NGƯỜI VIỆT NAM CÓ THẬT SỰ YÊU NƯỚC – (Nguyễn Gia Kiểng)

Xuyên Sơn

NGƯỜI VIỆT NAM CÓ THẬT SỰ YÊU NƯỚC

  BÀI 2: [YÊU NƯỚC]:

  Ta không có tự hào dân tộc, mà đã không có tự hào dân tộc thì không thể yêu nước.

Làm sao có thể yêu một cái gì mà ta coi thường? Cho nên lòng yêu nước của người Việt, mà mọi người quả quyết là mạnh, có thể chỉ là một sự hiểu lầm.

  • Người cộng sản có yêu nước không?

  Có một lập luận mà cả hai phe cộng sản và quốc gia đều đồng ý nhưng rất sai, là những người cộng sản đã chiến đấu dũng cảm vì lòng yêu nước chứ không phải vì chủ nghĩa cộng sản.

Lập luận này tiện cho cả đôi bên.

  Đảng cộng sản dĩ nhiên phải nói rằng họ tranh đấu vì lòng yêu nước, có như thế họ mới tranh thủ được sự hưởng ứng của những người chưa vào đảng cộng sản, mới có thể kết tội những đối thủ của họ là phản quốc, là bán nước, mới tranh thủ được sự ủng hộ của dư luận các nước không cộng sản.

  Còn bên chống cộng dĩ nhiên cũng phải nói rằng đa số những người theo phe cộng sản đã chỉ theo vì lòng yêu nước mà thôi. Có như thế họ mới có thể buộc tội đảng cộng sản là đã lừa bịp những người yêu nước nhẹ dạ,

là tiếm đoạt hy sinh xương máu của nhân dân vì độc lập dân tộc; có như thế họ mới nói được chủ nghĩa cộng sản phi nhân bất nghĩa, chẳng ai theo nếu biết thực chất.

  Gần đây những người cộng sản ly khai cũng lại sử dụng lập luận này vì nó cũng tiện cho họ.

Họ đã đoạn tuyệt với đảng cộng sản, đã từ bỏ chủ nghĩa cộng sản rồi thì tự nhiên họ phải biện minh cho hoạt động trong quá khứ của mình bằng điều mà họ nghĩ mọi người chấp nhận, nghĩa là lòng yêu nước.

  Kết quả là một sự dối trá khổng lồ từ cả mọi phía.

Và cứ thế cuộc tranh cãi thiếu lương thiện này tiếp tục gây ngộ nhận trong đầu óc mọi người.

  Tôi đã nghiên cứu, quan sát, và tâm tình với rất nhiều người cộng sản ở mọi trình độ và đi tới kết luận quả quyết rằng đại đa số những đảng viên cộng sản đã theo đảng vì chủ nghĩa chứ không phải vì lòng yêu nước. Người cộng sản cũng yêu nước như mọi người Việt Nam khác, không kém nhưng cũng không hơn.

  Lòng yêu nước có thực nhưng chỉ đóng một vai trò rất thứ yếu trong chọn lựa của họ.

Nó đã chỉ được dùng làm một chiêu bài, nó không phải là động cơ.

  Vả lại lòng yêu nước làm sao có thể là động cơ được , nếu nó không mạnh?

Độc giả sẽ tự nhận ra nhưng tôi cần cảnh giác trước hết rằng tôi hoàn toàn không có ý định làm một cáo trạng đối với người cộng sản và đảng cộng sản.

Ở đây tôi chỉ muốn nhận diện đất nước, điều tôi muốn làm sáng tỏ là lòng yêu nước rất mờ nhạt trong lòng người Việt Nam, dù là cộng sản hay không cộng sản.

Đã đến lúc chấm dứt sự ngộ nhận này để đem lại cho cuộc thảo luận về đất nước sự nghiêm túc phải có.

  Chúng ta cần thắng một đặc tính rất kỳ lạ của người Việt là thường đặt nền tảng quan hệ và trao đổi trên một căn bản giả dối, không ai thực sự nghĩ nhưng mọi người đều muốn người khác tin là mình nghĩ.

Thí dụ các tổ chức chống cộng hải ngoại đều kêu gọi ngồi lại với nhau nhưng trong thâm tâm không ai thực sự muốn ngồi lại với nhau cả, mà chỉ muốn ngồi lên đầu nhau.

Kết quả tất nhiên là rất khó đồng ý với nhau. Tôi mong độc giả lưu ý cái dân tộc tính này trước khi đọc những dòng kế tiếp.

  Ai đã có dịp vào thăm Viện Bảo Tàng Cách Mạng đều có thể nhìn thấy lá cờ lịch sử của Phong Trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, cái nôi tình cảm của đảng cộng sản Việt Nam.

Lá cờ màu đỏ này chỉ có tám chữ Vạn Tuế Sô Nga, Sô Nga Vạn Tuế, chỉ có thế.

(Chữ Sô viết bắt đầu bằng chữ S trên lá cờ).

Vả lại cái tên Xô Viết Nghệ Tĩnh cũng đã đủ nói lên bản chất của phong trào.

  Cái gì đã thực sự làm nức lòng người, không phải là lòng yêu nước mà là giấc mơ cộng sản, giấc mơ được giải phóng khỏi sự áp bức, bóc lột và chà đạp.

Giấc mơ ấy đã khiến những người nông dân cùng khổ miền Nghệ Tĩnh vùng lên, chấp nhận chết chứ không chấp nhận tiếp tục cuộc sống tôi đòi.

  Phong Trào Xô Viết Nghệ Tĩnh đã thẳng tay tàn sát những kẻ thù của giai cấp vô sản, bất luận họ có yêu nước hay không yêu nước.

Nó đã bị đàn áp trong một biển máu, sau khi đã làm đổ ra một biển máu.

Sự dũng cảm của những con người của Phong Trào xô Viết Nghệ Tĩnh đã rất phi thường, nhưng nó hoàn toàn không do lòng yêu nước mà đã chỉ được thúc đẩy bởi giấc mơ một cuộc sống không còn áp bức.

  Tôi đã nói chuyện với vô số người cộng sản và cố gắng vượt qua cái vỏ bề ngoài của họ, tôi luôn luôn tìm thấy giấc mơ đó đằng sau cái bình phong yêu nước.

Đó mới chính là lý tưởng đã khiến họ chấp nhận mọi gian khổ, nếu cần hy sinh cả tính mạng.

  Tôi cũng đã quan sát và trao đổi với các trí thức cộng sản.

Điều tôi có thể quả quyết là không ai lầm lẫn cả.

Tất cả đều đã tán thành chủ nghĩa cộng sản, hay ít ra đã chấp nhận nó.

Không có một người nào đã theo phong trào cộng sản vì tưởng rằng nó không phải là cộng sản cả.

  Đảng cộng sản cũng không hề giấu mục tiêu của họ.

Họ sử dụng danh nghĩa giải phóng dân tộc song song với lý tưởng cộng sản chứ không phải thay cho lý tưởng cộng sản.

Lúc nào họ cũng đề cao đấu tranh giai cấp, ngay cả khi họ giải tán một cách tượng trưng Đảng cộng sản Đông Dương.

Vả lại, ngay cả cái tên Đảng cộng Sản Đông Dương cũng đủ để nói lên rằng yếu tố Việt Nam không hề có trong ưu tư của họ.

  Không thể nói là họ đã lường gạt. Sự bội ước này có thực, nhưng không phải ở chỗ họ đã đem áp dụng chủ nghĩa cộng sản, mà ở chỗ đảng cộng sản đã không thực hiện được lý tưởng công bằng xã hội mà chủ nghĩa cộng sản đã hứa hẹn,

thay vào đó là một chế độ đầy rẫy bất công và tham nhũng.

  Cũng có những người đã thất vọng vì nhận ra chủ nghĩa cộng sản là không tưởng.

Nhưng không có ai không biết ngay từ đầu rằng mục đích của mặt trận Việt Minh là để thiết lập một chế độ cộng sản cả.

Nói như vậy là không thành thực.

  Vả lại, năm 1976, sau khi chiến thắng, Đảng Lao Động được đổi tên thành đảng cộng sản và chế độ cộng sản được chính thức tuyên bố, tôi hoàn toàn không thấy ai ngạc nhiên hay phẫn nộ cả.

Tất cả nhưng người đã đóng góp cho thắng lợi của đảng cộng sản đều hân hoan, hay ít ra không thất vọng.

Thất vọng chỉ đến sau đó khi chế độ trở thành tham nhũng và đất nước bị suy thoái, đời sống nhân dân trở thành cơ cực.

  Tôi không lên án người cộng sản là không yêu nước, tôi chỉ muốn nói là lòng yêu nước của người Việt mình nói chung là rất yếu.

Trong thời kỳ Pháp thuộc, có lẽ chỉ có Việt Nam Quốc Dân Đảng và một số hệ phái Đại Việt là thực sự chỉ lấy lòng yêu nước làm nền tảng.

  Nhưng Việt Nam Quốc Dân Đảng đã không mạnh lên được, một phần vì thiếu tổ chức, một phần bị mọi thế lực đánh phá, nhưng lý do căn bản, theo tôi, vẫn là vì lòng yêu nước, lý tưởng duy nhất của Việt Nam Quốc Dân Đảng, không đủ mạnh trong lòng người Việt Nam để có thể động viên được sự hy sinh của nhiều người, như lý tưởng cộng sản.

  • Những người Quốc gia có yêu nước?

  Để đối đầu với đảng cộng sản, các chính quyền quốc gia đều chủ yếu do những người không yêu nước cầm đầu.

Các chính quyền Bảo Đại, Nguyễn Văn Xuân, Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm, ngoại trừ một vài nhân vật của Đại Việt và Việt Nam Quốc Dân Đảng xuất hiện ngắn ngủi trong một thỏa hiệp giai đoạn, gồm toàn bộ những người đã hợp tác với chính quyền thuộc địa Pháp.

  Nhưng họ đã thất bại vì tham ô, kém cỏi chứ không phải vì không được coi là những người yêu nước.

  Ông Ngô Đình Diệm xuất hiện đột ngột vào chính trường Việt Nam và cầm quyền.

Ông cũng không phải là một người yêu nước trái lại ông có một quá khứ dài hợp tác với người Pháp và đàn áp các phong trào yêu nước.

Nhưng ông đã suýt nữa thành công. Ông thất nhân tâm vì vụng về, thiển cận chứ không phải vì bị lên án là không yêu nước.

  Yêu nước chưa bao giờ là một yếu tố quyết định để tranh thủ lòng người tại Việt Nam.

  Người Việt Nam hoặc không yêu nước, hoặc chỉ yêu nước một cách rất tương đối.

Người cộng sản yêu chủ nghĩa của họ hơn đất nước.

Người Công Giáo coi trọng tôn giáo của họ hơn đất nước. Những người cầm quyền phe quốc gia đặt quyền lợi của họ trên đất nước.

Nhóm Phật Giáo Ấn Quang tranh đấu để giành quyền lực và ảnh hưởng cho họ hơn là cho đất nước.

Quần chúng Việt Nam lo âu quyền lợi và sự yên ổn của mình hơn là cho tương lai đất nước.

  Tại sao và làm thế nào để khắc phục là những câu hỏi mà ta cần đặt ra. Nhưng ít nhất phải nhìn nhận sự thực đó, phải coi nó là một dữ kiện trong đầu đề của bài toán đất nước, để đừng tiếp tục cường điệu với nhau, đeo mặt nạ và nói chuyện với nhau bằng ngôn ngữ của lưỡi gỗ.

  • Cần lắm một lòng yêu nước!

  Lòng yêu nước của người Việt Nam không phải là không có nhưng rất mờ nhạt.

Nó đã chỉ được thổi phồng lên do sự chia rẽ trầm trọng của dân tộc Việt Nam.

Nó không phải là một tình yêu vì người ta chỉ nhân danh tổ quốc để giết nhau chứ có bao giờ nhân danh tổ quốc để tha thứ và nhường nhịn nhau đâu.

(Nguyễn Gia Kiểng)


 

NGHỆ AN MƯA GIÓ BÃO BÙNG – NHIỀU NƠI THÀNH SÔNG!

Phi Long Nguyên 

Nhìn những hình ảnh từ Nghệ An lúc này mà xót xa…

Mưa lớn kéo dài, nước dâng nhanh, đường sá ngập sâu, cuộc sống của người dân lại một lần nữa bị đảo lộn.

Miền Trung năm nào cũng phải đối mặt với mưa bão, lũ lụt. Người dân đã quá quen với cảnh chạy lũ, kê đồ, di chuyển tài sản và thấp thỏm chờ nước rút. Nhưng điều đáng suy nghĩ là: chúng ta đã có những giải pháp dài hạn đủ hiệu quả để giảm thiểu cảnh ngập lụt tái diễn hay chưa?

Thiên tai không thể ngăn chặn hoàn toàn, nhưng hoàn toàn có thể chủ động hơn trong cảnh báo, thoát nước, tiêu lũ, quy hoạch và bảo vệ những khu dân cư thường xuyên chịu ảnh hưởng.

Mong rằng sau mỗi mùa mưa bão, những bài học không chỉ dừng lại ở việc khắc phục hậu quả, mà phải trở thành những giải pháp cụ thể để người dân miền Trung bớt khổ hơn trong những mùa lũ tiếp theo. 

Mong bà con Nghệ An bình an, hạn chế di chuyển qua vùng ngập sâu và luôn theo dõi cảnh báo của cơ quan chức năng.

#NghệAn #MưaLũ #MiềnTrung #NgậpLụt #ThiênTai #CầuMongBìnhAn

GIÀ ĐI VỚI LÒNG BIẾT ƠN.

Cang Huynh

GIÀ ĐI VỚI LÒNG BIẾT ƠN.

Hôm nay, trong lúc chờ đến lượt khám bệnh, tôi nhìn quanh phòng chờ.

Có những người ở độ tuổi 50, 60, 70, thậm chí 80. Một số người chờ gặp bác sĩ, một số chờ xét nghiệm, và những người khác chờ điều trị. Ai cũng dường như mang trong mình những lo lắng, đau nhức và những cuộc chiến thầm lặng.

Một người phụ nữ ngồi gần đó đang nói về việc già đi khó khăn như thế nào. Bà ấy nói về bệnh tật, đau đớn, thuốc men và tất cả những vấn đề dường như đi kèm với tuổi già.

Tôi lặng lẽ lắng nghe.

Rồi tôi nhìn qua cửa sổ.

Bên ngoài có một cụ bà không chờ gặp bác sĩ. Bà ấy không đến đó để xét nghiệm hay điều trị.

Bà ấy chỉ đơn giản hy vọng ai đó sẽ cho bà vài đồng xu để mua thuốc giảm đau.

Thế mà, bà ấy vẫn mỉm cười.

Khoảnh khắc đó vẫn còn đọng lại trong tôi.

Một số người trong chúng ta may mắn có bác sĩ để tham khảo ý kiến, các xét nghiệm mà chúng ta có đủ khả năng chi trả, thuốc men để uống và người thân chăm sóc. Những người khác lại phải vật lộn để có đủ tiền mua ngay cả những thứ đơn giản như giảm đau.

Và người phụ nữ ấy vẫn mỉm cười.

Điều đó khiến tôi nhận ra rằng có lẽ tuổi già không phải lúc nào cũng là điều khiến chúng ta nặng lòng.

Đôi khi, chính cách chúng ta nhìn nhận tuổi già mới là vấn đề.

Đúng vậy, tuổi già mang đến những thách thức. Hôm nay có thể là huyết áp cao, ngày mai là đường huyết, đầu gối đau nhức, xương khớp mỏi mệt, đau lưng, hoặc một vấn đề sức khỏe bất ngờ.

Đó là lý do tại sao chúng ta phải chăm sóc bản thân.

Đi khám bác sĩ khi cần thiết.

Uống thuốc khi cần.

Giữ cho cơ thể vận động.

Ăn uống lành mạnh hơn.

Nghỉ ngơi khi cần.

Và đừng bao giờ bỏ qua một vấn đề có thể điều trị được.

Nhưng trong khi chăm sóc cơ thể, chúng ta phải nhớ một điều quan trọng không kém:

HÃY CHĂM SÓC TÂM HỒN CỦA BẠN.

Bởi vì cơ thể có thể già đi nhưng trái tim vẫn có thể trẻ trung.

Có thể ta bước đi chậm hơn, nhưng ta vẫn có thể tận hưởng cuộc hành trình.

Tóc ta có thể bạc đi. Khuôn mặt ta có thể xuất hiện nếp nhăn. Cơ thể ta có thể có thêm vài cơn đau nhức.

Nhưng ta vẫn có thể cười.

Ta vẫn có thể thưởng thức một tách cà phê.

Nghe bài hát yêu thích của mình.

Ngồi bên những người ta yêu thương.

Ngắm hoàng hôn.

Tận hưởng một buổi sáng yên tĩnh.

Nắm tay ai đó.

Và biết ơn vì một ngày mới.

Già đi không có nghĩa là cuộc sống kết thúc.

Nó chỉ đơn giản có nghĩa là cuộc sống đã thay đổi.

Vì vậy, đừng coi tuổi già là một hình phạt.

Hãy coi đó là một chương mới – một chương xứng đáng được kiên nhẫn, chấp nhận, cười và biết ơn.

Hãy chăm sóc cơ thể mình.

Bảo vệ sự bình yên của bạn.

Nuôi dưỡng tâm hồn bạn.

Và hãy nhớ:

Chừng nào bạn còn sống, vẫn còn điều gì đó để biết ơn.

Và chừng nào bạn còn thở, bạn vẫn còn thời gian để sống một cuộc đời tươi đẹp. 

– Cang Huỳnh lược dịch từ Histoire de vie.


 

BAN TUYÊN GIÁO MỞ TIỆC TRUYỀN THÔNG CHO 42 NGƯỜI BỊ MỸ ĐUỔI VỀ: NGHĨA VỤ PHÁP LÝ ĐƯỢC ĐÓNG GÓI THÀNH ÂN HUỆ

Chân Trời Mới Media

 BAN TUYÊN GIÁO MỞ TIỆC TRUYỀN THÔNG CHO 42 NGƯỜI BỊ MỸ ĐUỔI VỀ: NGHĨA VỤ PHÁP LÝ ĐƯỢC ĐÓNG GÓI THÀNH ÂN HUỆ

Có lẽ bạn chưa biết, bộ máy tuyên giáo Việt Nam đang chơi một ván bài cũ kỹ đến mức nhàm chán khi lấy nghĩa vụ tối thiểu của nhà nước biến thành tinh thần nhân đạo cao cả, rồi rải đường hoa khắp mạng xã hội để người dân vỗ tay. Việc đón 42 công dân bị Mỹ trục xuất không phải là hành động từ thiện, cũng chẳng phải lòng thương người. Đó là nghĩa vụ bắt buộc theo luật quốc tế và Điều 17 Hiến pháp. Nhà nước không có quyền từ chối công dân của mình. Thế nhưng truyền thông chính thống vẫn cố tình đánh tráo khái niệm, biến cái lẽ ra phải làm thành ơn trên ban phát.

Câu hỏi thật sự cần đặt ra không phải chính phủ đã nhân đạo đến mức nào, mà là tại sao một thể chế luôn tự xưng vững mạnh, ưu việt lại liên tục xuất khẩu lao động bất hợp pháp, xuất khẩu người vượt biên, đến mức hàng vạn công dân bị bắt và đuổi về từ khắp nơi trên thế giới? Trong khi hầu như không thấy chiều ngược lại. Đó không phải thành tích để tự hào, mà là bằng chứng sống về thất bại trong quản trị, trong tạo việc làm và trong chất lượng sống.

Việc tiếp nhận 42 người này cũng không xuất phát từ lòng tốt tự nguyện. Từ chối nhận sẽ vi phạm cam kết quốc tế, dẫn đến hệ quả ngoại giao và visa. Chính phủ làm vì buộc phải làm để giữ thể diện và lợi ích thượng tầng. Toàn bộ chi phí vé máy bay, y tế, hỗ trợ ban đầu đều do Mỹ và các tổ chức quốc tế chi trả mỗi người lên đến vài trăm triệu đồng. Phía Việt Nam chỉ cần cấp căn cước rồi để họ tự bơi. Trong khi đó, hàng nghìn người vô gia cư, người bị cưỡng chế đất đai ngay trên đất nước Việt Nam có bao giờ được đền bù hỗ trợ cuộc sống nhưng những người bị Mỹ trục xuất hay không.

Đây chính là công thức tuyên giáo quen thuộc, cắt đứt kiến thức về quyền công dân và Hiến pháp, khiến người dân tưởng rằng nghĩa vụ của nhà nước là đặc ân. Khi người dân không hiểu mình có quyền được bảo hộ, họ sẽ dễ dàng quỳ lụy trước những lời lẽ gọt dũa. Dối trá được tô hồng, thất bại được che đậy bằng mỹ từ nhân đạo. Và sau khi 42 người bước ra khỏi sân bay với tấm căn cước, họ sẽ bị lãng quên để tự sinh tự diệt, đúng như cách bộ máy này vẫn đối xử với số đông còn lại.

#bantuyengiao #xuatkhaulaodong #chantroimoi 


 

CUBA CHÌM TRONG BÓNG TỐI: LƯỚI ĐIỆN TOÀN QUỐC SỤP ĐỔ

Tin Mừng Cho Người Nghèo

CUBA CHÌM TRONG BÓNG TỐI: LƯỚI ĐIỆN TOÀN QUỐC SỤP ĐỔ

Hệ thống điện quốc gia Cuba đã sụp đổ hoàn toàn vào chiều thứ Sáu, ngày 18/9, khiến gần như toàn bộ đảo quốc chìm trong bóng tối và khoảng 9 triệu người bị ảnh hưởng.

Theo nhà chức trách Cuba, sự cố bắt nguồn từ các đường dây truyền tải điện cao thế ở miền trung nước này vào khoảng 14 giờ. Đến tối cùng ngày, điện mới chỉ được khôi phục tại một số khu vực nhỏ ở thủ đô Havana, chủ yếu quanh các bệnh viện.

Đây là ít nhất lần thứ sáu kể từ đầu năm 2026 lưới điện Cuba bị sụp đổ một phần hoặc toàn bộ. Nguyên nhân được cho là do hệ thống điện xuống cấp nghiêm trọng, thiếu nhiên liệu và linh kiện thay thế. Các biện pháp hạn chế dầu mỏ của Hoa Kỳ cũng khiến cuộc khủng hoảng năng lượng tại Cuba thêm trầm trọng.

Trong thời gian qua, nhiều khu vực tại Cuba thường xuyên phải chịu cảnh mất điện kéo dài hơn 30 giờ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc cung cấp nước, bảo quản thực phẩm, thông tin liên lạc và đời sống người dân.

Cơ quan Điện lực Quốc gia Cuba cho biết đang triển khai các biện pháp để từng bước khôi phục hệ thống.

(Reuters, AP)


 

BA TÔI, NHẠC SĨ TRÚC PHƯƠNG !!!

Xuyên Sơn – 

September 19, 2023

BA TÔI, NHẠC SĨ TRÚC PHƯƠNG !!!

Last updated Th9 18, 2023

Từ trước đến nay, có rất nhiều tờ báo cũng như bài viết nhận định về cuộc đời của nhạc sĩ Trúc Phương, có người nói ông sau 1975 có cuộc sống khốn khó, có người viết rằng ông sống quá bi đát, rồi cũng có tờ báo nói rằng khi qua đời ông chẳng còn gì cả …..

Những điều này có đúng là sự thật hay không ? xin mời quý vị xem qua lời tâm tình của những người con nhạc sĩ

Trúc Phương.

*****

Chị Trúc Loan, một người con gái của nhạc sĩ Trúc Phương tâm sự như sau :

Ba tôi sinh năm 1933, tại xã Mỹ hòa, quận Cầu ngang, tỉnh Trà vinh.

Quê nội tôi hiền hòa, chơn chất, nhưng nghèo khó nên ba tôi đã đi lên Sài gòn từ nhỏ. Ông vừa học, vừa làm, và cũng để theo đuổi niềm đam mê âm nhạc của mình.

Ba tôi viết nhạc và nổi tiếng từ rất sớm nhờ dòng nhạc boléro chậm, trữ tình của ông dễ nhớ, dễ nghe.

Ngoài cây đàn guitar thường xuyên bên cạnh, ba tôi còn biết chơi thành thạo các nhạc cụ khác.

Hồi còn nhỏ xíu, có lần theo ba đi Đại nhạc hội, ba tôi còn đàn contrabass trong dàn nhạc nữa, lúc đó tôi rất ngạc nhiên vì cây đàn quá to này, ba phải đứng mới cầm được nó…

Khi chơi với các con, ba tôi thường lấy cây harmonica ra thổi…

Ba gặp má tôi khi bà còn đang đi học.

Ba cưới ngay khi má chỉ 16 tuổi !

Tôi được sinh ra vào thời điểm ba tôi viết nhạc nhiều nhất.. dù sau đó, tôi còn có thêm 5 đứa em nữa, nhưng ba vẫn luôn cưng tôi nhất nhà.

Ba tôi là một người đàn ông rất yêu gia đình, thương vợ thương con.

Ba tôi cũng là 1 người con, người cháu rất có hiếu.

Ngày xưa, dù nghèo, ở nhà thuê, nhưng ba tôi cũng nuôi bà cố tôi chu đáo. Khi làm có tiền, ba hay mua sắm đồ đạc mang về quê cho bà nội tôi…

Ba tôi hiền lành, chân thật , rất lạc quan và tốt bụng. Có lẽ vì vậy nên ai cũng quý mến.

Tính ba tôi lại rất nghệ sĩ, không vụ lợi, không tính toán nên không có dư.

Gánh nặng cơm áo gạo tiền, má tôi phải gánh vác từ lúc ba tôi phải nhập ngũ..

h2 – Chị Trúc Loan, con gái nhạc sĩ Trúc Phương.

Sống trong thời chiến, lại phải làm lính xa nhà, nên có lẽ ba tôi là người hiểu,  cảm nhận được tâm tình của người lính nên các sáng tác của ông lúc này là luôn dành cho những người lính: 

Kẻ ở miền xa,

Bông cỏ may,

Trên 4 vùng chiến thuật,

Để trả lời 1 câu hỏi,

Đêm trên vùng đất lạ,

Một người đi xa,

Người nhập cuộc…

Hàng trăm bản nhạc của ông, được biết rộng rãi chưa đến 20 bài, theo danh mục cho phép của nhà nước…

Nhạc của ba tôi không vui, không xập xình ồn ào, nhưng âm thầm lắng đọng, lặng lẽ đi vào lòng người nghe bởi cái chân thật, ngọt ngào. Bởi vì khi viết, ba tôi sáng tác với cả tấm lòng, mỗi bài nhạc đều ẩn chứa những lời tự sự, những nỗi buồn…

Đọc bài viết về Trúc Phương trên trang wikipedia, đoạn cuối:

rõ ràng là người viết không biết gì nhiều về ông, gia đình tôi rất bức xúc về điều này. Có những bài viết không chính xác, “tam sao thất bổn”, không khách quan, không đúng về ba tôi.

Trước khi mất khoảng vài tháng, năm 1995, trong 1 bài phỏng vấn, ba tôi có nói chuyện về cuộc sống sau khi vượt biên không thành, bị bắt, năm 1976.

Trở về , căn nhà ở số 301 nguyễn văn Thoại, (nay là Lý thường Kiệt), phường 15, quận 11 bị mất.

Không có nhà ở, không giấy tờ, phải mướn chiếu ngủ ngoài bến xe miền tây vì công an thường xuyên kiểm tra hộ khẩu, không ai dám chứa .. nhưng trong thời điểm đó, ai cũng khó khăn, khổ toàn xã hội , không riêng gì ba tôi, nhưng chưa bao giờ ông phải “đi chân không” hay “khi chết chỉ còn lại đôi dép..” như bài viết nào đó… Những người viết đó có lẽ không biết nhiều về ba tôi, về gia đình tôi, làm cho người đọc bàng hoàng, thương hại, đó là đi ều xúc phạm đến gia đình tôi…

(Trúc Loan)

Và dưới đây là trả lời của nhạc sĩ Trúc Linh, một người con trai của nhạc sĩ Trúc Phương :

Ok, tui không biết Ông Nguyễn Trung này là ai, nhưng ông này viết bài này có mục đích bôi bác Ba tôi và cả gia đình tui, nên tôi phải lên tiếng.

1- Ba tui sanh năm 1933

2- Ba tui không bao giờ uống rượu .

3- Ba tui lấy Má tui trong những năm cuối 50, năm nay tui củng 5 bó rồi, hehe

4- Má tui con nhà giáo, gia đình cũng khá, nhưng nhà ở Bến Tre.

5- Chiều Làng Em là bài Ông viết cho Má tui .

6- Ba tui không phải tự học nhạc,

mà có thầy dạy đàng hoàng.

7- Xung quanh nhà bà nội tui không hề có tre trúc gì ráo, nhà Má tui thì có.

8- Gia đình tui cũng không nghèo, Ba tui thường lái Mazda và Peugeos 404. Thời xưa củng có thời khó khăn, lúc Ông còn viết nhạc, nhưng sau này Ba Má tôi làm ăn thì củng khá lắm.

Khi giải phóng vào, thì có hơi sa sút. Nhưng đó là tình trạng chung của tất cả dân miền Nam, thời bao cấp.

9- Gia đình tôi có tới 6 anh chị em, có nghĩa là Ba và Má tôi chung sống củng khá lâu.

Họ ly dị vào khoảng năm 79.

10- Tác giả Nguyễn Trung viết rằng khi ông qua đời gia tài chỉ còn đôi dép là nói LÁO.

Ông không giàu có gì, nhưng củng không đến nổi thê thảm như vậy.

Tôi đã từng về thăm ông 3 tháng trước khi ông mất cho thấy điều này ông Trung quá bôi bác gia đình chúng tôi. Nói như thế có nghĩa là các con của ông không hề quan tâm tới ông.

Điều này KHÔNG ĐÚNG sự thật.

Chúng tôi lúc nào cũng quan tâm đến ông.

Cái bài lá cải này, Nguyễn Trung không biết nhiều chi tiết nhưng đã viết rất nhiều như chính Trung là nhân vật chính. Đọc bài này xong tôi rất là bất bình vì có quá nhiều chi tiết không đúng sự thật mà có quá nhiều người đọc.

Đến nổi MC Việt Dzũng của trung tâm Asia cũng lấy bài viết này làm tài liệu và cũng có lên trên chương trình trên Asia nói rằng khi Ba tôi mất, Ông chỉ còn đôi dép.

MC Việt Dzũng còn nói rằng đám ma Ba tôi, phải nhờ bạn bè quyên góp để làm mộ cho Ông.

Điều này củng không đúng.

Gia đình chúng tôi đã làm đám cho Ông đàng hoàng mà chưa từng lấy 1 Đồng tiền phúng điếu của ai cả.

Đây là điều không công bằng với Má tôi vì tôi có đọc vài bài, họ tả Má tôi như là 1 người đàn bà không đàng hoàng.

Thực sự Má tôi đã từng khổ vì Ba tôi tánh hay bay bướm, họ ly dị vì chính nguyên nhân này.

(TRÚC LINH)

h3 – Anh Trúc Linh, con trai nhạc sĩ Trúc Phương.

Lien Khuc Truc Phuong

– Duy Khanh, Thanh Thuy, Phuong Dung.

ASIA 74 Chiều Làng Em – Hà Thanh Xuân – Nhạc sĩ- Trúc Phương.  


 

THẢM HỌA LŨ QUÉT NEPAL: HƠN 1.400 NGƯỜI THIỆT MẠNG, GẦN 6.700 NGƯỜI MẤT TÍCH

Tin Mừng Cho Người Nghèo

THẢM HỌA LŨ QUÉT NEPAL: HƠN 1.400 NGƯỜI THIỆT MẠNG, GẦN 6.700 NGƯỜI MẤT TÍCH

Gần một tháng sau trận lũ quét kinh hoàng ngày 26/8 tại khu vực biên giới Nepal – Tây Tạng, số người thiệt mạng và mất tích tiếp tục tăng cao.

Tại Nepal, lực lượng cứu hộ đã tìm thấy 1.403 thi thể, nhưng mới chỉ nhận dạng được 105 người; 6.150 người vẫn mất tích. Phía Tây Tạng ghi nhận ít nhất 43 người thiệt mạng và 519 người mất tích.

Tổng cộng, thảm họa đã khiến ít nhất 1.446 người thiệt mạng và 6.669 người mất tích, trong đó có hàng trăm du khách và người hành hương nước ngoài.

Xin hiệp lời cầu nguyện cho những người đã qua đời, những người còn mất tích và tất cả các gia đình đang đau khổ giữa thảm họa này.

Theo AFP/ Ảnh: Reuters


 

TỪ THỦ KHOA HARVARD ĐẾN NỮ TU CÔNG GIÁO

Con Tin Chúa Ơi

 TỪ THỦ KHOA HARVARD ĐẾN NỮ TU CÔNG GIÁO

Mary Anne Marks, thủ khoa Đại học Harvard năm 2010, từng khiến nhiều người chú ý khi đọc bài diễn văn tốt nghiệp hoàn toàn bằng tiếng Latinh.

Ở thời điểm ấy, trước mắt cô là một tương lai rộng mở với học vấn và những cơ hội mà rất nhiều người mơ ước. Thế nhưng Mary Anne lại chọn một con đường hoàn toàn khác: rời giảng đường để bước vào đời sống thánh hiến.

Chỉ ít tháng sau khi tốt nghiệp Harvard, cô gia nhập Dòng Nữ tu Đa Minh Maria, Mẹ của Thánh Thể tại Ann Arbor, Michigan, Hoa Kỳ và nhận tên dòng là Sơ Maria Veritas, O.P.

Đối với Mary Anne, việc trở thành nữ tu không phải là từ bỏ tri thức hay những thành quả đã đạt được, nhưng là chọn dùng chính những gì mình đã lãnh nhận để dâng hiến cho Thiên Chúa và phục vụ tha nhân.

Từ thủ khoa Harvard đứng trên lễ đài đọc diễn văn bằng tiếng Latinh đến đời sống âm thầm của một nữ tu Đa Minh, hành trình của Sơ Maria Veritas là một câu chuyện đặc biệt về ơn gọi, đức tin và sự lựa chọn dâng hiến.

Xin Chúa gìn giữ Sơ Maria Veritas luôn trung thành, bình an và tràn đầy niềm vui trong đời sống thánh hiến. 


 

Truyện Chí Phèo – Thị Nở – Bá Kiến của nhà văn Nam Cao-Tác Giả: Nguyễn Văn Lục

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Nguyễn Văn Lục

16/09/2026

Nam Cao tên thật là Trần Hữu Chí, sinh năm  1915, gia đình theo đạo công giáo ông mất năm 1951.

Ông sinh ra tại xã Nhân Hậu, huyện Lý Nhơn, tỉnh Hà Nam. Ông lấy vợ và có ba người con. Mặc dầu chết trẻ, nhưng ông đã để lại cho đời hơn 50 tác phẩm..trong đó, có chuyện Lão Hạc, Sống thừa, Chí Phèo.

Nhà văn Nam Cao

Những nhân vật như Bá Kiến,Chí Phèo, Thị Nở đều là những nhân vật có thực ở ngoài đời. Chỉ có tên là thay đổi.

Vì thế hiện nay những căn nhà của Bá Kiến, bằng gỗ lim, hay mái ngói lợp vẩy cá vẫn còn giữ nguyên.

Trong làng có trồng nhiều loại chuối ngự để cung hiến cho nhà vua.

Gia đình Bá Kiên thuộc gia đình phú hộ , năm đời, từ cha đến đời con…

Chí Phèo, thân cô, thế cô, không gốc gác. Nghe đâu hồi còn trẻ mẹ hắn hồi còn trẻ làm thuê rồi đẻ hắn trong một cái lò gạch.. cũng làm thuê cho nhà Bá Kiến..

Hẳn là Bá Kiến có vợ. Vợ Bá Kiến còn trẻ mơn mởn, người ngợm núc na, núc ních lại thiếu thốn tình dục nên thường quyến rũ Chí Phèo, bắt Chí Phèo lên đấm bóp. Bàn  tay mụ khôn ngoan và mưu mẹo dẫn dắt Chí Phèo vào những vùng nhạy cảm từ ngực vú qua một giải yếm đến việc dẫn dụ xoa bóp đôi chân và cứ thế qua lớp váy tiến sâu vào những vùng nhạy cảm của mụ ở bên dưới.
Chuyện gì đã xảy ra, đã xảy ra như thế nào chỉ có Chí Phèo và mụ biết được.

Phần Chí Phèo cảm thấy nhục nhã, bị lợi dụng chứ yêu thương gì.

Sau này, có dịp trả thù. Hắn gọi vợ Bá Kiến là con đĩ dại.

Bá Kiến ghen tuông và bắt Chí Phèo đi  tù trong 7 năm.

Sau 7 năm tù, Chí Phèo trở về làng trong một trạng thái của một tên giang hồ thứ thiệt.

Hắn suốt ngày uống rượu, say khướt, mang cả làng Vũ Đại ra chửi, uống đến đái ra rượu.

Chửi tất cả, chửi bất cứ ai đến mệt thì thôi. Chán, hắn đốt nhà người khác. Cả làng ai cũng sợ hắn, nhất là những gia đình có máu mặt như nhà Bá Kiến.

Chửi nay thành môt vũ khí cho riêng hắn.

Bá Kiến khôn ngoan dùng rượu, tiền bạc để dùng Chí Phèo như một tên côn đồ trừng trị những tên côn đồ sừng sỏ  khác trong làng.

Chí Phèo tượng trưng cho người nông dân vốn chất phác, hiền lành, bị tha hóa.

Bá Kiến tượng trưng cho bọn cường hào ác bá, bá đạo và quỷ quyệt.

Nhà văn gián tiếp lên án kết tội cái xã hội ấy, đồng thời khẳng định tính cách chân chính của xã hội nông thôn.

  • Chí Phèo và Thị Nở

Thị Nở vốn là một cô gái bề ngoài xấu xí, răng hô và chưa hề bao giờ có một tấm chồng vắt vai.

Tưởng cuộc đời cứ thế trong nỗi cô quạnh.

Nhưng trong một đêm Chí Phèo say ngất ngưởng thì gặp được Thị Nở trong một tư thế hớ hênh mời gọi.

Rồi họ cứ thế quấn vào nhau trong đê mê xác thịt nhục dục không một chuẩn bị, không một tính toán.

Kim chích vào thịt thì đau, thịt chích vào thịt thì nhớ nhau suốt đời.

Sáng tỉnh dạy, sau  một cơn mê tỉnh rượu, Chí Phèo đã được Thị Nở nấu một bát cháo hành thơm phức và lần đầu tiên Chí Phèo  được một người gọi bằng anh.

Tình dục lúc đêm qua sôi sục và chiếm hữu nay nở hoa thành một thứ tình người êm dịu.

Và lần đầu tiên trong đời, Chí Phèo có mong muốn trở thành người lương thiện.

Nỗi mong muốn đơn giản ấy sau này đã không thực hiện được vì bà cô của Thị Nở đã tức giận và ngăn cấm Thị Nở giao tiếp với tên côn đồ.

Tức giận, Chí Phèo dùng dao muốn gặp Thị Nở hỏi cho ra lẽ. Nhưng không biết thế nào Chí Phèo lại gặp Bá Kiến.

Bao nhiêu tức giận hận oán đè nén đã qua, Chí Phèo đã dùng dao đâm chết Bá Kiến, sau đó Chí Phèo cũng tự sát.

Phần Thị Nở, đứa con trong bụng của người tình qua đêm, phải chăng là nút thắt lại của cuộc đời bố nó mà chưa có dịp gọi tên cha mình.

  • Phần kết luận

Nay thì xã hội đã đổi thay. Óan thù chỉ còn lại như vết nứt của xã hội, của lịch sử.

Căn nhà gỗ lim của Bá Kiến vẫn còn đó do các cháu chắt tiếp nối cha ông họ.

Nhà văn Nam Cao cũng có một khu đất làm nghĩa trang và khu tưởng niệm một nhân tài đã một thời.

Làng Vũ Đại nay đã nổi tiếng với món nồi đất kho cá quả, hay cá lóc đun củi đến 12 tiếng cho nhừ…

Phần tôi viết lại như một tiếng nhắc nhớ và vinh danh một nhà văn mặc dầu khác biệt về chính kiến chính trị.


 

Hà Nội ngập nặng, người dân chèo thuyền trên phố

Hà Nội ngập nặng, người dân chèo thuyền trên phố

Ba’o Nguoi-Viet

September 17, 2026

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Sau trận mưa to kéo dài từ đêm hôm trước, nhiều tuyến phố tại Hà Nội hôm 17 Tháng Chín bị ngập sâu hơn nửa mét, khiến hàng loạt xe hơi, xe gắn máy chết máy và nhiều người phải nghỉ làm đột ngột.

Cùng thời điểm, hình ảnh do các báo và mạng xã hội cho thấy cảnh tượng người dân chèo thuyền, bè tự chế, bắt cá trên các tuyến đường mênh mông sóng nước.

Nhiều người chèo thuyền, bè tự chế trên các tuyến đường bị ngập sâu ở Hà Nội hôm 17 Tháng Chín. (Hình: ZNews)

Theo báo VnExpress, tính đến chiều 17 Tháng Chín, tại khu vực nội đô Hà Nội còn hàng loạt điểm ngập ít nhất 20-30 cm như Doãn Kế Thiện, Dương Đình Nghệ, Phan Văn Trường… dù trời đã tạm ngừng mưa.

Còn theo ghi nhận của phóng viên tạp chí Tri Thức (ZNews), người dân phường Tây Mỗ cho biết, mưa to liên tục khiến phố Cầu Cốc ngập gần 1 mét trong nhiều giờ liền.

Các gia đình sinh sống tại khu vực này nói họ phải thức dậy từ giữa đêm để chuyển đồ đạc lên các tầng cao.

Một chiếc xe hơi chết máy, phải nhờ cứu hộ tại đoạn đường gần bảo tàng Quân Sự Việt Nam. (Hình: ZNews)

Trong lúc các báo Việt Nam đồng loạt đổ lỗi cho ông Trời tuôn mưa gây ngập, trên các mạng xã hội có một số ý kiến chỉ trích việc quan chức “bắt tay” với các tập đoàn kinh doanh bất động sản để lấp sông, lấn dòng chảy ở Hà Nội làm các dự án đô thị.

Danh khoản “damducvu” viết trên nền tảng Threads: “…Hà Nội thì kiểu: Mưa hả? Làm cống to hơn. Ngập hả? Bơm mạnh hơn. Vẫn ngập? Nâng đường cao hơn. Kè cứng hơn. Rồi vẫn ngập. Vì có một sự thật hơi khó nuốt: Mình lấy hết ‘nhà’ của nước, rồi lại trách nước vô gia cư. Ngày xưa đây là ao bị lấp đi. Đây là ruộng bị xây đi. Đây là vùng trũng bị đổ đất nâng nền…”

Nhiều xe gắn máy bị chết máy trên phố Tố Hữu, Hà Nội hôm 17 Tháng Chín. (Hình: ZNews)

“Thật ra một thành phố không chỉ được tạo nên bởi những gì chúng ta xây. Mà còn bởi những gì chúng ta quyết định không xây. Một cái hồ. Một bãi cỏ. Một vùng trũng. Một hành lang ven sông. Đường là hạ tầng. Cống là hạ tầng. Nhưng chỗ cho nước ở cũng là hạ tầng. Nếu xây kín hết rồi hỏi ‘sao vẫn ngập?’ thì cũng giống như bán hết ghế trong nhà rồi hỏi sao khách không có chỗ ngồi,” danh khoản này viết thêm. (N.H.K) [dt]


 

Canada, « thành viên liên kết » của Bruxelles: Tổng thống Mỹ dọa ngừng giao thương với Liên Âu (RFI)

RFI

Tổng thống Donald Trump hôm qua, 16/09/2026, xem việc Liên Hiệp Châu Âu dự trù kết nạp Canada làm « thành viên liên kết » là một « hành vi thù nghịch » nhắm vào Hoa Kỳ, dọa trả đũa Bruxelles bằng những đòn thuế quan và « ngừng mọi giao dịch thương mại » với khối 27 nước châu Âu.

Đăng ngày: 17/09/2026 

Tổng thống Mỹ Donald Trump tham dự một cuộc mít tinh vận động cho ứng cử viên Thượng Viện thuộc đảng Cộng hòa Michael Whatley, tại Gastonia, bang North Carolina, Mỹ, ngày 16/09/2026. REUTERS – Kevin Lamarque

Thanh Hà 

Quy chế « thành viên liên kết » của Liên Hiệp Châu Âu còn rất mơ hồ, nhưng thông báo của chủ tịch Ủy Ban Châu Âu, Ursula Von Der Leyen hôm qua 16/09/2026 tại Nghị Viện Châu Âu ở Strasbourg cũng đủ khiến tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump phẫn nộ. Trong bối cảnh Mỹ và Canada đang lao vào một cuộc chiến thương mại, với các đòn trả đũa về thuế quan, Ottawa đẩy mạnh hợp tác thương mại với toàn thế giới.

Nhà Trắng xem việc Bruxelles cho Canada hưởng quy chế « thành viên liên kết » của Liên Hiệp Châu Âu là một hành vi khiêu khích, với ý đồ thành lập một liên minh chống lại Mỹ. Ngay trong ngày, ông đe dọa ngừng giao dịch thương mại với Liên Âu cho dù Bruxelles đã giải thích rõ châu Âu chỉ có ý định « củng cố quan hệ đối tác với Canada chứ không nhắm vào bất kỳ nước nào ».

Sáng nay, Pháp tuyên bố ủng hộ đề nghị mời Canada làm thành viên liên kết của Liên Âu. Nhưng sáng kiến này lại được đón nhận một cách thận trọng tại Canada, như tường trình của thông tín viên RFI Nafi Alibert từ Montréal :

« Tại trụ sở Nghị Viện Châu Âu ở Strasbourg, thông báo được mọi người nhiệt liệt hoan nghênh, nhưng lại làm dấy lên nhiều nghi vấn ở bên kia bờ Đại Tây Dương, bởi không ai biết một cách chính xác quy chế ‘thành viên liên kết’ của Liên Hiệp Châu Âu gồm những gì. Lo ngại đầu tiên liên quan đến chủ quyền của Canada. Đảng đối lập thuộc cánh bảo thủ coi đây là một lằn ranh đỏ.

Lãnh đạo đảng này, Pierre Poiliebvre cảnh báo : « No EU Taxes ». Không có chuyện để Bruxelles áp đặt những quy luật của mình với Canada. Thái độ dè chừng này từng được lãnh đạo phe đối lập Canada phát biểu một ngày trước đó, trong một diễn văn bằng tiếng Pháp. Tuy nhiên, ông không hẳn là phản đối việc xích lại gần với Liên Hiệp Châu Âu. Pierre Poilievre giải thích : ‘Dù ủng hộ tự do mậu dịch và hợp tác quốc phòng với châu Âu, chúng tôi không tán đồng ý tưởng buộc người dân Canada phải đóng thuế cho Liên Âu hay tuân thủ các quy định của Bruxelles, phải chấp nhận chính sách về biên giới của khối này’.

Song ở thời điểm hiện tại, không có đề xuất cụ thể nào về quy chế thành viên liên kết. Ottawa nhắc lại : Mối quan hệ mới này sẽ còn phải được xây dựng. Chính phủ Canada hoan nghênh một mối quan hệ ‘vững chắc hơn và ở một quy mô lớn hơn với Liên Âu’ ,nhưng lại thận trọng tránh sử dụng cụm từ ‘thành viên kiên kết’ trong những thông cáo. Sự thận trọng này phản ánh quan điểm trong công luận Canada : 80% muốn tăng cường quan hệ với Liên Âu nhưng vẫn muốn Canada đứng ngoài khối này ».

Theo chương trình nghị sự, thủ tướng Canada Mark Carney hôm nay phát biểu tại Nghị Viện Châu Âu. Hiếm khi nào có một lãnh đạo ngoài khối 27 nước thành viên Liên Âu phát biểu tại Nghị Viện.


 

CHUYỆN ĐỜI SAU 1975: NHỮNG TÊN CƯỚP CẠN

Xuân Hồng

CHUYỆN ĐỜI SAU 1975: NHỮNG TÊN CƯỚP CẠN

TTNH

Sau 1975, chồng đi tù cải tạo, không còn lương, tôi không thể nằm chờ sung rụng từ sự tiếp tế dài hạn của cha mẹ ruột khi tuổi cha mẹ đã già, lại còn gánh thêm nhà chồng của mình, tôi mon men ra chợ trời kiếm sống.

Trên con hẻm chợ Bàn Cờ, cách nhà tôi độ hai mươi phút đạp xe đạp, nơi tập trung nhiều gian hàng hầu hết bán ly, tách, chén, dĩa… Cũng như bao người, tôi trải tấm nylon trước hiên nhà của người nào đó rồi bày hàng ra bán. Hàng ban đầu từ đồ gia dụng trong nhà, coi những gì không cần thiết đem ra bán hết. Khách hàng hầu hết là những bộ đội, cán bộ hay người ngoài Bắc vào Nam tham quan mua mang về. Ngoài đó thiếu thốn mọi bề, nên bất kể cái gì cũng bán được, kể cả chén mẻ!

Ngày đầu tôi chở hai giỏ chén, dĩa… ra chợ. Bán được vài hôm, có người đem hàng tới chào tôi mua, lúc thì chục chén, lúc thì chục cái ly, khi thì vài cái rổ rá, khay, mâm… tôi mua rồi bán lại cho người khác để kiếm lời, vô hình trung nghề dạy nghề, tôi… ngự luôn tại đó, trở thành dân chuyên nghiệp chợ trời. Lai rai vậy cũng vui và vui nhất là kiếm được vài đồng tiền chợ đắp đổi qua ngày. Thời gian không lâu, buôn bán phát triển, tôi đến tận nhà những người thân quen lùng thêm hàng hóa. Hàng càng lúc càng nhiều, chở tới chở lui không nổi, vừa vất vả, vừa dễ bị bể nên tôi tìm nhà người quen ngay đường Cao Thắng gần đó chiều tối gởi nhờ trước khi về nhà rồi sáng hôm sau ra nhận lại đem bán. Dân miền Nam lúc đó cùng hoàn cảnh như nhau nên thông cảm giúp đỡ nhau.

Tôi bán như thế, dễ chừng đã hơn nửa năm. Tự lực được nên lòng tôi vui, an tâm từ đây không phiền đến cha mẹ nữa. Thế nhưng, cuộc đời không luôn như mình muốn, nhất là sống dưới chế độ cộng sản, rất bấp bênh, giai đoạn mà chính sách nhà nước thay đổi xoèn xoẹt, vừa khắc nghiệt vừa quái đản không ai lường nổi.

Hôm đó, nhân sinh nhật Hồ Chí Minh, ngoài đường mọi nhà treo cờ san sát đến nỗi không thấy phố, không thấy nhà, chỉ thấy đỏ rực một màu cờ máu. Nhà nước còn muốn làm sạch đường phố, nên ra sắc lịnh càn quét mọi gian hàng chợ trời, tịch thu tất cả hàng hóa của dân. Đám thanh niên với băng tay đỏ cùng những tên công an súng ống gườm sẵn túa ra, lùa hết mọi người cùng hàng hóa về ban quản lý chợ.

Tôi không ngoại lệ. Nghĩ mình không làm gì sai trái, tôi… ngoan ngoãn theo họ lập biên bản kê khai hết tài sản để họ chuyển về phường tôi giải quyết.

Hôm ra phường tại địa phương, tôi cầm theo tờ báo “Giải Phóng“ của họ, bày ra trước mặt tên trưởng phòng thương nghiệp, rồi nói:

– Ông xem, hàng của tôi không nằm trong diện quốc cấm. Tờ báo viết rành rành ra đây, nhà nước chỉ cấm buôn bán:

1- Vũ khí.

2- Ma túy.

3- Hóa chất thuốc men.

4- Kim loại, vòng vàng.

5- Vải vóc.

Còn tôi bán chén đĩa ly tách, đồ gia dụng trong nhà, tại sao lại bị tịch thu?

Tên trưởng phòng ngửa người dựa vào ghế khật khà, bình thản, làm như rất hiểu chuyện, không có gì quan trọng xảy ra:

– Chính xác. Hàng của cô không bị tịch thu.

– Thế thì, xin ông hoàn trả lại cho tôi.

– Hoàn trả lại? Gã nhíu mày, tưng tửng nhìn tôi, nói:

– Trả lại, để rồi cô tiếp tục bán à?

Tôi thản nhiên:

– Tôi không dùng nữa thì bán chứ sao.

– Cô có biết buôn bán là trái với qui định chính sách nhà nước không? Là “bóp nghẹt kinh tế quốc doanh”, là “người bóc lột người” không?

– Ô hay, buôn bán có thương lượng đàng hoàng, ai bóc lột được ai? Có mỗi cái gian hàng vỉa hè mà nhà nước… sợ đến bóp nghẹt được kinh tế nhà nước sao?

Gã không trả lời tôi, gã nhìn chăm chăm vào mặt tôi, chậm rãi phán:

– Hàng cô không bị tịch thu, nhưng bị thu mua!

– Tại sao?

– Vì tội cô bán chợ trời!

Biết chúng lật lọng, bày trò ăn cướp, “thu mua” với “tịch thu” đối với xã hội cộng sản đồng nghĩa như nhau, chỉ khác cách nói, cách dùng chữ, tôi bắt đầu nóng mặt:

– Không, tôi không bán… chợ trời. Tôi bán… chợ đất. Rõ ràng tôi ngồi bán dưới đất!

Gã lườm và nhìn tôi từ đầu xuống chân, soi mói.

Từ sau 1975, nhiều phụ nữ miền Nam thay đổi cách ăn mặc, cất hay lôi ra bán hết những chiếc áo dài, những bộ đầm, giày dép, quần tây sang trọng, thay vào những bộ đồ lùi xùi lèng xèng che dấu thân phận… giàu sang để khỏi bị để ý và cho… hợp thời trang lúc bấy giờ. Những chiếc áo dài hồi đó bị kết tội “tư sản”. Hai tà áo dài thừa thãi là tội đồ phung phí tài sản nhà nước, đi ngược lại chính sách vô sản chuyên chính mà cộng sản chủ trương.

Thế nhưng, nghịch lý ở chỗ, bán vẫn có người mua, đa số người mua lại là dân miền Bắc! Xã hội lúc đó làm như kéo cái giàu của dân miền Nam xuống và nâng đời sống miền Bắc lên sao cho ngang nhau, hay nói cho rõ ra cùng nghèo đói như nhau mới xứng với câu “san bằng xã hội”. Riêng tôi, sau 1975, tuy gia đình sa sút (cả nước chứ chẳng riêng nhà tôi) nhưng tôi có cái suy nghĩ riêng, vẫn giữ phong cách phụ nữ miền Nam, không để mình thê thảm bệ rạc cần cộng sản vào giải phóng mình. Do vậy, dù đi bán chợ trời, tôi vẫn mặc quần jean, áo pull (áo thun có hàng chữ tiếng Anh trước ngực) mắt đeo kiếng cận thị, đầu đội nón lưỡi trai, bộ dáng của một cô sinh viên “tiểu thư“ đi học, và ngay khi tới phường, tôi vẫn mặc như thế. Gã trưởng phòng “ngắm” tôi xong, hỏi:

– Chắc cô là sinh viên trường luật?

Đang bực mình vì hai chữ “thu mua” đồng nghĩa với mất trắng, vì rõ ràng biết bao người hàng hóa từng bị thu mua mà chúng nó có trả tiền đâu, tôi cay cú:

– Không, tôi mù chữ! Đang theo đuổi lớp bình dân học vụ buổi tối!

Biết nói chuyện với tôi chỉ bằng thừa, gã kết thúc câu chuyện:

– Thôi nhé, hàng của cô không bị tịch thu, chỉ bị thu mua thôi.

Tôi nhìn gã:

– Nếu mua thì xin ông trả tiền!

Gã mở tròn mắt:

– Hàng chưa bán được lấy tiền đâu trả cho cô?

– Nếu thế thì bán cho tôi, tôi mua!

Gã lắc đầu:

– Tôi không cãi với cô nữa. Cô về đi, một tuần sau, hàng bán xong sẽ trả tiền cho cô.

Biết có nói thêm cũng vô ích, tôi thất vọng ra về, lòng buồn hiu hắt. Bao nhiêu “tài sản” vốn cũng như lời gây dựng bấy lâu nằm hết vào số hàng hóa đó, coi như bao công trình mồ hôi nước mắt của mình đều nuôi béo bọn cướp cạn.

Tôi thất thểu bước ra cổng, dắt xe đạp, đạp về nhà. Nắng Sài Gòn hôm đó rực sáng soi rõ con đường dài mênh mang trước mặt mà sao tôi thấy tôi như đi vào ngõ cụt, tương lai mịt mờ. Thành phần gia đình “ngụy quân, ngụy quyền” như tôi, muốn có một đời sống lương thiện cũng không thực hiện nổi trong chế độ này. Buôn bán cũng cấm, xin một chân thư ký hay công nhân quèn cũng không ai dám nhận.

Cái lý lịch “vợ ngụy” đen thui, như bản án tử hình treo trước ngực chờ ngày hành quyết, giết dần mòn đời tôi. Họ chỉ muốn đuổi tôi đi vùng kinh tế mới, nơi rừng sâu nước độc. Trời ạ, tôi vốn “liễu yếu đào tơ” quen cầm bút hơn cầm cuốc, bắt tôi cuốc đất, thì năng suất cuốc được bao nhiêu đất trong một ngày, hay mắc công khiêng tôi vô nhà thương khi tôi bị xỉu?! Tôi buông tiếng thở dài, lững thững đạp xe loanh quanh, vô hồn, không định hướng. Tôi chưa muốn về nhà, dù nhà gần đó. Tôi thẫn thờ đạp mãi, đạp mãi không biết đi đâu, về đâu, cho đến lúc tôi đâm xầm vào một người băng qua đường. Cả hai lăn cù, tôi mới trở về thực tại.

Một tuần sau tôi trở lại theo lời hứa hẹn của ông ta. Gã gặp lại tôi, cười giả lả:

– Vẫn chưa bán được cô. Hẹn cô một tuần sau nữa nhé.

Về nhà, tôi lại nằm, chờ… sung rụng từ sự tiếp tế của ba tôi. Thời gian dài lê thê, không biết làm gì hơn ngoài sự theo đuổi lời hứa cuội của gã trưởng phòng thương nghiệp phường. Hết tuần này, gã lại hẹn tuần khác. Bao người bị thu mua như tôi, không còn thời gian theo đuổi đành bỏ cuộc, còn tôi, rảnh mà, tôi theo đuổi cho tới cùng.

Một ngày, tôi trở lại theo lời hẹn của gã, cũng chỉ nhận những lời hứa cuội, tôi lại thất thểu ra về. Hôm đó, vừa ra khỏi cổng, tôi bắt gặp một cô gái ngang tầm tuổi tôi bước vào. Tôi vội hỏi:

– Chào chị, chị cũng bị tịch thu hàng hóa như tôi hả?

Cô gái ngạc nhiên, lắc đầu:

– Không, tôi là công nhân viên, tôi sắp lập gia đình nên cơ quan cấp cho tôi danh sách cho phép mua một số đồ gia dụng theo giá nhà nước.

Tôi tần ngần một lát, rồi lên tiếng:

– Chị có thể cho tôi đọc danh sách chị được phép mua những gì không?

Biết mình tọc mạch tò mò một cách đường đột quá bất lịch sự, tôi giải thích mọi nỗi cho cô gái hiểu hoàn cảnh tôi đến đây. Cô gái vốn dân miền Nam hiểu ra, dễ thông cảm với tôi, rồi tự động lấy trong túi xách một tấm giấy nhỏ liệt kê toàn bộ hàng cô được mua, nào mùng mền, chăn, gối, ly, tách, chén, đĩa, đũa, muỗng, dao kéo, nồi niêu…

Tôi mừng rơn, nhắc cô gái:

– Chị vào nhớ hỏi giùm, những bát chén dĩa ly tách… chị được mua là đồ kiểu hay đồ sành nhé. Họ tịch thu của tôi và nhiều bạn hàng khác toàn đồ kiểu đấy.

Cô gái gật đầu, bước vào phòng gặp gã trưởng phòng, cô hỏi theo lời tôi dặn. Gã ta ngửa người dựa ra sau ghế, cười hỉ hả:

– Nhà nước làm gì có đồ kiểu mà bán cho cô. Chỉ đồ sành thôi!

Gã không ngờ tôi đang lấp ló ngoài cửa. Vừa nghe gã nói xong, tôi bước ngay vào phòng, đứng trước mặt gã, nghiêm mặt nói:

– Ông tịch thu đồ của tôi toàn đồ kiểu, nay có người mua, sao ông không bán để trả tiền cho tôi?

Biết gặp thứ… dữ (mà tôi cũng “dữ” thật, con giun xéo quá cũng uằn thôi mà!), gã hạ giọng:

– Thôi cô về đi, ngày mốt cô trở lại, tôi trả tiền cho cô.

Để không bị gạt gẫm, hứa trăng hứa cuội như bao lần rồi quịt, tôi yêu cầu gã viết giấy ghi đúng nội dung gã vừa nói ra. Để yên chuyện, gã làm theo yêu cầu của tôi, và trước mặt gã, tôi còn xin cô gái cho tôi biết tên tuổi và địa chỉ nhà cô nữa. Nắm sẵn các chứng tích, tôi mới an tâm ra về.

Đúng hai ngày sau, tôi trở lại. Lần này thấy tôi đến, gã không nói lời nào với tôi mà gọi nhân viên ra làm việc với tôi. Tên nhân viên như đã chuẩn bị sẵn từ bao giờ, có lịnh, hắn mang tờ giấy ghi chú toàn bộ hàng mà tôi bị tịch thu cùng giá cả từng món ghi bên cạnh đưa tôi đọc qua rồi trao cho gã trưởng phòng ký duyệt. Số tiền trả cho tôi, theo định giá của họ chỉ còn 150 đồng trong khi vốn của tôi mua vào hơn 500 (giá trị tiền tệ lúc đó, lương bác sĩ 100 đồng, cán bộ công nhân viên 65 đồng, và công nhân lao động chỉ 30 đồng).

Trời ạ, ông Trời thấu chăng, ai bóc lột ai? Trên thế gian này, có chính sách quái gở nào (chắc chỉ có từ bọn cộng sản Việt Nam) người mua có quyền định giá trả cho người bán?! Quyền hành nằm trong tay kẻ cướp “Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan” rất đúng trong trường hợp của tôi. Không còn cách nào khác, tôi đành ký nhận, dù gì có vẫn hơn không!

Tôi cầm tiền ra về, sực nhớ còn năm cái giỏ chứa hàng hóa của tôi, giỏ nào cũng tốt và giá trị, tôi lại trở vô, gặp gã trưởng phòng, nói:

– Ông thu mua ly tách, chén dĩa… Còn năm cái giỏ chứa, xin ông trả lại tôi.

Gã không trả lời trực tiếp với tôi, quay vào trong, nói với vô:

– Anh em nào lấy năm cái giỏ trả cho cổ.

Có tiếng hỏi vói ra.

– Màu gì thưa anh?

Tôi vội đáp thay:

– Ba cái màu xanh dương, hai cái màu đỏ.

– Không thấy giỏ nào có màu đó hết!

Bấy giờ, gã trưởng phòng mới nói với tôi:

– Cô vào trong kho, lấy năm cái giỏ khác thay thế.

Được lịnh, tôi bước vào trong. Mắt tôi hoa lên, chao ôi, không biết cơ man nào là giỏ không, nằm la liệt chồng chất cả một góc phòng. Những giỏ này chắc chắn là của những người bị tịch thu hàng hóa như tôi. Tội nghiệp dân tôi, những kẻ thấp cổ bé miệng, biết kêu ca vào đâu, đồng tiền kiếm đã khó khăn còn bị cướp ngày cướp đêm hoành hành, kêu Trời sao thấu?!

Tôi chọn năm giỏ ưng ý rồi bước ra ngoài, chìa cho gã trưởng phòng thấy rồi lẳng lặng ra về. Tôi khinh bỉ gã ra mặt, nguýt mắt đi, không một lời chào gã. Tôi lầm thầm trong đầu, đúng là “Những Tên Cướp Cạn” đội lốt chính quyền!

Cuối cùng, không thể sống và không còn con đường sống trong chế độ cộng sản khắc nghiệt, man rợ trên chính quê hương mình, bằng mọi cách, tôi tìm đường ra đi.

Nơi xứ người, oái ăm thay, dù khác chủng tộc, màu da, tiếng nói, nhưng với tấm lòng nhân hậu và chính sách nhân bản, họ đã mở rộng vòng tay đón nhận và cưu mang tôi, cho tôi hít thở không khí tự do với một cuộc sống bình yên, được sống đời tôi muốn sống, thoải mái từ vật chất lẫn tinh thần, và tôi đã nhận nơi này làm quê hương thứ hai với niềm tri ân vô bờ bến trong tôi.

Nguồn: https://saigonnhonews.com/muon-neo…/nhung-ten-cuop-can/

Hình ảnh:

 

Chợ trời trên đại lộ Lê Lợi – Sài Gòn 1979

Ảnh Tác giả thời buôn chợ trời Sài Gòn 1979. Ảnh: Redsvn