S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Biệt phủ & biệt thự

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Biệt phủ & biệt thự

Sau khi xem qua giá vé, tôi đổi ý liền, tới mấy ngàn Mỹ kim lận. Ở quê tôi không ít người phải bán thân (hay bán thận) mà chỉ được vài trăm đô la thôi nên tôi đâu có điên mà… vứt tiền qua cửa sổ như vậy.

Đã vậy, tôi cũng hơi ngại ngần rằng cái thứ thường dân tị nạn như mình mà giả dạng làm du khách e cũng khó coi. Tôi còn sợ là mình sẽ vô cùng lúng túng khi được những tiếp viên hàng không tiếp đãi trang trọng quá.

Cách đây chưa lâu tôi cũng đã có đôi chút kinh nghiệm (rất phiền) khi bầy đặt làm sang, liều mạng thuê một cái phòng ngủ hơi mắc tiền ở Rangoon – Miến Điện. Vừa bước xuống taxi, nhân viên khách sạn túa ra chào đón khiến tôi hết hồn hết vía.

Họ đưa tôi vào một cái phòng rộng thênh thang có bàn ăn, bàn viết, bàn phấn, tủ lạnh, sofa tiếp khách to đùng, và cả hoa tươi trên table de nuit. Mình ên tui mà tới hai cái giường ngủ lận, cái lớn/cái nhỏ, ra nệm trắng tinh. Trên mặt gối còn có đặt mấy búp sen hồng tươi thắm và thơm ngát nữa.

Tôi chỉ dám nằm ké né chút xíu xiu ở mí giường thôi, và nằm thao thức cho tới gần sáng luôn vì không quen ngủ ở một nơi sang trọng. Đợi mặt trời vừa lú là tôi cút ngay vì ngại cái cảnh nhân viên khách sạn (lại) chắp tay xá chào khi từ biệt.

Tôi trở lại với mấy cái nhà trọ rẻ tiền quen thuộc, chi phí chỉ vài Mỹ kim một ngày thôi – breakfast included. Tuy phải nằm giường hai tầng, và ngủ chung phòng với mấy cô/cậu Tây ba lô (xốc xếch) nhưng tôi cảm thấy thoải mái hơn nhiều. Tưởng chừng như mình là một con cá hồi, vừa tìm lại được đúng dòng sông cũ vậy!

Hoá ra Oscar Lewis cũng không sai lắm. Nhà nhân chủng học này đưa ra cái khái niệm culture of poverty (văn hoá nghèo) và tin rằng một kẻ sinh trưởng và nuôi nấng từ một gia đình – và đất nước nghèo khó – như tôi rất khó thích ứng với những sinh hoạt của nếp sống phú túc nên cứ … nghèo hoài, cho tới chết luôn!

Tui cũng sắp chết tới nơi rồi nên không có gì để phiền hà ráo trọi nhưng khi còn sống thì nhất định không để cái văn hoá nghèo biến mình trở thành một kẻ nghèo văn hóa.

Chỉ cần ngồi nhà – không phải tiêu dùng một đồng nào ráo trọi – xem một bộ phim tài liệu (Amazing Hotels: Life Beyond the Lobby) dài sáu tiếng, cũng đủ giúp tôi học hỏi rất nhiều điều kỳ thú về những khách sạn lạ lùng và sang trọng vòng quanh thế giới: Marina Bay Sands (Singapore), Giraffe Manor (Kenya), Royal Mansour (Morocco), Fogo Island Inn (Newfoundland), Icehotel (Sweden) …

 

Riêng Mashpi Lodge thì tôi coi đi coi lại tới vài lần. Mashpi được coi là “Five Star Ecohotel.” Có tên trong danh sách những khách sạn độc đáo của thế giới do National Geographic tuyển chọn, dù Mashpi chỉ chiếm một diện tích rất khiêm tốn, và nằm ẩn mình trong khu rừng mây (cloudy forest) xa khuất thuộc rặng núi Andean ở Nam Mỹ.

Chủ nhân là Roque Sevilla (cựu thị trưởng Quito, thủ đô của Ecuador) người trở thành triệu phú nhờ vào dịch vụ bảo hiểm và truyền thông, đã mua 1.200 mẫu Tây đất rừng với giá 350, 000 USA dollars, và bỏ thêm 10 triệu Mỹ Kim nữa để xây dựng quán trọ Mashpi Lodge. Ông tâm sự: “Mọi người đều nghĩ rằng tôi điên. Everybody thinks I’m crazy.”

Với số vốn lớn lao này mà khách sạn chỉ có 22 phòng thì quả là “khùng” thiệt nhưng mục đích của Roque Sevilla không phải là đầu tư sinh lợi. Ông muốn cứu vãn, và bảo vệ, một phần rừng nguyên sinh đang bị mất dần vì sự khai thác quá tải của những công ty cung cấp gỗ.

Phần lớn nhân viên của Mashpi Lodge vốn là thợ làm rừng hay thợ săn. Nay họ đều trở thành những chuyên viên bảo vệ thiên nhiên. Kết quả là nhiều chủng loại (chim chóc cũng như động vật hoang dã) mất dạng từ hơn nửa thế kỷ đã có mặt trở lại trong khu rừng mây của Mashpi Lodge – theo ghi nhận bởi camera traps của nhà sinh vật học thường trú Carlos Morochz.

Tôi cứ nhìn cái khách sạn thiết kế toàn bằng kiếng (để du khách đứng ở góc nào cũng có thể tiếp xúc với thiên nhiên) với thư viện, phòng thí nghiệm, đài quan sát … của ông thị trưởng Quito mà không khỏi ngẩn ngơ và chạnh lòng nghĩ đến giới quan chức ở đất nước mình.

Thay vì bảo vệ thì những kẻ này chính là thủ phạm đã phá nát rừng núi ở Việt Nam để khai thác gỗ kiếm tiền, và xây những biệt thự hay biệt phủ :

– Biệt phủ Yên Bái và tài sản bất minh

– Bất ngờ biệt phủ gỗ quý của lãnh đạo kiểm lâm

– Biệt phủ xây bằng 2.000 m3 gỗ quý của đại gia xứ Nghệ

– Hoa mắt trước biệt phủ rộng thênh thang bằng gỗ quý của ông Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Quảng Trị

– Vì sao quan chức lại có dinh thự, “biệt phủ” xa hoa đến vậy?

– Hình ảnh khu “biệt thự quan chức” ồn ào ở Lào Cai

– Biệt thự quan chức: Những dinh thự, biệt phủ “ồn ào” dư luận thời

– Biệt thự Sơn La là của em trai Chủ nhiệm UB Kiểm tra tỉnh

– Con gái nguyên lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước đứng tên “biệt phủ”

– 137 biệt thự trong Khu Bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà: “Tối mật” hay mặt tối của một toan tính

– Biệt phủ vẫn sừng sững sau những ồn ào

Bà Nguyễn Hải Vân, một chuyên viên về môi trường cho hay :

“Rừng phòng hộ ở Việt Nam đang suy giảm mạnh cả về diện tích và chất lượng. Chỉ tính từ 2004-2014, diện tích rừng phòng hộ đã giảm 1,7 triệu hécta, tương đương tốc độ suy giảm trung bình 23%/năm.”

Nhà báo Trương Châu Hữu Danh nhận xét :

“Trên khắp dải đất hình chữ S này, nhà gỗ triệu đô không hiếm. Nhưng những căn nhà này không thuộc về giới siêu giàu, giới doanh nhân. Những căn nhà này, trớ trêu thay, lại là của cán bộ. Sau lệnh đóng cửa rừng, các món đồ gỗ, nhà gỗ này càng trở nên vô giá.

Một thực tế là nhà cán bộ càng to thì lũ càng lớn, dân chết càng nhiều. Những căn nhà xa hoa này được đánh đổi bằng mạng dân. Các vị ngủ có ngon không khi dưới chân mình là xác dân lập lờ trong lũ dữ?”

Theo tôi thì “các vị cán bộ” này đều vẫn ngủ rất ngon vì họ được bảo vệ rất kỹ trong những căn “nhà gỗ triệu đô” bởi chế độ hiện hành. Qua lệnh xử phạt “500 triệu đồng và cho tồn tại ‘biệt phủ’ của gia đình ông Phạm Sỹ Quý” ở Yên Bái, mọi người đều thấy được cái tâm, cũng như cái tầm, của những người hiện đang nắm quyền bính ở Việt Nam. Đất nước này tuy không nằm trên đường xích đạo như Ecuador nhưng số phận thì e đen đủi hơn nhiều.

Cẩn thận củi lửa, anh ấy xuất chiêu hiểm

Cẩn thận củi lửa, anh ấy xuất chiêu hiểm

Đỗ Ngà

7-10-2022

Tôi nợ ngân hàng 4 tỷ nhưng tôi đang có trong tay căn nhà theo tôi định giá 6 tỷ đồng. Tuy nhiên giờ bất động sản bị đóng băng nên tôi kêu giá 5 tỷ không ai mua. Thậm chí hạ về 4 tỷ, rồi 3 tỷ cũng không bán được. Bị ngân hàng dí, không những có nguy cơ mất trắng căn nhà mà còn dính tù tội, nên vợ chồng tôi mới nghĩ ra một chiêu lừa siêu hạng vừa có tiền trả nợ vừa giữ được nhà, đợi giá lên để bán. Cách nào?

Sau khi bàn bạc, vợ chồng tôi cho xẻ căn nhà (xẻ tưởng tượng) thành 50 phần, mỗi phần trị giá 120 triệu và kêu gọi mọi người góp vào “mua”. Vì căn nhà 6 tỷ mà có đến 50 người “sở hữu” nên cuối cùng chẳng ai có quyền giữ căn nhà này (chi có 120 triệu mà đòi sở hữu vật 6 tỷ thì ai chịu?). Vậy nên, tôi mới nói với 50 “con bò” rằng: “Tôi sẽ vay lại căn nhà mấy anh với lãi suất hơn lãi suất ngân hàng”. Thế là 50 “con bò” thấy lợi nên đồng ý. Như vậy, với chiêu này tôi vừa có được 6 tỷ đồng để trả nợ ngân hàng và vừa có căn nhà để đợi giá lên bán trả nợ cho “đám bò” sau.

Ở đây, căn nhà đáng lý trị giá 3 tỷ thì tôi đẩy lên 6 tỷ. Bằng cách nào? Tôi nói vợ tôi đứng ra mua nó với giá 6 tỷ để “đám bò” tin thật trị giá của nó là 6 tỷ (vì có hợp đồng mua bán mà?). Thế là “bò” tin và góp vào. Vậy là “bò” đã giải quyết nợ giúp tôi, không những thế còn để tôi giữ tài sản của họ. Và tôi đợi giá lên để bán. Nhưng nếu giá nhà nằm mãi không lên thì tôi sẽ bán tống rồi ôm tiền bỏ chạy. Khi đó con bò vừa mất tiền vừa không có nhà và trở thành những nạn nhân của trò lừa đảo của 2 vợ chồng tôi.

Chiêu lừa này có 2 phần, phần bùa phép nâng khống giá và phần vét túi nạn nhân. Chiêu dùng vợ để mua lại chính căn nhà của tôi là thủ thuật nâng khống giá. Trò chia nhỏ một căn nhà làm 50 phần rồi dụ “bò” là trò vét túi nạn nhân. Kế hoạch lừa người dân rất hoàn hảo. Tôi có được cả nhà và tiền còn “nhà đầu tư” thì không có gì cả. Nếu các bạn công tâm nhìn nhận, thì tôi là kẻ lừa đảo hay là doanh nhân, chắc không khó để kết luận.

Cũng trò đó nhưng nó làm ở quy mô cực lớn, giá trị nhiều tỷ đô thì đó là siêu lừa, rất nguy hiểm cho xã hội. Hiện nay Vinhomes đang tồn kho lượng bất động sản nhiều tỷ đô không bán được. Ông Phạm Nhật Vượng đã dựng lên một trò lừa đảo lòng vòng như thế để đưa hàng vạn nạn nhân vào tròng, nhằm mục đích chiếm đoạt hàng tỷ đô của nạn nhân, trong khi đó tài sản “đã bán” thì Vingroup vẫn giữ để đợi giá lên.

Mới đây ông Phạm Nhật Vượng cho thành lập công ty VMI để mua lại hàng bất động sản tồn kho của Vinhomes (cả Vinhomes và VMI đều của Vingroup) với việc góp vốn cho VMI bằng cổ phiếu của Vingroup. Nói chung công ty VMI lập vốn khống y hệt như FLC Faros của Trịnh Văn Quyết. Công ty này chỉ có chức năng tự định giá bất động sản của Vinhomes bằng các trò mua bán để tạo lòng tin cho các “bò” rằng, giá đó là giá thị trường (thực ra tôi định giá chính tôi thì luôn đẩy giá lên cao) nhưng thực chất là giá đã bị đẩy lên quá cao.

Và phần sau là trò chia nhỏ tưởng tượng một khối bất động sản thành 50 phần để “bò” đổ tiền vào cho Vin bỏ túi và trang trải nợ nần. Nhà thì vẫn trong tay Vin mà tiền thì Vin giữ (ăn gì khôn thế anh Vượng?). Và đó là những gì mà anh Vượng nhà ta đang làm.

Ông Vượng đưa ra “cao kiến” lừa đảo này, cho thấy, việc huy động vốn của Vingroup đang bế tắc, trong khi đó nợ đang “dí tới trôn”. Hiện nay Vingroup đang có tỷ lệ vốn vay gấp gần 3 lần vốn chủ sở hữu. Đòn bẫy tài chính là con dao hai lưỡi, nếu nguồn thu chính là bất động sản bị chôn vào trong hàng tồn kho thì đòn bẫy này đang làm tập đoàn Vingroup của anh Vượng đã bấp bênh càng bấp bênh hơn, thậm chí chao đảo mạnh. Với triệu chứng như vậy thì theo nhận xét chủ quan của tôi, Vingroup đang mắc “bệnh hiểm nghèo”.

Trong thời đại mà siêu lừa trá hình “doanh nhân thành đạt” tràn lan thì mọi người nên thận trọng. Kinh tế suy thoái, mọi người đều chịu sự tác động của nó ít nhiều. Kẻ nợ nhiều sẽ đứng trước nguy cơ mất trắng và tù tội nặng nề, họ sẽ tìm cách đẩy rủi ro về những “nhà đầu tư” nào đang hám lợi. Thời suy thoái, cần vứt cái tâm tham và thật cẩn trọng. Thật đấy, đừng dễ dàng đánh mất tài sản chỉ vì lòng tham.

Giải Nobel Hòa bình 2022 được trao cho các nhà hoạt động nhân quyền ở Belarus, Nga và Ukraine

Giải Nobel Hòa bình 2022 được trao cho các nhà hoạt động nhân quyền ở Belarus, Nga và Ukraine

Vũ Ngọc Yên

7-10-2022

Giải Nobel Hòa bình 2022 được trao cho Ales Bialiatski, nhà hoạt động nhân quyền người Belarus, cùng tổ chức nhân quyền Memorial ở Nga và Trung tâm Tự do Dân sự (Center for Civil Liberties) ở Ukraine”. Ủy ban Nobel công bố hôm thứ Sáu 8-10-2022 tại Oslo quyết định trao giải Nobel Hòa bình cho ông Bialiatski và hai tổ chức trên vì muốn tôn vinh “quyền con người, dân chủ và cùng tồn tại hòa bình” ở ba quốc gia láng giềng Belarus, Nga và Ukraine.

Bà Berit Reiss-Andersen, chủ tịch Ủy ban Nobel Na Uy nói thêm rằng, những người đoạt giải đã “bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong nhiều năm qua, bằng cách ghi nhận các hành vi tội ác chiến tranh, lạm dụng nhân quyền và quyền lực. Họ đã thể hiện tầm quan trọng của xã hội dân sự đối với hòa bình và dân chủ.

Nhà hoạt động nhân quyền Ales Bialiatski

Ales Bialiatski sinh ngày 25 tháng 9 năm 1962 tại Vyartsilya, Soviet Union (Nga, Liên Xô). Ông là một nhà hoạt động nhân quyền người Belarus.

Khi Bialiatski được hai tuổi, gia đình chuyển từ Nga đến Belarus. Bialiatski nhận bằng tiến sĩ văn học tại Học viện Khoa học Quốc gia Belarus.

Năm 1988, ông và những người khác đã tổ chức các hoạt động công khai để tưởng nhớ các nạn nhân của chủ nghĩa Stalin. Một số vụ bắt giữ và phạt tiền sau đó. Bialiatski là người đồng sáng lập Mặt trận Nhân dân Belarus Adrashene (Phục sinh), đã vận động cho dân chủ hóa từ năm 1991.

Năm 1996, bất chấp nguy hiểm và sự phân biệt đối xử, ông đã thành lập tổ chức nhân quyền Vyazna (cũng là Wesna), tổ chức hỗ trợ các tù nhân chính trị và gia đình của họ. Vì điều này, ông đã được vinh danh với Giải thưởng Homo Homini năm 2005.

Bialiatski bị bắt ngày 4 tháng 8 năm 2011, ít lâu sau bị kết án bốn năm rưỡi trong trại tù vì tội trốn thuế. Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ chỉ trích thủ tục này là “dàn dựng chính trị”. Tổ chức nhân quyền Amnesty International cũng yêu cầu trả tự do cho Bialiatski.

Memorial InternationalTổ chức nhân quyền quốc tế Memorial nổi lên như một phong trào vào mùa thu năm 1987, vào thời điểm chính sách glasnost và perestroika được Tổng Bí thư đảng cộng sản Liên xô Mikhail Gorbachev quảng bá, khởi đầu hoạt động ở Moscow và sau đó lan rộng ra các vùng khác của Liên Xô. Memorial được chính thức thành lập vào tháng 1 năm 1989. Là một tổ chức nhân quyền có trụ sở ở Moscow, liên kết với hơn 80 tổ chức nhân quyền trên khắp nước Nga, các quốc gia hậu Xô Viết khác và các khu vực khác của châu Âu, bao gồm cả Đức. Trọng tâm hoạt động là xét lại quá trình xử lý lịch sử của chế độ chuyên chế chính trị, ủng hộ việc tuân thủ nhân quyền và phúc lợi xã hội cho những người sống sót trong hệ thống trại tù lao động Xô Viết (Gulag). Vào tháng 11 năm 2021, văn phòng công tố Nga yêu cầu giải thể Memorial và các tổ chức hoạt động trong khu vực ở Nga. Tòa án Tối cao Nga cuối cùng đã thực hiện việc giải thể vào ngày 28 tháng 12 năm 2021. Các cơ sở độc lập của Tổ chức nhân quyền Memorial ngoài nước Nga vẫn tiếp tục hoạt động.Center for Civil Liberties Tổ chức Trung tâm Tự do Dân sự (Center for Civil Liberties – CCL) được thành lập năm 2007, nhằm thúc đẩy các giá trị nhân quyền, dân chủ và đoàn kết ở Ukraine và Âu-Á, cũng như củng cố nguyên tắc về phẩm giá con người. Tổ chức phi chính phủ đặt trụ sở ở Kyiv, Ukraine. Trọng tâm của CCL là bảo vệ các quyền và tự do cơ bản; kiểm soát việc tuân thủ các quyền con người trong các hoạt động của chính quyền quốc gia và địa phương; làm việc với những người trẻ tuổi để tạo ra một thế hệ mới của những người bảo vệ nhân quyền và các nhà hoạt động xã hội dân sự; vận động, giáo dục nhân quyền và dân chủ, thực hiện các chương trình đoàn kết quốc tế.Tổng cộng có 251 ứng cử viên và 92 tổ chức đã được đề cử cho Giải Nobel Hòa bình 2022. Danh sách đề cử cho giải Nobel Hòa bình năm nay còn có Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Cao ủy tị nạn LHQ (UNHCR) và nhiều cá nhân danh tiếng như Giáo hoàng Francis, lãnh đạo đối lập Nga Alexei Navalny, Greta Thunberg và phong trào Thứ sáu vì Tương lai của Thụy Điển. Cả Tổng thống Ukraine, Zelensky cũng được dư luận coi là ứng viên tiềm năng cho giải Nobel Hòa bình. Năm nay, giải thưởng bị lu mờ bởi cuộc chiến tranh xâm lược Ukraine của Nga.

Năm 2021, Ủy ban Nobel Na Uy đã trao giải Nobel Hòa bình vinh danh Dmitry Muratov, tổng biên tập báo đối lập chính quyền Nga Novaya Gazeta và Maria Ressa, nhà báo người Philippines.

Các giải Nobel khác

Ngoài giải Nobel Hòa bình còn có các giải Nobel cho Y khoa, Vật lý, Hoá học và Văn chương 2022, đã được công bố trước đó. Giải Nobel Y học thuộc về nhà cổ sinh học nghiên cứu tiến hóa Svante Pääbo (Thụy điển) hiện đang làm việc tại Leipzig, Đức vì công trình giải mã bộ gen của người Neanderthal. Giải Nobel Vật lý thuộc về ba nhà nghiên cứu lượng tử Alain Aspect (Pháp), John F. Clauser (Mỹ) và Anton Zeilinger (Áo). Giải thưởng Nobel hóa học được trao cho ba nhà thiết kế phân tử Carolyn R.Bertozzi(Mỹ), Morten Meldal (Đan mạch) và K. Barry Sharpless (Mỹ). Giải văn chương về tay Nhà văn Pháp Annie Ernaux.Ngày 10-10-2022 giải Nobel Kinh tế sẽ được công bố. Đây là giải thưởng duy nhất không được nhắc trong di chúc của nhà phát minh chất nổ Alfred Nobel (1833-1896).

Tất cả các giải thưởng Nobel có giá trị khoảng 10 triệu Krone Thụy điển, tương đương 920.000 €. Lễ trao giải Vật lý, Hóa học, Y khoa và Văn chương được tổ chức tại thủ đô Stockholm (Thụy Điển) ngày 10-12, là ngày Alfred Nobel từ trần.

Riêng giải Nobel Hòa bình là giải Nobel duy nhất không trao ở Stockholm, mà được Ủy ban Nobel của Quốc hội Na Uy trao tại thủ đô Oslo, cũng vào ngày 10-12. Giải này được coi là giải thưởng chính trị danh giá nhất trên thế giới.

Trong di chúc, nhà sáng lập giải Nobel nêu nguyện vọng giải thưởng lập ra để trao cho những cá nhân hay tổ chức góp phần xây dựng tình hữu nghị, huynh đệ giữa các dân tộc cũng như giải thể hay cắt giảm quân đội ở mọi quốc gia trên thế giới.

Lễ Đức Mẹ Mân Côi vào ngày 7 tháng 10-Cha Vương

Lễ Đức Mẹ Mân Côi vào ngày 7 tháng 10

Mến Chúc Bạn và gia đình một ngày bình an trong Chúa và Mẹ. Cha Thánh Pio khuyên: “Hãy yêu mến Đức Mẹ và hãy lần chuỗi Mân Côi, vì Kinh Mân Côi là vũ khí chống lại sự dữ của thế giới hôm nay.” Mời bạn hãy cầm lấy vũ khí để chống lại sự dữ của thời đại ngày nay nhé.

Cha Vương

Thứ 6: 07/10

          Hôm nay Giáo Hội mừng lễ Đức Mẹ Mân Côi vào ngày 7 tháng 10, và kính trọng thể vào ngày Chúa Nhật đầu tháng 10 dương lịch và dâng cả tháng 10 làm “ tháng Mân Côi” kêu gọi các tín hữu lần hạt Mân Côi. Giáo Hội nhờ kinh Mân Côi đã được nhiều ơn lành đặc biệt. Ngày 7 tháng 10  năm 1571 đạo binh Công Giáo đã chiến thắng quân Hồi, toan xông vào xâm chiếm nước Ý, tại vùng Lepante. Đức Giáo Hoàng Piô thứ V đã từ điện Vatican thị kiến trận chiến này. Để ghi nhớ ơn ấy Ngài đã lập lễ “ Đức Bà Thắng Trận” ( Notre Dame de la victoire), sau đổi thành lễ Đức Bà Rất Thánh Mân Côi, và thêm vào kinh cầu Đức Bà câu: Đức bà phù hộ các giáo hữu. Cầu cho chúng con.”

          Hai năm sau , năm 1573, Đức Giêgôriô XIII muốn đặc biệt kính nhớ chiến thắng Lepane, đã truyền mừng lễ Mân Côi trọng thể vào Chúa Nhật đầu tháng 10, tại các nhà thờ có hội Mân Côi và bàn thờ kính dâng Đức Mẹ Mân Côi.

          Năm 1716, Đức Clêmentê XI truyền mừng lễ Đức Bà Mân Côi trọng thể trong khắp Giáo Hội, để kính nhớ ơn chiến thắng tại vịnh Belgrade nhờ việc giáo hữu lần hạt Mân Côi kính xin Đức Mẹ. Năm 1888, Đức Lêô XIII quyết định nâng lễ Mân Côi lên bậc “ kép hạng nhất” ( Dup lex primae classis) mừng ngày 7 tháng 10 và kính trọng thể Chúa Nhật đầu tháng 10.

         Ngày 2-2-1974, Đức Phalô VI trong tông huấn “Tôn Sùng Đức Maria” (Marialis Cultus) vẫn nhìn nhận lễ Mân Côi mừng ngày 7 tháng 10 vì lý do chính lễ này là sự tham dự mật thiết của Đức Maria vào những mầu nhiệm Chúa Kitô, mà kinh Mân Côi là điển hình. (MC 8)

        Đến năm 1913, thì lễ này được đức Pio X định vào ngày 7-10 mỗi năm. Tước hiệu “Đức Mẹ phù hộ các giáo hữu” được thêm vào trong kinh cầu Đức Bà từ đó. ( Nguồn: mạng—mancoichihoa)

        Tôi tớ Chúa (tu sĩ) Joseph Kentenich nói: “Kinh Mân Côi là phương dược hiệu nghiệm cho thời hiện đại. Kinh Mân Côi sẽ ảnh hưởng lên những biến cố của thế giới hơn bất cứ những cố gắng ngoại giao, và cũng có tác động lên đời sống công cộng hơn tất cả mọi cố gắng của bất cứ tổ chức nào.” Vậy hôm nay mời Bạn cộng tác với mình hãy chạy đến Mẹ Maria qua Kinh Mân Côi nhé để cầu nguyện cho cho nền hòa bình trên trên thế giới.

    Sau đây là 15 điều Đức Mẹ đã hứa, qua thánh Dôminicô, cho những ai siêng năng đọc kinh Mân Côi. Mời bạn đọc và coi đây là một lời mời khẩn thiết “hãy chạy đến Mẹ!” trong thời gian sáo trộn này.

1- Những ai đọc kinh Mân Côi sẽ nhận được những ơn cao cả.

2- Mẹ hứa sẽ phù trợ đặc biệt, và ban nhiều đặc ân cho những ai đọc kinh Mân Côi.

3- Kinh Mân Côi sẽ là áo mã giáp chống lại hỏa ngục, phá tan các ngụy thuyết.

4- Kinh Mân Côi là phương tiện thánh hóa các linh hồn.

5- Linh hồn nào đến với Đức Mẹ bằng kinh Mân Côi, sẽ không bị hư mất.

6- Ai đọc kinh Mân Côi sẽ không bị rủi ro, chết bất đắc kỳ tử.

7- Những ai tôn sùng Kinh Mân Côi sẽ được chịu các phép bí tích trong giờ

chết.

8- Ai mộ mền chuỗi Mân Côi, khi lâm tử sẽ được chia sản nghiệp trên thiên

đàng.

9- Mẹ sẽ cứu khỏi luyện ngục cho những ai siêng năng đọc kinh Mân Côi.

10- Con cái trung thành với kinh Mân Côi, sẽ được hưởng vinh quang trên trời.

11- Nhờ lần hạt Mân Côi, Mẹ sẽ ban cho hết những gì mình xin.

12- Những ai truyền bá chuỗi Mân Côi, được Mẹ giúp đỡ trong những lúc khó khăn.

13- Những ai truyền bá chuỗi Mân Côi, được cả thiên quốc cầu bầu khi sống và khi chết.

14– Những ai đọc kinh Mân Côi đều là con cái Mẹ và anh em với Chúa Giêsu.

15- Tôn sùng chuỗi Mân Côi là dấu chắc chắn được ơn cứu rỗi.

httpv://www.youtube.com/watch?v=dqdHMUdCOGU

Ave Maria Trăng Từ Bi

From: Đỗ Dzũng

Câu chuyện tình lâm ly  

Câu chuyện tình lâm ly  

Bửu Uyển

Vào dịp cuối năm 1994, một buổi họp mặt các cựu tù nhân chính trị được tổ chức ở San Diego. Xướng ngôn viên của buổi lễ cho biết: “Khi tôi xướng tên trại nào, nếu quý anh là trại viên của trại đó, xin đứng dậy và tự giới thiệu tên của mình để các anh em khác được biết”. Nhiều trại cải tạo ở miền Bắc được lần lượt xướng tên như “Phong Quang”, “Yên Báy”, “Vĩnh Phú”, “Thanh Cẩm”, “Lý Bá Sơ”, “Nam Hà”, “Phú Sơn” v.v Trại nào cũng có năm bảy anh đứng dậy và giới thiệu tên của mình. Khi xướng tên trại Nam Hà, tôi đứng dậy và có thêm bốn anh nữa , trong đó có một anh, tự giới thiệu tên của mình là Lê Trung Đạo. Tôi lẫm nhẫm Lê Trung Đạo, Lê Trung Đạo… sao tên nghe quen quá, hình như anh ấy ở chung đội với tôi thì phải. Khi phần giới thiệu các anh em trại Nam Hà chấm dứt, tôi đi đến bàn của anh Đạo, đứng đối diện và nhìn kỹ anh ấy. Tôi nhận ra anh Đạo ngay. Tôi ôm chầm lấy anh, và anh ấy cũng ôm tôi trìu mến. Tôi thì thầm bên tai Đạo: “Em còn nhớ anh không? ” Đạo trả lời ngay: “Anh Uyển, mà sao em có thể quên được, thật vui mừng được gặp lại anh. Em trông chờ ngày này đã lâu lắm rồi!”

Khi cùng sống trong cảnh đọa đày nơi trại Nam Hà, phân trại C, tôi và Đạo nằm gần nhau. Ra đồng, bắt được con cua, con cá, tôi và Đạo cùng chia sẻ với nhau. Đạo là một Thiếu Úy Cảnh Sát Đặc Biệt, mới ra trường, không biết làm Trưởng G hay H gì đó… mà bị đày ra cải tạo ở miền Bắc. Anh còn quá trẻ, khoảng 24, 25 tuổi. Tôi xem anh như một người em của tôi và tôi rất quý mến anh. Đạo chưa lập gia đình. Anh chỉ còn một mẹ già đang sống ở Vĩnh long. Vì vậy, từ ngày bị đưa ra Bắc, Đạo chưa bao giờ nhận được quà của thân nhân từ trong Nam gởi cho anh. Anh sống hiền hòa, vui tính, nên anh em trong đội ai cũng mến anh. Đạo xem tôi như một người anh trong gia đình, anh tâm sự với tôi : “Đời em chẳng còn gì nữa, chỉ có một người mẹ, mà từ ngày bị đày ra Bắc, đã trên 5 năm rồi em chẳng có tin tức gì của mẹ em. Không biết bà còn sống hay đã ra người thiên co. Đạo nắm tay tôi và cảm động nói: “Giờ đây em chỉ có anh là người duy nhất thương mến em, cho em chút an ủi để sống qua ngày!”

Như có một động lực nào thúc đẩy, Đạo tâm sự với tôi : “Anh ạ, mình phải sống chứ anh, mà muốn sống, dù là cuộc sống thấp nhất, cũng phải có một ước mơ gì đó để mà mộng tưởng, để tiếp sức cho mình. Các anh em ở đây , dĩ nhiên ai cũng mơ ước sớm được trở về với gia đình. Ngoài xã hội thì kẻ này mơ trúng số, kẻ kia mơ nhà cửa, ruộng vườn v.v. Nhưng sống nơi địa ngục trần gian này, anh em mình mơ ước điều gì đây? Tất cả đều nằm ngoài tầm tay của mình. Em chợt nhớ lại một câu chuyện cổ tích của Pháp, tựa đề là “Un Peu De Soleil Dans L’eau Froide” kể lại câu chuyện một ông lão nghèo khổ, sống cô đơn một mình trong căn lều nhỏ bé, trống trước, trống sau. Bổng một bà tiên hiện ra và cho ông một điều ước. Bà tiên cứ nghĩ, thế nào ông lão nghèo nàn này cũng sẽ ao ước có một căn nhà, hoặc ao ước có nhiều tiền bạc..v..v. Nhưng bà tiên vô cùng ngạc nhiên, khi ông lão nghèo khổ ấy chỉ xin “Một Nụ Cười”
Đạo như chợt tỉnh, ông lão bất hạnh trong câu chuyện cổ tích, đã chỉ cho Đạo một mơ ước, mà dù trong hoàn cảnh nào cũng có thể đạt được, đó là một nụ cười. Không cần phải là nụ cười của giai nhân, mà chỉ cần một nụ cười thân ái của ai đó, chân thành trao cho anh, vì yêu mến anh, có thế thôi.

Cuộc sống tù đày cứ kéo dài triền miên trong đói khổ, vô vọng. Nhưng khi nghĩ đến một nụ cười, Đạo thấy tâm hồn mình có chút an ủi, nhẹ nhàng. Hằng ngày , Đạo ước mơ nhận được nụ cười. Đêm đêm Đạo cũng ước mong trong giấc mơ, anh sẽ gặp được một nụ cười. Nhưng buồn thay, những giấc mơ đến với Đạo chỉ là những cơn ác mộng mà thôi.

Nhưng thật kỳ diệu, từ ngày Đạo ôm ấp ước mơ có được một nụ cười, anh thấy cuộc đời của anh có chút ý nghĩa, vì dù sao anh cũng có một ước mơ, để mà thương, mà nhớ, mà mong chờ.

Một hôm, đội được dẫn đi gặt lúa, khi đi ngang qua cổng cơ quan, Đạo thấy nhiều chiếc áo vàng đứng ở đó. Nhìn lướt qua, Đạo chợt thấy một nữ cán bộ nhìn anh mỉm cười. Anh không tin ở mắt mình, anh nghĩ rằng có thể cô ta cười vu vơ gì đó, chứ đâu phải cười với anh. Anh quay lại nhìn một lần nữa, vẫn thấy cô ta nhìn anh và mỉm cười.

Từ ngày ấy, mỗi khi đội đi ngang qua cỗng cơ quan, Đạo đều bắt gặp nụ cười của người nữ cán bộ dành cho anh. Vì vậy khi đi lao động, Đạo luôn luôn đi cuối hàng để dễ đón nhận nụ cười của cô nữ cán bộ. Đạo cũng cười đáp lễ với cô ta. Đạo bắt đầu thấy cuộc đời của mình, có một chút gì thi vị, đáng sống. Khi ăn, khi ngủ, nụ cười đó luôn luôn theo anh, cho anh niềm an ủi, và chút lạc quan để sống. Anh em trong đội đều biết mối tình mắt nhìn mắt và trao đổi nụ cười của Đạo và cô nữ cán bộ.

Không những Đạo nhớ đến nụ cười, anh còn nhớ đến đôi mắt như muốn nói với anh muôn ngàn lời, anh nhớ đến người con gái ấy. Ban đầu anh nghĩ rằng cứ giả bộ vui vẻ cho qua ngày. Nhưng trong tâm trí anh, luôn luôn nhớ đến cô gái ấy và anh nhận ra rằng anh đã yêu cô ta. Đạo nhớ lại ngày xưa Elvis Presley đã hát một bài hát nỗi tiếng là bài Don’t Gamble With Love nay thật đúng như trường hợp của Đạo. Bây giờ Đạo không còn cho rằng lao động là khổ sai nữa, mà anh trông chờ mỗi buổi sáng được đi ngang qua cổng cơ quan, để đón nhận nụ cười của người nữ cán bộ. 

Một buổi chiều khi đi lao động về,nghe các anh em Công Giáo tập hát bài “Đêm Đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời”, Đạo mới biết, đêm nay là đêm Noel. Khi cửa phòng giam đóng lại, anh em Công Giáo vội vã thiết trí một ngôi sao Giáng Sinh và hàng chữ “Mừng Chúa Giáng Sinh” ở vách tường cuối phòng. Họ nắm tay nhau ca hát, đọc kinh, cầu nguyện. Đạo nằm mơ màng, lơ đãng nhìn về cuối phòng, chung quanh hàng chữ “Mừng Chúa Giáng Sinh”, Đạo tưởng tượng như có những bóng đèn màu chớp sáng. Anh mơ hồ nghe như có tiếng nhạc bài Silent Night dịu dàng thoảng đi trong gió…Anh thiếp đi trong giấc ngủ yên lành.

Vào một buổi sáng chúa nhật, chúng tôi được gọi ra sân để nhận quà của thân nhân từ trong Nam gởi ra. Thường thì 80 đến 90 phần trăm anh em đều nhận được quà. Riêng Đạo thì chưa bao giờ nhận được quà của thân nhân. Nhưng thật bất ngờ, hôm nay cán bộ lại kêu tên Đạo lên nhận quà, ai cũng ngạc nhiên và mừng cho Đạo. Anh nhận một gói quà bình thường, nhưng cách gói quà, khác với những gói quà từ trong Nam gởi ra. Đạo sửng sốt nhận gói quà, đem về phòng, cẩn thận mở ra. Một mảnh giấy nhỏ nằm trên những gói đồ ăn, anh đọc vội hàng chữ “Trìu mến gửi anh Đạo – Em : Kim Chi”. Với mấy chữ ngắn gọn đó, Đạo biết ai gởi cho anh món quà tình nghĩa này. Anh ôm gói quà vào lòng. Anh không ngờ người nữ cán bộ có nụ cười dễ thương đó, lại dám liều lĩnh gởi quà cho anh. Hai hàng nuớc mắt chảy dài xuống má, đây là những giọt nước mắt hạnh phúc mà từ lâu anh không hề có.

Trại Nam Hà, Phân trại C, nơi chúng tôi đang ở, phía sau là con đường làng. Trại chỉ ngăn cách với bên ngoài bởi những bụi tre thấp và hàng rào kẽm gai. Dân chúng đi ở ngoài, chúng tôi có thể thấy họ. Thường vào buổi chiều, sau khi ăn cơm xong , chúng tôi hay ra ngồi chơi ở sân sau đó, nhìn người qua lại. Một hôm, chúng tôi thấy cô cán bộ Chi đi lui, đi tới ở ngoài hàng rào, rồi thình lình quăng vào trong một cái gói nhỏ. Chúng tôi biết cô ấy gởi gì đó cho Đạo, chúng tôi mang vào cho anh. Đạo không biết Chi gởi gì cho anh, nhưng anh cảm động lắm. Anh em hiếu kỳ đứng quanh giường của của Đạo, để xem cô Chi đã gởi gì cho anh: đó là một gói xôi và một con gà vàng rộm. Đối với tù nhân, đói triền miên như chúng tôi, thì gói xôi gà này là cao lương mỹ vị bậc nhất trên thế gian này. Đạo rất hào phóng, anh chia đều xôi, gà cho tất cả 32 anh em trong đội, mỗi người được một muỗng xôi và chút ít thịt gà. Có người ăn ngay, nhưng cũng có vài anh em để đó, hít hít mùi thịt gà cho đỡ thèm.

Đạo thấy thương Chi quá, vì yêu anh, nàng đã gan liều làm những việc như vậy, vì nếu bị phát giác, nàng ở tù như chơi. Đạo càng thương Chi khi nghĩ đến tương lai : một cán bộ công an yêu một sĩ quan cảnh sát ngụy… thì đời nào có thể sum họp được. Anh thở dài!

Vào một sáng chúa nhật, một anh trật tự đến phòng chúng tôi, bảo anh Đạo chuẩn bị ra có người thăm nuôi. Chúng tôi rất ngạc nhiên, vì từ bao năm nay, Đạo thuộc diện con mồ côi, chưa hề có ai gởi quà cho Đạo, nói gì đến chuyện thăm nuôi.Thế mà hôm nay, lại có người thân nào đó đến thăm Đạo. Chúng tôi mừng cho Đạo. Khoảng 9 giờ sáng, anh được cán bộ dẫn ra nhà thăm nuôi. Chúng tôi hồi hộp chờ Đạo trở vào để xem anh nhận được những quà gì của thân nhân đem đến.

Nhưng chúng tôi chờ mãi… đã ba, bốn giờ chiều rồi, vẫn chưa thấy Đạo trở vô trại. Thường một trại viên được gặp mặt thân nhân khoảng 15, 20 phút, tối đa là nửa giờ. Thế mà , Đạo ra nhà thăm nuôi đã hơn bốn, năm tiếng rồi mà chưa thấy vô. Chúng tôi bắt đầu lo lắng cho Đạo, không biết chuyện gì đã xảy ra cho anh, lành hay dữ. Và từ đó, chúng tôi không còn biết tin tức gì về Đạo nữa.

Hôm nay gặp lại Đạo, tôi đem chuyện ấy ra hỏi Đạo, anh đã kể cho tôi nghe câu chuyện sau đây:

“Anh nhớ không, ngày chúa nhật hôm đó, em được dẫn ra nhà thăm nuôi, nói là có thân nhân đến thăm. Em vô cùng ngạc nhiên vì em đâu có thân nhân nào từ trong Nam có thể ra thăm em. Bước vào nhà thăm nuôi, em thấy Chi và một ông Thượng Tá công an ngồi ở đó. Chi vội vã đứng lên giới thiệu: “Đây là cậu Du của Chi, đang công tác ở tỉnh Thái Bình, em nhờ cậu ấy đến thăm anh.” Đạo bối rối nhìn Chi, nhìn ánh mắt, nụ cười của Chi. Chi mặc đồ công an, trên cổ áo có đeo quân hàm Thiếu Úy. Chi biết Đạo ngỡ ngàng, thắc mắc nên cô nói ngay: “Anh đừng lo, em bảo anh làm gì thì cứ làm theo, chớ có hỏi han gì hết.” Chi dẫn Đạo vào một căn nhà ở gần nhà thăm nuôi, nhà không có ai cả. Chi bảo tôi cởi bộ áo quần tù ra, và mặc ngay bộ đồ công an đã để sẵn ở đó; ngoài áo quần, có cả nón, cặp da và giấy chứng nhận đi công tác miền Nam. Tôi như trên trời rớt xuống, nhưng không có thì giờ để hỏi Chi, việc gì đang xảy đến cho tôi. Khi tôi đã mặc xong bộ đồ công an, Chi nhìn tôi mỉm cười, rồi kéo tôi ra ngõ, bảo tôi leo lên một chiếc xe Jeep nhà binh đậu sẵn ở đó, và chạy ra ga xe lửa Phủ Lý. Chi bảo tôi cứ ngồi trên xe, Chi vào mua vé xe lửa đi về Sài Gòn.

Khi đưa tôi lên xe lửa, Chi ân cần căn dặn: “Không nên về nhà, cũng đừng liên lạc với mẹ, mà tìm một người bà con nào đó ở tỉnh khác xin trú ngụ vài ngày, rồi tìm đường vượt biên. Tốt nhất là đi đường bộ qua ngã Campuchia”. Chi đưa cho tôi một gói giấy và nói: “Đây là ít tiền để anh tiêu dùng, nhớ là phải vượt biên ngay nhé!”. Chi cầm tay tôi và chân thành nói : “Em là vợ của anh, anh đừng quên em!”. Tôi ôm Chi vào lòng, nước mắt ràn rụa. Chi cũng khóc trên vai tôi. Xe lửa từ từ lăn bánh, hình ảnh Chi cô đơn đứng một mình trên sân ga, nhỏ dần, nhỏ dần.. Tôi thấy nhiều lần Chi đưa tay lên lau nước mắt. Trong tim tôi, mối tình mà Chi dành cho tôi quá sâu đậm, đã chiếm trọn cuộc đời tôi. Tôi vỗ vỗ vào trái tim của mình “Đạo, Đạo, mày phải sống xứng đáng để đền ơn đáp nghĩa cho Chi nghe chưa.”

Khi xe lửa dừng lại ở ga Bình triệu, Sàigòn, tôi không về nhà tôi ở Vĩnh Long, mà đến nhà dì tôi ở Cần Thơ xin trú ngụ.Chồng của dì tôi là một Đại úy Công Binh Việt nam Cộng Hòa, trước năm 1975, ông phục vụ ở Tiểu Đoàn 24 Công Binh Kiến tạo, mới được trả tự do. Gia đình dì, dượng tôi đang âm thầm chuẩn bị vượt biên. Dì, dượng tôi vui vẻ chấp thuận cho tôi cùng đi theo. Tôi đã đưa gói tiền mà Chi trao cho tôi, cho dì tôi để bà tiêu dùng. Mở gói ra xem, dì bảo tôi : “Tiền đâu mà cháu có nhiều vậy?” Tôi trả lời ngay : “Của vợ con cho đó!”
 

Vào một đêm tối trời, ghe máy chở cả nhà ra cửa biển Đại Ngãi, vì tàu lớn đang đậu ở đó. Sau 3 ngày và 4 đêm, tàu của chúng tôi đã đến hải phận Thái Lan, được tàu tuần duyên của Thái Lan đưa về trại Sikiew. Trong cuộc phỏng vấn thanh lọc, nhân viên Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc hỏi tôi rất ít. Tôi nghĩ là họ có đầy đủ hồ sơ cá nhân của ngành Cảnh Sát Đặc Biệt. Họ chỉ hỏi tôi là làm Trưởng G hay Trưởng H, tôi trả lời. Người nhân viên đó lấy trong tập hồ sơ ra một tấm ảnh, anh nhìn tôi rồi gật đầu.Thế là tôi vượt qua cuộc thanh lọc. Mấy tháng sau, họ chuyển tôi qua trại Pulau Bidong ở Mã Lai, để chờ chuyến bay đi định cư ở Mỹ.

Tôi mau chóng gởi thư cho má tôi ở Vĩnh Long, báo tin tôi đã bình yên đến trại Pulau Bidong ở Mã Lai, đang chờ chuyến bay để đi định cư ở Mỹ. Khoảng 2 tuần sau, tôi vui mừng nhận được thư hồi âm của má tôi, và một bất ngờ thú vị đến với tôi là có cả thư của Chi nữa! Má tôi đã viết cho tôi: “Đạo con, má rất vui mừng nhận được tin con đã đến nơi bình yên. Má cho con biết là Chi đang ở đây với má. Chi đã kể cho má nghe hết mọi chuyện. Má rất hạnh phúc có được một con dâu hiếu thảo như Chi, má mừng cho con.”

Đạo run run mở thư của Chi ra đọc: “ Anh Đạo yêu quý của em, nghe anh đã đến đảo và đang chờ chuyến bay để đi Mỹ, má và em mừng quá anh ơi. Khi anh đi về Nam chưa đầy một tháng, họ đuổi em ra khỏi ngành công an. Em đã về Vĩnh Long ở với má, em thay anh phụng dưỡng, săn sóc má, anh yên tâm ! “

Với lời lẽ chân tình, mộc mạc, tôi uống từng chữ, từng lời trong bức thư ngắn gọn của Chi, tôi áp bức thư vào ngực và đi vào giấc ngủ.
Năm 1982, tôi được đi định cư ở Mỹ. Khi có thẻ xanh, tôi đã làm hồ sơ bảo lãnh Chi. Trong thời gian ở với má tôi ở Vĩnh Long, không biết Chi hỏi thủ tục bảo lãnh ở đâu mà nàng ra Thái Bình, nhờ người cậu Thượng Tá Công An của nàng, làm một giấy hôn thú của tôi và Chi, có đầy đủ chữ ký và khuôn dấu đỏ xác nhận của chính quyền địa phương.

Năm 1987 khi tôi được nhập quốc tịch Mỹ, tôi đã bổ túc hồ sơ bảo lãnh. Chi đã nhanh chóng được phỏng vấn. Lúc này, những trường hợp gian dối chưa xảy ra nhiều, nên việc chấp thuận cho chồng bảo lãnh vợ tương đối dễ dàng nếu có đầy đủ giấy tờ chứng minh.

Vào một ngày se lạnh ở miền Nam Cali, tôi và vài bạn bè thân quen đến đón Chi ở phi trường Los Angeles. Tôi ôm Chi vào lòng, vì quá cảm động, tôi chỉ thốt lên được một tiếng “Em!” Chi cũng vậy, nàng thổn thức trên vai tôi “Anh!”. Chỉ 2 tiếng “Anh” “Em,” nhưng đã gói trọn cuộc tình mà chúng tôi nghĩ là không bao giờ có thể sum họp được. Tạ ơn Trời Đất!

Đạo xây qua người đàn bà ngồi bên cạnh anh, và giới thiệu với tôi : “Thưa anh, đây là Chi, vợ em” Chi bẽn lẽn cúi đầu, che dấu nụ cười đã đem lại sức sống và hạnh phúc cho Đạo.

Tôi đã được nghe , được biết nhiều mối tình ly kỳ, éo le lắm. Nhưng nếu nói đến một mối tình thật lãng mạn, mà người con gái đã dám hy sinh sự nghiệp và cả tính mạng mình cho người yêu, thì không thể không nói đến mối tình của nàng Kim Chi và chàng Trung Đạo.

Bửu Uyển.

From: Phi Phuong Nguyen

Cụ ông 111 tuổi chia sẻ 5 bí quyết sống thọ ở Trung Hoa

Cụ ông 111 tuổi chia sẻ 5 bí quyết sống thọ ở Trung Hoa

Cụ Chu Hữu Quang sinh năm 1906, tháng 1 vừa qua cụ đã trải qua sinh nhật lần thứ 111. Có thể nói rằng một đời của cụ bằng nhiều cuộc đời của người khác.

Trước năm cụ Chu 50 tuổi, cụ theo ngành kinh tế, là giáo sư kinh tế học và nhà tiền tệ học. Sau 50 tuổi, cụ chuyển sang theo đuổi ngành ngôn ngữ học, cụ đã dùng 3 năm để phát minh ra “Bính âm Hán ngữ” mà chúng ta thường dùng ngày nay. Cụ Chu được gọi là “cha đẻ của Bính âm Hán ngữ”. Điều khiến người ta ngạc nhiên hơn đó là nhà vật lý học lỗi lạc thế giới Albert Einstein đã từng gặp cụ hai lần.
 

Cụ Chu Hữu Quang, 111 tuổi.
 
Nếu so về thành tựu một đời thì số tuổi 111 của cụ mới khiến mọi người bất ngờ hơn. Sau năm 100 tuổi, cụ còn viết sách, xuất bản sách, bây giờ dù đã 111 tuổi nhưng cụ vẫn kiên trì viết lách, không hề bị lẫn, mắt không hề mờ, ăn được uống được, sức khỏe cực kỳ tốt. Nói đến việc sống thọ, cụ đã tổng kết ra 5 bí quyết sau: 
 
1.   Con người ta không chết vì đói mà chết vì ăn, tôi không ăn đồ bổ.
 
Tôi không ăn đồ bổ, những thứ bổ dưỡng mà người ta tặng tôi cũng không ăn. Trước đây tôi làm việc ở ngân hàng, có rất nhiều người mời mọc, có vài người cố mà ăn, nhưng tôi thì không ăn lung tung như thế. Còn nhớ trước đây tôi có một bác sĩ cố vấn ở Thượng Hải, ông ấy bảo tôi rằng đa số chúng ta không chết vì đói mà chết vì ăn, ăn những thứ bậy bạ không tốt cho sức khỏe, trên bàn tiệc có rất nhiều thứ ăn vào rồi thì nên nôn ra.
Tục ngữ có câu “bệnh từ miệng mà ra”, cao huyết áp, cholesterol cao, tiểu đường, chẳng phải bệnh nào cũng do ăn uống mà ra hay sao? Cơ thể không cần còn cố mà ăn thì sẽ hại ngược lại cơ thể. Ăn uống phải điều độ, đa số người ta không chết vì đói mà chỉ có ăn mà chuốc lấy bệnh. Trong việc ăn uống, không nên ăn quá nhiều món mặn, đừng ăn thịt thà dầu mỡ nhiều, chủ yếu nên ăn bốn loại đó là trứng gà, rau xanh, sữa và đậu hũ. Thế nhưng sữa và trứng gà cũng không nên dùng quá nhiều, mỗi ngày một quả trứng gà, sáng và chiều đều uống một ly hồng trà.

2.   Nhẹ lòng thì sống lâu, gặp phải chuyện gì tôi cũng không tức giận.

Tôi xem mọi thứ của cải, vật ngoại thân rất nhẹ nhàng. Nhà Phật có câu, người coi trọng vật ngoại thân quá nặng nề thì tinh thần của người đó sẽ càng khổ sở. Rất nhiều năm trước tôi mắc chứng mất ngủ, ngủ không ngon. Đến thời kỳ “Cách mạng văn hóa”, tôi bị đưa về nông thôn, vừa khỏe ra lại chữa được bệnh mất ngủ, cho đến bây giờ tôi cũng không bị mất ngủ nữa. Vì thế tôi và bà nhà đều tin một câu: “Tái ông thất mã, yên tri phi phúc” (Nghĩa bóng: Họa phúc ở đời khó mà lường trước được). Gặp phải bất cứ việc gì không thuận lợi cũng đừng thất vọng, đừng tức giận.

 
Dù đã 111 tuổi nhưng cụ Chu vẫn kiên trì viết lách, không hề bị lẫn, mắt không hề mờ, ăn được uống được, sức khỏe cực kỳ tốt.
 
Có hai câu mà tôi thường hay nói: “Thốt nhiên lâm chi nhi bất kinh, vô cố gia chi nhi bất nộ” (Gặp phải những việc ngoài dự liệu cũng đừng hoảng loạn, đừng tức giận vì những việc vô duyên vô cớ). Đây là danh ngôn triết lý của cổ nhân, rất có lý lẽ. 
Quý Tiện Lâm từng viết trong quyển “Ngưu Bàng tạp ức”, dù có bị buộc tội, đừng tức giận, đừng hoảng loạn. Đây là một thử thách sự kiềm chế và công phu của chúng ta. Muốn sống thọ thì phải biết kiềm chế, đừng để lỗi lầm của người khác trừng phạt chính mình.
 
3.   Sống càng giản dị càng tốt!
 
Cuộc sống của tôi bây giờ chỉ có ngủ, ăn, đọc sách, viết lách. Mỗi tháng tôi đăng một bài viết lên báo.
Về việc ăn uống, chủ yếu tôi ăn bốn thứ là trứng gà, rau xanh, sữa và đậu hũ. Quần áo mặc cũng đơn giản, những thứ quần áo đẹp đẽ người ta tặng thì chẳng có dịp để mặc, bởi vì không hay ra ngoài, mà mặc vào thì cũng thấy không hợp. Tôi cũng ít đi du lịch, chỉ ở nhà viết lách, uống trà, đọc sách, tu thân dưỡng tính.
Trước đây, người ta thường cho rằng, một người không thể sống thọ nếu khi còn trẻ sức khỏe không được tốt. Lúc tôi còn trẻ từng bị lao phổi, bị chứng trầm cảm. Khi kết hôn thì mẹ tôi bí mật tìm một vị thầy bói xem tướng số cho tôi, nói rằng hai vợ chồng tôi chỉ sống được đến 35 tuổi, chúng tôi liền cười cười. Tôi thấy rằng ông thầy bói không nói sai đâu, chỉ là chúng tôi đã tự cải biến số mạng của chính mình thôi.

 
Cuộc sống của chúng tôi khá là giản dị, có quy củ, không ăn lung tung, không hút thuốc, không uống rượu, có uống thì cũng chỉ uống chút bia. Trước đây có khách thì chúng tôi phải mời thuốc, mua rất nhiều nhưng đều chỉ mời khách hút, chúng tôi thì không. Chúng tôi muốn sống có quy củ, đầu phải suy nghĩ nhẹ nhàng, gặp phải nhiều việc khó khăn, cứ nghĩ thoáng gì sẽ không có vấn đề gì nữa.
 
4.   Cho đến già tôi vẫn luôn kiên trì “3  không”

Một là không lập di chúc, hai là không mừng sinh nhật, ba là không ăn Tết. 
Không lập di chúc – gia đình hòa thuận, không mừng sinh nhật – quên đi số tuổi, không tổ chức ăn Tết – cuộc sống thanh đạm.
Cuộc sống hằng ngày càng giản dị càng tốt, nhu cầu trong cuộc sống cũng càng ít càng tốt.

Ảnh gia đình cụ Chu.

 5.   Đời sống vợ chồng phải kính trọng nhau, “coi nhau như khách”

Lúc vợ tôi Trương Doãn Hòa (93 tuổi) còn sống, sáng trưa chiều chúng tôi đều uống trà cùng nhau. Tôi thích uống cà phê còn bà ấy thích uống trà xanh, cùng nâng chén cung kính. 
Quan điểm của chúng tôi là cuộc sống vợ chồng chẳng những phải có yêu thương mà còn phải kính trọng nhau, “coi nhau như khách”.
Khi uống trà và cà phê, cả nhà cùng nâng ly, chỉ một động tác nhỏ này thôi nhưng chúng tôi đã kiên trì thực hiện cả đời. Tuy chỉ là một việc nhỏ nhặt nhưng lại rất có ích, có thể tăng niềm vui trong cuộc sống gia đình, giúp cho gia đình ổn định hơn. Giữa vợ chồng cần phải tôn trọng lẫn nhau, đây là do người xưa truyền lại, rất đáng học tập. Vợ chồng là những người sống cùng nhau lâu nhất, mỗi ngày phải vui vẻ thì cả thể xác và tâm hồn mới khỏe mạnh được. Ngược lại, ngày ngày cãi nhau, đánh nhau, chẳng những không ai vui vẻ được mà còn gây tổn hại đến sức khỏe.

Cụ Chu Hữu Quang và vợ Trương Doãn Hòa.

Trên đời có rất nhiều chuyện không thuận lợi, nếu nhịn được thì nhịn một chút không có gì là to tát cả. Làm người thì phải nghĩ thoáng, đừng tức giận, trong gia đình có rất nhiều chuyện đều chỉ là những việc nhỏ nhặt.
 
Theo Secretchina
Tâm Thanh

From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen

Thảm sát tại nhà giữ trẻ Thái Lan, 37 người chết

BANGKOK, Thái Lan (NV) – Một cựu cảnh sát viên đột nhập vào nhà giữ trẻ ở vùng Đông Bắc Thái Lan hôm Thứ Năm, 6 Tháng Mười, nổ súng loạn đả khiến hàng chục trẻ nhỏ và người chăm sóc thiệt mạng, sau đó lại bắn thêm một số người khác khi bỏ chạy khỏi nơi thảm sát ghê gớm nhất trong lịch sử Thái Lan, theo bản tin hãng thông tấn AP.

Giới hữu trách nói rằng hung thủ Panya Kamrap, 34 tuổi, người bị sở cảnh sát cho nghỉ việc hồi đầu năm nay vì sử dụng ma túy, sau đó về nhà giết vợ và con rồi tự tử.

Quân đội Thái Lan điều tra một vụ nổ súng trong trường học. (Hình minh họa: Madaree Tohlala/AFP via Getty Images)

Có ít nhất 37 người thiệt mạng trong vụ nổ súng, theo lời ông Archayon Kraithong, phát ngôn viên Sở Cảnh Sát thành phố Nongbua Lamphu. Khoảng 12 người khác bị thương. Có ít nhất 24 nạn nhân bị giết là trẻ nhỏ.

Thiếu Tướng Cảnh Sát Paisal Luesomboon nói với đài truyền hình PPTV rằng hung thủ sử dụng đủ loại võ khí, gồm cả súng lục, súng shotgun và con dao.

Chỉ huy trưởng cảnh sát địa phương Damrongsak Kittiprpha nói với báo chí rằng hung thủ là một trung sĩ cảnh sát đã bị cho nghỉ việc, và võ khí chính mà người này dùng trong cuộc tấn công là một khẩu súng lục 9mm mà người này tự bỏ tiền mua.

Các vụ giết người bằng súng ở Thái Lan thấp hơn nhiều so với các quốc gia khác như Brazil và Mỹ, nhưng cao hơn so với các quốc gia có luật kiểm soát súng chặt chẽ như Nhật và Singapore.

Tỷ lệ chết do súng ở Thái Lan năm 2019 là bốn cho mỗi 100,000 dân so với 11 cho mỗi 100,000 ở Mỹ và gần 23 cho mỗi 100,000 ở Brazil.

Hồi tháng qua, một nhân viên trường Cao Đẳng Quốc Phòng ở Bangkok nổ súng giết hai đồng nghiệp và làm bị thương một người khác trước khi bị cảnh sát bắt.

Vào năm 2020 từng xảy ra vụ một quân nhân bất mãn vác súng đến một khu thương xá ở thành phố Nakhon Ratchasima ở vùng Đông Bắc Thái Lan, nổ súng giết chết 29 người và đối đầu với lực lượng an ninh trong 16 giờ trước khi bị bắn chết. (V.Giang)

Năm 1933:Staline tàn sát 7 triệu người Ukraine

  • Năm 1933:Staline tàn sát 7 triệu người Ukraine

Trọng Đạt

Cộng sản Việt Nam cũng như các nước chư hầu xã hội chủ nghĩa khác đã rập khuôn áp dụng bạo lực “cách mạng”, lấy đa sát, bắn giết làm tôn chỉ.

Người chết đói khắp nơi ở Ukraine trong thập niên 1930s.

Thế chiến Thứ Hai bùng nổ, mặc dù Hitler đã ký Hiệp ước bất khả xâm phạm với Staline, nhưng bất thần quân Đức ồ ạt tấn công Nga, họ đưa 180 Sư đoàn Bộ binh và Cơ giới tức 70% lực lượng sang xứ sở rộng nhất thế giới này. Họ mở chiến dịch Barbarossa kéo dài trong 5 tháng, 1 tuần, 6 ngày (22/6/1941 tới 5/12/1941). Mới đầu quân Đức tiến nhanh như vũ bão, quân Nga thua chạy như vịt, phần vì thiếu thốn, vũ khí lạc hậu, phần vì bị đánh bất ngờ. Tổng cộng các tướng lãnh Đức bắt được vài triệu tù binh, Nga thua khoảng vài trăm sư đoàn, thế giới nín thở, Nga coi như thua trận sẽ phải ký hiệp ước đầu hàng như Pháp.

Nhưng quân Đức gặp trở ngại vì mùa đông tới sớm, phần vì quá lạnh, phần vì đường xá rất tồi tệ, người ta nói chính cái lạc hậu của nước Nga đã cứu họ thoát chết. Năm 1944 quân Đức rút bỏ mặt trận miền Đông về nước khi họ bị Đồng Minh tấn công phía Tây.

Cuối năm 1979 Nga Xô thời Brezhnev đưa quân sang Afghanistan giúp chính phủ A Phú Hãn Dân Chủ Cộng Hòa để chống lại nhóm Hồi giáo Mujahideen, nhóm này chống chính phủ thân Nga. Cuộc chiến kéo dài 10 năm cho tới tháng 2/1989, Nga phải rút về sau khi mất 14,453 binh sĩ. Người ta nói Phật Giáo, Công Giáo không đánh được Công Sản, nhưng Hồi giáo dẹp được CS, sau 10 năm CS Nga bị đánh phù mỏ tại A Phú Hãn phải rút về. Có lẽ nay Ukraine cũng sẽ áp dụng chiến thuật này của nhóm Hồi giáo Mujahideen chống quân Nga nếu họ được tiếp vận từ các nước khác.

Ukraine có một mối hận thù với người Nga vì những sự thật tàn bạo dưới đây.

Mùa đông năm 1932-33, Ukraine, quốc gia nhỏ bé phía Tây nước Nga đã trải qua một nạn đói khủng khiếp khiến cho bẩy triệu (7) người chết thê thảm, đây là cuộc đại tàn sát lớn nhất trong lịch sử nhân loại do Staline ra tay trừng trị nước chư hầu này vì đã dám đòi độc lập và chống lại Xô Viết. Mặc dù con số người bị giết khổng lồ như thế nhưng trang sử ghê tởm nhất của Xô Viết đã không được nhân loại biết tới trong suốt 70 năm. Người ta khen Staline đã khéo giấu kín tội ác tầy trời này trước mắt cả thế giới, cho tới nay cuộc diệt chủng này cũng ít được biết tới, nó còn được gọi là The forgotten Holocaust, có thể người ta tưởng nó chỉ là chuyện nội bộ của Liên bang Xô Viết.

Dưới thời Lenine

Ukraine diện tích bằng nước Pháp, một đất nước có nhiều ruộng nương mầu mỡ đã bị Nga hoàng cai trị 200 năm. Năm 1917 Nga Hoàng sụp đổ trước cuộc cách mạng vô sản do Lénine lãnh đạo, Ukraine lợi dụng thời cơ đòi tự trị, tuyên bố độc lập, thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân, Thủ đô là Kiev. Thế nhưng nền tự trị này quá ngắn ngủi, cuối 1917 Lénine tuyên bố các lãnh thổ xưa do Nga hoàng cai trị nhất là Ukraine mầu mỡ đều phải nằm trong Liên Bang Xô Viết. Trong 4 năm liên tiếp Quân Đội Quốc gia Ukraine phải chiến đấu chống Hồng Quân Bolshevik, chống lực lượng Bạch Vệ trung thành với Nga Hoàng và cả quân xâm lược Đức và Ba Lan.

Năm 1921 Xô Viết thắng, Tây Ukraine chia cho Ba Lan, Lỗ Ma Ni (Romania), Tiệp Khắc. Xô Viết vơ vét thóc gạo về cứu đói Moscow và các thành phố lớn bên Nga. Kế đó tự nhiên Ukraine lại bị một trận hạn hán gây nạn đói khiến người dân căm phẫn Lénine và Xô Viết. Lénine bèn nới tay để xoa dịu nhân dân Ukraine, thôi lấy thóc gạo, khuyến khích tự do buôn bán. Nhân đó người dân Ukraine muốn tự do, độc lập, khôi phục văn hóa nghệ thuật, phong tục cũ.

Cuộc chiến kỳ lạ

Lénine mất năm 1924, Staline kế vị, nhà lãnh đạo này được coi là một trong vài tên độc tài khát máu nhất của thế kỷ. Bộ Lenine Tuyển Tập có ghi lại một bức thư của Lénine, ông ta đã nhắn nhủ “chúng ta không nên dùng đồng chí Staline, đồng chí Staline là một người thô bạo”

Staline không chấp nhận phong trào đòi độc lập của Ukraine, ra lệnh đàn áp thẳng tay y như đường lối áp dụng tại Nga. Năm 1929 Staline cho bắt giam 5,000 trí thức, các nhà khoa học gia Ukraine, kết tội phản loạn đem xử bắn hoặc đầy đi Tây Bá Lợi Á (Siberi). Đầu thập niên 30, Staline thực hiện kế họach hợp tác xã nông nghiệp để tiến lên làm ăn lớn xã hội chủ nghĩa trong đó tư sản bị lọai bỏ. Ngày nay đường lối canh tác tập thể này được coi như tồi tệ nhất nhưng hồi đó Xô Viết ép dân theo vì lý thuyết Marx bắt phải như vậy. Giới phú nông Ukraine mà họ gọi là Kulaks chỉ chiếm từ 4% tới 5% dân số, phú nông được định nghĩa có từ 24 hoặc trên 24 mẫu đất và có thuê người làm và được coi thành phần nguy hiểm.

Ngày 1/5/1930 Đảng Cộng Sản Nga bắt đầu thực hiện Hợp Tác Xã Nông Nghiệp, một phần của Kế Họach Ngũ Niên, nông dân Nga ít chống đối vì họ đã có truyền thống canh tác cộng đồng từ lâu, đất đai thuộc về làng xã không thuộc về cá nhân như tại Ukraine nên họ dễ thích hợp với Hợp tác xã của Cộng Sản.

Ngày 30/7/1930 nhà nước hủy bỏ làng xã. Vùng Ukraine trái lại người dân làm ăn cá thể, 80% dân chúng tại thôn quê có ruộng đất riêng từ xưa nên họ chống đối Hợp tác xã ra mặt, Moscow mới đầu tạm thời nhượng bộ. Người Ukraine giết gia súc, ngựa, heo, cừu …dần dần trước khi gia nhập hợp tác xã khi ấy nhà nước ra lệnh tử hình ai giết gia súc. Những người chống đối Hợp tác xã bị lưu đầy, chính quyền Xô viết mở tuyên truyền kêu gọi nhân dân Ukraine ủng hộ Chính Quyền Cách Mạng nhưng thất bại, mặc dù dọa nạt khủng bố nhưng nông dân Ukraine vẫn chống đối, phá hoại, đốt nhà không đầu hàng, họ lấy lại nông cụ, gia súc mà Hợp Tác Xã đã chiếm trước đây, ám sát các viên chức Xô Viết.

Trung Ương đảng Nga đưa mật vụ quân đội sang đàn áp cuộc nổi dậy nhưng kháng chiến quân Ukraine vẫn tiếp tục chống đối, họ muốn làm ăn cá thể như xưa, nông dân Ukraine thách đố Staline.

Việc chống gia nhập Hợp Tác Xã chỉ là một nguyên do, Ukraine còn chống đối về mặt chính trị, họ muốn đòi độc lập, tự do. Staline trước hết cho thanh toán hành quyết hàng nghìn trí thức Ukraine, nhà văn nhà báo, nhà lãnh đạo. Âm mưu đòi độc lập cho Ukraine không phải chỉ ở làng xã mà mà ngay cả ở Trung Ương Đảng Cộng Sản Ukraine. Xô Viết cho thanh trừng dữ dội, nhiều người tự tử, nhiều nhà văn, đảng viên cũng tự tử.

Cuộc chống đối của Ukraine với Xô Viết y như trứng chọi đá, cuộc chiến giữa người nông dân với cuốc xẻng và Hồng Quân, mật vụ Nga vũ trang súng ống tối tân. Làng mạc bị bao vây, tấn công bằng đại bác xe tăng, máy bay ném bom bắn phá khiến một Đại Tá công an Nga sô phát khóc nói với một ký giả, ông cho biết mình đã chiến đấu trong hàng ngũ Hồng quân chống Bạch Vệ thời nội chiến bây giờ được lệnh bao vây tấn công những người dân vô tội.

Hatayevich, một đảng viên cao cấp Sô viết cho biết cuộc chiến đấu ác liệt giữa Sô Viết và nông dân Ukraine đang diễn ra, một cuộc chiến sinh tử, năm 1933 là thử thách giữa sức mạnh của Đảng CS Nga và sự chịu đựng của nông dân, họ sẽ nếm mùi đói để xem ai làm chủ nơi đây. Cuộc chiến 1932-33 một cuộc chiến kỳ lạ nhất lịch sử, sau đó Staline thay đổi chiến lược.

Thảm kịch mùa đông 1932-1933.

Trận đói khủng khiếp mùa đông giữa 1932 và 1933 không do thiên tai hạn hán mà do con người làm ra, do lệnh của một người. Trong một phiên họp Trung Ương Đảng ngày 11-9-1932, Staline cho biết tình hình Ukraine nghiêm trọng, nếu không sớm ra tay Xô Viết sẽ mất miền đất mầu mỡ này, năm 1932 dân số Ukraine là 32 triệu, khoảng 75% điền sản tại đây đã phải gia nhập Hợp tác xã.

Để đối phó với tình hình, Staline bèn đưa một kế họach ác ôn, man rợ vừa để trả thù và để dẹp tắt phong trào, kế họach đã khiến bẩy triệu người (7.000.000) dân quê Ukraine phải chết đói la liệt khắp các xã thôn. Staline ra lệnh cho tịch thu hết thực phẩm tại Ukraine: khoai tây, cải bắp, lúa mì.. chở sang Xô Viết từ tháng 8, tháng 10 1932 và tháng 1-1933 số lượng tịch thu tăng cao khiến Ukraine không còn thực phẩm nhất là tại các làng miền quê. Staline cho xuất cảng lúa mì tịch thu để lấy ngọai tệ phục vụ Ngũ Niên Kế Họach, canh tân Nông nghiệp và củng cố Quốc phòng. Số lúa mì bị Sô Viết cướp đi đủ sức nuôi dân Ukraine trong vòng hai năm. Đảng Cộng Sản Ukraine khẩn xin Moscow bớt lấy lúa mì của Ukraine và cứu trợ thực phẩm, Staline từ chối rồi đưa 100 ngàn quân Nga tới thanh trừng đảng Cộng Sản Ukraine.

Quân Nga đóng cửa biên giới Ukraine, ngăn chặn thực phẩm đưa vào Ukraine khiến cho đất nước này biến thành một trại giam khổng lồ, theo lệnh của Staline chính quyền phải để mặc nhân dân chết đói cho họ biết tay. Người dân miền quê còn giấu giếm được một số thực phẩm sống lay lắt nhưng Staline lệnh cho mật vụ Nga tại Ukraine đi từng nhà tịch thu hết mọi thực phẩm dự trữ của các gia đình, nhân dân không còn đến một củ khoai, một miếng bánh. Nông dân bị cấm không được đi các địa phương khác hoặc lên tỉnh xin ăn, họ cũng bị cấm lấy trộm thực phẩm của hợp tác xã, nhiều người đói quá ra đồng lấy một vài bông lúa ăn đỡ hoặc lấy trộm khoai, lúa trong các kho bị công an bắn chết ngay. Nạn đói lan nhanh, từ già đến trẻ bắt đầu chết đói la liệt khắp nơi. Các đội mật vụ đi gom các xác chết quẳng xuống hố tập thể chôn cất hàng ngày, theo lời các nhân chứng kể lại những người suy nhược chưa chết cũng bị quẳng xuống hố.

Khác với Hitler giết người bằng hơi ngạt khiến nạn nhân chết ngay không đau đớn, Staline bắt các nạn nhân phải suy nhược quằn quại, đói khổ, họ phải sống trong đau khổ cho tới chết. Mặc dù bị cấm đi địa phương khác kiếm ăn người dân quê vẫn lên tỉnh để rồi cũng lăn ra chết thê thảm. Thành phố được cấp theo khẩu phần, dân tỉnh bị cấm không được cứu giúp những người chết đói, bác sĩ không được chữa bệnh cho những dân quê đang chết đói, người dân quê lên tỉnh cuối cùng chết la liệt ngoài đường phố, hàng ngày có xe chở đi chôn tập thể. Trong khi các đảng viên, mật vụ lính Nga béo tốt, được ăn uống no đủ thì người dân Ukraine nhất là miền quê đói rã họng ra, theo lời các nhân chứng còn sống sót kể lại vì hết thực phẩm người dân phải ăn lá cây, vỏ cây, mèo chuột, chó, cả sâu bọ … để cầm hơi qua ngày. Cả trẻ nít vô tội cũng bị Xô Viết bắt phải chết như người lớn. Ngoài ra nhân dân còn bị quân Nga, mật vụ cướp bóc hãm hiếp. Nhân dân đói quá phải ăn thịt người chết, có người giết cả trẻ nít đang hấp hối để nuôi gia đình, theo lời các nhân chứng còn sống, dân Ukraine tại miền quê năm 1932-1933 ăn thịt người là chuyện thường.

Mùa xuân 1933, cao điểm của nạn đói, khoảng 250 ngàn người chết mỗi ngày tại Ukraine, có nơi cả làng chết. Tại Âu châu, Canada, Mỹ người gốc Ukraine gửi thực phẩm về giúp đồng bào nhưng chính quyền Xô Viết cấm chở thực phẩm tới biên giới vì họ phủ nhận không có nạn đói. Tại Ukraine ai nói có nạn đói bị kết án tuyên truyền chống Xô Viết và bị bắt giam ngay.

Tới cuối năm 1933 khoảng 25 % dân Ukraine, tức 8 triệu người bị chết đói kể cả 3 triệu trẻ em. Bọn hào phú bị tiêu diệt, nhà nông toàn nước bị dìm xuống, Staline đã đạt được mục đích, đã tiêu diệt xong bọn phản động, tiểu tư sản thoái hóa chống lại Hợp Tác Xã để tạo dựng con người mới Xã Hội Chủ Nghĩa. Nhà độc tài bèn cho phân phối thực phẩm trở lại Ukraine, nạn đói chìm dần, tuy nhiên những cuộc thanh trừng chính trị, bắt bớ phản động vẫn tiếp tục chỉ ngưng lại năm 1941 khi bị Đức Quốc Xã tấn công. Hitler xua quân vào Ukraine cướp bóc vựa lúa và thay thế chế độ Cộng Sản hà khắc bằng khủng bố phát xít.

Bao nhiêu người đã chết?

Số người chết trong nạn đói tại Ukraine không toàn toàn chính xác cũng như số người chết trong các cuộc chiến tranh lớn hay thế chiến vì không ai có thể đếm, thống kê đến nơi đến chốn được nhưng các nhà nghiên cứu cũng cố gắng tìm ra con số gần với sự thật nhất.

Theo Andrew Gregorovitch trong bài “Black Famine in Ukraine 1932-33, a struggle for existence” cho biết nhóm Conservative Estimates ước lượng số nạn nhân trong trận đói 1932-33 tại Ukraine khoảng 4,8 triệu, nhưng nhiều nhà nghiên cứu ước lượng nó vào khoảng từ 5 cho tới 8 triệu người chết.

Mặc dù Xô Viết luôn luôn chối bai bải không có nạn đói tại Ukraine nhưng người ta đã tham khảo một cách gián tiếp và đã ước lượng khoảng từ 10 cho tới 25% dân Ukraine đã chết trong nạn đói kể trên, nhà nghiên cứu Vasyl Hryshkocho biết mỗi ngày có 25.000 người chết tại các làng ở Ukraine, hoặc hơn 1.000 người chết trong một giờ hoặc 17 người trong một phút. Nửa năm đầu 1933, Sô Viết cấm người ngoại quốc tới thăm Ukraine, các ký giả không vào lấy tin được cho tới mùa hè, mùa thu khi họ bãi bỏ lệnh cấm. Nhà ký giả Mỹ Henry Chamberlin đến thăm Ukraine ngay sau khi Sô Viết bãi bỏ lệnh cấm du lịch và cho biết mỗi làng ông đến thăm có ít nhất khoảng 10% người dân chết vì đói.

John F. Stewart trong cuốn Tortured but Unconquerable Ukraine, xuất bản 1953, trang 8 cho biết.

“Trong khi chưa có số thống kê chính thức về tấm thảm kịch này , theo như trong tự điển Nga The Small Soviet Encyclopedia năm 1940 xác nhận dân Ukraine năm 1927 là 32 triệu nhưng năm 1939 tức 12 năm sau, dân tụt xuống còn 28 triệu, thế thì 4 triệu người đã đi đâu? Ngoài ra còn phải kể 4 triệu người do gia tăng dân số?”

Như vậy theo Stewart số nạn nhân là 8 triệu.

Theo Holodomor (nguồn Wikipedia) số nạn nhân chết đói tại Ukraine năm 1933 được ước lượng từ 2 triệu 6 cho tới 10 triệu người.

Theo bài “Staline Forced Famine in 1932-1933, 7,000,000 Deaths” (trong The History Place, Genocide in the 20th Century) số nạn nhân là 7 triệu

Theo phóng viên Askold Krushelnycky con số nạn nhân được ước lượng vào khoảng từ 7 triệu cho tới 11 triệu người chết đói tại Ukraine 1933.

Như thế đa số các nhà nghiên cứu, ký giả ước lượng vào khoảng bẩy triệu người đã bỏ mạng trong trận đói này.

Staline che mắt thế gian

Người ta khen Staline đã khéo giấu nhẹm cuộc tàn sát vĩ đại này, các triều đại Cộng Sản Xô Viết sau Staline cũng ếm nhẹm thảm kịch này nhưng cái kim trong bọc lâu ngày cũng phải lòi ra.

Ký giả Askold Krushelnycky trong bài phát thanh trên Radio free Europe ngày 8 tháng 4-2003 tại Tiệp Khắc “Staline gây nạn đói tại Ukraine – bẩy mươi năm sau, phần lớn thế giới vẫn không biết tới thảm kịch này” (Staline’s Starvation of Ukraine – Seventy Years later, World Still Largely Unaware Of Tragedy) cho biết mặc dù số người chết thê thảm nhiều như thế nhưng thế giới không có mấy người biết về trang sử ghê tởm này của Sô Viết so với cuộc diệt chủng Do thái. Theo ông lý do chính là Đức Quốc Xã bị bại trận, hàng ngàn nhân chứng còn sống kể lại chi tiết về trại giam và cuộc tàn sát tập thể. Người ta còn lấy được nhiều phim ảnh, hồi ký ghi lại tội ác của bọn Phát Xít, rồi những tên đồ tể, đao phủ bị bắt đem đi xử vì thế cuộc tàn sát diệt chủng của Hitler đã được phổ biến sâu rộng.

Robert Conquest, sử gia Anh chuyên nghiên cứu về thảm kịch này, trong tác phẩm năm 1986 của ông “Harvest of Sorrow”, Mùa gặt nỗi U sầu lần đầu tiên đã đem tấn thảm kịch này đến cho khán giả Tây phương. Ông nói một sự khác biệt nữa giữa cuộc diệt chủng Do thái là Hitler đã viết thành văn bản trong cuộc tàn sát của mình còn Staline không ghi văn kiện tài liệu kế họach của y, ông nói nay nhiều sử gia chấp nhận có nạn đói thì một số nghi ngờ đã tìm cách biện hộ cho Staline. Ông cho biết từ ngày Liên bang Xô Viết tan rã khiến người ta dễ vào tìm tài liệu tại các văn khố Nga, chính ông đã có bằng chứng là Staline đã biết hàng trăm ngàn dân quê tìm cách vào Nga kiếm thực phẩm. Conquest cho rằng nạn đói trước nhất nhắm vào Ukraine mà Staline không chỉ thù ghét người dân quê mà cả các đảng viên Cộng Sản cao cấp Ukraine.

Lyubomyr Luciuk giám đốc Hiệp hội nghiên cứu của Canada về Ukraine cho biết lý do tại sao tin tức về nạn đói lại không được chuyển đến Tây Phương, ông chỉ trích những nhà báo Tây phương hồi đó ở Moscow đã biết nạn đói này nhưng đã không đề cập đến nó và còn cố ý che giấu nữa. Ông cho biết người ký giả đóng vai then chốt trong việc che giấu này là ký giả Walter Duranty của tờ Nữu Ước Thời Báo, The New York Times. Duranty là người ngưỡng mộ Staline, ông ta mô tả nhà độc tài này như “Chính khách lỗi lạc nhất thế giới hiện nay” (The world greatest living statesman). Duranty là người ký giả Mỹ đầu tiên được phỏng vấn nhà lãnh đạo Xô Viết này và được cho phép tham khảo, lấy những tin mật của chế độ. Hồi ấy, Duranty đã tâm sự với một nhà ngoại giao Anh rằng ông nghĩ khoảng 10 triệu người đã bị chết đói nhưng khi các ký giả khác thăm Ukraine rồi viết báo về nạn đói diễn ra tại đây thì Duranty lên tiếng bài bác ngay cho là tuyên truyền láo khoét chống Xô Viết. Lyubomyr Luciuk cho rằng Duranty bị Mật vụ Nga hăm họa công bố sự thật về đời tư anh ta vì biết anh có nhiều bệnh kỳ quái về tình dục.

Xô Viết bầy trò lừa bịp các ký giả ngọai quốc đến lấy tin như nhà văn Anh Bernard Shaw thăm Nga rồi về viết bài thuận lợi cho Cộng Sản. Cựu Thủ Tướng Pháp Edward Herriot được sang thăm Ukraine năm ngày trong chuyến du hành đã được dàn cảnh bịp bợm, đi thăm những khu phố đẹp sạch sẽ tại Kiev, thăm một Hợp tác xã kiểu mẫu, khi về nước ông ta nói có lợi cho Cộng Sản và tuyên bố không có nạn đói tại đây

Sáu Kỹ sư người Anh làm việc tại Nga Xô bị bắt và kết án phá hoại, gián điệp, hối lộ rồi bị hăm dọa kết án tử hình, phiên tòa xử sau đó chỉ là trò hề ma mãnh đánh lạc hướng ký giả ngoại quốc để họ không chú ý tới nạn đói Ukraine nữa. Xô Viết hăm dọa ký giả ngọai quốc để viết thuận lợi cho họ, đa số ký giả ngoại quốc phải nhượng bộ Cộng Sản và viết bài có lợi cho Xô Viết như Duranty viết “những bài nói về nạn đói thật nhố nhăng”

Các nước Tây phương giữ thái độ thầm lặng đối với thảm kịch này dù họ đều đã biết nỗi đau khổ của Ukraine qua các nguồn tin tín cẩn của giới ngoại giao. Năm 1933 Tân Tổng Thống Roosevelt đã chính thức công nhận chính quyền Cộng Sản Staline và đề nghị buôn bán với họ. Ngũ Niên Kế Hoạch của Nga để canh tân đất nước cần phải mua hàng hóa, máy móc thiết bị của Tây phương với khối lượng rất lớn. Các nước Tây phương vớ được mối làm ăn béo bở, được một ông khách hàng rất sộp nên họ lờ đi không nói tới nạn đói.

Tại sao tàn sát?

Trong phim The Soviet story người ta đặt câu hỏi: Tại sao cần phải tàn sát? Why killing is essential? Một nhà nghiên cứu Nga trong phim cho biết Karl Marx là cha đẻ của chủ nghĩa diệt chủng chính trị ngày nay. Marx nói.

“Những giai cấp và chủng tộc quá yếu không theo kịp cuộc sống mới cần phải bị lọai bỏ”

(“The class and the races too weak to master the new condition of life, must give away” – Marx – People’s paper, April 16-1858)

“Họ phải bị tiêu diệt trong hỏa lò cách mạng”

(They must perish in the revolutionary Holocaust – Karl Marx – Journal of the History of ideas, Vol 42, number 1-1981).

Tàn sát và bắn giết của người Cộng Sản là một chính sách.

Lenine nghiên cứu rất kỹ tư tưởng Marx-Engels và áp dụng triệt để phương thức này, ông gọi là bạo lực cách mạng. Lenine viết trong một bức thư như sau: đem 100 tên tư sản đi bắn để cho nơi cách xa đó hàng trăm cây số người ta phải sợ (theo phim The Soviet Story), người xưa gọi là “sát nhất nhân, vạn nhân cụ”, giết một người sẽ làm cho một vạn người sợ. Trước hết việc tàn sát bắn giết của Cộng Sản để gieo rắc kinh hoàng, khủng bố gây khiếp đảm cho người dân phải sợ không dám chống lại họ.

Cả hai hệ thống Quốc Xã Đức và Cộng Sản Nga đều lấy tàn sát làm cơ bản cho sự cai trị để tạo con người mới (The birth of a new man), phải tiêu diệt con người cũ mới tạo được con người mới. Chế độ phát xít Hitler chủ trương con người mới phải là người thông minh, đẹp giai, khỏe mạnh, những người tàn tật xấu xí, đi cà nhắc cà nhằc, răng hô mắt chột… hoặc người Do thái phải bị tiêu diệt sạch. Đối với người Cộng Sản, bọn phản động, tiểu tư sản, địa chủ phải bị giết sạch để xây dựng con người mới Xã Hội Chủ Nghĩa, trên thực tế các nước Cộng Sản thường giết vào khoảng 10% dân số. Trong khi Đức Quốc Xã, Phát Xít Nhật quí trọng người dân nước họ, chỉ giết người ngoại quốc thì các chế độ Cộng Sản “khôn nhà dại chợ” chỉ biết đè cổ nhân dân của mình ra tàn sát không gớm tay. Đức Quốc Xã là chủ nghĩa Xã hội Quốc gia, Cộng Sản là chủ nghĩa Xã hội Quốc tế.

Thập niên 1930, một thập niên đẫm máu ghê tởm nhất của lịch sử nước Nga khi Staline tiến hành thực hiện Hợp Tác Xã Nông Nghiệp, làm ăn tập thể tiến lên làm ăn lớn Xã Hội Chủ Nghĩa. Nhà độc tài cho lệnh tiêu diệt những thành phần ăn bám, cản đường, lừng khừng không có lập trường cách mạng, bọn phản động âm mưu chống đối và bọn có tinh thần làm ăn cá thể…Đây là giai đoạn đoạn bắn giết tập thể theo kế họach của Staline.

Staline cho xây dựng hằng hà sa số các trại tập trung tại những nơi xa xôi để giam cầm tiểu tư sản những kẻ không theo họ, có khoảng một phần ba hoặc một nửa bỏ xác vì đói lạnh trong chốn địa ngục trần gian. Trong phim The Soviet Story, thập niên 30 là giai đọan tàn sát của Staline, Sô viết cho xây dựng khắp nước Nga những lò sát sinh y như thời thượng cổ. Những tòa nhà này được xây bằng gạch kiên cố, những phòng bắn người làm ở dưới hầm, có đường rãnh để dẫn máu chẩy ra ngoài. Tội nhân được dẫn xuống dưới hầm tới phòng đỏ, họ bị bắn vào đầu, mỗi tối mật vụ có thể bắn một trăm hoặc vài trăm người, ban đêm có xe bít bùng chở xác vào rừng chôn tập thể..

Sáng ra người dân kinh hãi khi thấy các vệt máu trên đường đi, họ không dám hé răng nói tới. Các mồ chôn tập thể rải rác trong nước, số người bị hành hình quá nhiều, con cái các nạn nhân bị hành quyết mất cha, mất mẹ, không nhà không cửa đi lang thang ngoài đường phố, số người vô gia cư ngày một nhiều, Staline cho phép bắn các trẻ em trên 12 tuổi để làm sạch thành phố. Tại các địa phương bắn giết người đạt chỉ tiêu được thưởng, sau này Tổng Thống Nga Gorbachov tố cáo Staline tắm trong máu, ông cho biết đã thấy danh sách tử hình dài do Staline ký hàng loạt, trong khoảng 1937-1941 có tới 11 triệu người bị bắn giết.

Năm 1942 Churchill viếng Điện Cẩm Linh, Staline thú thực với ông đã có 10 triệu người bị đổ máu trong giai thực hiện Hợp Tác Xã, tiến lên làm ăn lớn Xã Hội Chủ Nghĩa, nhà độc tài nói không thể làm khác hơn được. The Soviet Story nói trong khi Xô Viết tàn sát hàng hà sa số người thập niên 30, tại Âu châu có một kẻ theo dõi và khâm phục Staline, trong một khoảng thời gian không dài lắm đã giết được nhiều người như thế. Kẻ khâm phục ấy chính là Hitler, như vậy Staline là bậc thầy của Hitler trong nghề sát sinh.

Theo Le livre noir du communisme của Courtois, Werth, Pannée, Trần Hữu Sơn lược dịch Cộng Sản quốc tế đã sát hại 100 triệu người. Cộng Sản Tầu giết 65 triệu, CS Nga 20 triệu, CS Bắc Hàn 2 triệu, CS Miên 2 triệu, CS Việt Nam 1 triệu… Một điều khó hiểu là trừ Staline bị hạ bệ, những tên đồ tể Mao, Hồ, Kim Nhật Thành đã làm đổ máu nhiều triệu người nhưng chúng vẫn được xây lăng, dựng tượng, được ca tụng, sùng bái… khắp nơi trong nước, thật là hiện tượng kỳ quái.

Cộng sản Việt Nam cũng như các nước Chư hầu Xã hội chủ nghĩa khác đã rập khuôn áp dụng bạo lực cách mạng, lấy đa sát, bắn giết làm tôn chỉ. Như chúng ta đã biết năm 1945 khi Việt Minh cướp chính quyền họ đã thủ tiêu chôn sống vài chục ngàn người Quốc Gia và nhiều tình nghi vô tội khác. Năm 1953 trong thời kỳ kháng chiến Việt Minh đã cho đấu tố địa chủ và nhất là năm 1955, 1956 họ phát động phong trào cải cách ruộng đất qui mô, đấu tố giết hại khoảng 170 ngàn người vô tội.

Những năm 1957, 58, 59… tại nông thôn miền Nam Việt Nam, Việt Cộng đã sát hại nhiều chục ngàn viên chức xã thôn, thường dân vô tội. Năm 1968 CS Băc Việt thủ tiêu khoảng 6 ngàn người thường dân, tình nghi tại Huế trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân, trong trận chiến 1972 tại Quảng Trị, CSBV pháo kích gây thiệt hại hàng chục ngàn thường dân trên đường chạy loạn, năm 1975 hàng mấy chục ngàn người thường dân chạy loạn tại các bến tầu, cửa biển … bị thiệt mạng vì pháo kích của Cộng quân.

Hitler nói sau này nhân loại sẽ phải nhớ ơn chế độ Quốc Xã vì ta đã diệt chủng được bọn Do Thái. Cũng vậy các nhà lãnh đạo Cộng Sản Staline, Mao, Hồ, Pôn Pốt đều đã cho rằng những cuộc thanh trừng, tàn sát của họ là vì nhân dân, vì lợi ích của tổ quốc.

Tưởng niệm.

Tháng 3 năm 2008 nhiều nước trên thế giới đã lên án tội diệt chủng của chính quyền Xô Viết, Liên Hiệp Quốc năm 2003 cũng đã xác nhận nạn đói tại Ukraine và nhiều nơi trong nước Nga do hậu quả của chính sách độc tài tàn bạo. Ngày 28/11/2006 Quốc Hội Ukraine lên án nạn đói năm 1933 là tội diệt chủng, ngày 23/10/2008 Quốc Hội Châu Âu ra quyết nghị coi nạn đói 1933 là tội ác chống nhân loại. Ngày 13/1/2010 tòa Kiev, Ukraine tuyên án nạn đói là diệt chủng, Staline và các lãnh đạo Xô Viết phạm tội diệt chủng Ukraine 1933.

Nay người ta dựng nhiều tượng đài tại Ukraine và nhiều nơi trên thế giới để tưởng niệm các nạn nhân nạn đói 1933. Tại Edmonton, Alberta Canada 1983, đài tưởng niệm 50 năm nạn đói Ukraine đã được dựng lên. Tại Canada tỉnh Ontorio, ngày 9-4-2009 ra nghị quyết tưởng niệm nạn đói.

Tại Hoa Kỳ ngày 13/11-2009 Tổng Thống Obama đọc diễn văn trong /ngày tưởng niệm nạn đói Ukraine (Ukrainian Holodomor Remembrance Day), ông nói:

“Tưởng niệm những nạn nhân của thảm họa nạn đói Ukraine cho chúng ta dịp để nghĩ tới hoàn cảnh của những người dân phải sống khốn khổ dưới các chế độ cực đoan, tàn bạo trên thế giới”

(“remembering the victims of the man-made catastrophe of Holodomor provides us an opportunity to reflect upon the plight of all those who have suffered the consequences of extremism and tyranny around the world”- Wikipedia- Holodomor)

 Trọng Đạt

——————————

Tham khảo:

http://vimeo.com/12057428: The Soviet Story from Saigonner on Vimeo, post by http://Tiengthongreo.blogspot.com, a film by Edvins Snore

http://www.historyplace.com/worldhistory/genocide/stalin.htm

Staline forced Famine 1932-1933.:(The History Place, Genocide in the 20 th Century)

http://www.infoukes.com/history/famine/gregorovich:

Black Famine in Ukraine 1932-33, a struggle for existence, by Andrew Gregorovich.

http://ukemonde.com/news/rferl.html: Staline’s Starvation of Ukraine – Seventy years later, World still Largely Unaware of Tragedy – By Askold Krushelnycky, Radio Free Europe/Radio Liberty.

http://faminegenocide.com/resources/ukraine_famine.html: Ukraine famine http://en.wikipedia.org/wiki/Holodomor: Holodomor

http://www.infoukes.com/history/famine/

The artificial famine/genocide (Holodomor) in Ukraine 1932-33

http://www.ihr.org/jhr/v06/v06p207_Moroz.html

Volentyn Moroz: Nationalism and genocide: The origine of the artificial famine of 1932-1933 in Ukraine.

http://www.ukemonde.com/holodomor/famine_rs.html

Famine in Ukraine: Induced starvation, death for millions, genocide.

http://www.nhacsing.heo.com/ToiacCS/index.html

Le livre noir du communisme: Courtois, Werth, Pannée, Trần Hữu Sơn lược dịch www.Daiviet.us    

Chân Phước Marie-Rose

Chân Phước Marie-Rose

Chúc bình an đến bạn và gia đình nhé. Hôm nay mời bạn đọc và noi gương sống của Chân Phước Marie-Rose để được mạnh mẽ trong đức tin nhé.

Cha Vương

Thứ 5: 06/10/2022

Eulalie Melanie Durocher sinh ngày 6 tháng 10 năm 1811 tại Saint Antoine-sur-Richelieu, Quebec (gần Montréal) và là người con thứ 10 trong gia đình 11 người con. Eulalie được giáo dục kỹ lưỡng, và tinh nghịch như con trai, biết cưỡi ngựa. Khi lên 16 tuổi, Eulalie cảm thấy muốn đi tu nhưng buộc phải từ bỏ ý định này vì thể chất yếu ớt. Lúc 18 tuổi, mẹ Eulalie từ trần, người anh linh mục của Eulalie mời người cha và em mình đến sống trong giáo xứ của linh mục ở Beloeil, không xa Montréal là bao. Trong 13 năm, Eulalie phục vụ như một người quản gia và trở nên tông đồ giáo dân của giáo xứ. Ngài nổi tiếng vì sự tử tế, hay giúp đỡ, tế nhị và giỏi lãnh đạo; quả thật, ngài được gọi là “vị thánh của Beloeil.”

    Gia Nã Đại lúc bấy giờ mới được độc lập, còn rất hoang dã chưa được thuần hóa, Gia Nã Đại chỉ có một giáo phận trải rộng từ đông sang tây. Số dân Công Giáo lúc đó là nửa triệu và được thừa hưởng tự do tôn giáo cũng như quyền công dân từ Anh Quốc mới 44 năm trước đó. Khi Marie-Rose được 29 tuổi, Đức GM Ignace Bourget làm Giám Mục Montréal. Ngài là người có ảnh hưởng đến cuộc đời của chân phước Marie-Rose.

    Đức giám mục phải đối phó với vấn đề thiếu linh mục và nữ tu, phần lớn số dân quê không có học vấn. Cũng như các giám mục ở Hoa Kỳ, ngài sục sạo khắp Âu Châu để tìm sự giúp đỡ và chính ngài thành lập bốn tu hội và giao cho Marie Rose một sứ mệnh mới giúp thành lập tu hội các Nữ Tu của Danh Thánh Giêsu và Maria (Sisters of the Holy Names of Jesus and Mary) để dậy dỗ cho những người nghèo và trẻ con bị bỏ rơi năm 1843. Nữ tu đầu tiên và cũng là vị sáng lập là Mẹ Marie-Rose. Nhiều người khác cũng xin gia nhập vào Dòng của người phụ nữ có tấm lòng quãng đại, tin vào sự giáo dục cho trẻ con là quan trọng vì tình thương của Chúa. 

    Khi còn trẻ, Marie-Rose thường hy vọng là một ngày nào đó sẽ có tu hội của các sơ chuyên lo việc giáo dục trong mỗi giáo xứ, không ngờ chính sơ  lại thành lập một cộng đồng như vậy. Cha linh hướng của Mẹ, Cha Pierre Telmon, O.M.I, sau khi tỉ mỉ (và khắt khe) hướng dẫn tinh thần của sơ, đã khuyên sơ thành lập một tu hội. Đức GM Bourget tán thành, nhưng sơ Marie-Rose chùn bước trước viễn ảnh đó. Chưa một phụ nữ Gia Nã Đại nào dám làm điều như vậy. Sơ thì yếu ớt, trong khi cha và anh sơ đang cần đến sự giúp đỡ của sơ.

    Sau cùng sơ đồng ý và với hai người bạn, sơ Melodie Dufresne và Henriette Cere, di chuyển đến một căn nhà nhỏ ở Longueuil, đối diện với Montréal qua con sông St. Lawrence. Cùng với họ là 13 thiếu nữ đã sẵn sàng vào nội trú. Lúc ấy Mẹ Marie-Rose 32 tuổi và chỉ còn sống thêm có sáu năm nữa — đó là những năm ngập tràn thử thách, khó khăn, đau yếu và nhiều điều vu cáo. Những đức tính mà ngài ấp ủ trong thời gian “ẩn dật” đã lộ ra — một ý chí mạnh mẽ, thông minh và có lương tri. Từ đó, phát sinh một tu hội có tầm vóc quốc tế gồm các nữ tu tận hiến cho việc giáo dục đức tin.

    Mẹ khắt khe với chính bản thân và cũng thật nghiêm khắc đối với các sơ trong dòng nếu dựa theo tiêu chuẩn ngày nay. Bên trong tất cả những điều ấy, dĩ nhiên, là điều phổ thông đối với các thánh: một tình yêu không lay chuyển dành cho Đức Kitô trên thập giá.

    Vào lúc lâm chung, lời cầu nguyện mà người ta thường nghe Mẹ thầm thĩ là “Giêsu, Maria, Giuse! Lạy Chúa Giêsu nhân lành, con yêu Chúa. Xin Chúa ở với con!” Trước khi chết, Mẹ mỉm cười và nói với các nữ tu “Lời cầu xin của các chị đã giữ tôi ở đây – hãy để tôi đi.” rồi Mẹ qua đời ngày 06 tháng 10 năm 1849. Tu hội các Nữ Tu của Danh Thánh Giêsu và Maria (Sisters of the Holy Names of Jesus and Mary) của Mẹ Marie-Rose ngày một bành trướng và lan rộng xuống tới Hoa Kỳ đến bang Oregon năm 1859, thánh địa và khắp nơi trên thế giới. Mẹ Marie Rose được Đức Giáo Hoàng John Paul II tôn phong Chân Phước ngày 23 tháng 5 năm 1982.

LỜI BÀN: Ba đặc tính Kitô Giáo luôn luôn đi với nhau là cầu nguyện, hãm mình và bác ái. Trong thời đại ngày nay, chúng ta thấy có những người nỗ lực sống bác ái, thực sự lưu tâm đến người nghèo. Biết bao Kitô Hữu đã cảm nghiệm được một hình thức cầu nguyện chân thành. Nhưng còn hãm mình thì sao? Chúng ta bối rối khi nghe thấy những hình thức hãm mình ghê gớm của các thánh, như Marie-Rose. Dĩ nhiên, không phải ai ai cũng được như vậy. Nhưng hấp lực của một nền văn hóa vật chất dẫn đến việc hưởng thụ và tiêu khiển thì không thể nào cưỡng chống được nếu không có một hình thức nào đó của sự chủ tâm và tiết chế vì Đức Kitô. Đó là một tiến trình trong việc đáp lời mời gọi của Đức Kitô để sám hối và thực sự quay về với Thiên Chúa.

  From: Đỗ Dzũng

Đại án ‘chuyến bay giải cứu’: Bắt đầu khởi tố, bắt giam cán bộ ngoại giao ở nước ngoài – BBC

BBC News Tiếng Việt 

 Mở rộng điều tra đại án ‘chuyến bay giải cứu’, Bộ Công an Việt Nam lần đầu tiên khởi tố, bắt tạm giam hai nguyên cán bộ Đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài.

Ngày 4/10, Trung tướng Tô Ân Xô – chánh văn phòng kiêm người phát ngôn Bộ Công an – cho biết căn cứ tài liệu, chứng cứ thu thập được, cơ quan an ninh điều tra đã ra quyết định khởi tố bị can, thực hiện lệnh bắt tạm giam đối với hai người là nguyên cán bộ Đại sứ quán Việt Nam ở nước và một người khác.

Theo đó, ông Nguyễn Hồng Hà – nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Osaka, Nhật Bản – bị bắt tạm giam về tội Nhận hối lộ, quy định tại Điều 354 Bộ luật Hình sự.

Ông Nguyễn Hồng Hà là Tổng lãnh sự Việt Nam tại Osaka từ năm 2021.

Đồng thời cơ quan an ninh cũng bắt tạm giam bà Nguyễn Lê Ngọc Anh – nguyên cán bộ Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia – về tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ.

Cơ quan điều tra cũng khởi tố bị can, bắt tạm giam ông Hoàng Anh Kiếm (nghề nghiệp tự do) để điều tra về tội Đưa hối lộ.

BBC.COM

Đại án ‘chuyến bay giải cứu’: Bắt đầu khởi tố, bắt giam cán bộ ngoại giao ở nước ngoài – BBC News Tiếng Việt

Bộ Công an lần đầu tiên khởi tố, bắt tạm giam hai nguyên cán bộ Đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài để mở rộng điều tra vụ án ‘chuyến bay giải cứu’.

Một ông ở Phú Quốc đánh chết vợ rồi ra đầu thú

KIÊN GIANG, Việt Nam (NV) – Ông Vũ Khắc Duy, 38 tuổi, ở xã Dương Tơ, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, vừa bị bắt sau khi lên đồn công an đầu thú việc giết vợ.

Theo báo Công An Nhân Dân hôm 6 Tháng Mười, nghi can Duy, quê ở thành phố Hải Phòng, quen và sống chung với cô Nguyễn Thị Nguyệt, 25 tuổi, từ bốn năm nay, nhưng hai người không ghi danh kết hôn.

Nghi can Vũ Khắc Duy. (Hình: Công An Nhân Dân)

Đến khoảng 1 giờ sáng hôm 6 Tháng Mười, nghi can Duy phát giác vợ đã tử vong nên đến Công An thành phố Phú Quốc đầu thú.

Báo Zing cùng ngày dẫn lời ông Huỳnh Văn Nhân, chủ tịch xã Dương Tơ, cho hay lúc khai nhận tại đồn công an, nghi can Duy có biểu hiện sử dụng ma túy.

Trước vụ này, các vụ chồng đánh vợ xảy ra như cơm bữa tại các tỉnh thành ở Việt Nam.

Trong một vụ xảy ra hôm 1 Tháng Mười, theo báo Zing, anh NMH, 27 tuổi, ở thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, đánh vợ là chị LNNY và còn quay video clip sự việc rồi đăng lên mạng xã hội. Đáng nói là nạn nhân đang mang thai được 13 tuần.

Công an địa phương ghi nhận, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng xảy ra từ việc nghi can H. xin vợ cho tiền bỏ phong bì đi dự tiệc cưới nhưng bị từ chối.

Hai vợ chồng H. sống chung nhưng chưa ghi danh kết hôn. Nghi can H. từng có hai tiền án với cáo buộc “cố ý gây thương tích” và đang thi hành án quản lý tại cộng đồng.

Theo các báo ở Việt Nam, các vụ đánh vợ còn xảy ra trong các trường hợp đã ly dị.

Báo Zing hồi giữa Tháng Chín ghi nhận vụ bà H. ở quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội, bị ông T., chồng cũ đánh trong nhiều giờ ngay tại nơi làm việc, sau đó lôi ra xe hơi và vào một nhà nghỉ để tiếp tục hành hung mà không được ai can ngăn.

Căn nhà nơi xảy ra vụ án ở ấp Suối Lớn, xã Dương Tơ, thành phố Phú Quốc. (Hình: Thanh Niên)

Sau vụ bị đánh, bà H. trong tình trạng còn yếu, chữa trị tại bệnh viện, trên cơ thể có nhiều vết bầm tím và thương tích.

Đến nay, trong hầu hết các vụ đánh vợ ở Việt Nam, nếu nạn nhân sống sót, dù thương tích đầy mình, thì người chồng cũng không bị bắt giam. (N.H.K)