TIỀN VÀ TÌNH DỤC.
TIỀN VÀ TÌNH DỤC.
Nghệ thuật tiếp thị của người đẹp trong giới showbiz Việt lâu nay không phải là nhân cách. Nhân cách không phải là thứ có thể tiếp thị để kiếm tiền. Mất nhân cách mới là món hàng đáng giá. Càng mất nhân cách càng kiếm được nhiều tiền.
Có một hoa hậu đã ngang nhiên nói và báo Vietnamnet cũng ngang nhiên đăng rằng bạn trai muốn làm vừa lòng cô chỉ cần 4 bước. Đó là tặng tiền, xem đã hết tiền chưa để rồi tự động nhét tiền vào ví, tặng thật nhiều tiền và tặng tiền bất kỳ lúc nào không cần phải đợi lễ lượt.
Đó là cách chứng tỏ tình yêu và cũng là cách để lấy lòng người đẹp hiện nay.
Với một cô gái từng tuyên bố ” Không có tiền thì cạp đất mà ăn à” thì ê kip Vũ Khắc Tiệp đưa cô ta đến Pháp không phải để tiếp thị tài năng hay nhân cách. Đó là thứ mà Ngọc Trinh không có. Cái mà cô ta có là một thân thể gợi dục . Và thứ mà cô ta cần là những scandal trên mặt báo.
Vậy nên khi cô ta ăn mặc hở hang trên thảm đỏ , dư luận càng bàn tán , càng chửi bới thì ê kip lăng xê Ngọc Trinh càng thu được hiệu quả quảng bá. Chính vì thế càng chửi Ngọc Trinh càng hở bạo.
Ngọc Trinh là người mẫu quảng cáo đồ lót và cũng là người lợi dụng scandal tình , tiền để làm nên thương hiệu. Trong thời buổi bây giờ tên tuổi càng nóng càng nhận được nhiều hợp đồng quảng cáo vì hàng hóa có cô ta làm đại sứ thương hiệu càng bán chạy hơn.
Vô tình dân mạng chửi Ngọc Trinh nhưng đang tiếp tay cho cô ta làm giàu. Thất bại lớn nhất của Ngọc Trinh đó là đến Liên hoan phim với một trang phục kín đáo , thanh cao, lịch sự nhưng chẳng ai để ý đến vì chẳng hề đóng phim nào.
Nó cũng giống như Nguyễn Xuân Phúc đến dự hội nghị G7, G20 mà không tỏ ra ngớ ngẫn trong việc bắt tay, không quạt phành phạch khi nghe nhạc giao hưởng thì cả thế giới sẽ không hề biết thủ tướng Việt Nam là ai.
Nghệ thuật tiếp thị ngày hôm nay là tạo ra sự chú ý, cho dù sự chú ý đó mang nghĩa tiêu cực. Trong một xã hội độc tài khi đạo lý băng hoại, pháp luật không còn được coi trọng thì việc làm sao kiếm được nhiều tiền mới là mục đích tối thượng.Xã hội Việt Nam bây giờ mà đưa các tiêu chuẩn của người phụ nữ miền Nam trước 1975 ra làm thước đo sẽ bị cười là quá lạc hậu.
Tuy nhiên tiền và tình dục cũng chỉ có giá trị khi con người còn trẻ. Khi sự băng hoại về đạo lý đã làm một đất nước mục ruỗng như một con bệnh ung thư vào giai đoạn cuối thì tiền chỉ là những con số biết nhảy múa mà thôi. Sắc đẹp không ở mãi với con người và dục vọng cũng sẽ có ngày bị mất đi trong một cơ thể bệnh tật, không còn nhựa sống. Đến lúc đó dẫu có ôm trong tay một đống tiền cũng vô nghĩa.
Có người biện hộ là phải kiếm thật nhiều tiền để dành cho những lúc như thế để không phải đi ngửa tay ăn xin.Nhưng rồi sẽ thấy tiền không biết bao nhiêu là đủ.Đủ hay không là do ở mình.Vậy nên nhiều người khi về già đã chọn việc xa lánh chốn thị phi, gần gũi với tôn giáo để chiêm nghiệm lại những triết lý cuộc đời .
Fb Dương Hoài Linh
S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến – Vũ Biện Điền
S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến – Vũ Biện Điền
23/02/2022
S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến
Tôi (trộm) nghe nói rằng quân tử ba ngày mà không đọc sách thì diện mạo dơ dáng, và trò chuyện khó nghe. Tôi vốn bẩm sinh mặt mũi không mấy dễ coi, và chuyện trò vô cùng nhạt nhẽo nên (lắm khi) đến vài ba năm cũng chả nhìn đến một cuốn sách nào mà vẫn cứ sống phây phây – chả có (trăng) sao gì ráo trọi.
Tháng trước, tôi được nhà xuất bản Tiếng Quê Hương gửi cho một bộ sách to đùng, dầy hơn ngàn trang (thấy mà ớn chè đậu) tựa là Phiên Bản Tình Yêu. Bìa trước và bìa sau đều có hình của hai phụ nữ khỏa thân, và trông (hơi) gợi dục!
Tên tác giả (Vũ Biện Điền) lại hoàn toàn xa lạ. Trong tình yêu, cũng như tình dục, tôi rất ngại chuyện “phiêu lưu” nên lẳng lặng đẩy luôn cái “của nợ” trông rất “ướt át” này vào một góc! Tuần rồi, chả may, giáp mặt người tặng sách – nhà báo Uyên Thao:
– Cậu nghĩ sao về cuốn Phiên Bản Tình Yêu của Vũ Biện Điền?
Tôi đỏ mặt, ấp úng:
– Dạ, em chưa đọc chữ nào.
Dù không nghe nhưng tôi cảm được một tiếng thở dài (cố nén) của người đối diện. Với đôi chút áy náy, ngay tối hôm ấy, tôi đọc hơn bốn trăm trang sách. Sáng hôm sau, cáo bệnh, nằm nhà “chơi” luôn hơn bẩy trăm trang nữa với rất nhiều ngạc nhiên và thích thú.
Mấy thế hệ người Việt liên tiếp vừa qua, ít nhiều, đều là nạn nhân của thời cuộc hay của chế độ hiện hành nhưng chắc chưa có ai ngồi cặm cụi (nhiều năm trời) để ghi lại những nhận xét tỉ mỉ và chính xác của mình về “những loại nhà nước” hiện nay – như Vũ Biện Điền:
Trong số đó đáng kể hơn cả là nhà nước Đảng, còn gọi là nhà nước Quỷ hoặc Siêu Chính Phủ vì nó biến hóa như một cái bóng ma khổng lồ tác nghiệp lên tất cả các nhà nước khác. Ở trung ương, đứng đầu nhà nước này có tổng bí thư, nội các cơ mật là bộ chính trị. Ở địa phương, đứng đầu nhà nước này có bí thư tỉnh ủy, nội các cơ mật là ban thường vụ… Nó là đầu mối của mọi nhũng nhiễu, tai họa và tội ác nhưng rất có tài bẻm mép phủi tay
Tiếp theo là nhà nước Hành Chánh, còn gọi là nhà nước Hành Dân vì bộ nào của nhà nước này cũng có chức năng làm dân khổ cực do đặc tính cửa quyền, nó vâng lệnh đảng như một thứ đầu sai quản lý đất đai và điều hành nô lệ cho chủ nhân, thu gom vô tội vạ tài sản trong nhân dân, sau khi trích nạp cho chủ, nó được quyền chi tiêu xả láng. Ở trung ương, đứng đầu nhà nước này có một chủ tịch không thực quyền, nội các cơ mật là thủ tướng và các bộ trưởng. Ở địa phương, đứng đầu nhà nước này có chủ tịch, nội các cơ mật là ban thường trực và các giám đốc sở…
Thứ ba là nhà nước Quốc Hội, còn gọi là nhà nước Phường Chèo hoặc nhà nước Kỳ Nhông vì đặc tính hát ca véo von theo cách dàn dựng của đảng, nhanh nhạy thay vai đổi màu tùy từng vị trí – ở trung ương nó là lập pháp, ở tỉnh nó là hành pháp, ở tòa án nó là tư pháp. Hình thái nhà nước Quốc Hội về đến địa phương gọi là Hội Đồng Nhân Dân, đặc tính véo von và đổi màu vẫn lưu cửu.….
Thứ bốn là nhà nước Mặt Trận Tổ Quốc, còn gọi là nhà nước Chịu Trận, vì nó là một thứ bung xung vỹ đại hứng đòn – phản đòn – đỡ đòn cho các nhà nước kia. Nhà nước này còn có một chức năng định kỳ như một lò hộ sinh, phù phép hiệp thương ba lên bốn xuống trong mỗi mùa bầu cử, cho ra những đứa con đúng kiểu mẫu đặt hàng của đảng… Quá trình vận động, thành tích cao nhất của Mặt Trận Tổ Quốc là tạo ra Mặt Trận Việt Minh trước trước 1954, và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam trước 1975 – hai lá bài này khá ăn khách, nhưng tới hồi lật tẩy thì vô cùng bỉ ổi!
Thứ năm là nhà nước Quân Đội, còn gọi là nhà nước Vũ Trang… nhà nước này làm bằng sức người và của nả của nhân dân nhưng chỉ trung với đảng. Nên chi nó khu trú ở đâu là lãnh thổ riêng ở đó, từa tựa như một quốc gia trong một quốc gia. Khi cần, nó mạo danh quốc phòng, đưa quân chiếm hữu đất đai, rồi đặt ra định chế tự cấp tự quản… Ở trung ương, đứng đầu nhà nước này có quân ủy, hội đồng cơ mật bao gồm các tổng cục chuyên ngành… Nhà nước này hội đủ tính chất phong kiến trung cổ La Mã, sỹ quan là giai cấp đảng viên gọi là cán bộ, bổng lộc hậu hĩ – hạ sỹ quan và lính (con em nhân dân thi hành nghĩa vụ), gọi là chiến sỹ, chỉ được hưởng sinh hoạt phí vừa đủ cầm hơi tới ngày phục viên…
Thứ sáu là nhà nước Công An, còn gọi là nhà nước Tam Đại vì mỗi thành viên phải có lý lịch ba đời bần cố… vừa nghèo vừa ngu từ đời ông đến đời cháu. Đây là nhà nước bán vũ trang, thừa quan thiếu lính, quyền hành vô giới hạn, bổng lộc vô bờ bến. Không những nhân dân kinh sợ mà một số viên chức các nhà nước khác cũng chùn bước trước những đặc quyền đặc lợi của các ấm tử viên tôn. Lịch sử nhân loại từ xưa đến nay, chỉ dưới thời phát xít Đức-Ý-Nhật và các nước xã hội chủ nghĩa mới có thứ nhà nước kỳ lạ này. Nó đồng hóa mình với đảng chuyên chính, tự quyết tất cả và không chịu một quyền lực nào ràng buộc, một tổ chức nào kiểm soát.
Nguồn phóng ảnh: http://www.bacaytruc.com
Vũ Biện Điền cũng “tính sổ” rành mạch từng vụ một, cùng với tên tuổi rõ ràng của những tên chính phạm. Xin đơn cử vài vụ tiêu biểu:
Công Hàm 1958:
“Tôi mới lần ra danh sách bộ chính trị đảng CSVN từ 1951-1960. Đó là Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Hoàng Quốc Việt, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chí Thanh, Lê Đức Thọ, Hoàng Văn Hoan, Nguyễn Duy Trinh, Phạm Hùng, Lê Thanh Nghị, và Lê Văn Lương. Phạm Văn Đồng chỉ là nhân vật hàng thứ sáu, chỉ bậc trung thôi… Án chung không thể tội riêng, một mình Phạm Văn Đồng mà dám qua mặt chủ tịch Hồ Chí Minh a? Dám qua mặt đảng Cộng Sản a?”
Thảm sát Mậu Thân 1968:
“Tôi đào được danh sách của bộ chính trị nhiệm kỳ ba của đảng Cộng Sản Việt Nam 1960 -1976. Nhìn chung, chẳng ai xa lạ, Hồ Chí Minh chủ tịch, Lê Duẩn bí thư thứ nhất, Trường Chinh chủ tịch quốc hội, Phạm Văn Đồng thủ tướng, Phạm Hùng phó thủ tướng, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp phó thủ tướng kiêm bộ trưởng quốc phòng, Nguyễn Chí Thanh mất năm 1967, Nguyễn Duy Trinh phó thủ tướng, Lê Thanh Nghị phó thủ tướng, Hoàng Văn Hoan phó chủ tịch quốc hội, Trần Quốc Hoàn và Văn Tiến dũng, hai thành viên này được bổ sung từ năm 1972.”
Cách nhìn của Vũ Biện Điền về những người đồng thời với mình – qua lời những nhân vật của ông – cũng khá khắt khe, và rất có thể gây ra tranh cãi gắt gao:
“Nhưng người Hà Nội đến lạ! Họ biết Xã Hội Chủ Nghĩa là cái bánh vẽ cực kỳ thối tha mà cứ hớn hở ngồi vào lột lá bóc ăn và xơn xớt khen ngon khen ngọt đến nỗi người ngoài nhìn vào phát thèm. Họ biết Hồ Chí Minh gian manh xảo trá mà cứ ngoác miệng ngợi ca lúc ông ta còn sống và khóc khô nước mắt khi ông chết. Họ biết bè lũ kế thừa đang đi tiếp con đường của ác quỉ mà vẫn tranh nhau làm tôi mọi, cúc cung tận tụy.
Họ biết lịch sử đang rao giảng là thứ cực kỳ giả dối nhưng học thuộc vanh vách, nếu có ai mạnh dạn đính chính thì phồng mang trợn mắt, cãi cối cãi chầy như sợ mất đi độc quyền làm thân sáo vẹt. Họ nhận quá nhiều đau khổ do độc tài đảng trị nhưng không dám đối mặt với kẻ thù cứ ươn hèn đổ vạ cho phong kiến, cho tư sản, cho địa chủ, cho Mỹ Ngụy, xua con em vào chết ở miền Nam mà không biết đang hiến máu cho hung thần và đang hy sinh cho một thiên đường mù…
Ngoại trừ một số rất ít sớm thức tỉnh như Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Trần Xuân Bách, Phạm Quế Dương, Nguyễn Thanh Giang, Dương Thu Hương, Lê Hồng Hà, Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc… tôi chưa thấy một tổ chức nào bi phẫn, chưa thấy một đoàn thể nào muốn nắm tay nhau liên kết xuống đường biểu tình, họp mít-tinh vạch mặt chỉ tên bè lũ tay sai Nga – Hoa, tập đoàn phi nhân bản, phản nhân quyền, bọn bán nước cầu vinh…”
Một tác phẩm mang đậm mầu sắc chính trị như thế sao lại có cái tựa trữ tình và ướt át là Phiên Bản Tình Yêu? Trong phần lời tựa nhà văn Trần Phong Vũ đã giải thích (phần nào) như sau:
“Như nhan sách, Phiên Bản Tình Yêu là một chuyện tình – mà là một chuyện tình xuyên thế hệ, mang nhiều kịch tính với những tình tiết éo le, ngang trái, chuyển biến bất ngờ. Nhưng Tình Yêu ở đây chỉ là lớp vỏ, là mặt nổi của một tảng băng sơn giữa đại dương mờ mịt…
Cuộc tình xuyên thế hệ ở đây có thể được hiểu như một thứ ‘thang’ để dẫn ‘thuốc’, một chất xúc tác, tạo hấp lực lôi cuốn người đọc đi sâu vào những âm mưu, những màn đấu đá, những trò lường gạt, thay bậc đổi ngôi trong một xã hội người ta nhân danh đủ thứ với những mặt nạ khóc cười, hỉ nộ đã được mã hóa khi thực chất chứa đầy tâm thái tham lam, ích kỷ, độc ác, chỉ vụ thỏa mãn những lợi ích cá nhân, bè nhóm, bất chấp sự an nguy của tiền đồ quốc gia dân tộc. Và trong chừng mực nào đó, với tư cách người chứng, tác giả đã đạt được mục đích của ông.”
Tôi cũng tin là Vũ Biện Điền hoàn toàn đạt được mục đích của mình nhưng e rằng ông không thành công (lắm) khi dùng hình thức tiểu thuyết như “một chất xúc tác, tạo hấp lực lôi cuốn người đọc đi sâu” vào “chuyện tình xuyên thế hệ” này. Những nhân vật trong Phiên Bản Tình Yêu (e) hơi quá nhiều kịch tính, nhất là qua những mẫu đối thoại rất dài và (rất) trí tuệ nhưng cũng rất xa lạ với đời thường hay đời thật.
Tất nhiên, đây chỉ là suy nghĩ hoàn toàn chủ quan (và có thể là hoàn toàn sai lạc) của một thường dân mà trình độ thưởng ngoạn nghệ thuật còn nhiều giới hạn. Mong được đón nhận những nhận định khác, từ những người đọc khác, về công trình tâm huyết và đồ sộ này của Vũ Biện Điền.
– Tưởng Năng Tiến
Chính trị Phi Luật Tân: Xoay 360 độ sau 36 năm
Chính trị Phi Luật Tân: Xoay 360 độ sau 36 năm
18/05/2022
Ông Ferdinand “Bongbong” Marcos Jr.
Những điều trình bày về văn hóa và chính trị Phi ở trên dường như vẫn thật khó hiểu. Có lẽ khi có cơ hội đến nước Phi để sống và cảm nhận về người Phi, trải nghiệm thực tế đó mới giúp cho chúng ta thấu hiểu hơn chăng?
Vào cuối tháng Hai năm 1986, nhà độc tài Ferdinand Marcos Snr. phải lánh nạn sang Hawaii sau khi Mỹ, qua lập trường của Tổng thống Ronald Reagan, không còn ủng hộ sự cai trị của Marcos tại Phi Luật Tân. Marcos đã cai trị nước Phi hơn 20 năm, từ năm 1965 đến 1986, trong đó 9 năm, từ 1972 đến 1981, đã nằm dưới thiết quân luật. Thượng Nghị sĩ Paul Laxalt, một chính trị gia thân cận với Reagan, tư vấn cho Marcos là nên “dứt và dứt sạch” (cut and cut cleanly). Marcos mang theo vợ, hai con cùng với tài sản khổng lồ, gồm hàng trăm triệu tiền mặt, vàng bạc châu báu, được phi cơ của Không quân Mỹ chở đi. Một trong hai người con, có cùng tên cha, là Ferdinand Romualdez Marcos Jnr., biệt hiệu Bongbong, lúc đó 28 tuổi. Nước Phi kể từ đó đã bước sang một giai đoạn mới, sáng sủa hơn, bớt tham nhũng và độc tài hơn. Người Phi, nhất là phong trào dân chủ, tin rằng thời đại Marcos đã ra đi vĩnh viễn, nhường chỗ cho sự chuyển tiếp sang nền dân chủ.
Nhưng đúng 30 năm sau, vào tháng Năm năm 2016 người Phi đã bầu chọn Rodrigo Duterte lên làm Tổng thống thứ 16. Về mặt hình thức, nền dân chủ của Phi vẫn còn đó, nhưng về mặt pháp quyền (rule of law), Duterte đã đứng trên luật trong suốt 6 năm qua để cai trị nước Phi. Ngày 9 tháng Năm năm 2022 vừa qua, người con trai đã cùng cha mình chạy trốn khỏi nước Phi 36 năm về trước đã được người Phi bầu chọn làm Tổng thống thứ 17. Con gái của Duterte, Sara Duterte, liên minh với Marcos trong cuộc bầu cử này, sẽ làm Phó Tổng thống. Tuy kết quả bầu cử chưa chính thức công bố, kết quả đăng trên tờ Rappler cho biết, với tổng số phiếu đếm đến nay là 98.35%, Marcos được hơn 31 triệu phiếu, chiếm 58.74%; và Sara Duterte cũng hơn 31 triệu phiếu bầu cho Phó Tổng thống, chiếm 61.29%.
Kết quả cuộc bầu cử tháng 5 vừa qua không có gì lạ. Thật ra nó chỉ phản ánh văn hóa chính trị và tư duy của người Phi về mẫu người lãnh đạo được người dân tại quốc gia này chọn. Một, quyền lực chính trị tại Phi phần lớn bị thao túng bởi những gia đình quyền thế, không nằm trong tay người dân. Hai, truyền thông xã hội ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quyết định của lá phiếu cử tri tại Phi. Ba, lịch sử đóng vai trò then chốt trong mọi xã hội, do đó không nắm vững lịch sử thì mọi quyết định hiện tại sẽ bị định hình bởi cuộc chiến thông tin gia. Kết quả có khi đi rất xa, và thụt lùi, chứ không nhất thiết là tiến bộ.
Trước hết, câu hỏi cần đặt ra là làm thế nào con của một nhà độc tài từng lánh nạn sang quốc gia khác có thể trở lại Phi để tham chính và bây giờ trở thành tổng thống?
Sau khi Marcos chết tại Hawaii năm 1989, vợ và hai con Marcos được cho hồi hương năm 1991, và sau đó cả ba người đều được tham chính.
Ngược thời gian, trong lúc Marcos Snr. làm tổng thống hơn hai thập niên, ước đoán khoảng 10 tỷ đô la bị biển thủ. Ngoài tham nhũng cửa quyền, chế độ Marcos đã bỏ tù, tra tấn, giết hại, và thủ tiêu vài chục ngàn người, như Ân xá Quốc tế hay nhiều tổ chức nhân quyền khác ghi nhận. Sáu năm cầm quyền dưới thời Duterte, chính quyền Phi chính thức ghi nhận hơn 6,200 người bị giết hại trong cuộc chiến chống ma tuý (war on drugs). Con số gần với sự thật hơn nằm giữa 8,000 đến 30,000, theo tổ chức Theo dõi Nhân quyền. Duterte đã từng nói những câu hàm ý khuyến khích lực lượng an ninh, cảnh sát bắn giết càng nhiều càng tốt, và ông sẽ bảo vệ họ. Khi làm thị trưởng Davao, Duterte đã hình hành toán đặc nhiệm có tên Đội Tử thần Davao (Davao Death Squad/DDS) để truy lùng và thủ tiêu những ai nằm trong danh sách của Duterte. Ngay cả khi những người đứng đầu hay từng tham gia DDS, như Arturo Lascañas hay Edgar Matobato ra truy tố Duterte là chủ mưu đằng sau, với nhiều bằng chứng mà chỉ có người tay trong mới biết được, thế mà dân Phi vẫn bầu và vẫn tiếp tục ủng hộ Duterte làm tổng thống. Không những thế, vào cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ diễn ra năm 2019, Duterte được sự ủng hộ mạnh mẽ, gần 80% dân Phi, đến độ phía đối lập không có một người thắng ghế thượng viện, một kỷ lục chính trị trong 80 năm. Khi gần hết nhiệm kỳ, với bao nhiêu tai tiếng về cuộc chiến chống ma tuý, Duterte vẫn được 67% dân Phi ủng hộ.
Điều này cho thấy một quốc gia chìm đắm trong nhiều vấn nạn xã hội, đặc biệt là tội phạm ma tuý, và một nền kinh tế què quặt bị thao túng bởi tập đoàn tài phiệt cấu kết với ngoại bang như Trung Quốc, thì mối lo canh cánh hàng đầu của người dân vẫn là sự sống còn: vật chất và an ninh. Bất chấp lãnh đạo có trực tiếp hay gián tiếp giết ai, có bàn tay nhuốm máu ra sao, phần lớn người Phi không quan tâm, và không thấy quan trọng ưu tiên. Người Phi sẵn sàng bỏ phiếu cho những lãnh đạo họ nghĩ là mạnh mẽ (strongman). Phần lớn tin rằng chỉ có những người mạnh mẽ như Duterte hiện nay, hay Marcos trước đây, mới có thể điều hành lãnh đạo quốc gia để đối phó giải quyết vấn nạn xã hội, đất nước. Thật ra thì một phần vì họ tin, nhưng phần khác họ bị tuyên truyền và định hướng để tin tưởng và ủng hộ như thế. Những Strongmen này cam kết giải quyết vấn nạn ma tuý trong nhiệm kỳ của họ, hay chấm dứt nghèo đói và bất công; họ hứa hẹn chấm dứt quân phiến loạn, khủng bố và cộng sản ở phía Nam của nước Phi (Mindanao). Chỉ có điều khi Strongman còn tại chức, người dân vẫn khốn khổ. Và khi ra đi thì cái gốc vấn đề vẫn còn nguyên. Sau đó khi đến cuộc bầu cử khác thì vẫn chỉ là những sự hứa hẹn khác hoặc mới được ban ra.
Những người có thể mang lại thay đổi và dân chủ, như Phó Tổng thống và là ứng viên Maria Leonor Robredo, thì cũng chỉ được gần 15 triệu phiếu, chưa bằng phân nửa của Marcos Jnr.
Làm thế nào mà người dân Phi cứ bị các chính trị gia như Duterte hay Marcos qua mặt mãi?
Câu trả lời có thể tóm gọn vào hai chữ: thông tin/tuyên truyền. Dưới thời Marcos, khi lẽ ra ông phải ra đi sau hai nhiệm kỳ (nay theo hiến pháp mới chỉ còn một nhiệm kỳ 6 năm), thì Marcos kéo dài sự cai trị của mình bằng cách ban hành thiết quân luật, kéo dài 9 năm. Truyền thông tự do là nạn nhân đầu tiên. Duterte cũng dùng thủ thuật tấn công bất cứ cơ quan truyền thông nào phê bình ông, và tuyển mộ dư luận viên trên mạng truyền thông xã hội để định hướng dư luận. Maria Ressa, người sáng lập và điều hành truyền thông Rappler, được giải thưởng Nobel Hòa bình năm 2021, đóng vai trò trụ cột trong việc thực hiện ba tập phúc trình mang tên “Chiến tranh tuyên truyền: Vũ khí hóa Internet.” (Propaganda War: Weaponizing the Internet, Phần 1, 2 và 3). Phúc trình này báo cáo chi tiết hành động của Tổng thống Duterte và những người ủng hộ ông đã huy động đội quân troll được trả tiền để bịt miệng những người chỉ trích, đe dọa đối thủ và phát tán thông tin sai lệch trực tuyến. Những cơ quan truyền thông độc lập đưa thông tin về bầu cử Phi năm 2022 bị tấn công mạnh mẽ. Những cuộc tấn công trực tuyến gọi những phóng viên này bằng những ngôn từ thô tục như “bayaran”, tức những người xâm nhập vào tài khoản người khác được trả lương, hay “presstitute”, tức những con điếm truyền thông. Ressa cũng bị tấn công, và mục tiêu là để những người như Ressa và những truyền thông như Rappler im lặng, không dám lên tiếng nữa.
Tấn công truyền thông và giới ký giả độc lập thôi vẫn chưa đủ để tạo ảnh hưởng và thuyết phục. Bước kế tiếp của Marcos Jnr., trong vài năm qua, là nhắm vào mục tiêu thay đổi lịch sử để nắm bắt hiện tại và định hướng tương lai.
Hiện nay Phi có 67 triệu người lớn, tức 18 tuổi trở lên, trong dân số 112 triệu. Khoảng một nửa dân số sinh sau năm 1986. Nhắm vào thành phần trẻ, và bằng cách kể câu chuyện khác đi, biến đổi những tự sự (narrative), để thu phục được sự ủng hộ của họ, là bí quyết thành công của Marcos. Marcos Jnr. làm đúng như vậy. Muốn nhắm vào thế hệ trẻ thì không thể bỏ qua truyền thông xã hội. Marcos đã tuyển dụng đội ngũ dư luận viên của mình tôn vinh những thành tựu thời của bố ông, Marcos Snr., người có viễn kiến của một Xã hội Mới, bởi vì Marcos từng tuyên bố sẽ chấm dứt nghèo đói và bất công. Cho nên lịch sử được viết lại rằng kỷ nguyên Marcos là thời đại của sự tiến bộ và thịnh vượng, mang lại một cuộc sống mới. Tự sự mới bỏ qua nạn tham nhũng và xâm phạm nhân quyền nghiêm trọng thời đó. Nó được lan truyền trên các nền tảng như YouTube, nơi khá phổ biến trong giới trẻ, cũng như những người có thể truy cập miễn phí trên điện thoại của họ. Rappler đã theo dõi kỹ đường đi nước bước này trước khi Duterte lên nắm quyền. Cách đây 2 năm rưỡi, một bài viết trên Rappler nhận định rằng “Một lượng lớn thông tin tuyên truyền và thông tin sai lệch được tạo ra và khuếch đại bởi một mạng lưới rộng lớn gồm các trang web, các trang và nhóm Facebook, các kênh YouTube và những người có ảnh hưởng trên mạng xã hội dường như là một phần của chiến dịch có hệ thống nhằm đánh bóng hình ảnh của giòng họ Marcos và sửa soạn cho họ sự trỗi dậy thêm nữa trong chính trị Phi.” Tuy những nhận định của các ký giả Rappler đúng đắn, cuối cùng đa số người Phi cũng chọn Strongmen như Marcos.
Tóm lại, vấn đề chính của nước Phi là các thế tộc quyền lực tiếp tục thao túng nền kinh tế và chính trị tại đây, không mong muốn sự cải tổ nào để bị mất đi quyền lợi của họ. Giáo sư Sheila S. Coronel viết trên Foreign Affairs ngày 5 tháng Năm biện luận rằng thành phần quyền thế này chỉ muốn tiếp tục hưởng lợi (rent-seeking). Rent seeking có nghĩa là bằng cách thực tế hoặc thực hành thao túng chính sách công hoặc các điều kiện kinh tế như một chiến lược để tăng lợi nhuận.
Những điều trình bày về văn hóa và chính trị Phi ở trên dường như vẫn thật khó hiểu. Có lẽ khi có cơ hội đến nước Phi để sống và cảm nhận về người Phi, trải nghiệm thực tế đó mới giúp cho chúng ta thấu hiểu hơn chăng? Người Phi khá thật thà dễ thương và chịu đựng. Có lẽ sẽ mất nhiều thế hệ và hy sinh để chuyển đổi và củng cố nền dân chủ tại đây. Với 6 năm tới khi hai người con của các nhà độc tài nắm quyền tại đây, tiến trình dân chủ hóa của Phi Luật Tân chắc còn nhiều căm go, thử thách hơn nữa.
11 CÂU NÓI KHIẾN BẠN NGỘ RA GIAO TIẾP LÀ MỘT “NGHỆ THUẬT” TRONG CUỘC SỐNG
11 CÂU NÓI KHIẾN BẠN NGỘ RA GIAO TIẾP LÀ MỘT “NGHỆ THUẬT” TRONG CUỘC SỐNG
- Người dại nói chuyện bằng miệng, người thông minh nói chuyện bằng đầu. Còn người trí tuệ nói chuyện bằng trái tim
- Người ta ít quan tâm bạn vất vả ra sao, đã làm việc như thế nào, bạn nói gì… Họ quan tâm nhiều hơn tới những gì bạn đạt được. Vì thế, hãy cứ im lặng và để thành công nói thay lời bạn.
- Không tranh cãi với kẻ ngốc, nếu tranh cãi với kẻ ngốc thì rốt cuộc sẽ không biết ai mới là kẻ ngốc.
- Tất cả những gì một ai đó làm cho bạn đều hàm chứa chi phí cơ hội, nghĩa là nếu anh ta đã dành thời gian trong ngày của mình để tiếp bạn thì phải có điều gì đó anh ta đã không làm cho chính mình. Hãy biết ơn vì điều đó.
- Nói là một loại năng lực, còn im lặng là đỉnh cao của trí tuệ.
- Hạn chế tranh cãi với người khác. Trong cơn giận, con người ta rất đáng sợ.
- Trong cuộc giao tiếp của hai con người, tình cảm chiếm 70%, 30% là nội dung. Nếu như giao tiếp tình cảm không ổn thì nội dung sẽ trở nên méo mó. Vậy nên trước khi giao tiếp nội dung, phải chăm chút thật kỹ phương diện tình cảm.
- Giao tiếp đừng mong lợi mình, vì lợi mình thì mất đạo nghĩa.
- Dở nhất trong cái đạo xử thế là không thấy cái lỗi của mình.
- Nếu muốn thông minh bạn hãy học cách hỏi hợp lý, cách nghe chăm chú, cách trả lời thông minh, và ngừng nói khi không còn gì nói nữa.
- Không biết mà nói là ngu; biết mà không nói là hiểm.
Sưu Tầm .
Con nuôi và nuôi con – truyện ngắn
Con nuôi và nuôi con
Trần Mộng Tú
Hôm nay chúng tôi tới nhà Thờ, dự một tang lễ mà tôi thấy có nhu cầu phải kể lại cho các bạn của mình nghe, vì tôi tin là ai cũng muốn nghe câu chuyện này.
Ðám tang của một phụ nữ 42 tuổi, đó là cô bạn học thời Tiểu Học của con gái tôi.
Trong đời sống mấy chục năm làm người, tôi chưa bao giờ đi dự một đám tang nào làm tôi xúc động như vậy. Người trẻ mất đi ở tuổi nào cũng có, thân nhiều, hay mới quen biết cũng thường tình. Tôi xúc động thương cho những bực cha mẹ già mất con còn trẻ cũng không phải lần đầu. Nhưng sao lần này tôi nhìn ông bà Wright tôi lại không cầm được cảm xúc của mình, ngực tôi nặng như có một tảng đá đè lên.
Tôi nghĩ tôi cần chia sẻ cảm xúc này với các bạn.
Ông bà Wright năm nay ngoài 70 tuổi, các con đã khôn lớn và ra ở riêng phần đông đã có gia đình. Hai ông bà đã dọn vào nhà già cả mấy năm nay, bà yếu hơn ông, phải ngồi xe lăn cho ông đủn, ông trông hom hem nhưng đầu óc còn minh mẫn, bà thì đã nhớ nhớ, quên quên. Nhìn hai ông bà mặt đầm đìa lệ, tôi cũng không cầm được nước mắt.
Ông bà Wright có bảy người con, hai người do ông bà sanh ra. Sau đó muốn có thêm con ông bà bàn với nhau là thôi đừng sanh nữa,dù lúc đó họ còn rất trẻ, mới vào tuổi 30, họ nghĩ trên thế giới này nhiều trẻ em mồ côi cần một gia đình.
Hai ông bà tính xin một em bé trong viện mồ côi, nhưng khi tới Cô Nhi Viện, được Viện cho biết là vừa có ba anh em con mồ côi trong một gia đình cho Cô Nhi Viện. Ông bà có thể nhận một em, hai em còn lại thì sẽ gửi cho hai gia đình khác nhận. Ba em bé này người Ðại Hàn, hai trai, một gái.
Sau khi bàn bạc với nhau cả hai ông bà bằng lòng nhận cả ba, cho anh em chúng không phải xa nhau. Biết là khó khăn đấy nhưng nghĩ ba anh chị em chúng phải phân tán tới ba gia đình khác nhau thì thật tội nghiệp.
Vậy là ba em bé Ðại Hàn ở tuổi lên 5, 3, 2 vào ở trong một gia đình Mỹ trung lưu, đã có một người anh lên 10 và chị lên 8. Các em được cha mẹ và hai anh chị lớn người Mỹ hết lòng săn sóc, thương yêu.
Ba năm sau ông bà nhận thêm người con nuôi nữa, gốc người Mexico. Có lẽ Thượng Ðế trao trách nhiệm nuôi con mồ côi cho ông bà, nên năm kế tiếp ông bà lại tiếp theo nhận một em bé người Da Ðỏ. Cô con út này nhận về mới được 2 tuần tuổi. Người Mẹ ruột của cô đã cho cô đi từ lúc cô còn nằm trong bụng, đã thu xếp để ông bà Wright đến đón cô vào ngày lễ Giáng Sinh. Ông bà nói đó là một món quà Giáng Sinh đẹp nhất trong đời Chúa trao cho ông bà và gia đình. Cô Út được các anh chị truyền tay nhau bế, đến nỗi ông bà nói: con bé trong năm đầu nó không hề biết mặt đất như thế nào, nó không biết cả bò.
Ông bà nuôi bảy người con như nhau, tất cả đều được cho học tư thục Công Giáo (Nhà thờ, bớt học phí cho người con thứ sáu, và thứ bảy).
Cũng như tất cả gia đình đông con khác trong xã hội, có con ngoan dễ dạy, có con cứng đầu khó dạy. Ông bà cũng thật là những cha mẹ hết lòng với con.
Các con trưởng thành, người có việc làm tốt, người gặp nhiều điều may, người không may mắn, ông bà luôn là người đứng sau lưng hỗ trợ như tất cả những cha mẹ khác. Cô con gái út ông bà nhận về vào dịp lễ Giáng Sinh là người kém may mắn nhất. Cô theo chúng bạn đi vào đường nghiện hút, lại có con sớm. Cả gia đình xúm vào giúp cô, cô cũng cố gắng chống trả, nhưng không thoát ra được. Cuối cùng cô qua đời sau một cơn say thuốc quá liều (overdose), để lại hai đứa con không bố, lên 5 và 7 tuổi cho ông bà.
Bạn chắc là cũng như tôi, thương cho ông bà quá. Ông bà đã có can đảm nuôi tới 5 người con nuôi trong gia đình mình. Năm đứa trẻ đó nếu ông bà không nhận, chắc chắn chúng sẽ được vào sống trong 5 gia đình khác nhau. Chúng sẽ như chim lạc đàn, chắc sẽ đi tìm nhau khi chúng khôn lớn. Nhưng chúng không hề có tuổi thơ chung một mái nhà.
Hai vợ chồng tôi cứ hỏi nhau: Liệu mình có dám nuôi tới 5 người con nuôi như ông bà Wright? Chồng tôi lắc đầu: Trách nhiệm lớn quá!
Hai người con lớn của ông bà chắc cũng phải có tấm lòng quảng đại như cha mẹ mới chia sẻ tình thương của cha mẹ mình cho những đứa em mồ côi vào ở trong nhà mình. Hai anh chị lớn đứng lên lo các nghi thức Tang Lễ cho em út.
Trong đám tang có người chỉ cho tôi bà mẹ ruột của cô Út tham dự. Tôi thấy thỉnh thoảng người Mẹ Ruột đó lại chạy ra lau nước mắt cho bà Mẹ Nuôi, vỗ vỗ lên lưng bà an ủi.
Tội nghiệp ông bà Wright quá: Lão niên táng tử là một trong những cái bất hạnh lớn của con người. Nếu là bạn đi dự đám tang đó chắc bạn cũng xúc động và thương ông bà Wright như tôi. Với tôi, ông bà là hai người có trái tim lớn lắm, vì họ có tới 5 ngăn dành cho những đứa trẻ mồ côi. Ðối với ông bà chỉ có chữ “Nuôi Con” không có chữ “Con Nuôi”.
TMT
Tháng 4-20-2022
EM LỚN LÊN…THƠ NGUYỄN THÙY LINH (Ở TRONG NƯỚC)
EM LỚN LÊN…THƠ NGUYỄN THÙY LINH (Ở TRONG NƯỚC)
Em lớn lên đất nước đã “yên bình”,
Không tiếng súng, đạn bay hay pháo nổ,
Chẳng còn cảnh những người dân đói khổ,
Ăn bo bo độn khoai sống qua ngày.
Em yêu Bác với trái tim thơ ngây,
Em yêu Đảng với tâm hồn khờ dại.
Yêu tất cả những gì là “vĩ đại” !
Mác-Lê Nin soi sáng lối em đi…
Nhưng từ khi tuổi mười tám qua đi,
Em ngỡ ngàng hiểu ra bao sự thật,
Những trang sử hào hùng vào bậc nhất,
Là trò lừa của thế kỷ mà thôi !
Đất nước này ngày càng thấy xa xôi,
Khi quyền lực không thuộc về dân chúng,
Khi Đảng nắm trong tay quyền tham nhũng,
Quyền hy sinh biển đảo của cha ông.
Đất nước này độc lập nữa hay không ?
Khi giặc Tàu tràn lên khắp bờ cõi,
Khi chính quyền chẳng buồn cất tiếng nói,
Chỉ ngồi im nhìn dân chúng lầm than.
Dân tộc này sinh khí đã tiêu tan,
Nợ chồng nợ dân ngóc đầu không nổi.
Quan tham lam dở toàn trò bỉ ổi,
Vẽ công trình, vẽ dự án mà xơi.
Rồi lòng dân oán hận khắp muôn nơi,
Đồng ngập mặn, biển phơi đầy xác cá,
Sông đã cạn và rừng thì hết lá,
Dân đói nghèo mà Đảng vẫn quang vinh !
Kẻ hiền tài bỏ đất nước điêu linh,
Đi tìm chốn yên bình nơi xứ lạ.
Kẻ ở lại lặng thinh như sỏi đá,
Ai cất lời Đảng đàn áp không tha.
Việt Nam ơi lịch sử ngàn năm qua,
Đổ máu xương giữ vẹn toàn đất nước.
Dù khó khăn vẫn tiến về phía trước,
Để bây giờ sông núi vọng ngàn xưa ?
(Fb Nguyễn Thuỳ Linh)
TIỀN BẠC LÀM THAY ĐỔI CON NGƯỜI – Lm Phạm Tĩnh
Nguyễn Hiến Lê nói về việc đốt sách sau 1975
Chau Nguyen Thi
Nguyễn Hiến Lê nói về việc đốt sách sau 1975
Việc đốt sách là một tội ác trước lịch sử. Nó không chỉ xảy ra dưới thời Tần Thủy Hoàng bên Tàu mà đã xảy ra ngay trên đất nước ta sau 1975. Ngọn lửa phần thư ngày ấy cháy bùng trên các đường phố Sài Gòn. Từng đoàn thanh niên nam nữ của chính quyền lùng sục vào các tiệm sách, nhà tư nhân thu hết sách đem tiêu hủy.
Học giả Nguyễn Hiến Lê một danh sĩ Miền Nam trong Hồi Ký của mình đã ghi lại hiện tượng đốt sách ngày ấy. Đoạn văn dưới đây được trích từ chương Văn Hóa của cuốn Hồi Ký Nguyễn Hiến Lê Tập III, từ trang 74 đến trang 80-Văn Nghệ xuất bản gợi cho người đọc bao nỗi khóc cười về một thời kỳ lịch sử.
Nguyễn Hiến Lê
Một trong những công việc đầu tiên của chính quyền là hủy tất cả các ấn phẩm (sách, báo) của bộ Văn hóa ngụy, kể cả các bản dịch tác phẩm của Lê Quí Ðôn, thơ Cao Bá Quát, Nguyễn Du; tự điển Pháp, Hoa, Anh cũng bị đốt. Năm 1976 một ông thứ trưởng Văn hóa ở Bắc vào thấy vậy, tỏ ý tiếc.
Nhưng ông thứ trưởng đó có biết rõ đường lối của chính quyền không, vì năm 1978, chính quyền Bắc chẳng những tán thành công việc hủy sách đó mà còn cho là nó chưa được triệt để, ra lệnh hủy hết các sách ở trong Nam, trừ những sách về khoa học tự nhiên, về kỹ thuật, các tự điển thôi; như vậy chẳng những tiểu thuyết, sử, địa lý, luật, kinh tế, mà cả những thơ văn của cha ông mình viết bằng chữ Hán, sau dịch ra tiếng Việt, cả những bộ Kiều, Chinh phụ ngâm… in ở trong Nam đều phải hủy hết ráo.
Năm 1975, sở Thông tin văn hóa thành phố Hồ Chí Minh đã bắt các nhà xuất bản hễ sách nào còn giữ trong kho thì phải nạp hai hay ba bản để kiểm duyệt: sau mấy tháng làm việc, họ lập xong một danh sách mấy chục tác giả phản động hay đồi trụy và mấy trăm tác phẩm bị cấm, còn những cuốn khác được phép lưu hành.
Nhưng đó chỉ là những sách còn ở nhà xuất bản, những sách tuyệt bản còn ở nhà tư nhân thì nhiều lắm, làm sao kiểm duyệt được? Cho nên sở Thông tin văn hóa ra chỉ thị cho mỗi quận phái thanh niên đi xét sách phản động, đồi trụy trong mỗi nhà để đem về đốt. Bọn thanh niên đó đa số không biết ngoại ngữ, sách Việt cũng ít đọc, mà bảo họ kiểm duyệt như vậy thì tất nhiên phải làm bậy. Họ vào mỗi nhà, thấy sách Pháp, Anh là lượm, bất kỳ loại gì; sách Việt thì cứ tiểu thuyết là thu hết, chẳng kể nội dung ra sao. Họ không thể vào hết từng nhà được, ghét nhà nào, hoặc công an chỉ nhà nào là vô nhà đó…
Lần đó sách ở Sài Gòn bị đốt kha khá. Nghe nói các loại đồi trụy và kiếm hiệp chất đầy phòng một ông chủ thông tin quận, và mấy năm sau ông ấy kêu người lại bán với giá cao.
Lần thứ nhì năm 1978 mới làm xôn xao dư luận. Cứ theo đúng chỉ thị “ba hủy”, chỉ được giữ những sách khoa học tự nhiên, còn bao nhiêu phải hủy hết, vì nếu không phải là loại phản động (một hủy), thì cũng là đồi trụy (hai hủy), không phải phản động, đồi trụy thì cũng là lạc hậu (ba hủy), và mỗi nhà chỉ còn giữ được vài cuốn, nhiều lắm là vài mươi cuốn tự điển, toán, vật lý… Mọi người hoang mang, gặp nhau ai cũng hỏi phải làm sao. Có ngày tôi phải tiếp năm sáu bạn lại vấn kế.
Mấy bạn tôi luôn nửa tháng trời, ngày nào cũng xem lại sách báo, thứ nào muốn giữ lại thì gói riêng, lập danh sách, chở lại gởi nhà một cán bộ cao cấp (sau đòi lại thì mất già nửa); còn lại đem bán kí lô cho “ve chai” một mớ, giữ lại một mớ cầu may, nhờ trời.
Một luật sư tủ sách có độ 2,000 cuốn, đem đốt ở trước cửa nhà, chủ ý cho công an phường biết. Rồi kêu ve chai lại cân sách cũng ngay dưới mắt công an.
Ông bạn Vương Hồng Sển có nhiều sách cổ, quý, lo lắng lắm mà cũng uất ức lắm, viết thư cho sở Thông tin văn hóa, giọng chua xót xin được giữ tủ sách, nếu không thì ông sẽ chết theo sách.
Một độc giả lập một danh sách các tác phẩm của tôi mà ông ta có trong nhà, đem lại sở Thông tin hỏi thứ nào được phép giữ lại, nhân viên Thông tin chẳng cần ngó tên sách, khoát tay bảo: Hủy hết, hủy hết.
Bà Ðông Hồ quen ông Giám đốc thư viện thành phố, bán được một số sách cho thư viện, tặng thư viện một số khác với điều kiện được mượn đem về nhà mỗi khi cần dùng tới.
Tôi nghe lời khuyên của một cán bộ Văn hóa, làm đơn xin sở Thông tin văn hóa cho tôi giữ tủ sách để tiếp tục làm việc biên khảo, đơn đó ông bạn cán bộ đem thẳng vô ông chủ sở, ông này chỉ đáp miệng rằng tôi là nhân sĩ thành phố, cứ yên tâm. Họ có thói việc lớn, việc nhỏ gì cũng không trả lời bằng thư, sợ lưu lại bút tích mà chịu trách nhiệm.
Ít tháng sau tình hình dịu lần rồi yên, không nhà nào bị kiểm kê, Chính quyền bảo để xét lại và một năm sau, nạn “phần thư” kể như qua hẳn (1). Tủ sách của tôi không mất mát gì cả, nhưng từ đó tôi không ham giữ sách nữa, ai xin tôi cũng cho.
Ngành báo chí và ngành xuất bản, chính quyền nắm hết vì coi đó là những công cụ giáo dục quần chúng, ở Sài Gòn chỉ thấy bán vài tạp chí Nga, Ba Lan, tư nhân muốn mua dài hạn phải đăng ký trước ở sở Bưu điện. Một người cháu tôi từ Pháp gởi về cho tôi một tờ Nouvel Oservateur (của khối cộng), số đó bị chặn lại. Nghe nói tờ Humanité của đảng cộng sản Pháp cũng không được bán trong nước. Tôi chưa thấy một cuốn sách Nga hay Trung Hoa nào bán ở Sài Gòn, trừ mấy cuốn về Lénine, về khoa học đã được dịch ra tiếng Việt, ở các thư viện Hà Nội có thể có sách bằng Nga văn hay Hoa văn nhưng chỉ cán bộ mới được phép coi, mà cán bộ trong ngành nào chỉ được coi về ngành đó thôi. Cũng có người đọc lén được.
Sau ngày 30-4-75, tôi muốn tìm hiểu cách mạng Nga từ 1917 đến 1945, nhờ mấy bạn cách mạng tìm sách cho, họ bảo chính họ cũng không được đọc vì không thấy một cuốn nào cả. Sau tôi mới biết rằng loại đó ngay ở Nga cũng không ai được phép viết. Như vậy kiến thức hạng trí thức ngoài đó ra sao, ta có thể đoán được. Một nhà văn hợp tác với viện khoa học xã hội lại nhờ tôi giới thiệu cho mươi nhà văn, học giả giỏi tiếng Anh và tiếng Việt để dịch cho viện bộ Bách khoa tự điển Anh gồm 25 cuốn, mà phải dịch gấp vì đó là chỉ thị của một ông “bự”. Tôi bảo có 50 nhà dịch cũng không nổi vì phải tạo hằng ức danh từ mới (riêng ngành Informatique trong 30 năm nay đã có một vạn thuật ngữ rồi); mà ví dụ có dịch nổi thì cũng phải mất ít nhất mười năm mới xong; xong rồi lại phải dịch lại hoặc bổ túc rất nhiều vì lỗi thời mất rồi: ở Anh, mỗi năm người ta sửa chữa, bổ túc, in lại một lần; rồi lại phải bỏ cả chục năm nữa, không biết có in xong được không. Xong rồi, bán cho ai, ai đủ tiền mua? Cán bộ Văn hóa vào hàng chỉ huy mà dốt tới mức đó!
Tháng 4-1980, có một thông cáo cấm kiều bào hải ngoại gởi một số đồ nào đó về cho thân nhân trong nước, như quần áo cũ, các thực phẩm đóng hộp, các thuốc tây không có prospecties cho biết cách dùng, trị bệnh gì…mà chỉ cho người ta một thời hạn không đầy một tháng để thi hành. Kẻ nào thảo thông cáo ra quyết định đó không hề biết rằng những gia đình có thân nhân là kiều bào ở những nơi xa xôi, hẻo lánh khắp thế giới, phải viết thư cho họ thì họ mới biết mà thi hành chỉ thị được; và ở thời này, thư máy bay từ Sài Gòn ra Hà Nội mất có khi một tháng (trường hợp của tôi), từ Sài Gòn qua Pháp, Gia Nã Ðại mất hai tháng, có khi bốn tháng. Báo chí vạch điểm đó ra cho chính quyền thấy, họ mới gia hạn cho thêm 5 tháng nữa. Trị dân mà không biết một chút gì về tình cảnh của dân cả. Họ có vận dụng trí óc của họ không?
Còn hạng nông dân ngoài Bắc thì khờ khạo, ngớ ngẩn so với nông dân trong này không khác gì một người ở rừng núi với một người ở tỉnh. Mấy anh bộ đội bị nhồi sọ, trước 1975 cứ tin rằng miền Nam này nghèo đói không có bát ăn, sau 30-4-75, vô Sài Gòn, lóa mắt lên, mới thấy thượng cấp các anh nói láo hết hoặc cũng chẳng biết gì hơn các anh.
Một anh bộ đội đi xe đò từ Long Xuyên lên Sài Gòn nghe hai chị bình dân miền Nam nói với nhau lên Sài Gòn sẽ mua xe tăng, máy bay, tàu chiến… mỗi thứ vài chục cái; anh ta hoảng hồn, tới trại kiểm soát vội báo cho kiểm soát viên hay có gián điệp trên xe. Chiếc xe phải đậu lại ba bốn giờ để kiểm soát, điều tra rất kỹ, sau cùng mới hay rằng hai chị hành khách đó đi mua máy bay, xe tăng, tàu chiến bằng mủ về bán cho trẻ em chơi. Hành khách trên xe nổi đóa, chửi thậm tệ anh bộ đội; khi xe tới bến Phú Lâm, họ còn đánh anh ta tơi bời nữa. Kết quả của nền giáo dục miền Bắc như vậy. Chính một cán bộ nói với tôi: “Càng học càng ngu. Thầy ngu thì làm sao trò không ngu? Nhồi sọ quá thì làm sao không ngu? Có được đọc sách báo gì ngoài sách báo của chính quyền đâu thì còn biết chút gì về thế giới nữa?”
Một cán bộ khác cho tôi hay ở Hà Nội người nào có được 50 cuốn sách là nhiều rồi. Anh ta mới thấy ba trong số 9 tủ sách của tôi đã bảo nhà tôi nhiều sách như một thư viện. Nhà bác học Sakharov trong một bài báo tôi đã dẫn, bảo ở Nga không có đời sống tinh thần (vie intellectuelle). Chúng ta có thể tin lời đó được.
Trước 1975, thấy cuốn nào in ở Bắc cũng từ 10,000 bản trở lên, có thứ 30,000, 100,000 bản, tôi và các bạn tôi phục đồng bào ngoài đó ham đọc sách. Bây giờ tôi hiểu lý do. Hà Nội mỗi năm xuất bản không biết được 100 nhan đề không (trong này, thời trước được khoảng 1,000 nhan đề); sách được gởi đi khắp nơi không có sự cạnh tranh, mà ai cũng “đói sách”; lại thêm nhiều sách có mục đích bổ túc cho sách giáo khoa, nhất là loại dạy chính trị, như vậy in nhiều là lẽ dĩ nhiên. Sách bán rất rẻ, nên cuốn nào viết về văn học, sử học mới ra cũng bán hết liền. Mấy năm nay, giấy khan, in ít, sách vừa phát hành đã bán chợ đen ở Hà Nội, không vào được tới miền Nam; những cuốn như lịch sử tỉnh Vĩnh Phú, ngay cả bộ Hồ Chí Minh toàn tập, ở Long Xuyên không làm sao kiếm được một bản, các cơ quan giáo dục cũng không mua được. Trái lại bộ Lê Nin toàn tập giấy rất tốt, thì ở khắp miền Nam bán chạy veo veo; người ta mua về để bán kí lô.
Tóm lại, chính sách là chỉ cho dân được nói theo một chiều, trông thấy một hướng; nên chỉ một số rất ít giữ được tinh thần phê phán, nhưng chẳng thi thố được gì, sống nghèo khổ, bất mãn.
NHL
Ảnh Đốt sách tháng 5/1975 tại Sài Gòn
Bình an là gì? Bình an có phải là sự vắng mặt của chiến tranh, của đau khổ không?
Bình an là gì? Bình an có phải là sự vắng mặt của chiến tranh, của đau khổ không?
Happy Sunday! Ước mong bạn cảm nhận được sự bình an thật trong tâm hồn phát xuất từ lòng yêu mến Chúa nhé.
CN: 22/05/2022
TIN MỪNG: Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi. (Ga 14:27)
SUY NIỆM: Bình an là gì? Bình an có phải là sự vắng mặt của chiến tranh, của đau khổ không? Nói về sự bình an thì đoạn Tin Mừng hôm nay cho bạn biết có hai loại bình an:
(1) Bình an theo kiểu thế gian, tức là bình an theo chiều ngang: bình an giữa các dân nước, chủng tộc, giai cấp xã hội, tôn giáo.
(2) Bình an phát xuất từ Thiên Chúa tức là sự bình an theo chiều dọc: bình an từ nguyên thuỷ phát xuất từ Thiên Chúa, giữa trời và đất, giữa Thiên Chúa và con người. Mọi hình thức bình an khác đều tùy thuộc vào sự bình an này. Khi trời đất được tạo dựng, Chúa Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp! (St 1,2) Loại bình an này là khi bạn cảm thấy lòng mình không lay động trong những rộn ràng, sóng gió cuộc đời! Bình an cũng không phải có ở một gia đình giàu có, sung túc, quyền lực cao sang! Bình an không phải có nơi sở hữu một chiếc xe hạng sang hay có được những món đồ cao cấp. Bình an của Đức Giêsu trao tặng cho các môn đệ và cho bạn hôm nay không chỉ dừng lại ở việc an toàn về mặt thể xác, mà còn đi xa hơn để đạt được thứ bình an trong sâu thẳm trong tâm hồn. Bình an này hướng bạn về mầu nhiệm ơn cứu độ, về sự sống vĩnh cửu. Bạn hoàn toàn thuộc về Chúa, không con thiếu thốn chi nữa (Tv 23).
LẮNG NGHE: Thật vậy, trong Đức Kitô, Thiên Chúa đã cho thế gian được hòa giải với Người” (2 Cr 5:19)
CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin thêm ơn cho con để con biết luôn luôn tín thác cuộc đời của con trong tay Chúa và bước đi thanh thản trong sự bình an nhờ có Chúa ở cùng con không sợ chi.
THỰC HÀNH: Tập bỏ qua những chuyện không vui trong quá khứ để được bình an.
From: Đỗ Dzũng
Khoảng Cách – TRUYỆN NGẮN – ĐỖ BÌNH
Van Pham
TRUYỆN NGẮN – ĐỖ BÌNH
***
Khoảng Cách
Paris mới vào xuân màu hoa Forsythia vàng rực rỡ chen lẫn với những nụ đào lấm tấm hồng trông như một bức tranh ấn tượng. Trời tháng Tư mặt trời lên rất sớm hồng cả một góc trời nhưng khu phố ở phía Bắc ngoại ô Paris ánh đèn đường chưa tắt, hàng cây dọc hai bên đường những chiếc lá non còn đọng sương đêm lung linh trong nắng mai.
Ngôi tầng trệt trong khu chung cư có một căn phòng gia chủ là người Á Châu mướn ở đây đã lâu, và sống một mình nên rất thầm lặng. Thỉnh thoảng có ít người Việt Nam đến chơi và mỗi lần như thế căn nhà lại rộn vang lên tiếng cười nói thật sinh động trái hẳn cái trầm mặc thường ngày.
Ông Cụ dáng dong dỏng cao, mái tóc bạc chải ngược để lộ vầng trán rộng có nhiều nếp nhăn. Khuôn mặt của ông thoáng nhìn nhận ra có nét buồn tạo thành những nếp gấp trên khóe mắt nhưng sáng sủa vì làn da trắng và chiếc mũi cao, nhất là cặp kính cận dày càng toát lên vẻ thông minh trí thức. Ông là người có tính tình vui vẻ đôn hậu lại rất tử tế nên thường hay giúp đỡ người. Bất luận là người quen lâu hay mới quen, kể cả những người chưa từng gặp mặt nhưng nếu đến nhờ ông giúp viết những đơn từ bằng tiếng Pháp, hoặc chỉ dẫn những điều luật rất phức tạp về an sinh xã hội mà những người ngoại quốc sống trên đất Pháp thường gặp thì ông rất sẵn lòng.
Do đó ông được mọi người chung quanh yêu mến và nể trọng. Người trong chung cư gọi ông bằng lời rất thân mật là “Bố”, những người ngoài phố gọi ông là Giáo sư, và những người bạn thân gọi ông là cụ Giáo. Nghe nói hồi còn ở quê nhà ông là giáo sư Đại học, đã từng du học ở Pháp và Hoa Kỳ và đỗ được hai bằng Tiến sĩ, vì thế đa số những người trong giới quan chức của Miền Nam trước kia là học trò của ông.
Vài ngày trước khi Miền Nam mất, đám học trò cũ có người là quan chức đến nhà mời ông đi nước ngoài nhưng ông từ chối viện dẫn là tuổi đã già, không muốn chết ở xứ người. Hơn nữa, ông cho rằng cả đời chỉ biết dạy học không hề dính dáng đến chính trị thì dù ai nắm chính quyền thì ông cũng thế. Là một người học rộng, tài giỏi, có uy tín trong giới trí thức Miền Nam nên ông được mọi người nể trọng. Từ khi học xong trở về nước, ông sống rất yên vui với nghề dạy học suốt mấy chục năm ở Sài Gòn. Nhiều lần ông được chính quyền Miền Nam mời ra tham chính nhưng ông đều từ chối viện cớ là khả năng của ông thích hợp với nghề dạy học hơn…
Ngày CS vào chiếm Sài Gòn, thấy xe tăng bộ đội trên đường phố ông tuy có sợ nhưng không nao núng, ông tin vào tình dân tộc nghĩa đồng bào. Thuở đó với phẩm chất nhà giáo, tâm hồn thuần khiết đạo đức nên trong ý nghĩ của ông rất giản dị:
“Một người không hề dính dấp đến chính trị, lẽ nào người ta lại đi hại một ông già?”
***
Nhưng sau khi chính quyền Miền Nam sụp đổ, ông bị chính quyền địa phương kết án là gián điệp do Mỹ gài lại vì đã từng đi du học nước ngoài nên bị bắt đi «cải tạo»! Những năm ở tù đã làm ông sáng mắt, vợ ông ở Sài Gòn bị cướp nhà và bị đuổi lên vùng kinh tế mới là vùng đất hoang vu không một bóng người. Ở đó Bà sống trong cảnh cơ cực nghèo đói nên chỉ sau một thời gian ngắn đã ngã bệnh nặng rồi qua đời vì thiếu thuốc men chữa trị!
Bà mất một thời gian khá lâu người em dâu của ông lên thăm nuôi đã báo tin sự ra đi của bà, ông nghe hung tin bật khóc rống lên như đứa trẻ. Ông hối hận vì một phút quyết định sai lầm không chịu ra đi nên đã để khổ đến người vợ thương yêu nhất! Ôm tâm trạng đau khổ ông trở về lán. Các bạn thấy nét mặt ông rầu rĩ chưa kịp hỏi thì ông nghẹn ngào than thở với bạn tù:
– “Tôi già đến ngần tuổi nầy mà còn u mê, anh ạ! Học cho lắm, thế mà vẫn bị chúng lừa! Bà nhà tôi cũng bị chúng lừa vì tin chúng sẽ thả tôi nếu chịu đi kinh tế mới. Vợ tôi chỉ muốn cho tôi được thả sớm nên đã nghe theo lời đường mật mà chết trong tức tưởi!”
Bạn tù thương ông cũng chỉ biết nhìn ông rồi thở dài trong im lặng! Một ngày trong tù dài lê thê nhưng thời gian thì cứ lặng lẽ trôi thấm thoát ông đã trải qua mấy mùa xuân xa nhà, nếm đủ mùi tù chịu đựng bao nhọc nhằn đói khổ thế mà ông không hề hé răng than vãn hay làm mất nhân cách một nhà giáo vì miếng ăn. Trước bao nghịch cảnh đày ải đó có lúc nghĩ vẩn ông muốn chết quách cho nhẹ tấm thân già nhưng đó chỉ thoáng qua mà thôi, dẫu sao sự sống vẫn quý! Ông làm sao có thể chết ở trong tù được! Ông cần phải sống để xem đời sẽ ra sao, vì có ai biết được chuyện ngày mai?
Đêm nằm suy nghĩ ông thấy thương cho gia đình, và những người dân miền Nam chẳng biết sống thế nào dưới xã hội mới nên ngậm ngùi cho ý nghĩa của sự tự do! Ở đây tự do đồng nghĩa với sự im lặng, nghĩa là chấp hành những mệnh lệnh của kẻ cai ngục! Ông nghĩ: “Làm sao hiểu được tận cùng chữ Biết?” Có nhiều thứ ở trên đời dù cho thông minh và cố gắng học hỏi, bỏ nhiều thời gian nghiên cứu đến đâu thì vẫn chẳng bao giờ hiểu hết được! Những bằng cấp mà ông học hỏi và đạt được kể đã hết mức nhưng lại không đủ nhận biết mình bị gạt vì những cụm từ hoa mỹ: “cải tạo”?! Đến khi đã vướng chàm, biết mình bị lừa thì đã quá muộn! Bài học để đời này không những cho riêng ông mà còn cho biết bao trí thức khoa bảng đã “mụ” như ông về Thiên Đàng Xã Hội Chủ Nghĩa!
Họ đã vô tình tiếp tay với CS để xây dựng thiên đàng mộng mị mà hôm nay đất nước nghèo đi, chính họ cũng là những kẻ phá hoại thành trì của tự do để hôm nay họ phải cầm cuốc cặm cụi trên những mảnh đất bươi xới tìm củ khoai, củ mì để ăn trong các trại tù! Chẳng cần học vị tiến sĩ, bài học «đời» quá đau cũng đủ để ông sáng mắt, thấm thía về sự độc tài của một xã hội toàn trị, do đó ông không thiết tha học tập để mau tiến bộ để trở thành: thành viên xã hội. Cụm từ tiến bộ chỉ là cái bánh vẽ dụ những tâm hồn khờ khạo, những trí thức ngây thơ tin đó là cái «chìa khóa» mở cổng tù. Thế rồi đến một ngày ông vẫn được thả, lý do già yếu, bệnh tật. Họ thả ông và bắt buộc ông phải đi kinh tế mới chịu sự quản thúc của địa phương. Ông chép miệng nghĩ:
“Cái xã hội nầy đâu mà chẳng phải nhà tù! Thật là mỉa mai cho những danh từ trí thức, khoa bảng thường được người đời quý trọng nhưng nhà nước CS có xem ra gì đâu!”
***
Không phải họ không biết ông là một giáo sư giỏi nghề nhưng ông đâu có do họ đào tạo, nghĩa là không phải một đảng viên, không những thế họ còn xem ông là gián điệp của Mỹ thì làm sao dùng ông! Ở đất nước này người ta chỉ biết Đảng, người ta đồng hóa yêu đảng là yêu nước nên xúm nhau ca ngợi Đảng, và thích sống với ảo ảnh qua những chiến công chống Tây chống Mỹ, họ hô hào chống đến nỗi nhân dân nheo nhóc thiếu cả manh quần tấm áo mà đất nước nào hề có thật sự được độc lập tự do!
Bao xương máu của người dân vô tội bị đổ trong cuộc chiến chỉ làm rạng danh cái thiên đường bịp! Ông ngậm ngùi cho dất nước đang thiếu từng củ khoai, miếng sắn nhưng «lại thừa» những nhà khoa học, triết học, luật học, nghệ thuật…vv…
Đã có Đảng, đảng là vạn năng kiêm hết từ thiên nhiên đến trí tuệ con người, kiêm luôn chiếc thòng lọng siết cổ dân! Khi ông hiểu và thấm thía sự tàn ác của chế độ Cộng Sản thì đã muộn! Ông lủi thủi trong nông trường để sống qua ngày, rồi một hôm ông chợt khám phá ra một điều: “Muốn tồn tại trước bạo lực để chờ cơ hội giải thoát phải tự biến thành tượng đá”.
Thật vậy, họ xem ông như loài cỏ mục, đồ phế thải, một người mất trí không còn năng lực lao động! Cũng nhờ thế mà ông lần mò về được Sài Gòn, và xin tá túc nhà một người bà con để tìm đường vượt biên. Nếu so với những người bất hạnh khác từ kinh tế mới trốn về, ông là một trong số những người may mắn còn có thân nhân ở lại thành phố nên có một chỗ dựa như cái phao để bám víu, chứ những người có dính dáng hay thuộc thành phần chế độ cũ muốn ở lại Sài Gòn giữa buổi nhiễu nhương giao thời không phải dễ! Thời buổi giao thời này, chẳng phải người nào được ở lại thành phố cũng dính dấp với những người phía kia, trong số đó có người của chế độ cũ may nhờ bà con ngoài Bắc chạy hàng xuôi vào Nam mách bảo:
“Phải thí cho cán bộ địa phương chút vàng, và đừng bao giờ tình nguyện đi kinh tế mới, cứ bám rể ở lì thành phố rồi mọi việc sẽ qua!”
Do đó ông mới còn chỗ tá túc dù phải gặp những khó khăn về hộ khẩu. Cũng may nhờ có người em dâu rất tháo vát vì trước kia Bà ấy là dược sĩ, nay đổi nghề bán thuốc Tây dạo ở chợ trời, giữa thời buổi củi châu gạo quế này kiếm đủ sống cũng là may! Có thế, Bà mới có chút tiền nhét cho công an khu vực, công an phường họ mới làm ngơ cho ông Giáo.
Sáng nay cũng như bao buổi sáng khác ông hay đứng trước song cửa nhìn giàn hoa giấy đỏ góc sân rực rỡ như muốn vươn lên khoảng trời xanh phía trước. Những cơn gió nhẹ lay cánh hoa trong nắng làm tâm hồn ông có chút bình an sau những năm dài bị những cơn bão đời xới tung làm bầm dập!
Thời gian ở tạm nhà cô em dâu chưa bao lâu thì cô cho biết tin người anh cả cũng là giáo sư dạy ở đại học Tổng Hợp Hà Nội nay đã hưu trí sẽ cùng con gái vào Nam thăm các em. Ông đang thả hồn theo những cánh chim trong khoảng trời xanh ao ước được tự do như chúng bay bổng về cuối chân trời. Bỗng có tiếng chuông cửa reo, hai người thân phương Bắc đã đến. Thấm thoát cũng đã mấy chục năm do hoàn cảnh chiến tranh họ mới gặp lại nhau thế mà ngay phút đầu tình anh em bị ngăn bởi một bức tường vô hình là “ý thức hệ” chiến tranh lạnh trong gia đình ngăn đôi hai anh em, họ thấy nhau nhưng thái độ dửng dưng không biểu lộ chút hân hoan. Họ chẳng thèm nhìn nhau dù trong những cặp mắt mỏi mệt đó đã bị thời gian xói mòn làm nhạt ánh tinh anh nhưng vẫn chóe lửa, thì làm sao còn xúc động mà sao lăn được một giọt nước mắt tao ngộ!
Hay biết đâu trong đáy lòng họ cũng mềm ra nhưng giỏi che giấu thì nào ai biết? Hôm nay anh em trong gia đình ấy lần đầu gặp lại nhau mà không khí bất hòa đã làm căn phòng trở nên ngột ngạt, cái không gian tĩnh lặng như nhà hoang mỗi người một khoảnh! Người em dâu thấy vậy rất bối rối chưa biết cách nào phá tan sự im lặng đáng sợ đó nên lúng túng hỏi một câu thừa:
– Anh Cả và cháu Ngọc đi đường xa, chắc mệt?
Người anh cả cười nói:
– Già rồi cũng mệt, thím út ạ!
Ông ngồi xuống ghế nói tiếp:
– Xe hỏa của xứ ta còn tệ quá, đã chật chội nóng bức còn chạy chậm như rùa. Đã thế mà bà con ta lại ồn ào như cái chợ! Muốn chợp mắt một tí nào có ngủ được!
Ông Giáo đứng bên cửa sổ hướng mắt lên hàng hoa giấy, bỗng ông cảm thấy ghét vu vơ màu hoa đỏ thẫm lại càng sôi gan khi nghe anh mình nói, ông khẽ hứ giọng mũi không nói một lời rồi tiến lại đứa cháu, nét mặt của ông trở lại bình thường tươi sáng, miệng mỉm cười vui vẻ hỏi vài câu chuyện với cháu gái. Sau đó ông lặng lẽ, chẳng nói gì rồi bỏ lên lầu. Người em dâu thấy hai anh như vậy nên bối rối, bà liền mời ông anh cả và người cháu dùng chút bánh nước ngọt. Hai người dùng bánh xong bà dẫn bố con họ lên phòng nghỉ, chỉ vào hai phòng. Ngọc nhìn phòng ngủ bày biện khang trang, bức tranh sơn dầu treo ngay trên đầu chiếc giường Hồng Kông trải drap trắng mướt, cạnh là chiếc đèn ngủ. Ngọc nói:
– Nhà thím sang quá Cháu cứ ngỡ mình đang sống trong phim…
Người thím mỉm cười không nói, bà chạnh lòng thương cho Ngọc, con của một cán bộ cao cấp mà lại bỡ ngỡ trước những thứ vật chất rất tầm thường ở Sài Gòn nầy. Ngọc chưa dứt bàng hoàng, bỗng ngước nhìn người thím và cảm thấy bà có một nét đẹp rất quý phái và tươi mát dù tuổi đã ngoài ba mươi, bà cũng đang ngắm nhìn mình với ánh mắt đầy tha thiết. Ngọc bẽn lẽn mắt hướng về bức tranh nói:
– Sài Gòn lộng lẫy và đẹp quá, thím nhỉ? Ngày mai thím dẫn cháu đi dạo phố nhé!
– Nghỉ đi cho đỡ mệt, chút xuống ăn cơm. Ngày mai thím sẽ dẫn cháu đi dạo và sắm đồ.
Nói rồi bà khép cửa phòng cho Ngọc và xuống lầu đi thẳng vào phòng ăn làm cơm.
Tiếng ho húng hắng của người anh cả vang lên nghe như âm buồn có đoạn dài đoạn đứt khúc làm tiều tụy thêm dáng vóc gầy gò thể hiện trên khuôn mặt héo hắt vì buồn. Hai anh em rất giống nhau, nếu không lệch tuổi tác người ta có thể lầm tưởng là anh em song sinh. Dù đã ở chung nhà cả tuần mà hai anh em vẫn tránh nhau. Nhưng hôm nay là ngày giỗ Ông Bà nên buộc lòng anh em phải ra cúng lễ và đối thoại nhau. Trước bàn thờ gia tiên, người anh môi run run, mặt xúc động lên tiếng trước:
– Chú vẫn khỏe?
Ông Giáo bừng cặp mắt đỏ, đôi gò má run run, tiếng nói bỗng khàn trầm xuống:
– Cảm ơn anh cả tôi chưa chết!
Khuôn mặt người anh bỗng nhíu lại:
– Sao chú lại nói thế? Chú còn giận anh hả? Chuyện của chú lúc trước…
Người em cau mặt, cắt ngang:
– Thôi, tôi xin anh đừng nhắc chuyện xưa!
Người anh quay mặt ra cửa giấu giọt lệ trong khóe mắt, ông thổn thức giải bày:
– Chú trách tôi là phải! Nghe tin các chú bị đưa đi học tập, còn thím thì bị bệnh mất trên vùng kinh tế mới lòng tôi rất buồn nhưng chẳng biết làm sao giúp! Đã từ lâu tôi vẫn thắc mắc và ngỡ ngàng chẳng hiểu tại sao các chú lại chịu làm tay sai cho Mỹ để làm giàu? Nhưng trong tình máu mủ các chú gặp hoàn cảnh như thế thử hỏi làm sao mà tôi không đau lòng?!
Ông Giáo gằn giọng:
– Thôi, xin cảm ơn lòng tốt Bác Đảng của anh!
Người anh vẫn nhìn ra cửa trầm giọng nói:
– Mãi đến bây giờ, vào đây tôi mới vỡ lẽ, đã hiểu tất! Chú tha lỗi và thông cảm cho tôi, suốt mấy chục năm bị bưng bít tuyên truyền nên đã hiểu sai! Tôi có mắt mà cũng như mù! Nhưng chú cũng chẳng hiểu Hà Nội sau năm 1954, và người dân Hà Nội nghĩ gì? Chú bỏ vào Nam sớm làm sao chú biết được sự tình! Chú đừng tưởng một giáo sư đại học lâu năm như tôi là có quyền thế! Dưới Xã Hội Chủ Nghĩa người trí thức rẻ hơn Bèo!
Người anh quay mặt lại nhìn em, giọng vút lên:
– Chú tưởng những người vào đảng đều vì lý tưởng cả sao? Và cứ ở trong đảng là có quyền sao?
Ông hạ giọng phân trần:
… – Đành rằng phải phấn đấu mới vô được Đảng nhưng trong đảng đâu phải ai cũng nhiệt thành cả, cũng có người này kẻ nọ chứ! Ngoại trừ một số ít lãnh đạo là quán triệt được đường lối tư tưởng chủ nghĩa Cộng Sản, còn lại hầu hết người ta chẳng hiểu gì về Cộng sản, họ vô đảng là chỉ hòng kiếm cơm, nhắm vào tem phiếu thôi! Hơn nữa không vô mà được hả? Bộ máy đảng sẽ sẵn sàng nghiền nát những đối tượng tiêu cực. Họ trì triết phê bình rồi trù dập có nước mà tự tử!
Hồi năm 49 chú mới qua Pháp, anh về, lúc ấy cả nước đang sôi sục khí thế chống thực dân thì anh cũng phải lên đường vào chiến khu như bao nhiêu người khác thôi. Chú xem bản thân gia đình ta đấy: Nào địa chủ, lại còn phong kiến quan lại theo Tây, cả anh lẫn chú và em Thảo lại du học Pháp, thuở đó Hà Nội có mấy người? Làm sao mà họ không phê phán về quan điểm lập trường của gia đình ta theo Pháp, Mỹ khi mà em Thảo thì ở lại luôn bên Pháp, còn chú mang cả gia đình di cư vào Nam, dẫn theo chú Út, chỉ có Bố là ở lại vì bệnh tình lúc đó quá nặng nên không thể theo gia đình chú được! Vả lại bố muốn yên nghỉ gần ông bà do đó mẹ phải ở lại trông nom bố thì anh có muốn vào Nam cũng không đành! Chú đi lúc ấy là phải, anh đã chứng kiến nào là chỉnh huấn, nào là cải cách ruộng đất. Chú còn nhớ, chính anh đã khuyên vợ chồng chú và chú út nên đi đừng bịn rịn, bố mẹ ở lại đã có anh lo?
Ông Giáo mặt cúi xuống, hình như đang xúc động. Người anh bước lại, ngồi xuống ghế, giọng bùi ngùi kể tiếp:
– Sau khi bố mẹ qua đời, tôi nào được yên thân. Bao nhiêu năm miệt mài trong chiến khu thế mà vẫn bị dòm ngó. Tôi bị người ta nói bóng gió, xỏ xiên, nhiếc móc nào là trí thức phản động, địa chủ cường hào, quan lại bóc lột, thân nhân bám theo Mỹ Diệm. Xuýt tí nữa thì tôi bị dính vào vụ án “Nhân Văn Giai Phẩm”. Tôi bị quy tội quan hệ với những người trí thức tiểu tư sản trong nhóm Nhân Văn!
Chao ôi! Những người trí thức văn nghệ sĩ đó cũng bao nhiêu năm miệt mài trong kháng chiến thế mà chỉ vì muốn bảo vệ chút tự do tư tưởng, tiếng nói riêng tư phát từ đáy lòng khác với đảng, mà bị trù dập, họ sống dở chết dở! Tôi thật là may, Trời thương đã che chở mới thoát qua. Chú đừng tưởng họ quên quá khứ của gia đình ta dù tôi cũng đã đóng góp biết bao công sức trong thời gian kháng chiến! Có lẽ nhờ số ruộng đất của ông bà nội, ngoại cùng dãy nhà ở Hà Nội của bố mẹ đều dâng hiến tất cho nhà nước trước khi các cụ qua đời mà tôi mới được yên thân, nhưng họ vẫn ruồng bỏ như một thứ ghẻ lạnh! Kể từ ngày dó tôi quyết tâm vô đảng, tìm cái vỏ bọc che thân, và tôi đã lập gia đình, tuy muộn nhưng bớt bị dòm ngó. Mẹ cháu Ngọc là giáo viên nhỏ hơn tôi gần hai giáp tuổi, chị dâu em sau bị chết trên đường sơ tán!
Ngày hay tin các em bị đưa đi cải tạo, tôi có nhờ một vài người bạn thân tìm người chạy để bảo lãnh các em ra. Nhưng họ khuyên đừng dính vào tội gián điệp và tâm lý chiến, nhất là lúc ấy nội bộ của các ông lớn đang phân hóa, người theo Tàu, kẻ theo Liên Xô, còn những ai đã từng vào công tác trong Nam đều bị nghi biến chất phục Mỹ. Do đó tôi đã ngần ngại không dám khiến điều ấy dày vò tâm hồn tôi mãi đến hôm nay!
Nói đến đấy, người anh ôm mặt nức nở gục trên đầu gối, kể tiếp:
– Năm ngoái anh có đi tàu hỏa ra Thanh Hóa, chờ ô tô vào tận huyện Như Xuân mất cả ngày đường, rồi còn băng rừng, vượt sông vượt suối suốt hơn 20 km mới đến được trại cải tạo Thanh Phong, chỗ giam chú út. Đây là khu vực thuộc biên giới Lào, hồi còn trẻ anh cũng đã đi qua, nhưng nay tuổi đã cao. Ôi thật là gian nan mới đến được. Nhưng khi đến nơi rồi mới đau lòng!…
Mọi người hoảng hốt. Người em dâu, mặt biến sắc chạy lại lay vai người anh cả hỏi giật:
– Chồng em ra sao?
Ông biết người em dâu đã lầm nên vội vã nói:
– Chú ấy khỏe!
Mọi người có mặt đều thở nhẹ nhõm, ông ngậm ngùi kể tiếp:
– Anh nói là đau lòng không phải là chú út có chuyện gì, điều mà anh đau lòng là anh thân già lặn lội đường xa đến thăm chú mà chú lại không chịu ra gặp, lấy cớ là bệnh. Anh lại quay lại huyện Như Xuân ngủ một đêm, hôm sau trở lại trại Thanh Phong nhờ đến người cán bộ trưởng trại, họ cho công an dẫn chú ra, sau đó công an rút lui để anh gặp riêng chú. Nhìn chú thiểu não trong bộ đồ tù mà anh đứt ruột, hình ảnh thời thơ ấu của chú bỗng hiện ra trong trí anh.
Hồi đó anh em ta thường hay dắt chú đi chơi, mỗi lần như thế chú Út thường đòi ăn quà của những người bán hàng rong Bờ Hồ. Giờ, gặp mặt đứa em út thân yêu thì chú lại xem anh như kẻ thù! Dẫu xa cách mấy chục năm không gặp nhau, anh vẫn nhận ra chú vì chú út rất giống mẹ, dù lúc đó chú ấy để râu. Đối diện nhau nhưng chú ấy cứ im lặng và quay đi không thèm nhìn mặt anh. Do đó anh rất giận định quay về nhưng chợt nghĩ dù sao anh cũng là anh cả nên nhẫn nhịn. Anh đắn đo chưa biết mở lời ra sao, chẳng lẽ anh em ruột gặp nhau mà cứ ngây như tượng đá?! Anh cảm thấy sự bất hạnh cứ đeo đuổi gia đình mình mãi! Chợt anh nhớ đến bố mẹ, và anh liền hỏi:
– Chú có muốn nghe chuyện bố mẹ mất ra sao không?
Quả nhiên mắt chú sáng lên và dồn dập hỏi anh, các em có biết không, anh bật khóc. Anh khóc không phải là chú út nhắc đến bố mẹ mà anh khóc là tình anh em chưa dứt hẳn; vì còn chỗ dựa là cùng huyết thống. Anh kể cho chú nghe sơ chuyện gia đình. Anh em tâm sự cũng hằng giờ. Số quà mà anh mang theo chú nhận hết, ngoại trừ ít sách về tư tưởng.
Chú nói:
– Anh Cả mang về những thứ nầy mà dùng, anh cần nó hơn em, ở đây em đã dùng nó thế cơm hàng ngày nên phát ngấy!
– Nhìn thái độ khẳng khái anh thầm cảm phục khí phách của chú, anh thấy trong ánh mắt của chú loé lên những tia sắc sáng quắc như muốn chọc thủng thù địch; anh bỗng phì cười và tội nghiệp chú, là sĩ quan tâm lý chiến mà chẳng hiểu gì về Cộng Sản cả! Chú nào biết muốn thoát khỏi nanh vuốt Cộng Sản hoặc là câm như tượng đá hoặc là phải biến thành vẹt nhắc thuộc lòng khẩu quyết của Đảng thì mới mong tồn tại, nhất là tránh được cái họa mồm để khỏi bị chết oan! Trước khi về, anh còn căn dặn:
– Em phải cố bảo trọng sức khỏe và cố giữ cái mồm, muốn gặp mặt vợ con thì nên vạch đầu gối ra mà than, ở đây tai vách mạch rừng cả đấy!
Người em dâu nghe ông anh cả kể chuyện về chồng mình mà rưng rưng nước mắt, bà hài lòng về sự bất khuất chồng nhưng lại lo sợ cho sự an nguy của chồng. Bà bước ra tủ lấy chai rượu Whisky và nói:
– Các anh mấy chục năm mới gặp nhau, cả tuần nay gặp mặt nhưng lạnh nhạt khiến căn nhà giữa mùa hè Sài Gòn mà em cảm thấy giá băng như Bắc cực. Hôm nay nhờ hồn thiêng của Ông Bà, hai anh tha hồ hàn huyên, có khi cả tháng vẫn chưa đủ, các anh nên uống mừng ngày họp mặt. Em mừng vì thấy anh cả dù sống trong lòng chế độ miền Bắc mà tư tưởng vẫn phóng khoáng, nhất là đã hiểu được tâm tư và đời sống trong Nam!
Bà thở dài rồi nói tiếp:
– Em tiếc là chồng em bị đưa ra Bắc chẳng biết ngày nào về. Nhưng mẹ con em thế nào cũng liệu, ở lại đây ngày nào là phập phồng lo ngày đó, chẳng biết họ đến bắt khi nào. Gần cả năm nay em đã nhiều chuẩn bị… Anh cả vào đúng lúc, anh có muốn đi vượt biên với gia đình em không?
Khuôn mặt người anh thoáng xụ nét buồn, ông nhấp ly rượu, lắc đầu:
– Rượu ngon quá, mấy chục năm nay, anh mới được hớp rượu ngon như thế nầy!
Ông Giáo vừa nhấp rượu vừa hỏi:
– Anh Cả chưa trả lời thím Út. Sao anh có muốn đi với gia đình thím Út không?
Đôi mắt người anh cả đỏ lên vì quá xúc động. Ông mếu máo hỏi như than:
– Các em không sợ anh đi tố giác à?
– Qua trực giác, em tin là anh cả không thể hại các em và các cháu!
Người anh cả gật đầu cười chua xót:
– Cảm ơn thím tin. Anh của các em nào tán tận lương tâm như thế? Nhưng em cũng nên thận trọng, chế độ nầy đã cướp đi tính trong sạch và lòng tốt của con người… Người Miền Nam thật hay dễ tin quá, rồi đây Miền Nam còn phải chịu nhiều thay đổi đau thương nữa !…
Ông nhích ra co ro ngồi ở mép ghế, mặt buồn xo nói tiếp:
– Anh cũng đã từng du học Pháp, Liên Xô nhưng hình như anh giống Bố phải chết ở quê nhà, các em ạ! Anh suốt đời chỉ làm kẻ tiễn đưa… Anh già rồi! Ở đâu mà chẳng chết? Hơn nữa anh đang mắc chứng bệnh nan y, qua đó chỉ làm khổ các em và cháu! Nếu có thể được xin cho cháu Ngọc đi theo, cháu mới vào Đại học, tương lai thì chẳng biết ra sao! Được như thế là anh mãn nguyện vô cùng biết ơn các em.…
Nghe anh cả trình bày tấm lòng khiến ông giáo và người em dâu đều bùi ngùi và đồng cảm. Họ tiếp tục tâm sự, kể lể cho nhau nghe những vui buồn của quãng thời gian bao năm xa cách. Bao nhiêu đắng cay phiền muộn của người anh cả chất chứa trong mấy chục năm bỗng được xả ra, ông cảm thấy tâm hồn được nhẹ nhõm. Tuy sức khỏe đã kém, lại được rượu ngon nên ông uống quá nhiều, người đã nhũn ra nhưng môi vẫn nhấp hòa với những giọt nước mắt lăn dài trên má. Ông nức nở nói:
– Suốt mấy chục năm, anh ao ước gia đình anh em mình được đoàn tụ, thế mà nào có trọn ước mơ! Ôi bao cảnh não lòng. Chiến tranh đã cướp đi bao tuổi thanh xuân và xương máu của những người vô tội chỉ vì chủ thuyết hư vô. Người chết thì oan khuất tức tưởi, còn người sống thì lơ láo. Kẻ chiến thắng cô đơn trong vinh quang và lạc loài giữa đất nước. Kẻ bại thì người biệt xứ, kẻ ở lại lớp tù đày, lớp đói khát câm nín như chiếc bóng trên chính quê hương trong chua xót tủi nhục!…
Ông bùi ngùi than:
– Họ tàn nhẫn lắm, các em ạ! Họ dùng người rồi vắt chanh bỏ vỏ!
Ông ngẩng đầu lên, mắt sáng quắc, mặt đanh lại, nói:
– Nếu chỉ vắt chanh bỏ vỏ thì mới chỉ là loại đểu. Đằng nầy nó miết lấy hết chất nước xong rồi lấy vỏ đem phơi khô tán thành thuốc bắc rồi đem bán cho người khác. Họ không bỏ thứ gì cả, thế có ác không chứ?! Các em bằng mọi giá nên đi đi cho cháu Ngọc của anh theo với!
Dứt câu, người anh cả gục đầu trên bàn ngủ say.
***
Sau hai tuần lễ thuyền lênh đênh trên biển cả vượt bao nguy hiểm sóng gió bão bùng, có lúc đoàn người rú lên tưởng cơn sóng đã nhận chìm chiếc thuyền đầy nhóc người xuống đáy đại dương, thế rồi chiếc thuyền chở gia đình người em dâu và bao người khác cuối cùng đã đến được bờ tự do.
Lên đảo Palawan, ông giáo không theo gia đình người em dâu và đứa cháu con ông anh cả sang Mỹ. Ông thích qua Pháp vì có các con bên nầy. Sang đây, tuổi của ông đã sáu mươi, cái tuổi rất khó tìm được việc làm, cũng may nhờ người giới thiệu nên có một việc làm tạm trong thư viện nhưng cũng kéo được mấy năm. Về sau, do sức khỏe quá kém, ông đành phải nghỉ việc và ở nhà lãnh tiền già. Ấy thế mà ông cũng dành dụm tí tiền gởi về cho bạn bè, thân nhân còn ở bên nhà.
Chẳng bù cho đám con của ông ở bên nầy đều thành đạt cả vì nhờ ngày trước lúc còn chiến tranh ông gởi chúng đi du học. Lương chúng rất cao nhưng nào thí cho ai một xu! Đứa thì tiền đổ vào sòng bạc Casino, đứa thì còn mãi dẫn cô vợ đầm đi chu du thế giới, còn cô con gái út thì thích xe đẹp, nhà sang.
Ông thương con nên không hề than trách hay buồn phiền. Ông cho rằng mỗi người một đời sống biết tìm sự an lạc trong tâm hồn là điều khó tìm nhất trên đời! Nhưng chỉ có Trời mới hiểu được tấm lòng của cha mẹ! Con ông thích làm Từ Thiện để khoe danh nhưng ngay cả bố chúng mà họa hoằn lắm có khi cả năm mới tạt qua giây lát rồi biến, thì đừng phí công đòi hỏi lòng nhân ở những tâm hồn vật chất ấy!
Cô Thảo, em gái kế ông, qua Pháp du học đầu năm mươi, sau khi học xong đã theo chồng sang Mỹ lập nghiệp, nhiều lần sang Pháp mời ông qua Mỹ ở nhưng ông đã từ chối. Ông có mấy người bạn thân tuy còn ít tuổi hơn ông nhưng lại rất hợp với ông về tư tưởng và quan niệm sống.
Ngoài nghề dạy học ông rất thích về văn học nghệ thuật, nhờ thời gian làm tạm ở thư viện đã giúp ông đọc rất nhiều sách mở mang thêm trí tuệ, nhờ thế ông đã khám phá nền văn học nghệ thuật của thế giới thật bao la vĩ đại. Ông chợt nhớ lại câu thơ của người xưa “Nước Nam có lúc cường, lúc nhược nhưng hào kiệt không bao giờ thiếu.”
Ông xót xa thương về đất nước thế hệ mình đã có nhiều cố gắng nhưng thất bại không giữ được ánh sáng tự do nhưng ông tin ở thế hệ sau ắt hẳn tự do sẽ trở lại tỏa sáng trên khắp quê hương.
Quán trọ ven đường -Truyện ngắn
Quán trọ ven đường -Truyện ngắn
Nguyễn Thị Thanh Dương
Chị Bông dứt phone với anh thợ làm hàng rào và lẩm bẩm: “Anh ta cho giá thay toàn bộ hàng rào 6,000 đồng, hao tốn quá”.
Chị bực mình liếc mắt sang nhà hàng xóm có chung cái hàng rào sau vườn và lẩm bẩm tiếp: “Mà cái nhà hàng xóm này lại không biết điều”
Trước đó anh hàng xóm người Mễ đã vài lần thẳng thắn từ chối hợp tác cùng chị Bông thay phía hàng rào chung của hai nhà với lý do hàng rào chưa hư hỏng gì và tiền thì họ chưa có luôn.
Trong vườn chị Bông trồng nhiều cây hoa hồng, mái hiên patio treo chiếc chuông gió nên thơ, nếu được hàng rào đẹp thì khu vườn sẽ càng đẹp thêm.
Cái cell phone chị để trên bàn trong sân patio reo lên, không lẽ anh thợ hàng rào gọi lại… giảm gía? Hay là anh hàng xóm Mễ gọi sang báo tin đã đồng ý làm hàng rào?
Chị Bông vội vàng mở phone, thì ra là chị Huê, người bạn thân thiết. Giọng chị Huê tưng bừng vui:
– Bông ơi, hai vợ chồng mình mới mua một căn biệt thự đẹp mà gía khá rẻ so với thị trường, vợ chồng chủ nhà ly dị cần bán nhà nhanh, ưu tiên cho tiền mặt, mình đủ điều kiện. Tháng sau bạn sẽ đến ăn mừng tân gia nhé.
Chị Bông ngạc nhiên:
– Ơ kìa, nhà Huê đang ở cũng mới cũng đẹp mà lại đổi nhà à?
– Nhà này mới hơn đẹp hơn và sang trọng hơn. Đây đúng là căn nhà ước mơ của mình. Hàng xóm toàn là triệu phú trở lên đó nha.
Chị Huê say sưa tả ngôi biệt thự từ ngoài sân vào bên trong đến cả khu vườn, chị Bông nghe đến đâu choáng váng đến đó. Một tiếng sau buông phone mà chị Bông còn thẫn thờ như người mới bị bỏ bùa chưa tỉnh.
Bất giác chị ngó quanh khu vườn nhà mình bỗng thấy …tủi, gía mà chị giàu có như chị Huê thì đã thay quách toàn bộ hàng rào khỏi cần kêu gọi anh hàng xóm Mễ đóng góp.
Chị Bông đang ganh tị với căn biệt thự chị Huê vừa khoe. Anh Bông lững thững ra vườn và bắt gặp vợ ngồi im lặng trong ghế xích đu, anh thắc mắc:
– Em nghĩ gì mà thẫn thờ ra thế? Lại bực mình vì anh hàng xóm Mễ vẫn chưa chịu chung tiến thay cái hàng rào mới hả?
– Tại anh Mễ và… tại chị Huê.
– Anh biết rồi, bà Huê không khoe stock của bà ấy lên giá thì cũng khoe cửa hàng bánh mì thịt nguội, giò chả, chè cháo của bà ấy doanh thu ngày càng tăng.
Chị Bông thán phục:
– Anh nói đúng đó, cửa hàng chị ấy đắt hàng lắm, dù đã thuê mướn cả chục người mà hai vợ chồng vẫn bận rộn cả ngày, trong khi vợ chồng mình cùng tuổi về hưu như anh chị Huê thì ăn không ngồi rồi chẳng kiếm ra xu nào ngoài mấy đồng tiền hưu.
– Tội nghiệp, anh chị Huê lớn tuổi rồi mà vẫn làm việc đầu tắt mặt tối. Tóm lại giàu có mà vẫn … “khổ” vì kiếm tiền.
Anh nghe kể rằng có bà gìa luôn than thở mình mẩy tay chân đau nhức, tai điếc mắt mờ thế mà vẫn …thích mở hầu bao ra đếm tiền, chẳng than mỏi tay, đau tay hay mờ mắt gì cả. Thiếu đồng nào bà phát hiện ra ngay.
Chị Bông cãi lại:
– Càng có tiền càng sướng chứ, tội nghiệp gì chị Huê.
Vợ chồng chị Huê mới mua một căn biệt thự hơn một triệu, trả tiền mặt nhé. Em nghe mà phát ham, trong khi em muốn thay cái hàng rào chỉ 6,000 đồng cũng không dám làm.
Nãy giờ em cứ mơ ước nếu mình trúng số thì sẽ mua căn biệt thự trong khu ấy làm hàng xóm các triệu phú cho oai, hàng xóm với mấy nhà Mễ này chỉ thêm bực mình…
Anh Bông an ủi:
– Hàng rào sau vườn còn tốt chán, anh hàng xóm Mễ từ chối thay mới là đúng rồi. Em đừng “khủng bố” tinh thần nhà anh ta nữa, lần nào gặp mặt họ em cũng hỏi chỉ một câu: “Anh chị suy nghĩ kỹ chưa? Có thay hàng rào với tôi không?”.
Mà em không nhớ bài thuyết giảng ở chùa hôm nào à, cuộc đời là cõi tạm, chúng ta đang ở trọ trần gian, đòi chi những điều hoàn hảo.
– Anh chỉ chuyên môn bênh hàng xóm, xe nó đậu đầy lề đường, trở ngại lối đi, chướng cả mắt, anh lại khen xe đậu thế này trông…. nhộn nhịp khu phố.
Cuối tuần nó tụ họp bạn bè uống bia trước sân mở nhạc tiếng Spanish ầm ĩ anh cũng khen… vui cả khu phố.
– Sống hòa đồng và nhịn hàng xóm một tí có sao đâu.
– Nếu thế em cũng sẽ đậu xe lòng lề đường và cuối tuần tụ họp bạn bè ngoài sân mở ầm ĩ nhạc Bolero Thanh Tuyền Chế Linh, Hương Lan Tuấn Vũ cho hàng xóm Mễ nghe chơi nhá.
– Vợ chồng Mễ hàng xóm hiền lành dễ thương, chả lẽ vì cái hàng rào mà em đành hanh với họ thế à ? Thuyết nhà Phật…
Chị Bông ngắt lời chồng:
– Ôi, anh lại thuyết nhà Phật lắm bi quan, nào đời là bể khổ, đời là cõi tạm, kiếp người mong manh, trở về cát bụi, ai mà đang tuyệt vọng sẽ chẳng muốn kiếp lai sinh.
Em muốn như anh chị Huê lúc nào cũng phơi phới kiếm tiền và hưởng đời, muốn gì cũng có. Hay là mình gom góp vốn liếng, vay mượn thêm con cái đầu tư mutual fund hay địa ốc đi anh, chơi stock thì càng kiếm nhanh hơn nữa. Vậy anh muốn cái nào?
– Nghĩa là sao? Mình mua nhà cho thuê hoặc mua mutual fund, hoặc chơi stock đu dây với may rủi ấy hả?
Chị Bông giảng giải:
– Anh nhát gan không chơi stock thì thôi. Mua nhà mình chỉ cần down khoảng 20% và lấy tiền thuê hàng tháng trả mortgage, 10 hay 15 năm sẽ trả xong nợ, căn nhà thuộc về mình.
Hay là đầu tư mutual fund chậm hơn nhưng 10 năm sau số tiền đầu tư có thể tăng gấp đôi. Tới lúc đó mình lấy cả vốn lẫn lời ra… mua nhà biệt thự làm hàng xóm các triệu phú luôn.
– Nghe em nói kiếm tiền nhẹ nhàng dễ dàng quá. Anh… không chọn cái nào cả.
Chị Bông cụt hứng giận dỗi trách:
– Hèn gì số mình nghèo là phải. Suốt đời ở căn nhà xấu này thôi.
– Ai mà chẳng muốn cuộc sống đầy đủ cao sang, anh cũng thích nhà cao cửa rộng lắm chứ, nhưng mỗi người một hoàn cảnh. Bao nhiêu năm nay không giàu có được nói chi tuổi xế chiều.
Rồi anh Bông vỗ về:
– Thôi em đừng ganh đua với chị Huê nữa, mình không có tiền bạc và càng không có thời gian để đầu tư đường dài.
Em cứ an phận làm hàng xóm mấy anh chị Mễ, mấy anh chị Mỹ đen như hiện nay đi.
Vợ chồng mình là khách hàng thường xuyên của CVS pharmacy tại thành phố này, các nhân viên bán thuốc full time thậm chí nhân viên part time thay đổi xoành xoạch mà họ còn nhớ tên nhớ mặt mình.
Vậy thì hơn 10 năm nữa mình 80 tuổi, bệnh tình mình đi tới đâu? liệu có còn sức khỏe mà hưởng nhà to nhà đẹp không, hả? nếu có thay đổi nhà thì anh sẵn sàng moving đến căn nhà nào … gần bệnh viện nhất để mỗi lần gọi 911 cấp cứu cho tiện.
Đến dự buổi tiệc tân gia nhà chị Huê, căn biệt thự lộng lẫy ấy chị Bông khó thể nào quên, vừa trầm trồ khen ngợi vừa mơ ước khi chị Huê dắt khách đi từng phòng giới thiệu, đây là phòng khách của tôi, phòng bếp của tôi, phòng nào cũng đẹp cũng sang.
Bước vào căn phòng ngủ kê hai chiếc giường mà vẫn còn rộng mênh mông với những tủ, gương sang trọng, chị Huê lại hãnh diện sung sướng:
– Các bạn ơi, đây là phòng ngủ yêu qúy của tôi, từ cái giường, khăn trải nệm, gối mền, rèm cửa đều là hàng hiệu….
Bạn bè ai cũng khen vợ chồng chị Huê có phước, con cái đứa nào cũng ăn học thành đạt, gia đình đề huề, anh chị Huê thì giàu có làm ăn tiền vô như nước.
Chị Bông hỏi:
– Bao giờ thì anh chị Huê nghỉ bán buôn, ở nhà hưởng nhàn thảnh thơi trong căn nhà đẹp này ?.
Chị Huê phân trần:
– Mình cũng muốn nghỉ lắm. Con cái có công việc của chúng, chẳng đứa nào thích cái nghề bán bánh mì thịt nguội này cả, sang cửa hàng cho người khác thì tiếc rẻ vì công việc làm ăn càng ngày càng phát đạt, tiền cứ chạy vô túi vô nhà băng nên chẳng nỡ ngừng, thôi thì còn sức còn làm, có nhiều tiền tiêu xài cũng sướng tay. Nhờ thế vợ chồng mình mới mua căn biệt thự này dễ dàng.
Chị Huê ghé tai chị Bông khoe thêm:
– Trừ mọi chi phí mỗi tháng vợ chồng mình kiếm mười mấy ngàn, chẳng cần ăn học bằng cấp gì mà tính ra hơn hẳn lương kỹ sư lâu năm, tự mình làm chủ mình và làm chủ gần chục nhân viên từ khâu làm bánh mì, làm giò chả thịt nguội, đến khâu đứng bán cho khách hàng.
Thử hỏi là chị có chịu buông bỏ cửa hàng ngồi nhà lãnh vài đồng lương hưu không chứ.
Sau dịp ăn tân gia ấy chị Bông ít có dịp đến nhà chị Huê nhưng thường gặp chị ở cửa hàng bánh mì thịt nguội nổi tiếng ngon nhất của thành phố này.
Vợ chồng chị Huê nhanh nhẹn xã giao với khách hàng và tháo vát với công việc, chỉ huy nhân viên đâu ra đấy.
Thế mà một hôm chị Bông nghe hung tin, một người bạn gọi phone báo tin:
– Chị Huê đã qua đời trong giấc ngủ đêm qua vì heart attack.
Trời ơi, một cái chết quá bất ngờ, không hề báo trước. Chơi thân với chị Huê nhưng chị Bông có nghe chị Huê than thở gì về bệnh tim mạch đâu.
Hay là chị Huê làm việc nhiều quá nên căng thẳng và kiệt sức, ảnh hưởng đến tim mạch??
Sau đám tang chị Huê, cửa hàng bánh mì thịt nguội trở lại hoạt động bình thường, bạn bè ai cũng ngạc nhiên, tưởng anh Huê mất đi người vợ yêu dấu mấy chục năm bên nhau anh sẽ mất nguồn cảm hứng kiếm tiền.
Vài tháng sau chị Bông đã nghe bạn bè chung của chị Huê truyền nhau tin đồn anh Huê đang “tình ý” với chị Sương nhân viên quản lý cửa hàng.
Đó là một thiếu phụ khoảng 45 tuổi, chị ta là mẹ độc thân của ba đứa con. Được bà chủ tin cậy chị ta nhanh nhẹn khôn ngoan chăm chỉ làm việc và bây giờ thì được ông chủ độc thân ưu ái.
Ai cũng tưởng họ chỉ “tình ý” và bồ bịch cho đời nhau đỡ buồn. Nhưng một năm sau thì anh Huê chính thức đi thêm bước nữa với chị Sương với lý do để có người phụ anh công việc kinh doanh, cứ làm như anh chỉ cần người làm hơn là cần người tình.
Căn biệt thự lộng lẫy của chị Huê nay đã có nữ chủ nhân mới, thêm ba đứa con của chị ta nên cửa nhà đông vui hẳn lên, lúc nào cũng có một hai chiếc xe loại sang đậu trước sân, chiều tối các khung cửa sổ căn biệt thự đều sáng đèn ấm cúng.
Cửa hàng sản xuất bánh mì thịt nguội đã có nữ chủ nhân mới.
Ngày nào chị Huê từng hãnh diện khoe công việc và tiền bạc nay những huê lợi ấy đã vào túi người khác.
Ngày nào chị Huê từng sung sướng khoe căn phòng ngủ xinh đẹp sang trọng, nay căn phòng ngủ ấy cũng thuộc về người phụ nữ khác.
Và người chồng suốt mấy chục năm thân ái chung đôi của chị cũng thuộc về người khác luôn.
Chị Bông thấy xót xa giùm người bạn đã nằm dưới nấm mộ. Chị than thở với chồng:
– Thương chị Huê quá. Nhớ ngày mới mua căn biệt thự chị Huê hớn hở vui mừng bao nhiêu, chị trang hoàng chăm sóc từng căn phòng, thế mà ở chẳng bao lâu…
Anh Bông lại triết lý nhà phật:
– Chị Huê đã “ở trọ” trong căn biệt thự ấy, chứ có gì là của chị Huê đâu, kể cả bạc tiền và người chồng yêu dấu.
Hết thời hạn thì ra đi. Vợ chồng mình cũng đang “ở trọ” trong chính căn nhà của mình đây.
Cuộc sống luôn đi bên cạnh những rủi ro bất trắc, tai nạn hay bệnh hoạn có thể đến bất cứ lúc nào. Chúng ta không chết vì tại nạn, bệnh hoạn thì cũng chết vì tuổi gìa sức yếu, mười năm, hai mươi năm nữa thôi căn nhà này sẽ thuộc về ai…
Chị Bông giật mình, anh Bông nói đúng qúa, sau này vợ chồng chị chết đi, con cái đều có nhà riêng và công việc ở xa, chẳng đứa nào có nhu cầu dọn về đây. Căn nhà này sẽ bán đi và thuộc về người khác.
Chị Bông chợt nhớ tới gia đình một người quen biết, sang Mỹ diện H.O. năm 1990, Sau 5 năm làm việc cật lực họ có chút tiền down một căn nhà. Người vợ lãnh đồ từ hãng và may tại nhà, vừa chăm chỉ may vừa lo cơm nước cho chồng đi làm con đi học, chị hết sức tiết kiệm tiền bạc và cả thời gian, ít giao du với bạn bè, thậm chí từng là con chiên ngoan đạo chị cũng “né” màn đi nhà thờ hàng tuần, chỉ đi vào những dịp lễ lớn, vì đi nhà thờ là “tốn kém” , luôn có mục đóng góp đủ thứ, nay món này mai món khác chẳng bao giờ hết việc.
Mục đích chính của chị là làm việc tối đa và tiết kiệm tối đa để có tiền trả nợ căn nhà.
Nhà cửa trả xong, vốn liếng bắt đầu rủng rỉnh thì đùng một cái chị H.O lâm trọng bệnh qua đời. Chồng quan niệm con cái đứa nào cũng có ăn học và có gia đình riêng không phải lo cho chúng nữa, ông ta về Việt Nam cưới một cô hàng xóm lỡ thì nhưng vẫn còn trẻ chán so với ông, bán căn nhà cũ đang ở để mua căn nhà khác mới hơn đẹp hơn cho xứng và le lói với người mới.
Chị H.O này cũng “ở trọ” và ra đi “trắng tay” như chị Huê.
Thế là chị Bông lại an phận tìm vui với căn nhà của mình, khu vườn sau hoa lá và chuông gió vẫn đẹp và nên thơ với cái hàng rào cũ mà chị từng muốn thay bỏ chúng.
Một buổi sáng chị Bông mang rác ra sân trước thì thấy chị Mễ hàng xóm cũng kéo thùng rác ra sân liền tươi cười xã giao, bù đắp cho những ngày chị Bông liếc mắt hay lườm lườm sang nhà nó với vẻ lạnh lùng:
– Chị khỏe không? Hôm nay chị không đi làm hả?
Chị Mễ than thở và e dè:
– Tôi bị mất việc rồi, đang hưởng tiền thất nghiệp. Chị đừng rủ tôi thay cái hàng rào nữa nghe.
Xong chị ta nửa đùa nửa thật:
– Chỉ còn chồng tôi đi làm, nhà 4 đứa con, nếu tôi mà thất nghiệp dài lâu thì không có tiền trả mortgage căn nhà này đâu, lúc ấy chị sẽ có hàng xóm mới để rủ họ thay hàng rào mới.
Chị Bông cảm thấy như mình có lỗi và ái ngại quá. Hoàn cảnh nhà hàng xóm chẳng khá giả gì thế mà bấy lâu chị cứ “mặt sưng mày xỉa” ngầm với họ vì cái tội không chịu chung tiền làm hàng rào mới.
Chị Bông dịu dàng thân mật:
– Chúc chị mau kiếm được việc làm, còn cái hàng rào chung của chúng ta, đúng như chồng chị đã nói, vẫn tốt lắm, thay làm chi cho phí tiền.
Trong ánh mắt chị Mễ thoáng vẻ ngạc nhiên và vui. Chắc vì lần gặp mặt này chị ta thấy chị Bông đã thay đổi thái độ quá bất ngờ.
Chị Bông lại thấy anh Bông nói đúng, chẳng có ai dám bảo đảm ở căn nhà của mình dài lâu chứ đừng nói suốt đời.
Ngoài cái chết, người ta phải rời xa căn nhà vì hàng đống lý do, vì công việc, vì trường học của con cái hay vì mất job, vì ly dị… v..v…v à biết đâu chỉ vì…. nhà hàng xóm.
Gia đình anh chị Mễ này không chịu nổi mụ hàng xóm khó tính như chị Bông, một ngày nào đó họ cũng sẽ dọn đi cho khuất mắt?
Chị Bông chẳng cần cái hàng rào mới đẹp nữa cho hao tốn bạc tiền của mình và của hàng xóm và chị càng không mơ nhà to đẹp cao sang nữa khi tuổi đã xế chiều.
Vì nhà to đẹp hay nhà cũ xấu cũng chỉ là quán trọ ven đường đời cho ta dừng chân và một ngày nào đó ta sẽ về nơi yên nghỉ sau cùng đó mới là căn nhà vĩnh cửu của riêng ta.
Nguyễn Thị Thanh Dương
From: TU-PHUNG








