Ông đã bị đưa vào bệnh viện tâm thần ba lần…

Chuyện tuổi Xế ChiềuLộc Ninh +

 Ông đã bị đưa vào bệnh viện tâm thần ba lần trước khi trở thành một trong những tác giả bán chạy nhất thế giới. Cuốn sách nổi tiếng nhất của ông đã bán được hơn 150 triệu bản và được dịch ra hơn 80 ngôn ngữ.

Ông từng bị trói vào bàn và phải chịu những cú sốc điện. Khi ấy, ông chỉ là một thiếu niên mà “tội lỗi” duy nhất là muốn trở thành nhà văn thay vì luật sư. Cha mẹ ông, vì lo lắng, cho rằng trí tưởng tượng và sự sáng tạo của con trai là dấu hiệu của bệnh tâm thần nên đã đưa ông vào bệnh viện tâm thần tới ba lần.

Thế nhưng nhiều thập kỷ sau, chính người đàn ông ấy đã ngồi trước một tờ giấy trắng và chỉ trong mười bốn ngày đã viết nên một cuốn sách làm thay đổi cuộc đời của hàng triệu người.

Tên ông là Paulo Coelho, và câu chuyện của ông là minh chứng rằng những người chỉ trích chúng ta gay gắt nhất đôi khi lại sai hoàn toàn về tương lai của chúng ta.

Năm 1988, Paulo đã dồn hết tâm huyết vào một câu chuyện ngụ ngôn giản dị kể về hành trình của một chàng chăn cừu trẻ tuổi đi tìm ước mơ của mình qua sa mạc. Ông đặt tên cho cuốn sách ấy là The Alchemist (Nhà Giả Kim).

Ông biết cuốn sách này có điều gì đó rất đặc biệt, nhưng giới xuất bản lúc bấy giờ lại không hề quan tâm.

Nhà xuất bản đầu tiên phát hành cuốn sách đã nhìn nó nằm phủ bụi trên các kệ sách. Doanh số quá thấp nên họ quyết định ngừng phát hành và trả lại bản quyền cho tác giả.

Người ta nói với ông rằng tác phẩm của ông là một thất bại hoàn toàn.

Nhiều người có lẽ đã từ bỏ vào thời điểm đó. Xét cho cùng, những “chuyên gia” đã lên tiếng. Nhưng Paulo đã từng sống sót sau những liệu pháp sốc điện thực sự; một lá thư từ chối không thể khiến ông bỏ cuộc.

Ông tin sâu sắc vào thông điệp cốt lõi của cuốn sách mình:

“Khi bạn thực sự khao khát một điều gì đó, cả vũ trụ sẽ hợp sức giúp bạn đạt được nó.”

Ông từ chối từ bỏ.

Paulo tìm được một nhà xuất bản thứ hai sẵn sàng trao cho ông cơ hội. Và rồi một điều kỳ diệu đã xảy ra. Thành công không đến nhờ những chiến dịch quảng cáo tốn kém. Cuốn sách phát triển chậm rãi, gần như trong im lặng.

Một người đọc nó, cảm thấy trái tim mình thay đổi và giới thiệu cho một người bạn.

Người bạn ấy lại giới thiệu cho người khác.

Dần dần, những lời truyền miệng nhỏ bé ấy đã trở thành một làn sóng mạnh mẽ.

Cuốn sách đã vượt ra khỏi những con phố của Brazil để đến với mọi ngóc ngách trên thế giới.

Ngày nay, Nhà Giả Kim là một trong những cuốn sách được yêu thích nhất trong lịch sử. Nó đã bán được hơn 150 triệu bản và được dịch ra hơn 80 ngôn ngữ.

Người ta có thể bắt gặp cuốn sách này trên bàn làm việc của những nhà lãnh đạo quyền lực nhất thế giới, cũng như trong ba lô của những sinh viên nghèo không có nhiều tiền.

Nếu Paulo nghe theo cha mẹ mình, có lẽ ông đã sống cả đời như một luật sư bất hạnh.

Nếu ông nghe theo nhà xuất bản đầu tiên, kiệt tác của ông có thể đã biến mất mãi mãi.

Thay vào đó, ông chọn tin vào tiếng nói bên trong mình.

Ông đã cho thế giới thấy rằng thất bại thực sự duy nhất chính là không dám bắt đầu hành trình hoặc bỏ cuộc ngay khi ai đó nói với bạn rằng bạn không thể.

Những khó khăn mà bạn đang trải qua hôm nay không phải là sự trừng phạt.

Chúng chỉ là sự chuẩn bị cho những điều tốt đẹp đang chờ đợi bạn ở phía trước.

Hãy tiếp tục bước đi, vì thế giới vẫn đang chờ được nghe câu chuyện của chính bạn. 


 

Việt Nam bị Mỹ áp thuế thương mại mới (BBC)

(BBC)

Tổng thống Mỹ Donald Trump và Đại diện Thương mại Mỹ Jamieson Greer (phải) – người chỉ đạo cuộc điều tra thương mại đối với Việt Nam – tại một cuộc họp báo ở Nhà Trắng tháng 2/2026

Việt Nam nằm trong nhóm 60 đối tác thương mại sẽ bị chính quyền Tổng thống Donald Trump áp thuế thương mại mới, ngay sau khi mức thuế tạm thời 10% áp dụng trong 150 ngày hết hiệu lực.

Mức thuế mới, từ 10% đến 12,5%, sẽ được áp dụng từ 0 giờ 01 ngày 25/7 theo giờ miền Đông nước Mỹ, theo thông báo đăng trên Công báo Liên bang ngày 24/7.

Đại diện Thương mại Mỹ Jamieson Greer nói Mỹ đã cấm nhập khẩu hàng hóa sản xuất bằng lao động cưỡng bức trong gần một thế kỷ và đã đến lúc các đối tác thương mại cũng thực hiện nghiêm túc các quy định tương tự.

Theo quyết định cuối cùng, Việt Nam nằm trong số các nước sẽ chịu mức thuế 12,5%.

Các mức thuế mới được áp dụng theo Điều 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974, với lý do nhiều đối tác chưa thực thi đầy đủ các lệnh cấm nhập khẩu hàng hóa sản xuất bằng lao động cưỡng bức.

Chính quyền Mỹ cho biết các mức thuế mới sẽ bao phủ 99,4% hàng nhập khẩu vào Mỹ, nhưng miễn trừ đối với nhiều mặt hàng, bao gồm dầu khí, phân bón, một số thực phẩm và các sản phẩm đã chịu thuế theo Điều 232 vì lý do an ninh quốc gia như ô tô, thép, nhôm và đồng.

Hàng hóa đáp ứng các quy định của Hiệp định Thương mại Mỹ-Mexico-Canada (USMCA) cũng được miễn thuế.

Hàng hóa từ Argentina, Bangladesh, Anh, Campuchia, Canada, Ecuador, El Salvador, Guatemala, Honduras, Ấn Độ, Indonesia, Jordan, Malaysia

Mexico, Pakistan, Sri Lanka và Trinidad và Tobago sẽ chịu thuế 10%.


 

‘Luật To Đẹp’ của Trump đặt 41 tiểu bang trước nguy cơ mất một phần food stamp

Ba’o Nguoi-Viet

July 23, 2026

Mai Phi Long/Người Việt (tổng hợp)

WASHINGTON, DC (NV) – Kể từ Tháng Bảy, 2025, đến Tháng Hai, 2026, khi bắt đầu áp dụng “Luật To Đẹp” (One Big Beautiful Bill) của Tổng Thống Donald Trump đánh dấu bằng việc 3.5 triệu người bị mất các tài trợ thực phẩm qua chương trình SNAP, hay quen gọi là food stamp, theo phân tích của trung tâm Center On Budget and Policy Priorities (CBPP), một viện nghiên cứu chính sách phi đảng phái.

Giữa lúc người dân Mỹ vất vả đối mặt với chi phí thực phẩm, xăng và những nhu yếu phẩm ngày càng cao, hệ quả từ cuộc chiến Iran và chính sách đánh thuế hàng nhập cảng (tariffs), giờ lại chồng thêm tình trạng ngặt nghèo khi “Luật To Đẹp” dần dần có hiệu lực.

Bảng thông báo nhận trả bằng food stamp tại một tiệm bán thực phẩm ở Miami, Florida. (Hình: Joe Raedle/Getty Images)

Theo tường thuật của KTLA và AP, có một con số lạnh lùng rằng 41 tiểu bang đứng trước nguy cơ mất một phần ngân khoản SNAP vì tỷ lệ sai sót vượt 6%, vốn chỉ chín tiểu bang đạt dưới mức này trong tài khóa 2025. 

Luật One Big Beautiful Bill quy định các tiểu bang vượt ngưỡng sai sót 6% phải tự trả từ 5% đến 15% chi phí trợ cấp, bắt đầu sớm nhất từ Tháng Mười, 2027. Luật đặt hóa đơn trước cửa tiểu bang và buộc họ tìm tiền, cắt chương trình khác hoặc loại người đang thụ hưởng ra khỏi SNAP.

Trump áp dụng mức 6% chưa từng có tiền lệ

Mức giới hạn 6% không phải phát minh của chính quyền Tổng Thống Donald Trump. Trước năm 2025, đây là tiêu chuẩn kiểm soát hành chính khi tiểu bang có tỷ lệ sai sót từ 6% trở lên phải nộp kế hoạch sửa chữa, nếu tiếp tục để sai sót cao kéo dài có thể chịu mức chế tài riêng. 

Tuy nhiên, tiền trợ cấp SNAP vẫn do chính phủ liên bang chi trả 100%. Mốc 6% khi ấy chủ yếu là chiếc đèn báo động buộc tiểu bang sửa hệ thống, chứ chưa phải đồng hồ tính tiền trên toàn bộ trợ cấp. 

Luật One Big Beautiful Bill biến chiếc đèn báo động thành hóa đơn. Từ tài khóa 2028, tiểu bang sai sót từ 6% đến dưới 8% phải trả 5% chi phí SNAP; từ 8% đến dưới 10% phải trả 10%; từ 10% trở lên phải trả 15%. Đây là lần đầu Washington chuyển một phần chi phí quyền lợi SNAP sang tiểu bang dựa trực tiếp trên tỷ lệ sai sót. Cùng lúc, phần chi phí điều hành mà tiểu bang phải gánh tăng từ 50% lên 75% bắt đầu từ tài khóa 2027.

Nghịch lý là muốn giảm sai sót, tiểu bang cần thêm nhân viên và hệ thống điện toán; nhưng Washington lại giảm kinh phí. Khi vừa thiếu tiền vừa bị đe dọa phải trả hàng trăm triệu đô la, con đường rẻ nhất có thể làm là tạo khó khăn thêm khiến ít người đạt đủ tiêu chuẩn để được ở lại trong chương trình hơn.

Sai sót không đồng nghĩa với gian lận

“Payment error rate” không phải tỷ lệ gian lận nhưng bao gồm cả việc trả thừa tiền lẫn trả thiếu tiền. Nguyên nhân có thể là người nhận khai báo sai, lợi tức chưa cập nhật, nhân viên tính nhầm, hồ sơ thiếu hoặc quy định quá phức tạp. 

Cơ Quan Nghiên Cứu Quốc Hội nhấn mạnh đây không phải thước đo gian lận vì các hoạt động mua bán trái phép quyền lợi SNAP tại cửa hàng được đo bằng chỉ số khác.

Cho nên việc dùng toàn bộ tỷ lệ sai sót để tạo cảm giác người nghèo “ăn gian” là đánh tráo khái niệm.

Một gia đình được trả thiếu cũng làm tỷ lệ tăng. Một hồ sơ bị tiểu bang tính sai cũng làm tỷ lệ tăng. Nhưng hậu quả có thể rơi xuống người hội đủ điều kiện mà không đủ khả năng đi qua “một núi giấy tờ.” 

Các chuyên gia được CNBC phỏng vấn cho biết người dân đang mất trợ cấp vì không liên lạc được, giấy tờ không được duyệt hoặc đơn bị từ chối sai.

SNAP duy trì ổn định kinh tế

Chương trình SNAP giúp hơn 42 triệu người mua thực phẩm mỗi tháng với khoảng 70% người thụ hưởng là trẻ em, người cao niên hoặc người khuyết tật. Chương trình mang tính “tỷ lệ nghịch” là khi kinh tế suy yếu thì số người thụ hưởng tăng, kinh tế phục hồi thì nhu cầu giảm. 

Bởi vậy, SNAP phải đáp ứng theo thực trạng từng tiểu bang, chứ không thể bị đóng khung bằng mục tiêu tiết kiệm cố định từ Washington.

Về kinh tế vĩ mô, tiền SNAP được tiêu gần như ngay lập tức tại chợ, siêu thị và cửa hàng địa phương. Theo Giáo Sư Sara Bleich, khoa kinh tế của trường Đại Học Harvard, mỗi $1 SNAP tạo ra khoảng $1.50 đến $1.80 trong chu trình hoạt động kinh tế, hỗ trợ việc làm bán lẻ và lợi tức của nông dân. SNAP còn giảm thiếu an ninh thực phẩm, giảm nghèo và hạ chi phí y tế. Cắt SNAP không chỉ lấy đi thức ăn nhưng rút sức mua khỏi những cộng đồng nghèo, nơi mỗi Mỹ kim được “xoay vòng nền kinh tế” nhanh nhất.

Các trung tâm phát thực phẩm miễn phí (ngân hàng thực phẩm/food bank) không thể thay thế SNAP: cứ một bữa ăn do ngân hàng thực phẩm cung cấp thì SNAP cung cấp chín bữa. Kêu gọi từ thiện lấp chỗ trống là chuyển nghĩa vụ quốc gia sang các tổ chức dân sự không đủ nguồn lực.

Cắt gần $187 tỷ trước, rồi để nhu cầu thực tế tự xoay xở

Cần nói chính xác rằng luật không ghi mỗi tiểu bang phải cắt theo hạn ngạch để tổng cộng đúng $187 tỷ. Đây là con số Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội ước tính mức chi liên bang cho các chương trình trợ cấp thực phẩm, tăng dinh dưỡng giảm trong 10 năm, khoảng $186.65 tỷ. 

Nhưng cấu trúc luật được xây dựng trong tiến trình cân đối ngân sách để tạo khoản tiết kiệm ấy, qua yêu cầu làm việc, thu hẹp điều kiện hội đủ, hạn chế cách tính trợ cấp, chuyển chi phí sang tiểu bang và giảm ngân khoản điều hành.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng nhu cầu SNAP không phát sinh theo lịch trình “tiết kiệm” của các dân cử Cộng Hòa tại Quốc Hội mà thay đổi theo tình trạng thất nghiệp, tiền thuê nhà, giá thực phẩm, thiên tai, sức khỏe và mức lương địa phương. 

Trung tâm CBPP ghi nhận số người nhận SNAP giảm mạnh trong khi tỷ lệ thất nghiệp gần như đứng yên quanh mức 4% cho thấy rất khó kết sự suy giảm xảy ra là vì người dân bớt cần trợ giúp.

Cơ Quan Ngân Sách Quốc Hội (CBO) dự đoán riêng cơ chế bắt tiểu bang chia sẻ chi phí có thể khiến khoảng 300,000 người mất SNAP trong một tháng trung bình và ảnh hưởng quyền lợi dinh dưỡng của khoảng 96,000 trẻ em. Các thay đổi về giới hạn thời gian làm việc được dự đoán làm giảm khoảng 2.4 triệu người tham gia mỗi tháng trong giai đoạn 10 năm.

Cắt thức ăn giữa lúc giá cả và chiến phí tăng

Vào Tháng Sáu, 2026, giá tiêu thụ tại Mỹ cao hơn một năm trước 3.5%; giá thực phẩm tăng 3%, năng lượng tăng 15.7% và xăng tăng 26.7%. Chiến tranh Iran và gián đoạn quanh eo biển Hormuz không phải nguyên nhân duy nhất của lạm phát, nhưng đã tạo thêm cú sốc dầu khí và đẩy giá xăng trung bình tại Mỹ vượt $4 một gallon trong Tháng Bảy.

Trong khi đó, Bộ Quốc Phòng cho biết chiến tranh Iran tiêu tốn khoảng $37.5 tỷ tính đến ngày 21 Tháng Bảy và xin thêm $67.1 tỷ. 

Hạ Viện do Đảng Cộng Hòa lãnh đạo vừa thông qua đề nghị ngân sách $95 tỷ, trong đó $60 tỷ dành cho Ngũ Giác Đài và $13 tỷ cho các nhu cầu an ninh khác. 

Không thể nói mỗi Mỹ kim cắt khỏi SNAP được chuyển thẳng sang một trái hỏa tiễn; ngân sách liên bang không vận hành bằng cách đánh dấu từng đồng đô la. Nhưng sự đối chiếu cho thấy thứ tự ưu tiên: tiền chiến tranh được gọi là khẩn cấp, còn tiền cho bữa ăn của trẻ em lại bị đặt dưới phép thử sai sót hành chính. 

SNAP giúp hơn 42 triệu người mua thực phẩm mỗi tháng với khoảng 70% người thụ hưởng là trẻ em, người cao niên hoặc người khuyết tật. (Hình minh họa: Joe Raedle/Getty Images)

“Bán cái” cho tiểu bang để Washington thoái thác nghĩa vụ 

Mục tiêu công khai của chính quyền ông Trump là buộc tiểu bang chịu trách nhiệm với việc chống lãng phí và bảo vệ người đóng thuế. Nhưng cơ chế này còn “bán cái” cho tiểu bang qua việc Washington đặt tiêu chuẩn, giảm tài trợ kinh phí rồi chuyển hóa đơn xuống dưới. 

Nếu tiểu bang phải tăng thuế, cắt giáo dục, giảm dịch vụ khác hoặc siết SNAP để cứu đói cho cư dân thì chính phủ liên bang đổ hô rằng “đó là lựa chọn của tiểu bang.”

Đây cũng là cách cắt chương trình mà không phải công khai tuyên bố sẽ lấy thức ăn của hàng triệu người. Một lá thư thất lạc hoặc tài liệu không tải được lên mạng có thể dẫn đến kết quả cắt trợ cấp cho một cư dân đứng trước nguy cơ đói ăn.

Cũng không thể nói một khoản SNAP cụ thể trực tiếp trả cho một khoản giảm thuế cụ thể. Tuy nhiên, đáng đề cập đến là các chương trình dành cho người lợi tức thấp bị cắt trong cùng đạo luật kéo dài nhiều ưu đãi thuế cá nhân và doanh nghiệp, gồm khấu hao nhanh, khấu trừ chi phí nghiên cứu và ưu đãi đối với lợi tức kinh doanh. 

Phân tích của CBO cho thấy gia đình thuộc 10% lợi tức thấp nhất mất trung bình khoảng $1,214 nguồn lực mỗi năm, trong khi 10% cao nhất được thêm khoảng $13,622 và nhóm giàu nhất nhận gần 64% tổng mức gia tăng nguồn tài chính. Đó là bằng chứng rõ về chiều phân phối của đạo luật cắt từ thành phần phía dưới dồn lên trên. (Congressional Budget Office)

“To Đẹp” với người giàu, khắc nghiệt với người đói

Tên gọi One Big Beautiful Bill nghe như một lời quảng cáo bóng bẩy. Nhưng với gia đình trong hoàn cảnh tài chánh chật vật phải chọn giữa tiền thuê nhà, thuốc men và thực phẩm, vẻ “đẹp” ấy rất khó nhìn thấy. 

Với học sinh nghèo mất con đường tự động vào bữa ăn miễn phí, với người cao niên phải chứng minh lại từng giấy tờ, và với tiểu bang bị đặt giữa tăng thuế và cắt trợ cấp. Luật “To” này không hề “Đẹp.”

Điều mỉa mai là nhiều cử tri lợi tức thấp tiếp tục bỏ phiếu cho những chính trị gia với khẩu hiệu đầy mỹ từ về bảo tồn giá trị văn hóa, duy trì bản sắc nhưng thực tế làm ngân sách theo hướng có lợi nhất cho người giàu và đại công ty. 

Không phải là họ thiếu hiểu biết, nhưng cái bẫy quá tinh vi hơn thế. Họ được mời bỏ phiếu vì nỗi sợ và lòng trung thành đảng phái, trong khi sự chuyển giao tài sản diễn ra bằng những công thức khó hiểu như “tỷ lệ sai sót 6%.”

Sau cùng, Big Beautiful Bill có thể thật sự “big” đối với hóa đơn chiến tranh, “beautiful” đối với các mục giảm thuế của người giàu cuối năm, nhưng đối với người nghèo và học sinh cần một bữa ăn, ba chữ cái thứ nhì trong bảng mẫu tự đứng chung với nhau, “BBB” còn có nghĩa là: “Đói!” [kn]


 

Bài học của Na-Uy : Mỏ dầu hỏa

Bài học Na Uy: Câu chuyện “hũ gạo” và tầm nhìn xuyên thế kỷ.

Năm 1969, những người ngư dân ngoài khơi Na Uy bỗng thấy một cảnh tượng lạ lẫm: những giàn khoan dầu mọc lên giữa đại dương. Mỏ Ekofisk được tìm thấy, mở ra một trong những túi dầu lớn nhất thế giới.

Lúc đó, Na Uy biết mình sắp giàu to. Nhưng bạn biết đấy, hầu hết các quốc gia khi bỗng dưng “trúng số” nhờ dầu mỏ đều vấp phải một sai lầm chết người: Là có bao nhiêu tiêu bấy nhiêu. Quyết định ngược đời Trong khi những nước khác như Venezuela, Irak, Lybie hay Nigeria tiêu sạch tiền dầu vào các dự án hào nhoáng rồi cuối cùng rơi vào nợ nần khi dầu cạn, thì Na Uy lại chọn một lối đi riêng.

Năm 1990, Quốc hội Na Uy đưa ra một quyết định thay đổi hoàn toàn vận mệnh đất nước: Thay vì tiêu tiền dầu, họ đem đi cất.

Không phải cất một phần đâu, mà là gần như tất cả. Họ lập ra một quỹ đầu tư. Quy tắc cực kỳ đơn giản nhưng gây sốc: Toàn bộ lợi nhuận từ dầu mỏ sẽ được đổ vào quỹ này để đi đầu tư khắp thế giới. Mỗi năm, Chính phủ chỉ được phép rút ra một phần nhỏ (khoảng 3%) để chi tiêu. Phần còn lại? Cứ để đó cho nó “đẻ” thêm tiền. Mãi mãi.

Và lòng kiên trì thắng được sự cám dỗ

Lúc đó, nhiều người bảo họ điên. “Giàu mà không tiêu à?”, “Sao không giảm thuế, xây thêm đường sá ngay đi?”.

Chính phủ Na Uy chỉ trả lời đơn giản: “Vì con cháu chúng ta rồi sẽ ra đời, và chúng sẽ cần số tiền này hơn chúng ta bây giờ.”

Năm 1996, họ bỏ 150 triệu đô la đầu tiên vào quỹ. Suốt 30 năm sau đó, bất kể kinh tế đi xuống hay dân tình kêu ca, các chính trị gia Na Uy vẫn giữ đúng lời hứa. Họ không động vào “tiền xương máu” của tương lai để mua vui cho hiện tại.

Kết quả của việc “chọn cháu chắt thay vì bản thân”

Đến cuối năm 2025 này, quỹ này đã chạm mốc 2.000 tỷ đô la.

Hãy tưởng tượng: Na Uy chỉ có khoảng 5,6 triệu dân. Nếu chia đều, mỗi người dân nghiễm nhiên có khoảng 357.000 đô la (hơn 9 tỷ đồng) trong tài khoản chung.

Nhưng điều kinh ngạc nhất là gì? Hơn một nửa giá trị của quỹ hiện nay không phải đến từ tiền bán dầu, mà đến từ tiền lãi đầu tư. Hiện tại, số tiền quỹ này kiếm được từ việc sở hữu cổ phần của gần 9.000 công ty khắp thế giới (như Apple, Microsoft, Amazon…) còn nhiều hơn cả tiền bán dầu thô.

Một di sản vĩnh cửu

Dầu mỏ rồi sẽ hết, có thể là 30 hay 50 năm nữa. Nhưng với người Na Uy, điều đó chẳng còn đáng sợ.

Khi giọt dầu cuối cùng được hút lên, họ vẫn sẽ có một “núi tiền” khổng lồ tiếp tục sinh lời. Nhờ đó, trẻ em Na Uy vẫn được đi học miễn phí, người già vẫn có lương hưu cao, và người bệnh vẫn được chăm sóc y tế hàng đầu — tất cả nhờ vào những thùng dầu đã bán từ nửa thế kỷ trước.

Cái tài của người Na Uy không phải là tìm thấy dầu. Cái tài của họ là biết nói “Không” với đồng tiền dễ dãi hôm nay để đổi lấy sự thịnh vượng bền vững cho mai sau. Ngoài việc là chính sách kinh tế, đó còn là một bài học về sự tử tế: Sống và xây dựng cho những người thế hệ tương lai mà chúng ta hôm nay thậm chí sẽ không bao giờ gặp mặt.

Anh chị nghĩ như thế nào về quyết sách của chính phủ Na Uy?

From: Tu-Phung


 

Hành trinh đi tìm tự do của một” Boat-people” – Tác Giả: Nguyễn Văn Lục

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Nguyễn Văn Lục

22/07/2026

Sau 4 năm sống dưới chế độ cộng sản miền Bắc, nếm đủ mùi tân khổ đói nghèo, nhục nhã, lầm than và kìm kẹp.

Nỗi nhục và nỗi lo rình rập mà cả đời sẽ chẳng bao giờ có thể quên được.

Ai quên thì quên, phần tôi ghi khắc như vết hằn trong tâm trí như nỗi cắt còn đó.

Còn chế độ, dù nay đã có nhiều thay đổi, tôi sẽ còn nhớ mãi.

Năm 19 79, sau khi mẹ tôi qua đời vào tháng 2-năm 1979 vì bạo bệnh.

Tôi nhất quyết ra đi, bỏ lại vợ và con nhỏ 4 tuổi. Hiểm nguy trực chờ trăm thứ không ai nói hay được hay tiên đoán được điều gì sẽ xảy ra.

Mỗi người di tản liều mình bỏ nước ra đi đều có đủ lý do biện minh cho việc ra đi.

Đối với riêng tôi, tôi tự hiểu rằng, mình không có một chỗ đứng nào trong chế độ mới.

Vì thế ngay khi mất miền Nam, tôi quyết định không lên Biên Hòa dạy học nữa. Giã từ quá khứ. Buồn ơi chào mi.

Đêm ấy, tôi lên sân thượng trong nhà, tự nhiên tôi rơi nước mắt, nấc lên từng hồi vì biết mình không còn là chính  mình nữa.

Tôi nhận thức được rằng, cuộc đời tôi được phân định rõ ràng: cuộc đời trước 1975 như một người trí thức của miền Nam. Và cuộc đời sau 1975 như kẻ thù của chế độ.

Vì thế, có những nỗi lo không tên khiến nhiều đêm thức trắng.

Điều chính yếu là biết rõ mình và các con là không có tương lai..

Nghĩ tới tương lai hai đứa con trai, nếu ở lại, chúng sẽ sống không ra người, cuộc sống vất vưởng không ra ông ra thằng. Tôi đau đớn nghĩ tới điều đó và càng trở nên quyết tâm cho việc ra đi. ( Sau này, khi thoát ra được nước ngoài may mắn chúng trở thành dược sĩ và bác sĩ chuyên khoa dạ dày tại Canada.)

Kinh nghiệm bản thân cho tôi nhận thức được rằng: Sống dưới chế độ cộng sản, nỗi lo thường trực là nỗi sợ kinh hoàng như thể mình là kẻ tội phạm.

Tôi còn nhớ, sau khi Nhatrang mất, người anh cột chèo vốn là bác sĩ trưởng ty y tế ở Nha Trang đã mau chóng tìm đường thoát thân, anh đã mang vào Sàigon nào xe cộ, tivi, tủ lạnh, sách vở chứa đầy ở nhà tôi.

Trong một đêm đánh tư sản, một ông bà cụ  gần đối diện nhà tôi bán chạp phô cho bà con nghèo lối xóm như gạo, muối đường, có thể do bà con tố cáo nên bị bị công an vào nhà sục xạo, lục tìm kiếm cả đêm.

Tôi ở trên lầu nằm xuống sàn nhà, theo dõi cả đêm trong nỗi bàng hoàng sợ hãi vì nhà chứa quá nhiều thứ..

Ngay sáng hôm sau, tôi lén lút dạy sớm lái chiếc xe hơi của anh cột chèo vứt ở đầu ngõ. Tôi cảm nhận được rằng có tư hữu là tự mình có tội với chế độ.

Sau đêm kinh hoàng đó, tôi càng quyết tâm ra đi, mặc cho nỗi hiểm nguy sống chết ra sao, chỉ đem theo con con trai lớn mới 7 tuổi. Một phần vì không có đủ tiền, một phần nhỡ có mệnh hệ gì thì còn vợ, còn con trai nhỏ thứ hai.

Tôi còn nhớ sau 30/4, vợ tôi mang bầu đứa con thứ hai gần đến ngày sinh. Nó được sinh ra trong lòng chế độ mới chỉ 15 ngày, sau 30/04.

Nhân có phong trào bài người Hoa nên trong dịp này, tôi lợi dụng để được đi bán chính thức với giắ cắt cổ.Tôi phải đóng cho bản thân mình 12 cây vàng, con trai 6 cây, cộng chung 18 cây- một số tiền không nhỏ và thời điểm đó.

Mất một lần là sạt nghiệp, tán gia bại sản.

Việc tôi đi do quen biết một người bạn dạy cùng trường. Hắn ngồi cà phê, cà pháo, thề sống thề chết có nhau. Tên y là Đạo-một tên lưu manh chuyên trò lừa đảo sau này tôi mới biết. Tin hắn,thoạt tiên chỉ đóng một cây, khi đến ngày đi, phải đóng đủ số còn lại.

Tổng cộng số vàng 18 cây, tôi đã giao cho tên Đạo.

Cả hai bố con mang tên Tàu mà cố thuộc rồi vẫn quên.

Trước ngày đi, tôi cho em gái chiếc vespa, đời ED.

Rồi tôi đến ngủ nhà chị gái để sáng hôm sau lẳng lặng ra đi để hàng xóm không ai nghi kỵ.

Chị tôi đưa tôi ra bến xe đò đi lục tỉnh, xuống Mỹ Tho.

Mỹ Tho là điểm hẹn đi.

Hai chị em ngậm ngùi chia tay mà không biết có ngày về.

Xuống Mỹ Tho, tên Đạo giả đò rơi chiếc nhẫn xuống sông, tôi phải đổi một chiếc nhẫn để ăn mấy ngày chờ đợi, nhân đó tôi có dịp mời anh tài công dùng chung bữa.

Anh tài công lái tàu tên Chín, nguyên là trung sĩ quân cảnh ở Sai gòn trước 1975, có vợ và bày con 5,6 đứa.

Bữa ăn ấy sau này chính là bữa ăn cứu mạng tôi sau này.
Ngày lên tàu, tên chủ tầu đọc tên từng người để lên tàu..Đến lượt tôi, tên chủ tàu đọc tên và quát to bảo hai cha con tôi đứng ra một bên. Tôi lo ngại tuân theo không hiểu chuyện gì thì may thay, thấy anh Chín ghé tai nói nhỏ chuyện gì, cuối cùng rồi tôi cũng được tên chủ tầu cho lên như mọi người.

Tàu ra khơi, ra đến biển, sóng nhồi chòng chành, nghiêng bên này, nghiêng bên kia như muốn chìm.

Tàu bắt buộc quay vào một bãi thuyền chài trống vắng.

Nơi đây, người dân phơi con tép, con tôm, trên đường phố lẫn với bùn đất.

Tôi đã có ý định dại dột chốn về. Nhưng  không giấy tờ lại bị công an canh phòng cẩn mật nên đành chịu.

Trong khi chờ đợi, chủ tầu cho người về sài gon mua những thùng nhựa 20 lít và những bao cát để dằn xuống đáy tàu cho tàu nặng dưới đáy.

Vì chở tham người, chủ tầu trước đây đã làm thêm một tầng gỗ để chở được thêm người.

Cả tàu dài hơn 22 mét, rộng khoảng 3 mét với hơn 400 người chen chúc nhau.. và chỉ cần một chút hoảng loạn đủ làm tầu chìm.

Cũng may hơn cả là chủ tàu đã thuê được một người phụ máy tàu, trước đây, anh trông coi máy tàu làm nước đá nên biết kỹ thuật máy móc.

Khoảng một tuần sau, tàu ra khơi xuông xẻ..

Tôi được anh lái tầu sắp xếp cùng với tên Đạo cho nằm trên nắp boong buồng lái để quan sát. Con trai tôi, ngồi lẫn lộn trên boong tàu với gia đình chủ tầu. Có nhiều đêm, tôi nghĩ, tàu bị đắm làm thế nào tôi cứu được con. Những ý nghĩ hoảng lọan ấy làm tôi sống thường trực trong nỗi sợ hãi.

Ôi, tình cảnh này, ai có qua cầu mới hay.

Nhưng vào một đêm, tầu chết máy giữa biển khơi, trong khi mặt nước biển phẳng lặng như tờ chỉ lăn tăn gợn sóng. Trời Phật, tháng năm đi biển lại có những ngày may mắn đến như thế. Tôi cứ nghĩ đây là một phép lạ.

Anh thợ máy mới tuyển loay hoay sửa chữa mất hơn nửa ngày, tầu lại nổ máy được.

Rồi tàu cứ theo hướng Nam, thấy những đốm lửa sáng cứ thế mà xông tới hy vọng tưởng là đất liền..

Gần đến nơi mới thấy đó là những dàn khoan dầu của Indonesia.

Tôi được đại diện lên dàn khoan, họ cho thêm nước ngọt, chỉ dẫn cách đi vào đất liền.

Trên đường đi, ngư dân thuyền chài Indonesia dẫn đường và chạm đảo Térampa và chúng tôi đến được bến đỗ bình an. Cảm tạ trời đất.

Giấc ngủ đầu tiên trên bãi biển thật là thần tiên sau những ngày tháng lo sợ mái tọc bạc đi.. Đây là đảo Térampa..

Sau này, có nhiều đêm trên đảo, tôi nằm mơ mình quay trở lại và bị bắt.. Tỉnh lại hóa chỉ là một giấc mơ.,

Từ ngoài biển đến đất liền là những cánh rừng và đồi núi lên cao dần..

Trên đó có nước ngọt giúp dân tỵ nạn sống còn. Hình như không ở đâu có sự may mắn và kỳ diệu như vậy.

Trên các triền đồi, dân tỵ nạn đã làm tạm các lán nhỏ bằng cách chặt cây rừng làm chỗ che mưa nắng.

Tôi lại bỏ một chiếc nhẫn để mua lại một chỗ ở tạm của một cặp vợ chồng trẻ..đã đến trước chúng tôi làm sẵn.

May mắn, tôi được gặp ông Cả Cần vốn hùn vốn với một chủ người Tàu và ông có khá nhiều lạng vàng đem theo.

Ông đã tự bỏ tiền ra, thuê người lên rừng chặt cây  để làm một cây cầu qua một dòng suối.. Cây cầu ấy cũng giúp bà con tỵ nạn, nhất là các cô gái trẻ buổi tối ra đây  kín đáo tắm giặt..

Không có cây cầu bắt qua dòng suối thì thật gian nan cho nhiều người.

Phần các mệnh phụ phu nhân vốn quen cuộc sống nhàn tản tiện nghi trước đây thì tội nghiệp mấy ông chồng phải cởi trần vác từng xô nước lên núi để cho các bà vợ tắm rửa. Trong số ấy, có một ông bác sĩ sau này là bạn tôi cùng  định cư ở Canada.

Phần ông Cả Cần vốn nổi tiếng trước đây với bánh bao Cả Cần đã nhờ tôi dạy học các con gái và trai của ông như các em Mỹ Tiên, Mỹ Trinh, các em trai khâc như Tiến, Tới vv…

Ông trả công cho tôi mỗi tháng 10.000 Rupia- tiền Indonesia, có thể tương đương khoảng 2,3 chục Đô la.

Số tiền tuy nhỏ, nhưng đã giúp tôi nuôi báo cô vợ chồng đã bán lán cho tôi và tên Đạo. Mỗi ngày thay vì chỉ có gạo và cá khô, nay mua thêm cá biển tươi và rau tươi..

Cho đến tận bên giờ, sau hơn nửa thế kỷ, tôi vẫn giữ liên lạc với Mỹ Tiên.

Rồi một ngày nọ không nhớ rõ trong một bữa ăn, anh Chín hỏi tôi: Cậu có biết tại sao, tên chủ tầu không cho tôi lên tầu không? Tôi trả lời không rõ. Anh Chín vạch trần tội ác của tên Đạo, chính do tên Đạo đã dấu 17 cây vàng không giao cho chủ tầu.

Cảm thấy thương hại cha con tôi hiền lành, anh Chín đã vội nghĩ ra cái kế phải rỉ tai tên chủ tầu là cần một người giỏi ngoại ngữ để khi gặp tầu ngoại quốc có người đại diện có thể giao dịch.

Chủ tầu gượng đồng ý cho tôi lên tầu trở lại.

Nghe xong câu chuyện, tôi chết lặng người đi vì oán hận tên Đạo. Nếu không có sự giúp đỡ của anh Chín, tôi bị đuổi về, vừa mất tiền vừa bị đi tù và có thể không có cơ hội ra đi trở lại.

Tương lai con tôi sẽ ra sao?

Nhưng thay vì hạch hỏi tên Đạo, tôi đã giữ im lặng, không nói chuyện với tên Đạo nữa.

Cho đến bây giờ, tôi vẫn không cắt nghĩa được tại sao tôi lại hành xử như vậy.

Có lẽ phần nào nghi ngờ tôi đã biết chuyện, hắn lại cố tình tỏ vẻ ngây ngô, tiếp tục nịnh nọt tôi.

Một chuyện nhỏ khác cũng xin kể ra đây. Một bữa nọ, có một cô gái nhận ra tôi là ông thày đã dạy cô ở một trường tư. Thấy cô ăn mặc rách rưới, tôi đã giúp cô mua một vài bộ đồ khác. Và thỉnh thoảng vẫn hỏi thăm qua lại.

Sau đó, cô đi với một vài chuyên viên ngoại quốc đi phỏng vấn với vẻ hãnh diện, rồi tránh né tôi.

Tôi im lặng không nói gì. Sau này, cô được một người anh bảo lãnh sang Ý, cô viết thư cho tôi.

Tôi im lặng không trả lời.

Phải chăng trong những hoàn cảnh khốn cùng mới hiểu rõ đâu là tình người.

  • Về tinh thần Hồi giáo ở Indonesia.

Có thể nói là đa số đến 90% dân Indonesia theo đạo Hồi. Phần còn lại là tín đồ Tin Lành, hoặc Thiên Chúa giáo. Và một thiểu số không đáng chưa tới 1% kể là Phật giáo.

  • Tuy nhiên, tinh thần Hồi giáo rất rộng rãi và rộng lượng.
  • Điều này gây ngạc nhiên và thắc mắc cho tôi không ít. Thái Lan là một nơi sùng Phật. Thanh niên trước khi vào đời cần một thời gian tu luyện theo Phật.
  • Vậy mà chính nơi đây, những tên cướp biển Thái Lan đã trấn lột các thuyền nhân, cướp bóc tiền tài, hãm hiếp các phụ nữ và đôi khi mang đi bán làm con tin.
  • Biết bao thảm cảnh không bút nào tả xiết đã xảy ra, trong khi chính quyền Thái Lan lam ngơ, dư luận thế giới im lặng không lên tiếng..
  • Tôi khơi dậy như từ một đống tro tàn nay đã nguội..
  • Sau này, nhiều thuyền nhân đã thành đạt quay trở lại đặt những bia tưởng niệm thì bị chính quyền cộng sản can thiệp, đập phá các bia mộ ấy.
  • Trở lại câu chuyện những người Indonesia.. Đã nhiều lần, tôi theo bạn bè lên rừng để hái những trái sầu riêng.( Durio Những cây sầu riêng mọc trên cao, có cây cao từ 20 mét đến 40 mét. Tuổi thọ nếu được chăm sóc kỹ càng có thể kéo dài cả trăn năm.
  • Người hái phải núp dưới gốc cây, chờ những cơn gió thổi mạnh, làm rơi những trái xuống vội chạy ra nhặt cho vào bao tải..
  • Indonesia là một trong những nước sản xuất sầu riêng lớn nhất thế giới, sau đến Mã Lai và Thái Lan..
  • Nông dân dùng trái sầu riêng thay cho món ăn.
  • Và họ từng ăn bốc. Và buộc dùng tay phải.
  • Cho đến bây giờ, tôi vẫn mua những trái sầu riêng để tưởng nhớ lại những ngày tháng xa xôi, đầy tình người ấy.
  • Ngày chúng tôi rời đảo để đến Galang chờ ngày đi định cư, nhiều dân làng ra đứng trên bờ biển vãy tay chào tiễn biệt.
  • * Về vấn đề che mặt của phụ nữ Hồi giáo.
  • Phải nói thật là có sự tự nguyện của chính người phụ nữ. Hay nó còn tùy thuộc vào địa phương, văn hóa truyền thống và đức tin tôn giáo. Tuy nhiên đã gây ra những tranh luận trên nhiều quốc gia. Ở Pháp, cấm che kín mặt ở nơi công cộng. Tại Đức hạn chế niquab trong trường học, cơ quan nhà nước hoặc khi vì lý do an ninh khi lái xe.
  • Tuy nhiên, có thể chỉ che kín cổ, để lộ khuôn mặt. Hijab. Che toàn thân và cả mặt bằng một lớp lưới. Burqa. Và thường được thực dụng ở khu vực vùng Vịnh và Aghanistan..

Riêng Canada, nơi tôi đang sinh sống, có vẻ người phụ nữ tự chọn lựa việc che mặt của mình. Hiếm khi gặp một phụ nữ che kín mặt.

Theo luật Hồi giáo, người đàn ông Hồi giáo được cưới 4 vợ với điều kiện họ phải được đối xử công bằng về quyền lợi vật chất, thời gian và sự chăm sóc.

Trên thực tế thì ít có người nào có bốn vợ, trừ Saudi Arabia được lấy nhiều vợ.

  • Vài dòng kết luận

Bài viết này mục đích chỉ đề cập đến việc Hồi giáo ở Indonesia, nơi mà tôi đã có dịp trải nghiệm và cảm mến mà không đề cập đến Hồi giáo ở các nơi khác như Afganistan, Arap Saodiste và nhất là Iran mà tôi đã có dịp trình bày trong một bài viết khác.

Bài viết này cũng còn để như một lời tạ ơn anh Chín đã một cách nào đó cứu giúp cả tương lai gia đình chúng tôi mà không bao giờ tôi quên.

Sau này anh đã đi định cư ở Đức và mong gia đình anh chị ổn định và các cháu thành công nơi xứ người..

Tôi cũng còn nhớ kỷ niệm  khó quên là trước khi bước lên tầu, anh còn cầm dao định đâm tên chủ tầu, vì trước đây, hắn có hứa cho anh một số cây vàng nếu đến được đảo. Nhưng tên chủ tầu đã nuốt lời nên anh Chín định dạy cho tên chủ tầu một bài học. Rất may, đàn em của hắn đã sớm can thiệp nên hắn chỉ bị sước một mảnh da đầu và thoát nạn.

Bài viết này một lần nữa cũng tố cáo tên Đạo một lần nữa về thói quen lừa đảo của y.

Theo lời kể của y, y đã giả nghèo và lừa gạt được một số phụ nữ thương hại đã giúp y tiền hoặc vàng.

Tệ hại hơn nữa, Y đã lừa được vợ một người bạn yêu hắn và hứa khi nào định cư, bà sẽ ly dị chồng và cưới hắn. Bà cũng đã xin bố của bà vốn cũng là chủ tầu cho hắn đi cùng. Nhưng bố bà đã từ chối và chỉ cho người con rể chính thức đi cùng.

Viết những dòng này như một ân đền oán trả và hắn và gia đình hắn có cơ hội đọc một người cha, một người chồng như một tên điếm chuyên lừa đảo người.

Bài viết này cũng chỉ nhằm mục đích trình bày một hoàn cảnh  riêng của một người dưới tư cách một nhà văn với góc nhìn riêng tư từ một hoàn cảnh cá biệt mong được chia xẻ.

Mùa hè 2026


 

“Rốt cuộc điều gì là quan trọng nhất?”- by Tú Uyên / Trần Văn Giang (ghi lại).

 “Rốt cuộc điều gì là quan trọng nhất?” 

( Tú Uyên / Trần Văn Giang (ghi lại).

Cả một đời người, Rốt cuộc điều gì là quan trọng nhất?. 

Lời giới thiệu

Điều mà chúng ta cho là quan trọng nhất, ở mỗi giai đoạn của cuộc đời, theo thời gian rồi cũng sẽ thay đổi.

Cuộc đời không phải là hành trình đi tìm một điều quan trọng nhất để giữ mãi mãi, mà là biết trân trọng từng điều quan trọng ở đúng thời điểm của nó.”

TVG

Gần đây tôi đọc được một bài viết của một tác giả người Trung Quốc. Đọc xong, trong lòng cứ suy nghĩ mãi. Không phải vì câu chuyện quá buồn, mà bởi nó khiến mình nhận ra một điều rất giản dị: “Điều mà chúng ta cho là quan trọng nhất, ở mỗi giai đoạn của cuộc đời, theo thời gian rồi cũng sẽ thay đổi.”

Có lẽ vì thế mà con người cứ mãi đi tìm hạnh phúc, nhưng khi ngoảnh đầu nhìn lại mới hiểu điều đáng quý nhất thường nằm ở những điều rất bình thường.

Năm 3 tuổi, tôi nắm chặt cây kẹo mút trong tay và tin rằng đó là cả thế giới. Chỉ cần có cây kẹo ấy là tôi có thể vui cả ngày, chẳng cần nghĩ đến bất cứ điều gì khác.

Năm 5 tuổi, tôi mất cả buổi chiều để đuổi theo một con chuồn chuồn. Khi bắt được nó, tôi vui sướng như vừa có được một kho báu. Đối với một đứa trẻ, hạnh phúc đôi khi chỉ đơn giản như vậy.

Năm 9 tuổi, tôi nằm dưới bóng cây, ngắm ánh nắng len qua từng k lá và tận hưởng một kỳ nghỉ hè bình yên. Khi ấy, tôi từng nghĩ chỉ cần ngày nào cũng được rong chơi như thế thì cuộc sống đã quá đủ đầy.

Đến năm 13 tuổi, tôi bắt đầu tin rằng một tờ giấy báo trúng tuyển vào trường trung học tốt với hạng cao sẽ quyết định cả tương lai của mình. 

Năm 18 tuổi, tôi lại dốc hết sức lực chỉ để nhận được giấy báo được nhập học từ ngôi trường đại học mà tôi hằng mơ ước. Lúc ấy, tôi tưởng rằng chỉ cần bước chân vào cánh cổng đại học này là cuộc đời sẽ mở ra một trang mới rực rỡ. 

Rồi năm 23 tuổi, khi rời khỏi ghế nhà trường để bước vào xã hội, tôi mới hiểu kiếm được một công việc ổn định mới là điều quan trọng nhất. Những ước mơ tuổi trẻ dần nhường chỗ cho cơm áo gạo tiền, cho những hóa đơn phải thanh toán vào cuối tháng và những áp lực mà trước đây tôi chưa từng nghĩ tới. 

Năm 24 tuổi, trong ngày cưới của mình, nhìn người con gái sắp trở thành vợ, tôi chợt nhớ đến cô bạn năm 16 tuổi mà mình từng thầm yêu thương. Có chút tiếc nuối thoáng qua, nhưng rồi tôi hiểu mỗi giai đoạn của cuộc đời đều có người cần được trân trọng. Người đứng trước mặt tôi lúc ấy mới là người quan trọng nhất.

 Hai năm sau, khi đứng ngoài phòng bảo sinh và nghe tiếng khóc đầu tiên của con cất lên, tôi bỗng nhận ra trái tim mình từ nay đã có thêm một nơi để hướng về. Kể từ giây phút ấy, mọi cố gắng của tôi đều chỉ mong con có một cuộc sống tốt đẹp hơn. 

Năm 30 tuổi, những khoản vay mua nhà, mua xe khiến tôi cảm thấy tiền bạc là điều quan trọng nhất. Tôi lao vào công việc, miệt mài kiếm sống và luôn tự nhủ rằng chỉ cần cố gắng thêm một chút nữa, cuộc sống sẽ dễ dàng hơn.

Nhưng càng lớn lên, tôi càng nhận ra con người dường như “không bao giờ thấy đủ.”  Có được điều này thì lại mong điều khác ngay. Đạt được mục tiêu này lại tiếp tục chạy theo mục tiêu khác. 

Người xưa từng nói: “Tri túc thường lạc,” nghĩa là “biết đủ thì vui.” Đáng tiếc là khi còn trẻ, rất ít người hiểu được ý nghĩa của bốn chữ ấy.

Năm 38 tuổi, người cha vốn nghiêm khắc và mạnh mẽ cả đời bỗng bắt đầu hỏi ý kiến tôi trước mỗi quyết định. Lúc ấy tôi mới giật mình nhận ra, cha mình đã già thật rồi. Người đàn ông từng dắt tôi đi qua những năm tháng tuổi thơ giờ đây đã không còn khỏe mạnh như trước. 

Đến năm 45 tuổi, ngồi trong văn phòng với mái tóc lấm tấm bạc, tôi chợt nhớ đến những ước mơ của tuổi đôi mươi. Hóa ra, trên đường mưu sinh, tôi đã vô tình bỏ quên rất nhiều điều từng khiến trái tim mình rung động.

Năm 50 tuổi, nhìn con trai nắm tay người con gái nó yêu bước vào thánh đường, tôi mới hiểu hạnh phúc lớn nhất của cha mẹ là được nhìn thấy con cái bình an và trưởng thành. Điều từng quan trọng nhất với tôi ngày nào, giờ đây đã trở thành hạnh phúc của con.

Năm 60 tuổi, tôi tiễn cha mẹ về nơi an nghỉ cuối cùng. Trong khoảnh khắc ấy, những lời quở trách của cha, những tiếng cằn nhằn của mẹ mà trước đây tôi từng thấy phiền lòng lại trở thành ký ức quý giá nhất.

 Người xưa có câu: “Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng, con muốn phụng dưỡng mà cha mẹ không còn.” Chỉ khi mất đi, con người mới hiểu có những điều tưởng chừng rất bình thường nhưng lại là món quà vô giá.

 Năm 70 tuổi, người bạn đời của tôi cũng rời đi trước. Con cháu đều đã có cuộc sống riêng, căn nhà bỗng trở nên yên ắng hơn bao giờ hết. Mỗi lần nhìn những cặp vợ chồng già cùng nhau tản bộ, tôi lại nhớ đến bà nhà tôi. Hóa ra, thứ đáng quý nhất không phải là những gì mình sở hữu, mà là người vẫn còn có thể cùng mình đi hết quãng đường còn lại.

 Đến năm 75 tuổi, khi nằm trong bệnh viện và biết thời gian của mình không còn nhiều, tôi gọi điện cho cháu nội trai. Ban đầu tôi định nói thật nhiều điều, muốn dặn nó phải sống thế này, phải lựa chọn thế kia để sau này không hối tiếc. Nhưng khi cuộc gọi được kết nối, tất cả những lời chuẩn bị sẵn đều tan biến. Tôi chỉ nhẹ nhàng nói: “Ông nhớ con nhiều. Khi nào rảnh thì con về thăm ông nhé.

 Một năm sau, cháu trai trở về. Con trai, con dâu quỳ bên giường bệnh, nước mắt không ngừng rơi. Tôi cảm thấy mí mắt mình ngày càng nặng. Trong khoảnh khắc ấy, tôi nhìn thấy cha mẹ đang đứng trước mặt, vẫn trẻ như ngày nào, vẫn nở nụ cười hiền hậu quen thuộc. Họ dang rộng vòng tay đón tôi. Tôi chạy về phía họ và kỳ lạ thay, càng chạy tôi càng trở lại hình hài của một đứa trẻ ba tuổi. Tôi lại được cha mẹ ôm vào lòng như thuở bé.

 Trước khi rời đi, tôi ngoái đầu nhìn lại. Con trai, con dâu và đứa cháu nội trai vẫn ôm lấy thân xác già nua của tôi mà khóc. Tôi biết rồi nỗi đau ấy cũng sẽ dần nguôi ngoai, bởi vì cuộc sống vẫn phải tiếp tục, giống như ngày xưa tôi đã từng tiếp tục sống sau khi tiễn cha mẹ mình.

 Đến lúc ấy, tôi mới hiểu rằng cả đời con người luôn đi tìm một điều quan trọng nhất. Nhưng thật ra, điều quan trọng nhất chưa bao giờ là một thứ cố định. Tuổi thơ có niềm vui của tuổi thơ, tuổi trẻ có khát vọng của tuổi trẻ, tuổi trung niên có những gánh vác riêng, còn tuổi già lại chỉ mong những người mình yêu thương vẫn còn ở bên cạnh.

 Có lẽ vì vậy mà người xưa luôn nhắc con cháu phải biết trân trọng hiện tại. Bởi điều hôm nay ta đang xem là bình thường, biết đâu ngày mai lại trở thành điều khiến ta nhớ nhất. Tiền bạc rồi cũng tiêu hết, danh vọng rồi cũng phai nhạt, chỉ có “tình thân, những điều tử tế đã trao đi và những ký ức đẹp đã cùng nhau tạo nên” mới thật sự ở lại trong lòng người khác.

Suy cho cùng, cuộc đời không phải là hành trình đi tìm một điều quan trọng nhất để giữ mãi mãi, mà là biết trân trọng từng điều quan trọng ở đúng thời điểm của nó. 

Có như vậy, khi ngoảnh đầu nhìn lại, chúng ta sẽ không phải tiếc nuối vì đã sống quá vội vàng mà quên mất những điều đáng quý nhất đang ở ngay bên cạnh mình.

Tú Uyên

From: NguyenNThu


 

Đời Sống Người Tù Cải Tạo

Duc Thong DO

 “CÁC SĨ QUAN VNCH VÀ CHƯƠNG TRÌNH HỌC TẬP CẢI TẠI CỦA CỘNG SẢN BẮC VIỆT” TÀI LIỆU CON CHÁU VÀ THÂN NHÂN CỦA CÁC GIA ĐÌNH VNCH NÊN ĐỌC ĐỂ HIỂU RÕ SỐ PHẬN CỦA CÁC THÂN NHÂN, NẠN NHÂN CỦA CHẾ ĐỘ CSVN..

***** 

Đời Sống Người Tù Cải Tạo

12 tháng 1 năm 2011

Bác Sĩ Nguyễn Ý Ðức

LTS. Chế độ tập trung cải tạo cho quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa được thi hành sau khi Cộng Sản miền Bắc thôn tính miền Nam. Bài này đúc kết lời kể của các cựu tù nhân chính trị; mục đích là để thế hệ mai sau, trong và ngoài nước, biết các khó khăn, đau khổ của cha chú họ, như một bài học đắt giá cho nhân loại, để tránh tái diễn chứ không phải để giữ mãi hận thù.

Trình Diện Để Đi Tù Đầy

Mấy tuần lễ sau khi miền Nam thất thủ thì chiến dịch rỉ tai về học tập cải tạo bắt đầu được tung ra. Nhưng mãi đến đầu tháng sáu 1975 Uỷ Ban Quân Quản Thành Phố mới ra lệnh cho các quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa phải trình diện để đi “Học Tập Cải Tạo”. Uỷ Ban ra thông cáo vào các ngày 10-6, 11-6 và 20-6-75 trên đài phát thanh và báo chí, chỉ định rõ địa điểm và ngày giờ trình diện.

Hạ sĩ và nhân viên chính quyền từ chủ sự trở xuống học tập ba ngày tại phường. Các cấp thấp hơn như binh sĩ, cán bộ phường khóm được khoan hồng miễn trình diện. Cả mấy trăm ngàn người nô nức đi trình diện học tập vì họ nghĩ rằng học tập cho xong để hy vọng sớm trở về làm ăn. Họ đi học từ sáu giờ sáng đến tối.

Ðối với các phó quận trưởng, trưởng ty, cấp úy, thì mỗi người phải mang theo giấy bút, quần áo, mùng mền vật dụng cá nhân, đồ ăn hoặc tiền bạc để dùng trong mười ngày kể từ ngày trình diện.

Với các cấp chỉ huy từ giám đốc trở lên, sĩ quan từ cấp tá, các dân biểu nghị sĩ, các lãnh tụ đảng phái thì thông cáo ra lệnh mang theo giấy bút, vật dụng cá nhân, số tiền là 13,000 đồng đủ cho việc ăn uống trong 30 ngày kể từ ngày học tập đầu tiên. Thông cáo nói rõ: “các học viên phải mang theo một tháng tiền ăn và những đồ đạc cần thiết. Nhà hàng Ðồng Khánh sẽ phụ trách việc ăn uống…”

Nhiều người vì sức khỏe yếu được miễn trình diện. Nhưng vì quá tin vào thông cáo của chính quyền, học tập có một tháng, nên họ vẫn tình nguyện xin đi để tỏ thiện chí cũng như làm cho xong để còn về được an ổn kiếm kế sinh nhai.

Có người được nhân viên tiếp nhận cho về vì không hội đủ tiêu chuẩn như thông cáo nhưng vẫn nằn nì giải thích chức vụ để xin đi cho chắc bụng. Chẳng hạn, có vị khai chức vụ quốc vụ khanh chính phủ. Cán bộ không biết đó là chức gì mà coi danh sách không thấy có nên đuổi về. Vị chính khách này phải cố gắng giải thích chức vụ của mình ngang hàng tổng trưởng. Họ cũng không biết tổng trưởng là gì, đến khi nói là bộ trưởng thì họ mới cho nhập trại. Ai cũng nghĩ là trước sau rồi cũng phải học tập nên xin đi cho nó xong. Thực ra, thông cáo rất mập mờ. Lúc đầu ghi danh đi học tập cải tạo phải chuẩn bị thực phẩm hoặc đóng tiền ăn cho một tháng. Rồi pháp lệnh nói cải tạo viên phải học tập ba năm rồi đổi ra vô hạn định một cách âm thầm.

Kỷ Nguyên Tù Ðầy Cải Tạo bắt đầu. Sau khi đã bước vào trại tù cải tạo thì ngày ra dường như vô tận vì một số thiệt mạng, hầu hết tiếp tục tù đầy cho tới mươi mười lăm năm sau.

Theo bản tường tình của Aurora Foundation năm 1983  do bà Ginetta Sagan và ông Stephen Denney thực hiện thì có hơn một triệu người đã đi cải tạo mà rất ít được về sau thời hạn mười ngày hay một tháng. Trên toàn quốc lúc bấy giờ có trên 150 trại cải tạo. Có khoảng 500,000 người được trả tự do trong vòng ba tháng; 200,000 ở trại từ hai đến bốn năm; 240,000 ít nhất năm năm; nhiều chục ngàn người trên mười năm.

Trong một trại cải tạo, học viên thắc mắc về thời gian cải tao như sau:

“Thưa cán bộ, theo như chính sách 12 điểm của chính phủ Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam thì sau ba năm chúng tôi được trả tự do để đoàn tụ với gia đình; bây giờ đã quá 3 năm sao chúng tôi còn phải ở trong trại?”

Cán bộ trả lời:

– Các anh thông minh, các anh phải hiểu rằng Chính Phủ Cộng Hòa miền Nam (của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam) đâu có phải là Chính Phủ Việt nam Dân Chủ Cộng Hòa; vả lại chính phủ Cộng Hòa Miền Nam không còn tồn tại thì những gì chính phủ ấy quy định cũng không còn tồn tại.

– Hơn nữa, các anh thông minh nhưng chưa hiểu thế nào là 3 năm. Các anh hiểu cứ mỗi năm là 365 ngày như bọn tư sản thì hỏng bét, do đó các anh khiếu nại là phải rồi. Nếu các anh phân tích một cách sâu sát thì các anh sẽ thấy rằng có 3 năm định tính và 3 năm định lượng. Một anh có thể có 3 năm định lượng, nghĩ a là đã cải tạo đúng ba năm không thiếu ngày nào, nhưng lại không có đủ 3 năm định tính vì tính chất cải tạo quá tồi, cải tạo không tốt, do đó mà chưa được về sum họp với gia đình.”

(Phan Phát Huồn: AK và Thập Giá)

* Các dữ kiện trong bài viết này là những lời kể lại của nhiều tù nhân cải tạo sống sót.

Tổ Chức Trại Cải Tạo

Trại được chia ra làm nhiều khu. Mỗi khu có nhiều đại đội trại viên. Dưới là nhóm gọi là “B”. Mỗi B có 30 trại viên do một cán bộ hạ sĩ quan phụ trách. Trại viên còn được gọi là phạm nhân hoặc cải tạo viên. Họ phải học làm lòng tài liệu “38 điều Nội Quy” và “Bốn tiêu chuẩn cải tạo”.

Bốn tiêu chuẩn cải tạo là:

1-Thành khẩn khai báo

2- Lao động tự giác

3-Chấp hành nghiêm chỉnh nội quy và các pháp lệnh nhà nước

4- Giúp bạn cải tạo cùng tiến bộ

Một cựu tù nhân cho hay: nhiều người không nhớ các tiêu chuẩn này, nên đã dùng bốn thú vật tiêu biểu cho từng tiêu chuẩn: ngu như bò, có gì khai hết; lao động như trâu; bảo sao làm vậy như con cừu và sủa như chó để báo cáo các hành động của bạn tù.

Có người đã ví việc thực hiện các tiêu chuẩn này chẳng khác gì sự xét mình, ăn năn tội lỗi, xưng tội và dốc lòng không sai phạm của một tôn giáo. Nội quy có các điều khoản về nguyên tắc chung, kỷ luật học tập, kỷ luật về lao động, kỷ luật về nếp sống hàng ngày, kỷ luật về viết thư và gặp gia đình, tổ chức phạm nhân, và khen thưởng-kỷ luật.

Ðiều nào cũng bắt đầu bằng các chữ quyết liệt như “Phải chấp hành…” hay “Tuyệt đối tuân theo…”

Chẳng hạn điều Một ghi rõ:

“Phải triệt để tuân theo đường lối, chính sách giam giữ cải tạo của Ðảng, pháp luật của nhà nước…”

Ðiều 2: “Phải chấp hành nghiêm chỉnh bản án, phải ra sức học tập cải tạo tư tưởng, thành khẩn nói hết lỗi lầm của mình.”

Ðiều 8: “Phải trực tiếp tham gia lao động sản xuất. Ðể rèn luyện ý thức lao động, lấy lao động để cải tạo tư tưởng…”

Ðiều 12: “Không được dùng tiếng ngoại ngữ và không được nói tiếng lóng”

Ðiều 18: “Thường xuyên cạo râu, không được để râu” .

Ðiều 20: “Tránh có thái độ ngang bướng, khúm núm, nịnh hót. Khi có việc cần gặp cán bộ phải đứng xa 5-7 mét ở tư thế nghiêm. Xin báo cáo với Giám thị, cán bộ”.

Trại có rất nhiều khẩu hiệu về học tập chính trị như:

“Chính sách khoan hồng của Ðảng trước sau như một.”

“Học tập cải tạo là con đường duy nhất để trở thành người công dân lương thiện.”

“Học tập nghiêm túc, đi sát đi sâu, đào sâu, suy nghĩ, thảo luận đúng ý…”

Khai Lý Lịch

Cải tạo viên nào cũng phải khai lý lịch. Ðây là một việc làm rất nhức đầu vì họ phải khai đi khai lại cả chục lần. Khai xong mang nộp, rồi bị cán bộ hạch hỏi đủ điều. Việc khai lý lịch thường là do đoàn công tác liên bộ Quốc Phòng và Công An phối hợp thực hiện. Mẫu khai có ba mục chính với nhiều tiểu mục và tiết mục. Rầm rộ phát động chiến dịch khai báo, cho ăn đồ tươi.

1-Lý lịch cuộc đời cá nhân: bản thân người khai, gia cảnh và lý lịch thân nhân, từ ông cố tổ bốn đời. Từng địa chỉ đã sống trong suốt đời. Một địa chỉ có thể là 1 tuần ở quốc nội hoặc bốn mươi tám giờ ở quốc ngoại.

Về lý lịch thân nhân, phải khai đầy đủ chi tiết về bản thân kèm thêm đánh giá từng người về quá trình chính trị, xã hội, giai cấp.

2-Quá trình hoạt động: Trong suốt đời, với 3 giai đoạn: từ 1945 trở về trước; từ 1945 đến 1954 và từ 1954 đến 1975. Phải khai cho đầy đủ các chi tiết về ngày tháng, sinh hoạt, chức vụ, ở đâu với ai, diễn tiến công việc, kết quả công việc, ảnh hưởng của công việc vào xã hội. Khai các cá nhân, đoàn thể chống cộng ở miền Nam: tên tuổi, tổ chức nào, hoạt động ở đâu, cách tổ chức chống cộng… Kê khai bạn bè thâm giao và bạn bè thường, rồi các sinh hoạt của họ ở đâu bây giờ. Kê khai mọi cấp chỉ huy, đồng sự với các chi tiết như của mình… Hiện giờ họ ở đâu, quan điểm chính trị của họ. Khai rõ về các vấn đề tổ chức, kỹ thuật chiến thuật của miền Nam.

3-Kê khai tài sản: Của nổi của chìm, trong nước, ngoài nước, mình đứng tên hay nhờ người đứng tên, vợ con đứng tên; hiện có, đã sang nhượng, cúng dâng cho các tổ chức. Tiền từ đâu có.

Phạm nhân được dành cho một tuần để khai; ban đêm cho phép đốt đèn cầy để khai. Khai xong ký cam đoan là đúng sự thực rồi nộp cho cán bộ. Phạm nhân phải thức thâu đêm để khai; nhiều khi đi cầu, đi ăn cũng tập trung suy nghĩ coi đã làm gì, ở đâu, ngày nào…

Sau khi nộp thì mấy ngày sau lại phải khai lại vì: thiếu thành khẩn, thiếu tự giác, không khai hết sự thật, ngoan cố, giấu diếm bao che các tổ chức chính trị và cá nhân phản động.

Rằng nhân dân đã biết rõ về mình rồi, đã có hết tất cả hồ sơ tại công tư sở, đừng hòng giấu diếm. Có phạm nhân còn bị gọi lên để hạch hỏi chi tiết, hù doạ là vợ khai khác mà mình khai khác hoặc để đối chiếu lời khai của thân nhân với lời mình khai. Rồi bản khai được cất đi và phạm nhân phải khai lại từ đầu…Việc khai báo kéo dài cả mấy tháng. Một chiến dịch cổ võ cho việc khai báo cuộc đời được diễn ra. Học viên còn được cho ăn uống linh đình và được miễn lao động trước ngày khai báo bắt đầu.

Cải tạo tư tưởng-Học tập chính trị

Mục đích của cải tạo là “để thay đổi con người từ chế độ lỗi thời vào kỷ nguyên mới của những công dân tốt, với các giáo điều tốt lành của chủ nghĩa Anh Hùng Cách Mạng”.

Theo các cựu tù nhân kể lại, bài học nhồi sọ nhắm vào việc:

“Ðả phá chủ nghĩa đế quốc Mỹ, kẻ thù của nhân dân Việt Nam và thế giới. Sự thất bại của chủ nghĩa đế quốc Mỹ; Ðế quốc Mỹ là con đỉa hai vòi: một vòi hút máu mủ nhân dân trong nước, còn vòi kia vươn sang các nước khác để hút máu mủ nhân dân các nước này bằng cách bán súng đạn, tạo ra các cuộc chiến tranh diệt chủng. Tội ác của ngụy quyền ngụy quân miền Nam, bán nước, tay sai. Chính sách khoan hồng của Ðảng, nghĩa vụ của người có tội, lao động là vinh quang. Những thắng lợi vĩ đại của nhân dân Việt Nam.”

Các buổi học tập chính trị gồm có:

  1. Nhận đề cương nội dung bài.
  2. Tìm hiểu nội dung.
  3. Nghe giáo viên giảng bài.
  4. Suy nghĩ về nội dung và lời giảng của giáo viên.
  5. Không bàn thảo với ai. Viết một bài nhận định để trình bày với tổ.
  6. Phát biểu trước tổ học tập.
  7. Hội thảo cấp B cao hơn với ba tổ.
  8. Hội thảo toàn trại.
  9. Rồi viết bài tổng kết học tập dài cả chục trang.
  10. Tổng kết và giải đáp thắc mắc.

Kỹ thuật nhồi sọ áp dụng nguyên tắc nước chảy đá mòn, nói nhiều nói mãi một đề tài, nhắc đi nhắc lại một luận điệu, biến con người thành cái máy… Sau cả nhiều tháng học tập chính trị, hầu hết đều bị chê là: “chưa được rèn luyện, cải thiện bằng các tư tưởng cao siêu của Chủ Nghĩa Xã Hội, vẫn còn ngoan cố, không chịu tiếp thu bài học, không chịu gột rửa toàn diện tư tưởng xấu của bản thân, nên cần được cải tạo bằng lao động”.

Lao động

Lao động là thước đo mức độ giác ngộ của tù nhân.

Cuốc đất: 150m2/ngày/người

Trồng mì: 5000m2 /ngày/4 người

Khai quang: 300m2/ngày/người

Lấy cây đường kính 30cm, dài 4 thước, hai người một cây, mang về trại cách xa 3 cây số; đường kính 10 phân, dài 4 thước hai người năm cây một ngày.

Tranh lợp nhà: 10 bó theo tiêu chuẩn của trại. (Theo Trại Tù Cải Tạo-Phạm Quang Giai).

Ăn uống

Sau đây là kinh nghiệm người cựu tù:

“Cộng Sản không cần đánh đập, không cần kết án, mà họ đã dùng cái máy chém vô hình và im lặng: ÐÓI. Họ lôi cái máy này đến mọi nơi, mọi chốn có tù nhân chính trị miền Nam để trả thù, trả hận mà vẫn không mang tiến là ác độc, là giết người.” (Phạm Quang Giai: Trại cải Tạo)

“Cái lon nhôm sữa bột guigoz, được gọi vắn tắt là cái Gô, là bạn đồng hành thân thiết của tù. Người tù nào cũng kè kè bên mình một cái vừa đựng nước uống ra bãi, vừa dùng để nấu canh tại bãi lao động. Những loại rau cỏ dại ăn được tìm thấy ngay tại hiện trường, lén nhổ bỏ vào Gô rồi nhờ nhà bếp nấu. Nấu chín xong để bụi cát lắng xuống phần dưới, ăn phần rau cũng đỡ cái bao tử rỗng một lúc. Hôm nào bắt được con cóc, con nhái thì “canh có người lái”, tù gọi là Protein; con gì cũng qui vào chất thịt, chất protein bổ dưỡng. Tù có câu: “con gì nhúc nhích là ăn được, rau gì không chết thì ăn”… (Nguyễn Chí Thiệp: Trại Tù Kiêm Giang)

“Tiêu chuẩn kỷ luật mỗi tháng còn 9 kg lương thực ăn với nước muối, mỗi ngày hai bữa hai chén nhỏ xíu. Ðến bữa ăn phải kềm hãm cố nhai cho thật kỹ, vừa để cho đỡ buồn, cho qua thời giờ có việc làm. Khi nhai thức ăn, vừa phải nhai kỹ để thức ăn ít ỏi và quí báu được tiêu thật hết, khỏi phí phạm, giúp cơ thể bòn từng chút bổ dưỡng để thân xác chịu đựng con người được sống, nhai thật kỹ để chất thải ra thật ít, 5,7 ngày mới đại tiện một lần, vì đại tiểu tiện đều vào cái thùng đại liên để ngay bên cạnh bục nằm, đến lúc đầy tràn trật tự mới đổ đi, nên suốt ngày đêm phải nằm bên cạnh cái của nợ khai thúi đó.”  (Nguyễn chí ThiệpTrại Tù Kiêm Giang)

Vệ Sinh Trại

Tù nhân kể lại là trại chật trội ngào ngạt hơi người, mùi hôi của mọi người, mọi bệnh riêng của mỗi người, cả tháng không tắm. Cả ngàn người có một giếng nước, kéo một lúc đã cạn nước. Ðể lâu không dùng nên chuột bọ chết thối đầy đáy giếng. Ăn uống vào là bị kiết lỵ. Ði cầu vào các dẫy hố đào trên mặt đất.

Bệnh Tật

“Mặt đứa nào đứa nấy trông như những quả dưa bở chín rục, chân tay bụ bẫm cứ như những cái xác chết trôi ba ngày, đang xếp hàng dài trước bếp xin chút nước vo gạo về uống với hy vọng mong manh tí chất cám có thể cứu nổi căn bệnh phù thũng trầm kha…” (Hà Thúc Sinh: Ðại Học Máu)

Kiểm tra tư trang

“Ông cán bộ tới chỗ tôi và bắt đầu lục soát.

– Cho tôi xem cuộn giấy. Giấy này là giấy gì đây?

– Thưa cán bộ đây là giấy vệ sinh.

– Giấy vệ sinh là giấy gì?

– Thưa cán bộ là giấy đi cầu.

Ông cầm cuộn giấy, xem rất kỹ, chê bai đủ điều rồi nói tiếp:

– Ðây chính là tài liệu mật mã bọn Mỹ ngụy để lại cho các anh xử dụng để quấy phá cách mạng, nhưng làm sao qua mắt cách mạng được. Tôi ra lệnh tịch thu toàn bộ những cuộn giấy này của anh và của các anh khác.” (Phan Phát Huồn: AK và Thập Giá)

Thăm viếng và thư từ của gia đình

Theo điều 29, “hai tháng phạm nhân được gặp người nhà một lần. Phạm nhân có trách nhiệm hướng dẫn người nhà chuẩn bị giấy tờ cần thiết khi đến thăm mình.”

Ðiều 27: “Phạm nhân mỗi tháng được viết một lá thư cho gia đình; thư phải đưa lên cán bộ duyệt trước khi gửi; không được dùng tiếng ngoại quốc, tiếng lóng.”

Tết 1977 là lần đầu tiên phạm nhân được viết thư cho thân nhân ở trong Nam. Thư gửi qua Trung Ðoàn 52-A, Chí Hòa Sài Gòn. Họ không được phép tiết lộ nơi đang học tập. Quà do thân nhân gửi không được quá 5 kí. Trà, cà phê, rượu, muối bị cấm tuyệt. (Trần Vĩ)

Kết luận

Chế độ tù cải tạo dưới chế độ Cộng Sản vào những thập niên 70 và 80 của thế kỷ trước  đã đưa đến sự tàn phá tâm thần và thể xác cho nhiều quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa. Ðây là một thảm họa mà đến nay thế giới loài người văn minh cũng như con cháu chúng ta vẫn chưa biết được tường tận.

Các vị cựu nhân cải tạo sống sót hình thức tù đầy này cũng nên ghi lại những bài học đắt giá, những hy sinh của chính mình, của các bạn tù đã nằm xuống. Và các bà vợ tù nhân cải tạo cũng có nhiều cay đắng cuộc đời. Một thân phải tần tảo chăm sóc bầy con giữa những kỳ thị của chế độ mới, rồi lại còn trèo đèo lặn suối đi thăm nuôi chồng  bị đầy ải nơi rừng thiêng nước độc. Ghi lại để các thế hệ con cháu, trong ngoài nước, hiểu nỗi lòng của mình. Cũng như để tránh tái diễn, nhất là đối với những người cùng chung dòng giống. Chứ không phải để nuôi mãi lòng thù hận nhau.

[Nguyệt San Mạch Sống thuộc hệ thống truyền thông của BPSOS: http://www.machsongmedia.com.]

NGUỒN: Đời Sống Người Tù Cải Tạo – Mach Song Media – Nhà


 

Ý Kiến quanh vụ ÔNG NGUYỄN THÀNH NAM bị bắt theo Điều 117 Bộ luật Hình sự-Trương Nhân Tuấn

Trương Nhân Tuấn


Ngày 7/7/2026, báo chí Việt Nam đưa tin ông Nguyễn Thành Nam, tác giả cuốn “Chuyện với Thanh – Lời kể mới về ánh sáng” bị bắt, bị khởi tố

Ông Nguyễn Thành Nam là ai? Là một trong những người sáng lập và là cựu Tổng Giám đốc FPT, Phó Chủ tịch HĐQT trường Đại học FPT, tham gia giảng dạy bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh tại Viện Khoa học và Giáo dục Khai phóng (VinUniversity). Theo báo chí, ông Nam đã bị Công an thành phố Hà Nội khởi tố về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, theo quy định tại điều 117 Bộ luật Hình sự của nước này.

Nguyên do là từ cuốn “Chuyện với Thanh – Lời kể mới về ánh sáng”. Ông Nguyễn Thành Nam đã viết về ông Hồ Chí Minh với cách nhìn và ngôn ngữ “đời thường, hiện đại, phù hợp với giới trẻ”, khác với cách nhìn và ngôn ngữ nghiêm túc, ca ngợi, tô hồng như từ trước đến nay. Khi cuốn sách vừa ra mắt trong tháng 4/2026, nhiều ý kiến đã khen ngợi, trong đó có ông Nguyễn Quang Thiều nhà văn, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, nhận định rằng tác phẩm giúp người đọc tiếp cận hình ảnh Hồ Chí Minh một cách gần gũi hơn. Nhưng sau đó thì cuốn sách bị những người có quan điểm bảo thủ chỉ trích, lên án rằng sai sự thật, xuyên tạc lịch sử, xúc phạm, bôi nhọ hình ảnh “lãnh tụ” Hồ Chí Minh và một số lãnh đạo ĐCSVN. Nhiều tờ báo đã rút lại những bài viết khen ngợi. Cuốn sách bị thu hồi, NXB Hội Nhà Văn–nơi xuất bản cuốn sách, bị phạt 100 triệu đồng, buộc tiêu hủy toàn bộ sách đã in, bị đình chỉ hoạt động 2 tháng, Và nay thì ông Nguyễn Thành Nam chính thức bị bắt, bị khởi tố.

Điều đáng nói là ông Nguyễn Thành Nam từ trước đến giờ hoàn toàn không phải là một người bất đồng chính kiến mà là một người sinh ra, lớn lên, thành đạt và có cuộc sống khá là viên mãn trong chế độ XHCNVN, thậm chí còn giảng dạy về tư tưởng Hồ Chí Minh như vừa nêu ở trên.

*****

Với tư cách một người Việt nam luôn trăn trở với tình hình đất nước, tôi cho rằng việc buộc hành vi biên soạn, tàng trữ và phát tán tác phẩm “Chuyện với Thanh –Lời kể mới về ánh sáng” của Giáo sư Nguyễn Thành Nam và các cộng sự vào tội danh “Chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” là một sự áp đặt khiên cưỡng, chưa đánh giá đúng bản chất hành vi và sự xung đột sâu sắc với các cam kết quốc tế về Tinh thần Trọng luật (Rule of Law) mà Nhà nước Việt Nam đang xây dựng.

Tôi trân trọng đề xuất bốn (04) luận cứ nhằm làm rõ tính khách quan, khoa học và tinh thần xây dựng của các bị cáo:

  1. Bản chất của tác phẩm Chuyện với Thanh là “nghiên cứu khoa học lịch sử đa chiều”, không phải “xuyên tạc, chống phá”.

Cáo trạng buộc tác phẩm có nội dung bôi nhọ đời tư Chủ tịch Hồ Chí Minh và hạ thấp lịch sử cách mạng. Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học chính trị và sử học hiện đại, lịch sử không phải là một giáo điều bất biến, mà là một tiến trình liên tục được bổ sung bằng tư liệu và góc nhìn mới.

Về vấn đề đời tư lãnh tụ: Việc tiếp cận đời tư của các nhân vật lịch sử dưới góc nhìn nhân văn, đời thường – loại bỏ lớp sương mù huyền thoại (thánh hóa) của giai đoạn chiến tranh tuyên truyền – là xu thế tất yếu của thời đại hội nhập. Khái niệm cán bộ “agitprop” (xách động và tuyên truyền) hay việc sử dụng các bút danh như Trần Dân Tiên, T.Lan, CB… để tự thuật trong bối cảnh những năm 1940-1950 là những sự thật lịch sử đã được giải mật và thảo luận rộng rãi trên thế giới. Việc các bị cáo hệ thống hóa các dữ kiện này dưới hệ qui chiếu mới hoàn toàn mang tính chất nghiên cứu học thuật, không chứa đựng động cơ bôi nhọ hay ác ý chính trị.

Về tính khách quan của lịch sử cách mạng: Tác phẩm chỉ ra những khoảng trống quyền lực (Power Vacuum) trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, sự thỏa hiệp chính trị tất yếu với Hoa quân Tưởng Giới Thạch để lập Chính phủ Liên hiệp năm 1946, hay vai trò quyết định của nguồn viện trợ quân sự từ Moscow và Bắc Kinh sau năm 1949. Đây là những sự thật địa chính trị phản ảnh tương quan lực lượng thời Chiến tranh Lạnh. Nếu không có đòn bẩy quân sự từ khối Cộng sản, một quốc gia chưa tự chế tạo được vũ khí như Việt Nam không thể giành chiến thắng trước các siêu cường cơ giới hóa. Khẳng định điều này là tôn trọng sự thật khách quan của lịch sử, chứ không phải phủ nhận xương máu của cha ông.

  1. Tính chính danh của Đảng CSVN và Nhà nước hiện nay đến từ “hiệu năng đổi mới”, không phụ thuộc vào việc kể lể công lao quá khứ. Cơ quan công tố đang sử dụng “hệ qui chiếu thời cách mạng” để bảo vệ một tính chính thống lịch sử tuyệt đối. Lập luận này hoàn toàn mâu thuẫn với thực tế phát triển của đất nước:

Tính chính danh tối cao của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thế kỷ 21 không còn nằm ở vị thế “có công đánh Pháp đuổi Mỹ giành độc lập” của quá khứ năm 1945 hay 1975, mà đến từ chính sách Đổi mới (1986).

Bản chất của Đổi mới là việc Nhà nước dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, sửa chữa các sai lầm của giai đoạn trước, xây dựng lại nền kinh tế thị trường, thừa nhận quyền sở hữu tư nhân và mở cửa hội nhập, những điều mà cuộc cách mạng vô sản thời kỳ đầu từng tìm cách xóa bỏ.

Do đó, một tác phẩm đặt ra các câu hỏi phản biện về giai đoạn lịch sử cũ, mục tiêu hiển nhiên là thiết lập lại những thảo luận cay đắng của những lãnh đạo tiền bối trong lúc lúc họ băn khoăn đứng trước bản lề “đổi mới”: hội nhập để phát triển hay là cố thủ rồi sụp đổ. Sự thành công trong hội nhập đã giúp thể chế hiện nay đứng vững, bằng năng lực quản trị kinh tế và sự ổn định xã hội ở hiện tại, chớ không hề đến từ việc ca tụng những hình tượng vô tri trong lịch sử.

Việc kết tội các bị cáo bằng hệ tư tưởng cũ là sự thụt lùi so với chính tinh thần “đổi mới” của đất nước, đặc biệt, là một hành vi đi ngược lại tinh thần khai phóng để đưa “đất nước vươn mình” của ông Tô Lâm.

  1. Sự mâu thuẫn với Tinh thần Trọng luật (Rule of Law) trong thời kỳ đất nước hội nhập vào dòng chảy quốc tế.

Việt Nam hiện nay đã thiết lập quan hệ ngoại giao toàn diện với hơn 190 quốc gia, là thành viên của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và các định chế luật pháp quốc tế. Điểm tựa chính thống pháp lý của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hiện nay đến từ sự thừa nhận của luật pháp quốc tế toàn cầu.

Một trong những cột trụ của hội nhập quốc tế là Tinh thần Trọng luật (Rule of Law), đòi hỏi luật pháp phải rõ ràng, minh bạch và bảo vệ các quyền cơ bản của con người, bao gồm quyền tự do nghiên cứu và tự do ngôn luận.

Việc áp dụng Điều 117 BLHS với những khái niệm định tính mơ hồ như “tuyên truyền thông tin nhằm chống Nhà nước” để hình sự hóa một công trình nghiên cứu sử học sẽ gửi đi một thông điệp tiêu cực tới cộng đồng quốc tế. Nó tạo ra một nghịch lý: Việt Nam muốn hội nhập toàn cầu về kinh tế, chấp nhận luật chơi chung về vật chất, nhưng lại dùng luật thời chiến để “treo cổ” tư duy lý luận. Sự thiếu đồng bộ này làm tổn hại đến uy tín quốc gia và tính chính danh pháp lý quốc tế mà Nhà nước đã dày công xây dựng.

  1. Hoàn toàn không có “Hậu quả nguy hại cho xã hội”

Để cấu thành tội phạm theo tinh thần của luật pháp tiến bộ, hành vi phải gây ra nguy cơ hoặc hậu quả nhãn tiền, nguy hại cho xã hội.

Giáo sư Nguyễn Thành Nam và các cộng sự là những trí thức, nhà khoa học hoạt động thuần túy trên giảng đường, bằng các trang sách. Tác phẩm của họ chỉ được lưu hành trong phạm vi hẹp của giới nghiên cứu và những người quan tâm đến lịch sử.

Tác phẩm không hề kêu gọi bạo loạn, không kích động lật đổ chính quyền, không phá hoại an ninh, trật tự công cộng. Một cuốn sách dày tính học thuật không thể lật đổ một chế độ có hệ thống luật pháp và quân đội vững mạnh. Việc hình sự hóa một cuộc thảo luận học thuật bằng án tù là một biện pháp không tương xứng (disproportionate), vi phạm nguyên tắc nhân văn của pháp luật.

Kết luận:

Nếu chúng ta muốn có một xã hội “tự lực tự cường”, chúng ta cần những trí thức dám tư duy phản biện. Nếu chúng ta muốn có một nhà nước trọng luật thực sự để ngẩng cao đầu hội nhập với thế giới, chúng ta không thể sợ hãi trước những góc nhìn lịch sử khác biệt.

Giáo sư Nguyễn Thành Nam và các cộng sự không chống lại Nhà nước; họ chỉ đang thực hiện quyền và nghĩa vụ của một người trí thức: dùng hệ qui chiếu của thời đại mới để soi rọi lại quá khứ, giúp quốc gia hiểu rõ hơn về chính mình để bước tiếp.

Nhưng những luận cứ trên tôi hy vọng các cơ quan hành pháp và tư pháp Việt Nam sẽ áp dụng tinh thần thượng tôn pháp luật, đình chỉ vụ án, trả tự do cho Giáo sư Nguyễn Thành Nam và các nhân sự liên quan, khép lại một vụ việc đáng tiếc để bảo vệ uy tín hội nhập của nước nhà.

Trương Nhân Tuấn


 

ICE bắt giữ luật sư nhân quyền Trung Quốc có hồ sơ tị nạn ở Mỹ

Ba’o Nguoi-Viet

July 19, 2026

LANCASTER, Pennsylvania (NV) – Luật sư nhân quyền người Trung Quốc, ông Ngô Thiệu Bình (Wu Shaoping) đã bị Cảnh Sát Di Trú (ICE) bắt giữ hôm Thứ Tư, 15 Tháng Bảy, tại thị trấn Mount Holly Springs thuộc địa hạt Cumberland, tiểu bang Pennsylvania, trong lúc ông đang đi giao hàng cho Amazon.

Theo The New York Times (NYT) và The Guardian loan tin, luật sư Ngô Thiệu Bình đã đến Mỹ bằng thị thực du lịch năm 2019 và đã nộp đơn xin tị nạn chính trị (asylum) vào năm 2020.

Luật sư nhân quyền Trung Quốc Ngô Thiệu Bình. (Hình: Trang X của Human Right Watch)

Ở Mỹ, ông Bình làm công việc giao hàng cho Amazon trong khi vẫn tích cực tham gia các hoạt động của cộng đồng đấu tranh cho nhân quyền tại Trung Quốc – một cộng đồng đang gặp nhiều khó khăn, áp lực, theo The Guardian.

Hôm Thứ Tư tuần trước, trong lúc đang trên đường làm công việc của một người giao hàng theo hợp đồng cho Amazon, ông Bình đã bị các cảnh sát chặn lại tại một ngã tư ở thành phố Mount Holly Springs, thuộc địa hạt Cumberland, tiểu bang Pennsylvania.

Theo luật sư của ông Bình là ông John Visher, các cảnh sát đã yêu cầu ông Bình trình giấy chứng minh quốc tịch Mỹ. Ông Bình đã đưa ra bằng chứng về hồ sơ xin tị nạn chính trị đang chờ xét duyệt của ông, cùng với giấy phép lao động (working permit) và giải thích ông đã nhập cảnh vào Mỹ một cách hợp pháp.

Sau đó, cảnh sát đã báo cho cơ quan di trú. Ông Bình bị bắt giữ và bị chuyển đến trung tâm giam giữ người nhập cư ở Pennsylvania. Ông có thể sẽ ra hầu tòa di trú vào ngày 27 Tháng Bảy.

Vợ của ông, bà Tào Lưu Lệ (Caoliu Li,) cho biết chồng bà đã bị cơ quan an ninh Trung Quốc thẩm vấn và sách nhiễu trong nhiều năm, nhưng ông vẫn kiên định với sự nghiệp đấu tranh cho quyền lợi của người dân Trung Quốc.

“Suốt thời gian qua, ông ấy luôn chú trọng đến những bất công tại Trung Quốc và tìm cách thay đổi chúng,” bà Lệ chia sẻ trong một cuộc phỏng vấn với NYT từ Lancaster, tiểu bang Pennsylvania, nơi vợ chồng ông bà đang sống cùng cô con gái 17 tuổi.

Bà Lauren Bis, phát ngôn viên của Bộ Nội An, cho biết ông Bình không có tư cách pháp lý hợp lệ và đã ở lại quá hạn thị thực (visa) sáu năm. Bà khẳng định ông sẽ được hưởng đầy đủ quy trình pháp lý theo quy định.

Theo luật sư Visher, do ông Bình đã nộp đơn xin tị nạn trước khi thị thực du lịch hết hạn, do đó ông được bảo vệ khỏi việc bị trục xuất và được phép ở lại trong thời gian chờ xét duyệt hồ sơ.

Cũng theo NYT, hành trình đến Hoa Kỳ của ông Ngô Thiệu Bình bắt đầu từ năm 2019. Khi đó, ông tham dự một cuộc gặp gỡ giữa các luật sư và nhà hoạt động nổi tiếng của Trung Quốc để bàn về phong trào nhân quyền đang bị đàn áp. Chỉ vài ngày sau, chính quyền Trung Quốc bắt giữ những người tham dự cuộc gặp đó, và hai trong số họ hiện đang thụ án tù dài hạn. Ông Bình đã bỏ trốn và nộp đơn xin tị nạn tại Hoa Kỳ vào năm 2020. Hồ sơ đang chờ thụ lý.

Trước khi rời Trung Quốc, ông Ngô Thiệu Bình từng làm luật sư thương mại tại Thượng Hải và gia nhập phong trào những người bảo vệ nhân quyền sau khi Bắc Kinh, dưới thời Chủ Tịch Tập Cận Bình, phát động cuộc đàn áp luật sư nhân quyền lớn nhất trong nhiều thập niên.

Ông nhận các vụ án đặc biệt về chính trị, đại diện cho một nhà hoạt động chống tham nhũng, một nhà bảo vệ nhân quyền khác, và các học viên Pháp Luân Công, một phong trào tâm linh bị cấm ở Trung Quốc.

Ông Châu Phong Tỏa (Fengsuo Zhou), giám đốc điều hành tổ chức nhân quyền cho Trung Quốc có trụ sở tại New York, cho biết ông Bình đã bào chữa cho những bị cáo mà hầu hết luật sư khác đều né tránh.

Vụ bắt giữ luật sư nhân quyền Ngô Thiệu Bình đã thu hút sự chú ý của các nhà vận động nhân quyền quốc tế. Ông Bob Fu, một nhà hoạt động nhân quyền Cơ Đốc Giáo, đã công khai bày tỏ rằng ông tin các nhân viên ICE đã hành động sai khi bắt giữ ông Bình, người mà ông mô tả là một người bảo vệ tự do tôn giáo tận tụy và có tình trạng cư trú hợp pháp tại Hoa Kỳ.

Những người ủng hộ cho biết họ đang nỗ lực vận động sự hỗ trợ pháp lý và công luận cho ông Ngô Thiệu Bình trước phiên điều trần ngày 27 Tháng Bảy, với hy vọng tránh để ông bị cưỡng bức trả về Trung Quốc. (KL) [kn]


 

Gói Đường, Gói Muối, Gói Cả Một Đời Chờ Đợi

Liem Pham

 Có những người sau năm 1975 cũng mang án tù, nhưng không có tên trong bất cứ danh sách nào.

Đó là những người vợ. Ngày nhận được mảnh giấy báo chồng đang bị “học tập cải tạo” ngoài Bắc, chị ngồi rất lâu. Không phải vì không biết đọc. Mà vì không biết bắt đầu từ đâu.

Thăm nuôi.

Hai chữ nghe nhẹ như gió, nhưng để đi được một chuyến là cả một hành trình đầy nước mắt.

 Chị bán chiếc nhẫn cưới. Cầm cố chiếc xe đạp. Vay gạo hàng xóm. Gom từng đồng bạc lẻ. Mỗi đồng đều đổi bằng những ngày nhịn ăn của mẹ con ở nhà.

Rồi bắt đầu học:

Học cách gói đường vào túi ni lông nhỏ, buộc thật chặt để khỏi chảy khi gặp mưa.

Học cách chia muối thành từng gói bằng hai ngón tay, vì nghe biết trong trại, một nhúm muối cũng quý hơn vàng.

Học cách gói thuốc lào thật kín để khỏi mất mùi. Với người tù, vài hơi thuốc đôi khi là chút bình yên hiếm hoi sau một ngày lao động kiệt sức.

Học cách khâu tiền vào lai áo. Học cách giấu vài viên thuốc cảm trong ruột bánh. Học cách trả lời cán bộ sao cho vừa đủ, không thừa một câu, không thiếu một chữ.

Không ai dạy chị. Cuộc đời dạy.

 Những người đàn bà gặp nhau ở ga Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng… nhìn chiếc bao tải trên vai là biết cùng chung một số phận. Họ truyền cho nhau từng kinh nghiệm nhỏ:

“Đừng đựng nước mắm bằng chai thủy tinh.”

“Đừng để đường chung với cá khô.”

“Đến trại nhớ cúi đầu, đừng cãi.”

Toàn những bài học không có trong bất kỳ cuốn sách nào.

 Rồi chuyến tàu lắc lư nhiều ngày đêm. Toa tàu đông nghẹt. Mùi mồ hôi, mùi cá khô, mùi khoai luộc hòa với tiếng trẻ con khóc, tiếng bánh sắt nghiến trên đường ray. Người đàn bà ôm chặt chiếc giỏ như ôm cả sinh mạng của chồng mình.

Bởi trong đó không chỉ có vài ký gạo, ít đường, ít muối. Mà còn có tình nghĩa vợ chồng.

Có niềm hy vọng.

Có lời nhắn của con: “Ba nhớ về.”

 Đến nơi, sau bao lần kiểm tra, cân đo, xét hỏi, nhiều món bị giữ lại. Có thứ bị tịch thu. Có thứ bị cắt xén. Chị chỉ biết im lặng.

 Rồi cũng đến lúc được gặp.

Chỉ vài chục phút.

Qua hàng rào.

Qua ánh mắt của cán bộ.

Qua khoảng cách tưởng gần mà xa như cả một đời người.

Chị cố cười.

Anh cũng cố cười.

Không ai dám khóc.

Bởi người ở lại sợ người đi thêm đau lòng. Người trong trại lại sợ vợ về sẽ khóc suốt dọc đường.

 Khi chuyến tàu quay về Nam, chiếc giỏ đã nhẹ hơn.

Nhưng trái tim người vợ lại nặng hơn.

Lại tiếp tục những tháng ngày dành dụm.

Lại vá áo thuê.

Lại bán từng lon gạo.

Lại gói đường.

Lại gói muối.

Lại gói thuốc lào.

Để chờ một chuyến thăm nuôi khác, không biết sẽ đến sau sáu tháng, một năm hay lâu hơn.

 Lịch sử thường nhắc đến những năm tháng tù cải tạo với những người đàn ông sau hàng rào kẽm gai. Nhưng lịch sử cũng nên dành một trang cho những người phụ nữ lặng lẽ đứng ngoài cánh cổng ấy.

Không được tuyên dương.

Nhưng bằng đôi vai gầy, họ đã gánh cả một gia đình, nuôi con khôn lớn và giữ cho người chồng trong trại còn niềm tin để sống.

Có lẽ, trong ký ức của nhiều cựu tù cải tạo, thứ ngọt nhất không phải là gói đường.

Mà là biết rằng, ở quê nhà, vẫn có một người vợ đang cặm cụi buộc từng nút ni lông, gói ghém cả tình yêu và hy vọng vào chuyến tàu ra Bắc.

Phạm Sơn Liêm


 

Con Đi Tù Cải Tạo, Cha Mẹ Già Vẫn Đợi

Liem Pham  

Có những người tù cải tạo còn có được vài dòng thư gửi về nhà sau nhiều tháng, nhiều năm.

Nhưng cũng có những người… biệt vô âm tín.

Không thư.

Không tin.

Không biết còn sống hay đã chết.

Ở quê nhà, người đau khổ nhất nhiều khi không phải là người vợ trẻ, mà là những cha mẹ đã bạc đầu.

Mỗi buổi sáng, ông cụ lại chống gậy ra đầu ngõ. Chẳng để làm gì. Chỉ nhìn con đường đất dẫn vào xóm. Mỗi tiếng xe đạp, mỗi bóng người mặc áo xanh, mỗi tiếng chó sủa đều khiến ông ngẩng đầu lên, rồi lại lặng lẽ cúi xuống.

Bà cụ thì vẫn giữ nguyên chiếc chén, đôi đũa của người con trai trên chạn bếp. Bà nói với con dâu:

“Biết đâu nó về bất ngờ… phải có cái để nó ăn.”

Năm này qua năm khác.

Mái tóc của cha trắng thêm.

Đôi mắt của mẹ mờ đi.

Mùa lúa chín rồi lại gặt. Cây trước sân thay bao mùa lá. Người trong làng có người trở về, có người không. Nhưng người con của ông bà vẫn chỉ là một khoảng lặng.

Có những buổi chiều, bà cụ ngồi bên hiên, ôm chiếc áo cũ của con mà vá đi vá lại. Chiếc áo chẳng còn ai mặc, nhưng bà vẫn sợ nếu một ngày con về thì áo rách.

Cha ít nói hơn.

Ông chỉ nhìn xa xăm, thỉnh thoảng lẩm bẩm:

“Chắc nó đói lắm…”

Không ai biết trong những trại cải tạo xa xôi ấy, người con có còn sống hay không. Cũng không ai dám nói một lời chắc chắn để cha mẹ già bớt hy vọng.

Hy vọng là điều cuối cùng người ta còn giữ được.

Có những người cha mất trước khi biết tin con được thả.

Có những người mẹ nhắm mắt vẫn dặn con cháu:

“Nếu anh con có về… nói với nó là má đợi tới phút cuối.”

Đó là điều đau đớn nhất của chiến tranh và những năm tháng sau chiến tranh.

Không chỉ là những năm tù.

Mà còn là những mái nhà có ngọn đèn vẫn thắp mỗi tối, những cánh cổng chưa bao giờ khóa hẳn, và những bậc cha mẹ già dành trọn quãng đời còn lại để chờ một tiếng gọi:

“Cha… Má… Con về rồi.”

Tiếng gọi ấy, với nhiều gia đình, đã không bao giờ vang lên.

Phạm Sơn Liêm


 

Thắng Argentina 1-0, Tây Ban Nha lần thứ hai vô địch World Cup

Ba’o Nguoi-Viet

July 19, 2026

EAST RUTHERFORD, New Jersey (NV) – 16 năm trước, Tây Ban Nha lần đầu lên ngôi vô địch thế giới bằng bàn thắng duy nhất của Andres Iniesta vào lưới Hòa Lan ở hiệp phụ thứ hai thì tại World Cup 2026, bàn thắng quý hơn vàng của Ferran Torres vào lưới Argentina đã đưa Tây Ban Nha lần thứ nhì vô địch thế giới theo đúng kịch bản mà lớp đàn anh mình thực hiện.

Nếu bốn năm trước tại Qatar, Argentina đã mở đầu trận chung kết bằng hai bàn thắng vào lưới đối thủ ngay trong hiệp một thì cả trận chung kết 2026 suốt 90 phút hai hiệp chính, Argentina không có lấy nổi một cú sút về phía cầu môn Tây Ban Nha. Phải đến khi nhận bàn thua ở phút 106 và vùng lên thì Argentina mới có cú sút đầu tiên.

Đội tuyển Tây Ban Nha nâng cao cúp vàng vô địch World Cup 2026. (Hình: David Ramos/Getty Images)

Vô hiệu hóa Messi như thế nào là câu hỏi được đặt ra rất nhiều cho Tây Ban Nha trước trận chung kết. Và đúng như huấn luyện viên Luis de la Fuente lên tiếng là không thể kèm Messi nên cách tốt nhất là đừng để đội hình và lối chơi của mình bị phá vỡ bởi Messi qua việc thực hiện đúng ý đồ theo cách chơi luân chuyển trái bóng mà Tây Ban Nha thành công từ đầu giải đến giờ.

Suốt 45 phút hiệp một, Argentina gần như chỉ phòng ngự, thỉnh thoảng là những pha bóng dài phản công nhưng thủ môn Simon và hàng phòng ngự Tây Ban Nha đã không khó hóa giải.

Ngược lại thì những Yamal, Oyarzabal, Cucurella tiếp cận cầu môn Argentina nhưng những cú sút không đủ lực hoặc bị hàng thủ dày đặc Argentina đánh bật ra.

Ferran Torres (số 7), người hùng của trận đấu, ăn mừng sau khi ghi bàn thắng duy nhất cho Tây Ban Nha, hạ gục Argentina, lên ngôi vô địch thế giới lần thứ hai. (Hình: David Ramos/Getty Images)

Chút lo lắng cho đương kim vô địch khi trung vệ giữ vai trò trụ cột trong hàng phòng ngự Lisandro Martinez không thể thi đấu tiếp tục từ phút 44 do chấn thương. Thay đổi bắt buộc của huấn luyện viên Lionel Scaloni đưa lão tướng 38 tuổi Otamendi vào thay chỉ là biện pháp chữa cháy.

Hiệp hai vẫn là sức ép ngày càng gia tăng của Tây Ban Nha về phía cầu môn Argentina. Olmo buộc thủ môn Martinez giật mình cản phá cú sút xa chịu phạt góc. Ferran Torres đánh đầu cận thành từ đường chuyền của Yamal nhưng vào tầm đón thủ môn Argentina.

Khung thành luôn bị đe dọa nhưng Argentina lại mất thêm trung vệ thứ hai là Romero chấn thương rời sân ở phút 70.

 

Ferran Torres (7) tung cú sút ghi bàn duy nhất đưa Tây Ban Nha lên ngôi vô địch World Cup 2026 sau 120 phút dồn ép và thi đấu trên chân trước Messi và các cầu thủ Argentina. (Hình: Jewel Samad / AFP via Getty Images)

Mất cặp trung vệ trụ cột và mới phút thứ 70 nhưng Argentina đã thay đủ năm cầu thủ nhưng vẩn chưa có cú sút cầu môn nào. Ngược lại thì Tây Ban Nha làm được tất cả trừ bàn thắng.

Đến phút 75, huấn luyện viên Luis de la Fuente tung cùng lúc “siêu dự bị” Merino và cơn lốc trái Williams vào với mong muốn giải quyết trận đấu ngay trong 90 phút.

 

Lionel Messi (10) hiếm hoi có pha đi bóng như thế. (Hình: Florencia Tan Jun/Getty Images)

Liên tiếp hai phút 76, 77, thủ môn Martinez cứu thua từ hai cú sút xa của Rodri và Cubarsi. Tây Ban Nha chơi bóng nửa sân dồn ép nhưng hàng phòng ngự Argentina dù chắp vá nhưng vẫn chống trả kiên cường.

Argentina đã khó còn khó hơn khi phút 90+3 Fernandez nhận thẻ vàng thứ hai rời sân do lỗi vào bóng ác ý với Cubarsi.

Đương kim vô địch chỉ thoát thua trong hai hiệp chính nhờ thủ môn Martinez bay người cứu thua từ cú đá phạt hiểm hóc của của Yamal ở phút 90+8.

Hai đội bước vào hiệp phụ với lợi thế 11 đánh 10 thuộc về Tây Ban Nha.

Huấn luyện viên Luis de la Fuente sử dụng hết quyền thay người để đưa những cầu thủ tấn công vào với hy vọng sẽ tìm được bàn thắng. Kiên trì tấn công và tấn công, cuối cùng thì nỗ lực của Tây Ban Nha đã được đền bù. Phút 106 từ đường chuyền sâu xuống biên trái, William đè hậu vệ Molina của Argentina đánh đầu ngược lên cho Ferran Torres trên đà băng xuống tung cú sút căng hạ gục thủ môn Martinez ghi bàn duy nhất của trận đấu.

Lamine Yamal (số 19) của Tây Ban Nha và Alexis Mac Allister (số 20) của Argentina. (Hình: Odd ANDERSEN / AFP via Getty Images)

16 năm trước cũng ở hiệp phụ thứ hai Andres Iniesta ghi bàn duy nhất vào lưới Hòa Lan đưa Tây Ban Nha đoạt cúp vô địch lần đầu tiên thì chung kết World Cup 2026, bàn thắng quý hơn vàng của Ferran Torres đã đưa Tây Ban Nha lẩn thứ nhì vô địch thế giới.

Một chức vô địch xứng đáng dành cho đội bóng chơi hay hơn và đẹp hơn. (Phú Trường) [kn]