Hoa Kỳ 250 năm : Cuộc thử nghiệm vẫn chưa kết thúc (RFI)

(RFI)

Hai trăm năm mươi năm sau ngày lập quốc, Hoa Kỳ vẫn là siêu cường số một thế giới nhưng cũng đứng trước những chia rẽ sâu sắc về chính trị, xã hội và vai trò quốc tế. Giữa những lo ngại về sự suy yếu của nền dân chủ và sức mạnh công nghệ chưa từng có, báo chí nhìn lại cuộc thử nghiệm mang tên nước Mỹ – một hành trình chưa bao giờ ngừng tự chất vấn và tự đổi mới. Các tuần báo cũng nhận thấy « gió đã đổi chiều » trên chiến trường Ukraina.

 05/07/2026 

Một chiếc tàu của Sở Cứu hỏa New York phun vòi rồng tại cảng New York để chào mừng sự kiện Sail250 – cuộc tập hợp các tàu buồm cỡ lớn và tàu quân sự nhằm kỷ niệm 250 năm thành lập nước Mỹ, ngày thứ Bảy 04/07/2026. (Ảnh AP/Frank Franklin II) AP Photo/Frank Franklin II – Frank Franklin II

Thụy My

Nền cộng hòa Mỹ ra đời : Ngọn hải đăng của thế giới tự do

Hôm nay đúng vào ngày Hoa Kỳ kỷ niệm 250 năm lập quốc, nước Mỹ là mối quan tâm chính của các báo ra cuối tuần. Le Figaro cánh hữu chạy tít trang nhất « Hoa Kỳ 250 năm : Một lễ hội dưới dấu ấn Trump ». Libération thiên tả cho rằng « Trump tước đoạt lịch sử ». Trang bìa The Economist đăng hình một chiếc bánh sinh nhật lớn mang màu cờ Mỹ, nhận định « Nước Mỹ đầy ắp nỗi âu lo, nhưng sở hữu sức mạnh phi thường ».

Ngay từ khi mới thành lập cách đây 250 năm, các nhà lập quốc Mỹ đã tin rằng nền cộng hòa của họ sẽ tỏa sáng như một tấm gương cho toàn nhân loại. Tuy nhiên đây cũng là một cuộc thử nghiệm, họ lo ngại có thể sớm sụp đổ trong hỗn loạn hoặc rơi vào ách thống trị độc tài. Đó chính là những thăng trầm xuyên suốt lịch sử độc đáo của nước Mỹ. Chế độ nô lệ và tâm lý bài ngoại, nạn tham nhũng và sự lộng hành của giới tư bản thao túng, nội chiến và các trận đại chiến thế giới – tất cả đều từng làm chao đảo nền cộng hòa, ngay cả khi nước Mỹ vươn mình trở thành ngọn hải đăng của thế giới tự do.

Vào ngày 04/07, người dân Mỹ kỷ niệm dấu mốc 250 năm thành lập đất nước. Sự trường tồn ấy đã bác bỏ những nỗi lo âu của các nhà lập quốc năm xưa. Thay vì gục ngã trước độc tài, nước Mỹ đã ba lần giải cứu thế giới khỏi ách thống trị của những kẻ bạo tàn. Sự năng động đã tạo nên nguồn năng lượng mạnh mẽ, duy trì vị thế siêu cường của nước Mỹ và trong suốt thời gian dài, Hoa Kỳ vẫn luôn đề cao các giá trị cộng hòa.

Tuy nhiên, cột mốc kỷ niệm này lại diễn ra vào một thời điểm đầy lo âu khác trong lịch sử nước Mỹ. Các giá trị đạo đức đang bị đe dọa và người ta nói về khả năng suy tàn, đất nước chia rẽ sâu sắc. Nước Mỹ đang phá bỏ trật tự thế giới mà chính họ đã thiết lập sau khi đánh bại chủ nghĩa phát xít vào năm 1945.

Khi « giấc mơ Mỹ » phủ bóng âu lo

Nhiều người Mỹ ngày nay đang chia sẻ những nỗi lo sợ giống như các nhà lập quốc thuở nào. Họ lo ngại rằng cơ chế phân quyền đang dần biến thành một hệ thống mà Nhà Trắng thâu tóm mọi quyền lực. Quốc hội, cột trụ của chính phủ đang chia rẽ đảng phái gay gắt, « phe ta » luôn đúng còn « phe bên kia » luôn xấu. Tối cao Pháp viện cũng đang góp phần gia tăng quyền lực cho nhánh hành pháp.

Là quốc gia của những người nhập cư, Hoa Kỳ luôn coi di dân luôn đổ xô vào là nguồn sinh lực và là minh chứng cho « giấc mơ Mỹ ». Trung Quốc cũng có « giấc mơ Trung Hoa », nhưng người nước ngoài lại bị gạt ra ngoài lề. Ngược lại, bất kỳ ai, dù thuộc chủng tộc hay tôn giáo nào, cũng có thể trở thành người Mỹ, trở nên thành đạt nhờ nỗ lực của chính mình.

Tuy nhiên, giấc mơ Mỹ đang dần trở nên u ám. Một bộ phận trong phong trào MAGA muốn chấm dứt luôn nhập cư hợp pháp chứ không chỉ di dân bất hợp pháp. Năm nay, con số này có thể bằng không. Khi tỉ lệ người Mỹ tự nhận là « người da trắng » giảm xuống gần mức 50 %, một số người cánh hữu muốn dành quy chế đặc biệt cho những « người Mỹ gốc » có tổ tiên đã sinh sống qua nhiều thế hệ. Đây là sự quay lại rất đáng tiếc của nạn phân biệt chủng tộc.

Trên trường quốc tế, nước Mỹ cũng đang quay lưng lại với các giá trị của chính mình. Donald Trump đang muốn đập tan các định chế và liên minh mà thế hệ hậu chiến đã thiết lập để bảo vệ thế giới khỏi ách chuyên chế. Nước Mỹ đang hành xử, giống như bất kỳ quốc gia nào khác mải mê theo đuổi sự giàu có và quyền lực. Tự do và dân chủ cho người nước ngoài không còn được quan tâm. Thương mại từng là hệ thống mang lại lợi ích chung, nay đã trở thành công cụ để ép buộc đối phương nhượng bộ. Những giá trị chung từng gắn kết nước Mỹ với các đồng minh, thì nay đồng minh lại bị coi là những kẻ lệ thuộc.

Đừng vội viết cáo phó cho nước Mỹ

Nhiều người kết luận rằng nước Mỹ đang suy tàn, nhưng theo The Economist đó là sai lầm nghiêm trọng. Sức mạnh của nước Mỹ vẫn vô cùng to lớn, và thậm chí có thể sẽ tăng trưởng mạnh mẽ đến mức khó có thể hình dung nổi. Các công ty trí thông minh nhân tạo (AI) của Mỹ đã nhanh chóng huy động hàng trăm tỉ đô la để tài trợ cho cuộc đua giành vị thế dẫn đầu về công nghệ Mỹ cùng hệ sinh thái AI của mình có thể sẽ nắm quyền thống trị tuyệt đối, it nhất là trong một khoảng thời gian. Trong khi đó, các đồng minh của Mỹ đối mặt với một lựa chọn nghiệt ngã : hoặc phục tùng Washington, hoặc đứng về phía Bắc Kinh độc tài.

Song song với việc Mỹ tích lũy quyền lực to lớn, cuộc thử nghiệm vĩ đại này cũng có nguy cơ dẫn đến thảm họa. Ông Trump đã làm vẩn đục đời sống công chúng bằng thái độ hoài nghi đầy ác ý, luôn nhìn nhận mặt xấu xa nhất ở mọi người. Quyền lực hành pháp có thể trở nên quá mức kiểm soát. Sự tập trung của cải và quyền lực chính trị có thể nuôi dưỡng một tầng lớp tinh hoa trục lợi. Các chính trị gia có thể sẽ bất lực trước những biến động kinh tế và xã hội đang chực chờ phía trước.

Hãy hình dung viễn cảnh Mỹ vĩnh viễn từ bỏ sứ mệnh xúc tiến tự do. Các quốc gia khác sẽ theo chân, những nhà lãnh đạo đầy tham vọng được tiếp thêm sức mạnh để xâm lược hoặc cưỡng bức các nước láng giềng. Thế giới sẽ rơi vào hỗn loạn. Tuy nhiên, như các nhà lập quốc từng khẳng định, tương lai đen tối đó khó có khả năng xảy ra. Những biến cố từng kìm hãm nước Mỹ như Trân Châu Cảng, sự kiện Sputnik hay vụ Watergate lại chính là động lực thúc đẩy quốc gia này vực dậy và bứt phá mạnh mẽ hơn. The Economist tin rằng bằng cách này hay cách khác, sự thay đổi chắc chắn sẽ đến với nước Mỹ.

Putin : Người tù của chính cuộc chiến mình phát động

Courrier International dùng màu cờ Nga làm nền trang bìa, chạy tít « Putin, tù nhân trong cuộc chiến của chính mình ». Tại Nga, những dấu hiệu bất bình trước chính quyền ngày càng chồng chất, khế ước giữa Kremlin và xã hội có vẻ đã lỗi thời. Hình ảnh của tổng thống Nga đã xấu đi hẳn, theo nhà chính trị học Nga lưu vong Alexandre Baounov trên tờ Meduza, được Courrier International trích dịch.

Tác giả nhận thấy ba thay đổi. Trước hết là thái độ đối với tổng thống, thứ hai là sự lạc quan về kinh tế đã bay biến, và cuối cùng người ta ý thức được rằng có thể không thắng nổi. Ngưỡng mang tính biểu tượng 1.418 ngày đã vượt qua – rất tai hại cho Kremlin. Khi coi đối thủ là phát-xít mới, đánh đồng những lính đánh thuê với các chiến sĩ Hồng quân, chế độ đã tự rơi vào chiếc bẫy của việc so sánh với thời Đệ nhị Thế chiến.

Bộ máy Nhà nước, truyền thông, chính phủ, Quốc hội, Giáo hội, FSB, tất cả theo đuổi cùng một mục đích là che giấu sai lầm mà Putin đã phạm phải năm 2022. Nhưng sức ảnh hưởng của Putin đang tan dần. Tổng thống Nga vẫn nắm quyền tối cao, nhưng phép mầu đã biến mất. Bộ mặt thật của nhà lãnh đạo đang dần lộ diện : Đó là một ông già còng lưng, bồn chồn, khá yếu đuối, hoàn toàn khác với Putin thời trước chiến tranh ngực trần cỡi trên lưng con hắc mã. Những phát biểu đầy đe dọa nay rối rắm, dài dòng. Vladimir Putin không còn là siêu anh hùng, ông ta sợ hãi drone và internet cũng như những người được cho là bảo vệ mình, giới tinh hoa không còn tin tưởng vào tổng thống.

Khi chiến tranh gõ cửa từng gia đình Nga

Khi xua quân xâm lược Ukraina, khế ước xã hội trước đây đã bị phá vỡ, thay thế bằng một khế ước mới : Đừng chống chiến tranh, sẽ có được cách sống gần như trước. Nhưng mùa xuân 2026, chế độ đã vi phạm tất cả các điều khoản. Khi áp đặt ứng dụng Max để liên lạc, xâm nhập giới hạn cuối cùng của cuộc sống riêng tư tại một quốc gia phi tự do. Nhà nước đã khởi động một « chiến dịch quân sự đặc biệt » trong nội bộ. Thu nhập cao nhờ chiến tranh không còn nữa, năm 2026 khởi đầu bằng việc cắt giảm ngân sách đầu tiên kể từ một thập niên. Những cột khói bốc lên trên bầu trời nước Nga tạo ra hình ảnh một sự trừng phạt, và người chịu trách nhiệm về sự thay đổi tâm trạng ở Nga không ai khác hơn là quân đội Ukraina. Kremlin giờ đây như một chiếc xe đang cố thoát khỏi vũng lầy.

The Atlantic nhấn mạnh, giờ đây drone Ukraina đêm nào cũng tấn công vào các mục tiêu kỹ nghệ Nga, làm tê liệt các nhà máy lọc dầu, hậu càn và vận chuyển hàng không. Courrier International nhận xét « Nga đối mặt với một cuộc khủng hoảng xăng dầu ». Tờ báo độc lập Novaia Gazetta ghi nhận, một quốc gia được mệnh danh là « trạm xăng » nay lại đang thiếu xăng, đề tài « khủng hoảng nhiên liệu » đang là trung tâm các trang viết trên báo chí Nga hiện nay.

Việc bán phân phối theo định mức đã diễn ra khắp nơi, đến tận vùng Viễn Đông. Vận chuyển đường bộ rối loạn, một số công ty hàng không van nài bộ Năng lượng giúp đỡ. Tờ Nezavissimaia Gazeta cho biết chính quyền sẵn sàng trợ giá xăng nhập từ Ấn Độ và Kazakhstan. Những dấu hiện rạn nứt đầu tiên đã xuất hiện ở Kremlin. Bloomberg cho biết đầu tháng Sáu, nhiều quan chức cao cấp đã cảnh báo Vladimir Putin về cái giá của chiến tranh. Bộ Tài chánh và Ngân hàng Trung ương đánh giá mức độ chi quốc phòng hiện nay có thể khiến thâm hụt ngân sách càng lớn hơn một cách nguy hiểm.

Từ « điều không tưởng » đến viễn cảnh chiến thắng của Ukraina

Triết gia kiêm đạo diễn Pháp Bernard-Henri Lévy trên Le Point nhắc nhở rằng từ bốn năm qua ông luôn khẳng định Ukraina sẽ chiến thắng, vì chỉ có cuộc kháng chiến kiên cường của những người công dân bình thường nước này mới thắng được sự hiếu chiến điên rồ của Vladimir Putin. Và phải chăng hồi kết đang đến ?

Ông đã viết các bài xã luận, đã nói trong những bộ phim, phát biểu trên diễn đàn Liên Hiệp Quốc, trước Quốc hội Hoa Kỳ, Quốc hội Pháp và khắp các nơi. Ukraina sẽ thắng, tất nhiên là cần có thời gian, có những nỗi đau phải gánh chịu, những thành phố bị hủy diệt, những cuộc đời tan vỡ, những cái chết. Nhưng cuối cùng đất nước của Volodymyr Zelensky sẽ ca khúc khải hoàn trước những kẻ chỉ muốn xóa sổ họ khỏi bản đồ và trong lịch sử. Nhưng người ta nhìn ông như một kẻ mơ mộng hoặc tâm thần. Những quân nhân, các nhà chiến lược thậm chí còn không coi đó là một khả năng.

Bernard-Henri Lévy đã chứng kiến nơi tiền tuyến sự gan dạ, bất khuất của những chiến binh ở những thành phố đã chết như Chasiv Yar hay Toretsk, đối mặt với đội quân lính đánh thuê hay những kẻ đáng thương bị quăng vào lò xay thịt. Khả năng sáng tạo phi thường của người Ukraina đã thuyết phục ông. Trong bốn năm qua, Bernard-Henri Lévy đã thấy dân tộc của các thi sĩ và những người đam mê công nghệ lắp ráp các drone đầu tiên với một máy in 3D, nơi một chiếc lều nằm sâu trong rừng Klichtchiivka. Rồi trong các xưởng ở Kharkiv, họ mổ xẻ các drone của Nga hay Trung Quốc để tìm ra các bí mật. Và ngày nay mỗi năm có hàng triệu con chim sắt tinh vi made in Ukraina.

Trong những đêm dài ở Bakhmut, Kupiansk, Sumy, ông nghiền ngẫm những tác phẩm viết về những cuộc chiến tranh trong quá khứ. Ông ghi hình, chia sẻ một phần cuộc sống những chiến binh Ukraina. Dù kiệt sức, dù bị đồng minh thờ ơ, dù có những người ngã xuống, họ vẫn trụ lại.

Liệu hồi kết của Putin đã bắt đầu ?

Giờ đây vẫn chưa ai biết được còn bao nhiêu tháng nữa, bao nhiêu thành phố phải giành từng con đường một, bao nhiêu gia đình phải chạy loạn, bao nhiêu người trẻ phải hy sinh mạng sống. Cuộc tàn sát sẽ còn tiếp diễn trước khi người lính Nga cuối cùng rời khỏi đất Ukraina. Nhưng chúng ta đã bước vào một kỷ nguyên mới, giấc mơ tưởng chừng hão huyền đã trở thành hiện thực.

Ở mặt trận phía nam, tại căn cứ Otchakiv nơi Nadia chỉ huy, mỗi đêm cô đều dạy con trai đang ở miền bắc học qua FaceTime, một đơn vị tinh nhuệ vừa cắm cờ lên bán đảo Kinbourn, chốt chặn cửa ngõ sông Dniepr. Tại mặt trận Zaporijia, lực lượng Ukraina tiến từng mét một về hướng Melitopol. Ở Crimée, các phi trường bị oanh kích, kho xăng bị đốt cháy, các đường tiếp tế bị đe dọa. Bán đảo được Kremlin coi là hàng không mẫu hạm trên Hắc Hải đã trở thành pháo đài bị vây hãm. Và ở phía đông, nhà thơ nữ Oksana Rubaniak nay là chiến binh điều khiển drone đang quyết liệt bảo vệ Pokrovsk.

Kostiantynivka, Lyman, Chasiv Yar, những thành phố bị tàn phá mà Kremlin nói rằng đã chiếm được, vẫn đứng vững. Rốt cuộc quân đội Ukraina nhỏ bé đã trở thành quân đội mạnh nhất châu Âu, từ những căn cứ bí mật tấn công được những địa điểm quân sự nhạy cảm nhất sâu trong lãnh thổ Nga. Quân đội Sa hoàng năm 1917 bị kiệt lực sau ba năm thất bại đã phải đầu hàng dù tình trạng chưa đến nỗi như vậy. Chế độ Xô Viết, suy yếu bởi cuộc chiến không hồi kết ở Afghanistan, cũng không trụ được lâu. Điều gì sẽ xảy ra nếu Vladimir Putin đã sức cùng lực kiệt ?

Việt Nam : Khi tiếng rao nhường chỗ cho những cú nhấp màn hình

Tại một đất nước từ lâu không còn chiến tranh là Việt Nam, Mekong Riview ở Úc được Courrier International dịch lại, lấy làm tiếc cho « Những tiếng rao của người bán hàng trên đường phố đang dần lịm tắt ». Trước đây, một ngày mới ở Hà Nội được bắt đầu với những tiếng rao « Xôi xéo đây ! », « Bánh giò nóng đây ! », thành phố thức giấc cùng với những chiếc xe hàng rong trên đường phố. Ở Sài Gòn là « Bánh mì đây », « Bắp luộc nóng đây ».

Nhưng những người bán hàng rong nay có đối thủ mới là các siêu thị mini mở 24/24, các ứng dụng đặt hàng. Quảng cáo trên TikTok thay cho âm thanh đường phố. Để mua hàng, những cuộc đối thoại giữa người với người dần được thay bằng những cú chạm trên màn hình điện thoại. Có không nhiều thành phố như Hà Nội và Sài Gòn, hoạt động hết sức đa dạng với những người bán hàng ăn, mua ve chai, sửa chữa…Nhưng những tiếng rao đang tắt dần.


 

Sài Gòn: chiến tranh, hòa bình và ước mơ của tôi (BBC)

 (BBC)

Một người cha chở con trên xe máy tại Sài Gòn vào tháng 5 năm 1970

Tác giả, Bùi Văn Phú

Vai trò, Gửi cho BBC News Tiếng Việt từ Berkeley, California

4 tháng 7 2026

Chiều 29/4/1975, tôi rời quê hương bằng tàu. Sáng hôm sau, xe tăng, bộ đội cộng sản tiến vào Dinh Độc Lập, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đầu hàng.

Năm sau, Sài Gòn chính thức đổi tên, mà như Phạm Duy viết trong ca khúc 1954, 1975, thành phố “phải mang tên xác người“, hay Nguyễn Đình Toàn viết “Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên” trong Sài Gòn niềm nhớ không tên.

Tôi sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn. Thầy u tôi rời quê Nam Định di cư vào Nam sau Hiệp định Geneve 1954 và một năm sau tôi ra đời ở xứ Nghĩa Hòa, một xứ đạo tân lập trong khu vực Ngã ba Ông Tạ, nơi có mấy vạn người Công giáo Bắc di cư ở.

Nói tôi sinh ra ở Sài Gòn thì không đúng, vì giấy khai sinh ghi nơi sinh là xã Tân Sơn Hòa, quận Tân Bình, tỉnh Gia Định. Nhưng Ngã ba Ông Tạ nằm sát bên thủ đô. Từ đây theo đường Phạm Hồng Thái nối dài tới Lê Văn Duyệt, tính ra từ Gia Định chỉ đi ba trăm mét, qua đường Bắc Hải là vào quận 3 của Sài Gòn. Sau năm 1975, khu vực Ngã ba Ông Tạ mới thuộc về Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày còn bé chẳng mấy khi được vào trung tâm thủ đô, chỉ nhớ có lần thầy tôi đưa các con đi chơi Sở thú, tức là Thảo Cầm Viên, xem voi ăn mía, khỉ ăn chuối. Có năm thầy đưa lên Bến Bạch Đằng xem bắn pháo bông dịp Quốc khánh 26 tháng 10, pháo nổ trên bầu trời tỏa hình Ngô tổng thống, hình khóm trúc.

Mấy lần ông chú dẫn đi xe ngựa, xe lam 3 bánh lên trung tâm thủ đô dự mít tinh kỷ niệm ngày Quốc hận 20/7 chia đôi đất nước hay tham gia biểu tình phản đối chính phủ quân phiệt.

Cấp 1 tôi học trường Nghĩa Hòa, cấp 2 trường Thánh Tâm ở Ngã ba Ông Tạ. Năm lớp 10 vào trường Nguyễn Bá Tòng trên đường Bùi Thị Xuân, từ đó Sài Gòn trở nên thân quen. Là năm đầu tiên đi học trong thành phố, lại là năm chuyển tiếp không có thi tú tài nên nhiều hôm tôi đã trốn học đi chơi, không còn học giỏi như những năm ở trường Thánh Tâm mỗi tháng xếp hạng nhất, nhì hay ba về học lực và được lãnh bảng danh dự. Giờ tôi chỉ xếp hạng trung bình trong số 50 bạn học.

Tôi hay trốn học đi coi xi-nê ở rạp Cao Thắng, Nam Quang hay đạp xe quanh trung tâm thủ đô nên những con đường Nguyễn Huệ, Tự Do, Hàm Nghi, Cao Thắng, Trần Hưng Đạo, Lê Thánh Tôn trở nên thân quen. Chợ Bến Thành, nhà sách Khai Trí trên đường Lê Lợi. Tòa soạn Báo Tuổi Hoa trên đường Kỳ Đồng tôi hay vào đọc sách báo. Trước Bưu điện thành phố có xe bò bía, có mấy sạp bán tem thư mà tôi hay ghé mua phong bì khi có phát hành tem thư ngày đầu tiên. Qua đường Hai Bà Trưng, gần đến chợ Tân Định quẹo phải đường Trần Văn Thạch ghé tiệm tạp hóa của một ông gốc Hoa mua tem sưu tầm, là sở thích.

  Ở trung tâm thủ đô, tôi nhiều lần chứng kiến biểu tình của sinh viên học sinh quanh bùng binh Quách Thị Trang hay trước trụ sở quốc hội để phản đối chính sách của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, chống lại sự can dự của Mỹ vào cuộc chiến.

Hết năm lớp 10, trường Nguyễn Bá Tòng Sài Gòn chỉ dành cho nữ sinh nên tôi chuyển qua Nguyễn Bá Tòng Gia Định học lớp 11 và 12. Phạm Văn Thiêm là người bạn thật tốt học chung lớp 10, ngày nào cũng từ Hòa Hưng ghé qua nhà chở tôi đi học. Có những ngày sau giờ tan học chúng tôi đi vào trung tâm thủ đô qua Cầu Bông tràn ngập áo dài trắng tung bay của nữ sinh trường Lê Văn Duyệt.

Sài Gòn điêu tàn sau cuộc tấn công Tết Mậu Thân

Cuối năm lớp 11, chiến tranh bùng nổ ở nhiều tỉnh. Mùa hè đỏ lửa 1972, một cựu học sinh Nguyễn Bá Tòng là Đại úy Không quân Trần Thế Vinh, người được vinh danh là anh hùng diệt xe tăng, đã hy sinh trong một phi vụ chiến đấu.

Chiến trận tuy ở xa nhưng đã như thật gần vì trong xóm có anh Đinh Văn Vũ mất xác trong một phi vụ tiếp vận miền Trung khi máy bay C-130 rớt xuống biển. Bạn thời tiểu học có Ngô Đắc Doanh tử trận, Nguyễn Văn Nam mất tích khi chưa tròn đôi mươi.

Không như Mậu Thân khi du kích đánh vào tỉnh thành, lần này bộ đội cộng sản đem xe tăng, đại pháo tấn công vào nhiều nơi từ Quảng Trị địa đầu giới tuyến, Kontum trên cao nguyên đất đỏ vào đến An Lộc không xa thủ đô.

Chính phủ ban hành lệnh đôn quân. Tôi đã bước vào tuổi lính, lo học, lo cho tương lai và có nhiều ưu tư về cuộc chiến. Nhiều buổi chiều vào quán cà phê nghe nhạc vừa lãng mạn, tình tứ vừa buồn lo cho quê hương, thân phận con người.

Theo em xuống phố trưa nay

Đang còn ngất ngất cơn say

Theo em bước xuống cơn đau

Bên ngoài nắng đã lên mau…

(Lê Uyên Phương)

Đêm mẹ ngồi cầu kinh

Tường trắng im lìm

Bom rung từng liếp cửa…

(Trịnh Công Sơn)

Thi đậu Tú tài I, tôi tiếp tục được hoãn dịch để học lớp 12. Trở lại trường mới biết bạn cùng lớp ai đã nhập ngũ. Học Anh văn với thầy Hoàng Định, thấy học trò lo lắng thầy trấn an: “Nixon đã đi Tầu, rồi sẽ đi Nga. Cuộc cờ đã ngã ngũ. Chiến tranh sẽ chấm dứt thôi.” Nhìn cây phượng nơi sân trường nở rộ hoa đỏ, thầy nói: “Năm nay phượng nở nhiều, các anh chị cũng sẽ thi đỗ nhiều để được học tiếp lên, có cơ hội góp phần xây dựng đất nước.” Hết niên học thầy được qua Mỹ tu nghiệp.

Gần nhà tôi có khu quân sự Mỹ trên đường Nguyễn Văn Thoại và quanh đó là những quán bar. Một chiều nghe tiếng nổ lớn, tôi chạy ra xem thấy xác người chết xám vì chất nổ TNT của Việt Cộng cài vào xe đạp. Một chị gần nhà, trên đường đi học về, đã chết hôm đó. Đêm đêm nghe bà mẹ khóc than thảm thiết: “Con ơi, ở đời măng khóc tre chứ ai ngờ mẹ lại phải khóc con.”

Ở trường tôi thích giờ giảng văn của thầy Trần Bằng Phong, phục khí phách Nguyễn Công Trứ có lúc làm quan và có lúc bị đày mà không nản chí. Với sự hướng dẫn của thầy, năm đó tôi làm bích báo cho lớp.

Trong giờ công dân giáo dục, thầy Nguyễn Văn Tiếu cho chúng tôi thảo luận về những vấn đề liên quan đến quốc gia. Tôi nêu chuyện tham nhũng, vì đọc báo có tin dân biểu đi công tác nước ngoài mang lậu nước hoa, mỹ phẩm, quần lót, lịch Playboy về bán; có dân biểu ăn cắp tượng cổ ở bảo tàng đem ra nước ngoài được báo chí đặt tên là “Dân biểu tượng Chàm”, nhưng sao không ai bị bắt giam. Thầy nói dân biểu nghị sĩ có quyền bất khả xâm phạm nên cảnh sát không thể bắt họ.

Tổng trưởng Kinh tế Phạm Kim Ngọc đưa ra chính sách thuế trị giá gia tăng bị phê phán, chế giễu là “Tổng Ngốc”. Có bạn bày tỏ sự căm ghét “Vua đi đêm Kissinger” vì Hòa đàm Ba Lê kéo dài nhiều năm mà hòa bình đâu chưa thấy. Những dân biểu Kiều Mộng Thu, Ngô Công Đức đòi Mỹ rút và Việt Nam Cộng hòa ngưng bắn, có bạn hỏi tại sao không đòi Cộng sản Bắc Việt thôi xâm lược miền Nam.

Đường phố Sài Gòn năm 1969

Đầu năm 1973, Hiệp định Ba Lê được ký kết. Tôi vui mừng vì chiến tranh chấm dứt, từ nay người Việt thôi bắn giết nhau.

Mang giầy vớ tốt mang khăn áo lành

Tôi chào đất nước tôi nay thái bình…

(Phạm Duy)

Sáng ngày hiệp định có hiệu lực, tôi và mấy bạn rủ nhau lên trung tâm thủ đô, vào một quán cà phê trên đường Nguyễn Du, nghe vang vang lời ca, như mơ ước đã có từ lâu:

Khi đất nước tôi không còn chiến tranh

Trẻ con đi hát đồng dao ngoài đường…

Khi đất nước tôi không còn giết nhau

Mọi người ra phố mời rao nụ cười

(Trịnh Công Sơn)

Để chào mừng chiến tranh chấm dứt, tôi vẽ mẫu làm hai cánh cổng sắt trước nhà, mỗi bên có dấu hiệu hòa bình ở giữa. Sau khi cổng hoàn tất, một hôm có cảnh sát đến nhà nói với thầy tôi đó là dấu hiệu phản chiến và yêu cầu gỡ bỏ. Tôi không đồng ý, chỉ cắt hai miếng thiếc che dấu hiệu, từ ngoài đường nhìn vào không còn trông thấy nữa. Ít lâu sau, kẻ trộm lấy mất một cánh cổng. Thầy tôi nghi cảnh sát đã lấy đi một cánh để nhà phải làm lại hai cánh mới. Tôi cũng nghĩ thế.

Bùi Văn Phú

Biểu tượng hòa bình vẫn còn trên cánh cổng khi tác giả trở lại ngôi nhà xưa vào năm 1997

Ở trường tôi hăng say sinh hoạt hiệu đoàn nên cuối niên học được hiệu trưởng Đinh Ngọc Lễ trao cho phần thưởng hạnh kiểm. Đến hè, tôi thi đậu Tú tài II.

Thi vào trường Kiến trúc, vì có hoa tay và thích vẽ, nhưng không đậu nên ghi danh vào trường Luật Sài Gòn là chính, Văn khoa là phụ.

Bạn cùng lớp 12 có Phạm Văn Thiêm, Trịnh Hoàng Long, Nguyễn Văn Lý cũng ghi danh học luật. Võ Quang Thịnh, quen thân từ những năm ở trường Thánh Tâm, học Petrus Ký, đậu hạng bình. Tú tài I bạn đậu ưu, xin đi du học không được, ghi danh vào khoa Hóa, Đại học Minh Đức. Nguyễn Công Bình nhà ở Tân Chí Linh, đậu bình cả hai kỳ thi Tú tài, gia đình có anh tử trận nên được chính phủ cấp học bổng du học Mỹ. Hoàng Đức Hòa ghi danh chứng chỉ MPC bên Đại học Khoa học.

Sinh viên trường Luật năm đầu đi học ở rạp Thống Nhất. Giáo sư Vũ Văn Mẫu dạy cổ luật, giáo sư Trần Văn Liêm, dân luật; giáo sư Nguyễn Cao Hách, kinh tế; giáo sư Lê Đình Chân, luật hiến pháp.

Chương trình học có 7 môn, cuối năm bốc thăm hai môn chính thi viết luận văn, còn các môn khác là các câu hỏi ngắn. Một trong hai môn thi chính năm đó là luật hiến pháp mà tôi rất thích nghe Giáo sư Lê Đình Chân, người giảng rất lôi cuốn về quyền của dân, về các tổ chức công quyền là hành pháp, quốc hội, tối cao pháp viện, giám sát viện.

Đề tài thi là về luật bầu cử năm 1971 yêu cầu một ứng cử viên phải có sự đề cử của 60 dân biểu, nghị sĩ quốc hội hay 120 nghị viên hội đồng tỉnh. Điều đó có vi hiến hay không? Tôi đưa ra lập luận là không vi hiến, dẫn chứng là ở Mỹ, Pháp các ứng cử viên tổng thống đều phải có các đảng đề cử mới được ra tranh cử. Hiến pháp 1967 của Việt Nam Cộng hòa xác nhận sinh hoạt chính trị đa đảng và khuyến khích tiến tới lưỡng đảng thì việc ứng cử viên phải có sự đề cử là sinh hoạt dân chủ đa đảng. Đậu thi viết, tôi thi phần hai. Kết quả tôi hoàn tất chứng chỉ luật năm thứ nhất, được tiếp tục hoãn dịch để học năm thứ hai.

Nữ sinh Sài Gòn năm 1970 (trái) và năm 1972

Hiệp định Ba Lê đã không đem lại hòa bình vì vẫn còn súng nổ trên chiến trường. Chuẩn úy Nguyễn Đức Tuyển, trưởng lớp ở Thánh Tâm, bị phục kích chết, mẹ của bạn trở nên điên dại khi nhận xác con về. Duy Nam, giọng hát truyền cảm trong các buổi văn nghệ và là học trò của ca sĩ Duy Khánh, tử trận. Phạm Văn Thông học chung lớp ở Thánh Tâm, bút hiệu Mai Thông, tử nạn khi trực thăng rớt. Anh Lâm cùng xóm là sĩ quan chiến tranh chính trị tử trận. Chuẩn úy Lê Minh Châu học chung lớp 11 chết mất xác.

Vào đại học, tôi thường ở nhà ông bác ngoài đường Thánh Mẫu, gần nhà thờ Chí Hòa, Ngã ba Ông Tạ. Anh cả của bác là Thẩm phán Trần An Bài, ngoài việc tại tòa án anh còn dạy ở Học viện Cảnh sát Quốc gia, Đại học Vạn Hạnh và thường viết cho báo Xây Dựng của linh mục Nguyễn Quang Lãm. Sau luật 7/72 bóp nghẹt tự do báo chí, tờ Xây Dựng phải đóng cửa. Nhà anh có báo Sóng Thần, Đại Dân Tộc hay bị Bộ Dân vận Chiêu hồi ra lệnh tịch thu sau khi phát hành. Gần anh, tôi được học thêm nhiều về hệ thống luật của Việt Nam Cộng hòa. Đầu năm 1974, anh trình luận án tiến sĩ luật, tiêu đề “Những bảo đảm của nghi can trong giai đoạn điều tra sơ vấn”.

 Khi ông Thiệu vận động quốc hội sửa hiến pháp, tăng nhiệm kỳ tổng thống lên 5 năm và cho ông quyền tái ứng cử sau khi nhiệm kỳ hai chấm dứt năm 1975, cho thấy ông muốn làm tổng thống suốt đời, nên tôi tham gia các hoạt động chống chính quyền độc tài vì tin rằng chỉ có dân chủ mới thắng được cộng sản.

Tôi và bạn Hoàng Đức Hòa bên Khoa học bàn với nhau là lên năm thứ hai hay thứ ba chúng tôi sẽ ra ứng cử ban đại diện sinh viên của khoa để hoạt động rộng hơn. Tôi thích làm báo nên sẽ tranh chức trưởng ban báo chí Luật khoa, dù biết là dấn thân hoạt động sẽ có nhiều nguy hiểm, như anh Lê Khắc Sinh Nhựt đã bị Việt Cộng ám sát chết ngay trong sân trường Luật.

Mấy năm trước, trong một buổi văn nghệ ở Văn khoa, anh Ngô Vương Toại đã bị cán bộ nội thành lên giựt mi-crô, nã đạn vào người và may thoát chết. Trong khuôn viên trường Luật thỉnh thoảng cũng có rải truyền đơn chống chính phủ. Sinh viên học sinh tranh đấu như Huỳnh Tấn Mẫm, Cao Thị Quế Hương, Dương Văn Đầy, Lê Văn Nuôi xuống đường biểu tình chống Thiệu, chống Mỹ bị bắt rồi được thả vì áp lực quốc tế can thiệp.

Hỏi ý anh Trần An Bài, anh nói muốn ứng cử vào ban đại diện sinh viên thì phải dứt khoát là người quốc gia, chống cộng và có một đảng ủng hộ ra tranh cử.

Tôi là người quốc gia, chống cộng nhưng không ủng hộ chính sách của ông Thiệu. Sinh hoạt chính trường miền Nam từ lâu đã có Đảng Đại Việt, có Quốc dân Đảng, Phong trào Quốc gia Cấp tiến, Lực lượng Đại Đoàn kết mà tôi biết. Những năm qua có Đảng Dân chủ do Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lập ra. Trong bầu cử tổng thống 1971, liên danh Nguyễn Cao Kỳ bị loại và liên danh Dương Văn Minh rút lui để liên danh Nguyễn Văn Thiệu-Trần Văn Hương độc diễn và thắng đến 94% cho thấy chủ trương độc tài của ông.

Một hôm trên báo Chính Luận có đăng quảng cáo của Đảng Quốc tiến mới được thành lập với người lãnh đạo là cựu Thượng nghị sĩ Trương Vĩnh Lễ, từng là ứng cử viên phó tổng thống của tướng Nguyễn Cao Kỳ, nên tôi muốn gia nhập đảng này.

Bùi Văn Phú

Thẩm phán Trần An Bài bảo vệ luận án tiến sĩ luật tại Đại học Luật khoa Sài Gòn năm 1974. Tác giả bên bìa phải

Đầu năm 1975, tôi và Hòa đến một căn nhà bên hông Đại học Vạn Hạnh, gặp ông Ngọc, tổng thư ký Đảng Quốc tiến. Sau khi giới thiệu về mình và trò chuyện với ông về những vấn đề liên quan đến hiện tình đất nước, ông Ngọc cho biết chủ trương của đảng là đối lập với Đảng Dân chủ của ông Thiệu. Muốn vào đảng, mỗi người chúng tôi cần hai người giới thiệu. Tôi sẽ nhờ Thẩm phán Trần An Bài và Nghị viên Nguyễn Duy Bảo, người mà tôi từng tham gia vận động bầu cử cho, giới thiệu và tôi sẽ ra tranh cử vào ban đại diện sinh viên trường Luật.

Tại địa phương, tôi tham dự nhiều buổi thảo luận của Linh mục Trần Hữu Thanh về chính sách hay các dự luật tại quốc hội, làm sao vận động ủng hộ hay ngăn cản không cho thông qua. Cha Thanh đặt bản doanh của Phong trào Nhân dân chống tham nhũng tại xứ Tân Chí Linh nên khu Ông Tạ thường có biểu tình chống chính phủ. Cảnh sát dã chiến với mặt nạ, tấm khiên, ba ton tới bao vây, bắn lựu đạn cay để giải tán.

Bạn bè tụ họp ở nhà Võ Quang Thịnh sau nhà dòng Mai Khôi đàn hát và đọc “Bản Cáo trạng số 1” của Phong trào vào băng cát-sét để lưu lại vì các báo đăng cáo trạng đã bị tịch thu.

Gần nhà có anh Nguyễn Tiến, tốt nghiệp văn khoa, tham gia chính trường, đắc cử nghị viên hội đồng xã Tân Sơn Hòa. Tiếp xúc với anh, tôi hiểu hơn về khu vực nơi mình sống tinh thần chống cộng cao, nhưng cũng có bạn trẻ ngả theo “cách mạng” vì cạnh bên là khu dệt Quảng Nam có nhiều người theo “Mặt trận”. Anh cho biết sự việc tôi gắn dấu hiệu hòa bình trên cổng và tham gia phong trào chống tham nhũng khiến có người nghi ngờ tôi theo cách mạng.

Cựu học sinh Thánh Tâm cũng đã có những buổi họp mặt tại trường, do anh Phạm Văn Sơn, sinh viên năm thứ ba khoa học đứng ra tổ chức. Chúng tôi thảo luận về hướng đi cho thanh niên sinh viên trong tình hình hiện tại, phải vững tinh thần quốc gia, không nghe tuyên truyền của cộng sản kêu gọi xuống đường, bãi khóa.

Năm 1974, trường Thánh Tâm đã bị “cách mạng” chiếm đóng cả tuần. Ban đêm, từ nóc trên tầng bốn họ cho phát thanh những bài viết chống chính phủ mà từ nhà tôi nghe rõ. Mấy lần cảnh sát tiến vào trường thì bàn ghế từ lầu cao được ném xuống, nên phải rút lui. Cho đến khi Chuẩn tướng Trang Sĩ Tấn xuống chỉ huy cả trăm cảnh sát tiến vào mới bắt được mấy thanh niên thiếu nữ theo Việt Cộng.

Hiệu trưởng trường Thánh Tâm là sư huynh Nguyễn Văn Ngươn, em của Thượng nghị sĩ Nguyễn Văn Huyền, Chủ tịch Thượng nghị viện, nên ngôi trường đã trở thành trung tâm sinh hoạt chính trị cho khu vực Ông Tạ, từ vận động bầu cử đến đấu tranh.

Đầu năm 1975, cộng sản tấn công chiếm Phước Long, rồi Ban Mê Thuột. Như vết dầu loang, các tỉnh phía bắc dần dần bị mất kiểm soát. Dân miền Trung di tản vào Sài Gòn trong khi người thủ đô tìm cách rời nước ra đi.

Tướng Dương Văn Minh kêu gọi các bên ngưng bắn để hòa giải dân tộc. Tôi đã có bài viết trên báo Tiền Tuyến của quân đội vào đầu tháng Tư phản bác lại, vì theo tinh thần Hiệp định Ba Lê, bên gây chiến là bộ đội cộng sản, yêu cầu họ rút về miền Bắc thì mới có thể nói chuyện hòa giải, hòa hợp.

bùi văn phú

Sinh viên biểu tình kêu gọi thế giới cứu giúp thuyền nhân tị nạn, Sproul Plaza, U.C. Berkeley 1979

Sáng 29/4/1975, sau khi nghe Thủ tướng Vũ Văn Mẫu lên đài phát thanh yêu cầu người Mỹ rút khỏi Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ, anh Bài quyết định đưa gia đình và các em ra đi, có tôi đi theo. Hai bác ở lại coi nhà vì có mấy người bà con từ Biên Hòa chạy đến tạm trú.

Qua các trại tị nạn ở Subic Bay, Philippines; Guam và Camp Pendleton ở miền nam California, tôi có tìm kiếm bạn học cũ nhưng không ai đi thoát được. Nhiều lúc tôi tự hỏi đất nước đã hết chiến tranh, sao tôi không ở lại để theo đuổi ước mơ và góp tay xây dựng đất nước!

Mùa thu 1977, tôi được nhận vào Đại học U.C. Berkeley, nổi tiếng chống chiến tranh Việt Nam. Hoạt động trong trường của thành phần ủng hộ Hà Nội vẫn còn, qua những buổi chiếu phim “79 Mùa xuân của Bác Hồ”, “Chiến thắng năm Mão”, sau đó đã bị người Việt tị nạn từ Oakland, San Francisco, San Jose kéo lên dẹp tan.

Cùng các bạn mới quen trong trường, chúng tôi thấy cần lập hội để giúp đỡ nhau và nêu cao tinh thần quốc gia của sinh viên tị nạn. Một số anh em họp bàn, soạn thảo nội quy và ngày 20/1/1979 tại ký túc xá Spens Black Hall, với 50 sinh viên Việt có mặt, nội qui hội được biểu quyết chấp thuận. Hội Sinh viên Việt Nam tại Đại học U.C. Berkeley chính thức được thành lập với mục đích giúp nhau học tập, bảo tồn phát huy văn hóa Việt và tương trợ lẫn nhau.

Cơ hội ứng cử ban đại diện sinh viên đến với tôi, không ở trường Luật Sài Gòn mà tại một đại học danh tiếng, chiếc nôi của phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ. Tôi ra tranh chức trưởng ban văn hóa, phụ trách báo chí và văn nghệ, vì hợp với khả năng và sở thích. Ban chấp hành đầu tiên được bầu ra và tôi làm trưởng Ban Văn hóa.

Bản tin chính thức của hội phát hành số đầu tiên vào đúng dịp Tết Kỷ Mùi 1979. Ban chấp hành bắt tay ngay vào việc tổ chức pic-nic, thể thao, họp mặt ca hát, tưởng niệm 30/4, cứu giúp thuyền nhân, phát hành đặc san. Nội san Nối Vòng Tay ra đời. Tôi lại ôm đàn ghi ta, xướng lên những bài hát cộng đồng. Sân trường Đại học U.C. Berkeley vang những lời ca:

Ta như nước dâng, dâng tràn có bao giờ tàn

Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang

(Nguyễn Đức Quang)

Rừng núi giang tay nối lại biển xa

Ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà

(Trịnh Công Sơn)

Việt Nam Việt Nam nghe từ vào đời

Việt Nam hai câu nói bên vành nôi

(Phạm Duy)

Bùi Văn Phú

Đại hội thể thao văn nghệ liên trường Bắc California tổ chức tại U.C. Berkeley năm 1988

Hai mươi năm sau, tôi trở về thành phố thân yêu cũ và không thấy đường phố nhà cửa có thay đổi nhiều, chỉ cũ đi và phai bạc mầu. Khu nhà tôi lúc bấy giờ nhiều người bán hàng bên lề. Nhưng tên đường giờ đã khác: Cách Mạng Tháng 8, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Đồng Khởi hay Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Thị Sáu, Bành Văn Trân là những ai, nghe xa lạ quá.

Trường cũ cũng đã đổi tên. Nghĩa Hòa thành Chi Lăng, Thánh Tâm là Tân Bình, Nguyễn Bá Tòng Sài Gòn thành Bùi Thị Xuân, Nguyễn Bá Tòng Gia Định thành Hoàng Hoa Thám và Đại học Luật khoa không còn mà trở thành Đại học Kinh tế. Bạn cũ nói kinh tế xã hội chủ nghĩa không ứng dụng gì được nên bỏ học ra đời chạy tắc xi hay làm nghề tự do.

Năm mươi năm qua, tôi theo dõi sinh hoạt chính trị và nhân quyền quê nhà. Năm mươi năm Sài Gòn đổi tên, Thành phố Hồ Chí đã mở rộng ra đến vùng biển, phường Sài Gòn giờ có nhiều nhà cao tầng, nhiều xe hơi trên phố, nhưng ở mặt khác của cuộc sống, đến nay câu đồng dao mà người Sài Gòn từ lâu truyền khẩu cho nhau vẫn còn là hiện thực: Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý/ Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do.

  • Tác giả Bùi Văn Phú là giảng viên đại học cộng đồng và nhà báo tự do từ vùng Vịnh San Francisco, California

 

Kỷ niệm 250 năm ngày thành lập nước Mỹ, Đức Giáo Hoàng Leo XIV kêu gọi bảo vệ người nhập cư

Ba’o Nguoi-Viet

July 4, 2026

LAMPEDUSA, Ý (NV) – Kỷ niệm 250 năm ngày độc lập của Hoa Kỳ, Đức Giáo Hoàng Leo XIV gửi lời kêu gọi người dân Mỹ chào đón và bảo vệ người nhập cư. Thông điệp này được gửi về quê hương giữa lúc ngài đang có chuyến viếng thăm tới Lampedusa, hòn đảo tuyến đầu về di cư của Ý, trong ngày Thứ Bảy, 4 Tháng Bảy, theo NBC News.

Năm ngoái, Đức Giáo Hoàng Leo XIV từng khiến Tổng Thống Donald Trump giận dữ sau khi gọi các chính sách chống nhập cư cứng rắn của nhà lãnh đạo Mỹ này là “vô nhân đạo.” Trong thông điệp lần này, ngài cũng kêu gọi thế giới trở nên “nhân văn hơn” và giúp đỡ những người đang chạy trốn khỏi chiến tranh và nghèo đói.

Đức Giáo Hoàng Leo XIV gặp một gia đình di dân tại khung vòm Cửa Ngõ Châu Âu, do nghệ sĩ người Ý là Mimmo Paladino thực hiện, tại đảo Lampedusa hôm Thứ Bảy. (Hình: Tiziana FABI/AFP via Getty Images)

Trong chuyến thăm tới Lampedusa, cửa ngõ của những người di cư chấp nhận rủi ro vượt Địa Trung Hải đầy nguy hiểm để từ châu Phi vào Châu Âu, Đức Giáo Hoàng Leo XIV thúc giục các nhà lãnh đạo Châu Âu cần nỗ lực hơn nữa để hỗ trợ những người mới đến, khi con số này đã vượt quá 7,000 người trong năm nay.

Trong một lời kêu gọi riêng biệt được gửi tới Mỹ nhân cột mốc kỷ niệm lịch sử, Đức Giáo Hoàng tuyên bố rằng giá trị Công Giáo trong việc bảo vệ sự sống bao gồm cả việc “chào đón, bảo vệ và hỗ trợ người nhập cư.” Ngài nhắn nhủ tới nước Mỹ: “Đón nhận (người nhập cư) với lòng trắc ẩn và sự rộng lượng không chỉ là một hành động bác ái, mà còn là sự công nhận phẩm giá vốn có của mỗi con người.”

Nằm giữa Tunisia, Malta và Sicily, đảo Lampedusa tọa lạc trên một trong những tuyến đường di cư nguy hiểm nhất thế giới. Nhiều người di dân đặt chân đến đây sau khi vượt Địa Trung Hải trên những chiếc thuyền quá tải và phương tiện thô sơ.

Chuyến đi này gợi nhắc lại hành trình của cố Đức Giáo Hoàng Francis, người từng chọn Lampedusa làm điểm đến cho chuyến công du đầu tiên bên ngoài Rome sau khi đắc cử chức vụ Giáo Hoàng vào năm 2013.

Trong số những người tập trung gần cảng cực nam của Ý để đón vị Giáo Hoàng có cả những người di dân mới đến, các viên chức tìm kiếm cứu nạn thuộc Lực Lượng Cảnh Sát Biển Ý và các nhóm viện trợ. Đức Giáo Hoàng Leo XIV nói với họ rằng ngài đến đây để chứng minh rằng vị chủ chăn giáo hội Công Giáo “vẫn tiếp tục đồng hành, hỗ trợ và khích lệ các con chiên.”

Đức Giáo Hoàng Leo XIV cũng kêu gọi các giới chức lãnh đạo Châu Âu giải quyết vấn đề di cư “một cách toàn diện, lồng ghép các nỗ lực cứu trợ khẩn cấp vào một kế hoạch chiến lược dài hạn có khả năng tiếp nhận, bảo vệ, hỗ trợ và tái hòa nhập người di cư.” Ngài đồng thời thúc giục họ giúp cải thiện điều kiện sống tại quê hương của người di cư để giảm bớt số người buộc phải ra đi.

Ông Kandeh Abdourahman, một di dân đến Lampedusa vào năm 2015 sau khi đi qua năm quốc gia Châu Phi, sa mạc Sahara và Địa Trung Hải, chia sẻ với Reuters: “Chuyến thăm của Đức Giáo Hoàng có ý nghĩa với mỗi chúng tôi. Đó là lời nhắc nhở rằng câu chuyện của chúng tôi được lắng nghe, và sự chào đón không chỉ là một từ ngữ suông mà là một hành động nhân văn.” Hiện tại, ông Abdourahman đang là điều phối viên văn hóa của Ủy Ban Cứu Trợ Quốc Tế (IRC).

Theo dữ liệu từ Cơ Quan Tị Nạn Liên Hiệp Quốc cung cấp cho Reuters, tính đến thời điểm hiện tại trong năm nay, tổng cộng có 14,464 người di cư đã đến Ý bằng đường biển, với hơn một nửa đặt chân lên Lampedusa. Con số này thậm chí vượt quá dân số thường trú của hòn đảo (khoảng 6,000 người).

Theo Tổ Chức Di Cư Quốc Tế (IOM) của Liên Hiệp Quốc, hơn 1,400 người đã thiệt mạng hoặc mất tích khi cố vượt Địa Trung Hải trong năm nay, trong đó có 28 trẻ em.

Kể từ khi trở thành nhà lãnh đạo Vatican vào Tháng Năm, 2025, Đức Giáo Hoàng Leo XIV đưa việc hỗ trợ người di dân trở thành chủ đề trọng tâm trong triều đại của mình. Tháng trước, ngài từng cảnh báo rằng lịch sử sẽ phán xét nghiêm khắc những giới chức lãnh đạo ngược đãi người nhập cư.

Trong bài phát biểu lớn đầu tiên gửi tới nước Mỹ vào Thứ Sáu, ngài tán dương lịch sử đón nhận người nhập cư của quốc gia và thúc giục người dân Mỹ giữ vững các lý tưởng được đề ra trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập.

Đặt chân đến Lampedusa vào khoảng trước 9 giờ sáng Thứ Bảy, Đức Giáo Hoàng Leo XIV đặt hoa tại một nghĩa trang địa phương trên phần mộ của những người di cư thiệt mạng khi cố vượt Địa Trung Hải. Ngài cũng đến thăm “Cửa Ngõ Châu Âu” (Door of Europe), một tác phẩm nghệ thuật sắp đặt nằm trên bãi biển cực Nam nước Ý dành riêng cho người di cư, và đi bộ qua cấu trúc này hướng về phía Địa Trung Hải giữa những cơn gió mạnh.

Các giới chức Vatican cho biết Đức Giáo Hoàng Leo XIV muốn nhấn mạnh thông điệp hỗ trợ người di cư và cố ý chọn thời điểm chuyến thăm trùng với ngày nghỉ Lễ Độc Lập Mỹ 4 Tháng Bảy. (MPL) [dt]


 

Vì sao Nhất Linh Nguyễn Tường Tam tự tử?

Xuân Hồng 

Vì sao Nhất Linh Nguyễn Tường Tam tự tử?

Thấy có một số bạn kết án TT Ngô Đình Diệm đã ” ép” Nhất Linh chết. Mọi thứ đều có nguồn cơn

Văn nhân kiêm chánh trị gia Nhất Linh Nguyễn Tường Tam sanh ngày 25-7-1905 tại Cẩm Giàng, Hải Dương

Ông là học sinh trường Bưởi Hà Nội. Năm 1923 đậu tiểu học, năm 1924 học y và mỹ thuật ở Hà Nội, nhưng sau đó bỏ ngang hông

Năm 1926, vào Nam Kỳ, qua Miên

Năm 1927, sang Pháp, nghiên cứu nghề báo và xuất bản. Năm 1930, tốt nghiệp cử nhơn khoa học giáo khoa chuyên ngành lý hoá tại Pháp

Trở về nước, Nguyễn Tường Tam dạy học tại trường Thăng Long và Gia Long Hà Nội.

Năm 1932, làm giám đốc báo Phong Hoá.

Năm 1933, thành lập Tự Lực Văn Đoàn. Nhất Linh là cây bút trụ cột của Tự Lực Văn Đoàn

Hồi năm 1939 Nhất Linh hoạt động chánh trị, lập đảng chống Pháp lấy tên là Hưng Việt sau đổi thành Đại Việt Dân Chính

Năm 1942, Nguyễn Tường Tam sang Trung Quốc hoạt động trong Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội với Nguyễn Hải Thần và Hồ Chí Minh

Sau đó, ông về Việt Nam Quốc Dân Đảng làm Bí thư trưởng của Việt Nam Quốc dân Đảng (Đại Việt Dân chính đảng hợp nhứt với Việt Nam Quốc dân đảng và Đại Việt Quốc dân đảng)

Năm 1945 Nguyễn  Tường Tam tham gia Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất  làm Phó chủ tịch, Nguyễn Hải Thần Chủ tịch, và là đối lập với Việt Minh

Sau dưới áp lực của Tưởng Giới Thạch, Nguyễn Tường Tam giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao trong Chánh phủ Liên hiệp Kháng chiến của ông Hồ Chí Minh

Ngày 5-3-1946, Nguyễn Tường Tam từ chức bộ trưởng ngoại giao và tháng 12-1946 bỏ qua Tàu cùng với cựu hoàng Bảo Đại

Năm 1949, Nguyễn Tường Tam trở về Hà Nội, tuyên bố không hoạt động chánh trị nữa 

Năm 1953, ông lên Đà Lạt ở ẩn, 1958 trở về Sài Gòn hoạt động văn nghệ

Năm 1960 thời VNCH của TT Ngô Đình Diệm, Nhất Linh tham gia thành lập Mặt trận Quốc dân đoàn kết, ủng hộ đại tá Nguyễn Chánh Thi và trung tá Vương Văn Đông đảo chánh tấn công dinh Độc Lập nhằm lật đổ TT Ngô Đình Diệm vào ngày 11/11/1960

Vụ đảo chánh bất thành

Những người cầm đầu như Vương Văn Đông, Hoàng Cơ Thuỵ, Nguyễn Chánh Thi chạy thoát sang Cam Bốt

Những chính khách ở lại đều bị bắt gồm: Phan Quang Đán, Phan Khắc Sửu, Vũ Hồng Khanh, Phan Bá Cầm, Bùi Lượng, Trần Văn Tuyên, Nguyễn Xuân Chữ, Đinh Xuân Quảng, Nguyễn Thành Phương, Nguyễn Thành Vinh, Vĩnh Lợi, Trần Tương, Trương Bảo Sơn, luật sư Lê Ngọc Chấn và …..Nhất Linh Nguyễn Tường Tam

TT Ngô Đình Diệm đã nương tay với Nhất Linh

Tội “xâm phạm an ninh quốc gia” tham gia đảo chánh là tội nặng phải bắt nhốt vô tù, nếu tại ngoại bị giam lỏng thì 3 ngày trước khi xét xử phải bị giam, nhưng riêng Nhất Linh Nguyễn Tường Tam thì không bị giam ngày nào

Nguyễn Tường Tam bị điều tra sơ khởi tại Nha Cảnh Sát, nha an ninh quân đội và thẩm tòa án quân sự đặc biệt

Ông khai ông không biết gì đảo chánh

TT Diệm cho bắt giam hết các nhân sĩ và lãnh tụ đảng phái và giáo phái khác, không trừ một ai,nhưng trừ Nhất Linh Nguyễn Tường Tam khi ông này vẫn ở nhà chung cư chợ An Đông, tất nhiên bị an ninh canh chừng

Phiên tòa sẽ xét xử ngày 08/07/1963

Chủ tọa phiên tòa “viết thơ mời” Nguyễn Tường Tam chứ không phải ra trát đòi yêu cầu ông ngày đó nhớ đi hầu tòa.

Ai dè ngày  7-7-1963 Nguyễn Tường Tam tự sát bằng thuốc

Ra tòa đặng làm sáng tỏ, cũng là thể hiện bản lãnh người làm chánh trị, nhưng ông không ra tòa, ông tự sát

Chúng ta thắc mắc, vậy rốt cuộc Nhất Linh có dính cuộc đảo chánh TT Ngô Đình Diệm hay không?

Trong một bài viết,con trai ông là Nguyễn Tường Thiết viết:

“Sau này được tiếp xúc với Giáo Sư Nguyễn Thành Vinh, một đàn em cũng là đồng chí của ông cụ, anh Vinh xác nhận với tôi: “Anh Tam đã tuyên bố không làm chính trị, vì vậy anh đứng ngoài, anh chỉ ủng hộ ngầm việc làm của các anh em mà thôi. Tất cả các buổi họp quan trọng trước ngày đảo chánh đều không có mặt anh Tam. Tuy nhiên anh được thông báo mọi diễn tiến. Vì vậy anh Tam biết trước có vụ đảo chánh xẩy ra.”

Nhất Linh có dính cuộc đảo chánh

Ông Thiết viết và lý giải vì sao cha ông là ông Nguyễn Tường Tam được tự do ở nhà trong khi đồng sự, đàn em bị bắt tạm giam hết

(Trích)

” Sự việc không bắt cha tôi, ngoài lý do không có bằng cớ, tôi cho còn là một sự tính toán cân nhắc lợi hại của chính quyền họ Ngô chứ chưa hẳn do cảm tình riêng của ông Diệm đối với ông cụ tôi như nhiều người nghĩ.

Thứ nhất không bắt ông cụ để ông cụ vô can tức là chứng tỏ cho dân chúng biết Nhất Linh không hề bất mãn và phản đối chế độ ông Diệm.

Thứ hai họ nghĩ rằng chặt hết tay chân của ông cụ tôi thì ông cụ tôi còn làm gì được nữa?

Nhưng không bắt bớ không có nghĩa là để cho ông cụ tôi được hoàn toàn tự do.

Trong cuốn “Nhất Linh Cha Tôi” trang 36 tôi ghi lại lời của cha tôi nói với tôi buổi sáng ngày 7 tháng 7, 1963: “Cậu chẳng sợ kết quả (ra tòa) ngày mai ra sao vì ở nhà hay ở tù thì cũng mất tự do như nhau.” (Hết trích)

Nhất Linh chọn ngày song thất 7 tháng 7 năm 1963 tự tử chết là trù và rủa ông Diệm vì ông lên làm Tổng Thống cũng vào ngày song thất

Nhất Linh để lại di ngôn 71 chữ :

“Đời tôi để lịch sử xử, tôi không chịu để ai xử cả. Sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử Đối lập Quốc Gia là một tội nặng sẽ làm cho nước mất về tay Cộng Sản. Tôi chống đối sự đó và tự hủy mình cũng như Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để cảnh cáo những người chà đạp mọi thứ tự do,Nhất Linh Nguyễn Tường Tam.7-7-1963”

Ông  noi gương ông  Thích Quảng Đức

Có ba nhận định về cái chết của Nhất Linh

Chúng ta hậu thế đọc đủ 3 dòng này

– Ông Nguyễn Văn Lục viết sách nói Nhất Linh “tự tử vì căn bệnh tâm thần” từ trước, tức có chứng bịnh suy nhược thần kinh và ông đã muốn chết từ trước 

-Lê Nguyên Phu nói Nhất Linh chết  “tự tử để tránh khỏi phải ra tòa đối chất với thuộc hạ”

Và thứ ba là của những người chống đối TT Diệm và của gia đình Nhất Linh nói Nhất Linh Nguyễn Tường Tam tự tử chết để phản đối  sự xâm phạm quyền tự do ngôn luận của chế độ TT Ngô Đình Diệm Ngô, chống lại gia đình trị độc tài

Ai hiểu sao cứ hiểu

Trong lịch sử, từ xưa đã có nhiều trí thức tự chọn cách tự tử một cách tiêu cực để rủ bỏ nợ trần ai

Khuất Nguyên là bậc đại trí thức thời kì chiến quốc, ông ôm giữ tấm lòng tận trung báo quốc với tài năng, đức độ và sự chánh trực của mình.

Thế nhưng có lẽ ông chỉ là một ngọn đuốc lẻ loi, một kỵ binh đơn thương độc mã, cuối cùng Khuất Nguyên ôm bọc đá nhảy xuống sông Mịch La tự trầm

“Tránh điều lỗi, mặc đời xoi mói!

Nén chí xưa, cam nỗi xót xa.

Thánh hiền xưa cũng như ta,

Thẳng ngay mà chết, ấy là chết trong”

(Ly tao-Khuất Nguyên)

Đời Hậu Trần, vua tôi Trùng Quang Đế,Đặng Dung, Nguyễn Súy khi rơi vào tay quân Minh đều tự vẫn, đó là tấm gương trung liệt cho đời

“Đầu bạc giang san thù chửa trả,

Long Tuyền mấy độ bóng trăng soi”

(Đặng Dung-Cảm hoài)

Quan Phan Thanh Giản sau khi giao thành trì cũng tự vẫn để giữ tròn khí tiết

Chúng ta không ca ngợi và đề cao cái chết của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, nhưng cũng không dám phê phán nó, làm chánh trị mà hở chút …tự tử chết thì hao người lắm. Nhưng cũng tôn trọng sự lựa chọn của ông

Chánh trị kiểu ông Thích Quảng Đức cũng là tạo sự kiện chánh trị thôi

Vũ Hoàng Chương có viết bài văn tế Nhất Linh, lấy hai câu kết bài

“Than ôi! Đời chính trị lông hồng gieo núi Thái, ngẩng đầu lên sấm sét vẫn chưa nguôi;

Việc văn chương một tấc để ngàn thu, ngoảnh mặt lại đá vàng sao khỏi thẹn.”

Chúng ta hậu thế, phải đọc và hiểu rõ nguồn gốc, ngọn ngành để tránh bị dẫn đường như người mù trong bóng tối.

Theo FB Nguyễn gia Việt


 

Có một thời như thế đó! – Tác giả: Vũ Đông Hà

Nếu ai hỏi tôi rằng sau ngày 30 tháng 4, 1975 cái gì mà cộng sản không thể “giải phóng” được; cái gì vẫn âm thầm nhưng vũ bão giải phóng ngược lại tâm hồn khô khốc của người dân miền Bắc lẫn nhiều cán binh cộng sản; cái gì vẫn miệt mài làm nhân chứng cho sự khác biệt giữa văn minh và man rợ, giữa nhân ái và bạo tàn, giữa yêu thương và thù hận; cái gì đã kết nối tâm hồn của những nạn nhân cộng sản ở cả hai miền Nam Bắc… 

              *****     Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam *****

Nếu ai hỏi tôi, ảnh hưởng lớn nhất để tôi trở thành người ngày hôm nay, biết rung động trước hình ảnh của Ngoại già lầm lũi quang gánh đổ bóng gầy dưới ánh đèn vàng, biết nhung nhớ một khe gió luồn qua hai tấm ván hở của vách tường ngày xưa nhà Mẹ, biết man mác buồn mỗi khi đến hè và trống vắng với một tiếng gà khan gáy ở sau đồi, biết tiếc nuối một mặt bàn lớp họckhắc nhỏ chữ tắt tên người bạn có đôi mắt người Sơn Tây, biết ngậm ngùi trăn trở chỉ vì một tiếng rao hàng đơn độc đêm khuya… 

Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.    

Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành một chất keo gắn chặt cuộc đời tôi vào mảnh đất mang tên Việt Nam. Âm Nhạc Miền Nam đã làm tôi là người Việt Nam.

*Tôi lớn lên theo những con đường đất đỏ bụi mù trời và cây reo buồn muôn thuở. Niềm say mê âm nhạc đơm mầm từ các anh lớn của Thiếu và Kha đoàn Hướng Đạo Việt Nam, trổ hoa theo những khúc hát vang vang của các anh giữa vùng trời Đạt Lý đang vào mùa cà phê hoa trắng nở: 

*Tôi muốn mọi người biết thương nhau. Không oán ghét không gây hận sầu. Tôi muốn đời hết nghĩa thương đau. Tôi muốn thấy tình yêu ban đầu…”

* Các bậc đàn anh như nhạc sĩ Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang của Phượng Hoàng đã lót đường nhân ái cho đàn em nhỏ chúng tôi chập chững trở thành người, để biết ngước mặt nhìn đời và :

“cười lên đi em ơi, dù nước mắt rớt trên vành môi, hãy ngước mặt nhìn đời, nhìn tha nhân ta buông tiếng cười…”

* Những đêm tối, giữa ngọn đồi nhiều đại thụ và cỏ tranh, bên nhau trong ánh lửa cao nguyên chập chờn, chúng tôi cảm nhận được niềm hãnh diện Việt Nam với bước chân của cha ông và bước chân sẽ đi tới của chính mình: 

“Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng. Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm. Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng chân tươi. Ôm vết thương rĩ máu ta cười dưới ánh mặt trời…”

* Và anh Nguyễn Đức Quang, người nhạc sĩ của thị xã đèo heo hút gió đã trở thành thần tượng của chúng tôi. Có những buổi chiều buông trong Rừng Lao Xao bạt ngàn, những đứa bé chúng tôi theo anh ngậm ngùi số phận 

* Xương sống ta đã oằn xuống, cuộc bon chen cứ đè lên. Người vay nợ áo cơm nào, thành nợ trăm năm còn thiếu. Một ngày một kiếp là bao. Một trăm năm mấy lúc ngọt ngào. Ôi biết đến bao giờ được nói tiếng an vui thật thà.

* Nhưng cũng từ anh đã gieo cho chúng tôi niềm lạc quan tuổi trẻ: 

“Hy vọng đã vươn lên trong màn đêm bao ưu phiền. Hy vọng đã vươn lên trong lo sợ mùa chinh chiến. Hy vọng đã vươn lên trong nhục nhằn tràn nước mắt. Hy vọng đã vươn dậy như làn tên…”

* Và từ anh, chúng tôi hát cho nhau *”Không phải là lúc ta ngồi mà đặt vấn đề nữa rồi. Mà phải cùng nhau ta làm cho tươi mới.”

* Cô giáo Việt văn của tôi đã mắng yêu tôi – tụi em thuộc nhạc Nguyễn Đức Quang hơn thuộc thơ của Nguyễn Công Trứ! 

Nguyễn Công Trứ. Đó là ngôi trường tuổi nhỏ có cây cổ thụ già, bóng mát của tuổi thơ tôi bây giờ đã chết. Tôi nhớ mãi những giờ cuối lớp tại trường, Cô Trâm cho cả lớp đồng ca những bài hát Bạch Đằng Giang, Việt Nam Việt Nam,

Về Với Mẹ Cha… Đứa vỗ tay, đứa đập bàn, đứa dậm chân, chúng tôi nở buồng phổi vang vang lên:

 “Từ Nam Quan, Cà Mau. Từ non cao rừng sâu Gặp nhau do non nước xây cầu. Người thanh niên Việt Nam. Quay về với xóm làng. Tiếng reo vui rộn trong lòng…” 

*Nhìn lên lớp học lúc ấy, có những biểu ngữ thủ công nghệ mà cô dạy chúng tôi viết: 

*Tổ quốc trên hết, Ngày nay học tập ngày sau giúp đời, Không thành công cũng thành Nhân.*.. 

Nhưng đọng lại trong tôi theo năm tháng vẫn là những câu hát :

“Tình yêu đây là khí giới, Tình thương đem về muôn nơi, Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người…”

* Cô giáo của tôi đã ươm mầm Lạc Hồng vào tâm hồn của chúng tôi và cứ thế chúng tôi lớn lên theo dòng suối mát, theo tiếng sóng vỗ bờ, theo tiếng gọi lịch sử của âm nhạc Việt Nam, để trở thành những công dân Việt Nam yêu nước thương nòi và hãnh diện về hành trình dựng nước, giữ nước của Tổ tiên. 

Trong cái nôi nhiều âm thanh êm đềm nhưng hùng tráng ấy, trừ những ngày tết Mậu Thân khi tiếng đạn pháo đì đùng từ xa dội về thành phố, cho đến lúc chui xuống gầm giường nghe tiếng AK47 và M16 bắn xối xả trước nhà vào ngày 10 tháng 3, 1975, tuổi thơ tôi được ru hời bởi dòng nhạc trữ tình của miền Nam để làm nên 

*Những Ngày Xưa Thân Ái*của chúng tôi.

*Những ngày xưa thân ái xin buộc vào tương lai*

*Anh còn gì cho tôi tôi còn gì cho em*

*Chỉ còn tay súng nhỏ giữa rừng sâu giết thù*

*Những ngày xưa thân ái xin gởi lại cho em…*

Các anh, những người anh miền Nam đã khoác áo chinh nhân lên đường đối diện với tử sinh, làm tròn lý tưởng Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm, đã hy sinh cuộc đời các anh và để lại sau lưng các anh những ngày xưa thân ái cho đàn em chúng tôi. Nhờ vào các anh mà chúng tôi có những năm tháng an lành giữa một đất nước chiến tranh, triền miên khói lửa.

Lần đầu tiên, chiến tranh tưởng như đứng cạnh bên mình là khi chúng tôi xếp hàng cúi đầu đưa tiễn Thầy của chúng tôi, là chồng của cô giáo Việt Văn, một đại úy sĩ quan Dù đã vị quốc vong thân. 

Cô tôi, mồ côi từ nhỏ, một mình quạnh quẻ, mặc áo dài màu đen, tang trắng, đứng trước mộ huyệt của người chồng còn trẻ. Cô khóc và hát tặng Thầy lần cuối bản nhạc mà Thầy yêu thích lúc còn sống :

“Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo… Đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa! Trên cõi đời này, trên cõi đời này. Từ nay mãi mãi không thấy nhau…”

* Và tôi say mê Mùa Thu Chết từ dạo đó. Trong những cụm hoa thạch thảo đầy lãng mạn ấy có đau thương đẫm nước mắt của Cô tôi. Có hình ảnh lá cờ vàng ba sọc đỏ phủ nắp quan tài của người Thầy Đại úy Sĩ quan Binh chủng Nhảy Dù vào mùa Hè hầm hập gió Nồm năm ấy.

Từ những ngày xa xăm tuổi nhỏ, những người lính VNCH là thần tượng của chúng tôi . Tôi mơ được làm một người lính Dù bởi *anh là loài chim quý, là cánh chim trùng khơi vạn lý, là người ra đi từ tổ ấm để không địa danh nào thiếu dấu chân anh*, và cuối cùng anh bi hùng ở lại Charlie. 

Giữa những đau thương chia lìa của chiến tranh, những dòng nhạc của Trần Thiện Thanh đã cho tôi biết thương yêu, kính trọng những người lính không chân dung nhưng rất gần trong lòng chúng tôi. Những *”cánh dù ôm gió, một cánh dù ôm kín đời anh”* cũng là những cánh dù ôm ấp lý tưởng đang thành hình trong tâm hồn tuổi nhỏ của chúng tôi.

Nhìn lại quãng thời gian binh lửa ấy, tôi nhận ra mình và các bạn cùng lứa không hề biết rõ Phạm Phú Quốc là ai, chỉ biết và say mê huyền sử của một người được 

*”Mẹ yêu theo gương người trước chọn lời. Đặt tên cho anh, anh là Quốc. Đặt tên cho anh, anh là Nước. Đặt tên cho Người. Đặt tình yêu Nước vào nôi”*, chỉ ước ao một ngày chúng tôi cũng được như anh, cũng sẽ là những 

*”Thần phong hiên ngang chẳng biết sợ gì!”.*

Chúng tôi, nhiều đứa núi đồi, rừng rú, chưa bao giờ thấy biển nhưng thèm thuồng màu áo trắng và đại dương xanh thẳm, thuộc lòng câu hát 

*”Tôi thức từng đêm, thơ ấu mà nghe muối pha trong lòng. Mẹ là mẹ trùng dương, gào than từ bãi trước ghềnh sau. Tuổi trời qua mau, gió biển mặn nuôi lớn khôn tôi. Nên năm hăm mốt tuổi, tôi đi vào quân đội. Mà lòng thì chưa hề yêu ai”* .

Chúng tôi cũng không tìm đọc tiểu sử, cuộc chiến đấu bi hùng của Đại tá Nhảy Dù Nguyễn Đình Bảo, cũng không biết địa danh Charlie nằm ở đâu, nhưng Đại tá Nguyễn Đình Bảo là biểu tượng anh hùng của chúng tôi để chúng tôi thuộc lòng khúc hát 

*”Toumorong, Dakto, Krek, Snoul. Trưa Khe Sanh gió mùa, đêm Hạ Lào thức sâu. Anh! Cũng anh vừa ở lại một mình, vừa ở lại một mình. Charlie, tên vẫn chưa quen người dân thị thành.”*

Chúng tôi không biết “Phá” là gì, “Tam Giang” ở đâu, nhà thơ Tô Thùy Yên là ai, nhưng 

“*Chiều trên phá Tam Giang anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ ôi niềm nhớ đến bất tận. Em ơi, em ơi…” *đã thân thiết chiếm ngự tâm hồn để chúng tôi biết thương những người anh chiến trận đang nhớ người yêu, nhớ những người chị, cô giáo của chúng tôi ngày ngày lo âu, ngóng tin từ mặt trận xa xăm.

Trong cái nôi của những ngày xưa thân ái ấy, từ nơi khung trời đầy mộng mơ của mình chúng tôi chỉ biết đến nỗi niềm của các anh bằng những 

*”Rừng lá xanh xanh lối mòn chạy quanh, Đời lính quen yêu gian khổ quân hành”*. 

Giữa mùa xuân pháo đỏ rộn ràng con đường tuổi thơ thì chính âm nhạc nhắc cho những đứa bé chúng tôi biết đó cũng là *”ngày đầu một năm, giữa tiền đồn heo hút xa xăm, có người lính trẻ, đón mùa xuân bằng phiên gác sớm”*.

Giữa những sum vầy bình an bên cạnh mai vàng rực rỡ, thì ở xa xăm có những người con rưng rưng nhớ đến Mẹ già và gửi lời tha thiết 

*”bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường, không lẽ riêng mình êm ấm, Mẹ ơi con xuân này vắng nhà…”* 

Âm nhạc Việt Nam đã gieo vào tâm hồn chúng tôi hình ảnh rất bình thường, rất người, nhưng lòng ái quốc và sự hy sinh của thế hệ đàn anh chúng tôi – những người lính VNCH – thì ngời sáng. 

Và chúng tôi biết yêu thương, khâm phục, muốn noi gương các anh là cũng từ đó.

Sau ngày Thầy hy sinh, chúng tôi gần gũi với Cô giáo Việt Văn của mình hơn. Nhiều đêm thứ bảy, tôi và các bạn ghé nhà thăm Cô. Đó là lúc chúng tôi đến với Một thời để yêu – Một thời để chết. Chúng tôi bắt đầu chạm ngõ tình yêu với những Vũng lầy của chúng ta, Con đường tình ta đi, Bây giờ tháng mấy,

Ngày xưa Hoàng Thị, Tình đầu tình cuối, Em hiền như Ma Soeur, Trên đỉnh mùa đông, Trả lại em yêu… 

Đó là lúc Cô đọc thơ Chiều trên Phá Tam Giang của Tô Thùy Yên cho chúng tôi nghe, giảng cho chúng tôi về tài nghệ “thần sầu” của Trần Thiện Thanh trong lời nhạc *”anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ… ôi niềm nhớ…….. đến bất tận. Em ơi… em ơi!…”* khi diễn tả nỗi nhớ ngút ngàn, và sau đó chú Trần Thiện Thanh Toàn – em ruột của nhạc sĩ Nhật Trường ở Sài Gòn lên thăm Cô, vừa đàn vừa hát. 

Những buổi tối này, mình tôi ở lại với Cô tới khuya. Cô đọc thơ và hát nhạc phổ từ thơ của Nguyễn Tất Nhiên, chỉ cho tôi tính lãng đãng của lời nhạc Từ Công Phụng, khắc khoải của Lê Uyên Phương, mượt mà của Đoàn Chuẩn – Từ Linh, sâu lắng của Vũ Thành An… 

Và qua âm nhạc, Cô kể tôi nghe chuyện tình của Cô và Thầy. Hai người đến với nhau khởi đi từ bản nhạc mà Cô hát khi Cô còn là nữ sinh Đệ Nhất và Thầy là Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. 

Bản nhạc ấy có những dòng như sau:

*”Nhưng anh bây giờ anh ở đâu*

*con ễnh ương vẫn còn gọi tên anh trong mưa dầm*

*tên anh nghe như tiếng thở dài của lòng đất mẹ*

*Dạo tháng Ba tên anh lẫn trong tiếng sấm đầu mùa mưa*

*nghe như tiếng gầm phẫn nộ đến từ cuối trời.”*

Thầy và cô tôi yêu nhau từ sau khúc hát Người Tình Không Chân Dung và *”người chiến sĩ đã để lại cái nón sắt trên bờ lau sậy này” * cũng là định mệnh Thầy, của cuộc tình bi thương giữa một cô giáo trẻ và người lính VNCH. 

Cô tôi sống một mình và qua đời vào năm 2010. Bạn cùng lớp của tôi là Phương lùn, vào một ngày cuối năm, từ Sài Gòn trở về Ban Mê Thuột, xách đàn đến trước mộ Cô và hát lại :

*”Ta ngắt đi một cụm hoa Thạch Thảo”* để thay mặt những đứa học trò thơ ấu kính tặng hương hồn của Cô. Còn tôi, năm tháng trôi qua nhưng tôi biết rõ trong dòng máu luân lưu và nhịp đập của tim mình vẫn đầy tràn những thương yêu mà Cô đã gieo vào tôi bằng Âm Nhạc Miền Nam.

Một buổi tối chúng tôi ngồi hát với nhau. Các bạn từ Hà Nội, Nam Định, Yên Bái, Đà Nẵng, Sài Gòn… nhưng chỉ có mình tôi là sinh ra và lớn lên trước 1975. Các bạn tôi, hay đúng ra là những người em đang cùng đồng hành trên con đường đã chọn, đã thức suốt đêm hát cho nhau nghe. Rất tự nhiên, rất bình thường: toàn là những ca khúc của miền Nam thân yêu.

Đêm hôm ấy, cả một quãng đời của những ngày xưa thân ái trong tôi sống lại. Sống lại từ giọng hát của những người em sinh ra và lớn lên trong lòng chế độ độc tài. Các em hát cho tôi nghe về những người lính miền Nam mà các em chưa bao giờ gặp mặt :

*”Anh sẽ ra đi nặng hành trang đó, đem dấu chân soi tuổi đời ngây thơ, đem nỗi thương yêu vào niềm thương nhớ, anh sẽ ra đi chẳng mong ngày về…”.*

Tôi hát cho các em mình về những ngày tháng mộng mơ trước “giải phóng” của những :

“*Con đường tuổi măng tre, nắng vàng tươi đẹp đẽ, bóng người dài trên hè, con đường tình ta đi…

“* Các em tâm sự về cảm nhận đối với người lính VNCH qua những dòng nhạc êm đềm, đầy tình người giữa tàn khốc của chiến tranh: 

“*Tôi lại gặp anh, người trai nơi chiến tuyến, súng trên vai bước lê qua đường phố; tôi lại gặp anh, giờ đây nơi quán nhỏ, tuổi 30 mà ngỡ như trẻ thơ…

“* Tôi chia sẻ với các em về nỗi ngậm ngùi quá khứ:

 *”Như phai nhạt mờ, đường xanh nho nhỏ, hôm nay tình cờ, đi lại đường xưa đường xưa. Cây xưa còn gầy, nằm phơi dáng đỏ, áo em ngày nọ, phai nhạt mây màu, âm vang thuở nào, bước nhỏ tìm nhau tìm nhau”…*

Đêm ấy, khi các bạn nói lên cảm nhận về những mượt mà, êm ả, nhân ái của Âm Nhạc Miền Nam, tôi đã tâm sự với các bạn rằng:

–  Chỉ cần lắng nghe và hát lên những dòng nhạc ấy, các em sẽ hiểu thấu được những mất mát khủng khiếp của con người miền Nam.

Những mất mát không chỉ là một cái nhà, một mảnh đất, mà là sự mất mát của cả một đời sống, một thế giới tâm hồn, một đổ vỡ không bao giờ hàn gắn lại được. Khi những mượt mà, nhân ái ấy đã bị thay thế bởi những :

*”Bác cùng chúng cháu hành quân” *và *”Tiến về Sài Gòn” *thì các em hiểu được tuổi thanh xuân và cuộc đời của những thế hệ miền Nam đã bị đánh cắp hay ăn cướp như thế nào.

Gần 42 năm trôi qua, Âm Nhạc Miền Nam vẫn như dòng suối mát trôi chảy trong tâm hồn của người dân Việt. Chảy từ đồng bằng Cửu Long, xuôi ngược lên Bắc, nhập dòng sông Hồng để tưới mát tâm hồn của mọi người dân Việt đang bị thiêu đốt bởi ngọn lửa bạo tàn cộng sản.

Dòng suối trong mát ấy cũng cuốn phăng mọi tuyên truyền xảo trá của chế độ về xã hội, con người miền Nam trước 1975 cũng như về tư cách, phẩm giá, lý tưởng của những người lính VNCH và tình cảm trân quý, yêu thương của người dân miền Nam dành cho họ.

Gần 42 năm trôi qua, trong tuyệt vọng của những kẻ thật sự đã thua trận trong cuộc chiến giữa chính nghĩa và gian tà, nhà cầm quyền cộng sản đã tìm mọi cách để tiêu diệt Âm Nhạc Miền Nam. 

Nhưng họ không biết rằng, dòng âm nhạc đó không còn là những bản in bài hát, những CD được sao chép, bán buôn.. 

Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành máu huyết và hơi thở của người dân Việt, bất kể Bắc – Trung hay Nam, bất kể sinh trưởng trước hay sau 1975.

Bạo tàn và ngu dốt có thể đem Âm Nhạc Miền Nam vào những danh sách cấm đoán vô tri vô giác, nhưng không bao giờ đem được Âm Nhạc Miền Nam ra khỏi con người Việt Nam.

Ai giải phóng ai? Hãy hỏi* Con Đường Xưa Em Đi* và đốt đuốc đi tìm xem *Bác Cùng Chúng Cháu Hành Quân* đang nằm trong cống rãnh nào trên những con đường Việt Nam!!!

Tác giả: Vũ Đông Hà 

From: Tu-Phung


 

63 NGƯỜI DÂN TƯƠNG TÁC VỚI KÊNH CỦA ÔNG LÊ TRUNG KHOA BỊ “BẾ LÊN ĐỒN”

Việt Tân 

 63 NGƯỜI DÂN TƯƠNG TÁC VỚI KÊNH CỦA ÔNG LÊ TRUNG KHOA BỊ “BẾ LÊN ĐỒN”

Vừa qua, công an tỉnh Quảng Ngãi đã triệu tập 63 người dân với cáo buộc “tương tác, chia sẻ thông tin xấu độc” trên mạng xã hội. Và kênh mà những người này thường xuyên tương tác là của ông Lê Trung Khoa, người từng bị chính quyền Việt Nam kết án vắng mặt 17 năm tù giam bởi cáo buộc “tuyên truyền chống phá nhà nước”.

Hai trong số 63 người bị triệu tập lần này đã phải đóng phạt 12,5 triệu đồng, những người còn lại “may mắn” hơn chỉ bị răn đe.

Cả một chính quyền cộng sản với hàng triệu tay sai, là công an, dân phòng, bảo vệ dân phố, thế mà lại sợ một người đàn ông ngoài 50 tuổi, lại còn sống cách Việt Nam gần nửa vòng trái đất.

Chỉ vài lời nói của ông Lê Trung Khoa có thể làm cả chế độ cộng sản run sợ. Tại sao? Chỉ có thể là vì những lời ông ấy nói là sự thật, là điều mà chính quyền luôn muốn che giấu. Chế độ này không thể bịt miệng ông Khoa như cách họ vẫn thường làm với dân thường trong nước, nên chỉ biết đe dọa những người yếu thế hơn.

Thay vì tìm cách bịt miệng những người đối đầu, chính quyền nên dành thời gian chăm lo cho đời sống của người dân. Vì cây ngay thì sẽ không sợ bị chết đứng.


 

Số lính thương vong trong cuộc chiến Ukraine vượt 2 triệu

Ba’o Nguoi – Viet

July 2, 2026

KIEV, Ukraine (NV) – Hơn 2 triệu binh sĩ Nga và Ukraine tử trận hoặc bị thương trong bốn năm Nga xâm lăng Ukraine, theo kết quả nghiên cứu mới hôm Thứ Tư, 1 Tháng Bảy, New York Times đưa tin.

Cuộc chiến Ukraine có lẽ đã vượt qua trận Stalingrad thời Đệ Nhị Thế Chiến, trận chiến được coi là đẫm máu nhất lịch sử, theo CNN.

Lính Ukraine khiêng quan tài anh Yaroslav Varnak, 23 tuổi, tử trận trong cuộc chiến với Nga, ở Kiev hôm 8 Tháng Sáu. (Hình: Tetiana Dzhafarova/AFP via Getty Images)

Theo kết quả nghiên cứu được Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược và Quốc Tế (CSIS) ở Mỹ công bố, Nga bị tổn thất nặng hơn: 1.4 triệu quân thiệt mạng hoặc bị thương kể từ Tháng Hai, 2022, khi ông Vladimir Putin, tổng thống Nga, xua quân qua xâm lăng Ukraine.

Trong số đó, 450,000 tử trận, nhiều gấp bốn lần số lính Mỹ thiệt mạng trong tất cả cuộc chiến từ Đệ Nhị Thế Chiến cộng lại.

Ukraine có 525,000 tới 625,000 lính tử trận hoặc bị thương, trong đó, số người thiệt mạng khoảng 125,000 tới 150,000.

Giới chức từng cảnh báo rất khó ước tính số thương vong trong cuộc chiến này vì họ cho rằng Nga thường đếm bớt đi con số thực sự, còn Ukraine không tiết lộ số thương vong chính thức của nước này. Cuộc nghiên cứu của CSIS dựa vào con số mà chính phủ Anh và Mỹ và một số nguồn khác ước tính.

“Những con số này đáng kinh ngạc,” ông Seth G. Jones và ông Riley McCabe, hai người thực hiện cuộc nghiên cứu này, cho hay.

Về thương vong, Nga ngày càng bị tổn thất nhiều hơn Ukraine nhiều, ông Jones và ông McCabe cho biết. Trong sáu tháng đầu năm nay, tỉ số thương vong có lẽ tăng lên gần 8:1, nghĩa là cứ mỗi lính Ukraine thiệt mạng hoặc thương vong thì tám lính Nga bị như vậy, theo hai ông này.

Hầu hết bốn năm chiến tranh, tỉ số đó khoảng hai tới ba lính Nga thiệt mạng hoặc thương vong so với một lính Ukraine bị như vậy. Ông Jones và ông McCabe cho hay tỉ số đó hiện đang tăng lên vì Ukraine đạt tiến bộ trong chương trình “drone” (máy bay điều khiển từ xa), đặc biệt là có thể mở rộng “vùng tiêu diệt” xung quanh tiền tuyến.

Ở Nga, số thương vong trong cuộc chiến này không xảy ra đều khắp nơi: Vùng nghèo hơn và sắc tộc thiểu số có lính thương vong nhiều hơn. Tin tức về những ngôi làng nhỏ, hẻo lánh hầu như không còn đàn ông đang trở nên phổ biến trên báo chí đối lập ở nước này. Và theo cuộc nghiên cứu của CSIS, hiện tại, số quân mà Nga tuyển thêm không theo kịp số thương vong mà nước này đang hứng chịu. (Th.Long)


 

Về già chỉ nên trông cậy vào tiền bạc

Lê Đình Hùng

Mai Ton T TuyetNHỮNG BÀI POST HAY.

«Về già chỉ nên trông cậy vào tiền bạc»: Kết luận chuẩn xác của một người đàn ông lớn tuổi.

(Trích dẫn của K.A.A – Về Hạnh phúc – Thật đơn giản)

****

«Tiền bạc còn tốt hơn con cháu và thứ tình yêu giả tạo của chúng».

Gửi các đồng niên và tất cả những ai vẫn còn đang nghĩ rằng tuổi già là câu chuyện về sự an nhàn và vui vầy bên con cháu.

Tôi không phải nhà tâm lý học, tôi chỉ là một người đàn ông bình thường. Tôi đã sống 65 năm trên đời, trong đó 5 năm cuối là những năm tháng hạnh phúc, bất chấp mọi bệnh tật.

Tôi muốn nói ra những điều người ta thường không dám nói thành tiếng, để tránh làm vỡ mộng những kỳ vọng của người khác.

Tại sao tôi lại hạnh phúc? Chính vì tôi đã nhận ra một điều đơn giản.

Đến năm 60 tuổi, tôi hiểu ra điều cốt lõi: Trở thành nhà vô địch ở độ tuổi này không có nghĩa là chạy nhanh hơn tất cả mọi người.

Nó có nghĩa là biết cách sống sót dưới áp lực, khi cơ thể đau nhức, còn tâm lý thì lung lay vì huyết áp, tiểu đường và đủ thứ bệnh tật. Và đó chính xác là thực tế tuổi già của tôi.

Mà tuổi già, các bạn ạ, có một đặc tính rất khốn nạn — nó luôn giáng những đòn chí mạng vào những niềm hy vọng.

Tôi từng hy vọng các con mình sẽ sống ở gần. Nhưng con trai tôi đã chuyển đến Moscow, lấy vợ thành phố, và cô con dâu thì bảo thẳng là “thấy ngại” khi phải về vùng quê hẻo lánh của chúng tôi.

Con gái tôi thì ở Serbia, chồng nó là một cậu trai tốt. Nhưng quá xa xôi. Cậu con trai út sống cách tôi không xa, có ba đứa con trai — tức là ba đứa cháu nội của tôi. Cứ ngỡ thế là: «Đến đây với ông nào».

Lúc nhỏ thì đúng là như thế. Nhưng cứ hễ chúng lên 13 tuổi một cái là hết. Ông chẳng còn cần thiết nữa. Chúng chỉ nhớ đến ông khi cần tiền.

Quan sát những người ở độ tuổi trên 55, tôi đã rút ra vài kết luận cay đắng.

Bắt đầu từ nỗi thất vọng lớn nhất — Con cái.

Chúng ta sinh chúng ra, đầu tư tất cả vào chúng, rồi ngồi chờ chúng sẽ trở thành chỗ dựa cho mình. Sẽ không có chuyện đó đâu. Con cái không cứu nổi bạn khỏi sự cô đơn.

Thực ra, chúng chẳng cứu bạn khỏi bất cứ điều gì cả. Nếu chúng ở ngay cạnh bạn — điều đó có nghĩa là bạn đang cướp đi cuộc sống của chúng và bào mòn tài nguyên của chúng.

Tôi đã chứng kiến những người phụ nữ quen biết già đi nhanh chóng vì phải chăm sóc mẹ già, khi các bà mẹ hút cạn những năm tháng thanh xuân của con gái mình.

*Đàn ông không có quyền làm như vậy.

Phụ nữ có lẽ có thể — họ có những vai trò khác. Nhưng tôi nói với tư cách là một người đàn ông: Con cái hoàn toàn tự do và không nợ nần gì bạn cả.

Chúng có cuộc sống riêng. Chúng là niềm vui, là lý do để bạn mỉm cười, nhưng không phải là cái nạng của bạn khi về già, cũng không phải là tấm bảo hiểm cho một cái kết đột ngột.

Tự nhiên đã an bài rằng đàn ông là “vật liệu tiêu hao” và các ông già thì phải ra đi trước các bà già.

Sự quan tâm của con cái chỉ là một phần thưởng thêm (bonus), không hơn không kém. Đòi hỏi chúng phải quan tâm liên tục là sự ích kỷ thuần túy của tuổi già, thứ biến bạn thành một đứa trẻ hay hờn dỗi. Đừng tự cho phép mình trở nên như vậy.

Bây giờ là về những thứ thực sự có thể dựa dẫm: Sức khỏe và Tiền bạc.

Đó mới là nguồn vốn chính.

Không phải con cái, không phải các mối quan hệ, cũng không phải công lao trong quá khứ. Chỉ có những gì bạn có thể sờ thấy và tiêu được mà thôi. Những điều giản đơn đã trở thành cứu cánh của tôi. Không vội vã — đó là luật.

Hãy chấp nhận tuổi tác, tự giới hạn bản thân, và đừng chen chân vào những nơi dành cho giới trẻ.

Lương hưu không phải là cuộc sống, đó là sự sinh tồn.

Trông cậy vào nhà nước là tự hạ thấp lòng tự trọng của mình. Tuổi già của bạn là trách nhiệm của chính bạn. Lương hưu chỉ là khoản bố thí từ nhà nước. Họ cũng muốn bỏ mặc bạn lắm chứ, nhưng vì bạn là cử tri, nên họ phải giữ cho bạn không bị chết đói.

Vì vậy, chỉ nên tính toán dựa trên số tiền tiết kiệm của chính mình — dù ít ỏi, nhưng phải là của cá nhân bạn. Chúng mang lại sự tự tin. Chúng cho bạn quyền tự do xoay xở.

Những kết luận cuối cùng mà tôi đã ghi lại trong nhật ký:

*Thứ nhất: Tiền bạc đáng tin hơn con cái. Nghe có vẻ phũ phàng? Đúng vậy. Nhưng đó là thực tế.

  Tiền của bạn là tiền của bạn. Tiền của con cái là tiền của chúng. Nếu con cái tự nguyện giúp đỡ — hãy hạn chế sự nhiệt tình đó của chúng. Đàn ông là người tạo ra nguồn lực, chứ không phải đi tước đoạt.

*Thứ hai: Sức khỏe là mối quan tâm hàng đầu của bạn. Suốt cả cuộc đời. Nhưng từ năm 60 tuổi, nó là một chế độ đặc biệt.

Nếu không đủ sức để đứng dậy và ép bản thân làm điều gì đó — tất cả những thứ khác đều mất đi ý nghĩa. Tuyệt đối mọi thứ.

*Thứ ba: Đừng mong đợi bất cứ điều gì từ bất kỳ ai. Cuộc sống của bạn — ngày vui của bạn. Tự mình tổ chức — tự mình ăn mừng. Họ không đến — thì thôi, chẳng sao cả.

*Thứ tư: Tuổi già có cái lợi của nó. Ốm yếu có cái lợi. Yếu đuối có cái lợi. Nhưng tất cả những điều đó đều là sự ích kỷ. Một thứ lợi ích sai lầm. Tuổi già là dành cho những người mạnh mẽ. Những kẻ yếu đuối sẽ bị chìm nghỉm trong đó.

*Thứ năm: Thời trẻ chúng ta sống vì tương lai. Sau tuổi 60, phải sống cho hiện tại. Không có tương lai nào cả. Cuộc đời là hữu hạn. Ở tuổi 60 của chúng ta, cha mẹ hầu như đều đã ra đi. Và chính họ đã tặng cho chúng ta sự thấu hiểu về cái kết của đời người. Vì vậy, phải sống cho kịp. Không phải để tích lũy — mà là để sống cho kịp.

Tuổi già là kỳ thi bài bản về sự trưởng thành.

Đó là một giải đấu vô địch. Đó là một trò chơi roulette. Con đường này bạn sẽ phải đi một mình — ốm đau, yếu ớt, bất lực, già nua, lú lẫn. Kỳ thi này sẽ không có ai thi hộ bạn cả. Con cái yêu thương bạn ư?

Tuyệt vời. Sự giúp đỡ của chúng là phần thưởng thêm, không phải là nền tảng vững chắc.

Lựa chọn rất đơn giản — sự cam chịu (thuận theo tự nhiên).

Cam chịu không phải là yếu đuối. Đó là lòng dũng cảm để chấp nhận sự thật. Hoặc là bạn chấp nhận tuổi già và tự xây dựng kịch bản cá nhân theo luật chơi của nó.

Hoặc là bạn ngồi chờ một phép màu không bao giờ đến. Bởi vì cái kết sẽ đến. Không một lời cảnh báo. Nhưng nếu bạn đã chấp nhận điều đó — bạn đã là người chiến thắng rồi.

Tôi đã học được cách tự ăn mừng một mình.

Như vậy đối với tôi dễ dàng hơn.

Vợ tôi mất cách đây 6 năm vì bạo bệnh. Tôi không muốn có thêm bất kỳ ai ở bên cạnh mình nữa.

(LĐH* st & dịch) 


 

50 NĂM ĐỔI TÊN: BẢN SẮC CỦA SÀI GÒN LÀ TỰ DO

BBC News Tiếng Việt  

50 NĂM ĐỔI TÊN: BẢN SẮC CỦA SÀI GÒN LÀ TỰ DO

Lịch sử, cùng với vinh quang của người này là nỗi tổn thương, mất mát của người khác song hành trong một cộng đồng dân tộc.

Sài Gòn, thủ đô của một Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, được thay tên bằng Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã tròn 50 năm [ngày 2/7/1976].

Cái tiếc nhất của tôi là bầu khí trí thức và khoáng đạt của đại học, sự sôi động của báo chí và văn học nghệ thuật thuở đó.

Giờ đây, chúng ta có phố đi bộ Nguyễn Huệ rộng rãi hơn, vẫn có thể dễ dàng thưởng thức một ly nước mía mát lạnh, những chiếc bánh pâté chaud nóng và cà phê ngon ở bất cứ đâu.

Nhưng chắc chắn không thể tìm thấy một môi trường học thuật tự do, cùng cái mã thượng hay sự tôn trọng sự khác biệt chính kiến của nhau như thời đó.

Bạn học, trong chúng tôi, ai theo Việt Cộng, ai theo Thiệu – Kỳ, ai làm mật thám chỉ điểm… ai cũng biết ai. Nhưng chúng tôi vẫn chơi với nhau. Không có đấu tố.

Chúng tôi tự in sách báo, tạp chí… tự do biểu đạt tư tưởng, tự do sáng tác. Chúng tôi chửi Mỹ, giễu cợt Thiệu – Kỳ. Chúng tôi chống chiến tranh, chúng tôi xuống đường và chúng tôi cũng đi lính… diệt Cộng.

Chúng tôi tôn trọng sự khác biệt chính kiến, tư tưởng và lối sống của nhau. Đấy là tự do và chúng tôi không dùng tự do của mình để chà đạp tự do của người khác.

Mời các bạn đọc toàn bài của nhà văn Nguyễn Viện gửi cho BBC trong link bài viết dưới phần bình luận.

#BBCNewsTiengViet #SaiGon #TPHCM #lichsu – BBC News Tiếng Việt

Các bạn đọc bài ở đây: https://www.bbc.com/vietnamese/articles/cn4d218e8zzo

 

Người hành hương đổ về Tắc Sậy trước lễ Tuyên Phong Chân Phước cha Trương Bửu Diệp

Ba’o Nguoi-Viet

June 30, 2026

CÀ MAU, Việt Nam (NV) – Mặc dù còn hai ngày nữa mới đến ngày lễ Tuyên Phong Chân Phước Linh Mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp (Cha Trương Bửu Diệp) nhưng người hành hương từ khắp nơi đã đổ về Trung Tâm Hành Hương Tắc Sậy, xã Phong Thạnh, tỉnh Cà Mau, trải chiếu ngủ lại để chờ ngày chính lễ đặc biệt này.

Nghi thức Tuyên Phong Chân Phước cho Cha Trương Bửu Diệp sẽ chính thức bắt đầu lúc 8 giờ sáng 2 Tháng Bảy tới đây tại Trung Tâm Hành Hương Tắc Sậy, nhưng từ hôm 29 Tháng Sáu, nhà thờ Tắc Sậy đã bắt đầu đón những đoàn người từ các tỉnh Điện Biên, Hưng Yên, Hà Nội, Vĩnh Long… tìm về. Họ đến sớm để có một chỗ nghỉ ở nhà thờ và chờ đợi ngày mà nhiều người nói rằng mình “đã mong từ rất lâu.”

Từ hôm 29 Tháng Sáu, nhà thờ Tắc Sậy đã bắt đầu đón những đoàn người hành hương từ các nơi tìm về dự lễ. (Hình: Chúc Ly/VnExpress)

Nói với báo Thanh Niên, ông Đào Văn Song, 61 tuổi, ở tỉnh Hưng Yên, cho biết mình cùng đoàn người trong làng đi hai xe đò 50 chỗ vào miền Tây. Chuyến đi kéo dài gần hai ngày nhưng cảm giác nhẹ nhõm khi đặt chân đến nơi mình mong muốn.

“Chúng tôi đi sớm mấy ngày vì sợ đông quá không vào được. Vào được tới đây rồi thì yên tâm,” ông Song vui vẻ cho biết.

Còn bà Dương Thị Đâu, 71 tuổi, ở Vĩnh Long, cho biết nhóm của bà đã lên kế hoạch từ nhiều tháng trước khi hay tin lễ Tuyên Phong Chân Phước cho Cha Diệp sẽ được tổ chức ở Tắc Sậy.

“Đi sớm để có chỗ nằm. Đi trễ đông người quá sẽ khó ở lại. Mình chờ ngày này lâu rồi nên không muốn bỏ lỡ,” bà Đâu nói.

Khi trời dần tối, nhiều người tranh thủ nghỉ ngơi, trong khi một số người vẫn tiếp tục đi lại trong khuôn viên nhà thờ. Không khí khá yên tĩnh dù lượng người đổ về ngày một đông, khác với hình dung của nhiều người về một sự kiện dự kiến đón hàng chục ngàn người tham dự.

Theo báo VnExpress, chiều 30 Tháng Sáu (giờ Việt Nam), Đức Hồng Y Luis Antonio G. Tagle, 69 tuổi, người Philipines, quyền tổng trưởng Bộ Loan Báo Tin Mừng của Tòa Thánh Vatican, cũng đã đến Hà Nội để thay mặt Đức Thánh Cha Leo XIV làm chủ sự lễ Tuyên Phong Chân Phước cho Cha Trương Bửu Diệp.

Đức Tổng Giám Mục Marek Zalewski, đại diện Tòa Thánh tại Việt Nam, cùng hai Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Năng và Vũ Văn Thiên, chủ tịch và phó chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, đã đến đón Đức Hồng Y Tagle.

Đức Hồng Y Luis Antonio G. Tagle (cầm hoa) được Đức Tổng Giám Mục Marek Zalewski, đại diện Tòa Thánh Việt Nam và Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đón tại phi trường Nội Bài, Hà Nội. (Hình: Đức Dũng/VnExpress)

Theo Linh Mục Giuse Võ Văn Hoài, chánh sở Họ Tắc Sậy, đây là lần đầu tiên sau gần 500 năm kể từ khi Công Giáo vào Việt Nam, một lễ Tuyên Phong Chân Phước được tổ chức tại Việt Nam thay vì tại Vatican.

Dự trù hôm 1 Tháng Bảy tại nhà thờ Tắc Sậy sẽ có bốn Thánh Lễ từ sáng đến chiều.

Lễ đài 10,000 chỗ ngồi, khuôn viên đối diện nhà thờ Tắc Sậy hiện đã hoàn thiện, sẵn sàng phục vụ giáo dân, khách hành hương dự lễ.

Ngoài ra, còn có khu nhà nghỉ trước lễ dành cho đức hồng y và các đức giám mục, khu ẩm thực sau lễ và nhiều khu chức năng khác.

Các họ đạo trong giáo phận Cần Thơ đã tổ chức Tuần Cửu Nhật cầu nguyện cho đại lễ. Giáo dân vận động được 47,000 phần ăn sáng và 200,000 chai nước uống phục vụ người tham dự; chuẩn bị 1,850 áo lễ tặng các đức giám mục và linh mục, cùng 14,000 phần ăn dành cho khách mời trong sân lễ. (Tr.N)


 

Nhân cách Jimmy Carter-Đoàn Xuân Thu

Đoàn Xuân Thu

 Nhân cách Jimmy Carter

Có những con người mà khi họ đi qua đời sống chính trị, dấu chân của họ không dừng lại ở dinh tổng thống hay phòng họp quốc hội, mà còn in xuống những nền đất bùn, những khung nhà gỗ, và cả những bàn tay chai sạn của kẻ nghèo. Trong số hiếm hoi ấy, có một người Mỹ tên là Jimmy Carter – một cựu Tổng thống không chọn lui vào bóng mát quyền lực, mà lại chọn đứng giữa nắng gió công trường suốt mấy chục năm trời sau khi rời nhiệm sở.

Câu chuyện bắt đầu bằng một buổi sáng Chủ nhật tưởng như bình thường. Ông vừa tròn chín mươi lăm tuổi được năm ngày thì té ngã trong nhà, trán va vào cạnh sắc, phải vào bệnh viện khâu mười bốn mũi. Người ta tưởng sau cú ngã ấy, một con người ở tuổi “cổ lai hy” như vậy sẽ chịu nằm yên. Nhưng không. Vài hôm sau, ông xuất hiện với vết bầm đen trên mặt, băng trắng dán ngang trán, đội mũ bóng chày, bước lên sân khấu ở Nashville giữa tiếng vỗ tay của hàng trăm tình nguyện viên.

Và sáng hôm sau, ông lại có mặt ở công trường. Cầm búa.

Cái hình ảnh ấy, nếu nhìn bằng con mắt hành chánh thuần túy, có thể chỉ là một ông già “không biết giữ gìn sức khỏe”. Nhưng nếu nhìn bằng con mắt của một xã hội từng trải, nó lại giống như một lời tuyên ngôn lặng lẽ: con người này không sống để nghỉ ngơi, mà sống để tiếp tục làm việc có ích cho tha nhân.

Ông Carter sinh năm 1924 tại Plains, Georgia – một thị trấn bé đến mức nếu không để ý, người ta có thể chạy ngang mà tưởng chỉ là một trạm xăng cũ. Gia đình ông không có tiện nghi hiện đại trong những năm đầu đời. Điện, nước máy, những thứ mà thành thị xem là hiển nhiên, chỉ đến với ông khi đã gần tuổi thiếu niên. Cha là nông dân, mẹ là y tá – một người phụ nữ về sau, ở tuổi gần bảy mươi, lại tình nguyện tham gia Peace Corps, như thể đời sống vẫn chưa đủ dài để ngừng phục vụ người khác.

Trong môi trường ấy, khái niệm “phục vụ” không phải là khẩu hiệu chính trị. Nó là nếp sống.

Ông đi qua Hải quân Hoa Kỳ, rồi bước vào chính trường Georgia, làm Thống đốc, rồi trở thành Tổng thống thứ 39 của Hoa Kỳ từ năm 1977 đến 1981. Nhưng điều khiến người ta nhớ đến ông không nằm ở những bức tường Nhà Trắng, mà nằm ở điều xảy ra sau khi ông rời khỏi nơi đó.

Thông thường, cựu tổng thống là một vị trí nghỉ ngơi có tổ chức: diễn thuyết, hồi ký, cố vấn, quỹ từ thiện mang tên mình. Nhưng Carter lại rẽ sang một hướng khác, có phần… thô sơ hơn, nếu nói theo kiểu chính trị: ông cầm búa, đội mũ bảo hộ, đi xây nhà cho người nghèo.

Từ năm 1984, ông tham gia Habitat for Humanity – một tổ chức chuyên xây dựng và sửa chữa nhà ở cho người thu nhập thấp. Ban đầu, có lẽ ông nghĩ đó chỉ là một lần thử. Nhưng đời sống đôi khi không hỏi ý định ban đầu của con người. Nó chỉ lặng lẽ biến một thói quen thành định mệnh.

Carter không xây nhà một mình. Ông kéo theo vợ mình, bà Rosalynn Carter, đi từ công trình này sang công trình khác. Hai người già, giữa đám tình nguyện viên trẻ, cùng trộn hồ, đóng ván, dựng tường. Có khi họ xuất hiện ở New York, thấy một công trình thiếu người, liền xắn tay vào làm và gọi thêm người khác đến.

Người ta nói về “lãnh đạo bằng hành động” rất nhiều trong sách vở. Nhưng ở đây, nó không còn là lý thuyết. Nó là mùi gỗ mới cắt, là mồ hôi thấm áo, là những mái nhà hoàn thành cho những gia đình vốn không có gì ngoài hy vọng.

Trong hơn ba thập kỷ, vợ chồng Carter đã góp phần xây dựng, sửa chữa và phục hồi hàng ngàn căn nhà trên khắp thế giới. Không phải để ghi tên, mà để người khác có chỗ mà ghi địa chỉ.

Thế rồi đến năm 2015, ông bước vào một thử thách khác: ung thư di căn lên não. Ở tuổi chín mươi, với chẩn đoán ấy, người ta thường chuẩn bị cho đoạn kết. Nhưng Carter, vẫn với giọng bình thản lạ lùng, nói rằng ông đã có một cuộc đời đẹp và sẵn sàng cho bất cứ điều gì đến.

Nhưng y học hiện đại, với liệu pháp miễn dịch mới, lại viết thêm một đoạn khác cho câu chuyện ấy. Sau vài tháng điều trị, bệnh tình lui lại. Và ông tiếp tục trở lại công trường, như thể vừa rời một cuộc họp dài hơi.

Có một chi tiết rất nhỏ nhưng đáng nhớ: ông từng ngã lần nữa vào năm 2019, chấn thương hông. Người ta lại tưởng lần này ông sẽ dừng. Nhưng không lâu sau, ông lại xuất hiện, vẫn công việc cũ, vẫn nhịp búa cũ.

Rồi đến một buổi sáng Chủ nhật khác, năm chín mươi lăm tuổi, cú ngã trong nhà, mười bốn mũi khâu, gương mặt bầm tím. Nhưng chỉ vài ngày sau, ông lại đứng trên sân khấu Ryman Auditorium, và sáng hôm sau lại ra công trường.

Người ta có thể đặt câu hỏi: đây là nghị lực hay là cố chấp? Là lý tưởng hay là thói quen? Nhưng có lẽ, với Carter, ranh giới ấy không còn quan trọng. Bởi khi một đời sống đã gắn với việc “làm điều có ích”, thì việc dừng lại trở nên khó hiểu hơn việc tiếp tục.

Có một câu nói rất giản dị nhưng mang nhiều tầng nghĩa: “Some people talk about what they believe. Jimmy Carter built it.” – có người nói về điều họ tin, còn Carter thì xây nó lên.

Nếu nhìn rộng hơn, câu chuyện này không chỉ là tiểu sử của một cựu tổng thống Mỹ. Nó là một kiểu phản chiếu cho thời đại: thời đại mà quyền lực thường được đo bằng chức vụ, nhưng giá trị lâu dài lại được đo bằng mức độ con người đó có thể rời bỏ quyền lực mà vẫn tiếp tục hữu ích cho xã hội hay không.

Trong một thế giới mà danh vọng thường đi kèm với nghỉ ngơi, Carter chọn lao động. Trong một thời đại mà tuổi già thường được định nghĩa bằng sự rút lui, ông lại biến nó thành một dạng tiếp tục.

Ông qua đời ngày 29 tháng 12 năm 2024 tại Plains, Georgia, thọ một trăm tuổi – trở thành vị tổng thống sống thọ nhất lịch sử Hoa Kỳ. Nhưng điều đáng nói không phải là con số trăm năm ấy, mà là cách ông đã sử dụng gần như trọn vẹn thời gian sau khi rời quyền lực.

Người ta có thể đồng ý hoặc không đồng ý với các chính sách của ông khi còn tại vị. Lịch sử chính trị không bao giờ đơn giản. Nhưng khi nhìn lại phần đời sau cùng, khó ai có thể phủ nhận một điều: ông đã biến khái niệm “phục vụ công chúng” thành một hành vi kéo dài, không cần chức danh, không cần diễn đàn.

Trong một xã hội dễ mỏi mệt, nơi con người thường ngừng lại rất sớm vì nghĩ rằng mình đã “làm đủ”, hình ảnh một ông già chín mươi lăm tuổi đội mũ bóng chày, cầm búa trên công trường, có thể không giải quyết được vấn đề gì lớn lao. Nhưng nó gợi một câu hỏi khác, âm thầm hơn: rốt cuộc, chúng ta dừng lại vì đã hết khả năng, hay vì đã hết ý muốn?

Và có lẽ, chính ở chỗ đó, câu chuyện của Carter không kết thúc bằng cái chết, mà tiếp tục sống trong những căn nhà mà ông từng giúp dựng lên – nơi có người ở, có ánh đèn, có tiếng trẻ con, và có một dấu vết rất nhỏ của một người tin rằng việc sống là để làm điều gì đó cho người khác.

Đoàn Xuân Thu. (Melbourne)


 

BÁO CHÍ TP HCM: SỐNG SÔI NỔI VÀ CHẾT ÂM THẦM DƯỚI NGỌN CỜ CỦA ĐẢNG

BBC News Tiếng Việt

 BÁO CHÍ TP HCM: SỐNG SÔI NỔI VÀ CHẾT ÂM THẦM DƯỚI NGỌN CỜ CỦA ĐẢNG

(Photo by HOANG DINH NAM/AFP via Getty Images)

Hôm nay, báo giấy Tuổi Trẻ ra số cuối cùng. Những ngày kế tiếp, Tuổi Trẻ chỉ còn phiên bản điện tử.

Báo Người Lao Động, Pháp luật TP HCM, Phụ nữ TP HCM, Thời báo Kinh tế Sài Gòn… thì ngưng hẳn.

Một nền báo chí sôi động hậu 1975 ở Sài Gòn-TP HCM đã “hoàn thành sứ mệnh”.

Như một sự tái hiện lịch sử: Ngày này 45 năm trước, báo Tin Sáng của Lực lượng thứ ba cũng được chính quyền tuyên bố “đã hoàn thành nhiệm vụ”. Tin Sáng là tờ báo hiếm hoi trước 1975 được phép tái bản sau ngày Sài Gòn thất thủ, nhưng thời gian hoạt động cũng không dài.

Cùng nhìn lại nền báo chí cách mạng của thành phố thịnh vượng nhất nước trong 50 năm qua.

#BBCNewsTiengViet #BaochiVietNam #XahoiVietNam #ChinhtriVietNam