Nếu biết trăm năm là hữu hạn -truyện ngắn – Nhã Duyên

Nếu biết trăm năm là hữu hạn

Khi nói về tình yêu người ta nghĩ đến hoa Hồng và trái tim, khi nói về định mệnh thì thường nghĩ đến nghiệt ngã, chia ly và mất mát. Có người đã phải đau khổ chấp nhận một định mệnh dù chỉ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi của cuộc đời…!

Nhớ ngày ấy… ở trại tỵ nạn Bidong – Mã Lai, Trung là trưởng phòng dạy cắt may, đang bận rộn xếp dọn sau lớp học chiều…

– Anh ơi, làm ơn cho tui mượn cái máy may sửa đồ một chút được hông? Tui mới tới nên có một bộ đồ hà, làm ơn đi mà!

Trung ngẩng đầu nhìn lên, một cô gái xinh đẹp đang nhìn hắn cười, khoe cái răng khểnh duyên dáng. Trung ngập ngừng một chút rồi nói:

– Phải ghi tên học mới được vô đây may.

– Vậy thì tui ghi tên bây giờ được hông?

– Được chớ! Ghi tên tuổi vô đây nè…

– À… Trần Thị Kim Yến, người đẹp, tên đẹp. Ngày mai có lớp lúc 9 giờ sáng, phải tới đúng giờ nghen.

– Dạ, cám ơn nhiều! nhưng cám ơn nhiều hơn… Nếu bây giờ cho may nhờ xíu thôi hà, vì biết may rồi, chưa giỏi bằng thợ nhưng không đến nỗi “xấu dễ sợ”!?… Làm ơn… chút xíu thôi mà…

Trung chịu thua,… nhìn cái đầu nghiêng nghiêng, đôi mắt nheo nheo, và đôi môi cong lên, trề xuống đang cố năn nỉ tỉ tê. Trung cười, ngọt ngào nói:

– Muốn may gì đưa anh coi nào!

– Bóp cái lưng này vô vì rộng quá xá, mà phải lên cái gấu nữa vì tui hơi bị… lùn!

__________

Ảnh: nick-jio-unsplash

Trung và Yến gặp nhau rồi thương yêu nhau trên bước đường lưu lạc đi tìm tự do, ấm no và hạnh phúc. Yến và chị là Nga đi định cư ở Canada, Trung qua Mỹ, ôm ấp mối tình đầu đời, lo đi cày kiếm tiền vì mong đưa Yến qua Mỹ chung sống.

Trung thua kém Yến về mọi phương diện, từ thân thế, tài năng, học vấn lẫn tuổi tác. Chỉ có trái tim của Trung “lớn” và chí tình hơn tất cả “cây si” đang theo đuổi Yến. Yến yêu thích được chiều chuộng, nghe những lời ngọt ngào và nhất là yêu cái vẻ đẹp trai, hiền lành của Trung. Tình yêu đôi khi bắt nguồn từ những thứ nhỏ nhặt, tầm thường len nhẹ vào lòng làm người ta ngẩn ngơ thương nhớ mà yêu mãi không thôi… Đúng như người ta thường nói: “Lý trí chẳng bao giờ hiểu được những lý lẽ của con tim”. Yến ước mong sống hạnh phúc khi lấy chồng chỉ vì hai chữ “tình yêu”.

Chị Nga đã nhiều lần khuyên bảo nên suy nghĩ chín chắn, ở cái tuổi mà Yến 22, Trung 20 thì còn quá trẻ để quyết định cuộc hôn nhân. Hôn nhân là việc hệ trọng, nếu ngộ nhận trong tình yêu hay quyết định sai lầm sẽ gây đau khổ cho cả hai hoặc nhiều hơn nữa là gia đình hai bên và nhất là con cái. Cuộc sống quanh ta luôn ẩn chứa những may rủi, những buồn vui, kể cả những tang thương của ngẫu biến. Nào ai biết được niềm vui hoan hỉ, an lạc của hôm nay lại là nghịch cảnh của mai sau!

Yến và Trung làm đám cưới đơn sơ tại nhà người chủ cho chia phòng ở San Jose, California. Chỉ có chị Nga và một số bạn bè thân quen tham dự. Yến sinh ra và lớn lên trong một gia đình trí thức khá giả, Yến rất thích học ngoại ngữ và âm nhạc. Yến đi vượt biên khi đang học Đại Học Sư Phạm. Ngày đầu tiên Yến đến lớp học cắt may, Trung lý le ôm cây đàn guitar gảy để “lấy điểm” với người đẹp, ai dè:

– Nè anh ơi, sao không lên giây đàn vậy? Đàn lạc giây rồi mà!

Trung tõn tè, mắc cỡ vì bị “lộ tẩy” bèn đưa cây đàn cho Yến, nàng lên giây và dạo khúc Romance nghe mê mẩn. Nàng chơi guitar từ bé, còn biết chơi dương cầm nữa. Nhà có năm chị em gái, đều học giỏi và yêu thích âm nhạc, nghệ thuật.

__________

Ở Việt Nam, gia đình Trung có một tiệm may nho nhỏ để sinh sống. Ba Trung là thợ may, bà mẹ hiền lành, chỉ lo phụ giúp chồng và chăm sóc con. Trung có hai người anh lớn và hai anh rể bị đi tù cải tạo, một người chị còn độc thân. Trung là con út, chỉ học hết lớp 10. Lúc mới qua Mỹ, Trung đi làm về xây dựng, sau đó làm ở một nhà kho (warehouse) của hãng sản xuất máy in điện tử. Trung đi làm kiếm sống và nuôi Yến đi học ngành technical engineering. Yến ra trường và làm việc cho IBM. Cuộc sống lứa đôi êm đềm, hạnh phúc, thắm thiết với những ân, nghĩa, tình. Rồi hai đứa con, một trai, một gái thật xinh xắn, dễ thương ra đời. Trung và Yến dành dụm mua trả góp một căn apartment be bé, sống vui vẻ bên nhau.

Năm đó,Trung phải về Việt Nam thăm gia đình vì nghe tin mẹ bị bịnh nặng, e rằng không qua khỏi. Bà mong gặp mặt đứa con út lần cuối. Từ ngày bước chân ra đi, Trung ôm nặng mối tình si với Yến nên gia đình đã bị quên lãng dù Trung là nguồn hy vọng duy nhất… Trở về nhà sau bao năm xa cách, Trung đau lòng nhìn mẹ bịnh hoạn, cha cũng già yếu, hai anh đi tù về và đang xin đi Mỹ theo diện HO, các chị cũng nghèo xơ xác nuôi chồng tù tội, đám cháu đói khổ, có đứa phải đi bán trà đá kiếm sống…!

Người cha già lo cho Trung đi vượt biên, với một ước mơ con sẽ được sống tự do, an lạc và làm nhiều tiền gởi về cho cha mẹ có được cuộc sống sung túc ở quê nhà. Ngày ngày ông ngắm nhìn những căn nhà lầu xung quanh mọc lên cao nghệu mà buồn bã vì nhà ông vẫn chưa sửa sang gì. Ông nghẹn ngào nói như trăn trối:

– Ba ước ao trước khi chết đi được nhìn thấy căn nhà của ba xây lên cao như nhà người ta, mọi sự trông nhờ vào con chứ anh chị… Ai cũng nghèo lắm con à…!  

Trung nghe mà chua xót vì Trung rất ít khi gởi thư chứ đừng nói gởi tiền về cho gia đình. Trung bàng hoàng, đau đớn nhìn cảnh nhà nghèo nàn mà đứt ruột. Rồi chợt tỉnh ra rằng bấy lâu nay đã quên mất cha mẹ anh em sống khổ ở quê nhà. Trung mang nỗi hối hận dày vò vì đã đam mê theo đuổi Yến mà ích kỷ chỉ lo vun đắp hạnh phúc riêng tư nhỏ bé của mình. Trung mạnh dạn nói với cha:

– Ba à, để con về lại Mỹ lo liệu rồi gởi tiền về cho ba xây nhà nghen. Ba đừng lo, con ráng là được.

Trước khi ôm con từ biệt, ba của Trung vẫn không quên dặn dò:

– Nhớ nghe con, nhớ gởi tiền về cho ba xây nhà nghe con.

__________

Trung về lại Mỹ rồi nhỏ nhẹ bàn với Yến:

– Em à, anh muốn mượn $20,000 để gởi về cho ba xây nhà. Mình ráng dành dụm trả từ từ mỗi tháng có được không?

Yến vừa nghe xong đã nhảy dựng lên:

– Trời ơi, anh muốn bán vợ đợ con hay sao? nợ nhà, nợ xe đầy đầu rồi còn thêm nợ tiền đóng hụi chết nữa hả? Không, anh tự lo liệu lấy! Em không muốn mượn bợ gì nữa hết, cứ trả xong nhà, xe rồi tính.

Trung lại dịu giọng năn nỉ:

– Hay là mỗi tháng mình gởi cho ba vài trăm rồi ba dành dụm khi nào đủ thì xây nhà coi như mình để dành, khỏi phải mượn nợ.

Yến lại gào lên:

– Không có vài trăm gì hết, con còn không đủ nuôi ăn kia! Thôi miễn bàn nghe, em mệt mỏi lắm rồi…!

Trung đau lòng, nhưng cũng đúng là đang nợ đầy đầu. “Lực bất tòng tâm”, bây giờ tính sao? Bên tình, bên hiếu, bên nào nặng hơn? Trung đã đi cày cực khổ nuôi Yến ăn học, nhưng Yến lại không nghĩ cho Trung trả công ơn cha mẹ nuôi con khôn lớn. Từ ngày Yến thành kỹ sư, tính tình nàng thay đổi, trở nên kiêu kỳ, phách lối và khi dễ chồng.

Tình đời đổi thay, một hôm mời các đồng nghiệp đến nhà chơi, Yến nói Trung nên lánh mặt vì không muốn họ biết chồng của nàng là một người ít học, không tài cán giỏi giang. Trung đã cay đắng buồn khổ vì tự ái nhưng vẫn ngậm đắng nuốt cay vì thương con nên nhịn vợ. Trung lặng lẽ ôm nỗi buồn phiền, tiếc nuối, nhưng vẫn nuôi hy vọng cho một sự đổi thay tốt đẹp trong đời.

Mỗi ngày, Yến ghé nhà giữ trẻ đón con về, Trung vừa bước chân vào nhà là thấy đôi mắt Yến giỗi hờn, giọng cau có:

– Nè, coi con cho tui đi nấu cơm chứ không có ngồi vắt chân lên coi TV đâu nghe.

Thằng nhỏ mà ré lên thì…

– Trời ơi, cha đâu rồi mà để thằng con khóc dzữ dzậy hả?!

Ảnh: de-jesus-benitez-unsplash

__________

Gia đình không còn vui vẻ, đầm ấm, ngọt ngào như những ngày tháng cũ. Mắt Yến không còn long lanh, vui cười trong hạnh phúc mà đong đầy lo âu, buồn chán. Giọng nàng trở nên the thé và nói những lời hằn học, chua cay. Mỗi ngày sống trong căng thẳng và lạnh lùng của vợ, Trung buồn bã đi làm về là ghé vào quán cafe ngồi đến khuya mới lò dò về nhà. Mà cũng không yên, vẫn bị gào la chửi bới đến nỗi Trung lại tìm vào quán chơi bida cho đến đêm tàn, về đậu xe trước cửa nhà rồi ngủ trong xe. Trời California vào hè, nóng oi ả, làm sao sống trong xe, Trung bèn đi casino thâu đêm cho mát mẻ, lại đầy vui nhộn. Thế là Trung lao thân vào cờ bạc. Dòng đời đưa đẩy đến một ngã rẽ mà người ta thường gọi là “số phận” hay “định mệnh”.

Trung ngồi sòng bài, ban đầu chơi sơ sơ, ăn sơ sơ, thua sơ sơ, mỗi lần như vậy đều có một cảm giác khoan khoái thú vị lạ thường: Háo hức khi nhập cuộc, hưng phấn khi may mắn thắng và cay cú khi xui xẻo thua. Một cảm giác kích thích đầy ma lực làm Trung quên hết phiền não. Một hôm thắng lớn, Trung sung sướng chợt nghĩ ra cách kiếm tiền mau lẹ bằng con đường cờ bạc. “Đi đêm có ngày gặp ma”, rồi đi với ma, dân cờ bạc khi lậm vào thì thường trở thành “ma dữ”.

Từ một kẻ hiền lành, chăm chỉ, Trung lao vào cờ bạc như con thiêu thân, thua mà vẫn say mê gỡ gạc, càng gỡ càng thua; nợ đến nỗi hết cả tháng lương cũng không đủ trả tiền lời cho thẻ tín dụng. Trung bắt đầu dối trá, xoay sở tìm cách mượn bạn bè, bà con, quen biết,… vì vẫn nuôi hy vọng gỡ gạc. Sau cùng, tâm thần bị bấn loạn, lún sâu vào nợ nần, dù bán hết cả gia tài đang có cũng không sao trả nổi. Trung  xơ xác, tiều tụy, thất thần. Đúng thật, “cờ bạc là bác thằng bần”. Thử hỏi: Nếu ai chơi cờ bạc cũng “thắng” thì ông chủ sòng bạc đâu có “ngu dại” mà chiêu đãi, mời gọi khách? Ông trùm casino nào cũng giàu nứt đố đổ vách.

Càng ngày Trung càng vắng nhà, rồi đi biền biệt. Yến nghe bạn bè nói Trung la cà ở quán bida. Dắt con đi tìm, nàng gào thét, làm dữ, buộc Trung phải về. Lại có người mách Trung thường “đóng đô” ở casino, Yến cũng lặn lội tìm nhưng cũng chẳng thấy tăm hơi… Khi bước chân về nhà bị Yến chửi bới, đay nghiến, Trung lại bỏ đi; rồi ngẫu nhiên gặp Kimberly, một tay cũng mê cờ bạc như Trung. Hai người trở thành nhân tình, nhân ngãi. Những ngày thua cháy túi, Kimberly rủ Trung về nhà hủ hỉ cho quên nỗi sầu. Ở đó, đôi khi nỗi sầu được “chôn dấu” hay “đi mây về gió” với những viên ma túy. Một hôm, Yến xuất hiện trước cửa nhà Kimberly để đánh ghen và chỉ vào mặt Trung hăm dọa:

– Anh chờ coi, mẹ con tui sẽ cho anh một bài học nhớ đời, có hối cũng không kịp…!

Chẳng còn tha thiết gì đến vợ con, cha mẹ, anh em. Căn nhà mơ ước của ba cũng tan theo mây khói. Trong trái tim Trung bây giờ, cái ngăn lớn nhất chỉ muốn chứa tiền và ngăn kế là chứa bài. Về nhà khai hết với vợ cũng không xong, trốn biệt xứ cũng không được, đằng nào cũng không thoát! Trung mệt mỏi, buồn nản. Tuyệt vọng, không lối thoát, lòng u uất, bi thương vì ở bước đường cùng, Trung đứng chênh vênh bên bờ vực thẳm của tội lỗi, không biết sẽ về đâu…

__________

Ở góc đường vắng vẻ, có một chiếc SUV màu trắng đậu vài ngày rồi mà không thấy chủ nhân ra vào… Một buổi chiều, cặp vợ chồng thường dắt chó đi dạo, ngửi thấy mùi hôi thối từ chiếc xe bốc ra bèn báo police.

Người đàn ông 34 tuổi, tên Nguyễn Hiếu Trung, đã chết thúi rữa trong xe. Có một vỏ chai rượu Whiskey và một cái bao nhỏ xíu đựng vài viên ecstasy. Hắn chết vì vừa xài ma túy vừa uống rượu mạnh. Có nghi vấn rằng hắn tự tử, nhưng không có tuyệt mệnh thư. Dường như hắn không còn gì để nói hay không biết nói gì khi sống những giờ phút của cuộc đời trong tăm tối bi thảm…

Trung chết, Yến đau khổ một mình nuôi con. Hai đứa bé lớn lên hứa không bao giờ bước chân vào cửa casino như cha. Gia đình, cha mẹ anh chị đau đớn trước cái chết bi thương, đầy nhục nhã của Trung. Phải chăng những ước muốn của họ đã tạo nên nghịch cảnh mà Trung đã không thể vượt qua để thỏa mãn và làm vừa lòng mọi người? Sau vài mối tình nhạt nhẽo, hời hợt vội qua trong đời, Yến buồn khổ, dằn vặt vì nàng sống quá ích kỷ, Trung ra nông nỗi. Nàng vẫn nhớ thương và hoài mong con thuyền tình quay về bến cũ nhưng làm sao có thể được. Nó đã ra đi, vĩnh viễn không bao giờ trở lại…

Nhu Cầu Cận-Tử – Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức 

Nhu Cầu Cận-Tử

Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức 

…Cận-Tử là thời gian lão đang lần bước tới ngưỡng cửa Tử Biệt, của sự “dùng dằng nửa ở nửa đi”. Mà dùng dằng thì còn đôi chút quyến luyến, tiếc rẻ, nấn ná, cố kéo dài một it thời gian với cuộc đời. Nấn ná vì lão vẫn không tin rằng lão chỉ còn dăm tháng để hít thở không khí trần gian, để được gần gũi người vợ hiền, bầy con cháu. Và bạn bè quyến thuộc gần xa…

Khi được thầy thuốc cho hay bệnh đang đi vào giai đoạn cuối thì lão có những tâm trạng khác nhau.

Lão ngạc nhiên không tin chuyện đó có thể xẩy ra cho lão. Lão hốt hoảng kêu lên “Chắc là có sự lầm lẫn nào đây. Ðâu có phải là mình nhỉ”!? Lão cho rằng bệnh nhân giường bên kia ra đi sớm mới phải vì đương sự gầy gò ốm yếu, suốt ngày ho sù sụ, luôn luôn thở dốc, chứ lão đâu đã đến nỗi gì. Ðây cũng là phản ứng tự nhiên của nhiều người chứ chẳng riêng gì lão. Tự nhiên vì sắp mất tất cả mọi sự trên đời thì ai chẳng ít nhiều tuyệt vọng, đau khổ, bất mãn…

Nhưng mỗi lần gặp mặt, thấy ông thầy thuốc nghiêm nghị hơn, dè dặt hơn thì lão linh cảm là đúng. Ðôi lúc lão cũng đã ấm ức trách vị lương y vì chẳng chịu khó tìm kiếm phương thức thần diệu hơn để chữa cho mình.

Rồi lão cầu nguyện, mặc cả điều đình với đấng thiêng liêng giúp lão, cứu lão ra khỏi cơn bạo bệnh này, với lời hứa là từ nay sẽ sống đàng hoàng hơn, điều độ hơn. Từ hơn hai năm nay, khi thấy ho nhiều, lão bỏ hẳn rượu, thuốc lá, ăn nhiều rau trái cây và còn đi bô mỗi ngày, một việc mà trước đây không bao giờ lão nghĩ tới. Rồi thì lão được xác định bị ung thư phổi. Chẳng là vì lão hút thuốc lá từ năm 19 tuổi, hơn một nửa thế kỷ liên tục mang khói vàng của điếu thuốc vào phổi… Lão bắt đầu ho nhiều, khó thở, kém ăn, xuống cân. Và lão bắt đầu trị liệu.

Lão mong có phép lạ để lão sống thêm vài năm nữa, cho tới khi đứa con út tốt nghiệp đại học. Rồi ra đi cũng mãn nguyện…

Ðến khi y giới lắc đầu chịu thua thì lão thấy không còn hy vọng, lão trở nên buồn rầu, chẳng muốn gặp ai.

Có người nói lão sợ chết. Thời gian đầu khi nghe nói bệnh không chữa được thì quả tình lão có hoảng hốt sợ hãi thật. Ai mà chẳng sợ mất sự sống, phải lìa bỏ những gì đã gắn bó với đời mình cả nhiều chục năm. Nói rằng không sợ thì chỉ là dối lòng, phủ nhận chối bỏ sự thật. Bây giờ thì lão chấp nhận những giới hạn của chữa chạy. Nhiều lúc, lão cũng nghĩ là sống tới tuổi ngoài thất tuần của lão hiện nay cũng đã quá nhiều Ngày xưa cha mẹ lão chỉ thọ tới sáu chục tuổi. So với bố mẹ, “Bonus” tuổi mà Thượng Ðế dành cho lão đã quá nhiều… Lão chấp nhận và chỉ mong sao được ra đi bình an, thanh thản…

Nhưng lão cũng nghĩ tới một số nhu cầu, một số mong muốn được đáp ứng trước khi tử biệt. Những nhu cầu căn bản của con người nhưng đơn giản hơn, nhẹ nhàng hơn…

Vì lão nghĩ, dù trong tình trạng cận tử, lão vẫn còn là một sinh vật, vẫn còn cảm nghĩ, suy tư, rung động, vẫn còn đôi chút nhu cầu vật chất, những tình cảm thương yêu, tiếp xúc. Vậy thì lão vẫn còn những mong muốn. Y giới cũng đồng ý với lão rằng người cận tử có quyền được cung cấp một số đòi hỏi.

Lão quyết định sẽ chết đàng hoàng, trong tôn trọng. Lão nghĩ là lão may mắn có được một mái nhà ấm áp để sửa soạn ra đi chứ không cầu bơ cầu bất như nhiều người bất hạnh, tứ cố vô thân, không người thừa nhận. Lão đang ở trong một cơ quan chăm sóc người cận tử.

Lão nhớ lại, ngày xưa người ta thường chết ở nhà, nơi mà vợ chồng con cái sống chung với nhau thế hệ này qua thế hệ khác. Người ta sửa soạn cho sự chết giữa những người thân yêu, được người thân yêu quây quần chăm sóc. Mọi người có thời giờ thong thả nói với nhau, bàn bạc cùng nhau về hậu sự, về chuyện tương lai của các thành viên trong gia đình. Người chết được thân nhân tắm rửa bằng nước cỏ cây hoa lá nhiều mùi thơm, thân xác nguyên vẹn và được mặc quần áo mới may thật đẹp. Áo quan là những mảnh gỗ vàng tâm, gỗ gụ, gỗ lim… sắm sẵn dùng làm phản nằm cho bóng dẩu mồ hôi, để khi hữu sự thì làm áo quan, mang thân xác ra đi. Người chết được quyến thuộc bạn bè tới tận nhà để nhìn mặt nhau lần cuối, đưa tơi huyệt để vĩnh biệt chia tay…

Bây giờ thì mọi sự đều đổi thay, vì hoàn cảnh, nhu cầu cuộc sống. Người ta chết ở bệnh viện, ở nhà thương, ở nhà “hospice”, đôi khi trên xa lộ, tại thương xá, giữa biển cả, trên núi cao… Thôi thì “gặp thời thế, thế thời phải thế”, chọn lựa làm chi… Cũng là một cách chấm dứt sự sống…

Lão đã làm giấy từ chối mọi phương thức chữa chạy mạnh mẽ như là “gắn dây chỗ này, cài máy chỗ kia” trên cơ thể. Trong di chúc, lão ghi rõ ý muốn chăm sóc y tế như thế nào trong trường hợp mình không nói được vào giai đoạn cuối cuộc đời, khi không còn hy vọng cứu chữa. Lão cũng làm giấy ủy quyền cho một thân nhân quyết định phương thức điều trị khi lão hết sáng suốt. Lão đã tìm hiểu về chương trình chăm sóc cận tử –hospice- nên lão xin vào đây để hy vọng được nhẹ nhàng ra đi không đau đớn vì những biến chứng bệnh của ung thư…

Trước hết lão muốn được gặp gỡ tất cả thân bằng quyến thuộc nhất là người bạn trăm năm với các con các cháu. Hơn mấy chục năm chung sống với biết bao kỷ niệm buồn vui có nhau. Lão đã làm hết nhiệm vụ cho gia đình và lão cũng muốn nhân dịp này nhìn lại các thành quả đó trên gương mặt mọi người với những lời nhắn nhủ cuối cùng. Lão cũng cần giải quyết mọi chuyện với người thân thiết để đôi bên chia tay trong bình an… Và lão cũng được nắm bàn tay những  người thân yêu lần cuối, bàn tay đón lão vào đời, bàn tay tiễn đưa lão vĩnh viễn ra đi. “Xin chia tay, và nếu là mãi mãi, thêm một lần, xin mãi mãi chia tay”- một nhà thơ nào đó đã viết…

Lão mong muốn được đối xử như người còn sống. Theo lão, cận tử mới chỉ là gần chết, sẽ chết vì sự sống chỉ ngưng sau khi lão không còn hơi thở, tim lão ngưng đập, não bộ tê liệt. Lão vẫn còn là một sinh vật với mọi ý nghĩa của nó, như là có suy tư, cảm xúc, quyền hạn như mọi người. Có vui, có buồn, có hy vọng, có thương yêu…

Lão cần được duy trì các hy vọng dưới mọi hình thức. Hy vọng có thuốc tiên, có phương thức kỳ diệu để lão lành bệnh. Mặc dù biết rằng bệnh của lão đang đi vào giai đoạn cuối, những hung bào ung thư đã xâm lấn nơi xa, nhưng “còn nước còn tát”, lão vẫn hy vọng ở một phép lạ đến với lão. Lão đang cầu nguyện ơn trên. Rồi lão hy vọng những cơn đau không hành hạ mình. Hy vọng con cái gần mình. Hy vọng không chết đơn côi. Xin ai đó đừng làm tiêu tan hy vọng của tôi với lời an ủi xã giao, có lệ, “hãy nhìn vào sự thật, đừng mong ở phép lạ”…  Hy vọng có thể lành. Hy vọng chết không đau đớn. Hy vọng vợ hiền, con cháu ở lại bình an. Hy vọng mình được về nơi vĩnh phúc. Xin đừng thổi tắt những ngọn lửa hy vọng của tôi!

Dù thời gian không còn bao lâu, nhưng lão vẫn mong muốn tiếp tục được chăm sóc bởi những người có khả năng, hiểu biết, thông cảm với hoàn cảnh, bệnh tình  của lão. Lão vẫn muốn tiếp tục nhận dịch vụ y tế, dù mục tiêu bây giờ là làm nhẹ bệnh thay vì chữa khỏi… Những giải thích về bệnh của tôi từ bác sĩ, những hướng dẫn ăn uống từ điều dưỡng viên, sự chăm sóc vệ sinh cá nhân cũa người y công… đều làm ấm lòng tôi hơn, thoải mái hơn… Dù biết rằng sắp chết, tôi cũng vẫn cần… xin đừng cô lập tôi, bỏ tôi một mình trong sợ hãi!!! Lão nhớ có một tác giả nào đó đã viết: “Chết không phải là kẻ thù; sống với ám ảnh sợ hãi nó mới là kẻ thù…”

Lão cũng muốn được tham dự vào các quyết định liên quan tới lão. Về các phương thức trị liệu; cách ăn uống, sinh hoạt hàng ngày. Ngay cả hình thức ma chay, chôn cất mà lão đã sắp đặt đâu vào đó. Ðôi khi thân nhân không muốn kẻ sắp vĩnh biệt ra đi bận tâm với thủ tục, chi tiết rườm rà, nên quyết định hộ. Làm vậy là ta đã phủ nhận quyền quyết định của họ, coi họ như bất lực và vô hình dung giảm giá trị của họ…

Lão cần được giải thích đầy đủ và ngay thẳng cũng như có quyền nêu ra những thắc mắc về sự chết. Nhiều khi thầy thuốc không muốn nói tới chết chóc với bệnh nhân đau nặng, vì muốn để họ còn hy vọng. Hoặc cho rằng bệnh nhân đã biết rồi. Vì khó nói làm sao ấy. Lão cũng thông cảm với hoàn cảnh khó xử của người thầy thuốc đang chăm sóc lão. Nhiều lúc lão thấy ông ta dường như muốn nói với lão một điều gì quan trong, nhưng lại ngập ngừng. Chắc lại là chuyện “vô phượng trị liệu” về bệnh của lão chứ gì!? Thực tội nghiệp cho ông bác sĩ! Ðược huấn luyện để xua đuổi tử thần xa sự sống, chứ đâu có được hướng dẫn để nói về sự chết với bệnh nhân…

Từ lúc sinh thời, lão vẫn có một đức tin tôn giáo thì giờ đây lão cần sự chăm sóc tâm linh, để linh hồn lão có nơi tá túc bình an. Người ta muốn được lên cõi Thiên Ðàng, tiêu diêu miền Cực Lạc thì lão cũng muốn được về nơi vĩnh cửu mà lão đã từng ấp ủ. Lão muốn  được tâm sự với vi lãnh đạo tinh thần mà lão đã quen biết từ nhiều chục năm nay, để sửa soạn cho linh hồn lão…

Lão cũng cần được giải thích về diễn tiến của sự chết; Vì lão nghe nói khi chết thì sẽ có những khó khăn, những thay đổi về thể xác cũng như linh hồn. Liệu lão có bị những cơn đau bệnh hoạn xâu xé cơ thể!? Liệu những hoảng loạn, ác mộng có đến với lão?. Lão có mất ngủ, kém ăn, bí đại tiểu tiện… bác sĩ sẽ làm gì để giúp lão ra đi nhẹ nhàng?

Lão cần sự giải thích thành thực, sự thông cảm của thầy thuốc. Lão không muốn sống trong u mê, lo sợ của sự chờ chết… Lão nhớ lời nhắn nhủ của Nữ tu đáng kính Theresa “Ðừng sợ hấp hối vì nó rất giản dị…” 

Lão chỉ cần có vậy…

Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức 

From: TU-PHUNG

Chuyện Suy Ngẫm –  Đông Quyên phiên dịch

Chuyện Suy Ngẫm

“…Những người anh hùng trên một đất nước anh hùng, dù thắng hay bại vẫn được coi trọng, “luận anh hùng không dựa theo thành bại”. Người Nhật người Đức, sau khi bại trận vẫn được người Mỹ kính trọng. Còn Việt nam mình thế nào? …

Đây là một câu chuyện có thật, xảy ra trong thế chiến thứ hai, một câu chuyện đầy tình người, đáng cho chúng ta đọc và suy ngẩm.

Trung uý Charlie Brown 21 tuổi, trưởng phi cơ chiếc B17F Flying Fortress tên phi cơ (Ye Olde Pub) thuộc phi đoàn 527th United States Army Air Force (USAA) đồn trú tại Kimbolton England.

Ngày 20 tháng 12 năm 1943. Trung uý Charlie Brown cất cánh từ Kimbolton cùng phi hành đoàn 10 người, trong một phi vụ đánh bom khu kỷ nghệ gần thành phố Bremen Đức Quốc, thành phố được bảo vệ dầy đặc phòng không và 250 chiến đấu cơ gồm Bf 109, Fw 190 và GJ 11.

Trên vòm trời Bremen chiếc B17 của Charlie Brown bį phòng không của Đức bắn gần gãy lìa đuôi, mủi phi cơ bị hư hại nặng, phi cụ không còn hoạt động, điện, thủy điều hoàn toàn hư hỏng. Ba trong bốn động cơ không còn hoạt động được. Sau đó chiếc B17 bị các chiến đấu cơ Đức vây quanh, bắn nát như tổ ong, chiếc phi cơ B17 mất cao độ chúi xuống, trong lúc hỗn loạn không còn phi cụ, phi cơ lạc hướng bay sâu vào nội địa nước Đức. Trung uý Charlie Brown hồi tưởng:Phi cơ trong tình trạng tuyệt vọng nhưng anh không thể ra lệnh cho phi hành đoàn nhảy dù được, vì trên tàu còn 4 phi hành đoàn bị thương, một rất nặng, nên anh quyết định bay tiếp cho đến khi nào không còn bay được, anh sẽ đáp ép buộc, và tất cả phải chịu chung số phận với con tàu.

Anh Franz Stigler, người phi công lái chiếc Bf 109. Một anh hùng không chiến của không lực Luftwaffe (Đức Quốc) từng hạ 27 phi cơ của đồng minh, đang tiếp tế nhiên liệu, nạp đạn cho phi cơ dưới đất, được lệnh cất cánh khẩn cấp, bắn hạ chiếc B17, đang lảo đảo bay trong không gian vô định.

Trung uý Charlie hồi tưởng: tôi phải vất vã lắm mới kéo được con tàu trở lại bình phi, thì lù lù bên trái của tôi một chiếc Bf109 của Đức kèm sát cánh

Trong giây phút kinh hoàng, tôi nhắm mắt lại, hy vọng đây chỉ là giấc mơ. Khi mở mắt ra chiếc Bf109 vẫn còn đó, và người phi công ra lệnh cho tôi phải đáp ép buộc xuống phi trường Đức, hay phi trường nước trung lập Sweden, tôi không đồng ý. Cuối cùng tôi thấy người phi công lái chiếc Bf109 bay nhanh phía trước, lắc cánh ra hiệu cho tôi theo, không còn lựa chọn tôi bay theo, độ hơn một giờ sau tôi nhìn thấy biển Bắc. Chiếc phi cơ Bf109 bay chậm lại song song với tôi, đưa tay chào, rồi lắc cánh nhẹ vài cái, dấu hiệu tạm biệt của người phi công, rồi mất dạng trong sương chiều.

Như một phép lạ, anh Charlie Brown bay được 250 miles(400 km) qua biển Bắc. Sau cùng đáp ép buộc xuống phi trường của hoàng gia Anh ở Seething, nơi đồn trú của phi đoàn 440th bomber group, chỉ có một người chết, còn tất cả những người bị thương đều được cứu. Sau đó tất cả phi hành đoàn báo cáo với sỉ quan chỉ huy ở đây, họ được chỉ thị giữ kín chuyện này, vì nói ra sự thật có vẽ phản tuyên truyền, vì không thể có một phi công Đức nào hào hùng và độ lượng với kẻ thù như vậy

Sau chiến tranh Charlie Brown ở lại phục vụ trong không lực Hoa Kỳ cho đến năm 1972 giải ngũ với cấp bậc trung tá sống tại Florida.

Câu chuyện không chấm dứt ở đây. Trở về lại quê hương, anh Charlie Brown viết rất nhiều thư để mong tìm ra tông tích người phi công Đức đã không cướp đi mạng sống của cả phi hành đoàn chiếc B17 của anh. Tìm một người phi công sau một cuộc chiến tranh tàn khốc, không tên họ, chỉ có một câu chuyện, đâu phải dể tìm. Không nản lòng anh vẫn tiếp tục. Cuối cùng vào năm 1989, sau 46 năm tìm kiếm, anh Charlie Brown đã tìm ra được người phi công bí mật, lái chiếc Bf109. Một anh hùng không chiến của không lực Luftwaffe (Đức) cũng là một thiên thần độ lượng trên vòm trời Bremen vào những ngày cận giáng sinh năm 1943. Đó là anh Franz Stigler.

Sau khi chiến tranh chấm dứt anh Franz Stigler di dân sang sống ở Vancouver Canada. Trong bức thư đầu tiên anh Franz Stigler viết cho Charlie Brown “suốt bao nhiêu năm dài tôi luôn tự hỏi, không biết chiếc B17 đó có đưa phi hành đoàn về đáp an toàn hay không “

Họ gặp nhau sau 46 năm tìm kiếm diễn ra rất cảm động. Anh Franz Stigler hồi tưởng: tôi được lệnh cất cánh rượt đuổi bắn hạ chiếc B17, tống ga đuổi kịp, thì tàu của tôi báo hiệu máy đã nóng vượt bực, tôi đến từ phía sau quan sát chiếc B17. Một cảnh tượng thật tang thương, phần đuôi của con tàu gần như tan nát, một lổ hổng lớn có thể nhìn từ đuôi cho đến cockpit, người xạ thủ tail gun turret nằm chết đong đưa, nửa trong nửa ngoài trên pháo tháp. Tôi bay lên quan sát bên thân tàu, cả một vùng thân đầy lổ đạn to lớn, tôi có thể thấy cả phi hành đoàn bị thương nằm la liệt bên trong, người trưởng phi cơ đang vật lộn với con tàu mong giữ được bình phi, tôi ra hiệu cho anh ta theo tôi đáp xuống một căn cứ gần đó, để cứu những phi hành đoàn bị thương, anh ta nhìn tôi chăm chăm rồi nhè nhẹ lắc đầu, tôi không có can đảm giết những người anh hùng không còn vũ khí để tự vệ, tôi là một người phi công hào hùng, tôi chém giết để bảo vệ quê hương tôi, nhưng không hề có thù hận, khi còn chiến đấu ở Bắc Phi, người chỉ huy của tôi đã nói, nếu tụi mầy bắn một người phi công đã nhảy dù ra khỏi phi cơ, đó là một hành động tồi tệ, tao sẽ là người bắn rơi tụi mầy, trong trường hợp nầy cũng vậy, chiếc B17 nầy không còn tự vệ được, tôi phải để cho họ có một cơ hội, ngày mai tôi sẽ bắn họ khi họ ngang ngửa với tôi. Biết là không thể thuyết phục được người trưởng phi cơ B17 tôi bay ra phía trước lắc cánh, tôi cũng mừng khi thấy anh đã bay theo tôi, hướng dẫn chiếc B17 độ một giờ sau thì tôi thấy biển Bắc, tôi bay chậm lại song song, chào anh ta rồi quay trở về đáp, dĩ nhiên là tôi phải báo cáo với cấp trên, là tôi đã bắn hạ chiếc B17 trên biển.

Anh Charlie Brown và Anh Franz Stigler trở nên đôi bạn thân, họ đã gặp lại nhau nhiều lần, sau đó họ đã được không lực Hoa Kỳ bạn tặng những huy chương cao quý

Anh Charlie Brown mất ngày 24 tháng 11 năm 2008

Anh Franz Stigler mất ngày 22 tháng 3 năm 2008

Những người anh hùng trên một đất nước anh hùng, dù thắng hay bại vẫn được coi trọng, “luận anh hùng không dựa theo thành bại”. Người Nhật người Đức, sau khi bại trận vẫn được người Mỹ kính trọng. Còn Việt nam mình thế nào? Những người lính miền nam bại trận được đối xử ra sao? Nếu không có người Mỹ và thế giới tạo áp lực, chắc chắn người Nga, đã để cho cộng sản Việt Nam giết chết hết hai triệu Quân Cán Chính của miền Nam trong tù, mà họ gọi là trại cải tạo, giống như họ đã làm ở Tiệp khắc, Ba Lan, và ngay tại Liên bang sô-viết. Thật là xấu hổ cho bọn Cộng sản hèn hạ.

httpv://www.youtube.com/watch?v=_lp9-cN_Oog

The Franz Stigler and Charlie Brown Incident

 Đông Quyên phiên dịch

From: TU-PHUNG

HÃY BÌNH SỬ VỚI TƯ CÁCH LÀ NGƯỜI TỬ TẾ, TÔN TRỌNG SỰ THỰC, SÒNG PHẲNG VẢ TIẾN BỘ…

HÃY BÌNH SỬ VỚI TƯ CÁCH LÀ NGƯỜI TỬ TẾ, TÔN TRỌNG SỰ THỰC, SÒNG PHẲNG VẢ TIẾN BỘ…

Anh tôn trọng người khác để nhận được sự tôn trọng ngược lại.

Nhiều người đang bụm miệng vì một ông tiến sĩ kinh tế nhận định về lịch sử Miền Nam, ông ta cho rằng Miền Nam là “tinh hoa Bắc Việt tụ lại, dồn vào theo dòng khai phá Phương Nam”.

Thiệt là…! Bậu không hề hiểu câu “Ăn theo thuở, ở theo thời” gì hết.

Dân gian Bắc Hà có câu:

“L.. bà bà tưởng l.. ai

Bà cho ông Lý mượn hai tháng liền”

Tự nhận mình là “người liêm chính” và giảng moral, nói về năng lực, đạo đức và khơi về dòng họ mà đại bác thụt không tới.

Lý thuyết là cùng một dân tộc, cùng chữ viết, cùng tiếng nói, điều đó không ai phủ nhận.

Nhưng trời ơi! Thực tế Nam và Bắc hoàn toàn khác nhau về cách sống, tư duy, văn hóa ,ẩm thực. Bây giờ nói về “bà con” thì có lẽ chắc không ai còn nhớ đâu.

Máu pha nhiều quá.

Thí dụ như người Mỹ, nếu người Anh nói người Mỹ là người Anh thì dân Huê Kỳ sẽ cười vô mặt liền.

Cũng như danh xưng “Việt kiều”, người VN ở hải ngoại đời đầu, khi mà họ còn sanh đẻ và lớn lên ở VN rồi di tản ra hải ngoại thì còn dính chữ Việt Nam. Nhưng qua thế hệ thứ hai, thứ ba, thứ tư thì con cháu đã thành người Mỹ, người Úc, người Châu Âu rồi, nói nó là người VN thì nó cười vô mặt. Nhìn bà con rồi kêu cháu hãy làm nghĩa vụ gửi tiền về VN cho họ hàng là cái không bao giờ có vì nó không thể có trách nhiệm như cha mẹ nó được, đây là sự thực.

Miền Bắc từng có 1000 năm Bắc thuộc, khi đó người Tàu di cư qua hàng hà sa số đặng cai trị, nhưng người Tàu không làm sao đồng hóa Lạc Việt được vì tinh thần dân quá cứng cỏi, thậm chí người Tàu di cư qua ở vài đời thành người Việt cũng đòi độc lập ,dính mẫu hệ cả dòng.

Nếu nhìn họ hàng thì Bắc Kinh giờ làm như Putin với Ukraine, nói rằng người VN ở Miền Bắc giờ là con cháu của “tinh hoa người Hoa Hạ xưa” thì nghe có vui không?

Mà ngẫm lại Bắc và Nam như âm với dương vậy, thời tiết Nam nóng thì Bắc lạnh và Bắc luôn dính cái lòng thòng từ Trung Hoa, bên đó có cái gì Bắc có cái đó, rõ nhứt là sĩ diện hảo và rất thích làm “anh cả”.

Vũ trụ là một dòng sông dài, cả một quá trình lịch sử cũng dài, con người qua bao khúc nhoi, thăng trầm có đủ hết, Nam Kỳ và Bắc Kỳ cũng vậy.

Mà ngộ!

Rất nhiều người cứ thắc mắc, tại sao kêu Nam Kỳ, Trung Kỳ, dân hai xứ này cười hề hề, không để ý gì hết. Còn kêu người Bắc nào là Bắc Kỳ, nếu người Bắc di dân vào nam 1954, hay gọi là Bắc 54 thì cũng không sao, nhưng Bắc 75, Bắc đang ở phên dậu thì đa số họ sẽ đưng đửng lên như bị con gì cắn, rồi chửi người kêu là phân biệt vùng miền, chửi người kêu là miệt thị.

Kỳ chỉ là đất một cõi mà ta? Thành đô một nước còn có tên là “Kinh Kỳ” đó thôi.

Trong lịch sử Việt Nam ta có một cái huyện được sử Nguyễn ghi chép là “Quý huyện”, trong đó có một ngoại trang gọi là “Quý hương”.

Vùng đất đó là Gia Miêu ngoại trang thuộc tổng Thượng Bạn huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, trấn Thanh Hoa, là nơi phát tích của vương triều Nguyễn.

Là nơi quê nhà lão tướng Nguyễn Kim đã trung hưng thành công nhà Lê Trung Hưng.

Cũng là quê của Quận Công Nguyễn Hoàng ra đi trấn thủ xứ Thuận Hóa năm 1558, ông về Phương Nam, tiên khởi hùng mạnh khởi lập lên xứ Đàng Trong với 9 chúa, 13 vua.

Xin lật lịch sử vào những năm 1558-1600.

Chúng ta nghe giai thoại rằng chúa Nguyễn Hoàng vì “nghe lời” Trạng Trình “Hoành sơn nhứt đái, vạn đại dung thân” nên xuôi về Nam.

Tôi thì đọc giai thoại cho vui thôi, cái đám sĩ phu Bắc Hà rất thích đặt giai thoại, thiệt ra là tầm nhìn chánh trị của chính chúa Nguyễn Hoàng mà thôi, ông nhìn xa ra cái hướng mà dung thân, phát triển khi anh rể Trịnh Kiểm đã nuốt hết cơ nghiệp nhà vợ rồi giết anh trai Nguyễn Uông,sẽ giết tới Nguyễn Hoàng.

Đi vô vùng “Ô châu ác địa”, “Biên viễn xa xôi” là một cuộc thử thách thực sự chứ không phải đi du lịch chơi chơi như thời nay. Cái duyên này là Trời định, là Thiên Mệnh, để Việt tộc phát triển dài ra cương thổ.

Năm 1558 Nguyễn Hoàng ôm theo nhiều anh em, bà con, tùy tùng quê ở Tống Sơn.

Ta phải kể ra ba ông lớn có tiếng trong đời Nguyễn Hoàng mà lịch sử ghi là: Nguyễn Ư Dĩ, Tống Phước Trị và Mạc Cảnh Huống.

Con cháu Nguyễn Ư Dĩ sau này đổi sang họ Nguyễn Khoa, với Nguyễn Khoa Chiêm, Nguyễn Khoa Đăng.

Dòng thứ hai là họ Tống của ông Tống Phước Trị.Tống Phước Trị là người mang họ Tống của chính “Qúy huyện” Tống Sơn. Khi Nguyễn Hoàng vào Nam thì ông đã có danh phận chức tước ngang hàng với chúa Nguyễn Hoàng, tước Luân Quận Công, làm Trấn thủ Thuận Hóa trước cả Nguyễn Hoàng.

Dòng Tống Phước Trị là đệ nhị công thần của chúa Nguyễn Hoàng.

Ông Tống Phước Trị là tổ của hai ông Tiền Hiền Tống Phước Hiệp, Tống Phước Hòa là bậc danh tướng, có công gìn giữ Vĩnh Long và Sa Đéc.

Đất Trung Kỳ là đất của Chàm. Người Việt kêu người Champa là người Cham, Chăm, Chàm, Chiêm, Thổ, Mọi , Hời.

Cham Pa gồm 5 tiểu quốc là:

– Indrapura (vùng Quảng Bình, Quảng Trị – tương đương với lãnh thổ Lâm Ấp)

– Amaravati (vùng Quảng Nam, Thừa Thiên)

– Vijaya (Bình Ðịnh)

– Kauthara (Phú Yên, Khánh Hòa)

– Panduranga (Phan Rang, Phan Rí)

Vua Chàm Chế Bồng Nga đánh Đại Việt 12 lần.Từ 1371 đến 1383, quân Chiêm Thành 4 lần chiếm đóng Thăng Long và năm 1390, lúc đang tiến vào Thăng Long lần thứ tư, thì Chế Bồng Nga bị tử trận.Cái chết vô cùng lãng nhách, thằng đầy tớ phản chủ qua bên Việt chỉ chiếc thuyền Chế Bồng Nga có một vết sơn xanh nhỏ và Trần Khắc Chân chỉ tập trung hỏa lực bắn vô thuyền nầy là Chế Bồng Nga tử trận.

Người Chàm rất xui khi lập quốc cạnh người Việt vì nằm ngán đường của người Việt. Bắc là Tàu, tây là dãy Trường Sơn cao ngút,đông là biển, chỉ còn hướng Nam là con đường sanh tồn của Việt tộc. Nên Chàm bị vong quốc m.

Nhưng Chàm vẫn còn đâu đây trong huyết quản người Miền Trung.

Khi ông Nguyễn Văn Thiệu lên làm Tổng Thống VNCH nhiều người già nói sấm ám chỉ có một ngày một người có máu Chàm làm vua người Việt.

Nhiều người hỏi, vậy dân Chàm hồi xưa ở VN đi đâu mất tiêu hết vậy?

Chiến tranh, loạn lạc, có những vụ đánh nhau, kể cả tận diệt, nhưng người Việt không thể nào giết hết dân tộc này như nhiều người kết tội, dân tộc này không có nhỏ.

Thực ra người Chàm nào chịu ở lại định cư chung với người Việt đã bị đồng hóa, pha máu từ từ, lần hồi thành người Việt hết ráo. Trước tiên đàn ông Việt lấy vợ Chàm, cái phụ hệ của Việt khuất phục mẫu hệ Chàm, rồi đàn bà Việt lấy chồng Chàm, cái “mẫu hệ” ngầm trong gia đình Việt cũng khuất phục luôn dân tộc này.

Nói về đồng hóa bằng hôn nhân thì dân Tàu cũng quỳ lạy dân Việt chúng ta. Người Việt không nề hà, đụng đâu lấy đó, Chàm quất tuốt, Miên không tha, Tàu quất sạch.

Người Trung mang nhiều máu Chàm trong người. Người Trung có da ngăm đen, vai ngang, mặt vuông, tóc dợn sóng, mắt sâu, má cao, mắt một mí, mũi cao, môi dầy, miệng kín. Rồi cái âm Trung lơ lớ với mô, tê, răng, rứa, hè… ảnh hưởng rõ rệt người Chàm.

Một nhúm Chàm ở Phan Rang, Phan Thiết do co cụm, sống tách biệt nên vẫn còn bản sắc.

Thế hệ đầu tiên ngoài Bắc vô Trung của Nguyễn Hoàng thành dân Trung Kỳ đã phai lợt từ từ “gốc gác”, tới những thế hệ sau thì họ đã là người Đàng Trong, khác hoàn toàn tâm tánh, ăn ở, văn hóa Đàng Ngoài .

Chưa kể lại đối nghịch nhau về chánh trị.

Lịch sử Việt Nam ta có cuộc Trịnh, Nguyễn phân tranh rất nhiều giai thoại thú vị.

Khi họ Nguyễn tạo ra xứ Đàng Trong ly khai vua Lê chúa Trịnh ở Đàng Ngoài thì hiểu rằng người ở phía Nam đã muốn độc lập, cắt đứt với người phía Bắc.

Trịnh, Nguyễn đánh nhau từ 1627 tới 1672 với 7 lần đánh nhau với đại quân.

Trong bảy lần đó quân Trịnh chủ động tấn công đánh quân Nguyễn tới sáu lần, quân Nguyễn chỉ chủ dộng tấn công quân Trịnh trong lần giao tranh thứ năm (1655-1660).

Họ Trịnh dựa vua Lê, người Bắc rất lơ láo, họ chuyên lấy vua Lê ra làm bình phong cho sự chính danh của họ khiến quân Đàng Trong rất ghét.

Tương truyền trong một trận đánh, hai bên dàn trận rồi mà Đàng Ngoài còn chơi trò lấy lông gà làm lịnh tiễn “vua Lê”.

Một ông quan Bắc chạy xe ngựa có cờ lộng uy nghi ra giữa trận tay giơ cao tờ chiếu la lớn “Chiếu chỉ vua Lê tới đây, quân họ Nguyễn nghênh đón”.

Thoáng ngỡ ngàng, quan bên Nguyễn thấy rằng hai bên đang đánh nhau thì mang chiếu chỉ vua Lê ra làm chi, Đàng Trong đã thực tế là đất của chúa Nguyễn.

Quan Bắc vẫn gân cổ, là thần tử vua Lê thì phải nhận chiếu.

Rốt cuộc súng của quân Nguyễn chỉa thẳng vô ông quan cầm chiếu vua Lê ngay giữa trận.

Nhớ tới Quốc Phụ xứ Đàng Trong Đào Duy Từ nửa đêm ôm bè chuối vượt sông giới tuyến vô Nam giúp chúa Nguyễn giữ đất Đàng Trong độc lập.

Đào Duy Từ hay Nguyễn Hoàng là bỏ xứ ra đi rồi, bỏ luôn rồi, kiểu “Người ra đi đầu không ngoảnh lại”.

Thuận Quảng là đất chó ăn đá gà ăn muối lúc bấy giờ. Kinh tế thấp kém, đất đai rộng nhưng hoang vu, lam sơn chướng khí, lại bị người Chàm đánh miết để đòi lại, vô đó chỉ có nước chết mà Nguyễn Hoàng tồn tại được là cái không ai ngờ.

Bản thân Nguyễn Hoàng từ năm 1600 đã từng đốt quán trọ, hạ nhục sứ họ Trịnh là Lê Nghĩa Trạch để phản kháng. Sự bất mãn, phân ly và phản kháng đã từ từ phát diện.

Rốt cuộc, Phú Xuân (Huế) từ năm 1687 thành kinh đô của Đàng Trong.

Chúa Trịnh vua Lê ở Đàng Ngoài.Đàng Ngoài năm nào cũng có đói, thời chúa Trinh các năm 1557, 1559, 1570, 1571, 1572, 1577 hàng loạt trận đói xảy ra.

Chúa Tiên Nguyễn Hoàng và các vị sau đó còn làm bộ nhún nhường thần tử, song tới đời Võ vương Nguyễn Phước Khoát (1714-1765 ) mở ra một thời kỳ mới.

Năm 1744 lên ngôi vương xưng là Võ Vương cho đúc ấn Quốc Vương với cương vực từ sông Gianh tới Cà Mau, vạch rõ san hà Nam-Bắc khác nhau.

Ta nhớ tới bài thơ của Đào Duy Từ viết thay chúa Nguyễn trả lời cho chúa Trịnh.

Năm 1762 chúa Trịnh bắt họ Nguyễn Đàng Trong phải thần phục, bèn cử đoàn sứ giả mang sắc vua Lê vào phong cho Sãi Vương Nguyễn Phước Nguyên và đòi Sãi Vương phải cho con về Thăng Long chầu, đồng thời phải nộp 30 con voi cùng 30 chiếc thuyền làm lễ vật cống nạp nhà Minh.

Sãi Vương không chịu nhận chiếu chỉ, không thuận theo điều gì hết, Đào Duy Từ viết bài thơ trả lời:

Mâu nhi vô dịch,

Mịch phi kiến tích

Ái lạc tâm trường

Lực lai tương địch

Phùng Khắc Khoan phải ra tay dịch ra bốn chữ: Dư bất thụ sắc (ta không nhận sắc phong).

Họ Nguyễn không chịu thần phục triều đình, không nhận sắc vua Lê cho nên làm ra bốn câu thơ đó.

Đào Duy Từ là người Đàng Ngoài, giỏi nhưng bị chà đạp, nửa đêm ôm bè chuối vượt sông Gianh vô Nam làm Lộc Khuê Hầu giúp chúa Nguyễn độc lập, cắt đứt Đàng Ngoài.

Họ Trịnh biết, tiếc nên cho người ôm vàng bạc vô Nam dụ họ Đào về Bắc, chúa Trịnh viết thư ưỡm ờ:

“Trèo lên cây bưởi hái hoa

Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.

Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc

Em có chồng anh tiếc lắm thay”

Đào Duy Từ trả lời rằng:

“Ba đồng một mớ trầu cay

Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?

Bây giờ em đã có chồng

Như chim vào lồng như cá cắn câu.

Cá cắn câu biết đâu mà gỡ

Chim vào lồng biết thuở nào ra?”

Tháng 1 năm 1775 khi Tây Sơn nổi dậy đánh chúa Nguyễn, quân Trịnh do Hoàng Ngũ Phúc cầm quân đã tiến vô nam đánh chiếm Phú Xuân.

Quân Trịnh chiếm đóng Phú Xuân trong 11 năm với 3 vạn quân, cai trị mạnh tay, dân Thuận Hóa ná thở, oán khí ngập trời.

Nếu coi nhau là đồng bào thì đã không có sự cai trị kinh khủng như vậy.

Năm 1786 quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ tiến ra đánh bật quân Trịnh giải phóng Phú Xuân. Tây Sơn xua quân giết quân Trịnh, tàn sát gần hết, một số chạy thoát ra khỏi thành thì bị dân Huế bản địa căm thù ra tay giết.

Trong một ngày khắp Phú Xuân xuất hiện ăn mày nhưng toàn là á khẩu, câm để giấu cái giọng Bắc, tìm đường chạy ra Bắc thoát thân.

“Lịch Triều Tạp Kỷ” của Ngô Cao Lãng ghi rằng:

“Các lính thủ chạy đi các xóm làng để xin trú ngụ đều bị thổ dân giết sạch…. giết hại tất cả đến vài vạn người, chỉ còn vài trăm người là qua được sông Gianh trở về Bắc Hà thôi”.

Nguyễn Hữu Chỉnh, Ngô Thời Nhiệm, Đặng Trần Thường đều đã về Nam tìm gió mới, Nguyễn Du cũng từng đi nhưng không thành công.

Đặng Trần Thường một nho sanh Bắc Hà xuất sắc cũng đã vượt đường cái quan, qua sông núi biển xa vạn dặm vào đến Gia Định.

Đất Bắc với nạn nhân mãn, anh cả, nhà thờ họ, lũy tre làng, những con đê khổng lồ chặn hết phù sa, những ông lý như tiểu vương đã là nỗi ám ảnh của nhiều người Việt lúc đó.

Xuôi Nam là con đường mà họ chọn để theo nước đẩy thuyền.

“Tiếng ai than khóc nỉ non

Là vợ chú lính trèo hòn Cù Mông”

Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lý, lập phủ Gia Định gồm hai huyện: Phước Long kể từ tả ngạn sông Sài Gòn ra bờ biển Đông và Tân Bình kể từ hữu ngạn sông Sài Gòn tới sông Vàm Cỏ Đông.

Người Miền Nam là con cháu Nam Kỳ, vốn là xứ của lưu dân Ngũ Quảng hiệp cùng người Minh Hương, Chàm, Khmer và bổn địa như Stieng tạo ra.

Cái máu Bắc trong người Miền Nam khai hoang không có bao nhiêu.

Ông bà ta nói đất sanh ra người, người là hoa của đất, là tinh túy của xứ sở, đất tạo ra tâm tánh người dân.

Chúa Nguyễn áp dụng những chánh sách cai trị rất khôn khéo, trước khuyến khích tạo điều kiện cho dân vào Nam khai hoang lập ấp, nói chung làm ăn ổn định cuộc sống trước đã. Sau khi cuộc sống của dân cư đi vào ổn định, Chúa Nguyễn bắt đầu áp dụng chính sách thuế trên đất Miền Nam.

Người Nam Kỳ là dân khai hoang tứ xứ, vì kinh hoàng với xứ Bắc nên họ tạo ra văn hóa Nam Kỳ khác văn hóa Bắc rất nhiều, ví dụ chuyện dòng tộc, lũy tre làng là không có ở xứ Nam.

Miền Nam không có Thị Mầu, không có Chị Dậu, không có Chí Phèo, không có cảnh người dân ngụ cư, làng này đánh làng khác.

Người Miền Nam không lập gia phả, không có chế định nhà thờ họ. Nam Kỳ thời chỉ thờ cúng trực hệ tổ tiên trong 4 đời.Nam Kỳ bỏ “cả”, chỉ công nhận “hai”, cũng không lấy cái đình làng làm nơi dọa nạt người dân.

Lịch sử lưu dân Nam Kỳ quá trẻ, quá gần, không có nhiều quá khứ, nhưng quá khứ huy hoàng.

Bản chất dân Nam Kỳ đôn hậu mộc mạc. Tánh Nam Kỳ lửa rơm dễ nóng, dễ cháy. Sông rạch và đất nước bao la vì vậy đã tạo cho dân Nam Kỳ tánh khẳng khái, bộc trực, ít chịu cúi lòn, kém thủ đoạn.

“Ví dầu cầu ván đóng đinh

Cầu tre lắc lẻo gập ghình khó đi

Khó đi mượn chén ăn cơm

Mượn ly uống rượu mượn đờn kéo chơi”

Đất Nam Kỳ không dễ dàng mà có, ông bà cũng nẻ chưn tét da, rướm máu, mẻ xương, mất mạng mà giành nó, giữ nó và xây dựng, phát triển nó. Quá trình dài và đầy máu, nước mắt, ai đọc sử cũng sẽ biết quá trình này.

Một hột giống gieo xuống đất, đất đó phải xới, phải vun bồi, tưới tẩm, phải dẫn nước, xẻ mương, mưa thuận gió hòa qua sự điều hòa của trời đất thì hột mới nẩy mầm cho ra cái cây, sanh bông kết trái.

Miền Nam có những mùa hạn khô queo không còn một miếng nước cực khổ thấu trời. Có những vùng nước tù đọng muỗi mòng rắn rít, những vùng phèn vàng khè cháy da cháy tóc. Ông bà Miền Nam phải đổ xương máu ra khai phá, đào kinh, xẻ mương, lên liếp.

Nói gọn lại là đất Nam Kỳ không phải tự dưng trên trời rớt xuống cái chủm cho người Việt, đất này gốc của Phù Nam rồi Cao Miên, người Việt phải trầy vi tróc da giữ nó, khai phá nó mới có cơm gạo.

Prei NoKor, Phiên Trấn, Gia Định, Phan An, Sài Gòn đã thành một đô thị an vui, no ấm, thạnh vượng của Nam Kỳ Lục Tỉnh, là đô thành của Lục Tỉnh.

“Phủ Gia Định, phủ Gia Định, nhà đủ người no chốn chốn

Xứ Sài Gòn, xứ Sài Gòn, ở ăn vui thú nơi nơi.

Lạc thổ nhóm bốn dân: sĩ nông công thương ngư tiều canh độc”

Đất Nam Kỳ từ khi lưu dân cắm đất khai phá và Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược thì cha ông chúng ta luôn hướng tới tự do, dân chủ, tôn trọng và muôn đời là như vậy.

Sài Gòn là sản phẩm của người yêu chuộng tự do, của tinh hoa Nam Kỳ Lục Tỉnh.

“Sài Gòn dễ ở khó về

Trai đi có vợ, gái về có con”

Sài Gòn là cái đỉnh cao của văn minh kiểu Lục Tỉnh, cách chơi Lục Tỉnh, tâm hồn Lục Tỉnh.

Tây Sơn tràn vào, không phải tự dưng mà có “Thảm sát cù lao Phố”, “Thảm sát Chợ Lớn”, “Hủy diệt Mỹ Tho đại phố”.Mục đích là kiếm một mớ rồi nhân tiện tiêu thổ luôn.

Những ngày đầu từ Phú Xuân vô Nam thì chúa Nguyễn Ánh cũng không là cái gì, chẳng có danh gì ngoài cái danh “cháu Chúa Nguyễn”.

Lúc này Nam Kỳ đã có quân đội, dân và hào phú Ba Giồng vì chống sự cướp bóc, giữ an xóm làng đã hùn tiền của, góp con cháu lập ra đạo quân Đông Sơn 3.000 người do Đỗ Thanh Nhơn chỉ huy.

“Năm nầy Thanh Nhơn mới có 42 tuổi, khí lực cường tráng, tánh nết thẳng ngay, dám nói dám làm, không kiêng không vị”(Đỗ Nương Nương báo oán-Tác giả: Hồ Biểu Chánh)

Khi Tân Chánh Vương lẫn Thái Thượng Vương bị Tây Sơn bắt giết ở Sài Gòn thì chúa Nguyễn Ánh nổi lên như người kế thừa khôi phục sự nghiệp của họ Nguyễn.

Năm 1777 Đỗ Thanh Nhơn đưa Nguyễn Phước Ánh lên làm tôn chủ cho chánh danh. Năm 1780 chúa Nguyễn Ánh xưng vương.

Và chúa Nguyễn Ánh lập mưu giết Đỗ Thành Nhơn đặng đoạt binh quyền.

Chúa Nguyễn Ánh đụng ngay sự phản kháng và bất hợp tác của thuộc hạ ông Nhơn là Võ Nhàn, Đỗ Bảng là những phó tướng, đầu lãnh của ông Nhơn, họ dẫn quân đi gần hết, cát cứ vùng khác.

Một thời gian dân Nam Kỳ tẩy chay chúa Nguyễn Ánh. Tây Sơn lại hành quân vào, chúa Nguyễn Ánh đánh không thắng được trận nào, chỉ biết chạy lòng vòng.

Võ Tánh là em Võ Nhàn, Võ Nhàn chống lại Nguyễn Ánh và cũng bị giết chết, vì vậy Võ Tánh phải bỏ đi chổ khác, sau cùng dẫn binh về cát cứ ở Gò Tre Gò Công.

Từ năm 1784, quân đội Võ Tánh với đạo quân “Khổng Tước nguyên võ” là lực lượng duy nhứt dám dàn trận công khai đánh chận Tây Sơn ở Gia Định. Chúa Nguyễn Ánh nhiều lần “chiêu dụ” Võ Tánh nhưng ông làm ngơ, không thèm nhìn vì thù anh, ông tự mình đánh Tây Sơn.

Năm 1788 Võ Tánh nghe theo lời các tướng thân cận như Mạc Văn Tô, Nguyễn Văn Hiếu mới đồng ý theo Nguyễn Ánh vì hai chữ “chính danh”.

Tức là Võ Tánh bỏ qua tình riêng.

Nhà Nguyễn được thành lập là nhờ dân Miền Nam.

Chúng ta hiểu rằng với dân Nam Kỳ, họ Nguyễn Phước là họ tượng trưng nhưng không phải là số một.

Tỷ dụ vua Gia Long biết ông Lê Văn Duyệt là người ít học nhưng thẳng thắn và làm kinh tế giỏi nên đối với ông Duyệt có sự biệt đãi, ông Duyệt trung thành nhưng lại có cái cách “thinh thang” kiểu Nam Kỳ khi Nam Kỳ cho tự do tôn giáo, mua bán,thông thương, dân an vui no đủ.

Vua Minh Mạng tìm cách phá bỏ ảnh hưởng của phe Nam Kỳ trong Gia Định sau cái chết của ông Duyệt.

Vua đã đưa vào đất Nam “người của mình”, đám này chủ yếu có quê gốc ở Trung và Bắc để thực hiện những đường lối chánh sách mới,kiểm soát và nắm kinh tế, bỏ những ảnh hưởng của phái Gia Định và xóa bỏ mọi uy tín của vị Tả Quân trong dân chúng.

Dân Nam Kỳ đã trả lời bằng cuộc đảo chánh của Lê Văn Khôi.Bộ sậu có con cháu Nguyễn Văn Tồn, Nguyễn Văn Thoại, Mạc Cửu… những vị khai quốc công thần xưa.

Mắc cười thay! Lê Văn Khôi là người gốc Bắc. Điều này chứng tỏ rằng người Miền Nam không bao giờ câu nệ xuất thân, gốc gác, máu mủ. Cứ cùng chung suy nghĩ, cùng bảo vệ quyền lợi thì cứ mặc sức mà thể hiện.

Cuộc đảo chánh này không có phương hướng rõ, do dự, chần chừ và bị vài phần tử phản bội do “hèn” sau lưng nên rốt cuộc không thành công.

Dù trấn áp được cuộc khởi nghĩa Lê Văn Khôi thành công, nhưng từ thời Minh Mạng triều đình Huế đã không còn “uy tín” như thời vua Gia Long.

Sau 1862 Nam Kỳ thành thuộc địa của Pháp.

Nghị định 82 ký ngày 6.4.1878 toàn Nam Kỳ phải chuyển sang chữ Quốc Ngữ, tức chữ La Tinh.

Tức là thủ tiêu chữ Hán và phải học chữ Quốc Ngữ.

Năm 1878 chữ Quốc Ngữ áp dụng ở Nam Kỳ đầu tiên, các “tổ sư” chữ Quốc Ngữ áp dụng đầu tiên toàn dân Nam Kỳ như: Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trương Vĩnh Tống, Trương Minh Ký, Nguyễn Trọng Quản…

“Chữ quốc ngữ phải trở thành chữ viết của đất nước. Phải như thế vì lợi ích và sự tiến hóa. Vậy, người ta nên tìm cách phổ biến thứ chữ này bằng mọi phương tiện…”(Trương Vĩnh Ký “Vần quốc ngữ” xuất bản năm 1876).

Trong văn hóa Việt tộc ta, vì xài chữ Quốc Ngữ nên Việt Nam được coi là nước theo hệ chữ La Tinh, nhưng Việt khác các quốc gia Tây khác như Anh hay Pháp là chữ Quốc Ngữ có rất nhiều dấu.

Chúng ta đã có chữ viết, chữ La Tinh tuy là “vay mượn” Tây, nhưng nó thể hiện đúng nhứt về cấu trúc cách nói, ngữ âm của dân tộc Việt, chỉ có 24 chữ ráp lại, thêm dấu là xong, thể hiện đúng hình và thanh của dân tộc Việt.

Tờ báo quốc ngữ đầu tiên là tờ Gia Định Báo, do Pháp lập năm 1865, với chủ bút Trương Vĩnh Ký, rồi Huỳnh Tịnh Của. Tiếp đó đến tờ Nam Kỳ Nhật Trình (số 1 ra ngày 21/10/1897), Nông Cổ Mín Đàm (số 1: 1/8/1901), Lục tỉnh tân văn (số 1: 15/1/1907) v.v…

Theo tài liệu của Nguyễn Văn Trung (công bố năm 1987), cuốn tiểu thuyết quốc ngữ sớm nhứt viết theo lối Tây phương là “Thầy Lazzaro Phiền” của Nguyễn Trọng Quản, xuất hiện ở trong Nam ngay từ 1887 và bản dịch Tam Quốc Chí đầu tiên, cũng khởi đăng trên Nông Cổ Mín Đàm, số một. (Nguyễn Văn Trung, Lục Châu Học).

Ông Phạm Quỳnh vào Nam năm 1918 hết hồn thấy báo chí, nhựt trình trong Nam nhiều quá.

Người Bắc 54 vô Nam ngạc nhiên khi có cảnh người đạp xe xích lô ở Sài Gòn, buôn gánh bán bưng vào buổi trưa tìm chỗ mát nghỉ ngơi, ngồi gác chân đọc nhựt trình, cảnh không thể có ở ngoài Bắc.

Sở dĩ có hiện tượng này bởi vì Miền Nam có truyền thống đọc sách báo của người bình dân mà ở ngoài Bắc không có, bởi Miền Nam đã là vùng đất của quốc ngữ và báo chí, tiểu thuyết, ngay từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khiến nền văn chương bình dân phát triển mạnh ở trong Nam, trong khi ngoài Bắc, sách vở, báo chí phần lớn chỉ dành cho người có học trung lưu.

Tới năm 1910 chánh phủ Đông Pháp mới áp dụng chữ Quốc Ngữ ở Bắc Kỳ.

Nhớ hồi năm 2009 dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội, nhà điêu khắc Phạm Văn Hạng muốn hiến tặng tượng cha A Lịch Sơn Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) cho Hà Nội.

Linh Mục Alexandre de Rhodes (1591 – 1666) là người có công lớn nhứt với chữ “Quốc Ngữ” Việt Nam ta.

Tuy nhiên sau đó ông Phạm Văn Hạng đã bị một số người lên án thất kinh. Trong khi Sài Gòn đã có đường Alexandre de Rhodes từ xưa rồi.

Hà Nội không thể chấp nhận một con đường mang tên Alexandre de Rhodes nhưng lại có đường Mạc Đăng Dung thì cũng đã thể hiện suy nghĩ Nam Bắc khác nhau rồi.

Đi sau Miền Nam nhưng vẫn thích ta đây là anh cả, vẫn thích bố đời.

Thí dụ nữa là, đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho có từ năm 1885 (ngưng chạy năm 1958). Dân Nam Kỳ kêu và đặt tên là “xe lửa” là từ chuẩn.

Xe vì nó chạy trên bộ, nhưng nó chạy bằng đường ray sắt và đầu máy hơi nước phun ra khói lửa nên kêu là xe lửa, trúng bài.

Sân bay Tân Sơn Nhứt xây ở Nam Kỳ đầu tiên, dân Nam Kỳ kêu sân bay là phi trường, phi cơ, phi công.

Không biết vì sao từ máy bay thành tàu bay, từ xe lửa thành tàu hỏa?

Bắc thời đó là xứ kém văn minh, bị bỏ quên, tới những năm 1900 vì toàn quyền Paul Doumer muốn lấy Hà Nội làm bàn đạp tấn công qua Vân Nam nên mới dời thủ đô từ Sài Gòn về Hà Nội và bắt đầu xây hạ tầng.

Nên nhớ thống đốc Nam Kỳ Charles Le Myre de Vilers và ông Paul Blanchy, Chủ tịch Hội đồng quản hạt Nam Kỳ đều chống đối chuyện đem ngân sách Nam Kỳ đầu tư ra Bắc.

Hà Nội toàn đi sau Nam Kỳ.

Nam Kỳ định hình, khái niệm xe lửa, dầu hôi, xe hơi, phi trường, phi cơ là của người Nam đặt ra đầu tiên.

Bắc đi sau nhưng rất khoái dạy đời, sửa chữ.

Sửa sạch sẽ, từ “nhựt” thành nhật, “bịnh” thành bệnh, “bổn” thành bản, “lộ” thành đường, “nhứt” thành nhất, “bịnh” thành “bệnh”, “dòng” thành “giòng”….

Cái gì mà tàu bay, tàu hỏa, cảng hàng không, dầu hỏa?

Và nay lại sửa chữ Quốc Ngữ theo âm Bắc, dám nói đọc kiểu Nam là sai? Bắc đứng ở chuẩn nào mà dám nói mình chuẩn nhứt?

Trong gần 100 năm dân Nam Kỳ chỉ biết có Paris mà không nhớ Huế chứ đừng nói tới Hà Nội.

Vua Nguyễn chỉ là một chút hoài niệm của người Nam Kỳ. Dân Nam Kỳ chỉ biết có Thống Đốc, quan chủ tỉnh, chủ quận, đốc phủ sứ, ông hội đồng.

Thành ra giai đoạn Quốc Gia VN, Quốc trưởng Bảo Đại đâu có ở Sài Gòn lâu, ông thích ở Đà Lạt nhiều hơn, ông thích ở bên Pháp, bên Cannes nhiều hơn VN.

Đến độ lúc bị ông Ngô Đình Diệm làm trưng cầu dân ý lật đổ mà Bảo Đại có mặt ở Sài Gòn đâu.

Quốc trưởng Bảo Đại dính với Nam Kỳ nhờ lấy bà Nam Phương hoàng hậu, nếu soi kỹ ông không có dấu ấn nào với đất Nam Kỳ Lục Tỉnh.

Quốc trưởng Bảo Đại không đủ uy tín để cầm đầu đất Nam Kỳ.

Sử dạy cho chúng ta trước nhứt là kinh nghiệm vì lịch sử không chỉ có quá khứ, sử nối liền quá khứ với hiện tại và tạo ra nền tảng tương lai.

Bạn nhìn quá khứ, cảm nhận hiện tại, hiểu hiện tại và hình dung ra tương lai, hết thảy nó đi theo một quy luật nhứt quán.

Lịch sử chánh trị Việt Nam xưa nay là lịch sử của biến động, chánh trị của binh đao, máu và nước mắt.

Nhứt là khi xuất hiện xứ Đàng Trong, xứ Nam Kỳ thì người Bắc hết còn vai trò “độc quyền” trong chánh trị nữa, sĩ phu Bắc Hà không thể khua môi múa mép nữa.

Nam, Bắc, ta có nhiều điều vui và buồn từ ngày đó.

Sài Gòn là đô thành, đẹp tuyệt vời, đẹp từ những cái tên đường.

Một nhạc sĩ đã viết rằng:

“Cùng nhau đi tới Saigon

Cùng nhau đi tới Saigon

Thủ đô yêu dấu nước Nam tự do

Dừng chân trên bến Cộng Hòa

Người Trung Nam Bắc một nhà

Về đây chung sống hát khúc hoan ca”

Xin ghi nhớ Trần Đại Định, Võ Tánh,Tả Quân Lê Văn Duyệt, Trương Tấn Bửu, Võ Di Nguy,Cha Cả Bá Đa Lộc, Lê Quang Định,Trịnh Hoài Đức, Tôn Thọ Tường, Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Hui Bon Hoa, Quách Đàm… đã ghi dấu ấn ở đất này.

Đất Miền Nam là đất dân chủ, tự do, biết vị nhân tâm, hễ ai theo luật chơi thì cứ ở lại.

Người Miền Nam không bao giờ nhìn họ hàng xa, cũng không bao giờ lấy số đông dòng họ ra “đè” người ta.

Người Miền Nam không quan trọng huyết thống kiểu “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”.

Ai cũng biết câu đặc tánh Miền Nam “Bán bà con xa mua láng giềng gần”. Đi đám hay đi ra dường tự dưng có người lạ hoắc xấn xổ nhào lại nhìn bà con xa thì người ta sẽ cảnh giác liền, muốn cái gì đây?

Miền Nam cũng như Huê Kỳ là một hợp chúng quốc tứ xứ, ai có khả năng, tôn trọng luật chơi, biết giữ đạo lý, biết giữ quyền lợi là cứ chơi.

Vũ Tài Lục nói rằng: “Không đọc sử không đủ tư cách nói chuyện chánh trị” nên chúng ta phải siêng tìm sử.

Và thêm một câu nữa xin góp là: “Hãy đọc sử với tư cách của người tử tế”.

Lịch sử dân tộc này khá phức tạp, Nam Bắc vốn đã từng là hai quốc gia riêng và cách suy nghĩ cũng có nhiều khác biệt.

“Tinh hoa” Bắc V gì mà “tụ lại”, “dồn vào” khi mà văn hóa, cách sống, hát xướng, cấu trúc xóm làng, cúng tế, lễ nghi Nam Bắc đều khác nhau.

Bà bóng và cách thức lên đồng Nam Bắc cũng khác nhau mà.

Nội ẩm thực, ăn uống cũng khác nhau nữa. Hãy nhớ, đoàn kết là sự tôn trọng, tử tế chứ không phải dạy đời và áp đặt.

Không bàn tới yêu hay ghét kiểu lý tính, không nói ý thức hệ, bỏ hết, cũng không làm “phản động” như người ta hay nói, cứ nhìn lịch sử thôi và so sánh, ai không dám nhìn là đã thua nặng.

Lịch sử rất công bằng, nếu cứ cố níu kéo, cứ phá, cứ làm nó nát bấy tất sẽ có sự trừng phạt, khi đó còn tàn khốc hơn trong thực tế.

Lịch sử đã cho người đọc sử thấy rõ ràng là xứ Bắc thời cuối nhà Lê trung hưng đã rất uể oải và không còn cái gì thì lấy đâu ra “tinh hoa” xuôi Nam. Khi mà Lê Chiêu Thống ôm Tàu về, khi mà một anh “sơn dã” người phía nam sông Gianh như Nguyễn Huệ vô Thăng Long, một anh buôn trầu như Nguyễn Nhạc nhìn vua tôi nhà Lê khinh khỉnh coi thường trước hình ảnh ông vua già tàn tạ Lê Hiển Tôn lê lết lấy hơi lên sắp chết.

Thiệt là dở khi cố đào mồ mả tìm cho ra huyết thống. Để làm gì? Mọi sự là con người thực tại, là đầu óc thực tại, nó không phải chỉ là quá khứ.

Không ai cạp quá khứ ra ăn hoài để no bụng.

Thế giới văn minh luôn xiển dương sự tôn trọng nhau, có tôn trọng mới hiểu biết được.

NGUYỄN GIA VIỆT

 Ghi chú: Nên đọc thêm ” Khẩn Hoang Miền Nam” của Sơn Nam để hiểu về đất phương Nam. (Phùng Văn Phụng)

Tại sao Hội Thánh có đặc tính là công giáo? – Cha Vương

Tại sao Hội Thánh có đặc tính là công giáo?

Houston nóng quá đi thôi! Nguyện xin tình yêu Thiên Chúa tưới mát tâm hồn bạn hôm nay và mãi mãi nhé.

Cha Vương

Th 2: 18/7/2022

GIÁO LÝ: Tại sao Hội Thánh có đặc tính là công giáo? Thuật ngữ “Công giáo” (tiếng Hi lạp là Katholon) có nghĩa là mở ra cho tất cả. Hội Thánh là Công giáo, vì Chúa Kitô kêu gọi Hội Thánh tuyên xưng toàn bộ đức tin, gìn giữ đầy đủ các Bí tích để ban phát, và loan báo Tin mừng cho mọi người. Chúa Ki-tô sai Hội Thánh đi đến với mọi dân tộc ở mọi thời đại và thuộc mọi nền văn hóa.

(YouCat, số 133)

SUY NIỆM: Ban đầu, Chúa Giêsu Kitô chỉ thiết lập có một Giáo Hội duy nhất, cũng như chỉ có một chân lý duy nhất mà Người đã giảng dạy. Theo dòng thời gian, Giáo Hội phát triển lớn mạnh, như một cây đại thụ sum sê cành lá. Điều đáng buồn là đôi khi lại có những cành gãy xuống khỏi cây đại thụ ấy; tức là những nhóm người xa rời Giáo Hội nguyên thủy của Chúa Kitô, lập nên những giáo hội khác:

Đầu thế kỷ thứ 11 (1054), một nhóm tín hữu bên Đông Âu tự tách ra lập thành Chính Thống giáo, với một số nghi thức mới riêng biệt.

Đầu thế kỷ 16, vua Henry VIII của nước Anh vì muốn có con trai nối dõi đã xin Đức Giáo Hoàng cho được tiêu hôn để cưới vợ mới, không được chấp thuận nên nhà vua đã ra sắc lệnh tách nước Anh ra khỏi Hội Thánh và lập nên Anh Giáo.

Năm 1517, ông Martin Luther cùng với một số đồng bạn chủ xướng tại Đức phong trào Kháng Cách để lập thành giáo hội Tin Lành (Protestantism). Từ giáo hội mới này đã nảy sinh ra cả ngàn các hệ phái khác nhau với những giáo thuyết khác biệt ở nhiều nơi. Và rồi mỗi giáo phái, dù lớn dù nhỏ cũng đều nhận rằng chỉ có mình mới là chân chính, là đạo thật.

Nhưng Giáo Hội nguyên thủy của Chúa Kitô – Hội Thánh Công Giáo – vẫn là cây đại thụ sừng sững bao la. Giáo Hội vẫn thủy chung gìn giữ nguyên vẹn mọi giáo huấn và truyền thống của các tông đồ. Giáo Hội không ngừng làm cho giáo lý ấy thêm sáng tỏ và thích nghi theo từng thời đại, vẫn trung thành tuân phục quyền bính các đấng kế vị các tông đồ mà Chúa Giêsu đã đặt. Đặc biệt Giáo Hội Công Giáo Rôma vẫn hiệp thông với Đức Giáo Hoàng là Đấng kế vị thánh Phêrô, thay mặt Chúa Kitô ở trần gian.

Công Giáo có nghĩa là toàn vẹn và phổ quát, vì đạo chứa đựng mọi điều cần thiết để được ơn cứu rỗi. Công Giáo cũng có nghĩa là đạo chung, đạo cho toàn thể nhân loại, đạo dành cho tất cả mọi người không phân biệt màu da, tiếng nói, văn hóa hay địa vị. (Nguồn: Rômualđô M. Bùi Văn Nghĩa, CRM)

LẮNG NGHE: Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28:19-20)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, hai điều Chúa dạy con là hãy “mến Chúa và yêu người”, xin cho con biết tôn thờ, yêu mến Thiên Chúa toàn năng, toàn mỹ, toàn thiện, toàn ái và yêu thương mọi người như anh em để cùng nhau xây dựng xã hội tốt đẹp hơn.

THỰC HÀNH: Sống đức tin Công Giáo bằng hành động bác ái của mình.

From: Đỗ Dzũng

Cây kim may – Đào Hiếu

Nhân vụ rùm beng “Việt Nam sắp sản xuất ô-tô-con hiện đại” do ông chủ mì ăn liền làm sếp, tôi xin kể lại câu chuyện về cây kim may mà tôi từng là người trong cuộc. Chuyện kể rằng:

Ngày xửa ngày xưa, vào khoảng năm 1978, 1979 gì đó, khi còn làm phóng viên báo Tuổi Trẻ tôi được (hay bị) đưa đi “vô sản hoá” tại nhà máy Sinco ở Sàigòn.

Nhà máy này vốn của chế độ cũ để lại, chuyên sản xuất máy may lấy hiệu là Sinco. Khi các “tồng chí” tiếp quản được ít lâu thì hết mẹ nó phụ tùng nên đếch hoạt động được.

Lúc tôi đến xin làm công nhân ở đó thì thấy Giám đốc cùng mấy anh kỹ sư, thợ tiện, thợ phay, thợ nguội… đang ngồi bàn cách phục hồi hoạt động của nhà máy, để chế tạo cho được một cái máy may mang thương hiệu Việt Nam chính cống.

Các linh kiện của một chiếc máy may bàn đạp khá đơn giản nên không bàn tới. Mọi người đều tập trung nghiên cứu làm cái ổ thuyền, vì đó là bộ phận khó làm nhất.

Muốn làm cái ổ thuyền phải qua rất nhiều công đoạn: thiết kế bản vẽ, chọn nguyên liệu. Sau đó là thi công: những thợ phay, thợ tiện, thợ mài… giỏi nhất làm đi làm lại nhiều lần, rồi tới thợ nguội đo đạc chính xác từng “zem”, rồi đánh bóng, kiểm tra… rồi cho chạy thử.

Sau nhiều lần trục trặc, chiếc máy may nhãn hiệu Sinco do Việt Nam sản xuất cũng ra đời. Tuy nhiên hôm họp báo công bố sản phẩm, giám đốc nhà máy đã làm tôi ngạc nhiên khi nói:

“Thưa các đồng chí, chúng tôi có thể tự hào tuyên bố rằng chúng ta đã sản xuất được một chiếc máy may hoàn chỉnh trừ… cây kim!”

Bỏ mẹ! Tôi nghĩ thầm, cái ổ thuyền khó như vậy mà còn làm được, sao cây kim lai chịu thua?!

Kể từ đó đến nay, cái sản phẩm đầy tâm huyết, đầy tim óc của tập thể giám đốc, kỹ sư, công nhân nhà máy Sinco, cái “niềm thự hào thương hiệu Việt Nam” kia biến mất tăm và nhà máy Sinco chắc cũng đã bị phù phép thành cái quỷ quái gì rồi.

Bốn mươi năm sau, tôi gặp một cô bé công nhân trên xe buýt, nó nói:

-Con làm trong một nhà máy của Nhật tại khu chế xuất Tân Thuận.

-Chế cái gì?

-Cái kim may

Thưa quý vị,

Như vậy là cho đến năm 2018 này. Sau 40 năm, Việt Nam chúng ta cũng chưa chế tạo được cái kim may. Và cái máy may Sinco (không có kim) mà Việt Nam chế tạo được chắc cũng đang nằm trong viện bảo tàng!

Không phải nòi giống ta đần độn. Không phải dân tộc ta lười biếng…

Vậy thì vì cái gì?

Bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế từng nói:

“Thế giới gồm nước phát triển, nước đang phát triển, nước chậm phát triển nhưng Việt Nam có lẽ là mô hình đặc biệt nhất. Đó là nước… không chịu phát triển! Đầu tư nhiều đến thế, ODA nhiều đến thế (20 năm qua lượng ODA đổ vào Việt Nam lên tới gần 90 tỉ USD) nhưng đến bây giờ vẫn không phát triển được thì chỉ có thể là… không chịu phát triển!”

Sao vậy?

Vì thực ra “Đảng ta” không có khả năng lãnh đạo đất nước. Và vì chẳng biết làm cái cóc khô gì cả nên họ đã chọn công việc dễ nhất và hiệu quả nhất là tham nhũng.

Bây giờ tới chuyện “sản xuất ô-tô hiện đại” xem ra cũng chỉ là lắp ráp theo dây chuyền công nghệ và linh kiện của nước ngoài.

Chuyện đó cũng chẳng mới mẻ gì vì Toyota. Huyndai, Fiat, Samsung, Sony… đã và đang làm.

Tôi ủng hộ anh bạn Mì Gói và cầu chúc anh thành công. Nhưng tôi muốn anh hiểu rằng đừng khoác lác. Đừng nổ. Vì nó rất kỳ!

Con đuòng còn dài lắm, chúng ta còn phải học hỏi nhiều, nhiều, nhiều, nhiều lắm.

Rất mong chúng ta đừng quên câu chuyên về nhà máy Sinco.

Họ đã cố gắng hết sức để làm cho được cái ổ thuyền vậy mà còn cái kim may cho đến giờ vẫn chưa làm được, đủ hiểu con đường công nghiệp gian khổ đến nhường nào!

Cây kim may –

Đào Hiếu

ngày 3/10/2018

LeVanQuy sưu tầm 

DẤU CHỈ TÌNH YÊU

 Kẻ Đi Tìm

DẤU CHỈ TÌNH YÊU

Một vị Giám Mục trong một chuyến đi công tác, phải đi ngang qua một giáo xứ nhỏ ở ngoại thành. Ngài tạt xe vào thăm. Khi vừa tới nơi thì ngài thấy có một lớp Giáo lý dành cho người dự tòng đang học. Hỏi cha xứ, ngài mới biết lớp này sắp mãn khóa và các học viên lớn tuổi này sẽ được chịu Bí Tích Thánh Tẩy.

Vị Giám Mục chợt nảy ra ý muốn, muốn kiểm tra trình độ Giáo Lý của họ nên hỏi: “Theo các anh chị, dựa vào đâu mà người khác có thể nhận ra các anh chị là người Công giáo?”

Mọi người nhìn nhau, không thấy ai lên tiếng trả lời. Rõ ràng đây là một câu hỏi quá bất ngờ. Vị Giám Mục lập lại câu hỏi thêm nhiều lần nữa, và ngài đã kín đáo làm một dấu Thánh Giá nhỏ trên ngực như để muốn nhắc khéo một câu trả lời đúng đắn cho cả lớp học và cũng là để gỡ thể diện cho cha xứ…

Bất ngờ, một người dự tòng đứng dậy và mạnh dạn trả lời: “Thưa Đức Cha, theo con nghĩ, dấu chỉ để mọi người biết chúng con là người Công giáo, chính là… Tình Yêu ạ!”

Vị Giám Mục, và cả cha xứ lúc ấy đều suýt buột miệng bảo: “Sai” nhưng cả hai đều kịp dừng lại, các ngài thấm thía hơn ai hết câu trả lời của người dự tòng trẻ tuổi kia.

Vâng, người đó đã trả lời rất đúng, không những đúng bài bản mà còn đúng ý Chúa nữa.

Chắc không ai trong chúng ta quên lời của chính Chúa Giêsu: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết chúng con là môn đệ của Thầy là chúng con yêu thương nhau” (Ga 15, 35).

Nguồn: Giáo xứ Ba Thôn

Rúng động cung đình Cộng sản

Rúng động cung đình Cộng sản

Lê Văn Đoành

15-7-2022

Nhiều người dự báo, đại hội lần thứ 13 của đảng CSVN là con số “tử”, không tốt, sẽ lắm nhiễu nhương. Thực tế xảy ra đúng vậy.

Từ sau đại hội 13 đến nay, Bộ Chính trị đã kỷ luật 50 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó có 8 Ủy viên, cựu Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 20 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang. Hàng loạt Uỷ viên Trung ương bị kỷ luật đảng, bị cách chức, khai trừ, bị khởi tố bắt giam, như: Nguyễn Thành Phong, Trần Văn Nam, Nguyễn Thanh Long, Chu Ngọc Anh…

Tất nhiên con số nêu trên chưa dừng lại ở đó, khi mà cuộc thanh trừng nội bộ và tranh giành quyền lực trong hàng ngũ lãnh đạo cấp cao của đảng đang đến hồi “một mất một còn”.

***

Trong hai ngày 12 và 13-7-2022, tại thành phố Nam Ninh, khu tự trị dân tộc Choang, Quảng Tây, Trung Quốc, ông Phạm Bình Minh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ, đã cùng Vương Nghị, Ủy viên Quốc vụ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc đồng chủ trì Phiên họp lần thứ 14 Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam – Trung Quốc. Thế nhưng tin nội bộ “rò rỉ” cho biết, Phạm Bình Minh đang tìm kiếm sự ủng hộ từ các đồng chí “bạn vàng” bên kia biên giới vì sinh mạng chính trị của ông ta đang bị đe doạ.

Từ Trung Quốc trở về, Phạm Bình Minh phải dự cuộc họp Bộ Chính trị do Nguyễn Phú Trọng chủ toạ vào chiều 14-7-2022.

Nội dung cuộc họp gói gọn trong vấn đề nhân sự:

– Nguyễn Hòa Bình, Uỷ viên Bộ Chính trị, Chánh án tối cao, làm Bí thư thành uỷ Hà Nội

– Trần Sỹ Thanh, Uỷ viên Trung ương, Tổng Kiểm toán Nhà nước, làm Chủ tịch UBND TP Hà Nội

– Ngô Văn Tuấn, Uỷ viên Trung ương, Bí thư Tỉnh ủy Hòa Bình làm Tổng Kiểm toán Nhà nước

– Nguyễn Văn Thể, Uỷ viên Trung ương, Bộ trưởng GTVT, làm Phó Trưởng ban Kinh tế Trung ương

– Trần Văn Sơn, Uỷ viên Trung ương, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ (VPCP), làm Bộ trưởng GTVT

– Nguyễn Xuân Ký, Uỷ viên Trung ương, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh, làm Bộ trưởng Chủ nhiệm VPCP

– Đào Hồng Lan, Uỷ viên Trung ương, Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh, giữ quyền Bộ trưởng Bộ Y tế

Bộ đôi Nguyễn Hoà Bình (trên) và Trần Sỹ Thanh (dưới). Ảnh trên mạng

Tại cuộc họp này, Ủy ban kiểm tra Trung ương yêu cầu xem xét kỷ luật các ông:

– Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh do liên can trách nhiệm Vụ án “Đưa và nhận hối lộ tại Cục lãnh sự Bộ Ngoại giao” liên quan đến các chuyến bay “giải cứu”.

– Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam liên quan đến hàng loạt sai phạm trong ngành y tế, giáo dục và vụ án test kit Việt Á.

– Đinh Tiến Dũng, Bí thư thành uỷ Hà Nội, sai phạm giai đoạn làm Bí thư Ban cán sự Đảng, Bộ trưởng Tài chính nhiệm kỳ 2016-2021 về quy chế làm việc, công tác cán bộ, chính sách, quản lý, sử dụng vốn vay và ngân quỹ nhà nước; thiếu lãnh đạo, chỉ đạo thanh tra, kiểm tra đối với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và các Sở Giao dịch chứng khoán.

Như vậy số phận của một số Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Trung ương khoá 13 đã được định đoạt.

– Phạm Bình Minh có thể nhận mức kỷ luật “khiển trách”, vẫn yên vị đến hết nhiệm kỳ. Tuy nhiên, cuộc đua vào “tứ trụ” khoá 14 của ông Phạm Bình Minh xem như đã hết.

– Đinh Tiến Dũng tội nặng hơn, sẽ nhận mức “cảnh cáo”, bay chức Bí thư Hà Nội, sẽ bị điều về Học viện Chính trị quốc gia làm “tham mưu” cho Nguyễn Xuân Thắng.

– Vũ Đức Đam cũng sẽ nhận mức “khiển trách” để ngồi đến hết nhiệm kỳ, sau đó về đuổi gà.

– Nguyễn Văn Thể, người trước đây suýt bị khởi tố hình sự vì liên can đến Út “trọc” và công ty Yên Khánh, nay sẽ được điều về làm Phó Trưởng ban Ban kinh tế Trung ương, trám chỗ Nguyễn Thành Phong, kẻ sẽ bị khởi tố, bắt giam trong nay mai.

Sau nhiều đồn đoán, tranh chấp đến nỗi Uỷ ban MTTQ Hà Nội phải gây sức ép, đề nghị Thành uỷ Hà Nội kiến nghị Bộ Chính trị chốt nhân sự Chủ tịch UBND TP đang bỏ trống. Và chiếc ghế trống nay đã có chủ. Ngồi vào đó là Trần Sỹ Thanh, Uỷ viên Trung ương khoá 13, Tổng kiểm toán nhà nước.

Giấy mời họp của Thành ủy Hà Nội lúc 3h chiều nay. Ảnh: Lê Văn Đoành

Trần Sỹ Thanh là cháu của cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng. Cha của Trần Sỹ Thanh và Nguyễn Sinh Hùng là anh em cô cậu ruột.

Trần Sỹ Thanh sinh năm 1971, tốt nghiệp đại học Tài chính kế toán Hà Nội. Trong vòng 18 năm (từ năm 2004 – 2022) ông Thanh đã kinh qua 18 chức vụ quan trọng. Nhưng thực tế, ông ta chẳng tài cán gì, chỉ là bác Nguyễn Sinh Hùng đã đưa cháu mình đi “tráng men” trên khắp các tỉnh thành cả nước.

***

Nhà nước cộng sản luôn rêu rao đây là “nhà nước của dân, do dân, vì dân”, họ công kích chế độ phong kiến, nhưng thật ra, họ còn kinh hơn chế độ phong kiến rất nhiều. Câu ca dao xưa vẫn đúng trong chế độ cộng sản:

“Con vua thì lại làm vua/ Con sãi ở chùa thì quét lá đa”.

Bao giờ dân nổi can qua? Ngày đó sẽ đến rất gần. Nhìn Sri Lanka, khi mà tổng thống cùng gia đình bỏ chạy như những tên cướp, thì chắc chắn những người cộng sản đang run sợ, không biết lúc nào phong ba bão tố sẽ đến với họ.

Đảng CSVN lo sợ là phải, khi mà càng cố cũng cố quyền lực, càng thối nát rệu rã từ trung ương đến địa phương.

Khảo sát mức sống dân cư năm 2021 được Tổng cục Thống kê công bố ngày 29/6 (BBC)

Hiện tại giá 200 USD bằng 4.689.882 đồng VN. Thu nhập bình quân 1 người /tháng chưa được 200 đô la Mỹ.

BBC News Tiếng Việt 

10 tỉnh, thành phố ‘giàu nhất’ Việt Nam, dựa theo thu nhập bình quân cao nhất cả nước:

  1. Bình Dương: 7,12 triệu đồng/người/tháng
  2. TP Hồ Chí Minh: 6,008 triệu đồng/người/tháng
  3. Hà Nội: 6 triệu đồng/người/tháng
  4. Đồng Nai: 5,75 triệu đồng/người/tháng
  5. Đà Nẵng: 5,23 triệu đồng/người/tháng
  6. Hải Phòng: 5,09 triệu đồng/người/tháng
  7. Bắc Ninh: 4,91 triệu đồng/người/tháng
  8. Cần Thơ: 4,79 triệu đồng/người/tháng
  9. Vĩnh Phúc: 4,51 triệu đồng/người/tháng
  10. Bà Rịa – Vũng Tàu: 4,41 triệu đồng/người/tháng.

Trong 63 tỉnh, thành tại Việt Nam, Bình Dương là tỉnh có thu nhập bình quân đầu người cao nhất với 7,12 triệu đồng/người/tháng.

Một số bạn hỏi khảo sát này tính thu nhập bình quân đầu người ở Quảng Ninh là bao nhiêu. Câu trả lời là hơn 3,9 triệu/người/tháng.

Điện Biên là tỉnh có thu nhập thấp nhất, đứng thứ hai sau Điện Biên là Sơn La.

Nhóm 10 tỉnh, thành nghèo nhất Việt Nam năm 2021, tính từ hạng dưới cùng: Điện Biên, Sơn La, Hà Giang, Lai Châu, Bắc Cạn, Cao Bằng, Gia Lai, Lạng Sơn, Lào Cai, Kon Tum.

Thống kê trên dựa theo Khảo sát mức sống dân cư năm 2021 được Tổng cục Thống kê công bố ngày 29/6.

Cũng theo khảo sát, năm 2021, thu nhập bình quân 1 người/tháng đạt 4,205 triệu đồng tại Việt Nam, giảm 1,1% so với năm 2020.

“Con lo lắng bối rối về nhiều chuyện quá!”

“Con lo lắng bối rối về nhiều chuyện quá!”.

Một nhà tu đức nói, “Không ai hạnh phúc cho đến khi người ấy học được cách tận hưởng những gì mình có và không lo lắng về những gì mình không có! Cũng thế, sẽ không hạnh phúc khi một Kitô hữu quá lo lắng chuyện thế gian, cho đến khi người ấy ‘dịch chuyển sự lo lắng’ đến một điều gì đó hữu thần hơn!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Nói rằng, “‘Dịch chuyển sự lo lắng’ đến một điều gì đó hữu thần hơn!”, khác nào nói, “Hãy lo lắng tìm kiếm Chúa hơn!”. Đó cũng là những gì Lời Chúa Chúa Nhật hôm nay đề cập qua hai cuộc viếng thăm: một của Abraham, Sara; một của Matta, Maria. Điểm chung độc đáo của hai cuộc thăm viếng này là chính Thiên Chúa, trở thành những Vị Khách!

Trong thế giới xôn xao hôm nay, thật thú vị, chúng ta cần học bài học ‘dịch chuyển sự lo lắng’ từ chỗ “lo lắng bối rối về nhiều chuyện” sang ‘lo lắng bối rối về một chuyện’, chính Thiên Chúa! Vì có vẻ như mọi thứ đang chuyển động nhanh hơn, ngày càng có nhiều thứ tranh giành thời gian của chúng ta hơn; và chúng ta phải giải quyết tất cả. Nền văn hoá hiện đại gần như buộc mỗi người phải nhanh chóng vượt qua những tình thế rất khó xử; và chúng ta phải cố gắng làm những gì đúng, cố gắng chịu trách nhiệm những gì phải làm. Và này, mỗi người định hình chính mình và thấy mình nơi “Matta” trong thế giới chóng mặt này, một thế giới dường như đang bay…

Vậy mà Phúc Âm nói, “Chỉ cần một điều, Maria đã chọn phần tốt nhất”. Đó là yêu Chúa Kitô, nên giống Chúa Kitô, và sống vì Chúa Kitô! Một khi cuộc sống chín muồi và sự vĩnh cửu đến gần, điều còn lại là tình yêu đối với Chúa Kitô; mọi thứ khác đều tan thành mây khói, sương mù và hư không. Chúa Kitô là kho tàng mà mỗi người nên bán hết, kể cả mạng sống, cái tôi và sự phù phiếm để mua lấy; Ngài là tất cả những gì chúng ta cần! Bởi lẽ, điều gì sẽ xảy ra khi cuộc sống kết thúc? Ai có thể lấp đầy tâm hồn, mang lại ý nghĩa cho nó ngoài Thiên Chúa? Chúa Giêsu lưu ý điều này; vì lẽ, nhiều khi, chúng ta dễ dàng đặt những thứ khác lên hàng đầu!

Bài đọc Sáng Thế cho thấy cách Abraham “chọn phần tốt nhất” khi ông không để mình phân tâm bởi một điều gì khác ngoài việc làm vui lòng các Vị Khách; ở đây, chính là Thiên Chúa. Ông lấy nước, bánh, bắt bê béo làm thịt… và “đứng hầu các Ngài dưới bóng cây”. Các Vị Khách hiểu hoàn cảnh của ông, ban cho ông một lời hứa vốn sẽ thoả mãn mọi ước nguyện; vì ông đã “chọn được phần tốt nhất”. Thú vị thay! Kìa, dưới rặng sồi Mambrê, chúng ta gặp trước một Maria Bêtania trẻ trung, người đã “chọn phần tốt nhất”, nơi cụ già Abraham chín muồi! Vậy mà, những cuộc gặp gỡ này được Thánh Kinh gọi là “những cuộc thần hiện”, Thiên Chúa mặc khải chính mình, điều mà Phaolô trong thư Côlôssê hôm nay nói, “Đó là mầu nhiệm ẩn giấu từ muôn thuở qua muôn thế hệ, nhưng nay tỏ bày cho các thánh của Ngài”. Và như một ao ước, Thánh Vịnh đáp ca đã thốt lên, “Lạy Chúa, ai được cư ngụ trên núi thánh của Chúa?”.  

Anh Chị em,

“Con lo lắng bối rối về nhiều chuyện quá!”. Lời Chúa ngỏ với Matta xem ra đánh trúng tim bạn và tôi. Sống giữa một xã hội mà ‘thành công’ đã khó, phương gì là ‘thành nhân’, chúng ta không chỉ lo lắng nhiều điều cho bản thân mà còn lo toan cho cả những người mình có trách nhiệm. Trước hết, hãy “học cách tận hưởng những gì mình có”, đón nhận cuộc sống với lòng biết ơn; và “đừng quá lo lắng về những gì mình không có!”. Thứ đến, cần xác tín, trong Chúa Phục Sinh, Thiên Chúa không còn là Vị Khách thoả mãn các ước nguyện cỏn con, ngay cả đó là một cậu bé cho đôi vợ chồng già; nhưng Ngài còn là “người nhà”, cắm lều giữa chúng ta, trong chúng ta; Ngài chia sẻ sự sống thần linh cho chúng ta; sống với chúng ta, sống cùng chúng ta và sống cho chúng ta! “Trong Ngài, chúng ta sống, cử động và hiện hữu”. Vậy tại sao chúng ta không dâng mọi lo lắng cho Ngài; Cha nhân lành, quyền năng, thấu hiểu! Chỉ khi làm được như thế, chúng ta mới ‘dịch chuyển sự lo lắng’ từ chỗ “lo lắng về nhiều chuyện” sang “một chuyện cần” là chính Ngài. Với Ngài, không chỉ ‘thành nhân’, chúng ta có thể ‘thành thánh’, tại sao không?

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con phân tâm với bất cứ điều gì ngoài Chúa. Xin ‘dịch chuyển sự lo lắng’ của con không chỉ đến một chỗ hữu thần, nhưng đến hẳn với một Vị Thần, chính Chúa!”, Amen. 

From: KimBang Nguyen

 Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. (Mt 11:28) – Cha Vương

 Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. (Mt 11:28) – Cha Vương

Ngày Chúa Nhật thật nhẹ nhõm trong vòng tay của Chúa. Đừng quên cầu nguyện cho nhau và cho người dân Ukraine nhé.

Cha Vương

CN: 17/07/2022

TIN MỪNG: Chúa đáp: “Mác-ta! Mác-ta ơi! Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Ma-ri-a đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi.” (Lc 10:41-42)

SUY NIỆM: Câu chuyện sau đây là lời nhắc nhở chân thành đến những ai đang băn khoăn, bận rộn, và lo lắng quá mà không có giờ cho Chúa, cho gia đình, cho con cái…

Cậu bé 10 tuổi nói với bố:

– Bố ơi, mỗi giờ bố làm được bao nhiêu tiền?

Không thích câu hỏi có tính cách tò mò, nhưng bố nó cũng trả lời :

– Mỗi giờ bố làm được 10.000 đồng.

– Bố cho con 5.000 đồng được không ?

– Thì ra con hỏi bố làm được bao nhiêu tiền để xin tiền à?

Thằng bé bị bố tạt cho một “gáo nước lạnh”, tiu nghỉu lên võng nằm.  Thấy thương, bố nó đến bên an ủi và bảo :

– Bố cho con 5.000 đồng đây, con cần mua bút mực hay sách vở cứ nói, bố sẽ cho. Thằng bé vui mừng chạy đến  chiếc cặp lấy ra 5.000 đồng nữa, tổng cộng nó có 10.000 đồng. Nó đưa cho bố và nói:

– Đây là tiền công một giờ của bố, bố hãy đi chơi với con một giờ được không?

Ngạc nhiên, bố nó ôm vào lòng rồi nói :

– Bố xin lỗi con, bấy lâu nay bố lơ là không quan tâm đến con, bố đổ thừa cho công việc quá bận rộn.

Thằng bé không hiểu, tròn mắt nhìn bố nó và nghĩ thầm: “Sao lại đổ thừa nhỉ”?

Như hiểu ý nó, bố nó nói :

– Đi làm, bố thường đi sớm về trễ, ở nhà loanh quanh với những việc nhà, ngày lễ, ngày nghỉ cũng chỉ nghĩ đến công việc. Bố quá lo cho đời sống vật chất mà quên đi đời sống tinh thần. Nói đến đây bố chợt nghĩ về mẹ con, mới đó mà đã 15 năm kể từ ngày bố lấy mẹ, từng ấy năm không một chút thư thả, chưa một ngày rong chơi, bố và mẹ đã già đi rất nhiều so với số tuổi. Tất cả chỉ vì công việc!

Im lặng một lúc, bố nói tiếp:

– Bố hứa từ nay, bố sẽ bớt công việc, bố sẽ lo cho mẹ và con được cuộc sống đích thực, tận hưởng được những gì mà Thượng Đế ban cho, đó là cảnh vật thiên nhiên, không khí trong lành.

Bạn có thể đang thật sự bận rộn hoặc đang nhiễm một chứng bệnh: “Ra vẻ bận rộn”.  Rất nhiều người từ già đến trẻ đang lấy cớ “bận rộn” để sống thờ ơ và lạnh nhạt trong cách sống đạo. Không có thời gian quan tâm đến người khác vì lúc nào cũng có một điệp khúc bất hủ trên cửa miệng: “Mình bận lắm, không có thời giờ đâu”.  Điệp khúc này được nhai đi nhai lại bằng những nhịp điệp khác nhau… Suốt 24 giờ, dường như là quá ít so với công việc một ngày của họ: đi làm, giao tiếp, đi học, cà phê, vi tính, lướt mạng, phim ảnh… điều này đã khiến cho họ xa lìa Chúa, thiếu sự quan tâm đến bản thân mình và người xung quanh.

LẮNG NGHE: Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. (Mt 11:28)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, gánh nặng của con là những bận rộn vô nghĩa. Xin cho con biết năng chạy đến với Chúa qua thinh lặng cầu nguyện và qua các Bí Tích mà Chúa đã thiết lập, nhờ đó con tìm được nguồn an vui, sự  bình an và bồi dưỡng cho tâm hồn.

THỰC HÀNH: Giảm giờ làm việc để dành thời gian cho Chúa, cho gia đình và cho sức khoẻ của mình nhé.

From: Đỗ Dzũng