LUẬT NGHIỆP QUẢ – Rev. Ron Rolheiser, OMI

LUẬT NGHIỆP QUẢ

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Năm 1991, Hollywood cho ra mắt một phim hài tựa đề, Những tay lõi Thành phố (City Slickers) qua tài diễn xuất của Billy Crystal.  Xét về một khía cạnh nào đó, đây là một bộ phim đạo đức tuyệt vời, tập trung vào ba người đàn ông trung niên ở New York đang rơi vào khủng hoảng của tuổi trung niên.

Những người vợ quá chán nản với các đức ông chồng, nên đã tặng cho các ông một món quà, là suất tham dự cuộc đua ngựa xuyên New Mexico và Colorado.  Và ba chàng thành thị này dấn vào một cuộc đua xuyên vùng hoang dã.  Phần hài kịch của bộ phim tập trung vào kỹ thuật cỡi ngựa vớ vẩn, sự ngờ nghệch về ngựa cũng như về vùng hoang dã của ba chàng.  Đoạn nghiêm túc nhất là lúc họ nói chuyện với nhau để cố xác định những vật lộn với việc mình ngày càng già đi và những bí ẩn lớn trong đời.

Và một này nọ, khi họ đang bàn về chuyện làm tình, một trong số ba người, Ed, nhân vật ít dè dặt đạo đức nhất, hỏi hai người kia liệu họ có phản bội vợ mình và đi ngoại tình nếu như biết được chắc rằng mình sẽ không bao giờ bị bắt tội hay không.  Mitch, nhân vật do Bill Crystal thủ vai, lúc đầu trả lời câu hỏi kiểu tếu táo, chắc chắn rằng đây là chuyện bất khả thi:  Bạn luôn luôn bị bắt tội!  Tất cả mọi chuyện ngoại tình cuối cùng đều bị lộ.  Nhưng Ed nhấn mạnh câu hỏi của mình là: “Nhưng giả sử bạn không bao giờ bị bắt tội.  Giả sử bạn có thể giấu được nó suốt.  Liệu bạn có lừa vợ mình mà ngoại tình, nếu như chẳng một ai biết được chuyện này, hay không?”  Mitch trả lời: “Không, tôi vẫn sẽ không làm!”  “Tại sao,” Ed hỏi, “chẳng ai biết mà.” “Nhưng tôi biết,” Mitch trả lời, “và tôi sẽ ghét bản thân mình vì tôi đã làm như thế!”

Có một sự khôn ngoan đạo đức ở trong câu trả lời đó.  Đến tận cùng, không một ai làm chuyện gì xấu mà thoát được.  Chúng ta luôn luôn bị bắt tội, ít nhất là do chính bản thân mình và do sinh lực đạo đức bên trong hơi thở của chúng ta.  Hơn nữa, dù có bị bắt tội hay không, sẽ luôn luôn có hậu quả.  Đây là một nguyên tắc đạo đức thâm sâu không trốn tránh được, ghi đậm trong kết cấu của vũ trụ.  Và đã được cảm nghiệm vũ trụ của con người chứng thực đúng là thế.  Đến cuối cùng, không một ai trốn tội được, cho dù tất cả mọi sự có chứng tỏ điều ngược lại.

Chúng ta thấy chân lý này được cưu mang trong tâm điểm của Ấn giáo, Phật giáo, Lão giáo, và tất cả các tôn giáo Đông phương, với khái niệm thường được gọi là Luật Nghiệp quả.  Nghiệp (Karma) là một từ tiếng Phạn nghĩa là hành động hay việc làm, nhưng nó ngụ ý rằng tất cả mọi hành động, mọi việc làm của chúng ta gây nên một từ trường sức mạnh trả ngược lại cho chúng ta, cụ thể là, gieo nhân nào gặt quả ấy.  Bởi thế, các chủ tâm và hành động xấu sẽ trả ngược vào chúng ta và gây nên sự bất hạnh, cũng như một chủ tâm và hành động tốt sẽ trả ngược vào chúng ta và cho chúng ta hạnh phúc, bất chấp người khác nhìn thấy và nhận thức về chuyện này như thế nào.  Vũ trụ có luật riêng của mình để bảo đảm cho chuyện này.

Chúa Giêsu cũng không lạ gì với khái niệm này. Nó hiện diện khắp trong lời dạy của ngài, và có những lúc được trình bày rất rõ ràng: “Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại.  Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em.  Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy (Lc 6, 8-38).

Về căn bản, Chúa Giêsu đang nói với chúng ta rằng làn khí chúng ta thở ra cũng là làn khí chúng ta hít vào, và đây là sự thật với tất cả mọi tầm mức hiện hữu.  Nói đơn giản, nếu chúng ta phát quá nhiều CO2 và CO vào không khí, thì đến cuối cùng chúng ta sẽ thấy mình bị ngột ngạt vì chúng.  Và điều này đúng ở mọi mức độ đời sống.

 Nếu chúng ta thở ra sự chua cay, đến cuối cùng sẽ thấy mình đang hít vào sự chua cay.  Nếu chúng ta thở ra sự bất lương, đến cuối cùng sẽ thấy mình đang hít vào sự bất lương.  Nếu chúng ta thở ra sự tham lam và keo kiệt, đến cuối cùng sẽ thấy mình hổn hển cần một hơi quảng đại trong cái thế giới ngột ngạt bởi tham lam và keo kiệt.  Ngược lại, nếu chúng ta thở ra sự quảng đại, yêu thương, chân thật, và tha thứ, đến cuối cùng, cho dù thế giới quanh mình có bất lương và hèn hạ thế nào đi nữa, chúng ta vẫn thấy đời mình ở trong một thế giới quảng đại, yêu thương, chân thật và tha thứ

Những gì chúng ta thở ra, đến cuối cùng chính là những gì chúng ta hít vào.  Đây là một chân lý không bàn cãi, khắc sâu trong cấu trúc vũ trụ, khắc sâu trong cuộc đời, trong tất cả mọi tôn giáo thật, trong mọi lời dạy của Chúa Giêsu, và trong mọi lương tâm vẫn còn nuôi dưỡng đức tin tốt đẹp.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: ngocnga_12&NguyenNThu

Phép Lịch Sự Tối Thiểu Của Người Tây Phương

Phép Lịch Sự Tối Thiểu Của Người Tây Phương

  1. Đừng gọi điện thoại cho ai hai lần liên tục. Nếu họ không trả lời có nghĩa là họ bận hay có việc khác quan trọng hơn mà họ đang phải lo.
  2. Nhớ trả lại món nợ tiềnngay cả trước khi người cho mượn nhớ hoặc hỏi lại bạn. Nó nói lên tư cách và nhân phẩm của bạn.
  3. Khi được bao đi ăn nhà hàng, đừng gọi một trong những món ăn đắt tiền trong thực đơn.
  4. Đừng hỏi những câu hỏi kỳ cục như: ‘Chưa có gia đình à?’, ‘Sao chưa có con?’, ‘Tại sao chưa mua xe? Hoặc ‘Sao chưa mua nhà?’ Đó không phải là vấn đề riêng tư của bạn.
  5. Luôn luôn giữ cửa cho người đang đi đến ở đằng sau bạn. Bất kể người ấy là đàn ông hay đàn bà, già hay trẻ. Nó không làm bạn nhỏ nhen hơn khi cư xử cách tử tế với một người khác nơi công cộng.
  6. Nếu bạn cùng đi xe “taxi, uber…”với một người bạn của bạn và họ trả tiền, thì lần tới  bạn nhớ trả nhé.
  7. Luôn tôn trọng quan điểm của người khác. Hãy nhớ số 6 nơi bạn sẽ là số 9 của người đối diện. Hơn nữa, tham khảo thêm ý kiến thứ hai sẽ là điều luôn cần thiết.
  8. Đừng bao giờ cắt ngang khi người khác đang nói.Hãy để cho họ tỏ bày rồi mình nghe và sàng lọc tất cả câu chuyện.
  9. Nếu bạn trêu chọc một ai đó mà họ không tỏ vẻ tán thành, ngưng lại và đừng bao giờ làm thế nữa cả…
  10. Nhớ nói lời cám ơn khi người khác giúp bạn một điều gì.
  11. Khen tặng công khai.Chỉ trích riêng tư.
  12. Gần như không có một lý do nào để bạn khen chê dáng vóc người khác.Chỉ cần nói “Bạn nhìn quá tuyệt vời!” Nếu như người ấy muốn nói là họ mới giảm cân, họ sẽ nói.
  13. Nếu một ai đó cho bạn xem hình trong điện thoại của họ, đừng gạt qua phải hay trái, vì bạn sẽ không bao giờ biết hình gì sẽ xuất hiện tiếp.
  14. Nếu một đồng nghiệp của bạn nói họ có hẹn với một bác sĩ, đừng hỏi tại sao nhưng nên nói “Tôi hy vọng anh/chị sẽ ổn thôi”. Đừng đặt họ vào vị thế khó khăn khi phải nói cho bạn bệnh tình cá nhân của họ. Nếu họ muốn bạn biết, họ sẽ tự tỏ bày.
  15. Cư xử cách tử tế với một người quét dọn vệ sinh cũng như một giám đốc công ty như nhau.Không ai có ấn tượng cách bạn cư xử lỗ mãng với một người thấp kém nhưng họ sẽ để ý đến tư cách của bạn khi đối xử tử tế với người thấp hèn trong xã hội.
  16. Khi một người đang nói chuyện trực tiếp với bạnmà bạn mãi bận nhìn xuống điện thoại thì quá vô lễ.
  17. Không bao giờ khuyên răn hay góp ý khi người khác không hỏi.
  18. Khi gặp lại một người nào đó sau một thời gian xa cách, đừng hỏi tuổi tác hoặc lương bổng của họ.
  19. Đừng xen vào đời tư của người khác ngoại trừ nó ảnh hưởng đến bạn.Tránh xa nó ra.
  20. Lấy kính râm xuống nếu như bạn gặp và nói chuyện với một người trên đường phố. Đó là dấu hiệu bạn tỏ ra tôn trọng họ. Hơn nữa, mắt nhìn mắt cũng quan trọng như cuộc đối thoại của bạn vậy.
  21. Đừng bao giờ khoe khoang sự giàu sang của bạn với người nghèo;cũng vậy, đừng nói chuyện con cái của bạn nơi những người vô sinh.
  22. Sau khi đọc được một câu bình luận tốt, hãy dành thời gian mà cám ơn họ.

*** Sự cảm nhận vẫn là phương cách dễ nhất để có điều bạn chưa có.

Nguyên tác: Anh ngữ

Tác giả: Khuyết danh

Phỏng dịch: Trịnh Tiến-Triển, 2022/10/02

From: TU-PHUNG

CHO HIỂN VINH DANH NGÀI-Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

CHO HIỂN VINH DANH NGÀI

Thứ Năm Tuần XXVII – Mùa Thường Niên

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ai xin thì sẽ được, ai tìm thì sẽ gặp, ai gõ thì sẽ mở cho!”.

George Mueller nói, “Niềm tin không hoạt động trong ‘lãnh địa khả thi’ của con người, nghĩa là nơi con người làm được mọi sự; ở đó, Thiên Chúa chẳng có chút vinh quang nào! Niềm tin chỉ bắt đầu khi sức mạnh của con người kết thúc, và Thiên Chúa có thể khởi sự! Bởi lẽ, Thiên Chúa là tất cả, và tất cả ‘cho hiển vinh danh Ngài!’”.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay làm sáng tỏ ý tưởng của George Mueller! Chúa Giêsu nói, “Ai xin thì sẽ được, ai tìm thì sẽ gặp, ai gõ thì sẽ mở cho!”. Vậy mà, không ít người hiểu sai những lời này! Tại sao? Bởi lẽ, cầu nguyện với Chúa, trước hết và trên hết… tất cả chỉ nhằm một mục đích, ‘cho hiển vinh danh Ngài!’.

Một số người có thể nghĩ, chúng ta phải cầu nguyện, và cầu nguyện nhiều hơn; để cuối cùng, Chúa sẽ nhậm lời. Một số khác cho rằng, điều này có nghĩa là Chúa sẽ không nhậm lời nếu chúng ta không cầu nguyện đủ chăm chỉ. Và một số khác nữa có thể nghĩ, bất cứ điều gì chúng ta cầu xin sẽ được ban, nếu chúng ta cứ tiếp tục kiên trì khấn xin. Vậy mà không phải vậy!

Chắc chắn, chúng ta nên cầu nguyện chăm chỉ và thường xuyên! Nhưng một câu hỏi quan trọng đặt ra, “Tôi nên cầu nguyện điều gì?”, và đây là chìa khoá! Bởi lẽ, Chúa sẽ không ban những gì chúng ta cầu, bất kể chúng ta cầu bao lâu và chăm chỉ đến đâu, nếu điều đó không nằm trong ý muốn của thánh thiện hoàn hảo của Ngài! Ví dụ, một ai đó bệnh, sắp về với Chúa, và việc cho phép người ấy lìa thế là một phần trong ý muốn của Ngài, thì tất cả những lời cầu nguyện trên thế gian cộng lại vẫn không thay đổi được mọi thứ. Thay vào đó, trong trường hợp này, chúng ta nên cầu nguyện để mời Chúa vào cuộc, vào hoàn cảnh khó khăn này để biến nó thành cuộc ‘tạm biệt’ đẹp đẽ và thánh thiện. Vì vậy, vấn đề không phải là cầu xin cho đến khi thuyết phục được Chúa sẽ làm những gì chúng ta muốn, như một đứa trẻ có thể mè nheo với cha mẹ; đúng hơn, chúng
ta phải cầu nguyện cho một điều và duy nhất một điều, là ‘cho hiển vinh danh Ngài!’.

Như vậy, lời cầu nguyện dâng lên không nhằm thay đổi ý định của Thiên Chúa, mà nhằm biến đổi chúng ta, củng cố chúng ta, hầu cho phép chúng ta chấp nhận tất cả những gì Ngài mời gọi chúng ta làm. Đây chính là công việc của Chúa Thánh Thần! Chính Chúa Giêsu bất ngờ xác nhận điều đó ở câu cuối cùng của trình thuật Tin Mừng hôm nay, “Cha các con trên trời sẽ ban Thánh Thần cho những kẻ xin Ngài”. Thánh Thần cũng là Đấng mà thánh Phaolô trong thư Galata hôm nay nhắc đến, “Đấng ban Thánh Thần cho anh em và làm những việc lạ lùng nơi anh em”; cũng là Đấng mà Thánh Vịnh đáp ca bóng bẩy gọi là “Đấng đã viếng thăm dân Ngài!”.

Anh Chị em,

“Ai xin thì sẽ được, ai tìm thì sẽ gặp, ai gõ thì sẽ mở cho!”. Lời cầu, tiếng gõ khẩn thiết của chúng ta như tiếng gõ vào chính trái tim Thiên Chúa; Ngài không ban điều chúng ta xin, nhưng ban cho chúng ta điều chúng ta cần! Ngài ban cho chúng ta Chúa Thánh Thần, Đấng mở ra mọi sự, biến đổi mọi sự! Thánh Thần là quà tặng vượt quá sự hiểu biết của con người; để qua Ngài, chúng ta lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác. Thiên Chúa là Cha toàn năng yêu thương, Ngài biết điều cần nhất đối với chúng ta. Và điều cần nhất trên trần gian này là cần chính Ngài, Thiên Chúa; và với Thánh Thần của Ngài, bạn và tôi chu toàn mục đích có mặt của mình trong thế giới này; đó là làm mọi sự ‘cho hiển vinh danh Ngài!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin biến đổi mọi sự trong ngoài của con, kể cả việc cầu nguyện. Đừng để con làm mọi sự cho hiển vinh con, nhưng con sẽ làm tất cả ‘cho hiển vinh danh Ngài!’”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 From: KimBang Nguyen

LÒNG BIẾT ƠN – TGM Giuse Vũ Văn Thiên

LÒNG BIẾT ƠN

 TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Có một thời, người ta có khuynh hướng bỏ hẳn lời cám ơn trong mối tương quan hằng ngày.  Trong thời bao cấp, những nghi thức giao tế bị coi là những hủ tục và tàn dư của thời phong kiến.  Người ta chủ trương cuộc sống sòng phẳng, không ai mắc nợ ai, cho nên không ai phải cám ơn ai.  Hậu quả là những gương mặt khô như ngói ở những văn phòng hành chính, những cái nhìn lạnh nhạt ở nơi công cộng, và những lời nói trống không trong giao tiếp với những người lớn tuổi hơn mình.  Cuộc sống thiếu lời cám ơn sẽ trở nên khô khan, đơn điệu, giống như vườn thiếu cây xanh.  Lược bỏ phép lịch sự sẽ biến cuộc sống này thành sa mạc hoang dã.  Có lẽ vì đã nhận ra hậu quả đáng tiếc của quan niệm này nên gần đây, một số cơ quan mở những lớp dạy cười, dạy nói lời cám ơn, và chào hỏi cho nhân viên của mình.

Biết nói lời cám ơn nhau, con người cũng cần thể hiện lòng biết ơn đối với Thượng Đế.  Đó là một trong những mục đích quan trọng của các tôn giáo.  Đó cũng là nội dung của lời cầu nguyện Kitô giáo.  Thông thường, chúng ta đến với Chúa chỉ để xin ơn.  Ít khi chúng ta bày tỏ lòng khâm phục, tri ân và mến mộ đối với Chúa và các thánh.  Chúa Giêsu hôm nay khiển trách những người cùi đã được ơn mà không biết cảm tạ Thiên Chúa.  Trong mười người cùi được ơn chữa lành, duy nhất có một người quay lại tạ ơn Chúa Giêsu mà người đó lại là người ngoại.  Khi ghi lại lời phàn nàn của Chúa, chắc hẳn Thánh Luca cũng nhằm phê phán những người Do Thái luôn cậy mình là dân riêng của Chúa nhưng lại không sống đúng với danh dự cao quý đó.  Không những thế, họ lại coi thường những người ngoại.  Dưới cái nhìn của Chúa Giêsu, một người ngoại lại mang một tâm hồn đạo đức và biết tạ ơn Chúa.  Và như thế, người ấy không còn phải là “người ngoại” nữa, vì đã biết dâng lời tạ ơn Chúa và nhận ra quyền năng của Ngài.  Ý tưởng này, chúng ta cũng thấy trong sách Các Vua quyển thứ hai, với trường hợp ông Naaman, một vị tướng của Syria.  Sau khi được chữa khỏi, dù là người ngoại, ông đã trở thành một “tín hữu” vì ông tuyên xưng Thiên Chúa của người Israel là Thiên Chúa thật: “Nay tôi biết rằng: trên khắp mặt đất, không đâu có Thiên Chúa, ngoại trừ ở Israel.”  Việc xin một khối lượng đất đủ hai con la chở được để đem về quê hương đã chứng minh niềm tin chân thành ấy.

Nhờ biết sống tâm tình tạ ơn Chúa, chúng ta luôn nhận ra Ngài hiện diện trong cuộc đời.  Việc tạ ơn Chúa cũng giúp chúng ta nhìn cuộc sống lạc quan hơn, bởi vì vũ trụ và cuộc sống này là do Chúa tạo dựng.  Ngài kêu gọi chúng ta bằng khả năng của mình, cộng tác với Ngài để tô điểm cho trần gian thêm tươi đẹp.  Nếu cuộc sống trần gian còn nhiều khiếm khuyết là do con người chưa thiện chí cộng tác với Chúa trong công trình sáng tạo của Ngài.  Thậm chí có người còn đi ngược với chương trình sáng tạo của Chúa, phá vỡ sự hài hòa của môi trường cuộc sống và gây tai họa cho đồng loại cũng như cho thiên nhiên.  Một khi sống tâm tình tạ ơn và tôn thờ Chúa, chúng ta sẽ được Chúa ban những ơn cần thiết phần hồn phần xác.  Thiên Chúa như người cha yêu thương con cái.  Ngài biết chúng ta cần thiết những gì.  Ngài cũng biết rõ những gì đem lại ích lợi đích thực và lâu dài cho chúng ta.  Chính Ngài sẽ ban cho chúng ta những ơn lành, theo ý của Ngài và nhằm đến những điều tốt đẹp cho mỗi chúng ta.  Cách đây vài ngày (ngày 4-10), chúng ta vừa mừng kính thánh Phanxicô thành Assisi, cũng gọi là thánh Phanxicô khó khăn.  Thánh nhân là người yêu thiên nhiên vũ trụ, vì qua thiên nhiên, ngài khám phá ra sự hiện diện quyền năng của Chúa.  Nếu những loài cỏ cây, những bông hoa vô danh nhỏ bé mà còn được Chúa trang điểm yêu thương săn sóc như thế, huống chi con người chẳng lẽ Chúa không thương.  Dưới cái nhìn của vị thánh nghèo, mọi vật mọi loài đều luôn cất tiếng ca tụng Chúa, làm thành một bản giao hưởng bất tận tuyệt vời.

Lòng biết ơn đối với Chúa không chỉ dừng lại ở ngôn từ nơi môi miệng, nhưng phải thể hiện qua việc tuân giữ giáo huấn của Người.  Cũng như trong mối tương quan trong gia đình, con cái không thể chỉ biết ơn cha mẹ bằng những lời khuôn sáo, mà lòng biết ơn và yêu mến cha mẹ cần phải được chứng tỏ bằng những việc làm đích thực.  Tuân giữ Lời Chúa là cách thể hiện lòng biết ơn tốt đẹp nhất.  Một khi chú tâm tuân giữ Lời Chúa, chúng ta mới có khả năng thông truyền Lời Chúa cho anh chị em mình.

Tin vào lòng thương của Chúa giúp chúng ta kiên vững trong gian nan đau khổ.  Thánh Phaolô, một tù nhân vì Chúa Giêsu, đã khích lệ con thiêng liêng của mình là Timôthê.  Ngài khẳng định: dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Thiên Chúa luôn trung thành.

“Lạy Thầy Giêsu, xin thương xót chúng tôi.”  Lời cầu xin thống thiết kèm theo sự xác tín của những người cùi đã được Chúa nhận lời.  Họ đã được lành bệnh sau khi đi trình diện với các tư tế theo Luật ông Môisen đã quy định.  Người tín hữu khi đến với các linh mục là những tư tế của Tân Ước để thú nhận mọi tội lỗi nơi tòa giải tội cũng được Chúa tha thứ và chữa lành.  Qua hành động trung gian của các linh mục, chính Chúa Giêsu chúc lành và nâng đỡ chúng ta, nhờ đó, chúng ta có thể trở lại hòa nhập với đời sống cộng đoàn, nhất là chúng ta được nối kết trong mối tình thân thiêng liêng với Chúa, nhờ lòng yêu mến thiết tha mà chúng ta bày tỏ với Người.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

MỘT CON NGƯỜI, MỘT BÁC SĨ, MỘT TÍN HỮU: Trần Hữu Ngoạn

MỘT CON NGƯỜI, MỘT BÁC SĨ, MỘT TÍN HỮU: Trần Hữu Ngoạn

Trần Thị Quỳnh Giao – FMM.

Một cuộc đời dày đặc yêu thương, nghiêm khắc với chính mình và biết cười… tươi, hoàn toàn thoải mái với những câu nghịch ngợm khôi hài của người khác, đặc biệt khi bị chọc quê. Một cuộc đời cho đi mà không tính toán, không tìm lợi danh… Hình như đó là cuộc sống mà Thầy Chí Thánh ước muốn cho môn đệ mình.

MỘT CON NGƯỜI, MỘT BÁC SĨ, MỘT TÍN HỮU

Viết về Bác Sĩ Trần Hữu Ngoạn đối với tôi là một cuộc trở về, trở về với quá khứ của một con người cũng như trở về với chính mình. Với một con người trước đây là một đảng viên cấp cao, đầy quyền lực trong một xã hội quyền thế vốn nhiều bóng tối. Với chính mình vì phải làm một cuộc ngoảnh mặt với những biến cố ít nhiều đã gây nhức nhối một thời… để tìm về một cái gì sâu thẳm hơn còn dấu kín trong lòng người, để có thể vươn cao hơn cái tầm thường của bản tính nhân loại và qua đó khám phá được Chân Lý tiềm ẩn nơi họ. Chân Lý đó chính là sự hiện diện của Thiên Chúa trong sâu thẳm của lòng người vì “con người là đường đi của Giáo Hội”, mời gọi ta tôn trọng và yêu thương.

Cần nói thêm là những gì tôi viết ra đây phần rất lớn là do những lần tâm sự của hai Ông Bà. Có thể có những điều báo chí đã biết và viết về Bác Sĩ, nhưng những chia sẻ sau đây hoàn toàn là những chia sẻ thâm tình mà Bác Sĩ và Chị Yến đã gởi gắm vào tôi “ước mong một ngày kia Soeur Quỳnh Giao có dịp viết về mình với những tâm tư thầm kín sâu thẳm nhất của tôi dành cho Soeur…”. Giờ đây, tôi lại có dịp viết về Bác Sĩ và Chị Yến.

  1. CON NGƯỜI.

Bác Sĩ Trần Hữu Ngoạn người gốc làng Nghĩa Đô, huyện Từ Liêm. Sinh ra trong một gia đình nghèo khó ở ngọai thành Hà Nội. Cha mẹ không có cơ may học hành, không thể hướng nghiệp gì cho chàng trai trẻ. Học hết phổ thông, anh Ngoạn nộp đơn xin vào Đại Học Y Hà nội. Năm đó là năm 1955. Ngày nộp đơn, bạn bè cũng như cha vợ tương lai ngăn cản và nài xin con gái “cố gắng khuyên Ngoạn nên đổi nghề khác chứ làm nghề ấy khổ lắm!”. Nhưng sau lần đi khuyên ấy, người bị thuyết phục lại là con gái cụ, bởi “em yêu anh nên muốn điều anh muốn”. Nhắc lại chuyên xưa, Chị Yến cười nói : “Em nói …nhưng anh ấy có nghe đâu, lại còn bảo: “Em ủng hộ anh nhé !”. Nói sao đây, thôi đành kệ anh !”.

Tháng 2 năm 1962, tốt nghiệp y khoa, với lời thề Hippocrate, Bác Sĩ Ngoạn nắm tấm bằng trong tay và… mới cưới vợ chưa đầy 1 tháng, sống với vợ vỏn vẹn chừng 10 ngày… để biền biệt đi mãi… – chàng Bác Sĩ trẻ 27 tuổi Trần Hữu Ngoạn lại làm cho ông Cha vợ một phen “sốc” lần nữa khi xung phong vào làm Bác sĩ ở Khu điều trị phong Qùynh Lập. Chị Yến tâm sự : “Lúc đó em được 18 tuổi. Để em khỏi bịn rịn khóc lóc, anh ấy chờ em đi dạy, viết lại mấy chữ đặt ở bàn nước rồi khoác balô lên đường. Em không hề được hưởng hạnh phúc lâu dài với anh…. Đến giờ Soeur biết không… gần hơn 35 năm chung sống, anh chỉ ở với em tổng cộng nhiều lắm hơn 18 tháng !… ” (bây giờ bệnh hoạn, chị Yến một tay nuôi chồng…).

Một điều thú vị mà có lẽ nhiều người không biết, Bác Sĩ Ngoạn là một người Hà Nội ham mê âm nhạc từ nhỏ. Có dịp đi Mỹ dự một Hội Nghị Phong quốc tế năm Bính Thìn, Bác Sĩ rạng rỡ vui mừng khoe một trong những “thắng lợi”của chuyến đi nầy: “Một Bác Sĩ Mỹ tặng tòan bộ tác phẩm của Beethoven trong cuốn băng có chất lượng thu thanh tuyệt hảo : về hưu sẽ thưởng thức cái thú nghe những băng nhạc ấy trên căn gác nhỏ thanh tịnh chứ !…”. Có lần, để tưởng nhớ 200 năm ngày sinh của Beethoven, Bác Sĩ đã vượt qua bom đạn trở về Hà Nội …chỉ để mời bạn bè yêu thích nhạc đến nhà làm một cuộc kỷ niệm nho nhỏ về nhạc sĩ vĩ đại nầy. Tại Qui Hòa, Bác Sĩ có cho làm một khu du lịch với hình một chiếc đàn, được hỏi vì sao lấy chiếc đàn nầy, Bác Sĩ cho biết:” Vì còn trẻ tôi đã chơi đàn nầy …và Nhạc Sư của tôi là Thầy Đỗ Tình”. Khi trốn vợ đi phục vụ người phong Bác Sĩ đã để lại cây đàn violon và niềm vui tinh thần lẫn vật chất để đến với người phong.

CON NGƯỜI Bác Sĩ Trần Hữu Ngoạn được mang nhiều tên khác nhau làm nên CON NGƯỜI được nhiều người qúy trọng và thương yêu : Người Bác Sĩ “điên khùng” và mặc cảm. Người Bác Sĩ thích dây dưa với…hủi. Một người khùng đáng yêu. Người của người bất hạnh. Người của lòng nhân ái. Người “xúc cảm với bệnh nhân phong”. Người ta chỉ “xúc cảm” với cái đẹp, với nghệ thuật, với người đẹp !… Một Nhà Khoa Học với tâm lòng nhân hậu… Vì sự nghiệp, Bác Sĩ là một trong số ít nhân viên không có gia đình ở gần. Hầu hết các Bác Sĩ trong trại là những nhân viên địa phương, có nhà trong thành phố ; hết giờ làm việc thì về với gia đình. Cuộc đời Bác Sĩ, hơn 31 năm vào nghề cũng bằng từng ấy năm sống xa vợ con. Nhiều bạn bè khoa học có tầm cỡ cũng khuyên Bác Sĩ nên xin về với vợ con để họ bớt bị thiệt thòi, nhưng Bác Sĩ không nỡ bỏ bệnh nhân. Bác Sĩ kể : “Một lần mình được Bộ Trưởng Y tế mời đến họp. Đã lâu không gặp ông Bộ Trưởng, nên khi gặp Ông ta, ông liền nói : “Ah! Anh Ngoạn ơi ! Người ta thường khi gặp ông lớn thì ngưới ta xin 3 điều: một cho tăng lương, hai cho tăng chức, ba cho về ở gần gia đình. Anh nên xin một điều gì cho anh.” Bác Sĩ trả lời : “Lương đối với tôi tương đối đủ sống !… Chức thì anh biết rồi đó, đối với tôi chỉ là một trò cướp giựt dơ bẩn. Còn về ở gần gia đình, thì người thầy thuốc ưu tiên là người của bệnh nhân …”. Và Bác Sĩ đã không xin gì cả.

Một sự kiện lớn khác minh họa cho con người không tham quyền hành mà chỉ chú tâm phục vụ người xấu số. Tháng 8 năm 1995, Liên Hịêp Bệnh Viện Phong Quốc Tế (International Leprosy Union) của Ấn Độ bầu chọn Bác Sĩ Trần Hũu Ngoạn lãnh giải thưởng quốc tế Gandhi. Bộ Trưởng Y Tế liền lệnh cho Bác sĩ và các cơ quan nhanh chóng làm hồ sơ để kịp đi. Bác sĩ Ngoạn trả lời trong một bức thơ đề ngày 9 tháng 10 năm1995: “…Tôi công tác phục vụ bệnh nhân phong đã lâu, thấy người bệnh đang còn bao nỗi khổ mà bản thân mình vì nhiều lý do cũng chưa phục vụ họ được nhiều lắm. Từ nay đến cuối đời, tôi sẽ để tâm trí phục vụ họ nhiều hơn nữa. Khi nào thấy mình xứng đáng với giải thưởng lấy tên là Gandhi, lúc đó được Bộ cho phép làm hồ sơ nhận giải thưởng thì tôi vô cùng sung sướng và thanh thản …”. Sau đó qua các cơ quan Y tế và Vụ Hợp Tác Quốc Tế, Bác Sĩ Bộ Trưởng gởi kèm ít chữ sau đây cho Bác Sĩ Ngoạn : “Rất thông cảm với sự khiêm tốn của Anh Ngoạn. Đề nghị Anh Ngoạn làm hồ sơ để nhận vì vinh dự của đất nước, của ngành và cá nhân. Sau nầy Anh Ngoạn dùng số tiền đó cho cá nhân hoặc cho sự nghiệp đều có lợi cả. Nên làm sớm cho kịp.” Với bức thư nầy, Bác Sĩ đã rất ưu tư, tìm đến gặp tôi mong được soi sáng. Tôi chân thành góp ý nên đi, để nhiều bệnh nhân được nhờ. Bác sĩ bèn nổi nóng, cho tôi biết :” Quỳnh Giao có biết Bộ trưởng nói gì với tôi không ?Anh nhận đi, 1 phần dành cho anh và phần còn lại cho Bộ (giải thưởng là 30.000 USD)”. Tôi buộc phải trả lời : “Người đáng nhận giải thưởng này nhất, là các Nữ Tu Phan Sinh và các bệnh nhân của họ”. Và Bác Sĩ đã không làm hồ sơ nhận giải thưởng trên. Nhiều nhà báo sau đó đến phỏng vấn Bác Sĩ và muốn biết vì lý do gì mà Bác Sĩ không nhận. Bác Sĩ trả lòi : “Nhiều năm sống và làm việc bên cạnh những người tu hành của dòng tu nầy mới biết họ có một lẽ sống đặc biệt. Họ chấp nhận cuộc sống khổ hạnh, tự nguyện làm những việc thiện một cách âm thầm để phục vụ những người bất hạnh. Họ không muốn những lời ca tụng, vì họ quan niệm chấp nhận sự ca tụng cũng có nghĩa là chấp nhận một tội ác”. Cuộc sống của họ tuân theo một nguyên tắc thật đơn giản : “bàn tay trái không được biết việc làm của bàn tay phải và ngược lại. Nhiều tấm gương của dòng tu nầy đã được nhiều bệnh nhân truyền tụng. Họ kể về một bà sơ Charles Antoine, nguyên là Giám Đốc trại, có lần đến thăm nơi ăn ở của bệnh nhân, thấy một hố xí bị tắc mà không ai dám dọn, Bà liền thọc tay xuống và moi từ dưới lên những mảnh giẻ mà họ đã vô ý vứt xuống.”

  1. SỰ NGHIỆP…. :

1/ Quỳnh Lập :

Quỳnh Lập là trại phong lớn nhất miền Bắc. Khoảng 2600 bệnh nhân đã sống trong những mái nhà tranh tre lụp xụp, nghèo nàn. Thời còn sinh viên, thực tập tại Quỳnh Lập, Bác Sĩ chia sẻ : “Có lẽ khởi nguồn tôi đến với các bệnh nhân phong là từ nỗi đau đớn tinh thần của họ, sự mặc cảm sâu sắc của họ trước sự kỳ thị ghê gớm của xã hội, và cả tấm lòng qúy người cách kỳ lạ của họ nữa… đã khiến tôi phải suy tư rất nhiều. ”

Bác Sĩ tiếp : “Ngày còn là sinh viên thực tập, tôi đã chứng kiến cảnh người đi khám bệnh, biết mình bị hủi là về nhà tự tử. Ngay cả ngành Y cũng đã làm cho người ta sợ vì những quy định kỳ cục : thư từ của bệnh nhân gởi ra ngoài phải được đóng dấu : “đã hấp chín”; có nơi ngưòi bệnh chỉ được nói chuyện với người thân qua một lớp kính chắn. Nơi tôi làm việc -Quỳnh Lập- nhân viên y tế làm ở khu vực riêng cách bệnh nhân mấy cây số !. Khắc phục một tâm lý sai lầm còn gay go hơn tìm ra cách chữa một căn bệnh. Việc làm đầu tiên của tôi để chống lại tâm lý ấy là tự động vào sống chung với bệnh nhân. Sau khi nhận trách nhiệm Giám Đốc tôi quyết định đưa khu làm việc vào sát khu bệnh; lấy một số bệnh nhân đã được khỏi, làm nhân viên”.

Trở lại Quỳnh Lập với chức Giám Đốc –lần nầy không còn có thể trốn vợ như truớc bởi đã 40 tuổi và là cha của ba người con – hai trai một gái. Sợ vợ ngăn cản, ông mặc cả rằng: “Cho anh đi 10 năm nữa, năm em 40 tuổi thì anh về Hà Nội”. Trở lại chỗ cũ, tất cả chỉ còn một đống tan hoang vì bom đạn đã tàn phá ngôi làng. Hơn 200 bệnh nhân chết, chỉ còn lại vài người trong những túp lều tranh lụp xụp. Không nhà cửa, nhiều người tìm về các hang núi sống như người rừng. Tất cả phải làm lại. Vừa xây nhà, ông vừa phải đi đến từng hang núi tìm và đem bệnh nhân về.

Qua tiếp xúc với họ Bác Sĩ Ngoạn hiểu thêm rằng người phong sống một cuộc đời đau đớn về thể xác và tinh thần, bị người đời và cả gia đình xa lánh. Những bệnh nhân khỏi bệnh nhưng không được xã hội đón nhận, Bác Sĩ bố trí việc làm cho họ và đấu tranh cho sự bình đẳng của họ.

2/Quy Hòa :

Có thể nói giờ đây không ai mà không biết đến tên tuổi của Bệnh Viện Hansen Qui Hòa–Qui Nhơn thuộc Hội Dòng Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ, được thành lập từ năm 1929, Qui Hòa càng ngày phát triển và nhiều bệnh nhân từ xa xin đến được chữa trị. Bệnh Viện cũng đã đón tiếp những nhà thơ, những ca sĩ, tu sĩ, được chọn làm nơi quay những chuyện phim với những cảnh núi đồi biển cả hùng vĩ, thơ mộng.

Chấp nhận làm Giám Đốc bệnh viện mặc dù việc quản lý Bệnh viện gặp vô vàn khó khăn, Bác Sĩ Trần Hữu Ngoạn chấp nhận khoảng cách tình cảm giữa vợ chồng con cái, gia đình kéo dài thêm hằng ngàn cây số ! Bác Sĩ Ngoạn không có “mộng ước làm quan”, một đời chỉ mong sao góp phần giảm bớt nỗi đau, đem lại hạnh phúc cho người bệnh và nghiên cứu thực hiện những công trình khoa học cùng với Viện dịch tể Hà Nội nghiên cứu vi trùng qua kính hiển vi điện tử và hợp tác với các nhà khoa học Pháp, Hà Lan, Bỉ cùng nghiên cứu về bệnh phong.

Ngày nay với tiến bộ y học, người ta có thể chữa trị bệnh phong theo phương pháp đa hóa trị liệu, chứ không đơn thuần dùng DDS như trước đây. Ngay trong Quy Hoà, Bác Sĩ dành riêng một khu vực điều trị cho những người mắc bệnh mới vào, chữa cho khỏi rồi cho họ ra về với cộng đồng. Bác Sĩ thường đi Tây Nguyên giúp người bệnh có những kiến thức cần thiềt để có khả năng phát hiện bệnh sớm.

Nhân làm Giám Đốc Qui Hòa từ năm 1985 đến 2001, Bác Sĩ muốn biến khu bờ biển tuyệt đẹp này thành khu du lịch. Ông nghĩ điều nầy sẽ giúp quan niệm của ông là xoá bỏ dần sự ngăn cách giữa người bệnh và xã hội, đồng thời nâng cao thu nhập cho nhân viên. Vì vậy phải làm lại con đường vào Qui Hòa lâu năm bị mưa lũ xói lở. Con đường dài 2.600m. Khi Bộ đồng ý đầu tư cho trại làm lại con đường đèo, nhiều chủ đầu tư đã đến xin ông cho họ làm theo hình thức khoán gọn công trình, trong đó ông được 12% giá trị công trình. 12% của con đường trị giá vài tỉ là món tiền không nhỏ. Cơ quan giao thông dự trù 700 triệu. Bác Sĩ Ngoạn nhờ người thiết kế và cho những người dân làng phong còn sức khoẻ thi công, vừa tạo vịêc làm, có thu nhập và quan trọng hơn, giúp người bệnh xóa bỏ mặc cảm. Cuối cùng chi phí chỉ lên 140 triệu ! Không được ăn thì đạp đổ: đơn kiện ông bay đi khắp nơi, vu cáo là ông không trong sáng trong vấn đề tiền bạc, ăn chặn tiền từ thiện, tha hoá về tư tưởng… Và một ngày kia … cũng chẵn 10 năm làm Giám Đốc, một lần nữa ông nhận quyết định thôi làm giám đốc vì “không đủ khả năng làm quản lý” …và nhận nhiệm vụ mới: chuyên viên của Vụ Điều Trị kiêm…tạp vụ.

Bác Sĩ đã nếm đủ vinh quang và cay đắng của cuộc đời, của một thể chế bất công, dành giựt quyền hành mà không sợ chà đạp trên danh tánh và lương tri của một con người. Hai lần làm Giám Đốc, hai lần bị cách chức không có lý do! Giữa hai làn bom đạn, Bác Sĩ Ngoạn được gọi về Hà Nội làm ở khoa Da Liễu Bệnh Viện Bạch Mai, và vẫn là Bác Sĩ điều trị phong.

3/ Biến cố 23 tháng 10.1984 tại Phú Khánh :

Đó là biến cố của lòng nhân ái, liên đới với bệnh nhân mà mình phục vụ đồng thời cũng là một biến cố khoa học dũng cảm của một con người yêu thương bệnh nhân thật sự. Vào ngày ấy Bác Sĩ Ngoạn có dịp ghé thăm bệnh Viện Da Liễu Nha Trang. Trong đó có vài giường chứa bệnh phong. Nhân viên y tế có thái độ kiêng kỵ, tách biệt rõ rệt với bệnh nhân, Bác Sĩ giải thích nhưng nhân viên không tin. Ông bèn nói : “Các cô cậu có muốn tớ tiêm trực tiếp trực khuẩn Hansen vào mình tớ không ?” – “Đuợc vậy thì thuyết phục chúng em ngàn lần hơn các tài liệu y khoa”. Cuộc thí nghiệm đựơc bắt đầu với sự chứng kiến của các giới chức khoa học, Giám Đốc Viện Pasteur Nha trang, Tiến Sĩ vi trùng học Nguyễn Thị Thế Trâm và nhiều Bác Sĩ chuyên khoa của Bệnh Viện. Lúc đó có hai bệnh nhân phong, thể ác tính, 25 và 12 tuổi. Bác Sĩ Ngoạn đã lấy 200 milligramme u phong ở dái tai của người bệnh, được sự kiểm tra phân chất của các nhà khoa học chuyên môn có mặt. Mầm bệnh được lấy từ những vết lở loét trên cơ thể bệnh nhân. Bệnh phẩm, sau khi được nghiền nát, hòa với nước muối sinh lý, lọc lấy phần “tinh túy” và kiểm tra có đủ trực khuẩn có thể gây bệnh. Như vậy Bác Sĩ Ngoạn đã đưa vào cơ thể mình hàng tỷ trực khuẩn bằng nhiều đường : nhỏ vào mũi, uống và tiêm vào hai khuỷu tay và hai dái tai là những nơi trực khuẩn nầy dễ phát triển. Dám làm điều đó chỉ vì tin vào mình, tin vào kiến thức của nhân loại và đồng thời cũng chứng minh là bệnh phong không lây nhiễm và qua đó đánh tan mặc cảm cho bệnh nhân và xích xã hội lại gần hơn với họ.

Với biến cố nầy Bác Sĩ Ngoạn đã chiếm lòng mọi người, đặc biệt các bệnh nhân phong.

4/Vụ Điều Trị của Bộ :

Về đây Bác Sĩ vẫn tiếp tục nghiên cứu và giúp đỡ bệnh nhân qua những lần đi đây đó trên quê hương tìm thăm bệnh nhân và xem cách điều trị hữu hiệu hơn nữa.

III….. VỚI NHỮNG GIÁ TRỊ PHÚC ÂM :

1/ Một lòng yêu thương người phong hủi :

Những điều đã nói trên chắc chắn đã cho thấy lòng tận tụy yêu thương bệnh nhân phong hiếm có nơi CON NGƯỜI nầy. Nhưng tôi cũng không thể bỏ qua một sự việc khác, mà đối với chúng ta là những người Kitô hữu và Tu sĩ, không biết chúng ta đã làm được chưa ?

Trong cuộc đời bình thường, BS là một con người giản dị, lạc quan, rất biết cười và cười thoải mái, đặc biệt khi tôi chọc “quê”. Chị nhà cứ nói : “Không hiểu sao anh Ngoạn khi nào mà có Soeur Quỳnh Giao chọc ghẹo thì anh cười thoải mái và cười “hết mình”…!”. Một cô gái Hà Nội duyên dáng, dễ mến, là giáo viên cấp II, lấy một anh chàng Hà Thành như Bác Sĩ Ngoạn, mê nhạc, khôi hài, lạc quan, phúc hậu, là mẫu người mà vợ anh xưa kia hằng ao ước, mà bây giờ vẫn còn là thần tượng của chị… lại chấp nhận, vì người bệnh phong… để sống xa vợ con suốt một quãng đời dài !… Cuộc sống vợ chồng, được ở bên nhau là điều hết sức tự nhiên mà cũng khước từ để cống hiến cho tha nhân. Bác Sĩ sẵn sàng đến với thế giới phong hủi để chữa bệnh cho những người hằng tuyệt vọng…

2/Một tấm lòng thẳng thắn tìm về chân lý :

Vì tâm hồn trong sáng, nên khi gặp các Nữ Tu, Bác Sĩ qúy trọng và tín nhiệm “bởi họ sống trong sạch hết mình, không bon chen, lừa lọc…Tư tưởng vô thần và hữu thần ở đây không có nghĩa gì cả, cao nhất trong đạo lý làm người là yêu thương tận tụy đối với nhau …” Bác Sĩ trả lời khi bị vu khống là thiên về tôn giáo! …

Trong xã hội hiện thời, khi cuộc sống không còn chuẩn mực thước đo, khi nghĩa cử tốt đẹp còn hiếm, khi tiền là tất cả và giả dối lan tràn khắp phố phường, nghành nghề, ở mọi cấp bậc, khi người ta bịa đặt xấu xa để vu cáo nhau, lại dễ làm người ta tin hơn là nói thật những điều tốt đẹp… thì tìm được một viên ngọc qúy thật là vất vả. Và Bác Sĩ Ngoạn là mẫu người của lòng trong sáng, thẳn thắng, không ham danh lợi. Một tấm lòng như thế chỉ có thể hướng về chân lý, chuẩn bị đón nhận hồng ân của Sự Thật, của Chân lý, là chính Thiên Chúa.

3/ Một con người liêm chính, khiêm tốn và khắc khổ :

Mấy năm cuối cùng làm việc ở Vụ Điều Trị, ông sống lặng lẽ, hoàn thành công việc của một công chức liêm chính. Thời gian còn lại, ông cố gắng tập họp tư liệu để viết quyển sách : “Bệnh phong, lý thuyết và thực hành – Tóm Tắt” dày 600 trang được in tại nhà Xuất Bản Y Học.

Lần kia, trong một cuộc gặp mặt cuối năm giữa Bộ Trưởng Đỗ Nguyên Phương với anh em cơ quan Bộ, sau khi nhận bó hoa do công đoàn cơ quan tặng, Bộ Trưởng nói rằng, chính Bác Sĩ Ngoạn là người xứng đáng nhận bó hoa nầy. Lúc nầy nhiều người mới biết hai người cùng là bạn học ở Đại Học Y Hà Nội ! Đó cũng là lần duy nhất ông được “vua biết mặt, chúa biết tên !” Vì nguyện vọng của ông sau khi nghỉ hưu là làm tình nguyện viên y tế để giúp đồng bào dân tộc ít người ở các vùng nghèo nàn lạc hậu còn nhiều khó khăn về y tế, nên Bộ Trưởng Bộ Y tế đã viết ngày 28 tháng 9 năm 1998 : “…Tôi thật sự rất cảm kích và hoan nghênh tinh thần xung phong tình nguyện của anh. Cá nhân tôi cũng như tập thể lãnh đạo Bộ Y Tế luôn đánh giá cao công lao đóng góp của anh liên tục trong nhiều năm qua cũng như hiện nay đối với sự nghiệp chăm sóc bảo vệ sức khoẻ nhân dân nói chung… đối với công tác phòng chống và thanh toán bệnh phong nói riêng… là một nghĩa cử cao đẹp, là tấm gương rất đáng học tập…”. Suốt một cuộc đời, Bác Sĩ Ngoạn không hề nhận về cho mình một thành tích nào mà chỉ lẳng lặng đi tìm phục vụ người xấu số.

“Vị ẩn sĩ” liêm chính, khiêm tốn nầy cũng sống rất khắc khổ và ít nói. Ngồi trong xe đi công tác đây đó, đôi khi mở miệng chỉ để nói : “ai cần mở cửa sổ thì cứ mở, tôi chịu lạnh quen rồi”. Hành lý đi đường của ông lẹp xẹp dù mới đi Mỹ đi Pháp về. Đôi dép thì mòn gót, te tua. Ăn mặc đơn giản: có lẽ gia tài của ông không quá ba bộ áo quần. Được hỏi qua Mỹ hay Pháp có mua sắm gì cho mình không, Bác Sĩ trả lời : “Không, không sắm gì, chỉ xin đươc một lô quần áo cho khu điều trị. Mua cho vợ con vài món… Của ăn đường dài chỉ một ổ bánh mì khô, hoặc vài bánh biscuit !… Bác Sĩ nói : “Mình đã chuẩn bị sống thích nghi với hoàn cảnh khó khăn nhất. Mình có thể ăn thật ít, thật khổ, có khi nhịn cả ngày cũng được. Nếu bị bệnh thông thường mình không hề uống thuốc mà để bệnh tự hết. Mình không có nhu cầu gì lớn cho bản thân. Nếu không tập một sức đề kháng như vậy, không sống với bệnh nhân và đồng bào dân tộc được đâu”.

Không hút thuốc, không rượu chè café. Bia chỉ uống một lon khi cần. Do nếp sống khắc khổ bản thân của ông, đã gặp nhiều điều không mấy dễ chịu trong công việc. Có những người không thích cách sống khổ hạnh, liêm khiết của ông; không thích ông có vẻ như tán dương tinh thần làm việc tận tụy của các bà sơ “vì suốt đời cống hiến cho người bệnh, tới lúc chết vẫn không cho phép ai nhắc đến việc làm của mình”.

Đó là tác phong và y đức của một người thầy thuốc, quả là hiếm có trong thời buổi nầy.

  1. CHẶNG DỪNG CHÂN :

Tâm hồn màu mỡ ấy đã sẵn sàng để đón nhận hồng ân Thiên Chúa ban. Sau đây tôi chỉ xin kể lại sự kiện Bác Sĩ Ngoạn chọn Chúa làm lẽ sống.

Tuy rất có nhiều cảm tình với các chị em Phan Sinh phuc vụ tại Qui Hòa, nhưng Bác Sĩ chưa hề một lần nói lên ý nguyện “theo” Chúa của mình. Nghỉ hưu, Bác Sĩ vẫn tiếp tục đi đây đó giúp bệnh nhân phong và về lại sống với gia đình một nếp sống bình thường. Ba cháu, hai trai là Bác Sĩ với hai con dâu cũng Bác Sĩ và một gái, Kế Toán. Thời gian gần đây, bị bệnh, Bác Sĩ thường xuyên ở nhà hơn. Được vợ chăm sóc chu đáo và tận tụy hết mình…

Nhờ có dịp ra công tác tại Hà Nội, tôi lui tới thăm viếng Bác Sĩ, mang nặng trong tâm hồn một ước vọng dày vò, là làm sao cho Bác Sĩ Ngoạn nói lên lời ưng thuận “Theo Chúa”, rõ ràng, dứt khoát. Truớc đó tôi đã có vài giờ giáo lý cho Bác Sĩ và có dịp biếu tặng ông video về Đức Mẹ Lộ Đức và Thánh Phanxicô Assisi. Bác Sĩ đã bị ấn tượng nhiều, suy tư nhiều và càng trầm lặng hơn… Sau đó vài tháng, ra Hà Nội đến thăm Bác Sĩ, tôi vui mừng nhận thấy ở vách tường đối diện với cửa đi vào nhà, một bức tranh vừa quen thuộc vừa lạ kỳ. Quen thuộc vì vị thánh trong bức tranh ví tựa như Chúa Giêsu quỳ gối trong Vườn Cây Dầu. Kỳ lạ vì hình tượng vẽ lại là hình tượng của Thánh Phanxicô. Sau đó được biết là chính Thánh Phanxicô, một bức tranh mà Bác Sĩ rât thích được ai đó tặng và nói là Thánh Phanxicô Nghèo Khó”. Mình khổ nhiều vì bức tranh nầy, chị Quỳnh Giao có biết không? Các anh cán bộ vào nhà cứ hỏi hình nầy là ai ?… Sao không treo hình Bác Hồ nơi chính của căn nhà ?..

Một tháng trước khi đi Anh, tôi tự vạch cho chính mình một kế hoạch là khi đi công tác Hà Nội tôi sẽ dành một tuần và liên tiếp đến dạy giáo lý mỗi ngày cho Bác Sĩ. Từ thứ hai đến thứ năm hay thứ sáu, tôi muốn Bác Sĩ sẽ nói lên lời ưng thuận công khai đó với tôi. Tôi cầu nguyện nhiều. Tôi vẫn hiểu một người tự trong thâm tâm muốn theo Chúa đã là người “công giáo”, là người “có đạo” rồi. Nhưng sao tôi vẫn mơ uớc thấy Bác Sĩ đón nhận Bí Tích Thanh Tẩy và mang tên Phanxicô.

Mỗi lần bắt đầu giờ giáo lý, tôi thường hỏi han sức khoẻ và ngày sống của hai ông bà, sau đó là một giờ giáo lý. Bác Sĩ lắng nghe chăm chú, thỉnh thỏang hỏi đôi câu. Đến ngày thứ năm vẫn không thấy gì, thứ bảy tôi phải bay về HCM. Sáng thứ sáu đó, tôi đến, lòng thổn thức âm thầm… Lần nầy, ngồi xuống, Bác Sĩ không để cho tôi nói truớc, ông làm một mạch không ngừng –người vốn ít nói- : “Tôi muốn được nhận lãnh bí tích thanh tẩy. Một ngày lễ của Đức Mẹ… Sớm nhất…v. v…”. Tôi hỏi : “Vậy Chị có đồng ý không ?” –“Không chịu tôi cũng làm ! Nhưng nhà tôi từ trước vẫn để tôi tự do trong việc nầy. Bà thì theo Phật rồi đó. Chúng tôi không vô thần đâu!” Sau khi kê ra danh sách các ngày lễ của Đức Mẹ, và được giải thích, Bác Sĩ và tôi ưng thuận chọn ngày 8.12.2003. Sau đó vì Bác Sĩ có chút vấn đề sức khoẻ nên chúng tôi dời lại vào ngày 1 tháng Giêng 2004, lễ Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa. Bác Sĩ muốn làm nghi thức tại Qui Hòa để “thanh tẩy những vết nhơ ô uế mà một số người đã gây ra trên đất thánh nầy… và hôm đó tôi sẽ đứng ra công khai tuyên xưng đức tin của mình truớc các thành phần của cơ quan và bệnh viện”. Đức TGM Hà Nội được biết tin, đề nghị để Ngài chủ sự trao ban bí tích và chủ tọa Thánh Lễ. Năm đó là năm Truyền Giáo. Bác Sĩ vui mừng ra mặt vì Ngài đã đến viếng thăm Bác Sĩ hai lần, dịp Noel và Phục Sinh, rồi còn chụp hình với Bác Sĩ, điều này làm Bác Sĩ hãnh diện và khoe với mọi người.

Biến cố vĩ đại nầy mà tôi đang sống và chứng kiến lúc bấy giờ có quá nhiều điều vui đến từ quá nhiều điểm mà lòng tôi uớc mơ ôm ấp từ những tháng qua. Lẽ nào niềm vui lớn lao nầy mà Thiên Chúa trao ban, lại được hưởng dễ dàng như vậy mà không một chút hy sinh, không chút phó thác vào quyền năng của Ngài sao ? Ngài mời gọi ai đây phải dâng hiến, dâng hiến trong tin tưởng, trong âm thầm khiêm tốn như chính cuộc đời đã được sống và Ngài xin một không gian thóang, rộng, để thể hiện Ý của Ngài theo cách thức riêng của mình? Cả hai, chúng tôi chờ ngày vui lớn của Đại Gia Đình Giáo Hội….

Một ngày nọ, chị Madeleine Nguyễn Thị Triệu, cựu Giám Tỉnh của chúng tôi gọi tôi và thông báo cho biết là tôi phải ra Hà Nội ngay “Vì chỉ có em mới ngăn đươc Bác Sĩ. Bác Sĩ không chịu nghe ai cả, chị Yến qùy lạy xin em đó !…”. Thì ra có biến cố đã xảy ra vì “ước muốn nầy”.

Không hiểu làm sao “người khác” lại biết rõ chuyện nầy, để khi người con gái sau thời gian nghỉ phép vì sanh nở đi làm lại, thì Bác Sĩ Giám Đốc “đề nghị cho nghỉ tiếp, cứ nghỉ dài dài…”. Sau nhiều lần trao đổi, cô ta đươc hỏi “Có phải bố sắp theo đạo phải không ?”. Người con cả là Bác Sĩ, trước đây được du học tại Mỹ chăm lo học hành nên lần nầy được đi tiếp để trình luận án cũng gặp khó khăn rằng : “Gia đình cháu có Bác Sĩ nhiều mà chưa ai đóng góp gì cho đất nước. Cháu nên vào Đảng để có cơ hội đóng góp nhiều hơn”… và nhiều chuyện khác nữa…

Phần Bác Sĩ Ngoạn vẫn một mực giữ ý định không thay đổi. Bạn bè, các Linh mục, các Soeurs góp ý nên nhường bước để vợ con không bị ảnh hưởng gì. ĐTGM/Hà Nội cũng khuyên lơn, nhưng Bác Sĩ nghĩ “tôi không có gì để mất… Tôi chỉ được thêm thôi !…”. Chị Yến thì lạy lục xin tôi góp ý với Bác Sĩ, – dù tôi cũng đã phải buộc lòng đi ngược lại với ước nguyện ban đầu của mình – Bác Sĩ trầm ngâm một hồi và nói : “Soeur đề nghị làm tại CĐ của Soeur tại Nam Định …. như thế có vẻ lén lút. Mà đây không có gì phải lén lút cả !”. Chị Yến lại nài nỉ thảm thương với tôi : “Một đời em đã làm theo ý anh. Em và con đã không sợ gì cả để cho anh đi con đường đúng đắn của anh. Nhưng giờ đây đụng đến tương lai con cái, em xin chị nói với anh… Mai nầy êm xuôi, anh sẽ thể hiện ý nguyện của anh và lòng em vẫn hòan toàn toại nguyện”… Bác Sĩ đã miễn cưỡng chấp nhận lùi lại ngày trọng đại đó.

Và tôi đã từ giã Bác Sĩ và gia đình, tạm vắng trong một thời gian xa quê hương. Từ xa, tôi nhận được tin, ngày kia, Bác Sĩ Trần Hũu Ngoạn đã nhận lãnh bí tích thanh tẩy từ một người âm thầm trao ban hồng ân lớn lao và được làm Con Thiên Chúa và Giáo Hội Ngài. Buồn hay vui lúc đó? Tôi chỉ biết là mình cảm thấy rất tiếc vì lời tuyên xưng ngôn sứ bị chặn đứng bởi sự hời hợt vội vã của một hình thức bên ngoài mà ta thường quá lưu tâm, thay vì đi sâu vào chiều kích ngôn sứ và có tính Giáo hội của một Bí Tích như Bí Tích Thanh Tẩy: tuyên xưng đức tin của một người vào một Con Người, nói lên cho mọi người biết mình chọn Con Người ấy vì mình tin tưởng phó thác đời mình cho Người đó. Và việc làm nầy được Giáo Hội chứng giám, phê chuẩn và chấp nhận. Còn niềm vui nào hơn niềm vui được làm Con Thiên Chúa và được Giáo Hội nuôi dưỡng, đón nhận. Và vì vậy, sự kiện nầy đáng ra phải được công khai và công nhận…

Giờ đây, với cuộc sống bệnh tật, có thời gian gẫm suy và lặng tĩnh bên cạnh người vợ tuyệt vời, kiên nhẫn và yêu thương chăm sóc, Bác Sĩ Ngoạn cảm thấy tâm hồn thanh thản nhiều lắm, vẫn còn cười đùa mỗi khi tôi đến, nhưng “vẫn tiếc nuối cái gì đó …làm lòng chưa hoàn toàn được toại nguyện”. “Cái gì đó”  phải chăng là vai trò Ngôn Sứ mà mỗi người tín hữu có nhiệm vụ thể hiện ?

Khi còn trò chuyện đuợc, tôi có lần hỏi Bác Sĩ, nếu muốn truyền đạt điều gì đó thiết yếu mà Bác Sĩ tâm niệm nhất, thì Hà Nội sẽ nói điều gì ? Bác Sĩ trả lời : “Hãy đến với những người không ai đến, hãy cho những người không ai cho. Hình như đó là một câu trong Kinh Thánh. ”

Một cuộc đời dày đặc yêu thương, nghiêm khắc với chính mình và biết cười… tươi, hoàn toàn thoải mái với những câu nghịch ngợm khôi hài của người khác, đặc biệt khi bị chọc quê. Một cuộc đời cho đi mà không tính toán, không tìm lợi danh… Hình như đó là cuộc sống mà Thầy Chí Thánh ước muốn cho môn đệ mình.

Trần Thị Quỳnh Giao – FMM.

Việt Nam rơi vào thế khó xử khi Nga thất bại ở Ukraine

Việt Nam rơi vào thế khó xử khi Nga thất bại ở Ukraine

2022.10.04

Đất nước Ukraine dân chủ trở thành ví dụ thành công về một quốc gia tự bảo vệ mình trước hàng xóm là một cường quốc hung hăng.

Mặc dù những biện minh của Nga cho cuộc xâm lược bất hợp pháp Ukraine tạo ra một tiền lệ pháp lý rất nguy hiểm cho Việt Nam trong việc đối phó với chính quốc gia láng giềng hung hăng về mặt lãnh thổ của mình, việc Việt Nam ủng hộ Nga trong cuộc tấn công Ukraine là không có gì đáng ngạc nhiên do mối quan hệ lịch sử lâu đời giữa hai nước này. Nga là một “đối tác toàn diện chiến lược” – xếp hạng cao hơn Hoa Kỳ khá nhiều trong thứ bậc ngoại giao của Hà Nội. Nhưng những tổn thất của Nga đã đặt Chính phủ Việt Nam vào một tình thế rất khó xử khi phải đối mặt với công chúng của mình- những người thường sử dụng chính sách đối ngoại như một phương tiện gián tiếp để chỉ trích Đảng Cộng sản.

Việt Nam sẽ mãi mãi mang ơn Nga vì sự hỗ trợ của họ trong cuộc chiến tranh chống Mỹ. Đặc biệt, việc cung cấp khoảng 7.600 tên lửa đất đối không tiên tiến đã khiến Mỹ không có được vùng trời phi tranh chấp của nước này.  Trong thời gian Việt Nam chiếm đóng Campuchia vào những năm 1980, Liên Xô đã cung cấp một lượng vũ khí và hỗ trợ kinh tế đáng kể và là một trong số ít đồng minh của Hà Nội vốn bị cô lập về mặt ngoại giao khi đó. 

Mặc dù viện trợ kinh tế và hỗ trợ quân sự chấm dứt vào năm 1991 đồng thời giới lãnh đạo ở Hà Nội sợ hãi trước sự sụp đổ của Liên Xô, Nga đã trở thành nhà cung cấp chính cho chương trình hiện đại hóa quân đội của Việt Nam. Vào thời kỳ đỉnh cao, 80% thiết bị quân sự của Việt Nam là do Nga sản xuất. Con số này đang giảm xuống nhưng ngay cả khi Việt Nam đang nỗ lực đa dạng hóa nguồn cung, Nga vẫn chiếm 74% tổng lượng vũ khí nhập khẩu của Việt Nam.

Hai nước cũng có mối quan hệ tình báo chặt chẽ. Mặc dù đã rút khỏi căn cứ hải quân của họ ở Vịnh Cam Ranh vào năm 1991, Nga vẫn duy trì cơ sở tình báo tín hiệu của mình ở đó và cơ sở này vẫn đang hoạt động. Hai nước tiếp tục có các hoạt động chia sẻ thông tin tình báo và đào tạo tình báo một cách chặt chẽ. Thực tế này không hề bị lãng quên ở Bộ Chính trị, nơi chỉ có 19 thành viên nhưng đã có tới năm người từng công tác tại Bộ Công an.

Về mặt ngoại giao, Việt Nam đổ lỗi cho Ukraine vì đã tự mang chiến tranh đến cho mình do không xử lý một cách đúng đắn và khéo léo cuộc cạnh tranh giữa các cường quốc. Tiếp tục dòng suy nghĩ này, người ta còn cho rằng nếu Kyiv có chính sách đối ngoại “4 Không và một Tùy” của Hà Nội, họ có thể đã không để bị xâm lược.

Nhưng trên hết, cho đến trước chiến tranh, Putin đã được giới lãnh đạo cũng như công chúng Việt Nam rất coi trọng. Đối với một quốc gia luôn bị giằng xé giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, nước Nga của Putin đã mang đến cực quyền lực thay thế thú vị mà ít nhất là có vẻ tự chủ và khá độc lập.

Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov gặp Thủ tướng Việt Nam Phạm Minh Chính tại Hà Nội ngày 6/7/2022. Ảnh AFP

Cảm thấy điều đó ổn

Vào thời điểm Nga ngày càng bị cô lập về mặt ngoại giao, Hà Nội vẫn tiếp tục dành cho Nga sự ủng hộ. Hà Nội đón Ngoại trưởng Sergei Lavrov trước thềm Hội nghị Ngoại trưởng G20 tại Indonesia. Ngoại trưởng Lavrov nhắc lại những lo ngại của Hà Nội về “sự không can thiệp” và “vấn đề chủ quyền”, nhấn mạnh lo ngại về việc Hoa Kỳ cố tình gây ảnh hưởng vào chính trị trong nước của Việt Nam. Ông nhắc nhở những người đối thoại với mình rằng Nga là một sức mạnh nhân từ và cam kết ủng hộ an ninh chế độ của Hà Nội.

Việt Nam bỏ phiếu trắng trong cuộc bỏ phiếu lên án hành động xâm lược Ukraine của Nga nhưng ủng hộ Nga trong nỗ lực ở lại Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc. Việt Nam cũng đã cử đoàn tham gia “ Hội thao quân sự quốc tế Army Games” do Nga tổ chức hàng năm.

Điều này đã khiến Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken phải hủy chuyến thăm Hà Nội. Đây là một tín hiệu rất rõ ràng về sự không hài lòng đối với một chính phủ đã rất được chú ý từ năm 2021, với nhiều chuyến thăm trong đó có chuyến thăm của Bộ trưởng Quốc phòng, Bộ trưởng Ngoại giao và Phó Tổng thống Mỹ cùng những người khác.

Thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ năm 2021 đạt 112 tỷ USD trong khi đó kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều Việt Nam – Nga chỉ đạt vỏn vẹn 5,54 tỷ USD trong cùng kỳ. Hoa Kỳ hiện là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam – chiếm 25,6% tổng kim ngạch xuất khẩu của nước này vào năm 2021 đồng thời là một nguồn đầu tư công nghệ cao.

Hoa Kỳ đã âm thầm trừng phạt một công ty Việt Nam vì trốn tránh các lệnh trừng phạt đối với Nga.

Truyền thông đưa thông tin sai lệch

Các phương tiện truyền thông do nhà nước kiểm soát của Việt Nam không trung lập như một số người vẫn nói và có xu hướng ủng hộ Nga hơn ngay từ đầu. Ukraine đã thực sự gặp khó khăn để đưa ra thông điệp của mình khi Nga đưa ra những thông tin sai lệch.

Có một số người ủng hộ Ukraine trong các nhóm Facebook sôi nổi của Việt Nam. Một số người đã rất cảm thông với quốc gia đã phải trở thành nạn nhân của một ông hàng xóm tham tàn. Những người khác nhận ra tiền lệ pháp lý mà Trung Quốc có thể vận dụng từ lời biện minh của Putin về chiến tranh.

Nhưng nhìn chung, những cảm xúc trực tuyến phần lớn là ủng hộ Nga và chống phương Tây. Hai nhà nghiên cứu Việt Nam đã nghiên cứu 28 trang và nhóm Facebook phát hiện ra rằng có 8 trang/nhóm ủng hộ Nga vì yêu nước và hoài cổ, 18 người yêu nước/bảo thủ và chống phương Tây và cuối cùng là những nhóm chỉ đơn giản đưa ra những tin tức ủng hộ Nga.

Lực lượng 47, lực lượng giám sát không gian mạng và định hướng dư luận với 10.000 nhân lực của Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN), đã rất tích cực trong việc ngăn chặn những ý kiến ủng hộ Ukraine và chống Nga đồng thời tăng cường giới thiệu nhưng thông tin từ chính phủ Nga thông qua mạng lưới những người có ảnh hưởng của chính họ. 

Tuy nhiên, các lực lượng của Nga hiện đang bị bẽ mặt và rơi vào tình trạng sụp đổ chiến lược. Cuộc tấn công của Kyiv đã khiến Nga tháo chạy ở miền Bắc và miền Đông Ukraine. Ukraine đã lấy lại được hơn 1.500 dặm vuông lãnh thổ khi Nga buộc phải thực hiện “kế hoạch rút lui chiến thuật” của họ. Putin đã phải hồi đáp ” những lo ngại ” của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại hội nghị thượng đỉnh gần đây của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải.

Những thất bại ở Ukraine đã buộc Putin phải ra lệnh tòng quân đầu tiên của nước này kể từ sau Thế chiến lần thứ II – “huy động một phần” tất cả những người dự bị và các cựu chiến binh có thể lực. Lệnh này đã làm dấy lên các cuộc biểu tình trên khắp nước Nga và đẩy đến một cuộc di cư ra nước ngoài của những người đàn ông trong độ tuổi phải thực hiện nghĩa vụ quân sự. Sự phản kháng đối với lệnh yêu cầu tòng quân chứng tỏ khả năng kiểm soát ngày càng sút kém của Tổng thống Putin. Đồng thời, việc triển khai nhanh chóng binh lính chưa qua đào tạo là dấu hiệu cho thấy sự tuyệt vọng của chế độ Putin.

Với Hà Nội, mối lo ngại có thực là: việc ngày càng có nhiều nghi ngờ về năng lực của Nga và sự lãnh đạo của Putin sẽ nhanh chóng biến thành các cuộc thảo luận chống Đảng. Các chuyên gia chính phủ đã nói giảm một nửa cũng như bác bỏ những thiệt hại của Nga.

Và lý do của việc này là: Các cuộc tranh luận về chính sách đối ngoại thường được biến thành cơ hội để đặt câu hỏi về giới lãnh đạo ở Việt Nam.

Tự vấn 

Những tổn thất của Nga khiến Hà Nội lo ngại. Quân đội Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào thiết bị của Nga. QĐNDVN vẫn chịu ảnh hưởng lớn từ học thuyết của Liên Xô. Quyền hành trong quân đội của Việt Nam vẫn theo hướng từ trên xuống và chỉ huy địa phương không thể chủ động.  QĐNDVN vẫn là một quân đội của Đảng, bị ràng buộc về mặt pháp lý để bảo vệ chế độ chứ không phải Nhà nước.

Và Hà Nội cần hết sức quan tâm đến những tác động có hại của tham nhũng đối với khả năng sẵn sàng của lực lượng, hậu cần và vận hành. QĐNDVN một thời từng được ca tụng, gần đây, đã vướng vào một số vụ bê bối tham nhũng, bao gồm Vụ kít Xét nghiệm COVIDd-19, vụ bê bối mua sắm và bảo kê của Cảnh sát biển và đất đai. Quân đội Nga đã bị rỗng ruột bởi nạn tham nhũng phổ biến – một điều đã trở thành bình thường ở Việt Nam.

Cuối cùng, Hà Nội phải biết rằng những thiệt hại thực tế của Nga sẽ ảnh hưởng đến hoạt động mua sắm của chính QĐNDVN. Nga phải nhanh chóng tái trang bị lực lượng và phải làm như vậy trong bối cảnh phải đối mặt với các lệnh tiếp tục trừng phạt và tình trạng thiếu thiết bị cơ khí chính xác và bán dẫn Sự thiếu hụt phụ tùng thay thế của Nga sẽ kéo dài trong nhiều năm, chưa kể dẫn đến việc trì hoãn giao các mặt hàng thiết bị và vũ khí mới. Điều này, ngay lập tức, ảnh hưởng đến an ninh của Việt Nam.

Khả năng phòng thủ vững chắc và giờ đây là cuộc tấn công thành công của Kyiv đã đặt Hà Nội vào một tình thế khó xử cuối cùng: Thành công của Ukraine có được là nhờ biết học thuyết của Liên Xô nhưng điều chỉnh theo cơ cấu lực lượng, chiến thuật, học thuyết và một số thiết bị của phương Tây. Và điều khiến tất cả những điều đó xảy ra là sự dân chủ hóa của họ. Nếu có bất cứ điều gì cần kể đến thì đó là việc Ukraine đưa ra một ví dụ thuyết phục hơn nhiều về một quốc gia tự vệ thành công trước một cường quốc hung hăng ở ngay sát cạnh mình. Nhưng đó là một sự thật không dễ chịu đối với Hà Nội.

*Zachary Abuza là Giáo sư tại Đại học Chiến tranh Quốc gia Hoa Kỳ ở Washington và là trợ giảng tại Đại học Georgetown. Các quan điểm thể hiện trong bài viết này là của riêng tác giả và không phản ánh quan điểm của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, Trường Đại học Chiến tranh Quốc gia Hoa Kỳ, Đại học Georgetown hay RFA.

Z.A.

Nguồn: rfa.org/vietnamese

NGƯỜI VIỆT HÃY… PHẢN TỈNH!?!

Oanh Vy Lý

NGƯỜI VIỆT HÃY… PHẢN TỈNH!?!

Ở Miền Nam Việt Nam trước 1975, chính quyền có chính sách trợ cấp cho gia đình đông con. Vậy là người Việt cứ tì tì làm Khai Sinh giả, cách 2 năm 1 đứa, để hưởng tiền trợ cấp đông con.

Họ vẫn là những người dân “hiền lành”, “lương thiện”, không sao hết, chuyện nhỏ mà, chuyện thường mà, ai cũng vậy mà … Không áy náy, không cắn rứt, không tự vấn, không phản tỉnh …

Rồi Miền Nam sụp đổ …

Sau 1975, người Việt vượt biên tị nạn cộng sản, qua các xứ văn minh, chính quyền có chính sách trợ cấp cho người già. Người Việt tới tuổi già thì đương nhiên được hưởng trợ cấp, gồm tiền ăn, ở, sinh hoạt … Vậy là người Việt sang tên nhà cho con, rồi “ở thuê” trong chính ngôi nhà của mình, để hưởng tiền trợ cấp thuê nhà.

Họ vẫn là những người dân “hiền lành”, “lương thiện”, không sao hết, chuyện nhỏ mà, chuyện thường mà, ai cũng vậy mà, Không áy náy, không cắn rứt, không tự vấn, không phản tỉnh…

Thực ra, trước và sau 1975, người Việt cũng có áy náy và cắn rứt chút đỉnh, nhưng họ dễ dàng và mau chóng khỏa lấp bằng ngụy biện : “ai cũng vậy mà” !

Làm người, một cách tự nhiên, bản năng, ai cũng thích mình nổi bật một cách độc đáo, đặc biệt, và thường khoe ra cái độc đáo, đặc biệt đó, cả dung mạo lẫn tính cách. Nhưng cái xấu thì lại muốn dìm chìm trong đám đông bằng câu ngụy biện : “ai cũng vậy mà”!

Nếu tự vấn và phản tỉnh, người Việt cần tự hỏi :

– Có phải vì tính cách DỐI TRÁ đó là Miền Nam suy yếu rồi sụp đổ, cộng sản thắng thế rồi tràn ngập, khiến họ phải tị nạn, và người Việt dù lưu vong hay du lịch tới đâu cũng bị khinh khi !?!

– Có phải vì tính cách DỐI TRÁ đó mà người Việt dễ dàng thờ ơ, cam chịu, thỏa hiệp, thậm chí đồng lõa với những chính quyền/KẺ DỐI TRÁ độc tài và tham nhũng!?!

Ở các xứ văn minh, chính quyền không muốn, không thể, không dám DỐI TRÁ, bởi vì người dân TRUNG THỰC.

Vậy đó !

Người Việt ! Hãy phản tỉnh!!!

Fb. CANH LE

—–

TRÍ “LỎI” CỦA TA ĐÂY…

Hồi nhà em ở bên Nga, dân Việt mình biết dân Nga uống rượu dữ lắm, nên mua hết rượu để đầu cơ. Nhẽ ra cửa hàng rượu lúc nào cũng có đủ rượu để bán cho khách, nhưng dân Việt láu cá, đút tiền cho nhân viên để vét sạch rượu, rồi đem bán lại cho người Nga với giá đắt gấp bốn/năm lần.

Nhiều người Nga thèm rượu, ko có tiền, thì đem vật dụng trong nhà ra đổi. Người Nga hay gọi đám người Việt là mafia, và vì họ sống đơn giản, nên họ ghét người Việt mưu mô, xảo trá.

Đa phần họ cho rằng người Việt sang cướp công việc của họ, vét sạch hàng hóa của họ để đầu cơ, rồi khiến họ phải mua lại với giá cắt cổ khi cần.

Khi xem clip mấy cậu trai trẻ người Nga bị bắt lính, trên đường ra trận vẫn tu rượu và cười đùa vui vẻ, thấy buồn và tội nghiệp cho họ. Chỉ sau đó một hai ngày, những người lính Nga này đã chết, chắc chưa kịp tham chiến giờ nào.

Lính Ukraine đã tìm thấy điện thoại trên xác một người lính Nga, nên đăng clip kia lên mạng.

Cái đau lòng của chiến tranh, là hoặc tao giết mày, hoặc mày giết tao, nên người lính ko có quyền lựa chọn.

Cách duy nhất để được sống là đầu hàng. Lính Nga bị bắt ra trận, cách xa nhà hàng nghìn km, bị bao vây, bị bỏ rơi, đói khát, rét mướt, bênh tật v.v…. khốn khổ hơn lính Ukraine rất nhiều.

Nhìn những người lính Ukraine đươc trang bị đầy đủ, vũ khí hiện đại, thấy lính Nga sao mà cơ cực.

Mùa đông đang tới. Trong lịch sử, mùa đông từng là mồ chôn của nhiều đạo quân xâm lược. Ước gì đây là mùa đông cuối cùng của quân xâm lược Nga.

Lời bàn: Tại sao đi đâu cũng bị ghét, mà lúc nào cũng nhâng nhâng:” Biết bố mài là ai không???”

Fb. Đặng Bích Phượng

————

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=2316609508477460&id=100003852994413

“NẾU KHÔNG THAM – NGƯỜI VIỆT KHÔNG PHÁT TRIỂN”!

Lương Văn Kế

“Nếu không tham, người Việt không thể phát triển. Đạo đức giả của người Việt Nam hiện nay đang là chuẩn mực văn hóa. Người nào không biết giả dối, không biết bịa đặt thì không thể phát triển”.

Tuân Tử, từ hơn 2.000 năm trước :

– “Tình và dục là tự nhiên ai cũng có, không thể bớt đi hay bỏ đi mà không hại. Hữu dục mà hợp đạo cũng không hại, khử dục mà trái đạo cũng vô ích”.

Xã hội ngày nay vận hành đúng như vậy. Trách nhiệm, bổn phận của chính quyền là phải “dưỡng dục”, đặt ra những hành lang pháp lý “hợp đạo” sao cho con người có thể “hữu dục” – kể cả tham vọng quyền lực, ham muốn vật chất – mưu cầu lợi ích một cách chính đáng mà không gây hại cho bản thân cá nhân và cộng đồng xã hội.

Vấn đề là, c.ộng s.ản đã “nêu gương” đạo đức giả, giả dối và bịa đặt, rồi “lây nhiễm” ra dân chúng. Rồi c.ộng s.ản và dân chúng cùng “dung dưỡng”, cùng nâng thói đạo đức giả, giả dối và bịa đặt “lên một tầm cao mới”.

– Miệng rao “cách mạng vô sản”, “đạo đức sáng ngời”, “cần kiệm liêm chính”, “trong sạch vững mạnh”, “phòng chống tham nhũng”, tay thâu tóm quyền lực, tay vơ vét tiền của tham nhũng, có phải là đạo đức giả không !?!

– Tự tổ chức bầu cử, tự hiệp thương “đảng cử dân bầu”, tự kiểm phiếu đếm phiếu, tự đắc cử, có phải là giả dối không !?!

– Tự “vừa đi đường vừa kể chuyện”, tự viết tiểu sử, tự viết lịch sử, tự ca ngợi mình “vinh quang, vĩ đại, thần thánh, tiến bộ, ưu việt, đỉnh cao”, có phải là bịa đặt không !?!

…

Kể sao cho xiết !!!

fb. CANH LE

——-

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=100003852994413

1974250229380058&id=

“NGƯỜI VIỆT CAO QUÝ”

Năm 1965, khi quân đội Mỹ ồ ạt đổ bộ vào Miền Nam Việt Nam cùng với lối sống Mỹ, Vũ Hạnh viết “Người Việt Cao Quý” nhằm để người Việt khỏi tự ti trước sức mạnh của một cường quốc.

Nhưng rõ ràng, Việt Nam là một nhược quốc, nên tâm lý tự ti của người Việt là khó tránh khỏi. Trước cường quốc, người Việt thường muốn tỏ rõ tinh thần “tự tôn dân tộc”, nhưng cái hành vi “tự tôn” ở cái vẻ bề ngoài ấy đa phần chỉ phản ánh cái mặc cảm “tự ti” sâu thẳm bên trong, rất ít tinh thần “tự tin”, “tự tại” ; cách hành xử thường nghiêng về “tự ái” hơn là “tự trọng”.

Một trong những nguyên nhân khiến Việt Nam nhược tiểu, khiến người Việt tự ti, chính là thói Dối Trá thâm căn mà người Việt tưởng là “khôn khéo”, tự cho là “khôn ngoan”, thực ra chỉ là “khôn lỏi”, “khôn vặt” …

Người Tàu ngày xưa từng nhận xét : “Dân Giao Chỉ thích dối và ưa nổi loạn”.

Người Pháp đã gọi triều đình Huế là “Cái ổ dối trá”, do sự bất nhất trong lập trường hòa – chiến.

Người Mỹ cũng nhận xét người Việt “thường không thẳng thắn vì những lý do lặt vặt, vì thế hy sinh những mục tiêu quan trọng vì lợi ích của những mục tiêu nhỏ”.

Đành rằng, đó là những nhận xét của đối phương, hay thậm chí, kẻ thù, kẻ thù truyền kiếp, nhưng cũng không thể không xét đến.

Còn người Việt, có tự nhận thấy mình Dối Trá không ?

Cải cách ruộng đất thì “đấu tố” Dối Trá gây oan sai tang tóc cho hàng vạn người …

Chiến tranh thì dùng “chiến tranh nhân dân” Dối Trá, dùng thường dân, thậm chí trẻ em, làm binh lính, dùng binh lính giả làm thường dân, đến khi bị giết thì la ầm lên là “thảm sát thường dân vô tội” …

Bao nhiêu năm nay, có phải ai cũng biết bầu cử là Dối Trá, nhưng ai cũng thờ ơ, cam chịu, thỏa hiệp, thậm chí đồng lõa với Dối Trá. Vậy người Việt có Dối Trá không !?!

Ngay cả những người, bằng nhiều cách như vượt biên, HO, ODP, bảo lãnh, đoàn tụ …, đã từ bỏ xã hội Dối Trá để đi đến được các xứ sở văn minh Trung Thực, nhưng cũng không bỏ được căn tính Dối Trá.

Ở các xứ sở văn minh, con người đối đãi với nhau dựa trên niềm tin vào đức tính Trung Thực, nhưng người Việt đã lợi dụng để Dối Trá như thế nào ?

– Siêu thị không có bảo vệ, người Việt bèn … ăn cắp.

– Hàng hóa cho đổi trả nếu mua về sử dụng mà không vừa ý, người Việt bèn mua váy áo, comple về để đi dự tiệc, sau đó mang ra … trả lại.

– Chính sách trợ cấp tốt, người Việt bèn khai thất nghiệp, đi làm chui lấy tiền mặt, khỏi phải đóng thuế mà vẫn được hưởng trợ cấp … thất nghiệp.

– Chính sách bảo trợ tốt, người Việt muốn được hưởng nhiều hơn bèn làm … li dị giả.

– Chính sách nhập cư tốt, người Việt muốn kiếm tiền bất chính bèn làm … kết hôn giả.

… vv … Muôn hình vạn trạng …

Công chức ở các xứ sở văn minh, nhìn vào hồ sơ đâu phải không biết năm sinh của người được bảo lãnh hay xin nhập cư, nhiều người qua định cư xong thì đã hết tuổi lao động, chưa đóng một đồng tiền thuế nào thì đã được hưởng tiền già, vậy mà họ vẫn xét duyệt. Rất nhân đạo !

Những chính sách tốt ở các xứ sở văn minh không phải tự nhiên mà có, mà phải từ mồ hôi, nước mắt, máu xương đổ ra gian khổ tranh đấu mới có được, người Việt khi qua đó được mặc nhiên thừa hưởng, “tọa hưởng kỳ thành”, đã không giúp gìn giữ, vun bồi mà còn … phá.

Cũng may, người Việt chỉ là thiểu số nên căn tính Dối Trá đó không gây ảnh hưởng nhiều đến xã hội, chứ nếu người Việt chiếm đa số thì chắc chắn sẽ biến các xã hội văn minh Trung Thực ấy thành xã hội man rợ Dối Trá, và sẽ dựng lên chính quyền độc tài Dối Trá.

“Dân chúng nào thì chính quyền đó” !

Đừng hỏi tại sao chính quyền độc tài Dối Trá tồn tại lâu dài ở Việt Nam, mà hãy nghiêm khắc tự xét xem người Việt có độc đoán và Dối Trá không. Câu trả lời nằm ở đó !

Đã có những cá nhân ở các xứ sở văn minh kỳ thị người châu Á, trong đó có Việt Nam, nhưng may mắn nhờ tinh thần nhân đạo và chính sách tốt nên không bùng phát mạnh thành phong trào. Người Việt nên coi đó là “hồi chuông cảnh tỉnh” !

Một dân tộc Dối Trá thì sẽ phải chịu sự khinh bỉ, dù của đồng minh hay kẻ thù !

Một dân tộc Trung Thực thì sẽ nhận được sự tôn trọng, dù của đồng minh hay kẻ thù!

fb. CANH LE

https://www.facebook.com/notes/2704957359768567/

Thánh Maria Faustina

Thánh Maria Faustina

Hôm nay 05/10, Giáo hội mừng kính Thánh Maria Faustina sứ điệp của lòng thương xót Chúa, ước mong bạn cảm nhận được tình yêu vô biên của Thiên Chúa. Mừng quan thầy đến những ai chọn ngài làm bổn mạng nhé.

Cha Vương

Thứ 4: 05/10/2022

Khi vị thánh nữ này cất tiếng khóc chào đời tại Ba Lan ngày 25 tháng Tám năm 1905, thì song thân thánh nữ đã đặt tên cho ngài là Helen. Trong cuộc đời ngắn ngủi tại thế, Helen đã thực hiện một sứ vụ quan trọng là dạy cho thế giới biết về Lòng Thương Xót của Đức Chúa Giêsu. Ngay từ lúc lên 7, Helen đã muốn sống cuộc đời tận hiến cho Thiên Chúa như một nữ tu. Khi được 25 tuổi, Helen vào tu trong dòng Chị Em Con Đức Mẹ Thương Xót, và nhận tên là sơ Maria Faustina.

     Công việc của sơ Maria Faustina thật giản dị. Sơ nấu ăn, làm vườn và giữ cửa cho tu viện. Chỉ có sự tốt bụng, trầm lặng và hồi tâm là đáng lưu ý. Và ít có người biết được những chiều sâu đích thực về đời sống tâm linh của sơ Faustina. Thiên Chúa đã chúc lành cho sơ Faustina Maria bằng nhiều ân sủng đặc biệt, kể cả ơn thị kiến, ơn tiên tri và ơn được nhận năm Dấu Thánh cách vô hình.

     Trong một thị kiến mà sơ Maria Faustina nhận được, Chúa Giêsu đã hiện ra trong y phục màu trắng. Người giơ cao một tay để chúc lành và tay kia thì chạm vào Thánh Tâm Người. Có hai tia sáng phát ra từ Thánh Tâm Chúa Giêsu, một màu đỏ và một màu nhạt. Tia sáng đỏ tượng trưng cho Máu cứu chuộc của Chúa Kitô, còn tia xanh nhạt biểu trưng nước thanh tẩy trong bí tích Rửa tội. Chúa Giêsu nói: “Con hãy cho vẽ lại bức ảnh như con xem thấy Cha, kèm theo dòng chữ: Lạy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Chúa!” Chúa Giêsu đã nói với sơ Maria Faustina rằng Chúa nhật sau lễ Chúa Phục Sinh sẽ được gọi là Chúa nhật kính Lòng Thương Xót.

      Sơ Maria Faustina đã viết nhật ký, chép lại mọi điều Chúa Giêsu muốn cho thế giới biết về Lòng Thương Xót của Người. Trong đó, Maria Faustina đã viết những lời cầu nguyện thật dễ thương, biểu lộ mối tương quan rất mực thân thiết đối với Đức Chúa Giêsu. Và Đức Chúa Giêsu nói với Maria Faustina rằng thánh nữ chính là thư ký nhỏ của Người. Chính công việc đặc biệt của thánh nữ Maria Faustina đã khích lệ nhiều người tin tưởng vào Lòng Thương Xót vô hạn lượng của Thiên Chúa.

     Chúa Giêsu hứa ban ơn tha thứ và ân sủng dư tràn cho bất cứ ai tôn sùng lễ kính Lòng Thương Xót Chúa. Tận hiến cho Lòng Thương Xót Chúa bao gồm tin tưởng vào lòng nhân hậu Chúa, yêu thương tha nhân, năng lãnh nhận bí tích Hòa giải để luôn ở trong tình trạng có ân sủng và rước lễ ngày Chúa nhật kính Lòng Thương Xót Chúa.

     Chỉ sau 13 năm sống trong bậc tu trì, sơ Maria Faustina Kowalska đã về trời vào ngày mùng 5 tháng Mười năm 1938 vì bệnh lao phổi, vừa tròn 33 tuổi.

     Chúa Giêsu đã nói với thánh nữ Maria Faustina Kowalska: “Cha mong muốn con hãy luôn bày tỏ lòng thương xót ra khắp mọi nơi. Con không thể tự biện minh gì về điều này!” Phương thế tốt nhất để chứng tỏ chúng ta tin cậy vào Lòng Thương Xót của Đức Chúa Giêsu là biết tỏ bày lòng thương xót và luôn tha thứ cho những người xúc phạm đến chúng ta. Chúng ta có sẵn lòng cùng nhau thực hiện như vậy không? Vậy hôm nay mời bạn dành thời gian lần chuỗi Lòng Thương Xót Chúa để đền tội mình và tội lỗi của toàn thế giới. Sau đây là câu nói của ngài:

(1) Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi Cực Thánh! Bao nhiêu lần hít thở, bao nhiêu lần nhịp tim đập, bao nhiêu lần dòng máu luân chuyển trong cơ thể con là bấy nhiêu ngàn lần con muốn tôn vinh Lòng Thương Xót Chúa. (Thánh Faustina)

(2) Chúa Thánh Thần không nói với một linh hồn chia trí và lắm lời. Chúa Thánh Thần nói qua những soi động lặng lẽ của người với một linh hồn tịnh tâm, một linh hồn biết giữ thinh lặng. (Thánh Faustina)

Câu nào đánh động bạn nhất?

From: Đỗ Dzũng

40 ngàn cán bộ, công chức thôi việc: vấn đề bình thường?(RFA)

Đài Á Châu Tự Do 

 Từ Nha Trang hôm 4/10, Nhà báo Võ Văn Tạo nhận định với RFA:

“Câu ‘bình thường’ là câu cửa miệng, khi xảy ra chuyện gì ‘không bình thường’ thì thông thường các quan chức Nhà nước luôn lấp liếm là nó ‘bình thường’… 40 ngàn người bỏ việc khỏi khối nhà nước để nghỉ hoặc ra khối tư nhân làm theo tôi là không bình thường một chút nào. Lâu nay trong việc tuyển dụng cán bộ công nhân viên trong khối nhà nước có sự bất công, những người có năng lực tâm huyết thì chưa chắc đã được nhận vào làm. Nhưng con ông cháu cha, những người lo lót mua việc bằng tiền… những người này không phải vào để lãnh đồng lương ba đồng ba cọc, mà họ phải tìm mọi cách nhũng nhiễu, tham nhũng đục khoét của ngân sách, của đồng bào…”

Nhà báo Võ Văn Tạo cho rằng, trong 40 ngàn công chức bỏ việc đa phần là những người có năng lực nhưng không được sử dụng đúng mức. Điều này đã được chứng minh khi rất nhiều chuyên gia giỏi đi đào tạo nước ngoài về nước không chịu được rồi cũng phải ra, hay những người có năng lực, có phẩm chất, có liêm sỉ không chịu được môi trường không trong lành rồi cũng đi. Ông Tạo nói tiếp:

“Thứ hai, một số khác là do đồng lương quá thấp, không đủ sống… xin nghỉ ra ngoài để có thể sống được. Ví dụ như hầu hết lương nhà nước cho kỹ sư ra trường chỉ vài ba triệu, trong khi người giúp việc ở tỉnh lẻ như Nha Trang đã 5 triệu, còn Sài Gòn hay Hà Nội thì bảy tám triệu, thậm chí 10 triệu một tháng. Để lương như thế thì làm sao giữ được người làm việc.”

Theo Nhà báo Võ Văn Tạo, Chính phủ có Bộ Nội vụ quản lý, bên Đảng cũng có một hệ thống song trùng như thế để kiểm soát chuyện đào tạo, tuyển dụng cán bộ công chức… nhưng vẫn để xảy ra hiện tượng công chức bỏ việc như thế. Liên quan bộ máy công chức cồng kềnh của Việt Nam, ông Tạo nói:

“Người ta bảo rằng, việc của một công chức thì năm người cùng làm. Từ lâu trong dân gian đã có một cái câu vè vui: ‘Ai cũng có việc làm, nhưng không ai làm việc. Ai cũng không làm việc, nhưng ai cũng có lương. Ai cũng có lương nhưng không ai đủ sống. Ai cũng không đủ sống, nhưng ai cũng sống. Ai cũng sống, nhưng không ai hài lòng. Ai cũng không hài lòng, nhưng ai cũng giơ tay đồng ý’… Đó là việc rất đáng tiếc ở đất nước ta.”

https://www.rfa.org/…/is-it-normal-for-40000-cadres-and…

40 ngàn cán bộ, công chức thôi việc: vấn đề bình thường?

RFA.ORG

40 ngàn cán bộ, công chức thôi việc: vấn đề bình thường?

Theo số liệu của Bộ Nội vụ Việt Nam, trong hai năm rưỡi qua có gần 40 ngàn cán bộ công chức bỏ việc chuyển sang khu vực tư nhân.

Bắt thêm 2 cựu cán bộ thuộc Bộ Ngoại Giao ‘dính’ vụ ‘chuyến bay giải cứu’

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Cơ Quan An Ninh Điều Tra Bộ Công An đã bắt tạm giam bị can Nguyễn Hồng Hà, cựu cán bộ Tổng Lãnh Sự Quán Việt Nam tại Nhật, để điều tra về tội “nhận hối lộ” liên quan đến vụ “chuyến bay giải cứu.”

Hôm 4 Tháng Mười, nói với báo Tuổi Trẻ, ông Tô Ân Xô, chánh văn phòng kiêm phát ngôn viên Bộ Công An, cho biết ngoài ông Hà, Cơ Quan An Ninh Điều Tra cũng ra quyết định khởi tố, bắt tạm giam bà Nguyễn Lê Ngọc Anh, 34 tuổi, cựu cán bộ Đại Sứ Quán Việt Nam tại Malaysia, để điều tra về tội “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ.”

Ông Nguyễn Hồng Hà khi còn là cán bộ Tổng Lãnh Sự Quán Việt Nam tại Nhật. (Hình: Tuổi Trẻ)

Trước đó, hai ông Nguyễn Quang Linh, 48 tuổi, trợ lý Phó Thủ Tướng Thường Trực Phạm Bình Minh; và ông Nguyễn Thanh Hải, 51 tuổi, vụ trưởng Vụ Quan Hệ Quốc Tế thuộc Văn Phòng Chính Phủ Việt Nam, bị bắt giữ do liên quan vụ “chuyến bay giải cứu.”

Ông Xô cho biết ông Hà, bà Ngọc Anh là người thứ 22 bị “xử lý hình sự” sau tám tháng điều tra và là diễn biến mới nhất trong vụ án “đưa hối lộ, nhận hối lộ, lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” và “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” xảy ra tại Bộ Ngoại Giao, Bộ Công An, Bộ Y Tế, Bộ Giao Thông Vận Tải, Văn Phòng Chính Phủ và các đơn vị liên quan ở Hà Nội và các tỉnh, thành phố khắp Việt Nam.

Theo báo VNExpress, trong các bị can, quan chức cao nhất bị khởi tố đến nay tại Bộ Ngoại Giao có ông Tô Anh Dũng, thứ trưởng; bà Nguyễn Thị Hương Lan, cục trưởng Lãnh Sự; ông Đỗ Hoàng Tùng, cục phó Lãnh Sự; ông Lê Tuấn Anh, chánh văn phòng Cục Lãnh Sự; ông Lưu Tuấn Dũng, phó Phòng Bảo Hộ Công Dân Cục Lãnh Sự.

Tại Cục Quản Lý Xuất Nhập Cảnh của Bộ Công An, ông Trần Văn Dự, cục phó, cùng hai cán bộ dưới quyền là Vũ Sỹ Cường và Vũ Anh Tuấn cũng bị bắt về tội “nhận hối lộ.”

Ngoài ra, cơ quan điều tra đã khởi tố ông Phạm Trung Kiên, chuyên viên Vụ Trang Thiết Bị và Công Trình Y Tế thuộc Bộ Y Tế; ông Ngô Quang Tuấn, chuyên viên Vụ Hợp Tác Quốc Tế thuộc Bộ Giao Thông Vận Tải; bà Nguyễn Mai Anh, chuyên viên Vụ Quan Hệ Quốc Tế, Văn Phòng Chính Phủ.

Ông Bùi Huy Hoàng, cán bộ Cục Y Tế Dự Phòng thuộc Bộ Y Tế, hiện là người duy nhất bị điều tra cáo buộc tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản.”

Theo cơ quan hữu trách, từ năm 2020 đến nay, Bộ Ngoại Giao phối hợp với bộ, ngành thành lập “Tổ Công Tác Năm Bộ” đã tiến hành hơn 2,000 chuyến bay đưa hàng trăm ngàn công dân Việt Nam từ 60 quốc gia, vùng lãnh thổ về nước trong các đợt dịch COVID-19.

“Gần 2,000 chuyến bay giải cứu, mỗi chuyến thu lợi khoảng 2 tỷ đồng ($86,236),” ông Tô Ân Xô được tờ Công An Nhân Dân dẫn lời.

Các cán bộ bị bắt trong vụ “chuyến bay giải cứu.” (Hình đồ họa: VNExpress)

Ông Xô cũng nhấn mạnh rằng con số nêu trên là “lợi nhuận” sau khi trừ các chi phí của chuyến bay. Và nếu đúng như lời ông Xô nói, thì các giới chức trong đường dây tổ chức “bay giải cứu” thu lợi bất chính tổng cộng đến 4,000 tỷ đồng ($172.5 triệu).

Tuy vậy, cả ông Xô lẫn các báo nhà nước không nói rõ khoản lợi nhuận ròng sau mỗi “chuyến bay giải cứu” rơi vào túi của những ai, có được thu hồi hay chưa. Đặc biệt, “trùm cuối” vẫn chưa bị lộ. (Tr.N)