Cô bị kết án vì giết con bằng chất chống đông và bị tuyên án tù chung thân

Chuyện tuổi Xế ChiềuLộc Ninh 

 Cô bị kết án vì giết con bằng chất chống đông và bị tuyên án tù chung thân. Sau đó, khi đang ở trong tù, cô lại sinh con lần nữa, và đứa trẻ thứ hai có những triệu chứng y hệt.

Ngày 9 tháng 7 năm 1989, Patricia Stallings đang sống giấc mơ của đời mình. Cô có một ngôi nhà mới nhìn ra hồ Wauwanoka, gần St. Louis, một người chồng yêu thương là David, và một đứa con trai ba tháng tuổi, Ryan. Mọi thứ dường như hoàn hảo. “Đó thực sự là khoảnh khắc hạnh phúc nhất đời tôi,” Patricia sau này kể. “Mọi thứ đều hoàn hảo. Một ngôi nhà mới, một đứa con mới. Sao có thể xảy ra chuyện gì sai được?”

Nhưng mọi thứ đã trở nên tồi tệ đến không tưởng.

Tối thứ Sáu đó, Ryan nôn mửa. Ngày hôm sau trông có vẻ khá hơn, nhưng đến sáng Chủ nhật, bé không thể giữ thức ăn. Việc thở trở nên khó khăn, và bé bắt đầu mệt lả. Lo lắng, Patricia lập tức đưa con đến Bệnh viện Nhi Cardinal Glennon tại St. Louis.

Các bác sĩ phát hiện nồng độ ethylene glycol ,chất chống đông trong máu Ryan. Ai đó đã đầu độc bé.

Patricia và chồng ngay lập tức bị thẩm vấn. Họ bị tách ra, và các thám tử khăng khăng cho rằng một trong hai người phải chịu trách nhiệm. Patricia sững sờ; cô không hề biết chất chống đông đã vào cơ thể con bằng cách nào. Cô yêu Ryan và không bao giờ làm hại con.

Vài tuần sau, vào ngày 31 tháng 8, Patricia được phép thăm Ryan trong thời gian ngắn dưới sự giám sát. Nhưng bốn ngày sau, bé lại ốm, với những triệu chứng y hệt. Các xét nghiệm mới lại phát hiện chất được hiểu nhầm là chất chống đông trong máu bé, và còn tìm thấy dấu vết trong bình sữa mà Patricia đã dùng để cho con bú.

Ngày 5 tháng 9 năm 1989, Patricia bị bắt và bị buộc tội cố gắng giết người. Hai ngày sau, Ryan qua đời. Các công tố viên ngay lập tức chuyển tội danh sang giết người cấp độ một, thậm chí cân nhắc đề nghị án tử hình.

Trong lúc đang ở tù, đau đớn trước cái chết của con trai, Patricia phát hiện mình mang thai lần nữa. Tháng 2 năm 1990, cô sinh con trai thứ hai, David Jr. (DJ), nhưng ngay lập tức bé được đưa vào gia đình nhận nuôi do những cáo buộc chống lại cô.

Tháng 1 năm 1991, Patricia bị tuyên có tội giết người, và tháng 3, cô bị tù chung thân không ân xá.

Rồi một điều không thể xảy ra đã xảy ra. Tháng 3 năm 1990, DJ bắt đầu xuất hiện những triệu chứng y hệt Ryan: nôn mửa, khó thở và mệt lả. Bé được đưa gấp đến bệnh viện, và các xét nghiệm đưa ra chẩn đoán kinh ngạc: DJ mắc bệnh acidemia methylmalonic, một bệnh di truyền hiếm gặp có thể giống như triệu chứng ngộ độc chất chống đông.

Acidemia methylmalonica khiến cơ thể tích tụ các chất độc hại, trong đó có axit propionic, mà trong một số xét nghiệm có thể bị nhầm với ethylene glycol. Các xét nghiệm trước đó đã sai.

Luật sư bào chữa của Patricia cố gắng trình bày thông tin mới này trong phiên tòa, nhưng thẩm phán không chấp nhận, coi đó chỉ là trùng hợp. Tuy nhiên, sự thật cuối cùng được phơi bày khi bác sĩ William Sly, sau khi thấy vụ việc của Patricia trong chương trình Unsolved Mysteries, liên hệ với cơ quan chức năng và thúc đẩy xét nghiệm lại máu của Ryan.

Kết quả mới là chứng cứ không thể chối cãi: Ryan đã chết vì acidemia methylmalonic, không phải do ngộ độc chất chống đông.

Tháng 7 năm 1991, Patricia được thả khỏi tù, và tháng 9, các cáo buộc chống lại cô được hủy bỏ. DJ trở về với cha mẹ. Mặc dù Patricia đã bị giam gần hai năm, cuối cùng sự thật về cái chết của Ryan cũng được hé lộ.

Vụ án này đã phơi bày những sai sót nghiêm trọng trong hệ thống tư pháp và y tế, và cho thấy giả định cùng sự tin tưởng quá mức vào kết quả xét nghiệm có thể dẫn đến những sai lầm thảm khốc. Patricia Stallings không được hệ thống pháp luật cứu giúp; cô được cứu nhờ chẩn đoán bệnh hiếm gặp, một chương trình truyền hình và một nhà khoa học sẵn sàng đặt câu hỏi về những điều mà mọi người đều coi là chắc chắn.

Ngày nay, Patricia sống cuộc sống kín đáo bên gia đình, trong khi DJ, nay đã trưởng thành, vẫn kiểm soát bệnh của mình với điều trị thích hợp. Họ đã mất Ryan, nhưng sự thật đã trả lại tự do cho Patricia.

Vụ án vẫn là lời nhắc nhở rằng, đôi khi, sự khác biệt giữa tội lỗi và vô tội chỉ nằm ở một người dám tự hỏi: “Chúng ta có lẽ đã sai sao?”

Nguồn: Northwestern Pritzker School of Law Center on Wrongful Convictions (“Patricia Stallings”)

My Lan Phạm


 

Tôi đã mất 65 tỷ đô la cho vợ cũ của tôi (Bill Gates.)

Chuyện tuổi Xế ChiềuLộc Ninh +

 “Tôi đã mất 65 tỷ đô la cho vợ cũ của tôi, Melinda, trong phán quyết ly hôn, nhưng ly dị cô ấy là sự hối tiếc lớn nhất trong cuộc đời của tôi.

Nếu tôi có một cơ hội khác, tôi sẽ cưới lại vợ cũ của mình, Melinda Gates. Tôi không quan tâm tôi đã mất bao nhiêu tiền, cô ấy đáng giá hơn bạc vàng với tôi. Tôi vẫn khóc mỗi ngày khi nghĩ về cô ấy, bởi vì tôi không chỉ mất vợ trong cuộc ly dị đó. Tôi đã mất đi người bạn thân nhất của mình và là người duy nhất trên thế giới này thực sự biết tôi và yêu tôi vì chính tôi chứ không phải vì tiền của tôi.

Một trong những điều tuyệt vời nhất mà chúng tôi cùng tạo ra là con cái của chúng tôi và Quỹ Gates.

Chúng tôi vẫn là bạn và chúng tôi vẫn gặp nhau vì lũ trẻ. Nhưng tôi hy vọng cô ấy có thể cưới tôi một lần nữa và lấp đầy khoảng trống này trong trái tim tôi. Cô ấy không thể thay thế được. Tiền không mua được tình yêu và thậm chí, mất thêm 65 tỷ đô la nữa cũng không mua được tình yêu đích thực”.

~Bill Gates.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Chaque jour une histoire 


 

“Xin cứ để đồ ở đó thôi. Tôi ổn.- Truyen ngan HAY

My Lan Pham 

 Ông ấy để lại 4 đô tiền tip cho đơn hàng tạp hóa 47 đô, rồi dán trước cửa một mẩu giấy viết tay:

“Xin cứ để đồ ở đó thôi. Tôi ổn. Cảm ơn vì đã đến.”

Suýt nữa thì tôi đã làm đúng như vậy.

Suýt nữa tôi đã đặt những túi đồ xuống, quay lưng lại và lái xe đến điểm giao tiếp theo.

Nhưng có điều gì đó khiến tôi vẫn gõ cửa.

Phải mất khá lâu cánh cửa mới mở ra.

Một người đàn ông ngoài bảy mươi tuổi đứng ở khung cửa, cơ thể dựa nặng lên chiếc khung tập đi bằng kim loại.

Ông ăn mặc rất chỉnh tề, theo kiểu mà những người thuộc thế hệ trước thường mặc khi chờ đón khách:

một chiếc áo có cổ, quần tây được ủi nếp thẳng.

Đôi tay ông run run, nhưng cằm vẫn ngẩng cao.

“Tôi đã bảo họ cứ để ở ngoài rồi mà,” ông nói.

Không hề khó chịu. Chỉ là mệt mỏi.

Tôi đáp:

“Vâng, cháu biết, thưa bác. Cháu chỉ muốn chắc rằng mọi thứ đã đến đầy đủ thôi.”

Ông nhìn lướt qua tôi xuống những túi giấy trên bậc thềm. Bốn túi.

Ông nhìn chiếc khung tập đi của mình.

Rồi nhìn lại tôi.

Ông không nói gì.

Tôi nói:

“Để cháu mang vào giúp bác nhé.”

Ông lặng lẽ bước sang một bên, không phản đối.

Chỉ như vậy thôi cũng nói lên tất cả.

Phòng khách ngăn nắp theo cái cách của những cuộc đời nhỏ bé nhưng cẩn trọng.

Mọi bề mặt đều sạch sẽ. Không có gì nằm sai chỗ.

Nhưng đồ đạc đã cũ, và tấm thảm đã mòn bạc thành những sợi xám ở những lối đi quen thuộc mà mỗi ngày ông đều bước qua từ ghế ra bếp, vào nhà tắm rồi trở lại.

Tôi mang các túi vào quầy bếp và bắt đầu lấy đồ ra.

Đó là lúc tôi nhìn thấy cuốn sổ nhỏ đặt trên bàn.

Nó kín đặc những cột số viết tay.

Giá từng món đồ được tính đến từng xu.

Có món bị gạch đi rồi viết lại.

Tổng tiền được cộng dồn, rồi gạch bỏ, rồi tính lại từng dòng… cho đến khi ra một con số mà ông có thể chi trả.

Ông đã lên kế hoạch cho đơn hàng này suốt nhiều ngày.

Tôi cố giữ gương mặt bình thản.

Ông đứng ở khung cửa bếp, nhìn tôi đặt hộp sữa vào tủ lạnh.

“Con gái tôi thường đến vào thứ Bảy,” ông nói.

“Giờ nó ở Phoenix rồi. Công việc mới.”

Tôi đáp:

“Xa thật đấy bác.”

Ông khẽ dừng lại.

“Ừ. Nó vẫn gọi điện.”

Trong câu nói ấy không có chút tự thương hại nào.

Và chính điều đó mới đau lòng nhất.

Ông nói như đang đọc bản tin thời tiết. Chỉ là một sự thật đơn giản về thế giới mà ông đang sống.

Tôi kín đáo nhìn quanh căn bếp.

Tủ lạnh vẫn chạy nhưng gần như trống rỗng.

Một thanh bơ.

Hai quả trứng trong khay.

Một lọ cà phê hòa tan nhỏ.

Cánh cửa tủ đựng thức ăn mở hé, những chiếc kệ bên trong cũng gần như trống.

Trên bậu cửa sổ là bảy lọ thuốc kê đơn xếp thành một hàng.

Bảy lọ.

Ông thấy ánh mắt tôi, rồi hơi đứng thẳng hơn.

“Tôi vẫn xoay xở ổn,” ông nói.

Ông là kiểu người đã tự mình xoay xở mọi thứ suốt cả cuộc đời.

Và giờ đây, “xoay xở” có nghĩa là phải chọn xem tháng này sẽ mua loại thuốc nào, loại nào phải cố kéo dài thêm hai tuần nữa.

“Xoay xở” nghĩa là tính toán đơn hàng tạp hóa đến từng xu, rồi dán một mẩu giấy lên cửa để không ai biết ông mất bao lâu mới đi từ phòng ngủ ra đến cửa trước.

Tôi cất đồ xong, không hề vội vàng.

Tôi hỏi:

“Bác từng làm nghề gì vậy?”

Chỉ để cho ông có điều gì đó để nói.

Khuôn mặt ông thay đổi.

“Ba mươi mốt năm làm nghề cơ khí “ông nói.

“Xưởng công đoàn. Việc tốt. Việc nặng.”

Ông gần như mỉm cười.

Ba mươi mốt năm lao động cực nhọc, và giờ đây ông ngồi một mình trong căn nhà với bảy lọ thuốc, chiếc tủ lạnh trống và cuốn sổ đầy những con số không thể cộng cho đủ.

Tôi nói với ông là mình sẽ quay lại ngay.

Tôi lái xe vòng qua góc đường đến một trạm xăng có quầy đồ ăn khá ổn.

Tôi mua những gì có thể:

  • một con gà quay nóng còn bọc giấy bạc
  • một hộp súp lớn
  • một túi bánh mì cuộn
  • hai hộp sữa chua
  • một nải chuối

Tôi dùng tiền tip của ông, rồi dùng luôn tiền của chính mình.

Khi quay lại, ông đang ngồi ở bàn bếp, cuốn sổ nhỏ đã được khép lại trước mặt.

Tôi đặt túi đồ xuống và lặng lẽ lấy mọi thứ ra, không giải thích gì.

Ông nhìn tôi rất lâu.

Rồi ông nói:

“Cháu trai…”

Giọng ông nghẹn lại ở từ đó.

Ông dừng một lúc, mím môi rồi cố nói tiếp:

“Cháu không cần phải làm thế đâu.”

Tôi đáp:

“Cháu biết.”

Ông đặt bàn tay phẳng lên mặt bàn và nhìn chằm chằm vào nó.

Những khớp tay đầy sẹo vì hàng chục năm lao động.

Chiếc nhẫn cưới vẫn còn trên ngón tay, mòn mỏng như một sợi dây kim loại.

Tôi rời đi trước khi mọi chuyện trở nên khó khăn hơn cho cả hai.

Ngồi trong xe, tôi nghĩ về những gì xã hội này bắt con người phải chịu đựng.

Chúng ta bắt tay những người như ông trong các buổi diễu hành.

Chúng ta đăng ảnh họ vào ngày Cựu chiến binh.

Chúng ta gọi họ là xương sống của nước Mỹ.

Rồi sau đó, chúng ta để họ cô đơn trong những căn nhà im ắng với những chiếc kệ trống và cuốn sổ đầy những con số không thể cộng thành đủ.

Ông đã dùng đôi tay mình xây dựng mọi thứ suốt ba mươi mốt năm.

Ông xứng đáng với nhiều hơn 4 đô tiền tip và một mẩu giấy trên cửa xin thế giới cứ bước qua mà đừng nhìn lại.

Tuần này hãy ghé thăm một ai đó.

Đừng chỉ nhắn tin.

Hãy thật sự xuất hiện.

Theo Story of Life

My Lan Phạm


 

Từ vụ sách Chuyện với Thanh: Việt Nam trong vòng xoáy đấu tố, chụp mũ, tại sao? (BBC)

 (BBC)

Đấu tố và phản đấu tố là những xu hướng nổi bật tại Việt Nam trong thời gian gần đây

17 tháng 7 2026

Báo chí Việt Nam đang có nhiều bài viết chỉ trích tình trạng đấu tố trên mạng xã hội và cảnh báo về những “hệ lụy khôn lường”. Cục trưởng Cục Báo chí cũng lên tiếng về vấn đề này. Nhưng đấu tố từ đâu mà có, và báo chí có thực sự vô can?

“Chỉ từ một đoạn video vài chục giây, một bức ảnh thiếu bối cảnh, một bài đăng chưa được kiểm chứng hoặc vài dòng trạng thái đầy cảm xúc, hàng nghìn bình luận đã vội vàng kết luận ai đúng, ai sai; ai đáng bị cách chức, tẩy chay hay ‘xóa sổ’ khỏi đời sống xã hội,” báo điện tử VOV viết vào ngày 14/7.

“Điều đáng lo ngại không chỉ là số phận của một con người, mà còn là nguy cơ văn hóa phản biện bị biến dạng và nguyên tắc pháp quyền bị thách thức bởi những ‘phiên tòa’ của dư luận,” báo Dân Việt dẫn lời Thượng tá, Tiến sĩ Đào Trung Hiếu, chuyên gia tội phạm học, vào ngày 15/7.

Báo Công an Nhân dân, tờ báo có truyền thống đăng các bài báo tố cáo, quy chụp những cá nhân và tổ chức mà họ cho là “phản động”, cũng đăng bài Phản biện hay quy kết?

Nhìn chung, các báo cảnh báo về nhiều hậu quả khác nhau của nạn đấu tố, như tàn phá khối đại đoàn kết dân tộc, phá hoại danh dự cá nhân, doanh nghiệp, bào mòn niềm tin xã hội.

Các bài viết nói trên xuất hiện trong bối cảnh mạng xã hội sục sôi đấu tố những cá nhân, tổ chức liên quan tới cuốn sách Chuyện với Thanh – Lời kể mới về ánh sáng, đặc biệt khi mà đối tượng bị tố cáo không chỉ là những người liên quan trực tiếp tới cuốn sách, mà còn đụng chạm tới quan chức cấp cao của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ông Nguyễn Đình Long, trong bài viết gửi tới BBC News Tiếng Việt vào ngày 15/7, nhận định rằng đối tượng của sự nghi ngờ ngày càng mở rộng.

“Một tác giả dẫn đến một nhà xuất bản; một nhà xuất bản dẫn đến một trường đại học; rồi đến những người từng giới thiệu, từng khen ngợi hay từng xuất hiện cùng tác giả,” ông nêu bật hiệu ứng leo thang. 

“CẦN XỬ LÝ NGHIÊM KHẮC TỔNG BIÊN TẬP BÁO NHÂN DÂN,” ông Phan Trung Can – một trong những tiếng nói nổi bật trong làn sóng “chống lật sử”, “chống cách mạng màu” ở trên mạng xã hội – sau khi chỉ trích tác giả Nguyễn Thành Nam và nhóm làm sách Chuyện với Thanh, đã tấn công tới nhân vật ở thượng tầng.

Người mà ông Can, và những người cùng lập trường với ông, chỉ trích lần này là Tổng Biên tập báo Nhân Dân Lê Quốc Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam. “Tội trạng” của ông Minh, theo những người chỉ trích, là đã đăng hai bài viết tích cực về cuốn sách này trên báo Nhân Dân.

Ông Phan Trung Can hiện đã sửa bài viết “cần xử lý nghiêm khắc…” nói trên.

Tác giả Nguyễn Thành Nam làm việc với an ninh khi bị khởi tố liên quan đến sách Chuyện với Thanh

Khi báo chí phản đấu tố

“Một nền tư pháp văn minh được xây dựng trên chứng cứ, thủ tục tố tụng, quyền giải trình và nguyên tắc suy đoán vô tội.

“Trong khi đó, ‘phiên tòa’ trên mạng xã hội đôi khi vận hành theo logic ngược lại: Kết luận trước, tìm chứng cứ sau; cảm xúc trước, sự thật sau; ý chí của số đông được coi như ‘luật pháp’.

“Trong ‘phiên tòa’ ấy, bị cáo không có luật sư, không được đối chất, không có quyền kháng cáo. ‘Bản án’ được ‘tuyên’ và được cố xúy bằng lượt chia sẻ, bình luận và biểu tượng cảm xúc,” bài báo của VOV viết.

Bài viết còn có đoạn: “Tự do ngôn luận không bao gồm quyền bịa đặt, vu khống, xâm phạm đời tư hay kích động trừng phạt. Phản biện không phải sỉ nhục hay chống đối, yêu nước không phải quy chụp, và công luận không thể thay thế cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án.”

Báo Công an Nhân dân cũng dẫn lại bài viết này vào ngày 14/7, cho thấy tờ báo này cũng chống việc “quy kết”, “chụp mũ”, “đấu tố”.

Tuy nhiên, có một điều dễ nhận thấy là những hình ảnh gạch chéo, những bài viết quy chụp cũng đã xuất hiện từ lâu trên báo chí cách mạng Việt Nam.

Báo Công an Nhân dân vốn là tờ báo có nhiều bài viết quy chụp, đặc biệt là các bài viết tố cáo văn nghệ sĩ hải ngoại, các tiếng nói bất đồng chính kiến, các góc nhìn khác với chính quyền ở trong nước.

Trong vụ việc liên quan tới sách Chuyện với Thanh, chính tờ báo này trước đó đã có ít nhất hai bài báo chỉ trích tác giả Nguyễn Thành Nam, với những câu từ đầy tính quy kết, quy chụp.

“Trong cuốn sách và chuỗi video trên các nền tảng mạng xã hội, ông Nam thể hiện sự cợt nhả, xuyên tạc, tuyên truyền tư tưởng ‘xét lại lịch sử’ vô cùng nguy hại.

“Bằng các chiêu bài gọi là ‘đối thoại’, ‘phản biện’, ‘giải mật lịch sử’, ‘lật lại sự thật’, ‘giáo dục bằng con đường khác’… để gieo rắc hoài nghi về lịch sử cách mạng, Bác Hồ và nền tảng tư tưởng của Đảng,” Trung tá, Tiến sĩ Lê Thế Cương viết như lời một bản cáo trạng trong bài báo Không thể nhân danh “phản biện”, “khai phóng” để xuyên tạc lịch sử, lãnh tụ đăng trên Công an Nhân dân hôm 2/7.

Báo Công an Nhân dân sau đó còn tạo dư luận theo hướng kết án khi chia sẻ bài viết lên Facebook.

“Đề nghị quý báo CAND vạch trần bộ mặt của những kẻ đã tiếp tay, tung hô cho cuốn sách của Nguyễn Thành Nam,” một tài khoản bình luận.

Chưa dừng lại ở đó, báo Công an Nhân dân còn đăng tiếp một bài viết vào hôm 5/7, trong đó khẳng định rằng “nhiều ý kiến bạn đọc khẳng định bài báo [hôm 2/7] đã chỉ ra những sai phạm nghiêm trọng” trong cuốn sách và “đặt vấn đề cần làm rõ trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức liên quan trong hoạt động sáng tác văn học, nghệ thuật và trách nhiệm trong quản lý, xuất bản”.

Bài viết kết luận rằng tác giả Nguyễn Thành Nam, thông qua cuốn sách, đã “xét lại lịch sử, tầm thường hóa lãnh tụ”.

Bài đăng trên Facebook giới thiệu bài viết này một lần nữa được nhiều người hưởng ứng.

“Bài báo quá hay quá sắc bén, chém thẳng tay lũ nhân danh trí thức tẩy trắng lịch sử, lũ vô ơn. Đề nghị điều tra tổng thể có hay không dấu hiệu cấu kết với các tổ chức nước ngoài một cách có hệ thống,” là một trong số hàng trăm lời bình.

Có thể thấy, nếu xét theo những tiêu chí mà bài báo nói trên của VOV nêu ra, và Công an Nhân dân đăng lại, rằng “nền tư pháp văn minh được xây dựng trên chứng cứ, thủ tục tố tụng, quyền giải trình và nguyên tắc suy đoán vô tội”, thì chính báo Công an Nhân dân trước đó đã có những lời lẽ quy kết, buộc tội tác giả Nguyễn Thành Nam, trước cả khi công an công bố quyết định khởi tố, chứ chưa cần nói đến một bản án có hiệu lực của tòa án.

Tác giả Nguyễn Thành Nam đã bị khởi tố về hành vi "tuyên truyền chống Nhà nước" sau khi xuất bản sách Chuyện với Thanh

Play video, “Ông Nguyễn Thành Nam bị bắt: ‘Kính Bác, Yêu Đảng’ vì sao lại thành ‘xuyên tạc’?”, Thời lượng 13,01

13:01

Ông Nguyễn Thành Nam bị bắt: ‘Kính Bác, Yêu Đảng’ vì sao lại thành ‘xuyên tạc’?

Khi đấu tố chạm tới quyền lực thượng tầng

Ngày 7/7, thông tin ông Nguyễn Thành Nam bị khởi tố, bắt tạm giam xuất hiện trên gần như tất cả các trang báo ở Việt Nam.

Như thể được chứng minh rằng những ý kiến, chỉ trích của mình là đúng, những người đấu tố dường như càng trở nên quyết liệt hơn.

“Giờ em đi ngủ. Mai em điểm các báo lăng xê; Mốt em gọi tên mấy anh chị nhà văn, nhà báo, TS bát nháo ‘bênh’ Nguyễn Thành Nam,” ông Phan Trung Can viết vào ngày 7/7.

Và đó đúng là những gì ông đã làm sau đó khi nhắc tên một loạt cá nhân mà ông cho rằng đã có lời bênh vực hoặc ca ngợi ông Nam, hoặc tác phẩm Chuyện với Thanh. Cùng lúc, mạng xã hội cũng đưa ra danh sách những người mà họ cho rằng cần bị điều tra, xử lý.

Trong danh sách này có tên ông Lê Quốc Minh, Tổng Biên tập báo Nhân Dân, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam.

Tới ngày 10/7, ông Can đăng lời kêu gọi chính quyền cần “xử lý nghiêm khắc” ông Minh. Bài đăng này đã nhận được hàng ngàn lượt thích, cùng hàng trăm bình luận, đa số đồng tình. Đó là thời điểm mà nhiều người đánh giá rằng ông Can đã “vượt lằn ranh đỏ” và “gió bắt đầu đảo chiều”.

Ngày hôm sau, 11/7, đánh dấu thời điểm chính quyền bắt đầu có động thái chỉ trích hoạt động đấu tố trên mạng xã hội.

Nhiều người đã chia sẻ lại bài viết trên Facebook của ông Lưu Đình Phúc, Cục trưởng Cục Báo chí, chỉ trích việc “đấu tố cực đoan”.

“Thay vì tranh luận về hành vi thì chuyển sang kết tội con người; thay vì chờ kết luận của cơ quan có thẩm quyền thì coi ‘phán quyết của mạng xã hội’ là quyết định, và nếu sự việc diễn ra trên thực tế thì các quan điểm cực đoan cho rằng do có tiếng nói của ‘họ’ mới có kết quả như vậy,” Cục trưởng Cục Báo chí Lưu Đình Phúc viết.

Ngày 12/7, bài viết tương tự của ông Phúc đã xuất hiện trên báo Tuổi Trẻ, sau đó được website của Cục Báo chí, mà ông Phúc đứng đầu, đăng tải lại.

Tới ngày 14/7, VOV có bài viết chỉ trích tệ đấu tố. Ngày 15 và 16/7, các báo chính thống khác như Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Dân trí… cũng có các bài viết phê bình đấu tố.

Những ai theo dõi báo chí và mạng xã hội, có thể thấy tệ đấu tố, quy chụp đã xuất hiện từ lâu, chứ không phải đợi đến trường hợp cuốn sách Chuyện với Thanh. Đối tượng đấu tố thường tập trung vào các nhân vật bị coi là “phản động”, “lật sử”, “lệch chuẩn”. Những người đề cao công trạng của Tả quân Lê Văn Duyệt, hoặc có đánh giá tích cực về Vua Gia Long… đều dễ dàng bị tấn công, đấu tố.

Một số người thường bày tỏ lập trường ủng hộ Đảng Cộng sản Việt Nam, phê phán chủ nghĩa tư bản còn lên tiếng tố cáo Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, thiền sư Thích Nhất Hạnh, nhà sư Thích Minh Tuệ, bằng cách đưa ra các cáo buộc không có bằng chứng về tội “phản quốc”, “hợp tác với CIA”, “âm mưu cách mạng màu”, mà không lãnh hậu quả nào hay bị “tuýt còi”.

Không ít cơ quan báo chí chính thống cũng tham gia vào làn sóng này, với các video và bài viết có dấu gạch chéo vào những nhân vật mà họ lên án, dù những người này vẫn là công dân tự do chưa nhận bất kỳ bản án nào ở thời điểm báo đăng bài.

Tuy nhiên, khi làn sóng đấu tố chạm tới các tầng nấc cao trong guồng máy chính trị, đèn đỏ đã được bật lên.

Ông Lê Quốc Minh là nhân vật cấp cao nhất bị gọi tên trong vụ việc liên quan đến sách Chuyện với Thanh

Đấu tố trên báo chí chính thống

Tệ đấu tố không mới ở Việt Nam, chỉ khác lần này phong trào đấu tố có vẻ tấn công nhiều hướng hơn, và người bị đấu tố có cả “lề phải”, thậm chí có quan chức cấp cao của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Lâu nay, phong trào đấu tố chủ yếu nhằm vào các đối tượng bị coi là “phản động”, hoặc bất kỳ ai bày tỏ quan điểm trái với lập trường của Đảng. Họ dễ dàng bị gọi là “3 que”, “phản động”, “khát nước”, “chống phá”.

Giới nhạc sĩ, nghệ sĩ là những mục tiêu dễ gặp nhất.

Năm 2023, một làn sóng tấn công trực tuyến đã nhằm vào ca sĩ Hanni Phạm, thành viên người Úc gốc Việt trong nhóm nhạc K-pop NewJeans, vì cho rằng gia đình cô “ủng hộ Việt Nam Cộng hòa”.

Năm 2024, ca sĩ Ngọc Mai, Miss Grand Việt Nam Võ Lê Quế Anh, Tổng Giám đốc Công ty Sen Vàng Phạm Kim Dung là một số người trong giới giải trí bị gắn mác “ba que”, mà không có bằng chứng rõ ràng nào.

Nhiều ca sĩ hải ngoại cũng bị “đào” lại những bức ảnh, video cũ quay cảnh họ biểu diễn ở một khu vực có cờ vàng ba sọc đỏ.

Cũng năm 2024, mạng xã hội và Truyền hình Quốc phòng Việt Nam đấu tố Trường Đại học Fulbright Việt Nam, cho rằng đây là “ổ cách mạng màu”.

Gần đây hơn, Bộ Giáo dục bị đấu tố là có âm mưu xấu khi ủng hộ giáo dục khai phóng. Hai chữ “khai phóng” nhạy cảm tới mức ngay cả lời của Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu sau đó cũng bị chỉnh sửa trên báo chí.

Cuốn sách Địa lý lớp 11, với trang bìa in hình tượng Nữ thần Tự do, nhà thờ thánh Basil và núi Phú Sĩ, cũng bị lấy ra làm “bằng chứng” cho rằng Bộ Giáo dục có tư tưởng sính ngoại. Nhiều người đặt câu hỏi sao không dùng hình ảnh Việt Nam để minh họa ở trang bìa, dù đây là cuốn sách địa lý thế giới.

Không chỉ trên mạng xã hội, báo chí cũng đấu tố người dân.

Ngày 20/5, chương trình Góc nhìn sự thật của Truyền hình Công an Nhân dân (ANTV) đã có phóng sự lên án nghệ sĩ Vượng Râu, tập trung vào các bài viết của nghệ sĩ này trên mạng xã hội mà họ cho là “xuyên tạc, chống phá”. Hình ảnh Vượng Râu bị gạch chéo, ông bị ANTV công khai gọi là “gã hề xuyên tạc lịch sử, chống phá đất nước”, dù rằng nghệ sĩ này vẫn là một công dân với đầy đủ quyền được pháp luật bảo hộ.

Trên mạng xã hội, nhiều người đã đặt câu hỏi về việc tại sao một cơ quan báo chí có thể tấn công một công dân với các ngôn từ mang tính cáo buộc, xúc phạm như vậy.

Trước Chuyện với Thanh, cuốn Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh cũng bị đấu tố trên mạng, với cáo buộc rằng sách bôi nhọ hình ảnh “bộ đội Cụ Hồ”. Làn sóng chỉ trích đã dẫn tới việc chính quyền rút tên Nỗi buồn chiến tranh ra khỏi một danh sách tôn vinh.

Trong những đợt đấu tố trước đây, không thấy báo chí đồng loạt lên bài phản đấu tố. Nhưng lần này, khi sự chỉ trích chạm tới quyền lực thượng tầng, báo chí đã đăng bài phê phán tệ đấu tố.

Quan sát tình hình xã hội thời gian qua, nhiều người nhắc tới phong trào Nhân văn giai phẩm – nỗ lực của một nhóm văn nghệ sĩ thời thập niên 1950 nhằm thúc đẩy tự do sáng tác và phản biện xã hội, nhưng sau đó bị chính quyền đàn áp, nhiều người tham gia bị xử lý và cấm hoạt động – hoặc Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc – chiến dịch do Mao Trạch Đông phát động nhằm củng cố tư tưởng cộng sản nhưng dần đưa xã hội tới một thời kỳ hỗn loạn chính trị.

Sau Cách mạng Văn hóa, Hồng Vệ binh dần thất sủng và mất chỗ đứng.


 

TRÁCH AI ?

Xuyên Sơn

 TRÁCH AI ?

Hai vợ chồng đến từ một tỉnh miền Tây. Gia đình có vẻ là khá giả.

Người chồng đau nhiều, đi lại rất khó khăn, chỉ có thể đi được vài bước chân, hai chân rất yếu, sức cơ giảm nhiều.

Ngoài trượt đốt sống và hẹp ống sống nặng, ông ấy lại đang trong cơn gút cấp. Đã thế, ông ấy lại còn bị viêm dạ dày ruột, tiêu chảy nhiễm trùng, bệnh mạch vành, viêm da mủ và tiểu đường type 2. Đã có chỉ định mổ cột sống cho ông chồng, nhưng chắc không bác sĩ nào dám cầm dao với tình trạng sức khỏe của như vậy.

Còn người vợ.

Chị ấy đã không còn đi được, teo cơ hai chân. Chị ấy cũng bị trượt đốt sống và hẹp ống sống rất nặng.

Riêng về tiểu đường thì đường huyết cao chất ngất, gần 20 chấm,

HbA1C cũng 16, 17 chấm.

Khớp gối sưng vù, nóng đỏ, siêu âm đầy dịch.

Chị này cũng đã có chỉ định mổ cho bệnh cột sống, nhưng chắc cũng không bác sĩ nào đủ dũng cảm mổ cho chị ấy.

Đến đây thì có lẽ ai cũng cho rằng cái gia đình này không quan tâm đến sức khỏe, cả hai vợ chồng đều để bệnh quá nặng mới đi khám. Để đến nông nỗi này, có lẽ lỗi hoàn toàn thuộc về bản thân người bệnh.

Nhưng không.

Họ cho biết họ có đi khám bệnh.

Nhưng khám mãi không thấy bớt, càng ngày càng nặng, nên mới khăn gói lên thành phố.

Hỏi họ khám thì bác sĩ nói sao, chẩn đoán bệnh gì.

Họ nói không thấy bác sĩ nói gì cả.

Anh chồng thì biết bị nhiều bịnh vì thấy có nhiều bác sĩ khám, cho nhiều toa, còn chị vợ thì nghĩ rằng bác sĩ chỉ khám bệnh thần kinh tọa thôi, vì chị bị đau lưng và đau chân, và không biết mình bị hàng loạt bệnh khác.

Tôi cho rằng, lỗi chính trong chuyện này là hệ thống y tế của chúng ta.

Bên cạnh hệ thống bảo vệ sức khỏe dành riêng cho các quan chức, hệ thống chăm sóc sức khỏe cho người dân được phó mặc cho những qui định của bảo hiểm.

Công tác tuyên truyền, giáo dục sức khỏe được phó mặc cho mạng xã hội và các nhà quảng cáo.

Một số bệnh nhân cho tôi biết, họ đã phát hiện và điều trị loãng xương, hết loãng xương rồi.

Hỏi khám và điều trị ở đâu thì được biết là ở… siêu thị.

Các công ty sữa mang máy đo loãng xương loại không được công nhận làm tiêu chuẩn chẩn đoán, đến đo miễn phí tại các siêu thị, rồi bán sữa về uống, hai tuần sau đo lại hết loãng xương.

Tương tự vậy, các loại thực phẩm chức năng mà chỉ có trời mới biết tác dụng như thế nào, được quảng cáo đầy trên TV.

Người dân cứ tưởng rằng uống nó là trị bá bệnh, hoặc không thì cơ thể cường tráng, khỏe mạnh, chẳng có bệnh tật nào xâm phạm nổi.

Có đi về các miền quê mới thấy, những cái giường, những cái máy,

với hàng đống đèn xanh xanh đỏ đỏ, chớp chớp nhá nhá, có giá vài chục triệu, có khi cả trăm triệu, được mang giới thiệu công khai, có khi còn có sự giúp sức của chính quyền hoặc các cơ quan đoàn thể địa phương.

Người có tiền thì mua máy về xài, người ít tiền thì trả tiền thuê máy để nằm, hãnh diện vì được những cái máy đấy trị bá bệnh cho mình…

Vào trong bệnh viện thì chỉ được làm xét nghiệm này mà không được làm cái khác, thậm chí là chỉ được dùng thuốc này mà không được dùng thuốc khác. Một ngày khám hàng mấy trăm bệnh nhân, bác sĩ, ngoài việc sợ bị bệnh nhân kiện cáo, lại sợ bị BHYT xuất toán, chẳng còn thời gian giải thích.

Hôm nào ít bệnh, có thời gian giải thích thì bị cho là lạm dụng BHYT, có khi đi tù như chơi.

Cứ thế, cả nền y tế được thả nổi.

Sức khỏe của người dân được thả nổi. Khi xảy ra những câu chuyện như gia đình bệnh nhân nói trên, thì, hoặc là qui kết cho bản thân người bệnh, hoặc là chê bai bác sĩ ở tỉnh chuyên môn tệ quá.

Còn cái cốt lõi, là cả một hệ thống chăm sóc sức khỏe bất bình đẳng, bởi sự ảnh hưởng của hệ thống chính trị phân chia đẳng cấp quan – dân,

nơi mà những kẻ hoạch định chính sách không trực tiếp trải nghiệm sản phẩm của mình, thì vô can.

Thanh Lan


 

 ĐỐT SÁCH NHƯNG CÓ ĐỐT NỔI VĂN HOÁ MIỀN NAM KHÔNG?…

Donry Nguyen

 ĐỐT SÁCH NHƯNG CÓ ĐỐT NỔI VĂN HOÁ MIỀN NAM KHÔNG?…

Ở Sài Gòn, không xa Dinh Độc Lập, ngay cạnh nhà thờ Đức Bà, bên trong đường sách Nguyễn Văn Bình, bạn sẽ tìm thấy những cuốn sách rất đắt tiền.

Chúng đắt tiền không phải do chúng dày dặn, đẹp đẽ, mà vì một lẽ khác, bởi đó là những cuốn sách đã may mắn sống sót khỏi chảo lửa đốt sách điên cuồng tại miền Nam.

Năm 1977, một cán bộ tại TP. Sài Gòn khoe với báo chí quốc tế rằng khoảng 700 tấn sách của miền Nam đã bị tịch thu và nghiền nát sau hai năm “giải phóng”.

Trong cùng năm, một cán bộ ở Huế cho biết hàng chục nghìn cuốn sách và tranh ảnh “lạc hậu” về “tình yêu ủy mị” và “tìm kiếm niềm vui thể xác” đã bị đốt bỏ.

Một cuốn sách xuất bản vào năm 1976 của một nhà báo ngoại quốc đã kể lại chuyện một nhóm học sinh, sinh viên ở Sài Gòn chủ động tổ chức đốt sách nhằm xóa bỏ “văn chương né tránh hiện thực”.

Linh mục André Gelinas cho biết một số lượng lớn trong khoảng 80.000 cuốn sách của thư viện Trung tâm Giáo dục Alexandre de Rhodes tại Sài Gòn đã bị đốt bỏ theo chính sách tiêu diệt “văn hóa tư sản”.

Nhà báo Richard Dudman, phóng viên kỳ cựu của báo St. Louis Post-Dispatch, cho rằng chính quyền miền Bắc có lẽ đã không ngờ chiến thắng tại miền Nam lại đến nhanh như vậy, và họ đã không chuẩn bị kế hoạch tiếp quản phù hợp.

Một số hành động hấp tấp trên quy mô lớn để lại di chứng đời đời. Trong đó, sự kiện đốt sách đã mở đầu chiến dịch hủy diệt ngành xuất bản tư nhân đang phát triển ở miền Nam với kỹ thuật xuất bản hiện đại. Đau khổ hơn là những người cầm bút cũng có chung số phận với những cuốn sách.

Cho đến nay, sau 51 năm, Việt Nam vẫn chưa lấy lại được khí thế sôi động của ngành xuất bản tư nhân thời Việt Nam Cộng hòa.

Nền xuất bản rực rỡ của miền Nam:

Trước năm 1975, miền Nam có 44 tỉnh, thành từ tỉnh Quảng Trị đến tỉnh An Xuyên (địa phận Cà Mau hiện nay) với Sài Gòn là thủ đô.

Tổng dân số năm 1971 là khoảng 18,7 triệu người.

Vào năm 1974, ông Lê Bá Kông, Chủ tịch Hội Các Nhà in và Xuất bản thời Việt Nam Cộng hòa cho biết miền Nam có khoảng 180 nhà xuất bản lớn nhỏ. Trong khi đó, miền Bắc chỉ có 21 nhà xuất bản.

Từ năm 1954 cho đến giữa năm 1972, trung bình mỗi năm miền Nam xuất bản hơn một nghìn tựa sách, tổng cộng 21.279 tựa sách đã được xuất bản.

Một số tác giả dẫn số liệu năm 1972 của Ủy hội Quốc gia UNESCO Việt Nam thì có khoảng ba nghìn đầu sách được cấp phép xuất bản hàng năm.

Năm 1963, Đoàn Thêm cho biết chỉ trong ba năm (từ 1961 đến 1963) đã thấy 2.624 nhan đề sách, nhiều nhất là tiểu thuyết và thơ. Ông nhận định, sau năm 1954, văn nghệ miền Nam đã sống động hơn rất nhiều, nhờ sự đóng góp của các nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ di cư từ miền Bắc.

Trong ba năm 1965, 1970 và 1973, miền Nam đã nhập về tổng cộng 96.392 tấn giấy. Giấy được dùng để in nhiều ấn phẩm khác nhau, trong đó có sách.

Năm 1974, miền Nam có hơn 700 nhà in với 20 cơ sở có khả năng in một triệu cuốn sách mỗi năm. Các nhà in này đã in hơn 86 triệu cuốn sách của miền Nam, trung bình mỗi năm xuất bản khoảng 4,5 triệu cuốn sách.

Ở Sài Gòn mỗi ngày có khoảng 3.000 cuốn sách được bán ra.

Số nhà sách ở miền Nam là 2.500 cửa hàng, đa số tập trung tại Sài Gòn, chưa tính đến các nhà cho thuê sách. Những nhà xuất bản, nhà in, hiệu sách ở miền Nam này dù khác nhau như thế nào nhưng đều có chung một ngày khai tử là ngày 30/4/1975.

Đốt sách trước năm 1975, chuyển sách ngoài Bắc vào:

Năm 1977, báo London Telegraph cho biết chính quyền đã chuyển hàng trăm tấn sách “hợp pháp” của miền Bắc vào miền Nam.

Báo chí nhà nước cũng xác nhận “hàng trăm triệu bản sách” của miền Bắc đã được chuyển vào miền Nam ngay sau tháng 4/1975 để “phục vụ cho công tác tuyên truyền, giáo dục, xây dựng tư tưởng, tình cảm mới – xã hội chủ nghĩa”.

Điều nghịch lý là những cán bộ miền Bắc tại Sài Gòn đã không mặn mà với những cuốn sách từ miền Bắc, mà họ thích đọc và giữ lại những cuốn sách bị cấm ở miền Nam.

Theo Nguyễn Vy Khanh, ngay sau khi tiếp quản miền Nam, chính quyền quân quản đã ra chỉ thị cấm lưu hành và tàng trữ tất cả sách, báo trước ngày 30/4/1975. Chỉ trong một tuần, số sách tịch thu được tại một quận của Sài Gòn là 482.460 cuốn, ba tấn báo chí.

Một nhà sách ở Nha Trang phải nộp 35.530 cuốn sách.

Năm 1976, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Việc xây dựng nền Văn Hóa mới được tiến hành trong cuộc đấu tranh quét sạch những tàn dư mà Mỹ đã gieo rắc ở miền Nam.

Đó là thứ Văn Hóa nô dịch, lai căng, đồi trụy, cực kỳ phản động […]”

Đến tháng 1/1978, Bộ Văn hóa và Thông tin đã tổ chức “Hội nghị đấu tranh xóa bỏ tàn dư văn-hóa thực dân mới” tại TP. Sài Gòn.

Hai tháng sau hội nghị, chính quyền TP. Sài Gòn đã mở chiến dịch hủy diệt sách lần thứ nhì. Lần này, chính quyền trung ương cho rằng việc tiêu hủy sách trước đó vẫn chưa được thực hiện một cách triệt để nên lần này phải hủy diệt tất cả các cuốn sách từ tiểu thuyết, thơ văn đến chính trị, kinh tế, luật, chỉ cho phép giữ lại các sách về khoa học tự nhiên.

Đến năm 1981, chính quyền trung ương đã công bố danh sách 122 tác giả có toàn bộ tác phẩm bị cấm lưu hành.

Trong chiến dịch vào tháng 6/1981, chính quyền cho biết đã tịch thu khoảng 3 triệu ấn phẩm, trong đó tại Sài Gòn có khoảng 60 tấn sách, hàng chục nghìn cuộn băng nhạc, tranh ảnh và hơn 600 cuộn phim.

Nhiều tác giả cho biết chính quyền đã huy động thanh niên, thậm chí là trẻ em mang băng đỏ vào nhà của người dân để lục soát, tịch thu các thể loại sách vở, báo chí, băng đĩa.

Có người kể rằng một chủ tiệm cho thuê sách cạnh nhà thờ Ba Chuông (Quận 3, TP. Sài Gòn) đã cho nổ một quả lựu đạn khi các em nhỏ đeo băng đỏ xông vào nhà để tịch thu sách.

Việc đốt sách không chỉ hủy hoại nền xuất bản, tài sản của người dân, mà còn là hủy hoại nền tảng tri thức được gây dựng hơn 20 năm ở miền Nam trên nhiều lĩnh vực.

Nguyễn Văn Lục cho rằng chính quyền đã đốt sạch các sách của miền Nam mà không phân biệt thể loại, nội dung, chính trị hay không chính trị, kể cả những sách thiếu nhi có tính chất giáo dục cao cũng bị đốt bỏ. Chính quyền đã nhắm vào quan điểm, thái độ chính trị của tác giả hơn là nội dung của những cuốn sách.

Mãi đến năm 1985, chính quyền vẫn còn lo sợ về các loại sách, báo cũ của miền Nam, mặc dù vào lúc này, nhiều nhà văn, nhà thơ miền Nam vẫn còn bị giam giữ trong các trại tù cộng sản trên khắp đất nước…

NGUYỄN HẠNH

—————————

-ÔN CỐ TRI TÂN

Tần Thuỷ Hoàng đốt sách chôn Nho,

Toan giết sạch học trò hay chữ.

Không diệt được Bách gia chư tử,

Mà chính mình lại bị diệt vong.

Xem bao đời lịch sử Tây Đông,

Đâu cũng trọng hiền tài, nhân sĩ.

Vốn học thức tạo nên người tài trí,

Giúp quốc gia tự chủ trường tồn.

Có một thời Giai Phẩm Nhân Văn,

Bị đấu tố sa vòng tù tội

Bọn ngu si ghét người tài giỏi,

Quyết ra tay “hạ thủ bất hườn”.

Những Phan Khôi, Phùng Quán, Trần Dần…

Tên tuổi họ lại thêm lừng lẫy.

Tác phẩm họ còn nguyên giá trị,

Thấm đẫm tình dân tộc bao la.

Trời phương Nam hội tụ tinh hoa,

Nơi góp mặt anh tài cả nước.

Cùng sáng tạo thơ, văn, âm nhạc,

Trên lâu đài dân chủ tự do.

Cuộc phân tranh thế trận xoay cờ,

Khi phương Bắc tiến vào cướp bóc.

Chúng ra tay gồm thâu đốt sạch,

Cả một nền văn học Nước Nam.

Họ thay vào học thuyết lai căng,

Gieo rắc nỗi thù hằn giai cấp.

Biến văn chương trở thành nọc độc,

Phá tan hoang đạo đức bao đời.

Sự hung hăng cũng chỉ một thời,

Men chiến thắng lần hồi nguội lạnh.

Mớ nhạc đỏ im hơi tắt tiếng,

Đám văn nô bồi bút co vòi.

Và nhạc vàng rực rỡ lên ngôi,

Văn thơ cũ vùng lên sống lại.

Bao tài danh phục hồi tên tuổi

Giống như xưa, vốn nó vẫn là…

Tần Thuỷ Hoàng đốt sách chôn Nho,

Rốt cuộc lại tự mình hủy diệt.

Kẻ độc tài ngày nay nên biết

Càng bạo tàn càng kết liễu nhanh.

-Donry Nguyễn-


 

 Đức Thánh Cha Lêô XIV: “Tôi đến đây không mang theo bài diễn văn, nhưng mang theo một cơn đói”

Catholic News

 Đức Thánh Cha Lêô XIV: “Tôi đến đây không mang theo bài diễn văn, nhưng mang theo một cơn đói”

Giữa tiếng ve râm ran của mùa hè, trưa thứ Bảy, ngày 11/7, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã dùng bữa trưa với khoảng 200 người đang gặp hoàn cảnh khó khăn tại khu vườn của Dinh Giáo hoàng ở Castel Gandolfo, nơi ngài đang nghỉ hè trong vài ngày.

Những người được mời tham dự bữa ăn đều đang đối diện với nhiều hoàn cảnh thử thách như vô gia cư, di cư hoặc phải rời bỏ quê hương. Họ chờ đón Đức Thánh Cha thành từng nhóm nhỏ dưới bóng những cây ôliu trong khuôn viên dinh thự.

Khi chào đón mọi người, Đức Thánh Cha mở đầu bằng một lời nói hóm hỉnh:

“Tôi đến đây không mang theo bài diễn văn, nhưng mang theo một cơn đói.”

Lời chia sẻ khiến các đầu bếp đang chuẩn bị món mì ngoài trời cùng mọi người bật cười. Tuy nhiên, ngài tiếp tục giải thích rằng đó là:

“Cơn đói về công lý, cơn đói về tình bác ái đích thực, cơn đói về một Giáo hội biết thực sự mở rộng cửa, biết đón tiếp và chào đón tất cả mọi người; một Giáo hội nơi tình yêu dành cho mọi người được thể hiện và không ai bị xem là kẻ thù.”

Gợi lại ý nghĩa của danh xưng “Giáo hoàng” (Pontiff), vốn có nghĩa là “người xây cầu”, Đấng kế vị Thánh Phêrô mời gọi mọi người cùng nhau xây dựng:

“một thế giới khác, một thế giới của hy vọng, một thế giới trở thành ánh sáng”, giữa một thực tại đang quá nhiều lần bị chia rẽ bởi bạo lực, hận thù và phân biệt đối xử.

Đức Thánh Cha nói:

“Hôm nay, chúng ta muốn xây dựng một nhịp cầu với tất cả anh chị em, với gia đình của anh chị em và với xã hội mà chúng ta mong muốn được sống – một xã hội công bằng. Một nơi mà những nguyên nhân dẫn đến nghèo đói được loại bỏ, nơi những nguyên nhân của bất công vẫn còn tồn tại trong thế giới hôm nay được xóa bỏ. Đó chính là Giáo hội mà chúng ta mong muốn trở thành.”

Ngài cũng bày tỏ sự gần gũi với tất cả những ai đang sống trong đau khổ hoặc gặp nhiều khó khăn.

Trong bữa ăn, Đức Thánh Cha ngồi cùng bàn với một số đại diện của các khách mời, gồm: một người mẹ tị nạn đến từ Tanzania cùng hai con nhỏ (7 và 5 tuổi), một người Ukraine, một người tị nạn đến từ Peru và một người đến từ Sudan.

Thực đơn của bữa trưa gồm có:

  • Mì sốt Amatriciana
  • Thịt bê quay
  • Rau diếp xoăn
  • Dâu tây dùng với kem tươi.

Trước đó, vào ngày 17/8/2025, Đức Thánh Cha Lêô XIV cũng đã dùng bữa trưa với khoảng 80 người có hoàn cảnh khó khăn. Hoạt động này hiện được dự định trở thành một cuộc gặp gỡ thường niên, do Borgo Laudato Si’ – trung tâm sinh thái của Vatican đặt trong khuôn viên Dinh Giáo hoàng mùa hè – tổ chức.

Một bữa ăn đơn sơ, nhưng là dấu chỉ cụ thể của sự gần gũi, lắng nghe và chia sẻ, đồng thời nhắc nhớ lời mời gọi không ngừng xây dựng một xã hội công bằng hơn, nơi phẩm giá của mỗi con người luôn được tôn trọng.

Jos Nguyen chuyển ngữ – Aleteia 


 

Dám làm dám chịu

Kim LeCâu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do Việt Nam

Dám làm dám chịu

Những gì đang xẩy ra quanh vụ đấu tố, bắt bớ các nhà văn, biên tập viên, nhà xuất bản ở Việt Nam khiến tôi nghĩ đến bài “Nỗi đau khổ không chỉ của riêng ai” viết cách đây một năm.

https://www.facebook.com/tho.nguyen.9231/posts/31129502989974377

Những người thấp cổ bé họng, bị mất đất, bị bọn cường hào mới chèn ép luôn quằn quại đau khổ vì án oan. Nhiều khi hàng chục năm, có khi cả đời. Nhiều người bán hết cả nhà cửa, gia tài để lên Hà Nội, ăn chực nằm chờ, khiếu kiện, kêu oan cho người thân. Họ ngủ, nghỉ ở đâu cũng bị xua đuổi. Thế rồi cuối cùng con cái mình vẫn bị giết chết như tù nhân Lê Văn Mạnh. Gia đình tử tù Hồ Duy Hải sống khắc khoải suốt 12 năm qua. Vụ án lên đến Chủ tịch nước, Quốc hội mà vẫn không ai dám quyết. Chàng trai Nguyễn Văn Chưởng chờ chết trong tù suốt gần 20 năm qua. Nếu có lúc nào đó được ra khỏi tù, chắc cậu sẽ khó trở lại cuộc đời bình thường.

Nhiều lắm, những chuyện bất công đang diễn ra trước mắt chúng ta.

Nhưng kể cả những kẻ tưởng như nằm chiếu trên của sự bất công  cũng chẳng sướng gì. Từ các vị tứ trụ, bộ chính trị, đại biểu quốc hội, đến chủ các tập đoàn nghìn tỷ, ai cũng có thể bị trảm bất cứ lúc nào. Thậm chí kể cả những người tin yêu chế độ, sùng tín lãnh tụ, muốn đưa một luồng sinh khí mới vào sử thi ca ngợi cũng có thể bị đập chết như ngóe. Tội danh thì không bao giờ thiếu. Bí thì bổ sung thêm vào luật hình sự những con số 88, 117, 331…. Luật pháp “cây nhà lá vườn” hay ở chỗ: Muốn thông qua quốc hội lúc nào cũng xong.

Đó chính là cái bi kịch trong một hệ thống kiên quyết không chịu xây dựng và phát triển xã hội dựa trên một nền tư pháp độc lập và khai phóng con người. Những kẻ cổ vũ hoặc góp phần xây dựng nền tư pháp bỏ túi đến lúc nào đó sẽ bị chính nó quật lại.

Thiên hạ đang nói về nạn đấu tố như những năm 1990 về trước. Họ mang “Cách mạng Văn hóa”, “Nhân văn Giai phẩm” ra so sánh. Về hiện tượng thì các vụ lùm xùm về sách vở gần đây giống như những gì diễn ra trong quá khứ. Nhưng về bản chất thì đã khác.

Trước kia nhà nước yếu kém, cả về kinh tế cũng như chính trị. “Thù trong giặc ngoài” là điều được nhắc đến thời đó. Đất nước bị cô lập nặng nề, chỉ vỏn vẹn có 12-13 nước bạn XHCN giúp đỡ và cổ vũ. Từ cây kim sợi chỉ đến hạt lúa mỳ phải xin từ nước ngoài. Sinh hoạt văn hóa thì nghèo nàn như phim “Bạch Mao Nữ” và buồn như “Chung một dòng sông”. Công cụ hiếm hoi để đảm bảo sự tồn tại của chế độ chỉ là sức mạnh quân sự và chuyên chính công an. Do đó mọi tư tưởng làm ảnh hưởng đến tính chính danh của chế độ, của đảng, của lãnh tụ đều bị đập chết ngay từ trong trứng.

Ngày nay Việt Nam đã ở vào một vị thế khác. Cho dù vẫn là một nước nghèo, chậm phát triển, chưa công nghiệp hóa xong, nhưng là một quốc gia không chỉ đang tự nuôi sống được mình, mà bắt đầu tham gia tích cực vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Sinh hoạt văn hóa và tự do báo chí tuy vẫn bị xếp vào danh sách 10 quốc gia mất tự do nhất hành tinh [1], nhưng người Việt khi vào Internet vẫn có nhiều lựa chọn hơn ở Trung Quốc, hoặc thậm chí ở Nga.

Điều quan trọng hơn cả là nhà nước này đã tự tin hơn.

Người ta biết rằng chế độ độc đảng không còn là trở ngại trong quan hệ quốc tế. Đã có hai vị Tổng Bí Thư đi thăm nước ngoài với cương vị đúng đầu nhà nước. Có được ba tổng thống Mỹ cùng vài nguyên thủ Tây Âu, Bắc Âu gọi họ một cách lễ phép: “Thưa ông Tổng bí thư”. Các nguyên thủ phương tây nay biết rõ rằng, để làm việc với Việt Nam một cách hiệu quả, phải nói chuyện với Tổng Bí thư. Hiến pháp chỉ là hình thức.

Sự tự tin này lên đến mức mọi phân định trách nhiệm giữa chính quyền và đảng cầm quyền đã bị xóa bỏ. Các cơ quan báo chí nhà nước như đài phát thanh VOV, truyền hình VTV, TTXVN rồi kể cả các cơ quan nghiên cứu khoa học kỹ thuật cũng trực thuộc đảng cầm quyền.

Các nhà lãnh đạo Việt Nam hiện nay đều từ công an, quân đội mà ra nên họ rõ hơn ai hết về mối đe dọa của chế độ. Số bản án, các vụ bắt bớ, kỷ luật dành cho quan chức, doanh nhân trong những năm qua đã vượt xa số các vụ án dành cho người bất đồng chính kiến. Đó đang và sẽ là thực tế ở Việt Nam. Thực tế này cũng gây ra những nhiễu loạn cho công chúng khi nhìn vào các sự việc. Cả “Nỗi buồn Chiến tranh” hay “Nói chuyện với Thanh” lúc đầu đều được báo chí chính thống vinh danh để rồi tác giả bị đánh hội đồng. Rồi chính các cơ quan ca ngợi họ đều rút lui, xóa bài. Thậm chí có lúc đại diện phe chính thống còn lên tiếng phê phán đám đông đánh hội đồng (Như ông cục trưởng gì đó vừa làm).

Đại loại là đều ê chề như nhau, người ca ngợi rồi rút lui, người bị đánh và đám đông đánh hội đồng.

Trong lúc người ta hỏi học sinh làm sao để nước ta có được những người như Steve Job, thì lại diễn ra đấu tố văn hóa, trong khi kêu gọi tinh giảm bộ máy hành chính thì lại bắt người dân đến thăm họ hàng qua đêm phải khai báo… Tất cả những dích dắc đó chứng tỏ nỗi sợ vấn còn quá lớn. Tôi không tin là các NXB sơ sót điều gì. Nền kiểm duyệt mà tôi cọ xát suốt bao năm qua chưa bao giờ lơ đãng.

Phong trào tạo phản chủ yếu xuất phát từ những cựu quan chức văn hóa bảo thủ. Tuy họ không nắm quyền lực nữa, nhưng vẫn đại diện cho một lực lượng đáng kể trong xã hội. Đám đông này thổi bùng ngọn lửa “Cách mạng” để được sống lại với quá khứ của họ. Ngọn lửa này cháy to rát mặt đến mức những người chủ trương làm ngơ cho dòng chảy cuối cùng cũng phải gật đầu “cho trảm”. Lúc đầu muốn chơi trò đột phá, nhưng khi bị tạo phản thì không ai dám chịu.

Nguyên nhân của bi kịch nằm ở lực lượng “Âm binh” được nuôi dưỡng từ trước kia, nay dù muốn hay không, cũng vẫn không kiểm soát nổi.

Mất kiểm soát và thiếu bản lĩnh bản lĩnh thì thối lui.

Tất nhiên cái thực tế này sẽ còn kéo dài, bất chấp tất cả mọi mong muốn “Hóa rồng” trong “Kỷ nguyên vươn mình”. Người ta vẫn dám chấp vì luôn tin vào tăng trưởng 8-10% /năm kéo dài sẽ đưa vị thế Việt Nam tiếp tục lên cao. Điều này duy trì được chừng nào đất nước tiếp tục phát triển bằng cơ bắp, bằng gia công, bằng xuất khẩu nông sản, tài nguyên, bằng những cái giá của môi trường.

Nhưng rồi thế hệ vàng sẽ chấm dứt, lao động chân tay sẽ cạn. Đến lúc đó đất nước cần những con người có có phẩm chất để tạo ra những sản phẩm cao cấp như Chips, AI, Nano. Những con người đó không thể sinh ra trong một xã hội không có tự do học thuât, không có tự do tư tưởng, mà chỉ quen a dua đánh hội đồng.

Giả sử ngày mai có phép thần để chấm dứt các trò ngu muội đó đi, thì cũng phải mất cả chục năm để nền giáo dục khai phóng và văn hóa nhân bản mới cho ra những con người đủ phẩm chất cạnh tranh với thế giới.

Phẩm chất con người không chỉ là kiến thức, mà quan trong hơn là lý trí, đạo đức và ý chí.

Đó là điều duy nhất tôi muốn nói.

Các nhân vật từng được ưu ái, chuyên nằm chiếu trên khi ra tòa thường ăn năn, khóc lóc, xin được tha để chuộc tội lỗi. Họ càng khóc lóc thì những người xưa nay tung hô nâng đỡ họ càng tìm cách xa lánh, phủi tay. Họ có nhiều tiền để sống dễ chịu hơn trong tù, được pháp luật nương tay cho ra sớm. Nhưng họ ra tù một các lặng lẽ, giấu giếm. Vì thể tôi không mất công để viết họ.

Ngược lại những người không hề được nương tay như Hùng Gàn Lê,  hoặc Pham Doan Trang khiến tôi kính trọng. Trước tòa họ luôn tỏ ra có khí phách “Dám làm, dám chịu”. Trong suốt 5 năm Hùng Gàn ngồi tù, mẹ con Tử Đinh Hương luôn nhận được sự đùm bọc của bạn bè. Ngày Hùng ra tù, hàng ngàn người chờ trên mạng mong được nhìn vợ chồng em hội ngộ. Năm năm tù đã làm Hùng suy kiệt về sức khỏe, tài sản, sự nghiệp. Nhưng em không rời bỏ nguyên tắc của cuộc đời.

Tôi không bao giờ quên hình ảnh Đoan Trang bị giải ra khỏi phiên tòa hôm 14.12.2021. Trang không khóc, chỉ ngoái cổ lại tìm mẹ để nói: „Mẹ ơi con yêu mẹ! Con không sợ gì đâu. Mẹ giữ sức khỏe nhé!“.

THO NGUYEN 


 

Nam Kỳ Hào Sảng

“Tôi chả thấy dân Nam hào sảng gì cả, có được cho, được nhận gì bao giờ đâu”.

Khi đọc những dòng bình luận về sự hào sảng ở trong Nam, tôi khá buồn và nghĩ có lẽ bạn đang nhìn sai thước đo.

Bạn đang nhầm giữa hào phóng và hào sảng.

Có những thứ không thể “thấy”, “nhận” theo kiểu thông thường. Nhiều khi phải sống cùng, đi qua vài chuyện, rồi mới cảm được.

Khí chất hào sảng Nam Bộ không chỉ ở tiền. Ở Sài Gòn, ở miền Tây, nhiều khi nó là không khí.

Một ngày nọ, tôi ngồi ở Starbucks trên đường Nguyễn Thị Minh Khai. Nếu bạn chưa biết thì ở chỗ đó, quán không nhận tiền mặt. Có một cụ lớn tuổi đứng loay hoay muốn mua chút đồ, nhìn có vẻ là mua quà cho con cháu. Cụ lựa rất lâu, trầm ngâm tới lui, cuối cùng cũng ưng được hai món.

Tới lúc thanh toán mới kẹt. Cụ chỉ có tiền mặt, mà quán không nhận tiền mặt. Tôi thấy vậy nên bước tới, nói để cháu quẹt thẻ giúp, cụ đưa lại tiền mặt cho cháu là được.

Chuyện nhỏ thôi, không có gì đáng kể. Nhưng lúc đó, tự nhiên trong tôi bật lên rất nhiều chuyện cũ, như có ai khều nhẹ vô một cái ngăn ký ức đã lâu không mở.

Hồi nhỏ, tôi từng đi học trên những con đường đất sét ở một vùng quê nghèo. Mùa mưa, nước ngập tới đầu gối. Sáng đi rất sớm, chiều về nếu ba mẹ không đón được thì hai chị em cứ đi bộ mấy cây số về nhà. Trên đường thấy cô chú nào chạy ngang, tôi lại học lỏm một câu cửa miệng:

Cô ơi, chú ơi, cho con có giang (quá giang) về nhà.

Đa phần người ta đã chạy huốt qua (chạy lố) rồi mới dừng lại, quay đầu nhìn lại rồi kêu: Lên xe đi con.

Có khi họ chở một đoạn. Có khi không tiện thì thôi. Nhưng chỉ cần một người dừng lại, đoạn đường sình lầy hôm đó tự nhiên ngắn hơn rất nhiều.

Năm tôi mới lớp 3, mẹ tôi bị tật đãng trí đã lâu. Có hôm đưa hai đứa con đi học xong, mẹ quên mất chuyện phải đón. Hai đứa nhỏ cứ đinh ninh rằng mẹ sẽ lấy xe đạp ra rước, nên ngồi đợi miệt mài.

Tới tối khuya, ba tôi đi làm về hỏi: Con đâu em?

Cả nhà mới tá hỏa, hai đứa nhỏ vẫn còn ở trường.

Lúc đó trường đang xây mới mấy dãy phòng. Mấy chú thợ hồ thấy hai đứa nhỏ ngồi đợi tội quá, mới lôi vô căn tin, kêu bà chủ nấu cho hai gói mì con tôm. Các chú định trả tiền, mà bà chủ căn tin cũng không lấy, nói coi như cho con cháu trong nhà ăn.

Hai gói mì con tôm hồi đó, tính bằng tiền thì không đáng bao nhiêu. Nhưng với hai đứa nhỏ ngồi trong một cái trường vắng, chờ hoài không thấy ai tới đón, nó lớn hơn rất nhiều so với giá tiền của nó.

Nó làm mình nhớ hoài.

Tôi hay ăn cơm Má Tư ở Trần Cao Vân.

Tôi gọi má, gọi tía, vì thật sự không khác gì ăn cơm nhà. Nhiều người đi cùng tôi chắc sẽ thắc mắc, sao đi ăn quán mà gọi thân như vậy. Nhưng nếu họ ngồi đó đủ lâu, ăn vài bữa, nghe vài câu chuyện, họ sẽ hiểu.

Có lần tôi ăn cơm gặp mưa, má Tư nói:

Đi vô trong xếp mấy cái ghế lại nằm ngủ trưa tí đi con. Mưa đầu mùa đi mắc mưa là bịnh nha con.

Vậy là tôi ăn cơm xong, vô trong quán xếp ghế nằm ngủ quên luôn tới chiều. Quán mát, trời mưa lả tả, mà tôi thì mất ngủ kinh niên, gặp bữa ngủ được là ngủ sâu. Buồn ngủ gặp chiếu manh.

Nghe rất khó tin, nhưng với tôi lại rất bình thường. Có những chỗ ở Sài Gòn không chỉ bán cho mình một dĩa cơm. Nó cho mình một chỗ để ngồi xuống, nghỉ ngơi, thấy mình không phải người khách lạ.

Ở Sài Gòn, chuyện ăn cơm, uống cà phê xong phát hiện có ai đó đã trả tiền giùm mà mình không biết là ai, cũng không phải chuyện lạ. Tôi từng gặp nhiều lần, và nhiều khi chính tôi cũng làm vậy. Không phải để ai mang ơn. Nhiều khi chỉ thấy hạp thì làm, thấy người ta vui thì mình vui thôi.

Có lần tôi đi ăn bún riêu ngoài Hồ Con Rùa, gần đó có một nhóm anh em thợ xây dựng đang sửa công trình. Trong nhóm có một anh dẫn theo đứa con trai nhỏ đi phụ, nhìn rất tội. Ăn xong, mấy anh gọi tính tiền thì quán nói bàn kia đã thanh toán hết rồi, có để lại lời nhắn: Trả tiền cho thằng cháu nội.

Anh có con nhỏ ngơ ngác hỏi:

Ủa, tui có quen ai đâu mà được tính tiền giùm, thằng cháu nội nào vậy? thằng con tui hả? Ba tui đi bán muối lâu rồi.

Rồi cả nhóm cười khà khà, kiểu cười rất miền Nam. Vui vì cái sự dễ thương ngang hông đó.

Người trả tiền chắc cũng đi mất rồi. Không để lại tên, không cần ai mang ơn. Chỉ có cái câu “thằng cháu nội” ở lại, nghe vừa mắc cười, vừa thương, vừa rất Nam Bộ.

Miền Tây còn rõ hơn nữa. Bạn lỡ đường, ghé đại một nhà xin miếng nước, xin nghỉ nhờ một lát, nhiều khi người ta không hỏi bạn là ai trước, mà hỏi bạn ăn cơm chưa. Cái bụng người miền Tây nhiều khi vậy đó, rộng như cái sân trước nhà, có gì dọn nấy, không giàu cũng không để khách đứng ngoài mưa.

Người xưa nói người Gia Định trọng nghĩa khinh tài. Hồi nhỏ đọc mấy chữ đó tôi thấy xa lắm, tưởng là chuyện trong sách. Lớn lên mới hiểu, có những câu không phải tự nhiên mà sống lâu. Nó sống được vì vẫn còn nằm trong cách người ta đưa cái ly nước, dọn thêm chén cơm, quay đầu xe giữa đường, nấu hai gói mì cho hai đứa nhỏ ngồi đợi mẹ.

Còn ai hỏi hào sảng, khảng khái có từ khi nào, chắc phải hỏi cụ Nguyễn Đình Chiểu, người sinh ra ở đất Gia Định. Cú phán của cụ trong Lục Vân Tiên, tới giờ đọc lại vẫn nghe như một tiếng chân bước thẳng vô chuyện bất bình:

Vân Tiên ghé lại bên đàng,

Bẻ cây làm gậy nhắm làng xông vô.

Không cần nhiều lời. Thấy chuyện không đành lòng thì ghé lại. Có cây thì bẻ cây, có tay thì đưa tay, có một bữa cơm thì mời ăn một bữa cơm.

Cái hào sảng đó không nằm ở chỗ người ta có dư bao nhiêu để cho, bao ai ăn uống. Nó nằm ở chỗ, trong khoảnh khắc thấy người khác bị kẹt, người ta không nỡ để mặc.

Nó cũng khác với câu “lá lành đùm lá rách”.

Lá lành đùm lá rách là một đạo lý đẹp, nhưng trong đó vẫn có hình ảnh người còn lành che cho người đang rách, người có điều kiện hơn đỡ người khó hơn.

Còn hào sảng miền Nam nhiều khi không đặt ai ở trên, ai ở dưới. Nó không cần người kia phải khổ tận cùng mới giúp, cũng không cần người giúp phải dư dả gì. Thấy người ta kẹt thì gỡ giùm một chút, thấy thương thì làm, thấy hợp bụng thì đãi, làm xong cười khà khà rồi thôi.

Người được giúp không thấy mình bị ban ơn, người giúp cũng không thấy mình đang làm chuyện tốt chuyện lớn lao.

Cái hay nằm ở chỗ đó.

Trong người tôi là những ký ức của một đứa nhỏ từng được rất nhiều người lạ chìa tay ra. Một đứa nhỏ từng đứng bên đường sình lầy xin quá giang, từng ngồi trong trường vắng tanh ăn hai gói mì con tôm, từng ở những quán cơm mà chủ quán xem mình như con cái, từng thấy có người trả tiền bữa ăn rồi đi mất, không để lại cái tên nào cho mình mang ơn.

Thành ra sau này, khi thấy ai đó đang kẹt, tôi hay bị một cái quán tính rất lạ: đưa tay ra trước rồi tính sau.

Có lẽ hào sảng miền Nam là vậy.

Nó không ồn ào như một bài học đạo đức, cũng không sang trọng như một lời tuyên bố về lòng tốt. Nó giống hơi nước trong một căn bếp đang nấu cơm, không ai chỉ vô đó để khoe, nhưng bước vô là thấy ấm.

Hào phóng là rộng tay. Hào sảng là rộng lòng, rộng bụng, rộng cái khí chất của con người.

Vậy nên tiền bạc, vật chất chưa bao giờ là thước đo đúng nghĩa cho hai chữ hào sảng.

Hào sảng miền Nam, rốt cuộc, không phải là mình có bao nhiêu tiền, có cho ai cái gì không.

Mà là tới lúc người khác bị kẹt, chuyện đưa tay ra mình thấy nó như chuyện tất yếu, như cần không khí để thở.

Bài này tôi chỉ viết từ một góc nhìn hẹp câu chuyện thật của một người Sài Gòn.

Tôi cũng có một người anh, cũng là người thầy, giai Hà Nội. Mỗi lần em ra ngoài ấy, hễ nói thuê hotel ở là bị mắng liền: “Ra nhà anh mà ở, mày dở hơi à?”

Rồi có cu em cũng dân Hà Nội, biết tôi thích uống nước “đẹp”, nó đem từ tận ngoài đó vào biếu một hũ sấu ngâm. Tôi hỏi: “Bộ trong đây không có hả?”

Nó nói: “Làm sao ngon bằng em đem tận gốc vô biếu anh được.”

Nên tôi nghĩ cái tình, cái nghĩa, cái sự rộng lòng thì vùng nào cũng có. Bài này chỉ là một lát cắt nhỏ về cái không khí tôi đang sống và cảm nhận ở Sài Gòn.

Kim Duncan chuyển

From: T. Nguyen 


 

Tỷ phú Buffett cắt khoản quyên góp cho quỹ Bill Gates sau vụ Epstein

Tỷ phú Buffett cắt khoản quyên góp cho quỹ Bill Gates sau vụ Epstein

Ba’o Nguoi-Viet

July 14, 2026

OMAHA, Nebraska (NV) – Tỷ phú Warren Buffett đã cắt khoản quyên góp cho Quỹ Gates, chấm dứt mối quan hệ hợp tác từ thiện kéo dài hai thập niên, sau khi những thông tin về các cuộc gặp gỡ giữa nhà từ thiện, người đồng sáng lập Microsoft (MSFT.O) Bill Gates và tội phạm tình dục Jeffrey Epstein bị phơi bày.

Thay vào đó, ông Buffett sẽ quyên góp khoảng $6 tỷ cho bốn quỹ liên quan đến gia đình mình, không hề nhắc đến Gates trong thông báo hôm Thứ Ba, 14 Tháng Bảy, theo Reuters.

Tỷ phú Bill Gates (trái) và tỷ phú Warren Buffett (phải) (Hình: Spencer Platt/Getty Images)

Tỷ phú Buffett cho biết trong tuyên bố rằng ông muốn toàn bộ cổ phiếu Berkshire Hathaway còn lại của mình, trị giá hơn $140 tỷ, được quyên góp cho từ thiện trước cuối năm 2034. “Tất nhiên, sự sống là không thể đoán trước, nhưng số cổ phiếu còn lại của tôi sẽ được quyên góp cho bốn quỹ này bằng cách này hay cách khác trước ngày 31 Tháng Mười Hai, năm 2034,” ông Buffett nói.

Tổng số tiền quyên góp khoảng $6 tỷ năm nay tương đương với mức quyên góp của mùa Hè năm ngoái, với các quỹ gia đình của Buffett: Quỹ Susan Thompson Buffett, Quỹ Sherwood, Quỹ Howard G. Buffett và Quỹ Novo, nhận được nhiều hơn đáng kể so với những năm trước. Cơ bản là khoản tiền lẽ ra sẽ dành cho Quỹ Gates, theo Reuters.

Hãng thông tấn AP nhận định, sự “phớt lờ” này đánh dấu một bước ngoặt đáng chú ý so với mối quan hệ hợp tác kéo dài của hai nhà tỷ phú. Ông Buffett và ông Gates từng là những người bạn rất thân thiết, thường xuyên trò chuyện, chơi bài trực tuyến và cùng tổ chức những kỳ nghỉ với nhau. Ông Gates từng ngồi trong hội đồng quản trị của Berkshire nhiều năm trong khi ông Buffett từng phục vụ trong hội đồng quản trị Quỹ Gates.

Phần lớn hoạt động từ thiện của ông Buffett, hơn $61 tỷ, đã đổ vào Quỹ Gates kể từ khi ông công bố cam kết quyên góp vào năm 2006. Nhưng ông Buffett nói với CNBC hồi Tháng Ba rằng ông đã không nói chuyện với ông Bill Gates trong nhiều tháng, kể từ trước khi các tài liệu liên quan đến hồ sơ Epstein được công bố vào năm 2025.

Khi nhắc đến vụ bê bối, ông Buffett nói với CNBC rằng “thật đáng kinh ngạc khi một người có thể thành công đến vậy với tư cách là kẻ lừa đảo,” ám chỉ khả năng của tội phạm Epstein trong việc lợi dụng điểm yếu của người khác.

Liên quan đến tỷ phú Bill Gates, gần đây ông đã trao đổi về mối quan hệ với Epstein cùng đội ngũ nhân viên của mình và xuất hiện nhiều lần trong các tài liệu của Bộ Tư Pháp liên quan đến cuộc điều tra Epstein, bao gồm các email trao đổi về các dự án từ thiện, các mục lịch trình và ảnh chụp tại các sự kiện.

Ông Gates đã điều trần trước Ủy Ban Giám Sát Hạ Viện về mối quan hệ này vào ngày 10 Tháng Sáu. Ông phủ nhận biết bất kỳ điều gì về tội ác của Epstein và chưa bị cáo buộc có hành vi sai trái. Ông Gates khẳng định ông chỉ gặp Epstein với hy vọng giúp gây quỹ cho các mục đích từ thiện.

Tội phạm tình dục Jeffrey Epstein được cho là đã tự tử tại nhà tù liên bang ở Manhattan vào Tháng Tám, năm 2019, theo giám định pháp y thành phố New York, trong lúc đang đối mặt với các cáo buộc lạm dụng tình dục hàng chục bé gái vị thành niên. (KL) [kn]


 

LÍNH KHÔNG CÓ SỐ QUÂN- PHẠM SƠN LIÊM

 PHẠM SƠN LIÊM

 “Anh tên gì?”

“…”

“Số quân?”

“…”

“Đơn vị?”

Người sĩ quan già dụi tàn thuốc Bastos xuống gạt tàn. Ông ngước lên. Đôi mắt lạnh như đá.

“Hỏi ít thôi… sống lâu hơn.”

Cả căn phòng im bặt.

   Người ta nói… Một người lính phải có số quân. 

Để lãnh lương.

Để lĩnh quân trang.

Để báo tử nếu hy sinh.

Để khắc lên bia mộ.

Nhưng…

Có những người sinh ra trong cuộc chiến… Lại được huấn luyện để biến mất khỏi mọi hồ sơ công khai.

Không bảng tên.

Không cấp hiệu để khoe.

Không đơn vị để kể.

Chỉ có một mật danh……và một lệnh hành quân.

 “Các anh đi đâu?”

“Không được hỏi.”

“Bao giờ về?”

“Nếu còn.”

“Có ai đón không?”

“Có…”

“Ai?”

Người toán trưởng cười nhạt.

“Thượng Đế.”

   Họ là những quân nhân được tuyển chọn vào các công tác đặc biệt, phối hợp với MACV–SOG và Nha Kỹ Thuật trong những nhiệm vụ bí mật.

Có những chuyến đi… Không có trên bản đồ.

Có những mục tiêu… Không có trong bản tin.

Có những chiến công…Không được công bố

Và cũng có những cái chết…

Không kèn.

Không trống.

Không vòng hoa.

   Trực thăng chỉ xuất hiện vài phút.

Thả người.

Cất cánh.

Mọi thứ lại chìm vào tiếng của rừng.

Người đi…

Tự sống.

Tự chiến đấu.

Tự tìm đường về.

Nếu còn đường.

   “Mất liên lạc!”

“Bao lâu?”

“Ba ngày.”

“Cứu không?”

Viên sĩ quan nhìn tấm bản đồ rất lâu. Rồi gấp lại.

Giọng ông lạnh đến gai người.

“Không ai biết họ ở đó.”

Chỉ một câu.

Đủ khiến cả căn hầm nặng như chì.

   Nhiều năm sau… Một nhà báo hỏi một cựu quân nhân:

“Ông có thể kể về những ngày ấy không?”

Ông lắc đầu.

“Đã giải mật rồi mà.”

Ông mỉm cười.

Một nụ cười buồn.

“Giấy tờ có thể giải mật…”

“…nhưng lời hứa với đồng đội thì không.”

  Có người hỏi:

“Điều đáng sợ nhất của chiến tranh là gì?”

Không phải đạn.

Không phải mìn.

Không phải những cánh rừng tối.

Mà là… Ngày anh ngã xuống…

Không ai dám gọi tên anh.

Không phải vì anh không xứng đáng.

Mà vì nhiệm vụ của anh được sinh ra trong bóng tối.

Và có những người lính…

Đã chấp nhận sống cả tuổi thanh xuân trong bóng tối ấy.

Để khi đất nước cần… Họ xuất hiện. Khi nhiệm vụ xong… Họ biến mất.

Không đòi một lời tung hô.

Không cần huân chương.

Chỉ để lại một câu nói mà những người từng khoác áo trận đều hiểu:

“Có những người lính chiến đấu cho Tổ quốc… nhưng ngay cả lịch sử cũng không biết hết tên họ.”

Phạm Sơn Liêm.

 From: Tu-Phung


 

Tôi 73 tuổi, ngày mai, tôi vào viện dưỡng lão

Chuyện tuổi Xế ChiềuLộc Ninh

  Tôi 73 tuổi, ngày mai, tôi vào viện dưỡng lão: Con trai, con dâu mừng lắm, nghỉ hưu như thế, là điều tôi chẳng ngờ !

Mọi người trong khu phố của chúng tôi đều biết bà Sử sẽ vào viện dưỡng lão. Ngày này, con cái đều lo lắng sự nghiệp, lo cho gia đình, không có nhiều thời gian, người già trong khu phố của chúng tôi cũng có mấy người vào viện dưỡng lão.

Hôm qua tôi gặp bà Sử ở trong xóm ôm chú chó và trò chuyện với hàng xóm, bà nói sắp vào viện dưỡng lão, trong viện dưỡng lão không được phép nuôi chó nên hàng xóm xem có ai nhận nuôi không.

Nhiều người hỏi bà: “Bà có nhà to, có con trai, sao lại muốn vào viện dưỡng lão?”. Nghe vậy, bà Su không khỏi thở dài, khiến ai nấy đều cảm động, bà nói: “Ở tuổi già, những vấn đề có thể giải quyết bằng tiền, hãy cố gắng không làm phiền con cái”.

Dưới đây là câu chuyện được bà Sử kể lại:

“Năm nay tôi đã 73 tuổi, chồng tôi đã mất đã mấy năm. Tôi chỉ có một con trai và nó không sống cùng thành phố với tôi. Trước đây, tôi chưa bao giờ nghĩ rằng những năm cuối đời mình sẽ vào viện dưỡng lão, nhưng bây giờ tôi phải đi.

Vợ chồng tôi đều từng làm việc trong cơ quan nhà nước. Khi còn trẻ, nhiều gia đình ghen tị như gia đình chúng tôi, có công việc tử tế, điều kiện kinh tế tốt và lương hưu cao khi về già. Tôi cũng từng nghĩ như vậy, so với nhiều người già thì điều kiện của tôi đã tốt hơn hầu hết mọi người rồi. Tôi chưa bao giờ lo lắng về tuổi già của mình.

Vợ chồng tôi đã thống nhất từ lâu rằng khi về hưu, tôi sẽ học vẽ, sau đó sẽ cùng nhau đi du lịch, thăm thú sông núi bao la của quê hương.

Con trai tôi sau khi tốt nghiệp đại học đã đi tỉnh khác, để lập nghiệp riêng nên bận rộn nên hiếm khi về nhà. Sau đó, con trai lấy vợ và có con ở đó, gia đình chúng tôi chỉ gặp nhau vào những ngày nghỉ lễ.

Tôi và chồng đều ủng hộ con trai và ủng hộ nó làm những gì nó thích. Vì vậy, mấy năm nay vợ chồng tôi luôn nương tựa vào nhau, nếu có thể tự mình giải quyết việc gì thì cố gắng không làm phiền con trai tôi.

Tôi tưởng vợ chồng tôi có thể ở bên nhau đến già nhưng cuộc sống có nhiều bất ngờ khiến người ta phải bất ngờ. Cách đây một năm, chồng tôi đổ bệnh, tôi gọi xe cấp cứu đưa ông đi bệnh viện ngay, tuy nhiên ông nằm trong phòng ICU hơn nửa tháng vẫn không cứu được.

Nửa tháng sau, bác sĩ nói chúng tôi đưa ông ấy về nhà để hồi phục. Khi chồng tôi ốm, con trai tôi chỉ về ở hơn một tuần, nó phải vội vã quay lại làm việc, con dâu tôi cũng không về vì các cháu nhỏ phải đi học và con dâu tôi phải ở nhà chăm sóc.

Tôi nói với con trai tôi, con bận công việc, mẹ sẽ chăm sóc bố con. Sau khi chồng tôi về nhà, ông ấy gần như rơi vào tình trạng sống thực vật. Ông ấy không thể tự ăn hay nói, ông ấy chỉ nằm đó hàng ngày.

Đôi khi tôi không hiểu tại sao chồng tôi, vốn luôn có sức khỏe tốt, lại đột nhiên rơi vào tình trạng sống thực vật. Trong cuộc sống có rất nhiều chuyện xảy ra bất ngờ, chỉ trong vài giây, số phận của một người, thậm chí của một gia đình có thể bị thay đổi.

Dù chồng đã bất tỉnh nhưng tôi vẫn mong một ngày nào đó ông ấy sẽ bất ngờ nói chuyện với tôi, tôi cũng mong ông ấy sẽ khỏe lại và cùng tôi đi du lịch. Tuy nhiên, cuối cùng, ông ấy đã “tàn nhẫn bỏ đi” sau hai tháng.

Sau khi ông ấy đi, tôi đặc biệt sợ hãi. Đặc biệt là về đêm, khi tôi sống một mình trong ngôi nhà lớn như vậy, trống trải và tĩnh lặng quá. Im lặng đến nỗi tôi có thể nghe thấy tiếng một chiếc kim rơi xuống đất

Tôi không thể chịu đựng được nữa nên gọi điện cho con trai và nói với nó: “Ở nhà một mình, mẹ rất sợ”. Con trai tôi nói sẽ đón tôi về ở đó một thời gian, tôi không còn cách nào khác là phải làm phiền con trai mình.

Tôi thu dọn hành lý và bắt tàu cao tốc đến nhà con trai vào ngày hôm sau. Trước đây, tôi đã đến nhà con trai tôi nhiều lần nhưng chỉ ở trong thời gian ngắn và hầu hết không kéo dài quá một tuần. Lúc đó tôi luôn đi cùng chồng tôi, chúng tôi thường đi dạo, con dâu tôi khá nhiệt tình.

Nhưng lần này đến nhà con trai, tôi luôn cảm thấy có gì đó không ổn, thái độ của con dâu đối với tôi rất lãnh đạm. Con dâu tôi là người rất sạch sẽ, nhà cửa luôn ngăn nắp. Những năm gần đây, con trai bận rộn với sự nghiệp, từ khi có con, con dâu đều ở nhà chăm sóc con cái và quản lý tài chính của công ty.

Ban ngày con trai tôi không có ở nhà nên chỉ có tôi và con dâu. Dù con dâu rất lễ phép và tôn trọng tôi nhưng tôi vẫn cảm thấy không thoải mái. Để giảm bớt sự gượng gạo này, tôi muốn cố gắng hết sức để tìm việc gì đó có thể làm cho bản thân, đồng thời tôi cũng muốn giúp đỡ con dâu và khiến con cảm thấy thoải mái hơn.

Tôi chủ động đi chợ mua những loại rau mà các con trai tôi yêu thích khi còn nhỏ và muốn nấu món gì đó thật ngon cho chúng. Nhưng con dâu tôi nói không cần tôi nấu vì sợ làm tôi mệt.

Ăn tối xong, tôi vội vàng dọn bát đĩa và rửa bát trong bếp. Sau này tôi phát hiện ra rằng mỗi lần tôi rửa bát, con dâu tôi lại rửa lại.

Có lần con dâu nói với tôi: “Mẹ ơi, con thấy nhiều người già ở tuổi mẹ không thích sống cùng con cái, mẹ có thấy thoải mái khi sống ở đây không?”

Tôi vội nói: “Làm quen được mà, ở với các con là tốt rồi”.

Con dâu nói tiếp: “Nghe nói cơ sở vật chất hỗ trợ ở viện dưỡng lão bây giờ rất đầy đủ, người già ở đó thường tổ chức một số hoạt động, có nhiều người cùng tuổi có thể nói chuyện, nhảy múa cùng nhau, rất là tốt. Dì Lữ hàng xóm nhà con, con trai và con gái của bà đã mời bà đến chơi, nhưng dù thế nào đi nữa bà cũng không muốn sống với họ và phải sống trong viện dưỡng lão”.

Tôi chỉ biết “ồ”. Lòng chợt hiểu ra, con dâu đây là đang ám chỉ mình.

Con dâu liền nói tiếp: “Mẹ ơi, căn nhà rộng 130m2 của mẹ bây giờ trị giá hơn 2 triệu (khoảng 6,8 tỷ đồng) phải không?

Chiều hôm đó, con dâu nói chuyện với tôi có vẻ thản nhiên, có lẽ đó là điều mà con dâu tôi đã suy nghĩ từ lâu.

Tôi nhớ rằng khoảng nửa tháng qua tôi đã đến nhà con trai tôi, mặc dù bề ngoài con dâu tôi rất lễ phép với tôi nhưng thực ra trong lòng không chào đón tôi đến sống ở đây lâu dài.

Trên thực tế, điều này có thể hiểu được. Có bao nhiêu người dám khẳng định sẽ sẵn sàng sống với người già? Con dâu tôi khá hiếu thảo, ít nhất vẫn không thẳng tay đuổi tôi ra ngoài, tôi rất biết ơn.

Mấy hôm sau, khi con trai đang ở nhà, tôi nói với con: “Mẹ đột nhiên muốn vào viện dưỡng lão, ở đó có nhiều người già bầu bạn, lại có chương trình dành cho người già. Con đưa mẹ đi xem nhé”.

Con trai và con dâu đưa tôi đi thăm một số viện dưỡng lão từ trung cấp đến cao cấp ở địa phương, cơ sở vật chất hỗ trợ rất tốt, nhân viên rất nhiệt tình. Có rất nhiều người lớn tuổi bằng tuổi tôi ở trong đó và họ đều rất vui vẻ.

Tôi đã chọn một viện dưỡng lão mà tôi hài lòng nhất và ổn định ở đó. Khi chúng tôi trở về, con trai và con dâu rất vui mừng”.

Mấy ngày nay, bà Sử bận rộn sắp xếp việc bán nhà, khi từ nhà con trai về, bà đã đăng ký căn nhà với một công ty bất động sản. Bà ấy nói với chúng tôi có thể bà sẽ không quay lại đây trong tương lai, thậm chí còn tặng chú chó mà bà ấy rất mực thương yêu cho người xứng đáng, sẽ chăm sóc và yêu thương nó.

Bà còn bảo hàng xóm sang nhà chọn đồ, thích gì thì lấy nấy và cho miễn phí. Có người chọn lấy sofa của bà, có người lấy đi vài chậu hoa lan mà bà yêu thích, và còn có những người lấy đi vài thiết bị điện nhỏ. Tôi đã lựa chọn vài cuốn sách hay từ trong chiếc tủ sách lớn của bà.

Khi tôi rời đi, nhìn vào ngôi nhà sang trọng hơn 130m2 của bà, lòng tôi dâng trào cảm xúc: Khi về già, tôi sẽ về hưu ở đâu?