Tuổi già – Trần Văn Giang
Lời giới thiệu: Tự dưng tôi nghĩ ngợi về tuổi già khi thấy bà mẹ vợ tôi ở tuổi 88 chỉ trong vòng vài tháng nay quên (do Bệnh Lú Lẫn – Dementia!?) không còn nhớ hay nhận ra con ruột của mình là ai? Tên gì? Tệ hơn nữa là Bà Cụ không biết chính mình là ai? Không thể nhớ tên mình là gì để ký tên trên “check books” trả “bills”; và không biết phải uống thuốc (medications) là gì để chữa đủ các bệnh già?
Bài viết này cố gắng trình bày 2 chuyện:
· Các vấn đề chung quanh tuổi già.
· Sự quan trọng của tuổi già.
****
Tôi nhớ lại lúc còn học lớp 12 (đệ nhất) trung học ở Sài gòn trước năm 1975, lớp triết học đầu tiên có dạy về cách suy luận gọi là “Tam Đoạn Luận.” Trong đó ông Thầy dạy Triết đã cho một thí dụ rất “oái oăm” qua 3 câu ngắn liên quan đến cách suy diễn về sự chết của con người và dùng ngay tên cúng cơm của đại triết gia cổ Hy lạp là Socrates:
Note: hình trong bài này là minh họa
“Mọi người đều phải chết
Socrates là người
Socrates phải chết…”
Đúng như ý nghĩa của “Tam Đoạn Luận” này! Tuổi già (và sự chết) là chuyện tự nhiên không ai tránh khỏi. Khi còn trẻ thì mọi người chúng ta sinh con; nuôi nấng cho lớn khôn, giúp đỡ con cái về vật chất cũng như tinh thần từ lúc con sinh ra cho đến khi… mãn kiếp. Nhưng con cái phần lớn không để ý (hay quên?! Mắc “Dementia” từ bé?) tới những cố gắng này của bố mẹ; kể cả khi con cái là những người rất thành công trên đường đời. Người già đến khi kiệt sức là lúc cần sự giúp đỡ của con cái thì được con cái trả lời là: “Tui quá bận rộn với cuộc sống, không có thời giờ đâu mà v..v..”
Mở đầu bài viết, để câu chuyện tuổi già và người già bớt nhàm chán vì có nhiều định luật về tuổi già mà quý vị cao niên đã biết quá rõ rồi, tôi xin kể hai câu chuyện để riêng các bạn trẻ, sồn sồn (chưa già) có dịp đọc và suy gẫm như sau.
Câu chuyện thứ nhất:
Sau khi bố qua đời, người con trai quyết định đưa bà mẹ già vào Viện dưỡng lão với ý định sẽ thỉnh thoảng đến thăm bà cụ ở đây thôi chứ sự bận bịu của cuộc sống không còn cho phép anh ta sống và trông nom bà cụ.
Ngày kia, Viện dưỡng lão gọi điện thoại người con trai báo tin cho biết là sức khỏe bà cụ yếu lắm rồi, sợ khó qua khỏi, xin anh con trai đến gặp gấp. Người con trai đến bên giường bệnh thấy mẹ già nằm im bất động, có lẽ đang thở những hơi cuối cùng của cuộc sống.
Người con trai ghé sát tai bà mẹ và nói:
– “Xin Mẹ cho con biết là con có thể làm gì trong lúc này không?”
Bà mẹ cố gắng thều thào:
– “Nhờ con yêu cầu Viện dưỡng lão gắn thêm vài cái quạt trần nữa; thay cái tủ lạnh đễ giữ thức ăn tốt hơn; cung cấp đầy đủ nước uống trong mùa hè và cho thêm thức ăn vào tủ lạnh. Nhiều đêm đi ngủ mà bụng Mẹ còn đói…”
Thay vì trả lời bà mẹ già, anh con trai lấy làm lạ là mẹ mình chỉ còn sống vài giờ nữa mà sao lại có những yêu cầu thuộc loại “vớ vẩn” như vậy? Anh ta mới hỏi tới:
– “Tai sao Mẹ lại yêu cầu những chuyện như vậy trong khi mẹ sẽ không còn cần nó nữa?”
Bà mẹ già lại thều thào nói:
– “Con yêu. Lời mẹ đang yêu cầu này là cho chính con trong tương lai. Mẹ có thể chịu nóng, chịu khát, chịu đói… nhưng mẹ đã nuôi con và mẹ biết là con không thể chịu đựng được những điều khó chịu như vậy ngay từ lúc con còn bé. Đến hôm nay, con vẫn chưa gặp phải tình trạng bất mãn này trong đời sống; nhưng một ngày mai, khi con già như mẹ thì chưa biết được…”
Đứa con trai trưởng thành nghe mẹ già nói đã phải khóc òa lên:
– “Tại sao con có thể để mẹ già, người từng chăm sóc, thương yêu con hơn tất cả những gì trên đời phải sống như vậy??”
Kết luận: Xin bạn bỏ bớt thời giờ bận rộn để chăm sóc bố mẹ già.
Câu chuyện thứ hai:
Một cụ già 80 tuổi ngồi trong phòng khách cùng với đứa con trai 45 tuổi rất đạo mạo. Bỗng nhiên có một con quạ bay đến đậu bên cửa sổ.
Ông bố già hỏi:
– “Con gì vậy con?”
Người con trai trả lời:
– “Thưa bố. Đó là con Quạ.”
Sau một vài phút, người bố già hỏi lần thứ hai:
– “Con gì vậy con?”
– “Con vừa mới trả lời bố là con Quạ mà.”
Sau đó một chút, người bố lại hỏi con trai lần thứ ba:
– “Con gì vậy con?”
Lần này người con trai có vẻ không bằng lòng, trả lời gằn giọng là:
– “Con Quạ. Con Quạ.”
Sau một lát nữa người bố già hỏi lần thứ tư:
– “Con gì vậy con?”
Lần này người con trai không thể dằn sự tức giận được nữa, quát to lên:
– “Tại sao bố cứ hỏi tới hỏi lui hoài vậy? Con đã trả lời rồi: ‘ĐÓ LÀ CON QUẠ.’ Bố có hiểu tiếng Việt không?”
Một lúc sau, ông bố già đi vào phòng lấy một cuốn nhật ký đã phai màu mà ông còn giữ lại từ lúc người con trai mới sinh. Mở vài trang đầu xong, tới một trang kế, ông nhờ người con trai đọc dùm như sau:
“Hôm nay, con trai của tôi đầy 3 tuổi. Hai cha con ngồi trong phòng khách nhìn ra cửa sổ thì thấy có một con quạ đang đậu trên song cửa. Con trai tôi hỏi tôi 23 lần ‘CON GÌ VẬY?’ Tôi trả lời con trai tôi đủ 23 lần ‘ĐÓ LÀ CON QUẠ.’ Tôi ôm con vào lòng mỗi lần nó hỏi tôi ‘CON GÌ VẬY?’ Tôi không hể cảm thấy phiền lòng về sự ngây thơ của con…”
Kết luận: Đừng xem bố mẹ mình như là gánh nặng hay những sự bực bội… Hãy nói chuyện với bố mẹ mình một cách khiêm nhường, hòa nhã và tử tế.
Bố mẹ đã sống và kiên nhẫn với con cái từ lúc còn bé. Bố mẹ luôn luôn muốn con cái sống hạnh phúc.
Cuộc đời là một cuộc hành trình trải qua bốn gia đoạn: Sơ sinh, thời thơ ấu, trưởng thành và tuổi già. Tuổi già có thể được đánh dấu từ lúc bắt đầu về hưu (ở tuổi 65 hay 66?) tức là lúc đủ điều kiện lãnh tiền già hay tiền hưu trí; và cũng đủ điều kiện hưởng quy chế “Tiết kiệm dành cho người cao tuổi” (Senior Citizen Discount!)
Thực ra tuổi (con số) không có ý nghĩa gì bởi vì già hay trẻ còn tùy vào sự suy nghĩ của mỗi người. Trong cuộc hành trình cuộc đời, lúc trẻ là lúc chúng ta sử dụng những tài nguyên mà trời ban cho từ sức khỏe, tiền bạc, kiến thức, sự sáng tạo… Đến khi về già là lúc phải chấp nhận và an hưởng. Cố gắng giữ niềm tin và ước vọng đối với tháng ngày sống còn lại; tránh các hoàn cảnh dẫn tới sự cô lập hay cô đơn. Hai thứ độc địa này sẽ cắt ngắn cái tuổi già sớm hơn.
Một ngày kia, tôi đến thăm một người bạn già sống “trơ thân cụ” mặc dù có 8 người con đều trưởng thành, thành tài, sống rải rác ở trên khắp nước Mỹ. Ông bạn than phiền:
– “Anh còn nhớ căn nhà này trước đầy tiếng cười nói của đàn con của tôi 8 đứa. Bây giờ tôi phải sống lui hui chỉ có một mình! Kể cũng tủi thật!”
Tôi an ủi:
– “Anh đừng có nản! Anh không bao giờ sống một mình trong cô đơn cả. Có Đấng Chí Tôn luôn luôn ở bên cạnh anh đấy! Lo gì?”
Không phải tuổi già luôn luôn là chuyện buồn, chuyện thất lợi. Tuổi già cho chúng ta các cơ hội để ôn lại những cái sai, cái thất bại của quá khứ; giúp tìm cách hàn gắn lại những liên hệ tình cảm đã bị sứt mẻ, đổ vỡ với người thân trong gia đình cũng như bạn bè – Nhớ lại những lúc mình làm người khác buồn và lúc người khác làm mình buồn.
Nên biết, người già thường có 3 cái lo sợ:
· Chết.
· Bị bỏ quên.
· Trở thành gánh nặng cho người khác.
Tôi xin đề nghị cách để người già có thể tránh được các nỗi sợ này như sau:
Thứ nhất, người có đức tin tôn giáo không sợ chết. Chết chỉ là một “sự thay đổi” chứ không phải là “hết/ hay chấm dứt.” Con người có phần xác và phần hồn. Chỉ có phần xác chết; còn phần hồn sẽ trở về Nước Chúa Vĩnh Cửu hay Vãng Sanh Tịnh độ…
Thánh Therese of Lisieux có nói: “Sự chết là con đường thật đẹp dẫn đến thiên đàng.” (Death is the magnificent gateway to Paradise).
Thứ hai, Không làm gì phải sợ bị bỏ quên; ngoại trừ người già tự ý nhất định muốn bị bỏ quên thì tôi đành chịu! Bởi vì người già có nhiều thời giờ, thành ra có rất nhiều người, nhiều tổ chức cần sự đóng góp công sức của họ. Ở ngoài xã hội thì có các hội thiện nguyện, “Soup Kitchens,” các mục vụ của nhà thờ; các việc công quả ở chùa, đền thờ v..v…
Ở trong phạm vi gia đình (ở nhà) thì các con các cháu luôn luôn cần sự giúp đỡ của ông bà để giữ nhà, chăm sóc đưa đón con trẻ còn nhỏ, trong lúc phải con cháu phải đi làm kiếm sống trong hoàn cảnh chật vật mà không đủ phương tiện tài chính để thuê người chăm sóc hay đem gởi con nhỏ ở các nhà trẻ tốn kém.
Thứ ba, lúc còn trẻ phải sống cần kiệm không hoang phí để khi về già có thể tự sống với “tiền để dành” (saving) cũng như trợ cấp hưu trí giới hạn của chính mình.
Có thể dùng tiền tiết kiệm của mình để sống trong cơ sở khang trang, không cần phải tráng lệ, dành riêng cho người cao niên có khả năng tài chánh tối thiểu. Con cháu nếu có muốn giúp thêm thì rất quý; nhưng nếu đã có dự tính từ trước là cố sống “độc lập, tự lo hạnh phúc” thì dầu sao cũng khó có thể trở thành gánh nặng của người khác, kể cả con cháu.
Vài lời thô thiển.
Trần Văn Giang
From: Anh Dang & KimBang Nguyen
“Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa…(Lc 1: 46-48)-Cha Vương
Chúc một ngày thật ấm áp trong tình yêu của Chúa và Mẹ Maria nhé.
Cha Vương
Thứ 5: 22/12/2022
TIN MỪNG: Bấy giờ, bà Ma-ri-a nói: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi. Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới; từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc. (Lc 1:46-48)
SUY NIỆM: Giáng Sinh là dịp lễ lớn để người ta gửi đến nhau những lời chúc, để quây quần đầm ấm bên gia đình, để chia sẻ, yêu thương, và gửi trao. Khi gặp gỡ nhau dù là mối quan hệ bạn bè, đồng nghiệp hay là gia đình bạn không thể nào tránh khỏi những mâu thuẫn và xích mích. Điều này cũng rất là thường tình! Bạn đừng để những sự nhỏ nhặt cướp đi cái mục đích cao quý của cuộc gặp gỡ. Chúa đến để mang bình an và hạnh phúc cho nhân loại. Bạn hãy nhìn vào cuộc gặp gỡ của Đức Ma-ri-a khi Mẹ viếng thăm bà Ê-li-sa-bét. Đây là một cuộc gặp gỡ đúng nghĩa tràn đầy hớn hở và mừng vui trong Chúa, không một lời phê phán chỉ trích. Để được như vậy, mình bật mí cho bạn 3 bí mật nho nhỏ này nhé để cho cuộc gặp gỡ của bạn trong mùa Giáng Sinh này được vui vẻ và bình an hơn:
(1) Nếu bạn có 2, chia sẻ một
(2) Nếu tốt, hãy tán dương
(3) Nếu xấu, hãy bỏ đi và cầu nguyện
Hãy cầu nguyện luôn! Xin cho đủ can đảm để biết quảng đại và được sáng suốt để phân biệt ra điều tốt điều xấu để bạn luôn khen ngợi điều tốt và xa lánh điều xấu. Chúc bạn và gia đình cuộc gặp gỡ thật ý nghĩa và vui tươi trong Chúa, Đấng Cứu Chuộc nhân loại.
LẮNG NGHE: Kẻ mọn hèn, CHÚA kéo ra khỏi nơi cát bụi, ai nghèo túng, Người cất nhắc từ đống phân tro, đặt ngồi chung với hàng quyền quý, tặng ngai vinh hiển làm sản nghiệp riêng. (1 Sm 2:8)
CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin củng cố lại những việc con làm và ban cho con lòng mến Chúa và ân sủng để con mang Tin Mừng của Chúa đến cho mọi người con gặp gỡ hôm nay.
THỰC HÀNH: Thực tập 3 bí quyết nhỏ nêu trên. Chúc bạn thành công!
From: Đỗ Dzũng
Có Một Người – Lê Quốc
Lê Quốc
Câu chuyện tưởng chừng như một đoạn phim hay, hoặc một đoạn văn hư cấu hấp dẫn của một nhà viết tiểu thuyết. Nhưng không. Đây là một chuyện thật I00%. Cả nước Pháp, từ trí thức đến bình dân, đều biết. Trong nước, ngoài nước – đều biết.
Có Một Người,
Bị tình phụ, vợ bỏ theo trai – theo một thằng nhóc tì 15 tuổi, học trò của mình và tuổi đáng con mình – bỏ lại mái ấm gia đình hạnh phúc với ba con và một ông chồng có địa vị, hiền lành đứng đắn, rất mực yêu vợ, thương con. Trước cảnh ngộ đau lòng vợ bỏ ông, ra đi theo tình nhân mới mà ông không một lời oán trách, cũng không lên tiếng phàn nàn ồn ào, nói xấu vợ minh như thường tình thiên hạ mà âm thầm, lặng lẽ chịu đựng, nhẫn nhục hy sinh cho vợ được hạnh phúc trọn vẹn trong tình yêu mới. Sự nhẫn nhục phi thường nầy đã làm nên tên tuổi ông. Thói thường, người ta hay có cái nhìn hướng ngoại, nhìn người khác mà phê phán, nhưng ít ai quay lại nhìn chính mình để tìm hiểu khuyết điểm của minh. “Người nầy” khác hẳn người khác, quay lại nhìn mình trước tiên, tìm xem mình có những khuyết điểm gì? Có phải vì mãi lo sự nghiệp mà lơ là, thiếu sự âu yếm thương yêu, thiếu sự chăm sóc chiều chuộng vợ để vợ mình phải đi tìm tình yêu mới. Nghĩ là lỗi tại mình nên ông tự sửa làm một người chồng thật tốt, khắc phục mọi khuyết điểm, để mong vợ trở về sống hạnh phúc với ba con. Nhưng vô vọng.
Alfred de Musset & George Sand
Những cuộc tình éo le, ngang trái nầy không phải chỉ “CÓ MỘT NGƯỜI” mà dẫy đầy trong văn học Pháp cũng như Việt Nam. Lấy một thí dụ điển hình: * Alfred de Musset: Đêm tháng năm(Nuit de Mai) – đêm đau đớn nhứt đời ông vì nữ sĩ Amantine Aurore Lucile Dupin (tức George Sand) đã từ giả ông sau những ngày tận hưởng hạnh phúc lãng mạn, yêu đương nồng cháy, tắm nắng thi ca, lặn hụp trong biển tình ân ái. Trên đời có gì đau khổ hơn bị người yêu cắm sừng trên đầu, rồi ôm cầm sang thuyền khác. Nhà thơ Alfred de Musset thể chất vốn yếu đuối,“tiên thiên bất túc”, đau khổ rên rỉ khóc than như điên dại, loạng choạng bước đi trong bóng đêm tháng năm (Nuit de Mai) – đêm của sự đau khổ chia ly pha lẫn với nỗi buồn cô độc, của nước mắt khổ đau rơi xuống cõi lòng tan nát và những ngày hạnh phúc yêu đương đã xa rồi và bị thay thế bằng sự trống vắng cô đơn đang dày xéo tâm hồn.
Đang đau khổ cùng tột, bỗng có tiếng gọi từ cõi xa xăm vọng lại như tiếng gọi thiêng liêng của người chị an ủi vỗ về, tiếng thì thầm tình tự của người yêu chia sẻ: Hãy đứng dậy, gào thét lên tiếng kêu tuyệt vọng! Đừng làm con đà điểu gục đầu rên rỉ khóc than. Không gì làm chúng ta vĩ đại bằng sự đau khổ. “Rien ne nous si grands qu’une douleur” Đó là tiếng gọi của nàng Muse ( Nàng thơ) đã giúp chàng thi sĩ đang ở trạng thái cùng cực của sự đau khổ mà đứng dậy dựa vào đau khổ để biến nó thành những câu thơ bất hủ:
Les plus désespérés sont les chants les plus beaux
J’en sais d’immortels qui sont de purs sanglots
(Alfred de Musset)
Và ngày nay thơ không chỉ giúp cho nhà thơ vượt qua nỗi khổ đau khi bị tình phụ như Alfred de Musset hay dằng dặc buồn thương tiếc nuối như T.T Kh, yêu thầm trộm nhớ như Félix Arvers – mà thơ ngày nay từ 45-54 trở về sau): “Thơ là chiếc nạng vững chắc cho người già, là chỗ dựa cho người thất thế, từ đó đứng lên làm lại cuộc đời”(Nguyễn mộng Giác giới thiệu Tạp chí Khoa Hữu). Phùng Quán cũng lên tiếng “Có những phút ngã lòng, ta hãy vịn câu thơ mà đứng dậy”. Và từ đó, những nhà thi sĩ, trong những giây phút ngã lòng, hoặc khi bị thất thế, bị tù ngục, đều lấy câu thơ làm chiếc nạng hay dựa vào câu thơ mà đứng dậy như Trần Dần, Hoàng Cầm, Nguyễn chí Thiện, Phùng Cung, Phùng Quán v.v…
Hãy trở về “Có một Người” – dù trên đầu đã mọc lên cái sừng to tướng, dù trái tim còn ri rỉ máu nhưng vẫn âm thầm. im lặng chịu đựng với sự nhẫn nhục phi thường. Vết thương lòng hằn sâu tận xương tủy nhưng ông lấy sự nhẫn nhục làm phương châm, nên sau khi ly dị bà Brigitte, ông rời Amiens và chọn cách sống ẩn dật tại một vùng ngoại ô Paris và ít xuất hiện dù là những buổi tiệc gia đình với các con (Web Hoa xương rồng).
(Tổng Thống Emmanuel Macron và vợ: Bà Brigitte Trogneux)
Ngày lễ đăng quang vị Tổng Thống đẹp trai, tài năng, trẻ tuổi nhất nước Pháp với 21 phát súng thần công, với trên 500 quan khách tham dự gồm những nhân vật tâm tiếng như cựu Tổng Thống Francois Hollande, Tổng Thống Nicolas Sarkozy và các nhà tai mắt đại diện cho tầng lớp dân chúng Pháp. Tổng Thống E. Macron không muốn làm ồn ào tốn hao công quỷ mà chỉ thực hiện các thủ tục thật giản dị tại điện Élysée. Dù vậy, cũng không thể thiếu những cuộc duyệt binh trong khuôn viên điện Elysée, đội quân nhạc cử hành bản “La Marseillaise” hùng hồn vang dội một góc trời. Đây là ngày toàn dân Pháp reo hò ăn mừng có vị Tổng Thống mới tài năng trẻ tuổi nhứt nước Pháp. Tổng Thống E. Macron đọc một bài diễn văn ngắn gọn, đầy ấn tượng, chào mừng các quan khách và dân chúng với chương trình ông sẽ làm cho dân nước Pháp.
Trong khi nhiều thành phố dân chúng tổ chức reo mừng, lễ đăng quang rộn ràng lời chúc tụng, nhạc quốc ca hùng hồn vang dội một góc trời thì “CÓ MỘT NGƯỜI” buồn ủ rũ, viết một lá thơ “Thơ cuối ngày gửi em Brigitte”. Bài thơ hay, lời lẽ cảm động, gây một ấn tượng sâu sắc, một rung động cảm thương cho số phần người chồng cũ của bà Brigitte:
(Ông André-Louis-Auzière – một banquier tại Amiens Pháp
chồng cũ của bà Brigitte Trogneux)
Đây là lá thơ cuối ngày gửi em Brigitte:
“Cả thế giới hồi hộp theo dõi những gì đang diễn ra tại điện Elysée. Anh phải đóng cửa ngồi một mình trong ngôi nhà ngoại vi thành phố. Vậy mà tiếng tivi vẫn cứ vang lên trong từng căn phòng nhỏ. Người Pháp đang đón chào Macron – vị Tổng Thống trẻ trung nhất lịch sử nước mình.
Chắc là em không còn tâm trí nào để nghĩ đến anh
Cái tên André – Louis đã bị xóa rất lâu rồi trong bộ nhớ
Nhưng anh không thể quên Trogneux tóc vàng một thuở
Những thanh chocolate vùng «Rua » đâu dịu ngọt bằng nàng
Anh nhớ lại những buổi chiều anh phải lang thang
Chạy khắp mọi nẻo đường Paris để tìm cho con hộp thuốc
Chỉ mười năm với ba đứa con có được
Ba đứa con – minh chứng cho tình yêu chúng ta – đẹp hơn cả thiên thần
Anh không ngờ chuyện bắt đầu từ một ngày em đòi ly thân
Rồi em nhất quyết kêu anh ra tòa bằng cái đơn ly dị
“Không thực sự hạnh phúc”- em tự nhiên nói thế
Cuối cùng anh phải chiều em thôi
Vì anh biết em đã tìm thấy một phương trời
Cứ như Newton bất ngờ tìm ra định luật quả táo rơi
Em ngỡ ngàng tìm ra một chàng trai kém minh hai con giáp
Cũng chẳng có gì bất thường (nhất là nước Pháp )
Song gia đình của chúng ta thì lại giống bao gia đình kia tất thảy ở trên đời
Em đã có một mái nhà, một mái ấm đó thôi
Dù ai đó cao siêu Là hoàng tử, là nhà vua, hay Chúa Trời đi nữa
Em nên nhớ chữ Thủy Chung là muôn đời muôn thuở
“Công chúa lấy thằng bán than”, cũng theo nó lên rừng
Có thể em đang mơ một sự nghiệp lẫy lừng
Tổng Thống với Đệ Nhất Phu Nhân tâm đầu ý hợp
Hai mốt phát đại bác vang trời, em choáng ngợp
Tiếng khóc trẻ thơ năm xưa mới đúng nghĩa gia đình
Thật buồn trong giây phút nầy chỉ anh nghĩ đến anh
Nhưng bỗng thấy ấm lòng
Khi Sébastien, Laurence, Tiphani vừa nhắn tin cho bố
“ Chúng con yêu bố ngàn lần,
Bố hãy tin điều này bố nhớ
Lát nữa, tan cuộc tại điện Elysée, chúng con sẽ về nhà
Cuộc sống sẽ thực sự bắt đầu với bốn bố con ta”
(André- Louis- Auzière)
Nhân vật chính trong khúc phim nầy là cặp Emmanuel Macron và Brigitte Trogneux. Họ đã sánh bước vinh quang vào điện Elysée, trước sự reo hò nồng nhiệt của dân chúng ủng hộ vị tân Tổng Thống trẻ tuổi, tài năng của nền Cộng Hòa nước Pháp. Có một người đứng sau cuộc tình nầy đang đau khổ cực kỳ nhưng lặng lẽ âm thầm chịu đựng, hy sinh với một sự nhẫn nhục phi thường. “Có Một Người”, Người ấy là ai?
Một gia đình hạnh phúc:
Tại Amiens – một thị trấn ở phía Bắc nước Pháp – có một gia đình trí thức: Cha trước làm nghề kiểm toán nhà nước, người con theo học ngành Ngân Hàng. Sau khi tốt nghiệp Đại Học, người con làm việc rất giỏi trong ngành Ngân Hàng.Về sau trở thành một banquier: Chủ nhà băng tại Amiens. Có địa vị xã hội, có tiền bạc, đời sống sung túc. Tháng sáu 1974 (Juin 1974) Người nầy thành hôn với Brigitte – một cô giáo dạy văn và Latinh tại một trường Trung học cơ sở. Brigitte con nhà khá giả, sản xuất bánh kẹo và chocolate nổi tiếng. “Người ấy” hết sức thương yêu chiều chuộng vợ khiến cho người xung quanh ngưỡng mộ. Brigitte rất hạnh phúc dưới một mái ấm gia đình, với chồng có địa vị, giàu có, hiền lành, thương yêu vợ rất mực và ba đứa con ra đời là một mối dây ràng buộc cặp vợ chồng thêm gắn bó. Lúc đó, Brigitte chỉ biết có mái ấm gia đình sung túc, chồng thương yêu, con ngoan ngoãn. Niềm hạnh phúc mà biết bao người khát khao thèm muốn.
Người ấy là ai ? Xin xem tấm hình đám cưới dưới đây:
Hình đám cưới “NGƯỜI ẤY” với cô giáo Brigitte Trogneux. (Người có mang vòng tròn đỏ trên đầu)
Nhưng,
Đời có lắm sự bất ngờ…
Brigitte là người thích văn chương và kịch nghệ. Kéo dài lê thê nhịp sống đơn điệu, buồn chán, Brigitte bèn gợi ý với chồng lập một câu lạc bộ nghiên cứu văn chương và kịch nghệ. Người chồng bao giờ cũng tôn trọng ý của vợ và ủng hộ việc làm nầy. Bây giờ Brigitte thấy cuộc đời có ý nghĩa hơn, việc làm đáp lại sở thích của mình.
Bất ngờ xuất hiện một chàng trai 15 tuổi tại lớp học của cô giáo Brigitte. Chàng trai mà Laurence, con gái của Brigitte, khen là một chàng trai tuyệt vời am hiểu tường tận mọi việc. Còn cô giáo Brigitte choáng ngợp trước sự thông minh của Macron. Bà nói: Macron có lối tư duy mà tôi chưa từng thấy trước đây. Mọi ngày thứ sáu, chúng tôi dành nhiều thì giờ để xây dựng các vở kịch. Nhưng chỉ là cái cớ để chúng tôi gần gũi nhau. Một người bạn của Macron tiết lộ: “Cô giáo bị quyến rũ bởi tài viết lách của cậu ấy”.
Con người kỳ lạ hành xử cũng rất lạ kỳ. Con gái tuổi xuân hơ hớ không lấy mà lại lấy bà già đáng tuổi mẹ mình, lại là người có chồng ba con. Cuộc tình đôi đũa lệch, được đánh giá là “vượt mọi định kiến của gia đình và xã hội”. Cuộc tình trái cựa gà, tréo cẳng ngổng nầy lại là cuộc tình của một con người phi thường, xuất chúng, thông minh tuyệt đỉnh. Cặp Emmanuel Macron và Brigitte Trogneux sánh vai cùng nhau vinh quang bước vào điện E1ysée trước sự reo hò nồng nhiệt của dân chúng chào mừng vị tân Tổng Thống tài năng, trẻ tuổi nhứt của nền Cọng Hòa Pháp.
Trong khi 21 phát súng thần công nổ rền trời, tiếng hoan hô dậy đất, đội quân nhạc cử hành bản quốc ca “ La Marseillaise” hùng hồn, cuộc diễn hành trong khuôn viên điện Élyseé, đoàn vệ binh hiên ngang rầm rập nhịp bước theo điệu kèn trống quân hành uy nghi hùng dũng, thì “CÓ MỘT NGƯỜI” đứng đàng sau cuộc hôn nhân Emmanuell-Brigitte, ôm một nỗi đau khổ nhìn cảnh vợ phản bội, bỏ mình theo tình nhân mà nước mắt tuông rơi, trái tim tan nát…Nhưng “Người ấy” không bao giờ tức tối, mắng chửi, làm ồn ào mất mặt hay nói xấu vợ minh trước mặt người khác. Ông tập trung vào sự nuôi dưỡng và giáo dục ba con. Sau đó, “Người ấy” là một người đàn ông đích thực. Ông không bao giờ làm phiền cuộc sống của Brigitte. Sau khi ly hôn, ông lo cho con cái ăn học và chuyển hết tài sản cho con, ông đến vùng ngoại ô Paris sống ẩn dật và tránh gặp Brigitte, kể cả những buổi tiệc gia đình với các con.
Cuộc tình huyền thoại Macron Brigitte được loan truyền khắp thế giới nhưng không nghe ai nhắc đến “MỘT NGƯỜI” – mặc dầu người ấy về tư cách, sự hy sinh, đức nhẫn nhục ít người sánh được, Thói đời là thế. Phù thịnh chớ ai phù suy! Thiên hạ Đông Tây, Tư bản, Cộng Sản đều thế cả.
Con người đáng kính ấy qua đời tháng 12 năm 2019. Tang lễ ông được tổ chức trong vòng bí mật. Mãi đến ngày 7 tháng 10 năm 2020, con gái ông Tipun Ozier mới thông báo tin cha mình đã qua đời. Trong một tweet, cô viết: “Cha tôi đã qua đời vào ngày 24/12/2019. Ông ấy đã được chôn cất trong sự bảo vệ quyền riêng tư nghiêm ngặt nhất.Tôi rất ngưỡng mộ cha tôi. Ông nói rằng ông không muốn làm phiền quá nhiều sau khi mình qua đời. Vì vậy, chúng tôi phải tôn trọng ý muốn của ông.Theo tạp chí Tatler của Anh Quốc, trò chuyện với Paris Match, một những đứa con gái của “Người ấy” và Brigitte nói: “Tôi rất ngưỡng mộ cha tôi là người không thích lề thói, luôn coi trọng sự ẩn danh hơn bất cứ thứ gì. Ông phải được tôn trọng”. Ý tưởng nầy rất phù hợp với sự xa rời mọi người và chuyển sang Paris vùng ngoại ô sống ẩn dật cho đến khi qua đời.
Người nầy không bao giờ khuấy động chuyên phản bội của vợ. Ông chọn cách xa rời thế giới theo cách riêng tư của minh là sống ẩn dật với lòng vị tha và sự nhẫn nhục phi thường.
Đánh giá một con người, không phải chỉ sự thành công nổi tiếng mà còn tư cách, sự nhẫn nhục, lòng hy sinh cao cả, âm thầm chịu đựng, lấy sự nhẫn nhục làm phương châm, lòng vị tha làm tình thương, suốt đời không thay đổi. Con người đó không đáng cho đời ngưỡng mộ hay sao? Cũng như người chiến sĩ cả hai miền Nam Bắc ngoài mặt trận bắn giết nhau thành công thì ai hưởng? Người lính được hưởng gì? Người lính chỉ biết hy sinh ngoài mặt trận, ở hậu phương vợ con đói rách, cơm chan nước mắt hay bị bắt làm con tin, để chồng minh đi xẻ dọc Trường Sơn, đánh cho đến người Việt Nam cuối cùng.
Tuy nhiên còn có một người đời sau nhắc đến và vinh danh họ là thi sĩ Đằng Phương (tức Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy): Họ là những chiến sĩ xông pha dưới làn tên mũi đạn:
Tuy công nghiệp không ghi trong sử sách
Tuy bảng vàng bia đá chẳng đề tên
Tuy mồ hoang xiêu lạc dưới trời quên
Không ai đến khấn nguyền dâng lễ vật
Nhưng máu của họ đã len vào mạch đất
Thịt cùng xương trộn lẫn với non sông
Và anh hồn chung với tấm tình trung
Đã hòa hợp làm linh hồn giống Việt.
Đằng Phương
“ NGƯỜI ẤY” suy nghĩ cho sâu xa, quả là con người đáng cho đời tôn vinh và ngưỡng mộ như một người chiến sĩ ngoài mặt trận, như cái Dũng của một người anh hùng trước nghịch cảnh.
“ NGƯỜI ẤY” là người có vòng tròn đỏ trên đầu ngày cưới vợ là cô giáo Brigitte Trogneux. Và người ấy chính là André- Louis- Auzière.
“ NGƯỜI ẤY” chính là người bị vợ phản bội mà không một lời oán trách, không làm phiền vợ , luôn luôn một lòng vị tha, bao dung để vợ được sống trọn với tình yêu mới. Trên đời rất ít người vượt qua cảnh ngộ đau lòng nầy, để hành xử được như ông André.
Câu chuyện tình ly kỳ nầy được kết thúc nơi đây. Cặp Macron-Brigitte vinh quang sánh bước vào điện E1ysée – còn ông André chôn chặt nỗi hận lòng dưới ba tấc đất và hành xử với lòng vi tha hiếm có, chọn cách sống ẩn dật ở ngoại thành Paris cho đến khi qua đời. Còn Brigitte khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân thì không còn nhớ gì đến chuyện quá khứ.
Người đời mặc tình phê phán và chọn lựa. Nhưng đừng quên, khi đứng bên ngoài để phê phán thì dễ dàng hơn khi chính bản thân mình đối diện với nghịch cảnh./.
Những ngày bệnh tật cuối thu năm 2022.
Lê Quốc
Ghi chú:
Tạm thời xin hiểu bức thơ cuối ngày gửi em Brigitte là của ông André -Louis- Auzière trước khi có nhận xét của nhà biên khảo nổi tiếng và uy tín là Ông Trần Việt Long (Cao học 8, Học Viện QGHC). Sự nhận xét của nhà biên khảo xuất sắc nầy, người viết rất đồng ý nhứt là không có bản tiếng Pháp mà chính người viết đã khổ công đi tìm bản tiếng Pháp nhưng không hề có trên các diễn đàn tiếng Pháp và Việt. Như vậy, ông André không viết được tiếng Việt và cũng không thể nhờ người dịch ra tiếng Việt nếu không có bảng tiếng Pháp.
Ý NGHĨA CỦA GIÁNG SINH, MỐI DÂY GIỮA MÁNG CỎ VÀ THẬP GIÁ
Rev. Ron Rolheiser, OMI
Trình thuật Tin mừng về việc Chúa Giêsu ra đời, không phải chỉ là kể lại những chuyện xảy ra ở Bê-lem. Trong các bình luận về việc Chúa Giêsu ra đời, học giả kinh thánh lừng danh Raymond Brown, đã nhấn mạnh rằng các trình thuật này được viết rất lâu sau khi Chúa Giêsu chịu đóng đinh và trỗi dậy từ cõi chết, do đó các trình thuật Giáng sinh cũng mang sắc thái của cái chết và sự phục sinh. Có thể nói, những trình thuật kể về việc Chúa Giêsu hạ sinh cũng giống như các trình thuật kể về cuộc thương khó và cái chết của Chúa vậy. Khi các tác giả Tin mừng nhìn lại sự ra đời của Chúa Giêsu qua lăng kính phục sinh, họ nhìn thấy trong sự ra đời của Ngài đã có mẫu hình cho cuộc đời sứ mệnh, cho cái chết và sự phục sinh của Ngài rồi. Thiên Chúa đến với thế gian và một số người tin và đón nhận Ngài, số khác thì thù ghét và loại trừ Ngài. Với một số người, Ngài đem lại ý nghĩa, còn với số khác thì Ngài gây hoang mang và giận dữ. Có một thông điệp trưởng thành về Chúa Kitô trong Giáng Sinh và về việc hiểu ý nghĩa của Giáng Sinh qua thập giá, cũng hệt như qua máng cỏ vậy. Và còn cả những ánh đèn, những bài hoan ca, máng cỏ và ông già Noel nữa.
Cả chúng cũng có chỗ của mình. Karl Rahner, không ngây thơ về những nhận định của Raymond Brown, đã lập luận rằng, Giáng Sinh vẫn mang ý nghĩa là hạnh phúc, và niềm vui đơn sơ của trẻ con thì diễn tả ý nghĩa Giáng Sinh chính xác hơn tính yếm thế của người lớn. Rahner cho rằng, vào lễ Giáng Sinh, Chúa cho chúng ta một ưng thuận đặc biệt để hạnh phúc. “Đừng sợ hạnh phúc, tiêu chuẩn của cuộc sống là niềm vui, hơn là lo âu và đau buồn của những con người không có hy vọng.… Ta không xa rời thế gian, dù cho lúc này con không thấy Ta.… Ta ở đó. Giáng Sinh. Hãy thắp lên những ngọn nến. Ngọn nến đáng tồn tại hơn toàn bộ bóng đêm. Giáng Sinh. Giáng Sinh tồn tại mãi.” Trong Giáng Sinh, máng cỏ thắng thập giá, dù cho thập giá không hoàn toàn biến mất.
Làm sao mà thập giá và máng cỏ hợp với nhau được? Núi Sọ có phủ bóng muôn đời trên Bê-lem? Giáng Sinh có khiến chúng ta phiền lòng hơn là an ủi chúng ta? Liệu niềm vui đơn thuần của chúng ta trong Giáng Sinh có nhầm hay không?
Không. Vui mừng là ý nghĩa của Giáng Sinh. Những bài hoan ca đáng được cất lên. Trong Giáng Sinh, Thiên Chúa cho chúng ta một ưng thuận đặc biệt để hạnh phúc, dù cho phải hiểu thật cẩn thận điều này. Không có mâu thuẫn bẩm tại nào giữa niềm vui và đau khổ, giữa hạnh phúc và trải qua mọi nỗi đau cuộc đời đem lại. Niềm vui không phải là khoái lạc không có đau khổ trong đời. Niềm vui đích thực là một sự trường tồn luôn mãi, ở trong chúng ta qua suốt mọi cảm nghiệm trong đời, kể cả đau đớn và thống khổ. Chúa Giêsu hứa với chúng ta “một niềm vui không ai lấy mất được.” Rõ ràng điều này nghĩa là một sự gì đó không biến mất vì chúng ta đau bệnh, vì người thân yêu qua đời, vì bị bạn đời phản bội, vì mất việc làm, vì bị bạn bè loại trừ, vì bị đau đớn thân xác, hay vì buồn sầu. Không một ai trong chúng ta thoát được đau đớn và khốn khổ. Niềm vui có thể cộng sinh với chúng. Thật vậy, niềm vui nghĩa là lớn lên sâu sắc hơn qua các cảm nghiệm đau đớn và đau khổ. Chúng ta được định là những con người của vui mừng, dù sống trong đau đớn. Đây là một lớp nghĩa, mà các tác giả Tin mừng, lấy từ nhận thức về cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu, để đưa vào trình thuật Giáng Sinh.
Nhưng, tất nhiên, trẻ em không thấy được điều này khi chúng hòa trong bầu khí phấn khích của Giáng Sinh, và khi chúng nhìn vào Chúa Kitô Hài Đồng trong máng cỏ. Niềm vui của trẻ em vẫn còn vô tội, được bảo vệ bởi sự ngây thơ, vẫn đang chờ một sự vỡ mộng, nhưng đó là niềm vui thật. Niềm vui ngây thơ của một đứa trẻ, là thật, và thật sai lầm khi muốn viết lại chúng bằng sự vỡ mộng khi trưởng thành. Những gì thật, là thật. Những ký ức tươi đẹp chúng ta có khi chờ đợi và mừng Giáng Sinh lúc còn là đứa trẻ, vẫn không mất chút gì giá trị khi chúng ta biết là ông già Noel không có thực. Giáng Sinh mời gọi chúng ta hãy vẫn “lao đầu vào chiếc bánh ngọt.” Và bất chấp mọi vỡ mộng trong đời sống trưởng thành, Giáng Sinh vẫn cho chúng ta, những người trưởng thành bị khủng hoảng, một lời mời tuyệt diệu.
Ngay cả khi chúng ta không còn tin có ông già Noel, và khi tất cả các máng cỏ, đèn chớp, hoan ca, thiệp chúc, những tấm giấy gói sặc sỡ và các món quà Giáng Sinh không còn cho chúng ta những xúc động như xưa, thì lời mời đó vẫn còn. Giáng Sinh mời chúng ta hãy hạnh phúc, và đòi chúng ta phải kiêng bớt thói yếm thế của người lớn, mà theo một niềm vui có thể nắm bắt được cả thập giá lẫn máng cỏ để chúng ta có thể sống trong một niềm vui mà không một ai, không một bi kịch nào có thể lấy của chúng ta được. Điều này sẽ cho chúng ta, trong dịp Giáng Sinh, được như những đứa trẻ, đâm đầu vào chiếc bánh ngọt.
Giáng Sinh, đem lại cho cả trẻ thơ lẫn người lớn, một ưng thuận để hạnh phúc.
Rev. Ron Rolheiser, OMI
From: Langthangchieutim
Cái ‘tôi’ của người Việt
Từ Thức
Tại sao cái tôi, cái “égo” của người Việt lớn thế? Tôi gặp không biết bao nhiêu người vỗ ngực, tự cho mình là vĩ nhân. Không phải chỉ vỗ ngực, còn trèo lên nóc nhà gào khản cổ: tôi giỏi quá, tôi phục tôi quá, tại sao tôi tài ba đến thế?
Một lần ngồi nhậu với năm ông, có cảm tưởng ngồi với năm giải Nobel Văn Chương. Những ông như vậy, nhan nhản. Nói “ông,” vì hầu như đó là một cái bệnh độc quyền của đàn ông. Như ung thư vú là bệnh của đàn bà.

In một hai cuốn sách tào lao tặng bố vợ, nghĩ mình ngồi chung một chiếu với Marcel Proust, Victor Hugo. Làm vài bài thơ, câu trên vần (hay không) với câu dưới, nghĩ mình là Beaudelaire, Nguyễn Du tái sinh. Lập một cái đảng có ba đảng viên, kể cả em gái và mẹ vợ, nghĩ mình là lãnh tụ, ăn nói như lãnh tụ, đi đứng, tắm rửa như lãnh tụ. Viết vài bài lăng nhăng, đầu Ngô mình Sở, nghĩ mình là triết gia, trí thức, sẵn sàng dẫn dân tộc đi lên (hay đi xuống). Học gạo được cái bằng (chưa nói tới chuyện mua được cái bằng), nghĩ mình đã kiếm ra điện và nước nóng.
Tôi, tôi, tôi
Một ông bạn in một tấm danh thiếp khổ lớn, dầy đặc những chức tước, trong đó có “nhà nghiên cứu.” Những người quen không biết ông nghiên cứu cái gì, lúc nào. Tôi đáng nhận là nhà nghiên cứu hơn, vì thỉnh thoảng vẫn vào Google tìm mẹo trị mắc xương cá, hay cách nấu canh hẹ tầu hũ.
Nghĩ cũng lạ, cái TÔI to tổ bố ở một xứ như Việt Nam. Việt Nam, xứ của văn hóa Phật Giáo, một tôn giáo coi cái ngã là hư cấu, cái tôi không có thực. Nơi chịu ảnh hưởng Lão Giáo, những người đã ra suối rửa tai khi nghe thiên hạ nhắc tới tên mình. Nơi người Công Giáo thực hành đạo nhiệt thành, và Công Giáo coi vị tha, nghĩ tới người khác, là đức tính hàng đầu.
Không lẽ người Việt không hiểu tôn giáo mình đang theo?
Có ai đã gặp một người Nhật vỗ ngực: tôi, tôi, tôi. Nói chuyện với người Nhật, trong những cơ hội hơi chính thức, chưa gì họ đã mang giấy bút ra ghi chép. Làm như những điều bạn nói là khuôn vàng, thước ngọc.
Tôi là chân lý
Nước Việt nghèo, chậm tiến, lạc hậu. Đáng lẽ người Việt phải khiêm nhượng, biết người, biết mình. Nhưng không, trong tự điển cá nhân của người Việt không có chữ khiêm tốn. Nhiều lần tôi gân cổ cãi với bạn bè, về nhà nghĩ: không chừng nó có lý. Tại sao không nhìn nhận ngay? Bởi vì cái tôi nó lớn quá.
Ở đâu cũng có những cái tôi, nhưng ở người Việt, nó đạt một tỷ số đáng ngại. Mỗi lần, hiếm hoi, gặp một người đồng hương có khả năng nhưng khiêm tốn, tôi nghĩ bụng: ông nội này mất gốc rồi.
Thảo luận với người Việt rất khó, vì ai cũng nghĩ là mình nắm chân lý trong tay. Nghĩ khác là xúc phạm ông ấy, xúc phạm chân lý, bôi nhọ sự thật. Phải căm thù, phải tiêu diệt, phải triệt hạ, phải tố cáo, chụp mũ.
Cái tôi lớn, phải chăng đó là nét đặc thù của một dân tộc đầy tự ti mặc cảm? Trong cái kiêu hãnh lố bịch của người “mang dép râu mà đi vào vũ trụ” có cái tự ti của những người vẫn mang dép râu ở thế kỷ 20, 21.
Trong y học, égocentrisme là một cái bệnh, pathologie. Và trong chín trên 10 trường hợp, những người có mặc cảm tự cao, tự đại (complexe de supériorité) là để che đậy tự ti mặc cảm (complexe d’infériorité).
Những người có thực tài rất khiêm nhượng, vì họ không so sánh với người khác. Họ so sánh mình với mình, so sánh mình hôm nay với mình hôm qua, so sánh tác phẩm mới với tác phẩm cũ của chính mình. Và thường thường thất vọng.
Khi một nghệ sĩ thoả mãn với tác phẩm của mình, anh ta hết là nghệ sĩ. Anh ta không tìm tòi nữa, anh ta về hưu. Như một công chức, một tài xế xe đò về hưu.
Đèn dầu và đèn điện
Thomas Edison nói nếu hài lòng với đèn dầu, tìm cách cải thiện đèn dầu, sẽ không bao giờ kiếm ra điện. Người Việt chúng ta dễ thoả mãn quá, dễ kiêu hãnh quá, dễ “tự sướng’’ quá. Hậu quả là cái gì của ta nó cũng nho nhỏ. Cùng lắm là xinh xắn, dễ thương, nhưng đồ sộ, vĩ đại thì không có. Không thể có. Tham vọng nhỏ, thành quả nhỏ.
Pablo Picasso khi thành công, được ca tụng ở “période rose” (thời kỳ hồng), nếu thỏa mãn, sẽ không có “période bleue,” thời kỳ xanh. Nếu thoả mãn với “période bleue” sẽ không có tranh trừu tượng, đưa hội họa đi vạn dặm. Một giai thoại: Picasso mời bạn bè ăn tiệm. Cuối bữa ăn, gọi tính tiền. Chủ tiệm nói xin miễn chuyện tiền bạc, được tiếp Picasso là hân hạnh rồi. Pablo vẽ vài nét trên tấm khăn phủ bàn, tặng chủ tiệm. Ông này nói xin Picasso ký tên. Picasso trả lời: tôi chỉ trả bữa cơm, không muốn mua tiệm ăn.
Nếu Picasso là người Việt, sẽ thấy đời mình đã quá đủ để thoả mãn: vua biết mặt, chúa biết tên, chữ ký đáng ngàn vàng, chỉ việc ngồi hưởng và chiêm ngưỡng dung nhan mình. May mắn cho hội họa, ông là người Tây Ban Nha, hì hục tìm tòi cho tới chết.
Mỗi lần nghe, hay coi Jean Marie Le Clézio, Patrick Modiano trong những chương trình văn học trên France Culture, hay trên France 5, ít người nghĩ họ đã chiếm giải Nobel Văn Chương.
Họ khiêm nhượng, ngập ngừng, do dự, gần như cáo lỗi sắp sửa nói những điều tào lao.
Le Clézio, Nobel 2008, khoanh tay, chăm chú nghe một tác giả vừa chân ướt chân ráo vào nghề, nói về một cuốn sách đầu tay. Modiano, Nobel 2014, tìm chữ một cách khó khăn, ngượng ngập, ít khi chấm dứt một câu, như muốn nói: thôi, bỏ qua đi, những điều tôi muốn nói chẳng có gì đáng nghe. Ông thực sự ngạc nhiên không hiểu tại sao có người nghĩ đến mình để trao giải. Ông nói có người đọc sách của mình đã là một phép lạ.
Người và ta
Những năm đầu ở Pháp, có thời tôi cư ngụ Rue Marcadet, Paris, bên cạnh là một cặp vợ chồng già, hiền lành, bình dị như một cặp thư ký hay công nhân về hưu. Mỗi lần gặp ở thang máy, bà vồn vã chào, hỏi thăm đủ chuyện. Thỉnh thoảng ông mời vào nhà, uống trà, hỏi chuyện về Phật Giáo mà ông nói đọc nhiều, nhưng có điều không hiểu. Thí dụ ông muốn so sánh khái niệm về niết bàn của Phật Giáo với thiên đàng của Thiên Chúa Giáo.
Ông là một người Công Giáo thuần thành, nhưng muốn tìm hiểu về những tôn giáo khác.
Tuyệt nhiên không bao giờ ông bà nói về mình. Nếu không coi TV , chắc không bao giờ tôi biết bà là Yvonne Loriot, danh cầm hàng đầu của Pháp, chiếm giải nhất bảy lần khi học ở Conservatoire de Paris, trước khi trở thành một giáo sư âm nhạc có uy tín.
Ông là Olivier Messaien, một trong những tác giả nhạc cổ điển lớn nhất của hậu bán thế kỷ 20. Rất nhiều các nhạc sư, nhạc trưởng nổi tiếng ở Âu Châu, như Pierre Boulez, Iannis Xenakis, hãnh diện là đệ tử của ông. Tác phẩm opera “Saint-Francois d’Assise” của ông được trình diễn khắp thế giới, được đón nhận như những tác phẩm của Mozart, Beethoven.
Ông bà sống trong một căn nhà bình dân, ăn uống đơn giản như một cặp vợ chồng nghèo. Tiền bản quyền nhạc đem tặng – một cách kín đáo – các hội từ thiện, hay giúp trùng tu nhà thờ Notre Dame de Lorette gần nhà. Những lúc rảnh rỗi, bà theo ông vào rừng, thu thanh để nghiên cứu tiếng chim hót.
Ai biết hai ông bà già, lễ độ, gần như vụng về, đang xếp hàng mua ổ bánh mì, là những nhân vật chiếm chỗ lớn trong bất cứ một tài liệu nào về âm nhạc cổ điển cận đại, tuần trước còn là thượng khách của Hoàng Gia Thụy Điển.
Khi nào ta có những người như Modiano, Le Clézio, Messaien – chưa nói tới tài năng, chỉ nói tới thái độ khiêm tốn – Việt Nam sẽ là một dân tộc trưởng thành. Trong khi chờ đợi, chúng ta tiếp tục leo lên nóc nhà, gào: tại sao tôi tài giỏi quá như vậy. Khi gào mỏi, leo xuống, đóng áo thụng vái nhau.
Đó cũng là một trò vui, nếu hậu quả không nghiêm trọng. Chúng ta đều đồng ý với nhau là đất nước đang trên bờ vực thẳm, không thể nhẫn tâm khoanh tay nhìn. Nhưng chúng ta không ngồi nổi với nhau, vì cái TÔI nó lớn quá, lớn hơn cả vận mệnh dân tộc.
Nguồn:Người Việt
André Rieu – Auld Lang Syne & Tình Người Ngoại Đạo-Ca Sĩ: Thanh Hoài
André Rieu – Auld Lang Syne & Tình Người Ngoại Đạo-Ca Sĩ: Thanh Hoài
Quà Giáng Sinh vô giá của người vô gia cư
December 21, 2022
Truyện ngắn của Lâm Hoài Thạch
Buổi sáng ngày Giáng Sinh tại Little Saigon, California. Ngày kỷ niệm Chúa giáng trần. Trời lạnh và xe cộ cũng thưa thớt, chắc vì đêm qua mọi người cùng vui mừng trong đêm Giáng Sinh tại nhiều nhà thờ, hoặc trong gia đình.
Đôi vợ chồng đến nhà thờ dự lễ Giáng Sinh. (Hình minh họa: Wang Zhao/AFP via Getty Images)
Trong góc phố của thành phố Garden Grove, một người vô gia cư khoảng 50 tuổi đang ngồi trên vỉa hè. Hành trang được cất trong một ba lô cũ rích và một cái mền quấn trên mình.
Một gã đàn ông đang đi trên vỉa hè, ngang qua người vô gia cư chừng năm bước rồi quay trở lại trước mặt người vô gia cư.
-Merry Christmas! – gã đàn ông nói.
Người vô gia cư gật đầu cười nhẹ:
-Merry Christmas!
Gã đàn ông móc trong túi ra $5 đưa cho người vô gia cư, nhưng ông ta lắc đầu cười nhẹ, và nói:
-Cám ơn ông nhiều lắm, thường thì tôi vẫn ngồi đây để nhờ tiền của những người có tấm lòng thương những người vô gia cư như tôi. Nhưng hôm nay là ngày Chúa Giáng Sinh, tôi không nhận tiền của ai cả, vì ngày này là ngày Chúa giáng trần để cứu rỗi tội lỗi cho mọi người, mà tôi cũng là một trong những người đã từng hưởng ân điển của Chúa ban. Ngay bây giờ, cho dù hoàn cảnh của tôi như thế này, nhưng lúc nào tôi cũng nghĩ rằng Chúa vẫn hiện hữu trong tôi, cho sức khỏe của tôi được đầy đặn và còn sống đến hôm nay.
-Nhưng tại sao ông trở thành vô gia cư? – người đàn ông hỏi.
Người vô gia cư trả lời:
-Hai mươi năm trước tôi vẫn làm việc như mọi người và cũng vừa cưới vợ. Vợ tôi đẹp và hiền.
Rồi người vô gia cư ngưng nói, gục đầu. Ông lấy một tấm hình người phụ nữ mang trên cổ cho gã đàn ông xem:
-Đây là hình của vợ tôi hồi hai mươi năm về trước.
-Vợ của ông đẹp quá, giờ vợ của ông đâu?
Gương mặt buồn thảm nói trong nghẹn ngào của người vô gia cư:
-Vợ chồng tôi lấy nhau được một tuần thì chúng tôi bị tai nạn trong lúc tôi đưa vợ tôi đi mua sắm quà Giáng Sinh để biếu cho thân nhân. Vợ tôi chết và tôi bị thương nặng.
-Tội nghiệp cho vợ chồng của ông quá!
-Sau đó, vì khóc quá nhiều nên đôi mắt của tôi bị mù. Sau khi được bác sĩ chữa trị hết một năm thì mắt của tôi chỉ được thấy lờ mờ cho đến bây giờ.
-Tôi hiểu vì sao ông như thế này rồi. Nhưng hôm nay là ngày Giáng Sinh, ông ngồi đây một mình, mà không nhận tiền ai hết. Vậy… Ông có cần tôi giúp gì cho ông không?
Người vô gia cư cười nhẹ nói:
-Cám ơn lòng tốt của ông. Đêm qua, tôi ngủ thấy vợ tôi về cùng đi với tôi đến nhà thờ dự lễ Giáng Sinh. Đây là món quà của Chúa đã ban cho tôi niềm hạnh phúc, mà hai mươi năm qua tôi mới nhận được. [qd]
Nhà dột từ nóc – Huy Đức
21-12-2022
Chưa thấy UBND huyện Nhà Bè và sở Xây Dựng trả lời báo Tuổi Trẻ vụ việc sông Rạch Đĩa – Phước Long Nhà Bè bị “chủ một biệt thự lớn” dùng xà lan và xe ben đổ đất, lấn chiếm hàng nghìn m2, dù báo Tuổi Trẻ Online đã đăng bài phản ánh từ tháng trước [13-11-2022]. Theo một cán bộ địa phương thì ngay cả sau khi báo Tuổi Trẻ lên tiếng, Chính quyền vẫn chỉ quan sát từ phía sông chứ không thể vào bên trong khuôn viên của tòa biệt thự.
Ai mà dám coi thường chính quyền cỡ ấy.
Sông Rạch Đĩa bị lấn chiếm, san lấp một cách tích cực hơn kể từ đầu năm 2021, khi Nguyễn Thanh Phượng trở thành chủ của căn biệt thự này. Kể từ đó, người dân địa phương chứng kiến dòng sông bị lấn chiếm như chỗ không có chính quyền. Diện tích khuôn viên của tòa biệt thự chỉ vào khoảng 1.500 m2; phần đất mà biệt thự này lấn chiếm kể từ khi bà Nguyễn Thanh Phượng nhận sang nhượng rộng khoảng gấp 3 lần phần diện tích mà bà là chủ nhân hợp pháp [phần lấp sông lấn chiếm rộng khoảng 4.500m2].
Nguyễn Thanh Phượng là em gái Bộ trưởng Bộ Xây Dựng Nguyễn Thanh Nghị. Hộ khẩu của Nguyễn Thanh Phượng hiện vẫn đang ở 91 Nguyễn Đình Chiểu, quận Ba, TP.HCM, nơi bố bà, nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đang thường trú.
Biệt thự 91 Nguyễn Đình Chiểu vốn là một công thự từng được giao cho cố bố trưởng Bộ Nội vụ [tên cũ của Bộ Công an] Bùi Thiện Ngộ. Do diện tích quá lớn, Bộ trưởng Bùi Thiện Ngộ đã xin chuyển sang một căn khác có diện tích nhỏ hơn rất nhiều. Ngay sau đó, Nguyễn Tấn Dũng đã lấy tòa biệt thự mà thủ trưởng của ông đã trả [Ủy ban Kiểm tra Trung ương chỉ cần lục lại hồ sơ hóa giá và thời điểm nộp tiền hóa giá của tòa 91 này (và cả hồ sơ nhà liền kề) sẽ nhận biết thêm bản chất con người tham lam của “Ba X”].
Đành rằng, Nguyễn Thanh Phượng đã là một công dân có đủ năng lực để chịu trách nhiệm cá nhân. Nhưng, việc vi phạm pháp luật kéo dài của Nguyễn Thanh Phượng, nhất là những vi phạm đó lại ở trong phạm vi phụ trách của ngành Xây Dựng, cho thấy Bộ trưởng Nguyễn Thanh Nghị đã vi phạm “19 điều Đảng viên không được làm” [Khi còn là Phó Chủ tịch Kiên Giang, phụ trách Phú Quốc, Nguyễn Thanh Nghị đã từng để cho công ty gia đình [cậu ruột] xây một khách sạn 5 sao vượt trái phép 2 tầng].
Việc Nguyễn Thanh Phượng lấn sông, chiếm đất kéo dài hàng năm như chỗ “vô chính phủ” khiến chúng ta nhớ lại thời kỳ tham nhũng bắt đầu lộng hành một cách “vô chính phủ” dưới thời Nguyễn Tấn Dũng đứng đầu chính phủ.
Công cuộc chống tham nhũng những năm qua đã lập được rất nhiều dấu ấn. Nhưng, liệu những dấu ấn đó có còn ý nghĩa khi “các tư lệnh” của “lực lượng tham nhũng” vẫn nhởn nhơ và hậu duệ của chúng vẫn lộng hành như chỗ không hề có “người đốt lò” nào cả.
VƯỢT BIỂN DO NHÀ NƯỚC TỔ CHỨC VÀ NHỮNG CÁI CHẾT TANG THƯƠNG
Nguyễn Tuấn Khoa
Những ngày qua thế giới đang xót thương cho 39 người xấu số trong một nỗ lực thoát nghèo với một cuộc đào thoát khỏi đất nước nhược tiểu. Thế giới cũng đang dồn sự căm phẫn lên lũ buôn người của đất nước Trung Cộng hiếu chiến. Đọc lại “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức, tôi nhớ lại những cái chết tang thương giống như vậy trong cuộc vượt biển do nhà cầm quyền Việt Nam tổ chức dưới cái tên Đi Bán Chính Thức.
Thuyền nhân vượt biển sau năm 1975. Photo Courtesy
ĐI BÁN CHÍNH THỨC HAY PHƯƠNG ÁN II:
Sau khi chiếm được miền Nam Việt Nam, mâu thuẫn giữa Việt Nam và Trung Cộng ngày càng tăng cao. Trung cộng lên án Việt Nam đàn áp Hoa Kiều và muốn đem Hoa Kiều về nước. Trong khi đó, Trung ương Đảng CSVN coi người Hoa là đạo quân thứ V và muốn “tương kế, tựu kế” để trả người Hoa về với Trung Cộng. Thêm vào đó, chính sách cải tạo công thương nghiệp đã đẩy người Hoa Chợ Lớn đi đến chỗ khánh kiệt và họ quyết định vượt biên thay vì về với Trung Cộng mà với họ không khác gì xuống địa ngục.
Người Hoa ra đi ngày càng nhiều, chết trên biển cả rất nhiều, Việt Nam bị thế giới lên án. Để đối phó, Việt Nam tổ chức cho họ ra đi bán chính thức, người CS gọi là Phương Án II, ban đầu xem ra là một chủ trương thiện chí.
Phương án II là kế hoạch tuyệt mật, phổ biến miệng, chỉ có bí thư, chủ tịch và giám đốc CA thành phố HCM biết, sau này kế hoạch này được thực hiện ở các tỉnh thành phía Nam. Đó là chủ trương “đưa đối tượng ra khỏi điểm nóng”. Đối tượng ở đây là hàng triệu người Hoa chủ yếu sống ở Chợ Lớn. Theo đó, công an thu 8-10 lạng vàng cho một đầu người, rồi dùng tiền để mua tàu hay đóng tàu, tổ chức bến bãi rồi đẩy họ ra biển với cam kết không bắt tàu trong lãnh thổ Việt Nam.
Thuyền nhân Việt Nam sau năm 1975. Ảnh trên mạng
MẶT TRÁI CỦA PHƯƠNG ÁN II:
Khi những thuyền nhân đã đến các trại tỵ nạn an toàn thì Phương Án II không còn giấu được thế giới. Thủ tướng buộc cho dừng vào tháng 12/1978 rồi phải dời sang tháng 5/1979 do số tàu đã đóng cả trăm chiếc từ vàng thu của các thuyền nhân.
Phương Án II bắt đầu biến tướng. Người Việt với giấy tờ của người Hoa ra đi rất nhiều. Các tỉnh không có bờ biển cũng xin được làm Phương Án II. Thấy Phương Án II ngoài tầm kiểm soát, 20/03/1981 ông Trường Chinh (Chủ tịch nước) đã cho lập Ban Kiểm Tra 69 với mục đích chính là kiểm tra việc thu vàng. Kết quả điều tra của Ban 69 khác xa với báo cáo của Bộ Nội Vụ đã cho thấy Phương Án II đã làm hư hỏng công an CS rất nhanh chóng.
Theo Ban 69, từ tháng 8/78 đến tháng 6/79 có 533 thuyền ra đi mang theo 134,322 người, thu được 16,181 Kg vàng (16 Tấn!) chưa kể ngoại tệ, nhà cửa được đóng thay cho vàng. Có 105 sĩ quan CA bị kỷ luật. Tất cả các tỉnh đều mắc tội gian lận và lập quỹ đen. Nghiêm trọng nhất phải kể đến tỉnh Minh Hải giấu 48, 195 lượng, Cửu Long giấu 27,000 lượng, Nghĩa Bình giấu 27,000 lượng, Phú Khánh 10,987 lượng…
Công an các tỉnh thu vàng nhưng bội tín làm nhiều người mất cả vàng và cả nhà khi theo đuổi Phương Án II, số người này lên đến 18,435 người. Phương Án II chỉ thực sự phá sản khi công an giao cho các thuyền nhân những con tàu không an toàn và nhét vào đó số lượng vượt quá tải trọng của con tàu. Tàu chìm ngay khi vừa rời bến làm hàng trăm người chết. Đắm tàu Cát Lái là một trường hợp tiêu biểu của một kiểu buôn người có giấy phép.
Họ ra đi, bỏ hết tất cả để tìm đường sống. Ảnh trên mạng
TANG THƯƠNG CÁT LÁI:
Một ngày thứ Bảy giữa năm 1979, cảng Cát Lái bất thường với hàng trăm công an canh gác nhiều vòng trong và ngoài cảng. Bên trong, một con tàu dài 30m, rộng 10m, 3 tầng, sáng bóng vẫn còn mùi sơn mới. Tàu này nguyên thủy là một chiếc tàu kéo với khoang chứa đá để giữ thăng bằng được thay bằng khoang chứa nước. Cấu trúc các khoang đươc thay đổi để chứa được nhiều người nhất có thể được. Máy được thay mới để tăng sức kéo. Người đóng tàu dường như chỉ quan tâm đến khả năng nhét đủ số người chứ không tính toán khoa học về tải trọng của tàu và sự cân bằng khi hoạt động.
Đúng giờ hẹn, đám đông đã nằm suốt đêm tại cảng bắt đầu sốt ruột và tiến về con tàu. Người trưởng tàu bắt loa điểm danh, chỉ chờ như vậy đám đông lũ lượt nhanh chóng tràn xuống tàu. Với khoảng 280 người, con tàu ngay lập tức mất ổn định. Những thuyền nhân ngồi khoang dưới không chịu nổi nóng bức, khó thở đã leo lên trên mui ngồi làm cho con tàu thêm chao đảo. Tất cả những người trên thuyền, kể cả thuyền trưởng do không có kinh nghiệm sông nước, bắt đầu hoảng loạn, tìm đường thoát ra khỏi tàu. Con tàu chúi mũi xuống và từ từ cắm sâu vào trong bùn ở đáy sông. Những người ở tầng 1 và 2 không có đường thoát. Tiếng thét gào trên thuyền và tiếng kêu cứu bất lực trên bờ tạo nên một âm thanh thê lương bao trùm một vùng quê yên bình, để rồi thoáng chốc chỉ còn lại những tiếng khóc nấc nho nhỏ của những cư dân sống rải rác trên bờ sông Cát Lái.
Hết rồi! Chết hết cả rồi!
Nhà cầm quyền lúc đó đã cho điều hai cần cẩu 60 tấn từ Vũng Tàu vào. Sau hai ngày di chuyển và ba ngày vật lộn, cần cẩu đã kéo con tàu xấu số lên khỏi mặt nước và cũng từ đây người ta biết chính xác có 227 người chết và hơn 40 người trở về từ cõi chết nhưng tất cả như những người mất trí trước thảm kịch gia đình. Xác chết nối tiếp xác chết, dãy hòm gom vội khắp nơi cùng mùi tử thi khiến người ta phải thốt lên: ai đã đem một Tết Mậu Thân nữa đến với người dân Sài Gòn hiền hòa?
Những người khâm liệm kể rằng trong số xác được vớt lên người ta thấy có 4 người mẹ ôm chặt con mình trong lòng như những nỗ lực cuối cùng với hy vọng giữ được đứa con thơ để hai mẹ con cùng nhau đoàn tụ ở bên kia thế giới. Trân trọng tình mẫu tử thiêng liêng, những người khâm liệm đã để cho hai mẹ con yên nghĩ cùng nhau trong một cỗ quan tài khô lạnh. Tất cả những người xấu số đã được an táng tại một khu đất cách cầu Giồng Ông Tố 500m.
Phương Án II không chỉ có một Cát Lái bi thảm. Theo báo cáo của Ban 69, chỉ trong vòng 1 năm có 9 tàu chìm làm chết 902 người khi những con tàu này chưa ra khỏi phao số 0. Thử điểm lại vài trường hợp đau lòng: Bến Tre có 1 tàu chìm với 54 người chết, Long An có 1 tàu chìm với người 38 chết, Nghĩa Bình 1 tàu chìm với 78 người chết nhưng khủng khiếp nhất là Tiền Giang có 3 tàu chìm với 504 người chết.
Những sự kiện của hơn 40 năm về trước đã dự báo chính xác một bức tranh đen tối cho một Việt Nam ngày nay.
(Fb Nguyen Tuan Khoa)
Tham khảo:
Bên Thắng Cuộc- Huy Đức 2012
Vĩnh biệt người tù thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu
Hiểu được tình trạng sức khỏe rất yếu của mình, ngày 11/10/2022, chú Nguyễn Hữu Cầu đã đăng một status cùng hình ảnh hũ tro cốt đã được ghi sẵn tên của mình như một lời trăn trối cuối cùng muốn gửi gắm trước khi vĩnh viễn ra đi về nơi nước Chúa :
– Dạ kính thưa Quý Linh Mục và Quý Tín Hữu : Con Gioan Baotixita Nguyễn Hữu Cầu đã rửa tội chui trong trại tù Z30A dưới chân núi CHỨA CHAN vào ngày LỄ PHỤC SINH năm 1986 do Linh mục Giuse Nguyễn Công Đoan Giám Tỉnh Dòng Tên TỔ CHỨC CHUI.
– Con đã thoát qua 37 năm tù ,về lại cõi đời từ ngày 21/3/2014 đến 2022 này là 8 năm !NHÀ ĐẤT DO MẸ GIÀ ĐỂ LẠI ĐÃ BỊ QUAN CÁCH MẠNG 《MƯỢN XÀI》MẤY CHỤC NĂM MÀ KHÔNG CHỊU TRẢ.
– NAY CON J.B Nguyễn Hữu Cầu đã chuẩn bị HŨ ĐỰNG TRO CỐT SẲN SÀNG CHỜ GIỜ VỀ VỚI THIÊN CHÚA – Con xin Linh Mục TRƯƠNG HOÀNG VŨ giáo xứ CẦN GIỜ…Lm Antôn LÊ NGỌC THANH …Nhà thờ SÁU BỌNG CẦN THƠ…Lm …Linh mục Vinh Sơn PHẠM TRUNG THÀNH , DÒNG CHÚA CỨU THẾ /SÀI GÒN >>> Cho phép con J.B NHC được AN NGHỈ HŨ TRO CỐT TẠI NHÀ THỜ ☆> Hay bất cứ nơi nào CHO HŨ TRO CỐT CỦA CON TẠM TRÚ XIN CHO CON J.B NHC BIẾT TRƯỚC ĐỂ CHUẨN BỊ *
TL – Trần Trúc Giang
BUỒN ĐẾN PHÁT KHÓC: SAO KHÔNG TẠO CÔNG ĂN VIỆC LÀM TRÊN ĐẤT NƯỚC MÌNH?
Nghe tin Đại hội Đoàn toàn quốc lần XII đặt chỉ tiêu đưa nửa triệu thanh niên đi xuất khẩu lao động, tôi buồn đến phát khóc.
Sao không đặt chỉ tiêu tạo công ăn việc làm cho thanh niên ngay trên đất nước mình?
Xuất khẩu hàng hóa thu ngoại tệ thì được chứ xuất khẩu con người thì khác gì Marx từng tố: con người trở thành một thứ hàng hóa để trao đổi, mua bán?
Tôi chạnh lòng nhớ đến mấy chục mạng người bị bỏ trong tủ đông trên đường sang Anh trồng cỏ. Lại chạnh lòng nhớ hàng vạn cô gái miền Tây lấy chồng Hàn, chồng Đài để thu ngoại tệ về nuôi cha mẹ. Và chạnh lòng nghĩ đến vô số lao động đi chi hoặc chính thức sang nước người làm những công việc nặng nhọc và bị hành hạ đến mức không ra con người.
Rồi lại chợt nhớ về quê tôi. Từ khi trồng bạch đàn trên rừng, trồng lấn sang cả đồng ruộng, hết đất gieo trồng, thanh niên đã bỏ đi gần hết. Giờ chỉ còn những bà già ngồi chờ con cháu đi làm xa gửi tiền về nuôi. Làng xóm bây giờ xơ xác, tiêu điều, chỉ còn nhà lầu của quan mọc lên nhờ những vạt rừng bạch đàn.
Tôi mong ước ngược lại, rằng một ngày kia, dân ta có công ăn việc làm ngay trên đất nước mình, thậm chí thu hút lao động nước ngoài đến đất nước mình. Phát triển đất nước bằng chất xám, tức giải phóng sức lao động bằng khoa học kỹ thuật, chứ cứ kéo dài mãi tình trạng sinh con đẻ cái ra rồi bắt chúng tha hương cầu thực để nuôi mình thì đau xót lắm!
Chu Mộng Long


























