Hành trinh đi tìm tự do của một” Boat-people” – Tác Giả: Nguyễn Văn Lục

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Nguyễn Văn Lục

22/07/2026

Sau 4 năm sống dưới chế độ cộng sản miền Bắc, nếm đủ mùi tân khổ đói nghèo, nhục nhã, lầm than và kìm kẹp.

Nỗi nhục và nỗi lo rình rập mà cả đời sẽ chẳng bao giờ có thể quên được.

Ai quên thì quên, phần tôi ghi khắc như vết hằn trong tâm trí như nỗi cắt còn đó.

Còn chế độ, dù nay đã có nhiều thay đổi, tôi sẽ còn nhớ mãi.

Năm 19 79, sau khi mẹ tôi qua đời vào tháng 2-năm 1979 vì bạo bệnh.

Tôi nhất quyết ra đi, bỏ lại vợ và con nhỏ 4 tuổi. Hiểm nguy trực chờ trăm thứ không ai nói hay được hay tiên đoán được điều gì sẽ xảy ra.

Mỗi người di tản liều mình bỏ nước ra đi đều có đủ lý do biện minh cho việc ra đi.

Đối với riêng tôi, tôi tự hiểu rằng, mình không có một chỗ đứng nào trong chế độ mới.

Vì thế ngay khi mất miền Nam, tôi quyết định không lên Biên Hòa dạy học nữa. Giã từ quá khứ. Buồn ơi chào mi.

Đêm ấy, tôi lên sân thượng trong nhà, tự nhiên tôi rơi nước mắt, nấc lên từng hồi vì biết mình không còn là chính  mình nữa.

Tôi nhận thức được rằng, cuộc đời tôi được phân định rõ ràng: cuộc đời trước 1975 như một người trí thức của miền Nam. Và cuộc đời sau 1975 như kẻ thù của chế độ.

Vì thế, có những nỗi lo không tên khiến nhiều đêm thức trắng.

Điều chính yếu là biết rõ mình và các con là không có tương lai..

Nghĩ tới tương lai hai đứa con trai, nếu ở lại, chúng sẽ sống không ra người, cuộc sống vất vưởng không ra ông ra thằng. Tôi đau đớn nghĩ tới điều đó và càng trở nên quyết tâm cho việc ra đi. ( Sau này, khi thoát ra được nước ngoài may mắn chúng trở thành dược sĩ và bác sĩ chuyên khoa dạ dày tại Canada.)

Kinh nghiệm bản thân cho tôi nhận thức được rằng: Sống dưới chế độ cộng sản, nỗi lo thường trực là nỗi sợ kinh hoàng như thể mình là kẻ tội phạm.

Tôi còn nhớ, sau khi Nhatrang mất, người anh cột chèo vốn là bác sĩ trưởng ty y tế ở Nha Trang đã mau chóng tìm đường thoát thân, anh đã mang vào Sàigon nào xe cộ, tivi, tủ lạnh, sách vở chứa đầy ở nhà tôi.

Trong một đêm đánh tư sản, một ông bà cụ  gần đối diện nhà tôi bán chạp phô cho bà con nghèo lối xóm như gạo, muối đường, có thể do bà con tố cáo nên bị bị công an vào nhà sục xạo, lục tìm kiếm cả đêm.

Tôi ở trên lầu nằm xuống sàn nhà, theo dõi cả đêm trong nỗi bàng hoàng sợ hãi vì nhà chứa quá nhiều thứ..

Ngay sáng hôm sau, tôi lén lút dạy sớm lái chiếc xe hơi của anh cột chèo vứt ở đầu ngõ. Tôi cảm nhận được rằng có tư hữu là tự mình có tội với chế độ.

Sau đêm kinh hoàng đó, tôi càng quyết tâm ra đi, mặc cho nỗi hiểm nguy sống chết ra sao, chỉ đem theo con con trai lớn mới 7 tuổi. Một phần vì không có đủ tiền, một phần nhỡ có mệnh hệ gì thì còn vợ, còn con trai nhỏ thứ hai.

Tôi còn nhớ sau 30/4, vợ tôi mang bầu đứa con thứ hai gần đến ngày sinh. Nó được sinh ra trong lòng chế độ mới chỉ 15 ngày, sau 30/04.

Nhân có phong trào bài người Hoa nên trong dịp này, tôi lợi dụng để được đi bán chính thức với giắ cắt cổ.Tôi phải đóng cho bản thân mình 12 cây vàng, con trai 6 cây, cộng chung 18 cây- một số tiền không nhỏ và thời điểm đó.

Mất một lần là sạt nghiệp, tán gia bại sản.

Việc tôi đi do quen biết một người bạn dạy cùng trường. Hắn ngồi cà phê, cà pháo, thề sống thề chết có nhau. Tên y là Đạo-một tên lưu manh chuyên trò lừa đảo sau này tôi mới biết. Tin hắn,thoạt tiên chỉ đóng một cây, khi đến ngày đi, phải đóng đủ số còn lại.

Tổng cộng số vàng 18 cây, tôi đã giao cho tên Đạo.

Cả hai bố con mang tên Tàu mà cố thuộc rồi vẫn quên.

Trước ngày đi, tôi cho em gái chiếc vespa, đời ED.

Rồi tôi đến ngủ nhà chị gái để sáng hôm sau lẳng lặng ra đi để hàng xóm không ai nghi kỵ.

Chị tôi đưa tôi ra bến xe đò đi lục tỉnh, xuống Mỹ Tho.

Mỹ Tho là điểm hẹn đi.

Hai chị em ngậm ngùi chia tay mà không biết có ngày về.

Xuống Mỹ Tho, tên Đạo giả đò rơi chiếc nhẫn xuống sông, tôi phải đổi một chiếc nhẫn để ăn mấy ngày chờ đợi, nhân đó tôi có dịp mời anh tài công dùng chung bữa.

Anh tài công lái tàu tên Chín, nguyên là trung sĩ quân cảnh ở Sai gòn trước 1975, có vợ và bày con 5,6 đứa.

Bữa ăn ấy sau này chính là bữa ăn cứu mạng tôi sau này.
Ngày lên tàu, tên chủ tầu đọc tên từng người để lên tàu..Đến lượt tôi, tên chủ tàu đọc tên và quát to bảo hai cha con tôi đứng ra một bên. Tôi lo ngại tuân theo không hiểu chuyện gì thì may thay, thấy anh Chín ghé tai nói nhỏ chuyện gì, cuối cùng rồi tôi cũng được tên chủ tầu cho lên như mọi người.

Tàu ra khơi, ra đến biển, sóng nhồi chòng chành, nghiêng bên này, nghiêng bên kia như muốn chìm.

Tàu bắt buộc quay vào một bãi thuyền chài trống vắng.

Nơi đây, người dân phơi con tép, con tôm, trên đường phố lẫn với bùn đất.

Tôi đã có ý định dại dột chốn về. Nhưng  không giấy tờ lại bị công an canh phòng cẩn mật nên đành chịu.

Trong khi chờ đợi, chủ tầu cho người về sài gon mua những thùng nhựa 20 lít và những bao cát để dằn xuống đáy tàu cho tàu nặng dưới đáy.

Vì chở tham người, chủ tầu trước đây đã làm thêm một tầng gỗ để chở được thêm người.

Cả tàu dài hơn 22 mét, rộng khoảng 3 mét với hơn 400 người chen chúc nhau.. và chỉ cần một chút hoảng loạn đủ làm tầu chìm.

Cũng may hơn cả là chủ tàu đã thuê được một người phụ máy tàu, trước đây, anh trông coi máy tàu làm nước đá nên biết kỹ thuật máy móc.

Khoảng một tuần sau, tàu ra khơi xuông xẻ..

Tôi được anh lái tầu sắp xếp cùng với tên Đạo cho nằm trên nắp boong buồng lái để quan sát. Con trai tôi, ngồi lẫn lộn trên boong tàu với gia đình chủ tầu. Có nhiều đêm, tôi nghĩ, tàu bị đắm làm thế nào tôi cứu được con. Những ý nghĩ hoảng lọan ấy làm tôi sống thường trực trong nỗi sợ hãi.

Ôi, tình cảnh này, ai có qua cầu mới hay.

Nhưng vào một đêm, tầu chết máy giữa biển khơi, trong khi mặt nước biển phẳng lặng như tờ chỉ lăn tăn gợn sóng. Trời Phật, tháng năm đi biển lại có những ngày may mắn đến như thế. Tôi cứ nghĩ đây là một phép lạ.

Anh thợ máy mới tuyển loay hoay sửa chữa mất hơn nửa ngày, tầu lại nổ máy được.

Rồi tàu cứ theo hướng Nam, thấy những đốm lửa sáng cứ thế mà xông tới hy vọng tưởng là đất liền..

Gần đến nơi mới thấy đó là những dàn khoan dầu của Indonesia.

Tôi được đại diện lên dàn khoan, họ cho thêm nước ngọt, chỉ dẫn cách đi vào đất liền.

Trên đường đi, ngư dân thuyền chài Indonesia dẫn đường và chạm đảo Térampa và chúng tôi đến được bến đỗ bình an. Cảm tạ trời đất.

Giấc ngủ đầu tiên trên bãi biển thật là thần tiên sau những ngày tháng lo sợ mái tọc bạc đi.. Đây là đảo Térampa..

Sau này, có nhiều đêm trên đảo, tôi nằm mơ mình quay trở lại và bị bắt.. Tỉnh lại hóa chỉ là một giấc mơ.,

Từ ngoài biển đến đất liền là những cánh rừng và đồi núi lên cao dần..

Trên đó có nước ngọt giúp dân tỵ nạn sống còn. Hình như không ở đâu có sự may mắn và kỳ diệu như vậy.

Trên các triền đồi, dân tỵ nạn đã làm tạm các lán nhỏ bằng cách chặt cây rừng làm chỗ che mưa nắng.

Tôi lại bỏ một chiếc nhẫn để mua lại một chỗ ở tạm của một cặp vợ chồng trẻ..đã đến trước chúng tôi làm sẵn.

May mắn, tôi được gặp ông Cả Cần vốn hùn vốn với một chủ người Tàu và ông có khá nhiều lạng vàng đem theo.

Ông đã tự bỏ tiền ra, thuê người lên rừng chặt cây  để làm một cây cầu qua một dòng suối.. Cây cầu ấy cũng giúp bà con tỵ nạn, nhất là các cô gái trẻ buổi tối ra đây  kín đáo tắm giặt..

Không có cây cầu bắt qua dòng suối thì thật gian nan cho nhiều người.

Phần các mệnh phụ phu nhân vốn quen cuộc sống nhàn tản tiện nghi trước đây thì tội nghiệp mấy ông chồng phải cởi trần vác từng xô nước lên núi để cho các bà vợ tắm rửa. Trong số ấy, có một ông bác sĩ sau này là bạn tôi cùng  định cư ở Canada.

Phần ông Cả Cần vốn nổi tiếng trước đây với bánh bao Cả Cần đã nhờ tôi dạy học các con gái và trai của ông như các em Mỹ Tiên, Mỹ Trinh, các em trai khâc như Tiến, Tới vv…

Ông trả công cho tôi mỗi tháng 10.000 Rupia- tiền Indonesia, có thể tương đương khoảng 2,3 chục Đô la.

Số tiền tuy nhỏ, nhưng đã giúp tôi nuôi báo cô vợ chồng đã bán lán cho tôi và tên Đạo. Mỗi ngày thay vì chỉ có gạo và cá khô, nay mua thêm cá biển tươi và rau tươi..

Cho đến tận bên giờ, sau hơn nửa thế kỷ, tôi vẫn giữ liên lạc với Mỹ Tiên.

Rồi một ngày nọ không nhớ rõ trong một bữa ăn, anh Chín hỏi tôi: Cậu có biết tại sao, tên chủ tầu không cho tôi lên tầu không? Tôi trả lời không rõ. Anh Chín vạch trần tội ác của tên Đạo, chính do tên Đạo đã dấu 17 cây vàng không giao cho chủ tầu.

Cảm thấy thương hại cha con tôi hiền lành, anh Chín đã vội nghĩ ra cái kế phải rỉ tai tên chủ tầu là cần một người giỏi ngoại ngữ để khi gặp tầu ngoại quốc có người đại diện có thể giao dịch.

Chủ tầu gượng đồng ý cho tôi lên tầu trở lại.

Nghe xong câu chuyện, tôi chết lặng người đi vì oán hận tên Đạo. Nếu không có sự giúp đỡ của anh Chín, tôi bị đuổi về, vừa mất tiền vừa bị đi tù và có thể không có cơ hội ra đi trở lại.

Tương lai con tôi sẽ ra sao?

Nhưng thay vì hạch hỏi tên Đạo, tôi đã giữ im lặng, không nói chuyện với tên Đạo nữa.

Cho đến bây giờ, tôi vẫn không cắt nghĩa được tại sao tôi lại hành xử như vậy.

Có lẽ phần nào nghi ngờ tôi đã biết chuyện, hắn lại cố tình tỏ vẻ ngây ngô, tiếp tục nịnh nọt tôi.

Một chuyện nhỏ khác cũng xin kể ra đây. Một bữa nọ, có một cô gái nhận ra tôi là ông thày đã dạy cô ở một trường tư. Thấy cô ăn mặc rách rưới, tôi đã giúp cô mua một vài bộ đồ khác. Và thỉnh thoảng vẫn hỏi thăm qua lại.

Sau đó, cô đi với một vài chuyên viên ngoại quốc đi phỏng vấn với vẻ hãnh diện, rồi tránh né tôi.

Tôi im lặng không nói gì. Sau này, cô được một người anh bảo lãnh sang Ý, cô viết thư cho tôi.

Tôi im lặng không trả lời.

Phải chăng trong những hoàn cảnh khốn cùng mới hiểu rõ đâu là tình người.

  • Về tinh thần Hồi giáo ở Indonesia.

Có thể nói là đa số đến 90% dân Indonesia theo đạo Hồi. Phần còn lại là tín đồ Tin Lành, hoặc Thiên Chúa giáo. Và một thiểu số không đáng chưa tới 1% kể là Phật giáo.

  • Tuy nhiên, tinh thần Hồi giáo rất rộng rãi và rộng lượng.
  • Điều này gây ngạc nhiên và thắc mắc cho tôi không ít. Thái Lan là một nơi sùng Phật. Thanh niên trước khi vào đời cần một thời gian tu luyện theo Phật.
  • Vậy mà chính nơi đây, những tên cướp biển Thái Lan đã trấn lột các thuyền nhân, cướp bóc tiền tài, hãm hiếp các phụ nữ và đôi khi mang đi bán làm con tin.
  • Biết bao thảm cảnh không bút nào tả xiết đã xảy ra, trong khi chính quyền Thái Lan lam ngơ, dư luận thế giới im lặng không lên tiếng..
  • Tôi khơi dậy như từ một đống tro tàn nay đã nguội..
  • Sau này, nhiều thuyền nhân đã thành đạt quay trở lại đặt những bia tưởng niệm thì bị chính quyền cộng sản can thiệp, đập phá các bia mộ ấy.
  • Trở lại câu chuyện những người Indonesia.. Đã nhiều lần, tôi theo bạn bè lên rừng để hái những trái sầu riêng.( Durio Những cây sầu riêng mọc trên cao, có cây cao từ 20 mét đến 40 mét. Tuổi thọ nếu được chăm sóc kỹ càng có thể kéo dài cả trăn năm.
  • Người hái phải núp dưới gốc cây, chờ những cơn gió thổi mạnh, làm rơi những trái xuống vội chạy ra nhặt cho vào bao tải..
  • Indonesia là một trong những nước sản xuất sầu riêng lớn nhất thế giới, sau đến Mã Lai và Thái Lan..
  • Nông dân dùng trái sầu riêng thay cho món ăn.
  • Và họ từng ăn bốc. Và buộc dùng tay phải.
  • Cho đến bây giờ, tôi vẫn mua những trái sầu riêng để tưởng nhớ lại những ngày tháng xa xôi, đầy tình người ấy.
  • Ngày chúng tôi rời đảo để đến Galang chờ ngày đi định cư, nhiều dân làng ra đứng trên bờ biển vãy tay chào tiễn biệt.
  • * Về vấn đề che mặt của phụ nữ Hồi giáo.
  • Phải nói thật là có sự tự nguyện của chính người phụ nữ. Hay nó còn tùy thuộc vào địa phương, văn hóa truyền thống và đức tin tôn giáo. Tuy nhiên đã gây ra những tranh luận trên nhiều quốc gia. Ở Pháp, cấm che kín mặt ở nơi công cộng. Tại Đức hạn chế niquab trong trường học, cơ quan nhà nước hoặc khi vì lý do an ninh khi lái xe.
  • Tuy nhiên, có thể chỉ che kín cổ, để lộ khuôn mặt. Hijab. Che toàn thân và cả mặt bằng một lớp lưới. Burqa. Và thường được thực dụng ở khu vực vùng Vịnh và Aghanistan..

Riêng Canada, nơi tôi đang sinh sống, có vẻ người phụ nữ tự chọn lựa việc che mặt của mình. Hiếm khi gặp một phụ nữ che kín mặt.

Theo luật Hồi giáo, người đàn ông Hồi giáo được cưới 4 vợ với điều kiện họ phải được đối xử công bằng về quyền lợi vật chất, thời gian và sự chăm sóc.

Trên thực tế thì ít có người nào có bốn vợ, trừ Saudi Arabia được lấy nhiều vợ.

  • Vài dòng kết luận

Bài viết này mục đích chỉ đề cập đến việc Hồi giáo ở Indonesia, nơi mà tôi đã có dịp trải nghiệm và cảm mến mà không đề cập đến Hồi giáo ở các nơi khác như Afganistan, Arap Saodiste và nhất là Iran mà tôi đã có dịp trình bày trong một bài viết khác.

Bài viết này cũng còn để như một lời tạ ơn anh Chín đã một cách nào đó cứu giúp cả tương lai gia đình chúng tôi mà không bao giờ tôi quên.

Sau này anh đã đi định cư ở Đức và mong gia đình anh chị ổn định và các cháu thành công nơi xứ người..

Tôi cũng còn nhớ kỷ niệm  khó quên là trước khi bước lên tầu, anh còn cầm dao định đâm tên chủ tầu, vì trước đây, hắn có hứa cho anh một số cây vàng nếu đến được đảo. Nhưng tên chủ tầu đã nuốt lời nên anh Chín định dạy cho tên chủ tầu một bài học. Rất may, đàn em của hắn đã sớm can thiệp nên hắn chỉ bị sước một mảnh da đầu và thoát nạn.

Bài viết này một lần nữa cũng tố cáo tên Đạo một lần nữa về thói quen lừa đảo của y.

Theo lời kể của y, y đã giả nghèo và lừa gạt được một số phụ nữ thương hại đã giúp y tiền hoặc vàng.

Tệ hại hơn nữa, Y đã lừa được vợ một người bạn yêu hắn và hứa khi nào định cư, bà sẽ ly dị chồng và cưới hắn. Bà cũng đã xin bố của bà vốn cũng là chủ tầu cho hắn đi cùng. Nhưng bố bà đã từ chối và chỉ cho người con rể chính thức đi cùng.

Viết những dòng này như một ân đền oán trả và hắn và gia đình hắn có cơ hội đọc một người cha, một người chồng như một tên điếm chuyên lừa đảo người.

Bài viết này cũng chỉ nhằm mục đích trình bày một hoàn cảnh  riêng của một người dưới tư cách một nhà văn với góc nhìn riêng tư từ một hoàn cảnh cá biệt mong được chia xẻ.

Mùa hè 2026


 

“Rốt cuộc điều gì là quan trọng nhất?”- by Tú Uyên / Trần Văn Giang (ghi lại).

 “Rốt cuộc điều gì là quan trọng nhất?” 

( Tú Uyên / Trần Văn Giang (ghi lại).

Cả một đời người, Rốt cuộc điều gì là quan trọng nhất?. 

Lời giới thiệu

Điều mà chúng ta cho là quan trọng nhất, ở mỗi giai đoạn của cuộc đời, theo thời gian rồi cũng sẽ thay đổi.

Cuộc đời không phải là hành trình đi tìm một điều quan trọng nhất để giữ mãi mãi, mà là biết trân trọng từng điều quan trọng ở đúng thời điểm của nó.”

TVG

Gần đây tôi đọc được một bài viết của một tác giả người Trung Quốc. Đọc xong, trong lòng cứ suy nghĩ mãi. Không phải vì câu chuyện quá buồn, mà bởi nó khiến mình nhận ra một điều rất giản dị: “Điều mà chúng ta cho là quan trọng nhất, ở mỗi giai đoạn của cuộc đời, theo thời gian rồi cũng sẽ thay đổi.”

Có lẽ vì thế mà con người cứ mãi đi tìm hạnh phúc, nhưng khi ngoảnh đầu nhìn lại mới hiểu điều đáng quý nhất thường nằm ở những điều rất bình thường.

Năm 3 tuổi, tôi nắm chặt cây kẹo mút trong tay và tin rằng đó là cả thế giới. Chỉ cần có cây kẹo ấy là tôi có thể vui cả ngày, chẳng cần nghĩ đến bất cứ điều gì khác.

Năm 5 tuổi, tôi mất cả buổi chiều để đuổi theo một con chuồn chuồn. Khi bắt được nó, tôi vui sướng như vừa có được một kho báu. Đối với một đứa trẻ, hạnh phúc đôi khi chỉ đơn giản như vậy.

Năm 9 tuổi, tôi nằm dưới bóng cây, ngắm ánh nắng len qua từng k lá và tận hưởng một kỳ nghỉ hè bình yên. Khi ấy, tôi từng nghĩ chỉ cần ngày nào cũng được rong chơi như thế thì cuộc sống đã quá đủ đầy.

Đến năm 13 tuổi, tôi bắt đầu tin rằng một tờ giấy báo trúng tuyển vào trường trung học tốt với hạng cao sẽ quyết định cả tương lai của mình. 

Năm 18 tuổi, tôi lại dốc hết sức lực chỉ để nhận được giấy báo được nhập học từ ngôi trường đại học mà tôi hằng mơ ước. Lúc ấy, tôi tưởng rằng chỉ cần bước chân vào cánh cổng đại học này là cuộc đời sẽ mở ra một trang mới rực rỡ. 

Rồi năm 23 tuổi, khi rời khỏi ghế nhà trường để bước vào xã hội, tôi mới hiểu kiếm được một công việc ổn định mới là điều quan trọng nhất. Những ước mơ tuổi trẻ dần nhường chỗ cho cơm áo gạo tiền, cho những hóa đơn phải thanh toán vào cuối tháng và những áp lực mà trước đây tôi chưa từng nghĩ tới. 

Năm 24 tuổi, trong ngày cưới của mình, nhìn người con gái sắp trở thành vợ, tôi chợt nhớ đến cô bạn năm 16 tuổi mà mình từng thầm yêu thương. Có chút tiếc nuối thoáng qua, nhưng rồi tôi hiểu mỗi giai đoạn của cuộc đời đều có người cần được trân trọng. Người đứng trước mặt tôi lúc ấy mới là người quan trọng nhất.

 Hai năm sau, khi đứng ngoài phòng bảo sinh và nghe tiếng khóc đầu tiên của con cất lên, tôi bỗng nhận ra trái tim mình từ nay đã có thêm một nơi để hướng về. Kể từ giây phút ấy, mọi cố gắng của tôi đều chỉ mong con có một cuộc sống tốt đẹp hơn. 

Năm 30 tuổi, những khoản vay mua nhà, mua xe khiến tôi cảm thấy tiền bạc là điều quan trọng nhất. Tôi lao vào công việc, miệt mài kiếm sống và luôn tự nhủ rằng chỉ cần cố gắng thêm một chút nữa, cuộc sống sẽ dễ dàng hơn.

Nhưng càng lớn lên, tôi càng nhận ra con người dường như “không bao giờ thấy đủ.”  Có được điều này thì lại mong điều khác ngay. Đạt được mục tiêu này lại tiếp tục chạy theo mục tiêu khác. 

Người xưa từng nói: “Tri túc thường lạc,” nghĩa là “biết đủ thì vui.” Đáng tiếc là khi còn trẻ, rất ít người hiểu được ý nghĩa của bốn chữ ấy.

Năm 38 tuổi, người cha vốn nghiêm khắc và mạnh mẽ cả đời bỗng bắt đầu hỏi ý kiến tôi trước mỗi quyết định. Lúc ấy tôi mới giật mình nhận ra, cha mình đã già thật rồi. Người đàn ông từng dắt tôi đi qua những năm tháng tuổi thơ giờ đây đã không còn khỏe mạnh như trước. 

Đến năm 45 tuổi, ngồi trong văn phòng với mái tóc lấm tấm bạc, tôi chợt nhớ đến những ước mơ của tuổi đôi mươi. Hóa ra, trên đường mưu sinh, tôi đã vô tình bỏ quên rất nhiều điều từng khiến trái tim mình rung động.

Năm 50 tuổi, nhìn con trai nắm tay người con gái nó yêu bước vào thánh đường, tôi mới hiểu hạnh phúc lớn nhất của cha mẹ là được nhìn thấy con cái bình an và trưởng thành. Điều từng quan trọng nhất với tôi ngày nào, giờ đây đã trở thành hạnh phúc của con.

Năm 60 tuổi, tôi tiễn cha mẹ về nơi an nghỉ cuối cùng. Trong khoảnh khắc ấy, những lời quở trách của cha, những tiếng cằn nhằn của mẹ mà trước đây tôi từng thấy phiền lòng lại trở thành ký ức quý giá nhất.

 Người xưa có câu: “Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng, con muốn phụng dưỡng mà cha mẹ không còn.” Chỉ khi mất đi, con người mới hiểu có những điều tưởng chừng rất bình thường nhưng lại là món quà vô giá.

 Năm 70 tuổi, người bạn đời của tôi cũng rời đi trước. Con cháu đều đã có cuộc sống riêng, căn nhà bỗng trở nên yên ắng hơn bao giờ hết. Mỗi lần nhìn những cặp vợ chồng già cùng nhau tản bộ, tôi lại nhớ đến bà nhà tôi. Hóa ra, thứ đáng quý nhất không phải là những gì mình sở hữu, mà là người vẫn còn có thể cùng mình đi hết quãng đường còn lại.

 Đến năm 75 tuổi, khi nằm trong bệnh viện và biết thời gian của mình không còn nhiều, tôi gọi điện cho cháu nội trai. Ban đầu tôi định nói thật nhiều điều, muốn dặn nó phải sống thế này, phải lựa chọn thế kia để sau này không hối tiếc. Nhưng khi cuộc gọi được kết nối, tất cả những lời chuẩn bị sẵn đều tan biến. Tôi chỉ nhẹ nhàng nói: “Ông nhớ con nhiều. Khi nào rảnh thì con về thăm ông nhé.

 Một năm sau, cháu trai trở về. Con trai, con dâu quỳ bên giường bệnh, nước mắt không ngừng rơi. Tôi cảm thấy mí mắt mình ngày càng nặng. Trong khoảnh khắc ấy, tôi nhìn thấy cha mẹ đang đứng trước mặt, vẫn trẻ như ngày nào, vẫn nở nụ cười hiền hậu quen thuộc. Họ dang rộng vòng tay đón tôi. Tôi chạy về phía họ và kỳ lạ thay, càng chạy tôi càng trở lại hình hài của một đứa trẻ ba tuổi. Tôi lại được cha mẹ ôm vào lòng như thuở bé.

 Trước khi rời đi, tôi ngoái đầu nhìn lại. Con trai, con dâu và đứa cháu nội trai vẫn ôm lấy thân xác già nua của tôi mà khóc. Tôi biết rồi nỗi đau ấy cũng sẽ dần nguôi ngoai, bởi vì cuộc sống vẫn phải tiếp tục, giống như ngày xưa tôi đã từng tiếp tục sống sau khi tiễn cha mẹ mình.

 Đến lúc ấy, tôi mới hiểu rằng cả đời con người luôn đi tìm một điều quan trọng nhất. Nhưng thật ra, điều quan trọng nhất chưa bao giờ là một thứ cố định. Tuổi thơ có niềm vui của tuổi thơ, tuổi trẻ có khát vọng của tuổi trẻ, tuổi trung niên có những gánh vác riêng, còn tuổi già lại chỉ mong những người mình yêu thương vẫn còn ở bên cạnh.

 Có lẽ vì vậy mà người xưa luôn nhắc con cháu phải biết trân trọng hiện tại. Bởi điều hôm nay ta đang xem là bình thường, biết đâu ngày mai lại trở thành điều khiến ta nhớ nhất. Tiền bạc rồi cũng tiêu hết, danh vọng rồi cũng phai nhạt, chỉ có “tình thân, những điều tử tế đã trao đi và những ký ức đẹp đã cùng nhau tạo nên” mới thật sự ở lại trong lòng người khác.

Suy cho cùng, cuộc đời không phải là hành trình đi tìm một điều quan trọng nhất để giữ mãi mãi, mà là biết trân trọng từng điều quan trọng ở đúng thời điểm của nó. 

Có như vậy, khi ngoảnh đầu nhìn lại, chúng ta sẽ không phải tiếc nuối vì đã sống quá vội vàng mà quên mất những điều đáng quý nhất đang ở ngay bên cạnh mình.

Tú Uyên

From: NguyenNThu


 

Đời Sống Người Tù Cải Tạo

Duc Thong DO

 “CÁC SĨ QUAN VNCH VÀ CHƯƠNG TRÌNH HỌC TẬP CẢI TẠI CỦA CỘNG SẢN BẮC VIỆT” TÀI LIỆU CON CHÁU VÀ THÂN NHÂN CỦA CÁC GIA ĐÌNH VNCH NÊN ĐỌC ĐỂ HIỂU RÕ SỐ PHẬN CỦA CÁC THÂN NHÂN, NẠN NHÂN CỦA CHẾ ĐỘ CSVN..

***** 

Đời Sống Người Tù Cải Tạo

12 tháng 1 năm 2011

Bác Sĩ Nguyễn Ý Ðức

LTS. Chế độ tập trung cải tạo cho quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa được thi hành sau khi Cộng Sản miền Bắc thôn tính miền Nam. Bài này đúc kết lời kể của các cựu tù nhân chính trị; mục đích là để thế hệ mai sau, trong và ngoài nước, biết các khó khăn, đau khổ của cha chú họ, như một bài học đắt giá cho nhân loại, để tránh tái diễn chứ không phải để giữ mãi hận thù.

Trình Diện Để Đi Tù Đầy

Mấy tuần lễ sau khi miền Nam thất thủ thì chiến dịch rỉ tai về học tập cải tạo bắt đầu được tung ra. Nhưng mãi đến đầu tháng sáu 1975 Uỷ Ban Quân Quản Thành Phố mới ra lệnh cho các quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa phải trình diện để đi “Học Tập Cải Tạo”. Uỷ Ban ra thông cáo vào các ngày 10-6, 11-6 và 20-6-75 trên đài phát thanh và báo chí, chỉ định rõ địa điểm và ngày giờ trình diện.

Hạ sĩ và nhân viên chính quyền từ chủ sự trở xuống học tập ba ngày tại phường. Các cấp thấp hơn như binh sĩ, cán bộ phường khóm được khoan hồng miễn trình diện. Cả mấy trăm ngàn người nô nức đi trình diện học tập vì họ nghĩ rằng học tập cho xong để hy vọng sớm trở về làm ăn. Họ đi học từ sáu giờ sáng đến tối.

Ðối với các phó quận trưởng, trưởng ty, cấp úy, thì mỗi người phải mang theo giấy bút, quần áo, mùng mền vật dụng cá nhân, đồ ăn hoặc tiền bạc để dùng trong mười ngày kể từ ngày trình diện.

Với các cấp chỉ huy từ giám đốc trở lên, sĩ quan từ cấp tá, các dân biểu nghị sĩ, các lãnh tụ đảng phái thì thông cáo ra lệnh mang theo giấy bút, vật dụng cá nhân, số tiền là 13,000 đồng đủ cho việc ăn uống trong 30 ngày kể từ ngày học tập đầu tiên. Thông cáo nói rõ: “các học viên phải mang theo một tháng tiền ăn và những đồ đạc cần thiết. Nhà hàng Ðồng Khánh sẽ phụ trách việc ăn uống…”

Nhiều người vì sức khỏe yếu được miễn trình diện. Nhưng vì quá tin vào thông cáo của chính quyền, học tập có một tháng, nên họ vẫn tình nguyện xin đi để tỏ thiện chí cũng như làm cho xong để còn về được an ổn kiếm kế sinh nhai.

Có người được nhân viên tiếp nhận cho về vì không hội đủ tiêu chuẩn như thông cáo nhưng vẫn nằn nì giải thích chức vụ để xin đi cho chắc bụng. Chẳng hạn, có vị khai chức vụ quốc vụ khanh chính phủ. Cán bộ không biết đó là chức gì mà coi danh sách không thấy có nên đuổi về. Vị chính khách này phải cố gắng giải thích chức vụ của mình ngang hàng tổng trưởng. Họ cũng không biết tổng trưởng là gì, đến khi nói là bộ trưởng thì họ mới cho nhập trại. Ai cũng nghĩ là trước sau rồi cũng phải học tập nên xin đi cho nó xong. Thực ra, thông cáo rất mập mờ. Lúc đầu ghi danh đi học tập cải tạo phải chuẩn bị thực phẩm hoặc đóng tiền ăn cho một tháng. Rồi pháp lệnh nói cải tạo viên phải học tập ba năm rồi đổi ra vô hạn định một cách âm thầm.

Kỷ Nguyên Tù Ðầy Cải Tạo bắt đầu. Sau khi đã bước vào trại tù cải tạo thì ngày ra dường như vô tận vì một số thiệt mạng, hầu hết tiếp tục tù đầy cho tới mươi mười lăm năm sau.

Theo bản tường tình của Aurora Foundation năm 1983  do bà Ginetta Sagan và ông Stephen Denney thực hiện thì có hơn một triệu người đã đi cải tạo mà rất ít được về sau thời hạn mười ngày hay một tháng. Trên toàn quốc lúc bấy giờ có trên 150 trại cải tạo. Có khoảng 500,000 người được trả tự do trong vòng ba tháng; 200,000 ở trại từ hai đến bốn năm; 240,000 ít nhất năm năm; nhiều chục ngàn người trên mười năm.

Trong một trại cải tạo, học viên thắc mắc về thời gian cải tao như sau:

“Thưa cán bộ, theo như chính sách 12 điểm của chính phủ Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam thì sau ba năm chúng tôi được trả tự do để đoàn tụ với gia đình; bây giờ đã quá 3 năm sao chúng tôi còn phải ở trong trại?”

Cán bộ trả lời:

– Các anh thông minh, các anh phải hiểu rằng Chính Phủ Cộng Hòa miền Nam (của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam) đâu có phải là Chính Phủ Việt nam Dân Chủ Cộng Hòa; vả lại chính phủ Cộng Hòa Miền Nam không còn tồn tại thì những gì chính phủ ấy quy định cũng không còn tồn tại.

– Hơn nữa, các anh thông minh nhưng chưa hiểu thế nào là 3 năm. Các anh hiểu cứ mỗi năm là 365 ngày như bọn tư sản thì hỏng bét, do đó các anh khiếu nại là phải rồi. Nếu các anh phân tích một cách sâu sát thì các anh sẽ thấy rằng có 3 năm định tính và 3 năm định lượng. Một anh có thể có 3 năm định lượng, nghĩ a là đã cải tạo đúng ba năm không thiếu ngày nào, nhưng lại không có đủ 3 năm định tính vì tính chất cải tạo quá tồi, cải tạo không tốt, do đó mà chưa được về sum họp với gia đình.”

(Phan Phát Huồn: AK và Thập Giá)

* Các dữ kiện trong bài viết này là những lời kể lại của nhiều tù nhân cải tạo sống sót.

Tổ Chức Trại Cải Tạo

Trại được chia ra làm nhiều khu. Mỗi khu có nhiều đại đội trại viên. Dưới là nhóm gọi là “B”. Mỗi B có 30 trại viên do một cán bộ hạ sĩ quan phụ trách. Trại viên còn được gọi là phạm nhân hoặc cải tạo viên. Họ phải học làm lòng tài liệu “38 điều Nội Quy” và “Bốn tiêu chuẩn cải tạo”.

Bốn tiêu chuẩn cải tạo là:

1-Thành khẩn khai báo

2- Lao động tự giác

3-Chấp hành nghiêm chỉnh nội quy và các pháp lệnh nhà nước

4- Giúp bạn cải tạo cùng tiến bộ

Một cựu tù nhân cho hay: nhiều người không nhớ các tiêu chuẩn này, nên đã dùng bốn thú vật tiêu biểu cho từng tiêu chuẩn: ngu như bò, có gì khai hết; lao động như trâu; bảo sao làm vậy như con cừu và sủa như chó để báo cáo các hành động của bạn tù.

Có người đã ví việc thực hiện các tiêu chuẩn này chẳng khác gì sự xét mình, ăn năn tội lỗi, xưng tội và dốc lòng không sai phạm của một tôn giáo. Nội quy có các điều khoản về nguyên tắc chung, kỷ luật học tập, kỷ luật về lao động, kỷ luật về nếp sống hàng ngày, kỷ luật về viết thư và gặp gia đình, tổ chức phạm nhân, và khen thưởng-kỷ luật.

Ðiều nào cũng bắt đầu bằng các chữ quyết liệt như “Phải chấp hành…” hay “Tuyệt đối tuân theo…”

Chẳng hạn điều Một ghi rõ:

“Phải triệt để tuân theo đường lối, chính sách giam giữ cải tạo của Ðảng, pháp luật của nhà nước…”

Ðiều 2: “Phải chấp hành nghiêm chỉnh bản án, phải ra sức học tập cải tạo tư tưởng, thành khẩn nói hết lỗi lầm của mình.”

Ðiều 8: “Phải trực tiếp tham gia lao động sản xuất. Ðể rèn luyện ý thức lao động, lấy lao động để cải tạo tư tưởng…”

Ðiều 12: “Không được dùng tiếng ngoại ngữ và không được nói tiếng lóng”

Ðiều 18: “Thường xuyên cạo râu, không được để râu” .

Ðiều 20: “Tránh có thái độ ngang bướng, khúm núm, nịnh hót. Khi có việc cần gặp cán bộ phải đứng xa 5-7 mét ở tư thế nghiêm. Xin báo cáo với Giám thị, cán bộ”.

Trại có rất nhiều khẩu hiệu về học tập chính trị như:

“Chính sách khoan hồng của Ðảng trước sau như một.”

“Học tập cải tạo là con đường duy nhất để trở thành người công dân lương thiện.”

“Học tập nghiêm túc, đi sát đi sâu, đào sâu, suy nghĩ, thảo luận đúng ý…”

Khai Lý Lịch

Cải tạo viên nào cũng phải khai lý lịch. Ðây là một việc làm rất nhức đầu vì họ phải khai đi khai lại cả chục lần. Khai xong mang nộp, rồi bị cán bộ hạch hỏi đủ điều. Việc khai lý lịch thường là do đoàn công tác liên bộ Quốc Phòng và Công An phối hợp thực hiện. Mẫu khai có ba mục chính với nhiều tiểu mục và tiết mục. Rầm rộ phát động chiến dịch khai báo, cho ăn đồ tươi.

1-Lý lịch cuộc đời cá nhân: bản thân người khai, gia cảnh và lý lịch thân nhân, từ ông cố tổ bốn đời. Từng địa chỉ đã sống trong suốt đời. Một địa chỉ có thể là 1 tuần ở quốc nội hoặc bốn mươi tám giờ ở quốc ngoại.

Về lý lịch thân nhân, phải khai đầy đủ chi tiết về bản thân kèm thêm đánh giá từng người về quá trình chính trị, xã hội, giai cấp.

2-Quá trình hoạt động: Trong suốt đời, với 3 giai đoạn: từ 1945 trở về trước; từ 1945 đến 1954 và từ 1954 đến 1975. Phải khai cho đầy đủ các chi tiết về ngày tháng, sinh hoạt, chức vụ, ở đâu với ai, diễn tiến công việc, kết quả công việc, ảnh hưởng của công việc vào xã hội. Khai các cá nhân, đoàn thể chống cộng ở miền Nam: tên tuổi, tổ chức nào, hoạt động ở đâu, cách tổ chức chống cộng… Kê khai bạn bè thâm giao và bạn bè thường, rồi các sinh hoạt của họ ở đâu bây giờ. Kê khai mọi cấp chỉ huy, đồng sự với các chi tiết như của mình… Hiện giờ họ ở đâu, quan điểm chính trị của họ. Khai rõ về các vấn đề tổ chức, kỹ thuật chiến thuật của miền Nam.

3-Kê khai tài sản: Của nổi của chìm, trong nước, ngoài nước, mình đứng tên hay nhờ người đứng tên, vợ con đứng tên; hiện có, đã sang nhượng, cúng dâng cho các tổ chức. Tiền từ đâu có.

Phạm nhân được dành cho một tuần để khai; ban đêm cho phép đốt đèn cầy để khai. Khai xong ký cam đoan là đúng sự thực rồi nộp cho cán bộ. Phạm nhân phải thức thâu đêm để khai; nhiều khi đi cầu, đi ăn cũng tập trung suy nghĩ coi đã làm gì, ở đâu, ngày nào…

Sau khi nộp thì mấy ngày sau lại phải khai lại vì: thiếu thành khẩn, thiếu tự giác, không khai hết sự thật, ngoan cố, giấu diếm bao che các tổ chức chính trị và cá nhân phản động.

Rằng nhân dân đã biết rõ về mình rồi, đã có hết tất cả hồ sơ tại công tư sở, đừng hòng giấu diếm. Có phạm nhân còn bị gọi lên để hạch hỏi chi tiết, hù doạ là vợ khai khác mà mình khai khác hoặc để đối chiếu lời khai của thân nhân với lời mình khai. Rồi bản khai được cất đi và phạm nhân phải khai lại từ đầu…Việc khai báo kéo dài cả mấy tháng. Một chiến dịch cổ võ cho việc khai báo cuộc đời được diễn ra. Học viên còn được cho ăn uống linh đình và được miễn lao động trước ngày khai báo bắt đầu.

Cải tạo tư tưởng-Học tập chính trị

Mục đích của cải tạo là “để thay đổi con người từ chế độ lỗi thời vào kỷ nguyên mới của những công dân tốt, với các giáo điều tốt lành của chủ nghĩa Anh Hùng Cách Mạng”.

Theo các cựu tù nhân kể lại, bài học nhồi sọ nhắm vào việc:

“Ðả phá chủ nghĩa đế quốc Mỹ, kẻ thù của nhân dân Việt Nam và thế giới. Sự thất bại của chủ nghĩa đế quốc Mỹ; Ðế quốc Mỹ là con đỉa hai vòi: một vòi hút máu mủ nhân dân trong nước, còn vòi kia vươn sang các nước khác để hút máu mủ nhân dân các nước này bằng cách bán súng đạn, tạo ra các cuộc chiến tranh diệt chủng. Tội ác của ngụy quyền ngụy quân miền Nam, bán nước, tay sai. Chính sách khoan hồng của Ðảng, nghĩa vụ của người có tội, lao động là vinh quang. Những thắng lợi vĩ đại của nhân dân Việt Nam.”

Các buổi học tập chính trị gồm có:

  1. Nhận đề cương nội dung bài.
  2. Tìm hiểu nội dung.
  3. Nghe giáo viên giảng bài.
  4. Suy nghĩ về nội dung và lời giảng của giáo viên.
  5. Không bàn thảo với ai. Viết một bài nhận định để trình bày với tổ.
  6. Phát biểu trước tổ học tập.
  7. Hội thảo cấp B cao hơn với ba tổ.
  8. Hội thảo toàn trại.
  9. Rồi viết bài tổng kết học tập dài cả chục trang.
  10. Tổng kết và giải đáp thắc mắc.

Kỹ thuật nhồi sọ áp dụng nguyên tắc nước chảy đá mòn, nói nhiều nói mãi một đề tài, nhắc đi nhắc lại một luận điệu, biến con người thành cái máy… Sau cả nhiều tháng học tập chính trị, hầu hết đều bị chê là: “chưa được rèn luyện, cải thiện bằng các tư tưởng cao siêu của Chủ Nghĩa Xã Hội, vẫn còn ngoan cố, không chịu tiếp thu bài học, không chịu gột rửa toàn diện tư tưởng xấu của bản thân, nên cần được cải tạo bằng lao động”.

Lao động

Lao động là thước đo mức độ giác ngộ của tù nhân.

Cuốc đất: 150m2/ngày/người

Trồng mì: 5000m2 /ngày/4 người

Khai quang: 300m2/ngày/người

Lấy cây đường kính 30cm, dài 4 thước, hai người một cây, mang về trại cách xa 3 cây số; đường kính 10 phân, dài 4 thước hai người năm cây một ngày.

Tranh lợp nhà: 10 bó theo tiêu chuẩn của trại. (Theo Trại Tù Cải Tạo-Phạm Quang Giai).

Ăn uống

Sau đây là kinh nghiệm người cựu tù:

“Cộng Sản không cần đánh đập, không cần kết án, mà họ đã dùng cái máy chém vô hình và im lặng: ÐÓI. Họ lôi cái máy này đến mọi nơi, mọi chốn có tù nhân chính trị miền Nam để trả thù, trả hận mà vẫn không mang tiến là ác độc, là giết người.” (Phạm Quang Giai: Trại cải Tạo)

“Cái lon nhôm sữa bột guigoz, được gọi vắn tắt là cái Gô, là bạn đồng hành thân thiết của tù. Người tù nào cũng kè kè bên mình một cái vừa đựng nước uống ra bãi, vừa dùng để nấu canh tại bãi lao động. Những loại rau cỏ dại ăn được tìm thấy ngay tại hiện trường, lén nhổ bỏ vào Gô rồi nhờ nhà bếp nấu. Nấu chín xong để bụi cát lắng xuống phần dưới, ăn phần rau cũng đỡ cái bao tử rỗng một lúc. Hôm nào bắt được con cóc, con nhái thì “canh có người lái”, tù gọi là Protein; con gì cũng qui vào chất thịt, chất protein bổ dưỡng. Tù có câu: “con gì nhúc nhích là ăn được, rau gì không chết thì ăn”… (Nguyễn Chí Thiệp: Trại Tù Kiêm Giang)

“Tiêu chuẩn kỷ luật mỗi tháng còn 9 kg lương thực ăn với nước muối, mỗi ngày hai bữa hai chén nhỏ xíu. Ðến bữa ăn phải kềm hãm cố nhai cho thật kỹ, vừa để cho đỡ buồn, cho qua thời giờ có việc làm. Khi nhai thức ăn, vừa phải nhai kỹ để thức ăn ít ỏi và quí báu được tiêu thật hết, khỏi phí phạm, giúp cơ thể bòn từng chút bổ dưỡng để thân xác chịu đựng con người được sống, nhai thật kỹ để chất thải ra thật ít, 5,7 ngày mới đại tiện một lần, vì đại tiểu tiện đều vào cái thùng đại liên để ngay bên cạnh bục nằm, đến lúc đầy tràn trật tự mới đổ đi, nên suốt ngày đêm phải nằm bên cạnh cái của nợ khai thúi đó.”  (Nguyễn chí ThiệpTrại Tù Kiêm Giang)

Vệ Sinh Trại

Tù nhân kể lại là trại chật trội ngào ngạt hơi người, mùi hôi của mọi người, mọi bệnh riêng của mỗi người, cả tháng không tắm. Cả ngàn người có một giếng nước, kéo một lúc đã cạn nước. Ðể lâu không dùng nên chuột bọ chết thối đầy đáy giếng. Ăn uống vào là bị kiết lỵ. Ði cầu vào các dẫy hố đào trên mặt đất.

Bệnh Tật

“Mặt đứa nào đứa nấy trông như những quả dưa bở chín rục, chân tay bụ bẫm cứ như những cái xác chết trôi ba ngày, đang xếp hàng dài trước bếp xin chút nước vo gạo về uống với hy vọng mong manh tí chất cám có thể cứu nổi căn bệnh phù thũng trầm kha…” (Hà Thúc Sinh: Ðại Học Máu)

Kiểm tra tư trang

“Ông cán bộ tới chỗ tôi và bắt đầu lục soát.

– Cho tôi xem cuộn giấy. Giấy này là giấy gì đây?

– Thưa cán bộ đây là giấy vệ sinh.

– Giấy vệ sinh là giấy gì?

– Thưa cán bộ là giấy đi cầu.

Ông cầm cuộn giấy, xem rất kỹ, chê bai đủ điều rồi nói tiếp:

– Ðây chính là tài liệu mật mã bọn Mỹ ngụy để lại cho các anh xử dụng để quấy phá cách mạng, nhưng làm sao qua mắt cách mạng được. Tôi ra lệnh tịch thu toàn bộ những cuộn giấy này của anh và của các anh khác.” (Phan Phát Huồn: AK và Thập Giá)

Thăm viếng và thư từ của gia đình

Theo điều 29, “hai tháng phạm nhân được gặp người nhà một lần. Phạm nhân có trách nhiệm hướng dẫn người nhà chuẩn bị giấy tờ cần thiết khi đến thăm mình.”

Ðiều 27: “Phạm nhân mỗi tháng được viết một lá thư cho gia đình; thư phải đưa lên cán bộ duyệt trước khi gửi; không được dùng tiếng ngoại quốc, tiếng lóng.”

Tết 1977 là lần đầu tiên phạm nhân được viết thư cho thân nhân ở trong Nam. Thư gửi qua Trung Ðoàn 52-A, Chí Hòa Sài Gòn. Họ không được phép tiết lộ nơi đang học tập. Quà do thân nhân gửi không được quá 5 kí. Trà, cà phê, rượu, muối bị cấm tuyệt. (Trần Vĩ)

Kết luận

Chế độ tù cải tạo dưới chế độ Cộng Sản vào những thập niên 70 và 80 của thế kỷ trước  đã đưa đến sự tàn phá tâm thần và thể xác cho nhiều quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa. Ðây là một thảm họa mà đến nay thế giới loài người văn minh cũng như con cháu chúng ta vẫn chưa biết được tường tận.

Các vị cựu nhân cải tạo sống sót hình thức tù đầy này cũng nên ghi lại những bài học đắt giá, những hy sinh của chính mình, của các bạn tù đã nằm xuống. Và các bà vợ tù nhân cải tạo cũng có nhiều cay đắng cuộc đời. Một thân phải tần tảo chăm sóc bầy con giữa những kỳ thị của chế độ mới, rồi lại còn trèo đèo lặn suối đi thăm nuôi chồng  bị đầy ải nơi rừng thiêng nước độc. Ghi lại để các thế hệ con cháu, trong ngoài nước, hiểu nỗi lòng của mình. Cũng như để tránh tái diễn, nhất là đối với những người cùng chung dòng giống. Chứ không phải để nuôi mãi lòng thù hận nhau.

[Nguyệt San Mạch Sống thuộc hệ thống truyền thông của BPSOS: http://www.machsongmedia.com.]

NGUỒN: Đời Sống Người Tù Cải Tạo – Mach Song Media – Nhà


 

Ý Kiến quanh vụ ÔNG NGUYỄN THÀNH NAM bị bắt theo Điều 117 Bộ luật Hình sự-Trương Nhân Tuấn

Trương Nhân Tuấn


Ngày 7/7/2026, báo chí Việt Nam đưa tin ông Nguyễn Thành Nam, tác giả cuốn “Chuyện với Thanh – Lời kể mới về ánh sáng” bị bắt, bị khởi tố

Ông Nguyễn Thành Nam là ai? Là một trong những người sáng lập và là cựu Tổng Giám đốc FPT, Phó Chủ tịch HĐQT trường Đại học FPT, tham gia giảng dạy bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh tại Viện Khoa học và Giáo dục Khai phóng (VinUniversity). Theo báo chí, ông Nam đã bị Công an thành phố Hà Nội khởi tố về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, theo quy định tại điều 117 Bộ luật Hình sự của nước này.

Nguyên do là từ cuốn “Chuyện với Thanh – Lời kể mới về ánh sáng”. Ông Nguyễn Thành Nam đã viết về ông Hồ Chí Minh với cách nhìn và ngôn ngữ “đời thường, hiện đại, phù hợp với giới trẻ”, khác với cách nhìn và ngôn ngữ nghiêm túc, ca ngợi, tô hồng như từ trước đến nay. Khi cuốn sách vừa ra mắt trong tháng 4/2026, nhiều ý kiến đã khen ngợi, trong đó có ông Nguyễn Quang Thiều nhà văn, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, nhận định rằng tác phẩm giúp người đọc tiếp cận hình ảnh Hồ Chí Minh một cách gần gũi hơn. Nhưng sau đó thì cuốn sách bị những người có quan điểm bảo thủ chỉ trích, lên án rằng sai sự thật, xuyên tạc lịch sử, xúc phạm, bôi nhọ hình ảnh “lãnh tụ” Hồ Chí Minh và một số lãnh đạo ĐCSVN. Nhiều tờ báo đã rút lại những bài viết khen ngợi. Cuốn sách bị thu hồi, NXB Hội Nhà Văn–nơi xuất bản cuốn sách, bị phạt 100 triệu đồng, buộc tiêu hủy toàn bộ sách đã in, bị đình chỉ hoạt động 2 tháng, Và nay thì ông Nguyễn Thành Nam chính thức bị bắt, bị khởi tố.

Điều đáng nói là ông Nguyễn Thành Nam từ trước đến giờ hoàn toàn không phải là một người bất đồng chính kiến mà là một người sinh ra, lớn lên, thành đạt và có cuộc sống khá là viên mãn trong chế độ XHCNVN, thậm chí còn giảng dạy về tư tưởng Hồ Chí Minh như vừa nêu ở trên.

*****

Với tư cách một người Việt nam luôn trăn trở với tình hình đất nước, tôi cho rằng việc buộc hành vi biên soạn, tàng trữ và phát tán tác phẩm “Chuyện với Thanh –Lời kể mới về ánh sáng” của Giáo sư Nguyễn Thành Nam và các cộng sự vào tội danh “Chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” là một sự áp đặt khiên cưỡng, chưa đánh giá đúng bản chất hành vi và sự xung đột sâu sắc với các cam kết quốc tế về Tinh thần Trọng luật (Rule of Law) mà Nhà nước Việt Nam đang xây dựng.

Tôi trân trọng đề xuất bốn (04) luận cứ nhằm làm rõ tính khách quan, khoa học và tinh thần xây dựng của các bị cáo:

  1. Bản chất của tác phẩm Chuyện với Thanh là “nghiên cứu khoa học lịch sử đa chiều”, không phải “xuyên tạc, chống phá”.

Cáo trạng buộc tác phẩm có nội dung bôi nhọ đời tư Chủ tịch Hồ Chí Minh và hạ thấp lịch sử cách mạng. Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học chính trị và sử học hiện đại, lịch sử không phải là một giáo điều bất biến, mà là một tiến trình liên tục được bổ sung bằng tư liệu và góc nhìn mới.

Về vấn đề đời tư lãnh tụ: Việc tiếp cận đời tư của các nhân vật lịch sử dưới góc nhìn nhân văn, đời thường – loại bỏ lớp sương mù huyền thoại (thánh hóa) của giai đoạn chiến tranh tuyên truyền – là xu thế tất yếu của thời đại hội nhập. Khái niệm cán bộ “agitprop” (xách động và tuyên truyền) hay việc sử dụng các bút danh như Trần Dân Tiên, T.Lan, CB… để tự thuật trong bối cảnh những năm 1940-1950 là những sự thật lịch sử đã được giải mật và thảo luận rộng rãi trên thế giới. Việc các bị cáo hệ thống hóa các dữ kiện này dưới hệ qui chiếu mới hoàn toàn mang tính chất nghiên cứu học thuật, không chứa đựng động cơ bôi nhọ hay ác ý chính trị.

Về tính khách quan của lịch sử cách mạng: Tác phẩm chỉ ra những khoảng trống quyền lực (Power Vacuum) trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, sự thỏa hiệp chính trị tất yếu với Hoa quân Tưởng Giới Thạch để lập Chính phủ Liên hiệp năm 1946, hay vai trò quyết định của nguồn viện trợ quân sự từ Moscow và Bắc Kinh sau năm 1949. Đây là những sự thật địa chính trị phản ảnh tương quan lực lượng thời Chiến tranh Lạnh. Nếu không có đòn bẩy quân sự từ khối Cộng sản, một quốc gia chưa tự chế tạo được vũ khí như Việt Nam không thể giành chiến thắng trước các siêu cường cơ giới hóa. Khẳng định điều này là tôn trọng sự thật khách quan của lịch sử, chứ không phải phủ nhận xương máu của cha ông.

  1. Tính chính danh của Đảng CSVN và Nhà nước hiện nay đến từ “hiệu năng đổi mới”, không phụ thuộc vào việc kể lể công lao quá khứ. Cơ quan công tố đang sử dụng “hệ qui chiếu thời cách mạng” để bảo vệ một tính chính thống lịch sử tuyệt đối. Lập luận này hoàn toàn mâu thuẫn với thực tế phát triển của đất nước:

Tính chính danh tối cao của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thế kỷ 21 không còn nằm ở vị thế “có công đánh Pháp đuổi Mỹ giành độc lập” của quá khứ năm 1945 hay 1975, mà đến từ chính sách Đổi mới (1986).

Bản chất của Đổi mới là việc Nhà nước dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, sửa chữa các sai lầm của giai đoạn trước, xây dựng lại nền kinh tế thị trường, thừa nhận quyền sở hữu tư nhân và mở cửa hội nhập, những điều mà cuộc cách mạng vô sản thời kỳ đầu từng tìm cách xóa bỏ.

Do đó, một tác phẩm đặt ra các câu hỏi phản biện về giai đoạn lịch sử cũ, mục tiêu hiển nhiên là thiết lập lại những thảo luận cay đắng của những lãnh đạo tiền bối trong lúc lúc họ băn khoăn đứng trước bản lề “đổi mới”: hội nhập để phát triển hay là cố thủ rồi sụp đổ. Sự thành công trong hội nhập đã giúp thể chế hiện nay đứng vững, bằng năng lực quản trị kinh tế và sự ổn định xã hội ở hiện tại, chớ không hề đến từ việc ca tụng những hình tượng vô tri trong lịch sử.

Việc kết tội các bị cáo bằng hệ tư tưởng cũ là sự thụt lùi so với chính tinh thần “đổi mới” của đất nước, đặc biệt, là một hành vi đi ngược lại tinh thần khai phóng để đưa “đất nước vươn mình” của ông Tô Lâm.

  1. Sự mâu thuẫn với Tinh thần Trọng luật (Rule of Law) trong thời kỳ đất nước hội nhập vào dòng chảy quốc tế.

Việt Nam hiện nay đã thiết lập quan hệ ngoại giao toàn diện với hơn 190 quốc gia, là thành viên của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và các định chế luật pháp quốc tế. Điểm tựa chính thống pháp lý của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hiện nay đến từ sự thừa nhận của luật pháp quốc tế toàn cầu.

Một trong những cột trụ của hội nhập quốc tế là Tinh thần Trọng luật (Rule of Law), đòi hỏi luật pháp phải rõ ràng, minh bạch và bảo vệ các quyền cơ bản của con người, bao gồm quyền tự do nghiên cứu và tự do ngôn luận.

Việc áp dụng Điều 117 BLHS với những khái niệm định tính mơ hồ như “tuyên truyền thông tin nhằm chống Nhà nước” để hình sự hóa một công trình nghiên cứu sử học sẽ gửi đi một thông điệp tiêu cực tới cộng đồng quốc tế. Nó tạo ra một nghịch lý: Việt Nam muốn hội nhập toàn cầu về kinh tế, chấp nhận luật chơi chung về vật chất, nhưng lại dùng luật thời chiến để “treo cổ” tư duy lý luận. Sự thiếu đồng bộ này làm tổn hại đến uy tín quốc gia và tính chính danh pháp lý quốc tế mà Nhà nước đã dày công xây dựng.

  1. Hoàn toàn không có “Hậu quả nguy hại cho xã hội”

Để cấu thành tội phạm theo tinh thần của luật pháp tiến bộ, hành vi phải gây ra nguy cơ hoặc hậu quả nhãn tiền, nguy hại cho xã hội.

Giáo sư Nguyễn Thành Nam và các cộng sự là những trí thức, nhà khoa học hoạt động thuần túy trên giảng đường, bằng các trang sách. Tác phẩm của họ chỉ được lưu hành trong phạm vi hẹp của giới nghiên cứu và những người quan tâm đến lịch sử.

Tác phẩm không hề kêu gọi bạo loạn, không kích động lật đổ chính quyền, không phá hoại an ninh, trật tự công cộng. Một cuốn sách dày tính học thuật không thể lật đổ một chế độ có hệ thống luật pháp và quân đội vững mạnh. Việc hình sự hóa một cuộc thảo luận học thuật bằng án tù là một biện pháp không tương xứng (disproportionate), vi phạm nguyên tắc nhân văn của pháp luật.

Kết luận:

Nếu chúng ta muốn có một xã hội “tự lực tự cường”, chúng ta cần những trí thức dám tư duy phản biện. Nếu chúng ta muốn có một nhà nước trọng luật thực sự để ngẩng cao đầu hội nhập với thế giới, chúng ta không thể sợ hãi trước những góc nhìn lịch sử khác biệt.

Giáo sư Nguyễn Thành Nam và các cộng sự không chống lại Nhà nước; họ chỉ đang thực hiện quyền và nghĩa vụ của một người trí thức: dùng hệ qui chiếu của thời đại mới để soi rọi lại quá khứ, giúp quốc gia hiểu rõ hơn về chính mình để bước tiếp.

Nhưng những luận cứ trên tôi hy vọng các cơ quan hành pháp và tư pháp Việt Nam sẽ áp dụng tinh thần thượng tôn pháp luật, đình chỉ vụ án, trả tự do cho Giáo sư Nguyễn Thành Nam và các nhân sự liên quan, khép lại một vụ việc đáng tiếc để bảo vệ uy tín hội nhập của nước nhà.

Trương Nhân Tuấn


 

ICE bắt giữ luật sư nhân quyền Trung Quốc có hồ sơ tị nạn ở Mỹ

Ba’o Nguoi-Viet

July 19, 2026

LANCASTER, Pennsylvania (NV) – Luật sư nhân quyền người Trung Quốc, ông Ngô Thiệu Bình (Wu Shaoping) đã bị Cảnh Sát Di Trú (ICE) bắt giữ hôm Thứ Tư, 15 Tháng Bảy, tại thị trấn Mount Holly Springs thuộc địa hạt Cumberland, tiểu bang Pennsylvania, trong lúc ông đang đi giao hàng cho Amazon.

Theo The New York Times (NYT) và The Guardian loan tin, luật sư Ngô Thiệu Bình đã đến Mỹ bằng thị thực du lịch năm 2019 và đã nộp đơn xin tị nạn chính trị (asylum) vào năm 2020.

Luật sư nhân quyền Trung Quốc Ngô Thiệu Bình. (Hình: Trang X của Human Right Watch)

Ở Mỹ, ông Bình làm công việc giao hàng cho Amazon trong khi vẫn tích cực tham gia các hoạt động của cộng đồng đấu tranh cho nhân quyền tại Trung Quốc – một cộng đồng đang gặp nhiều khó khăn, áp lực, theo The Guardian.

Hôm Thứ Tư tuần trước, trong lúc đang trên đường làm công việc của một người giao hàng theo hợp đồng cho Amazon, ông Bình đã bị các cảnh sát chặn lại tại một ngã tư ở thành phố Mount Holly Springs, thuộc địa hạt Cumberland, tiểu bang Pennsylvania.

Theo luật sư của ông Bình là ông John Visher, các cảnh sát đã yêu cầu ông Bình trình giấy chứng minh quốc tịch Mỹ. Ông Bình đã đưa ra bằng chứng về hồ sơ xin tị nạn chính trị đang chờ xét duyệt của ông, cùng với giấy phép lao động (working permit) và giải thích ông đã nhập cảnh vào Mỹ một cách hợp pháp.

Sau đó, cảnh sát đã báo cho cơ quan di trú. Ông Bình bị bắt giữ và bị chuyển đến trung tâm giam giữ người nhập cư ở Pennsylvania. Ông có thể sẽ ra hầu tòa di trú vào ngày 27 Tháng Bảy.

Vợ của ông, bà Tào Lưu Lệ (Caoliu Li,) cho biết chồng bà đã bị cơ quan an ninh Trung Quốc thẩm vấn và sách nhiễu trong nhiều năm, nhưng ông vẫn kiên định với sự nghiệp đấu tranh cho quyền lợi của người dân Trung Quốc.

“Suốt thời gian qua, ông ấy luôn chú trọng đến những bất công tại Trung Quốc và tìm cách thay đổi chúng,” bà Lệ chia sẻ trong một cuộc phỏng vấn với NYT từ Lancaster, tiểu bang Pennsylvania, nơi vợ chồng ông bà đang sống cùng cô con gái 17 tuổi.

Bà Lauren Bis, phát ngôn viên của Bộ Nội An, cho biết ông Bình không có tư cách pháp lý hợp lệ và đã ở lại quá hạn thị thực (visa) sáu năm. Bà khẳng định ông sẽ được hưởng đầy đủ quy trình pháp lý theo quy định.

Theo luật sư Visher, do ông Bình đã nộp đơn xin tị nạn trước khi thị thực du lịch hết hạn, do đó ông được bảo vệ khỏi việc bị trục xuất và được phép ở lại trong thời gian chờ xét duyệt hồ sơ.

Cũng theo NYT, hành trình đến Hoa Kỳ của ông Ngô Thiệu Bình bắt đầu từ năm 2019. Khi đó, ông tham dự một cuộc gặp gỡ giữa các luật sư và nhà hoạt động nổi tiếng của Trung Quốc để bàn về phong trào nhân quyền đang bị đàn áp. Chỉ vài ngày sau, chính quyền Trung Quốc bắt giữ những người tham dự cuộc gặp đó, và hai trong số họ hiện đang thụ án tù dài hạn. Ông Bình đã bỏ trốn và nộp đơn xin tị nạn tại Hoa Kỳ vào năm 2020. Hồ sơ đang chờ thụ lý.

Trước khi rời Trung Quốc, ông Ngô Thiệu Bình từng làm luật sư thương mại tại Thượng Hải và gia nhập phong trào những người bảo vệ nhân quyền sau khi Bắc Kinh, dưới thời Chủ Tịch Tập Cận Bình, phát động cuộc đàn áp luật sư nhân quyền lớn nhất trong nhiều thập niên.

Ông nhận các vụ án đặc biệt về chính trị, đại diện cho một nhà hoạt động chống tham nhũng, một nhà bảo vệ nhân quyền khác, và các học viên Pháp Luân Công, một phong trào tâm linh bị cấm ở Trung Quốc.

Ông Châu Phong Tỏa (Fengsuo Zhou), giám đốc điều hành tổ chức nhân quyền cho Trung Quốc có trụ sở tại New York, cho biết ông Bình đã bào chữa cho những bị cáo mà hầu hết luật sư khác đều né tránh.

Vụ bắt giữ luật sư nhân quyền Ngô Thiệu Bình đã thu hút sự chú ý của các nhà vận động nhân quyền quốc tế. Ông Bob Fu, một nhà hoạt động nhân quyền Cơ Đốc Giáo, đã công khai bày tỏ rằng ông tin các nhân viên ICE đã hành động sai khi bắt giữ ông Bình, người mà ông mô tả là một người bảo vệ tự do tôn giáo tận tụy và có tình trạng cư trú hợp pháp tại Hoa Kỳ.

Những người ủng hộ cho biết họ đang nỗ lực vận động sự hỗ trợ pháp lý và công luận cho ông Ngô Thiệu Bình trước phiên điều trần ngày 27 Tháng Bảy, với hy vọng tránh để ông bị cưỡng bức trả về Trung Quốc. (KL) [kn]


 

Gói Đường, Gói Muối, Gói Cả Một Đời Chờ Đợi

Liem Pham

 Có những người sau năm 1975 cũng mang án tù, nhưng không có tên trong bất cứ danh sách nào.

Đó là những người vợ. Ngày nhận được mảnh giấy báo chồng đang bị “học tập cải tạo” ngoài Bắc, chị ngồi rất lâu. Không phải vì không biết đọc. Mà vì không biết bắt đầu từ đâu.

Thăm nuôi.

Hai chữ nghe nhẹ như gió, nhưng để đi được một chuyến là cả một hành trình đầy nước mắt.

 Chị bán chiếc nhẫn cưới. Cầm cố chiếc xe đạp. Vay gạo hàng xóm. Gom từng đồng bạc lẻ. Mỗi đồng đều đổi bằng những ngày nhịn ăn của mẹ con ở nhà.

Rồi bắt đầu học:

Học cách gói đường vào túi ni lông nhỏ, buộc thật chặt để khỏi chảy khi gặp mưa.

Học cách chia muối thành từng gói bằng hai ngón tay, vì nghe biết trong trại, một nhúm muối cũng quý hơn vàng.

Học cách gói thuốc lào thật kín để khỏi mất mùi. Với người tù, vài hơi thuốc đôi khi là chút bình yên hiếm hoi sau một ngày lao động kiệt sức.

Học cách khâu tiền vào lai áo. Học cách giấu vài viên thuốc cảm trong ruột bánh. Học cách trả lời cán bộ sao cho vừa đủ, không thừa một câu, không thiếu một chữ.

Không ai dạy chị. Cuộc đời dạy.

 Những người đàn bà gặp nhau ở ga Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng… nhìn chiếc bao tải trên vai là biết cùng chung một số phận. Họ truyền cho nhau từng kinh nghiệm nhỏ:

“Đừng đựng nước mắm bằng chai thủy tinh.”

“Đừng để đường chung với cá khô.”

“Đến trại nhớ cúi đầu, đừng cãi.”

Toàn những bài học không có trong bất kỳ cuốn sách nào.

 Rồi chuyến tàu lắc lư nhiều ngày đêm. Toa tàu đông nghẹt. Mùi mồ hôi, mùi cá khô, mùi khoai luộc hòa với tiếng trẻ con khóc, tiếng bánh sắt nghiến trên đường ray. Người đàn bà ôm chặt chiếc giỏ như ôm cả sinh mạng của chồng mình.

Bởi trong đó không chỉ có vài ký gạo, ít đường, ít muối. Mà còn có tình nghĩa vợ chồng.

Có niềm hy vọng.

Có lời nhắn của con: “Ba nhớ về.”

 Đến nơi, sau bao lần kiểm tra, cân đo, xét hỏi, nhiều món bị giữ lại. Có thứ bị tịch thu. Có thứ bị cắt xén. Chị chỉ biết im lặng.

 Rồi cũng đến lúc được gặp.

Chỉ vài chục phút.

Qua hàng rào.

Qua ánh mắt của cán bộ.

Qua khoảng cách tưởng gần mà xa như cả một đời người.

Chị cố cười.

Anh cũng cố cười.

Không ai dám khóc.

Bởi người ở lại sợ người đi thêm đau lòng. Người trong trại lại sợ vợ về sẽ khóc suốt dọc đường.

 Khi chuyến tàu quay về Nam, chiếc giỏ đã nhẹ hơn.

Nhưng trái tim người vợ lại nặng hơn.

Lại tiếp tục những tháng ngày dành dụm.

Lại vá áo thuê.

Lại bán từng lon gạo.

Lại gói đường.

Lại gói muối.

Lại gói thuốc lào.

Để chờ một chuyến thăm nuôi khác, không biết sẽ đến sau sáu tháng, một năm hay lâu hơn.

 Lịch sử thường nhắc đến những năm tháng tù cải tạo với những người đàn ông sau hàng rào kẽm gai. Nhưng lịch sử cũng nên dành một trang cho những người phụ nữ lặng lẽ đứng ngoài cánh cổng ấy.

Không được tuyên dương.

Nhưng bằng đôi vai gầy, họ đã gánh cả một gia đình, nuôi con khôn lớn và giữ cho người chồng trong trại còn niềm tin để sống.

Có lẽ, trong ký ức của nhiều cựu tù cải tạo, thứ ngọt nhất không phải là gói đường.

Mà là biết rằng, ở quê nhà, vẫn có một người vợ đang cặm cụi buộc từng nút ni lông, gói ghém cả tình yêu và hy vọng vào chuyến tàu ra Bắc.

Phạm Sơn Liêm


 

Con Đi Tù Cải Tạo, Cha Mẹ Già Vẫn Đợi

Liem Pham  

Có những người tù cải tạo còn có được vài dòng thư gửi về nhà sau nhiều tháng, nhiều năm.

Nhưng cũng có những người… biệt vô âm tín.

Không thư.

Không tin.

Không biết còn sống hay đã chết.

Ở quê nhà, người đau khổ nhất nhiều khi không phải là người vợ trẻ, mà là những cha mẹ đã bạc đầu.

Mỗi buổi sáng, ông cụ lại chống gậy ra đầu ngõ. Chẳng để làm gì. Chỉ nhìn con đường đất dẫn vào xóm. Mỗi tiếng xe đạp, mỗi bóng người mặc áo xanh, mỗi tiếng chó sủa đều khiến ông ngẩng đầu lên, rồi lại lặng lẽ cúi xuống.

Bà cụ thì vẫn giữ nguyên chiếc chén, đôi đũa của người con trai trên chạn bếp. Bà nói với con dâu:

“Biết đâu nó về bất ngờ… phải có cái để nó ăn.”

Năm này qua năm khác.

Mái tóc của cha trắng thêm.

Đôi mắt của mẹ mờ đi.

Mùa lúa chín rồi lại gặt. Cây trước sân thay bao mùa lá. Người trong làng có người trở về, có người không. Nhưng người con của ông bà vẫn chỉ là một khoảng lặng.

Có những buổi chiều, bà cụ ngồi bên hiên, ôm chiếc áo cũ của con mà vá đi vá lại. Chiếc áo chẳng còn ai mặc, nhưng bà vẫn sợ nếu một ngày con về thì áo rách.

Cha ít nói hơn.

Ông chỉ nhìn xa xăm, thỉnh thoảng lẩm bẩm:

“Chắc nó đói lắm…”

Không ai biết trong những trại cải tạo xa xôi ấy, người con có còn sống hay không. Cũng không ai dám nói một lời chắc chắn để cha mẹ già bớt hy vọng.

Hy vọng là điều cuối cùng người ta còn giữ được.

Có những người cha mất trước khi biết tin con được thả.

Có những người mẹ nhắm mắt vẫn dặn con cháu:

“Nếu anh con có về… nói với nó là má đợi tới phút cuối.”

Đó là điều đau đớn nhất của chiến tranh và những năm tháng sau chiến tranh.

Không chỉ là những năm tù.

Mà còn là những mái nhà có ngọn đèn vẫn thắp mỗi tối, những cánh cổng chưa bao giờ khóa hẳn, và những bậc cha mẹ già dành trọn quãng đời còn lại để chờ một tiếng gọi:

“Cha… Má… Con về rồi.”

Tiếng gọi ấy, với nhiều gia đình, đã không bao giờ vang lên.

Phạm Sơn Liêm


 

Thắng Argentina 1-0, Tây Ban Nha lần thứ hai vô địch World Cup

Ba’o Nguoi-Viet

July 19, 2026

EAST RUTHERFORD, New Jersey (NV) – 16 năm trước, Tây Ban Nha lần đầu lên ngôi vô địch thế giới bằng bàn thắng duy nhất của Andres Iniesta vào lưới Hòa Lan ở hiệp phụ thứ hai thì tại World Cup 2026, bàn thắng quý hơn vàng của Ferran Torres vào lưới Argentina đã đưa Tây Ban Nha lần thứ nhì vô địch thế giới theo đúng kịch bản mà lớp đàn anh mình thực hiện.

Nếu bốn năm trước tại Qatar, Argentina đã mở đầu trận chung kết bằng hai bàn thắng vào lưới đối thủ ngay trong hiệp một thì cả trận chung kết 2026 suốt 90 phút hai hiệp chính, Argentina không có lấy nổi một cú sút về phía cầu môn Tây Ban Nha. Phải đến khi nhận bàn thua ở phút 106 và vùng lên thì Argentina mới có cú sút đầu tiên.

Đội tuyển Tây Ban Nha nâng cao cúp vàng vô địch World Cup 2026. (Hình: David Ramos/Getty Images)

Vô hiệu hóa Messi như thế nào là câu hỏi được đặt ra rất nhiều cho Tây Ban Nha trước trận chung kết. Và đúng như huấn luyện viên Luis de la Fuente lên tiếng là không thể kèm Messi nên cách tốt nhất là đừng để đội hình và lối chơi của mình bị phá vỡ bởi Messi qua việc thực hiện đúng ý đồ theo cách chơi luân chuyển trái bóng mà Tây Ban Nha thành công từ đầu giải đến giờ.

Suốt 45 phút hiệp một, Argentina gần như chỉ phòng ngự, thỉnh thoảng là những pha bóng dài phản công nhưng thủ môn Simon và hàng phòng ngự Tây Ban Nha đã không khó hóa giải.

Ngược lại thì những Yamal, Oyarzabal, Cucurella tiếp cận cầu môn Argentina nhưng những cú sút không đủ lực hoặc bị hàng thủ dày đặc Argentina đánh bật ra.

Ferran Torres (số 7), người hùng của trận đấu, ăn mừng sau khi ghi bàn thắng duy nhất cho Tây Ban Nha, hạ gục Argentina, lên ngôi vô địch thế giới lần thứ hai. (Hình: David Ramos/Getty Images)

Chút lo lắng cho đương kim vô địch khi trung vệ giữ vai trò trụ cột trong hàng phòng ngự Lisandro Martinez không thể thi đấu tiếp tục từ phút 44 do chấn thương. Thay đổi bắt buộc của huấn luyện viên Lionel Scaloni đưa lão tướng 38 tuổi Otamendi vào thay chỉ là biện pháp chữa cháy.

Hiệp hai vẫn là sức ép ngày càng gia tăng của Tây Ban Nha về phía cầu môn Argentina. Olmo buộc thủ môn Martinez giật mình cản phá cú sút xa chịu phạt góc. Ferran Torres đánh đầu cận thành từ đường chuyền của Yamal nhưng vào tầm đón thủ môn Argentina.

Khung thành luôn bị đe dọa nhưng Argentina lại mất thêm trung vệ thứ hai là Romero chấn thương rời sân ở phút 70.

 

Ferran Torres (7) tung cú sút ghi bàn duy nhất đưa Tây Ban Nha lên ngôi vô địch World Cup 2026 sau 120 phút dồn ép và thi đấu trên chân trước Messi và các cầu thủ Argentina. (Hình: Jewel Samad / AFP via Getty Images)

Mất cặp trung vệ trụ cột và mới phút thứ 70 nhưng Argentina đã thay đủ năm cầu thủ nhưng vẩn chưa có cú sút cầu môn nào. Ngược lại thì Tây Ban Nha làm được tất cả trừ bàn thắng.

Đến phút 75, huấn luyện viên Luis de la Fuente tung cùng lúc “siêu dự bị” Merino và cơn lốc trái Williams vào với mong muốn giải quyết trận đấu ngay trong 90 phút.

 

Lionel Messi (10) hiếm hoi có pha đi bóng như thế. (Hình: Florencia Tan Jun/Getty Images)

Liên tiếp hai phút 76, 77, thủ môn Martinez cứu thua từ hai cú sút xa của Rodri và Cubarsi. Tây Ban Nha chơi bóng nửa sân dồn ép nhưng hàng phòng ngự Argentina dù chắp vá nhưng vẫn chống trả kiên cường.

Argentina đã khó còn khó hơn khi phút 90+3 Fernandez nhận thẻ vàng thứ hai rời sân do lỗi vào bóng ác ý với Cubarsi.

Đương kim vô địch chỉ thoát thua trong hai hiệp chính nhờ thủ môn Martinez bay người cứu thua từ cú đá phạt hiểm hóc của của Yamal ở phút 90+8.

Hai đội bước vào hiệp phụ với lợi thế 11 đánh 10 thuộc về Tây Ban Nha.

Huấn luyện viên Luis de la Fuente sử dụng hết quyền thay người để đưa những cầu thủ tấn công vào với hy vọng sẽ tìm được bàn thắng. Kiên trì tấn công và tấn công, cuối cùng thì nỗ lực của Tây Ban Nha đã được đền bù. Phút 106 từ đường chuyền sâu xuống biên trái, William đè hậu vệ Molina của Argentina đánh đầu ngược lên cho Ferran Torres trên đà băng xuống tung cú sút căng hạ gục thủ môn Martinez ghi bàn duy nhất của trận đấu.

Lamine Yamal (số 19) của Tây Ban Nha và Alexis Mac Allister (số 20) của Argentina. (Hình: Odd ANDERSEN / AFP via Getty Images)

16 năm trước cũng ở hiệp phụ thứ hai Andres Iniesta ghi bàn duy nhất vào lưới Hòa Lan đưa Tây Ban Nha đoạt cúp vô địch lần đầu tiên thì chung kết World Cup 2026, bàn thắng quý hơn vàng của Ferran Torres đã đưa Tây Ban Nha lẩn thứ nhì vô địch thế giới.

Một chức vô địch xứng đáng dành cho đội bóng chơi hay hơn và đẹp hơn. (Phú Trường) [kn]


 

Vé trận chung kết Argentina – Tây Ban Nha được rao giá 2 triệu US (BBC)

(BBC)

Anh và Pháp sẽ đối đầu trong trận tranh hạng 3 tại sân vận động Miami

Tác giả, Dale Johnson

Vai trò, Phóng viên chuyên về bóng đá

18 tháng 7 2026

Khoảng 7.000 vé vẫn đang được rao bán trên các nền tảng bán vé của FIFA cho trận tranh hạng 3 World Cup giữa tuyển Anh và Pháp diễn ra vào sáng Chủ nhật, 19/7.

Tính đến 16 giờ chiều ngày 17/7 giờ Việt Nam, trận đấu tại Miami (khởi tranh lúc 4h sáng ngày 19/7) vẫn chưa bán hết vé.

Hiện có 1.246 vé được bán trực tiếp với mức giá 865 USD (khoảng 22,6 triệu đồng) và 1.125 USD (khoảng 29,4 triệu đồng – được quy đổi theo tỷ giá Vietcombank ngày 18/7, 1 USD = 26.110 đồng)

Ngoài ra, còn 5.864 vé được rao bán trên nền tảng bán lại chính thức của Liên đoàn Bóng đá thế giới (FIFA). Vé rẻ nhất thuộc hạng 3, có giá gốc 455 USD (khoảng 11,9 triệu đồng), chưa bao gồm phí 15% do FIFA thu.

Tuy nhiên, nhiều vé ở các hạng giá cao đang được rao bán với mức thấp hơn đáng kể so với giá mua ban đầu.

Chẳng hạn, một vé hạng nhất có giá gốc 1.125 USD (khoảng 29,4 triệu đồng) hiện được rao bán chỉ còn 659 USD (khoảng 17,2 triệu đồng).

Trong khi đó, trận chung kết World Cup giữa đội tuyển Argentina và đội tuyển Tây Ban Nha diễn ra vào rạng sáng 20/7 cũng vẫn chưa bán hết vé, với 32 vé thuộc hạng đắt nhất vẫn còn được bán trực tiếp.

Các vé này có giá từ 29.995 USD (khoảng 783,2 triệu đồng) đến 32.970 USD (khoảng 860,2 triệu đồng). Đây là vé tiêu chuẩn, không phải vé VIP.

Bên cạnh đó, vẫn còn hơn 1.000 vé được rao bán trên nền tảng bán lại của FIFA, trong đó nhiều vé có giá xấp xỉ giá gốc cộng thêm phí của FIFA.

Giá gốc của những vé này là 7.380 USD (khoảng 192,7 triệu đồng), đồng nghĩa với việc nếu mua, người mua sẽ phải trả thêm 1.107 USD (khoảng 28,9 triệu đồng) tiền phí cho FIFA.

Chiếc vé đắt nhất được rao bán lại cho trận chung kết hiện có giá 2 triệu USD (khoảng 52,22 tỷ đồng), chưa kể 300.000 USD (khoảng 7,83 tỷ đồng) phí do FIFA thu.

Mức giá trên thị trường bán lại do chính người dùng tự đặt và không phản ánh trực tiếp số tiền mà người mua thực tế sẵn sàng chi trả.


 

THIÊN ĐƯỜNG VÀ ĐỊA NGỤC

Kimtrong Lam.                                                                                                                                        

THIÊN ĐƯỜNG VÀ ĐỊA NGỤC.

*Một vị Tổng thống qua đời và thấy mình đang đứng trước cánh cổng thiên đường, nơi thánh Phêrô chào đón ông một cách lịch sự.

“Chào mừng đến thiên đường, Ngài Tổng thống,” Thánh Peter nói. “Tuy nhiên, trước khi chúng tôi có thể chính thức cho ngài vào, chúng tôi có một vấn đề nhỏ cần giải quyết. Ngài thấy đấy, một chính trị gia thuộc đẳng cấp như ngài đến đây là khá bất thường, và thành thật mà nói, chúng tôi không hoàn toàn chắc chắn phải làm gì với ngài.”

Vị tổng thống nhượng lông mày.

“Vì vậy đây là những gì chúng tôi đã quyết định,” Thánh Peter tiếp tục. “Ngài sẽ trải qua một ngày trên thiên đường và một ngày dưới địa ngục. Sau đó, ngài có thể chọn cho mình nơi ngài muốn gắn bó vĩnh viễn.”

Thánh Peter dẫn ông ta đến thang máy. Cánh cửa đóng lại, và vị tổng thống bắt đầu đi xuống.

Khi cánh cửa thang máy mở, ông ấy bước vào địa ngục – và với sự ngạc nhiên của mình, nơi đây thật đẹp.

Hiện ra trước mắt ông ta là một sân golf xanh mướt, được cắt tỉa hoàn hảo và tỏa sáng dưới ánh mặt trời. Phía xa là một câu lạc bộ vô cùng sang trọng. Đột nhiên, một nhóm bạn chính trị gia cũ của ông chạy ùa về phía ông ta, cười tươi, và mở rộng vòng tay chào đón.

Họ ôm chầm ông ấy một cách nồng nhiệt và bắt đầu ôn về những ngày tháng xưa tốt đẹp – các chiến dịch tranh cử, các thương vụ béo bở, các đặc quyền đặc lợi, các bữa tiệc tối, các chuyên cơ riêng và tất cả những năm tháng cùng nhau làm giàu trong khi nói ra rã với mọi người dân phải “thắt lưng buộc bụng” của họ.

Họ chơi một vòng gôn. Sau đó, họ đến câu lạc bộ để dùng một bữa tối tuyệt vời: tôm hùm, bít tết, caviar, rượu vang đắt tiền, và tất cả những thứ xa xỉ mà ông ta khó có thể tưởng tượng.

Ngay cả quỷ Satan cũng đến ngồi cùng bàn với họ.

Và đối với sự ngạc nhiên của vị tổng thống, Satan quyến rũ, vui tính, ăn mặc lịch lãm và vô cùng lịch sự. Hắn kể những câu chuyện tuyệt vời, khiến ai cũng cười lớn, và đối xử với vị tổng thống như một vị khách quý.

Vị Tổng thống có khoảng thời gian tuyệt vời đến nỗi ngày trôi qua cũng không để ý. Nhưng cuối cùng cũng lên thang máy trở lại. Cánh cửa đóng lại, và ông ấy được đưa lên thiên đường.

Hai mươi bốn giờ tiếp theo rất khác.

Ông ấy dành cả ngày bồng bềnh từ đám mây này sang đám mây, nghe nhạc đàn hạc, hát thánh ca, cầu nguyện và nhìn các thiên thần lướt qua bầu trời. Vạn sự bình an, tươi sáng, tươi đẹp.

Nhưng thành thật mà nói, hơi nhàm chán.

Cuối cùng, Thánh Peter cũng xuất hiện.

“Thưa ngài Tổng thống”, ông nói, “ngài đã trải qua một ngày dưới địa ngục và một ngày trên thiên đường. Bây giờ ngài có thể đưa ra lựa chọn của mình. Ngài muốn gắn bó sự vĩnh hằng ở nơi nào?”

Vị Tổng thống suy nghĩ một lúc.

“Chà,” ông ấy chậm rãi nói, “thiên đường chắc chắn là rất tuyệt vời. Rất bình yên. Rất sạch sẽ. Nhưng tôi hoàn toàn thành thật… Tôi nghĩ tôi thích địa ngục hơn. ”

Thánh Peter nhún vai và dẫn ông ta trở lại thang máy.

Vị Tổng thống lại đi xuống địa ngục một lần nữa. Cánh cửa thang máy mở ra.

Lần này không có sân gôn.

Không có câu lạc bộ.

Không có tôm hùm.

Không có bạn cũ mặc vest.

Thay vào đó, ông ta nhìn thấy một vùng đất hoang dã vô tận bị bao phủ trong rác. Không khí có mùi kinh khủng. Những người bạn chính trị gia cũ của ông giờ đang mặc đồng phục lao động bẩn thỉu, nhặt rác và nhét vào túi nilon màu đen dưới cái nóng.

Vị Tổng thống nhìn chằm chằm chết lặng vì sốc.

Quỷ Satan bước lại gần ông, mỉm cười và đặt một cánh tay lên vai.

“Tôi không hiểu”, vị tổng thống lắp bắp. “Ngày hôm qua rõ ràng nơi này thật đẹp. Có chơi gôn, ăn tối, âm nhạc, các bạn của tôi… ”

Quỷ Satan cười tươi.

“Bạn của tôi ơi”, hắn nói, “hôm qua chúng tôi đang trong chiến dịch tranh cử nên quảng bá giống như chương trình tranh cử sinh thời của ông”

Sau đó hắn ta chỉ vào thùng rác.

“Còn hôm nay, ngài đã bỏ phiếu xong rồi.”

– Cang Huỳnh lược dịch từ Le Canard enchainé.


 

Cô bị kết án vì giết con bằng chất chống đông và bị tuyên án tù chung thân

Chuyện tuổi Xế ChiềuLộc Ninh 

 Cô bị kết án vì giết con bằng chất chống đông và bị tuyên án tù chung thân. Sau đó, khi đang ở trong tù, cô lại sinh con lần nữa, và đứa trẻ thứ hai có những triệu chứng y hệt.

Ngày 9 tháng 7 năm 1989, Patricia Stallings đang sống giấc mơ của đời mình. Cô có một ngôi nhà mới nhìn ra hồ Wauwanoka, gần St. Louis, một người chồng yêu thương là David, và một đứa con trai ba tháng tuổi, Ryan. Mọi thứ dường như hoàn hảo. “Đó thực sự là khoảnh khắc hạnh phúc nhất đời tôi,” Patricia sau này kể. “Mọi thứ đều hoàn hảo. Một ngôi nhà mới, một đứa con mới. Sao có thể xảy ra chuyện gì sai được?”

Nhưng mọi thứ đã trở nên tồi tệ đến không tưởng.

Tối thứ Sáu đó, Ryan nôn mửa. Ngày hôm sau trông có vẻ khá hơn, nhưng đến sáng Chủ nhật, bé không thể giữ thức ăn. Việc thở trở nên khó khăn, và bé bắt đầu mệt lả. Lo lắng, Patricia lập tức đưa con đến Bệnh viện Nhi Cardinal Glennon tại St. Louis.

Các bác sĩ phát hiện nồng độ ethylene glycol ,chất chống đông trong máu Ryan. Ai đó đã đầu độc bé.

Patricia và chồng ngay lập tức bị thẩm vấn. Họ bị tách ra, và các thám tử khăng khăng cho rằng một trong hai người phải chịu trách nhiệm. Patricia sững sờ; cô không hề biết chất chống đông đã vào cơ thể con bằng cách nào. Cô yêu Ryan và không bao giờ làm hại con.

Vài tuần sau, vào ngày 31 tháng 8, Patricia được phép thăm Ryan trong thời gian ngắn dưới sự giám sát. Nhưng bốn ngày sau, bé lại ốm, với những triệu chứng y hệt. Các xét nghiệm mới lại phát hiện chất được hiểu nhầm là chất chống đông trong máu bé, và còn tìm thấy dấu vết trong bình sữa mà Patricia đã dùng để cho con bú.

Ngày 5 tháng 9 năm 1989, Patricia bị bắt và bị buộc tội cố gắng giết người. Hai ngày sau, Ryan qua đời. Các công tố viên ngay lập tức chuyển tội danh sang giết người cấp độ một, thậm chí cân nhắc đề nghị án tử hình.

Trong lúc đang ở tù, đau đớn trước cái chết của con trai, Patricia phát hiện mình mang thai lần nữa. Tháng 2 năm 1990, cô sinh con trai thứ hai, David Jr. (DJ), nhưng ngay lập tức bé được đưa vào gia đình nhận nuôi do những cáo buộc chống lại cô.

Tháng 1 năm 1991, Patricia bị tuyên có tội giết người, và tháng 3, cô bị tù chung thân không ân xá.

Rồi một điều không thể xảy ra đã xảy ra. Tháng 3 năm 1990, DJ bắt đầu xuất hiện những triệu chứng y hệt Ryan: nôn mửa, khó thở và mệt lả. Bé được đưa gấp đến bệnh viện, và các xét nghiệm đưa ra chẩn đoán kinh ngạc: DJ mắc bệnh acidemia methylmalonic, một bệnh di truyền hiếm gặp có thể giống như triệu chứng ngộ độc chất chống đông.

Acidemia methylmalonica khiến cơ thể tích tụ các chất độc hại, trong đó có axit propionic, mà trong một số xét nghiệm có thể bị nhầm với ethylene glycol. Các xét nghiệm trước đó đã sai.

Luật sư bào chữa của Patricia cố gắng trình bày thông tin mới này trong phiên tòa, nhưng thẩm phán không chấp nhận, coi đó chỉ là trùng hợp. Tuy nhiên, sự thật cuối cùng được phơi bày khi bác sĩ William Sly, sau khi thấy vụ việc của Patricia trong chương trình Unsolved Mysteries, liên hệ với cơ quan chức năng và thúc đẩy xét nghiệm lại máu của Ryan.

Kết quả mới là chứng cứ không thể chối cãi: Ryan đã chết vì acidemia methylmalonic, không phải do ngộ độc chất chống đông.

Tháng 7 năm 1991, Patricia được thả khỏi tù, và tháng 9, các cáo buộc chống lại cô được hủy bỏ. DJ trở về với cha mẹ. Mặc dù Patricia đã bị giam gần hai năm, cuối cùng sự thật về cái chết của Ryan cũng được hé lộ.

Vụ án này đã phơi bày những sai sót nghiêm trọng trong hệ thống tư pháp và y tế, và cho thấy giả định cùng sự tin tưởng quá mức vào kết quả xét nghiệm có thể dẫn đến những sai lầm thảm khốc. Patricia Stallings không được hệ thống pháp luật cứu giúp; cô được cứu nhờ chẩn đoán bệnh hiếm gặp, một chương trình truyền hình và một nhà khoa học sẵn sàng đặt câu hỏi về những điều mà mọi người đều coi là chắc chắn.

Ngày nay, Patricia sống cuộc sống kín đáo bên gia đình, trong khi DJ, nay đã trưởng thành, vẫn kiểm soát bệnh của mình với điều trị thích hợp. Họ đã mất Ryan, nhưng sự thật đã trả lại tự do cho Patricia.

Vụ án vẫn là lời nhắc nhở rằng, đôi khi, sự khác biệt giữa tội lỗi và vô tội chỉ nằm ở một người dám tự hỏi: “Chúng ta có lẽ đã sai sao?”

Nguồn: Northwestern Pritzker School of Law Center on Wrongful Convictions (“Patricia Stallings”)

My Lan Phạm


 

Tôi đã mất 65 tỷ đô la cho vợ cũ của tôi (Bill Gates.)

Chuyện tuổi Xế ChiềuLộc Ninh +

 “Tôi đã mất 65 tỷ đô la cho vợ cũ của tôi, Melinda, trong phán quyết ly hôn, nhưng ly dị cô ấy là sự hối tiếc lớn nhất trong cuộc đời của tôi.

Nếu tôi có một cơ hội khác, tôi sẽ cưới lại vợ cũ của mình, Melinda Gates. Tôi không quan tâm tôi đã mất bao nhiêu tiền, cô ấy đáng giá hơn bạc vàng với tôi. Tôi vẫn khóc mỗi ngày khi nghĩ về cô ấy, bởi vì tôi không chỉ mất vợ trong cuộc ly dị đó. Tôi đã mất đi người bạn thân nhất của mình và là người duy nhất trên thế giới này thực sự biết tôi và yêu tôi vì chính tôi chứ không phải vì tiền của tôi.

Một trong những điều tuyệt vời nhất mà chúng tôi cùng tạo ra là con cái của chúng tôi và Quỹ Gates.

Chúng tôi vẫn là bạn và chúng tôi vẫn gặp nhau vì lũ trẻ. Nhưng tôi hy vọng cô ấy có thể cưới tôi một lần nữa và lấp đầy khoảng trống này trong trái tim tôi. Cô ấy không thể thay thế được. Tiền không mua được tình yêu và thậm chí, mất thêm 65 tỷ đô la nữa cũng không mua được tình yêu đích thực”.

~Bill Gates.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Chaque jour une histoire