Tại sao họ lại muốn chúng ta tiếp tục đánh giết lẫn nhau dưới đáy giếng ấy?

Vương Điền 

Một người nông dân đã quá mệt mỏi vì lũ chuột phá hoại mùa màng và ăn cắp thóc lúa của mình, nên ông ta nghĩ ra một kế hoạch vừa khôn khéo vừa tàn nhẫn.

Ông ném một con lợn chết xuống một cái giếng sâu đã bị bỏ hoang. Bị thu hút bởi mùi xác chết, gần 80 con chuột lập tức lao xuống giếng để tranh nhau ăn. Ban đầu, mọi chuyện dường như rất tuyệt vời. Thức ăn có quá nhiều, đủ cho tất cả, và lũ chuột ăn no nê cho đến khi thỏa mãn.

Nhưng khi thức ăn cạn kiệt, chúng mới phát hiện ra một điều kinh hoàng: thành giếng quá dốc, không thể trèo lên được. Chúng đã bị mắc kẹt.

Ngày tháng trôi qua, cơn đói biến thành tuyệt vọng. Sự tuyệt vọng dần biến thành hung hãn. Những con chuột từng bình thản ăn uống bên cạnh nhau giờ đây bắt đầu cắn xé nhau để giành giật sự sống. Cuối cùng, chúng bắt đầu giết hại và ăn thịt lẫn nhau.

Từng con chuột một gục xuống, số lượng ngày càng giảm, cho đến khi chỉ còn lại duy nhất một con. Đôi mắt nó đỏ ngầu, và nó sống sót bằng cách ăn thịt chính đồng loại của mình.

Sau đó, người nông dân quay trở lại, thả một sợi dây xuống giếng và cứu con chuột cuối cùng còn sống. Nhưng ông ta không cứu nó vì lòng tốt hay sự thương xót.

Người nông dân biết rằng con chuột ấy đã học được cách sinh tồn bằng việc săn giết những con chuột khác. Khi được thả ra ngoài đồng, nó sẽ tiếp tục giết hại đồng loại của mình thay vì ăn thóc lúa của ông ta.

Người nông dân đã biến kẻ thù của mình thành vũ khí lợi hại nhất.

Và đó chính là bài học về chiến thuật “chia để trị”.

Những kẻ kiểm soát chiếc bẫy không cần phải tự mình tham gia chiến đấu. Chúng chỉ cần tạo ra những điều kiện khiến những người khác quay sang chống lại nhau.

Lũ chuột tin rằng kẻ thù của chúng chính là những con chuột khác. Chúng không bao giờ nhận ra rằng kẻ thù thực sự là người nông dân đã đặt chúng vào cái giếng ấy.

Mối nguy hiểm lớn nhất không phải lúc nào cũng là kẻ thù đang đứng trước mặt bạn. Đôi khi, đó chính là kẻ đã tạo ra cuộc xung đột, rồi lặng lẽ đứng nhìn bạn và những người khác tự hủy hoại lẫn nhau.

Trước khi quay sang chống lại người hàng xóm chỉ vì họ có quan điểm chính trị khác với mình, hãy tự hỏi: Ai là người được hưởng lợi khi người dân Mỹ bị chia rẽ?

Trong khi chúng ta mải mê tranh cãi, đối đầu với nhau vì đảng Cộng hòa hay đảng Dân chủ, có thể chúng ta đang bỏ qua những kẻ thực sự kiếm lợi từ chính những cuộc xung đột ấy.

Có lẽ, câu hỏi thực sự không phải là bạn đứng về phe nào, mà là:

Ai đã đào nên cái giếng này — và tại sao họ lại muốn chúng ta tiếp tục đánh giết lẫn nhau dưới đáy giếng ấy?


 

Bạo loạn ở Pháp – biểu tình, phá hoại và những kẻ đục nước béo cò – Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng –

20/10/2026

Trước tiên chúng ta phải hiểu rằng ở Pháp, biểu tình đã trở thành một nét văn hóa, một sinh hoạt hết sức bình thường của đời sống xã hội. Người Pháp xuống đường không chỉ để phản đối hay đòi hỏi quyền lợi, mà đôi khi còn coi như một cuộc dạo chơi tập thể. Không khí nhiều cuộc biểu tình rất náo nhiệt, có âm nhạc, ca hát, nhảy múa, chẳng khác gì một ngày hội. Thời tiết cũng góp phần không nhỏ vào số người tham gia: trời nắng đẹp, người xuống đường thường đông hơn; trời mưa rét, nhiệt tình cách mạng đôi khi cũng giảm đi đáng kể. Vì thế, đừng vội nhìn vào số người biểu tình đông đảo mà kết luận rằng nước Pháp đang sụp đổ.

Nước Pháp lại đang trải qua những ngày đầy biến động. Những cuộc biểu tình bắt đầu từ sự bất mãn của học sinh về điều kiện học tập, thiếu giáo viên, thiếu phương tiện, rồi lan rộng sang các vấn đề đời sống, tiền lương, sức mua và chính sách xã hội.

Ngày 17/10/2026, hàng trăm nghìn người xuống đường trên khắp nước Pháp. Theo chính quyền, có khoảng 550.000 người tham gia, trong khi các nhà tổ chức đưa ra con số 800.000.

Nhưng điều đáng lo ngại không chỉ là quy mô biểu tình, mà là mức độ bạo lực và phá hoại đi kèm. Hàng loạt cửa hàng bị đập phá, cướp bóc, xe cộ bị đốt, cảnh sát bị tấn công, nhiều công trình công cộng bị phá hủy. Hơn một nghìn người bị bắt giữ, hàng trăm người bị thương.

Đặc biệt nghiêm trọng, những kẻ bạo loạn đã tấn công trực tiếp vào các biểu tượng của nền Cộng hòa Pháp. Tòa thị chính Limoges bị phóng hỏa, tòa thị chính Marseille và Lille bị xâm nhập, phá hoại.

Phản đối chính phủ là một quyền dân chủ. Nhưng tấn công các thiết chế của nền Cộng hòa, đốt phá tài sản chung và cướp bóc tài sản của người dân thì không còn là thực hiện quyền dân chủ nữa. Đó là những hành vi phạm pháp, cần phải bị lên án và trừng trị.

Vậy ai đang gây ra những cuộc bạo loạn ấy?

Trước hết, phải phân biệt rõ những người biểu tình ôn hòa với những kẻ gây bạo lực. Đại bộ phận người xuống đường là những người biểu tình ôn hòa.

Nhưng trong xã hội Pháp từ lâu đã tồn tại những nhóm chuyên lợi dụng các cuộc biểu tình để gây rối, thường được gọi là les casseurs(kẻ đập phá).

Trong những năm gần đây, nổi bật là các nhóm cực tả (ultragauche) và bọn sử dụng phương thức hành động : Black Bloc. Chúng thường mặc đồ đen, che mặt, di chuyển thành nhóm, tìm cách đối đầu với cảnh sát, đập phá các cơ sở thương mại, tấn công các biểu tượng quyền lực nhà nước. Đặc biệt lần này chúng đã chuẩn bị trước các kế hoạch để tấn công và đốt phá một số tòa thị chính như Limoges và Marseille… Lực lượng cảnh sát quá mỏng và thiếu phương tiện để chống lại chúng.

Có thể nói, trong suốt mấy chục năm qua, nước Pháp đã vô tình nuôi dưỡng ngay trong lòng mình những phần tử mang tư tưởng thù địch với chính đất nước đã cưu mang họ.

Bên cạnh những nhóm cực đoan còn có những kẻ cơ hội, lợi dụng tình trạng hỗn loạn để cướp bóc. Đối với họ, biểu tình chỉ là cơ hội để hôi của.

Một yếu tố khác không thể bỏ qua là mạng xã hội. Những hình ảnh đốt phá, đối đầu với cảnh sát được lan truyền với tốc độ chóng mặt. Một số người trẻ có thể bị kích động, muốn tham gia để thể hiện mình, quay video rồi đưa lên TikTok và các mạng xã hội khác. Bạo lực có nguy cơ trở thành một thứ trò chơi nguy hiểm, trong đó người tham gia quên mất hậu quả thực sự đối với xã hội.

Nhưng lần này còn có một yếu tố chính trị đặc biệt quan trọng: nước Pháp đang tiến gần đến cuộc bầu cử tổng thống năm 2027.

Trong bối cảnh ấy, mọi bất mãn xã hội đều có thể trở thành công cụ tranh giành ảnh hưởng chính trị. Không thể loại trừ khả năng một số đảng phái và thế lực chính trị cố tình kích động, khoét sâu những bất mãn, thậm chí đổ thêm dầu vào lửa để làm tình hình thêm hỗn loạn, hòng “đục nước béo cò”, phục vụ những tham vọng chính trị của riêng mình.

Đặc biệt, những lực lượng chính trị cực đoan ở cả hai phía có thể tìm thấy lợi ích trong sự hỗn loạn. Một bên khai thác sự phẫn nộ chống chính quyền, bên kia khai thác nỗi sợ mất an ninh để thu hút cử tri.

Trước khi làn sóng biểu tình này xảy ra, đảng cực hữu RN(Tập hợp quốc gia) đã phải hứng chịu một cú trời giáng khi chủ tịch đảng, Jordan Bardella, vướng vào những cáo buộc liên quan đến tư tưởng bài Do Thái cực đoan. Nhưng, đợt biểu tình này lại trở thành một ân huệ trời cho đối với RN, giúp đảng này khôi phục uy tín, gia tăng ảnh hưởng và củng cố cơ hội giành chính quyền trong cuộc bầu cử tổng thống sắp tới.

Khi bạo lực trở thành công cụ tranh giành quyền lực, người chịu thiệt hại trước chính là những người dân bình thường.

Và cũng cần đặt câu hỏi về trách nhiệm của nhà nước.

Một nền dân chủ phải bảo đảm quyền biểu tình, quyền phản đối chính phủ và quyền tự do ngôn luận. Nhưng nền dân chủ ấy cũng phải đủ sức bảo vệ người dân, tài sản và các thiết chế của mình.

Có một nghịch lý ở nước Pháp khiến người nước ngoài không khỏi ngạc nhiên: người dân luôn đòi hỏi nhiều hơn, trong khi khả năng tài chính quốc gia không cho phép, còn mức sống thực tế cũng không đến nỗi quá tồi tệ. Ai cũng muốn được hưởng nhiều hơn, nhưng lại không muốn chấp nhận bất kỳ sự hy sinh nào để có được điều đó. Họ đòi tăng lương, tăng trợ cấp, cải thiện dịch vụ công, nhưng đồng thời lại muốn giảm thuế, giảm thâm hụt ngân sách và không muốn nợ công tiếp tục tăng. Muốn được nhiều hơn, đóng góp ít hơn mà lại không muốn vay nợ thêm. Tiền ở đâu ra? Người ta chê Pháp lè phè là không có sai.

Tuy nhiên, có một điều tôi muốn nhấn mạnh.

Nước Pháp không phải là một quốc gia đang trên bờ vực sụp đổ như một số người vẫn cố tình mô tả.

Tôi đã sống ở Pháp nhiều thập niên, chứng kiến không biết bao nhiêu cuộc đình công, biểu tình, khủng hoảng chính trị và cả những cuộc bạo loạn nghiêm trọng.

Nước Pháp có nhiều khuyết điểm, có những mâu thuẫn xã hội sâu sắc, nhưng cũng có những thiết chế dân chủ, một nền pháp quyền, một xã hội dân sự và những cơ chế cho phép người dân đấu tranh để thay đổi chính sách và chính quyền.

Trong bài viết cách đây vài năm, tôi đã so sánh sự ổn định của các nền dân chủ với khái niệm cân bằng bền trong vật lý, giống như dao động của quả lắc đồng hồ.

Ngược lại, một người đi trên dây đang ở trạng thái cân bằng không bền. Chỉ một sai lệch nhỏ cũng có thể khiến người ấy ngã xuống.

Đó là hình ảnh tôi dùng để so sánh các nền dân chủ với những chế độ độc tài, nơi quyền lực tập trung vào một người hoặc một nhóm nhỏ. Ở đó chỉ cần một biến động nhỏ là đã có thê có thay đổi lớn.

Một số người ủng hộ Putin và các chế độ độc tài có thể lại nhân dịp này để chế giễu nền dân chủ Pháp. Đúng là bạo loạn có thể là mặt trái của những cuộc biểu tình, nhưng quyền biểu tình chính là một trong những quyền tự do căn bản của người dân. Họ có quyền xuống đường, phản đối chính phủ, chỉ trích tổng thống, thậm chí đòi thay đổi chính quyền mà không phải vì thế mà bị bỏ tù.

Muốn nói gì thì nói nó cũng hơn hẳn một chế độ độc tài bắt người dân phải “câm mồm”.

Chỉ có những kẻ ngu xuẩn mới đi cổ vũ cho một chế độ bắt người dân phải câm mồm, rồi lại lấy chính quyền tự do biểu tình của các nền dân chủ để chế giễu nền dân chủ ấy. Thật là một nghịch lý vừa đáng buồn, vừa nực cười

Qua đây, tôi cũng xin chân thành cảm ơn những người bạn đã hỏi thăm và lo lắng cho chúng tôi. Các bạn cứ yên tâm. Chỗ nào loạn thì vẫn loạn, còn ở những nơi khác, cuộc sống vẫn diễn ra bình thường. Nước Pháp vẫn là nước Pháp, người dân vẫn đi làm, đi chơi, uống cà phê và… chuẩn bị cho những cuộc biểu tình tiếp theo.


 

LỜI NHẮN NHỦ CỦA MỘT LINH MỤC TRƯỚC KHI QUA ĐỜI TRONG THÁNH LỄ

Công Giáo Rôma – Patrick Lew Hayashi – PLB

 NHỮNG PHÚT CUỐI CÙNG ĐẦY ĐAU XÓT: LỜI NHẮN NHỦ CỦA MỘT LINH MỤC TRƯỚC KHI QUA ĐỜI TRONG THÁNH LỄ

Chỉ ít phút trước khi tai nạn thương tâm xảy ra, cha Patricio Alfredo Sánchez Molinari đã chia sẻ về cái chết, về tầm quan trọng của việc dành thời gian cho Thiên Chúa và những người chúng ta yêu thương. Những lời ấy giờ đây khiến sự ra đi của ngài càng khiến nhiều người đau lòng.

Ngày thứ Bảy, 17/10/2026, cha Patricio đang cử hành Thánh lễ tại nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở Guayaquil, Ecuador. Thánh lễ được phát trực tiếp trên mạng xã hội và mọi sự dường như vẫn diễn ra bình thường.

Trong bài giảng, cha được cho là đã nhắc nhở các tín hữu về cái chết và mời gọi mọi người biết trân trọng thời gian dành cho Thiên Chúa cũng như những người thân yêu.

Không ai có mặt trong nhà thờ hôm ấy có thể hình dung được điều sắp xảy ra.

Khoảng phút thứ 27 của buổi phát trực tiếp, cây thánh giá bằng gỗ lớn, nặng, treo phía sau bàn thờ bất ngờ rời khỏi vị trí và rơi xuống trúng cha. Cú va đập khiến ngài bị thương chí mạng.

Tiếng kêu thất thanh vang lên. Các tín hữu vội vã chạy đến tìm cách giúp đỡ cha. Trong đoạn phát trực tiếp, người ta còn nghe thấy tiếng một phụ nữ gọi xe cấp cứu giữa khung cảnh đau lòng.

Thật đau xót, cha Patricio đã không qua khỏi.

Tổng Giáo phận Guayaquil xác nhận sự ra đi của ngài. Cha là tu sĩ thuộc Dòng Chúa Cứu Thế, người đã hiến dâng cuộc đời để phục vụ Đức Kitô và Hội Thánh.

Theo thông tin được chia sẻ, tính đến ngày 18/10, nguyên nhân chính xác khiến cây thánh giá rơi xuống vẫn chưa được giải thích chính thức.

Một chi tiết khác càng khiến nhiều người bùi ngùi: ngày 16/10, chỉ một ngày trước khi qua đời, là dịp kỷ niệm ngày chịu chức linh mục của cha Patricio.

Và trong Thánh lễ cuối cùng ấy, cha đã nhắc cộng đoàn rằng:

“Một ngày nào đó, tất cả chúng ta đang hiện diện nơi đây cũng sẽ qua đời.”

Chỉ ít phút sau, chính cuộc đời trần thế của ngài lại kết thúc một cách bất ngờ.

Lời nhắn nhủ ấy mời gọi mỗi người chúng ta dừng lại và tự hỏi: Cuộc sống này quý giá biết bao? Chúng ta đã dành bao nhiêu thời gian cho Thiên Chúa? Chúng ta có đang trì hoãn việc trở về với Chúa, yêu thương người thân và làm hòa với những người mình còn xa cách?

Chúng ta không biết ngày mai sẽ ra sao. Nhưng hôm nay, chúng ta vẫn còn cơ hội để cầu nguyện, để yêu thương, để tha thứ và để sống gần Chúa hơn.

Xin mọi người hiệp lời cầu nguyện cho cha Patricio, cho những người thân yêu đang đau buồn và cho tất cả những ai đã chứng kiến biến cố thương tâm này.

Lạy Chúa, xin ban cho cha Patricio được nghỉ yên muôn đời. Và xin cho ánh sáng ngàn thu chiếu soi trên cha. Nguyện xin cha được an nghỉ trong bình an của Chúa. Amen.

“Nếu hôm nay là ngày cuối cùng của cuộc đời mình, bạn ước gì mình đã dành nhiều thời gian hơn cho điều gì?”

Jos Nguyen chuyển ngu


 

Ám ảnh thật sự với tình trạng quá tải bv Chợ Rẫy.

Muncuong Nguyen

Ám ảnh thật sự với tình trạng quá tải bv Chợ Rẫy.

Bên ngoài thì còi cấp cứu hú còi liên tục, bên trong cảnh 1 giường 2 bệnh nhân là việc xem như bình thường. Vào đây có tiền cũng không mua được chiếc giường  cho riêng mình đâu nhé.

Bệnh nhân đau 10 phần  thì sự mệt mỏi của người nuôi bệnh cũng 9 phần.

Ai vào đây mà ngủ được thì tôi nghĩ rằng hôm đó họ đã rất mệt mới bỏ tất cả mọi âm thanh xung quanh để thiếp đi. Tiếng rên đau, tiếng than vãn , còi xe cấp cứu…  Nhưng dù bỏ qua gì thì họ vẫn luôn trong tâm thế nghe âm báo của đội ngũ y bác sĩ trực ca. Những người miệt mài làm việc dù ca ngày hay ca đêm bằng cả sức lực tài trí của mình trong hoàn cảnh luôn quá tải bệnh nhân. Tôi nhìn rõ được sự mệt mỏi của các bạn thực tập sinh trong b v nên có lúc họ có lỗi cũng nên bỏ qua thông cảm.

3 đêm trải qua chứng kiến nhiều hoàn cảnh , tình huống trong căn phòng 40m2 mà gần 60 người vừa bệnh nhân và người nuôi bệnh làm tôi thực sự sợ cảnh đau bệnh về già…. và rất nhiều điều trong cuộc sống mà trường học chẳng ai dạy .

Thật sự mệt mỏi.


 

ĐỨA TRẺ 12 TUỔI BÁN VÉ SỐ CHẾT TRONG VŨNG NƯỚC NGẬP VÀ NỖI ĐAU CỦA CẢ XÃ HỘI

Chân Trời Mới Media

ĐỨA TRẺ 12 TUỔI BÁN VÉ SỐ CHẾT TRONG VŨNG NƯỚC NGẬP VÀ NỖI ĐAU CỦA CẢ XÃ HỘI

Chiều ngày 14/10, một bé trai 12 tuổi quê An Giang đã nằm bất động trong vũng nước mưa chỉ sâu 5-10 cm ở con hẻm đất đường Thuận Giao 07, phường Thuận Giao. Em đang đi bán vé số, và khi người dân cố tiếp cận thì bị tê tay vì điện rò, đến lúc điện lực cắt nguồn, em đã mất. Một cuộc đời nhỏ bé, chưa kịp biết thế nào là được đến trường đầy đủ, đã tắt ngấm ngay giữa con hẻm mà người lớn vẫn đi lại mỗi ngày.

Thương tâm không chỉ vì cái chết đột ngột. Thương vì em phải bỏ học, phải cầm xấp vé số đi dưới mưa nắng để kiếm từng đồng cùng ông ngoại. Thương vì hoàn cảnh nghèo đói vẫn đẩy những đứa trẻ vào đường mưu sinh sớm như vậy. Ở tuổi cần được học chữ, được chơi đùa, em lại phải len lỏi qua từng con hẻm, từng căn nhà để bán hy vọng cho người khác, trong khi chính mình chẳng còn bao nhiêu hy vọng.

Nhưng nỗi đau ấy còn đi kèm sự phẫn nộ bởi sự tắc trách của một chế độ luôn hô hào của dân, do dân và vì dân. Hẻm ngập nước, cột điện nằm sát, điện rò rỉ đủ để giết chết một đứa trẻ và đó không phải là tai nạn bất khả kháng. Đó là hậu quả của sự buông lỏng, của việc không ai chịu trách nhiệm khi hạ tầng xuống cấp, khi nước mưa vẫn đọng lại năm này qua năm khác. Trẻ em nghèo phải đi bán vé số ngoài đường thay vì ngồi trên ghế nhà trường cũng không phải chuyện tự nhiên. Đó là kết quả của những chính sách hỗ trợ chưa đến nơi đến chốn, của sự thờ ơ trước những hoàn cảnh khó khăn ngay trong lòng đô thị.

Một đứa trẻ chết trong vũng nước nông giữa thành phố lớn. Không ai kịp cứu, không ai chịu trách nhiệm rõ ràng. Bao nhiêu lời hứa về an toàn điện, về xóa nghèo, về bảo vệ trẻ em? Bao nhiêu lần người dân phải chứng kiến cảnh tương tự rồi lại im lặng? Cái chết này không chỉ lấy đi một sinh mạng. Nó phơi bày sự vô cảm và tắc trách vẫn còn tồn tại. Một xã hội không bảo vệ được những đứa trẻ yếu thế nhất thì không thể gọi là kỷ nguyên mới.

Trọng Đức

#banveso #muusinh #treemngheo #chantroimoi 


 

Nhìn lại hành trình của một nhà Truyền giáo vừa được Chúa gọi về (Linh mục Piô Ngô Phúc Hậu)

Thao Teresa  Nhìn lại hành trình của một nhà Truyền giáo vừa được Chúa gọi về Từ năm 1994 – 2006: Rửa tội cho khoảng 2.000 người, làm 4.790m lộ bê-tông cho trẻ em có thể đạp xe đi học,  xây 20 cây cầu bắc qua rạch, đào gần 200 giếng nước Xây 60 căn “nhà tình thương” cho người nghèo khổ, cấp hàng trăm triệu học bổng cho học sinh nghèo v.v.v. Nhìn vào những con số khô khan ấy, ít ai hình dung được đó là gia tài công sức, mồ hôi và nước mắt mà Linh mục Piô Ngô Phúc Hậu (thân mật gọi là cha Tám Hậu) đã chắt chiu trong hơn một thập kỷ gắn bó với vùng đất ngập mặn Cái Rắn, Cà Mau. Mới đây, người mục tử khiêm nhường, nhiệt thành ấy đã chính thức khép lại hành trình dương thế để về với Đấng Tối Cao. Nhìn lại cuộc đời ngài, ta không chỉ thấy dấu ấn của một nhà truyền giáo tận tụy, mà còn thấy bóng dáng của một con người đã chọn sống trọn vẹn từng nhịp đập với những mảnh đời khốn khó. “Ta là trâu, Chúa là thợ cày” Sinh năm 1936 tại Hiền Quan, Tam Nông, Phú Thọ, bước chân mục vụ của cha Tám Hậu đã in dấu từ những năm tháng tại Cần Thơ đến vùng sông nước Năm Căn, Bảo Lộc và Cái Rắn (Cà Mau). Dù tuổi đã cao, cơ thể mai một theo thời gian với đôi mắt kém, tai điếc nặng, ngài chưa từng một ngày ngơi nghỉ. Cha thường tự ví mình như con trâu cày cuốc trên cánh đồng của Chúa: “Làm hoài, làm đến chết vẫn chỉ là muối bỏ biển… Trâu kéo cày, Chúa sắm cày. Chúa không sắm cày thì trâu nghỉ…”. Thay vì chọn những tiện nghi của chốn đô thành hay an nhàn trong những nhà thờ lộng lẫy, ngài chọn lội bộ băng qua ruộng đồng dưới nắng cháy, chọn sống chung đụng, chia ngọt sẻ bùi với người nông dân áo vải. Triết lý: “Xây dựng con người trước, xây nhà thờ sau” Vào rừng ngập mặn ở Cà Mau, Trà Vinh nuôi thứ tôm hảo hạng đạt tiêu chuẩn  bán đi khắp toàn cầu Trong khi nhiều người miệt mài dựng lên những ngôi thánh đường nguy nga, đồ sộ, cha Tám Hậu lại ôm ấp một giấc mơ khác: “Chòi thờ thì nhiều, nhà thờ thì chưa”. Đối với ngài, sứ mạng loan báo Tin Mừng không nằm ở những khối bê-tông lạnh lẽo, mà nằm ở chỗ làm sao để con người có được phẩm giá, có con đường sạch sẽ để trẻ em đạp xe đến trường, có giếng nước ngọt để uống, có mái nhà che mưa nắng và có hạt gạo qua cơn đói khổ. Cầu khỉ - Wikipedia Chính tư duy thực tế và đầy tình thương ấy đã biến Cái Rắn thành một điểm sáng của lòng bác ái. Hàng nghìn mét đường bê-tông mọc lên thay thế những chiếc cầu khỉ chênh vênh; hàng trăm giếng nước ngọt xua đi cái mặn mòi của đất miệt thứ; những mái nhà tình thương ấm cúng cùng các suất học bổng đều đặn trao tay trẻ em nghèo… Tất cả đều đến từ một tấm lòng xem nỗi đau của tha nhân chính là nỗi đau của mình. Sống với người nghèo và tinh thần đối thoại bao dung Đọc lại những trang nhật ký hay tuỳ bút của ngài như Nhật Ký Truyền Giáo, Viết Cho Em, người ta bắt gặp một ngòi bút hóm hỉnh, sắc sảo nhưng đượm tình trắc ẩn. Có những dằn vặt rất thật của một vị linh mục khi nhận ra mình chỉ mới “sống cho” chứ chưa thực sự “sống với” người nghèo. Chính sự dấn thân triệt để ấy đã giúp ngài vượt qua mọi rào cản tôn giáo để mở rộng vòng tay ôm lấy tất cả mọi người, không phân biệt lương – giáo. Câu chuyện ngài ghé thăm ngôi chùa nhỏ, tay bắt mặt mừng ôm lấy người phật tử từng được mình rửa tội thuở nào, hay những cuộc đối thoại đầy cởi mở với các ni cô, phật tử kiều bào… là minh chứng sống động cho tinh thần đối thoại liên tôn chân thành. Với ngài, truyền giáo đơn giản là đem tình yêu thương đến với mọi người, bởi “vì Chúa là Tình Yêu”. Linh mục Piô Ngô Phúc Hậu đã ra đi, để lại sau lưng những con rạch uốn lượn của miền Tây Nam Bộ, để lại những hàng cây, nhịp cầu và những con người từng được ngài nâng đỡ. Nhưng hạt giống yêu thương mà ngài miệt mơi gieo cãi suốt một đời chắc chắn sẽ vẫn nảy mầm xanh tốt. Xin giã từ “con trâu cày” bền bỉ của cánh đồng truyền giáo. Những bước chân lầm lũi mà nghĩa tình của ngài sẽ còn mãi trong ký ức của những người ở lại. Nguồn: GPHH
 

Nói với Tù nhân Lương tâm – Mai Thanh Truyết

 Mai Thanh Truyết

Xin nói ngay, đó là vấn đề “giao tiếp” giữa người Việt hải ngoại và những “người tù lương tâm”, hay người tranh đấu trong nước “bị” cộng sản Việt Nam “tống khứ’ ra hải ngoại. Dường như, nhiều người Việt hải ngoại cảm thấy có “cái gì lấn cấn” trong giao tiếp đó?  Bài viết xin bàn về vấn đề nầy qua những suy nghĩ chủ quan của người viết. 

***

Phải thành thật mà nói, cái “lấn cấn” nêu trên là có thật, nhưng nó không đơn thuần là vấn đề khác quan điểm chính trị, mà nó nằm sâu hơn trong khoảng cách và không gian giữa hai bên thường không cùng đứng trên một “điểm chung” về ký ức, ngôn ngữ và cảm xúc khi giao tiếp với nhau.

Những ngăn cách ở hai đầu cầu

1- Một bên nói bằng “ký ức”, một bên nghe bằng “kinh nghiệm”: Số đông người Việt hải ngoại mang theo những ký ức đau thương về ngày 30/4/1975, về mất nước, mất nhà, về tù cải tạo, vượt biên, chia lìa gia đình, mất mát tài sản. Trong khi đó, một người sinh ra hoặc lớn lên ở Việt Nam sau 1975 có thể nhìn lịch sử qua một hệ thống giáo dục, xã hội và trải nghiệm hoàn toàn khác dưới thể chế “xã hội chủ nghĩa”.

Vì vậy, cùng một chữ như “giải phóng”, “quốc gia”, “cộng sản”, “hòa hợp”, “tự do”, “quê hương” nhưng hai người có thể nghe thấy hai ý nghĩa khác nhau. Không phải họ không hiểu tiếng Việt; nhưng họ không cùng hiểu “ý nghĩa phía sau tiếng Việt” xuyên qua những từ ngữ trên!

2- Có một khoảng cách giữa “người ra đi” và “người ở lại”: Đây có lẽ là điểm chúng ta cùng cảm thấy rõ nhất. Người ra đi thường mang trong mình câu chuyện đã bị đẩy ra khỏi quê hương. Nếu nói về người Việt rời Việt Nam sau 1975, thì có những người ra đi trong hoàn cảnh bị cưỡng bức, có người vượt biên, có người đi diện HO, có người đoàn tụ gia đình, có người ra đi vì lý do kinh tế hoặc nghề nghiệp. Đứng về mặt tâm lý, những người cảm thấy mình bị đẩy khỏi quê hương, chữ “quê hương” sau đó không còn chỉ là một địa danh, mà trở thành một phần căn cước tị nạn.

Ngược lại, người ở lại sau 30/4/1975 hay những người sinh đẻ sau ngày trên có thể mang câu chuyện kể về … một người đã sống trong quê hương đó suốt mấy chục năm. Vì vậy, khi người trong nước nói về Việt Nam hôm nay, họ có thể không chỉ đang nói về một đất nước hiện tại, họ đang chạm vào một Việt Nam mà người kia đã mất.

Đây là lý do một câu nói tưởng như rất bình thường đôi khi lại tạo ra phản ứng rất mạnh.

Người hải ngoại có thể nghĩ: “Anh không hiểu những gì chúng tôi đã trải qua.” Người trong nước có thể nghĩ: “Các anh đã đi rồi, các anh đâu biết chúng tôi đã sống như thế nào sau đó.” Cả hai câu ấy đều là những trải nghiệm cá nhân. Nhưng khi gặp nhau, nếu mỗi bên lấy trải nghiệm riêng của mình làm thước đo duy nhất của lịch sử, chắc chắn cuộc đối thoại rất dễ bị khựng lại.

Đó chính là một khoảng trống kinh nghiệm, một cách ngăn vô tình và vô hình…

3- Cả hai bên thường nói chuyện với một “hình ảnh” chứ không nói với con người trước mặt: Người hải ngoại đôi khi không nhìn người Việt trong nước như một cá nhân cụ thể, mà nhìn qua hình ảnh “người trong chế độ”. Ngược lại, người trong nước đôi khi cũng không nhìn người hải ngoại như một người Việt cụ thể, mà nhìn qua hình ảnh “người chống cộng”, “người bỏ nước ra đi”, hoặc “người Mỹ gốc Việt”.

Vì vậy, người A không còn nói chuyện với người B, mà người A nói chuyện với một hình ảnh mà mình đã dựng lên về người B.

Và cuộc giao tiếp hay đối thoại bắt đầu bế tắc ngay từ đầu…

4- Làm sao để hai người không đồng ý với nhau vẫn có thể nói chuyện với nhau như những người Việt Nam: Một sự giao tiếp giữa hai bên cần được giải tỏa những ức chế trên. Thông cảm nhau trong đối thoại không nhất thiết có nghĩa là xóa ký ức, cũng không có nghĩa là bắt người này phải tha thứ cho người kia, càng không có nghĩa là viết lại lịch sử để … cùng nghe với nhau.

The bridge doesn’t stop the river from flowing.

It simply gives us a way to cross it.

Nhưng mà là, tôi chấp nhận rằng anh có một lịch sử cá nhân khác tôi, và tôi vẫn muốn nghe anh nói. Từ đó mới có thể đi đến bước thứ hai là anh nghe câu chuyện của tôi, tôi nghe câu chuyện của anh. Từ đó, mới có thể có bước thứ ba: “Chúng ta thử tìm xem, ngoài những điều đã chia cắt chúng ta, còn điều gì thuộc về cả hai.”

Và đây, chính là khái niệm về “Một Nhịp Cầu Cho Tương Lai Việt Nam”, và cây cầu ấy, không nên được xây bằng cách bắt hai đầu cầu phải giống nhau. Nó được xây bằng cách tạo ra một “khoảng giữa”, nơi người đã ra đi và người ở lại có thể bước đến mà không phải từ bỏ ký ức, căn cước hay niềm tin của mình. Và, khoảng giữa cầu, chính là nơi “dung chứa” tuổi trẻ Việt, những Gen Z Việt cùng đi xây một Việt Nam tương lai.

Chiếc cầu Việt Nam tương lai

1- Hòa hợp không phải là “anh phải nghĩ giống tôi”: Câu chuyện Việt Nam đã được tạo ra qua nhiều biến cố lịch sử đau thương, do đó, mỗi con người, mỗi hoàn cảnh thường có một phản xạ tự nhiên nhưng khác nhau qua cách nhìn. Một người từng trải qua tù đày có quyền nhìn lịch sử khác hơn một người chưa từng trải qua tù đày. Một người đã vượt biển có quyền nhìn năm 1975 khác một người sinh ra năm 1995. Một người lớn lên ở Việt Nam sau 1975 cũng có quyền nhìn đất nước của mình bằng những kinh nghiệm mà người ra đi trước đó không có.

Vì vậy, không có ai cần phải từ bỏ ký ức của mình để bắt đầu đối thoại. Sự việc “Không đồng ý” và “không thể nói chuyện” là hai chuyện khác nhau.

Anh có thể không đồng ý về nguyên nhân của 30/4/1975; không đồng ý về chế độ chính trị; không đồng ý về cách đánh giá lịch sử; không đồng ý về tương lai Việt Nam; nhưng anh vẫn có thể ngồi cùng một bàn với những người bạn ở Việt Nam.

Đó mới là một xã hội trưởng thành. Một cuộc đối thoại tốt không phải là cuộc đối thoại mà cuối cùng cả hai cùng nói: “Bây giờ tôi hiểu tại sao anh lại nghĩ như vậy.” Đây có lẽ là một nguyên tắc rất đáng để đặt vào trọng tâm của vấn đề hòa hợp dân tộc.

2- Điều cần thay đổi trước tiên là “tư thế” khi bước vào cuộc đối thoại: Khi bắt đầu cuộc đối thoại giữa hai bên, trong và ngoài nước, những câu mào đầu rất quan trọng. Nếu một bên bước vào với một tâm thế giải thích sự thật lịch sử… có lẽ, phía bên kia, trong tư thế phòng thủ, sẽ nghĩ ngay rằng “bên kia muốn dạy mình, muốn tuyên truyền…’Và câu chuyện trở nên tẽ nhạt, bế tắc.

Ngược lại, nếu hai bên bước vào bằng câu chào hỏi là “Tôi muốn nghe anh đã sống ở Hoa Kỳ hay Việt Nam như thế nào”, chắc chắn bầu không khí sẽ thay đổi hoàn toàn. Đây không phải là kỹ thuật ngoại giao, mà là sự tôn trọng kinh nghiệm của một con người.

3- “Đối thoại lịch sử” và “Đối thoại con người”: Đối thoại lịch sử sẽ hỏi: Ai đúng? Ai sai? Ai gây ra điều gì? Ai phải chịu trách nhiệm? Những câu hỏi ấy cần thiết, vì lịch sử không thể bị xóa bỏ. Nhưng nếu chúng ta chỉ bắt đầu bằng những câu hỏi ấy, chúng ta rất dễ quay trở lại cuộc chiến của ký ức. Chiếc cầu quê hương vẫn còn lững lờ chưa nối được hai đầu.

Nhưng nếu đối thoại giữa hai bên, người Việt trong và ngoài nước bắt đầu bằng những câu khác như: Anh đã sống qua những gì? Gia đình anh đã mất những gì? Điều gì làm anh đau nhất? Điều gì anh vẫn còn hy vọng? Anh muốn Việt Nam của con cháu mình sẽ như thế nào? Đến đây, sẽ có một điều rất lạ có thể hiện ra là hai người bất đồng về quá khứ nhưng có thể phát hiện họ có một phần tương đồng rất lớn về tương lai của con cái.

4- “Khoảng giữa” của một chiếc cầu tương lai: Chúng ta đã thấy hai bên bờ của chiếc cầu: Một bên là ký ức lịch sử, còn một bên là hiện tại. Nhưng cây cầu không nhất thiết phải nằm ở giữa lịch sử và hiện tại. Cây cầu phải nằm ở tương lai. Chúng ta có thể cùng nghĩ xem con cháu chúng ta muốn một Việt Nam như thế nào.

Đó chính là bước chuyển từ “lịch sử của chúng ta” sang “tương lai của tất cả chúng ta”. Nhưng có một điều kiện rất quan trọng là chúng ta không được dùng “tương lai” để xóa “quá khứ” đi. Vì quá khứ là một ký ức lịch sử đã hằn sâu trong tâm khảm của người Việt hải ngoại, một giai đoạn lịch sử dân tộc.

Chấp nhận quá khứ, chấp nhận sai lầm trong quản lý … để cùng xây dựng chiếc cầu tương lai cho tuổi trẻ!

Và đó là một cây cầu giúp những con người có những ký ức khác nhau cùng trở lại nhận ra mình vẫn có một phần tương lai chung. Chắc chắn, chiếc cầu nối tương lai sẽ được TUỔi TRẺ Việt thênh thang đón chào.

Câu chuyện tiếp xúc với những “tù nhân lương tâm”

 Qua kinh nghiệm tiếp xúc với nhiều người mang danh là “tù nhân lương tâm” trẻ tại Mỹ, tình thân tương đối “nặng”, đến mời nhau đến nhà ăn cơm, trao đổi trong thân tình. Mà sao, tôi vẫn thấy có một “cái gì” (tôi không biết?) cách xa, ngờ ngợ. Trong câu chuyện, đôi khi tôi cảm nhận được sự dè dặt của họ. Trái lại, tôi rất cởi mở, nhứt là đối với một số tuổi trẻ ở Houston (xin miễn nêu tên). Tại sao họ phải dè dặt như vậy? Sao họ không dám “mở lòng” để cùng nhau nói về chuyện Đất và Nước.

 Tôi hỏi ý kiến của AI, và được trả lời như sau: “Thưa anh, sau khi đọc kỹ câu hỏi của anh, tôi nghĩ cái “ngờ ngợ” anh cảm nhận không nhất thiết có nghĩa là họ không tin anh. Có thể chính anh đang chạm vào một lớp tâm lý rất sâu của những người đã từng hoạt động đối kháng trong nước, rồi ra hải ngoại. Tôi xin phân tích, nhưng phải nói rõ: không thể biết động cơ riêng của những bạn trẻ trên ra sao, nếu chính họ chưa nói ra. Vì vậy, dưới đây là những khả năng tâm lý–xã hội có thể giải thích hiện tượng anh quan sát, chứ không phải kết luận về từng người.

  •     Người từng sống trong môi trường phải “giữ miệng” rất lâu có thể không bỏ thói quen đó ngay. Đây có lẽ là khả năng đầu tiên tôi nghĩ đến. Một người hoạt động trong nước, đặc biệt là người từng bị bắt, bị thẩm vấn, bị quản chế hoặc bị theo dõi, có thể đã hình thành một nguyên tắc sinh tồn là không phải điều gì mình nghĩ cũng nói ra. Không phải với ai cũng nói hết. Các tài liệu về những người mà anh nêu cho thấy họ từng nằm trong nhóm các nhà hoạt động bị bắt, giam hoặc chịu các hạn chế sau khi ra tù. Điều này rất khác với một người như anh, đã sống nhiều năm trong một môi trường mà phát biểu ý kiến chính trị là một quyền bình thường. Cho nên anh có thể bước vào bữa cơm với tâm thế: “Chúng ta là người Việt với nhau, cứ nói chuyện thật lòng.” Còn người đối diện có thể vô thức vẫn có một cái “thắng”: “Nói đến đâu? Nói với ai? Người này thực sự muốn biết điều gì?” Cái thắng ấy có thể tồn tại ngay cả khi họ quý trọng anh.

      Còn một điều sâu thẳm hơn là họ có thể chưa biết anh thuộc “ngăn” nào. Đây là điều tôi nghĩ anh nên đặc biệt lưu ý. Anh là một người Việt hải ngoại nhưng không hoàn toàn nằm trong hình ảnh “người Việt hải ngoại” mà một người trẻ từ Việt Nam thường hình dung. Anh có lịch sử, quan điểm, trải nghiệm và cách nhìn riêng. Nhưng họ chưa chắc biết hết điều đó. Trong vài lần gặp đầu tiên, họ có thể tự hỏi: “Ông này muốn tìm hiểu mình thật hay muốn tìm hiểu hoạt động của mình?” “Ông ấy muốn nghe câu chuyện của mình hay muốn biết mình nghĩ gì về cộng đồng hải ngoại?” “Nếu mình nói thật, câu chuyện này sẽ được sử dụng như thế nào?” Không cần phải có sự nghi ngờ cá nhân mới xuất hiện những câu hỏi đó. Chỉ cần quá khứ của họ đã dạy họ phải thận trọng. 

  •     Và tôi nghĩ có một nghịch lý rất thú vị là chính sự cởi mở của anh đôi khi có thể làm họ… dè dặt hơn. Điều này nghe có vẻ ngược đời. Anh nói: “Tôi rất cởi mở.” Nhưng người đối diện chưa chắc đã có cùng tốc độ mở lòng. Anh có thể mở cửa 90% ngay từ đầu. Họ có thể chỉ mở 20%, quan sát một thời gian, rồi mới lên 40%, 60%… Không phải vì họ không thích anh. Mà vì cơ chế tin tưởng của hai người được hình thành trong hai hoàn cảnh khác nhau.

Anh có thể nghĩ: “Tôi đã mở lòng với anh rồi, tại sao anh chưa mở lòng với tôi?” Còn họ có thể nghĩ: “Ông ấy rất cởi mở, nhưng mình cần thời gian để biết sự cởi mở ấy đi đến đâu.” Đây là hai trạng thái tâm lý hoàn toàn có thể cùng tồn tại.

  •     Tôi còn nghĩ có một “khoảng cách thế hệ” mà anh có thể chưa nhìn thấy. Anh nói rất hay: “Nhứt là đối với tuổi trẻ.” Nhưng chính chữ “tuổi trẻ” có thể là một phần của câu chuyện. Anh thuộc một thế hệ Việt Nam đã trải qua những biến cố lịch sử rất lớn và có một ký ức dài về Việt Nam. Những người anh gặp có thể thuộc một thế hệ khác. Họ có thể không muốn bị đặt vào câu chuyện: “Việt Nam Cộng Hòa – Cộng sản – 1975 – hải ngoại – quốc nội.”

Trong khi đối với anh, những vấn đề đó là một phần tự nhiên của câu chuyện Đất và Nước. Họ có thể muốn nói: “Tôi đấu tranh cho quyền con người.” “Tôi muốn đất nước thay đổi.” “Tôi muốn có tự do.” Nhưng khi câu chuyện chuyển sang “Đất và Nước”, họ có thể cảm thấy mình đang bước vào một vùng lịch sử rất rộng và rất nhạy cảm. Và họ lại dè dặt.

  •     Một điểm tôi nghĩ rất đáng chú ý: “tù nhân lương tâm” có thể là một căn cước mà họ không muốn mang vào bàn ăn. Tôi không nói họ không tự hào về những gì mình đã làm. Nhưng khi một người đã được cộng đồng hải ngoại biết đến chánh yếu qua danh xưng “tù nhân lương tâm”, thì người khác rất dễ tiếp xúc với họ trước hết như một biểu tượng chính trị. Trong khi họ có thể chỉ muốn được nhìn như một người mẹ, một người cha, một người trẻ, một người Việt Nam, một con người có những vui buồn riêng.

Các tổ chức và truyền thông hải ngoại trong nhiều năm đã dùng danh xưng này trong những chiến dịch vận động và tưởng niệm. Cho nên có thể họ có một nhu cầu rất tự nhiên: “Xin đừng biến tôi thành một biểu tượng. Hãy nói chuyện với tôi như một con người bình thường.”

Nếu đúng như vậy, thì bữa cơm gia đình, chuyện đời thường, chuyện con cái, chuyện quê hương… đôi khi lại là con đường gần nhất để họ mở lòng.

  •                 Và có một lý do khác mà tôi nghĩ anh nên để ý là họ có thể sợ làm anh thất vọng. Điều này không thể biết nếu chưa hỏi họ, nhưng về mặt tâm lý nó hoàn toàn có thể xảy ra. Một người trẻ từ Việt Nam gặp một người lớn tuổi hải ngoại có lịch sử hoạt động lâu dài, có kiến thức và có những quan niệm rất rõ về Việt Nam. Họ có thể nghĩ: “Ông ấy kỳ vọng mình phải nghĩ thế này.” trong khi anh lại không hề có ý đó. Anh chỉ muốn nghe họ nói mà thôi, nhưng họ không biết. Và thế là anh càng muốn họ nói thật, thì họ càng sợ nói sai, và chính điều này làm cho họ càng dè dặt. Đây là một nghịch lý rất đẹp nhưng cũng rất buồn của việc giao tiếp.

Và AI kết luận: Khi gặp một người Việt trẻ hôm nay, anh có thể vô thức đặt họ vào một câu chuyện mà họ không hoàn toàn thuộc về: 1975 – hải ngoại – cộng sản – chống cộng – hòa hợp – Việt Nam. Trong khi một người trẻ có thể đang nghĩ: công việc, lo cho gia đình, nghĩ đến tự do cá nhân, cùng chuẩn bị cho tương lai, v.v.

Cả hai người cùng yêu Việt Nam, nhưng “bản đồ hay lộ trình” trong tâm khảm hoàn toàn khác nhau. Đây có lẽ là điều anh đang gặp ở một số người trẻ mà anh vừa nói.

Có lẽ, AI nghĩ đúng tâm lý của các em tù nhân lương tâm trên. Quý vị thấy thế nào? 

Suy nghiệm bản thân

Riêng đối với người viết, sở dĩ những bạn trẻ “tù nhân lương tâm” “sợ” hay “e ngại” tiếp xúc, hay “tâm sự” với người Việt hải ngoại, nhứt là những người đang tranh đấu cho một Việt Nam tương lai.

  •     Có lẽ, họ sợ vì có mang một định kiến (không dám nói là đúng hay sai) là người Việt hải ngoại “coi” họ tranh đấu trong nước là chỉ mong cầu được “một cái vé máy bay một chiều” đẩy ra ngoại quốc mà thôi!
  •     Không kể một lý do đời sống khác là việc cả gia đình bước vào một vùng đất lạ, với bao lo âu về cơm áo gạo tiền…Họ không còn đầu óc nào để suy nghĩ thêm về tương lai…đất nước (?)
  •     Thêm một điểm tế nhị nữa là họ còn có gia đình, cha mẹ, anh em, người thân cật ruột trong nước. Họ e sợ những sinh hoạt tranh đấu (?) ở hải ngoại sẽ ảnh hưởng đến an ninh của người thân.

Qua trên, có lẽ giải thích được phần nào lý do những người tù lương tâm e ngại sự tiếp xúc với người Việt hải ngoại. Riêng người viết, thiết nghĩ, với tư thế của một người ở thế hệ I, đang đi tìm một cuộc đối thoại giữa hai thế hệ, trong khi họ có thể vẫn đang nhìn tôi như một người của một thế hệ trước. Tôi nhìn thấy tôi đang đứng trong một tư thế hết sức đặc biệt, đặc biệt ở chỗ đứng, một chân trong thế kỷ XX, và một chân trong thế kỷ XXI. Nếu tôi dùng suy nghĩ và ký ức của thế kỷ XX để đặt những câu hỏi về tương lai của các cháu qua thế kỷ XXI, thì thiết nghĩ, cuộc đối thoại có lẽ suôn sẻ hơn, thấm tình dân tộc hơn chăng?

Và có lẽ câu hỏi lớn nhất mà tôi nên đặt cho những người trẻ ấy phải chăng là: “Nếu không phải sống với những gì thế hệ của cha, chú đã sống, thì các cháu muốn xây dựng Việt Nam như thế nào?”

Tôi tin câu hỏi nầy có thể khơi mở được một cánh cửa cho tuổi trẻ mà những câu hỏi về quá khứ chưa mở được. Và có lẽ, tôi vừa hoàn tất phần việc của mình rồi.

Đã đến giờ trao cây đuốc cho người trẻ rồi, đứng sang một bên!

Mai Thanh Truyết

Tiết Thu Houston – 10-2026


 

Bí quyết sống hoà hợp với người khó tính

Sống với người khó ở, khó tính làm sao sống hoà thuận.

GEMINI trả lời:

Sống chung hoặc làm việc với một người khó tính, khó chiều luôn là một thử thách lớn, dễ khiến chúng ta cảm thấy mệt mỏi, ức chế và căng thẳng. Tuy nhiên, thay vì tìm cách “cảm hóa” hay thay đổi họ—vốn là điều rất khó hoặc bất khả thi—chúng ta có thể thay đổi cách ứng xử để bảo vệ năng lượng bản thân và duy trì sự hòa thuận.

Dưới đây là một số cách hiệu quả để ứng phó và chung sống hòa bình với người khó tính:

1. Thay đổi tư duy và góc nhìn

  • Hiểu rằng vấn đề nằm ở họ, không phải ở bạn: Sự khó chịu, phàn xét hay cay nghiệt của họ thường bắt nguồn từ áp lực cá nhân, tính cách lâu năm, hoặc sự bất như ý trong cuộc sống của chính họ, chứ không phải vì bạn dở. Đừng vơ mọi chỉ trích vào lòng hay tự dằn vặt bản thân.
  • Hạ kỳ vọng: Đừng kỳ vọng một người khó tính bỗng dưng trở nên dễ chịu, cởi mở hay ngọt ngào. Khi không đặt kỳ vọng quá cao, bạn sẽ bớt thất vọng và dễ dàng mỉm cười cho qua hơn khi họ cằn nhằn.

2. Kỹ thuật giao tiếp và ứng xử

  • Giữ vững bình tĩnh (Không “bật” lại ngay lập tức): Khi họ bắt đầu phàn nàn hoặc gây sự, phản ứng bốc đồng hoặc cãi tay đôi chỉ đổ thêm dầu vào lửa. Sự bình tĩnh và im lặng của bạn chính là “gáo nước lạnh” dập tắt cơn khó ở của họ.
  • Lắng nghe nhưng không thấm vào người (Active Listening): Đôi khi họ chỉ muốn xả sự bực dọc hoặc muốn tỏ ra mình quan trọng. Hãy để họ nói hết, gật đầu cho qua chuyện mà không cần phải tranh cãi đúng sai trong những chuyện nhỏ nhặt.
  • Đặt ranh giới rõ ràng: Nếu sự khó tính của họ biến thành sự xúc phạm, công kích cá nhân hoặc thao túng tâm lý, bạn cần lịch sự nhưng kiên quyết vạch ranh giới. Ví dụ: “Con sẵn sàng lắng nghe khi bố/mẹ/anh/chị bình tĩnh hơn, nhưng con không tiếp nhận cách nói chuyện nặng lời này.”

3. Chủ động tạo khoảng cách và bảo vệ năng lượng

  • Giới hạn thời gian tiếp xúc: Nếu đó là người thân hoặc đồng nghiệp mà bạn bắt buộc phải gặp mỗi ngày, hãy cố gắng thu hẹp thời gian tương tác ở mức cần thiết cho công việc hoặc sinh hoạt chung.
  • Tách biệt cảm xúc (Detachment): Hãy xem họ như một “thời tiết xấu” trong ngày. Bạn biết trời đang mưa hoặc gió bão, bạn không ghét cơn bão, bạn chỉ đơn giản là mặc áo mưa hoặc ở trong nhà để không bị ướt. Đừng để cảm xúc của họ chi phối tâm trạng của bạn.

4. Tìm kiếm điểm chung và sự tích cực

  • Tập trung vào khía cạnh khác: Hầu hết những người khó tính vẫn có những ưu điểm khác như trách nhiệm, sự cẩn thận hoặc khả năng lo toan. Hãy nhìn vào những điểm tốt đó để dễ bề dung hòa.
  • Khen ngợi đúng lúc: Nghe có vẻ nghịch lý, nhưng những người khó tính thường là những người thiếu sự công nhận hoặc luôn bất an. Đôi khi, một lời công nhận chân thành cho việc họ làm tốt (dù rất nhỏ) có thể làm họ mềm lòng và bớt gai góc đi rất nhiều.

“Tuổi già là thời sung sướng nhất”- Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Xuân Hồng 

 BS Đỗ Hồng Ngọc

…Khi đã lớn tuổi, thì con người được nhiều tự do hơn, được thong thả hơn để sống. Không còn phải như em bé bị cha mẹ ép buộc, bây giờ thì muốn làm chi thì làm, muốn thức khuya dậy sớm gì, cũng chẳng còn ai la mắng dọa nạt, rầy la. Nếu vợ vì thương, sợ mất sức khỏe, thì cũng cằn nhằn chút chút thôi, mình không nghe thì cũng chẳng bị roi đòn gì. Không còn phải khổ công học tập, lo lắng cho tương lai mai sau, chẳng phải học thêm chi cho mệt trí, biết quá nhiều, biết quá đủ rồi. Nếu đã nghỉ hưu, thì học thêm làm chi. Nếu còn đi làm, thì cũng đã rành nghề, quen tay quen việc, làm việc dễ dàng.

Khi già tình yêu cũng không còn là mối bận tâm, không quan trọng quá, chưa nghe báo đăng các cụ già trên dưới sáu mươi tự vẫn chết vì thất tình. Tội chi mà chết vì tình trong tuổi già, vì cũng sắp thấy Diêm Vương rồi, việc chi mà đi sớm hơn. Khôn quá rồi, chết vì tình yêu là nông nỗi. Đời sống tình cảm của tuổi già êm đềm hơn, ít đau đớn ít sôi động, và bình lặng. Tuổi già rồi, các ông không còn tính chuyện mèo mỡ lăng nhăng, khỏi phải lo lắng sợ vợ khám phá ra chuyện dấu diếm mà nhà tan, cửa nát. Đỡ tốn tiền quà cáp, đỡ tốn thì giờ lui tới các nơi bí mật. Hồi hộp, đau tim. Các bà khỏi phải lo chuyện đi đánh ghen, không còn cần phải chăm chút nhan sắc làm chi nữa, vì như chiếc xe cũ rệu, có sơn phết lại cũng xộc xệch, cũng méo mó. An tâm và chấp nhận, thì khỏi băn khoăn mà vui.

Cũng có một số ít những cặp vợ chồng già đem nhau ra tòa chia tay, vì khi già cả hai đều trở thành khó tính. Hậu quả của ly dị trong tuổi già không trầm trọng như khi còn trẻ, vì con cái đã lớn, đã tự lập, không còn ảnh hưởng nhiều đến tương lai chúng và tương lai của chính mình. Vì còn sống bao lâu nữa mà lo lắng chi cho nhiều. Xa được ông chồng khó tính, độc tài là mừng. Dứt được bà vợ đanh đá, bạc ác là phải sung sướng. Khỏe trí. Tuổi già, cố giữ cho còn có nhau, khi đã đến nước ly dị, thì hai bên đều đúng, đều có lý. Đây là hành động tự cứu mình, và cứu người ra khỏi cảnh khổ lúc cuối đời, khi mà mộ bia đã thấp thoáng trước mắt, không còn bao nhiêu ngày nữa. Có điều ít ai nghĩ đến, là càng già, thì càng dễ tìm một người bạn đời để nối lại, để an ủi nhau trong tuổi xế chiều. Vì chung quanh họ, có thiếu chi người đứt gánh nửa đường. Chồng chết, vợ chết, ly dị. Vấn đề là không sao tìm được một người có chung nhiều kỷ niệm, nhiều tình nghĩa, nhiều chia xẻ như người phối ngẫu cũ. Tình già cũng nhẹ nhàng, thong thả, ít khổ đau, ít sôi nổi hơn tình khi còn trẻ trung. Sức lực cũng có còn bao nhiêu mà ghen tương nhau chi, mà lo lắng chi cho thêm mệt, những người lớn tuổi kinh nghiệm và biết rõ như vậy.

Nhiều người trẻ, sau khi gia đình tan vỡ thì xuống tinh thần, uống ruợu đánh bài tìm quên, đôi khi không phải vì họ quá thương yêu người cũ mà tự hủy hoại đời mình, mà chính vì họ tự thương thân, tự ái bị xúc phạm, và rồi sa lầy vào ruợu chè cờ bạc. Người lớn tuổi thì suy nghĩ khác. Họ nghĩ rằng ta cũng đã gần đất xa trời rồi, có sống thêm bao lâu nữa mà sầu khổ cho mệt. Mất củ khoai lang, thì kiếm củ khoai mì bù vào. Tuổi già biết giá trị tương đối của tình yêu nên không tìm tuyệt hão, không tìm lý tưởng, và nhờ vậy không bị thực tế phũ phàng làm vỡ mộng, đau khổ. Khi già rồi, có ai hỏi tuổi, thì cũng không cần dấu diếm, không cần sụt đi năm bảy tuổi làm chi. Sướng lắm. Vì có sụt tuổi, cũng không dấu được những nếp nhăn, mà chẳng có ích lợi gì. Nếu tự cộng thêm cho mình chừng chục tuổi, thì không chừng được thiên hạ nức nở khen là còn trẻ, trẻ quá, và họ mơ ước được như mình.

Các ông có vợ đẹp, khi lớn tuổi cũng đỡ lo bọn dê xồm dòm ngó, lăm le dụ dỗ vợ mình. Con người, ai mà không nhẹ dạ, ai mà không ưa lời nói ngon ngọt êm tai, ai mà không có khi thiếu sáng suốt. Vợ chồng cũng có khi bất hòa, buồn giận nhau, và những khi nầy, lòng người dễ chao đảo lắm. Bởi vậy, các ông đỡ nghe các bà hăm he ly dị, hăm he bỏ nhau. Tuổi nầy các bà cũng thừa khôn ngoan để biết những tên ngon ngọt, hứa hẹn nhiều, thường chỉ là những tên phá đám, chứ không thể tin tưởng được. Đàn bà có chồng hào hoa, đẹp trai, khi lớn tuổi cũng bớt lo, vì các ông cũng bớt máu nóng, bớt chộn rộn và khôn ngoan hơn thời trẻ trung. Biết kềm chế hơn, và biết rõ giá trị hạnh phúc gia đình cần gìn giữ hơn là chơi ngông. Tuổi già, vợ chồng sống chung với nhau lâu rồi, chịu dựng nhau giỏi hơn, quen với cái thói hư tật xấu của nhau. Không còn thấy khó chịu nhiều nữa. Dễ dung thứ cho nhau, chấp nhận nhau, vì họ biết rõ bên cạnh cái chưa tốt của người bạn đời, còn có rất nhiều cái tốt khác. Vợ chồng, khi đó biết bao nhiêu là tình nghĩa, bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu thân thiết, cho nên hạnh phúc hơn, vui hơn. Tình yêu trong tuổi già thâm trầm, có thì giờ bên nhau nhiều hơn, chia sẻ nhiều hơn. Cũng có nhiều ông bà già ưa cãi vã nhau, cũng dễ hiểu, khi đó tai của cả hai ông bà đều lãng, người nầy nói một đường, người kia hiểu nẻo khác, cho nên buồn nhau giận nhau, không gây gổ sao được?

…Tuổi già, thì tất cả mộng ước điên cuồng của thời trẻ trung đã tan vỡ, đã lắng xuống, không còn khích động trong lòng, không còn thao thức nhức nhối. Họ biết sức mình đến đâu, và không tội chi mà ôm cao vọng cho khổ thân. Họ còn biết thêm rằng, nếu những cao vọng điên cuồng ngày xưa mà có thành đi nữa, thì e cũng chỉ là hư không, chẳng đáng gì. Khi tuổi già, thì biết khôn ngoan mà an phận, biết vui với bình thường. Biết đâu là hạnh phúc chân chính. Nhiều người già rồi mới tiếc suốt một thời son trẻ không biết sống, phí phạm thời gian theo đuổi những huyễn mộng, làm đau khổ mình, làm điêu đứng người khác. Tuổi già, vui khi thấy mình hết nông nỗi, nhìn đời bằng cái tâm tĩnh lặng hơn. Ai khen không hớn hở mừng, ai chê không vội vã hờn giận. Vì biết rõ mình không có gì xuất chúng để thiên hạ khen nịnh. Và biết mình cũng có nhiều cố tật không chừa được, đáng chê. Chê thì chê, khen thì khen. Khen cũng thế, mà chê cũng thế, thì ta vẫn là ta, là một kẻ già, đáng được khoan thứ hơn là trách móc.

Lúc nầy, không còn muốn làm giàu, không bị con ma tham lam thúc bách để kiếm và tích trữ cho nhiều tiền nhiều bạc. Con cái cũng đã lớn, không phải chi tiêu nhiều thứ , thì tiền bạc, chỉ cần đủ sống thôi, cũng là thỏa nguyện. Họ cũng không cần se sua, tranh hơn thua với ai, tinh thần họ vui vẻ, dễ chịu và khỏe khoắn hơn. Mối lo âu về tài chánh cũng nhẹ gánh. Bởi khi đó, nhiều người đã tích trữ được một số tiền nhỏ. Nhà cửa cũng đã có. Nợ nhà, nợ xe cũng ít đi, hoặc không còn nữa. Con cái cũng đã lớn, không còn là gánh nặng cho mình. Chúng nó đã có nghề nghiệp, đã làm ăn được. Chắc chắn tương lai chúng khá hơn mình nhiều. Người già không chi tiêu nhiều, ăn cũng ít đi rồi, chơi cũng không còn phung phí dại dột như tuổi trẻ.

Khi già, thời gian mới là thực sự của mình, vì không còn phải chạy ngược, chạy xuôi kiếm sống nữa. Không còn bị bó buộc bởi trách nhiệm bổn phận. Có thể ngồi mơ mộng hàng giờ trên ghế đá công viên, thưởng thức thiên nhiên tuyệt thú, có thể tìm được an bình tuyệt đối, không như thời còn trẻ, đi nghỉ mát, mà thỉnh thoảng cũng bị công việc nhà ám ảnh, nhắc nhở.

Tuổi già về hưu, là một mong ước của gần như của tất cả mọi người. Nhiều người gắng làm sao kiếm cho nhiều tiền để được về hưu sớm hơn. Nhiều thanh niên, ngày về hưu còn xa lắc, xa lơ mà vẫn mơ ước. Người Mỹ, trẻ già chi cũng nghĩ đến hưu trí. Hưu trí trong tuổi già là một phần thưởng của tạo hóa, của xã hội. Cho sung sướng, nghỉ ngơi. Già là nghỉ ngơi, là khỏe khoắn. Mỗi buổi sáng nằm dài trên giường, sáng nào cũng là chủ nhật trong tuần, muốn dậy lúc mấy giờ cũng được, muốn nằm cho đến trưa đến chiều cũng không sao. Nằm thoải mái, không ai chờ, ai đợi, không có việc gì gấp gáp phải làm, ngoại trừ cái bọng tiểu nó thúc dục, không cho mình nhịn lâu thêm được nữa. Thế thì sao mà không sung sướng. Nếu chưa về hưu, còn đi làm việc, thì cái tâm của người lớn tuổi cũng nhẹ nhàng, ít bị những sức căng, bị áp lực đè nén. Vì tài chánh cũng quan trọng, nhưng không quá quan trọng đến nỗi khi thất nghiệp thì mất xe, mất nhà, mất vợ, mất con như những người còn trẻ. Khi này, nhiều thứ trong cuộc sống đã ổn định, nhu cầu tiền bạc cũng không quá nhiều. Vã lại, già rồi, kinh nghiệm công việc nhiều, cho nên giải quyết mọi sự trong dễ dàng, thong thả. Bạn đồng sự cũng có chút nể nang, phần vì tuổi tác, phần vì kinh nghiệm. Có trường hợp, còn có việc thì tốt, mất việc thì mừng hơn, vì có lý do chính đáng để về hưu cho khỏe. Vì nếu việc có hoài, việc lại dễ dàng, thì tiếc, không muốn về hưu. Tuổi lớn, không cần thăng tiến, không cần đua chen với ai, cho nên tinh thần thoải mái, được bạn bè chung quanh thương mến hơn. Những người về hưu rồi, trở lại làm việc, thì đi làm, như đi chơi, chứ không phải “đi cày” như nhiều người khác quan niệm. Vui thì làm tiếp, chán thì về nhà nghỉ ngơi.

Người lớn tuổi, thì sức khỏe xuống, bệnh hoạn ồ ạt đến tấn công, không ai thoát khỏi bệnh hoạn. Nhưng họ lại cảm được cái sung sướng của một ngày khi bệnh thuyên giảm. Một ngày khi cảm thấy gân cốt ít nhức mỏi hơn, dễ chịu trong từng khớp xương hơn. Người trẻ đâu có thấy được những nỗi sung sướng này? Vì họ chưa kinh nghiệm, chưa trải qua, nên chưa biết. Họ có sức khỏe, nhưng họ không biết đó là sung sướng, cho nên, xem như chẳng có giá trị gì. Anh chị xem, nếu anh chị có một tảng ngọc to bằng cái bàn nằm trong vườn, mà anh chị không biết đó là chất ngọc, thì không biết quý, không biết mình sung sướng có tảng ngọc, mà chỉ quý và sướng vì viên ngọc nhỏ xíu nằm trên chiếc nhẫn mà thôi. Có người viết sách rằng, tuổi già, buổi sáng ngủ dậy, nghe xương cốt đau nhức mà mừng, vì biết mình chưa chết. Tôi thêm rằng, biết mình còn sống là mừng, biết mình đã chết nhẹ nhàng, càng mừng hơn.

Nầy anh chị có nhớ câu chuyện Thượng Đế khi đuổi tổ phụ loài người là ông Adam và bà Eva xuống trần gian, có chỉ mặt mà phán : “Từ nay chúng mi phải đổ mồ hôi trán mới có hạt cơm vào mồm”. Đó là câu nguyền rủa độc địa nhất, là lời phán ý nghĩa nhất, là con người phải sống trong nhọc nhằn. Sách Phật cũng có viết đời là đau khổ, và tu để tránh khổ. Đó, đời nầy đáng sống lắm, nhưng cũng nhiều khổ đau lắm. Bởi vậy nên tôi nói, được sống là mừng, mà được chết, cũng mừng. Tôi đi đám ma ông bạn già, thấy gia đình khóc lóc, rên rỉ thảm thương, con cháu mếu máo kể lể. Tôi cười trong bụng, nghĩ rằng bọn nầy không biết luật của tạo hóa. Có sinh thì có diệt. Chúng nó muốn thân nhân của chúng sống đời đời sao? Biết đâu chỉ là khởi điểm của một cuộc rong chơi. Nầy, tôi đọc cho anh chị nghe một đoạn thơ của anh bạn tôi:

Tôi đi trước, hẹn gặp nhau ở đó

Ai thay da mãi mãi sống muôn đời ?

Kẻ trước, người sau xếp hàng xuống mộ,

Biết đâu là khởi điểm cuộc rong chơi …

Khi tuổi già, thì xem cái chết như về. Ai không phải chết mà sợ. Sống qua khỏi tuổi năm mươi, là đã lời lắm. Tuổi trung bình của con người trên thế giới này chưa được con số năm mươi. Thì mình nên tự xem như được sống thêm đời thứ hai. Đời trước đã hoàn tất, có cả khổ đau lẫn hạnh phúc. Đời sau nầy, thì chắc chắn là sung sướng hơn hạnh phúc hơn đời trước. Vì đã từng trải, đã gom được kinh nghiệm của đời trước, để thấy đâu là hạnh phúc chân thật, đâu là phù du huyễn hão. Chết là về. Nhưng chỉ sợ không về được đến nơi đến chốn, mà như chiếc xe hư máy dọc đường. Làm khổ chủ xe, bắt nằm liệt mê man, không sống mà cũng không chết, đó mới là cái đáng sợ. Tôi biết vậy, nên đã làm di chúc, khi nào tôi bị mê ba ngày, thì xin rút ống cho tôi đi. Đi về bình an. Này, anh chị nghĩ sao về ông bác sĩ mà người ta đặt cho tên là bác sĩ tử thần? Già rồi tôi không nhớ rõ tên, hình như ông ta tên là “Ki-Vô-kiên” phải không? Cái tên gần gần như vậy. Theo tôi, thì ông nầy là một vị Bồ Tát, cứu độ cho chúng sinh mau qua khỏi khổ đau, để bị ra tòa, bị tù tội. Chỉ có cái tâm Bồ Tát thật lớn mới làm được việc đó. Tôi cố tìm một cái ảnh ông ta để thờ sống, mà không có. Tôi nghĩ, trong tương lai, luật pháp sẽ không ngăn cấm việc cho người đau đớn ra đi sớm hơn, vì đàng nào cũng chết, tại sao phải kéo cái đau đớn ra dài hơn mới được chết. Trừng phạt người ta hay sao? Trong tuổi già, người ta biết ơn sự nhiệm mầu của tạo hóa. Có bộ máy nào, không phải là gang thép, bạch kim, mà chạy một mạch sáu bảy chục năm không ngưng nghỉ, mà vẫn còn hoạt động như quả tim, buồng phổi, trái thận, cái bao tử, não bộ. Có hệ thống ống dẫn nào hoạt động sáu bảy chục năm mà chưa thay thế như các mạch máu của hệ thống tuần hoàn. Thì dù có rò rỉ van tim, chất mỡ đọng nghẹt trong vài ba mạch máu, thì cũng là sự thường tình, và mừng là còn sống, còn sinh hoạt được. Dù có phải liền liền đi vào cầu tiểu mỗi ngày nhiều lần, thì họ vẫn sung sướng là cái vòi xài mấy chục năm mà vẫn chỉ mới rò rỉ sơ sơ. Mấy cái vòi nước trong nhà, bằng kim khí cứng, không rỉ sét, thế mà năm bảy năm đã phải thay rồi…


 

LẬT THUYỀN CHỞ NGƯỜI DI CƯ NGOÀI KHƠI DJIBOUTI: 139 NGƯỜI THIỆT MẠNG, 84 NGƯỜI MẤT TÍCH

Tin Mừng Cho Người Nghèo

 LẬT THUYỀN CHỞ NGƯỜI DI CƯ NGOÀI KHƠI DJIBOUTI: 139 NGƯỜI THIỆT MẠNG, 84 NGƯỜI MẤT TÍCH

Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM) ngày 11/10/2026 cho biết ít nhất 139 người di cư, trong đó có ít nhất 15 trẻ em, đã thiệt mạng sau vụ lật thuyền ngoài khơi Djibouti, thuộc vùng Sừng châu Phi. Khoảng 84 người vẫn mất tích.

Theo lời kể của những người sống sót, chiếc thuyền chở 305 người từ Djibouti tới Yemen bị lật gần Guhere, phía bắc thị trấn cảng Obock, trong đêm 8 rạng sáng 9/10. Khoảng 82 người sống sót sau thảm nạn.

Số người thiệt mạng được nâng từ 109 lên 139 sau khi tìm thấy thêm 30 thi thể. Những người sống sót đều là công dân Ethiopia; IOM đang hỗ trợ 64 người tại trung tâm tiếp nhận người di cư ở Obock. Chính quyền Djibouti tiếp tục tìm kiếm và cứu nạn.

Ông Alexandre Coissac, Trưởng phái bộ IOM tại Djibouti, bày tỏ đau buồn trước thảm kịch và nhấn mạnh những nguy hiểm mà người di cư phải đối mặt trên hành trình tìm kiếm cơ hội mưu sinh.

Tuyến đường qua Djibouti và Yemen được nhiều người từ vùng Sừng châu Phi lựa chọn để tới các nước vùng Vịnh tìm việc làm. IOM kêu gọi tăng cường hỗ trợ cứu nạn và mở rộng các con đường di cư an toàn, hợp pháp để ngăn những thảm kịch tương tự.

Nguồn: IOM, Reuters, AFP. 


 

SAU 80 TUỔI, 5 ĐIỀU SẼ XẢY RA DÙ BẠN CÓ MUỐN HAY KHÔNG!

Tĩnh Lặng Mỗi Đêm 

BẠN GIÀ ƠI, SAU 80 TUỔI, 5 ĐIỀU SẼ XẢY RA DÙ BẠN CÓ MUỐN HAY KHÔNG!

Có một điều mà khi bước vào tuổi 80, chúng ta cần học cách chấp nhận: cơ thể không còn khỏe mạnh, nhanh nhẹn như những năm tháng trước.

Bước chân chậm hơn, ăn uống kém ngon, giấc ngủ ngắn lại, trí nhớ đôi khi chẳng còn minh mẫn.

Những thay đổi ấy có thể khiến nhiều người lo lắng, nhưng không phải dấu hiệu nào cũng có nghĩa là bệnh tật nghiêm trọng.

Điều quan trọng nhất ở tuổi này không phải là cố giữ mình như thời trẻ, mà là hiểu cơ thể, chăm sóc đúng cách và sống những năm tháng còn lại thật bình an.

Thứ nhất, cơ bắp yếu dần, xương khớp không còn linh hoạt.

Sau tuổi 80, khối lượng cơ và sức mạnh thường suy giảm rõ rệt.

Đôi chân yếu hơn, đứng lên ngồi xuống khó khăn hơn, nguy cơ té ngã cũng tăng lên.

Vì vậy, đừng vì sợ ngã mà nằm yên một chỗ.

Hãy vận động nhẹ nhàng mỗi ngày, đi bộ ở nơi an toàn, tập đứng lên ngồi xuống có điểm tựa và ăn đủ chất đạm từ cá, trứng, sữa, đậu phụ.

Nếu sức khỏe hạn chế, hãy chọn bài tập phù hợp với khả năng của mình.

Thứ hai, ăn uống ít ngon miệng, tiêu hóa chậm hơn.

Càng lớn tuổi, vị giác và khứu giác có thể suy giảm, khiến nhiều món ăn quen thuộc không còn hấp dẫn.

Răng yếu, khó nhai hoặc tác dụng phụ của thuốc cũng có thể làm người già ăn uống kém đi.

Thay vì ép mình ăn thật nhiều trong một bữa, hãy chia thành những bữa nhỏ, chọn thức ăn mềm, dễ nhai và đủ dinh dưỡng.

Có thể dùng rau thơm, gừng, hành để món ăn thêm hấp dẫn, nhưng đừng vì nhạt miệng mà ăn quá mặn.

Nếu tình trạng chán ăn kéo dài hoặc cân nặng giảm bất thường, nên đi khám để tìm nguyên nhân.

Thứ ba, giấc ngủ không còn sâu và dài như trước.

Nhiều người tuổi 80 thường ngủ sớm, thức dậy giữa đêm hoặc tỉnh giấc từ sáng sớm.

Điều này có thể liên quan đến sự thay đổi của đồng hồ sinh học khi tuổi cao.

Đừng vội tự mua thuốc ngủ chỉ vì vài đêm khó ngủ.

Hãy duy trì giờ ngủ đều đặn, tiếp xúc với ánh sáng ban ngày, vận động vừa sức và giữ phòng ngủ yên tĩnh.

Nếu mất ngủ kéo dài, mệt mỏi nhiều vào ban ngày hoặc thường xuyên khó thở khi ngủ, nên trao đổi với bác sĩ.

Thứ tư, trí nhớ chậm lại, đầu óc đôi khi hay quên.

Tuổi cao có thể khiến chúng ta mất nhiều thời gian hơn để nhớ tên một người, tìm lại món đồ đã cất hoặc tiếp nhận thông tin mới.

Hãy giữ cho đầu óc hoạt động bằng cách đọc sách, nghe nhạc, chơi cờ, trò chuyện với bạn bè và con cháu.

Đừng tự cô lập mình chỉ vì sợ tuổi già khiến bản thân trở nên chậm chạp.

Tuy nhiên, nếu thường xuyên quên đường về nhà, nhầm lẫn trong sinh hoạt quen thuộc hoặc khó thực hiện những việc trước đây vẫn làm được, cần đi khám sớm.

Thứ năm, sức đề kháng suy giảm, cơ thể hồi phục chậm hơn.

Ở tuổi 80, một đợt cảm cúm hay một vết thương nhỏ cũng có thể khiến cơ thể mất nhiều thời gian hồi phục hơn.

Bởi vậy, hãy ăn uống đủ chất, giữ vệ sinh, giữ ấm khi trời lạnh và trao đổi với bác sĩ về những loại vắc-xin phù hợp với tuổi tác, tình trạng sức khỏe của mình.

Khi có dấu hiệu bất thường như sốt, ho kéo dài, khó thở hoặc vết thương sưng đỏ, đừng chủ quan mà hãy đi khám kịp thời.

Bạn già thân mến,

Tuổi 80 không phải là một căn bệnh, mà là một chặng đường tự nhiên của đời người. Chúng ta không thể bắt cơ thể mãi khỏe như thời trẻ, nhưng vẫn có thể chủ động chăm sóc bản thân để sống những ngày tháng còn lại nhẹ nhàng hơn.

Đừng buồn vì mình đi chậm, ăn ít hơn hay không còn làm được mọi việc như trước. Điều đáng quý là mỗi sáng thức dậy, ta vẫn có thể tự chăm sóc mình trong khả năng, ăn một bữa cơm ngon, trò chuyện với người thân và giữ lòng thanh thản.

Tuổi già, suy cho cùng, không cần phải hơn thua với ai.

Chỉ cần thân thể được chăm sóc, tinh thần được an yên, lòng không còn quá nhiều lo nghĩ, ấy đã là một phúc phần đáng quý.

Tĩnh Lặng Mỗi Đêm, Mong bạn già luôn giữ gìn sức khỏe, sống vui vẻ và bình an trong từng ngày tháng của cuộc đời.

#TuoiGia #Happiness #KienTaoCuocSong #TriTue #TĩnhLặngMỗiĐêm