HUNG DỮ -NGƯỜI VIỆT THAY ĐỔI SAU 75- Tác giả Nguyễn Phan Quế Mai

HUNG DỮ- NGƯỜI VIỆT THAY ĐỔI SAU 75-

(Tác giả Nhà Văn Nguyễn Phan Quế Mai)

Khi tôi trả lời một cách đầy kiêu hãnh rằng mình là người Việt Nam, chị im lặng cúi đầu rồi ngẩng lên nhìn thẳng vào mắt tôi, chậm rãi nói, “Xin lỗi bạn, nhưng tôi phải nói thật lòng với bạn rằng người Việt của bạn là những người hung dữ. Người Việt chúng ta là những người hung dữ.

Đấy là tình cảnh một dịp gần đây trong buổi giao lưu giữa những người nước ngoài hiện sống và làm việc tại thành phố Jaatta Indonesia. Tôi gặp một người phụ nữ Mỹ gốc châu Phi trò chuyện vui vẻ với nhau một lúc. Chị hỏi tôi từ đâu đến? Câu nói của người phụ nữ làm tôi choáng váng. Tôi vội hỏi và chị giải thích rằng vừa qua Việt Nam du lịch đến thành phố Hồ Chí Minh khi đang say sưa với cảnh vật và con người, chị đứng bên đường chụp ảnh khu nhà thờ Đức Bà bằng chiếc điện thoại vừa mới mua thì bị kẻ cướp lao đến giật phắt điện thoại rồi vuốt đi bằng xe máy. Vua cướp vật không chỉ để lại cho chị những vết sẹo trên cơ thể do bị kéo té ngã mà còn cú sang chấn về tinh thần. Hiện nay, mỗi khi nhìn thấy hoặc nghe tiếng xe máy, chị lại hoảng hốt. Khi tôi xin lỗi chị và nói rằng chính quyền thành phố Hồ Chí Minh đang làm các bước để cải thiện sự an toàn cho khách du lịch, người phụ nữ ấy lắc đầu và nói cái cần sửa nhất là bản tính tham lam, bon chen và hung hăng của người Việt.

Chị cho biết trong khoảng ba tuần ở Việt Nam, chị đã quan sát thấy cái bản tính ấy trong nhiều hoàn cảnh. Người ta không chịu xếp hàng mà sẵn sàng chen lấn xô đẩy. Người ta bóp kèn in ỏi trên phố để cố nhanh hơn vài giây, vài phút. Khi va quẹt vào nhau trên phố, thay vì nhã nhặn giải quyết vụ việc, người ta sửng cồ, sẵn sàng lao vào nhau.

Người ta sẵn sàng bắt chẹt khách du lịch chỉ vì lợi nhuận trước mắt. Khi trả giá để mua hàng, chị đã bị người bán nói những lời rất khó nghe, thậm chí còn xúc phạm đến nguồn gốc châu Phi của chị. Người phụ nữ thở dài nói rằng chị đã ở Indonesia 5 năm nhưng chưa bao giờ sa vào hoàn cảnh tương tự và so với những gì chị đã trực tiếp trải nghiệm.

Người Indonesia vô cùng hiền lành, tốt bụng, vui vẻ và tử tế. Người Việt có hung dữ không? Câu hỏi ấy đeo lẳng tôi suốt nhiều tháng trời để rồi khi về Việt Nam lần gần đây nhất, tôi đã có câu trả lời. Tại con hẻm nhỏ ở quận Gò Vấp, tôi chạy xe kế bên người mẹ vừa đón con đi học về. Giây phút hội ngộ của hai mẹ con sau một ngày làm việc và học tập vất vả, đáng lẽ là những giây phút hạnh phúc đầy ấp tiếng cười. Nhưng không phải.

Người mẹ vừa chạy xe vừa ra rã rủa xả con mình trong khi cô con gái nhỏ co rúm vì sợ hãi. Người mẹ chửi con vì điểm kiểm tra toán hôm đó không như bà mong đợi. Nhìn nét mặt đau khổ của cô con gái, tôi tự hỏi người phụ nữ đang dạy con những gì? Hay bà đang cố gắng gieo mầm móng của sự hung dữ vào tâm hồn trẻ nhỏ.

Người Việt chúng ta là những người hung dữ. Khi chửi rủa con trẻ, phải chăng người mẹ đang gieo mầm tính xấu cho nó? Tôi tự hỏi có phải vì điều kiện sống quá áp lực, vì hoàn cảnh kinh tế bức bối mà con người ta dễ dàng trúc giận lên nhau. Trong những năm gần đây, tôi sống và làm việc ở hai thành phố lớn với môi trường khá tương tự thành phố Hồ Chí Minh.

Đó là Manila, Philippines và Jakarta, Indonesia. Đây là hai thành phố có tình trạng người thất nghiệp khá cao, an sinh xã hội thấp, nhiều người nghèo và đặc biệt với tình trạng ùng tắc giao thông dễ khiến người ta nổi nóng. Nhưng thật lạ, trong 4 năm sống ở Manila và 1 năm rưỡi sống ởatta, tôi thấy trên đường phố dù kẹt xe đến máy ít ai bóp còi.

Văn hóa xếp hàng ở hai thành phố này cũng vượt trội hơn hẳn các thành phố của Việt Nam. Và đặc biệt là tại các cơ sở kinh doanh. Tôi chưa từng gặp tình trạng bị chèo kéo, hăm dọa và bắt nặt như tôi từng gặp mỗi khi về nước. Người Việt là những người hung dữ. Câu nói đó không hẳn là đúng, nhưng tôi thấy sự hung dữ ngày càng lộng hành và bộc phát không chỉ ngoài đường phố mà còn trong các gia đình.

Bạo hành phụ nữ, trẻ em, người thân trong gia đình giết nhau vì mâu thuẫn hay tranh chấp tài sản. Trong trường học bạo hành học sinh, trên mạng xã hội, người ta có thể thoải mái mặt sắc thóa mạ lẫn nhau, đặc biệt là các vụ giết người vì mâu thuẫn nhỏ ngày càng gia tăng. Tôi đã nghe cha mẹ tôi kể những câu chuyện rất xúc động về sự tử tế của con người trong những năm tháng khi đất nước chúng ta còn chìm trong khói lửa chiến tranh.

Điều đáng buồn là khi chiến tranh lùi xa, sự tử tế cũng đang dần biến mất nhiều nơi. Bộ phim Chuyện tử tế của đạo diễn Trần Văn Thủy sản xuất năm 1985 đã cảnh báo về tình trạng ấy. Giờ đây, sau 34 năm bộ phim vẫn còn nóng hổi tính thời sự. Theo lời bình của bộ phim, tử tế có trong mỗi con người, mỗi nhà, mỗi dòng họ, mỗi dân tộc.

Hãy bền bỉ đánh thức nó, đặt nó lên bàn thờ tổ tiên hay trên lễ đại của quốc gia. Bởi thiếu nó, một cộng đồng dù có những nỗ lực tột bực và chí hướng cao xa đến mấy thì cũng chỉ là những điều vớ vẫn. Vâng, sự tử tế chính là cái gốc cho sự phát triển bình vững của một xã hội. Nếu chúng ta không sớm hành động để đánh thức và khích lệ sự tử tế trong mỗi con người, nền tảng đạo đức xã hội sẽ tiếp tục lung lay, khiến cho những thành tựu phát triển kinh tế của chúng ta trở nên vô nghĩa.

Tác giả Nhà Văn Nguyễn Phan Quế Mai

From: TU-PHUNG

Một thẩm phán liên bang đã tuyên án Jorge Zamora-Quezada 10 năm tù giam.

Jessica Bach

 Trong gần 20 năm, bác sĩ Jorge Zamora-Quezada là một trong những bác sĩ thấp khớp bận rộn nhất ở Nam Texas. Ông sở hữu các phòng khám tại McAllen, Brownsville, Mission và San Antonio. Ông di chuyển giữa các cơ sở bằng một chiếc Maserati GranTurismo và một máy bay riêng, cả hai đều được gắn logo mang chữ viết tắt tên ông: ZQ.

Ông nói với bệnh nhân rằng họ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp (Rheumatoid Arthritis – RA).

Và rồi ông điều trị cho họ.

Ông đã điều trị cho hàng ngàn người.

Trong gần 100.000 bệnh nhân Medicare mà ông khám, có tới 72,9% được chẩn đoán mắc viêm khớp dạng thấp. Trong khi đó, tỷ lệ trung bình của bảy bác sĩ chuyên khoa thấp khớp khác tại Texas chỉ khoảng 13%. Nói cách khác, ông chẩn đoán căn bệnh này với tỷ lệ cao gấp hơn 5 lần các đồng nghiệp cùng ngành.

Nhưng hầu như không ai trong số họ thực sự mắc bệnh.

Thay vào đó, họ phải chịu đựng nhiều năm tiêm các loại thuốc hóa trị, truyền dịch kéo dài hàng giờ, tái khám hàng tháng, chụp MRI, chụp X-quang và vô số phương pháp điều trị khác dành cho một căn bệnh mãn tính không thể chữa khỏi mà họ hoàn toàn không mắc phải.

Những tác dụng phụ vô cùng khủng khiếp.

Các bệnh nhân đã ra làm chứng tại phiên tòa kể về những cơn đột quỵ, tình trạng rụng tóc, tổn thương gan và hoại tử xương hàm — khi phần xương thực sự chết đi và phân hủy. Một bệnh nhân cho biết bà bị nằm liệt giường quá lâu do dùng quá nhiều thuốc đến mức cảm thấy: “Cuộc sống của tôi chẳng còn ý nghĩa gì nữa.”

Ông thậm chí còn điều trị cho những bệnh nhân mới chỉ 13 tuổi.

Bộ Tư pháp Hoa Kỳ ước tính ông đã lập hóa đơn gian lận hơn 325 triệu USD cho Medicare, Medicaid, TRICARE và Blue Cross Blue Shield trong suốt quá trình thực hiện hành vi lừa đảo. Khoảng 118 triệu USD đã được các chương trình bảo hiểm này chi trả.

Các cựu nhân viên khai trước tòa rằng ông áp đặt chỉ tiêu nghiêm ngặt về số lượng thủ thuật phải thực hiện, từng ném một vật chặn giấy vào nhân viên vì không tạo đủ doanh thu từ các dịch vụ điều trị, và cố tình tuyển dụng những người lao động theo diện visa J-1 vì tình trạng nhập cư của họ khiến họ dễ bị kiểm soát hơn.

Ông tự gọi mình là “La Eminencia” — “Bậc Vĩ Nhân”.

Khi các điều tra viên liên bang gửi trát đòi hầu tòa của đại bồi thẩm đoàn, ông bắt đầu yêu cầu siêu âm chính các nhân viên của mình rồi sử dụng những hình ảnh đó để bổ sung vào hồ sơ bệnh án nhằm lấp đầy các khoảng trống mà cuộc kiểm toán có thể phát hiện.

Ngày 21 tháng 5 năm 2025, một thẩm phán liên bang đã tuyên án Jorge Zamora-Quezada 10 năm tù giam. Khi đó ông 68 tuổi.

Ông bị tịch thu chiếc Maserati, máy bay riêng, 13 bất động sản tại Aspen, San Diego, Puerto Vallarta và nhiều khu nghỉ dưỡng khác, cùng 28 triệu USD tiền mặt.

Bộ Tư pháp Hoa Kỳ gọi đây là một trong những vụ việc gây tổn hại cho bệnh nhân nghiêm trọng nhất trong vòng một thập kỷ qua.


 

Nước Mỹ va` khả năng của nền dân chủ trong việc chấp nhận khác biệt

Vy Truong

 Nhìn bức ảnh này, tôi không nghĩ đến đảng phái hay những cuộc tranh cãi chính trị bất tận. Tôi nghĩ đến một thời mà nước Mỹ, dù có bất đồng sâu sắc đến đâu, vẫn cố gắng giữ gìn sự tôn trọng dành cho nhau và cho các thể chế của mình.

Những con người trong bức ảnh này không hoàn hảo. Mỗi người đều có những quyết định gây tranh cãi, những lời hứa chưa thực hiện được, những thành công và cả những sai lầm mà lịch sử sẽ tiếp tục đánh giá. Nhưng họ đại diện cho một điều lớn hơn bản thân mình: truyền thống chuyển giao quyền lực trong hòa bình, sự tôn trọng giữa những người có quan điểm khác biệt, và niềm tin rằng nước Mỹ mạnh nhất khi biết đối thoại thay vì chia rẽ.

Trong suốt nhiều thập kỷ, đất nước này đã trải qua những thời kỳ thịnh vượng và khó khăn, chiến tranh và hòa bình, hy vọng và thất vọng. Nhưng điều giúp nước Mỹ tiếp tục tiến về phía trước không phải là sự hoàn hảo của bất kỳ tổng thống nào, mà là khả năng của nền dân chủ trong việc chấp nhận khác biệt và tìm kiếm tiếng nói chung.

Có những lúc chúng ta thất vọng với lãnh đạo của mình. Có những lúc niềm tin bị thử thách. Nhưng cũng có những khoảnh khắc nhắc nhở rằng phẩm giá, sự tôn trọng và tinh thần phục vụ đất nước vẫn là những giá trị đáng được gìn giữ.

Tôi nhớ một nước Mỹ nơi người ta có thể bất đồng quyết liệt về chính sách nhưng vẫn đối xử với nhau bằng sự lịch thiệp. Một nước Mỹ nơi ngoại giao được xem là sức mạnh chứ không phải sự yếu đuối. Một nước Mỹ nơi việc lắng nghe đôi khi quan trọng không kém việc lên tiếng.

Có thể mỗi người sẽ có một tổng thống yêu thích khác nhau. Có thể chúng ta sẽ không bao giờ đồng ý về mọi vấn đề. Nhưng tôi hy vọng rằng đất nước này sẽ luôn giữ được những giá trị đã giúp nó trở thành hình mẫu cho nhiều nền dân chủ trên thế giới: sự tôn trọng, lòng khoan dung, tinh thần trách nhiệm và niềm tin vào các thể chế dân chủ.

Hy vọng một ngày nào đó, bất kể ai đang ngồi trong Phòng Bầu dục, nước Mỹ sẽ một lần nữa được nhớ đến không chỉ bởi sức mạnh của mình, mà còn bởi sự tử tế, phẩm giá và khả năng đoàn kết trong khác biệt.


 

Khi bạn chết đi.. – Tác giả: Thi Thien

  Chi Nguyen  – Những Câu Chuyện Thú Vị 

 Tác giả : Thi Thien

Đừng lo lắng về thân thể của bạn… người thân của bạn sẽ làm bất cứ điều gì cần thiết tùy theo khả năng của họ. Họ sẽ cởi quần áo của bạn, tắm rửa, mặc quần áo cho bạn, đưa bạn ra khỏi nhà và đưa bạn đến địa chỉ mới.

Nhiều người sẽ đến dự đám tang của bạn để “nói lời tạm biệt”. Một số sẽ hủy bỏ các cam kết và thậm chí bỏ lỡ công việc để đến dự đám tang của bạn.

Đồ đạc của bạn, ngay cả những thứ bạn không muốn cho mượn, sẽ bị bán, cho đi hoặc đốt cháy.

Chìa khóa, dụng cụ, sách, giày, quần áo của bạn… Và hãy yên tâm rằng thế giới sẽ không dừng lại vì bạn. Nền kinh tế sẽ tiếp tục.

Trong công việc của bạn, bạn sẽ bị thay thế. Người có năng lực tương đương hoặc tốt hơn sẽ thay thế vị trí của bạn.

Tài sản của bạn sẽ thuộc về những người thừa kế của bạn…. Và đừng nghi ngờ rằng bạn sẽ tiếp tục bị trích dẫn, phán xét, chất vấn và chỉ trích vì những điều nhỏ nhặt và lớn lao mà bạn đã làm trong cuộc sống.

Những người chỉ biết đến bạn qua vẻ bề ngoài sẽ nói; Đàn ông hay đàn bà tội nghiệp!

Những người bạn chân thành của bạn sẽ khóc trong vài giờ hoặc vài ngày, nhưng sau đó họ sẽ trở lại cuộc sống vui vẻ và cười đùa bình thường.

Những con vật của bạn sẽ được cho đi và sẽ mất thời gian nhưng chúng sẽ quen với người chủ mới.

Những bức ảnh của bạn sẽ được treo trên tường hoặc lưu lại trên một món đồ nội thất trong một thời gian, nhưng sau đó có thể chúng sẽ được cất giữ ở đáy ngăn kéo. Và chúng ta sẽ chỉ sống trong ký ức của những người yêu thương chúng ta.

Người khác sẽ ngồi trên ghế của bạn và ăn tại bàn của bạn.

Nỗi đau sâu sắc trong ngôi nhà của bạn sẽ kéo dài một tuần, hai tuần, một tháng, hai tháng, một năm, hai năm… Rồi bạn sẽ được thêm vào những kỷ niệm và rồi, câu chuyện của bạn kết thúc.

Nó kết thúc ở giữa con người, nó kết thúc ở đây, nó kết thúc ở thế giới này.

Nhưng hãy bắt đầu câu chuyện của bạn trong thực tế mới… trong cuộc sống sau khi chết.

Cuộc sống của bạn, nơi bạn không thể di chuyển với những thứ từ đây bởi vì khi bạn rời đi, chúng đã mất đi giá trị mà chúng có.

Thân hình

Sắc đẹp

Vẻ bề ngoài

Họ

An ủi

Tín dụng

Tình trạng

Chức vụ

tài khoản ngân hàng

Trang chủ

Xe hơi

Nghề nghiệp

Tiêu đề

Bằng cấp

Huy chương

Cúp

Bạn

Địa điểm

Vợ chồng

Gia đình…

Trong cuộc sống mới, bạn sẽ chỉ cần tinh thần của mình. Và giá trị bạn tích lũy được ở đây sẽ là tài sản duy nhất bạn có ở đó.

Vận may đó là thứ duy nhất bạn mang theo bên mình và nó được tích lũy trong suốt thời gian bạn ở đây. Khi bạn sống một cuộc sống yêu thương người khác và hòa bình với hàng xóm, bạn đang tích lũy vận may tinh thần của mình.

Đó là lý do tại sao bạn nên cố gắng sống trọn vẹn và hạnh phúc khi còn ở đây vì :

“TỪ ĐÂY… BẠN SẼ KHÔNG LẤY NHỮNG GÌ BẠN CÓ MÀ CHỈ LẤY NHỮNG GÌ BẠN ĐÃ CHO “…

Tác giả : Thi Thien

———–

Ảnh ST. minh họa 


 

Chấp Nhận Cuộc Đời – Tác giả: Phùng Văn Phụng

Tác giả: Phùng Văn Phụng

Làm sao vui vẻ chấp nhận cuộc đời nếu gặp: 

1-Sự bất như ý: 

Nhìn lại quãng đời đã qua của chúng ta, chắc chắn mỗi người trong chúng ta, đa số đều gặp những hoàn cảnh bất như ý:

* Làm nghề nghiệp mà mình không thích, không phải sở trường. Tốt nghiệp ngành này lại đi làm ngành nghề khác. Riêng tôi tốt nghiệp đại học luật khoa, không làm luật sư mà làm nghề dạy học. Rồi sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, lại đi tù cộng sản. Năm 1983 ở tù về, không được dạy học, phải làm nhiều nghề để sống: dạy kèm tư gia, giặt bao nylon, bán bia và nước ngọt. Qua Mỹ, làm chỗ sang băng nhạc, tiệm grocery, bán bảo hiểm.

* Nhiều người thất nghiệp, mất nhà, mất xe, không có tiền bạc, sống cơ cực, khổ sở.

* Nhiều người gặp gia đình đỗ vỡ, chia ly tan tác ngoài ý muốn, con cái thất học, nheo nhóc.

*Nhiều khi con cái không làm theo ý mình hoặc hư hỏng, không chịu học hành theo băng đảng, hút sách.

Nếu gặp sự bất như ý mà chúng ta không thể giải quyết được vì nó vượt ngoài tầm tay, sự hiểu biết, khả năng của chúng ta thì ta phải làm sao?

Chỉ có cách duy nhất là chịu đựng, không than van, và liên tục cầu nguyện. Cho nên nhà thờ, đoàn thể, các nhóm cầu nguyện rất cần thiết để chúng ta chia sẻ những khó khăn, những lo âu, chán nản mà chúng ta thường gặp trong cuộc sống. Chẳng những cầu nguyện mà còn cần phải ca ngợi Chúa về những hoàn cảnh bất như ý mà ta đã gặp phải. (1)

Đời sống tâm linh rất quan trọng. Chúng ta thường xuyên đến nhà thờ, cầu nguyện với Thiên Chúa toàn năng, chắc chắn khi Chúa đóng cửa này sẽ mở cửa khác cho chúng ta. “Hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ gặp, hãy gỏ thì cửa sẽ mở cho.” (Mt 7, 7-12) 

2- Bịnh hoạn, Tật nguyền 

Nhà Phật có nói: Sinh Lão Bịnh Tử. Ai trong chúng ta cũng phải đi qua con đường này. Không thoát được. 

Bịnh tật là tất yếu phải xảy ra. Khi lớn tuổi, sức khoẻ suy yếu, sinh ra bịnh tật… tiểu đường, cao máu, cao mở, đau nhức… chưa kể có người bị các chứng bịnh nan y như ung thư, đau thận, đau gan, đau phổi, đau tim, mổ tim… Không phải chỉ có những người già cả mới bịnh hoạn, có khi còn trẻ cũng đã vướng nhiều bịnh nan y rồi. Vậy làm sao được bình an khi gặp trường hợp không may xảy ra như bịnh hoạn?

 Rất khó chấp nhận hoàn cảnh đau khổ, bịnh tật. Để được an ủi, để có thể chịu đựng những đau đớn về thể xác và về tinh thần, có thể học hỏi niềm tin, niềm cậy trông của thánh Gióp, niềm tin vào Chúa để chịu đựng khổ sở, khó khăn, chịu nhục hình như các thánh tử đạo Việt Nam. Học tập gương Thánh Giu se, gương Đức Mẹ, nhất là gương Chúa Giê su chịu đựng khổ hình, đau đớn nơi thập giá. Nhờ đó chúng ta có thể chịu đựng được những đau khổ, khó khăn của chính mình. (1) 

3- Đau khổ, cô đơn. 

Sự cô đơn, sống một mình, chịu đựng hoàn cảnh trống vắng, đơn độc.

Đến lúc nào đó, một trong hai vợ chồng phải ra đi sớm. Người còn lại phải chịu đựng sự cô đơn, mất mát vô cùng lớn lao không có gì bù đấp được. Vì gặp cảnh cô đơn chúng ta mới đến với Chúa, chúng ta cần Chúa nhiều hơn nữa. Xem cô đơn là một điều kỳ diệu! 

Làm sao khám phá niềm vui trong đau khổ? 

Trong đau khổ làm sao có niềm vui? Tìm thấy “thú đau thương” chăng?

Thánh Phaolô biểu lộ ước muốn của mình là biết “thông phần những đau khổ của Đức Kitô, nhờ nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người.”

Thánh nhân đã nghe Chúa phán với mình: “Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối.”

“Thầy ở trong Cha, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em.”

Hàng ngày luôn luôn thức tỉnh, học tập, cố gắng thực hành yêu thương và tha thứ. “Yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ đã ngược đãi anh em.” (Mt 5, 44) Nói thì dễ, nhưng làm rất khó. Với sức con người bình thường chúng ta không làm được, nhưng với ơn Chúa chúng ta có thể làm được. 

4- Sự chết:

 Dầu là dân thường hay vua chúa, quan quyền, đến lúc nào đó cũng phải ra đi. Sự chết là tất yếu của đời sống của con người. Ai ai cũng trúng số “độc đắc” một lần, đó là sự chết. Nhưng vẫn có rất nhiều người, nghĩ rằng mình sẽ không bao giờ chết?

 Để cảm nghiệm về cái chết, ta nên thường xuyên đi đọc kinh nhà quàn, tham dự các thánh lễ an táng, tiễn đưa những người bạn bè, người thân quen, đã ra đi, để cảm nghiệm: “rồi chính mình cũng sẽ chết” cũng sẽ nằm im lặng, bất động trong quan tài giống như thế. 

Khi nhắm mắt rồi, cát bụi lại trở về với cát bụi hư vô: 

*Khi đôi mắt nhắm nghiền và đôi tay lạnh ngắt

Quả tim không chuyển nổi máu tươi hồng

Thì danh vọng phải trả về cho sắc sắc

Thì bạc tiền đành hoãn lại chốn không không…

Những ân ái, hận thù và mưu chước

Những thăng trầm vinh nhục cũng luôn trôi. (2) 

 

*Đời sống con nguời mong manh, mỏng dòn:

“Tính tuổi thọ, trong ngoài bảy chục,

Mạnh giỏi chăng là được tám mươi,

Mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khổ,

cuộc đời thấm thoát chúng con đã khuất rồi.” (Thánh Vịnh 90,10) 

 

*“Con đừng sợ án chết.

Hãy nhớ rằng: có những kẻ đã đi trước con,

Và sẽ có những người theo sau.

Đó là điều Đức Chúa quyết định cho hết mọi người phàm

Tại sao cưỡng lại điều Đấng Tối Cao đã muốn?” (Sách huấn ca 41, 3-4)

Đối với người kitô hữu: 

Người chết là người đã vĩnh viễn hoàn tất đời mình. Là người Kitô hữu, chúng ta phải biết đón nhận sự hoàn tất đó với một tâm hồn bình an cao cả, vì mc khải Kitô giáo đã cho biết rằng cái chết như cánh cổng to lớn mở vào thánh điện an vui vĩnh hằng. Như thánh Phaolô đã xác định: vào ngày cuối cùng, cái hư hoại trong ta sẽ trở nên bất hoại, cái khả tử sẽ nên bất tử (x. 1Cor 15, 53)” (LM Thái Nguyên, bài “Suy gẫm về sự chết”, nguồn simonhoadalat.com). 

Đức Giê-su khi biết mình sẽ phải chết, đã nhắc đến cuộc ra đi vượt qua của Ngài để các môn đệ yên tâm và không hoảng sợ trước sự chết. Lòng anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha của Thầy có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em” (Ga 14, 1-2). 

Trong thư Rô-ma, thánh Phao-lô đã khẳng định: “Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Ki-tô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Ngài” (Rm 6, 8).”

Với niềm tin tưởng vào Đức Kitô, niềm an ủi lớn lao là chết không phải là yên nghỉ mà là tiếp tục sống. Vì cái chết chính là ngưỡng cửa đi vào đời sống vĩnh cửu. Với người Ki-tô hữu, “Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời” (Thánh Phanxicô Assisi).

 Quả thật, với một cái nhìn đầy lạc quan và hy vọng, một niềm tin về đời sống vĩnh cửu, có sự sống lại đời sau nên trong giờ phút lâm chung thi sĩ Tagore đã thốt lên: “Bởi yêu cuộc đời nên tôi cũng yêu cả sự chết”. (3)

Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận cũng nói: “Sự chết cũng là một bổn phận cuối cùng mà con làm cách sẵn sàng và đầy yêu mến”. (Sách Đường Hy Vọng và Dẫn Giải)

 Tác giả: Phùng Văn Phụng

Tháng 08 năm 2021 

(1) Sách Quyền Năng của Tâm Hồn biết ca ngợi LM Nguyễn Đức Mầu

(2) Trong bài Cảm Nghĩ tuổi già:

xem thêm: Đời Người Luôn Có: 2 Thứ Không Thể Sợ

(3) Trong bài “Kitô Hữu và Sự Chết” của Aug Trần Cao Khải

Tri’ch sa’ch “CHO TRON DUONG TRAN” – Tác giả: Phùng Văn Phụng

https://keditim.net/wp-content/uploads/2026/05/CHO-TRON-DUONG-TRAN-cuon-2-313-trang.pdf


 

KHÔNG THỂ XÂY MỘT ĐẠI LỘ 730.000 TỶ ĐỒNG TRÊN SỰ ĐỨT GÃY SINH KẾ CỦA HƠN 200.000 NGƯỜI DÂN

Chân Trời Mới Media

 KHÔNG THỂ XÂY MỘT ĐẠI LỘ 730.000 TỶ ĐỒNG TRÊN SỰ ĐỨT GÃY SINH KẾ CỦA HƠN 200.000 NGƯỜI DÂN

Đại lộ sông Hồng với tổng vốn đầu tư khoảng 730.000 tỷ đồng được kỳ vọng sẽ thay đổi diện mạo Hà Nội. Nhưng phía sau những bản quy hoạch hiện đại và những phối cảnh hào nhoáng là một câu hỏi không thể né tránh: hơn 200.000 người dân ven sông Hồng sẽ sống bằng gì sau khi rời khỏi nơi ở và sinh kế đã gắn bó nhiều thế hệ?

Đối với người dân ở các quận, huyện ven sông như Tây Hồ, Long Biên, Bắc Từ Liêm, Đông Anh hay Gia Lâm, đất đai không chỉ là tài sản. Đó là cửa hàng, xưởng sản xuất, ruộng vườn, nghề truyền thống, mạng lưới quan hệ cộng đồng và nguồn thu nhập nuôi sống cả gia đình. Một căn hộ tái định cư có thể thay thế mái nhà, nhưng không thể tự động thay thế công việc, khách hàng hay môi trường mưu sinh đã được tích lũy qua hàng chục năm.

Lịch sử của nhiều dự án giải phóng mặt bằng cho thấy không ít người dân nhận tiền đền bù nhưng sau đó rơi vào cảnh thất nghiệp, thu nhập giảm sút và đời sống bấp bênh. Nếu điều tương tự xảy ra với hàng trăm nghìn người trong dự án sông Hồng, cái giá xã hội phải trả sẽ lớn hơn rất nhiều những con số trên bản dự toán.

Bởi vậy, thước đo thành công của đại lộ sông Hồng không phải là chiều rộng của con đường hay giá trị bất động sản tăng lên bao nhiêu, mà là sau khi di dời, người dân có sống tốt hơn, có việc làm ổn định hơn và có tương lai tốt hơn hay không. Quy hoạch chỉ thực sự là phát triển khi không ai bị bỏ lại phía sau.

#SongHong #SinhKeNguoiDan #PhatTrienBenVung #Chantroimoi


 

 TƯỞNG NHỚ GIÁO SƯ RICHARD SCOLYER: SỰ HY SINH VĨ ĐẠI CỦA “BỆNH NHÂN SỐ 0”

Ngân LộcSắc Màu Cuộc Sống  

 TƯỞNG NHỚ GIÁO SƯ RICHARD SCOLYER: SỰ HY SINH VĨ ĐẠI CỦA “BỆNH NHÂN SỐ 0”

Cả nhà ơi, hôm nay Vân muốn chia sẻ một câu chuyện y học, khiến cho bất cứ ai biết về chuyện của Ông..cũng phải nghẹn ngào! Đó là hành trình của Giáo sư Richard Scolyer – chuyên gia ung thư hàng đầu thế giới. Có những con người vĩ đại đến mức, ngay cả khi đứng trước bờ vực của cái chết, họ vẫn chọn cách cống hiến trọn vẹn cho sự sống của nhân loại. Hôm nay, giới y khoa toàn cầu nghiêng mình từ biệt một huyền thoại như thế – Giáo Sư Richard Scolyer nhà nghiên cứu ung thư lỗi lạc toàn cầu, người từng được vinh danh là “Người Australia của năm 2024”. Ông qua đời ở tuổi 59 vào ngày 07/06/2026

Bản án tử hình ở đỉnh cao sự nghiệp. Giáo Sư Richard Scolyer từng là một trong những khối óc lỗi lạc nhất thế giới về bệnh lý học ung thư hắc tố da. Cùng với các cộng sự tại Viện Melanoma (Úc), Ông đã cứu sống hàng ngàn người. Nhưng nghịch cảnh ập đến tàn nhẫn khi vào tháng 5/2023, Ông được chẩn đoán mắc Glioblastoma – căn bệnh ung thư não ác tính và tàn khốc bậc nhất, với tiên lượng sống vô cùng ảm đạm.

“KHI ĐỐI MẶT VỚI CÁI CHẾT, ÔNG CHỌN CÁCH ĐỂ LẠI SỰ SỐNG CHO NHÂN LOẠI “

Quyết định lịch sử: “Bệnh nhân số 0”

Thay vì chọn phác đồ điều trị tiêu chuẩn để kéo dài chuỗi ngày an toàn ngắn ngủi, Giáo sư Scolyer đã đưa ra một quyết định chấn động. Cùng với người đồng nghiệp thân thiết là Giáo sư Georgina Long, Ông quyết định biến chính cơ thể mình thành một “phòng thí nghiệm sống”.

Ông tự nguyện trở thành “Bệnh nhân số 0”, áp dụng phương pháp liệu pháp miễn dịch chưa từng có tiền lệ – vốn được dùng cho ung thư da – trực tiếp lên khối u não của mình ngay trước khi lên bàn mổ. Đây là một ván cược khổng lồ với sinh mạng, nơi Ông chấp nhận đối mặt với những rủi ro và tác dụng phụ chưa từng được ghi nhận.

DI SẢN BẤT TỬ ĐỂ LẠI CHO ĐỜI

Giáo Sư hiểu rằng, phương pháp này có thể không cứu được Ông, nhưng Ông muốn để lại một “tấm bản đồ” cho thế hệ sau. Nhờ sự hy sinh quả cảm đó, khối dữ liệu vô giá từ quá trình điều trị của Ông đã giúp các nhà khoa học, giải mã được cách hệ miễn dịch chống lại ung thư não. Chuyến đi của Ông đã mở ra cánh cửa hy vọng rực rỡ, đưa chúng ta tiến một bước dài, tới ngày chữa dứt điểm căn bệnh quái ác này.

Cuộc đời cống hiến vĩ đại thay đổi số phận hàng triệu người

Trước khi qua đời, GS Richard Scolyer đã kịp để lại cho nền y học thế giới những di sản khổng lồ:

Hơn 1.000 công trình nghiên cứu: Ông là một trong những chuyên gia giải phẫu bệnh u.t hắc tố có ảnh hưởng nhất hành tinh, sở hữu ngân hàng sinh học u.t hắc tố lớn nhất thế giới.

Đảo ngược tỷ lệ t.ử v.o.n.g: Nhờ các nghiên cứu của ông và cộng sự, tỷ lệ sống sót sau 5 năm của bệnh nhân u.t hắc tố di căn đã tăng ngoạn mục từ dưới 5% lên tới 55%, mở ra cơ hội sống cho hàng triệu người.

Di sản bất tử ở lại với nhân loại

Điều khiến vị Giáo sư hạnh phúc nhất trong những tháng ngày cuối đời là được nhìn thấy liệu pháp thử nghiệm trên chính cơ thể mình đã chính thức được đưa vào thử nghiệm lâm sàng vào tháng 2/2026 để điều trị cho các bệnh nhân khác.

Ông đã ra đi, nhưng ngọn lửa hy vọng mà Ông thắp lên bằng chính sinh mạng mình sẽ còn cháy mãi. “Xin Tri Ân Và Cúi Đầu Trước Một Nhân Cách Lớn, Một Trái Tim Cống Hiến Đến Nhịp Đập Cuối Cùng!

Cả nhà cùng dành một phút để đọc và cảm nhận về câu chuyện phi thường này nhé

Nguồn ST tồng hợp

Screenshot

 

Kiwxi – Người đàn ông đã cứu cả một dân tộc khỏi biến mất

My Lan Pham

Kiwxi – Người đàn ông đã cứu cả một dân tộc khỏi biến mất

Khi Vicente Cañas lần đầu tiên tìm thấy họ, chỉ còn 97 người.

Một dân tộc hoàn chỉnh. Một quốc gia với ngôn ngữ riêng, những bài hát riêng và các vị thần riêng của mình. Chỉ còn lại 97 con người.

Họ gần như đã biến mất mãi mãi.

Rừng mưa Amazon, Brazil, năm 1974.

Vicente nhìn những con người ấy và quyết định dành phần đời còn lại để bảo đảm họ được sống sót.

Đây là câu chuyện về ông.

Vicente Cañas sinh năm 1939 tại Tây Ban Nha. Ông gia nhập Dòng Tên (Jesuit), không phải với tư cách linh mục mà là một tu huynh ,một người hiến dâng cuộc đời mình cho Thiên Chúa qua sự phục vụ.

Năm 1966, ông được cử đến Brazil làm nhà truyền giáo.

Tại đó, ông chứng kiến một điều khiến trái tim mình tan vỡ.

Các dân tộc bản địa Amazon đang chết dần. Họ bị quét sạch bởi những căn bệnh do người ngoài mang đến. Họ bị đẩy khỏi đất đai bởi các chủ trang trại và những người khai thác gỗ. Cả những bộ tộc biến mất khỏi mặt đất.

Vicente nhìn thấy điều đó và từ chối đứng ngoài cuộc.

Sâu trong rừng có một dân tộc mang tên Enawenê-Nawê. Trong phần lớn lịch sử của họ, chưa từng có người ngoài nào tiếp xúc được với họ. Họ thuộc nhóm mà thế giới gọi là “bộ tộc chưa tiếp xúc”.

Đến khi thế giới bên ngoài tiến đủ gần để thống kê dân số của họ, chỉ còn 97 người sống sót.

Năm 1974, Vicente đã tiếp xúc hòa bình với họ.

Và rồi ông làm một điều mà rất ít người làm được.

Ông không nghiên cứu họ rồi rời đi.

Ông không ghé thăm rồi trở về nhà.

Ông chuyển đến sống cùng họ.

Vicente sống với người Enawenê-Nawê hơn mười năm.

Ông học ngôn ngữ của họ. Học phong tục của họ. Chấp nhận lối sống của họ. Từ bỏ đất nước, nền văn hóa, sự tiện nghi và thậm chí cả tên gọi của chính mình.

Đối với người Enawenê-Nawê, ông trở thành Kiwxi.

Một người trong số họ.

Một người anh em.

Dần dần, ông kéo họ trở lại từ bờ vực diệt vong.

Ông mang đến sự chăm sóc y tế cho một cộng đồng hoàn toàn không có khả năng chống lại những căn bệnh từ thế giới bên ngoài. Ông chiến đấu với những dịch bệnh đang giết chết họ.

Và cái chết bắt đầu dừng lại.

Dân số của họ từ 97 người bắt đầu tăng lên.

100 người.

200 người.

Rồi hơn 400 người.

Một dân tộc từng đứng bên bờ biến mất khỏi thế giới đang hồi sinh.

Tất cả bắt đầu từ một người đàn ông quyết định sống cùng họ.

Có một chi tiết về Vicente cho thấy ông là người như thế nào.

Ông hiểu rằng chính mình cũng có thể là mối nguy hiểm đối với họ.

Ông thường xuyên đi lại giữa thế giới bên ngoài và bộ tộc, trong khi thế giới bên ngoài đầy rẫy những căn bệnh mà cơ thể họ chưa từng học cách chống lại.

Vì vậy, ông dựng một túp lều nhỏ bên bờ sông, cách xa ngôi làng nhiều cây số.

Mỗi khi trở về từ bên ngoài, ông sẽ sống một mình trong túp lều đó.

Tự cách ly.

Cho đến khi chắc chắn mình không mang theo bất kỳ mầm bệnh nào có thể gây hại cho họ.

Ông chấp nhận cô độc vì tình yêu thương.

Ông thà sống một mình giữa rừng còn hơn vô tình mang cái chết đến cho những con người mà ông đã dốc lòng bảo vệ.

Nhưng Vicente còn hiểu một điều sâu sắc hơn.

Thuốc men có thể cứu họ khỏi bệnh tật.

Nhưng chỉ có đất đai mới cứu họ về lâu dài.

Người Enawenê-Nawê cần lãnh thổ của mình. Nếu mất đất, họ sẽ bị phân tán và hủy diệt, dù có khỏe mạnh đến đâu.

Đất đai chính là sự sống của họ.

Vì thế, Vicente đứng lên đấu tranh cho quyền sở hữu lãnh thổ của họ. Ông làm việc không mệt mỏi suốt nhiều năm để bảo vệ vùng đất ấy.

Và chính điều đó đã khiến ông bị sát hại.

Bởi vì có những người khác cũng muốn vùng đất đó.

Những chủ trang trại chăn nuôi.

Những người khai thác gỗ.

Những kẻ đốt phá Amazon để trồng đậu nành và mở rộng đồng cỏ.

Đối với họ, khu rừng là tiền bạc.

Còn bộ tộc cùng người truyền giáo đang bảo vệ họ là vật cản.

Chừng nào Kiwxi còn sống, họ sẽ không thể chiếm được vùng đất ấy.

Vì vậy, họ quyết định loại bỏ ông.

Vicente liên tục nhận được những lời đe dọa giết chết.

Ông vẫn tiếp tục công việc của mình.

Tháng 4 năm 1987, ông gửi một thông điệp vô tuyến cho các đồng nghiệp, báo rằng mình đang rời túp lều để đến làng Enawenê-Nawê.

Ông không bao giờ tới nơi.

Những kẻ sát nhân đã tìm đến túp lều bên sông và đâm ông đến chết.

Rồi bỏ mặc thi thể ông giữa khu rừng mà ông đã hiến dâng cả cuộc đời mình để bảo vệ.

Suốt 40 ngày, không ai biết chuyện gì đã xảy ra.

Khi các đồng nghiệp tìm kiếm, họ phát hiện chiếc thuyền của ông bên bờ sông, chất đầy đồ đạc như thể chuẩn bị cho một chuyến đi nhưng đã chìm một nửa xuống nước.

Trong khoảng sân trước túp lều, họ tìm thấy thi thể của Vicente.

Không bị thú rừng xâm hại.

Được bảo quản bởi không khí khô.

Gần như đã trở thành xác ướp.

Ông qua đời ở tuổi 47.

Nhưng bi kịch chưa dừng lại ở đó.

Trong số những kẻ đứng sau vụ sát hại có cả cảnh sát trưởng địa phương.

Cuộc điều tra bị bóp méo bởi tham nhũng.

Trong nhiều năm, không ai phải chịu trách nhiệm.

Phải mất 38 năm, công lý mới được thực thi.

Kẻ chủ mưu cuối cùng cũng bị kết án khi hắn đã già yếu và bệnh tật.

Và còn một chi tiết cuối cùng khiến người ta nghẹn lòng.

Khi vụ án được đưa ra xét xử, chính người Enawenê-Nawê không thể ra tòa kể về Vicente.

Văn hóa của họ cấm nhắc đến tên người đã khuất.

Vì vậy, một dân tộc láng giềng đã đứng ra thay họ làm chứng.

Họ kể lại câu chuyện của người đàn ông đã cứu cả một dân tộc khỏi biến mất.

Vicente Cañas đã từ bỏ quê hương.

Từ bỏ ngôn ngữ.

Từ bỏ tên gọi.

Từ bỏ sự an toàn.

Và cuối cùng là từ bỏ cả mạng sống của mình.

Ông làm điều đó vì 97 con người xa lạ trong một khu rừng sâu, những người đang đứng bên bờ tuyệt chủng.

Những kẻ giết ông muốn dân tộc ấy biến mất.

Nhưng dân tộc ấy vẫn còn tồn tại.

#VicenteCanas #Kiwxi #Amazon #EnaweneNawe #LichSu #NhanVatLichSu #BaoVeRung #MyLanPham #VanHoaBanDia #CauChuyenCoThat 


 

Phía sau chuyện nhảy cầu của vị giám đốc đại lý VinFast ở Hải Phòng

Nguoi-Viet

 Phía sau chuyện nhảy cầu của vị giám đốc đại lý VinFast ở Hải Phòng

Mấy ngày qua, cõi mạng trong nước lẫn hải ngoại râm ran, xầm xì vụ ông giám đốc một đại lý xe ôtô VinFast lớn ở Hải Phòng thả mình xuống sông Cấm từ cầu Bến Bính. Chuyện một người đang ở đỉnh cao danh vọng, tiền tài, nắm trong tay cơ sở kinh doanh hoành tráng mà bỗng chốc chọn cách buông xuôi, ném mình vào dòng nước lạnh, hỏi sao thiên hạ không giật mình cho được.

Báo chí trong nước khi đưa tin về vụ việc xảy ra hôm 8 Tháng Sáu, ban đầu còn ngập ngừng, né né chữ “VinFast”, chỉ dám gọi chung chung là “giám đốc đại lý xe ôtô”. Nhưng rồi người ta cũng tìm ra danh tính, tìm ra những dòng trạng thái đầy u uẩn, bế tắc của người đàn ông xấu số trước giờ phút định mệnh.

Nhìn từ góc độ thế sự, cái chết của vị giám đốc này không đơn thuần là câu chuyện quẫn trí cá nhân. Nó là một lát cắt, một tiếng chuông cảnh tỉnh đầy chát chúa về cái gọi là “áp lực cộng sinh” trong hệ sinh thái kinh doanh hiện đại tại Việt Nam.

Nhiều doanh nghiệp khi bắt tay với các tập đoàn lớn, cứ ngỡ mình đang vịn vào một chiếc phao cứu sinh khổng lồ để ra khơi lớn. Nhưng họ quên mất rằng, khi chiếc phao đó lao đi với tốc độ chóng mặt để đạt những tham vọng toàn cầu, những mắt xích nhỏ hơn ở bên dưới phải gồng mình chịu một lực kéo khủng khiếp. Khi dòng vốn ngưng trệ, sức mua xã hội sụt giảm, mà các điều khoản hợp đồng và chỉ tiêu doanh số vẫn lạnh lùng ép xuống, chiếc phao cứu sinh ấy lập tức biến thành hòn đá tảng, kéo ghì người ta xuống đáy sâu bế tắc.

Cái chết ở bến Bính để lại nỗi đau thắt lòng cho gia đình, và một khoảng lặng đáng sợ cho những ai đang lao vào vòng xoáy kinh doanh bất chấp sức chịu đựng của bản thân. Suy cho cùng, danh vọng, tiền tài hay cái danh hiệu “đại lý xuất sắc” cũng chẳng thể linh thiêng bằng mạng sống của một con người. Giấc mơ bay cao, bay xa của thương hiệu thì đẹp thật đó, nhưng nếu cái giá phải trả là sự kiệt quệ và những bi kịch nhảy cầu thế này, thì liệu có đáng hay không?

Sau cái chết thương tâm của vị giám đốc đại lý, theo quý vị, liệu các tập đoàn lớn có nên xem xét lại chính sách ép doanh số để chia sẻ bớt gánh nặng và áp lực sinh tử với các đối tác nhỏ hơn trong giai đoạn kinh tế khó khăn này?

Bấm vào link ở comment đầu tiên để đọc toàn văn bản tin chi tiết về vụ việc trên báo Người Việt. 


 

Vượt biên , vượt biển , vượt dòng ! – Truyen ngan. Xuân Hương

Nguyen Thi Chau

Vượt biên , vượt biển , vượt dòng !

Cô bạn làm chủ ghe , cho tui đi vượt biên theo , chỉ với 1/2 giá. Ngồi chung cyclo với cổ ra bến xe Chợ lớn xuống Mỹ Tho ..tui hỏi “ Ê mầy , lỡ bị bắt tao phải khai làm sao ? “ Chèn ơi , cổ véo tui một cái đau điếng rồi mắng “Mầy thiệt vô diên, miệng ăn mắm ăn muối nói chuyện xui rủi“ .

Mà xui thiệt. Ghe lớn ra cửa Vàm Láng không bao xa , thì bị túm gọn . Vô trại tạm giam , ông cán bộ răng dzàng đập bàn xong , rồi hậm hức chỉ tay vào tui ( đang ngồi sắp lớp hàng đầu ) hỏi “ai là chủ ghe ?” Theo phản xạ ..ba trợn , tự dưng tui đứng phắt dậy mắt dáo dát tìm nhỏ bạn .

May ..mà định thần kịp, ngồi xuống liền. Ông răng dzàng túm áo tui, hầm hè hỏi lần nữa “ ai là chủ ghe ? “ Chợt thấy tên du kích áo đen hồi nãy lăng xăng nạt nộ những người bị bắt , tui chỉ đại vào hắn . Cả đám người ngồi đó cười rần . Tui ăn một bạt tay trời giáng , bể mịa một cái tròng kính cận ( May ..không bị rớt ..răng ).

Nhưng vàng , nhân sâm đeo trong mình bị lột sạch . Chỉ ký tên vô sổ ngang cái dòng : Trại có giữ 5 miếng kim loại màu vàng , thôi!

Chuyển trại giam lớn Mỹ Tho. Người nhà tui chạy tiền liền -để tui về cho kịp -sợ bị mất chỗ làm việc . Cán bộ đọc tên từng người trao giấy thả tù . ổng đọc đi đọc lại Nguyễn Thị Hương , tui cứ ngồi im lặng ..xa vắng mãi . Bị tên công an trong phe cánh đá nhẹ một cái nói “ Bà đó bà ! “ Tui đứng lên nhận giấy còn càm ràm“ Tên tui sao thiếu chữ xuân “ Ông cán bộ trao giấy nói nhỏ “ Vậy chứ hồi bị bắt , má khai tên gì vậy má ?

“ Thế là tui nhớ trực vụ khai tên , năm sanh- địa chỉ công việc …xạo sự của mình liền. Hú vía , may mà được tha .

Ra khỏi trại 2 giờ trưa , áo quần rách bươm -cặp mắt kính lọt mất một tròng – dép cũng mất luôn. Quan trọng nhất là trại giam lờ tít chuyện trả lại cho tui 5 miếng kim loại màu vàng- vậy  tui còn gì để bán mà kiếm tiền về xe đây, chẳng lẽ lội bộ từ Mỹ Thơ dìa Sài Gòn sao ? Tui đọc kinh khấn hết Chúa đến Đức Mẹ cứu giúp ..lội bộ một đoạn đường xa , mà chân bỏng rát .

Cuối cùng tui bấm gan vẫy đại một chiếc xe ôm , chìa giấy thả tù , tui nói “Cháu vượt biên được thả , giờ không tiền , nhưng nhà cháu ở Sài Gòn thì có tiền trả. Chú giúp dùm cháu phương tiện đi về nhà được không. Cháu thiệt đội ơn chú “ Ông xe ôm trông hơi đứng tuổi -người khắc khổ mặt nám đen còn đeo mắt kính đen thiệt ngầu, nhưng giọng thì hiền khô hỏi “ Vậy cháu có dám ngồi xe ôm, dang nắng về Sài Gòn không ?”

Nghỉ sao mà con nhỏ chột mắt kiếng, quần áo rách bươm không dép như tui lúc đó, lại có thể giở giọng tiểu thư ngại nắng ăn lắc đầu ..được.

Tui trèo lên xe liền, không thèm hỏi giá , nói xong địa chỉ là ôm cái eo ổng …ngủ gục miết . ( Bị trại giam chật chỗ ngủ ngồi) tui lại bị nhét ngồi gần cầu tiêu .. Mùi nồng nặc xông lên ..mắt trợn trừng đau khổ, ngủ gì nỗi mấy đêm nay , hở trời ?

Xe chạy gần qua Chợ Bến Thành , ổng mới kêu lớn cho tui thức dậy để hỏi kỹ đường về quận 4 nhà tui . Chắc ổng nghe bụng tui kêu rột rột hay sao đó …mà nói “ Chắc cháu đói bụng dữ rồi phải không , chú cũng chưa ăn gì . Thôi chú chở cháu ăn bậy tô mì dằn bụng , rồi chở cháu về “ Chèn ơi , buồn ngủ mà gặp chiếu manh , tui gật đầu liền ..Coi như gần cả tuần nay từ chỗ ém quân chờ ra cá lớn -đến khi bị bắt nhốt -tui chưa được ăn đúng nghĩa bao giờ .

Tui ăn hỗn hào , ào ào một lúc hai tô mì và ly trà đá bự tổ chảng .

Trong khi chú xe ôm chạy cực khổ đường trường , ăn nhỏ nhẹ có một tô mì và ly cafe đen nhỏ xíu thôi. Trời xế chiều nhưng còn sáng . Tui ngần ngại nói chú ấy có thể chờ sụp tối một chút rồi chở tui về nhà , vì tui ngại hàng xóm và công an khu vực thấy quần áo và bộ dạng của tui như vầy, sẽ biết tình cảnh vượt biên của tui liền. Như vậy dễ di hại cho tui về sau.

Chú Hiền ( Tui biết tên chú sau đó ) cũng gật đầu chịu . Hai chú cháu ngồi quán cốc lề đường , uống trà đá chuyện trò rôm rã . Chú nói chú mới ra trại cải tạo , nhà ở Sài Gòn. Nhưng không nhập được hộ khẩu ở Sài Gòn , bị chỉ định về quê . Để sinh sống , chú chạy xe ôm. Hôm nay nhân dịp chở tui về Sài Gòn , chú sẽ ghé qua nhà thăm ba má chú luôn . Chú nói ngó bộ dạng của tui , là chú tin tưởng con nhà đàng hoàng , sa cơ bị bắt vượt biên. Nên chở tui đường xa , không ngại bị lường gạt quịt tiền .

Sụp tối tui về được đến nhà , cả nhà mừng húm. Trả tiền công chú Hiền hậu hỉ và còn ghi lại địa chỉ nhà chú ở Sài Gòn để liên lạc thăm viếng sau nầy .Chị tui nói , chạy cho tui dzìa mất một cây vàng , nhưng họ nói đến ngày mai mới thả . Đâu dè họ thả sớm một ngày như vậy ?

Sáng mai tỉnh táo dọn bộ vó đi làm . Vô sở , mọi người trợn trừng mắt ngạc nhiên, coi như tui vắng mặt không xin phép đã 3 ngày , trừ đi hai ngày lễ 30 / 4 và 1/5 cùng ngày Chúa nhật . Hú vía , gần cả tuần chứ đâu phải chơi . Tui bèn đi một đường kể khổ ..bị té bong gân sưng chân nằm một chỗ . Bố tui già cả không biết sở tui ở đâu để xin phép.

Nhưng ngó cái mặt ăn nắng đen thui của tui , là họ thừa biết tui nói láo liền. Có lẽ Chúa thương phù hộ cho công trình tui đang quản lý tới lúc nghiệm thu ..Vắng tui , ai lên giá thành thanh quyết toán. Tui ở lại làm nốt công việc , với cái án treo lơ lững . Họ chờ dịp trừng phạt tui. Tui thì chờ kỳ vượt biên mới, nhất định là mình phải vượt thoát khỏi Việt Nam.

…. Cô bạn tui , nhà cổ cũng lo chạy chọt , nên cổ ra tù sau tui vài ngày .Năm sau cũng vào dịp 30/4, mùa gió êm . Nhà cổ tổ chức thêm một chuyến vượt biên mới , nhưng cổ không rủ tui đi tiếp . Chắc cổ nghỉ tui là con nhỏ ba trợn tào lao ăn nói vô duyên khiến cổ dễ bị xui xẻo chắc ? Nhưng ghe của cổ ra cửa lớn , chỉ chung chi công an bến bãi , mà qua mặt không chung công an biên phòng . Họ rượt theo bắn chìm ghe cổ , chết tan tác mấy chục nhân mạng luôn . Mạng tui lớn hay nhỏ xíu , khi không theo chuyến vượt biên đó ? Còn cô bạn tui, cổ không hên mà xui xẻo mất mạng .

Mấy chục năm trôi qua , mà tui vẫn nhớ hoài cái véo tay đau điếng của cô ấy. Nghỉ đến rồi thương cổ , và thương cho những người Việt Nam đã bỏ mạng trên biển đông ..khi bỏ phiếu đi tìm tự do bằng đôi chân của mình .

Xuân Hương 


 

TÂM THƯ CUỐI CÙNG CỦA STEVE JOBS

Công Giáo Rôma – Patrick Lew Hayashi – PLB

TÂM THƯ CUỐI CÙNG CỦA STEVE JOBS

***

(Trong mắt người khác, cuộc đời tôi là một biểu tượng của thành công….

Nhưng ngoài công việc, tôi có rất ít niềm vui...

Giờ đây, nằm trên giường bệnh, nhớ lại cả cuộc đời mình, tôi nhận ra rằng những lời khen ngợi và tài sản mà tôi từng rất tự hào, đã trở nên vô nghĩa trước cái chết đang cận kề)

***

Trên mạng xã hội, rất nhiều người đang chia sẻ cái tên của Ông Steve Jobs. Ông là cha đẻ của Apple đã qua đời vào năm 2011 vì căn bệnh ung thư tuyến tụy khi ông 56 tuổi, Ông đã viết 1 bức Tâm Thư cuối cùng. Nội dung Tâm Thư khiến rất nhiều người suy ngẫm: Không khoe tài sản, không khoe thành công, mà ông chỉ nói về tài sản mà ông cho là quý giá nhất đời người.

“Tôi đạt đến đỉnh cao của sự thành công trong thế giới kinh doanh. Trong mắt của người khác, cuộc sống của tôi là một mẫu mực của sự thành công.

Tuy nhiên, ngoài công việc, tôi có rất ít niềm vui. Tại thời điểm này, nằm trên giường bệnh và nhớ lại toàn bộ cuộc sống của tôi, tôi nhận ra rằng tất cả các công nhận và sự giàu có mà tôi từng tự hào, đã trở nên vô nghĩa khi đối mặt với cái chết sắp xảy ra

Bạn có thể thuê ai đó làm người lái xe cho bạn, kiếm tiền cho bạn, nhưng bạn không thể có một người nào đó phải chịu bệnh tật cho bạn. Vật chất bị mất có thể được tìm thấy. Nhưng có một điều mà không bao giờ có thể được tìm thấy khi nó bị mất – CUỘC ĐỜI BẠN.

Khi chúng ta già đi, chúng ta sẽ nhận ra:

– Một chiếc đồng hồ 300 USD hay 30 USD thì suy cho cùng, cũng chỉ cùng một thời gian.

– Một chiếc xe 150.000 USD hay 30.000 USD thì suy cho cùng, con đường và đích đến đều giống nhau.

– Một ngôi nhà 300m² hay 3.000m² thì suy cho cùng, nỗi cô đơn vẫn cứ tồn tại.

Hạnh phúc thực sự không đến từ vật chất

Vì vậy, tôi hi vọng bạn nhận ra khi nào bạn còn có bạn bè, người thân bên cạnh để cùng trò chuyện, nói cười, vui vẻ đàn hát với nhau, tám đủ thứ trên trời dưới biển… thì lúc ấy là lúc hạnh phúc thực sự.

 Sự thật bắt buộc phải chấp nhận trong cuộc sống:

– Đừng giáo dục con trẻ phải trở nên giàu có trong tương lai. Hãy dạy chúng cách để luôn hạnh phúc. Như vậy, khi lớn lên, chúng sẽ biết được giá trị thật của từng thứ không phải dựa trên mệnh giá đồng tiền.

– Đừng nhịn ăn. Hãy ăn như thể đó là thứ thuốc quý giá nhất dành cho cơ thể bạn. Nếu không, bạn sẽ thật sự phải “ăn” thuốc như ăn thức ăn vậy.

– Người thực sự yêu thương bạn sẽ không bao giờ bỏ rơi bạn dù ở bất kì hoàn cảnh nào hay dù bạn có nói 100 lý do để họ từ bỏ bạn đến thế nào đi chăng nữa.

Khác biệt giữa con người và làm người là rất lớn. Nhưng không phải ai cũng hiểu được.

– Khi bạn sinh ra, chắc chắn bạn nhận được tình yêu thương. Khi bạn chết đi, có thể bạn sẽ nhận được tình yêu thương. Giữa khoảng thời gian đó, bạn phải biết cách xoay sở làm sao để biết cách sống.

Bác sĩ tốt nhất trên thế giới:

– Ánh nắng

– Nghỉ ngơi

– Tập thể dục

– Chế độ ăn

– Tự tin

– Bạn bè

Hãy ghi nhớ những điều này thật kĩ để có một cuộc sống tốt hơn.

Cầu mong những điều tốt đẹp nhất đến với bạn”.


 

Muốn có “Steve Jobs Việt Nam”, hãy cho người Việt có được quyền suy nghĩ khác biệt

Ba’o Tieng Dan

12/06/2026

Trung Ngôn

Đề thi Ngữ văn tốt nghiệp THPT năm 2026 đặt ra câu hỏi: “Làm thế nào để có những Steve Jobs Việt Nam?” Đây là một đề tài hấp dẫn vì nó gợi mở khát vọng đổi mới, sáng tạo và phát triển đất nước. Nhưng nếu nghĩ kỹ hơn, chúng ta sẽ thấy câu hỏi này cũng chứa đựng một giả định khá phổ biến, rằng chỉ cần giáo dục tốt hơn, học sinh cố gắng hơn, thanh niên khởi nghiệp nhiều hơn thì Việt Nam sẽ có những Steve Jobs của riêng mình.

Nhưng vấn đề là câu chuyện không đơn giản như vậy. Rõ ràng, Steve Jobs không phải là một sản phẩm của ý chí cá nhân đơn thuần mà ông là sản phẩm của cả một hệ tư tưởng chính trị, kinh tế, văn hóa và học thuật đặc biệt mà nước Mỹ đã xây dựng suốt cả trăm năm qua.

Nhiều người thường được nghe kể rằng, Steve Jobs bỏ học đại học, khởi nghiệp từ garage xe hơi và trở thành tỷ phú. Nhưng điều họ ít nhắc đến là ông được sống trong một môi trường mà việc đặt câu hỏi, thách thức những điều cũ kỹ và đi ngược đám đông… không bị xem là một hành vi nguy hiểm.

Ở Mỹ, một sinh viên có thể công khai phản bác các giáo sư của mình. Một nhà nghiên cứu có thể đưa ra giả thuyết trái ngược với quan điểm phổ biến. Một doanh nhân có thể thất bại vài lần rồi tiếp tục kêu gọi vốn cho dự án tiếp theo. Một nhà báo có thể chỉ trích tổng thống mà không sợ bị xử lý vì “đi ngược định hướng”.

Những điều đó nghe có vẻ bình thường với người Mỹ, nhưng chính những điều bình thường ấy lại là nền tảng của sự sáng tạo. Sự sáng tạo không xuất hiện từ sự nghe lời tuyệt đối, mà nó bắt đầu từ quyền được nghi ngờ.

Muốn phát minh cái mới, trước hết phải có quyền nói rằng cái cũ chưa chắc đã đúng. Đó là điểm khác biệt rất lớn giữa môi trường học thuật ở Mỹ và môi trường học thuật ở Việt Nam.

Ở Mỹ, các trường đại học được trao mức độ tự chủ rất lớn. Các giáo sư có thể nghiên cứu những chủ đề nhạy cảm về chính trị, xã hội, lịch sử hay văn hóa mà không cần phải chứng minh trước rằng, kết quả nghiên cứu sẽ phù hợp với một kết luận đã có sẵn.

Ngược lại, ở Việt Nam, nhiều lĩnh vực nghiên cứu vẫn tồn tại những giới hạn nhất định. Có những chủ đề mà người ta biết trước rằng rất khó để xin tài trợ, và ngay cả được tài trợ, cũng khó được xuất bản hoặc khó được khuyến khích theo đuổi. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến khoa học xã hội mà còn ảnh hưởng đến tinh thần sáng tạo nói chung, bởi sáng tạo không thể được bật tắt như một công tắc điện.

Không thể nói rằng sinh viên được tự do sáng tạo trong công nghệ nhưng lại phải thận trọng trong việc đặt câu hỏi về lịch sử, xã hội hay các chính sách công. Tự do tư duy không thể tồn tại một cách nửa vời; mà nó tồn tại, hoặc không tồn tại.

Một điểm khác cũng cần nhấn mạnh là văn hóa chấp nhận thất bại. Steve Jobs từng bị chính công ty Apple sa thải. Nếu ở Việt Nam, điều này có thể là dấu chấm hết cho sự nghiệp của ông. Nhưng ở Mỹ, thất bại không phải là dấu chấm hết. Các nhà đầu tư ở Thung lũng Silicon thường hỏi: “Anh/ chị đã thất bại lần nào chưa?” Nếu câu trả lời là chưa, đôi khi nhà đầu tư cảm thấy lo ngại, bởi vì thất bại được xem như là kinh nghiệm.

Trong khi đó, ở Việt Nam, thất bại thường gắn liền với sự xấu hổ, nỗi nhục nhã. Học sinh sợ bị điểm thấp; sinh viên sợ bị rớt môn học; công chức sợ trách nhiệm; doanh nhân sợ phá sản… Cho nên nhiều người chọn giải pháp an toàn, thay vì thử nghiệm những điều mới mẻ.

Một xã hội mà mọi người đều sợ sai thì xã hội đó rất khó có sự đột phá, bởi vì đột phá chính là kết quả của hàng trăm lần sai trước đó.

Thực tế cho thấy, Việt Nam không thiếu người tài. Nhiều người Việt đã và đang có mặt trong các phòng thí nghiệm hàng đầu thế giới. Người Việt đang làm việc ở các công ty lớn trên thế giới như Google, Apple, Microsoft, Meta, Nvidia và hàng loạt tập đoàn công nghệ lớn khác. Các nhà khoa học gốc Việt xuất hiện ở những đại học danh tiếng nhất hành tinh.

Nếu người Việt thiếu năng lực thì những thành công đó không thể tồn tại. Câu hỏi đặt ra là: Vì sao rất nhiều người Việt lại có khả năng phát triển mạnh nhất khi làm việc ở nước ngoài, thay vì ở Việt Nam? Câu trả lời chắc chắn nằm ở môi trường. Một hạt giống tốt không thể phát triển nếu được gieo trồng trên mảnh đất cằn cỗi!

Chúng ta thường nói đến việc đào tạo nhân tài, nhưng đôi khi điều quan trọng hơn là tạo ra môi trường để nhân tài có thể tồn tại. Nếu một nhà khoa học phải dành quá nhiều thời gian cho thủ tục hành chính, xin kinh phí, viết báo cáo hình thức hoặc tuân theo những quy định cứng ngắc, thì năng lượng và thời gian dành cho sự sáng tạo sẽ không còn.

Nếu một giảng viên đại học phải cẩn trọng với từng phát biểu ngoài chuyên môn của mình, thì tinh thần phản biện cũng khó phát triển mạnh. Nếu một học sinh ngay từ nhỏ đã được dạy rằng đáp án đúng luôn nằm trong sách giáo khoa, thì rất khó để sau này em ấy trở thành người đặt ra những câu hỏi chưa ai từng nghĩ tới.

Vì vậy, câu hỏi cần đặt ra không phải là: “Làm thế nào để có Steve Jobs Việt Nam?” mà phải là: “Làm thế nào để xây dựng một đất nước Việt Nam, nơi hàng triệu người được tự do suy nghĩ như Steve Jobs?” Bởi Steve Jobs không phải là kết quả của một chương trình giáo dục đặc biệt hay một chiến dịch thi đua nào đó, mà ông chính là kết quả của một xã hội cho phép con người tò mò, tranh luận, sai lầm, thử nghiệm và khác biệt.

Nếu môi trường ấy tồn tại, những người xuất chúng như Steve Jobs sẽ xuất hiện một cách tự nhiên. Nhưng nếu môi trường ấy không tồn tại, cho dù chúng ta có tổ chức hàng ngàn cuộc thi sáng tạo, phát động hàng vạn phong trào khởi nghiệp, treo hàng triệu khẩu hiệu về đổi mới, thì những “Steve Jobs Việt Nam” vẫn sẽ không xuất hiện.

Thiên tài không thể được sản xuất bằng mệnh lệnh hành chính, mà thiên tài chỉ có thể lớn lên trong tự do.

______

Ảnh chụp đề thi Ngữ văn tốt nghiệp THPT năm 2026: