Mỗi cuộc chiến tranh đều có những “vũ khí thần kỳ” của riêng mình. Chúng luôn được giới thiệu theo cùng một cách: hoặc sẽ chấm dứt mọi cuộc chiến tranh, hoặc ít nhất cũng giúp kết thúc chiến tranh với tổn thất tối thiểu cho phe sử dụng chúng.
Đăng ngày: 08/06/2026
Trong nội chiến Hoa Kỳ thời trước, đó là các loại súng “liên thanh”, tàu bọc thép và tàu ngầm. Trong Thế chiến thứ nhất, đó là xe bọc thép, thời đó được ví như những “chiến hạm trên bộ”, và vũ khí hóa học. Khi Đệ Nhị Thế Chiến kết thúc, tổng thống Harry Truman thì cảm tạ Chúa vì sự ra đời của bom nguyên tử. Còn đối với các quân đội thời nay, trí tuệ nhân tạo (AI) chính là “vũ khí thần kỳ” phiên bản mới nhất.
Trên đây là nhận định của Paul Josephson trong bài viết “Vì sao robot không thể giành chiến thắng trong chiến tranh ?”. Bài viết đăng ngày 03/06/2026 trên trang mạng Pháp ngữ Le Grand continent, chuyên về địa-chính trị. Paul Josephson là giáo sư lịch sử tại trường đại học tư thục Colby College của Hoa Kỳ, và chuyên nghiên cứu về nước Nga và Liên Xô, lịch sử khoa học và công nghệ trong thế kỷ XX.
Một cách khái quát, AI được sử dụng thế nào trong chiến tranh ?
Những người ủng hộ AI cho rằng công nghệ này cho phép tiến hành các cuộc tấn công từ xa, giảm thiểu thương vong cho lực lượng của mình, thực hiện các đòn đánh chính xác mà vẫn bảo vệ được dân thường. Các drone và phương tiện tự hành có thể thực hiện các nhiệm vụ định vị mục tiêu và tiêu diệt mà không khiến binh sĩ gặp nguy hiểm.
Tuy nhiên, theo tác giả bài viết, AI thực chất là sản phẩm của một tổ hợp công nghiệp – quân sự – kỹ thuật số được hậu thuẫn bởi hàng chục tỷ đô la đầu tư, khuyến khích các hành động quân sự vội vã thay vì ngoại giao, tạo ra cảm giác bất khả chiến bại giả tạo và, giống như những “vũ khí thần kỳ” của thế kỷ XX, AI cũng dẫn đến các hành vi lạm dụng chống lại dân thường.
Theo các phương tiện truyền thông và nhiều nhà phân tích được sử gia Paul Josephson dẫn lại, AI hiện diện ở hầu hết các cuộc chiến tranh đương đại. Xuất phát từ lĩnh vực quân sự, các ứng dụng của AI được sử dụng để nhắm vào đối thủ ở nước ngoài hoặc để giám sát công dân trong nước. Các tập đoàn AI lớn và các nhà lãnh đạo của các công ty này, từ Palantir, OpenAI, cho đến Google, và nhiều công ty khác, đang đặt cược vào ý tưởng rằng AI có thể tiến hành chiến tranh thay cho con người, với chi phí thấp hơn và ít thương vong hơn.
Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu chuyên về lịch sử khoa học và công nghệ trong thế kỷ XX, đó là một giả định sai lầm.
Không chỉ có nguồn gốc quân sự, AI dường như còn lệ thuộc vào quân đội ?
Từ những năm 2010, drone bắt đầu bay trên các khu dân cư. Vừa là đồ chơi cho trẻ em vừa là công cụ giám sát, chúng dần dần hòa vào đời sống thường nhật. Tuy nhiên, nguồn gốc của chúng vẫn là quân sự. Thiết bị này được tạo ra để tấn công các mục tiêu ở xa mà không đặt binh lính vào cảnh nguy hiểm. Nhẹ và dễ điều khiển, drone đã đóng vai trò quan trọng trong các cuộc chiến tại Syria, Ukraina, Palestine, Venezuela và Iran trong thập kỷ này.
Xuất phát từ nhu cầu quân sự, cho đến nay AI vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguồn tài trợ từ quân đội và phần lớn các ứng dụng của AI vẫn gắn với lĩnh vực chiến tranh.
Tác giả bài viết dẫn ví dụ tại Hoa Kỳ : Ngân sách nghiên cứu trong lĩnh vực quốc phòng của Mỹ vượt xa đáng kể ngân sách của Quỹ Khoa học Quốc gia (NSF). Nguồn tài trợ của bộ Quốc Phòng Mỹ dành cho trí tuệ nhân tạo hiện giờ vượt gấp 20 lần so với Quỹ Khoa học Quốc gia. Bên cạnh việc thúc đẩy sự phát triển của điện tử lượng tử- yếu tố thiết yếu cho các chất bán dẫn vận hành máy tính, điện thoại di động và các thiết bị viễn thông khác, các khoản tài trợ khổng lồ dành cho quốc phòng không còn chỉ hướng đến nghiên cứu cơ bản mà đã mở đường cho nghiên cứu ứng dụng.
Nghiên cứu trong lĩnh vực quân sự quyết định phần lớn các cách sử dụng và ứng dụng của trí tuệ nhân tạo (AI). Cũng theo sử gia này, Lầu Năm Góc giờ đây thậm chí còn hướng tới việc thay thế toàn bộ binh lính trên chiến trường.
Vai trò mới của AI trong chiến tranh hiện đại là gì ?
Chính quyền Mỹ của tổng thống Donald Trump không che giấu sự quan tâm đặc biệt đối với AI, một công nghệ được sử dụng không chỉ trong các chiến dịch quân sự ở nước ngoài mà còn trong chính sách đối nội, đặc biệt là các chiến dịch bắt giữ quy mô lớn do Cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan Mỹ tiến hành.
Ngân sách dự kiến của Nhà Trắng dành cho Cơ quan Các Dự án Nghiên cứu Quốc phòng Tiên tiến (DARPA) trong năm 2027 lên tới hơn 5 tỷ đô la, tăng gần 20% so với năm 2026. Trên trang web chính thức, DARPA khẳng định các đổi mới của cơ quan này “đã trở thành một phần không thể thiếu của đời sống dân sự hiện đại”, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải “đưa các công nghệ mới phục vụ những người đang chiến đấu vì đất nước”.
Văn phòng Nghiên cứu Hải quân thuộc bộ Quốc Phòng Mỹ cũng xác định AI là ưu tiên trong phát triển các hệ thống hàng hải tự động, dù theo tác giả, quyết định này được đưa ra quá muộn để có thể giúp tái mở cửa eo biển Hormuz trong ngắn hạn.
Trong khi đó, Văn phòng Kỹ thuật số và Trí tuệ nhân tạo thông báo sẽ hợp tác với các công ty tư nhân chuyên về AI như Anthropic, OpenAI, Google và xAI nhằm phát triển các công cụ AI có khả năng sát thương.
Lầu Năm Góc cũng đang thúc đẩy dự án “Thunderforge”, một chương trình nhằm tự động hóa một số khâu trong chuỗi chỉ huy, đồng thời xây dựng các kế hoạch tác chiến và mô phỏng chiến tranh để dự báo các mối đe dọa khác nhau.
Marc Andreessen, một nhà tài trợ lớn của Donald Trump, người có tư tưởng “lạc quan về công nghệ” và ủng hộ việc đẩy nhanh phát triển AI, chỉ toàn nhìn thấy những mặt tích cực trong làn sóng đổi mới này của Lầu Năm Góc, cũng như trong các ứng dụng tiềm năng của AI đối với chiến tranh. Tương tự như những nhà hóa học từng cho rằng vũ khí hóa học là một phương tiện giết chóc “nhân đạo hơn” trong Đệ Nhất Thế chiến, Andreessen lập luận rằng AI sẽ “cải thiện chiến tranh” trong trường hợp không thể tránh khỏi chiến tranh, bằng cách làm giảm đáng kể tỷ lệ thương vong. Theo ông, điều đó có thể đạt được nhờ “những quyết định chiến lược và chiến thuật tốt hơn, giúp giảm thiểu rủi ro, sai sót và sự đổ máu không cần thiết”.
Tuy nhiên, Paul Josephson phản bác là nếu các “vũ khí thông minh” giúp binh sĩ tránh xa tuyến đầu, thì chúng cũng không làm giảm khả năng gây sát thương, mà ngược lại còn có thể khiến người sử dụng trở nên ít nhạy cảm hơn với hành vi giết chóc, đồng thời khuyến khích việc sử dụng vũ lực ở quy mô lớn hơn, kéo theo những “thiệt hại ngoài dự kiến” và ngày càng nghiêm trọng đối với dân thường.
Ví dụ, theo sử gia Paul Josephson, các loại vũ khí được mô tả là “thông minh” này đã góp phần gây ra cái chết của hàng ngàn người dân Iran, trong đó có nhiều học sinh.
Nhưng AI quân sự cũng làm dấy lên nhiều tranh luận về đạo đức ?
Ngày 15/05/2026, Giáo hoàng Lêô XIV đã công bố thông điệp đầu tiên của triều đại giáo hoàng của mình và lựa chọn chủ đề AI làm trọng tâm.
Nhắc đến tổ hợp công nghiệp – quân sự – kỹ thuật số, Giáo hoàng Lêô XIV đã cảnh báo rằng AI đang góp phần khiến “việc sử dụng các hệ thống vũ khí có khả năng tự chủ tác chiến trở nên dễ dàng hơn, qua đó khiến chiến tranh trở nên ‘dễ tiếp cận’ hơn và ngày càng ít chịu sự kiểm soát của con người”.
Ngài kêu gọi việc “phát triển và sử dụng AI trong lĩnh vực quân sự phải tuân thủ những chuẩn mực đạo đức nghiêm ngặt nhất, tôn trọng phẩm giá con người và tính thiêng liêng của sự sống, đồng thời tránh một cuộc chạy đua vũ trang”, đặc biệt là “không thể chấp nhận việc giao cho các hệ thống nhân tạo quyền đưa ra những quyết định liên quan đến sinh mạng con người hoặc những quyết định không thể đảo ngược. Không có thuật toán nào có thể khiến chiến tranh trở nên chấp nhận được về mặt đạo đức”.
Trên thực tế, sử gia Paul Jesephson lưu ý là trong một thời gian dài, các nhà lãnh đạo, nhà phát triển, lập trình viên và các nhà tài trợ cho các công cụ AI đã đánh giá quá cao năng lực nhận thức của máy móc, đến mức cho rằng có thể loại bỏ yếu tố con người khỏi quá trình ra quyết định. Trong lĩnh vực nghiên cứu và lập trình AI, các vấn đề đạo đức đặc biệt nghiêm trọng, bởi vì các thuật toán có thể nhanh chóng khuếch đại bạo lực, đưa ra những quyết định nhắm mục tiêu thiếu minh bạch hoặc mang định kiến, làm suy giảm trách nhiệm của con người và gia tăng nguy cơ xác định nhầm “kẻ thù”.
Một số ý kiến khác còn cho rằng các loại vũ khí tự động hoặc được hỗ trợ bởi AI tạo ra những rủi ro pháp lý và đạo đức không thể chấp nhận được, ngay cả khi chúng chỉ nhằm vào các mục tiêu quân sự.
Dĩ nhiên, các hệ thống phòng thủ, từ đánh chặn tên lửa, phát hiện mìn, tổ chức hậu cần sơ tán cho đến phòng thủ mạng, có thể cứu sống nhiều mạng người. Tuy nhiên, liệu việc các lập trình viên phát triển những thuật toán được thiết kế để tấn công dân thường có thể được coi là hành động phù hợp về mặt đạo đức hay không ?
Theo luật nhân đạo quốc tế của Liên Hiệp Quốc, dân thường phải được bảo vệ trong các cuộc xung đột vũ trang. Việc cố ý nhắm mục tiêu vào dân thường nhìn chung bị coi là tội ác chiến tranh. Các bên tham chiến phải phân biệt mục tiêu quân sự và mục tiêu dân sự, đồng thời tránh gây ra những thiệt hại quá mức đối với dân thường.
Chính các nhà sản xuất vũ khí và giới quân sự đang kêu gọi những “chính phủ có trách nhiệm” đầu tư nghiên cứu nhằm bảo đảm triển khai các hệ thống AI có khả năng phân biệt giữa mục tiêu hợp pháp và mục tiêu không hợp pháp, bao gồm cả dân thường. Tuy nhiên, những sai sót thường xuyên trong việc xác định mục tiêu của con người dù được hỗ trợ bởi các loại vũ khí thông minh, cùng với việc dân thường ngày càng bị biến thành mục tiêu chiến tranh cho thấy đó có thể chỉ là một ảo tưởng nguy hiểm và đầy bạo lực.
Điều đó có nghĩa là AI không khiến chiến tranh trở nên chính nghĩa hơn, cũng không hiệu quả hơn ?
Đối mặt với nước Nga của Vladimir Putin, các kỹ sư quân sự Ukraina đã khai thác đến cùng những tiến bộ trong lĩnh vực AI, khoa học vật liệu mới và công nghệ drone.
Các drone của Ukraina sử dụng công nghệ nhận dạng mục tiêu bằng AI để phát hiện xe tăng được ngụy trang hoặc ẩn trong rừng. Ngày nay, các drone thường được trang bị những tay đòn bằng sợi carbon dài khoảng 2,5 mét mỗi bên, cùng với cánh quạt, dây cáp và ăng-ten. Chúng có khả năng tấn công mục tiêu với độ chính xác rất cao. Trước một đối thủ Nga đang tiến hành cuộc chiến nhằm hủy diệt một quốc gia có chủ quyền, rất khó để phủ nhận tính chính đáng của việc Ukraina sử dụng công nghệ này. Nhưng một câu hỏi được đặt ra là vấn đề đạo đức của việc sử dụng AI trong một cuộc chiến tranh bị coi là không có lý do chính đáng từ phía bị tấn công nằm ở đâu.
Theo sử gia Paul Josephson, chính sách địa chính trị của tổng thống Mỹ Donald Trump và thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu là một trường hợp nghiên cứu đáng chú ý, vừa cho thấy cách AI quân sự được triển khai trong các cuộc xung đột cường độ cao, vừa cho thấy vì sao công nghệ này có thể tỏ ra kém hiệu quả hơn kỳ vọng, hoặc ít nhất là nuôi dưỡng một ảo tưởng về hiệu quả.
Ông nhận định là các cuộc tấn công của Mỹ và Israel nhằm vào Iran được khởi động nhờ cơ hội công nghệ do những tiến bộ trong lĩnh vực AI tạo ra. Việc loại bỏ các lãnh đạo chính trị và quân sự Iran không hẳn xuất phát từ một nhu cầu quân sự cấp thiết, mà trước hết là tận dụng một cơ hội chiến thuật mang tính tạm thời. Trước và trong chiến dịch quân sự, các nhóm chuyên gia Mỹ và Israel đã sử dụng những công cụ này để thu thập thông tin tình báo, xác định mục tiêu, lập kế hoạch không kích và đánh giá thiệt hại chiến trường với tốc độ chưa từng có.
Nhờ khả năng xác định mục tiêu và mức độ sát thương chưa từng thấy, các nhà hoạch định chiến lược và giới lãnh đạo chính trị tin rằng họ có thể nhanh chóng kết thúc cuộc xung đột. Tuy nhiên, Washington đã mắc phải sai lầm quen thuộc của những người quá tin vào các “vũ khí thần kỳ”: bỏ qua những thách thức mới xuất hiện sau các “chiến thắng” ban đầu, khiến Mỹ rơi vào thế bế tắc về bước đi tiếp theo.
Chỉ trong hai ngày đầu của chiến dịch tấn công, Hoa Kỳ đã chi 5,6 tỷ đô la cho đạn dược. Hơn 2.000 đơn vị vũ khí đã được sử dụng nhằm vào những mục tiêu mà Lầu Năm Góc xác định là của Iran. Kể từ khi Donald Trump ra lệnh phát động chiến tranh chống Iran, Mỹ đã mất ít nhất 42 máy bay, làm cạn kiệt một phần đáng kể kho tên lửa và drone, đồng thời chi ít nhất 30 tỷ đô la cho cuộc xung đột.
Tuy nhiên, vũ khí không phải là nguồn lực vô hạn. Việc bổ sung kho dự trữ cần đến nhiều tháng, đặc biệt đối với các loại vũ khí chính xác cao được hỗ trợ bởi AI. Dường như Mỹ đã không nhận ra rằng công nghệ, tự nó, không thể mang lại chiến thắng trong chiến tranh. Sử gia Paul Josephson, chuyên về lịch sử công nghệ thế kỷ XX, kết luận : công nghệ cũng không thể ngăn chặn những chi phí khổng lồ mà mọi cuộc xung đột vũ trang đều gây ra. Niềm tin vào AI chắc chắn đã thúc đẩy việc sử dụng công nghệ này trên chiến trường, nhưng đồng thời cũng thổi phồng hiệu quả thực sự của nó.



















