Phùng Há-TRĂM NĂM NHÌN LẠI – Tác giả: Võ Đắc Danh

Những Câu Chuyện Thú Vị – Ncctv.net

Viết Châu Nguyn  

MẤY NGÀY NAY ĐỌC BÁO HAY TIN HỘI SÂN KHẤU SÀI GÒN ĐỊNH GIẢI TÁN, PHÁ BỎ CHÙA NGHỆ SĨ. MÌNH BỖNG NHỚ TỚI CÔ BẢY PHÙNG HÁ. XIN ĐĂNG LẠI BÀI VIẾT CỦA 15 NĂM TRƯỚC, CẦU MONG VONG HỒN CÔ VÀ 400 BỘ HÀI CỐT NGHỆ SĨ ĐANG NƯƠNG NÁO TRONG CHÙA LINH THIÊNG BẺ CỔ BỌN VÔ TÂM

Tác giả: Võ Đắc Danh

Phùng Há –TRĂM NĂM NHÌN LẠI

Bà Phùng Há lúc trẻ (file photo)

Ông Trương Nhân Trưởng, người làng Phú Lạng, huyện Hạc Sơn, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Những năm cuối thế kỷ XIX, ông đi làm thuê cho một vựa trái cây ở Quảng Tây, một buổi tối, ông nghịch ngợm lấy viên pháo nhét vào bính tóc của một người bạn rồi châm tàn thuốc lên ngòi pháo, pháo nổ, bính tóc bay mất. Chuyện chỉ có vậy, nhưng ông bị nhà chức trách truy nã về tội mưu sát, phải rời bỏ nhà cửa, vợ con và tổ quốc để làm kẻ lưu vong sang Việt Nam. Đến Mỹ Tho, ông làm nghề mua bán thịt bò. Tại đây, ông kết hôn với bà Lê Thị Mai, một thôn nữ đẹp người đẹp nết ở làng Điều Hòa và sinh được bảy người con, bốn trai ba gái.

Câu chuyện về ông sẽ không được ai biết đến, sẽ không có gì để kể thêm. Nhưng chính cái ngả rẽ vô tình của cuộc đời ông lại là cội nguồn của nghệ sĩ Nhân dân Phùng Há. Khác với những người Hoa khác, con cái của ông Trưởng lớn lên đều được ông đưa về cho bà vợ lớn ở cố hương để học ngôn ngữ và lễ nghi Trung Quốc, sau đó muốn ở lại hay trở qua Việt Nam thì tùy theo điều kiện và ý thích của mỗi người.

Năm 1915, ông Trưởng qua đời trong khi đang trở thành một người giàu có ở Mỹ Tho: Một lò gạch, một xưởng cưa và một trang trại nuôi bò. Cô Bảy Phùng Há lúc bấy giờ mới lên năm tuổi. Ông Trương Tích Kỳ, con trai đầu của ông Trưởng cùng với chú ruột là Trương Nhân Bá đã lập mưu chiếm đoạt cơ ngơi bằng cách giao cho bà Mai cùng với cô Bảy và người em út là Trương Nguyệt Hảo mang bộ hài cốt hỏa táng của ông Trưởng về Hạc Sơn an táng và ở lại bên ấy để thọ tang.

Năm ấy, ở Quảng Đông xảy ra trận dịch đậu mùa, hàng ngàn người thiệt mạng, trong đó có Trương Nguyệt Hảo. Cô Bảy thoát chết nhưng mang trên gương mặt trẻ thơ lớm đớm vết rỗ hoa mè. Sống trong cảnh làm thiếp mà không chồng, bà Mai không chịu nổi những tập tục, lễ nghi phong kiến hà khắc của gia đình Tàu mà mọi quyền hành nằm trong tay bà chánh thất, bà Mai khóc thầm trong đau khổ, muốn trốn về quê mà túi lại không tiền. Hiểu được cảnh ấy, người con gái thứ tư của bà là Trương Liên Hảo, đang làm dâu một nhà hào phú ở Hạc Sơn, đã lén chồng bán của hồi môn để mua vé tàu cho mẹ và em về nước. Trên chuyến tàu Tây hôm ấy, mấy bà đầm phát hiện Cô Bảy Phùng Há mắc bệnh đậu mùa, họ la chóe lên, hành khách xôn xao, thủy thủ đoàn kéo cô quăng xuống biển, mẹ cô lạy lục van xin, những hành khách người Việt và người Hoa đứng ra ngăn cản. Cuối cùng họ đồng ý cho cô đi nhưng hai mẹ con cô phải cách ly, ngồi vào một góc xa phía sau hầm máy.

Về đến Mỹ Tho, bà Mai mới tá hỏa ra rằng mình không còn quyền hành gì trong ngôi nhà cũ, và tất cả cơ nghiệp của ông Trưởng đã thuộc về người em chồng và đứa con trai. Sống trong nhà mình mà con trai và con dâu luôn nặng lời chửi em mắng mẹ. Một hôm, Trương Tích Kỳ ném cho bà Mai hai chiếc vé tàu và mấy đồng lộ phí buộc bà và Cô Bảy Phùng Há trở về Hạc Sơn. Bà Mai tức tửi, nghẹn ngào dắt con gái về làng cũ Điều Hòa, tá túc trong căn chòi xơ xác của người mẹ mù lòa. Bà bị suy sụp rồi lâm bệnh.

Bà Phùng Há và Bạch Công Tử (file photo)

Cô Bảy Phùng Há – cô bé Trương Phụng Hảo lúc ấy – đành phải chạy ra tìm anh Hai để xin tiền lo thuốc thang, ăn uống cho mẹ và ngọai. Trong cơn say sượu và thuốc phiện, ông Kỳ đã không cho tiền mà còn nặng lời trách mắng vì đã không về Hạc Sơn theo ý muốn của ông. Cô chạy sang nhà của cha mình mà bây giờ đã thuộc về tay người chú ruột để khóc than, ông Nhân ném cho một đồng rưỡi, ông hứa mỗi tháng sẽ cấp cho mẹ con cô từ một đồng rưỡi đến hai đồng.

Bà ngoại qua đời, hai mẹ con cô tiếp tục sống trong căn chòi hiu quạnh, xác xơ, bữa rau bữa cháo. Dù trong cảnh nghèo đói, khổ đau, nhưng bà Mai vẫn vắt kiệt sức mình trong một tiệm thêu để cho con gái được đến trường. Một người bạn cũ của ông Trưởng đã giúp Cô Bảy được vào học miễn phí ở trường Ecole Jeunes Filles – một trường tiểu học của Pháp tại Mỹ Tho. Và tại nơi đây, Cô Bảy Phùng Há đã bắt đầu nổi tiếng về năng khiếu ca hát của mình. Nhưng cũng chính vì cái năng khiếu ấy mà Cô đã bị đuổi ra khỏi trường khi chưa học xong chương trình tiểu học. Hôm ấy, bà đốc học La Fuste đi vắng, bà Giáo Kỳ vốn mê giọng hát của Trương Phụng Hảo nên tổ chức cho cô hát trong giờ học của bà. Phòng học nằm cạnh ven đường nên khi cô hát, người qua đường cũng đứng lại xem, rồi những tràng pháo tay vang lên. Bất ngờ, ông chánh thanh tra Ty giáo huấn ghé qua, ông buộc tội học trò Trương Phụng Hảo làm mất trật tự học đường. Bị đuổi học, Cô Bảy Phùng Há chợt nhớ lời một nữ tu hồi cô còn học bên trường Giồng: “Con hát hay lắm, nhưng chính giọng hát của con sau nầy sẽ làm khổ đời con”.

Thật ra, lúc ấy nếu Cô không bị đuổi học thì cũng không còn điều kiện nào để học. Mẹ Cô vì lao lực lẫn lao tâm mà kiệt sức, nay ốm mai đau. Để có từng bữa ăn cho hai mẹ con, Cô Bảy phải lặn hụp dưới từng con rạch, dòng sông để kiếm từng con cá bống, con tép, con cua, đi móc từng trái dừa thuê cho các chủ vườn để mua cho mẹ từng thang thuốc bắc. Một hôm, có bà láng giềng tốt bụng đã giới thiệu Cô vào làm công cho lò gạch của ông Bang Hoạch. Cứ in một trăm viên gạch, Cô được trả ba xu. Với sức vóc của cô bé lên mười, mỗi ngày Cô kiếm chưa được mười xu, nghĩa là chưa đầy một cắc bạc. Nghĩ mình từng là con của ông chủ lò gạch, bỗng dưng lại trắng tay, giờ phải ngồi in từng viên gạch, chắt mót từng đồng xu ở một lò gạch khác, lòng Cô cứ ngậm ngùi, buồn chán cho thân phận, Cô vừa làm vừa nghêu ngao hát như một sự giải bày. Nhưng mỗi lần Cô hát thì cả nhóm thợ lắng nghe. Tiếng hát của cô đã gieo vào lòng người một niềm cảm xúc đến nao lòng. Mấy chị bảo: “Từ nay em không phải làm nữa, cứ vào đây ngồi hát cho mấy chị nghe, mấy chị sẽ làm thay phần việc cho em”.

Như vậy là, tiếng hát của Cô đã nuôi sống mẹ con Cô từ năm mười một, mười hai tuổi, để rồi từ nơi ấy, từ cái lò gạch ấy, tiếng hát của Cô mỗi ngày cứ vang lên, bay cao và bay xa hơn, khắp mọi miền Tổ quốc, vượt cả không gian và cả thời gian để trở thành cây đại thụ của nền nghệ thuật sân khấu nước nhà.

*

Có những lúc Cô đang hát say sưa thì bất chợt nhìn thấy một người đàn ông đứng trước cửa lò gạch nhìn vào, say sưa nghe cô hát Nhiều lần, khi Cô đang ngồi hát say sưa thì chợt thấy từ phía cửa sổ hành lang lò gạch có một người đàn ông lặng nhìn say sưa nghe cô hát. Rồi cũng bất chợt một buổi chiều khi đi làm về thì thấy người đàn ông ấy đã có mặt trong nhà cô. Mẹ Cô cho biết đó là ông Hai Cu, chủ tiệm vàng kiêm bầu gánh Tái Đồng Ban ở Mỹ Tho. Gánh Tái Đồng Ban đang gặp sự cố, con trai ông, kép hát Hai Gỏi vừa mới qua đời, người tình của anh là Cô Năm Phỉ, đào chánh, đã buồn bã ra đi. Trong khi ông đi tìm đào thay cho Năm Phỉ thì có người nói với ông rằng “Trong lò gạch của ông Bang Họach có con bé xẩm lai hát còn mùi hơn cô Năm Phỉ”.. Ông không tin nhưng vẫn tìm đến để cầu may. Nhưng ngay từ hôm đầu tiên đứng ngòai cửa sổ lò gạch trộm nhìn nghe Cô hát, ông đã bị hốt hồn. Một lần, hai lần, rồi ba lần… cứ đứng lặng người nhìn Cô say sưa hát, tiếng hát thanh cao, khi trầm khi bổng, khi quặn thắt lòng người, đôi mắt cứ lững lờ, rười rượi nỗi sầu tư, chơi vơi trong cõi hư vô khiến cho ông Hai như muốn thốt lên rằng, con ơi, con không chỉ là một thiên thần bé bỏng mà là dấu hiệu của một tài năng. Bà Mai không bằng lòng cho con mình đi theo Tái Đồng Ban bởi hai lẽ: Thứ nhất, Cô Bảy chỉ mới mười ba tuổi, thứ hai, mới mười ba tuổi mà đã dấn thân vào con đường “xướng ca vô loài” thì ắt phải hổ danh trong cái nhìn phong kiến lúc bấy giờ. Nhưng Cô Bảy thì cương quyết: “Con không chịu nổi cái lò gạch, con phải đi hát để có tiền nuôi mẹ, ai cười chê mặc kệ, họ cười chê chớ họ có giúp mình đâu khi mẹ đói, mẹ đau”. Ông Hai ra giá tám cắc bạc cho mỗi đêm hát, ngày nuôi hai bữa cơm. Cô Bảy nghe mà mừng trong bụng khi nghĩ đến cái thực tại ngồi ép gạch suốt ngày chưa được một cắc, cơm thì bữa đói bữa no, mẹ ốm đau không đủ tiền mua thuốc, nợ nần chồng chất không biết trả đến kiếp nào. Cô nói với ông Hai: “Con đồng ý nhưng xin ông hai điều kiện, thứ nhất ông cho mẹ con theo gánh hát để con chăm sóc, thứ hai, ông cho con mượn trước năm mươi đồng để mẹ con trả nợ”.

Từ cái ngả rẽ bất ngờ của buổi chiều hôm ấy, Cô Bảy Phùng Há trở thành đào chánh của Tái Đồng Ban thay cho Cô Năm Phỉ và nổi danh với nhân vật Thúy Kiều, năm ấy, năm 1924, Cô mới tròn mười ba tuổi. Từ một quyết định giản đơn: “Đi hát để kiếm tiền nuôi mẹ”, Cô Bảy Phùng Há đã trở thành ngôi sao sáng rực của bầu trời sân khấu cải lương, và, cũng chính cô là người đã góp sức, góp công, góp cả lòng tâm huyết để nâng niu, nuôi dưỡng nền nghệ thuật nầy từ buổi sơ khai cho đến lúc trưởng thành, đứng trên đỉnh vinh quang. Hơn nửa thế kỷ đắm mình với ánh đèn sân khâu, làm rạng rỡ tên tuổi của hàng chục đoàn hát, từ Tái Đồng ban đến Trần Đắc, Huỳnh Kỳ, Phụng Hảo, Phước Cương, Thầy Năm Tú, Việt Kịch Năm Châu…, hóa thân với hàng trăm nhân vật, mà nhân vật nào, dù nam hay nữ, dù danh tướng hay mỹ nhân cũng được Cô Bảy Phùng Há cũng lột tả đến tận cùng tính cánh và số phận. Oai phong, lẫm liệt với Lữ Bố, Phạm Lãi, An Lộc Sơn; đằm thắm, kiêu sa, ngọt ngào, ai oán với Vương Thúy Kiều, với Nguyện Nga, với Dương Quý Phi, với Tô Ánh Nguyệt… Phùng Há đã làm nên tất cả những vai diễn, và tất cả những vai diễn ấy đã làm nên một Nghệ Sĩ Nhân Dân Phùng Há.

Những mề-đai, Huân chương, Huy chương của chính phủ Pháp, của toàn quyền Đông Dương, của thống đốc Nam Kỳ, của vua Bảo Đại, vua Miên, vua Lào, vua Thái Lan, của Chính phủ Trung Hoa, Hungari, Ba Lan, Budapest, Prague, Moscow, Anh, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Thụy Điển, Bồ Đào Nha… chứng tỏ một tài năng sân khấu cải lương đã vượt không gian quốc gia, làm rạng rỡ nền nghệ thuật nước nhà.

Thế nhưng “Hồng nhan đa truân”, cuộc đời bà không có mối tình nào trọn vẹn… Ngay từ những năm đầu đến với Tái Đồng Ban, sắc đẹp của bà đã làm ngẩn ngơ hai người thầy, một người dạy ca và một người dạy diễn: Huỳnh Thủ Trung và Năm Châu. Khi Năm Châu đang ôm mối tình câm chưa kịp nói ra thì Huỳnh Thủ Trung tuyên bố cưới cô Phùng Há. Năm Châu thất tình ra đi. Cô Bảy Phùng Há sống với Huỳnh Thủ Trung có một người con rồi chia tay vì không chịu nổi người chồng suốt ngày ngồi trong quán rượu, những chuyện ngoại tình, những trận đòn roi. Khi Năm Châu đang lưu lạc với một đoàn cải lương ngoài Bắc, được tin Cô Bảy Phùng Há thôi chồng và chuyển qua đoàn khác. Ông trở về, tìm gánh hát Trần Đắc với hy vọng nối lại tình xưa. Nhưng đò tình thêm một lần lỡ chuyến. Cô Bảy Phùng Há đã làm vợ của Bạch Công Tử và lập gánh hát Huỳnh Kỳ.

Bà Phùng Há (ngồi) (file photo)

Bạch Công Tử – tức Lê Công Phước, còn gọi là George Phước, con trai của Đốc Phủ sứ Mỹ Tho Lê Công Sũng – sau khi chiếm được trái tim của Cô Bảy Phùng Há đã bỏ ra năm trăm đồng trả nợ cho Cô, chuộc Cô ra khỏi gánh Trần Đắc, lập gánh Huỳnh Kỳ cho Cô làm chủ gánh. Thời ấy, giao thông cách trở, các gánh hát lưu diễn phải thuê ghe lườn vận chuyển sân khấu, công nhân và đào kép. Bạch Công Tử đã trang bị cho Huỳnh Kỳ bốn chiếc ghe chài, ba chiếc chở đồ đạc, đào kép và công nhân, một chiếc dành riêng cho đào chánh kiêm chủ bầu Phùng Há với đầy đủ tiện nghi như một tòa lâu đài di động. Có tiền bạc, có phương tiện, Cô Bảy Phùng Há chiêu mộ những đào kép nổi danh, Huỳnh Kỳ thống lĩnh nghệ thuật sân khấu cải lương khắp Nam kỳ lục tỉnh. Nhưng chỉ được bảy năm, Bạch Công Tử sa vào con đường ăn chơi sa đọa, bao nhiêu tiền của ông ném vào sòng bạc, tiệm hút, gái tơ. Huỳnh Kỳ suy sụp, đào kép lần lượt bỏ đi, Cô Bảy ôm hai đứa con đau ốm cùng với bốn chiếc ghe chài nằm chơi vơi dưới chợ cầu Ông Lãnh. Trong cảnh khốn cùng, một người quen giúp cô ẳm con đi tìm chồng thì gặp Bạch Công Tử đang vui sống với một cô gái khác, một giai nhân nổi tiếng tên là Marie Anne Nhị ở khách sạn Minh Tân. Ông không quan tâm đến con mà lại trách mắng cô thiếu lịch sự, làm như thế là mất mặt ông với bạn gái của mình. Cô nuốt nước mắt ra về. Rồi cả hai đứa con lần lượt chết trên tay Cô trong cảnh không tiền chạy chữa, Cô đành phải chia tay với Bạch Công Tử để làm lại cuộc đời.

*

Người chồng thứ ba của Cô Bảy Phùng Há là kiến trúc sư Hoàng Phi, con trai một quan huyện ở Gò Công, cũng là bạn thân với Bạch Công Tử.

Sau năm 1945, Bạch Công Tử vừa bị phá sản, vừa nghiện ngập, vừa lâm bệnh ngặt nghèo không tiền chạy chữa. Nghĩ đến tình xưa nghĩa cũ, Cô Bảy xin phép chồng đem ông về nuôi dưỡng trong nhà tại số 3 đường Ngô Tùng Châu, Sài Gòn… Năm 1950, Bạch Công Tử qua đời trong cảnh không có đất để chôn. Cô Bảy lại xin phép chồng đưa ông về an nghỉ trên đất nhà chồng ở Gò Công, và nhờ người con riêng của chồng trông coi mộ.

Hỏi vì sao cô chia tay với ông Hoàng Phi, cô không nói. Cô chỉ nói đó là một người trí thức và tử tế.

Với nghệ sĩ Năm Châu, Cô Bảy cho rằng đó là một chuyện tình buồn và đẹp, cứ chập chờn, chập chờn như con đò lỡ chuyến suốt sáu mươi năm. Năm 1953, ngẫu nhiên Cô và Năm Châu đầu quân trở lại gánh Trần Đắc. Vở Mộc Quế Anh đã đưa ngôi vị của Phùng Há – Năm Châu thành đôi bạn diễn ăn ý số một của sân khấu cải lương. Cô cảm nhận đó là tình yêu, cả hai đã trút cạn tình yêu cho nhau qua vai diễn, những điều khát khao mà chưa bao giờ được nói với nhau. Nhưng khi bước ra phía sau bức màn nhung thì cô cảm nhận được ánh mắt chừng như mất vui, chừng như có chút hờn ghen của nghệ sĩ Kim Cúc, bạn Cô, cũng là vợ của nghệ sĩ Năm Châu. Biết lửa gần rơm rồi sẽ cháy. Cô rời gánh Trần Đắc, lặng lẽ ra đi để bảo vệ hạnh phúc của bạn mình. Cô hiểu tình yêu của nghệ sĩ Năm Châu đối với cô càng ngày càng sâu nặng. Ông viết những vở tuồng Nợ Dâu, Men Rượu Hương Tình, Sân Khấu Về Khuya như để gởi gấm, để giải bày, như để hờn trách sự lạnh lùng, bạc bẽo của Cô.

Ông Năm Châu và bà Phùng Há (file photo)

Ngày nghệ sĩ Năm Châu hấp hối, Cô chạy như điên, lê lết trên từng bậc cầu thang trong bệnh viện. Bất chấp sự có mặt của mọi người, Cô ôm chầm lấy ông, Cô gào thét: “Khoan, anh khoan hãy đi, anh hãy nghe em nói rồi mới yên lòng ra đi, em biết anh hận em, nhưng em không phải là kẻ vô tình, em làm như vậy là em hy sinh vì hạnh phúc của gia đình anh, vì vợ con anh. Anh biết không, tới giờ phút nầy em vẫn yêu anh…”

Chồng, con, và cả những người tình cũng lần lượt đi về bên kia thế giới. Theo thuyết giáo của nhà Phật, khi ta sống, cái gì ta cho thì cái đó chính là tài sản, ở lại với ta. Phải chăng, những thứ quý giá mà cô đã cho, đó chính là những vai diễn, những môn sinh mà Cô đã nhọc công đào tạo để làm nên một thế hệ cải lương vàng son, vang bóng một thời. Một ngôi chùa nghệ sĩ, một nghĩa trang nghệ sĩ với bốn trăm ngôi mộ và gần bốn trăm bộ hài cốt, Cô như người tự nguyện đi trước về sau, níu kéo thời gian đến tuổi 99 nầy để làm điều đó, làm cho trọn tình trọn nghĩa với thế hệ mình và cả thế hệ cháu con.

Phải, tất cả những gì mà Cô đã cho, tất cả đã và đang ở lại với Cô, bây giờ và mãi mãi.

Từ FB Võ Hữu Nhậm

Người cha H.O. thầm lặng…- TRUYỆN NGẮN….HAPPY FATHER DAY…

Van Pham

CHÚC TẤT CÀ MỌI NGƯỜI ĐÃ, ĐANG VÀ SẼ LÀM CHA – HAPPY FATHER DAY…

****

TRUYỆN NGẮN….Nhân ngày Nhớ Ơn Cha…

Người cha H.O. thầm lặng…

Tác giả: Năng Khiếu

Bố tôi đến dịch vụ làm hồ sơ xuất cảnh diện HO. Cầm theo những giấy tờ cần thiết như giấy khai sanh, giấy ra trại, tờ hộ khẩu… Chỉ vỏn vẹn có hai Bố con, trước con mắt tò mò của nhiều người. Thế rồi “Cha già con cọc”dắt díu nhau lên máy bay qua Mỹ, năm tôi tròn bảy tuổi.

Đầu mùa thu năm 1993, Bố xin cho tôi vào học lớp hai tại trường Willmore School, ở đường Goldenwest, thành phố Westminster. Mỗi lần họp phụ huynh xong, cô giáo mời cha mẹ học sinh đến tham quan lớp học và ký tên. Nhưng tôi không có ai đi họp, cũng chẳng có ai ký tên, vì Bố bận đi làm. Mẹ tôi còn ở Việt Nam. Khi cha hoặc mẹ các bạn tôi ký tên gần hết, tôi vẫn đứng tựa cửa lớp, dõi mắt ra cổng đợi Bố đến như lời hẹn. Nhưng chắc Bố đang mắc làm trong hãng nhiều hàng gấp.

Chờ đợi mỏi mòn chẳng thấy bóng dáng Bố đâu! May sao mẹ của một người bạn ở gần nhà, biết hoàn cảnh cha con đơn chiếc đã đến hỏi thăm, và tôi xin cô giáo để bà ký tên thay cho Bố. Cô nhận lời và nói tôi thông dịch cho bà trước khi ký tên, cô chỉ lên bảng dán những bức hình tôi vẽ trong giấy cứng, cô khen tôi học chăm chỉ và rất giỏi.

Bây giờ chỉ còn bốn tháng nữa là tôi đủ ba mươi hai tuổi. Như vậy là tôi đã sống ở Mỹ một thời gian khá dài. Từ một con bé còm cõi, nay tôi đã có gia đình và là mẹ của hai đứa con, trai ba tuổi và gái mới đầy năm.

Từ khi còn rất nhỏ, nhiều người vẫn hỏi tôi: Tại sao Mẹ còn ở Việt Nam? Sao chỉ có hai Bố con đi Mỹ thôi? Còn nhiều câu hỏi khác, mà hồi nhỏ tôi có hiểu gì đâu mà trả lời, chỉ cười trừ, nhưng bây giờ lớn tới đâu là hiểu tới đó.

****

Cuối năm 1982. Bố tôi đi tù về, tá túc ở nhà bà nội tôi tại xứ Thánh Mẫu, Huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Bồ về chiều hôm trước, ngay sáng hôm sau, Sáu Sẹo, Công an khu vực đã ghé nhà hỏi thăm sức khỏe, rồi nhắc nhở: “Vì vợ con anh đã đi theo đế quốc Mỹ, mà lại không có hộ khẩu ở đây, anh phải đi kinh tế mới”.

Bao nhiêu năm tù đày, ngày được thả về, Bố tôi thấy bạn bè háo hức, nôn nóng mong xum họp với vợ con, mà thấy tủi thân!

Sau mấy năm tù đầy, người vợ “đầu gối tay ấp” đến thăm Bố lần cuối, yêu cầu bố ký vào tờ giấy ly dị, để bà dẫn hai đứa con trai đi Mỹ, theo diện đoàn tụ ODP, vì cha mẹ bà di tản năm 1975 gửi giấy tờ bảo lãnh về. Nhưng khi làm hồ sơ ra đi, họ đòi phải có giấy ly dị của ông chồng sĩ quan ngụy đang cải tạo mới chịu. Thấy Bố chần chờ, bà nói: “Ông phải nghĩ đến tương lai các con, tôi đưa chúng nó đi để ăn học, chứ ở mãi xứ này mà chết chùm à!” Bố tôi đành ký tên vào tờ giấy ly dị.

Sau khi tới Mỹ, thời gian đầu bà cũng gửi tiền về nhờ người em còn ở Saigon đi thăm nuôi Bố tôi. Nhưng chỉ được vài lần, rồi vì “Người khôn của khó” không ai kiên nhẫn đi thăm nuôi người tù không án. Sau đó Bố mất liên lạc với vợ con luôn. Từ dạo ấy Bố là “con bà Sơ” trong tù, nhưng Trời thương nhờ vóc dáng cao lớn, nên Bố còn cầm cự được giữa sóng gió tù đày…

Bị công an đuổi đi kinh tế mới, bố tôi cũng tìm được đất sống. Đó là khu kinh tế mới Sông Ray, cách Long Khánh khoảng ba mươi cây số. Khu mới khai khẩn, chỉ lưa thưa vài chục nóc nhà, Bố tôi sang rẻ lại của người quen miếng đất ngay đầu lối, cất lên một căn nhà nhỏ như cái chòi. Nhờ có hai người bạn cùng cảnh ngộ đến phụ giúp, chẳng mấy chốc Bố đã có chỗ che nắng che mưa, lại yên thân không bị công an khu vực dòm ngó! Xung quanh nhà Bố tôi trồng đủ thứ, nào bắp, khoai lang, củ mì, bầu, bí….. là những thứ mau thu hoặch. Đó là “thành tích” sau bảy tám năm Bố tôi học được trong các“ trại tù cải tạo”.

Để kiếm thêm thu nhập, Bố tôi cùng vài người bạn rủ nhau đi sâu vào trong rừng gần chân núi, khai hoang thêm mấy mẫu đất nữa, cặm cụi trồng trọt tiếp.

Sống trong vùng kinh tế mới này cũng hơn nửa năm, Bố cứ âm thầm lặng lẽ, cuốc cuốc, xới xới suốt ngày không để ý đến ai. Hoa mầu trồng được thì đã có người đến tận vườn thu mua giá rẻ, nhưng khỏi mất công gánh ra chợ.

Khu xóm kính tế mới nhà này cách nhà kia bằng những hàng rào gỗ lưa thưa, xa xa nhìn không rõ mặt. Một ngày mưa nghỉ làm, khi xế trưa mưa tạnh, bố tôi có dịp sang thăm hàng xóm, một căn nhà tranh vách đất cách một con đường đất đỏ.

Chủ nhà hàng xóm là một thiếu phụ tuổi ngoài ba mươi, tuy sống đời cực nhọc tại vùng kinh tế mới nhưng vẫn còn nét thanh lịch của dân Sài gòn cũ, cho biết ông chồng sĩ quan đã mất sau những năm đi “học tập cải tạo”.

Trên bàn thờ kê giữa nhà, dưới chân cây thánh giá là hình người đàn ông trạc ngoài bốn mươi, nhìn quen quen mà Bố chưa nhớ ra, đến lúc hỏi tên tuổi, thì ra là Tính, Ngô Xuân Tính. Nhìn kỹ khuôn hình thờ, chợt ký ức hiện về, Tính một người bạn hiền lành và tốt bụng, hai người sống cùng đội trong trại tù ở núi rừng Việt Bắc. Đầu năm 1977, bố tôi bị chuyển trại vào một đêm khuya, từ đó hoàn toàn mất liên lạc, nào ngờ…

Bà vợ góa của người bạn tù xấu số cho biết Tính bị bệnh sơ gan ngay trong tù, không thuốc men, bụng chướng to như người đeo ba lô ngược. Thấy đã hết đường sống, trại tù cộng sản thả cho về nhà chờ hết. Mặc dù chị đã đã tận lực cố chạy chữa cho anh, nhưng cũng không chống chỏi được bao lâu.

Sau khi lo ma chay cho chồng, chị bồng con về nhà cha mẹ chồng ở Bảo Toàn nương nhờ. Nhưng cha mẹ già yếu, nhà lại đông con. Nhờ sự giúp đỡ của anh em nhà chồng, chị và ba con có được căn nhà nhỏ ở vùng kinh tế mới này, sống qua ngày. Đứa con trai lớn nhất mười bốn tuổi, đã biết chở than mướn kiếm tiền về cho mẹ đong gạo, mà hôm nay trời mưa chưa thấy về, còn hai đứa con gái một đứa mười hai và một đứa mười tuổi, mặt mũi xanh xao, cũng biết vác cuốc ra rẫy làm cỏ với mẹ.

Nghe chuyện người góa phụ trẻ, nhìn lên bàn thờ, Bố tôi thấy thương người, thương mình. Từ đó thường lui tới giúp đỡ. Thấy nhà cửa dột nát, Bố đưa thằng con lớn vào rừng cắt tranh, dặm lại mái nhà. Nhìn đàn con chị đói rách, bữa gạo bữa bo bo, Bố chia lại cho mẹ con chị một nửa khu đất đã khai khẩn được, rồi chỉ cách trồng trọt, chăm bón, và nhặt ống lon buộc quanh rẫy để gây tiếng động, cất lều ở canh thú rừng. Chẳng mấy chốc cuộc sống mẹ con đỡ chật vật, những đứa nhỏ được đi học trở lại.

Sớm hôm lui tới, có nhau khi tối lửa tắt đèn giữa vùng kinh tế mới heo hút, Bố trở thành người đàn ông duy nhất trong nhà bà mẹ góa. Tôi được sanh ra trong hoàn cảnh đó, thành đứa con thứ tư của Má.

Sau thời bao cấp, nhà nước cộng sản mở cửa để cứu nguy chế độ, đời sống dân chúng dần dà dễ thở hơn. Bà nội đã già yếu, nên chạy hộ khẩu cho Bố tôi về thị xã sống với bà, đem theo tôi về lúc vừa thôi nôi. Tôi xa Má từ dạo ấy. Bà nội và Bố tôi lên “rước Má về dinh”, nhưng Má tôi không đi vì còn bổn phận với các anh chị tôi. Thỉnh thoảng Bố đưa tôi lên thăm Má.

Đầu năm 1989, bắt đầu có chương trình HO., đưa các cựu tù nhân chính trị sang Mỹ. Sau nhiều năm bặt tin, bà vợ cũ của Bố mà tôi gọi là Mẹ cả trở về Việt nam thăm Bố tôi, nói có thể bảo lãnh Bố khi đến Mỹ. Bên gia đình nhà nội tôi chia làm hai phe, người thì trách Mẹ cả bạc tình bạc nghĩa. Kẻ thì khuyên bố trở về hàn gắn gia đình, vì còn vướng phép hôn phối.

Bố tôi chần chờ mãi. Đầu năm 1990 người HO đầu tiên đã lên đường, Bố mới bắt đầu đi làm hồ sơ cho Má và các anh chị tôi đi theo. Nhưng “Người dưng khác họ” khác hộ khẩu không được chấp nhận. Bố tôi đã lên tận Bộ Tư Pháp của Cộng Sản Việt Nam khiếu nại, nhưng chỉ một mình Má tôi đi được. Cuối cùng Má quyết định ở lại nuôi đàn con nhỏ, và ký giấy tờ, bằng lòng để Bố tôi được quyền đưa tôi đi theo. Cuộc tình của Bố và Má tôi chia ly từ đây.

Tuy nộp hồ sơ xin xuất cảnh muộn, nhưng nhờ sau này có chương trình ưu tiên cho những tù nhân trên bảy năm, nên hồ sơ Bố tôi được đôn lên đi trước.

Vì không muốn đi theo diện “đầu trọc” để nhà thờ Tin Lành bảo lãnh về tiểu bang lạnh. Bố tôi nhờ Mẹ cả bảo trợ, và đón Bố con tôi từ Phi trường LAX về nhà ở Thành phố Santa Ana.

Những ngày đầu gia đình cũng hạnh phúc, người con trai lớn đang học trường Berkeley ở Bắc Cali fornia cũng về đón Bố. Mẹ cả thì tỏ ra lo lắng cho Bố, nào chở bố đi làm giấy tờ, chở đi thăm bạn bè quen biết, dẫn cả tôi đi shopping mua quần áo mới.

Căn Mobile home của Mẹ cả, có ba phòng rộng rãi. Trước nhà trồng hoa hồng rất đẹp, còn vườn sau có nhiều cây ăn trái, tôi thích nhất là cây ổi đào trái chín vàng thơm phức, cao bằng cây ổi nhà nội bên Việt Nam. Thấy tôi trèo thoăn thoắt như con khỉ để hái trái, Mẹ cả liền la lên vì sợ tôi té rồi mang họa.

Tôi biết thân biết phận không dám nhõng nhẽo Bố như ở Việt Nam. Anh lớn tên là Peter ở chơi với Bố được vài ngày lại đi học tiếp, nhà chỉ còn lại anh Mike đi học về là vào phòng đóng cửa, ít nói chuyện. Mẹ cả và anh Mike, nhìn tôi với ánh mắt không mấy thiện cảm. Tôi có cảm giác mình là cái gai trước mắt họ, nên luôn tìm cách lẩn tránh.

Nhiều lần thu mình trong góc phòng, tôi nghe tiếng Bố và Mẹ Cả cãi nhau nho nhỏ. Rồi một buổi tối định mệnh, tôi đang học bài trong phòng, nghe Mẹ cả lớn tiếng với bố ngoài phòng khách: “Một là ông chọn con bé, hai là ông chọn gia đình này…” Tôi hồi hộp lắng nghe. Tiếng Mẹ cả lại chì chiết, “ông còn giấu tôi gửi thư về cho Mẹ nó. Tôi không chịu được cảnh một chốn đôi quê, ông dứt khoát đi!”

Không bao lâu sau, Bố con tôi khăn gói ra đi bắt đầu lại cuộc đời mới nơi đất khách.

Khu Apartment Bố thuê gần trường tôi học, có hai tầng lầu khoảng hơn mười units, thì chín nhà là Việt Nam, đâu hai ba gia đình người mễ, coi như thiểu số ở xóm này. Ở đây mọi người coi nhau như người nhà, thấy gia đình có hai cha con côi cút tội nghiệp, đến hỏi thăm xem có cần giúp đỡ chi không. Kế bên nhà tôi là một gia đình sống tại đây lâu rồi, có bốn người, một bà ngoại ngót bảy mươi, hai vợ chồng trẻ và một đứa con gái kém tôi một tuổi.

Từ đó mỗi lần Bố đi đâu vắng là dắt tôi qua gửi bà ngoại để tôi chơi với cháu bà. Bà ngoại thấy tôi nói tiếng Việt rành rẽ thì thích lắm, hỏi chuyện miết: Nhà có hai Bố con thôi sao? Má mày đâu? Sao ở lại Việt Nam? Bố mày xin được Housing chưa? Chắc mày còn nhỏ có medical, được ăn Welfare. Có xin được Food stamp không?

Bà ngoại hỏi dồn dập, tôi nghe không hiểu mấy cái danh từ bằng tiếng Anh lạ hoắc, làm sao mà trả lời, tôi chỉ lắc đầu cười, rồi bà cũng cười. Hai bà cháu cứ vậy, nên bà thương tôi lắm. Ngoài lúc đi học, về đến nhà là tôi chạy qua bắt chước cháu bà gọi ngoại ơi! Ngoại à! Ngon ơ.

****

Nhân dịp Fathers Day sắp đến con xin phép được thưa với Bố đôi điều.

Kính thưa Bố.

Khi con ngồi viết những dòng chữ này, dư âm của bữa tiệc xum họp quanh Bố tối hôm trước, có sự hiện diện của gia đình anh Peter và anh Mike. Để chúng con nói lên lời cảm tạ và chúc mừng sinh nhật thứ tám mươi của Bố, như còn đọng mãi trong con. Cũng là lúc sức khỏe Bố đã mỏi mòn, đi đứng phải dựa vào chiếc gậy cầm tay. Vì ảnh hưởng lần Bố bị stroke năm trước.

Con chạnh nhớ lại cách đây hơn hai mươi năm, ngày Bố con mình đến phi trường Los Angles, con bị chóng mặt vì say máy bay, nên Bố phải cõng con trên lưng bước xuống cầu thang, để đặt những bước chân đầu tiên nặng nề trên đất Mỹ.

Rồi ở tuổi sắp nghỉ ngơi, nhưng vì con mà Bố phải khổ cực, không một tiếng than van, Bố đã âm thầm, một lặng hai nín cũng vì con. Những tưởng cuộc đời được tạm ổn trên quê hương thứ hai, nhưng kiếp tha hương vẫn còn nhiều gian truân, Bố phải tranh đấu gay go với cuộc sống mới, về tinh thần cũng như thể xác.

Giữa mùa đông rét mướt, Bố phải đi làm ca đêm nên bị ốm, con đã khóc vì thương Bố, nhưng Bố nói không sao đâu con, suốt mấy năm trời tù đày, Bố đã quen với cái lạnh thấu xương nơi núi rừng Yên Bái Bắc Việt. Sau lần bị đau nặng, hãng chuyển qua cho Bố làm ca ban ngày. Mỗi buổi sáng Bố ra khỏi nhà để đi làm, con cũng bắt đầu đi học.

Chiều về hai Bố con lủi thủi trong căn hộ chật hẹp trên lầu hai của chung cư, mỗi lần thấy Bố leo cầu thang mệt nhọc, con đã tự nhủ mình phải cố gắng học hành, mai sau lớn lên làm việc thật nhiều để có tiền, sẽ mua một căn nhà khang trang đẹp đẽ, để tuổi già Bố được an nhàn hơn.

Khi con ra trường High School, Bố đã dành dụm mua cho con từ chiếc xe, rồi đóng tiền insurance, để con yên trí bước lên bậc đại học. Bốn năm qua nhanh ở trường Cal State University Fullerton, con đã hoàn tất cử nhân sinh học (Biology major) và chương trình dự bị y dược. Con đã nộp đơn xin vào vài trường Dược Khoa nhưng bị từ chối. Thấy con buồn Bố đã an ủi con. Nghỉ một năm ở nhà ôn bài và đi làm thiện nguyện.

Sau con apply vào trường University of Roseman Pharmacy School in Nevada, và được nhận. Con đã hoàn tất chương trình Pharm D trong vòng ba năm. Sau ba năm vất vả, vừa đi học vừa đi làm kiếm thêm tiền chi tiêu, vừa phải đi thực tập. Con đã chuẩn bị kiến thức đầy đủ để trở thành một Dược Sĩ. Để được nhìn thấy nụ cười trên khuôn mặt khắc khổ của Bố. Khi trở về Cali, con phải thi bằng Dược sĩ của tiểu bang California. Để được việc làm tại đây, và được sống cạnh Bố.

Bố thương yêu!

Con đã lớn lên trong vòng tay của Bố. Bố là chỗ dựa tinh thần vững chãi của con. Bố không để con kém cạnh bạn bè, Bố thương con trong tình thương người cha, trong tình yêu của mẹ. Rồi một ngày con đưa về nhà giới thiệu với Bố ý trung nhân của con, anh là người cùng quê và học hơn con nhiều lớp, nên đã hướng dẫn cho con vào cùng ngành. Và giới thiệu để con có được việc làm tốt hiện nay. Bố vui mừng biết dường nào. Bố đã khen anh hiền lành và chững chạc. Rồi ngày vu quy của con Bố đã chúc phúc cho chúng con thật nhiều.

Hạnh phúc hơn, khi những đứa cháu kháu khỉnh lần lượt ra đời. Bây giờ Bố con mình đã có một gia đình đông vui. Có tiếng khóc, tiếng cười, tiếng nói líu lo của các cháu nhõng nhẽo ông ngoại. Mai sau các cháu lớn lên được ông ngoại dậy nói, dậy viết tiếng Việt, để chúng con an tâm đi làm. Những tình thương yêu Bố dành cho chúng con cả đời này làm sao quên được. Chúng con cầu xin ơn trên ban cho Bố được khỏe mạnh, sống lâu, để chúng con được phụng dưỡng Bố mãi mãi, bù lại những ngày tháng Bố âm thầm hy sinh cho chúng con.

Tất cả những gì con có được ngày hôm nay, là nhờ Bố không nỡ bỏ con, Bố đã đánh đổi hạnh phúc cuối đời để ở bên con, khuyến khích nâng đỡ để con cố gắng vươn lên, giữa muôn vàn khó khăn của cuộc đời.

“Bố ơi! Bố thương yêu của chúng con! Với chúng con, thì ngày nào cũng là Fathers Day. 

Tác giả: Năng Khiếu

MỘT NỤ CƯỜI-Truyện ngắn-Bửu Uyển

Lương Văn Can 75. Kimtrong Lam    

MỘT NỤ CƯỜI

Bửu Uyển.

Vào dịp cuối năm 1994, một buổi họp mặt các cựu tù nhân chính trị được tổ chức ở San Diego. Xướng ngôn viên của buổi lễ cho biết : “Khi tôi xướng tên trại nào, nếu quý anh là trại viên của trại đó, xin đứng dậy và tự giới thiệu tên của mình để các anh em khác được biết”. Nhiều trại cải tạo ở miền Bắc được lần lượt xướng tên như “Phong Quang”, “Yên Báy”, “Vĩnh Phú”, “Thanh Cẩm”, “Lý Bá Sơ”, “Nam Hà”, “Phú Sơn” v.v Trại nào cũng có năm bảy anh đứng dậy và giới thiệu tên của mình. Khi xướng tên trại Nam Hà, tôi đứng dậy và có thêm bốn anh nữa , trong đó có một anh, tự giới thiệu tên của mình là Lê Trung Đạo. Tôi lẫm nhẫm Lê Trung Đạo, Lê Trung Đạo…sao tên nghe quen quá, hình như anh ấy ở chung đội với tôi thì phải. Khi phần giới thiệu các anh em trại Nam Hà chấm dứt, tôi đi đến bàn của anh Đạo, đứng đối diện và nhìn kỹ anh ấy. Tôi nhận ra anh Đạo ngay. Tôi ôm chầm lấy anh, và anh ấy cũng ôm tôi trìu mến. Tôi thì thầm bên tai Đạo : “Em còn nhớ anh không? ” Đạo trả lời ngay: “Anh Uyển, mà sao em có thể quên được, thật vui mừng được gặp lại anh. Em trông chờ ngày này đã lâu lắm rồi!”Khi cùng sống trong cảnh đọa đày nơi trại Nam Hà, phân trại C, tôi và Đạo nằm gần nhau. Ra đồng, bắt được con cua, con cá, tôi và Đạo cùng chia sẻ với nhau. Đạo là một Thiếu Úy Cảnh Sát Đặc Biệt, mới ra trường, không biết làm Trưởng G hay H gì đó..mà bị đày ra cải tạo ở miền Bắc.Anh còn quá trẻ, khoảng 24, 25 tuổi. Tôi xem anh như một người em của tôi và tôi rất quý mến anh. Đạo chưa lập gia đình. Anh chỉ còn một mẹ già đang sống ở Vĩnh long. Vì vậy, từ ngày bị đưa ra Bắc, Đạo chưa bao giờ nhận được quà của thân nhân từ trong Nam gởi cho anh. Anh sống hiền hòa, vui tính, nên anh em trong đội ai cũng mến anh. Đạo xem tôi như một người anh trong gia đình, anh tâm sự với tôi : “Đời em chẳng còn gì nữa, chỉ có một người mẹ, mà từ ngày bị đày ra Bắc, đã trên 5 năm rồi em chẳng có tin tức gì của mẹ em. Không biết bà còn sống hay đã ra người thiên cổ”

Đạo nắm tay tôi và cảm động nói: “Giờ đây em chỉ có anh là người duy nhất thương mến em, cho em chút an ủi để sống qua ngày!”

Như có một động lực nào thúc đẩy, Đạo tâm sự với tôi : “Anh ạ, mình phải sống chứ anh, mà muốn sống, dù là cuộc sống thấp nhất, cũng phải có một ước mơ gì đó để mà mộng tưởng, để tiếp sức cho mình. Các anh em ở đây , dĩ nhiên ai cũng mơ ước sớm được trở về với gia đình. Ngoài xã hội thì kẻ này mơ trúng số, kẻ kia mơ nhà cửa , ruộng vườn v.v. Nhưng sống nơi địa ngục trần gian này, anh em mình mơ ước điều gì đây? Tất cả đều nằm ngoài tầm tay của mình. Em chợt nhớ lại một câu chuyện cổ tích của Pháp, tựa đề là “Un Peu De Soleil Dans L’eau Froide” kể lại câu chuyện một ông lão nghèo khổ, sống cô đơn một mình trong căn lều nhỏ bé, trống trước, trống sau. Bổng một bà tiên hiện ra và cho ông một điều ước. Bà tiên cứ nghĩ, thế nào ông lão nghèo nàn này cũng sẽ ao ước có một căn nhà, hoặc ao ước có nhiều tiền bạc..v..v. Nhưng bà tiên vô cùng ngạc nhiên, khi ông lão nghèo khổ ấy chỉ xin “Một Nụ Cười”

Đạo như chợt tỉnh, ông lão bất hạnh trong câu chuyện cổ tích, đã chỉ cho Đạo một mơ ước, mà dù trong hoàn cảnh nào cũng có thể đạt được, đó là một nụ cười. Không cần phải là nụ cười của giai nhân, mà chỉ cần một nụ cười thân ái của ai đó, chân thành trao cho anh, vì yêu mến anh, có thế thôi.

Cuộc sống tù đày cứ kéo dài triền miên trong đói khổ, vô vọng. Nhưng khi nghĩ đến một nụ cười, Đạo thấy tâm hồn mình có chút an ủi, nhẹ nhàng. Hằng ngày , Đạo ước mơ nhận được nụ cười. Đêm đêm Đạo cũng ước mong trong giấc mơ, anh sẽ gặp được một nụ cười. Nhưng buồn thay, những giấc mơ đến với Đạo chỉ là những cơn ác mộng mà thôi.

Nhưng thật kỳ diệu, từ ngày Đạo ôm ấp ước mơ có được một nụ cười, anh thấy cuộc đời của anh có chút ý nghĩa, vì dù sao anh cũng có một ước mơ, để mà thương, mà nhớ, mà mong chờ.

Một hôm, đội được dẫn đi gặt lúa, khi đi ngang qua cổng cơ quan, Đạo thấy nhiều chiếc áo vàng đứng ở đó. Nhìn lướt qua, Đạo chợt thấy một nữ cán bộ nhìn anh mỉm cười. Anh không tin ở mắt mình, anh nghĩ rằng có thể cô ta cười vu vơ gì đó, chứ đâu phải cười với anh. Anh quay lại nhìn một lần nữa, vẫn thấy cô ta nhìn anh và mỉm cười.

Từ ngày ấy, mỗi khi đội đi ngang qua cỗng cơ quan, Đạo đều bắt gặp nụ cười của người nữ cán bộ dành cho anh. Vì vậy khi đi lao động, Đạo luôn luôn đi cuối hàng để dễ đón nhận nụ cười của cô nữ cán bộ. Đạo cũng cười đáp lễ với cô ta. Đạo bắt đầu thấy cuộc đời của mình, có một chút gì thi vị, đáng sống. Khi ăn, khi ngủ, nụ cười đó luôn luôn theo anh, cho anh niềm an ủi, và chút lạc quan để sống. Anh em trong đội đều biết mối tình mắt nhìn mắt và trao đổi nụ cười của Đạo và cô nữ cán bộ.

Không những Đạo nhớ đến nụ cười, anh còn nhớ đến đôi mắt như muốn nói với anh muôn ngàn lời, anh nhớ đến người con gái ấy. Ban đầu anh nghĩ rằng cứ giả bộ vui vẻ cho qua ngày. Nhưng trong tâm trí anh, luôn luôn nhớ đến cô gái ấy và anh nhận ra rằng anh đã yêu cô ta. Đạo nhớ lại ngày xưa Elvis Presley đã hát một bài hát nỗi tiếng là bài Don’t Gamble With Love nay thật đúng như trường hợp của Đạo. Bây giờ Đạo không còn cho rằng lao động là khổ sai nữa, mà anh trông chờ mỗi buổi sáng được đi ngang qua cỗng cơ quan, để đón nhận nụ cười của người nữ cán bộ.

Một buổi chiều khi đi lao động về,nghe các anh em Công Giáo tập hát bài “Đêm Đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời”, Đạo mới biết, đêm nay là đêm Noel. Khi cửa phòng giam đóng lại, anh em Công Giáo vội vã thiết trí một ngôi sao Giáng Sinh và hàng chữ “Mừng Chúa Giáng Sinh” ở vách tường cuối phòng. Họ nắm tay nhau ca hát, đọc kinh, cầu nguyện. Đạo nằm mơ màng, lơ đãng nhìn về cuối phòng, chung quanh hàng chữ “Mừng Chúa Giáng Sinh”, Đạo tưởng tượng như có những bóng đèn màu chớp sáng. Anh mơ hồ nghe như có tiếng nhạc bài Silent Night dịu dàng thoảng đi trong gió…Anh thiếp đi trong giấc ngủ yên lành.

Vào một buổi sáng chúa nhật, chúng tôi được gọi ra sân để nhận quà của thân nhân từ trong Nam gởi ra. Thường thì 80 đến 90 phần trăm anh em đều nhận được quà. Riêng Đạo thì chưa bao giờ nhận được quà của thân nhân. Nhưng thật bất ngờ, hôm nay cán bộ lại kêu tên Đạo lên nhận quà, ai cũng ngạc nhiên và mừng cho Đạo. Anh nhận một gói quà bình thường, nhưng cách gói quà, khác với những gói quà từ trong Nam gởi ra. Đạo sững sốt nhận gói quà, đem về phòng, cẩn thận mở ra. Một mãnh giấy nhỏ nằm trên những gói đồ ăn, anh đọc vội hàng chữ “Trìu mến gửi anh Đạo – Em : Kim Chi”. Với mấy chữ ngắn gọn đó, Đạo biết ai gởi cho anh món quà tình nghĩa này. Anh ôm gói quà vào lòng. Anh không ngờ người nữ cán bộ có nụ cười dễ thương đó, lại dám liều lĩnh gởi quà cho anh. Hai hàng nuớc mắt chảy dài xuống má, đây là những giọt nước mắt hạnh phúc mà từ lâu anh không hề có.

Trại Nam Hà, Phân trại C, nơi chúng tôi đang ở, phía sau là con đường làng. Trại chỉ ngăn cách với bên ngoài bởi những bụi tre thấp và hàng rào kẽm gai. Dân chúng đi ở ngoài, chúng tôi có thể thấy họ. Thường vào buổi chiều, sau khi ăn cơm xong , chúng tôi hay ra ngồi chơi ở sân sau đó, nhìn người qua lại. Một hôm, chúng tôi thấy cô cán bộ Chi đi lui, đi tới ở ngoài hàng rào, rồi thình lình quăng vào trong một cái gói nhỏ. Chúng tôi biết cô ấy gởi gì đó cho Đạo, chúng tôi mang vào cho anh. Đạo không biết Chi gởi gì cho anh, nhưng anh cảm động lắm. Anh em hiếu kỳ đứng quanh giường của của Đạo, để xem cô Chi đã gởi gì cho anh: đó là một gói xôi và một con gà vàng rộm. Đối với tù nhân, đói triền miên như chúng tôi, thì gói xôi gà này là cao lương mỹ vị bậc nhất trên thế gian này. Đạo rất hào phóng, anh chia đều xôi, gà cho tất cả 32 anh em trong đội, mỗi người được một muỗng xôi và chút ít thịt gà. Có người ăn ngay, nhưng cũng có vài anh em để đó, hít hít mùi thịt gà cho đỡ thèm.

Đạo thấy thương Chi quá, vì yêu anh, nàng đã gan liều làm những việc như vậy, vì nếu bị phát giác, nàng ở tù như chơi. Đạo càng thương Chi khi nghĩ đến tương lai : một cán bộ công an yêu một sĩ quan cảnh sát ngụy..thì đời nào có thể sum họp được. Anh thở dài !

Vào một sáng chúa nhật, một anh trật tự đến phòng chúng tôi, bảo anh Đạo chuẩn bị ra có người thăm nuôi. Chúng tôi rất ngạc nhiên, vì từ bao năm nay, Đạo thuộc diện con mồ côi, chưa hề có ai gởi quà cho Đạo, nói gì đến chuyện thăm nuôi.Thế mà hôm nay, lại có người thân nào đó đến thăm Đạo. Chúng tôi mừng cho Đạo. Khoảng 9 giờ sáng, anh được cán bộ dẫn ra nhà thăm nuôi. Chúng tôi hồi hộp chờ Đạo trở vào để xem anh nhận được những quà gì của thân nhân đem đến.

Nhưng chúng tôi chờ mãi…đã ba , bốn giờ chiều rồi, vẫn chưa thấy Đạo trở vô trại. Thường một trại viên được gặp mặt thân nhân khoảng 15, 20 phút, tối đa là nửa giờ. Thế mà , Đạo ra nhà thăm nuôi đã hơn bốn, năm tiếng rồi mà chưa thấy vô. Chúng tôi bắt đầu lo lắng cho Đạo, không biết chuyện gì đã xảy ra cho anh, lành hay dữ. Và từ đó, chúng tôi không còn biết tin tức gì về Đạo nữa.

Hôm nay gặp lại Đạo, tôi đem chuyện ấy ra hỏi Đạo, anh đã kể cho tôi nghe câu chuyện sau đây:

“ Anh nhớ không, ngày chúa nhật hôm đó, em được dẫn ra nhà thăm nuôi, nói là có thân nhân đến thăm. Em vô cùng ngạc nhiên vì em đâu có thân nhân nào từ trong Nam có thể ra thăm em. Bước vào nhà thăm nuôi, em thấy Chi và một ông Thượng Tá công an ngồi ở đó.Chi vội vã đứng lên giới thiệu : “Đây là cậu Du của Chi, đang công tác ở tỉnh Thái Bình, em nhờ cậu ấy đến thăm anh.” Đạo bối rối nhìn Chi, nhìn ánh mắt, nụ cười của Chi. Chi mặc đồ công an, trên cổ áo có đeo quân hàm Thiếu Úy. Chi biết Đạo ngỡ ngàng, thắc mắc nên cô nói ngay : “Anh đừng lo, em bảo anh làm gì thì cứ làm theo, chớ có hỏi han gì hết”. Chi dẫn Đạo vào một căn nhà ở gần nhà thăm nuôi, nhà không có ai cả. Chi bảo tôi cởi bộ áo quần tù ra, và mặc ngay bộ đồ công an đã để sẵn ở đó; ngoài áo quần, có cả nón, cặp da và giấy chứng nhận đi công tác miền Nam. Tôi như trên trời rớt xuống, nhưng không có thì giờ để hỏi Chi, việc gì đang xảy đến cho tôi. Khi tôi đã mặc xong bộ đồ công an, Chi nhìn tôi mỉm cười , rồi kéo tôi ra ngỏ, bảo tôi leo lên một chiếc xe Jeep nhà binh đậu sẵn ở đó, và chạy ra ga xe lửa Phủ Lý. Chi bảo tôi cứ ngồi trên xe, Chi vào mua vé xe lửa đi về Sàigòn.Khi đưa tôi lên xe lửa, Chi ân cần căn dặn: “Không nên về nhà, cũng đừng liên lạc với mẹ, mà tìm một người bà con nào đó ở tỉnh khác xin trú ngụ vài ngày, rồi tìm đường vượt biên. Tốt nhất là đi đường bộ qua ngã Campuchia”. Chi đưa cho tôi một gói giấy và nói: “Đây là ít tiền để anh tiêu dùng, nhớ là phải vượt biên ngay nhé!”. Chi cầm tay tôi và chân thành nói : “Em là vợ của anh, anh đừng quên em!”. Tôi ôm Chi vào lòng, nước mắt ràn rụa. Chi cũng khóc trên vai tôi. Xe lửa từ từ lăn bánh, hình ảnh Chi cô đơn đứng một mình trên sân ga, nhỏ dần, nhỏ dần.. Tôi thấy nhiều lần Chi đưa tay lên lau nước mắt. Trong tim tôi, mối tình mà Chi dành cho tôi quá sâu đậm, đã chiếm trọn cuộc đời tôi. Tôi vỗ vỗ vào trái tim của mình “Đạo, Đạo, mày phải sống xứng đáng để đền ơn đáp nghĩa cho Chi nghe chưa”

Khi xe lửa dừng lại ở ga Bình triệu, Sàigòn, tôi không về nhà tôi ở Vĩnh Long, mà đến nhà dì tôi ở Cần Thơ xin trú ngụ.Chồng của dì tôi là một Đại úy Công Binh Việt nam Cộng Hòa, trước năm 1975, ông phục vụ ở Tiểu Đoàn 24 Công Binh Kiến tạo, mới được trả tự do. Gia đình dì, dượng tôi đang âm thầm chuẩn bị vượt biên. Dì, dượng tôi vui vẻ chấp thuận cho tôi cùng đi theo. Tôi đã đưa gói tiền mà Chi trao cho tôi, cho dì tôi để bà tiêu dùng. Mở gói ra xem, dì bảo tôi : “Tiền đâu mà cháu có nhiều vậy?” Tôi trả lời ngay : “Của vợ con cho đó!”

Vào một đêm tối trời, ghe máy chở cả nhà ra cữa biển Đại Ngãi, vì tàu lớn đang đậu ở đó. Sau 3 ngày và 4 đêm, tàu của chúng tôi đã đến hải phận Thái Lan, được tàu tuần duyên của Thái Lan đưa về trại Sikiew. Trong cuộc phỏng vấn thanh lọc, nhân viên Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc hỏi tôi rất ít. Tôi nghĩ là họ có đầy đủ hồ sơ cá nhân của ngành Cảnh Sát Đặc Biệt. Họ chỉ hỏi tôi là làm Trưởng G hay Trưởng H, tôi trả lời. Người nhân viên đó lấy trong tập hồ sơ ra một tấm ảnh, anh nhìn tôi rồi gật đầu.Thế là tôi vượt qua cuộc thanh lọc. Mấy tháng sau, họ chuyển tôi qua trại Pulau Bidong ở Mã Lai, để chờ chuyến bay đi định cư ở Mỹ.

Tôi mau chóng gởi thư cho má tôi ở Vĩnh Long, báo tin tôi đã bình yên đến trại Pulau Bidong ở Mã Lai, đang chờ chuyến bay để đi định cư ở Mỹ. Khoảng 2 tuần sau, tôi vui mừng nhận được thư hồi âm của má tôi, và một bất ngờ thú vị đến với tôi là có cả thư của Chi nữa! Má tôi đã viết cho tôi : “Đạo con, má rất vui mừng nhận được tin con đã đến nơi bình yên. Má cho con biết là Chi đang ở đây với má. Chi đã kể cho má nghe hết mọi chuyện. Má rất hạnh phúc có được một con dâu hiếu thảo như Chi, má mừng cho con”

Đạo run run mở thư của Chi ra đọc: “ Anh Đạo yêu quí của em, nghe anh đã đến đảo và đang chờ chuyến bay để đi Mỹ, má và em mừng quá anh ơi. Khi anh đi về Nam chưa đầy một tháng, họ đuổi em ra khỏi ngành công an. Em đã về Vĩnh Long ở với má, em thay anh phụng dưỡng, săn sóc má, anh yên tâm ! “

Với lời lẽ chân tình, mộc mạc, tôi uống từng chữ, từng lời trong bức thư ngắn gọn của Chi, tôi áp bức thư vào ngực và đi vào giấc ngủ.

Năm 1982, tôi được đi định cư ở Mỹ. Khi có thẻ xanh, tôi đã làm hồ sơ bảo lãnh Chi. Trong thời gian ở với má tôi ở Vĩnh Long, không biết Chi hỏi thủ tục bảo lãnh ở đâu mà nàng ra Thái Bình, nhờ người cậu Thượng Tá Công An của nàng, làm một giấy hôn thú của tôi và Chi, có đầy đủ chữ ký và khuôn dấu đỏ xác nhận của chính quyền địa phương.

Năm 1987 khi tôi được nhập quốc tịch Mỹ, tôi đã bổ túc hồ sơ bảo lãnh. Chi đã nhanh chóng được phỏng vấn. Lúc này, những trường hợp gian dối chưa xảy ra nhiều, nên việc chấp thuận cho chồng bảo lãnh vợ tương đối dễ dàng nếu có đầy đủ giấy tờ chứng minh.

Vào một ngày se lạnh ở miền Nam Cali, tôi và vài bạn bè thân quen đến đón Chi ở phi trường Los Angeles. Tôi ôm Chi vào lòng, vì quá cảm động, tôi chỉ thốt lên được một tiếng “Em!” Chi cũng vậy, nàng thổn thức trên vai tôi “Anh!”. Chỉ 2 tiếng “Anh” “Em”, nhưng đã gói trọn cuộc tình mà chúng tôi nghĩ là không bao giờ có thể sum họp được. Tạ ơn Trời Đất !

Đạo xây qua người đàn bà ngồi bên cạnh anh, và giới thiệu với tôi : “Thưa anh, đây là Chi, vợ em” Chi bẽn lẽn cúi đầu, che dấu nụ cười đã đem lại sức sống và hạnh phúc cho Đạo.

Tôi đã được nghe , được biết nhiều mối tình ly kỳ, éo le lắm. Nhưng nếu nói đến một mối tình thật lãng mạn, mà người con gái đã dám hy sinh sự nghiệp và cả tính mạng mình cho người yêu, thì không thể không nói đến mối tình của nàng Kim Chi và chàng Trung Đạo.

Bửu Uyển

Người mù thắp đèn

  Người mù thắp đèn

Trong màn đêm tối đen như mực, có một vị tăng nhân tu khổ hạnh bôn ba nghìn dặm tìm Phật, đến một ngôi làng hoang vắng, trên đường xá tối đen như mực, người dân trong làng đang đi đi lại lại rất tấp nập. 

Khổ hạnh tăng đi đến một con hẻm nhỏ, ông trông thấy một chiếc đèn lồng sáng choang, từ nơi sâu thẳm trong một con hẻm vắng lặng, từ từ chiếu rọi qua đây. Một người trong thôn la lên: “Thằng mù đến rồi kìa!”.

“Mù ư?”, khổ hạnh tăng sửng sốt, ông hỏi một thôn dân bên cạnh : “Người xách chiếc lồng đèn kia có thật là bị mù không?”. Người đàn ông gật đầu khẳng định. 

Vị tăng nhân khổ hạnh nghĩ mãi nhưng vẫn nghĩ không ra, một người đã bị mù cả hai mắt, anh ta vốn dĩ không có khái niệm ngày hay đêm, anh không nhìn thấy sông chảy từ núi cao, cũng không được xem phong cảnh hữu tình cùng vạn sự vạn vật trên thế gian, thậm chí anh còn không biết ánh đèn là như thế nào, vậy anh ta xách theo chiếc đèn lồng, không phải khiến người ta cười chê sao? 

Chiếc đèn lồng đó càng lúc càng đến gần, ánh đèn sáng choang, từ từ trong con hẻm tiến đến, chiếu sáng lên đôi giày của vị tăng nhân. Vị tăng nhân nghĩ mãi nhưng vẫn nghĩ không ra, nên bèn hỏi: “Dám hỏi thí chủ, cậu có thật là một người mù không?”. 

Chàng trai mù xách theo ngọn đèn lồng trả lời: “Đúng vậy, từ khi đến thế gian này, hai mắt tôi đã không trông thấy gì nữa”. 

Vị tăng nhân hỏi: “Nếu cậu đã không trông thấy gì cả, vậy tại sao lại xách theo chiếc đèn lồng?”. 

Chàng trai mù đáp: “Bây giờ là buổi tối phải không? Tôi nghe nói, trong màn đêm mà không có ánh đèn chiếu sáng, vậy thì mọi người trên thế gian này cũng đều sẽ giống như tôi, không trông thấy gì cả, vậy nên tôi đã thắp một ngọn đèn”.

 Vị tăng nhân dường như có phần hiểu ra, nói: “Thì ra cậu là vì muốn chiếu sáng cho những người khác?”. Thế nhưng, chàng trai mù lại nói: “Không, tôi là vì chính mình”. “Vì chính cậu ư?”, vị tăng nhân lại càng sửng sốt.

Chàng trai mù chậm rãi nói: “Ông có bao giờ đi trong đêm tối, mà bị những người đi đường khác đụng phải chưa?”.

Vị tăng nhân nói: “Đúng vậy, cũng như lúc nãy, tôi không có để ý nên đã bị hai người khác đụng phải“.

Chàng trai mù nghe xong, trầm lặng nói: “Nhưng tôi thì lại không bị, tuy tôi là kẻ mù, cái gì tôi cũng không trông thấy, nhưng tôi xách theo chiếc đèn lồng này, vừa để soi sáng đường cho những người khác, nhưng quan trọng hơn là để người khác trông thấy tôi. Như vậy, họ sẽ không vì không trông thấy mà đụng phải tôi.

 Khổ hạnh tăng nghe xong, lập tức ngộ ra. Ông ngửa mặt lên trời thở dài, nói: “Ta đã đi khắp chân trời góc biển, bôn ba nghìn dặm tìm Phật, thật không ngờ rằng Phật đang ở bên cạnh ta. Thì ra, Phật tính cũng giống như một ngọn đèn, chỉ cần ta thắp sáng nó, dù cho ta không nhìn thấy Phật, thì Phật cũng sẽ nhìn thấy ta thôi!”.

 Thế nên, vì người khác, hãy thắp sáng ngọn đèn sinh-mệnh của chính mình!   Như vậy, trong bóng đêm của đời người, chúng ta mới có thể tìm thấy bình-an và sự chói-lọi của chính mình

From: Tu-Phung

 CUỘC SỐNG CHỈ LÀ MỘT CƠ HỘI NGẮN NGỦI

 CUỘC SỐNG CHỈ LÀ MỘT CƠ HỘI NGẮN NGỦI

“Sao con thấy cái rác trong mắt anh em, mà không thấy cái đà trong mắt mình!”.
Nói đến sự điên rồ khi phán xét người khác, H. A. Ironside kể về một sự cố trong đời của một người có tên là Potter. “Ông ấy đi Âu châu trên một con tàu lớn; vào khoang của mình, ông còn thấy một người khác ở đó. Sau một hồi, ông tìm nhân viên, nhờ giữ hộ chiếc đồng hồ vàng và các vật giá trị khác trong két an toàn. Ông giải thích, “Nhìn ngoại hình người kia, tôi e rằng, anh ta không phải là người tốt”. Nhân viên nói, “Không sao đâu, thưa Đức Cha, tôi rất vui khi được chăm sóc chúng cho ngài. Người kia cũng vừa đến đây, gửi một số đồ, vì lý do tương tự!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Câu chuyện xót xa trên và Lời Chúa hôm nay tiết lộ một sự thật, đó là xu hướng nhìn thấy những lỗi lầm ở người khác mà bản thân chúng ta có thể mắc phải; đang khi ‘cuộc sống chỉ là một cơ hội ngắn ngủi’ để trưởng thành trong sự thánh thiện, và giúp người khác sống thánh thiện! Chúa Giêsu nói, “Sao con thấy cái rác trong mắt anh em, mà không thấy cái đà trong mắt mình!”.

Đánh giá người khác đôi khi là trò tiêu khiển yêu thích của loài người! Thật dễ dàng để nhận ra lỗi lầm của người khác; điều đó có thể làm cho một người cảm thấy vượt trội! Tuy nhiên, tập trung vào lỗi lầm của người khác thường có thể khiến chúng ta mất tập trung khỏi những sai lỗi của mình. Tôi thường phàn nàn về điều gì và có thể phạm cùng một lỗi nào đó như người khác?

Chúa Giêsu không ngăn cản chúng ta tìm cách giúp người khác. Thực ra, việc sửa dạy là một hình thức bác ái, nếu, một chữ “nếu” rất lớn, được thực hiện một cách thánh thiện! Thật vậy, hướng dẫn những người không hiểu biết là một công việc thiêng liêng của lòng thương xót! Thật không may, vì lý do ‘trịch thượng’, chúng ta thường ‘lạnh lùng’ giữ im lặng và những người khác vẫn chìm trong tội lỗi. Chúa Giêsu không khuyến khích chúng ta thờ ơ khi đối mặt với lỗi lầm của người thân. Đối lập của tình yêu không phải là hận thù, mà là sự thờ ơ! Tôi có ngại hướng dẫn những người Chúa giao phó cho tôi, nhất là những người vốn sẽ ngạc nhiên khi lần đầu tiên trong đời có một ai đó nói cho họ sự thật về một ‘văn hoá xấu’ nào đó? Hay tôi cố im lặng để ‘giữ hoà khí’ để rồi, mặc cho người thân sống trong u minh với các tính hư nết xấu vốn đã hình thành một ‘nếp nhân cách?’. Đừng quên, ngày Phán Xét, mỗi người sẽ phải trả lẽ trước Chúa về tội thờ ơ; cuộc sống ngắn ngủi còn là cơ hội để giúp người khác sống thánh thiện!

Bài đọc Các Vua hôm nay cho thấy một sự trùng hợp thú vị, khi Thiên Chúa cũng trải nghiệm điều đó như chúng ta. Israel chạy theo tà thần, và Chúa đã cho họ các cơ hội, “Ngài dùng các tiên tri, các vị tiên kiến mà khuyến cáo Israel và Giuđa, ‘Các ngươi hãy cải tà quy chính!’. Nhưng họ không nghe; cứ cứng đầu cứng cổ như cha ông”. Và “Chúa đã nổi cơn thịnh nộ với Israel, đuổi họ khuất nhan thánh; chỉ còn lại chi tộc Giuđa”. Trong cơn cùng khốn, Israel thưa lên, “Lạy Chúa, xin ra tay cứu độ và đáp lời chúng con!”; đó cũng là tâm tình của Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

“Sao con thấy cái rác trong mắt anh em, mà không thấy cái đà trong mắt mình!”.

Thiên Chúa kêu gọi chúng ta để nên thánh; những gì chúng ta làm hôm nay quyết định phần thưởng hoặc hình phạt vĩnh viễn mai ngày. Đó là lý do tại sao chúng ta phải đề phòng việc ngày càng quen lờn với lỗi lầm bản thân, đang khi lại khắt khe với anh chị em mình. Chúa không muốn chúng ta trở nên tầm thường, Ngài muốn chúng ta đấu tranh chống lại những điểm yếu của mình; sau đó, cầu nguyện, hy sinh, để giúp người khác nhận ra điểm yếu của họ. Cầu nguyện, phải, đừng quên cầu nguyện! Cách tốt nhất để loại bỏ một thói quen xấu là hình thành một thói quen tốt, thói quen nghĩ tốt cho người khác; và cách tốt nhất để giúp người khác nên tốt không chỉ là khuyên bảo nhưng còn là hy sinh, cầu nguyện và làm gương! Bởi lẽ, ‘cuộc sống chỉ là một cơ hội ngắn ngủi’ để trưởng thành trong sự thánh thiện, và giúp người khác sống thánh thiện!
Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giúp con trung thực nhận ra lỗi lầm của mình; để nhờ ơn Chúa, con được biến đổi. Từ đó, con có thể giúp người khác bằng gương sáng và lời cầu nguyện của con!”, Amen. 

From: KimBang Nguyen

Gần 60% dân Mỹ: Nên truy tố Trump vì cuộc bạo loạn 6 Tháng Giêng

Gần 60% dân Mỹ: Nên truy tố Trump vì cuộc bạo loạn 6 Tháng Giêng

June 20, 2022 

Nguoi-viet

WASHINGTON, DC (NV) — Gần 60% dân Mỹ tin rằng cựu Tổng Thống Donald Trump nên bị truy tố vì vai trò trong cuộc bạo loạn 6 Tháng Giêng, theo ABC News trích dẫn thăm dò mới nhất của ABC News/Ipos, trong bối cảnh tuần đầu tiên của các phiên điều trần từ ủy ban Hạ Viện 6 Tháng Giêng vừa kết thúc.

Trong khảo sát công bố hôm Chủ Nhật, 19 Tháng Sáu, có khoảng 58% người Mỹ tin rằng ông Trump nên bị kết tội vì vai trò trong cuộc bạo loạn. Tỷ lệ này tăng hơn một chút so với con số 52% hồi cuối Tháng Tư, trước khi các phiên điều trần bắt đầu.

Một cuộc điều trần của ủy ban Hạ Viện điều tra vụ bạo loạn 6 Tháng Giêng. (Hình minh họa: Tom Brenner-Pool/Getty Images)

Một cuộc thăm dò của ABC News/Washington Post với câu hỏi tương tự vài ngày sau cuộc tấn công vào Tháng Giêng 2021 cho thấy con số ủng hộ kết tội ông Trump là 54%.

Thái độ đối với việc liệu người Mỹ nghĩ như thế nào về trách nhiệm của ông Trump trong cuộc bạo loạn cũng không có nhiều thay đổi.

Trong thăm dò mới của ABC News/Ipsos, 58% người Mỹ nghĩ rằng ông Trump cần chịu trách nhiệm lớn trong vụ này.

Kết quả này không khác mấy so với thăm dò của ABC News/Ipsos vào Tháng Mười Hai 2021 và thăm dò của ABC News/Washington Post vào Tháng Giêng 2021 sau khi bạo loạn xảy ra.

Kết quả thăm dò cho thấy phân cực khá rõ giữa hai đảng, khi có đến 91% người của đảng Dân Chủ nghĩ rằng ông Trump nên bị truy tố, còn đảng Cộng Hòa chỉ có 19%. Về việc liệu ông Trump có cần “chịu trách nhiệm lớn” trong cuộc bạo loạn hay không, con số đồng ý của đảng Dân Chủ và đảng Cộng Hòa lần lượt là 91% và 21%.

Với những người tự miêu tả bản thân là độc lập, thì 62% nghĩ rằng ông Trump nên bị truy tố và 61% nghĩ rằng ông Trump phải chịu trách nhiệm lớn.

Thăm dò của ABC News/Ipsos được thực hiện sau khi ủy ban Hạ Viện tổ chức phiên điều trần thứ ba trong bảy phiên điều trần được loan báo trong tháng này. Trong đó ủy ban nói về “kế hoạch bảy bước tinh vi” mà ông Trump và đội nhóm soạn ra để lật ngược kết quả bầu cử tổng thống 2020.

Hôm Thứ Sáu, 17 Tháng Sáu, ông Trump chỉ trích phiên điều trần, gọi ủy ban là “những kẻ lừa đảo,” đồng thời vẫn đưa ra những tuyên bố sai lệch về cuộc bầu cử năm 2020.

Nhìn chung, theo thăm dò của ABC News/Ipsos, 60% người Mỹ tin rằng ủy ban đang thực hiện điều tra một cách công bằng và khách quan, trong khi 38% không nghĩ như vậy. Về vấn đề này cách nhìn nhận của hai đảng cũng khác nhau. 85% người của đảng Dân Chủ tin rằng cuộc điều tra là công bằng và khách quan, còn đảng Cộng Hòa chỉ 31%. Tỷ lệ của những người trung lập rơi vào khoảng 63%.

Trong khi đó, 34% người Mỹ cho biết họ sẽ theo dõi sát sao phiên điều trần, trong đó tỷ lệ đảng Dân Chủ là 43% và đảng Cộng Hòa là 22%.

Về việc liệu các điều tra có ảnh hưởng đến bầu cử hay không, 51% người Mỹ nói rằng những gì họ được đọc, xem và nghe về phiên điều trần không gây ảnh hưởng đến quyết định bầu cử của họ vào Tháng Mười Một. Trong khi đó 29% cho biết họ sẽ ủng hộ ứng viên đảng Dân Chủ nhiều hơn và 19% cho biết sẽ ủng hộ ứng viên đảng Cộng Hòa nhiều hơn.

Ủy ban Hạ Viện điều tra vụ bạo loạn 6 Tháng Giêng do Dân Biểu Bennie Thompson (Dân Chủ – Mississippi) và Dân Biểu Liz Cheney (Cộng Hòa – Wyoming) lãnh đạo. Họ đang tổng kết cuộc điều tra kéo dài 11 tháng về cuộc bạo loạn này. Cho đến nay các phiên điều trần tập trung vào cách ông Trump thúc đẩy “dối trá lớn” về cuộc bầu cử 2020, và các áp lực lên ông Mike Pence, phó tổng thống khi đó.

Ủy ban cũng công bố những cảnh quay chưa từng thấy về cuộc bạo loạn và cuộc phỏng vấn với giới chức chính quyền ông Trump và những cựu viên chức Tòa Bạch Ốc. (V.Giang) 

Ủy ban điều tra 6 Tháng Giêng nhắm đến Mike Pence và Ginni Thomas

Ủy ban điều tra 6 Tháng Giêng nhắm đến Mike Pence và Ginni Thomas

June 20, 2022

Nguoi-Viet

WASHINGTON, DC (NV) — Ủy ban Hạ Viện điều tra vụ bạo loạn 6 Tháng Giêng hôm Chủ Nhật,19 Tháng Sáu, cho biết họ có thể gửi giấy đòi đến cựu Phó Tổng Thống Mike Pence và đang chờ sự trả lời từ bà Virginia “Ginni” Thomas, vợ của thẩm phán Tối Cao Pháp Viện Clarence Thomas, về vai trò của bà trong âm mưu chống lại cuộc bầu cử năm 2020, theo AP.

Các nhà lập pháp cho biết họ sẽ đưa ra thêm bằng chứng cho thấy cựu Tổng Thống Donald Trump đã lừa đảo những người ủng hộ bằng cách gây quỹ dựa trên những tuyên bố sai lệch liên quan đến cuộc bầu cử. Họ cũng cam kết sẽ cung cấp tài liệu quan trọng cho Bộ Tư Pháp vào cuối tháng này để tiến hành công tác điều tra.

Cựu Phó Tổng Thống Mike Pence. (Hình minh họa: Zach Gibson/Getty Images)

Hồi tuần trước, Bộ Tư Pháp gửi một bức thư phàn nàn rằng Ủy ban Hạ Viện đã tạo khó khăn cho cuộc điều tra khi từ chối chia sẻ lời khai từ 1,000 cuộc thẩm vấn của họ.

Dân Biểu Adam Schiff (Dân Chủ-California) cho biết: “Chúng tôi không loại bỏ bất cứ khả năng nào về các nhân chứng chưa ra điều trần. Chúng tôi vẫn muốn có một số người nổi tiếng đến trình diện trước ủy ban của chúng tôi.”

Ủy ban đã ghi lại hầu hết những gì ông Trump đã nói trong cuộc gọi với ông Pence vào sáng ngày 6 Tháng Giêng năm 2021. Theo đó, cựu tổng thống đã yêu cầu ông Pence không công nhận chiến thắng của đối thủ Joe Biden khi ông Pence chủ tọa cuộc kiểm phiếu tại Quốc Hội. Tuy nhiên, các thành viên ủy ban vẫn chưa ghi lại trực tiếp những gì ông Pence trả lời cho ông Trump.

Dân Biểu Bennie Thompson (Dân Chủ-Mississippi), chủ tịch Ủy ban, gần đây tiết lộ họ vẫn đang thảo luận với các luật sư của ông Pence, đồng thời cho biết cựu phó tổng thống có thể không phải xuất hiện vì sẽ có lời khai từ nhiều phụ tá thân cận của ông.

Các thành viên của ủy ban cũng hy vọng sẽ tìm hiểu thêm về nỗ lực của bà Ginni Thomas trong việc giữ ông Trump tại vị và những xung đột lợi ích tiềm ẩn đặt ra đối với chồng bà do hậu quả của các vụ kiện ngày 6 Tháng Giêng trước Tối Cao Pháp Viện.

Dân biểu tiểu bang Arizona Rusty Bowers, người thuộc đảng Cộng Hòa, và cũng là chủ tịch Hạ Viện Arizona, dự trù sẽ có cuộc điều trần vào ngày 21 Tháng Sáu, tập trung vào các viên chức tiểu bang đã được ông Trump và Tòa Bạch Ốc liên lạc. Ông Bowers nhiều phần sẽ được hỏi về những email mà ông nhận được từ bà Thomas, thúc giục ông và các giới chức tiểu bang khác bác bỏ chiến thắng năm 2020 của Tổng Thống Biden.

“Chúng tôi có câu hỏi cho cả hai người này,” Dân Biểu Zoe Lofgren (Dân Chủ-California), nói.

Bên cạnh gửi email cho giới chức Arizona, bà Thomas, cũng viết thư cho ông Mark Meadows, chánh văn phòng Tòa Bạch Ốc lúc bấy giờ, trong những tuần sau cuộc bầu cử. Các email mà Ủy ban thu được gần đây cũng cho thấy bà Thomas đã liên lạc qua email với luật sư John Eastman, người đại diện cho ông Trump để liên lạc và thuyết phục ông Pence. (V.Giang)

Bộ Phim: Giải phóng một đại lục: Gioan Phaolô II và sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản

Nhật Duy is with Ulitmate Quạt

Bộ Phim: Giải phóng một đại lục: Gioan Phaolô II và sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản

“Liberating a Continent: John Paul II and the Fall of Communism – Giải phóng một đại lục: Gioan Phaolô II và sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản” là tiêu đề bộ phim tài liệu mới về Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đang được trình chiếu tại Hoa Kỳ.

Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II qua đời vào ngày 2/4/2005. Trong thánh lễ an táng của ngài có hàng trăm nguyên thủ quốc gia và có khoảng 4 triệu người đã tuôn về Roma để tiễn biệt ngài lần cuối. Đông đảo tín hữu tham dự thánh lễ đó đã hô vang: “Santo subito- phong thánh ngay lập tức.” Sau đó, tiến trình hồ sơ phong thánh cho ngài được tiến triển tốt đẹp. Vào ngày 19/12/ 2009, Đức Bênêdictô XVI đã ký sắc lệnh tuyên bố ngài là bậc đáng kính và ngày 1/5/2011 Đức Gioan Phaolô II đã được phong lên hàng chân phước. Ngày 27/4/2014, Đức Phanxicô đã nâng ngài lên bậc hiển thánh. Bộ phim tư liệu mới này sẽ giúp thế hệ trẻ hiểu biết thêm về con người vĩ đại- Đức Gioan Phaolô II.

Bộ phim “Giải phóng một đại lục: Gioan Phaolô II và sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản” được tường thuật bởi Jim Caviezel, người đóng vai Chúa Giêsu trong bộ phim “Cuộc khổ nạn của Chúa Kitô” do Mel Gibson đạo diễn. Bộ phim đã phóng vấn rất nhiều nhân vật quan trọng bao gồm Đức Hồng Y Stanislaw tổng giám mục Krakow, nguyên thư ký riêng của Đức Gioan Phaolô II, Hanna Suchocka thủ tướng Ba Lan từ 1992-1993, Richard Allen cố vấn an ninh quốc gia Hoa Kỳ thời tổng thống Reagan từ 1981-1982, cùng các sử gia, chính trị gia, nhà báo, các giáo sư.

Bộ phim tư liệu này đã lột tả vai trò quan trọng của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong việc giải phóng cả một đại lục rộng lớn tại Châu Âu. Theo David Naglieri, người viết kịch bản và đạo diễn bộ phim nói với CNA rằng: “Sự khác biệt bộ phim của chúng tôi và các tác phẩm cùng loại trong quá khứ ở chỗ chúng tôi nhìn toàn cảnh cục diện của Trung Tâm và miền Đông Âu và sứ điệp của ngài không những lay động riêng Ba Lan mà cả các quốc gia khác nữa.”

Cuộc đời của Đức Gioan Phaolô II từ thời thơ ấu đến khi làm linh mục, giám mục, Hồng Y và sau đó là Giáo Hoàng cũng được đề cập trong bộ phim. Lời hiệu triệu của ngài khi khởi đầu sứ vụ Giáo Hoàng, “đừng sợ- hãy mở cửa cho Chúa Kiô”, đã làm xúc động trái tim thế giới.

Nhiều chứng nhân được phóng vấn đã kể lại các cuộc trở về quê hương Ba Lan của Đức Gioan Phaolô II, các hoạt động công khai hay âm thầm của ngài nhằm thúc đẩy việc sụp đổ chế độ cộng sản tại Ba Lan, Liên Xô và Đông Âu. Cuộc trở về Ba Lan lần thứ nhất với 9 ngày vào năm 1979 là điểm đặc biệt. Đức Hồng Y Stanislaw đã nhận định cuôc trở về quê hương lần này của Đức Gioan Phaolô II là khởi đầu cho sự sụp đổ chế độ cộng sản tại Balan và làm thay đổi thế giới:“ Không có gì nghi ngờ, bạn có thể nói rằng mọi sự bắt đầu từ đó.” Trong dịp này, Đức Gioan Phaolô II khẩn khoản mời gọi dân chúng Ba Lan hãy can đảm và ngài ngỏ lời: “Hãy để Chúa Thánh Thần ngự đến! xin người canh tân bộ mặt trái đất, canh tân bộ mặt miền đất này.”

Suốt hơn 26 năm can đảm lên tiếng bảo vệ phẩm giá và quyền con người trong triều đại Giáo Hoàng của Đức Gioan Phaolô II đã được tường thuật trong bộ phim. Mặc dù đã thành mục tiêu tấn công và bị bắn tại quảng trường Roma vào ngày 13/5/1981 ý chí của ngài không giảm trong việc giúp giải phóng Ba Lan, Liên Xô và các nước Đông Âu thoát khỏi chế độ cộng sản.

Bộ phim tư liệu này là một tin vui cho mọi người hiểu biết hơn về Đức Gioan Phaolô II. Đặc biệt cuộc đời và sứ vụ giáo hoàng của ngài có một ý nghĩa trổi vượt đối với quê hương và dân tộc Việt Nam. Với tư liệu dồi dào trong bộ phim, nó sẽ đem lại những giá trị thiêng liêng và khuyến khích người Việt noi gương Đức Gioan Phaolô II để cống hiến những khả năng của mình cho sự tự do của dân tộc.

Nếu bạn quan tâm: Bộ phim tài liệu “Liberating a Continent: John Paul II and the Fall of Communism” đang được phát sóng trên truyền hình PBS trong tháng sáu này tại Hoa Kỳ. Để biết thêm thông tin về lịch trình chiếu hoặc để mua DVD bộ phim, ghé thăm: https://jp2film.com

Tâm thế thấp thì vị thế thấp

Tâm thế thấp thì vị thế thấp

Bởi  AdminTD

Nguyễn Ngọc Chu

20-6-2022

1. QUAN HỆ GIỮA CÁC QUỐC GIA KHÔNG PHẢI LÀ QUAN HỆ ANH EM

Không nhớ năm chính xác. Nhưng bắt đầu ở thập niên 50 của thế kỷ 20, không biết xuất phát từ đâu, lại khoác cho Liên Xô là “anh cả”, Trung Quốc là “anh hai”, tự nhận VNDCCH là “em”.

Nếu biện minh rằng đó là cách ví von, thì đó là cách ví von không đúng, hơn nữa rất có hại.

Bởi vì quan hệ bang giao giữa các nước, có thể bị cai trị, bị phụ thuộc, là chư hầu, phải cống nạp… nhưng không bao giờ là quan hệ “anh em”.

Bởi vì khi gọi quốc gia nào đó là “anh cả”, “anh hai” thì mình là “em út”, phải khép nép, thậm chí cam chịu bị “mắng mỏ”. Tức là tự mình đặt mình vào vị thế thấp kém, rất có hại trong bang giao.

Mỹ là nước lớn, mạnh, đứng đầu NATO. Nhưng các quốc gia có diện tích và dân số bé hơn trong NATO không gọi Mỹ là “anh cả”, cũng không gọi Anh hay Pháp hay Đức là “anh hai”.

Tự nhận Việt Nam ở thế “em” của Liên Xô, Trung Quốc đã là điều phi lý, còn phi lý hơn khi có người gán cho Ukraine là “em” của Nga. Rồi cho rằng “anh” có quyền “dạy bảo” “em”.

Nga và Ukraine là hai dân tộc khác nhau. Không có “anh em” trong quan hệ các dân tộc. Dù lớn hay bé, mạnh hay yếu, các dân tộc đều bình đẳng. Và nên nhớ rằng tư duy của người châu Âu không giống tư duy của một số người ở Việt Nam. Người Ukraine, người Phần Lan… dẫu có thời kỳ là thuộc địa của Đế quốc Nga, nhưng chưa bao giờ tự nhận là “em” của người Nga. Lấy tâm thế của mình để gán cho tâm thế của người khác là một vi phạm tiên đề.

2. QUAN HỆ ĐẢNG PHÁI CŨNG KHÔNG PHẢI LÀ QUAN HỆ ANH EM

Tương tự như vậy là quan hệ đảng phái. Đảng phái là các tổ chức chính trị. Trong một quốc gia, quan hệ giữ các tổ chức chính trị bình đẳng, tuân theo pháp luật của quốc gia. Trong quan hệ quốc tế, quan hệ của các tổ chức chính trị cũng bình đẳng, tuân theo luật pháp quốc tế. Quan hệ giữa các đảng phái, các tổ chức chính trị không phải là quan hệ “anh em”.

Dẫu cho rằng đó là cách nói, cách viết mang tính tượng trưng, thì đó vẫn là cách nói, cách viết sai, và có hại. Có hại vì nó dẫn đến ngôi thứ. Bỗng đảng nào đó nghiễm nhiên là “đảng anh”, và đảng nào đó lại phải chịu vị thế là “đảng em”. Rất bất lợi trong bang giao.

Cách dùng “đảng anh em” chỉ tồn tại trong khối XHCN trước đây và trong các đảng theo xu hướng “phong trào cộng sản quốc tế”. Ở các nước phát triển, chắc không ai dùng từ “đảng anh em”. Chẳng hạn, ở Hoa Kỳ, có ai gọi đảng dân chủ và đảng cộng hoà là đảng anh em không?

Thiết nghĩ, cách dùng “đảng anh em” trong tiếng Việt tồn tại mấy chục năm nay nên thay đổi. Nên thay đổi vì nó phản ánh không đúng bản chất quan hệ giữa các đảng. Nên thay đổi vì đó là cách dùng không đúng. Nên thay đổi vì nó dẫn đến những bất lợi trong quan hệ quốc tế.

3. TÂM THẾ THẤP THÌ VỊ THẾ THẤP

“Biết người biết ta” khác với “tâm thế thấp”. “Khiêm tốn” khác với “tâm thế thấp”. “Tâm thế thấp” thì “vị thế thấp”.

4. PHẢI DẠY CHO TRẺ EM TÂM THẾ BÌNH ĐẲNG

Nói những điều trên là để đi đến mục đích dưới đây.

Cho nên, phải dạy cho trẻ em Việt Nam TÂM THẾ BÌNH ĐẲNG. Trong quan hệ quốc tế, giữa các quốc gia, dân tộc, đảng phái – dù lớn hay bé, dù mạnh hay yếu – phải bình đẳng. Trong quan hệ công việc và cá nhân – dù chức vụ cao hay thấp, dù giàu hay nghèo, dù nổi danh hay chưa nổi danh – phải bình đẳng.

Khi có TÂM THẾ BÌNH ĐẲNG thì chưa mạnh sẽ mạnh, chưa nổi danh sẽ nổi danh. Khi có TÂM THẾ BÌNH ĐẲNG thì đối ngoại không làm tổn hại đến quốc gia, đối nội không gây nên thù oán.

Có TÂM THẾ BÌNH ĐẲNG thì có VỊ THẾ BÌNH ĐẲNG.

“Đức hạnh và uy tín của người cha là di sản quý giá nhất của người con.”

“Đức hạnh và uy tín của người cha là di sản quý giá nhất của người con.”

Chúc bình an đến bạn và gia đình. Ông Roger Bacon nói: “Đức hạnh và uy tín của người cha là di sản quý giá nhất của người con.” Hãy tiếp tục cầu nguyện cho các người cha trong gia đình nhé.

Cha Vương

Thứ 2: 20/06/2022

TIN MỪNG:  Như người cha chạnh lòng thương con cái, CHÚA cũng chạnh lòng thương kẻ kính tôn. (Tv 103:13)

Quà tặng thứ 2 cho người cha yêu quý: Thánh Giuse, vị gia trưởng tuyệt vời

SUY NIỆM: Có thể nói, nơi thánh Giuse hội đủ mọi nhân đức. Phúc âm đã khen Ngài là Đấng công bình, chính trực. Thiên Chúa trao phó cho Ngài làm chủ thánh gia, làm bạn trăm năm Đức Mẹ. Chức vụ càng lớn thì ân sủng Chúa ban xuống cho Ngài càng nhiều. Hơn nữa, sự tiếp xúc thân mật hàng ngày với Chúa Giêsu và Đức Mẹ là một nguồn tăng trưởng thánh đức liên tục cho Ngài, giúp Ngài trở thành một gia trưởng đạo hạnh. Trải qua bao sóng gió, gian nguy, nhưng với niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa, Ngài đã gìn giữ thánh gia thất được bình an, hạnh phúc.

CẦU NGUYỆN: Lạy Thánh Giuse, vị gia trưởng tuyệt vời! Xin cho các gia trưởng trong gia đình luôn biết lắng nghe Lời Chúa, biết phân định và làm theo Thánh ý Chúa, để đời sống của họ là gương sáng cho gia đình: yêu thương và trách nhiệm. Xin Cha thương nâng đỡ những gia đình nghèo khó, giải gỡ những khúc mắc cho các gia đình đang đau khổ vì mâu thuẫn, bất hòa và đang đứng trước nguy cơ tan vỡ. Lạy Thánh Giuse hiển vinh, xin giúp chúng con luôn khôn ngoan và can đảm, biết phân định và làm theo Thánh ý Chúa. Chúng con kêu cầu Thánh Giuse trong tuần cửu nhật này, lại xin ban những ơn cần thiết, giúp chúng con trung thành với bổn phận, và mai sau đạt tới hạnh phúc trường sinh. Amen. (Nguồn: MTG Thủ Đức)

1 Kinh Lạy Cha, 3 Kinh Kính Mừng—Cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng Phanxicô và cho các người cha trong gia đình.

KINH KHẤN THÁNH GIUSE BẢO TRỢ KHÓ KHĂN: Lạy Thánh Giuse, xưa nay không ai kêu cầu Cha mà vô hiệu. Cha có thần thế trước mặt Đức Chúa Trời đến nỗi người ta có thể nói rằng: “Trên trời Thánh Giuse truyền lệnh hơn là van xin”. Lạy Cha hiền xin cầu bầu cùng Chúa Giêsu cho chúng con. Khi ở thế gian này Cha đã từng là Cha nuôi và là vị bảo hộ trung thành của Chúa Con Chí Thánh, này xin Cha bào chữa cho chúng con bên tòa Chúa. Chúng con trao phó nơi Cha vụ khó khăn này (Nêu ra ý chỉ cầu xin, hoặc tên người cha… ) xin Cha giải gỡ giúp chúng con, để thêm một vinh quang mới và bao nhiêu vinh quang sẵn có của Cha. Lạy Thánh Giuse nhân từ, chúng con tin tưởng, vâng chúng con tin tưởng Cha có thể chấp nhận lời nguyện của chúng con, và giải thoát chúng con khỏi khổ cực ưu sầu mà chúng con đang gặp phải. Hơn nữa, chúng con vững lòng trông cậy. Cha không bỏ qua điều gì giúp cho người sầu khổ kêu cầu Cha. Chúng con sấp mình dưới chân Cha, tha thiết nài xin Cha đoái thương đến những than van khóc lóc của chúng con. Xin Cha lấy tình thương như áo choàng che phủ chúng con và chúc lành cho chúng con. Amen

From: Đỗ Dzũng

Giám đốc CDC Đà Nẵng và 2 thuộc cấp bị bắt vì ‘dính’ vụ Việt Á

Giám đốc CDC Đà Nẵng và 2 thuộc cấp bị bắt vì ‘dính’ vụ Việt Á

June 20, 2022

Nguoi-Viet

ĐÀ NẴNG, Việt Nam (NV) –   Giám đốc Trung Tâm Kiểm Soát Bệnh Tật (CDC) Đà Nẵng, ông Tôn Thất Thạnh, 58 tuổi, cùng hai thuộc cấp vừa bị Công An thành phố Đà Nẵng khởi tố, bắt tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú, vào chiều 20 Tháng Sáu, với cáo buộc tội “tham ô tài sản, theo báo Thanh Niên.

Hai người bị bắt giữ là ông Tôn Thất Thạnh và bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn, 40 tuổi, trưởng Khoa Xét Nghiệm CDC Đà Nẵng. Còn bà Lê Thị Kim Chi, 38 tuổi, nhân viên Khoa Xét Nghiệm CDC Đà Nẵng, bị cấm đi khỏi nơi cư trú.

Ông Tôn Thất Thạnh nghe đọc quyết định khởi tố, bắt giam hồi chiều 20 Tháng Sáu. (Hình: VNExpress)

Nhà chức trách đã khám xét nơi ở và nơi làm việc của các bị can, thu giữ nhiều tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án.

Theo kết quả điều tra ban đầu, Công An Đà Nẵng xác định năm 2020 và 2021, ông Thạnh cùng các đồng phạm đã móc nối với công ty Việt Á để tham ô số vật tư xét nghiệm COVID-19 đã được thành phố Đà Nẵng mua để phục vụ công tác phòng chống dịch.

Cụ thể, ông Thạnh đã chỉ đạo bà Nhàn và bà Chi làm giả sổ sách, chứng từ để nâng khống, chuyển hóa hàng chục ngàn mẫu gộp xét nghiệm COVID-19 thành mẫu đơn, đồng thời biến hàng chục ngàn bộ kit được tài trợ thành bộ kit mua của công ty Việt Á.

Số vật tư dôi dư sau khi “phù phép,” ông Thạnh cùng đồng phạm đã chuyển lại cho công ty Việt Á để chiếm đoạt số tiền với giá trị thỏa thuận, mà theo cơ quan điều tra là hơn 4 tỷ đồng ($172,154).

Đà Nẵng thuộc nhóm địa phương mua nhiều kit test, sinh phẩm xét nghiệm của công ty Việt Á: “Trong tổng số lượng kit test, sinh phẩm phòng chống dịch trị giá 275 tỷ đồng ($11.83 triệu) mà Đà Nẵng đã mua, thì phần liên quan đến Việt Á là 248 tỷ đồng ($10.67 triệu). Với số lượng như thế thì sai phạm là có,” báo Zing dẫn lời Thiếu Tướng Vũ Xuân Viên, giám đốc Công An Đà Nẵng, cho biết thêm.

Trả lời báo VNExpress hôm 20 Tháng Mười Hai, 2021, ông Thạnh cho biết trong đợt dịch hồi Tháng Bảy, 2020, khi thành phố là “tâm dịch của cả nước,” sinh phẩm xét nghiệm, que lấy mẫu rất khan hiếm. Công ty Việt Á đã cho Đà Nẵng mượn hơn 10 máy xét nghiệm RT-PCR cùng khoảng 30 người hỗ trợ đẩy nhanh tốc độ xét nghiệm toàn dân. Đây là một phần lý do Đà Nẵng là một trong những địa phương đầu tiên mua sinh phẩm xét nghiệm của Việt Á.

Cơ quan điều tra đưa ông Thạnh về nhà để thực hiện khám xét. (Hình: Đoàn Cường/Tuổi Trẻ)

Ông Thạnh xác nhận CDC Đà Nẵng “đã có 15 đợt mua sắm sinh phẩm phục vụ xét nghiệm COVID-19 của công ty Việt Á từ năm 2020 đến nay, hình thức đầu thầu qua mạng, với đơn giá test cao nhất là 509,250 đồng ($21.9)/cái.

Như vậy, sau sáu tháng điều tra hàng loạt sai phạm liên quan đến công ty Việt Á, công an đã khởi tố hơn 65 người. Trong đó có ông Nguyễn Thanh Long, cựu bộ trưởng Y Tế; ông Chu Ngọc Anh, cựu chủ tịch Hà Nội, cùng hàng loạt giám đốc CDC, cán bộ Sở Y Tế các tỉnh. Ngoài ra, Cơ Quan Điều Tra Bộ Quốc Phòng cũng khởi tố một vụ án khác, bắt hai sĩ quan. (Tr.N)

Thánh Germaine Cousin (1579-1601)

15 Tháng Sáu

Thánh Germaine Cousin (1579-1601)

Thánh Germaine là một thiếu nữ quê mùa ở làng Pibrac, gần Toulouse. ✝️Vì mẹ mất sớm nên ngài phải lớn lên trong hoàn cảnh đau khổ vì bị người cha ghét bỏ và người mẹ ghẻ thật tàn nhẫn. Vì không muốn Germaine chung đụng với con riêng của mình, bà mẹ ghẻ bắt Germaine phải ngủ trong chuồng súc vật hoặc dưới gầm cầu thang, lúc nào cũng phải làm việc trong khi ăn uống rất kham khổ. ✝️Ngay khi chín tuổi, Germaine đã phải đi chăn cừu. Bất kể những  lao nhọc và bất công trong đời sống, Germaine vui lòng chấp nhận mọi sỉ nhục. Cô thích đi chăn cừu, vì đó là cơ hội để cầu nguyện và truyện trò với Thiên Chúa.

✝️ Germaine rất đạo đức và siêng năng tham dự Thánh Lễ. Mỗi sáng nghe chuông đổ, dù đang chăn cừu, cô vội vã cắm cây gậy xuống đất và chạy đến nhà thờ, phó thác đàn cừu cho sự chăm sóc của các thiên thần. Chưa bao giờ đàn cừu bị nguy hại vì sói rừng khi vắng mặt cô, dù ở cạnh khu rừng.cây gậy xuống đất và chạy đến nhà thờ, phó thác đàn cừu cho sự chăm sóc của các thiên thần. Chưa bao giờ đàn cừu bị nguy hại vì sói rừng khi vắng mặt cô, dù ở cạnh khu rừng. Người ta kể rằng, có lần cô đã đi trên mặt nước, chạy băng qua sông để kịp dự lễ. Germaine quá nghèo để có thể chia sẻ vật chất cho người khác. Nhưng tình yêu tha nhân của cô luôn luôn được thể hiện qua sự giúp đỡ bất cứ ai cần đến cô, và nhất là các trẻ em trong làng, là những người được cô dạy họ biết kính sợ Thiên Chúa.Có lần vào mùa đông, bà mẹ ghẻ nghi ngờ cô giấu miếng bánh trong vạt áo, nhưng khi mở ra bà chỉ thấy những bông hoa thật đẹp của mùa hè rơi xuống. Gd bắt đầu nhận ra sự thánh thiện của cô và mời cô vào sống ở trong nhà, nhưng Germaine xin được tiếp tục cuộc sống như trước.Năm cô 22 tuổi, người ta tìm thấy cô nằm chết trên đống rơm dưới gầm cầu thang. Thi hài của cô được chôn trong nhà thờ ở Pibrac.

🔶Bốn mươi ba năm sau, khi tân trang nhà thờ, các người thợ vô tình khai quật mộ của cô và người ta tìm thấy mộ của cô và người ta tìm thấy xác …

 From: NguyenNThu