TỪ PHẬT GIÁO, KỸ SƯ HÓA HỌC ĐẾN LINH MỤC CÔNG GIÁO

Con Tin Chúa Ơi

Cha Adrian Suyanto, sinh năm 1994, là người Indonesia, lớn lên trong một gia đình theo Phật giáo. Thời niên thiếu, ngài học tại Surabaya, Đông Java.

Điều đặc biệt là ngay từ khi còn rất trẻ, Adrian đã bắt đầu tìm hiểu Kitô giáo. Năm 14 tuổi, dù lớn lên trong một gia đình Phật giáo, cậu đã chủ động xin được lãnh nhận Bí tích Rửa tội và gia nhập Giáo hội Công giáo.

Sau khi hoàn thành bậc phổ thông, Adrian sang Australia du học tại Đại học New South Wales (UNSW), Sydney, theo ngành Kỹ thuật Hóa học.

Chính những năm đại học lại trở thành một bước ngoặt quan trọng trong đời sống đức tin của Adrian. Anh tích cực tham gia hoạt động của Tuyên úy Công giáo tại trường và Catholic Asian Students Society – Hội Sinh viên Công giáo Á Châu.

Sau này Adrian nhớ lại:

“Nhiều người nói rằng họ đánh mất đức tin ở đại học, nhưng với tôi, đó thực sự là nơi tôi gặp Đức Kitô và trưởng thành trong đức tin.”

Tốt nghiệp đại học, Adrian làm việc khoảng hai năm tại Canberra. Nhưng trong lòng anh, lời mời gọi trở thành linh mục ngày càng mạnh mẽ.

Ban đầu Adrian từng không muốn đi tu. Anh cũng mong được kết hôn, có gia đình và sống như bao người khác. Thế nhưng tiếng gọi ấy cứ âm thầm trở lại. Sau thời gian cầu nguyện và phân định với linh hướng, năm 2017, Adrian quyết định bước vào Đại Chủng viện Good Shepherd tại Homebush, Sydney, để bắt đầu hành trình đào tạo linh mục.

Ngày 16/12/2023, ngài được truyền chức phó tế.

Và ngày 11/07/2024, tại Nhà thờ Chính tòa St Mary, Sydney, Đức Tổng Giám mục Anthony Fisher OP đã đặt tay truyền chức linh mục cho Adrian Suyanto, cùng hai tiến chức khác.

Từ một cậu bé lớn lên trong gia đình Phật giáo tại Indonesia, đến một sinh viên kỹ thuật hóa học, rồi một người trẻ dám từ bỏ dự định riêng để đáp lại tiếng Chúa gọi – cuối cùng Adrian đã trở thành linh mục của Tổng Giáo phận Sydney.

Hiện nay, Cha Adrian Suyanto đang phục vụ với tư cách linh mục phó tại Giáo xứ St Anthony of Padua, Austral, Sydney.

Một hành trình thật đẹp để thấy rằng: Thiên Chúa có thể gọi một con người từ những con đường mà chúng ta không thể ngờ tới. Từ một gia đình Phật giáo, ở tuổi 14 Adrian đã mở lòng đón nhận đức tin; và nhiều năm sau, chính người thanh niên ấy lại dâng trọn cuộc đời để đưa Đức Kitô đến với người khác.

Xin cầu nguyện cho Cha Adrian luôn trung thành và nhiệt thành trong sứ vụ linh mục của mình. 

#ConTinChúaƠi #ƠnGọi 


 

Chi phí nhà ở và giữ trẻ ‘ngốn’ hơn nửa thu nhập gia đình Mỹ

Ba’o Nguoi-Viet

August 25, 2026

ORANGE COUNTY, California (NV) – Một gia đình lao động điển hình tại Mỹ, nếu mua nhà và trả tiền giữ trẻ toàn thời gian cho một đứa con, phải dành khoảng 52% thu nhập hằng năm cho hai khoản này, theo báo cáo do Redfin công bố hôm 17 Tháng Tám.

Báo cáo do Dana Anderson và Yingqi Xu thực hiện, sử dụng dữ liệu nhà ở của Redfin cùng dữ liệu từ Winnie, nền tảng cung cấp thông tin về dịch vụ giữ trẻ và giáo dục sớm. Nhóm nghiên cứu tính chi phí mua nhà và giữ trẻ tại 100 khu đô thị đông dân nhất nước Mỹ, sau đó so sánh với thu nhập trung vị (median) của hộ gia đình tại từng khu vực.

Một gia đình có con nhỏ trong căn nhà mới. Chi phí mua nhà và giữ trẻ hiện chiếm hơn một nửa thu nhập của gia đình lao động điển hình tại Mỹ. (Hình minh họa: Storyblocks.com)

Kết quả cho thấy gánh nặng tài chính chênh lệch rất lớn tùy địa phương. Tại Little Rock, Arkansas, hai khoản này chiếm 39.8% thu nhập hộ gia đình, thấp nhất trong 100 khu đô thị. Một gia đình lao động điển hình tại đây chi khoảng $29,151 mỗi năm, trong khi thu nhập trung vị (median) của khu vực là $73,170.

Los Angeles, California, đứng đầu danh sách đắt đỏ. Một gia đình có thu nhập trung vị phải chi khoảng $94,613 mỗi năm cho nhà ở và giữ trẻ, tương đương 96.8% thu nhập. Tổng chi phí chỉ thấp hơn khoảng $3,000 so với mức thu nhập trung vị $97,775 của khu vực.

Chi phí giữ trẻ thay đổi theo độ tuổi

Kết quả trên phản ánh rõ nhất giai đoạn gia đình phải trả tiền giữ trẻ toàn thời gian, thường kéo dài đến khi trẻ vào tiểu học. Số tiền thực trả của từng gia đình có thể thấp hơn nếu trẻ được nhận vào chương trình tiền mẫu giáo công lập hoặc gia đình đủ điều kiện hưởng trợ cấp giữ trẻ.

California, Florida và Wisconsin cung cấp chương trình tiền mẫu giáo công lập miễn phí. New York City đang triển khai chương trình giữ trẻ phổ cập, còn San Francisco có các chương trình miễn phí hoặc giá thấp dành cho nhiều gia đình.

Chi phí giữ trẻ thường giảm khi trẻ đủ tuổi vào lớp tiền mẫu giáo công lập hoặc mẫu giáo. Gánh nặng tài chính của một gia đình có con nhỏ có thể thay đổi đáng kể chỉ sau vài năm.

Miền Trung Tây và miền Nam dễ kham nổi hơn

Các khu đô thị có tổng chi phí nhà ở và giữ trẻ thấp nhất so với thu nhập tập trung chủ yếu tại miền Trung Tây và miền Nam.

Xếp sau Little Rock là Oklahoma City, Oklahoma, với 40.8% thu nhập; Des Moines, Iowa, 41.8%; Warren, Michigan, 42.2%; và St. Louis, Missouri, cũng 42.2%.

Giá nhà bán trung vị (median) tại Little Rock vào khoảng $254,054, thấp hơn nhiều so với mức trung vị toàn quốc $408,000. Một gia đình lao động điển hình tại đây chi khoảng $9,600 mỗi năm cho việc giữ trẻ, thấp nhất trong 100 khu đô thị được phân tích.

Thu nhập tại các khu vực này thường thấp hơn những thành phố ven biển, song giá nhà và tiền giữ trẻ cũng thấp hơn đáng kể. Riêng Des Moines có thu nhập hộ gia đình trung vị gần $94,000, thuộc nửa trên trong danh sách 100 khu đô thị.

California và New York chịu áp lực nặng nhất

Sau Los Angeles, New York đứng thứ hai với chi phí nhà ở và giữ trẻ chiếm 95% thu nhập hộ gia đình. San Francisco đứng kế tiếp với 94.2%, Anaheim 93.5% và San Jose 83.1%.

California chiếm bảy trong số 10 khu đô thị có tổng chi phí cao nhất so với thu nhập, chủ yếu do giá nhà tại tiểu bang này quá đắt. Tại San Francisco, một gia đình điển hình phải chi tổng cộng $152,646 mỗi năm cho nhà ở và giữ trẻ, trong khi thu nhập trung vị của khu vực là $162,118.

Bảy khu đô thị California nằm trong nhóm 10 địa phương đắt đỏ nhất gồm Los Angeles, San Francisco, Anaheim, San Jose, San Diego, Oxnard và Riverside.

Springfield, Massachusetts, cũng nằm trong nhóm này. Chi phí nhà ở tại đây thấp hơn các thành phố ven biển California, song tiền giữ trẻ thuộc hàng cao nhất nước. Một gia đình điển hình tại Springfield trả khoảng $26,340 mỗi năm cho việc giữ trẻ và $35,200 cho nhà ở.

Theo Redfin, giá nhà bán trung vị tại Mỹ tăng gấp đôi trong 10 năm qua, còn chi phí giữ trẻ tăng 40%. Cả hai mức tăng đều cao hơn lạm phát trong cùng thời gian.

Nhà rẻ, tiền giữ trẻ chiếm phần lớn hơn

Tại một số khu vực có giá nhà tương đối thấp, tiền giữ trẻ chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tổng số tiền dành cho nhà ở và chăm sóc con nhỏ.

Buffalo, New York, đứng đầu với tiền giữ trẻ chiếm 45.8% tổng chi phí nhà ở và giữ trẻ. Rochester, New York, đứng kế tiếp với 44.7%; Detroit, Michigan, 43.6%; Gary, Indiana, 43%; và Springfield, Massachusetts, 42.8%.

Tại Buffalo, một gia đình lao động điển hình chi $20,448 mỗi năm cho việc giữ trẻ. Khoản này chiếm gần một nửa tổng chi phí do tiền nhà tại khu vực tương đối thấp, khoảng $24,162 mỗi năm.

Nếu xét riêng tiền giữ trẻ, Dallas, Texas, là khu vực dễ kham nổi nhất. Một gia đình điển hình dành 11% thu nhập, tương đương $11,376 mỗi năm, cho dịch vụ này. Springfield đứng cuối danh sách với 32.2% thu nhập hộ gia đình dành cho việc giữ trẻ.

Nếu xét riêng nhà ở, Akron, Ohio, có mức chi thấp nhất, tương đương 25.6% thu nhập hộ gia đình. Một gia đình điển hình tại đây chi khoảng $20,133 mỗi năm cho nhà ở, trong khi thu nhập trung vị là $78,753.

San Francisco đứng cuối bảng về khả năng chi trả nhà ở. Một gia đình phải dành 80.2% thu nhập chỉ cho khoản này. Giá một căn nhà điển hình tại khu vực vào khoảng $1.7 triệu, còn chi phí sở hữu nhà trung bình gần $129,978 mỗi năm.

Redfin tính chi phí giữ trẻ theo mức phí trung vị (median) hàng tháng dành cho một đứa trẻ được giữ toàn thời gian. Chi phí sở hữu nhà được tính từ giá bán nhà trung vị, lãi suất vay mua nhà cố định 30 năm, thuế địa ốc, bảo hiểm nhà và bảo hiểm vay mua nhà tư nhân, với giả định người mua trả trước 15%. Dữ liệu nhà ở được lấy trong khoảng Tháng Giêng đến Tháng Sáu, 2026. (Ng.Tr.) [t.c.]


 

XÂY MỘ THẬT TO CHO CHA MẸ, HAY CHỈ ĐỂ GIỮ SĨ DIỆN VỚI THIÊN HẠ?

Có một phong trào ở nhiều vùng quê nghe thì vừa buồn cười, vừa khiến người ta phải suy nghĩ: người sống ở nhà cấp bốn, nhưng người chết lại ở trong “biệt phủ”.

Đi qua một số nghĩa trang, có khi ta bắt gặp những ngôi mộ lát đá bóng loáng, cổng tam quan, mái ngói, rồng chầu, hổ phục… nhìn xa cứ tưởng khu du lịch tâm linh.

Người ta hay nói vui: “Người sống ở tạm, người chết là vĩnh cửu, nên phải đầu tư.”

Nhưng nghĩ kỹ, đôi khi cái gọi là “đầu tư cho người đã khuất” lại là sự sĩ diện của người đang sống.

Có một ông ở quê, cả đời làm ruộng, nuôi ba người con.

Nhà vẫn là căn cấp bốn cũ kỹ, mùa mưa thì dột, mùa hè nóng như cái lò.

Vợ ông nhiều lần bảo:

“Hay mình sửa lại căn nhà đi ông, khách đến còn có chỗ ngồi.”

Ông xua tay:

“Nhà mình ở tạm thôi bà ạ. Còn mộ các cụ là nơi nằm ngàn thu.”

Thế là ông vay tiền xây một khu lăng mộ rất lớn cho bố mẹ.

Ngày khánh thành, cả làng kéo đến xem.

Người thì xuýt xoa: “Đá này chắc đắt lắm!”

Người khác lại bảo: “Mộ còn đẹp hơn nhà tôi đang ở.”

Ông nghe vậy thì nở mày nở mặt.

Nhưng vài tháng sau, một hôm trời mưa lớn, mái nhà ông dột xuống mâm cơm.

Đứa cháu hỏi:

“Ông ơi, sao mình không sửa nhà?”

Ông im lặng một lúc rồi nói:

“Tiền đâu mà sửa?”

Cả nhà chẳng ai nói thêm câu nào.

Ngoài đồng, khu lăng mộ vẫn sừng sững, còn người sống thì ngồi trong căn nhà dột.

Đáng nói là chuyện này không chỉ xảy ra ở một gia đình.

Nhiều nơi, nghĩa trang còn được chăm chút hơn cả khu dân cư.

Người này xây mộ cao, người kia phải xây cao hơn.

Nhà trước lát đá hoa cương, nhà sau phải tìm đá nguyên khối.

Có người còn nói một câu nghe rất mạnh:

“Sống có thể nghèo, nhưng chết nhất định không được lép vế.”

Thế là cuộc đua sĩ diện bắt đầu.

Có cụ mới ngoài sáu mươi đã đi xem đất nghĩa trang, chọn hướng, chọn vị trí, chẳng khác gì người ta đi mua đất xây biệt thự.

Có người còn xây sẵn mộ từ khi mình vẫn đang khỏe mạnh.

Mỗi ngày đi tập thể dục lại ghé qua lau bụi, ngắm nghía.

Bạn bè hỏi:

“Ông làm sớm thế để làm gì?”

Ông cười:

“Chuẩn bị trước cho chủ động.”

Nghe thì vui, nhưng đằng sau tiếng cười ấy là một điều đáng suy ngẫm.

Nhiều khi người ta không sống cho mình, mà sống cho ánh mắt của thiên hạ.

Đám cưới phải thật lớn.

Nhà phải thật đẹp.

Con cái phải thành đạt.

Và đến khi cha mẹ mất, khu mộ cũng phải thật hoành tráng.

Sợ nhất là hàng xóm nói:

“Nhà ấy làm ăn kém.”

“Con cái không có hiếu.”

“Không bằng nhà người ta.”

Thế là có gia đình vay tiền, bán tài sản, thậm chí con cái đi làm xa gửi tiền về… chỉ để xây một khu mộ thật lớn.

Trong khi cha mẹ lúc còn sống có khi chẳng được sửa cho căn nhà khỏi dột, chẳng được ăn một bữa ngon, chẳng được con cái thường xuyên hỏi han.

Đó mới là điều đáng nghĩ.

Bởi hiếu thảo không nằm ở việc viên đá granite dày bao nhiêu, ngôi mộ rộng bao nhiêu mét vuông.

Hiếu thảo nằm ở những năm tháng cha mẹ còn sống.

Là khi mẹ đau, con có ở bên không.

Là khi cha già yếu, con có hỏi một câu “Bố hôm nay khỏe không?” không.

Là khi cha mẹ còn sống, anh em có biết nhường nhịn nhau, có biết giữ cho gia đình được hòa thuận hay không.

Ngày xưa, những ngôi mộ đất đơn sơ vẫn được con cháu thắp hương, chăm sóc. Một bó hoa, một nén nhang, một tấm lòng nhớ thương… đôi khi còn quý hơn cả một khu lăng mộ bạc tỷ mà con cháu quanh năm cãi nhau vì tiền.

Một ngôi mộ đẹp không có gì sai.

Tưởng nhớ tổ tiên cũng là điều đáng quý.

Nhưng nếu xây mộ chỉ để hơn nhà hàng xóm, để giữ sĩ diện, để chứng minh mình giàu có, thậm chí phải vay nợ để làm cho bằng người ta, thì có lẽ chúng ta nên dừng lại và tự hỏi:

Người đã khuất thật sự cần một ngôi mộ thật lớn, hay chỉ mong con cháu còn sống biết yêu thương nhau?

Bởi cuối cùng, người chết không mang theo được sự hơn thua.

Còn người sống thì phải trả giá cho những cuộc đua ấy.

Có khi điều đẹp nhất để báo hiếu cha mẹ không phải là xây cho họ một nơi nằm thật nguy nga…

Mà là khi họ còn sống, ta cho họ một mái nhà đủ ấm, một bữa cơm đủ vui, một tuổi già đủ bình yên.

Mộ có thể nhỏ, nhưng lòng hiếu thảo đừng nhỏ.

Tĩnh Lặng Mỗi Đêm Cảm ơn các bác đã quan tâm theo dõi.

Xin chào và hẹn gặp lại!

#TuoiGia #Happiness #KienTaoCuocSong #TriTue #TĩnhLặngMỗiĐêm 


 

LỊCH SỬ MỘT NỀN VĂN HỌC – VỀ TỰ LỰC VĂN ĐOÀN…

Xuyên Sơn

 LỊCH SỬ MỘT NỀN VĂN HỌC – VỀ TỰ LỰC VĂN ĐOÀN…

Ngày 9 tháng 1 năm 2007, trong trò chơi “Ai là triệu phú” trên đài Truyền hình VTV3 Hà Nội, do MC Lại Văn Sâm điều khiển, người được mời lên chiếc “ghế nóng” tham dự chương trình là cô Nguyễn Thị Tâm,

27 tuổi, giảng viên trường Đại học Sư phạm thành phố Thái Bình.

Câu hỏi nguyên văn như sau: “Trong tứ trụ của Tự Lực Văn Đoàn: Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng; ai là người không phải anh em ruột với ba người kia?”

Cô giảng viên Đại học Sư phạm suy nghĩ một lát rồi nói:

– Tự Lực Văn Đoàn, tôi chưa nghe nói đến bao giờ cả.

Hình như đó là một gánh cải lương. Còn Nhất Linh chắc chắn là một nghệ sĩ cải lương.

– Riêng Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng… tôi không biết ba ông này có phải nghệ sĩ cải lương như Nhất Linh không.

– Vậy chị kết luận ai không phải anh em ruột với ba người kia?

– Tôi đề nghị cho tôi được hưởng quyền trợ giúp, gọi điện thoại cho người thân.

– Chị muốn gọi cho ai?

– Cho anh Nam, một bạn đồng nghiệp cũng dạy trong trường. Anh Nam là người đọc rất nhiều sách, kiến thức rất rộng, chắc chắn anh ấy biết.

Phòng máy liên lạc với người tên Nam đang chờ sẵn ở nhà để trợ giúp, “cứu bồ” cho cô Tâm.

Cô Tâm lập lại câu hỏi như chương trình đã hỏi:

“Trong tứ trụ của Tự Lực Văn Đoàn…”, “Anh cho em biết Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng, ai không phải là anh em ruột với ba người kia…”

Đầu dây có tiếng trả lời rất lớn và dứt khoát, nghe rõ mồn một:

– Hoàng Đạo, Hoàng Đạo không phải là anh em ruột với Nhất Linh, Thạch Lam và Khái Hưng.

– Chắc chắn không anh?

– Chắc trăm phần trăm.

– Ba mươi giây của chị đã hết. Xin chị cho biết câu trả lời.

– Tôi tin vào kiến thức của người bạn đồng nghiệp của tôi. Tôi trả lời, Hoàng Đạo không phải anh em ruột với ba người kia.

– Chị quyết định như thế?

– Vâng, câu trả lời của tôi là phương án B, Hoàng Đạo.

– Sai. Giải đáp của chúng tôi là phương án D, Khái Hưng.

Khái Hưng không phải anh em ruột với Nhất Linh, Hoàng Đạo và Thạch Lam. Hoàng Đạo tên thật là Nguyễn Tường Long, sinh năm 1906, em ruột nhà văn Nhất Linh, anh ruột nhà văn Thạch Lam. Như vậy phần thưởng của chị từ năm triệu đồng còn lại một triệu đồng. Nhưng không sao, chúng ta lấy vui làm chính.

Xin cám ơn chị đã tham dự chương trình.

Câu chuyện về cô giáo giảng viên trường Đại học sư phạm thành phố Thái Bình thật ra không có gì lạ trong nền giáo dục Việt Nam bởi lẽ chương trình giáo dục không hề có bốn chữ Tự Lực Văn Đoàn mặc dù đây là một nhóm tác giả quan trọng bậc nhất trong nền văn học hiện đại của Việt Nam.

Điều làm cho Tự Lực Văn Đoàn bị gạt ra khỏi dòng văn học là chủ trương chính trị của nó.

Nguyễn Tường Tam, thủ lãnh của nhóm cũng là một chính khách với quan điểm chính trị đi ngược lại hoàn toàn quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam.

  • Tự Lực Văn Đoàn

Tự Lực Văn Đoàn chủ trương đổi mới văn học, nâng cao dân trí, chống cường quyền phong kiến, bài thực dân, trong đó không quên những người cùng khổ và bị áp bức dưới bất cứ hình thức nào.

Sức mạnh của Tự Lực Văn Đoàn bắt đầu từ sự ủng hộ của trí thức tiểu tư sản sau đó lan rộng trong quần chúng bình dân và ảnh hưởng trực tiếp tới nền báo chí An Nam đang có xu hướng hòa nhịp cùng đời sống đô thị.

Chẳng những tại miền Bắc, Tự Lực Văn Đoàn bị cấm xuất hiện nhưng sau năm 1975 ngay cả khi hai miền Nam Bắc đã hoàn toàn thống nhất thì số phận của nó cũng không may mắn gì hơn, vẫn bị vùi dập, che dấu và cấm đoán ngay trong từng tù sách gia đình.

Những tên tuổi như Nhất Linh, Thạch Lam, Khái Hưng, Hoàng Đạo… hoàn toàn biến mất trong mái trường xã hội chủ nghĩa, mãi tới hơn hai mươi năm sau một vài tác phẩm của họ mới được in lại từ những chiếc máy in của nhà nước với nội dung bị cắt xén cho vừa với tầm nhìn của cách mạng vô sản, vốn bất đồng với các tác giả này.

  • Aki Tanaka

Vậy mà từ nước Nhật xa xăm, lại xuất hiện những con người yêu văn hóa Việt Nam trong đó Tự Lực Văn Đoàn được nhắc tới như một dấu son của nền văn học Việt.

Một trong những người ấy là cô sinh viên Aki Tanaka.

Từ Tokyo, Aki Tanaka đã lặn lội tới Việt Nam, tìm hiểu về Tự Lực Văn Đoàn với mục đích học chữ Việt để rồi mê đắm nó đến nỗi bỏ hơn 13 năm theo dõi, nghiên cứu, viết tham luận rồi luận án về Tự Lực Văn Đoàn.

Aki đã bay sang Hoa Kỳ nơi có khá nhiều tư liệu lẫn thân nhân của các tác giả để từ đó thấy yêu mến thêm nhóm tác giả đặc biệt này.

Mặc Lâm có duyên may gặp Aki Tanaka tại California trong lần cô sang Mỹ tìm kiếm thêm tư liệu về nhà văn Khái Hưng, người mà Aki Tanaka đặc biệt yêu thích. Cuộc phỏng vấn ngắn nhằm mang cô sinh viên người Nhật này tới gần với người Việt Nam hơn bởi cô đáng được người Việt mở lòng ra đón nhận như một người bạn chân thành của văn hóa Việt.

Aki Tanaka, trước tiên cho biết thời gian đầu cô tới Việt Nam:

Aki Tanaka:

-Khoảng năm 2000 khi sang Việt Nam tôi đã gặp ông Huy Tưởng thì ông ấy nói nếu Aki muốn học tiếng Việt thì nên tìm đọc Tự Lực Văn Đoàn để biết được tiếng Việt chính xác cho nên tôi đã tìm mua các cuốn sách về Tự Lực Văn Đoàn. Ban đầu thì tôi không hiểu hết, chỉ hiểu sơ sơ thôi nhưng mà đã cảm thấy tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn rất hay cho nên tiếp tục mua sách Tự Lực Văn Đoàn. Ước mơ của tôi là muốn nghiên cứu về Tự Lực Văn Đoàn nhưng lúc đó cảm thấy là điều thực tế chỉ là ước mơ thôi.

Mặc Lâm:

-Aki vừa nói là tìm mua những cuốn sách Tự Lực Văn Đoàn trong nước, không biết là sách cũ đã được in từ xưa hay những cuốn vừa được in lại trong nước?

Aki Tanaka:

-Tôi chỉ mua được sách tái bản thôi lúc đó không để ý là sách của nhà nước in hay sách cũ nó có gì khác nhau hay là sự khác biệt như thế nào cho nên chỉ mua được sách tái bản thôi.

Mặc Lâm:

-Sau này khi nghiên cứu sâu về Tự Lực Văn Đoàn thì Aki có thấy sự khác biệt nào giữa bản in gốc và bản in đã được in lại sau năm 1975 và nếu có thì những khác biệt ấy có quan trọng không?

Aki Tanaka:

-Dạ có. Tôi có học với thầy giáo người Nhật thì thầy này sử dụng sách cũ là sách trước 75 còn tôi thì cầm sách tái bản mới.

Cuốn tôi thất vọng nhất là cuốn Đời mưa gió. Khi hai người đọc chung với nhau thì chúng tôi phát hiện sách tái bản và sách gốc nó khác biệt nhau. Tôi thấy nếu mình nghiên cứu văn học Việt Nam mà có sự khác biệt quá nhiều như thế này, mà mình là người phân tích mà tài liệu sai thì rất nguy hiểm cho việc nghiên cứu của mình.

Mặc Lâm:

-Khi Aki sang Mỹ để tìm gặp thân nhân những người trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn thì Aki đã gặp được ai và câu chuyện gặp gỡ ấy như thế nào?

Aki Tanaka:

-Hai năm trước có một buổi hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn tại Mỹ lúc đó gia đình con cháu của nhóm Tự Lực Văn Đoàn tập họp lại cho nên lúc đó tôi gặp được nhiều người nhưng lúc đó tôi không có dịp nói chuyện nhiều với họ. Tháng Ba năm nay tôi có dịp thăm riêng ông Nguyễn Tường Triệu là con nuôi của ông Khái Hưng và Nguyễn Tường Thiết là con trai út của ông Nhất Linh. Tôi đã thăm được hai người này.

Mặc Lâm:

-Về ông Nguyễn Tường Thiết là con ruột thì đã đành rồi riêng về ông Nguyễn Tường Triệu là con nuôi của Khái Hưng thì Aki có nắm vững những nhận định hay lời kể lại của ông Triệu có chính xác và phù hợp với những gì Aki tìm hiểu không?

Aki Tanaka:

-Aki cũng biết được sơ sơ thôi vì lúc ông Khái Hưng mất thì ông Triệu còn rất nhỏ cho nên ông Triệu không biết gì nhiều.

Tuy nhiên ông Triệu có cung cấp một số tài liệu cho Aki.

Mặc Lâm:

-Trong khi nghiên cứu Tự Lực Văn Đoàn và có dịp gặp gỡ hay thông qua tư liệu thì tác già nào trong nhóm làm cho Aki ấn tượng và yêu thích nhất?

Aki Tanaka:

-Tôi rất thích ông Khái Hưng.

Lý do ông là người có tư tưởng sâu sắc nhất trong Tự Lực Văn Đoàn cho nên đọc tác phẩm của ông thì thấy rất hay.

Mặc Lâm:

-Nhưng rất nhiều người cho rằng ông Nhất Linh là người lãnh đạo của nhóm và là linh hồn của Tự Lực Văn Đoàn … Aki thấy thế nào về tác phẩm của ông?

Aki Tanaka:

-Theo tôi thì Nhất Linh là một người hành động, ông có cái ý tưởng cách mạng tuy nhiên so với ông Nhất Linh thì ông Khái Hưng là người suy nghĩ và theo sự tìm hiểu của tôi thì ông Khái Hưng không quan tâm mấy đến chính trị.

Mặc Lâm:

Trong một thời gian khá dài sống ở Việt Nam Aki quan sát và thấy giới trẻ Việt Nam, đặc biệt là sinh viên khoa văn họ có chú ý tới Tự Lực Văn Đoàn hay không?

Aki Tanaka:

-Tôi thấy họ không chú ý đâu.

Tôi nói chuyện với bạn bè đồng nghiệp với cái ý là tôi thích Tự Lực Văn Đoàn nhưng bạn bè đồng nghiệp của tôi lại không biết Tự Lực Văn Đoàn là ai nữa! Bây giờ ở Việt Nam không giảng dạy tác phẩm của nhóm này cho nên không ai biết, không được ai quan tâm đến.

Mặc Lâm:

-Có một thời gian rất dài Aki đã sang Mỹ tiếp xúc với người viết văn hay hoạt động văn hóa…

Aki thấy họ có còn tha thiết khi nói về Tự Lực Văn Đoàn nữa hay không hoặc thời gian đã quá lâu khiến họ dần dần quên Tự Lực Văn Đoàn luôn, không giống như cách đây 40 năm?

Aki Tanaka:

-Do tôi tiếp xúc với nhiều người làm văn nghệ cho nên họ thường bảo rất còn quan tâm tới Tự Lực Văn Đoàn và họ muốn bảo tồn tác phẩm của nhóm này cho con cháu để sau biết được việc làm của nhóm Tự Lực Văn Đoàn cho đời sau. Tôi cảm thấy như vậy

Mặc Lâm:

-Aki cũng có bạn bè người Nhật yêu mến văn hóa Việt Nam trong số họ có ai nghiên cứu về Tự Lực Văn Đoàn như Aki hay không?

Aki Tanaka:

-Thầy cũ của tôi đã nghỉ hưu rồi ông ấy hồi trước cũng có nghiên cứu về Tự Lực Văn Đoàn trong trường đại học của tôi và ông cũng đã dạy Tự Lực Văn Đoàn cho sinh viên Nhật. Nhưng bây giờ vị giáo sư mới không quan tâm tới Tự Lực Văn Đoàn nên không dạy nữa cho nên sinh viên không biết gì về Tự Lực Văn Đoàn nữa

Mặc Lâm:

-Một lần nữa xin cám ơn Aki Tanaka rất nhiều và hy vọng những công trình nghiên cứu của Aki về Tự Lực Văn Đoàn sẽ mang lại nhiều kết quả mong đợi.

Mặc Lâm, biên tập viên RFA

2015-09-05

(share từ Nguyễn Thanh Bình FB, Le Van Quy) 

ảnh: Cô sinh viên người Nhật Aki Tanaka 


 

VŨ NỮ CẨM NHUNG

Xuyên Sơn

 VŨ NỮ CẨM NHUNG

Người Sài Gòn trước đây không mấy ai mà không nghe qua cái tên vũ nữ Cẩm Nhung (1940-2013)

và vụ đánh ghen tạt acxit rùng rợn lần đầu tiên xảy ra tại Việt Nam. Cẩm Nhung là nạn nhân của vụ đánh ghen tàn khốc này khiến dung nhan của cô trở nên dị dạng, trở thành phế nhân tàn tật, suốt cuộc đời còn lại phải lê lết trên đường phố ăn mày ăn xin, cũng chỉ vì Cẩm Nhung là một “hồng nhan họa thủy”. ĐXGK mạn phép đăng lại bài viết sau đây của tác giả Trúc Giang MN tường thuật lại vụ đánh ghen kinh hoàng chấn động Sài Gòn đầu thập niên 60.

“khoảng 8 giờ tối ngày 17-7-1963, một phụ nữ vừa bước ra khỏi nhà, tiến về chiếc taxi chờ sẵn, thì bổng nhiên một người đàn ông xuất hiện, tay bưng một ca acid tạt vào mặt người phụ nữ.

Thiếu nữ thét lên trong đau đớn: “Chết tôi rồi! Cứu tôi với”, rồi ôm mặt ngã quỵ.

Một người đàn ông chạy đến, bế cô lên chiếc taxi chạy vào bịnh viện Sài Gòn cấp cứu.

Sau đó được chuyển đến Bịnh viện Đồn Đất (Grall) vào lúc hai giờ sáng ngày 18-7-1963.

Cái tin vũ nữ Cẩm Nhung bị tạt acid gây xôn xao trong giới thượng lưu thường lui tới các vũ trường.

Báo chí đăng tấm hình rất xinh đẹp của Cẩm Nhung đã gây xúc động và thương tiếc của người Sài Gòn và cả Miền Nam VN.

Đó là vũ nữ tài sắc vẹn toàn nổi danh là “Nữ hoàng vũ trường”, Cẩm Nhung bị đánh ghen bằng tạt acid.

Hai người thân là mẹ và bà vú lần lượt ra đi. Tài sản cạn kiệt.

Không nơi nương tựa nên phải đi ăn mày.

Đặc biệt là người ăn xin nầy mang trước ngực tấm hình cô chụp chung với người yêu là Trung tá công binh Trần Ngọc Thức.

Cẩm Nhung sinh năm 1940 tại Hà Nội.

Năm 15 tuổi theo gia đình di cư vào Nam, và trở thành vũ nữ chuyên nghiệp năm 19 tuổi.

Con gái 17 tuổi mà trổ mã đều đặn, nói chung là rất đẹp và hấp dẫn.

Cẩm Nhung bỏ học.

Lén đi học khiêu vũ ở một lớp dạy tư, do hai nhạc sĩ và là vũ sư Nguyễn Tình và Nguyễn Thống phụ trách.

Hai nhạc sĩ nổi tiếng với ngón đàn hạ uy cầm (Hawaiian guitar), đã đào tạo hàng chục vũ nữ cho các vũ trường Sài Gòn thời đó.

Nhờ có năng khiếu, mới học được nửa khóa đã tỏ ra nghệ thuật nhảy múa rất xuất sắc.

Vũ sư Nguyễn Tình nói với người tài pán Marie Sang:

“Đôi chân của nó, thân hình gợi cảm của nó rồi đây sẽ có khối đàn ông ngã rạp dưới chân nó mà chết cho coi”.

Tài pán là người quản lý vũ nữ ở vũ trường, còn gọi là “cai gà”. Khách đi solo muốn nhảy với vũ nữ đều phải do người cai gà đó sắp xếp.

Phải mua ticket thời đó là 20$. Mỗi ticket chỉ nhảy được một vài bản mà thôi. Muốn bao thầu cả đêm thì phải mua trọn gói chừng 15 ticket.

Đối với “Nữ hoàng vũ trường” Cẩm Nhung, thì khách phải lo lót chị tài pán.

Người nào cho tiền nhiều thì được cuộc. Muốn nhảy với kiều nữ suốt đêm, tới một hai giờ sáng thì khách phải mua trọn gói 15 ticket.

Khách sành điệu cùng vũ nữ rời vũ trường nầy, đến một vũ trường khác vừa khiêu vũ thoải mái, vừa giữ được tiếng tăm về đức hạnh của vũ nữ.

Nhảy được vài ba bản rồi rủ nhau đi ăn khuya như ăn cháo cá ở Chợ Cũ, cơm thố, cơm siu siu, hoặc mì La Cai…

Đó là xong phần một.

Phần còn lại do sự thỏa thuận của hai bên.

Khách nhảy phải típ cho vũ nữ, thời giá lúc đó là 500$.

Đêm vui trọn vẹn đạt “mục đích yêu cầu” thì tốn phí khoảng 1,000$, tương đương với mấy cây vàng. Cẩm Nhung đã qua nhiều vũ trường, và Kim Sơn là điểm chót. Nghe nói Trung tá công binh mua cho Cẩm Nhung một căn nhà trong hẻm bên cạnh vũ trường Au Chalet.

Từ đó, Cẩm Nhung đã bước vào con đường của định mạng, người tài hoa bạc mệnh.

“Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”.

Vụ đánh ghen bằng acid diễn ra ngày 17-7-1963 tại Sài Gòn.

Đó được xem như vụ đánh ghen tàn bạo và rùng rợn nhất chưa từng có ở Việt Nam trước kia.

Sự việc gây chấn động cả Sài Gòn và Miền Nam trong một thời gian.

Báo chí nhận định vụ đánh ghen bằng acid là lần đầu tiên xảy ra trong giới thượng lưu Sài Gòn. Nạn nhân bị đánh ghen bằng tạt acid là vũ nữ vô cùng xinh đẹp tên Cẩm Nhung của vũ trường Kim Sơn.

Báo chí thời đó hết lời ca ngợi nhan sắc và đôi chân dài điệu nghệ của cô vũ nữ gốc Hà Thành. Mệnh danh là “Nữ hoàng vũ trường”.

Tại vũ trường Kim Sơn,

đường Tự Do, Cẩm Nhung phải lòng một khách nhảy hào hoa, dân chơi có tiếng tại các vũ trường là Trung tá công binh Trần Ngọc Thức.

Việc ông Thức cặp kè với Cẩm Nhung đến tai bà vợ là Lâm Thị Nguyệt, biệt danh là Bà Năm Rado, vì bà chuyên bán đồng hồ Thụy Sĩ hiệu Rado.

Máu Hoạn Thư nổi lên.

Người đàn bà dữ tợn nhất, độc ác nhất là lúc lên cơn ghen.

Thuở đó, ở Sài Gòn và cả Miền Nam chưa có vụ đánh ghen nào bằng tạt acid cả.

Thông thường thì đón đường chửi bới về việc giựt chồng, làm nhục nơi công cộng.

Bạo động hơn là “xởn tóc”, cao hơn nữa là “lột quần”.

Bà Lâm Thị Nguyệt thuê người tạt acid vào mặt Cẩm Nhung với giá hai lượng vàng.

Vụ đánh ghen bằng tạt acid diễn ra trong khi bà Ngô Đình Nhu, Trần Lệ Xuân, đang ở nước ngoài.

Nghe được tin, bà vô cùng tức giận. Ngay sau khi về nước, bà Ngô Đình Nhu đến Bịnh viện Grall thăm Cẩm Nhung.

Với tư cách là người lãnh đạo Phong Trào Liên Đới Phụ Nữ Việt Nam, binh vực quyền lợi và sự bình đẳng của phụ nữ, bà thúc đẩy điều tra và lập hồ sơ đưa ra tòa.

Vào tháng 10 năm 1963, tòa kết án Lâm Thị Nguyệt,  vợ của Trung tá Trần Ngọc Thức và người đàn ông tạt acid mỗi người 20 năm tù.

Một người đàn ông liên hệ 15 năm.

Trung tá Trần Ngọc Thức bị cho giải ngũ.

Sau năm 1975, Đại tá Trần Ngọc Thức đi tù cải tạo ở Trại Z.30C, Hàm Tân.

Cẩm Nhung còn giữ được cái mạng nhưng dung nhan kiều diễm bị hủy hoại hoàn toàn. Tháng 9 năm 1963, Cẩm Nhung được đưa qua Nhật chữa trị, hy vọng phục hồi gương mặt như trước kia.

Bác sĩ Nhật bó tay.

Khi Cẩm Nhung về nước thì nền Đệ nhất Cộng Hòa đã sụp đổ.

Bà Ngô Đình Nhu sống lưu vong ở nước ngoài.

Người vũ nữ nổi tiếng một thời đã biến mất trong các sinh hoạt ở Sài Gòn.

Những biến cố chính trị dồn dập khiến cho việc đánh ghen dã man, tàn bạo rơi vào quên lãng và chìm trong quá khứ.

Từ địa vị của một nữ hoàng sống trên đỉnh cao danh vọng, rực rỡ dưới ánh đèn màu và điệu nhạc, phong lưu công tử bay bướm đa tình và các thương gia giàu sụ săn đón, bổng nhiên trở thành thân tàn ma dại, ngậm đắng nuốt cay cho số phận hẩm hiu,

Cẩm Nhung lao vào con đường đập phá, rượu chè, nghiện ngập, sa đọa…

Năm 1964 người mẹ qua đời. Cẩm Nhung sống với bà vú tên Sọ.

Tiền bạc, nữ trang lần lượt từng bước ra đi.

Bán căn nhà 200 lượng vàng và cùng với bà vú ra ở thuê nhà trọ. Bà vú Sọ qua đời.

Cẩm Nhung tật nguyền.

Không nghề nghiệp, không nơi nương tựa nên chỉ có con đường là đi ăn xin.

Trước Tết năm 1969, người ăn mày xuất hiện ở chợ Bến Thành. Mặt mày dị dạng, đeo trên ngực tấm hình chụp chung với người tình là Trung tá Trần Ngọc Thức. Cô lê bước trên các con đường Sài Gòn, trên hành lang của Thương Xá Tax.

Rồi đến những Chợ Bà Chiểu, Chợ Bình Tây…và sau cùng về Miền Tây ở bến bắc (Phà) Mỹ Thuận, Vĩnh Long.

Hành khách qua lại trên bến phà Mỹ Thuận cho biết Cẩm Nhung không còn mang tấm hình chụp chung với người tình nữa, mà chỉ mang tấm hình của bản thân người ăn mày.

Chuyện kể rằng, một hôm có mấy người lạ mặt đến trao cho người ăn xin một số tiền và giật lấy tấm hình chụp chung hai người.

Ở Sài Gòn xuất hiện bản nhạc “Bài Ca Cho Người Kỹ Nữ” của hai nhạc sĩ Nhật Ngân và Duy Trung.

Các tác giả viết bài hát này vì xót thương số phận của cô vũ nữ Cẩm Nhung.

Bài hát có đoạn:

Ta tiếc cho em trong cuộc đời làm người

Ta xót xa thay em là một cánh hoa rơi

Loài người vô tình giẫm nát thân em

Loài người vô tình giày xéo thân em

Loài người vô tình giết chết đời em…

Trong hồi ký “Đời 1998”,

(nhà thơ) Nguyên Sa thuật lại nhiều lần ông và nhà văn Mai Thảo đến nhà chở Cẩm Nhung đi vũ trường Arc en Ciel, ăn kem và hóng mát ở Bến Bạch Đằng.

Lần sau cùng ông gặp Cẩm Nhung như sau:

“Lần chót tôi gặp lại người phụ nữ ấy, Mai Thảo dừng xe có phần gấp gáp, không có nét bay bướm nào. Anh đang phóng nhanh bỗng thắng két, táp xe vào lề, đậu xe bên phía tay mặt đường Pasteur.

Mai Thảo ra khỏi xe không một lời giải thích.

Tôi không hỏi, xuống theo ngay, linh cảm có chuyện gì khác lạ. Chúng tôi băng qua con lộ xe chạy một chiều vun vút.

Mai Thảo dừng lại trước một người hành khất, một người phụ nữ, móc trong túi ra một nắm giấy bạc, anh chuyển nắm giấy bạc sang tay kia, tìm kiếm thêm, tôi không nhận ra người hành khất là ai, chỉ thấy mặt loang lổ những vết cháy nổi lên những mảng thịt nửa đỏ nửa tím sậm, dị dạng, hai mắt vết cháy càng rõ, lòng trắng và lòng đen bị hủy hoại lổn nhổn.

Bạn tôi bỏ nắm tiền vào chậu bằng nhôm, những tờ giấy chạm vào tay người đàn bà hành khất, dường như nàng biết ngay người cho tiền là ai, sự va chạm của bàn tay vào những tờ giấy bạc cho nàng biết ngay là ai, ai có thể cho nàng nhiều tờ giấy bạc như thế, nàng ngẩng mặt lên gọi “anh”.

Mai Thảo vỗ nhẹ vào bàn tay nàng có tiếng nói an ủi bằng xúc giác, không có âm thanh nào được phát lên.

Tôi muốn nói lên tên người đàn bà hành khất.

Tôi chưa kịp nói thì Mai Thảo kéo tôi băng qua đường.

Tôi ngồi vào trong xe, nói lên ngay tên nàng.

Mai Thảo gật đầu.

Cẩm Nhung.

Tên người vũ nữ thay quần áo sau tấm bình phong mỗi lần Mai Thảo và tôi đến đón nàng đi làm hay đi ăn, đi ra Pointe des Blagueurs (Bến Bạch Đằng) hóng mát.

Cẩm Nhung bị tạt át xít trong một trận đòn ghen có sức mạnh của tiền hô hậu ủng, có sự tàn bạo mới của thế kỷ khoa học.

Tôi nhìn bạn tôi ngậm ngùi:

-Cẩm Nhung!

Mai Thảo nhìn về phía trước mặt, như nói một mình, rất khẽ:

-Nhung đấy!”

Một ngày đầu năm 2013, tại một xóm trọ nghèo ở thị xã Hà Tiên (tỉnh Kiên Giang), nơi những người ăn xin, bán vé số, bốc vác và dân tứ xứ đến thuê ở trọ, có một đám ma nghèo.

Một bà lão bán vé số đã qua đời vì già yếu, bệnh tật. Không một người thân, bà lão được những người đồng cảnh ngộ lo cho một quan tài loại rẻ tiền, rồi đưa ra nghĩa địa…

Sẽ không có chuyện gì đáng nói về đám ma nghèo của bà lão vô gia cư, nếu như người quá cố nói trên không phải là vũ nữ Cẩm Nhung, đã lừng danh ở nửa thế kỷ trước.”

Nguồn fb Thầy Lê Văn Thông 


 

11 TUỔI BỊ BỎ LẠI Ở BẮC MỸ THUẬN VỚI MỘT Ổ BÁNH MÌ, 50 NĂM SAU VẪN SỐNG NHỜ TÌNH NGƯỜI

Nghệ Lâm Hồng

Jocelyn Minh Tue

11 TUỔI BỊ BỎ LẠI Ở BẮC MỸ THUẬN VỚI MỘT Ổ BÁNH MÌ, 50 NĂM SAU VẪN SỐNG NHỜ TÌNH NGƯỜI

Năm 11 tuổi, khi một chân đã teo liệt, không thể tự đi lại, bà Nguyễn Thị Thủy được người cậu chở đến khu vực bắc Mỹ Thuận. Người cậu mua cho bà một ổ bánh mì rồi nói sẽ đi mua đồ Tết và quay lại đón.

Nhưng ông không trở lại.

Đứa trẻ mồ côi cha mẹ, không thể tự đi tìm người thân, chỉ biết ngồi một chỗ chờ đợi rồi bật khóc. Đến khi những người xung quanh nói rằng bà đã bị người thân bỏ lại, cô bé mới hiểu chuyến đi ấy không phải để mua quần áo Tết.

Đó là ngày bà mất đi mái nhà của mình.

MỘT Ổ BÁNH MÌ VÀ CUỘC ĐỜI BỊ BỎ LẠI

Bà Thủy quê Vĩnh Long, mồ côi cha mẹ từ nhỏ và sống nhờ bà cố. Từ bé, bà bị suy dinh dưỡng, một bên chân teo nhỏ, gần như không thể đứng và đi lại bình thường.

Sau khi bà cố qua đời, bà sống cùng cậu mợ. Nhưng theo lời kể của bà, vì không muốn tiếp tục chăm sóc một đứa trẻ khuyết tật, người thân đã tìm cách đưa bà đi.

Tại khu vực bắc Mỹ Thuận, người cậu để bà lại với một ổ bánh mì và lời hứa sẽ quay lại.

Bà chờ từ sáng đến gần trưa.

Nhưng người cậu không bao giờ quay lại nữa.

May mắn, một người chạy xe lam nhìn thấy cô bé đang khóc đã dừng lại. Ông nghe câu chuyện rồi đưa bà về bến phà, nhờ những người làm việc ở đó giúp đỡ.

Từ đó, cuộc đời cô bé 11 tuổi bắt đầu gắn với những bến phà, vỉa hè và những mái hiên tạm bợ.

KHÔNG CÙNG MÁU MỦ NHƯNG KHÔNG AI BỎ RƠI

Ban ngày, bà ngồi với chiếc nón lá trước mặt để xin tiền ăn. Người cho vài đồng, người cho hộp cơm, người cho quần áo.

Đêm xuống, bà tìm một góc gần phòng vé hoặc vỉa hè để ngủ.

Những người làm việc tại bến phà thương hoàn cảnh của cô bé nên góp tiền đưa bà đi chữa chân. Bà được tập vật lý trị liệu, nẹp chân và tập đứng.

Từ một đứa trẻ chỉ có thể lết trên nền đất, bà dần bước được những bước đầu tiên.

“Nhờ người dưng hết đó con. Không có người ta chắc cô đâu có đi được tới giờ.”

Sau này, bà có một người đàn ông thương hoàn cảnh và hai người nương tựa nhau sống dưới gầm cầu Chợ Mới. Nhưng khi ông bị tai biến và được con cái đón về chăm sóc, bà lại trở về cuộc sống một mình.

HƠN 20 NĂM DƯỚI GẦM CẦU

Ở tuổi 65, bà Thủy vẫn sống trong một khoảng trống sát mố cầu.

Một chiếc giường gỗ, vài chiếc nồi, thùng nước, quần áo và những món đồ được người khác cho là gần như toàn bộ tài sản của bà.

Mỗi ngày, nếu chân còn đỡ đau, bà chống chân ra chợ. Người bán hàng quanh khu vực đã quen với cô Ba Thủy. Người cho rau, người cho trái cây, người để lại phần thức ăn.

Có ngày bà xin được vài chục nghìn đồng. Có ngày trời mưa hoặc chân đau, bà chỉ ở lại dưới gầm cầu.

“Có gì ăn đó. Có tương thì ăn tương, có rau thì luộc rau.”

Giờ đây, đôi mắt bà đã mờ đến mức người đứng trước mặt chỉ còn là một bóng hình. Hai chân thường xuyên sưng đau, việc đi lại ngày càng khó khăn.

Thế nhưng bà vẫn cố tự giặt quần áo, nấu ăn và sắp xếp mọi thứ quanh mình.

“HẬN LÀM CHI CON ƠI…”

Hơn 50 năm đã trôi qua, khi được hỏi có còn giận người cậu đã bỏ mình hay không, bà chỉ lắc đầu.

“Hận làm chi con ơi. Cuộc đời mình số phận nó như vậy rồi, hận cũng đâu đổi lại được gì đâu.”

Nếu một ngày gặp lại, bà nói mình cũng không muốn trách móc.

“Gặp thì mừng, rồi bỏ qua hết.”

Ở tuổi 65, bà không mong nhà cao cửa rộng, cũng chẳng mong một cuộc sống sung túc.

Điều bà mong chỉ là mỗi ngày có hai bữa cơm, dành dụm được một ít tiền để khi chân đau còn có tiền mua thuốc.

Và bà đã nghĩ đến ngày cuối đời:

“Chừng nào cô mãn phần, chỉ nhờ bà con chòm xóm ở đây chôn cất giùm, hoặc đem đi thiêu. Cô không dám phiền ai.”

Phía trên đầu, xe cộ vẫn ngày ngày chạy qua cầu.

Còn phía dưới, người ta vẫn thấy một bà cụ 65 tuổi với đôi mắt đã mờ, đôi chân đau nhức, sống qua ngày nhờ sự giúp đỡ của những người xa lạ.

Hơn 50 năm trước, bà là một cô bé 11 tuổi bị bỏ lại bên bắc Mỹ Thuận với một ổ bánh mì.

Hơn nửa thế kỷ sau, thứ giữ bà ở lại với cuộc đời không phải là người thân ruột thịt, mà chính là lòng tốt của những người xa lạ.


 

TỐ HỮU VÀ CÁI CHẾT CỦA NHÀ THƠ VŨ HOÀNG CHƯƠNG

TỐ HỮU VÀ CÁI CHẾT CỦA NHÀ THƠ VŨ HOÀNG CHƯƠNG

Vũ Hoàng Chương (5 tháng 5 năm 1916 – 6 tháng 9 năm 1976) là một nhà thơ người Việt Nam, với văn phong được cho là sang trọng, có dư vị hoài cổ, giàu chất nhạc, với nhiều sắc thái Đông Phương. Ông được xưng tụng là “thi bá Việt Nam” và cũng là một trong 100 tác giả trên thế giới được Ủy ban Nobel văn học chọn lọc để đề cử cho giải Nobel văn học năm 1972.

Ông sinh tại Nam Định, nguyên quán tại làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, nay là huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên.

Thuở nhỏ, ông học chữ Hán ở nhà rồi lên học tiểu học tại Nam Định. Năm 1931 ông nhập học trường Albert Sarraut ở Hà Nội, đỗ Tú tài năm 1937.

Năm 1938 ông vào Trường Luật nhưng chỉ được một năm thì bỏ đi làm Phó Kiểm soát Sở Hỏa xa Đông Dương, phụ trách đoạn đường Vinh – Na Sầm.

Năm 1941, ông rời Sở hỏa xa đi học Cử nhân toán tại Hà Nội, rồi lại bỏ dở để đi dạy ở Hải Phòng. Trong suốt thời gian này, ông không ngừng sáng tác thơ và kịch. Sau đó trở về Hà Nội lập “Ban kịch Hà Nội” cùng Chu Ngọc và Nguyễn Bính. Năm 1942 đoàn kịch công diễn vở kịch thơ Vân muội tại Nhà hát Lớn. Cũng năm đó ông gặp Đinh Thục Oanh, chị ruột nhà thơ Đinh Hùng và hai người thành hôn năm 1944.

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông về Nam Định và cho diễn vở kịch thơ Lên đường của Hoàng Cầm. Kháng chiến toàn quốc nổ ra, Vũ Hoàng Chương tản cư cùng gia đình về Thái Bình, làm nghề dạy học. Đến 1950, gặp lúc quân Pháp càn đến ruồng bắt cả nhà, ông bỏ miền quê, hồi cư về Hà Nội nơi dạy toán rồi chuyển sang dạy văn và làm nghề này cho đến 1975. Năm 1954, Vũ Hoàng Chương di cư vào Nam, tiếp tục dạy học và sáng tác ở Sài Gòn.

Vũ hoàng Chương với Tố Hữu là bạn nhưng Vũ Hoàng Chương lớn hơn Tố Hữu vài tuổi. Năm 1946 Huy Cận ra bưng theo kháng chiến dùng thi tài của mình để phục vụ kháng chiến, dần lên chức Thứ trưởng bộ Văn hóa. Vũ Hoàng Chương không theo kháng chiến, sau hiệp định Genève năm 1954 di cư vào Saigon tiếp tục nghiệp thơ và sinh sống bằng nghề dạy học.

Năm 1976, Huy Cận được cử vào Sài Gòn cùng với một phái đoàn gồm có Tố Hữu, Hoài Thanh, Xuân Diệu, Vũ Đình Liên, …, với mục đích thăm dò và chiêu dụ các văn nghệ sĩ miền Nam.

Phái đoàn được Thanh Nghị ký giả (một cộng sản nằm vùng) tiếp đón và tổ chức một đêm “họp mặt văn nghệ” với các nhân vật gạo cội miền Nam để cùng đánh giá văn hoá hai miền ngõ hầu thống nhất tư tưởng về một mối. Buổi họp này Vũ Hoàng Chương đã được mời và ông đã tham dự.

Đề tài được đưa ra là mấy câu thơ của Tố Hữu đã làm để khóc Stalin chết vào năm 1953. Hai câu thơ đã gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp với Tố Hữu:

“Thương cha, thương mẹ, thương chồng

Thương mình thương một, thương Ông thương mười”.

Hoài Thanh mời Vũ Hoàng Chương, một nhà thơ của Miền Nam góp ý. Vũ Hoàng Chương đã yêu cầu cử tọa thông cảm nếu có chỗ nào thất thố vì ông sợ rằng những gì ông muốn trình bày sẽ làm tổn thương cái “sáng giá” của đêm họp “văn nghệ đặc biệt” này. Sau đây là lời của Vũ Hoàng Chương:

“Thi nhân từ cảm xúc mỗi lúc tác động vào tâm cảnh của mình, để hồn trí phản ứng theo thất tình con người mà vận dụng thi tứ phổ diễn nên lời một tình tự nào đó, rồi đãi lọc thành thơ. Sự vận dụng càng xuất thần, việc phổ diễn càng khẩu chiếm, thơ càng có giá trị cao.

Cảm xúc trước cái chết của một thần tượng được “đóng khung” tự bao giờ trong tâm cảnh mình, Tố Hữu đã xuất thần vận dụng nỗi u hoài, phổ diễn nên những lời thơ thật khẩu chiếm, rồi dùng những từ thật tầm thường, ít thi tính, đãi lọc nỗi u hoài của mình thành một tiếng nấc rất tự nhiên, đạt đến một mức độ điêu luyện cao… Nhưng thơ không phải chỉ có thế. Xuất thần khẩu chiếm thuộc phạm vi kỹ thuật, dù đã có thi hứng phần nào, và nếu chỉ có thế thì thơ chỉ có khéo mà thôi, chưa gọi là đạt; tức chưa phải là hay. Thơ hay cần phải khéo như thế vừa phải đạt thật sự. Thi hứng nằm trong sự thực của tình tự phổ diễn nên lời. Tình tự mà không thực, lời thơ thành gượng ép…

Tố Hữu đặt tiếng khóc của chính mình vào miệng một bà mẹ Việt Nam, muốn bà dùng mối u hoài của một nhà thơ để dạy con trẻ Việt Nam yêu cụ Stalin thay cho mình. Cũng chẳng sao vì đó cũng là một kỹ thuật của thi ca. Nhưng trước hết phải biết bà mẹ Việt Nam có cùng tâm cảnh với mình không, có chung một mối cảm xúc hay không?

Tôi biết chắc là không. Bởi trong đoạn trên của hai câu lục bát này trong bài “Đời Đời Nhớ Ông”, Tố Hữu đã đặt vào lời bà mẹ hai câu:

“Yêu biết mấy nghe con tập nói

Tiếng đầu lòng con gọi Stalin”

Chắc chắn là không có một bà mẹ Việt Nam nào, kể cả Bà Tố Hữu, mà thốt được những lời như vậy một cách chân thành. Cái không thực của hai câu này dẫn tới cái không thực hai câu sau ta đang mổ xẻ. Một tình tự không chân thực, dù đươc luồn vào những lời thơ xuất thần, khẩu chiếm đến đâu cũng không phải là thơ đẹp, thơ hay, mà chỉ là thơ khéo làm. Đó chỉ là thơ thợ chứ không phải là thơ tiên. Loại thơ khéo này người thợ thơ nào lành nghề cũng quen làm, chẳng phải công phu lắm. Nhất là nếu có đòi hỏi một tuyên truyền nào đó. Tố Hữu nếu khóc lấy, có lẽ là khóc thực, khóc một mình. Nhưng bà mẹ Việtn Nam trong bài đã khóc tiếng khóc tuyên truyền, không mấy truyền cảm”.

Lời phê bình của Vũ Hoàng Chương đã gây sôi nổi trong đám thính giả có mặt hôm đó. Muốn phản bác luận điệu của Vũ Hoàng Chương, có người đã yêu cầu ông nói về thơ và sự thực mà ông đã đưa ra để chê Tố Hữu và cùng nghĩ rằng Vũ Hoàng Chương khó lòng mà đưa ra một luận cứ vững vàng được, nhưng ông vẫn ôn tồn phát biểu:

“Thơ vốn là mộng, là tưởng tượng, là tách rời thực tế, nhưng mộng trên những tình tự thực. Không chấp nhận loại thơ tình tự hoang. Có khoa học giả tưởng, không có thơ giả tưởng. Nói thơ là nói đến thế giới huyễn tưởng, huyễn tưởng trên sự thực để thăng hoa sự thực, chứ không bất chấp, không chối bỏ sự thực. Nhà thơ không được láo, nhà thơ phải thực nhưng thoát sáo sự thực thành mộng để đưa hồn tính người yêu thơ vươn lên sự thực muôn đời đạt đến chân lý cuộc sống. Thiên chức thi ca là ở chỗ đấy.

“Tôi xin nhắc, sự thực muôn đời là cơ sở duy nhất của thi ca. Vì có sự thực cho riêng một người, có sự thực cho riêng một thời, nhưng vẫn có sự thực cho muôn đời, sự thực bao quát không gian, thời gian, chân lý cuộc sống”.

Tố Hữu không ngờ bị Vũ Hoàng Chương chê bai là nịnh hót Stalin nên bực tức. Sau đêm đó, Vũ Hoàng Chương đã bị công an nửa đêm ngày 3/4/1976, tràn vào nhà bắt giam tại khám Chí Hoà nhốt chung với bác sỹ (cựu Thủ Tướng VNCH).

Trong nhà tù bị hành hạ, ăn uống thiếu thốn, bệnh không có thuốc uống nên ông kiệt sức, đến khi quá tiều tụy thì được thả về. Chỉ vài ngày sau đó, ngày 6/9/1976 thì ông qua đời… Việt Nam đã mất đi một thi nhân tài hoa, bởi bàn tay sắt máu của một ai đó mà chúng ta rất khó tìm ra chứng cứ trực tiếp.

(Quê Mẹ số 63/64)

 


 

HAI TẦNG LUẬT PHÁP VIỆT NAM: NGỌC TRINH NGỒI MÔ TÔ SAI TƯ THẾ PHẢI ĐI TÙ, SỸ CƯƠNG NGỒI Ô TÔ TÔNG CHẾT NGƯỜI VẪN KHÔNG SAI

 Chân Trời Mới Media

HAI TẦNG LUẬT PHÁP VIỆT NAM: NGỌC TRINH NGỒI MÔ TÔ SAI TƯ THẾ PHẢI ĐI TÙ, SỸ CƯƠNG NGỒI Ô TÔ TÔNG CHẾT NGƯỜI VẪN KHÔNG SAI

Ở cái xứ sở nơi khẩu hiệu mọi người bình đẳng trước pháp luật được treo khắp nơi như tờ giấy lau bàn, công lý thực chất chỉ là một món hàng phân cấp rõ ràng theo thẻ đảng và ghế ngồi.

Ngọc Trinh lái mô tô sai tư thế trong khu nội bộ Thủ Thiêm. Không tông ai, không bỏ chạy, không làm đổ một giọt máu. Thế mà bị quy cố ý, đề nghị 2–7 năm tù, cuối cùng được “khoan hồng” một năm treo, hai năm thử thách. Tòa án nghiêm khắc lắm. Luật là luật. Không ai được đứng trên pháp luật.

Còn ông nghị Cương? Lái ô tô sai làn ngay trung tâm Hà Nội, tông chết một người đi xe máy. Kết quả là miễn trách nhiệm hình sự. Không án, không treo, không thử thách. Chỉ cần là ông nghị, là đồng chí, là người của hệ thống thì mạng người cũng chỉ là chi phí giao thông. Tòa án lúc này bỗng nhiên trở nên nhân văn, xem xét hoàn cảnh, cân nhắc đóng góp.

Thật là một hệ thống đầy tính đảng. Người không có ghế thì bị soi đến tư thế ngồi xe. Người có ghế thì được miễn đến cả tội giết người vì bất cẩn. Đây không còn là bất công thông thường nữa. Đây là bất công được thiết kế, được vận hành, được bảo vệ bằng chính bộ máy nhà nước.

Luật pháp Việt Nam không phải là công cụ bảo vệ công lý. Nó là công cụ bảo vệ quyền lực. Nó là cái roi để răn đe những kẻ không biết điều, và là cái dù để che cho những kẻ biết đứng đúng hàng ngũ. Ngọc Trinh không biết đứng đúng hàng nên phải nhận án. Ông nghị biết đứng đúng hàng nên được tha.

Và cái hay nhất là sau mỗi vụ việc như thế này, người ta vẫn cứ lớn tiếng hô không ai đứng trên pháp luật. Thật ra thì có. Rất nhiều người đang đứng trên pháp luật. Họ đứng trên nó mỗi ngày, ngồi trên nó mỗi khi lái xe, và thỉnh thoảng còn dùng nó để đè những kẻ phía dưới xuống.

Đó chính là công lý kiểu Việt Nam, công lý có tầng, có hạng, có thẻ. Và tầng dưới thì đừng bao giờ ảo tưởng rằng luật là để bảo vệ mình.

#luatphap #ngoctrinh #nguyensycuong #congly #chantroimoi 


 

Rousseau – Nhà triết học Khai sáng vĩ đại… hay một “kẻ phản động”?-Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng –

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng

04/08/2026

Ngày còn học đại học, tôi từng nghĩ triết học là môn học khô khan và khó hiểu nhất. Đó là vì chúng tôi chỉ được học triết học Mác – Lênin. Mãi nhiều năm sau, khi đọc Jean-Jacques Rousseau, tôi mới nhận ra rằng triết học cũng có thể rất giản dị. Có những nhà triết học chỉ cần một câu đã khiến người đọc phải suy nghĩ cả đời: “Con người sinh ra vốn tự do, nhưng ở khắp nơi lại bị xiềng xích.”

Jean-Jacques Rousseau được xem là một trong những nhà triết học vĩ đại nhất của thời đại Khai sáng và là một trong những người đặt nền móng cho tư tưởng chính trị hiện đại. Ảnh hưởng của ông vượt xa phạm vi triết học, lan sang giáo dục, đạo đức, chính trị và cả cuộc Cách mạng Pháp. Cho đến hôm nay, những khái niệm như chủ quyền nhân dân, quyền công dân, tự do và bình đẳng vẫn mang đậm dấu ấn tư tưởng của Rousseau.

Cái khác biệt của Rousseau là ông không bắt đầu từ nhà nước hay quyền lực, mà bắt đầu từ con người.

Theo Rousseau, con người trong trạng thái tự nhiên vốn lương thiện. Họ sống giản dị, tự do, biết thương người và chưa bị lòng tham hay sự ganh đua chi phối. Chính xã hội, cùng với sự xuất hiện của sở hữu tư nhân, bất bình đẳng và cuộc chạy đua vì quyền lực, mới làm cho con người dần trở nên ích kỷ, giả tạo và tha hóa.

Câu nói nổi tiếng của Rousseau vừa có sức gợi hình rất mạnh, vừa có chiều sâu triết học. Ông mượn hình ảnh chiếc xiềng sắt để nói về những chiếc xiềng vô hình còn phổ biến hơn nhiều. Đó là lý do câu nói này trở thành một trong những câu mở đầu nổi tiếng nhất trong lịch sử triết học: “Con người sinh ra vốn tự do, nhưng ở khắp nơi lại bị xiềng xích”. Câu nói này không chỉ là lời than thở về số phận con người, mà còn là câu hỏi lớn của triết học chính trị: làm thế nào con người có thể sống trong xã hội mà vẫn giữ được tự do?

Đó chính là mục đích của tác phẩm Khế ước xã hội (Du Contrat social).

Rousseau cho rằng con người cần từ bỏ một phần tự do tự nhiên để xây dựng một cộng đồng chính trị. Nhưng sự từ bỏ ấy không phải để phục tùng một ông vua hay một tầng lớp thống trị. Mỗi cá nhân trao quyền của mình cho toàn thể cộng đồng, và đổi lại, họ trở thành một phần của chủ quyền chung.

Từ đó, Rousseau đưa ra một tư tưởng mang tính cách mạng: chủ quyền hoàn toàn thuộc về nhân dân,không phải của nhà vua, không phải của quý tộc, lại càng không phải của bất kỳ đảng phái hay tầng lớp nào tự cho mình quyền cai trị nhân dân.

Theo Rousseau, luật pháp chỉ có giá trị khi phản ánh ý chí chung (volonté générale, tôi đã nói ở bài trước), tức là lợi ích chung của toàn xã hội chứ không phải lợi ích của một nhóm người. Chính phủ chỉ là cơ quan thi hành ý chí của nhân dân, chứ không phải chủ nhân của quyền lực.

Đối với Rousseau, tự do không có nghĩa là muốn làm gì thì làm. Tự do đích thực là được sống dưới những đạo luật mà chính mình, với tư cách một công dân, đã tham gia xây dựng và tự nguyện chấp nhận. Đó là nền tảng của khái niệm tự do công dân trong các nền dân chủ hiện đại.

Chính những tư tưởng ấy đã ảnh hưởng sâu sắc đến Cách mạng Pháp, đến Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền, và sau đó là hầu hết các nền dân chủ trên thế giới.

Đọc Rousseau ngày nay, hầu như ai cũng thừa nhận ông là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất của nhân loại.

Nhưng hãy thử làm một phép so sánh nhỏ và quay trở về đời sống của chúng ta hiện nay.

Nếu chủ quyền thực sự thuộc về nhân dân, thì nhân dân có quyền tự do lựa chọn người cầm quyền hay không? Nếu luật pháp phải phản ánh ý chí của nhân dân, thì nhân dân có quyền tranh luận, phản biện và chỉ trích chính quyền hay không?

Nếu không một cá nhân hay tổ chức nào được đứng trên chủ quyền của nhân dân, thì liệu có ai có quyền tự nhận mình là lực lượng duy nhất đại diện cho nhân dân hay không?

Đó đều là những câu hỏi mà Rousseau đã đặt ra từ hơn hai thế kỷ trước.

Và cũng chính vì những câu hỏi ấy, nếu đem tư tưởng của Rousseau đối chiếu với cách sử dụng khái niệm “phản động” ở một số nơi ngày nay, thì nghịch lý xuất hiện.

Ông phủ nhận quyền lực tuyệt đối, trao chủ quyền cho nhân dân, đòi hỏi quyền lực phải chịu sự kiểm soát của nhân dân, không chấp nhận bất kỳ quyền lực nào tự đặt mình cao hơn nhân dân.

Như vậy, không còn nghi ngờ gì nữa Rousseau là kẻ phản động nguy hiểm nhất mọi thời đại hay nói theo ngôn ngữ bây giờ ông là « Tổ sư phản động », sinh 1712 – tử 1778

Rousseau không chống lại nhân dân. Trái lại, ông là một trong những người đầu tiên trong lịch sử đặt nhân dân vào vị trí tối cao của quyền lực chính trị.

Và có lẽ chính đó mới là điều hài hước nhất của lịch sử:

Một trong những nhà triết học Khai sáng vĩ đại nhất của nhân loại, người đặt nền móng cho dân chủ hiện đại, nếu bị chính quyền ngày nay mang ra xét xử, chắc chắn sẽ bị quy kết là… một “kẻ phản động”


 

ICE từng âm thầm hợp tác với Iran trục xuất người Iran về nước

Ba’o Nguoi-Viet

August 20, 2026

WASHINGTON, DC (NV) – Giới chức di trú Mỹ âm thầm hợp tác với Iran để trục xuất người Iran về nước vào cuối năm 2025 và đầu năm 2026, theo hàng trăm email mới được công bố, CBS đưa tin hôm Thứ Năm, 20 Tháng Tám.

Những email này được giới chức di trú Mỹ gửi cho nhau. Hội Đồng Quốc Gia Người Mỹ Gốc Iran (NIAC) lấy được những email này và công bố hôm Thứ Ba.

Đặc vụ di trú liên bang thi hành lệnh bắt giữ thành viên băng đảng ở Boston, Massachusetts hôm 9 Tháng Sáu. (Hình: ICE)

Theo những email này, hai bên hợp tác với nhau trục xuất hơn 100 người Iran bằng ba chuyến bay khác nhau vào Tháng Chín và Tháng Mười Hai, 2025 và Tháng Giêng, 2026.

Những email này cho thấy giới chức Iran cũng có tiếng nói trong việc trục xuất người Iran nào về nước, và có vẻ Cảnh Sát Di Trú Mỹ (ICE) làm theo một số điểm thay đổi vào phút chót trong danh sách trục xuất mà Iran yêu cầu.

“Theo Tòa Đại Sứ Iran yêu cầu, tôi đưa thêm vài trường hợp vào,” một giới chức ICE, không được nêu tên, viết trong email cuối Tháng Tám năm ngoái, một tháng trước chuyến bay trục xuất đầu tiên. Hơn một tuần sau, người nào đó cùng chức vụ lại điều chỉnh danh sách trục xuất sau khi cho hay họ vừa gặp “Giám đốc tại Tòa Đại Sứ Iran.”

“Iran vừa yêu cầu tôi sửa lại danh sách trước và đẩy nhanh thủ tục trục xuất,” giới chức này viết.

Hợp tác thực hiện những chuyến bay này vẫn là điều ưu tiên hàng đầu bất chấp giới chức ICE thừa nhận trong nội bộ rằng người Iran đang bỏ chạy khỏi đất nước giữa cuộc chiến 12 ngày của Mỹ và Israel với Iran hồi Tháng Sáu, 2025, theo những email này. Chuyến bay đầu tiên cất cánh chỉ vài tháng sau khi Mỹ và Israel đạt thỏa thuận ngưng bắn với Iran.

Sự hợp tác này đi ngược lại thông lệ hàng chục năm của Mỹ là sẵn sàng đón người bất đồng chính kiến, người lưu vong và nhiều người khác từ Iran kể từ khi Cuộc Cách Mạng Hồi Giáo Năm 1979 buộc rất nhiều người Iran bỏ nước ra đi.

Các tổ chức nhân quyền từng kịch liệt lên án trục xuất người Iran về quốc gia mà chính phủ có xu hướng bạo hành phụ nữ, nhóm tôn giáo thiểu số và người bất đồng chính kiến.

Tháng Chín, 2025, giới chức Iran thừa nhận có thể có tới 400 người Iran sẽ bị trục xuất theo thỏa thuận với chính quyền Tổng Thống Donald Trump. Giới chức Iran cho hay hầu hết những người đó vượt biên bất hợp pháp từ Mexico vào Mỹ và một số người đang gặp vấn đề di trú.

Bộ Nội An (DHS), cơ quan giám sát ICE, chưa trả lời thư của CBS News yêu cầu nhận xét về thông tin này. (Th.Long) [kn]


 

 BÔNG HOA LÀI CẮM BÃI CỨT TRÂU – Truyen ngan HAY

Nguyen Quốc

 BÔNG HOA LÀI CẮM BÃI CỨT TRÂU

Khi giấc mơ đổi đời biến hôn nhân thành một canh bạc

Trong dân gian từng có câu:

“Bông hoa lài cắm bãi cứt trâu.”

Một cách ví von cay nghiệt, thô ráp nhưng thường được dùng để nói về một người con gái xinh đẹp, hiền lành lại trao đời mình cho một người đàn ông không xứng đáng.

Ngày nay, câu nói ấy đôi khi xuất hiện trong những cuộc hôn nhân vượt biên giới: một cô gái trẻ chấp nhận lấy một người đàn ông từ Mỹ trở về, dù chưa hiểu rõ tính tình, quá khứ và hoàn cảnh của người ấy. Chỉ cần nghe hai chữ “Việt kiều”, thấy tấm hộ chiếu Hoa Kỳ hoặc viễn cảnh được bảo lãnh sang Mỹ, nhiều người đã vội tưởng cánh cửa hạnh phúc đang mở ra.

Nhưng không phải con đường nào dẫn đến nước Mỹ cũng dẫn đến thiên đường. Và không phải người nào sống ở Mỹ cũng là người tử tế.

Tấm hộ chiếu không phải giấy chứng nhận nhân cách

Một trong những ngộ nhận nguy hiểm nhất là lấy nơi cư trú để đo phẩm giá con người.

Người sống tại Mỹ có thể thành đạt, lương thiện và có trách nhiệm. Nhưng cũng có thể là người thất nghiệp, nghiện ngập, cờ bạc, bạo hành, mang nợ hoặc đã trải qua nhiều cuộc hôn nhân đổ vỡ. Quốc tịch chỉ xác định quan hệ pháp lý giữa một cá nhân và một quốc gia; nó không chứng minh người ấy biết yêu thương, chung thủy hay tôn trọng phụ nữ.

Tấm hộ chiếu có thể giúp người ta bước qua cửa khẩu, nhưng không thể bảo đảm người cầm nó có một trái tim tử tế.

Thẻ xanh có thể cho một người quyền cư trú, nhưng không thể trao cho họ phẩm hạnh.

Ngôi nhà ở Mỹ có thể rộng hơn căn nhà ở quê, nhưng nếu bên trong là sự kiểm soát, nhục mạ và bạo hành thì đó vẫn chỉ là một nhà tù được trang trí đẹp đẽ.

Bởi vậy, lấy chồng chỉ vì người ấy “có quốc tịch Mỹ” là đặt cả cuộc đời vào một canh bạc mà phần thua thường thuộc về người phụ nữ.

Khi hôn nhân bị biến thành con đường xuất cảnh

Không thể phủ nhận rằng có những phụ nữ mong muốn kết hôn với Việt kiều để tìm một tương lai ổn định hơn. Đằng sau lựa chọn ấy có thể là hoàn cảnh kinh tế khó khăn, trách nhiệm với cha mẹ, mong muốn giúp đỡ gia đình hoặc khát vọng thoát khỏi một môi trường sống bế tắc.

Chúng ta có thể hiểu ước mơ ấy. Nhưng hiểu không có nghĩa là phải tô hồng nó.

Khi mục tiêu “đi Mỹ” trở nên lớn hơn mục tiêu tìm một người chồng tốt, hôn nhân rất dễ biến thành một cuộc trao đổi: một bên trao tuổi trẻ và tình cảm; bên kia trao lời hứa bảo lãnh cùng viễn cảnh định cư.

Trong cuộc đổi chác ấy, cả hai có thể bắt đầu bằng sự tính toán. Nhưng người phụ nữ thường là người chịu nhiều rủi ro hơn. Cô phải rời gia đình, bỏ lại bạn bè, bước vào một xã hội xa lạ và phụ thuộc vào người chồng về ngôn ngữ, tiền bạc, phương tiện đi lại cũng như thủ tục pháp lý.

Nếu gặp người tử tế, đó có thể là khởi đầu của một gia đình hạnh phúc. Nếu gặp kẻ lợi dụng, cô gần như bị đặt vào thế cô lập giữa một đất nước rộng lớn mà không biết phải cầu cứu ai.

Cái giá của một quyết định vội vàng khi ấy không chỉ là một cuộc ly hôn. Nó có thể là những năm tháng bị kiểm soát, đánh đập, xúc phạm, cưỡng ép, cô lập hoặc đe dọa bằng hồ sơ di trú.

Hào quang Việt kiều và những chiếc mặt nạ

Có người ở nước ngoài trở về quê với quần áo sang trọng, thuê xe đẹp, tổ chức những bữa tiệc lớn và kể về một cuộc sống giàu có. Nhưng vài tuần xuất hiện ở Việt Nam không đủ để chứng minh cuộc sống thật của họ ở Mỹ.

Chiếc xe có thể là xe thuê. Tiền tiêu trong chuyến về quê có thể là tiền vay. Ngôi nhà trong ảnh có thể không thuộc về họ. Công việc được giới thiệu là “kỹ sư”, “doanh nhân” hoặc “chủ hãng” đôi khi chỉ là câu chuyện được dựng lên để gây ấn tượng.

Đáng sợ hơn, có người cố tình tìm một cô gái trẻ, ít kinh nghiệm và yếu tiếng Anh vì họ biết cô sẽ dễ phụ thuộc, khó phản kháng và ít hiểu quyền lợi của mình.

Đó không còn là tình yêu. Đó là việc sử dụng ưu thế quốc tịch và kinh tế để thiết lập quyền kiểm soát.

Tình yêu chân thành không sợ sự kiểm chứng. Một người đàn ông nghiêm túc sẽ không ngăn người phụ nữ tìm hiểu về công việc, tình trạng hôn nhân, tài chính và quá khứ của mình. Anh ta cũng không thúc ép cưới gấp, không dùng lời hứa bảo lãnh để buộc cô phải phục tùng và không xem số tiền gửi về cho gia đình cô như giá mua quyền sở hữu cuộc đời cô.

Nhưng đừng biến người phụ nữ thành bị cáo

Khi một cuộc hôn nhân như thế đổ vỡ, xã hội thường rất nhanh miệng:

“Ham đi Mỹ thì chịu.”

“Tham giàu nên mới khổ.”

“Biết người ta lớn tuổi vẫn lấy.”

Những lời ấy dễ nói, nhưng đôi khi tàn nhẫn hơn chính hoàn cảnh mà người phụ nữ đang phải chịu đựng.

Đúng là mỗi người phải chịu trách nhiệm về lựa chọn của mình. Nhưng không phải mọi lựa chọn đều được thực hiện trong điều kiện bình đẳng. Có người thiếu thông tin. Có người bị lừa dối. Có người chịu áp lực từ gia đình. Có người lớn lên trong nghèo khó nên nhìn thấy một lối thoát mà không nhận ra chiếc bẫy nằm phía sau.

Một quyết định thiếu sáng suốt không trao cho bất kỳ người chồng nào quyền đánh đập, sỉ nhục, cưỡng ép hoặc giam cầm vợ mình.

Không ai đáng bị bạo hành chỉ vì từng mơ ước đổi đời.

Không ai mất quyền được bảo vệ chỉ vì đã lựa chọn sai một người.

Và một người phụ nữ từng đặt niềm tin nhầm chỗ không vì thế mà mất đi phẩm giá.

“Bông hoa lài” vẫn là bông hoa lài. Nơi nó từng bị đặt xuống không quyết định giá trị và hương thơm của nó.

Nỗi đau của những người mẹ

Trong nhiều gia đình, chính cha mẹ cũng góp phần thúc đẩy con gái lấy chồng Việt kiều. Họ nghĩ rằng con sang Mỹ sẽ có cuộc sống sung túc rồi gửi tiền về giúp gia đình. Đám cưới đôi khi được xem như ngày cả nhà đổi vận.

Nhưng cha mẹ cần tự hỏi: mình đang gả con cho một con người hay gửi con theo một tấm vé xuất cảnh?

Một người đàn ông có nhà, có xe và có quốc tịch chưa chắc đã đem lại hạnh phúc cho con gái mình. Điều cần tìm hiểu không chỉ là anh ta kiếm được bao nhiêu tiền, mà là anh ta đối xử với cha mẹ, người vợ cũ, con riêng, đồng nghiệp và những người yếu thế như thế nào.

Đừng vì mong con đổi đời mà đẩy con vào một cuộc đời không lối thoát.

Tiền con gửi về không thể bù được những đêm con khóc một mình nơi đất khách. Căn nhà mới xây ở quê không thể che lấp những vết thương trên thân thể và tâm hồn của con. Niềm tự hào “có con lấy chồng Mỹ” cũng không đáng giá bằng sự bình an của chính người con gái ấy.

Muốn lấy chồng xa, càng phải tỉnh táo

Tình yêu xuyên biên giới không có gì đáng lên án. Rất nhiều gia đình Việt–Mỹ được xây dựng bằng tình yêu chân thành, sự hy sinh và lòng tôn trọng. Điều cần phê phán không phải là việc lấy chồng Việt kiều, mà là tâm lý lấy chồng bằng mọi giá chỉ để được đi Mỹ.

Trước hôn nhân, người phụ nữ cần có quyền và trách nhiệm tìm hiểu:

* Tình trạng hôn nhân thực tế của người ấy.

* Công việc, thu nhập, nơi ở và trách nhiệm tài chính.

* Tiền án, tiền sự hoặc lịch sử bạo hành nếu có.

* Quan hệ với vợ cũ và con riêng.

* Thái độ đối với phụ nữ, tiền bạc và quyền tự do cá nhân.

* Kế hoạch học tập, làm việc và hội nhập của người vợ sau khi sang Mỹ.

* Khả năng tự lập nếu cuộc hôn nhân không diễn ra như mong đợi.

Quan trọng nhất, đừng giao toàn bộ giấy tờ, tiền bạc và tương lai cho người phối ngẫu. Hãy học tiếng Anh, tìm hiểu pháp luật, duy trì liên lạc với gia đình và xây dựng khả năng tự đứng trên đôi chân của mình.

Một tình yêu bắt buộc người phụ nữ phải mù quáng không phải là tình yêu lành mạnh.

Một người đàn ông phản đối việc người vợ tìm hiểu quyền lợi của mình thường không tìm kiếm một người bạn đời; anh ta đang tìm kiếm một người lệ thuộc.

Hạnh phúc không mang quốc tịch

Người phụ nữ Việt Nam không cần một người chồng giàu nhất, sang trọng nhất hay sở hữu tấm hộ chiếu quyền lực nhất. Điều cô cần là một người biết tôn trọng, biết giữ lời, biết chia sẻ trách nhiệm và không dùng tiền bạc để định giá vợ mình.

Thà sống giản dị bên một người tử tế còn hơn sống trong căn nhà lớn với một kẻ xem vợ như tài sản.

Thà tự mình bước đi chậm rãi còn hơn ngồi trên chiếc xe hào nhoáng chạy thẳng vào bất hạnh.

Thà ở lại quê nhà trong phẩm giá còn hơn sang Mỹ bằng một cuộc hôn nhân khiến mình đánh mất tự do và lòng tự trọng.

Nước Mỹ không có lỗi. Ước mơ đi Mỹ cũng không có lỗi. Nhưng biến hôn nhân thành phương tiện xuất cảnh là một lựa chọn chứa đầy nguy hiểm. Bởi khi người ta bước vào hôn nhân vì một đất nước thay vì một con người, đến lúc giấc mơ địa lý phai màu, họ có thể phải đối diện với sự thật rằng mình chưa từng biết người nằm bên cạnh là ai.

Lời kết: Đừng lấy một tấm hộ chiếu

Xin đừng hỏi người đàn ông ấy có thể đưa con gái mình đến quốc gia nào. Hãy hỏi anh ta có thể đưa cô ấy đến một cuộc đời như thế nào.

Xin đừng nhìn chiếc xe anh ta lái khi về Việt Nam. Hãy nhìn cách anh ta đối xử với người phục vụ, với cha mẹ, với vợ cũ và với những người không thể đem lại lợi ích cho anh ta.

Xin đừng nghe anh ta hứa sẽ cho cô gái những gì. Hãy quan sát những điều anh ta sẵn sàng hy sinh và chịu trách nhiệm.

Và xin nhắn với những cô gái đang đứng trước ngưỡng cửa hôn nhân:

Đừng lấy nước Mỹ.

Đừng lấy thẻ xanh.

Đừng lấy những bức ảnh hào nhoáng.

Đừng lấy lời hứa đổi đời.

Hãy lấy một con người có nhân cách.

Bởi hôn nhân không phải chuyến bay một chiều đi tìm miền đất hứa. Đó là hành trình dài giữa hai con người bình đẳng. Nếu không có tình yêu, sự hiểu biết và lòng tôn trọng, dù điểm đến là Hoa Kỳ, cuối con đường vẫn có thể chỉ là cô đơn.

Đừng để một bông hoa lài phải sống cả đời trong nơi không xứng đáng với hương thơm của nó.

Nhưng nếu chẳng may đã đặt nhầm niềm tin, xin cũng đừng cúi đầu chịu đựng. Một bông hoa bị vùi xuống bùn vẫn có quyền vươn lên tìm ánh sáng.

Phẩm giá của người phụ nữ không nằm trong tay người đàn ông đã cưới cô. Phẩm giá ấy thuộc về chính cô và không một cuộc hôn nhân, một tấm hộ chiếu hay một giấc mơ dang dở nào có quyền tước đoạt.

Nói cho cùng, thường thì những thanh niên thành công và ngon lành ở Mỹ thì không rãnh để về Việt Nam cưới vợ đâu… hầu hết là dạng cà lơ phất phơ ở Mỹ.

Còn những đàn ông lớn tuổi thì đa số là bị vợ bỏ nên mới về Việt Nam lấy vợ đưa qua Mỹ rồi bị vợ bỏ tiếp…

Quốc Nguyên

(Người về từ lòng đại dương)