VỊ LINH MỤC BỊ GIAM SUỐT 13 NĂM… KHÔNG MỘT BẢN ÁN…

Nguyễn Trung Hiếu 

Có một câu chuyện về Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận mà mỗi lần nhắc lại, người ta vẫn không khỏi xúc động.

Ngày 15/8/1975, khi đang là Tổng Giám mục phó Sài Gòn, Ngài bị bắt. Không một phiên tòa, không một bản án, và cũng không biết ngày nào mình sẽ được trở về.

Từ một vị mục tử đang tự do phục vụ giáo dân, Ngài bắt đầu những năm tháng dài sau song sắt. Một năm trôi qua… rồi nhiều năm nữa.

Tổng cộng 13 năm bị giam giữ, trong đó có những khoảng thời gian Ngài phải sống trong cảnh biệt giam và gần như bị tách khỏi thế giới bên ngoài.

Nhưng điều khiến câu chuyện này trở nên đặc biệt không nằm ở việc Ngài đã phải chịu đựng bao nhiêu, mà là cách Ngài đã sống trong những năm tháng ấy.

Khi không còn nhà thờ, Ngài vẫn tìm cách dâng Thánh lễ.

Khi không có những cuốn sách để đọc, Ngài cầu nguyện và suy niệm.

Khi không có những trang giấy đầy đủ, Ngài tận dụng từng mảnh giấy nhỏ để viết xuống những điều mình muốn gửi gắm.

Và giữa nơi tưởng như chỉ có bóng tối ấy, Ngài lại viết về một điều rất sáng: **hy vọng**.

Những dòng chữ nhỏ bé được viết trong tù sau này trở thành **Đường Hy Vọng**, tác phẩm gắn liền với tên tuổi của Ngài và trở thành nguồn nâng đỡ tinh thần cho rất nhiều người.

Có một điều thật nghịch lý: người đang bị giam cầm lại trở thành người giúp người khác tìm thấy tự do trong tâm hồn; người đang sống trong bóng tối lại viết về ánh sáng; người bị lấy đi tự do lại không ngừng nói với người khác rằng hãy hy vọng.

13 năm không phải là một khoảng thời gian ngắn. Đó là một phần rất dài của cuộc đời. Nhưng Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận đã không để những năm tháng ấy trở thành lý do khiến mình tuyệt vọng.

Ngài biến nhà tù thành nơi cầu nguyện, biến đau khổ thành chứng tá và biến những ngày tháng tưởng như vô nghĩa thành một hành trình sống trọn niềm tin.

Có lẽ vì thế mà câu chuyện về Ngài vẫn còn được nhắc lại cho đến hôm nay: “người ta có thể khóa một con người sau song sắt, nhưng không thể khóa được niềm tin, tình yêu và hy vọng mà người ấy mang trong trái tim”.

Nguồn ảnh: Internet


 

KHỞI TỐ NỮ CỰU CHỦ TỊCH HUYỆN Ở ĐỒNG NAI TỪNG BỊ LỪA HƠN 170 TỶ ĐỒNG

BBC News Tiếng Việt 

KHỞI TỐ NỮ CỰU CHỦ TỊCH HUYỆN Ở ĐỒNG NAI TỪNG BỊ LỪA HƠN 170 TỶ ĐỒNG

Bà Nguyễn Thị Giang Hương, cựu Chủ tịch UBND huyện Nhơn Trạch (cũ), tỉnh Đồng Nai, đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an khởi tố.

Đáng chú ý, bà Hương từng gây xôn xao dư luận khi được xác định là nạn nhân của một vụ lừa đảo công nghệ cao, với số tiền bị chiếm đoạt lên tới hơn 171 tỷ đồng vào năm 2024.

Theo Công ty TNHH MTV Thủy lợi Đồng Nai, nơi bà Hương đang công tác, ngày 2/10, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã đến trụ sở công ty làm việc và thông báo quyết định khởi tố bà Hương, được ban hành ngày 28/9.

Hiện Bộ Công an chưa công bố cụ thể sai phạm của bà Hương. Tuy nhiên, cơ quan điều tra cho biết việc khởi tố liên quan đến trách nhiệm của bà trong thời gian công tác tại UBND huyện Nhơn Trạch.

Trước đó, vào tháng 4/2024, bà Hương được cho là đã bị một nhóm lừa đảo giả danh cơ quan bảo vệ pháp luật đe dọa rằng bà “dính dáng đến pháp luật”, rồi yêu cầu bà mở tài khoản và chuyển tiền.

Chỉ trong vài ngày, nhóm này đã chiếm đoạt của bà hơn 171 tỷ đồng. Vụ án này đã khiến dư luận khi đó xôn xao.

VGP/BBC

#BBCNewsTiengViet #DongNai #NguyenThiGiangHuong #cuuchutichhuyen #khoito


 

DI THƯ LINH MỤC ANTÔN NGUYỄN HUYỀN ĐỨC – NGUYÊN BỀ TRÊN, VIỆN PHỤ ĐAN VIỆN THIÊN AN, HUẾ:

 Huong Duongthanh 

DI THƯ LINH MỤC ANTÔN NGUYỄN HUYỀN ĐỨC – NGUYÊN BỀ TRÊN, VIỆN PHỤ ĐAN VIỆN THIÊN AN, HUẾ:

Thư gửi cộng đoàn

Cha Bề Trên và Cộng Đoàn kính mến,

Đầu lá thư, con kính xin gửi lời hỏi thăm sức khỏe Cha Bề Trên và Cộng Đoàn. Con cũng chân thành gửi lời xin lỗi Cha Bề Trên và Cộng Đoàn do sự vắng mặt, im lặng của con trong suốt một thời gian dài vừa qua. Và, con cũng kính xin cám ơn những lời khích lệ, an ủi, sự thương yêu của Cha Bề Trên và Cộng Đoàn thể hiện cách này cách khác, đặc biệt là qua lời cầu nguyện dành cho con trong ngày lễ Mừng Bổn Mạng Thánh Antôn Padova.

Trong suốt thời gian vừa qua, sức khỏe của con rơi vào tình trạng suy yếu nghiêm trọng, đau đớn thể xác, cận kề với tử thần vì con đang đối diện với căn bệnh nan y – ung thư phổi giai đoạn cuối. Phổi bên trái của con bị trắng hoàn toàn – nghĩa là phổi bị tổn thương, xơ cứng và mất dần khả năng trao đổi oxy – và có một khối u ác tính lớn. Tế bào ung thư đã di căn vào xương và gan, có nguy cơ di căn tới não. Hiện nay, con đang “sống với” các triệu chứng như: mắt gần như bị mù vì mờ, răng bị mục, tóc rụng thành từng mảng, ho và sốt liên tục, đau tức ngực, khó thở, đau buốt các khớp xương, mệt mỏi…

Tại Đức, các bác sĩ đang điều trị cho con, giải thích nguyên nhân dẫn đến ung thư phổi: yếu tố di truyền (gia đình con không có ai có tiền sử về bệnh nan y này), hoặc hút thuốc (con không hút thuốc), hoặc những sự biến đổi “ngoại di truyền” do tác động bởi các chất hóa học. Lẽ đó, các bác sĩ suy đoán con bị ung thư phổi là do “đột biến gen” – sự biến đổi “ngoại di truyền” do tác động bên ngoài – và họ nghi ngờ con bị “đầu độc”.

Qua lá thư này, con muốn xin Cha Bề Trên và Cộng Đoàn cho con có đôi lời thân thương để được bày tỏ, chia sẻ câu chuyện của con như một thành viên của Cộng Đoàn:

Con được Cha Chủ Tịch giao trọng trách làm Giám quản tại Thiên An ba năm. Trong thời điểm này, nhiều biến cố thăng trầm, căng thẳng xảy ra khi con trực tiếp giải quyết vấn đề đất đai, tài sản của Đan viện với nhà cầm quyền. Vào dịp tết âm lịch 2016, trong cương vị Bề trên nhà dòng, con tiếp rất nhiều khách khứa tới thăm và chúc tết Đan viện. Có hai vị khách quen ngỏ ý pha cà phê và trà để mời con dùng, con đồng ý và cùng thưởng thức với họ. Ngay sau khi họ ra về, con lập tức cảm thấy rát buốt vùng cổ và đầu, nhức nhối trong xương tủy, cả hàm răng đau buốt và có hiện tượng bị mục, không thể đi lại được. Một người thân tín đã phải đưa con đi châm cứu trong một sự gắng gượng tột cùng. Tuy nhiên, trên đầu của con lại xảy ra hiện tượng tóc bị rụng một mảng lớn (đường kính 3cm). Trước những triệu chứng nguy hiểm này, người thân của con đã đề nghị con ra nước ngoài chữa trị. Sau đó, con đã xin phép Cha Chủ Tịch Bruno đương nhiệm được qua Châu Âu. Tại đây, các bác sĩ dõi theo bệnh tình của con và cũng nghi ngờ con bị “đầu độc”. Con chữa trị khoảng hơn 3 tháng, rồi trở về lại Thiên An.

Cuối năm 2017, bệnh tình của con không thuyên giảm và tiếp tục xuất hiện các triệu chứng: mục răng, đau nhức các khớp xương… nên con đành phải quay lại Đức chữa trị bệnh. Thời gian này, con kết thúc trọng trách Bề trên Giám quản tại Thiên An. Theo dự kiến, con sẽ về VN, nhưng vì nhiều lý do bị cản trở/ngăn trở nhạy cảm, con không thể về. Trong thời gian ở lại Châu Âu, con có ý định tiếp tục nghiên cứu kết thúc luận án mà con đã bỏ dở do trở về VN để tiếp quản nhiều công việc khó khăn của Đan viện. Nhưng tình trạng sức khỏe của con suy kiệt vì đau răng, đau nhức khắp người, cảm cúm và sốt liên tục hơn ba tháng liền mặc dù đã được các bác sĩ tận tình chăm sóc.

Vào năm 2018, tình trạng sức khỏe của con không được khả quan, các triệu chứng trên vẫn “đeo bám”, tóc trên đầu tiếp tục rụng một mảng lớn. Thế nhưng, con vẫn tìm mọi cách trở về Thiên An và đã mua vé máy bay để bay về VN. Trước khi rời Châu Âu về VN, con bị đau nửa người, bị tai biến và liệt nửa người bên phải, bắt buộc phải dùng nạng để di chuyển và tập vật lý trị liệu. Con buộc phải hủy lịch trình về lại VN.

Vào cuối tháng 03/2019, sức khỏe con tiếp tục suy sụp, các bác sĩ yêu cầu con làm các xét nghiệm cần thiết và cho kết quả: Rối loạn toàn bộ đường tiêu hóa từ thực quản đến trực tràng; Rối loạn tuyến thượng thận (chức năng chủ yếu giúp kiểm soát tình huống căng thẳng); Rối loạn niệu quản: bộ phận thuộc hệ tiết niệu dẫn nước tiểu từ bể thận xuống bàng quang (tắc nghẽn, sỏi niệu quản…); Thiếu vitamin và enzym (men, chất xúc tác sinh học có thành phần cơ bản là protein).

Tuy sức khỏe của con yếu kém nhưng con vẫn luôn mong mỏi được trở về VN và về với Cộng Đoàn. Do đó, con đã quyết định về lại VN vào trung tuần tháng 09/2019. Con từ Châu Âu về phi trường Hà Nội. Thầy Gioang và Thầy Cường đã tháp tùng con. Vừa về đến Hà Nội, con phải làm việc với Bộ Công An. Các công an viên cấp cao của Bộ yêu cầu con quay trở lại Châu Âu, vì họ sẽ không bảo đảm an toàn tính mạng của con khi ở VN, và sẽ hết sức bất lợi cho Cộng Đoàn Thiên An nếu như con ở lại Đan viện. Nhưng, con vẫn quyết tâm ở lại VN và về với Cộng Đoàn Thiên An. Tuy nhiên, trong thời gian này, sức khỏe của con kiệt quệ, toàn bộ thân thể mệt mỏi, rã rời, khó thở, đi lại rất khó khăn. Vì thế, con đành qua lại Châu Âu để chữa trị bệnh sau hơn 10 ngày ở Hà Nội.

Sau khi trở lại Đức, con bị khó thở, tức ngực, ho hen liên tục, mất ngủ triền miên. Con nhập viện. Các bác sĩ đã cho con làm thêm các xét nghiệm cần thiết như: xét nghiệm máu, xét nghiệm tóc, chụp citi,… Các xét nghiệm cho kết quả, con bị ung thư phổi giai đoạn cuối và nhiều triệu chứng bệnh khác. Phổi bên trái của con bị trắng hoàn toàn và có một khối u ác tính lớn. Tế bào ung thư đã di căn vào xương và gan, có nguy cơ di căn tới não. Mắt con bắt đầu bị mờ như bị mù, không thể nhìn thấy gì cả nên việc đi lại hết sức khó khăn, đêm không thể ngủ được vì các cơn ho kéo dài liên tục và sốt.

Các bác sĩ chữa trị cho con theo phác đồ: uống thuốc hằng ngày (250 EUR/1 ngày), 3 tuần thử máu/1 lần, 3 tháng chụp citi/1 lần. Cho đến thời điểm hôm nay, con đã điều trị được ba tháng, chi phí thuốc đặc trị của con lên đến 35000 EUR, con chưa tính viện phí, phương tiện đi lại… Về vấn đề ăn uống: con uống nước lọc để lọc chất độc theo phương pháp của người Nhật, không ăn thịt, không ăn đường, không ăn mỡ, đi dạo dưỡng sinh 5 tiếng/1 ngày.

Tạ ơn Chúa đã thêm sức, ban thêm nghị lực cho con, để con có thể vượt qua cơn đau thể xác do bệnh ung thư hoành hành trong tinh thần lạc quan. Qua biến cố thập tử nhất sinh này, con cảm nhận tình yêu quan phòng của Thiên Chúa vô bờ bến dành cho con quá nhiều hồng ân. Hiện nay con đang dần hồi phục sức khỏe, mắt con đã sáng lại, khối u ung thư bắt đầu nhỏ lại, tuy nhiên các khớp xương và cơ bắp vẫn bị đau buốt do tác dụng phụ của thuốc. Trong thời gian chữa trị bệnh hiểm nghèo, con đã được sự trợ giúp và yểm trợ từ Tòa Giám Mục Osnabrück; Hội Từ Thiện Malterse; Các bác sĩ bệnh viện Hamburg, Steven Niel, Fancicus Osnabrück và một số vị ân nhân.

Đứng trước bờ vực của sự chết, con luôn suy gẫm và hồi tưởng biến cố đau thương của Cộng Đoàn xảy ra vào cuối tháng 6/2017. Ngày ấy, chính con chứng kiến, Cây Thánh Giá bị giật sập và bị bẻ cong, Tượng Chúa Chịu Nạn bị đập gãy thành nhiều mảnh, Anh Em trong Cộng Đoàn bị đánh đập vì bảo vệ niềm tin Tôn Giáo. Các sự việc này báo hiệu cuộc đời của con sẽ bị bầm dập, dập nát và nát tương như Ngài. Sống trong những giây phút đớn đau của bệnh tật trên giường bệnh, khi chiêm ngắm Tượng Chúa Chịu Nạn bị vỡ nát không còn đôi mắt giống như đôi mắt của con bị mờ hẳn, không nhìn thấy được gì và gần như mù; Cạnh sườn Chúa bị dập nát giống như con oằn mình gồng gánh bệnh ung thư phổi; Hai cánh tay Chúa bị vỡ vụn và đôi chân Chúa bị vỡ làm đôi giống như con phải dùng nạng để đi lại sau cơn tai biến, liệt nửa người. Tạ ơn Chúa, muôn ngàn đời tạ ơn Chúa đã cho con có “cơ hội vàng” để thánh hóa nội tâm của chính con và “sống trong” mầu nhiệm hai chữ yêu thương “Thiên An”.

Thiên An đến nay đã 80 tuổi, đã và đang trải qua những thăng trầm và sẽ tiếp tục lộ trình này trong tương lai. Trong những năm diễm phúc con được làm Bề Trên Thiên An, nhiều lần con tiếp xúc với các cán bộ cao cấp của nhà nước Việt Nam, họ luôn luôn đặt câu hỏi với con: “tại sao các vị không cộng tác, không thỏa hiệp với nhà nước?”; Con trả lời: “Vì chúng tôi là Thiên An, chứ không phải Địa An”. Quả thật, bình an của trời cao là con đường Thập Giá, con đường Hiến Tế, con đường Sự Thật. Con kính cầu chúc Cha Bề Trên và Anh Em “chân cứng đá mềm” để giữ được “ngọn lửa Thiên An” mà Cộng Đoàn đã chọn.

Kính xin Cha Bề Trên và Cộng đoàn tiếp tục cầu nguyện cho con, để con có thể vui mừng hoan lạc, chấp nhận căn bệnh quái ác này như món quà Thiên Chúa tặng ban cho con cách đặc biệt.

Kính thư:

Con, Antôn Nguyễn Văn Đức


 

Người Mỹ sẽ phải trả hóa đơn về năng lượng đắt đỏ hơn vì chính sách của Trump

Ba’o Nguoi-Viet

October 5, 2026

WASHINGTON, DC (NV) – Các gia đình tại khu vực lục địa Hoa Kỳ sẽ phải chi thêm hàng ngàn đô la cho chi phí năng lượng từ nay đến năm 2040 do những thay đổi trong chính sách liên bang kể từ khi Tổng Thống Donald Trump trở lại nắm quyền, chẳng hạn như việc hủy bỏ các dự án năng lượng sạch mới.

Theo kết quả mô hình hóa do một tổ chức nghiên cứu phi đảng phái Energy Innovation công bố hôm Thứ Sáu, 2 Tháng Mười.

Trung tâm năng lượng Sand Hill của Austin Energy tại Austin, Texas. (Hình: Brandon Bell/Getty Images)

Phân tích của tổ chức Energy Innovation cho thấy các hộ gia đình sẽ phải trả thêm trung bình $6,500 tiền năng lượng, tính tổng cộng trong giai đoạn đến năm 2040. Tại năm tiểu bang, gồm Oregon, Mississippi, South Dakota, Virginia và Wyoming, mức chi phí tăng thêm này sẽ vào khoảng $9,000 mỗi gia đình.

Theo ABC News, tổ chức nghiên cứu có trụ sở tại California này nhận định rằng nhu cầu khí đốt tự nhiên để sản xuất điện sẽ tăng lên do chính quyền hủy bỏ các dự án mới về điện gió, điện mặt trời và hydro. Đồng thời, nhu cầu xăng dầu cho giao thông cũng sẽ tăng do ông Trump và Quốc Hội đang bãi bỏ các chính sách khuyến khích sử dụng xe tiết kiệm nhiên liệu và ít phát thải. Nhu cầu tăng cao sẽ đẩy giá cả lên mức cao hơn.

Giá năng lượng hiện đang ở mức cao tại nhiều quốc gia. Cơ Quan Năng Lượng Quốc Tế cho biết, sau khi Nga tiến hành cuộc tấn công vào Ukraine, mức giá kỷ lục đã được ghi nhận trong giai đoạn 2022–2024 tại Liên Minh Châu Âu, Vương quốc Anh, Nhật Bản và Hàn Quốc. Tại nhiều nước, bao gồm cả Liên Minh Châu Âu và Hoa Kỳ, tốc độ tăng giá này đã vượt xa mức tăng thu nhập và lạm phát kể từ năm 2019.

Ngoài ra, tại một số khu vực ở Mỹ, nhu cầu từ các trung tâm dữ liệu phục vụ cho công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) được cho là nguyên nhân dẫn đến tình trạng này. Cuộc xung đột liên quan đến Iran cũng đã đẩy giá dầu và xăng tăng mạnh. Cơ Quan Thông Tin Năng Lượng dự báo các gia đình tại Mỹ sẽ phải trả khoảng 18.6 cent cho mỗi kilowatt-giờ vào năm 2027, so với mức 17.3 cent vào năm 2025 và 18.2 cent vào năm 2026.

Mar Zepeda, giám đốc phụ trách mảng lập pháp của tổ chức Climate Justice Alliance, cho biết hóa đơn tiền điện của bà tại Washington, D.C. đã tăng thêm $200 trong Tháng Chín. Bà Zepeda cho rằng nguyên nhân nằm ở nhu cầu sử dụng điện của các trung tâm dữ liệu, đồng thời nhận định rằng các chính sách liên bang về “khả năng chi trả” chỉ càng làm trầm trọng thêm vấn đề này.

“Họ có thể gọi đó là chính sách bảo đảm khả năng chi trả, nhưng rốt cuộc là khả năng chi trả cho ai và phải đánh đổi bằng cái gì? Chắc chắn không phải là cho người dân bình thường,” bà Zepeda chia sẻ trong một email tới ABC News.

Mô hình dự đoán những thay đổi về chính sách liên bang sẽ làm tăng chi tiêu năng lượng hàng năm ở Oregon thêm $840 mỗi hộ gia đình vào năm 2035 và $1,200 mỗi gia đình vào năm 2040, với mức tăng tích lũy là $9,300 từ năm 2026 đến năm 2040, mức cao nhất so với bất kỳ tiểu bang nào, cũng theo ABC News. (KL) [kn]


 

 Khách du có còn tìm đến thành phố mộng mơ???

Nguoi-Viet

 Khách du có còn tìm đến thành phố mộng mơ???

Nhiều con đường tại “thành phố ngàn hoa” Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, hóa thành sông, có nơi ngập sâu đến 1 mét, trong cơn mưa to xảy ra vào chiều 4 Tháng Mười.

Theo tường thuật của báo Dân Trí và Sài Gòn Giải Phóng cùng ngày, tại phường Cam Ly, Đà Lạt, nước từ thượng nguồn đổ về suối Tô Ngọc Vân khiến mực nước dâng cao, tràn lên đường.

Đoạn đường ven suối từ La Sơn Phu Tử đến Hải Thượng bị ngập từ 20 cm đến 1 mét.

Cùng thời điểm, đường Hải Thượng gần suối Tô Ngọc Vân cũng ngập 70-80 cm, khiến nhiều xe hơi, xe gắn máy bị chết máy.

Trong khi đó, nước từ thượng nguồn đổ về khiến con hẻm bên đường Nguyễn Công Trứ, phường Lâm Viên, Đà Lạt, bị ngập từ 40-60 cm. Thậm chí tại đoạn đường Trần Quốc Toản, cạnh hồ Xuân Hương và sân golf Đồi Cù, phường Xuân Hương – Đà Lạt cũng xảy ra tình trạng ngập nặng, xe cộ phải “rẽ sóng” trên đường.

Theo báo VnExpress, ngoài Đà Lạt, một số khu vực khác tại tỉnh Lâm Đồng cũng bị ngập. 


 

Nhưng Hugh O’Flaherty vẫn tiếp tục bước qua

Những Câu Chuyện Thú Vị  – Duc Minh Danh

Viên sĩ quan Đức Quốc xã kẻ một vạch trắng và nói:

“Bước qua đó, chúng tôi sẽ bắn.”

Nhưng vị linh mục người Ireland vẫn không ngừng bước qua.

Herbert Kappler cho kẻ vạch trắng ngay lối vào Quảng trường Thánh Phêrô ở Rome. Đó là ranh giới chính xác giữa Thành Vatican và vùng lãnh thổ do Đức Quốc xã kiểm soát. Ông ta bố trí lính gác phía bên Ý với mệnh lệnh duy nhất:

nếu vị linh mục người Ireland bước qua, hãy bắn chết ông.

Nhưng Hugh O’Flaherty vẫn tiếp tục bước qua.

Ông lớn lên ở Killarney, hạt Kerry, là con trai của một người quản lý sân golf; bản thân ông cũng là một tay golf xuất sắc, từng chơi quyền anh, là người có thể lực mạnh mẽ và sức hút tự nhiên. Ông đến Rome năm 1922 để học làm linh mục, rồi ở lại, trở thành một nhà ngoại giao của Vatican từng phục vụ tại Ai Cập, Haiti, Santo Domingo và Tiệp Khắc.

Khi chiến tranh nổ ra, ông đã có 20 năm xem Rome là quê hương, thuộc từng con phố, từng ngõ hẻm, và có mối quan hệ với mọi tầng lớp xã hội.

Ông là kiểu linh mục có thể chơi golf với con rể của Mussolini, rồi sau đó lại đi nghe xưng tội trong một căn nhà đá do chính tay mình sửa sang.

Khi Ý tham chiến cùng phe Đức, vị thế của O’Flaherty rất đặc biệt:

Ireland trung lập. Vatican là quốc gia có chủ quyền.

Về mặt lý thuyết , ông gần như không thể bị động tới.

Trong những năm đầu chiến tranh, ông thường xuyên đến các trại tù binh trên khắp nước Ý, thăm hỏi lính Đồng minh và gửi tin tức về gia đình họ thông qua Đài phát thanh Vatican.

Rồi đến tháng 9 năm 1943, Ý đổi phe. Đức tràn vào chiếm đóng. Trong hỗn loạn, hàng ngàn tù binh Đồng minh được lính Ý thả ra rồi bỏ đi bỗng trở thành những người bị truy lùng trên vùng đất do Đức chiếm đóng.

Họ nhớ đến vị linh mục Ireland cao lớn, vui vẻ từng đến trại tù của họ.

Và họ tìm đến ông.

Ông không xin phép.

Không chờ phê duyệt.

Ông đơn giản là bắt đầu tìm chỗ trú ẩn cho họ ngủ qua đêm.

Ông có mối quan hệ ở khắp nơi:

  • giới quý tộc Rome có phòng trống
  • các linh mục có tầng hầm
  • các nữ tu có tu viện
  • cả những du kích cộng sản không cùng đức tin nhưng cùng căm ghét phát xít Đức

Một trong những nơi trú ẩn đầu tiên thậm chí nằm ngay cạnh trụ sở SS địa phương. Và dường như ông còn thấy điều đó khá hài hước.

Mạng lưới của ông ngày càng lớn. Một đại tá Anh tên Sam Derry giúp quản lý hậu cần. Vợ của đại sứ Ireland chuyển tiền và tin tức. Điệp viên Pháp, quý tộc Thụy Sĩ, các tù binh vượt ngục rồi quay lại cứu người khác tất cả đều tham gia.

Ông giấu binh lính trong các căn hộ khắp Rome, liên tục luân chuyển họ. Ông nuôi họ bằng mạng lưới quyên góp. Ông giấu người Do Thái. Ông giấu những người Ý chống phát xít. Ông giấu bất kỳ ai mà quân Đức muốn giết.

Khi Gestapo xác định ông là người đứng sau những vụ mất tích ấy, họ không thể động đến ông trong Vatican. Vì vậy Kappler cho kẻ vạch trắng tử thần và cho lính mai phục.

Ban đầu O’Flaherty gặp người liên lạc trên bậc thềm Quảng trường Thánh Phêrô vẫn là đất Vatican nên an toàn.

Rồi ông vẫn bước ra ngoài.

Ông cải trang thành:

  • người khuân than, mặt bôi đen
  • công nhân quét đường
  • người đưa thư
  • thậm chí có lần là một nữ tu

Thân hình cao lớn khiến ông khó che giấu, nhưng sự thông thuộc các con hẻm Rome và lòng gan dạ phi thường đã bù lại tất cả.

Ông nhiều lần bị dồn vào góc và vẫn trốn thoát. Người của Kappler giăng rất nhiều bẫy công phu.

Đều thất bại.

Có một kế hoạch là bắt cóc ông ngay trong lúc làm lễ, kéo qua vạch trắng rồi bắn chết, sau đó nói rằng ông cố chạy trốn. May mắn thay, một nhà ngoại giao Đức có cảm tình đã báo cho ông kịp lúc.

Kappler treo thưởng 30.000 lire cho cái đầu của ông.

Nhưng O’Flaherty vẫn tiếp tục.

Đến tháng 6 năm 1944, khi quân Mỹ giải phóng Rome, mạng lưới của ông đã cứu sống 6.500 người lính Đồng minh, người Do Thái, dân thường và du kích.

Ông được trao:

  • Huân chương Tự do của Quốc hội Mỹ
  • tước Chỉ huy Đế quốc Anh
  • huân chương từ Ý và từ Giáo hoàng

Ông nhận tất cả rồi gửi về cho em gái ở Ireland, nói rằng mình không làm điều đó vì huy chương.

Phương châm của ông rất đơn giản:

“Chúa không thuộc về quốc gia nào.”

Rồi đến chương cuối cùng.

Cũng là phần kỳ lạ nhất.

Herbert Kappler ,kẻ từng ra lệnh thảm sát 335 thường dân Ý tại hang Ardeatine năm 1944, tội ác chiến tranh tồi tệ nhất trên đất Ý bị kết án tù chung thân.

Ông ta viết thư cho O’Flaherty, người mà mình từng tìm mọi cách giết chết, và hỏi liệu ông có đến thăm không.

O’Flaherty đã đến.

Và ông tiếp tục đến, tháng này qua tháng khác, trong nhiều năm. Là người khách duy nhất của Kappler. Họ nói về tôn giáo, văn học, và có lẽ về mọi điều mà hai con người từng muốn hủy diệt nhau sẽ nói khi tất cả đã qua.

Kappler xin được gia nhập Giáo hội Công giáo.

Năm 1959, chính Đức ông Hugh O’Flaherty đã làm phép rửa tội cho người từng treo giá mạng mình.

Năm sau, ông bị đột quỵ và trở về Ireland nghỉ hưu. Ông qua đời tại Cahersiveen, County Kerry, năm 1963. Cái chết của ông lên trang nhất New York Times. Có tới 8 triệu người xem tập chương trình This Is Your Life của ông trên BBC.

Tại Killarney, đài tưởng niệm của ông khắc dòng chữ mà ông đã sống cả đời để minh chứng:

“Chúa không thuộc về quốc gia nào.”

Đó chính là Hugh O’Flaherty.

Không phải người đứng an toàn sau vạch trắng.

Mà là người liên tục bước qua nó để cứu những người xa lạ, đánh cược mọi thứ, và cuối cùng tha thứ cho điều tưởng như không thể tha thứ.

Ông không chỉ cứu những thân xác.

Ông còn cứu cả những linh hồn.

Kể cả linh hồn của chính kẻ đã cố giết mình nhất.

Theo Remember The Past


 

BẬC QUÂN TỬ RỜI CÕI NHÂN GIAN

Patrick Lew Hayashi – PLB–Công Giáo Rôma

Nội dung do AI tạo

BẬC QUÂN TỬ RỜI CÕI NHÂN GIAN

(Nguyễn Bình Phương)

Một số người khi rời khỏi cuộc đời không để lại phía sau chỉ một khoảng trống, mà để lại một cách sống khiến người ở lại phải suy nghĩ. Thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương, một học giả xuất thân từ truyền thống Nho học và đã gặp gỡ Đức Kitô, là một con người như thế. Có lẽ điều đẹp nhất nơi thầy không nằm ở chỗ thầy đã biết bao nhiêu, mà ở chỗ những điều đã học cuối cùng đã trở thành một phong thái sống.

Một người xuất thân từ truyền thống Nho học, khi gặp Đức Kitô, không nhất thiết phải vứt bỏ tất cả những gì mình đã nhận được từ cha ông. Trái lại, nơi một tâm hồn đã được chuẩn bị bởi Nho học, Tin Mừng có thể được đón nhận không như một thứ xa lạ, mà như một ánh sáng mới soi vào những khát vọng sâu xa vốn đã có trong lòng người.

Nho gia nói đến người quân tử biết kính Trời, tu thân, trọng nghĩa, giữ mình và sống có trách nhiệm với tha nhân. Kitô giáo nói đến con người biết phó thác nơi Thiên Chúa, sống trong sự thật và yêu thương tha nhân. Hai bên dĩ nhiên không phải là một, và không thể giản lược Công giáo vào Nho giáo. Nhưng nơi một con người cụ thể, những giá trị nhân bản có thể gặp nhau, đối thoại với nhau và cùng hướng con người về một đời sống cao hơn chính mình.

Có lẽ vì thế mà nơi thầy Nguyễn Khắc Dương, người ta dễ nhận ra dáng dấp của một bậc quân tử hiếm hoi còn sót lại trong thời đại AI, nhưng là một quân tử đã đi qua cửa ngõ của Tin Mừng.

Không phải thứ quân tử của danh vọng, mà là quân tử của sự tự chủ. Không phải cái cao ngạo của người có học, mà là sự khiêm nhường của người càng biết nhiều càng ý thức mình còn nhỏ bé trước chân lý. Không phải sự cứng cỏi của một người luôn muốn bảo vệ cái tôi, mà là sự bình thản của người đã học được cách đặt mình xuống.

Một người từng học triết ở Sorbonne có thể trở thành một học giả. Nhưng một người có thể sống giản dị, khiêm cung và gần gũi đến mức nhiều người nhớ về thầy trước hết như một người cha tinh thần, đó lại là một chuyện khác. Bởi tri thức, nếu chỉ làm con người biết nhiều hơn, vẫn chưa đủ. Tri thức chỉ thật sự trở nên cao quý khi nó làm con người biết sống tốt hơn.

Có lẽ đây mới là điểm sâu nhất nơi cuộc đời thầy: tri thức cuối cùng không làm con người trở nên lớn hơn người khác, mà làm người ta nhỏ lại trước sự thật.

Càng hiểu biết, càng biết mình không phải là trung tâm của vũ trụ. Càng học nhiều, càng phải học cách lắng nghe. Càng đi xa trên con đường tư tưởng, càng nhận ra rằng có những câu hỏi mà lý trí có thể mở ra nhưng không thể tự mình khép lại.

Và ở đó, triết học gặp đức tin.

Không phải bằng một cuộc tranh luận thắng thua, mà bằng một đời người.

Thầy Nguyễn Khắc Dương đã sống giữa nhiều thế giới: giữa Đông và Tây, giữa Nho học và Kitô giáo, giữa triết học và đời sống, giữa giảng đường và đời sống tu trì, giữa một thế kỷ đầy biến động và một tâm hồn ngày càng đi vào thinh lặng. Chính vì đã đi qua nhiều thế giới ấy mà thầy trở thành một nhịp cầu tự nhiên giữa những con người vốn dễ nghĩ rằng mình thuộc về những thế giới khác nhau.

Có một điều rất đẹp trong truyền thống Nho gia: người quân tử không chỉ lo thành đạt, mà lo thành nhân. Và có lẽ Kitô giáo cũng đặt trước con người một câu hỏi tương tự, nhưng ở một chiều kích sâu hơn: con người sẽ trở thành ai trước mặt Thiên Chúa?

Nếu vậy, cuộc đời thầy Nguyễn Khắc Dương có thể được đọc như một hành trình rất dài của một con người đi tìm chân lý, nhưng cuối cùng nhận ra rằng chân lý không chỉ là điều để hiểu, mà còn là điều để sống.

Ngày 28 tháng 9 năm 2026, sau hơn một thế kỷ hiện diện giữa cuộc đời, thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương đã trở về với Chúa. Thầy vừa bước sang tuổi 102 được mấy ngày.

Một thế kỷ đủ dài để chứng kiến biết bao đổi thay của đất nước, của Giáo hội, của học thuật và của chính những hệ tư tưởng từng tưởng như sẽ tồn tại mãi mãi. Nhưng cuối cùng, những thứ ấy rồi cũng đi qua. Chức danh rồi cũng qua, học vị rồi cũng qua, một thời đại rồi cũng qua.

Điều còn lại là một con người.

Một người đã mang trong mình hồn cốt của một gia đình Nho học, bước qua triết học Tây phương, gặp Đức Kitô và sống phần đời còn lại trong âm thầm kiếm tìm Thiên Chúa.

Bởi thế, gọi thầy là một học giả có lẽ vẫn chưa đủ. Gọi thầy là một người Công giáo cũng chưa đủ. Có lẽ phải gọi thầy bằng một chữ rất cũ mà thời nay chúng ta ít dùng: quân tử.

Không phải quân tử của bảng vàng, áo mũ hay danh phận, mà là quân tử của tu thân, trọng nghĩa, kính Trời và sống tử tế giữa cõi nhân gian.

Và khi chữ “quân tử” ấy được soi sáng bởi Tin Mừng, nó không còn chỉ là lý tưởng của một nền đạo học, mà trở thành một lời mời gọi con người sống đẹp trước mặt Thiên Chúa.

Thầy đã đi qua cõi nhân gian như thế.

Âm thầm, Thanh bạch, Khiêm nhường.

Để rồi khi thầy rời cõi nhân gian, điều khiến người ta nhớ không chỉ là một học giả uyên bác, một giáo sư của nhiều vị giám mục và của cả một thời đại, hay một con người đã sống hơn một thế kỷ. Người ta nhớ một bậc quân tử đã đi qua những biến động của thời cuộc mà vẫn giữ được cốt cách của mình.

Và có lẽ đó cũng là câu hỏi thầy để lại cho những người còn ở lại: sau cùng, một đời người được đo bằng những gì mình đã sở hữu, hay bằng con người mà mình đã trở thành?

(Facebook Nguyễn Bình Phương) 


 

Bài giảng trong thánh lễ an táng thầy Stéphanô Nguyễn Khắc Dương của Linh mục Fx. Nguyễn Tiến Dưng, AA.

Thanh Nguyen

Bài giảng trong thánh lễ an táng thầy Stéphanô Nguyễn Khắc Dương

của Linh mục Fx. Nguyễn Tiến Dưng, AA.

Trong bài thơ SỞ NGUYỆN, Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương viết:

“Hành giả dừng chân tạm vỉa hè,

Tấm thân đất chở với trời che.

Cảm người bươn chải vòng cơm áo,

Thương người bôn ba nhịp ngựa xe.

Trần sắc mười phương đau đớn thấy,

Thế âm bốn cõi xót xa nghe.

Bao giờ cát bụi hoàn nguyên thể,

Nguyện lót chân êm khách vỉa hè.”

Công tội trông nhờ cây khổ giá,

Vui buồn ký thác chuỗi Mân Côi”

Đọc những vần thơ trên, ta có cảm giác mình bước từ triết lý Trung Hoa sang triết lý nhà Phật và cuối cùng là triết lý Ki-tô giáo. Từ “tấm thân đất chở với trời che”, ta nghe vọng về triết lý vũ trụ quen thuộc “cha trời-mẹ đất”, trời cho mưa xuống và đất nảy mầm, con người như một hữu thể hình thành từ tương tác âm-dương. Qua “nhịp ngựa xe”, “trần sắc mười phương đau đớn thấy”, “thế âm bốn cõi xót xa nghe” hình như là tiếng ai oán đau lòng của nhà Phật, nơi vẫn quan niệm “đời là bể khổ”. Sang “cát bụi hoàn nguyên thể, nguyện lót chân êm khách vỉa hè”, ta nhớ về mầu nhiệm sáng tạo từ bùn đất trong sáng thế ký -hởi người hảy nhớ mình là bụi tro và mai ngày sẽ trở về tro bui” và  ý nghĩa dấn thân một cách vô vị lợi của kiếp nhân sinh nơi Ki-tô giáo “nguyện lót chân êm khách vỉa hè”, để rồi tìm được sự cứu độ nơi “cây khổ giá” , qua sự chuyển cầu của Đức Trinh nữ Maria, mà sau này thầy diễn tả một cách rõ ràng hơn trong bài thơ “Ave Maria”: “Ave Maria, Mẹ là chiếc mâm vàng đôi đũa ngọc, con là rau hèn cỏ mọn tiến dâng lên, và cỏ mọn rau hèn nên đẹp mắt, Đâ’ng muôn trùng khấn nhận đời con”.

Cộng đoàn Phụng vụ thân mến,

Người đang nằm giữa chúng ta trong những giây phút ly biệt này được nhiều người yêu mến và kính trọng từ đáy lòng. Người thì gọi thầy là nhà tư tưởng, triết gia, thậm chí là thần học gia. Người khác lại cho rằng thầy là một thầy giáo uyên thâm với những suy tư độc đáo. Những ai quan tâm đến hội nhập văn hóa thì lại nhìn nơi thầy như là sự kết tinh, hội tụ độc đáo của tư tưởng Đông-Tây, lương duyên tuyệt đẹp giữa tinh hoa của văn hóa như là hoa trái của Hạt giống Ngôi Lời và Đức tin Ki-tô giáo. Những ai quan tâm đến đời sống tu trì thì xem thầy là bậc chân tu, dù thầy không còn khác lên mình áo cà-sa hay tà áo dòng.

Nhưng đối với Thầy Stéphanô Nguyễn Khắc Dương, Thầy tự ví mình như một hành giả, một kẻ truy tìm chân lý của đời mình và cho đời mình. Và rồi, nhờ hồng ân Thiên Chúa, Thầy đã gặp được được Đấng Thầy mong đợi. Tuy nhiên, để đến với chân lý này, Thầy đã phải chấp nhận những cuộc “tử đạo” trong đời thường. Bài đọc thứ nhất trích sách Tông Đồ Công Vụ kể về cách thức Stépano, vị thánh bổn mạng của Thầy, chịu tử đạo. Người thầy yêu quý của chúng ta không bị những hòn đá vật lý ném vào thân thể vốn luôn gầy gò, phải bị điệu ra khỏi thành Giesusalem. Nhưng để chọn lựa Đức Ki-tô, trái tim của Thầy có lẽ cũng có lúc đã rướm máu. Như chúng ta đã biết, sinh ra trong một gia đình Nho Giáo nên từ nhỏ, thầy Khắc Dương không mấy thiện cảm với Kitô giáo, thậm chí là khinh thường đạo này. Tuy nhiên, vì thi trượt vào trường Quốc Học ở Huế, nên Thầy vào học trường Thiên Hữu, nơi thầy đã có cơ hội tìm hiểu về Đạo và lãnh nhận bí tích Rửa tội ngày 9 tháng giêng năm 1949, tại nhà thờ Nghĩa Yên, Giáo phận Vinh và nay là Hà Tĩnh. Việc trở thành người Kitô hữu của thầy đã gặp sự chống đối rất lớn từ gia đình và dòng họ, nhất là mẹ của thầy. Bà mẹ chất vấn thầy rằng: “Ông bà tổ tiên của mày có tội gì, mà mày phải cúi đầu cho người ta rửa tội nguyên tổ?, Tội của mày là tội bất hiếu, tội này có cạo hết tóc trên đầu cũng không sạch được, vậy chỉ một chút nước trên đầu thì sao mà rửa sạch được chứ”. Cứ đặt chúng ta vào hoàn cảnh của thầy, một người hết lòng yêu mẹ mới hiểu được nỗi đau của thầy. Chính thầy cũng biết rằng mẹ hết mực yêu mình. Tình yêu của người mẹ đã làm cho bà có lúc cũng tự vấn: “Biết đâu địa ngục, thiên đường là đâu?”. Cũng như Đức Giê-su, thầy đã chọn cách “băng qua giữa họ mà đi”. Băng qua những dị nghị, băng qua những tập tục, băng qua triết lý nhà nho mà cả gia đình đang theo đuổi để đến với Đức Ki-tô. Thầy không dừng lại ở việc vào Đạo, nhưng hành giả của chúng ta đã chọn con đường triệt để qua ba lời khấn vâng lời, khó nghèo và khiết tịnh như Đức Ki-tô đã sống qua các dòng tu như Phan-xi-cô, Biển Đức và Carmel. Ai cũng biết về “niềm vui tu trì” theo cách nói của Giáo hoàng Phan-xi-cô, nhưng ai cũng hiểu đi tu là một cuộc tử đạo thường nhật, nếu người ta sống đúng căn tính tu trì: nhân đức sạch sẽ như lưỡi gươm đâm vào con tim vì trái tim máu thịt vốn luôn muốn yêu và được yêu, nó đâm thẳng vào thịt gia khi thân xác nổi loạn với những ước muốn của xác thịt vốn được tạo thành như thế; nhân đức vâng lời như mũ gai đội lên đầu vì con người luôn muốn ngẩng cao đầu với khuynh hướng muốn tự chủ tuyệt đối; nhân đức khó nghèo như giấm chua được đưa lên thập giá vì bản chất con người muốn sở hữu những gì cần thiết cho mình. Với một con người suy nghĩ chẳng giống ai, luôn đi ra ngoài những mô phạm suy tư truyền thống, một hành giả thích lang thang trên dòng đời thì chắc chắn những kỷ luật của dòng tu là những viên đá không dễ dàng đón nhận. Và mỗi lần chọn lựa ra hay vào là một lần trái tim rướm máu. Việc theo Stéphano sống đời tử đạo lớn nhất có lẽ là sau biến cố 1975. Một giáo sư danh tiếng về triết học, văn học của Đà Lạt và Sài gòn từ nay được những người tự mệnh danh là “đỉnh cao của trí tuệ” cho đi “cải tạo”. Hơn bao giờ hết, con người này cảm thấy đói và rét. Một người theo thích ăn phô-ma với bánh mì nóng cùng chút rượu vang đỏ từ nay bị dạ dày kêu gào. Hơn bao giờ hết, chính giai đoạn này, giai đoạn cho thầy hiểu thế nào là mầu nhiệm Thập giá đã cắm vào kiếp nhân sinh. Lâu nay, thầy rao giảng về thập giá, nhưng lúc này, thầy mới thật sự sống mầu nhiệm thập giá. Đặc biệt, nơi đây thầy thật sự theo Đức Ki-tô và Stêphanô, không một chút oán thù: “Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng lầm chẳng biết”. Những ai đã gặp thầy trong giai đoạn này thực sự cảm mến cung cách của hành giả Khắc Dương, một môn đệ của Đức Ki-tô chịu đóng đinh. Hôm nay suy tư về điều này, ta mới thấy rõ Thập giá đã nở hoa. Chính nơi vùng đất Bình Thuận mà thầy bị tù đày, thì cũng chính mãnh đất này đã ôm ấp thầy những năm tháng cuối đời nhờ sự chăm sóc tận tình của anh em Tu Đoàn Bác Ái Chúa Ki-tô Tôi Tớ. Và mãnh đất cải tạo ngày xưa nay đã mở ra đón nhận thân xác của thầy. Nếu đường đi của hành giả thật lắm chông gai, thì con đường ân sủng quan phòng luôn diệu kì gấp bội.

Con đường hành giả đi không chỉ về mặt địa lý, từ miền quê Hương Sơn tới Đức Thọ rồi ra thành phố Vinh; Từ Vinh của miền Bắc vào Nha Trang của miền Nam thời đất nước còn chia cắt; từ đông rồi sang Tây, từ miền quê đến Kinh Thành Ánh Sáng, nhưng là con đường rong ruỗi chọn lựa. Chính thầy đã có lần lý giải về việc “bỏ” gia đình để theo Đạo: “Nho Giáo là một tôn giáo dành cho người tri thức, sống thanh cao và sống “trên” người khác; không dành cho người bình dân. Phật Giáo thì quan niệm rằng “đời là bể khổ, nên phải tránh đời, tự bản thân tìm sự giải thoát cho riêng mình. Còn Kitô giáo thì ngược lại, Chúa Giêsu vốn là Con Thiên Chúa nhưng đã bước vào đời, sống như một người nghèo, chia sẻ thân phận làm người của con người, vui niềm vui của con người, đau nỗi đau của phận người và yêu con người một cách say đắm đến nỗi sẵn sàng chết vì yêu con người… Đây là một tôn giáo gần với con người, gắn liền với con người, là đạo của tình yêu…”. Ki-tô giáo không phải là “thuốc phiện ru ngủ con người” như ai đó từng nói. Việc tin vào Thiên Chúa Tạo Dựng đã thúc đẩy con người tiếp tục sáng tạo để làm cho thế giới này đẹp hơn; biến cố Đức Ki-tô nhập thể trong xác phàm làm cho con người tôn trọng thân xác, sống trọn vẹn kiếp người hơn; biến cố phục sinh trong thân xác mở ra một hy vọng cho vĩnh cửu rằng sự sống chiến thắng sự chết. Khi Stêphanô nhìn lên trời cao, ngài đã nhìn thấy Đức Ki-tô đứng bên hữu Thiên Chúa. Đây là một quan niệm hoàn toàn mới mẻ của Ki-tô giáo. Thông thường, ở các triều đình, vua chúa và các quan lại thường ngồi để xét xử. Nhưng Đức Ki-tô đã đứng, đứng như người chủ sẵn sàng thắt lưng để hầu hạ. Thiên Chúa của chúng ta đứng, đứng để đón nhận, đứng để phục vụ con người và hôm nay Ngài đứng để đón Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Để đi đến cửa trời, hành giả thân yêu của chúng ta đã theo một Đức Ki-tô không có nơi gối đầu như những môn đệ đầu tiên mà bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe đã kể lại. “Chim có tổ, chồn có hang, còn Con Người không có nơi gối đầu”. Quả thực, Đấng sáng tạo muôn loài đã chấp nhận lệ thuộc. Đấng Tòan Năng đã nằm bất động cho thụ tạo đóng đinh. Trên Thập giá, Đức Giê-su đã không có nơi tựa đầu. Ngài gục đầu trao ban Thần Khí. Hay nói đúng hơn, Ngài tựa đầu vào cung lòng của Chúa Cha. “Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha”. Một nghĩa nào đó, người thầy đáng kính của chúng ta cũng không có nơi gối đầu. Thầy không có nhà cao, cửa rộng. Với bộ quần áo nâu giản dị, thầy lang thang đây đó. Hai nơi tạm trú dài nhất là Tu Hội Bác Ái Bình Triệu và Tu Đoàn Bác Ái Chúa Ki-tô tôi tớ. Nhà tạm của thầy là trái tim của những học trò, nhà vĩnh hằng của thầy là cung lòng Thiên Chúa. Khi thời cuộc không cho phép, thầy đi dạy các nhóm tu chui. Thầy đến rồi thầy lại đi. Góc xó nào thầy cũng ngủ được. Thầy như là người cha. Nhiều khi giữ luôn vai trò người mẹ. Điều xem ra nghịch lý là thầy không có nơi gối đầu, nhưng thầy lại là một nhip cầu tìm nơi gối đầu cho người khác. Ai cô đơn thầy nâng đỡ; ai thất tình thầy ủi an; ai túng thiếu thầy cho ít tiền; ai học giỏi thầy cho cuốn sách; ai thất nghiệp thầy giới thiệu việc làm, ai muốn tu trì thầy gửi gắm một nhà dòng phù hợp.

Có lẽ việc không có nơi gối đầu đã giúp thầy thanh thoát, nhẹ bước ra đi đây đó theo chân Đức Ki-tô. Con người này không còn đóng khung trong tu viện để gặp Thiên Chúa nơi mỗi người và mọi người, “giữa chợ đời trưa sớm” như cách viết của thầy. Hành giả này không còn theo chuẩn mực giờ kinh phụng vụ, để có thể gặp Chúa mọi lúc, mọi nơi, vào giờ ta không ngờ, vào nơi ta không nghĩ. Vì thế, khi ta hẹn gặp thầy ở một nhà thờ nào hay một nhà dòng nào thì ta thường thấy thầy đến trước và quỳ ở một góc nguyện đường với tràng hạt trong tay.

Dù dấn thân như Thiên Chúa đã dấn thân trong lịch sử nhân loại để làm cho thế giới này linh thiêng và nhân bản và đáng sống hơn theo kiểu “nguyện lót chân êm khách vỉa hè”, nhưng hành giả của chúng ta tin vào sức mạnh của ân sủng, của Thập giá. Với thầy, tự độ là điều bất khả thể. Khi một con bò rơi xuống giếng, cần phải có ai đó đưa nó lên. Ngay cả sự khôn Ngoan của con người, vốn là ân huệ của Thiên Chúa sáng tạo, cũng có thể lệch lạc vì nó bị chi phối bởi nguyên tội cũng như sự hữu hạn của con người. Vì thế phải cần đến mặc khải thần linh, cần đến cây Thập tự. Chỉ có máu của Con chiên vẹn sạch mới xóa tội trần gian. Chỉ có Đấng từ trời xuống mới đưa con người từ đất lên trời. Chỉ có Đấng vô hạn mới kéo con người ra khỏi hữu hạn. Chỉ có Đấng vĩnh hằng mới bảo tồn sự sống. Chỉ có Đấng hằng sống mới cho con người được mãi mãi trường tốn. Chỉ có Đấng sống lại trong bản thể người mới cho thân xác con người được phục sinh từ cõi chết. Với thầy, sự dữ đã thực sự đi vào thế gian với muôn màu sắc thái, ví như đam mê tiền bạc thì ghê gớm, nhưng tình yêu của Thiên Chúa lớn lao vô tận. Ở đây ta cũng bắt gặp nghịch lý nội tại nơi con người của thầy. Thầy từ bỏ vật chất và thầy xem “tiền bạc là thánh thể của ma quỷ”, nhưng thầy lại hôn lên tờ dollar, nếu ai đó biếu thầy đồng bạc xanh. Phải kể đến một vài yếu đuối như thế để nói rằng hành giả của chúng ta vẫn rất người. Có lẽ cũng chính điều này mà thầy rất say mê câu nói của Charles Péguy: “Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng nên con từ bùn đất, xin Ngài đừng mỉm cười khi con sa chút bụi trần”!

Hôm nay chúng ta trả “cát bụi về nguyên thể”, để “lót chân êm khách vỉa hè”, đồng thời trả hồn thiêng về với vòng tay của Đấng Từ Bi đúng vào ngày lễ thánh Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su, một vị thánh mà thầy yêu quý. Xin Chúa ẳm Thầy vào lòng. Xin Cha cho hành giả lang thang tìm Cha trên cỏi đời được gặp lại Cha. Xin cho người không có nơi gối đầu này được tựa vào lòng Cha, bây giờ và mãi mãi muôn đời, nhờ lời bầu cử của Đức Trinh Nữ Maria, như thầy đã viết:

“Ave Maria

Trái tim Mẹ là nguyện đường mầu nhiệm,

Nơi hồn con chiêm ngưỡng Chúa Tình Yêu”.


 

Bắt Cóc Xuyên Quốc Gia — Thủ Tướng Úc Đã Lên Tiếng

Chau Doan 

Bắt Cóc Xuyên Quốc Gia — Thủ Tướng Úc Đã Lên Tiếng

Ngày 18/9, hai ông Trần Hiệp và Nguyễn Đức Thuận mất liên lạc tại Campuchia — đúng đêm trước giờ họ lên máy bay. Mười ngày sau, Bộ Công an công bố: bắt quả tang nhập cảnh trái phép, khởi tố tội khủng bố.

Sáng nay, Thủ tướng Úc Anthony Albanese lên tiếng: chính phủ đang hỗ trợ lãnh sự cho công dân của mình. Không còn là chuyện riêng giữa một tổ chức lưu vong và công an nữa.

Tôi chỉ ra một lỗi trong cáo trạng: là thành viên của một tổ chức không đồng nghĩa với việc thực hiện hành vi khủng bố. Phải chứng minh mục tiêu, kế hoạch, phương tiện cụ thể. Đến nay, không có gì được công bố.

Và tôi đặt vụ này cạnh những vụ trước — có vụ đã được cả một chính phủ châu Âu xác nhận là bắt cóc.

Tôi nói đủ trong video. Link ở bình luận đầu.


 

Tiểu sử tóm lược thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương

Linh Mục Mi Trầm

Tiểu sử tóm lược thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương

Sinh: ngày 24/9/1925, tại Hương Sơn, Hà Tĩnh, trong một gia đình Nho học nổi tiếng. Thân phụ là Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm. Thầy là em của bác sĩ, nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện, và anh của GS Nguyễn Khắc Phi, nhà văn Nguyễn Khắc Phê.

Thuở nhỏ học tại Trường Thiên Hựu (Providence), Huế.

Giai đoạn 1945–1949, thầy từng tham gia một thời gian trong các hoạt động xã hội và Đội Tuyên truyền Việt Minh Trung Bộ, sau đó trở về dạy học.

Năm 1949, thầy lãnh nhận Bí tích Rửa tội, chọn thánh Stêphanô làm bổn mạng. Đây là bước ngoặt rất lớn trong cuộc đời tìm kiếm đức tin của thầy.

1950–1954: vào tu học với Dòng Phanxicô tại Vinh, sau đó tiếp tục tu học tại Nha Trang.

Sau một thời gian thi hành nghĩa vụ quân sự, thầy trở lại đời sống tu trì.

1956–1965: sang Pháp học tập, tiếp tục tu học và học Triết học tại Đại học Sorbonne. Thầy tốt nghiệp Cử nhân Triết học. Điểm này cần lưu ý: một số nơi gọi thầy là “tiến sĩ” hoặc “giáo sư”, nhưng các nguồn nghiên cứu cho biết thầy không có bằng tiến sĩ; danh xưng “giáo sư” chủ yếu xuất phát từ quá trình giảng dạy và uy tín học thuật.

Những năm giảng dạy tại Đà Lạt

Sau khi trở về Việt Nam cuối năm 1965, thầy giảng dạy tại một số cơ sở Công giáo ở Sài Gòn rồi Viện Đại học Đà Lạt.

Tại đây, thầy từng giữ vai trò Trưởng Ban Triết học và quyền Trưởng khoa Văn – Triết, đồng thời được mời giảng tại một số đại học khác. Rất nhiều thế hệ sinh viên, linh mục và tu sĩ từng là học trò của thầy.

Điều đặc biệt là học trò thường gọi ông một cách kính trọng là “Thầy Nguyễn Khắc Dương”, dù về mặt học hàm chính thức ông không phải là giáo sư do Nhà nước phong.

Một cuộc đời tìm kiếm Thiên Chúa

Điểm nổi bật nhất trong cuộc đời thầy không chỉ là chuyện học hành hay giảng dạy, mà là một hành trình dài đi tìm ý nghĩa cuộc đời và chân lý đức tin.

Một nghiên cứu về cuộc đời thầy nhận xét rằng nơi Nguyễn Khắc Dương luôn có một sự thao thức, khao khát và tìm kiếm; cuối cùng, thầy tìm thấy ý nghĩa và niềm vui của đời mình trong Đức Giêsu Kitô.

Sau năm 1975, cuộc sống của thầy trải qua nhiều giai đoạn khác nhau: có thời gian ở Đà Lạt, làm việc tại Lâm Đồng, tiếp tục giảng dạy và sau này dành nhiều thời gian cho việc viết hồi ký, nghiên cứu và hướng dẫn triết học cho các chủng sinh, tu sinh.

Những năm cuối đời, thầy sống tại Tu đoàn Anh Em Bác Ái Chúa Kitô Tôi Tớ thuộc Giáo phận Phan Thiết.

Qua đời

Ngày 24/9/2026, thầy vừa mừng sinh nhật 102 tuổi.

Đến 20g15 ngày 28/9/2026, thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương qua đời, chỉ bốn ngày sau khi bước sang tuổi 102.

Theo Internet


 

SAU TUỔI 60 CÓ MỘT KIỂU “GIÀU CÓ”  MÀ TIỀN NHIỀU CHƯA CHẮC MUA ĐƯỢC

Ds Lê Tiện

Sau tuổi 60:

Có người tài khoản rất nhiều tiền…

nhưng bước đi phải có người dìu.

Có người nhà rất rộng…

nhưng đêm nằm mãi không ngủ được.

Có người con cháu thành đạt…

nhưng trong lòng lúc nào cũng nặng trĩu.

Và cũng có những cô bác cuộc sống rất giản dị…

Nhưng sáng tự mình thức dậy.

Tự đi bộ.

Tự ăn uống.

Tự chăm sóc bản thân.

Tối ngủ một giấc tương đối yên.

Gặp con cháu còn cười vui.

Theo DS. Lê Tiện, đó mới là một kiểu “giàu có” rất đáng quý của tuổi già.

  1. GIÀU SỨC KHỎE: MUỐN ĐI ĐÂU VẪN TỰ ĐI ĐƯỢC

Sau tuổi 60, đôi chân khỏe đôi khi quý hơn một chiếc xe đẹp.

Vì xe có thể mua.

Nhưng khả năng tự đứng lên khỏi ghế, tự bước lên cầu thang, tự đi chợ, tự tắm rửa…

Nếu đã mất đi, muốn lấy lại không hề dễ.

Cô bác đừng chỉ hỏi:

“Cholesterol của tôi bao nhiêu?”

Hãy hỏi thêm:

“Cơ chân của tôi còn khỏe không?”

“Tôi có đứng lên ngồi xuống dễ dàng không?”

“Tôi có đi bộ 20–30 phút mà không quá mệt không?”

Tuổi già giữ được khả năng tự lập là một tài sản rất lớn.

  1. GIÀU MỘT GIẤC NGỦ YÊN

Có những người cả đời kiếm tiền.

Đến khi có tiền rồi lại chỉ mong một điều rất đơn giản:

Đặt lưng xuống là ngủ được.

Không trằn trọc tới nửa đêm.

Không 2–3 giờ sáng thức giấc rồi nhìn trần nhà.

Không sáng dậy với cái đầu nặng trĩu.

Một giấc ngủ ngon không chỉ giúp cô bác dễ chịu hơn.

Nó còn liên quan đến trí nhớ, tâm trạng, huyết áp, chuyển hóa và sức khỏe tim mạch.

Sau tuổi 60, ngủ được tương đối yên đã là một loại phúc.

  1. GIÀU KHẢ NĂNG TỰ CHĂM SÓC MÌNH

Có thể tự ăn.

Tự tắm.

Tự mặc quần áo.

Tự đi vệ sinh.

Tự nhớ lịch thuốc.

Tự quyết định những việc quan trọng của đời mình.

Những việc khi trẻ ta thấy quá bình thường…

Đến một ngày mới hiểu:

Đó chính là tự do.

Vì vậy, đừng đợi đến lúc yếu mới nghĩ đến chuyện giữ cơ, giữ xương, giữ thăng bằng và giữ trí nhớ.

Hãy bắt đầu khi mình vẫn còn khỏe.

  1. GIÀU NHỮNG MỐI QUAN HỆ ẤM ÁP

Sau tuổi 60, cô bác không cần quá nhiều người bên cạnh.

Chỉ cần vài người thật lòng.

Một người có thể ngồi ăn cùng mình.

Một người để gọi điện khi buồn.

Một người sẵn sàng hỏi:

“Hôm nay mình có khỏe không?”

Tiền có thể thuê người chăm sóc.

Nhưng tiền không dễ mua được sự quan tâm thật lòng.

Vì thế, khi còn có thể…

Hãy đối xử tử tế với bạn đời.

Gần gũi với con cháu.

Giữ vài người bạn cũ.

Và đừng vì một chuyện nhỏ mà đánh mất một mối quan hệ đã đi cùng mình hàng chục năm.

  1. GIÀU MỘT CÁI TÂM NHẸ

Đây có lẽ là kiểu giàu khó nhất.

Có nhà đẹp mà lòng bất an thì vẫn mệt.

Có tiền nhiều mà ngày nào cũng so đo, giận dữ, tiếc nuối thì vẫn khổ.

Càng lớn tuổi, DS. Lê Tiện càng thấy:

Có những chuyện thắng cũng chẳng để làm gì.

Một lời nói cũ.

Một người từng làm mình phật ý.

Một chuyện xảy ra từ mười năm trước.

Nếu giữ mãi trong lòng…

Người mệt nhất vẫn là mình.

Tuổi già đẹp nhất không phải là không có chuyện buồn.

Mà là mình đã học được cách:

Chuyện đáng nhớ thì giữ.

Chuyện không đáng thì buông.

SAU TUỔI 60, “GIÀU” KHÔNG CHỈ NẰM TRONG TÀI KHOẢN

Mà còn là:

Chân còn khỏe để đi.

Tay còn khỏe để làm.

Đầu óc còn minh mẫn để tự quyết.

Đêm còn ngủ được.

Nhà còn tiếng người thân.

Và lòng mình còn đủ nhẹ để mỉm cười.

Nếu cô bác đang có phần lớn những điều này…

Xin đừng coi đó là chuyện bình thường.

Đó là một gia tài.

Và quan trọng hơn:

Gia tài này phải được chăm sóc mỗi ngày.

Ăn uống điều độ một chút.

Tập cơ mỗi ngày một chút.

Đi bộ vừa sức một chút.

Ngủ sớm hơn một chút.

Bớt giận một chút.

Thương mình nhiều hơn một chút.

Có thể cô bác không trở thành người giàu nhất.

Nhưng hoàn toàn có thể trở thành một người giàu sức khỏe, giàu bình an và giàu những năm tháng đáng sống.

Nếu thấy bài viết này đáng để nhắc mình, cô bác hãy lưu lại.

Và thử tự hỏi một câu:

“Ở tuổi của mình hôm nay, tôi đang giàu nhất ở điều gì?”


 

Chuyện xưa: Hạng Vũ và Lưu Bang

 Câu hỏi:

Hạng Vũ đánh với Lưu Bang, khi chiếm được thành nào, Hạng Vũ cũng đã  giết luôn cả đàn bà và con nít (trẻ con)? Có đúng không?

Gemeni trả lời:

Thông tin này hoàn toàn chính xác. Trong lịch sử Trung Quốc (đặc biệt là cuốn Sử Ký của Tư Mã Thiên), Hạng Vũ nổi tiếng là một vị tướng cực kỳ tàn bạo với chính sách “đồ thành” (tàn sát sạch sẽ toàn bộ người trong thành khi chiếm được).

Khác với Lưu Bang dùng chính sách thu phục lòng người (hứa “ước pháp tam chương”, không quấy nhiễu dân), Hạng Vũ lại nhiều lần tàn sát cả binh lính hàng phục lẫn dân thường, phụ nữ và trẻ em mỗi khi gặp sự kháng cự.

Dưới đây là các lần “đồ thành” tàn khốc điển hình của Hạng Vũ được sử sách ghi nhận:

  1. Đồ thành Tương Thành (năm 208 TCN)

Khi Hạng Lương và Hạng Vũ đánh Tương Thành, người trong thành chống trả dữ dội. Sau khi hạ được thành, vì tức giận, Hạng Vũ đã ra lệnh chôn sống toàn bộ quân dân trong thành, không phân biệt già trẻ gái trai, không để sống sót một ai.

  1. Đồ thành Thành Dương (năm 207 TCN)

Trong cuộc tiến quân đánh Tần, Hạng Vũ đánh chiếm Thành Dương và tiếp tục ra lệnh đồ thành, tàn sát sạch sẽ dân chúng trong vùng.

  1. Đồ thành Dĩnh Dương (năm 207 TCN)

Khi tiến đánh Dĩnh Dương, quân dân ở đây không chịu hàng ngay. Sau khi công phá được thành, Hạng Vũ lại ra lệnh thảm sát toàn bộ cư dân trong thành.

  1. Chôn sống 20 vạn hàng binh Tần ở Tân An (năm 206 TCN)

Sau khi tướng Tần là Chương Hàm đầu hàng, Hạng Vũ dẫn 20 vạn hàng binh Tần tiến về Hàm Dương. Vì lo sợ tù binh nổi loạn khi vào đất Tần, Hạng Vũ đã cho quân đêm tối bao vây và chôn sống toàn bộ 20 vạn hàng binh Tần tại Tân An.  

danviet

  1. Tàn phá và tàn sát ở Hàm Dương (năm 206 TCN)

Khi tiến vào kinh đô Hàm Dương của nhà Tần:

  • Mặc dù Tử Anh (vua Tần) đã ra hàng Lưu Bang từ trước, Hạng Vũ vẫn ra lệnh giết Tử Anh và toàn bộ hoàng tộc nhà Tần.
  • Cho quân lính cướp phá, tàn sát dân chúng, đốt sạch cung điện Áp Phòng (ngọn lửa cháy suốt 3 tháng mới tắt).
  1. Thảm sát người dân nước Tề (năm 205 TCN)

Khi đánh nước Tề (Điền Vinh), sau khi giành chiến thắng, Hạng Vũ đã cho san phẳng thành quách, đốt phá nhà cửa, chôn sống tất cả binh lính Tề hàng phục, bắt làm nô tỳ và tàn sát rất nhiều phụ nữ, trẻ em, người già. Hành động này tàn bạo đến mức khiến người dân nước Tề uất hận, đồng lòng đứng lên tiếp tục chống lại Hạng Vũ.

Nguyên nhân và hậu quả

  • Tâm lý trả thù và uy hiếp: Hạng Vũ dùng sự tàn bạo như một vũ khí tâm lý để đe dọa các thành khác phải đầu hàng ngay lập tức mà không dám kháng cự.
  • Mất lòng thiên hạ: Chính sách “đồ thành” giết hại cả phụ nữ, trẻ em và hàng binh đã làm cho quân dân khắp nơi căm phẫn. Đây là nguyên nhân cốt lõi khiến Hạng Vũ dần mất đi sự ủng hộ của dân chúng và giới sĩ phu, dẫn đến thất bại cay đắng trước Lưu Bang trong cuộc tranh hùng Hán – Sở.

 Ghi chú:

Hạng Vũ (Tây Sở Bá Vương) sinh năm 232 TCN và mất năm 202 TCN. Ông hưởng thọ khoảng 30 tuổi.

Lưu Bang (Hán Cao Tổ) sinh năm 256 TCN (hoặc 247 TCN theo một số ghi chép khác) và mất năm 195 TCN, hưởng thọ khoảng 62 tuổi