết tay tên và địa chỉ đưa cho tôi.

Chiều 30 tháng 9 năm 1984, tôi bước chân trần lên bãi cát trắng đảo Pulau Bidong. Mã số tị nạn MB244.


 

HƯỚNG TỚI TUỔI 90: 7 ĐIỀU BẠN GIÀ NÊN BUÔNG BỎ SAU TUỔI 70

 Tĩnh Lặng Mỗi Đêm

  HƯỚNG TỚI TUỔI 90: 7 ĐIỀU BẠN GIÀ NÊN BUÔNG BỎ SAU TUỔI 70

Có một điều rất đáng suy ngẫm:

khi còn trẻ, chúng ta thường tìm cách tích lũy thật nhiều thứ để cuộc sống tốt đẹp hơn.

Nhưng khi bước qua tuổi 70, người ta mới hiểu rằng muốn sống lâu, sống khỏe và sống bình an, đôi khi điều quan trọng nhất lại là biết buông bỏ.

Ngày trước, người ta thường nói: “Nhân sinh thất thập cổ lai hi”, nghĩa là đời người sống đến 70 tuổi đã là điều hiếm có.

Còn ngày nay, nhờ điều kiện sống và y học phát triển, nhiều người đã có thể sống đến 80, 90 tuổi, thậm chí hơn thế nữa.

Nhưng sống lâu thôi chưa đủ. Điều đáng quý hơn là khi tuổi đã cao, chúng ta vẫn còn đôi chân vững vàng, đầu óc minh mẫn, ăn ngon, ngủ được và mỗi ngày thức dậy đều cảm thấy lòng mình thanh thản.

Muốn có được điều ấy, sau tuổi 70, có 7 điều chúng ta nên học cách từ bỏ.

Thứ nhất, từ bỏ thuốc lá và hạn chế tối đa rượu bia.

Nếu muốn sống khỏe khi tuổi đã cao, đây là hai thói quen cần được quan tâm đầu tiên.

Thuốc lá gây tổn thương phổi, tim mạch và làm tăng nguy cơ mắc nhiều bệnh ung thư.

Rượu bia, nếu sử dụng thường xuyên hoặc quá mức, cũng gây hại cho gan, não bộ, huyết áp và nhiều cơ quan khác.

Đừng nghĩ rằng mình đã hút thuốc vài chục năm thì bây giờ bỏ cũng chẳng còn ý nghĩa.

Thực tế, ngừng hút thuốc ở bất kỳ độ tuổi nào cũng có lợi cho sức khỏe.

Còn với rượu bia, càng lớn tuổi càng nên hạn chế.

Bởi cơ thể lúc này không còn chuyển hóa và thích nghi tốt như thời trẻ.

Bỏ được một điếu thuốc, bớt đi một lần uống rượu, chính là thêm một cơ hội để cơ thể được nghỉ ngơi.

Thứ hai, từ bỏ tâm lý có bệnh mới đi khám.

Nhiều người lớn tuổi thường có suy nghĩ rằng nếu trong người không đau đớn thì không cần đến bệnh viện. Chỉ khi cơ thể xuất hiện những triệu chứng rõ rệt mới bắt đầu lo lắng.

Nhưng có những vấn đề sức khỏe như tăng huyết áp, tiểu đường hay rối loạn mỡ máu có thể âm thầm kéo dài mà không gây ra dấu hiệu dễ nhận biết.

Vì vậy, sau tuổi 70, chúng ta càng cần quan tâm đến việc kiểm tra sức khỏe định kỳ, theo dõi huyết áp, đường huyết và thực hiện những xét nghiệm cần thiết theo hướng dẫn của bác sĩ.

Đừng đợi đến khi cơ thể lên tiếng bằng những cơn đau mới bắt đầu quan tâm đến nó.

Chủ động chăm sóc sức khỏe hôm nay luôn tốt hơn việc phải vất vả chữa trị khi bệnh đã trở nặng.

Thứ ba, từ bỏ thói quen vận động quá sức.

Vận động rất cần thiết đối với người cao tuổi. Nhưng tập luyện thế nào mới là điều quan trọng.

Sau tuổi 70, cơ bắp, xương khớp và khả năng giữ thăng bằng thường không còn tốt như trước. Vì vậy, việc cố gắng tập những bài quá nặng, chạy theo thành tích hoặc tập luyện bất chấp sức khỏe có thể dẫn đến chấn thương.

Thay vì cố gắng đi thật nhanh, tập thật lâu, hãy chọn những hoạt động phù hợp như đi bộ vừa sức, tập dưỡng sinh, Thái Cực Quyền hoặc những bài tập nhẹ nhàng giúp duy trì sức mạnh cơ bắp và khả năng giữ thăng bằng.

Điều quan trọng không phải là hôm nay tập được bao nhiêu, mà là ngày mai vẫn có thể tiếp tục vận động một cách an toàn.

Tuổi già, tập ít một chút cũng được, miễn là đều đặn và phù hợp với sức mình.

Thứ tư, từ bỏ thói quen thức khuya và sinh hoạt thất thường.

Khi còn trẻ, chúng ta có thể thức khuya để làm việc, vui chơi hay giải quyết những chuyện còn dang dở. Nhưng khi tuổi đã cao, giấc ngủ trở nên đặc biệt quan trọng.

Thức khuya thường xuyên, ngủ không đủ giấc có thể khiến cơ thể mệt mỏi, tinh thần kém tỉnh táo và ảnh hưởng đến sức khỏe lâu dài.

Vì vậy, hãy cố gắng duy trì giờ đi ngủ và thức dậy ổn định. Buổi tối nên hạn chế sử dụng điện thoại, xem những chương trình gây căng thẳng hoặc suy nghĩ quá nhiều về chuyện đã qua.

Một căn phòng yên tĩnh, một giấc ngủ đủ và một tinh thần thư thái đôi khi chính là món quà quý giá nhất dành cho cơ thể.

Không cần ép mình phải ngủ thật sớm, nhưng hãy tạo cho bản thân một nếp sinh hoạt điều độ.

Thứ năm, từ bỏ thói quen ăn quá mặn, quá nhiều dầu mỡ.

Càng lớn tuổi, chúng ta càng cần chú ý đến những gì mình đưa vào cơ thể mỗi ngày.

Ăn quá mặn có thể làm tăng huyết áp. Thường xuyên sử dụng thực phẩm nhiều chất béo bão hòa, đồ chiên rán và thực phẩm chế biến sẵn cũng không có lợi cho tim mạch.

Thay vào đó, hãy ăn đa dạng các loại rau xanh, trái cây, cá, các loại đậu và thực phẩm giàu chất xơ.

Nên giảm bớt muối, hạn chế đồ muối chua, thức ăn đóng hộp và những món quá nhiều dầu mỡ.

Đặc biệt, người cao tuổi không nên vì sợ bệnh mà ăn uống quá kiêng khem, khiến cơ thể thiếu chất và suy nhược.

Ăn uống điều độ, đủ chất, phù hợp với bệnh lý và thể trạng của mình mới là cách chăm sóc sức khỏe lâu dài.

Bữa cơm tuổi già không cần cao lương mỹ vị. Chỉ cần ăn ngon miệng, đủ chất và cảm thấy nhẹ nhàng sau mỗi bữa ăn đã là điều đáng quý.

Thứ sáu, từ bỏ thói quen nóng giận và giữ mãi những chuyện buồn trong lòng.

Có một điều càng lớn tuổi, chúng ta càng nên học: đừng để những chuyện không đáng làm tổn thương sức khỏe của chính mình.

Một lời nói khó nghe, một chuyện trái ý, một sự bất công trong gia đình đôi khi khiến chúng ta suy nghĩ suốt nhiều ngày.

Nhưng bạn hãy thử nghĩ xem, nổi giận rồi thì chuyện có tốt đẹp hơn không? Hay cuối cùng chỉ khiến bản thân thêm mệt mỏi, mất ngủ và buồn phiền?

Căng thẳng kéo dài có thể ảnh hưởng đến huyết áp, giấc ngủ và sức khỏe tim mạch.

Vì vậy, hãy tập cách bình tĩnh trước những điều không vừa ý. Chuyện gì có thể bỏ qua thì đừng cố chấp. Người nào không hiểu mình thì cũng không cần giải thích mãi.

Đến tuổi này rồi, thắng thua trong một cuộc tranh cãi đôi khi chẳng quan trọng bằng việc giữ được một buổi chiều bình yên.

Tâm an thì cuộc sống nhẹ nhàng hơn. Đó cũng là một cách dưỡng sinh mà không phải tốn tiền.

Thứ bảy, từ bỏ thói quen hy sinh tất cả vì con cháu mà quên mất bản thân.

Đây có lẽ là điều khiến nhiều người lớn tuổi phải suy ngẫm nhất.

Cả một đời, cha mẹ đã vất vả nuôi con, dựng vợ gả chồng, chăm lo cho gia đình. Đến khi nghỉ hưu, nhiều người vẫn tiếp tục dành hết tiền bạc, thời gian và sức lực để lo cho con cháu.

Thương con là điều tự nhiên. Nhưng thương con không có nghĩa là phải gánh hết mọi việc, cũng không có nghĩa là phải dành toàn bộ số tiền dưỡng già của mình cho con cái.

Sau tuổi 70, chúng ta cần biết giữ lại một khoản tiền để chủ động chăm sóc sức khỏe, giữ một chút thời gian cho sở thích riêng và duy trì những mối quan hệ khiến mình vui vẻ.

Con cháu có cuộc sống của con cháu. Cha mẹ cũng cần có cuộc sống của riêng mình.

Đừng nghĩ rằng dành thời gian đi dạo, gặp gỡ bạn bè hay mua cho mình một món đồ yêu thích là ích kỷ.

Một người già khỏe mạnh, vui vẻ, tự chủ và không trở thành gánh nặng cho người khác cũng chính là niềm hạnh phúc của gia đình.

Bạn già thân mến!

Bước qua tuổi 70, chúng ta không còn cần phải chứng minh mình giỏi giang đến đâu, giàu có thế nào hay được bao nhiêu người ngưỡng mộ.

Điều đáng quý nhất lúc này là biết chăm sóc thân thể, giữ gìn tinh thần và sống sao cho mỗi ngày trôi qua đều có ý nghĩa.

Muốn hướng tới tuổi 90, hãy bắt đầu từ những điều rất nhỏ: bỏ một thói quen xấu, duy trì một thói quen tốt, ăn uống điều độ, vận động vừa sức và bớt đi những phiền muộn không cần thiết.

Bởi tuổi thọ không chỉ được tính bằng số năm chúng ta sống, mà còn được cảm nhận qua chất lượng của từng ngày.

Mong rằng dù đang ở tuổi 70, 80 hay đã bước sang tuổi 90, mỗi chúng ta vẫn luôn có sức khỏe, có niềm vui và có một mái nhà bình yên để trở về.

Tĩnh Lặng Mỗi Đêm. Chúc bạn già mỗi đêm đều ngủ ngon, mỗi ngày đều an vui. Hẹn gặp lại bạn trong những câu chuyện nhẹ nhàng tiếp theo!

#TuoiGia #Happiness #KienTaoCuocSong #TriTue #TĩnhLặngMỗiĐêm


 

Giai cấp mới và tư bản đỏ – Từ Milovan Djilas (1957) đến Việt Nam (2026) 

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Ngô Thế Vinh –

01/11/2026

Bìa sách The New Class: An Analysis of the Communist System (Giai Cấp Mới: Phân Tích Hệ Thống Cộng Sản) của Milovan Djilas, xuất bản lần đầu năm 1957. Hình trên là ấn bản của Harcourt/HBJ, Hoa Kỳ.

Bìa sách The New Class: An Analysis of the Communist System (Giai Cấp Mới: Phân Tích Hệ Thống Cộng Sản) của Milovan Djilas, xuất bản lần đầu năm 1957. Hình trên là ấn bản của Harcourt/HBJ, Hoa Kỳ.

 Tóm tắt / abstract

Bài viết khảo sát sự hình thành tầng lớp đặc quyền chính trị và kinh tế tại Việt Nam dưới góc nhìn lý thuyết Giai cấp mới (The New Class, 1957) của Milovan Djilas, trong bối cảnh chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường sau Đổi Mới năm 1986.

Dựa trên các công trình nghiên cứu về kinh tế chính trị Việt Nam, cùng những số liệu về tăng trưởng, phân phối thu nhập và tập trung tài sản, bài viết phân tích sự tương phản giữa thành tựu phát triển kinh tế và tình trạng phân phối không đồng đều những thành quả ấy. Đồng thời, bài viết nhấn mạnh rằng bất bình đẳng kinh tế, tự nó, chưa đủ để chứng minh sự tồn tại hoặc tác động của một giai cấp đặc quyền chính trị.

Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát mối quan hệ giữa quyền lực công và lợi ích tư, đặc biệt qua hiện tượng tư bản đỏ bè cánh (red crony capitalism), đồng thời đặt ra những vấn đề về tính minh bạch thể chế và trách nhiệm giải trình trong tiến trình phát triển kinh tế Việt Nam.

Từ khóa / keywords

Giai cấp mới (New Class); Milovan Djilas; Tư bản đỏ bè cánh (Red Crony Capitalism); Việt Nam (Vietnam); Đổi Mới (Economic Reforms); Quyền lực chính trị và lợi ích kinh tế (Political Power and Economic Interests); Bất bình đẳng tài sản (Wealth Inequality); Trách nhiệm giải trình (Accountability).

Lời dẫn nhập

Trong The New Class: An Analysis of the Communist System (1957), Milovan Djilas, cựu lãnh đạo cộng sản Nam Tư, đã chỉ ra một nghịch lý căn bản: một hệ thống chủ trương xây dựng xã hội không giai cấp vẫn có thể sản sinh một tầng lớp đặc quyền mới, nắm giữ quyền lực chính trị và chi phối các nguồn lực kinh tế.

Gần bảy thập niên sau, thực tế Việt Nam đặt ra một câu hỏi đáng khảo sát: sau bốn mươi năm Đổi Mới (1986–2026), liệu sự tập trung quyền lực chính trị, cùng những đặc quyền trong tiếp cận đất đai, tài sản công và cơ hội kinh tế, có phản ánh sự hình thành một tầng lớp mang những đặc điểm của Giai cấp mới mà Djilas từng mô tả?

Để trả lời, cần vượt ra ngoài những nhận định mang tính chính trị, dựa trên các chứng cứ thực tế và những nghiên cứu kinh tế chính trị có thể kiểm chứng. Vấn đề cốt lõi không chỉ là ai nắm giữ tài sản, mà còn là ai có quyền quyết định việc phân bổ nguồn lực quốc gia, ai được hưởng lợi từ những quyết định ấy, và những cơ chế nào bảo đảm tính minh bạch cùng trách nhiệm giải trình trước xã hội.

Đây cũng là một cuốn sách mà người viết đã hơn một lần đọc trong những năm đầu đại học, giữa một thời tuổi trẻ nhiều khát vọng và những câu hỏi về tương lai xã hội.

***

Bức ảnh trong bài “Hoover Acquires Milovan Djilas Literary Archives” có hai nhân vật, bên trái: Milovan Djilas (1911–1995), tác giả The New Class, bên phải: William “Bill” Jovanovich (1920–2001), người bạn của Djilas, nhà xuất bản Harcourt Brace Jovanovich. Ảnh chụp tại Princeton University, mùa xuân năm 1968, do Aleksa Djilas, sử gia và cũng là con trai của Milovan Djilas, cung cấp.

***

Milovan Djilas: tiểu sử tóm lược

Milovan Djilas (12/6/1911 – 20/4/1995) là nhà cách mạng, chính khách, nhà văn và nhà tư tưởng chính trị người Nam Tư, sinh tại Montenegro. Ông từng thuộc nhóm bốn lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng Cộng sản Nam Tư, bên cạnh Josip Broz Tito, Edvard Kardelj và Aleksandar Ranković, trước khi trở thành một trong những nhân vật bất đồng chính kiến nổi bật của thế giới cộng sản thời Chiến tranh Lạnh.

Gia nhập Đảng Cộng sản Nam Tư năm 1932, Djilas tham gia phong trào kháng chiến chống phát xít trong Thế chiến thứ hai và trở thành cộng sự thân cận của Tito. Sau chiến tranh, ông giữ nhiều chức vụ quan trọng, trong đó có Chủ tịch Quốc hội Nam Tư (1953–1954).

Từ đầu thập niên 1950, Djilas ngày càng bất đồng với giới lãnh đạo cộng sản. Những bài viết năm 1953–1954 phê phán đặc quyền của tầng lớp cầm quyền và đề nghị mở rộng tự do chính trị đã dẫn đến việc ông bị loại khỏi ban lãnh đạo năm 1954.

Năm 1957, tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, The New Class: An Analysis of the Communist System (Giai cấp mới: Phân tích hệ thống cộng sản), được xuất bản tại Hoa Kỳ. Cuốn sách đánh dấu bước chuyển quan trọng của Djilas từ một nhà lãnh đạo cộng sản trở thành một nhà phê bình có ảnh hưởng lớn đối với chính hệ thống mà ông từng góp phần xây dựng.

Trải qua nhiều đợt tù đày, với tổng thời gian bị giam giữ khoảng chín năm, Djilas được trả tự do năm 1966. Ông tiếp tục viết và phê phán chế độ độc đảng cho đến cuối đời. Ông mất tại Belgrade ngày 20/4/1995, hưởng thọ 83 tuổi.

I. Milovan Djilas và khái niệm giai cấp mới

Cuốn sách đã gây tiếng vang lớn, không chỉ vì những luận điểm phê bình hệ thống chính trị cộng sản, mà còn vì tác giả từng giữ vị trí quan trọng ngay trong cơ cấu lãnh đạo của hệ thống ấy.

Djilas đặt ra một câu hỏi căn bản: nếu một cuộc cách mạng chủ trương xóa bỏ sự phân chia giai cấp, vì sao sau khi giành được chính quyền lại có thể hình thành một tầng lớp được hưởng những ưu thế đặc biệt về chính trị, kinh tế và đời sống? Câu hỏi ấy vẫn còn sức gợi mở khi nhìn lại bốn mươi năm Đổi Mới, bắt đầu từ năm 1986 tại Việt Nam, nơi nền kinh tế thị trường phát triển trong khuôn khổ một hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Nam Tư thời Djilas là một hệ thống xã hội chủ nghĩa với nền kinh tế chủ yếu do nhà nước quản lý. Việt Nam ngày nay đã có một khu vực kinh tế tư nhân, đầu tư quốc tế, thị trường tài chính và sự xuất hiện những doanh nghiệp lớn. Chính trong bối cảnh ấy, câu hỏi đặt ra là liệu có đang hình thành một tầng lớp có ưu thế đặc biệt nhờ sự kết hợp giữa quyền lực chính trị và khả năng tiếp cận các nguồn lực kinh tế.

Khi Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và giữ vai trò quyết định trong phân bổ nhiều nguồn lực quan trọng, vấn đề minh bạch và trách nhiệm giải trình càng cần được quan tâm: ai thực sự có quyền quyết định, ai được hưởng lợi và những cơ chế nào có thể bảo đảm sự công bằng?

Luận điểm chính của Djilas là trong một hệ thống cộng sản, tầng lớp quan chức đảng và nhà nước có thể trở thành một giai cấp nắm quyền chi phối, dù trên danh nghĩa không sở hữu nhà máy hay ruộng đất theo cách của các nhà tư bản cổ điển. Quyền sở hữu pháp lý thuộc về nhà nước, nhưng quyền bổ nhiệm, điều hành, phân phối và sử dụng tài nguyên lại tập trung vào những người có vị trí trong bộ máy quyền lực.

Djilas đặc biệt chú ý đến khoảng cách giữa lý tưởng bình đẳng được tuyên bố và những ưu đãi trong thực tế dành cho người giữ chức vụ trong hệ thống chính trị. Ông không chỉ bàn về tiền bạc. Nhà ở, phương tiện đi lại, cơ hội học hành, điều kiện chăm sóc sức khỏe, khả năng thăng tiến của con cái, quyền tiếp cận thông tin và những ưu thế khác đều có thể trở thành biểu hiện của địa vị xã hội.

Những ưu thế ấy không nhất thiết được ghi nhận thành quyền sở hữu cá nhân. Chúng có thể tồn tại thông qua một hệ thống phân phối dựa trên chức vụ, quan hệ và sự trung thành chính trị. Một đóng góp quan trọng của Djilas là giúp người đọc phân biệt ba vấn đề: tài sản đứng tên ai; ai thực sự quyết định việc sử dụng tài sản; và cuối cùng, ai được hưởng lợi từ những quyết định đó. Một tài sản được xác định là thuộc sở hữu toàn dân vẫn có thể được sử dụng theo hướng ưu tiên lợi ích của một nhóm nhỏ nếu thiếu những cơ chế kiểm tra độc lập, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình (transparency and accountability).

Bài viết không chủ trương đồng nhất tầng lớp lãnh đạo chính trị Việt Nam hiện nay với mô hình giai cấp mới của Djilas năm 1957. Tuy nhiên, những đặc quyền trong việc kiểm soát và phân bổ nguồn lực kinh tế, cùng các trường hợp lạm dụng quyền lực đã được xét xử, cho thấy những cơ chế đáng khảo sát về sự chuyển hóa quyền lực chính trị thành lợi ích kinh tế. Vấn đề đặt ra không chỉ là sự tồn tại của những cá nhân tham nhũng, mà còn là liệu những điều kiện thể chế có tạo thuận lợi cho sự hình thành và duy trì một tầng lớp đặc quyền kinh tế hay không.

II. Từ kinh tế bao cấp đến kinh tế thị trường 

Sau năm 1975, Việt Nam trải qua một giai đoạn kinh tế đặc biệt khó khăn. Những hạn chế của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, tình trạng cô lập kinh tế và những bất cập trong quản lý đã góp phần dẫn đến sự thiếu hụt thực phẩm, hàng hóa và tình trạng suy giảm mức sống kéo dài cho đến trước Đổi Mới.

Chính sách Đổi Mới được khởi xướng từ năm 1986 đã mở ra một chuyển biến sâu rộng trong đời sống kinh tế Việt Nam. Sản xuất hàng hóa được khuyến khích, kinh doanh tư nhân từng bước được thừa nhận, đầu tư quốc tế gia tăng và đời sống của một số tầng lớp dân chúng dần được cải thiện. Những thành tựu ấy cần được nhìn nhận công bằng, trong đó không thể bỏ qua công sức của hàng triệu nông dân, công nhân, giới lao động và những người đã đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế đất nước, bao gồm cả nguồn lực và kinh nghiệm kinh doanh của miền Nam trước đây.

Tuy nhiên, sự chuyển đổi sang kinh tế thị trường không tự động bảo đảm một môi trường cạnh tranh bình đẳng và công bằng. Trong các lĩnh vực mà đất đai, giấy phép, tín dụng, hợp đồng công và quyền tiếp cận tài nguyên phụ thuộc nhiều vào quyết định hành chính, quan hệ với người nắm quyền có thể tạo ra lợi thế kinh tế đáng kể. Điều này đặt ra yêu cầu phân biệt cạnh tranh dựa trên năng lực với những ưu thế có được từ sự ưu đãi không chính đáng.

Trong điều kiện ấy, thành công kinh doanh có thể chịu ảnh hưởng không chỉ của năng suất, sáng kiến và khả năng chấp nhận rủi ro, mà còn của khả năng tiếp cận người có quyền quyết định. Hiện tượng này thường được khảo sát trong khuôn khổ khái niệm chủ nghĩa tư bản bè cánh (crony capitalism).

Trong bối cảnh kinh tế thị trường vận hành dưới sự lãnh đạo của một đảng cộng sản, thuật ngữ red crony capitalism, ở đây gọi là tư bản đỏ bè cánh, được dùng để khảo sát những quan hệ giao thoa giữa chức vụ công, doanh nghiệp và các mạng lưới lợi ích. Báo cáo Việt Nam 2035 của Ngân hàng Thế giới và Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng đặt vấn đề về cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và cải cách thể chế.

Có một số khác biệt quan trọng giữa mô hình giai cấp mới của Djilas năm 1957 và hiện tượng tích lũy tài sản trong nền kinh tế thị trường Việt Nam 2026. Trong mô hình cổ điển, đặc quyền thường gắn với quyền sử dụng tài sản công trong thời gian giữ chức vụ. Trong môi trường kinh tế thị trường, một số lợi thế có thể được chuyển hóa thành cổ phần, bất động sản, doanh nghiệp hoặc tài sản có khả năng truyền lại cho gia đình, kể cả những thế hệ sau.

Nếu sự chuyển hóa ấy diễn ra thông qua việc lạm dụng quyền lực chính trị, hệ quả kinh tế và xã hội có thể kéo dài vượt ra ngoài nhiệm kỳ của một cá nhân.

III. Quyền lực công và lợi ích tư: từ đất đai đến y tế

Đất đai là một lĩnh vực tiêu biểu để khảo sát sự chuyển hóa quyền lực chính trị thành lợi ích kinh tế tại Việt Nam, dưới góc nhìn lý thuyết Giai cấp mới của Djilas.

Trong chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước đại diện chủ sở hữu và quyết định nhiều vấn đề về quy hoạch, giao đất, chuyển mục đích sử dụng và thu hồi đất. Những quyết định ấy có thể làm thay đổi lớn giá trị kinh tế của một khu đất.

Quy hoạch và phát triển hạ tầng là chức năng cần thiết của nhà nước; vấn đề phát sinh khi thông tin không được công khai đầy đủ, việc định giá thiếu minh bạch, đấu thầu thiếu cạnh tranh hoặc quyền khiếu nại của người dân không được bảo đảm hữu hiệu. Khi ấy, chênh lệch giá trị đất có thể trở thành lợi ích riêng của người được ưu tiên tiếp cận quyết định công quyền. Ai quyết định, ai được bồi thường và ai hưởng phần giá trị tăng thêm là những câu hỏi cần được trả lời bằng hồ sơ cụ thể.

Sự chuyển hóa quyền lực thành lợi ích kinh tế: Ba vụ đại án đất đai

Trong bốn thập niên Đổi Mới, nhiều vụ án đất đai đã phơi bày sự giao thoa giữa quyền lực chính trị và lợi ích kinh tế. Điển hình là vụ Phan Văn Anh Vũ tại Đà Nẵng (2020), liên quan đến hai cựu Chủ tịch UBND thành phố, với những sai phạm trong quản lý, chuyển nhượng đất công và khoản thiệt hại hơn 22.000 tỷ đồng được nêu trong cáo trạng (a); vụ Bình Dương (2022), liên quan đến cựu Bí thư Tỉnh ủy, cựu Chủ tịch UBND tỉnh và doanh nghiệp thuộc Tỉnh ủy, với những sai phạm trong quản lý, chuyển nhượng hai khu đất 43 ha và 145 ha (b); và vụ khu đất công 8–12 Lê Duẩn tại Thành phố Hồ Chí Minh (2021), liên quan đến một cựu Phó Chủ tịch UBND thành phố (c).

Ba vụ án có tình tiết và trách nhiệm pháp lý khác nhau, nhưng cùng cho thấy quyền quyết định hành chính trong quản lý đất đai và tài sản công có thể bị lạm dụng để chuyển dịch lợi ích kinh tế sang một số cá nhân và doanh nghiệp. Những trường hợp đã được xét xử này không tự chúng chứng minh sự hình thành một giai cấp mới, nhưng cung cấp chứng cứ cụ thể về cơ chế chuyển hóa quyền lực công thành lợi ích tư, một đặc điểm đáng chú ý của hiện tượng tư bản đỏ bè cánh tại Việt Nam.

Dưới ánh sáng luận điểm của Djilas, vấn đề không chỉ nằm ở hành vi sai phạm của từng cá nhân, mà còn ở những sơ hở trong cơ chế quản lý và giám sát tạo điều kiện cho việc lạm dụng quyền kiểm soát tài sản công. Câu hỏi căn bản vì vậy vẫn còn nguyên giá trị: khi đất đai được xác định thuộc sở hữu toàn dân, ai thực sự quyết định việc sử dụng và cuối cùng ai được hưởng lợi?

(a). Vụ Phan Văn Anh Vũ, Đà Nẵng (2020)

Ban Nội chính Trung ương. “Xét xử phúc thẩm nguyên Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng cùng đồng phạm.” 5/5/2020. Nguồn: Ban Nội chính Trung ương

(b). Vụ đất công Bình Dương (2022)

Báo Bảo vệ Pháp luật. “Vụ đất vàng ở Bình Dương: Tòa ra phán quyết đối với khu đất 43 ha và 145 ha.” 2022. Nguồn: Báo Bảo vệ Pháp luật, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao

(c). Vụ khu đất 8–12 Lê Duẩn, TP.HCM (2021)

Báo Nhân Dân. “Y án 8 năm tù đối với ông Nguyễn Thành Tài.” 2/12/2021. Nguồn: Báo Nhân Dân.

Nếu các vụ án đất đai cho thấy quyền quyết định hành chính có thể bị lạm dụng để chuyển dịch tài sản công thành lợi ích tư, thì các vụ án y tế còn đặt ra nguy cơ đối với sức khỏe và sinh mạng người dân.

Từ tài sản công đến sức khỏe cộng đồng: Hai vụ án Việt Á và VN Pharma

(d). Vụ Việt Á (2021–2024)

Trong đại dịch COVID-19, Công ty Việt Á, do Phan Quốc Việt điều hành, đã nâng giá kit xét nghiệm thông qua thông đồng đấu thầu và hối lộ quan chức. Theo bản án phúc thẩm ngày 17.5.2024, vụ án gây thiệt hại 1.235 tỷ đồng, trong đó có 402 tỷ đồng của Nhà nước. Cựu Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long bị tuyên 17 năm tù vì nhận hối lộ 2,25 triệu USD; Phan Quốc Việt chịu án 29 năm tù. Vụ án điển hình cho sự cấu kết giữa quyền lực quản lý y tế và lợi ích doanh nghiệp trong tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng. Nguồn: Báo Điện tử Chính phủ, 18/5/2024.

(e). Vụ VN Pharma (2013–2020)

Công ty VN Pharma sử dụng hồ sơ giả để nhập khẩu 9.300 hộp thuốc H-Capita điều trị ung thư với nguồn gốc không đúng như khai báo. Ngày 20.5.2020, tòa phúc thẩm giữ nguyên án 17 năm tù đối với Nguyễn Minh Hùng và 20 năm tù đối với Võ Mạnh Cường. Lô thuốc bị thu giữ trước khi lưu hành. Vụ án phơi bày những sai phạm nghiêm trọng trong thẩm định hồ sơ, cấp phép nhập khẩu và kiểm soát chất lượng dược phẩm. Nguồn: Báo Điện tử Chính phủ, 20/5/2020.

Hai vụ án Việt Á và VN Pharma có tình tiết pháp lý khác nhau, nhưng cùng cho thấy những hậu quả nghiêm trọng có thể phát sinh khi quyền lực quản lý y tế bị lạm dụng vì lợi ích riêng. Khác với những thiệt hại về tài sản công có thể định lượng, nguy cơ đối với sức khỏe, sinh mạng và niềm tin của người dân không thể được đo lường đầy đủ bằng tiền bạc. Các vụ án này không tự chứng minh sự hình thành một giai cấp mới, nhưng cung cấp trường hợp cụ thể để khảo sát sự chuyển hóa quyền lực công thành lợi ích tư.

IV. Tăng trưởng kinh tế và phân phối không đồng đều thành quả 

Sau bốn thập niên Đổi Mới (1986–2026), Việt Nam đạt được những thành tựu tăng trưởng kinh tế đáng kể. GDP bình quân đầu người, tính theo giá cố định năm 2015, tăng từ khoảng 608 USD năm 1986 lên 4.308 USD năm 2025. Thành tựu ấy cần được ghi nhận, nhưng vẫn đặt ra câu hỏi: thành quả tăng trưởng được phân phối ra sao?

Theo World Inequality Report 2026, số liệu ước tính năm 2024 cho thấy nhóm 10% giàu nhất tại Việt Nam nắm giữ khoảng 59% tổng tài sản, trong khi nhóm 50% nghèo nhất chỉ sở hữu khoảng 4,6%. Những con số này phản ánh mức độ tập trung tài sản đáng kể, nhưng không tự chúng xác định nguồn gốc của sự chênh lệch.

Một khía cạnh khác cần khảo sát là sự bất bình đẳng trong khả năng tiếp cận nguồn vốn. Trong nghiên cứu Are Politically Connected Firms Less Constrained in Credit Markets? (2020), John Rand khảo sát mối liên hệ giữa quan hệ chính trị của doanh nghiệp và khả năng tiếp cận tín dụng tại Việt Nam, qua đó cung cấp thêm cơ sở thực chứng để phân tích những lợi thế kinh tế có thể phát sinh từ quan hệ với giới cầm quyền, thay vì chỉ dựa trên năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh.

Tuy nhiên, sự tập trung tài sản và những lợi thế trong tiếp cận tín dụng chưa đủ để xác định mức độ đóng góp của đặc quyền chính trị vào bất bình đẳng kinh tế. Vấn đề này đòi hỏi những nghiên cứu thực chứng sâu hơn, phân biệt thành quả kinh doanh hợp pháp với những ưu đãi có được từ việc lạm dụng quyền lực.

Trong bối cảnh đó, luận điểm của Milovan Djilas về sự hình thành một giai cấp mới vẫn có giá trị như một khung phân tích, giúp đặt ra câu hỏi liệu sự tập trung quyền lực chính trị có tạo điều kiện cho việc tích lũy những đặc quyền kinh tế, và ở mức độ nào hiện tượng ấy góp phần định hình sự phân phối tài sản tại Việt Nam đương đại.

Gia đình, thế hệ thứ hai và sự kế thừa đặc quyền

Một tầng lớp xã hội có thể duy trì vị thế lâu dài khi ưu thế về quyền lực, tài sản và cơ hội được chuyển giao qua các thế hệ. Ở Việt Nam, cần khảo sát liệu vị trí trong bộ máy công quyền có tạo ra lợi thế lâu dài cho thân nhân trong việc học hành, thăng tiến, kinh doanh hoặc tiếp cận nguồn lực hay không. Đây là một giả thuyết cần chứng từ, không phải kết luận có thể suy ra chỉ từ quan hệ gia đình.

Những mạng lưới quen biết, quan hệ gia đình và vị thế nghề nghiệp có thể tác động đến cơ hội của mỗi người. Điều quan trọng là xác định trường hợp nào thuộc quan hệ xã hội thông thường, trường hợp nào liên quan đến sự ưu đãi trái nguyên tắc công bằng.

Trong nền kinh tế thị trường, sự kế thừa ấy còn có thể được thực hiện thông qua cổ phần, bất động sản, tài sản thừa kế và khả năng tiếp cận vốn.  Sự kế thừa tài sản và thành quả lao động trong gia đình vốn là một hiện tượng bình thường và hợp pháp trong xã hội.

Vấn đề chỉ thực sự nảy sinh khi quyền lực công được sử dụng để tạo ra những ưu thế riêng mà những người khác không có cơ hội cạnh tranh trên cơ sở bình đẳng.

Một xã hội muốn bảo đảm công bằng cần có những quy tắc minh bạch về xung đột lợi ích, kê khai tài sản, đấu thầu, bổ nhiệm và giám sát quyền lực. Chính những quy tắc ấy giúp phân biệt thành công kinh tế chính đáng với những lợi thế có được từ sự ưu đãi không chính đáng. Những mạng lưới đặc quyền, nếu tồn tại, cần được nghiên cứu qua quy trình tuyển chọn, bổ nhiệm, cấp phép, phân bổ vốn và kiểm soát xung đột lợi ích.

Ngày nay, tài sản, hoạt động kinh doanh và các thành viên trong cùng một gia đình có thể hiện diện ở nhiều quốc gia. Một người làm việc tại Việt Nam có thể có con học ở nước ngoài, sở hữu tài khoản hợp pháp tại ngoại quốc hoặc tham gia những hoạt động kinh doanh xuyên biên giới. Bản thân những hoạt động ấy không nhất thiết là dấu hiệu của hành vi sai trái.

Tuy nhiên, khi có bằng chứng về việc chuyển dịch tài sản bất hợp pháp, che giấu nguồn gốc tài sản hoặc lợi dụng chức vụ để thu lợi riêng, vấn đề trách nhiệm đạo đức và pháp lý cần được đặt ra một cách cụ thể.

IV. Một cuộc chiến tranh và phép thử trách nhiệm

Nếu những đặc quyền kinh tế có thể được khảo sát qua hồ sơ đất đai, tài sản công và quan hệ giữa chính quyền với doanh nghiệp, thì trách nhiệm của người nắm quyền trước vận mệnh quốc gia đặt ra một phép thử khác. Trong một cuộc khủng hoảng đe dọa sự tồn vong của đất nước, vấn đề không chỉ là ai được hưởng ưu thế trong thời bình, mà còn là ai sẵn sàng chia sẻ trách nhiệm và hy sinh trong thời chiến.

Nếu Việt Nam một lần nữa phải đối diện một cuộc chiến tranh đe dọa sự tồn vong của đất nước, đặc biệt trong một cuộc xung đột giả định với Trung Quốc, đó sẽ là phép thử nghiêm khắc nhất đối với trách nhiệm của giới cầm quyền trước dân tộc. Trong thời bình, đặc quyền chính trị và kinh tế có thể được thể hiện qua tài sản, địa vị và những ưu thế trong đời sống. Nhưng khi đất nước lâm nguy, câu hỏi không còn chỉ là ai nắm giữ quyền lực và tài sản, mà còn là ai phải gánh chịu hiểm nguy, ai được bảo vệ và những người có nhiều quyền lực nhất có sẵn lòng chia sẻ trách nhiệm, hy sinh cùng nhân dân hay không.

Bản đồ 1. Chiến tranh biên giới Việt–Trung tháng 2/1979: Quân Trung Quốc tấn công Việt Nam trên nhiều hướng dọc biên giới phía Bắc.

Bản đồ 2. Bản đồ cho một kịch bản giả định, không phải dự báo quân sự hoặc đánh giá chính thức về nguy cơ chiến tranh. [nguồn: Ý tưởng của tác giả, AI minh họa]

Đây không phải là một dự báo chiến tranh, mà là một tình huống giả định nhằm khảo sát mối quan hệ giữa đặc quyền và trách nhiệm. Chính trong hoàn cảnh sống còn ấy, khoảng cách giữa những lý tưởng được tuyên bố và hành động thực tế của người cầm quyền có thể bộc lộ rõ rệt nhất.

Trong hoàn cảnh khủng hoảng, câu hỏi về công bằng không chỉ liên quan đến thu nhập hay tài sản mà còn đến cách phân bổ nghĩa vụ, hiểm nguy và cơ hội được bảo vệ. Ai phải gánh chịu tổn thất? Ai được tiếp cận thông tin, thuốc men và nơi trú ẩn? Những câu hỏi ấy đặt trách nhiệm công vụ trước một phép thử đặc biệt.

Không thể mặc nhiên cho rằng người giàu hoặc người giữ chức vụ sẽ hành động thiếu trách nhiệm. Điều đáng quan tâm là liệu quyền hạn công có bị dùng để dành ưu tiên không chính đáng cho một nhóm người hay không.

Khả năng tài chính đem lại những lựa chọn khác nhau khi xảy ra khủng hoảng, nhưng sự khác biệt ấy không đồng nghĩa với thiếu lòng yêu nước. Vấn đề nghiêm trọng chỉ xuất hiện khi người được giao trách nhiệm công lợi dụng chức vụ để bảo vệ lợi ích riêng hoặc không thực hiện nghĩa vụ đối với cộng đồng.

Trong trường hợp ấy, sự bất bình đẳng có thể trở thành khủng hoảng lòng tin, làm suy yếu sự gắn bó giữa người dân với những người thay mặt họ quyết định các vấn đề chung.

Câu nói Après moi, le déluge, thường được hiểu là “Sau ta, mặc cho hồng thủy”, gợi ra một câu hỏi về trách nhiệm lãnh đạo: người nắm quyền có sẵn lòng chia sẻ hậu quả từ các quyết định của mình hay không? Trách nhiệm ấy cần được đánh giá bằng hành động và những cơ chế có thể kiểm chứng.

VII. Những giới hạn của khái niệm “tư bản đỏ”

Thuật ngữ “tư bản đỏ” có sức gợi hình mạnh, nhưng chính vì vậy cũng cần được sử dụng một cách thận trọng trong nghiên cứu. Không phải mọi người giữ chức vụ trong hệ thống chính trị đều thuộc một tầng lớp đặc quyền kinh tế, và cũng không thể đồng nhất mọi doanh nhân thành đạt với những mạng lưới lợi ích bè cánh.

Cần phân biệt hành vi tham nhũng của cá nhân với những điều kiện thể chế có thể tạo cơ hội cho tham nhũng phát sinh hoặc kéo dài. Việc xử lý những vụ án tham nhũng lớn có thể mang lại hiệu quả răn đe và góp phần củng cố kỷ cương pháp luật. Tuy nhiên, những cải cách lâu dài còn đòi hỏi cơ chế công khai dữ liệu, kiểm toán hiệu quả, hoạt động tư pháp đáng tin cậy, khả năng điều tra độc lập của báo chí và những phương tiện pháp lý hữu hiệu để người dân bảo vệ quyền lợi chính đáng.

Những biện pháp ấy không chỉ nhằm xử lý người sai phạm, mà còn góp phần hạn chế nguy cơ lạm dụng quyền lực ngay từ đầu. Trong điều kiện hệ thống chính trị một đảng lãnh đạo, vấn đề đặt ra là mức độ độc lập và hiệu quả thực chất của các cơ chế kiểm tra, giám sát quyền lực, cũng như khả năng bảo đảm tính minh bạch và trách nhiệm giải trình. Djilas đặc biệt sắc bén khi mô tả nghịch lý của một tầng lớp nhân danh lý tưởng bình đẳng nhưng lại có thể được hưởng những ưu thế đặc biệt trong đời sống.

Tuy nhiên, việc vận dụng luận điểm ấy vào Việt Nam hiện nay cần dựa trên những nghiên cứu thực chứng về sở hữu, tiếp cận tín dụng, phân bổ đất đai, đấu thầu, thu nhập và khả năng dịch chuyển xã hội. Chỉ thông qua những dữ liệu có thể kiểm chứng mới có thể phân biệt đâu là một xu hướng mang tính hệ thống, đâu là những trường hợp ngoại lệ và đâu chỉ là những nhận định xuất phát từ ấn tượng chính trị.

Tham nhũng và chủ nghĩa tư bản bè cánh không phải là hiện tượng riêng của các quốc gia theo chế độ cộng sản. Điểm đáng khảo sát trong trường hợp Việt Nam là sự kết hợp giữa một hệ thống chính trị do một đảng lãnh đạo, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai và một nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển. Sự kết hợp ấy tạo ra những điều kiện thể chế đặc thù, trong đó quyền quyết định hành chính có thể ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội tích lũy tài sản của các chủ thể kinh tế. Tuy nhiên, để xác định mức độ và tính hệ thống của hiện tượng này, cần những nghiên cứu so sánh và thực chứng vượt ra ngoài các vụ án riêng lẻ.

Những chứng cứ hiện có chưa đủ để xác định quy mô, ranh giới và mức độ ổn định của một giai cấp mới tại Việt Nam theo định nghĩa của Djilas. Tuy nhiên, các vụ án đất đai và tài sản công đã được xét xử, cùng những nghiên cứu về quan hệ chính trị trong phân bổ nguồn lực kinh tế, cung cấp bằng chứng về các cơ chế có thể tạo lập và duy trì đặc quyền. Điều cần tiếp tục khảo sát không chỉ là sự tồn tại của những cá nhân lạm dụng quyền lực, mà còn là mức độ những điều kiện thể chế cho phép các đặc quyền ấy được tích lũy, chuyển hóa thành tài sản tư nhân và duy trì qua nhiều thế hệ. Chính tại điểm giao thoa giữa quyền lực chính trị tập trung và khả năng tích lũy tài sản ấy, lý thuyết Giai cấp mới của Djilas vẫn giữ được giá trị phân tích đối với hiện tượng tư bản đỏ bè cánh tại Việt Nam.

VIII. Quyền lực, tài sản và trách nhiệm đối với vận mệnh dân tộc 

Điều khiến The New Class vẫn còn đáng đọc không phải vì Djilas đã tiên đoán chính xác những diễn biến tại Việt Nam năm 2026.

Djilas không thể biết trước Đổi Mới, sự phát triển của khu vực tư nhân hay quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam. Giá trị bền vững của The New Class nằm ở câu hỏi: làm thế nào ngăn quyền lực được trao nhân danh nhân dân trở thành nguồn lợi riêng của người được giao phó?

Một xã hội có thể chấp nhận những khác biệt về tài năng, nghề nghiệp, thu nhập và mức sống. Nhưng những khác biệt ấy trở nên khó biện minh khi cơ hội thành công phụ thuộc quá nhiều vào thân thế hoặc khả năng tiếp cận những người có quyền lực, thay vì năng lực, sáng kiến và lao động.

Trong thời bình, những bất bình đẳng kéo dài, nếu thiếu các cơ chế đối thoại và giải quyết khiếu nại hữu hiệu, có thể làm gia tăng tâm lý bất mãn và suy giảm niềm tin xã hội.

Điều có thể khẳng định về mặt nguyên tắc là năng lực bảo vệ quốc gia không chỉ phụ thuộc vào vũ khí và tiềm lực quân sự, mà còn vào sự tin cậy giữa người cầm quyền và người dân, tính chính đáng của các quyết định và mức độ công bằng trong việc chia sẻ những gánh nặng chung.

Từ Djilas năm 1957 đến Việt Nam năm 2026, nền kinh tế và phương thức tích lũy tài sản đã thay đổi sâu sắc. Song câu hỏi về quyền quyết định và trách nhiệm giải trình vẫn còn đó: tài sản quốc gia được quản lý như thế nào, và xã hội có thể kiểm tra việc sử dụng quyền lực công bằng những phương tiện nào?

Nếu đất nước phải đối diện một thử thách sống còn, những người có nhiều quyền lực và nguồn lực nhất có sẵn lòng nhận trách nhiệm tương xứng hay không? Câu trả lời không thể chỉ đến từ khẩu hiệu hay phán xét chính trị. Nó cần chứng từ, sự minh bạch và những hành động có thể kiểm nghiệm. Đọc lại Djilas hôm nay, vì vậy, không phải để áp đặt một khuôn mẫu có sẵn lên Việt Nam, mà để đặt ra yêu cầu thường xuyên kiểm soát quyền lực, bảo vệ tài sản công và duy trì công bằng xã hội.

31 Tháng 10 năm 2026 

Tài liệu tham khảo 

  1. 1.. Djilas, Milovan. The New Class: An Analysis of the Communist System. New York: Frederick A. Praeger, 1957.

Djilas phân tích sự hình thành một tầng lớp đặc quyền mới trong các chế độ cộng sản, gồm giới lãnh đạo đảng và bộ máy quan liêu. Tầng lớp này không trực tiếp sở hữu tư liệu sản xuất nhưng kiểm soát việc phân phối tài sản và nguồn lực quốc gia thông qua quyền lực chính trị. Tác phẩm đặt vấn đề về khoảng cách giữa lý tưởng xã hội không giai cấp và thực tế phân tầng quyền lực.

  1. 2. Hoover Institution, Stanford University. “Hoover Acquires Milovan Djilas Literary Archives.” May 21, 2014. Hoover Institution.

Bài viết giới thiệu việc Hoover Institution tiếp nhận kho lưu trữ văn học và tư liệu cá nhân của Milovan Djilas, gồm bản thảo, thư từ và các tài liệu lịch sử. Nguồn tư liệu góp phần làm sáng tỏ hành trình tư tưởng của Djilas, từ một lãnh đạo cộng sản Nam Tư trở thành nhà phê bình hệ thống mà ông từng tham gia xây dựng. Đây chủ yếu là nguồn tư liệu tiểu sử và lưu trữ, không phải nghiên cứu độc lập về kinh tế chính trị.

  1. 3.  Gainsborough, Martin. Vietnam: Rethinking the State. London: Zed Books, 2010.

Gainsborough khảo sát sự biến đổi của nhà nước Việt Nam trong thời kỳ Đổi Mới, đặc biệt mối quan hệ giữa quyền lực chính trị, doanh nghiệp và lợi ích kinh tế. Tác giả cho thấy ranh giới giữa khu vực công và tư không luôn rõ ràng. Quyền lực nhà nước không chỉ thể hiện qua các định chế chính thức mà còn qua những mạng lưới quan hệ và lợi ích.

  1. 4. Fforde, Adam. Vietnamese State Industry and the Political Economy of Commercial Renaissance: Dragon’s Tooth or Curate’s Egg? Oxford: Chandos Publishing, 2007.

Fforde nghiên cứu quá trình chuyển đổi của công nghiệp quốc doanh Việt Nam từ nền kinh tế kế hoạch sang cơ chế thị trường. Ông nhấn mạnh vai trò của những thay đổi kinh tế phát sinh từ thực tiễn, trước và trong thời kỳ Đổi Mới. Tác phẩm giúp giải thích sự thích nghi của doanh nghiệp nhà nước và những quan hệ kinh tế mới hình thành trong quá trình cải cách.

  1. 5. Malesky, Edmund J., and Markus Taussig. “Where Is Credit Due? Legal Institutions, Connections, and the Efficiency of Bank Lending in Vietnam.” Journal of Law, Economics, and Organization 25, no. 2 (2009): pp. 535–578.

Nghiên cứu khảo sát ảnh hưởng của các định chế pháp lý và quan hệ chính trị đối với khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp Việt Nam. Các tác giả phân tích cách những quan hệ cá nhân và chính trị có thể tác động đến việc phân bổ vốn ngân hàng. Công trình góp phần làm rõ mối liên hệ giữa chất lượng thể chế, tín dụng và hiệu quả kinh tế.

  1. 6. Kang, David C. Crony Capitalism: Corruption and Development in South Korea and the Philippines. Cambridge: Cambridge University Press, 2002. 

Kang so sánh quan hệ giữa nhà nước và giới doanh nghiệp tại Nam Hàn và Philippines. Ông lập luận rằng tác động của tham nhũng và chủ nghĩa tư bản bè cánh / crony capitalism phụ thuộc vào cấu trúc quyền lực và khả năng phối hợp giữa các nhóm lợi ích. Công trình cho thấy những quan hệ chính trị và kinh tế tương tự có thể dẫn đến kết quả phát triển rất khác nhau.

  1. 7. Vu, Tuong, and Thuy Nguyen. “‘Doi Moi’ but Not ‘Doi Mau’: Vietnam’s Red Crony Capitalism in Historical Perspective.” In The Dragon’s Underbelly, edited by Nhu Truong and Tuong Vu, pp. 25–50. Singapore: ISEAS Publishing, 2022. 

Đây là nghiên cứu trực tiếp liên quan nhất đến khái niệm “tư bản đỏ” tại Việt Nam. Hai tác giả phân tích tính liên tục của quyền lực chính trị trong quá trình chuyển đổi kinh tế sau Đổi Mới. Theo cách tiếp cận của nghiên cứu, kinh tế thị trường phát triển nhưng cấu trúc quyền lực chính trị căn bản vẫn được duy trì, tạo điều kiện cho những quan hệ đặc thù giữa giới cầm quyền và các nhóm lợi ích kinh tế.

  1. 8. World Bank and Ministry of Planning and Investment of Vietnam. “Vietnam 2035: Toward Prosperity, Creativity, Equity, and Democracy.” Washington, DC: World Bank, 2016.

Báo cáo đánh giá thành tựu phát triển kinh tế Việt Nam và những thách thức dài hạn. Tài liệu nhấn mạnh nhu cầu cải cách thể chế, nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và bảo đảm cạnh tranh bình đẳng. Đây là nguồn tham khảo quan trọng về những điều kiện cần thiết để Việt Nam phát triển bền vững và tránh bẫy thu nhập trung bình.

  1. 9. “OECD Economic Surveys: Viet Nam 2025.” Paris: OECD Publishing, 2025. Chapter 2: “Towards More Inclusive Growth.”

OECD ghi nhận thành tựu tăng trưởng và giảm nghèo của Việt Nam, đồng thời chỉ ra những chênh lệch về thu nhập, cơ hội kinh tế và an sinh xã hội giữa các nhóm dân cư. Những thành quả của Đổi Mới chưa được phân phối đồng đều. Báo cáo nhấn mạnh nhu cầu tăng trưởng bao trùm và cải thiện công bằng xã hội.

  1. 10. World Inequality Lab. “World Inequality Report 2026.” Country Sheet: Vietnam, số liệu ước tính năm 2024. https://wir2026.wid.world/

Báo cáo nghiên cứu sự phân phối thu nhập và tài sản giữa các tầng lớp dân cư trên thế giới. Theo số liệu ước tính năm 2024 về Việt Nam, nhóm 10% giàu nhất nắm giữ khoảng 59% tổng tài sản, trong khi 50% nghèo nhất chỉ sở hữu khoảng 4,6%. Sự chênh lệch này cho thấy tăng trưởng kinh tế không đồng nghĩa với phân phối tài sản đồng đều.

  1. 11. Rand, John. “Are Politically Connected Firms Less Constrained in Credit Markets?” pp. 115–133. Oxford: Oxford University Press, 2020. https://doi.org/10.1093/oso/9780198851189.003.0006

 Nghiên cứu mối liên hệ giữa quan hệ chính trị của doanh nghiệp và khả năng tiếp cận tín dụng tại Việt Nam. Bài viết khảo sát liệu những doanh nghiệp có quan hệ với giới chức có gặp ít trở ngại hơn khi vay vốn hay không. Đây là một nguồn nghiên cứu hữu ích để tìm hiểu ảnh hưởng của quan hệ chính trị đối với sự phân bổ nguồn lực kinh tế.

Nhà văn, nhà báo, nhà hoạt động môi sinh. Tên thật Ngô Thế Vinh, cũng là bút hiệu. Chánh quán Hà Nội. Tốt nghiệp ĐHYK Sài Gòn 1968. Trong ban biên tập, nguyên tổng thư ký rồi chủ bút báo SVYK Tình Thương Sài Gòn từ 1963 tới 1966. Nguyên y sĩ trưởng Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù. Tu nghiệp ngành Y khoa Phục hồi tại Letterman General Hospital San Francisco. Sau 1975, tù hơn ba năm qua các trại cải tạo. Từ 1979, bác sĩ điều trị và giảng huấn tại Trung Tâm Phục Hồi Sài Gòn. Tới Hoa Kỳ 1983, bác sĩ thường trú các bệnh Đại học New York. Tốt nghiệp ngành Nội khoa, bác sĩ điều trị và giảng huấn tại một bệnh viện VA miền Nam California. Ông là tác giả của nhiều tiểu thuyết, tiểu luận văn hóa và công trình khảo cứu về môi trường, đặc biệt về hệ sinh thái sông Mekong và Đồng bằng sông Cửu Long.


 

“Con bụi đời chứ con không ăn cắp”- Bobo Kim

Ba’o Tieng Dan

31/10/2026

Bobo Kim

31-10-2026

Hôm nay, lần đầu tiên hai vợ chồng mình vô cửa hàng mua đồ. Tới lúc quay ra xe thì phát hiện túi đồ mua trước đó đã không cánh mà bay. Ra thấy mất đồ mà xịt keo luôn.

Sau khi xin chị chủ kiểm tra lại camera, tụi mình thấy một thằng nhóc chạy xe đạp ngang qua, tiện tay cuỗm luôn bọc đồ rồi phắn nhanh gọn, chỉ vỏn vẹn 10 giây.

Thế là chị chủ dẫn tụi mình qua quán net kế bên, chỗ mấy đứa nhóc bụi đời hay tụ tập chơi game. May sao tụi nó biết mặt thằng cu kia. Sau một hồi hỏi thăm, mình bốc được hai thằng nhóc cỡ 12-13 tuổi hộ giá, cùng đi tìm thằng to gan đó.

Một thằng gầy đét, người cứ thoang thoảng mùi xăng. Thằng còn lại to con hơn nhưng áo quần rách bươm, chẳng còn chỗ nào lành lặn. Hai đứa nhiệt tình lắm, cứ thay nhau chỉ đường, chặt hết hẻm này tới hẻm khác, quyết tìm cho ra thằng chôm đồ.

Trên đường đi, tụi nó bắt đầu tâm sự. Đứa thì không cha không mẹ, ban ngày đi bán vé số, tối đi thổi lửa kiếm cơm. Đứa kể, có lần bị người ta dụ vô Aeon chỉa xà bông, bị bắt một lần sợ quá nên từ đó không dám ăn cắp nữa, chỉ lãnh vé số đi bán thôi.

Toàn những chuyện mà một đứa trẻ 12-13 tuổi đáng lẽ chẳng cần phải biết tới. Vậy mà tụi nó kể tỉnh bơ. Chuyện hôm nay kiếm được bao nhiêu tiền, tối ngủ ở đâu, ngày mai làm gì để có cái ăn. Cứ như thể đó là những chuyện bình thường nhất trên đời.

Mình vừa lái xe vừa nghe, thỉnh thoảng hỏi thêm vài câu. Càng nghe lại càng thấy lạ, vì tụi nó còn nhỏ xíu mà nói chuyện cứ như mấy người đã sống qua nửa đời người rồi đó?

Có điều, dù có vẻ từng trải tới đâu thì tụi nó vẫn là con nít. Vẫn hào hứng mỗi khi nhớ ra một chỗ có thể tìm được thằng kia, vẫn thi nhau chỉ đường, vẫn sốt ruột khi đi hoài chưa thấy…

Đi hơn 15 phút, hai đứa bắt đầu lo lắng. Không phải lo không tìm được đồ để lấy tiền công, vì từ đầu tới cuối tụi nó cũng chẳng hề nhắc tới một cắc nào chuyện tiền bạc. Mà tụi nó sợ mình chạy xe lòng vòng, tốn tiền xăng.

Mình thì đang cay cái bọc đồ bị mất, còn hai đứa nó lại đang lo mình tốn thêm mấy đồng tiền xăng. Nghe vừa thương vừa mắc cười.

Lúc hỏi, sao tụi nó nhiệt tình giúp mình dữ vậy, mới biết lý do chẳng phải vì muốn được thưởng hay gì, mà tụi nó sợ thằng nhóc kia cứ ăn cắp hoài, người ta sẽ ghét lây cả đám bụi đời quanh đó. Rồi chủ quán net không cho tụi nó ngủ nhờ nữa.

Thằng nhỏ nhất tự chốt một câu: “Con sợ nó chôm đồ của chú xong người ta ghét con. Con bụi đời chứ con không ăn cắp”.

Hóa ra, hai đứa theo mình lặn lội qua từng con hẻm, một phần cũng vì đang cố giữ lấy cái chỗ ngủ của tụi nó. Chỉ là một góc trong quán net thôi. Ban ngày coi người ta chơi game, tối đến tụi nó kiếm chỗ ngả lưng.

Ảnh minh họa: Trẻ bụi đời ngủ trên đường phố Hà Nội. Nguồn: Reuters

Tự nhiên mình nghĩ tới mấy con mèo hoang. Có những con mèo ngoài đường, chỉ cần được người ta cho nằm nhờ dưới mái hiên vài hôm là cứ nhớ mãi chỗ đó. Ngày đi kiếm ăn, tối lại lủi thủi quay về. Chẳng cần ai ôm ấp, vuốt ve, chỉ cần cho nó ngủ, đừng đuổi nó đi là được

Mấy đứa nhỏ này cũng vậy. Khác ở chỗ mèo hoang thì chẳng hiểu người ta nghĩ gì về mình. Còn tụi nó là con người mà, nên biết hết. Biết bản thân bị gọi là tụi bụi đời, biết người ta dè chừng, biết chỉ cần một đứa ăn cắp thì cả đám có thể bị đuổi đi.

Mới mười mấy tuổi đầu mà đã phải sốt sắng chạy đôn chạy đáo để giữ lấy một chút lòng tin của người khác, để tối đến còn có chỗ ngủ. Nghĩ tới tự dưng thấy buồn.

Cuối cùng cũng tìm được thằng nhóc hai ngón kia. Tổng thể thì không mất gì, chỉ có túi ô mai bị hụt vài viên.

Ban đầu mình cũng bực chứ. Mất đồ ai mà không bực, còn phải mất công chạy đi tìm cả buổi. Nhưng tới lúc nghe kể nó núp trước nhà người ta, run rẩy ôm bọc đồ, không dám đụng tới, tự nhiên mình cũng chẳng buồn nói thêm câu nào. Vì nó cũng chỉ là một đứa con nít 12 tuổi đầu.

Mình không biết nó đến từ đâu, không biết ba mẹ nó là ai. Cũng chẳng cần biết nó đã ăn cắp bao nhiêu lần rồi. Chỉ mong lần này đủ để nó sợ mà không táy máy tay chân nữa. Ăn cắp thì vẫn là sai, nhưng nghĩ cho cùng, một đứa nhỏ lớn lên mà không có ai dạy dỗ, không có ai chỉ cho nó biết đâu là đúng, đâu là sai, thì chuyện nó đi lạc đường cũng chẳng phải điều gì khó hiểu.

Lúc đầu mình chỉ muốn tìm lại bọc đồ thôi. Mà tới khi tìm được rồi, thứ khiến mình nghĩ mãi lại chẳng phải thằng nhóc đã chôm, mà là hai thằng nhỏ đã giúp mình đi tìm nó.

Hai đứa côi cút, tự kiếm sống qua ngày, tối đến còn phải xem người ta có cho mình ngủ nhờ hay không, vậy mà vẫn biết lo cho người khác, biết sợ làm phiền, biết phân biệt chuyện nào nên làm và chuyện nào không.

Ở cái tuổi đó, đáng lẽ tụi nó phải được đi học, được ba mẹ chăm lo, được vô tư mà lớn lên, chứ không phải ngày nào cũng nghĩ cách kiếm tiền để tối nay có cái bỏ bụng hay có chỗ ngủ mà không bị người ta đuổi đi.

Trước giờ cứ nghĩ có nhiều tiền sẽ cứu được thêm nhiều con mèo, có chỗ nuôi những con vật bị bỏ rơi, để tụi nó không phải lang thang ngoài đường nữa. Giờ lại muốn có đủ khả năng giúp cả những đứa nhỏ như tụi này. Cho tụi nó một chỗ ở đàng hoàng, một ngày ba bữa không cần phải lo ngày mai lấy gì ăn, một cơ hội được đi học, được sống cuộc đời mà một đứa trẻ đáng lẽ phải có.

Mình biết ngoài kia còn nhiều đứa nhỏ như vậy lắm. Và cũng biết không phải cứ thương là giúp được, càng không phải cho vài đồng tiền là có thể thay đổi cuộc đời một con người.

Nhưng tất nhiên, vẫn sẽ lấy cuộc gặp gỡ này làm động lực để sau này mình làm được gì đó nhiều hơn. Vì mấy con mèo hoang ít ra còn có thể được ai đó mang về nuôi. Còn những đứa trẻ này, đâu phải cứ thấy thương là có thể dắt về nhà.

Chẳng biết rồi hai thằng nhỏ hôm nay sẽ lớn lên thành người thế nào? Cuộc sống ngoài đường còn dài, mà tụi nó thì bé quá. Chỉ mong tụi nó vẫn giữ được cái tính thật thà như hôm nay.

Nghĩ lại, thứ mình bị mất hôm nay chỉ là một bọc đồ, tìm một hồi rồi cũng lấy lại được. Còn có những đứa trẻ, từ bé đã thiếu đi quá nhiều thứ, mà chẳng biết phải đi đâu để tìm lại bây giờ?


 

Cuộc bỏ phiếu bằng chân!

Lê Diễn Đức

*Cuộc bỏ phiếu bằng chân!*

Một câu chuyện đáng chú ý vừa diễn ra tại Oleshky, vùng Kherson đang bị Nga chiếm đóng.

Trong một thỏa thuận ngừng bắn cục bộ vì mục đích nhân đạo, vào ngày 30 tháng 10 Nga và Ukraina phối hợp mở hành lang sơ tán dân thường. Người dân được tự do lựa chọn nơi mình muốn đến: Ukraina hay Nga. Và kết quả thật đáng suy ngẫm!

Trong số 21 xe buýt chở người sơ tán:

– 17 xe, chở hơn 500 người, chọn trở về vùng lãnh thổ do chính phủ Ukraine kiểm soát.

– 4 xe, chở khoảng 100 người, chọn đi sâu vào các khu vực do Nga kiểm soát hoặc sang lãnh thổ Nga.

Điều trớ trêu là những người chọn trở về Ukraine phải đi một hành trình vòng vèo qua Crimea, đến Anapa (Nga), rồi bay sang Belarus, sau đó tiếp tục đi xe buýt về phía bắc Ukraine.

Một hành trình dài và phức tạp, nhưng họ vẫn chọn trở về!

Bấy lâu nay, Điện Kremlin luôn tuyên truyền rằng người dân những vùng đất bị sáp nhập đều muốn trở thành công dân Nga. Nhưng khi được tự do lựa chọn, người dân lại đưa ra câu trả lời bằng chính đôi chân của mình.

Không cần những cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức dưới sự kiểm soát của quân đội. Không cần những con số phần trăm đẹp đẽ trên truyền hình Nga.

21 chuyến xe buýt, hơn 600 con người và một cuộc bỏ phiếu bằng chân!

Có thể chiếm đất bằng xe tăng, nhưng lòng dân thì không thể chiếm bằng tuyên truyền.

Putin nhìn hình ảnh thật này có lẽ tức hộc máu, còn những kẻ phò Nga ngố thì nên câm cái miệng lại! 


 

Sẽ có xe tự lái dành cho người cao niên trong tương lai?

XE TỰ LÁI TÁN CHUYỆN VỚI CHỦ TRONG LÚC PHOM PHOM TRÊN ĐƯỜNG CAO TỐC

Ba’o Nguoi-Viet

October 23, 2026

QUẬN CAM, California (NV)- Đối với nhiều người cao niên ở Mỹ, không được lái xe là một bi kịch, vì không còn được tự do đi lại. Nhưng nếu vẫn tiếp tục lái thì lại có thể nguy hiểm cho bản thân và những người khác trên đường. Việc thu hồi chìa khóa xe từ cha mẹ khi họ đã cao tuổi mất khả năng lái xe là một điều vô cùng khó khăn cho những người con. General Motors (GM) hy vọng xe tự lái sẽ thay đổi vấn đề này.

Theo trang mạng xe hơi www.thedrive.com, trên chương trình truyền hình “The Drivecast”, Jaclyn McQuaid – Phó chủ tịch sản phâm cấp cao của General Motors – chia sẻ: “Tôi vẫn nhớ như in ngày mình phải lấy lại chìa khóa xe từ bà tôi, khiến bà mất đi sự độc lập của chính mình”. Bà đưa ra bình luận này khi được hỏi liệu có bao giờ xe của GM không còn cần đến tay lái nữa hay không. Theo bà, chúng ta có thể làm được điều đó trong tương lai. Dù bà McQuaid rất tâm huyết với ý tưởng này, nhưng nó sẽ không sớm trở thành hiện thực ngay ngày mai.

Xe taxi tự lái Waymo trên đường phố. (Hình minh họa tạo bởi ChatGPT)

Giải thích thêm về tầm quan trọng của vấn đề này, bà McQuaid nói: “Tôi mong chờ một ngày chúng ta đạt đến cấp độ tự lái mà nhờ đó không cần phải tước đi sự độc lập của những người thân yêu. Chiếc xe sẽ trở thành phương tiện đáng tin cậy, thực hiện chính xác những gì họ cần. GM đang nỗ lực hết mình để hiện thực hóa điều này.”

Sự lão hóa, quy luật sinh lão bệnh tử là một điều không thể tránh khỏi. Nhưng khi công nghệ phát triển, một hướng đi mới đang mở ra. Bà McQuaid nhận định đây là sự tiến hóa dựa trên các nhu cầu xã hội. Chúng ta có thể giúp mọi người duy trì những gì họ từng có khi còn trẻ, thay vì để họ mất đi khi về già. Bà tự hào về những nỗ lực của GM trong lĩnh vực xe tự lái cá nhân. Một ngày nào đó, khi bản thân bước vào giai đoạn lão hóa của cuộc đời, bà mong công nghệ này sẽ đóng vai trò quan trọng đối với chính bà và nhiều người khác; giúp mọi người lấy lại quyền tự chủ trong cuộc sống thông qua xe tự lái cá nhân.

Mặc dù các dịch vụ taxi tự lái (robotaxi) như Waymo đã xuất hiện tại nhiều thành phố, McQuaid lưu ý rằng phạm vi hoạt động của chúng vẫn chỉ áp dụng trong các thành phố. Đó không phải là tương lai mà GM đang hướng tới. Điều GM muốn đạt được là viễn cảnh một người bước lên xe tại New York và ra lệnh: “Tôi muốn đến thăm con gái ở Los Angeles. Đi thôi!”. Họ sở hữu chiếc xe đó, một chiếc xe tự lái cá nhân có thể đưa họ đến bất cứ đâu họ cần: đi lấy đồ giặt ủi, đón thú cưng từ trung tâm chăm sóc, hay thực hiện hành trình xuyên bang để thăm con gái.

Những gì McQuaid mô tả chính là công nghệ tự lái mà Sterling Anderson, Giám đốc Sản phẩm của GM, gọi là “Chế độ Sứ mệnh” (Mission Mode). Đây là giai đoạn tiếp theo, vượt xa khỏi phạm vi các hệ thống tự lái không cần giám sát mà GM đang phát triển. Hy vọng rằng công nghệ này sẽ sớm trở thành hiện thực. (HD)


 

FLÁVIO BOLSONARO CÓ NGƯỜI ĐỠ ĐẦU, THIẾU NGƯỜI BẦU

FLÁVIO BOLSONARO CÓ NGƯỜI ĐỠ ĐẦU, THIẾU NGƯỜI BẦU

ngày 649,

Tối 27/10, Flávio Bolsonaro cùng vợ và hai con vượt biên giới đường bộ sang Argentina. Từ đó, cả nhà lên máy bay riêng, quá cảnh Ecuador rồi đáp xuống Miami sáng hôm sau.

Một hành trình vòng vèo chẳng khác phim điệp viên. Chỉ khác nhân vật chính không mang theo bí mật quốc gia, mà mang theo một thất bại bầu cử.

Trước đó, tròn ngày 26/10, Flávio còn tuyên bố không có ý định rời Brazil và sẽ đối mặt với các cáo buộc nhằm vào mình. Chưa đầy 48 giờ sau, ông đã có mặt trên đất Mỹ.

Flávio Bolsonaro là con trai trưởng của cựu Tổng thống Jair Bolsonaro, người đang thụ án vì âm mưu đảo chính. Trong cuộc bầu cử ngày 25/10, ông thua Lula hơn 4,4 triệu phiếu nhưng không chấp nhận kết quả, tiếp tục cáo buộc gian lận mà không đưa ra được bằng chứng.

Tòa án Tối cao Brazil yêu cầu Flávio giao nộp hộ chiếu trong vòng 24 giờ để phục vụ điều tra những cáo buộc liên quan đến rửa tiền. Ông tuyên bố sẽ chấp hành. Rồi biến mất.

Theo Reuters, chuyến đi có sự hỗ trợ của Jason Miller, cố vấn thân cận của Trump. Ngoại trưởng Marco Rubio cũng tham gia thu xếp để gia đình Flávio được vào Mỹ. Trump chấp thuận.

Đáng chú ý, trước bầu cử, em trai Flávio đã công khai ủng hộ việc anh mình rời Brazil nếu thất cử. Dù điều này chưa chứng minh việc rời Brazil đã được chuẩn bị từ trước. Nhưng thông tin cho thấy đây không phải điều bất ngờ.

Đặt chân đến Miami, Flávio lập tức công bố thư tự nhận là tổng thống đắc cử. Sau đó ông sửa lại, chỉ còn là người lãnh đạo chính đáng. Thua bầu cử mà vẫn nhận mình thắng thì cũng chẳng mới. Nhưng thua ở Brazil, chạy sang Mỹ rồi nhận mình lãnh đạo Brazil thì có lẽ ông này học được tài lãnh đạo của Đào Minh Quân?

Brazil đã triệu đại diện ngoại giao Argentina để yêu cầu giải thích về hành trình của Flávio. Trước đó, Reuters còn điều tra việc một số quan chức trong chính quyền Trump thúc đẩy các biện pháp gây sức ép có lợi cho gia đình Bolsonaro.

Flávio đang bị điều tra, chưa bị kết án về những cáo buộc tài chính. Ông có quyền tự bào chữa và cho rằng mình bị đàn áp chính trị, nhưng ông không tiến hành mà tìm đường chạy trốn.

Sau khi giúp Flávio đến Mỹ, chính quyền Trump lại không có kế hoạch công nhận ông là lãnh đạo Brazil.

Nhìn cách Moscow che chở những đồng minh chính trị mất quyền lực, rồi nhìn cách Washington tiếp đón Flávio Bolsonaro, tôi bắt đầu thấy một sự tương đồng.

Còn Flávio có nơi trú chân, có người giúp đỡ, có cả diễn đàn để tiếp tục chiến đấu vì nhân dân Brazil. Chỉ thiếu những lá phiếu của người dân Brrazil để ông trở thành tổng thống.

Rứa hỷ! 


Đối chiếu sự thật của Kẻ Đi Tìm – Phan Sinh Trần

  • Thẩm phán phụ trách của vụ điều tra gia đình Bolsonaro cả đời Cha (cựu Tổng Thống) và đời con là duy nhất một người,  thẩm phán Alexandre de
    Moraes, kéo dài hơn 7 năm.

    Tại sao một cuộc điều tra  về tin giả lại  có  thẩm quyền mở rộng đến nhiều vụ  án chính trị khác dưới sự điều tra của cùng một thẩm phán, vi phạm nguyên tắc phân công thẩm phán ngẫu nhiên ?
  • Điều quan trọng nhất đó là “vừa đá bóng vừa thổi còi”, vừa điều tra vừa xét xủ:   Nếu một thẩm phán đồng thời tham gia hoặc kiểm soát quá trình điều tra, ra các biện pháp cưỡng chế, rồi lại tham gia xét xử chính vụ án đó, dẫn đến câu hỏi pháp lý nghiêm trọng là:

Tòa có còn đáp ứng tiêu chuẩn “independent and impartial tribunal – Độc lập và Không thiên vị ” của Điều 14(1) ICCPR – Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị.

  • Vi pham nguyên tắc án hình sự có quyền kháng cáo :
    bị cáo, Bolsonaro Con,  đã không được có quyền phúc thẩm tái xử bởi tòa cao hơn cả về việc kết tội lẫn hình phạt vi phạm Điều 14(khoản 5) ICCPR.
  • Chính Moraes cùng với 3 thẩm phán khác đã kết án Bolsonaro Cha, cựu Tổng Thống Brazil, người không công nhận kết quả bầu cử , với hình phạt tù giam  27 năm ba tháng tù vì tội âm mưu đảo chánh. Chỉ có một thẩm phán phản đối:            Thẩm phán Luiz Fux phê phán tòa vô thẩm quyền và hơn nữa ông biểu quyết  Bolsonaro vô tội đối với toàn bộ các cáo buộc

 

KẾT LUẬN

Cách xử án của STF, Tòa Tối Cao Brazil,  làm chúng ta nhớ lại các  phiên xử hoàn toàn vô lối và vô lý  theo ý Đảng Cộng Sản trong các nước XHCN


 

Vấn Nạn Giải Tòa Nhà Dân ở Việt Nam

Phan sinh Trần và Gemini AI

Vấn nạn bồi thường và giải tỏa đất đai của người dân với mức giá “rẻ như cho” từ lâu đã là một vết thương nhói buốt trong đời sống xã hội Việt Nam. Qua nhiều thế hệ, biết bao gia đình đã rơi vào cảnh trắng tay, mất đi tư liệu sản xuất và sinh kế gắn liền với mảnh đất cha ông để lại, chỉ để nhận về những khoản tiền bồi thường không đủ mua nổi một suất tái định cư tối thiểu.

Hiện trạng này không những không được cải thiện mà dường như ngày càng trở nên khốc liệt hơn khi tư duy quản trị bằng Công An và tập trung quyền lực hết vào tay Đảng tiếp tục định hình các chính sách phát triển đô thị.

VẤN NẠN LAN TRÀN TỪ BẮC CHÍ NAM

  • Dự án quy hoạch ven đê Sông Hồng (Hà Nội): Tại các khu vực dân cư lâu đời ven đê Sông Hồng, những phóng sự điều tra và ghi nhận thực tế cho thấy làn sóng phản đối mạnh mẽ của hàng ngàn hộ dân. Các khẩu hiệu phản đối giải tỏa tràn ngập trong các ngõ xóm, phản ánh nỗi lo âu tột cùng về nguy cơ mất chỗ an cư. Người dân—những người đã bám trụ qua nhiều thế hệ—đang phải đối mặt với mức đền bù áp đặt theo khung giá nhà nước, vốn thấp hơn gấp nhiều lần so với giá trị thực tế của thị trường. Hệ quả là nguy cơ đẩy họ vào cảnh nợ nần chồng chất nếu muốn sở hữu một căn hộ tái định cư, trong khi đất đai cũ lại trở thành tài sản vàng cho các tập đoàn bất động sản.

Dự án Sông Hồng: Người dân mất nhà đất cho một cuộc đại phẫu thần tốc ở ...

  • Các dự án chỉnh trang đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh: Tình trạng tương tự tái diễn tại các dự án cải tạo bờ kênh, mở rộng giao thông hay quy hoạch khu đô thị mới ở TP.HCM. Sự chênh lệch địa tô khổng lồ giữa giá đền bù đứt đoạn cho dân và giá bán thương mại của các chủ đầu tư sau khi phân lô đã làm gia tăng sâu sắc sự bất bình đẳng. Nhiều hộ dân sau giải tỏa buộc phải dạt ra vùng ven xa xôi, đứt gãy sinh kế buôn bán nhỏ lẻ lâu đời và rơi vào bần cùng hóa.

Đáng ngại hơn, bức tranh giải tỏa đai đai hiện nay đang mang đậm dấu ấn của chính sách “công an trị” và tư duy cưỡng chế bằng sức mạnh vũ lực. Thay vì duy trì các cơ chế đối thoại bình đẳng và định giá độc lập, bộ máy quản lý ngày càng ưu tiên sử dụng lực lượng an ninh để phong tỏa, bảo vệ thi công và áp đặt mệnh lệnh thu hồi đất. Việc biến các tranh chấp dân sự – kinh tế thành các cuộc đối đầu an ninh không chỉ tước đi thế thương lượng chính đáng của công dân mà còn dẫn đến việc hình sự hóa các đòi hỏi quyền lợi hợp pháp.

Một xã hội phát triển bền vững không thể được xây dựng trên sự tước đoạt sinh kế của người dân; đã đến lúc cần loại bỏ tư duy áp đặt hành chính, tách biệt lực lượng an ninh khỏi các tranh chấp đất đai, và trả lại cơ chế định giá độc lập theo sát thị trường để bảo vệ quyền lợi chính đáng của công dân.

Sự trưởng thành lớn nhất của một xã hội là khi những người đứng đầu biết mỉm cười và đứng cạnh nhau bất chấp sự khác biệt về đảng phái.

Tăng Hữu Vinh

Nhìn vào khoảnh khắc chung khung hình của Bill Clinton ( Dân chủ ) George W. Bush ( Cộng hòa ) Barack Obama ( Dân chủ ) và Joe Biden ( Dân chủ ) để thấy rằng: Sự trưởng thành lớn nhất của một xã hội là khi những người đứng đầu biết mỉm cười và đứng cạnh nhau bất chấp sự khác biệt về đảng phái.

Biểu tượng Lừa (Dân chủ) hay Voi (Cộng hòa)… xét cho cùng đều chung một đích đến là phụng sự đất nước. Một giọt nước tách rời sẽ nhanh chóng bốc hơi, nhưng khi hòa vào dòng chảy chung, nó sẽ làm nên đại dương.

“  Individually, we are one drop. Together, we are an ocean. “( Riêng rẽ, chúng ta chỉ là một giọt nước. Cùng nhau, chúng ta là cả đại dương.)

Gửi thông điệp hòa hợp và tinh thần đồng đội đến dòng thời gian của tất cả mọi người hôm nay!

* Đây là bức vẽ, tôi vẽ lại từ một tấm hình chụp trên mạng.

*****

Look at this shared moment in a single frame of Bill Clinton (Democrat), George W. Bush (Republican), Barack Obama (Democrat), and Joe Biden (Democrat) to see that: the greatest maturity of a society is when its leaders can smile and stand side by side despite their partisan differences.

Whether it is the symbol of the Donkey (Democrat) or the Elephant (Republican)… after all, they share the same ultimate goal of serving the country. A single drop of water separated will quickly evaporate, but when merging into the common flow, it creates the ocean.

“Individually, we are one drop. Together, we are an ocean.”

Sending a message of harmony and teamwork to everyone’s timeline today!

* This is a drawing I remade from a photo found online.


 

Đất “Toàn Dân” Và Nghịch Lý “Của Chung, Nhưng Tay Ta Giữ

Dân Oan Việt Nam

Đất “Toàn Dân” Và Nghịch Lý “Của Chung Nhưng Tay Ta Giữ”: Khi Quyền Sở Hữu Chỉ Là Chiếc Vỏ Bọc

Trong từ điển của chủ nghĩa xã hội, có những khái niệm nghe qua thì vô cùng cao đẹp, vĩ đại và đẫm tính nhân văn. Tiêu biểu nhất chính là châm ngôn: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Nghe thì có vẻ như mọi người dân đều là “chủ nhân” của từng tấc đất quê hương, ai cũng có phần, ai cũng được sở hữu.

Nhưng ngặt một nỗi, khi lý thuyết ấy bước ra đời thực dưới sự điều hành của một thể chế độc tôn, nó bỗng biến thành một trò đùa quái ác nhất lịch sử pháp lý: Của chung thì tất cả cùng có, nhưng khi đụng đến thu hồi thì “của chung” đích thị là của… các ông lớn!

Khi “Sở Hữu Toàn Dân” Thực Chất Là “Sở Hữu… Không Ai Cả”

Nói một cách sòng phẳng và trần trụi nhất: người dân Việt Nam chưa bao giờ thực sự có quyền sở hữu đất đai. Họ chỉ có cái gọi là “quyền sử dụng đất” – một thứ giấy phép có thời hạn, một đặc ân lỏng lẻo mà Nhà nước (hay nói đúng hơn là bộ máy cầm quyền) sẵn sàng thu hồi bất cứ lúc nào, với bất kỳ giá nào, và bằng bất kỳ lý do gì.Thích thì dùng danh nghĩa “phát triển kinh tế, dự án công ích”, không thích thì quy cho “lợi ích quốc gia”.

Giá đền bù thì áp theo bảng giá “hạt dẻ” do chính nhà nước tự vẽ ra, trong khi giá bán ra thị trường sau khi phân lô, bán nền lại nhảy múa theo chiều cao của chọc trời.Trò ảo thuật pháp lý này biến người dân từ những chủ nhân thực thụ trên mảnh đất cha ông để lại qua bao đời, bỗng chốc trở thành những kẻ ở nhờ trên chính tài sản của mình.

Từ Cải Cách Ruộng Đất Đến Những Đoàn Dân Oan Ba Thế Hệ

Bản chất tước đoạt này không phải là chuyện ngày một ngày hai. Nó đã được di thực, tinh chỉnh và thực hiện một cách hệ thống xuyên suốt từ thời kỳ Cải cách ruộng đất đẫm máu trong quá khứ, kéo dài thẳng tay đến tận ngày nay qua các đại dự án, các khu đô thị “ma” và những đợt giải tỏa trắng đêm.Hãy nhìn vào hình ảnh những đoàn người mặc áo đỏ, giăng băng rôn khắp các con hẻm, con phố.

Ở đó, có cả những mái đầu đã điểm bạc của người ông người bà, có cả bước chân của những người cha người mẹ, và xót xa nhất là những đứa trẻ ngây thơ lẽo đẽo bước đi bên cạnh. Ba thế hệ cùng chung một nỗi đau, cùng chung một hành trình đi đòi lại quyền được sống, quyền mưu cầu hạnh phúc tối thiểu trên chính mảnh đất mà tổ tiên họ đã đổ mồ hôi, thậm chí đổ máu để khai phá.  

Họ không đi cướp của ai. Họ chỉ đi đòi lại mái nhà che sương che gió, đòi lại tấc đất cắm rũa hợp pháp của gia đình mình. Thế nhưng, thứ họ nhận lại sau những lá đơn kêu cứu mòn mỏi là gì? Là sự thờ ơ lạnh lùng của các cơ quan công quyền, là những hàng rào sắt, là những bản án đàn áp và tiếng thở dài bất lực trong đêm tối.

Sự Thối Tha Của Một Chính Sách Tước Đoạt

Chính sách đất đai hiện hành không còn đơn thuần là một công cụ quản lý kinh tế; nó đã trở thành cỗ máy hợp pháp hóa những cuộc “cướp ngày” tinh vi nhất. Bè lũ chớp bu, những nhóm lợi ích câu kết chặt chẽ với quyền lực chính trị, đã tha hồ xâu xé từng tấc đất vàng, biến những người nông dân, người lao động nghèo thành tầng lớp dân oan vô gia cư ngay trên quê hương mình.Vinh danh thì hô hào “vì nhân dân”, nhưng hành động thực tế lại sẵn sàng hất cẳng nhân dân ra đường để nhường chỗ cho các dự án thương mại béo bở.

Đó không chỉ là sự bất công, mà là sự suy đồi tận cùng về mặt lương tri và nhân tính của một hệ thống cầm quyền. Khi mà những người mẹ, người bà phải dắt díu con cháu ra đường giăng băng rôn kêu oan, đó chính là bức cáo trạng đanh thép nhất, vạch trần bộ mặt thật của cái gọi là “thiên đường xã hội chủ nghĩa” – nơi đất đai là của toàn dân, nhưng quyền lợi thì chỉ thuộc về một nhóm đặc quyền, đặc lợi!