Ngày nầy, năm 1975… (Tiểu Tử)

Ngày nầy, năm 1975… (Tiểu Tử)

Ngày nầy, năm 1975… (Tiểu Tử)

Năm nay tôi 80 tuổi. Vợ tôi thường nói với mấy con: ”Ông bà mình nói người già hay sanh tật, đúng quá! Bây coi: ba bây bây giờ sáng nào uống cà phê xong cũng lại đứng trước tấm lịch tháng treo ở phòng khách, nhìn trầm ngâm một chút rồi lấy bút gạch tréo ô vuông đề ngày hôm qua ! Chi vậy hổng biết ? Hỏi ổng thì ổng nói gạch để nhớ rằng đến ngày nầy tháng nầy mình vẫn còn trôi sông lạc chợ ! Trời đất ! Định cư ở Pháp từ hơn ba mươi năm chớ phải mới đây đâu mà đi gạch lịch từng ngày ! Ổng còn nói gạch để coi chừng nào mình mới thôi gạch để về lại Việt Nam“

Câu nói của tôi là sự thật nhưng vì vợ tôi không hiểu nên cho là tôi già sanh tật ! Làm sao giải thích được mỗi lần tôi gạch tréo một ngày như vậy tôi có cảm tưởng như là tôi vừa nhích lại gần quê hương một chút – một chút thôi – đủ để nuôi hy vọng thấy một ngày nào đó mình vẫn còn sống mà trở về…

Sáng nay, cũng giống như mọi ngày, tôi cầm bút gạch tréo ô vuông ngày hôm qua. Ô vuông ngày hôm nay đập vào mắt tôi làm tôi giật mình: ngày nầy, năm 1975 ! Tôi bỗng nhớ ra, nhớ rõ, những gì đã xảy ra ngày đó, nhớ như in. Rồi sợ “cái ngày đó” nó vuột khỏi ký ức vốn đã quá hao mòn của tuổi già, tôi vội vã lấy giấy bút ghi lại…

…..

Hồi thời trước 75, tôi làm việc cho một hãng dầu ở Việt Nam, phụ trách nhập cảng xăng dầu từ Singapore vào kho dầu Nhà Bè để cung ứng cho thị trường dân sự và quân sự miền nam Việt Nam. Vì trong xứ có giặc nên thị trường quân sự chiếm 60%, trong đó xăng máy bay dẫn đầu. Các bạn tôi trong quân đội giải thích cho tôi biết rằng ở chiến trường miền nam sự yểm trợ của không lực là quan trọng nhứt. Do đó, tôi luôn luôn theo dõi sát tình hình dự trữ xăng máy bay ở các kho dầu miền nam, từ kho Nại Hiên Đà Nẵng dẫn xuống kho Cần Thơ thông qua kho lớn ở Nhà Bè…

Vào cuối tháng 3 năm 1975, sau lịnh triệt thoái cao nguyên, tình hình quân sự trở nên ồ ạt. Sợ trở tay không kịp, tôi còm-măng Singapore một tàu xăng máy bay. Hay tin nầy, hãng bảo hiểm có hợp đồng với hãng dầu tôi làm việc đánh điện phản đối, không cho tàu dầu qua Việt Nam viện cớ tình hình bất ổn. Đánh điện qua, đánh điện lại, cù cưa cả tuần họ mới bằng lòng cho tàu dầu qua, với điều kiện phải có hộ tống của Navy Mỹ họ mới cho tàu vào sông Sàigòn để cập kho Nhà Bè !

Tôi báo cáo với ban giám đốc vì lúc đó ở kho lớn Nhà Bè trữ lượng xăng máy bay chỉ còn đủ có bày ngày tác chiến của không quân. Ban giám đốc chấp thuận điều kiện của hãng bảo hiểm. Tôi vội vã gọi điện thoại lại cơ quan yểm trợ Mỹ để xin họp khẩn. Ông trưởng sở trả lời: ”Tôi sẽ đến ngay văn phòng ông. Cho tôi mười phút !“. Tôi quen ông nầy – tên W, thường được gọi là ”Xếp” – nhờ hay đi họp chung. Ông ta dễ thương nhã nhặn, biết chút đỉnh tiếng Pháp nên lần nào gặp tôi cũng nói: ”Bonjour ! çà va ?” (Chào ông ! Mạnh hả ?)

Xếp W đến văn phòng tôi với hai người phụ tá. Tôi đã làm sẵn hồ sơ nên sau khi mời ngồi, tôi trao ngay cho họ để họ dễ theo dõi những gì tôi sẽ trình bày. Mười phút sau, tôi kết luận xin can thiệp gấp để tàu dầu xăng máy bay của hãng tôi được hộ tống, không quên nhắc lại điểm chánh yếu là trữ lượng xăng máy bay chỉ còn đủ để chiến đấu trong vòng có bảy bữa !

Nghe xong, Xếp W xin phép bước ra ngoài gọi radio về trung ương. Một lúc sau, ông trở vào, nét mặt và giọng nói vẫn tự nhiên như chẳng có gì quan trọng hết: “Rất tiếc ! Chúng tôi không giúp được ! Thôi ! Chúng tôi về !“. Tôi đang nghe nghẹn ngang ở cổ thì ông W vỗ vai tôi nói nhỏ bằng tiếng Pháp: “Allez vous en !” (Ông hãy đi, đi !). Ra đến cửa phòng, ổng ngừng lại nhìn tôi, gật nhẹ đầu một cái như để chào nhưng tôi nghĩ là ổng muốn nhắc lại câu nói cuối cùng ”Allez vous en !” (Ông hãy đi, đi !) …

Tôi ngồi bất động, nghe tức tràn lên cổ vì thấy mình bất lực quá và cũng nghe thương vô cùng cái quê hương nhỏ bé của mình, nhược tiểu đến mức độ mà khi cần nắm tay để kéo đi theo thì ”họ” dán… đầy đường cái nhãn ”hai bàn tay nắm lấy nhau” để chứng tỏ sự thật tình ” khắn khít “, rồi khi không còn cần nữa thì cứ tự nhiên buông bỏ không ngượng tay giấu mặt, vì biết mười mươi rằng ”thằng nhược tiểu đó không làm gì được mình” !

Tôi ráng kềm xúc động, bước qua phòng họp của ban giám đốc, chỉ nói được có mấy tiếng: ”Chánh quyền Mỹ từ chối!“. Sau đó, tôi đánh điện qua Singapore, cũng chỉ bằng một câu: ”Không có hộ tống“. Họ trả lời ngay: ”OK! Good Luck!” (Nhận được ! Chúc may mắn !) Hai chữ cuối cùng, trong hoàn cảnh nầy và vào thời điểm nầy, nghe sao thật đầy chua xót !

Thấy mới có ba giờ chiều, nhưng không còn lòng dạ đâu để ngồi lại làm việc nên tôi lái xe về nhà. Tôi lái như cái máy, cứ theo lộ trình quen thuộc mà đi. Về đến trước nhà, tôi bỏ xe ngoài ngỏ, đi bộ vô. Vợ tôi chạy ra, ngạc nhiên: ”Sao về vậy anh?“. Tôi không nói được gì hết, chỉ gục đầu vào vai vợ tôi rồi bật khóc. Vợ tôi chưa biết những gì đã xãy ra nhưng chắc nàng đoán được rằng tôi phải đau khổ lắm mới phát khóc như vậy. Cho nên nàng vừa đưa tay vuốt vuốt lưng tôi vừa nói, giọng đầy cảm xúc: “Ờ…Khóc đi anh ! Khóc đi !“

Ngày đó, tháng tư năm 1975… Đúng là ngày nầy!

Tiểu Tử

 Tương Tác Giữa Thuốc Và Thực Phẩm

Bài rất hay và hữu ích cho sức khỏe, nên lưu lại để truy lục khi cần thiết…

Re: Tương Tác Giữa Thuốc Và Thực Phẩm

Bác Sĩ NGUYỄN THƯỢNG CHÁNH – DVM.

Từ lâu , người ta đả biết rằng một vài loại thức ăn , hoặc thức uống có thể ảnh  hưởng  đến sự hấp thụ và tác dụng của  thuốc  sử dụng . Khoa học gọi đây là hiện tượng tương tác (interaction) giữa thực phẫm và dược phẫm. Tác dụng của món thuốc có thể bị thay đổi, như nó có thể bị gia tăng, suy giãm, hoặc bị vô hiệu quá.  Một số phản ứng phụ ( effets indésirable , side effects )  cũng nhân đó mà xuất hiện ra . Liều lượng thuốc sử dụng, tuổi tác , sức nặng của bệnh nhân , nam hay nử , ăn lúc nào , uống thuốc lúc nào củng như tình trạng sức khỏe đều là nhửng nhân tố có thể ảnh hưởng và chi phối hiện tượng tương tác.

Một vài thí dụ điển hình

(Trong thực tế còn rất nhiều loại dược phẫm không được nêu ra ở đây)

1-     Các loại thuốc kháng sinh trị nhiễm trùng

Penicillin ( Amoxicillin, Ampicillin) , Erythromycine : tránh ăn hay uống những thứ có tính chua hay acid , như nước trái cây , nước cam ,cà tomate , café . Dùng nhửng loại thực phẫm nầy sẻ làm tăng độ acid của bao tử và làm giãm tác dụng của thuốc . Nên uống lúc bụng trống , nghỉa là 1 giờ trước , hoặc 2 giờ sau khi ăn .Trường hợp bị xót bao tử thì nên ăn một chút thức ăn lúc uống thuốc .

Tetracycline , Ciprofloxacin ( Cipro)  : tránh ăn , hay uống nhửng thực phẫm có chứa nhiều calcium , như sữa , crème glacée ,  fromage , và yogourt .Củng không nên uống chung  với các loại vitamins hay supplements có chất sắt .Với nhửng loại thức ăn nầy , thuốc sẽ bị kém tác dụng đi . Nếu uống chung với  café , Coca Colas , trà , chocolat  , sẻ làm gia tăng nồng độ caffeine trong máu lên nhiều ,và gây kích thích  , bồn chồn . Củng không nên uống chung với các loại  thuốc  làm giãm độ chua  của bao tử thường được gọi là antacids như Maalox , Mylanta ….

Metronidazole ( Flagyl ) trị nhiễm trùng đường ruột và đường sinh dục : tránh rượu vì  có thể làm xót dạ dầy , làm đỏ mặt ( flushing ) , nhức đầu , đau bụng và nôn mửa . Các loại Sulfonamides , như Sulfamethazole + Trimetroprim ( Bactrim , Septra ) : tránh rượu vì có thể làm nôn mửa . Nên uống lúc bụng trống . Nếu cãm thấy khó chiụ , thì có thể ăn một chút gì đó .

2- Các loại thuốc chống nhiễm trùng do nấm ( antifungals )

Griseofulvin ( Grifulvin) , Ketoconazole ( Nizoral)  : tránh uống chung với sữa, fromage, yogourt , cà rem, và củng không nên dùng cùng một lúc với các loại thuốc antacids .  Tránh uống rượu, vì sẻ bị đỏ mặt , nhức đầu , đau bụng và nôn mửa .

3- Các loại thuốc chống đau nhức có codeine và narcotique

Codeine + Acetaminophen ( Tylenol avec Codeine ), Morphine, Oxycodone +Acetaminophen( Percocet ) , Meperidine ( Demerol ) : Không nên uống rượu cùng 1 lúc với thuốc , vì sẻ làm gia tăng sự ngầy ngật và buồn ngủ , rất nguy hiểm nếu phải lái xe hay sử dụng máy móc …. Nên uống thuốc lúc bụng đầy để khỏi làm xót bao tử

4- Các loại thuốc làm giãm viêm sưng và làm giãm đau nhức .

Acetylsalicylic ( Aspirin) ,Ibuprofen(Advil , Motrin ), Naproxen, Feldene     vv…nên uống lúc bụng đầy hay uống với sửa để khỏi xót dạ dầy .

Tránh dùng chung với rượu hay với các loại nước trái cây có tính chua . Rượu có thể làm hại gan và tăng nguy cơ xuất huyết bao tử . Tốt nhất là nên dùng các loại Aspirin có áo bọc bên ngoài ( buffered Aspirin , enteric coated Aspirin ) để không làm hại bao tử . Acetaminophen ( Tylenol , Tempra ) không hại  bao tử , muốn có hiệu quả cấp thời ,nên uống lúc bụng trống . Tuy nhiên đối với nhửng người nào thường hay uống rượu ,củng có thể bị hại gan và xuất huyết bao tử. Đối với các thuốc nhóm Corticosteroide trị viêm sưng , ngứa ngái , như Dexamethasone , Hydrocortisone, Prednisone, Triamcinolone  vv… , nên tránh rượu để khỏi làm xót bao tử. Các loại thuốc nầy có khuynh hướng giử nước cho nên cần tránh nhửng thức ăn có chứa nhiều muối sodium .  . Nên dùng nhửng thực phẫm nào có nhiều calcium   như sữa   chẳng hạn . Uống thuốc lúc bụng đầy để không xót bao tử .

5 – Các loại thuốc trị bệnh tiểu đường .

Ví dụ Chlopropamide ( Diabinese ) : Tránh rượu vì  có thể làm đỏ mặt và gây nôn mửa    . Tránh nhửng thực phẫm chứa nhiều bột đường ( carbohydrate ) nhưng lại chứa ít chất xơ .  Tốt hơn hết nên theo lời chỉ dẩn của bác sĩ và dược sĩ .

 6 – Các loại thuốc chống suy nhược tinh thần ( trầm cảm ) thuộc nhóm IMAO

Phenelzine ( Nardil) có thể tương tác với chất Tyramine hiện diện trong một số các loại fromage cứng , chocolat , gan bò , gan gà , rượu chát ,trong trái  avocado và trong các loại saucisse khô . Bệnh nhân bị nôn mửa , áp huyết động mạch gia tăng, và có thể bị tai biến mạch máu não .

7-    Các loại thuốc an thần khác như Paroxetine ( Paxil) , Sertraline ( Zoloft)

Fluoxetine ( Prozac ) : có thể uống lúc bụng trống hay bụng đầy . Tránh rượu

8 –  Các loại thuốc chống lo âu phiền muộn ( Anti anxiety drugs)

Lorazepam ( Ativan)  , Diazepam (Valium) , và Aprazolam ( Xanax ) : Tránh sử dụng máy móc    vì sẻ bị ngầy ngật , và phản ứng chậm lại lúc lái xe .  Café ngược lại sẻ kích thích, gây bồn chồn, và làm giãm sự công hiệu của thuốc .

9 – Các loại thuốc antihistamines chống dị ứng

Diphenhydramine ( Benadryl )  , Chlorpheniramine ( Chlor-Tripolon ) , Loratadine ( Claritin ) , Brompheniramine ( Dimetane ), và  Asternizole ( Hismanal ) : Nên uống lúc bụng   trống để tăng hiệu quả của thuốc . Không uống chung   với rượu , sẻ  làm tăng sự ngầy ngật và buồn ngủ . Các loại sirop để trị ho cảm  có chứa chất Dextromethorphane (  Sirop Balminil DM ) củng không nên được uống chung với rượu .

10 – Các loại thuốc làm giãn nở phế quản và trị hen suyển

Theophylline ( Theo- Dur) , Aminophylline ( Phyllocontin ) , không nên dùng nhửng thứ gì có caffeine ( trà ,café , Coke , Pepsi  vv…) Vì thuốc và caffeine đều kích thích hệ thần kinh trunh ương . Tránh rượu vì có thể bị nhức đầu và nôn mửa .

Theophylline , thức ăn nhiều   chất béo làm tăng chất thuốc trong cơ thể lên , còn ngược lại với thức ăn nhiều bột dường sẻ làm giãm chất thuốc  xuống .

Các loại thuốc trị bệnh tim và tuần hoàn

A –  Thuốc lợi tiểu ( Diuretics ) giúp đem nước ra ngoài cơ thể , và có 2 nhóm :

Nhóm làm mất Potassium, như Furosemide ( Lasix) và Hydrochlorithiazide ( HydroDiuril) : tránh dùng thực phẫm có nhiều muối sodium ( thịt nguội , bacon, đồ  hộp , bột ngọt ) vì chúng sẻ làm thất thoát potassium ra ngoài, gây xáo trộn các điện giải, và có hại đến sức khoẻ .

Nhóm giử potassium, như Tramterene ( Dyrenium) ,và Spironolacton ( Aldactone) : tránh dùng thực phẩm có chứa nhiều potassium như chuối , trái cây khô , mọng lúa mì , nước cam ( 2-3 ly )  , sung khô , hoặc sử dụng nhửng chất thay thế muối ( salt substitude ) có chứa nhiều potassium . Sự thặng dư potassium rất có hại cho tim , làm nó đập không đều .

B- Thuốc làm giản nở mạch, giãm áp huyết và điều hòa nhịp tim .

Catopril ( Capoten) , Enalapril ( Vasotec ) ,Nitroglycerine ( Nitrostat ), Atenolol ( Tenormin ) ,  Hydralazine ( Aprelosine ) , Methyldopa ( Aldomet ) và Metoprolol ( Lopressor ) : cần giãm thực phẫm có nhiều muối sodium .  Tránh rượu , vì áp huyết có thể hạ xuống quá thấp . Capoten có thể làm tăng chất potassium trong cơ thể , rất hại cho nhịp đập của tim ,  bởi vậy cần nên tránh dùng nhửng thực phẫm có nhiều potassium như chuối , cam và rau cải có lá thật xanh lúc uống thuốc nầy .  Thức ăn có thể làm giãm việc hấp thụ của thuốc Capoten  , nên uống 1 giờ trước khi ăn hoặc 2 giờ sau khi dùng bửa .  Đối với thuốc Digoxin , nếu ăn quá nhiều chất xơ và chất pectin ( có trong các loại jelly ) , sự hấp thụ của thuốc có thể bị giãm đi .

C –  Các thuốc làm giãm cholesterol

Thuờng được gọi chung là “Statins” . Tác dụng chính là làm giãm loại cholesterol xấu ( LDL ) . Một vài loại thuốc củng có thể  giúp kéo chất béo triglyceride xuống nửa . Thí dụ : Atorvastatin ( Lipitor ) , Simvastatin ( Zocor ) , và Lovastatin ( Mevacor ) , Pravastatin ( Pravachol) .  Mevacor và Pravachol nên được uống  vào bửa cơm tối  để tăng sự hấp thụ của món thuốc . Tránh uống nhiều rượu vì có thể hư gan .

Các thuốc làm loảng máu và thuốc kháng đông ( Anticoagulant)

Warfarin ( Coumadin ) :  vitamin K làm đông máu nên có ảnh hưởng ngược lại với các loại thuốc kháng đông . Nếu uống Coumadin thì nên tránh dùng nhửng thực phẫm có chứa nhiều vitamin K như  cải broccoli , rau mồng tơi ( spinach ) , turnip ,   bông cải ( cauliflower ) , cải brussel ( brussel sprouts ) .  Ngoài ra nếu có uống thêm supplement vitamin E  với liều lượng lớn trên  400 IU thì coi chừng nguy hiểm  vì nó có thể làm gia tăng sự  xuất huyết

Các  thuốc trị bệnh dạ dầy và ruột

Cimetidin ( Tagamet ) , Ranitidine ( Zantac ) , Famotidin ( Pepcid ) là nhửng thuốc trị loét bao tử  bằng cách giãm  độ chua acid của cơ quan nầy . Tránh rượu , café và thuốc lá . Đối với nhửng thuốc antacids làm giãm độ chua của dạ dầy như thuốc Mylanta và Maalox , nên tránh  dùng chung với sửa , crème glacée , fromage và yogourt .

Các thuốc nhuận trường và thuốc xổ  .

Lạm dụng nhửng thuốc loại nầy sẻ dẩn đến tình trạng cơ thể có thể bị mất các vitamins A,D,E, K , chất khoáng Potassium  , Sodium , và các dưởng chất do thực phẫm mang vào . Nếu sử dụng loại dầu huile minérale  để làm thuốc xổ thì sẻ  bị mất đi các vitamin hòa tan trong  chất béo  , như các vitamins A,D,E K .

Cẩn  thận với nước  bưỡi.

Nước bưởi ( grapefruit juice ) , củng như bưởi trái có thể  làm gia tăng gấp bội  mức độ hấp thụ của một số thuốc vào trong máu , đồng thời củng kéo theo nhửng phản ứng bất lợi nguy hiễm . Cam và chanh không thấy có ảnh hưởng nầy . Sau đây là nhửng thí dụ :

*- Thuốc trị cao áp huyết : Felodipine ( Plendil) , Nifedipine ( Adalat) , Nimodipine (Nimotop )

*- Thuốc làm giãm cholesterol : Simvastatin ( Zocor) , Lovastatin ( mevacor ), Atorvastatin ( Lipitor ) .

*- Thuốc làm giãm sức miển nhiễm dùng ở nhửng ca ghép bộ phận  : Cyclosporine ( Neoral)

*- Thuốc trị lo âu , mất ngủ, suy nhược tinh thần : Diazepam ( Valium), Triazolam ( Halcion)  , Carbamazepine ( Tegretol) , Trazodone ( Desyrel) , Chlomipramine ( anafraninl ) .

*- Thuốc trị dị ứng : Astremizole ( Hismanal ).

*- Thuốc trị Sida : Saquinavir ( Fortovase )

Nên uống thuốc với nước gì ?

RƯỢU :  là thứ cần nên tránh nhất lúc uống thuốc . Rượu thường làm đỏ mặt , nhức đầu , ói mửa , tim đập nhanh, làm ngầy ngật , gây buồn ngủ thêm . Các loại thuốc trị dị ứng  củng như nhửng loại thuốc có chứa morphine đều không  được uống chung  với rượu .

NƯỚC NGỌT CÓ GAZ : ví dụ Pepsi, Coke  vv…đều có tính làm tăng nhanh thời gian loại thải thuốc ra ngoài bao tử .

CAFÉ :   Một số thuốc có thể làm chậm lại sự biến duởng của café trong gan , vì vậy tác dụng của chất caffein tồn tại rất lâu trong cơ thể ,và gây ra một số phản ứng phụ bất lợi như làm tim đập nhanh và làm mất ngủ .

SỮA :   Calcium trong sữa sẻ kết hợp với Tetracycline để tạo thành 1 hổn hợp không hấp thụ được .

TRÀ :  Các hoạt chất của trà sẻ kết hợp với các chất sắt trong thuốc để tạo nên 1 hổn hợp không thể hấp thụ được . Tránh uống  các supplement có chứa chất sắt với nước trà .

NƯỚC LẠNH :  Uống thuốc với 1 ly nước lạnh là tốt nhất .

KẾT  LUẬN:

Đại học Laval , Quebec gần đây đả thực hiện 1 cuộc thăm dò về cách sữ dụng thuốc ở giới cao niên .  . Kết quả thật đáng ngại : 70% không hiểu rỏ nhửng lời chỉ dẩn ghi trên lọ thuốc , trong số nầy 50% không tôn trọng cách dùng thuốc  củng như thời gian trị liệu  . Hậu quả là 20% bệnh nhân  điều trị ở bệnh viện đều có nguyên do bắt nguồn từ thuốc mà ra …như dùng thuốc không đúng cách , dùng không đúng liều lượng  chỉ dẩn , phản ứng phụ quá mạnh  vv… Ngăn ngừa sự tương tác xảy ra , không có nghỉa là phải nhịn ăn , hay nhịn uống . Điều quan trọng ở đây là cần phải biết rỏ là mình có thể ăn những gì, lúc nào có thể ăn được và lúc nào có thể uống được . Muốn biết rỏ, không gì tốt hơn là nên hỏi  và  nghe theo lời chỉ dẩn của bác sĩ  và dược sĩ .

Nguyễn Thượng Chánh, DVM

From:Truong Le

HAI NỀN GIÁO DỤC CHO RA HAI LOẠI NGƯỜI

HAI NỀN GIÁO DỤC CHO RA HAI LOẠI NGƯỜI:

Nếu con người được giáo dục trong tình yêu thương, lớn lên trong sự lễ, nghĩa và trưởng thành trong liêm, chính thì sẽ không thể làm điều ác, lại càng không thể trở thành kẻ ác được.

Nhưng trái lại, kẻ hoạt đầu, không biết đến điều nhân, lễ, nghĩa, không biết đến tín, trung, bỏ cả đường liêm, chính quy thuận sự vô luân, tôn thờ chủ nghĩa tam vô như:

” Yêu biết mấy nghe con tập nói / Tiếng đầu lòng con gọi Sta-lin…/

Thương cha thương mẹ thương chồng / Thương mình thương một thương ông thương mười! ” ;

” Bên kia biên giới là nhà / Bên nay biên giới cũng là quê hương / Bên ni biên giới là mình / Bên kia biên giới cũng tình quê hương” v.v…

(Tố Hữu).

Như vậy phải chăng xác nhận nước tàu được kéo dài mãi đến tận Mũi Cà Mau? Chưa biết sao, nhưng trước mắt từ cái nền giáo dục, văn hóa của ông Tố Hữu đã lồ lộ cái họa cho đời, cho đất nước, dân tộc này lắm rồi… 

Từ những con đường bị một nền giáo dục nhồi nhét đó thì ai cũng hiểu và biết rằng hậu quả đường chúng ta hôm nay sẽ đi về đâu nếu tiếp tục? (Đại cục đang lừng lững trước mắt mà ám ảnh thời kỳ Khơme đỏ năm nào)

Một con người, một dân tộc không thể trưởng thành, đứng vững nếu như không biết tự võ trang cho mình thông qua nền giáo dục những cái Dũng của thánh nhân nhờ tín ngưỡng ban cho, cái Khí Tiết của hào kiệt của ông cha ban tặng từ nguồn gien bất khuất, cái Tâm của Nhân Bản do nền giáo dục tự do, khai phóng đem đến để làm nền tảng làm Người, làm nền tảng cho một xã hội. Nền giáo dục tốt thì nhận thức sẽ mạnh mẽ, không chấp nhận nghịch cảnh bao giờ: Có thể nghèo khó, mồ côi là một định kiến, một lối mòn mà xã hội muốn thử thách ta, xem thường ta thậm chí miệt thị ta. Nhưng, như cái lò xo càng dồn nén khó khăn thì tích tụ một sức bật khủng khiếp.. Nhớ rằng:” Mọi ông chủ vĩ đại đều từng là những người làm công ở vị trí thấp nhất. Họ đều rẽ trái trong khi mọi người rẽ phải. Họ có những quyết định không theo đám đông, không cam chịu sống một cuộc đời tầm thường, nhạt nhoà rồi chết “.

Nếu không được trang bị hay tự nhận thức được như vậy thì cái Trí của con người được học mót đâu đó thay vì giúp ích cho tha nhân, lại thành kẻ vị kỷ mà gây họa cho xã hội. Bởi khi bỏ một trong Liêm, Minh, Chính là nền tảng luân lý của xã hội thì chắc chắn phải bước vào đường bạo ác, bỏ chính quy tà đem họa cho dân, cho nước.

Mấy ai dám nghĩ về một “Làng chài nhỏ bé ” không có đất, không có ruộng, không có nước” nhưng biết tạo cho mình những phẩm chất giá trị để quyến rủ các siêu cường đến với mình và không thể bỏ rơi mình, để phục vụ cho mình, để hợp tác, buôn bán làm ăn, tạo nên giàu có cho mình để trở thành một đất nước Singapore phồn thịnh, hùng cường hôm nay.

Và một đất nước khác, Israel nhỏ bé, ít dân nhưng với ý chí vượt khó và hoài bão lập nghiệp, lập thân, lập quốc, biết ý thức muốn tồn tại thì phải có sức khỏe để xây dựng nên được nền y tế cao, biến sa mạc cằn cỗi, hoang tàn, khí hậu khắc nghiệt thành một vùng đất có nền nông nghiệp trù phú năng suất cao, chất lượng cao. Họ còn ý thức muốn vươn lên thì phải có những con người mạnh mẽ, dám đương đầu với mọi nghịch cảnh hay đe dọa nên họ cũng có một nền giáo dục đặc biệt để ai ai cũng có thể làm được nhiều việc mà việc nào cũng làm tốt, dám xả thân cho Tổ quốc, cho dân tộc mình…

From: Công Trung Nguyen

Chúa Giêsu đến để xét xử chúng ta và xét xử toàn thế giới, nghĩa là thế nào?

Chúa Giêsu đến để xét xử chúng ta và xét xử toàn thế giới, nghĩa là thế nào?

Ước mong bạn cảm nhận được Chúa luôn ở bên cạnh bạn trên mọi nẻo đường hôm nay. Một weekend bình yên vô sự nhé.

Cha Vương

Thứ 6: 06/05/2022

GIÁO LÝ: Nói rằng Chúa Giêsu đến để xét xử chúng ta và xét xử toàn thế giới, nghĩa là thế nào? Nghĩa là chính Chúa Giêsu không thể giúp cho ai được, nếu chính họ không muốn biết đến bác ái yêu thương. Như thế, họ tự xét xử chính mình. (YouCat, số 112)

SUY NIỆM: Bởi vì Chúa Giêsu là Con Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống (Ga 14,6). Người sẽ mặc khải cho biết đối với Thiên Chúa điều gì là quan trọng, điều gì là không. Sự thật đầy đủ về mỗi người sẽ được Chúa đánh giá tùy theo thước đo những việc làm, những tư tưởng, những biến cố trong cuộc đời riêng tư của họ. (YouCat, số 112 t.t.)

❦ Thiên Chúa không loại bỏ một linh hồn nào, bởi vì chính là linh hồn tự loại bỏ mình: mỗi người là thẩm phán của mình. (Jacob Böhme, 1575–1624, nhà thần bí Đức)

❦ Chúa dựng nên con không cần có con nhưng để cứu chuộc con, Chúa cần sự cộng tác của con. (Thánh Augustino)

Bạn đã và đang làm gì cho phần rỗi của bạn và tha nhân?

LẮNG NGHE: Ngày đó, Thiên Chúa sẽ thưởng phạt mỗi người tùy theo việc họ làm; những ai bền chí làm việc thiện mà tìm vinh quang, danh dự và phúc trường sinh bất tử, thì Thiên Chúa sẽ cho họ được sống đời đời; còn những ai chống Thiên Chúa mà không vâng phục chân lý và chạy theo điều ác, thì Người sẽ nổi trận lôi đình, trút cơn thịnh nộ xuống đầu họ. (Rm 2:6-8)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, hằng ngày Chúa ban con vô vàn món quà, từ của ăn tinh thần đến vật chất, Chúa ban cho con nhiều hơn con đáng được, nhưng con đã làm gì với những món quà ấy. Xin cho con biết sống xứng đáng là con của Chúa để rồi những món quà ấy sẽ sinh ích cho phần rỗi đời đời của con và tha nhân.

THỰC HÀNH: Nếu Chúa dùng thước đo từ 1 đến 10: 1 là kém nhất và 10 là tốt nhất, để đo tư tưởng, lời nói, hành động, và lối sống đạo của bạn, liệu bạn có đủ điểm để lãnh bằng khen hôm nay không hả? Hãy cố gắng sống tốt đẹp hơn và lo cho phần rối của chính bản thân bạn và tha nhân nhé.

Sổ tay thường dân Tưởng Năng Tiến – Nổ

Thế sự xác rồi còn đốt pháo (Tú Xương)

Nhà văn Bá Dương có cái tật xấu là hay viết những điều không tốt lành gì mấy về đồng bào mình: “Nói đến ồn ào, cái mồm người Trung Quốc thì to không ai bì kịp.”

Nhận định tiêu cực này được rất nhiều người, nhất là người Việt, nhiệt liệt tán đồng. Tác phẩm Người Trung Quốc Xấu Xí của ông được dịch giả Nguyễn Hồi Thủ chuyển sang Việt ngữ, và bán chạy như tôm tươi.

Trong số độc giả ái mộ Bá Dương, tôi đoán, chắc phải có nhà báo Ngô Nhân Dụng – tác giả của đoạn văn sau:

“Ở Việt Nam bây giờ, trong quán có mấy người cao hứng nói lớn tiếng, tranh nhau nói lấy được, không ai nhường ai, át giọng tất cả mọi người. Lúc đó, chỉ cần một người can ngăn: ‘Ông ơi, đừng nói lớn quá! Người ta tưởng bọn mình người Trung Quốc!’ Nhắc nhở vậy đủ rồi! Người đang cười nói oang oang bỗng đỏ mặt, cái miệng tự đạp thắng, hạ thấp tần số vừa đủ nghe!”

Nói nào ngay thì chả riêng gì Ngô Nhân Dụng mà chính tôi cũng thế, cũng nghĩ về người Trung Hoa với ít nhiều méo mó cùng ác cảm. Thành kiến này, của riêng tôi, chỉ vừa mới “sụp đổ” hôm qua.

Chính xác hơn là đêm qua, sau một chuyến xe đò đường dài – từ Kuala Lumpur đến Singapore – tôi mệt rã rời nên lấy phòng khách sạn xong là lăn ra ngủ say như chết. Mở mắt dậy thì đã khuya, bụng đói, tôi lò dò vào một tiệm ăn đèn đuốc vẫn còn sáng trưng. Vừa ngồi xuống ghế, đã thấy ngay bên cạnh mình là hình một tô hoành thánh mì, cùng dòng chữ song ngữ (Please Keep The Volume Down While Eating After 10:30 PM) dán ngay trên tường.


Ảnh chụp 2019

Thảo nào mà quán đông nhưng không ồn. Hoá ra không phải lúc nào người Tầu cũng tía lia và um xùm như thiên hạ vẫn tưởng. Có nơi, và có lúc, họ cũng ăn nói nhỏ nhẹ bình thường như đa phần nhân loại. Dân Việt Nam thì xem chừng hơi khác, nhất là cái dàn lãnh đạo của đất nước này. Họ nổ long trời, và nổ đều đều – ở khắp mọi nơi – trong mọi tình huống (bất kể giờ giấc) khiến cả thế giới đều bị … ù tai:

– Nguyễn Phú Trọng: “Nhìn tổng quát, đất nước có bao giờ được như thế này không?”
– Nguyễn Thị Kim Ngân: “Đất nước này được như thế này, ngẩng mặt lên nhìn với bạn bè năm châu bốn biển như thế này, vai trò vị thế như thế này đó là do chúng ta duy trì được sự ổn định chính trị và trật tự an toàn trong cả nước.”
– Nguyễn Xuân Phúc: “Đã đến lúc phải đi ra chinh phục thế giới, mang thế giới về Việt Nam.
– Nguyễn Mạnh Tiến: “Người bán trà đá tại Việt Nam có tỷ suất lợi nhuận cao nhất thế giới.”
– Nguyễn Thành Phong: “Đủ cơ sở để thành phố Hồ Chí Minh vào top 10 thành phố đẳng cấp của thế giới.”
– Nguyễn Mạnh Hùng: “Việt Nam có thể đi đầu cách mạng công nghiệp 4.0”
– Nguyễn Xuân Thắng: “Việt Nam giúp Đức ‘tìm lại những mặt ưu việt’ của CNXH hiện thực trước đây”

Thực là một tấc đến Giời. Mà đó là mới điểm sơ vài vị họ Nguyễn thôi, chớ gộp chung bá tính lại thì chắc mệt chết luôn. Giấy mực đâu ra mà ghi cho hết. Giới lãnh đạo đã lớn họng rồi mà đám truyền thông còn chuyên việc “khuếch âm” nữa nên khó tránh được những vụ nổ chát chúa (“vượt bức tường âm thanh”) như vừa xẩy ra ở báo Thanh Niên:

Việt Nam Trung Tâm Hoà Giải Quốc Tế.”

Nổ tới cỡ đó thì có lẽ ngay cả đến Chúa/Phật cũng phải nổi khùng, chớ đừng nói chi tới đám facebookers:

– Ngô Thanh Tú: “Trung tâm hoà giải quốc tế con mẹ gì, toàn là lũ thủ dâm tinh thần thôi.”
– Ngô Nhật Đăng: “Bệnh đã đến giai đoạn bốc mùi xú uế nồng nặc. Mỗi việc phải hòa giải với nhân dân mà bao nhiểu năm đảng chưa làm được.”
– Vĩnh San: “Chắc chắn TP Hồ Chí Minh sẽ có giải Nobel Y học nếu như có ai đó chữa khỏi bệnh ‘nổ’ cho các bác lãnh đạo.”
– Nguyễn Văn Đài: “Đây là chứng ‘hoang tưởng tự cao.’

Tôi vô cùng tiếc là không thể đồng tình với quan điểm của các vị thức giả thượng dẫn. Theo tôi thì đám lãnh đạo CSVN chả có ai bị bệnh tật hoang tưởng gì ráo trọi. Tất cả đều “nổ” như nhau, theo đúng truyền thống và phương châm chỉ đạo (“mồm miệng đỡ chân tay”) thôi.

Cha đẻ của chế độ hiện hành, Hồ Chí Minh, là kẻ đã khai hoả cho những phát nổ đầu tiên:

– “Từ giờ phút này trở đi các em nhận một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam, một nền giáo dục của một nước độc lập.”
– “Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!

Sau khi “thắng giặc Mỹ,” Lê Duẩn nổ tiếp:

– “Chúng ta sẽ đuổi kịp Nhật trong 15, 20 năm và nhân dân ta sẽ đi trên thảm vàng.”

Rồi khi Lê Duẩn đã dẫn dắt “nhân dân đi trên thảm vàng” để vào ngõ cụt. Tuy thế, kẻ kế vị – Trường Chinh – vẫn không hề nao núng và vẫn lớn tiếng như thường: “Đảng ta phải cứu lấy giai cấp công nhân.”

Trường Chinh qua đời năm 1988. Hơn ba mươi năm sau, vào ngày 27 tháng 2 năm 2019, Tổ Chức Liên Kết Oxfam ái ngại cho biết: “Tại Việt Nam hiện nay, có tới 99% công nhân may không được trả lương đủ sống căn cứ trên mức sàn lương châu Á và 74% không được trả lương đủ sống căn cứ trên mức sàn của Liên minh lương đủ sống toàn cầu.”

Blogger Trân Văn nhận xét: “Kết quả cuộc khảo sát vừa kể thật ra không mới. Tình trạng công nhân lao động cật lực nhưng càng ngày càng nghèo khổ, sống triền miên trong cảnh thiếu trước hụt sau, cả tinh thần lẫn sức khỏe cùng suy sụp sau một thời gian ngắn tham gia ‘giai cấp lãnh đạo cách mạng Việt Nam’ đã kéo dài vài thập niên.”

Dù vậy – “vài thập niên” qua – các đồng chí lãnh đạo vẫn cứ thay nhau nổ ròn rã, nổ đều đều, và nổ tỉnh queo hà:

– Nguyễn Minh Triết : “Ngày nay, chúng ta ngẩng cao đầu, sánh vai cùng cường quốc…”
– Trương Tấn Sang :“Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của gần 30 năm đổi mới mà nhân dân ta đạt được khiến chúng ta hãnh diện và tự hào, bạn bè quốc tế ngưỡng mộ.”


Ảnh lấy từ FB Thanh Pham

Nói như rồng leo, làm như mèo mửa. Mồm miệng đỡ chân tay vốn là truyền thống lâu đời của chế độ hiện hành. Từ năm 1951, tại Đại Hội II, điều lệ của đảng đã ghi: “Tư tưởng Mao Trạch Đông là kim chỉ nam’ của đảng.” Bởi thế, đường lối/ chính sách (Cải Cách Ruộng Đất, Chỉnh Đốn Tổ Chức, Tam Phản, Rèn Cán Chỉnh Quân, Cải Tạo Công Thương Nghiệp, Hợp Tác Xã Công Nông, Phát Động Chiến Tranh Giải Phóng Miền Nam …) đều do bác Mao chỉ đạo. Bác Hồ chỉ có mỗi việc là sáng tác thơ để minh họa và để … nổ chơi thôi: Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!”

Bác Duẩn – xem ra – có vẻ độc lập và độc đáo hơn chút xíu. Ông lập thuyết (Làm Chủ Tập Thể) đàng hoàng nhưng xem chừng không được hưởng ứng và tin tưởng gì cho lắm: Riêng còn chẳng có có gì chung!

Chỉ có Bác Chinh là nổi bật về trình độ học vấn và khả năng sáng tạo. Tạp Chí Cộng Sản mô tả ông là “nhà thiết kế đường lối đổi mới của Đảng ta.”

Bộ thiệt vậy sao?

Thiệt ra, thằng chả không có “thiết kế” cái con bà gì ráo mà chỉ ở vào tình thế bắt buộc phải lựa chọn một thế cờ (“đổi mới hay là chết”) do nhân dân đã sắp sẵn rồi.

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn nhận xét hoàn toàn chính xác là về “khoa ăn nói” của giới lãnh đạo CSVN: “Họ không nói được cái gì cụ thể, mà chỉ xoay quanh các khẩu hiệu quen thuộc, kiểu như ‘dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh…’

Cứ “xoay quanh các khẩu hiệu” như thế mãi thiệt là ớn chè đậu nên lâu lâu “các anh ở trên” phải nổ một phát để … kích thích lòng dân. Cũng chỉ là một chiêu “mồm miệng đỡ tay chân” thôi. Tưởng cũng không có gì đáng để bận tâm hay rầm rĩ quá!

Tưởng Năng Tiến

Việt Nam sử dụng tội danh “trốn thuế” để tấn công người bất đồng chính kiến

Việt Nam sử dụng tội danh “trốn thuế” để tấn công người bất đồng chính kiến

Asia Times

Tác giả: David Hutt

Trúc Lam, chuyển ngữ

4-5-2022

Các nhà chức trách Việt Nam gia tăng các vụ trốn thuế đối với các nhà hoạt động, nhằm làm nhẹ bớt tình hình đàn áp của họ.

Chính quyền Việt Nam có một lịch sử lâu dài trong việc dẹp tan bất đồng chính kiến. Nguồn: Facebook

Ngày 11 tháng 1, ông Mai Phan Lợi là người sáng lập và là chủ tịch của tổ chức phi lợi nhuận Trung tâm Truyền thông Giáo dục Cộng đồng, đã bị kết án bốn năm tù về tội “gian lận thuế”.

Cùng ngày, bà Ngụy Thị Khanh là người sáng lập một nhóm môi trường, cũng đã bị chính quyền Hà Nội bắt giữ, với cáo buộc tương tự về tội “trốn thuế”, có thể bị kết án lên tới bảy năm tù.

Vài ngày sau, ngày 24 tháng 1, ông Đặng Đình Bách, Giám đốc một nhóm xã hội dân sự khác là Trung tâm Nghiên cứu Pháp luật và Chính sách Phát triển Bền vững, cũng bị bỏ tù năm năm về tội “trốn thuế”.

Đàn áp [những người bất đồng chính kiến] khá phổ biến ở Việt Nam, một đất nước độc đảng, nơi Đảng Cộng sản cai trị không bị thách thức, kể từ năm 1975.

Nhưng tình hình đối với các nhà hoạt động và bất đồng chính kiến trở nên tồi tệ hơn kể từ khi ông Nguyễn Phú Trọng giành được nhiệm kỳ thứ hai với tư cách là người đứng đầu đảng hồi năm 2016, và càng tệ hơn nữa sau khi ông giành được nhiệm kỳ thứ ba chưa từng có tiền lệ hồi năm ngoái. Nhiều đồng đảng của ông có tư tưởng tự do hơn cũng đã bị gạt ra ngoài lề, mở đường cho những người bảo thủ trong đảng.

Hiện có 206 nhà hoạt động đang bị giam giữ trong tù và 334 người khác có nguy cơ bị bắt, theo Dự án 88, một nhóm độc lập giám sát tù chính trị. Phóng viên Không Biên giới cho rằng, Việt Nam là nhà tù lớn thứ ba trên thế giới của các nhà báo và blogger.

Thời hạn án tù cũng đang tăng lên. Trong số 32 người bị bỏ tù hồi năm 2021 vì “tội” chính trị, gần hai phần ba đã bị kết án năm năm tù trở lên. Năm 2020, con số này chưa tới phân nửa.

Thường thì chính quyền cộng sản đưa ra các cáo buộc khá nhạt nhẽo. Nhiều nhà hoạt động bị bỏ tù vì “làm và phổ biến tài liệu tuyên truyền chống nhà nước“, một tội danh được xác định mơ hồ đến mức nó có thể được sử dụng để chống lại bất kỳ nhà hoạt động dân chủ bất đồng chính kiến nào, hoặc người sử dụng Facebook không may có bài đăng quan trọng nào bị những người kiểm duyệt nhắm tới.

Nhưng các nhà chức trách đã tăng cường vũ khí của họ. Ngày càng cảnh giác với những lời chỉ trích từ nước ngoài trong bối cảnh xu hướng ấm lên với phương Tây, chính phủ thường thuê những tên côn đồ, sử dụng các hành vi thô bạo đối với các nhà hoạt động, thay vì bắt giữ họ. “Lạm dụng các quyền tự do dân chủ“, theo điều 331 của Bộ luật Hình sự, cũng đã được sử dụng phổ biến hơn trong những năm gần đây.

Bây giờ tội “trốn thuế” đang được thêm vào các tội để đàn áp. Có một “mô hình mới nổi và đáng lo ngại trong việc sử dụng luật thuế của Việt Nam để hình sự hóa các nhà hoạt động môi trường, và theo sau mục tiêu lớn hơn nhắm tới các nhà lãnh đạo xã hội dân sự, cũng như thu hẹp không gian xã hội dân sự“, Liên đoàn Nhân quyền Quốc tế và Ủy ban Nhân quyền Việt Nam cho biết, trong một báo cáo gần đây.

Các nhà phân tích nói rằng, các lý do tăng gấp đôi.

Đầu tiên, đó là một phương tiện rõ ràng là ít đàn áp hơn. Chính phủ nước ngoài có thể dễ dàng phàn nàn về điều kiện nhân quyền tồi tệ của Việt Nam khi một nhà hoạt động bị bỏ tù vì “tuyên truyền chống nhà nước“, một sự thừa nhận trần trụi của chế độ chuyên chế. Nhưng điều khó hiểu hơn đối với các quan sát viên nước ngoài rằng, liệu đưa chuyện thuế má ra để đàn áp một nhóm xã hội dân sự là thực thi pháp luật nặng tay hay công bằng.

Đối với người Dân Việt Nam, [sử dụng lý do thuế má để bắt bớ] cũng gây ấn tượng hơn. Ông Trọng, người đứng đầu đảng Cộng sản, đã làm cho mình nổi tiếng với công chúng qua chiến dịch chống tham nhũng “đốt lò” của ông ta, một chiến dịch chống tham nhũng hiệu quả nhất của đảng trong nhiều thập niên.  Những người giàu có và nổi tiếng, bao gồm cả các tỷ phú tư bản, đã được đưa ra như một phần của chiến dịch, trong khi vài đại án, án tử hình thậm chí đã bị kêu án.

Như vậy, các vấn đề thuế của các nhà hoạt động và các tổ chức phi chính phủ có thể được đóng khung như một phần của chiến dịch chống tham nhũng. Luật pháp địa phương hỗ trợ chính quyền vì tính hợp pháp của các tổ chức phi chính phủ hoặc các tổ chức xã hội dân sự (XHDS) không rõ ràng ở Việt Nam.

Thực tế là các tổ chức phi chính phủ này đã hoạt động trong khu vực xám, không thể tuân theo các sắc lệnh hà khắc và phi thực tế của đảng CSVN, để các ủy ban tỉnh và chính quyền địa phương chấp thuận cuối cùng về các kế hoạch xã hội dân sự“, ông Phil Robertson, phó giám đốc phụ trách châu Á của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, cho biết.

Ông Robertson nói thêm: “Bây giờ sự giám sát để mắt tới các khoản quyên góp và thuế má, các tổ chức phi chính phủ không có nơi nào để che giấu, đó là tất cả những gì cho thấy nỗ lực [của Đảng Cộng sản] đưa họ vào và đặt họ dưới sự kiểm soát chặt chẽ hơn. Đây là về quyền lực hơn là thuế, và buộc các tổ chức phi chính phủ phải xoa dịu đảng mà tránh các chủ đề quan trọng“.

Những người thật sự thất bại trong toàn bộ tình huống này sẽ là người dân Việt Nam, những người được hưởng lợi từ các chương trình phi chính phủ, nổi lên một phần vì đảng Cộng sản Việt Nam thiếu quan tâm và ưu tiên giải quyết các vấn đề thật sự mà người dân địa phương phải đối mặt“, ông Robertson nói thêm.

Các nhà phân tích nói, một lý do khác là chính quyền cộng sản đang chuyển tầm nhìn của họ ra khỏi những người bất đồng chính kiến, những người mà bây giờ họ đã nghiền nát một cách hiệu quả, và vào khu vực tổ chức phi chính phủ không chính thức.

Trong những năm gần đây, nhiều tổ chức đã mọc lên để vận động bảo vệ môi trường, quyền sử dụng đất và bảo vệ người lao động. Một phần, điều này là do nhiều nhà hoạt động nghĩ rằng họ sẽ an toàn hơn khi tiến hành các chiến dịch của họ thông qua một tổ chức, cho phép họ cùng làm việc với nhau và được cho là có được phần nào sự bảo vệ chống lại nhà nước.

Họ cũng được khuyến khích bởi các chính phủ nước ngoài. Khi Việt Nam ký hiệp định thương mại tự do với Liên minh châu Âu hồi năm 2019, chính phủ cộng sản tuyên bố sẽ dành nhiều không gian hơn cho các nhóm xã hội dân sự. Brussels coi đây là sự tiến bộ và nhiều nhà hoạt động Việt Nam tin rằng đó là sự cường điệu.

Hơn nữa, trong khi đàn áp qua các cáo buộc về thuế, có thể mới lạ, nhưng nó thật sự bắt nguồn từ một xu hướng lịch sử và vĩnh viễn trong cuộc chiến của đảng Cộng sản để dập tắt bất kỳ sự chống đối có ý nghĩa nào.

Năm 2006, các nhà hoạt động cùng nhau thành lập Khối 8406, một liên minh tập trung vào một tuyên ngôn kêu gọi cải cách dân chủ và được cho là phong trào ủng hộ dân chủ đầu tiên của đất nước.

Nó tồn tại chỉ trong vài tháng nhưng đại diện cho một xu hướng rộng lớn hơn: Các cá nhân và các nhóm nhỏ khác nhau đã tham gia cùng nhau để tạo thành các tổ chức phân cấp, rộng lớn hơn. Hai công đoàn độc lập đầu tiên của đất nước được thành lập cùng năm. Các nhà báo độc lập và các blogger cũng thành lập các hội nhóm.

Do vậy, hoạt động đã chuyển từ cá nhân sang cộng đồng, một vấn đề đối với nhà cầm quyền cộng sản vì họ có thể dễ dàng chọn ra các nhà hoạt động bị cô lập hơn. Nỗ lực thành lập các liên minh này đã thất bại vào năm 2006, phần lớn là do sự đàn áp. Nhưng chúng lại mọc lên nhiều năm sau đó, chẳng hạn như khi những người sáng lập Khối 8406, thành lập Hội Anh em Dân chủ vào năm 2013, một lần nữa đã bị dập tắt, nhưng đó là thông điệp bị mắc kẹt.

Ngay sau khi ông giúp thành lập Hội Anh em Dân chủ, ông Nguyễn Văn Đài, một luật sư bất đồng chính kiến hiện đang sống lưu vong, tuyên bố rằng, các phong trào ở Việt Nam “chỉ dựa trên cá nhân” và “không có sự phối hợp. Đó là lý do tại sao họ yếu“. Ông nói tiếp: “Đã đến lúc các nhà hoạt động dân chủ trong nước tập hợp lại để thảo luận và tìm ra con đường ngắn nhất cho nền dân chủ ở Việt Nam“.

Chu kỳ lặp lại. Đối với chính quyền cộng sản, các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức XHDS mới đặt ra một mối đe dọa tương tự đối với quyền lực của họ như các liên minh dân chủ và vận động trong quá khứ: Mọi người tụ họp, trò chuyện và vận động trong những không gian mới, không rõ ràng không do Đảng Cộng sản kiểm soát.

Nhưng một lần nữa các nhà chức trách phản công lại, bằng cách sử dụng các luật không được xác định rõ ràng để giải quyết các vấn đề nghĩa vụ tài chính và thuế má của các nhóm.

Tù không án

Tù không án

7-5-2022

Đừng tưởng chỉ có ngày xưa mới có tù không án, bây giờ vẫn có, chỉ là dưới dạng khác.

Chỉ hai tháng nữa là tròn bốn năm Lê Anh Hùng bị bắt giam (Ngày 5/7/2018). Trong gần bốn năm qua, nhiều lần Lê Anh Hùng bị đưa đi giám định tâm thần. Sau đó, gia đình được thông báo bằng miệng, là đã có lệnh tạm đình chỉ điều tra vụ bắt và tạm giam Lê Anh Hùng, nhưng lại chuyển Lê Anh Hùng sang bệnh viện tâm thần, để “chữa bệnh” bắt buộc.

Lần đầu Lê Anh Hùng bị đưa đi giám định tâm thần (tháng 10/2018), Hùng đã tuyệt thực để phản đổi. Nhưng họ đã cho người đè ra, truyền thức ăn qua đường mũi, miệng đến chảy cả máu. Năm 2020, trong một lần từ chối uống thuốc, Lê Anh Hùng bị đánh và bị trói vào giường sắt để tiêm thuốc (tin từ RFA). Một bênh nhân trong bệnh viện này, đã lén chụp đươc ảnh Lê Anh Hùng bị trói vào giường bệnh như trong ảnh dưới đây. Khi tin tức và hình ảnh lọt ra ngoài, lập tức việc luc soát được tiến hành, và công an tịch thu tất cả điện thoại vốn bị cấm dùng trong bệnh viện. Tuy nhiên, nhờ vụ này, mà Lê Anh Hùng không bị đánh đập nữa. Như vậy, việc tuồn được thông tin ra ngoài, thực sự là cứu cánh cho người bên trong.

Cho đến nay, người duy nhất được thăm gặp Lê Anh Hùng là bà Niệm, mẹ đẻ của Lê Anh Hùng. Theo bà Niệm, khi gặp Hùng, chỉ được nhìn và nói chuyện qua kính chắn, có công an ngồi giám sát – không khác gì nhà tù. Có người được cho là khỏi bệnh, và ra viện, thông tin cho gia đình Lê Anh Hùng, rằng có người bên chính quyền gặp Hùng hỏi, nếu được về, có kiện tiếp không? Hùng bảo tôi không sai, nên về tôi vẫn tiếp tục kiện. Thế là Hùng tiếp tuc bị giam trong bệnh viện tâm thần, cho đến tận bây giờ.

Sự nhân đạo giết người.

Lê Anh Hùng bị cho là tâm thần, vì những lời nói có vẻ hoang tưởng của cậu ta. Tâm thần có nhiều thể loại, Lê Anh Hùng không thuộc diện phá phách, hành động điên khùng. Cậu ta từng dịch những cuốn sách khó nhằn, được nhiều người khen là giỏi chuyên môn. Lê Anh Hùng không khôn khéo, không biết lựa lời. Những lời nói “thât” của Lê Anh Hùng, có làm sứt được cọng lông nào của ai, mà phải giam cầm cậu ấy?

Việc điều trị tâm thần ngoài thuốc an thần ra, người bệnh phải được sống trong môi trường tự do, được người nhà, bạn bè yêu thương, chăm sóc, chứ không phải nhốt họ vào trong một không gian tù túng, và cưỡng ép uống/tiêm thuốc. Thuốc an thần uống nhiều, thì thần kinh thép cũng thành bệnh, về lâu dài sẽ mất trí nhớ, sinh ra chứng run rẩy, mất cân bằng (tôi đã chứng kiến người nhà bị như vậy). Người cùng viên với Lê Anh Hùng, khi ra viện, có cho gia đình Hùng biết, Hùng đã bắt đầu sinh chứng ảo giác, luôn cảm thấy trần nhà đang sắp sập xuống người cậu ta.

Tôi đọc truyện, dựa trên những câu chuyện có thật, là có người bị đưa vào trại tâm thần vĩnh viễn, chỉ để chiếm đoạt tài sản. Bệnh viện cũng thông đồng với những kẻ bất nhân, nên người bị hại khó có đường thoát.

Ở bệnh viện tâm thần, người ta năm lần bảy lượt hứa với Lê Anh Hùng, là câu ta sắp được về. Một số người đã được về thật, nhưng Lê Anh Hùng thì không. Và tôi e rằng bọn họ sẽ chỉ thả Lê Anh Hùng về nhà, khi cậu ta đã điên dại thực sự, chứ không tỉnh táo để còn tiếp tục đi kiện như cậu ta đã khẳng định. Tôi thấy việc này quá độc ác. Không phải họ sợ viêc bị Lê Anh Hùng kiện, mà họ sơ cái gì đó hoàn toàn khác. Nếu chỉ là viêc kiện, thì tôi đây cũng kiện chủ tịch UBND TPHN. Nhưng cách duy nhất mà họ làm, là mặc kệ – không xử, cho dù tôi có gửi hàng nghìn lá đơn thúc giuc cũng thế. Người dân Thủ Thiêm còn khiếu kiện hơn 40 năm đó thôi?

Cho tới nay, không chỉ có Lê Anh Hùng bị chuyển từ tại tạm giam sang bệnh viện tân thần, để chữa bênh bắt buộc. Còn có Nguyễn Trung Lĩnh và mới đây là Nguyễn Thúy Hạnh, gia đình chỉ được thông báo miệng, chứ không hề gửi cho họ văn bản nào về việc này. Họ luôn nói, khi nào khỏi bệnh, sẽ tái điều tra, xét xử.

Tội e rằng Lê Anh Hùng, Nguyễn Trung Lĩnh, và Nguyễn Thúy Hạnh, sẽ chỉ được “thả” khi họ chỉ còn là “những cái xác không hồn” – nghe thì phũ phàng, nhưng tiếc là rất thưc tế trong xã hội này.

Tôi viết những dòng này, bởi mới đây có người hỏi tôi về tình trạng của Lê Anh Hùng. Thật đáng buồn khi Lê Anh Hùng đã bị giam giữ gần 4 năm không xét xử, mà không có một ai đoán biết được tương lai của câu ta sẽ ra sao? Cả Nguyễn Trung Lĩnh, Nguyễn Thúy Hạnh nữa.

Con trai chánh án New York bị 8 tháng tù vì tham gia bạo loạn Quốc Hội

Con trai chánh án New York bị 8 tháng tù vì tham gia bạo loạn Quốc Hội

May 6, 2022

WASHINGTON, DC (NV) – Con trai chánh án ở New York bị kết án tám tháng tù hôm Thứ Sáu, 6 Tháng Năm, vì tội gây rối và lấy cắp thiết bị cảnh sát trong vụ bạo loạn Quốc Hội năm ngoái, theo CNN.

Trong vụ tấn công hôm 6 Tháng Giêng, 2021, ông Aaron Mostofsky, 35 tuổi, mặc đồ như thổ dân và cùng nhóm người bạo loạn chống lại các cảnh sát viên đang điều chỉnh hàng rào ngăn kẻ quá khích, công tố viên cho hay.

Ông Aaron Mostofsky, ủng hộ viên Tổng Thống Donald Trump lúc đó, biểu tình bên trong Quốc Hội hôm 6 Tháng Giêng, 2021, ở Washington, DC. (Hình: Saul Loeb/AFP via Getty Images)

Ông Mostofsky xô đẩy những kẻ bạo loạn khác về hướng các cảnh sát viên. Sau đó, ông ta lấy cắp áo giáp cảnh sát rồi khoác lên trên bộ trang phục ông ta mặc hôm đó, và lấy cắp khiên chống bạo loạn, công tố viên cho biết. Ông Mostofsky nói cả hai món này bị cảnh sát bỏ lại.

“Anh đúng là ở tuyến đầu vụ tấn công này,” Chánh Án Hoa Kỳ James Boasberg nói trong phiên tòa kết án ở Washington, DC. “Anh xô đẩy hàng rào cảnh sát,” ông Boasberg cho biết thêm, lưu ý ông Mostofsky cũng nằm trong số những kẻ bạo loạn đầu tiên xông vào bên trong Quốc Hội.

“Nếu không ai hành động như anh… hàng rào sẽ không ngã, Quốc Hội sẽ không bị xông vào, sẽ không ai thiệt mạng,” vị chánh án nói.

Tuy nhiên, ông Boasberg cho hay ông “bất ngờ với những chi tiết” trong hơn 30 lá thư mà ông nhận được thay mặt ông Mostofsky, trong đó nói ông Mostofsky thường làm từ thiện và luôn vì người khác. “Những chi tiết đó thực sự giúp giảm bản án mà tôi tuyên cho anh,” vị chánh án nói.

Ngoài bản án tám tháng tù, ông Mostofsky phải bồi thường $2,000 thiệt hại gây ra cho Quốc Hội trong vụ bạo loạn đó và lao động công ích 200 giờ trong thời gian bị quản chế một năm sau khi ra tù.

“Hôm đó, khi mọi chuyện bắt đầu trở nên hỗn loạn… tôi bắt đầu quyết định sai lầm,” ông Mostofsky phát biểu trong phiên tòa hôm Thứ Sáu, thỉnh thoảng nghẹn lời.

Ông Mostofsky nhắc đến vụ tấn công tòa nhà Quốc Hội đó là “cảnh chiến trường” và tuyên bố ông ta “không có ý định hãm hại bất kỳ cảnh sát viên nào.”

Ông ta van xin Chánh Án Boasberg “rủ lòng thương.”

Hồi Tháng Hai, ông Mostofsky, con trai ông Steven “Shlomo” Mostofsky – chánh án Tòa Thượng Thẩm Kings County – nhận tội gây rối, lấy cắp tài sản chính phủ và đột nhập và ở lại khu vực cấm. (Th.Long) [qd]

Loạn tiến sĩ – Vì đâu nên nỗi?

Loạn tiến sĩ – Vì đâu nên nỗi?

Một buổi bảo vệ luận án tiến sĩ ở Viện Hàn Lâm KHXH Việt Nam. Ảnh Facebook.

Vài suy nghĩ lan man nhân chuyện tiến sĩ mọc ra như nấm ở Việt Nam

Mấy hôm nay, trên mạng xã hội Facebook rộ lên chuyện phong trào “tiến sĩ” nhân vụ báo chí phanh phui chuyện Viện Hàn Lâm Khoa Học và Xã Hội Việt Nam cấp bằng tiến sĩ giống như cái máy đẻ, “nghiệm thu” hàng chục đề tài nghiên cứu để sinh ra hàng chục tiến sĩ trong một ngày. Đọc tiêu đề của các luận văn tiến sĩ này khó ai khép được miệng cười, hoặc không nhịn được mà phải văng tục, chẳng hạn như luận văn “Nghiên cứu giải pháp phát triển môn cầu lông cho công chức viên chức thành phố Sơn La” của Đặng Hoàng Anh, bộ môn Giáo dục học, được giáo sư tiến sĩ Lưu Quang Hiệp và phó giáo sư tiến sĩ Đặng Văn Dũng thuộc Viện Khoa học Thể dục Thể thao hướng dẫn! Một thông tin trên báo Tuổi Trẻ ngày 5 tháng Năm cho biết luận văn tiến sĩ cầu lông của ông Anh đã “bảo vệ thành công” ngày 19 Tháng Giêng 2022 và đến nay có tới 10 luận án tiến sĩ cầu lông như của ông Anh!

Người ta còn tìm ra và đăng lên Facebook hàng chục bìa luận văn tiến sĩ của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (tên mới của Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc trung ương, nơi đào tạo các quan chức lãnh đạo của đảng CSVN) với những đề tài giống hệt nhau, kiểu như “Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo tổ chức cơ sở đảng ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến 2015” của Lê Xuân Dũng; “Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh từ năm 1997 đến 2015” của Trần Thị Vân; “Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh từ năm 1997 đến 2015” của Nguyễn Thị Thu Hương v.v… Trên một bài đăng của Facebooker Sơn Trần, chúng tôi đếm có hơn 30 luận văn như vậy.

***

Một trong vô số luận án tiến sĩ ở Học viện Chính trị quốc gia HCM. Ảnh Facebook

Phong trào tiến sĩ nở rộ ở Việt Nam như nấm sau mưa không phải tự dưng xuất hiện mà có chủ trương chính sách khuyến khích của nhà cầm quyền. Các bộ ngành trung ương và các thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn đều đặt ra “chỉ tiêu” đào tạo, “nâng cấp” hàng ngàn tiến sĩ cho đội ngũ cán bộ công chức. Ông Nguyễn Thiện Nhân, từng là Phó thủ tướng, Bộ trưởng giáo dục, khi còn là Phó chủ tịch thành phố Sài Gòn đã yêu cầu thành phố phải đầu tư 14,000 tỷ đồng để đào tạo 20,000 tiến sĩ làm việc cho chính quyền thành phố!

Chính sách khuyến khích “phổ cập tiến sĩ” còn được hỗ trợ bởi các biện pháp vật chất khác. Người làm việc trong guồng máy nhà nước phải có bằng tiến sĩ mới có cơ may được đề bạt làm phó giáo sư, giáo sư, lên các chức vụ quản lý. Độ tuổi nghỉ hưu theo luật định là 60 tuổi với nam, 55 tuổi với nữ, nhưng nếu có bằng tiến sĩ thì nhà quản lý có thể ngồi tiếp đến năm 65 tuổi, tiếp tục hưởng bổng lộc và sau đó vẫn có thể làm tiếp nhưng không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý nữa.

Với những quyền và lợi hấp dẫn như vậy, người người chen nhau đi tìm bằng tiến sĩ và các “lò sản xuất” luận văn tiến sĩ âm thầm mọc lên, cung cấp đủ loại luận văn cho người có nhu cầu và có tiền trả, thường là luận văn cho các ngành “tào lao”, chẳng có ý nghĩa khoa học gì như ngành lịch sử Đảng, xây dựng Đảng, quản trị kinh doanh, văn hóa học; hầu như không có các luận văn thuộc các ngành khoa học tự nhiên hoặc công nghệ. Báo Asia Sentinel từng đăng một phóng sự điều tra khá sốc về tình trạng gian lận học thuật ở Việt Nam mà báo gọi là một thị trường kinh doanh lớn phục vụ chủ yếu cho giới quan chức; có thể đọc bản dịch tiếng Việt của phóng sự trên ở đây.

Không khó để nhận ra những “luận văn tiến sĩ” kể trên là sản phẩm sản xuất hàng loạt của một vài lò luận văn nào đó, lấy một bản luận văn “mẫu”, thay đổi chút về tên người, địa danh và vài số liệu là có thêm một tiến sĩ được ra lò! Rất nhiều quan chức lãnh đạo hoàn toàn không đi học, không có thời gian cho việc học nhưng chỉ sau vài năm cầm quyền thì trên danh thiếp đã có thêm dòng chữ ghi học vị tiến sĩ, giáo sư. Loại tiến sĩ đó chỉ có thể là do mua bằng, mua luận văn và đút lót các hội đồng trường mà có.

Điểm hết sức khác biệt của Việt Nam là ở các nước, luận văn tiến sĩ phải là một công trình nghiên cứu, đưa ra một giá trị mới dù nhỏ về tri thức khoa học ở một lĩnh vực nào đó, và phải trải qua một quy trình đào tạo, xét duyệt công phu của những nhà khoa học có uy tín, không hề có cái luận văn tiến sĩ nào về cầu lông, cờ tướng, lãnh đạo công tác hội, ứng xử của cán bộ, xây dựng phường xã… tào lao, vô bổ như ở Việt Nam. Ở các nước, tiến sĩ là nhà khoa học, làm việc chủ yếu ở các cơ sở nghiên cứu, thí nghiệm hoặc giảng dạy ở đại học, chẳng có bao nhiêu người làm quan chức hành chánh trong khi ở Việt Nam, hơn một nửa số tiến sĩ là quan chức đảng, lãnh đạo cơ quan chính quyền mà công việc chẳng liên can gì tới khoa học, chẳng cần nghiên cứu.

***

Chuyện trái khoáy là trào lưu coi trọng bằng tiến sĩ ở Việt Nam đi ngược lại với triết lý nền tảng của chủ nghĩa cộng sản mà đảng và nhà nước Việt Nam cổ xúy, trong đó đề cao người công nhân, nông dân như là nòng cốt của cách mạng vô sản.

Ngay từ thuở mới thành lập, năm 1930, đảng CSVN đã thù địch với trí thức, coi những người có bằng cấp, có học thức là tay sai của thực dân phong kiến, áp bức nhân dân lao động. Câu khẩu hiệu đấu tranh của đảng thời Xô Viết Nghệ Tĩnh: “Trí, phú, địa, hào – đào tận gốc, trốc tận rễ”, đặt trí thức lên hàng đầu những “đối tượng” phải tiêu diệt. Những thanh niên trí thức được đào tạo trong nhà trường của Pháp, khi đi theo cộng sản, như Trường Chinh (Đặng Xuân Khu), Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp… đều phải từ chối thành phần xuất thân, phải “vô sản hóa”, phải hòa mình với công nhân, nông dân “để lãnh đạo họ”. Trong những chiến dịch thanh trừng sau khi cầm quyền, như cuộc Cải Cách Ruộng Đất, đám bần cố nông vô học làm theo sự dẫn dắt của các cố vấn Trung Cộng, thẳng tay tiêu diệt những người có của (địa chủ, tư sản) và không tha cả những người có học (thầy giáo, thầy thuốc) ở nông thôn.

Ở miền Bắc sau năm 1954 và trên cả nước sau năm 1975, để được cho đi học, cho vào làm việc trong chính quyền, cho vào đảng cộng sản, thanh niên phải có lý lịch tốt, cụ thể là phải xuất thân từ thành phần công nhân, bần nông (nông dân nghèo), cố nông (nông dân cực nghèo). Những ai xuất thân trong gia đình tư sản, địa chủ, dính dáng với chế độ Việt Nam Cộng Hòa thì sống không bằng chết, bằng cấp càng cao càng bị ngược đãi, đã được đào tạo, tu nghiệp ở các nước tư bản thì bị nghi ngờ là CIA, là gián điệp, chẳng những không được sử dụng mà còn bị an ninh theo dõi thường xuyên.

Đã có nhiều thanh niên, là con cái các gia đình cán bộ cao cấp, được theo học các trường đại học trong nước, được cho đi du học các nước Trung Quốc, Liên Xô, Đông Âu. Việc đi học đại học, đặc biệt là đi du học nước ngoài, trước tiên là nhằm tìm chỗ trú an toàn cho các con ông cháu cha, tránh phải vào lính cầm súng vào chiến trường “sinh Bắc tử Nam” – nơi dành cho con cháu thường dân hoặc gia đình cán bộ cấp thấp, không có thế lực hoặc quan hệ chính trị với quan chức. Việc chọn người đi học chỉ dựa vào lý lịch và quan hệ, không coi trọng trình độ và khả năng học vấn, nhưng vì “tình hữu nghị quốc tế vô sản” các sinh viên này sau mấy năm ở nước ngoài, vẫn được tốt nghiệp, được cấp bằng, nhiều người có bằng phó tiến sĩ (candidate). Một chính sách sau này của đảng CSVN hủy bỏ học vị phó tiến sĩ, thế là hàng ngàn phó tiến sĩ sau khi ngủ một đêm dậy đều trở thành tiến sĩ!

Chính sách đào tạo và dùng người dựa trên lý lịch, trên thành phần giai cấp, khinh thường học thức đã tạo ra một guồng máy cai trị dốt nát, tham lam và chỉ giỏi phá hoại.

***

Sau khi chiếm được miền Nam năm 1975, đảng CSVN nhận ra không thể tiếp tục lề lối dùng kẻ dốt cai trị người giỏi, cần phải “trí thức hóa” công nông cho phù hợp với thời đại. Vả lại, đất nước hòa bình tạo điều kiện thuận lợi cho các cán bộ của đảng được đi học văn hóa, việc mà họ đã bỏ qua trong những năm chiến tranh khổ cực.

Thế là các chính sách khuyến khích cán bộ đi học được ban hành, các chương trình “bổ túc văn hóa”, “chuyên tu”, “tại chức” mở ra rầm rộ. Có những người học bổ túc văn hóa một năm hai, ba lớp; có nhiều người học “tại chức”, vừa làm việc vừa đi học, nếu không thu xếp được thì nhờ đàn em học thay, thi hộ. Trong xã hội lưu truyền câu thành ngữ: “Dốt như chuyên tu, ngu như tại chức” là để chỉ hiện tượng này.

Gần đây, trào lưu học chuyên tu, tại chức để lấy bằng cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ phát triển mạnh, đem lại một nguồn thu đáng kể về tiền bạc cho các trường đại học, các giảng viên cho nên mới có chuyện các trường tranh giành nhau, giẫm lên địa bàn của nhau để trục lợi. Nhiều trường ở Hà Nội mở lớp đào tạo tận miền Trung, miền Nam; trường ở Huế, Đà Nẵng mở lớp ở Cần Thơ, Vĩnh Long; giảng viên đi mây về gió bằng máy bay, “chạy sô” từ tỉnh này sang tỉnh khác là chuyện bình thường. Nhiều sinh viên ở Sài Gòn than thở với người viết bài này là ở trường bây giờ sinh viên chỉ được học với các thầy cô trẻ, mới tốt nghiệp đại học và được giữ lại trường, vừa thiếu kiến thức vừa không có kinh nghiệm dạy học bởi vì các thầy cô có tuổi, có kinh nghiệm đã giành nhau đi dạy chuyên tu, tại chức ở tỉnh xa, vừa có nhiều tiền vừa gầy dựng được quan hệ với quan chức địa phương, có nhiều mối lợi.

Chẳng ai quan tâm tới thiệt hại mà thế hệ sinh viên trẻ phải chịu đựng do lòng tham của các bậc cha chú.

***

Cách đây vài mươi năm, Tố Hữu – thi sĩ tuyên truyền số một của đảng – đã phán: “Những kẻ quê mùa đã thành trí thức / Tăm tối cần lao nay bỗng hóa anh hùng”. Bây giờ, nhiều cán bộ của đảng trong guồng máy chính quyền, hoặc đi ra từ rừng Trường Sơn, hoặc từ những cánh đồng chiêm trũng của đồng bằng sông Hồng, đã có bằng tiến sĩ nhưng có thành trí thức như Tố Hữu nói hay không lại là chuyện khác. Cái áo không làm nên thầy tu, mảnh bằng không làm nên người trí thức, huống hồ là những mảnh bằng giả, bằng mua. Cũng giống như những tư sản đỏ Việt Nam, nhờ chiếm đoạt đất đai mà trở nên giàu có thì giỏi lắm chỉ có thể thành trọc phú chứ chưa thể đặt chân vào giới thượng lưu.

Để thành trí thức, để có tri thức, ngoài công phu học tập, rèn luyện, nghiên cứu, người ta còn phải có một nền tảng văn hóa nhất định, từ truyền thống gia đình và môi trường văn hóa xã hội. Môi trường văn hóa xã hội ở Việt Nam hiện nay không thuận lợi cho sự vun trồng trí thức mà giỏi lắm chỉ có thể sinh ra trọc phú, cho dù có mông má, điểm trang kiểu gì đi nữa.

Vì vậy, đừng nên ngạc nhiên khi thấy các quan chức từ địa phương tới trung ương lên truyền hình, báo chí phát biểu những câu “tranh hết phần ngu của thiên hạ” dù ai cũng xưng là tiến sĩ, giáo sư! 

 Xin Lễ Và Cầu Nguyện Cho Người Mới Qua Đời, Trẻ Mồ Côi Như Thế Nào? – LM Vinh Sơn Nguyễn Thế Thủ & Ấm lên bữa cơm gia đình – Cha Phạm Quang Hồng

httpv://www.youtube.com/watch?v=znhJwvgQLYw

 Xin Lễ Và Cầu Nguyện Cho Người Mới Qua Đời, Trẻ Mồ Côi Như Thế Nào? – LM Vinh Sơn Nguyễn Thế Thủ

httpv://www.youtube.com/watch?v=Vav51QjUUt0

Ấm lên bữa cơm gia đình – Cha Phạm Quang Hồng

Còn khổ bao lâu nữa?

Còn khổ bao lâu nữa?

Văn Việt

Nguyễn Thị Tịnh Thy

5-5-2022

Nhà phê bình văn học Nguyễn Thị Tịnh Thy. Nguồn: FB nhân vật

Kính thưa quý vị!

Bài viết này, phát biểu này, tôi xin gửi đến Ban Vận động thành lập Văn đoàn độc lập (Văn Việt) cùng những ai quan tâm đến văn học và quyền tự do sáng tạo nghệ thuật của nước nhà.

Không biết trên thế gian này, trong nền văn chương Đông Tây kim cổ, đã có ai phải viết bài phát biểu này như tôi không. Bởi, đây là phát biểu XIN GIỮ GIÙM GIẢI THƯỞNG.

Đã có những người từ chối hoặc bị buộc phải từ chối giải thưởng, kể cả giải văn chương danh giá nhất hành tinh là giải Nobel vì rất nhiều lý do khác nhau. Nhưng e rằng, không mấy ai ký thác tâm nguyện nhờ giữ lại giải như tôi.

Tôi được Văn Việt trao giải thưởng thường niên năm 2022 cho hạng mục Nghiên cứu – Phê bình với cuốn sách “Dám ngoái đầu nhìn lại” (Nxb. Hội Nhà văn, 2021). Giải thưởng do Văn Việt tự chọn và trao, không phải là một cuộc thi mà tác giả phải gửi công trình dự giải. Với tôi, đây là vinh dự, là vòng nguyệt quế cho lao động bút mực của mình – một người không phải là thành viên của Văn Việt. Tuy nhiên, đây cũng là vòng nguyệt quế phủ đầy gai mà người nhận không dễ dàng sở hữu, dù nó vốn phải thế.

Tôi không từ chối giải thưởng, bởi vì đây là giải thưởng có giá trị về học thuật, như bao giải thưởng như thế trên thế giới này. Tôi cũng không thể nhận giải thưởng, bởi nếu nhận, thì sẽ chuốc lấy rất nhiều phiền phức. Xin cảm ơn Ban Xét giải đã lựa chọn trên cơ sở ghi nhận thành quả khoa học của tôi; đồng thời, cũng xin Văn Việt giữ giùm giải thưởng này. Hiện tại, tôi chưa thể nhận giải, cũng không muốn và không thể từ chối. Để giải thích cho tình trạng tiến thoái lưỡng nan này, tôi xin giãi bày với quý vị những suy nghĩ như sau:

Trước hết, xin khẳng định, tôi tôn trọng Văn Việt và giải thưởng của Văn Việt. Muốn chứng minh cho chất lượng và uy tín của giải thường này, xin quý vị hãy đọc tác phẩm cũng như phát biểu nhận giải của nhà thơ Thái Hạo. Theo tôi, bài phát biểu này là một trong những diễn từ hay nhất, xứng đáng được trích dẫn trong nhiều văn bản khác; đủ để xem là một tuyên ngôn thơ, một quan điểm sáng tác và tư duy nghệ thuật sâu sắc và đặc sắc.

Tôi gửi nhiều bài sáng tác và phê bình văn học đăng trên http//:vanviet.info của Văn Việt, bởi vì, đây là một trang báo có chất lượng chuyên môn cao, bài vở được biên tập và chọn lựa kỹ lưỡng. Những người chủ trương trang báo này là các trí thức đáng nể trọng về trí tuệ lẫn nhân cách. Bài tôi đăng trên Văn Việt, đa phần đã được đăng ở báo chí chính thống trong nước; những cuốn sách nghiên cứu của tôi đều được cấp phép bởi các nhà xuất bản uy tín. Nghĩa là, xét về phương diện khách quan lẫn chủ quan, tôi cảm thấy việc mình gửi bài ở Văn Việt, được Văn Việt trao giải thưởng là việc rất đỗi bình thường.

Vậy mà, khi biết mình được Văn Việt trao giải thưởng, tôi phải chuẩn bị để đón nhận những điều bất bình thường.

Đã có người nhận giải của Văn Việt xong, bị các cơ quan nhà nước, “người nhà nước” gây phiền nhiễu quá mức, khiến cuộc sống của họ luôn trong trạng thái bất an, bản thân họ bị người xung quanh xem như kẻ phạm tội. Đã có người bị ngăn cản trên đường đi nhận giải, buộc phải vứt vé tàu xe để quay về nhà. Gần đây nhất, nhà thơ Thái Hạo bị đánh bầm mặt trên đường ra sân bay để đến với Văn Việt. Và tôi, thông tin về giải thưởng chưa đến tai, tôi đã được người của cơ quan an ninh đề nghị không nên nhận giải. Khi tôi hỏi rằng, nếu tôi vẫn muốn nhận thì sao? Câu trả lời khá nhã nhặn, nhưng nội dung là: “Để tránh ảnh hưởng đến tình hình an ninh chung, chị không nên đi nhận giải… Cũng như Thái Hạo, cơ quan an ninh cũng đã tác động là anh không đi được đâu”; “Dẫu cách ứng xử mỗi nơi mỗi khác, nhưng dù sao đi nữa, chị cũng không nên nhận giải”; “Nếu nhận, thì không nên tổ chức trao, quay phim, chụp hình rồi công bố trên mạng xã hội để tránh những phiền phức không đáng có”. Và tiếp theo đó là những tìm hiểu tứ phương tám hướng để dò xét xem tôi sẽ tiếp xúc với người của Văn Việt ở đâu, lúc nào… để nhận giải.

Tôi là một trí thức, một nhà khoa học. Đứng về mặt chuyên môn, tôi đủ trí tuệ và kinh nghiệm để biết nên gửi bài ở đâu, của tổ chức học thuật nào. Tôi là một công dân tôn trọng pháp luật, tôi đủ hiểu biết để không làm gì phạm pháp. Việc tôi gửi bài đăng ở Văn Việt, việc tôi nhận giải thưởng của Văn Việt là không hề phạm pháp. Vậy thì, tại sao tôi (và nhiều người nữa) bị ngăn cản, thậm chí có người đã bị hành hung về thể xác và uy hiếp, hành hạ về tinh thần? Xin thưa với “người nhà nước”, nếu các anh chị đủ can đảm, đủ bản lĩnh, đủ minh bạch thì hãy đề nghị cấp trên của các anh chị ra lệnh cấm các tổ chức văn học nghệ thuật phi nhà nước đi. Nếu không dám cấm, để tỏ ra là mình vẫn dân chủ; nếu muốn chứng tỏ rằng công dân nước Việt vẫn tự do lập hội đoàn thì hãy cứ để cho các hội đoàn ấy tồn tại một cách yên ổn. Xin đừng dân chủ giả tạo, ngoài mặt không cấm nhưng bên trong thì dùng biện pháp cứng rắn để ngăn cản và trừng phạt. Xin đừng sử dụng bàn tay sắt bọc nhung, đừng vừa đấm vừa thoa, đừng giả danh lưu manh để thực thi nhiệm vụ chính trị; vì như thế là giả dối, là ném đá giấu tay trước những đối tượng chân yếu tay mềm, trói gà không chặt vốn chỉ có trái tim nghệ sĩ, tâm hồn yêu văn chương nghệ thuật và khát khao truy cầu tự do sáng tạo mà thôi.

Xin đừng đóng bộ mặt nguỵ quân tử cho chính quyền, vì như thế, chính quyền đã đích thực trở thành “nguỵ quyền” – điều mà quý vị từng không tiếc máu xương để lật đổ!

Tôi phải suy nghĩ rất nhiều trước quyết định nhờ giữ giùm giải thưởng. Bởi vì, nếu từ chối, tôi sẽ làm tổn thương giải thưởng. Đó là điều tôi trăm ngàn lần không muốn. Nếu bí mật nhận giải, bí mật cất giấu để được yên thân, lâu lâu lén lút mở ra xem, “một mình mình biết, một mình mình hay”, thì phỏng có vui gì. Làm như thế, tôi cảm thấy mình ngôn hành bất nhất, không xứng đáng với Văn Việt, không xứng đáng với chính tôi. Nếu công khai nhận giải, tôi sẽ bị cản trở, bị gây sự, bị khủng bố tinh thần, và có thể còn bị hành hung. Điều này, tôi cũng ngàn vạn lần không muốn. Tôi không hèn nhát, nhưng nếu để xảy ra điều gì không hay cho mình và cho người thân, đơn giản chỉ vì một giải thưởng, thì có đáng không?

Giải thưởng, cho dù là giải thưởng trò chơi hay giải thưởng chuyên môn, đều là niềm vui và vinh dự cho người nhận. Vậy mà, giải thưởng tôi được trao lại khiến cha mẹ âu lo, anh em phấp phỏng, cơ quan căng thẳng, đồng nghiệp ái ngại. Vinh quang cho mình, nhưng gây phiền hà cho những người xung quanh, thì có nên không? Việc nhận giải lại khiến các cán bộ an ninh vốn là đại nhân nhưng không được hành đại lộ khi phải quan tâm săn sóc một người như mình, trong khi họ cần phải dành trí tuệ, thời gian và tâm huyết để ngăn chặn tội phạm, để đối phó với kẻ thù đích thực và đáng sợ của dân tộc, để làm những việc ích nước lợi nhà hơn, thì có nên không?

Cùng dưới một gầm trời xã hội chủ nghĩa được cho là dân chủ, công bằng và văn minh này, giải thưởng của Hội Nhà văn từ trung ương đến địa phương, của Hội đồng Lý luận phê bình Văn học nghệ thuật trung ương và rất nhiều giải thưởng nhà nước khác thì luôn được tiền hô hậu ủng, muôn hồng ngàn tía, trống giong cờ mở, lên xe xuống ngựa, cơm đưa rượu rước; còn giải thưởng của Văn Việt thì bị ngăn trở, bị vùi dập, bị quấy nhiễu, bị hành hạ, bị cưỡng bức…, như thế có công bằng không? Nhà nước không nuôi Văn Việt, thì cứ để nó tự sinh tự trưởng và tự diệt nếu như nó không đủ mạnh; không hà hơi tiếp sức thì cũng xin đừng chặn hầu bóp mũi nó. Một tổ chức văn học nghệ thuật cỏn con mà được coi là liên quan đến sự an nguy của một chính thể, thì chính thể ấy phải tự xem lại thực lực của chính mình. Nếu nhà nước đánh giá quá cao tầm ảnh hưởng và độ nguy hiểm của Văn Việt như thế, thì cần phải xem lại năng lực nhận thức, năng lực nhận định và phân định bạn – thù của đội ngũ tham mưu.

Đầu thế kỷ XX, nhà văn Nguyễn Vỹ từng có câu nói đầy cay đắng: “Nhà văn An-nam khổ như chó”. Bây giờ, đã một trăm năm trôi qua với bao nhiêu cuộc cách mạng và giải phóng, nhà văn An-nam vẫn còn “khổ như chó”. Thử hỏi như vậy có ưu việt không? Có buồn không? Có đau không? Có nhục không?

“Nhà văn An-nam khổ như chó”. Đó phải chăng là lời nguyền cho văn chương Việt? Nếu không, thì tại sao ở thế kỷ XXI này, đến chó cũng không còn khổ nữa, chó ghẻ bị vứt còn được cộng đồng nháo nhác thức suốt đêm tìm về chăm sóc, cưng chiều hết mực; còn nhà văn Việt Nam lại bị săm soi, săn sóc ngược đời. Bao giờ, nhà văn mới “bước qua lời nguyền”?

Cuối tháng 3 vừa qua, gặp nhà thơ Thái Hạo ở Huế, nhìn thấy vết sẹo còn mới trên má của anh, tôi chợt nghẹn. Khi chia tay, nói lời “Bảo trọng” với Thái Hạo, tôi vội quay đi và bật khóc. Ba năm Covid-19 hoành hành, tôi đã không biết bao nhiêu lần nói hai từ “Bảo trọng” với bạn bè, với người thân, nhưng chưa bao giờ thấy uất ức và buồn tủi như lần này. Đến lúc nào và làm thế nào Văn Việt mới được yên, các nhà văn phi nhà nước mới được yên?

Tôi vẫn muốn tiếp tục viết những bài bình luận, nghiên cứu văn học và đăng trên Văn Việt. Tôi vẫn muốn “độc lập” trong nguyên nghĩa của từ này, nghĩa là đứng một mình, chấp nhận cô đơn trong sáng tạo. Tôi vẫn mơ giấc mơ Nobel cho văn chương Việt Nam một cách nghiêm túc dù văn chương vẫn còn bị tung hô nhầm, cấm đoán nhầm, hãm hại nhầm. Tôi vẫn tâm đắc câu nói của nhà văn Diêm Liên Khoa: “Đừng oán trách hoàn cảnh sáng tác hay hoàn cảnh chính trị,… điều quan trọng là bạn có năng lực và nhân cách để viết hay không. Không viết nổi một tác phẩm lớn là lỗi của nhà văn chứ không phải lỗi của thời đại, đừng lấy những danh nghĩa đẹp đẽ để che đậy trách nhiệm và năng lực của nhà văn”.

Tôi vẫn mong có ngày mình được đường đường chính chính nhận giải thưởng của Văn Việt mà không bị chấn thương, tổn thương và áp lực. Tôi vẫn hy vọng có ngày đó. Còn bây giờ, xin Văn Việt hãy giữ giùm tấm huy chương này; chờ một ngày mưa thuận gió hoà, ngày bình yên thật sự, ngày mà chính thể đủ mạnh để không còn xem những người sáng tạo độc lập là thù nghịch, tôi sẽ trân trọng đón nhận nó cho châu về hợp phố. Nhược bằng, Văn Việt chết trước khi ngày ấy đến mà không phải vì nguyên nhân tự thân, thì đó là thất bại của dân chủ và tự do sáng tạo trong nghệ thuật – học thuật nhân văn nước nhà, cũng là điều thiếu may mắn của tôi.

Mới đây, một nhà văn lớn của Việt Nam có viết: “Vô phúc cho vị nào được Hội Nhà văn đề cử tranh giải Nobel sắp tới. Bởi nó sẽ là khởi đầu vĩnh viễn cho những cuộc đàm tiếu, nhạo báng…”. Giả định này còn xa lắm.

Còn bây giờ, ở đây, tôi chắc chắn rằng, vô phúc cho vị nào được các giải thưởng văn chương phi nhà nước gọi tên, bởi họ sẽ phải trả giá rất đắt cho vinh quang này.

Và, đối với quý độc giả của bài viết này, “Phúc cho ai không thấy mà tin”!

“Nhà văn An-nam khổ như chó”, còn khổ bao lâu nữa?

BỎ QUÊN!

Ai cũng phải đối diện với cái ngày như thế. Vậy nên chuẩn bị từ vật chất đến tinh thần để chấp nhận mọi sự việc có thể xảy ra… Buồn, cay đắng nhưng biết làm sao?

***

BỎ QUÊN!

Nghe tiếng điện thoại reng, Bích Lan bực mình cho là quảng cáo, nhưng vẫn dở phone lên gắt gỏng :

– Alo ! Cái gì mà gọi hoài vậy?

– Dạ, cho chúng tôi gặp ông Lợi, chúng tôi gọi hai ngày nay không ai bắt máy.

– Ông Lợi không có nhà.

– Chúng tôi rất cần gặp ông Lợi

– Ông Lợi đi làm hai giờ chiều mới về, có gì nói với tôi được không, tôi là người nhà ông Lợi,

– Xin bà làm ơn nói với ông Lợi đến nhà dưỡng lão CampBell đưa ông cụ về nhà vì dịch corona nhà dưỡng lão được lệnh phải đóng cửa.

Lan hoảng hốt nghĩ cái hoạ sắp tấp vào nhà, liền xuống giọng năn nỉ :

– Thưa bà, xin bà có cách gì tạm để ông già trên đó không, tốn mấy chúng tôi cũng xin chịu, nhờ bà làm ơn giúp cho chúng tôi, chúng tôi sẽ hậu tạ riêng bà.*

– Không được cô, tôi là nhân viên đâu có quyền hành gì, 19 người già trong viện xét nghiệm có 4 người dương tính, bị nhiễm virus, hiện cho nằm bịnh viện, số còn lại kết quả âm nên cấp tốc trả về nhà cách ly 14 ngày.

Đó là lệnh của ban phòng chống dịch. Hiện người ta về nhà hết, trừ ông cụ, bởi vậy cô phải báo cho ông Lợi biết, cấp tốc đến đưa ông cụ về. Thôi, cảm ơn cô.

Bỏ điện thoại xuống Lan sững sờ : – Làm sao bây giờ?

Lợi có một bà chị và một đứa em. Gọi phone bà chị, nhờ bà chị nhận ông già về tạm mấy ngày dịch hoành hành rồi sẽ tính sau :

– Chị nên đưa cha về một thời gian ngắn rồi sẽ tính, chị lo cho cha, bọn em chịu tất cả phí tổn cho chị

– Không được, nhà tui có một phòng, lớn nhỏ năm người ở, đưa cha về ở chỗ nào. Nhưng mà cậu mợ nghĩ sao, ba năm nay ổng đã ở yên rồi, thì để ổng ở tiếp cho hết đời, đem về làm gì ?

– Bây giờ người ta không cho ở nữa, tất cả viện dưỡng lão đều bị đóng cửa. Thôi để em thuyết phục chú út thử.

Chú út viện lý do hai vợ chồng chú cả ngày đi làm vì làm y tá ở bịnh viện nên dù mọi người đều phải ở nhà, hãng xưởng đều đóng cửa, nhưng hai vợ chồng chú không được ở nhà, thì làm sao có thì giờ chăm sóc ông già.

Trước lý do đó chị không thể năn nỉ câu thứ hai. Không còn cách gì nữa, năn nỉ ai cũng không được, chị liền nghĩ đến cách cuối cùng là im lặng xem như không được tin tức gì hết, và có thể cảnh sát xem như ông già không có thân nhân, và họ sẽ giải quyết theo hướng đó, hướng không có thân nhân.

Chị mỉm cười khen mình người sáng ý, thông minh. Chị biết rất rõ anh bạn của chồng chị, cách nay ba năm, có bà mẹ già ở Pháp sang thăm, bà bị bịnh, anh gấp rút đưa vào bịnh viện, độ vài tuần sau bà cụ qua đời. Bịnh viện liên lạc thân nhân mới hay là số phone giả, địa chỉ giả.

Chiều hôm đó Lợi về hơi sớm. Đường vắng quá, một vài người lớn tuổi đi bộ có vẻ ké né trên lề đường, đeo khẩu trang, ra dáng thận trọng nghiêm nghị khác những ngày thường.

Quang cảnh khác hẳn, hơi rờn rợn, hình như ma quái núp trong cỏ cây, nơi nào đâu xa lạ hoang vu, chứ không phải nơi anh thường đi ngày hai bận cắt cỏ cho một trường học gần nhà.

Anh vừa bước vào nhà, nghe điện thoại reng, trong phòng bên cạnh chị chạy ra nhưng không kịp.

– Alo ! dạ..dạ .. dạ vâng …dạ… dạ tôi đến ngay.

Vừa đặt điện thoại xuống, anh nói ngay :

– Bọn nó đuổi ông già về, bây giờ anh phải đi đón về.

Chị cố bình tĩnh, tuy giọng hơi run run :

– Thì anh ăn cơm rồi sẽ tính sau.

– Tính toán cái quái gì, nó bảo trước đây hai ngày họ về hết rồi, nếu chiều nay không ai đón về, nó báo cho cảnh sát biết và xem như xong nhiệm vụ.

– Hay là anh để cho cảnh sát nó giải quyết xem sao.

– Làm thế cha anh sẽ chết lạnh dọc đường cái trong đêm nay.

Bực mình anh vẫn giữ nguyên bộ quần áo cắt cỏ ra xe. Anh nghĩ cũng tại anh, năm đó ông già không chịu đi Mỹ lấy lý do già rồi đi làm gì, tiếng Anh không nói được không biết lái xe, hơn nữa, mẹ anh mới mất chưa giáp năm, bỏ đi thấy tội nghiệp quá.

Nhưng anh đã bảo cha anh nên đi, tuổi già ở Mỹ có đủ thuốc men, có bác sĩ giỏi, có binh viện tốt, nhất là tránh được cái nạn dùng thuốc giả, thuốc độc của Tàu.

Bà chị cả của anh, người em trai út và nhất là vợ anh, liên tục lén anh, viết thơ về khuyên ông già nên ở lại Việt Nam lo mồ mả cho mẹ mới mất, rồi sẽ gửi tiền, gửi thuốc Tây về cho ông.

Bởi vậy ông quyết định xoá bỏ hồ sơ H.O. Khi được tin xoá bỏ hồ sơ, anh phải cấp tốc về quê khuyên bảo ép buộc ông làm lại hồ sơ. Thế mà phải chờ đến trên mười năm, hổ sơ mới được tái xét, mới được ra đi.

Freeway 17 vắng quá, anh chạy hơi quá tốc độ nên chưa đến một giờ đã ra exit Campbell.

Theo con đường nhỏ đi sâu vào rừng rậm. Tuy chưa đến 4 giờ chiểu nhưng như sắp tối, vắng một cách kinh hoàng.

Anh nghĩ làm nhà dưỡng lão ở nơi này có khác gì một nhà tù nhốt mấy ông già gần đất xa trời.

Đậu xe phía trước, anh chạy vòng vào sân sau, không có một bóng người nào, phía trong hành lang xa, một ông già nhỏ thó ngồi bất động trên cái ghế dài bên cái xách tay bằng vải .

– Trời ơi ! cha tôi đây Trời ! Anh nhào tới ôm cha anh, ông già mỉm cười, nước mắt dầm dề

– Thấy con cha mừng quá. Hai hôm nay cha ở đây một mình. Nếu tối nay con không đến, cha mò lần ra đường cái. Trời còn thương cha.

– Cha ngồi đây lâu chưa ?

– Hồi sáng giờ. Bà y tá bảo cha dọn đồ ra ngồi chờ người nhà lên, họ đóng cửa.

Lợi xách túi vải nói :

– Con cõng cha ra xe, đường đi nhiều rễ cây dễ bị vấp ngã.

Ông giả lẩm nhẩm :

– Cha ở đây đúng ba năm 4 tháng 18 ngày.

Lợi mừng thầm, ông già mình tuy ốm yếu nhưng trí óc còn khá sáng suốt mới nhớ được số ngày tháng năm ở khu rừng này.

– Bọn con đều khoẻ mạnh hết chứ ?

– Dạ, vì bịnh dịch đang lan tràn nên ai ở nhà nấy không dám ra đường, nên mình con đi đón cha..

– Hai đứa cháu nội của cha lớn lắm hả, có đứa nào có vợ chưa ?

– Chưa cha, bọn nó còn nhỏ, còn đi học mà.

Lợi lái xe chạy chậm vì đoạn đường xấu, sợ xe xóc làm mệt cha già. Nghe tiếng thở đều đều ông già ngoẻo đầu qua một bên thiu thiu ngủ.

Lợi định tạm để cha già ở cách ly tại garage xe và anh định nghỉ cắt cỏ ít nhất 2 tuần để chăm sóc cha.

Anh nguyện lần này chính anh, chinh bàn tay anh, sẽ làm mọi thứ, từ nấu ăn, giặt dũ đến tắm rửa, đổ bô, lau cầu, không để ai nhúng vào, nhất là vợ anh.

Nhắc đến vợ, anh lo lắng rồi đây anh phải cố gắng chịu đựng, cố gắng nhịn nhục tối đa, để tránh những cuộc đổ vỡ cãi vã to tiếng. Nhất là không để cho ông già nghe được những lời cãi vã.

Anh chắc chắn phải làm được vì ông già sống ở garage biệt lập.

Bữa cơm tối hôm đó tuy rất đói nhưng anh ăn không ngon vì hình ảnh cha anh khi chiều làm anh rất xúc động, anh cảm thấy tội lỗi, một ông già gầy ốm một mình ngồi cheo leo ở bìa rừng vắng vẻ tiêu điều, vào một buổi chiều sắp tắt.

Tại sao một ông già phải bị đày đoạ như thế. Mâm ăn có 4 người, hai con anh ngồi một bên, vợ anh với anh một bên.

Hai đứa nhỏ và vợ anh mỗi người chăm chú vào chiếc Iphone, không để ý gì đến việc ăn uống.

Bỗng chị hỏi :

– Cha ăn uống gỉ chưa ?

– Cha mệt đang ngủ ngoài garage, anh đang nấu cháo cho cha*

– Chắc anh gặp cha đang lang thang ngoài đường cái chứ gì?

Anh giả vờ không hiểu câu nói móc của chị, vì khi ra xe đi đón ông già, anh bảo nếu không lên đêm nay, ông già có thể chết lạnh trên đường cái.

Anh bình thản trả lời :

– Không, ông già ngồi cheo leo một mình ở hè nhà dưỡng lão.

Hai đứa nhỏ thôi ăn đứng dậy, mỗi đứa rót một ly nước, lên lầu

Chị cũng thôi ăn, đứng dậy, anh liền bảo :

– Em ngồi lại anh có vài điều muốn bàn với em.

Chị ngồi xuống nhìn thẳng vào anh.

– Anh đem cha vể đây ở tạm một thời gian, có thể nửa năm, một năm để ổng ổn định sức khoẻ, anh sẽ dẫn ổng về lại Việt Nam ở với bà cô ruột anh cũng đang sống một mình với đứa cháu trong họ.

Anh sẽ làm hết mọi việc từ đi chợ, nấu ăn, rửa chén, dọn dẹp trong nhà, lau chùi cầu tiêu nhà cửa, v..v..anh chỉ tha thiết xin em một điều… một điều… là cố gắng vui vẻ với ông già trong lúc ổng còn ở nhà này với chúng ta.

Nghĩa là em sẽ không làm gì hết, cố nhiên việc chăm sóc ông già là việc của anh, nếu em… thấy không thể được thì cũng nên cho anh biết.

Không khí nặng nề im lặng. Chị đứng dậy, chậm chậm đi lên lầu. Khi chị đi rồi anh bực mình tại sao lại đặt vấn đề với chị một cách thẳng thừng thô bạo như vậy, vô tình đẩy chị vào thế chống đối, anh cảm thấy mình kém cỏi quá, làm vấn đề đáng lẽ đơn giản, hoá ra khó khăn phức tạp hơn.

Nhà anh có 4 phòng, trên lầu 3 phòng ngủ, 2 phòng tắm. Hai con hai phòng anh chị một phòng.

Tầng trệt 1 phòng ngủ 1 phòng tắm. Khi ông già chưa đến nhà dưỡng lão ông ở phòng dưới này. Để ông nằm một mình ở garage anh không yên tâm, đêm hôm có việc gì ông kêu không ai nghe, anh đặt một giường nhỏ để nằm cạnh ông già.

Lấy lý do vì dịch corona, cách ly xã hội, nên anh yên tâm để ông già ở Garage cho đến khi hết dịch.

Cũng với lý do đó anh giải thích cho ông biết vợ và hai con anh chưa dám ra garage là vì vậy…

Thật sự ông già hiểu hết sự việc, nhất là suốt hơn ba năm nay, ba chục người bị ***“lưu đày”*** *(chữ của các cụ ở nhà dưỡng lão Campbell )* ở chung với nhau. Hầu như họ chung một tâm trạng bị con tống họ ra khỏi nhà không phải vì tốn kém, vì người nào cũng có tiền già, tiền chánh phủ cấp cho tạm đủ sống, mà vì người càng già càng làm cuộc sống của chúng mất tươi trẻ, mất hạnh phúc, và cũng chính người già bị gán cho là cái ổ vi trùng, ổ bịnh tật.

Người già đồng nghĩa với dơ dáy. v..v… Tất cả họ, những người Việt nam ở trại Campbell, đều là cựu sĩ quan miền Nam Việt Nam sau ngày mất nước tháng Tư năm 1975, trung bình mỗi người chịu gần 10 năm tù cộng sản.

Vì cùng chung một tâm trạng, một ngôn ngữ họ thông cảm với nhau họ không quá chán nản quá cô đơn như ở các nhà dưỡng lão khác nói tiếng Anh là chính, nên người nào không nói được, chịu rất nhièu thiệt thòi, có khi bị đánh đập vì bị xem như bất tuân các mệnh lệnh của y tá y công.

Vì chia xẽ vì thông cảm vì cùng cảnh ngộ họ tránh được những cãi vã, những xô xát với nhau, nhưng họ mỗi ngày mỗi chuốc thêm những oái oăm, những nỗi buồn vì bất hạnh với gia đình, với con cháu.

Mỗi ngày họ phết thêm vào bức tranh tập thể đó, một nét buồn thảm ảm đạm. Thế cho nên họ thiếu hẳn niềm vui, người nào cũng mang một bộ mặt âu sầu buồn thảm.

Thậm chí có người than rằng ở tù tuy mất tự do, tuy nhục nhã, nhưng ít nhất một tháng, hoặc 6 tháng, có gia đình đến thăm nuôi, và gia đình còn thương xót, còn tôn trọng, còn kính nể người đang ở tù, và còn hi vọng người tù còn có ngày về để cùng xây dựng lại cuộc sống tạo lại hạnh phúc.

Trái lại vào trại dưỡng lão không mất tự do, nhưng gần như không cần tự do nữa, như bước vào giai đoạn cuối cuộc đời . Họ thật sự bi bỏ quên. Có người suốt năm không có người đến thăm.

Ông cho biết khi vào trại, tổng số là 30 người và gần 4 năm sau chỉ còn 19 người. Mười một người lìa trần vì buồn bã quá, vì chán nản đến cùng cực, vì tủi thân, vì bị bỏ quên, chứ không phải vì những bịnh nan y.

Có những người không chịu uống thuốc, có người phản đối đi bịnh viện.

Từ ngày đưa cha về nhà, anh thay thế vợ làm mọi việc trong nhà, anh mới biết rằng tuy công việc nhẹ, nhưng bực mình quá.

Quần quật từ sáng đến tối, không hết việc. Anh dọn cho cha anh và chính anh ăn ngoài garage, sợ cha buồn anh giải thích vì trong thời kỳ cách ly nên phải như thế. Vợ con anh ăn trong nhà.

Tuy ông hiểu điều giải thích của anh là đúng trong thời kỳ cách ly này, nhưng ông vẫn buồn buồn tủi thân. Ông mỉm cười tự thấy mình càng già càng khó tính, càng cô đơn càng khó tính.

Ông nghĩ đáng lẽ ở tuổi mình tuổi gần 80 phải dễ dãi, phải cởi mở, sao cũng xong cũng tốt. Ông nhớ lại cái đề tài này, trong nhà dưỡng lão, thường đem ra bàn luận với nhau trong nhóm anh em, và lúc nào ông cũng ở phe chỉ trích những người khó tính, và quả quyết vì tính xấu đó, mà con cháu nó không muốn sống gần với mấy người già, dù đó là ông bà nội ngoại.

Mấy người bạn của ông không đồng ý và cho rằng vì hai nền văn hoá Đông phương Tây phương đối lập nhau, nên mới có những bi kịch như vậy.

Rồi họ dẫn chứng ở Việt Nam chẳng hạn *(trừ dưới thời cộng sản) *đứa bé lên ba đã được cha mẹ dạy dỗ lễ độ chào hỏi, trong khi ở Mỹ trẻ con lên đại học chưa có thói quen chào hỏi.

Vấn đề này với ông, chưa ngã ngũ, chưa tìm ra câu giải đáp thoả mãn.

Từ ngày ra khỏi nhà dưỡng lão Campbell. ông sống một mình ở garage ông hay nghĩ đến người vợ quá cố của ông. Nếu bà còn sống, thì có lẽ đời ông không như thế này, không có chuyện ở nhà “lưu đày Campbell”.

Càng nhớ đến bà, ông càng thấy ở bà có phẩm cách cao quí, một người vợ tuyệt vời, một người đàn bà suốt đời chỉ biết hi sinh cho chồng cho con, một người kính trọng cha mẹ ông hơn cả ông kính trọng.

Có hôm trong giấc chiêm bao ông thấy bà ngồi cạnh giường ông, ông mừng quá ngồi dậy thì bà lặng lẽ đứng dậy ra đi im lặng không nói một lời.

Rồi những đêm tiếp theo, ông mong được gặp bà nhưng không thấy. Ông tính sẽ nói với anh lập bàn thờ thờ mẹ để đêm đêm có chỗ ông thắp cây nhang, tội nghiệp. Nhưng ý nghĩ này bị dập tắt ngay, vì ông, và bạn bè ông đều biết, có bao giờ bọn chúng chấp nhận bàn thờ.

Anh vui vẻ hỏi cha :

– Hôm nay con đi chợ, cha muốn mua thứ gì, muốn ăn uống gì, con mua cho cha.*

– Không, không, khỏi mua gì con, cha ăn gì cũng được, nhà có gì ăn nấy.

Anh vừa ra xe, thì chị và hai đứa nhỏ đến cửa trong nhà xuống garage, chị nói lớn trong nước mắt :

– Hai cháu và con chào cha. Nhờ cha nói với ổng có cái thư để trên tủ lạnh. Ổng không cần vợ, không cần con, nên bọn con ra đi. Nói xong chị và hai đứa nhỏ lui vào nhà. Ông bối rối không kịp nói gì. Mệt quá ông nằm đừ lên giường cảm thấy khó thở. Ông mê man vào giấc ngủ hồi nào không biết.

Anh đặt mâm cơm lên bàn mới hay cha anh đang ngủ. Anh ngạc nhiên sao giờ này cha anh còn ngủ :

– Cha, cha, dậy ăn cơm rồi hãy ngủ cha.

Ông già ngồi dậy bần thần không biết ở đâu. Anh nói lớn :

– Hình như cha bị cảm phải không.*

*- Không, hơi mệt thôi, không sao đâu.

Ông ngồi dậy cố nuốt miếng cơm, nước mắt dầm dề :

– Vợ con với hai đứa nhỏ bỏ nhà đi rồi

– Cha nói cái gì vậy cha ?

Ông lặp lại :

– Vợ con bỏ nhà đi rồi. Nó có ra chào cha và dặn cho con biết có thư trên tủ lạnh.

Anh vội vàng chạy vào nhà. Thư viết : “Ông xem mẹ con tui không ra gì nên chúng tôi phải ra đi”.

Viết vội vã chữ nguệch ngoạc, chỉ một câu thôi, không ký tên không đề ngày. Tức qúa anh xé nát tờ thư, ngồi thừ xuống ghế nước mắt tuôn chảy, anh khóc. Anh ngồi như thế đến 1 giờ sáng, giật mình nghĩ đến ông già, anh vội bước ra garage cố điềm tĩnh dấu cha anh.

Cha anh nằm im lặng hình như chưa ngủ, vì ông già cựa mình và thỉnh thoảng ho. Anh nghĩ phải cố gắng bình thản trước cha anh. Mong hết cơn dịch anh sẽ đưa cha anh về Việt nam rồi anh sẽ đi tìm vợ con anh. Nhất định không để đổ vỡ gia đình. Anh nghĩ, lỗi do mình vì bất tài một phần và thiếu khéo léo tế nhị trong việc xử thế cho nên mới ra nông nỗi này.

*Nguyễn Liệu*

*San Jose