Tin tức về sự ra đi ngày 19/7 của ông Tô Văn Lai, người sáng lập Trung tâm Thúy Nga nổi tiếng với chương trình ca nhạc Paris By Night, đã bị gỡ bỏ khỏi các trang Thanh Niên, Pháp Luật, Dân Trí, Tiền Phong… ngay trong ngày đăng 20/7.
Từ Sài Gòn, nhà văn Nguyễn Viện cho rằng một nguyên nhân có thể các bài viết về ông Tô Văn Lai bị gỡ hàng loạt là do ông Tô Văn Lai là một nhân vật “có ảnh hưởng nhưng ngoài luồng”.
“Khi báo chí đưa tin về sự qua đời của ông Tô Văn Lai không khác gì là tuyên dương một người không nằm trong hệ thống nhà nước”, nhà văn Nguyễn Viện nói.
Trong khi đó, trao đổi với BBC News Tiếng Việt sáng 21/7, nhạc sĩ Tuấn Khanh, một công dân ở Việt Nam, cho rằng đây là “ý kiến của một cá nhân mà đủ sức tác động tới toàn bộ một hệ thống”.
Theo nhạc sĩ, trên đà dần dần cởi mở của Việt Nam đối với cộng đồng người Việt ở hải ngoại, gần đây đã có nhiều văn nghệ sĩ hải ngoại, tuy từng bị Đảng Cộng sản xem là ‘chống Cộng’, cũng đã được báo đài đưa tin và giới thiệu.
“Về tin tức ông Tô Văn Lai qua đời, tôi nghĩ rằng có một người nào đó muốn giới thiệu sự thông minh của mình, mang tính là “tôi là người phát hiện được điều này”, chứ không phải là xu hướng chung của nhà nước Việt Nam trong công cuộc cố gắng hòa hợp – hòa giải với cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Tôi nghĩ đây là quyết định của một cá nhân nhưng gây ảnh hưởng đến bộ mặt toàn bộ nhà nước Việt Nam”, nhạc sĩ Tuấn Khanh nhận định.
Tuy thế, loại dép râu (hay còn gọi là dép lốp, dép cao su, dép Bình Trị Thiên) thì chả có số má gì ráo trọi. Mẫu mã cũng không luôn. Đôi nào ngó cũng vậy. Cứ nhắm vừa chân ai là người đó xỏ đại vô – one size fit all – già trẻ, lớn bé, gái trai đều giống như nhau.
Thô kệch, trần trụi vậy thôi nhưng đôi dép lốp đã từng được thi hào Tố Hữu cho “lên tầu vũ trụ” và có tên trong Wikipedia, phiên bản tiếng Anh:
“The Ho Chi Minh sandals (Vietnamese dép lốp ‘tire sandal’) are a form of sandal made from discarded tires. Along with the khăn rằn scarf, they were a distinctive clothing of Viet Cong soldiers. These shoes were often called ‘Ho Chi Minh sandals’ or ‘Ho Chis” by Americans.”
Vỏn vẹn có đôi ba câu ngắn ngủi (chỉ gồm 48 từ) như vậy thì e chưa đủ liều lượng để ba hoa thiên tướng nên Wikipedia – phiên bản nội hóa – tự động chêm vào vài ba đề mục nữa (Đôi Dép – Dép Lốp – Đôi Dép Bác Hồ) tổng cộng là ba ngàn bốn trăm từ, với không ít hình ảnh, và toàn là những lời có cánh:
Đôi dép ấy rất đỗi bình dị, mộc mạc đơn sơ, nhưng thật nhiều ý nghĩa như chính cuộc đời Bác kính yêu. Bởi đôi dép cao su đã gắn liền với cuộc đời hoạt động cách mạng vì dân, vì nước của Bác. Ngày nay, đôi dép ấy đã trở thành kỉ vật thiêng liêng và vô giá của dân tộc ta.
Đôi dép này được xem như là một trong những biểu tượng về “cuộc đời cách mạng” của Hồ Chí Minh, được đề cập trong nhiều bài báo cũng như một số bài hát, bài thơ.
Tự điển bách khoa toàn thư của người ta mà Ban Tuyên Giáo vẫn thản nhiên nhẩy xổ vào thêm thắt/thêu dệt trắng trợn tới cỡ đó thì thiệt là quá đáng, và quá quắt! PTT Vũ Đức Đam, Chủ Tịch Hội Đồng Chỉ Đạo Biên Soạn Bách Khoa Toàn Thư Việt Nam, đã từng tuyên bố (không ngượng miệng) rằng:
“Bộ Bách khoa toàn thư phải là tri thức cơ bản về Việt Nam đặc biệt là tri thức ứng dụng cho đất nước, phải đúng theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.”
Tạm thời, khi chưa có bộ sách này thì cứ nhào nặn Wikikipedia tiếng Anh thành ra tiếng Việt (luôn) cho nó khoẻ. Mẹ nó, sợ gì?
Tuy không có gì đáng sợ nhưng cũng chả có hiệu quả chi. Bên cạnh những lời lẽ thương râu nhớ dép hết sức thiết tha của đám văn nghệ sỹ cung đình (Hà Nội) vẫn có những câu thơ truyền miệng, phổ biến trong văn hóa dân gian: Đôi dép râu dẫm nát đời son trẻ/ Nón tai bèo che khuất nẻo tương lai.
Nghe vậy tưởng đã quá tệ nhưng blogger Trương Nhân Tuấn còn diễn giải sự việc một cách tệ hại hơn vậy nữa: “Nón cối hay nón tai bèo, cùng đôi dép râu, đã ‘viết nên trang sử’, trên lý thuyết là đưa cả nước lên ‘xã hội chủ nghĩa’. Mà thực tế là đưa tất cả ‘xuống hàng chó ngựa’, như hai câu ‘thơ’ thời thế : ‘Đôi dép râu dẫm nát đời son trẻ, Chiếc nón tai bèo phủ kín nẻo tương lai.”
Thế mới biết dép râu tuy không có số má chi nhưng kẻ xỏ chân thì đều có cả. Tuy tuyệt đại đa số đều “xuống hàng chó ngựa” nhưng lại có kẻ được cơ hội xưng vương, và xưng tụng như thần:
“Vào năm 1970, một năm sau ngày Bác đi xa, nhà thơ Nam Yên đã viết một bài thơ lời lẽ dung dị nhưng rất mực thắm thiết, gợi lên cảm xúc thương mến Bác vô bờ. Bài thơ được nhạc sĩ Vân An phổ nhạc: Dép Bác, đôi dép cao su/ Bác đi từ ở chiến khu Bác về/ Phố phường trận địa/ Nhà máy đồng quê/ Đều in dấu dép Bác về, Bác ơi…
Bác Hồ là biểu trưng của tất cả những gì dung dị, mang một bản sắc dân tộc Việt Nam nhuần nhị, sâu xa nhất. Ngay cả quần áo, đồ dùng tiện nghi của Bác cũng đơn sơ, mộc mạc trong đó đôi dép của Bác trở thành một hình tượng thân quen, thắm thiết đối với chúng ta…” (Trung Đức. “Đôi Dép Bác Hồ Đôi Dép Cao Su.” Việt Nam Mới).
“Chuyện là, khi Bác tiếp các quan chức cấp cao trong Chính phủ Ấn Độ, họ đều chú ý nhìn vào đôi dép dưới chân Người, họ luôn liếc nhìn với vẻ lạ lùng và rất đỗi trân trọng. Báo chí nước ngoài khi đó thì nói về đôi dép cao su của Bác như một chuyện lạ, một huyền thoại về một con người tuyệt vời của thế kỷ lúc bấy giờ.
Người dân Ấn Độ đã tỏ rõ lòng ngưỡng mộ đến lạ kỳ về đôi dép cao su. Khi Bác tới thăm một ngôi đền lớn và cổ kính của Ấn Độ, lúc Bác bước vào trong đền, để lại đôi dép bên ngoài thì bất ngờ có hàng trăm phóng viên báo chí, nhiếp ảnh, quay phim ập đến vây kín đôi dép cao su của Bác. Họ như phục sẵn từ rất lâu rồi, một số phóng viên còn cúi xuống dùng tay sờ, nắn đôi dép tỏ vẻ lạ lùng và trịnh trọng.” (Huyền Chi. “Huyền Thoại Hồ Chí Minh Trong Trái Tim Các Nhà Báo Quốc Tế.” Công An Nhân Dân).
Sự “ngưỡng mộ” mà bạn bè quốc tế đã dành cho đôi dép của Bác – thực ra – chả là cái đinh gì, nếu so với lòng sùng kính của người dân bản địa (nơi vùng xa, vùng sâu, vùng căn cứ cách mạng) ở Việt Nam:
“Không dối lòng đâu, mỗi lần đi ‘dép Bác Hồ’ là thấy bụng không nghĩ điều trái, chân không đi hai đường. Chẳng riêng mình, cả làng này ai cũng vậy. Chiến tranh khỏi nói, hòa bình rồi có biết bao chuyện khó… Bông Rẫy hồi chiến tranh chỉ có 50 hộ, bây giờ đã lớn lên gần 120 hộ mà không còn ai đói, chỉ còn 10 hộ nghèo. Ai cũng có xe máy, hơn một nửa đã làm được nhà xây.
Không ai nghe lời kẻ xấu vượt biên trái phép… Không nhờ phép lạ ‘dép Bác Hồ’ sao được thế? Có ‘dép Bác Hồ’ là thắng tất! Đinh Ngút cất lên một tràng cười sảng khoái. Ông nâng niu đôi dép mòn vẹt trên tay nói tiếp:
– Bông Rẫy bây giờ hãy còn gần hai chục người giữ được ‘dép Bác Hồ’ năm sáu chín như mình. Năm ngoái huyện đội vào xin mấy đôi, nói để làm bảo tàng, dân làng mới cho…” (Lê Quang Hồi. “Làng Bông Rẫy Mang Dép Bác Hồ.” Quân đội Nhân dân).
Trời ơi! Tưởng gì? Chớ dép lốp thì cần chi phải đi xin để bỏ vô viện bảo tàng. Thiếu mẹ gì đây nè, theo như những bản tin nhan nhản hàng ngày qua báo chí:
Cuộc chiến đã chấm dứt gần nửa thế kỷ, xương cốt của đám con bỏ xác dọc Đường Trường Sơn đã trở thành mùn đất (các bà mẹ tìm con nay cũng đều đã khuất) nhưng những chiếc dép cao su thì hẳn vẫn còn nguyên, và còn nhiều lắm:
Nhà văn Xuân Vũ: “ Để vun bồi ‘uy tín’ (hão) cho một người hoặc một vài người trên dãy Trường Sơn này, núi rừng đã phải nhận hàng vạn bộ xương khô, hằng vạn nấm mồ, không có nấm, không có bia.”
S. Nguyễn Văn Lục: “Người ta phỏng đoán có khoảng 300.000 vừa là TNXP, vừa là cán binh bộ đội đã đào ngũ hay mất tích hoặc chấm dứt đời sống. Bệnh tật như kiết lỵ, sốt rét đã nhanh chóng hoàn tất cuộc đời của họ mà có thể chưa một ngày lâm trận.”
Nhà báo Rajiv Chandrasekaran cũng ghi nhận con số tương tự: “Chừng 300 ngàn người lính miền Bắc chết trong chiến tranh mà di hài của họ vẫn chưa tìm được – và chắc sẽ không bao giờ tìm ra cả. About 300,000 North Vietnamese soldiers killed in the war whose remains have not yet been located – and likely never will be. (“Vietnamese Families Seek Their MIAs.” Washington Post 3 April 2000: A01).
Nhà đương cuộc Hà Nội chỉ muốn mọi người biết đến và tôn thờ một đôi dép râu duy nhất của Hồ Chí Minh thôi nhưng dân Việt sẽ không bao giờ quên số phận thảm thương của hằng triệu sinh linh (chả may) buộc phải xỏ chân vào cái thứ dép oan nghiệt này.
Hôm nay 22/07 Giáo Hội mừng kính Thánh Maria Magdalen (thế kỷ thứ 1). Mừng Bổn mạng đến những ai chọn thánh Nữ làm quan thầy nhé.
Cha Vương
Thứ 6: 22/7/2022
Ngày trước, người ta lẫn lộn giữa Maria Magdalen với ba người phụ nữ được Phúc Âm nói đến là:
– Người đàn bà tội lỗi vô danh đã đến đổ thuốc thơm trên chân Chúa và lấy tóc lau (Lc 7,37-50)
– Maria ở Bethania, em của Mattha và Lazarius. Cô cũng đã xức thuốc thơm nơi chân Chúa và lấy tóc lau (Gio 11,1;12,3)
– Maria ở Magdala (Magdala là một làng nhỏ bên bờ hồ Tiberiade) người được Chúa Giêsu đuổi trừ bảy quỷ (Lc 8,2) và đã có mặt dưới chân Thánh Giá khi Chúa chết cùng với Mẹ Maria và Gioan. Cô dự vào việc mai táng Chúa, trở ra mộ Chúa hai hôm sau để xức xác, nhìn thấy ngôi mộ trống. Maria là người đầu tiên nhìn thấy Chúa sống lại và đi báo tin cho các tông đồ. Thì chỉ Maria Magdalen này được ghi trong niên lịch Phụng Vụ sau vụ cải tổ lịch Phụng Vụ Roma mới.
Cũng do sự nhầm lẫn lâu đời giữa ba nhân vật nên Maria Magdalen mới được coi như là quan thầy những phụ nữ hoàn lương, những người bán nước hoa và buôn găng tay.
Cũng do sự nhầm lẫn lâu ấy mà có những tương truyền khác nhau như việc Maria Magdalen đã đến xứ Gaules (có từ thế kỷ thứ XI) người ta kính thánh tích của bà ở Vezelay, trên con đường hành hương đến Compostelle; cũng tại Provence, từ thế kỷ thứ XIII có những cuộc hành hương lôi cuốn nhiều người đến Sainte Marie de la Mere, nơi mà người ta cho rằng Maria Magdalen đã đổ bộ với em là Lazarius cùng nhiều phụ nữ khác, có cả người tớ gái là Sarah, quan thầy của những người phiêu bạt Gitans. Cũng như tại Saint Baume nơi có bọng đá mà người đã ở qua và tại Saint Maximin có phần mộ của người.
Tại Đông Phương, tương truyền rằng Maria Magdalen chết và được chôn ở Êphêsô. Năm 899, hoàng đế Leon VI đã chuyển thánh tích của người hay là được coi như vậy, về một tu viện ở Constantinople. Từ Đông phương, việc sùng kính đến Tây phương từ thế kỷ thứ X.
Vậy chúng ta chỉ biết về những gì Phúc Âm nói đến về vị thánh nữ đặc biệt ấy và ngày nay hình như chỉ có Maria Magdalen này mới có tên trong lịch Phụng Vụ mới. (Nguồn: Nhóm Tinh Thần, hạnh các Thánh)
Đức Giáo hoàng Benedict XVI nói: “Câu chuyện của Maria thành Mácđala nhắc nhở tất cả chúng ta một sự thật hiện hữu”… “Thánh nữ là một trong những môn đệ của Chúa Kitô, trong kinh nghiệm yếu đuối của con người, ngài đã khiêm nhường cầu xin Chúa thương xót, và đã được Chúa tha thứ, để rồi tiếp tục đi theo Chúa mà trở thành một nhân chứng về điều này: tình thương xót của Chúa mạnh hơn tội lỗi và sự chết”.
Hôm nay Bạn hãy xin cho được ơn hoán cải nhé. Xin thánh Maria Magdalen, cầu cho chúng con.
Các tổ chức nhân quyền quốc tế hôm 22/7 lên tiếng phản đối bản án mà toà án Nhân dân huyên Đức Hoà, tỉnh Long An, vừa áp đặt lên sáu người thuộc một nhóm tu tại gia là Tịnh thất Bồng lai hay còn gọi là Thiền Am Bên Bờ Vũ Trụ. Human Rights Watch thậm chí gọi đây là một điểm mới trong chiến dịch trấn áp nhân quyền ở Việt Nam khi bỏ tù một cụ ông ngoài 90 tuổi chì vì ông dám bày tỏ chính kiến của mình.
Hôm 21 tháng 7, sáu thành viên thuộc Tịnh thất Bồng Lai bị tuyên phạt tổng cộng hơn 23 năm tù với cáo buộc “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo Khoản 2, Điều 331, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Điều 117 về tuyên truyền chống Nhà nước và Điều 331 là các điều khoản về an ninh quốc gia trong Bộ Luật Hình sự. Từ đầu năm đến nay, có ít nhất 19 người đã bị chính quyền Việt Nam bắt giam với cáo buộc vi phạm các điều này, theo thống kê mà RFA tổng hợp được.
Ông Lê Tùng Vân tại Toà án Nhân dân huyện Đức Hoà vào tháng 7/2022. Công An Nhân Dân
Việc toà tuyên những bản án nặng nề, đặc biệt là bản án năm năm tù giam đối với ông Lê Tùng Vân, người đã ngoài 90 tuổi, đã gây chú ý.
Cáo trạng của Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh Long An cáo buộc những người thuộc Tịnh thất Bồng Lai cầm đầu bởi ông Lê Tùng Vân đã đăng tải nhiều bài viết, clip trên mạng xã hội Facebook và YouTube trong khoảng thời gian từ năm 2019 đến năm 2021 có thông tin sai sự thật, bịa đặt, xuyên tạc, nhằm tuyên truyền, kích động xúc phạm uy tín của cơ quan Công an huyện Đức Hoà, xúc phạm Phật giáo, xúc phạm danh dự và nhân phẩm của ông Trần Ngọc Thảo (tức Thượng toạ Thích Nhật Từ).
Điều 331 của Bộ luật Hình sự vốn được sử dụng trong các vụ án có yếu tố chính trị, nhằm buộc tội những người bất đồng chính kiến với Đảng Cộng sản. Các tổ chức nhân quyền quốc tế đã liên tiếp chỉ trích và yêu cầu chính quyền Việt Nam bãi bỏ điều luật này.
Trao đổi với Đài Á châu Tự do qua email, ông Phil Robertson, Phó giám đốc phân ban Châu Á của tổ chức Theo dõi Nhân quyền, cho biết bằng việc bỏ tù những người ở Tịnh thất Bồng Lai vì các phát ngôn của họ cho thấy chính quyền Việt Nam đã trở nên độc đoán hơn:
“Tống một ông cụ 90 tuổi vào tù chỉ vì dám nói lên suy nghĩ của mình cho thấy chính quyền Việt Nam đã đưa chiến dịch trấn áp nhân quyền đến một điểm mới.
Bằng việc sử dụng điều luật hà khắc để bịt miệng những người dân bình thường, những người chỉ đơn giản đã than phiền về công chức địa phương, chính quyền Việt Nam cho thấy giờ đây họ không chỉ đàn áp những nhà hoạt động”.
Thông qua việc những cá nhân phi chính trị như các thành viên ở Tịnh thất Bồng Lai giờ đây cũng bị bắt bớ vì phát ngôn trên mạng, ông Phil Robertson cho rằng chế độ ở Việt Nam đang cho thấy họ càng ngày càng trở nên thù nghịch đối với những chỉ trích.
Vị đại diện của tổ chức nhân quyền có trụ sở tại Hoa Kỳ cũng kêu gọi chính quyền Việt Nam trả tự do cho những người bị cầm tù:
“Việt Nam cần phải đảo ngược các phán quyết lố bịch và những bản án không thể chấp nhận được nhắm vào tất cả những cá nhân ở Tịnh thất Bồng Lai”.
Đồng thời, tổ chức Ân xá Quốc tế, một tổ chức nhân quyền quốc tế có trụ sở ở Anh Quốc, cũng bày tỏ sự phản đối trước kết quả phiên toà hôm 21 tháng 7. Bà Ming Yu Hah, Phó giám đốc khu vực Đông và Đông Nam Á của tổ chức Ân xá Quốc tế, cho biết:
“Việc cáo buộc ai đó là lợi dụng các quyền tự do dân chủ, thực chất là cái cớ để bịt miệng những tiếng nói chỉ trích chính quyền. Chỉ trong nửa đầu năm nay thì các điều 331 và 117 đã liên tục được lạm dụng để bắt bớ và truy tố bloggers, tín đồ tôn giáo, và người sử dụng Facebook vì những hoạt động của họ trên mạng xã hội.
Ngày nay, bất cứ ai ở Việt Nam đều có nguy cơ bị bỏ tù nhiều năm trời chỉ vì thực hành quyền tự do biểu đạt”.
Tình trạng này được bà Ming Yu Hah cho là “không thể chấp nhận và không thể dung thứ”. Bà cũng kêu gọi chính quyền Việt Nam phải chấm dứt việc đàn áp quyền tự do biểu đạt, và trả tự do cho những người bị bắt bớ.
Điều 117 về tuyên truyền chống Nhà nước và Điều 331 là các điều khoản về an ninh quốc gia trong Bộ Luật Hình sự. Từ đầu năm đến nay, có ít nhất 19 người đã bị chính quyền Việt Nam bắt giam với cáo buộc vi phạm các điều này, theo thống kê mà RFA tổng hợp được.
MAJORCA, Tây Ban Nha (NV) – Đại Sứ Quán Việt Nam tại Tây Ban Nha “vẫn đang giữ liên lạc và đang hỗ trợ thủ tục lưu trú cho hai công dân Việt Nam bị tố cưỡng hiếp ở đảo du lịch Majorca,” theo tờ Tuổi Trẻ hôm 21 Tháng Bảy.
Thông tin được bà Phạm Thu Hằng, phó phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao CSVN, loan báo nhưng vẫn giấu tên hai nghệ sĩ nổi tiếng bị cáo buộc cưỡng hiếp cô gái 17 tuổi ở Tây Ban Nha.
Diễn viên Hồng Đăng đăng hình chụp trước nhà thờ chính tòa Milan, Ý, trên trang cá nhân vài ngày trước khi ông này bị bắt tại đảo Majorca, Tây Ban Nha. (Hình: Pháp Luật TP.HCM)
Lần duy nhất mà giới chức chính phủ Việt Nam xác nhận ông Hồng Đăng, Hồ Hoài Anh chính là hai nghi can trong vụ này là khi ông Tạ Quang Đông, thứ trưởng Bộ Văn Hóa – Thể Thao và Du Lịch, được cho là “hớ miệng” tại một cuộc họp hôm 5 Tháng Bảy.
Trước đó, các báo địa phương của đảo Majorca đưa tin cảnh sát địa phương đã tạm giữ một diễn viên 37 tuổi và một nhạc sĩ 42 tuổi người Việt Nam đã ra tòa lần đầu hôm 28 Tháng Sáu, với cáo buộc “cưỡng hiếp.”
Liên quan vụ này, bà Hằng cho biết thêm hiện tại, Sứ Quán Việt Nam tại Tây Ban Nha “tiếp tục theo dõi sát vụ việc, giữ liên lạc với các công dân, chính quyền địa phương và sẵn sàng hỗ trợ công dân theo các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam và nước sở tại.”
Phát ngôn của bà Hằng là chỉ dấu cho thấy ông Hồng Đăng và Hoài Anh sẽ còn phải ở Tây Ban Nha trong một thời gian dài và không có cơ hội được về nước, trước khi tòa án địa phương mở phiên xử.
Báo Zing hôm 6 Tháng Bảy dẫn lời bà Patricia Faraldo Cabana, giáo sư Luật Hình Sự tại đại học University of A Coruna, Tây Ban Nha: “Tôi không thể đưa ra con số cụ thể vì thời gian điều tra phụ thuộc vào các tình tiết và bối cảnh vụ án, cũng như hồ sơ tồn đọng nếu có của tòa án. Trên thực tế, thường phải mất vài tháng, thậm chí vài năm trước khi vụ án được đưa ra xét xử.”
“Trong trường hợp của hai nghệ sĩ Việt Nam, đến thời điểm này, họ vẫn chưa được tố tụng nhanh. Điều đó có nghĩa trường hợp này khá nặng,” bà Patricia Faraldo Cabana nhấn mạnh.
Nhiều nhãn hàng ở Việt Nam đã gỡ hình ảnh Hồ Hoài Anh làm đại sứ thương hiệu cho họ ngay sau khi ông này bị cáo buộc cưỡng hiếp ở Tây Ban Nha. (Hình: Zing)
“Việc hai nghệ sĩ này được tại ngoại có nghĩa là thẩm phán thấy hai người không có dấu hiệu tái phạm, đi về nước hoặc gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng trong lúc được tại ngoại,” bà Cabana nói.
Bà Cabana cũng nhấn mạnh: “Tội phạm tình dục được coi là tội nghiêm trọng ở Tây Ban Nha. Khi được tại ngoại, thông thường, họ sẽ phải báo cáo thường xuyên với cảnh sát. Điều này tùy thuộc vào yêu cầu của tòa án.” (N.H.K) [qd]
Alphonse Daudet (13/5/1840 – 16/12/1897) là một nhà văn Pháp và là tác giả của nhiều tập truyện ngắn nổi tiếng. Ông sinh ra ở Nîmes (thuộc miền Nam nước Pháp). Ông bắt đầu viết văn từ năm 14 tuổi, đến năm 18 tuổi Alphonse ra thi tập “Những Người Đàn Bà Đang Yêu” (Les Amoureuses, 1858) và được đón nhận ngay. Độc giả Pháp đặc biệt yêu mến ông qua các tiểu thuyết “Thằng Nhóc Con” (Le Petit Chose), gần như là thiên hồi ký của thời niên thiếu đau khổ của chính mình mà đôi khi cũng được ví với nhân vật trong tác phẩm “David Copperfield” của đại văn hào Charles Dickens của Anh. Những năm sau ông viết nhiều tiểu thuyết cũng thành công không kém, qua các đề tài xã hội của một nước Pháp dân chủ thay thế cho chế độ quân chủ. Cho đến cuối đời, Daudet dao động từ niềm vui thẳng thắn (Nhân vật huyền thoại Tartarin de Tarascon) đến sự mỉa mai như quất mạnh (Numa Roumestan), hoặc nỗi u sầu bệnh hoạn nhất.
Cùng lúc với một Daudet thi sĩ, lại có một Daudet duy thực chua chát, ngay cả theo xu hướng tự nhiên, theo dấu chân của những nhà văn cùng thời với ông, Emile Zola hoặc anh em nhà Goncourt (Edmond & Jules de Goncourt, với các tiểu thuyết theo tự nhiên, sáng lập ra hàn lâm viện Goncourt).
***
Sáng hôm ấy tôi tới trường trễ, rất lo sẽ bị la, nhất là vì thầy Hamel đã dặn sẽ dò bài về thể phân từ, mà tôi thì không hiểu chữ nào. Có lúc tôi đã nghĩ đến chuyện trốn học, bỏ đi lêu lổng ngoài đồng. Trời thì ấm áp và tươi đẹp quá thế này.
Nghe có tiếng chim ríu rít ở bìa rừng, và trên cánh đồng Rippert đàng sau xưởng cưa, đám lính Phổ đang tập trận. Những thứ này hấp dẫn tôi hơn cái món mẹo luật phân từ, nhưng tôi cũng còn cưỡng lại được, và tôi ba chân bốn cẳng chạy tới trường.
Khi đi ngang Toà Thị Chính, tôi thấy đám đông người đang tụ tập trước bảng cáo thị. Suốt hai năm qua, mọi tin xấu đều từ nơi đó mà ra, nào tin thua trận, nào là lệnh tuyển binh, rồi các chỉ thị của bộ chỉ huy, tôi tự hỏi, chân vẫn không dừng: “Lại chuyện gì nữa đây?”
Thế rồi, khi tôi vội vàng chạy qua khu quảng trường, bác thợ rèn Wachter đang đứng đọc bảng cáo thị với anh học việc, nói lớn với theo tôi:
“Chạy gì nhanh thế, cậu bé. cậu còn cả khối thời gian tới trường mà!”
Tôi nghĩ là bác ấy đang giễu cợt tôi, và tôi thở hổn hển khi tới được mảnh sân nhỏ của thầy Hamel.
Thông thường, khi bắt đầu giờ vào lớp, luôn có những âm thanh ầm ĩ, ngoài đường cũng nghe thấy, tiếng mở đóng hộc bàn, tiếng học trò ôn bài đồng loạt, rất ồn ào vì cứ bịt tai mà đọc để nghe cho rõ, còn cả tiếng thầy gõ thước lên bàn nữa.
“Tất cả im lặng nhé!”
Tôi hy vọng sẽ lợi dụng lúc chộn rộn này để vô lớp không bị ai nhìn thấy. Nhưng hôm nay sao lại yên lặng như đang là sáng chủ nhật thế này! Qua cửa sổ, tôi thấy các bạn đã ngồi vào chỗ đàng hoàng, còn thầy Hamel thì đang đi tới đi lui với cây thước kẻ bằng sắt đáng sợ kẹp dưới nách. Phải mở cửa bước vào trong không khí lặng lẽ đó. Bạn chắc là tưởng tượng ra mặt tôi đỏ rần và tôi run sợ như thế nào.
Thế nhưng, không. Thầy Hamel nhìn tôi không chút giận dữ và dịu dàng nói:
“Hãy vào chỗ ngồi nhanh đi, em Frantz. Lớp học bắt đầu mà vắng mặt em đó.”
Tôi nhảy qua băng ghế và ngồi xuống ngay bàn của mình. Đến lúc đó, khi đã bớt lo sợ tôi mới nhận ra là hôm nay thầy mặc cái áo khoác màu xanh thật đẹp, riềm lá sen gấp nếp mịn và đội cái mũ tròn bằng lụa đen thêu mà thầy chỉ mặc những hôm có thanh tra hoặc phát phần thưởng.
Thêm vào đó, hôm nay trường tôi có vẻ gì lạ lùng và trang nghiêm khác thường, nhưng điều làm tôi sững sờ hơn hết là trên mấy băng ghế đặt ở cuối lớp, mọi ngày bỏ trống, hôm nay lại thấy có mấy người dân trong làng đang ngồi lặng lẽ giống như chúng tôi vậy. Ông già Hauser với cái nón xếp ba góc, ông cựu thị trưởng, ông cựu bưu tá, và nhiều người khác nữa, ai trông cũng buồn rầu. Ông Hauser có mang theo quyển sách vỡ lòng cũ, góc đã quăn queo, ông mở sẵn trên đùi, đặt cái kính đeo mắt trên trang sách.
Trong khi tôi đang tự hỏi về tất cả những điều đó thì thầy Hamel ngồi vào ghế của mình, và cất tiếng, cũng với cái giọng nhẹ nhàng và nghiêm trang mà lúc nãy thầy nói với tôi:
“Này các con, đây là buổi học cuối cùng thầy dậy các con. Lệnh đến từ Berlin là tất cả các trường học ở Alsace và Lorraine chỉ được phép dùng tiếng Đức mà thôi. Ngày mai sẽ có thầy mới tới đây và hôm nay là buổi học tiếng Pháp cuối cùng. Thầy mong các con phải chú ý thực kỹ.”
Những lời ấy khác nào sấm sét giáng xuống đầu tôi! Ôi, bọn khốn! Thì ra đây là cái mà chúng đã dán ở Toà Thị Chính!
Buổi học tiếng Pháp cuối cùng của tôi sao! Tôi còn chưa biết viết nữa mà! Tôi không được học nữa sao? Phải ngưng hết việc học ngay lúc này sao? Tôi giận mình biết bao về thời gian bỏ phí bấy lâu, tôi đã trốn học để đi tìm trứng chim hay đi trượt ván ở Saar! Những cuốn sách mà mới khoảnh khắc trước tôi cho là thứ khô khan, mang vác nặng nề, sách ngữ pháp, sách lịch sử linh thiêng, giờ tôi coi như những người bạn cũ, khó khăn lắm mới rời bỏ được. Và thầy Hamel cũng vậy. Nghĩ đến việc thầy sắp sửa đi xa, tôi sẽ không còn gặp thầy được nữa là tôi quên hết những hình phạt, những đòn đánh thước kẻ của thầy trước kia.
Tội thầy quá!
Chính vì coi trọng buổi học cuối cùng này mà thầy đã mặc bộ đồ đẹp thường chỉ diện ngày chủ nhật, và lúc này tôi mới hiểu tại sao những vị bô lão trong làng đến ngồi trên những băng ghế nơi cuối lớp. Có vẻ như họ cũng hối hận rằng đáng lẽ họ phải đến trường siêng năng hơn. Đó là cách họ tỏ lòng tri ân thầy chúng tôi đã tận tuỵ suốt bốn mươi năm nay, và cũng để biểu lộ tình cảm ân nghĩa đối với tổ quốc nay đã mất đi.
Tôi đang nghĩ về những điều này bỗng nghe tiếng thầy gọi tên. Đến phiên tôi phải đọc bài. Tôi có thể đánh đổi gì để có thể đọc được hết cái quy tắc về phân từ lẫy lừng đó, đọc thật to, thật rõ, không vấp váp chút nào nhỉ? Tôi chỉ ấp úng được mấy chữ đầu tiên thôi, rồi đứng yên như trời trồng, chết dí nơi băng ghế, tim đập mạnh, chẳng dám ngước mắt lên. Tôi nghe thầy Hamel nói với tôi:
“Này Frantz, thầy không la con đâu, con bị trừng phạt thế là đủ rồi, con thấy chưa, ngày nào ta cũng tự bảo: ấy, ta còn khối thời gian mà, để ngày mai rồi học cũng được. Và con thấy kết quả ra sao rồi đó… Ừ, tai hoạ lớn nhất của xứ Alsace chúng ta là bao giờ cũng trì hoãn việc học đến ngày mai. Và giờ đây, những kẻ kia có quyền bảo chúng ta rằng: Thế nào! Các ngươi tự nhận mình là dân Pháp, thế mà sao các ngươi chẳng biết đọc biết viết được tiếng mẹ đẻ của mình! Trong chuyện này, trò Frantz à, con đâu phải là người tội lỗi nhất. Tất cả chúng ta đây đều phải tự trách mình cả đấy.
Bố mẹ các con không chăm lo lắm việc học hành của các con. Họ thích các con ra đồng làm việc hay vào nhà máy hơn để kiếm thêm chút tiền. Còn thầy đây, bộ thầy không có gì đáng trách à? Chẳng phải là thầy đã sai các con đi tưới hoa trong vườn thay vì bắt các con phải học bài. Và khi thầy muốn đi câu, thầy chẳng ngần ngại cho các con nghỉ học.”
Thế rồi, từ chuyện này bắt sang chuyện khác, thầy Hamel nói về tiếng Pháp, bảo rằng đó là ngôn ngữ đẹp nhất trên thế giới, trong sáng nhất, hợp lý nhất, vững vàng nhất, và cần bảo vệ nó, đừng bao giờ được phép quên điều đó, vì khi một dân tộc bị rơi vào vòng nô lệ, chừng nào còn giữ vững tiếng nói của mình thì không khác gì nắm được chiếc chìa khoá mở cửa tù giam. Rồi thầy mở sách ngữ pháp ra và đọc bài học cho chúng tôi nghe. Tôi ngạc nhiên thấy mình hiểu thật thông suốt. Những điều thầy nói nghe thật dễ hiểu, thực sự rất dễ hiểu. Tôi cũng thấy rằng tôi chưa bao giờ chú ý nghe thầy giảng chăm chú đến thế, mà thầy cũng chưa bao giờ giảng giải mọi điều một cách kiên nhẫn đến thế. Như thể là trước khi đi xa thầy muốn truyền cho chúng tôi tất cả kiến thức của mình, cố trút hết vào đầu óc chúng tôi tất cả một lần.
Sau bài ngữ pháp, đến bài tập viết. Hôm đó, thầy đã chuẩn bị những tờ mẫu mới toanh, trên đó có viết bằng chữ rông thật đẹp: France, Alsace, France, Alsace… Những tờ giấy tập viết như những lá cờ nhỏ bay khắp phòng học, treo trên những thanh gắn trên mặt bàn học chúng tôi. Bạn phải nhìn thấy mọi người chăm chú làm việc như thế nào, và lớp học im lặng ra sao! Chỉ còn nghe được tiếng ngòi bút cào trên giấy. Có lúc, có vài con bọ bay vào phòng, nhưng chẳng ai để ý đến chúng, ngay cả những thằng nhỏ bé nhất đang cố công vạch những nét sổ thẳng, toàn tâm, toàn ý, chừng như những nét sổ đó cũng là tiếng Pháp. Trên mái nhà, những con bồ câu gù gù nho nhỏ, tôi nghe tiếng chim và nhủ thầm:
“Liệu người ta có bắt cả chúng nó cũng phải hót bằng tiếng Đức không nhỉ?”
Có lúc đang viết ngước nhìn lên, tôi thấy thầy Hamel ngồi bất động trên ghế, mắt chăm chăm nhìn hết vật này sang vật khác, như muốn ghi sâu trong tâm trí mình tất cả hình ảnh ngôi trường nhỏ bé này. Thật lạ! Đã bốn mươi năm nay, thầy chẳng luôn ở đây, vẫn chỗ ngồi đó, vẫn sân chơi trước mặt, vẫn lớp học không đổi hay sao? Chỉ có mấy cái ghế, cái bàn sử dụng lâu ngày nay trơn mòn hơn, những cây hạt óc chó nay mọc cao hơn, và dây hoa bia do chính thầy trồng nay quấn quanh cửa sổ, leo lên tận mái nhà. Hẳn là thầy đau lòng lắm khi phải rời xa tất cả những thứ này, khi nghe tiếng cô em thầy ở tầng trên đang đi đi lại lại, đóng gói đồ đạc vào mấy cái rương, bởi vì họ phải rời khỏi xứ ngay ngày hôm sau.
Nhưng rồi thầy cũng can đảm dạy hết cả buổi học. Sau phần tập viết, chúng tôi học về lịch sử, sau đó các trò nhỏ bi ba bi bô đánh vần. Dưới kia, ở cuối lớp, cụ Hauser đeo cặp kính vào mắt, hai tay nâng sách vỡ lòng lên cùng đánh vần theo chúng. Ai cũng thấy là cụ cũng rất chăm chú, giọng run run vì xúc động, nghe rất buồn cười khiến chúng tôi vừa muốn cười vừa muốn khóc. Ôi chao, tôi nhớ buổi học cuối cùng ấy biết bao!
Đột nhiên chuông nhà thờ gõ mười hai tiếng. Rồi đến hồi chuông cầu kinh Đức Bà. Đồng thời tiếng kèn đồng của đám lính Phổ đi tập trận về vang lên dưới mấy cửa sổ phòng học. Thầy Hamel đẩy ghế đứng dậy, mặt tái xanh. Chưa lúc nào tôi thấy thầy cao đến vậy. Thầy nói:
“Các bạn, các bạn, tôi…tôi…”
Có cái gì đó làm thầy nghẹn lại, không nói hết câu được. Thầy xoay người về phía bảng đen, nhặt một mẩu phấn, và bằng hết sức mình ấn lên phấn, thầy viết hàng chữ to hết cỡ:
“NƯỚC PHÁP MUÔN NĂM.”
Thế rồi, thầy ngừng tay, đầu gục lên tường, không nói một lời, thầy xua tay ra dấu như bảo chúng tôi: “Lớp học kết thúc… mọi người về đi!”
Alphonse Daudet
(Thân Trọng Sơn dịch và giới thiệu theo nguyên bản tiếng Pháp, Les Contes du lundi / Chuyện kể ngày thứ hai).
Bà Nguyễn Thị Phương Thảo, nữ tỉ phú đô la đầu tiền của Việt Nam
Milovan Djilas là nhà nghiên cứu lý thuyết CS và từng là ủy viên Bộ Chính Trị đảng CS Nam Tư, Phó Chủ Tịch Nhà Nước CS Nam Tư, Chủ Tịch Quốc Hội CS Nam Tư. Sau khi phản tỉnh ông viết trong tác phẩm Giai Cấp Mới: Một Phân Tích Về Hệ Thống Cộng Sản xuất bản năm 1957 như sau:
“Trong một thời gian dài, đảng CS cố tình che giấu bảnchất của mình. Quá trình hình thành của giai cấp mới không chỉ được che đậy bằng những thuật ngữ xã hội chủ nghĩa mà quan trọng hơn bằng hình thức sở hữu mới, sở hữu tập thể. …Bản chất giai cấp của hình thức sở hữu này được che đậy bằng bình phong quyền lợi của toàn dân tộc.“ (Theo Tủ sách Talawas, Phạm MinhNgọc dịch theo bản tiếng Nga, 2005)
Cũng trong tác phẩm Giai Cấp Mới, Milovan Djilas viết: “Năm 1936, nhân dịp công bố Hiến pháp mới, Stalin tuyên bố rằng ở Liên Xô đã không còn giai cấp bóc lột,nhưng trên thực tế người ta không chỉ thực hiện xong quá trình thủ tiêu các nhàtư sản và các giai cấp khác của chế độ cũ mà còn thiết lập một giai cấp hoàn toàn mới, chưa từng có trong lịch sử.”
Nhưng câu này của Milovan Djilas mới làchí lý: “Các lãnh đạo Cộng sản xử lý tài sản quốc gia như của riêng họ,nhưng đồng thời họ cũng lãng phí nó như thể nó là của người khác.” (Theo quote.org)
Thời gian dài trôi qua từ khi tác phẩmra đời nhưng bản chất của chế độ CS tại năm nước CS còn lại, trong đó có Việt Nam, vẫn đúng như Milovan Djilas nhận xét.
Chiến tranh Việt Nam chấm dứt gần nửa thế kỷ nhưng sự tiêu pha và lãng phí của giai cấp thống trị đã làm cho Việt Nam, một đất nước nhiều tiềm năng, thành là một nước nghèo so với tiêu chuẩn phát triển chung của thế giới. Trong suốt 47năm qua, các thế hệ Việt Nam đã đổ mồ hôi, nước mắt và cả máu để nuôi dưỡng giai cấp thống trị hoàn toàn không làm một việc gì hữu ích cho xã hội ngoài hút máu dân tộc Việt.
Như nhiều người biết hôm nay, dưới chế độ CS, khái niệm “nhân dân làm chủ” chỉ là một chiếc bình phong để giai cấp của những kẽ thống trị, có toàn quyền xử dụng tài sản của đất nước như của chính mình, cũng như có toàn quyền lãng phí tài sản đất nước như không phải của mình.
Những nhận định của Milovan Djilas có thể áp dụng vào hai trường hợp mới vừa xảy ra, Nguyễn Thị Phương Thảo tặng 155 triệu bảng Anh và Tô Lâm ăn bò bít-tết ở nhà hàng của đầu bếp Thổ Nhĩ KỳNusret Gökçe.
Như các báo loan tin, bà Nguyễn ThịPhương Thảo, tỉ phú Việt Nam đồng ý tặng 155 triệu bảng Anh cho Linacre College, một trường nhỏ thuộc hệ thống Đại Học Oxford. Theo thông báo của trường, với số tiền lớn được tặng, ngôi trường đang mang tên học giả nổi tiếngThomas Linacre có thể sớm đổi thành Thao College. Một số học giả Anh như giáo sư Đại Học Oxford Marie Kawthar Daouda phê bình ý định đổi tên trường từ Linacre sang Thao với lý do Thomas Linacre là học giả nổi tiếng trong thời đại ông và không nên thay chỉ vì một thương gia cho nhiều tiền.
Việc tặng tiền cho một đại học là một nghĩa cử quen thuộc của những người giàu tại Mỹ, Anh cũng như các nước Tây Phương. Các tỉ phú Mỹ thường tặng tiền chođại học, nhất là những trường mà họ xuất thân. Năm 2018, Michael Bloomberg tặng1.8 tỉ dollar cho đại học Johns Hopkins tại Maryland.
Điểm khác nhau chính là các tỉ phú Anh, Mỹ sinh ra và làm giàu trên một đất nước vốn đã giàu hàng đầu thế giới trong mọi lãnh vực, nhất là giáo dục. Theo The Center for World University Rankingstrong số 20 trường đại học tốt nhất thế giới có 17 trường là Mỹ, 2 là Anh và 1 là Nhật. Dò mỏi mắt xuống hạng 1.000 trường đại học được tổ chức này quan sát cũng không có một trường đại học Việt Nam nào.
Theo cách lý giải và hành xử của một người bình thường nếu bạn có lòng vị tha để tặng thì bạn nên tặng cho những nơi thiếu thốn nhất, cho những người cần nhất. Giá trị và tác dụng của món quà nhờ đó sẽ cao hơn và ý nghĩa hơn là tặng cho những nơi đang đầy đủ.
Mấy hôm nay, một làn sóng bất mãn, phê bình, mỉa mai, châm biếm bà Thảo đã “làm chuyện ngược đời”, “gánh củi về rừng”,“mua danh” v.v… Những người phê bình còn đưa ra những hình ảnh đau lòng của các em học sinh phải đu dây qua sông, bơi qua những khe nước chảy xiết, lội qua những con suối đầy đá nhọn để đến trường như một cách nhắc nhở cho bà Thảo thấy sự khác nhau giữa thực tế bi thảm của đất nước đã sinh ra bà và nền giáo dục hiện đại của Anh.
Họ cho rằng lẽ ra bà Thảo nên dùng số tiền đó để xây những chiếc cầu, lẽ ra bà Thảo nên dùng số tiền đó để dựng trường học, lẽ ra bà Thảo nên dùng số tiền đó để cấp học bổng cho sinh viên học sinh nghèo và nhiều “lẽ ra” khác.
Những người phê bình bà Thảo tưởng là bà không biết. Không, chắc chắn bà đã thấy và đã biết nhưng thấy là một chuyện, biết là một chuyện, cảm thông với sự chịu đựng của nhiều triệu tuổi thơ Việt Nam nghèo khó hay không là chuyện khác.
Là một tỉ phú, bà Thảo không muốn tên tuổi của mình gắn liền với một trường đại học dù lớn nhất Việt Nam nhưng vô danh trên thế giới.
Chuyện bà Thảo chưa xong. Hôm 3 tháng 11vừa qua các mạng internet chuyền nhau video tướng Công An CSVN Tô Lâm ăn thịtbò bít-tếch dát vàng trị giá hơn một ngàn dollar. Nhìn cảnh Tô Lâm há miệng to cho đầu bếp nhà hàng Salt Bae hay còn gọi “Thánh rắc muối” đút miếng thịt bò trông vô cùng kệch cỡm, ghê tởm làm sao.
Ăn thịt là chuyện bình thường nhưng nhìnTô Lâm ăn khó mà không tưởng tượng cảnh thú vật ăn thịt nhau trong phim động vật hoang dã. Đừng nói chi đang đại diện cho một nhà nước tại nước ngoài, một người lịch sự và tự trọng thường không làm vậy trong nhà hàng với nhiều thực khách chung quanh.
Những người Việt giận dữ lại lần nữa trưng bày những hình ảnh đau thương của hàng triệu người Việt tìm đường về quê tránh dịch với những cảnh chết chóc, đói khát, cực khổ không bút mực nào tả hết như một cách nhắc nhở Tô Lâm về thực trạng Việt Nam.
Theo họ, lẽ ra Tô Lâm biết ngay trong giờ phút ông đang ăn nhiều triệu người dân không có một chén cơm trắng để ăn, lẽ ra Tô Lâm nên biết trên cả nước nhiều người vẫn còn chết hay đang chờ chết vì nạn dịch, lẽ ra Tô Lâm nên biết hàng triệu trẻ thơ Việt Nam đang thiếu sữa trong tháng Mười lũ lụt này, và lẽ ra Tô Lâm không nên rắc muối lên vết thương của họ như anh chàng đầu bếp rắc lên miếng thịt bò mà Tô Lâm đang nuốt.
Chắc chắn là Tô Lâm đã thấy và đã biết nhưng giống như bà Phương Thảo, thấy là một chuyện, biết là một chuyện, cảmthông với sự chịu đựng của đồng bào hay không là chuyện khác.
Milovan Djilas viết về bản chất, nguồn gốc lịch sử hình thành nên giai cấp mới, nhưng ông có thể đã sót một đặc điểm quan trọng, “giai cấp mới” còn gồm những con người ích kỷ, vô lương tâm và vô cảm.
Lấy Trung Cộng, nước CS đàn anh của CSVN làm ví dụ cho chính xác với điều kiện kinh tế. Bản chất giai cấp là lý do Trun gCộng mặc dù có nhiều tỉ phú hạng thứ hai trên thế giới sau Mỹ nhưng là nước được tổ chức Charities Aid Foundation xếp vào hạng ích kỷ nhất thế giới trongnhiều năm.
Năm 2019, Trung Cộng đứng hàng 126 trong số 126 quốc gia được tổ chức quốc tế này quan sát. Charities Aid Foundation kết luận “Trung Quốc là quốc gia duy nhất đứng hạng tệ hại nhất trong cả ba tiêu chuẩn gồm tình nguyện, giúp đỡ người khác và đóng góp hiện kim.” Trung Cộng còn đứng sau cả Congo, Palestine, Yemen, những dân tộc triền miên trong chiến tranh và nghèo khó.
Nguyễn Thị Phương Thảo là sản phẩm của ý thức hệ CS nên đừng trách tại sao bà không rộng lượng với đồng bào mình mà dùng tiền đi mua danh một cách kệch cỡm đáng khinh.
Hôm qua, 6 tháng 11, 2021, tờ Daily Mailcủa Anh tố cáo bà Nguyễn Thị Phương Thảo và chồng không chỉ cấu kết với giới lãnh đạo của “chế độ CSVN thô bạo” mà còn có quan hệ với cả chủ tịch Trung CộngTập Cận Bình.
NguyễnThanh Hùng (chồng Nguyễn Thị Phương Thảo) và Tập Cận Bình. Ảnh trên mạng
Những đồng bạc, dù một đồng hay một tỉ, có được nhờ cấu kết với những kẻ gây nên tội c chống lại con người trong trường hợp này là đảng CSVN, sẽ không được xem làđồng tiền chính đáng.
Đặc tính không chính đáng của đồng tiền thể hiện rất rõ nét và rất dễ nhận ra tại Việt Nam. Hãy nhìn vào những biệt thự nguy nga mà “giai cấp mới” này sống so với những túp lều không vách của đại đa số trong 97 triệu người dân để thấy khoảng cách trời vực giữa hai tầng lớp người trong cùng một đất nước. Một chính phủ có 110 thứ trưởng, 201 phó chủtịch tỉnh và hàng ngàn vụ trưởng. Mục đích của bộ máy hành chánh cồng kềnh này chẳng qua là để hợp thức hóa vai trò của các cán bộ đảng, để qua đó chúng được chính thức lãnh lương, chính thức ăn hối lộ, chính thức tham ô và tham nhũng.
Tham nhũng dưới chế độ CS không phải phát xuất từ bản chất tham lam của một số người ở đâu cũng có thể có. Tham nhũng tại Việt Nam có tính đảng vì chính đảng CS tạo môi trường cho thamnhũng sinh sôi, nuôi dưỡng tham nhũng lớn và tạo điều kiện để tham nhũng hoànhhành.
Đối diện với tầng lớp cai trị, bộ máytuyên truyền và bạo lực trấn áp khủng khiếp và thường trực của chế độ CS đã biến phần lớn trong số 97 triệu người Việt còn lại thành một tầng lớp chỉ biết phục tùng.
Sự chịu đựng của nhiều triệu đồng bào trong mùa dịch vượt qua ngoài định nghĩa của khổ đau, bất hạnh và sợ hãi. Dù “mắc kẹt” ở Sài Gòn hay tìm cách về quê họ đều phải đối phó với những khó khăn chưa từng có trong đời.
Nhưng khác với Đông Âu trước đây hay CuBa mới đây, không có cuộc biểu tình nào ở Sài Gòn, không có chống đối nào trên đường đi dù có người phải đi bộ năm trăm cây số hay như anh thợ hồ Hồ Tám đi bộ1.000 cây số từ Trà Vinh để về Huế trên vai vỏn vẹn một thùng mì gói.
Họ không bao dung nhưng đã mất hết khả năng chống đối. Trời hành họ còn biết kêu trời nhưng đảng hành thì không ai dám kêu đảng. Nhà tù đang chờ họ. Trấn áp đang chờ họ. Chết đói, chết khát đang chờ họ. Bộ máy kìm kẹp của đảng CS siết chặt đến mức làm tê liệt ý thức phản kháng của con người. Họ lầm lũi đi như đoàn nô lệ da đen sau nội chiến Mỹ đi tìm một nơi để gọi quê hương.
Hàng triệu người dân hôm nay có thể đãtrở về trong căn nhà trơ trọi và bên ngoài mùa mưa đang đến, nước lụt đang dâng. Họ sẽ sống ra sao trong những ngày tháng tới. Có tiếng than, tiếng khócnửa đêm nhưng tuyệt nhiên không có tiếng trả lời hay an ủi.
Nhưng một mai, khi đại dịch qua đi,những người dân bất hạnh kia lại sẽ vào thành phố tìm đường sống vì không còn gì để sống trên nơi chôn nhau cắt rốn. Và cứ thế, cuộc đời của tầng lớp ngườibị trị tại Việt Nam sẽ bị vùi dập trong trầm luân thống khổ cho đến chết.
Trước nỗi bất hạnh của dân tộc Việt, ai là người biết đau và ai sẽ là người biết nhục? Nguyễn Thị Phương Thảo ư? Tô Lâm ể mua cái tên trường ở một đất nước xa xôi bỏ mặc cho nhiều triệu trẻ em Việt sống trong những điều kiện học hành tệ hại nhất thế giới. Nếu biết đau và biết nhục, ông Lâm đã không há miệng to để được đút ăn trong lúc một phần không nhỏ của đấtnước không có ngay cả gói mì để ăn.
Những người biết nhục không phải Nguyễn Thị Phương Thảo, Tô Lâm, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Xuân Phúc mà là những con người Việt còn có một lương tâm Việt Nam dù ở ngoài guồng máy hay vì lý do riêng phải tạm thời ở trong guồng máy.
Cách mạng dân chủ tại các nước cựu CS cho thấy, chính những người biết đau và biết nhục đã làm thay đổi vận mệnh đất nước họ. Khác nhau về thời gian và thời điểm nhưng Việt Nam cũng vậy. Lịch sử Việt Nam đã chứng minh nhiều lần trong hoàn cảnh dù đen tối bao nhiêu vẫn còn có những người biết đau và biết nhục. Lần nữa trong tương lai, chính những người biết đau và biết nhục sẽ thay đổi vận mệnh Việt Nam.
Tôi tắt Iphone để ngủ. Quyết định sẽ không bị quyến rũ bởi nhiều thứ trong này. Thời đại điện tử, tất cả hỉ nộ ái ố đều nằm trong cái iphone nhỏ xíu bằng bàn tay khép lại. Nó tuy nhỏ nhưng nắm vận mạng tiền bạc của con người. Thư từ, giấy tờ, nhà băng, cổ phiếu và tất cả những gì thuộc về cá nhân quan trọng cũng nằm trong đó.
Tôi lan man nghĩ đến mình. Cả đời không nghiện gì nhưng về già hình như tôi nghiện Iphone. Phải công bằng một chút là tôi nghiện internet. Cái desktop, ipad, Iphone là người tình không có không được. Qua thăm con cũng rinh kè kè cái laptop nặng trịch đi theo. Qua khu vực security ở phi trường lụi hụi lôi nó ra để kiểm tra, rồi lại bỏ nó vào carry one lôi đi. Mệt muốn ná thở. Khổ cái thân già là không thể nào rinh nổi cái carry one đó bỏ lên khoang hành lý trên đầu. Lần nào đi chơi cũng áy náy phải nhờ người giúp. Kéo vali vào máy bay, tới ngay ghế ngồi, tìm xem có chàng trai nào vai to cao lớn, đẹp trai ngồi hoặc đứng kế đó để cười tình : ‘ Please…please”. Lúc xuống máy bay cũng vậy, đứng lên chờ, miệng cười ruồi, chọn anh chàng nào đứng gần đó dáng thân thiện để “Xin một tay…please” để đem cái của nợ xuống dùm. Thiệt là quê xệ.
Có một lần tôi đi Nhật, không muốn phiền hà nhờ vả người khác, tôi bỏ laptop vào hành lý ký gửi. Qua tới Nhật về nhà mở vali ra tôi thấy hải quan đã mở vali tôi ra lục soát, họ có để lại trong đó tờ giấy kiểm tra hàng hóa. Con tôi nói tại má bỏ laptop vào trong này. máy rọi thấy lạ nên họ đã mở ra kiểm tra.
Mấy đứa con trai đều ở xa, mỗi lần đi thăm đều kỳ kèo mẹ ở lại chơi ít nhất cũng ba tuần. Cả hai thằng con biết ý mẹ, lúc nào cũng xếp đặt phòng riêng có bàn để laptop, cái ghế dựa để mẹ ngồi cho thoải mái. Thằng lớn còn đem cái monitor thật to gắn thêm vào cho mẹ dễ đọc.
Hàng ngày con đi làm, cháu đi học, bà già trầu ngồi ở nhà mình ên. Không chơi với người tình mặt trắng thì biết làm gì cho hết ngày giờ. Thế là mở laptop ra, chuyện thế giới, chuyện nội địa, chuyện chiến tranh, bão lụt, chính trị, văn chương nằm hết trong đó. Ngồi chơi lâu cũng mệt, tắt laptop lên giường. Lại có tin nhắn thế là tôi lôi Iphone ra quẹt. Thật lạ! ngồi thì buồn ngủ, nằm quẹt lại tỉnh rụi. Cho nên với ánh sáng của màn hình mắt không yếu không khô, người không mất ngủ mới là chuyện lạ.
Có những điều tuy rằng tai hại nhưng với thời đại mới không dùng Internet sẽ không giải quyết được cuộc sống hàng ngày. Cả thế giới đều phủ phục dưới sự lãnh đạo tối ưu của Google. Cả thế giới đều tình nguyện bị theo dõi, bị khống chế nhưng vẫn cám ơn bất tận.
Này nhé trong mùa dịch, người cách ly người. Học sinh không đến trường cửa hàng đóng cửa. Tất cả đều phải liên lạc với nhau trên màn hình qua Iphone và qua internet. Cháu tôi nhỏ xíu mới vô mẫu giáo mà cũng được nhà trường trang bị một cái laptop. Các cháu lớn ở nhà, tới giờ là vào phòng đóng cửa lại học trên máy. Thầy cô không cần đến trường, học trò không cần tới lớp. Cô giáo có thể vừa chăm con vừa dạy học. Học trò cũng có thể vừa ăn trong giờ mà không bị phạt. Tất cả đều đáp ứng cho tình hình hiện tại. Nhưng rồi kết quả học tập không biết có đạt được tốt đẹp không? Đành thôi.
Thời kỳ Covid cha mẹ cách ly con cái. Muốn mua gì quẹt cho con. Con mua xong đem thức ăn cho cha mẹ cũng quẹt báo tin cho mẹ. Tới cửa rào bấm chuông và đặt thức ăn trước cửa nhà. Khi thấy cha mẹ ra nhận đồ đứng bên kia đường đưa tay vẫy vẫy. Cha mẹ bấm phone quẹt “Thank you” Chuyện thật như đùa, sự hiếu thuận, tình gia đình thời Covid thể hiện như vậy đó.
Thời đại tin học cộng thêm dịch bệnh Coronavirus thế giới đảo lộn chẳng có gì là không thể xảy ra. Tất cả mọi việc và cuộc sống trên đời này đều bấm và quẹt trên màn hình là giải quyết được hết. Người thật hay là người ảo cũng chỉ liên lạc với nhau qua bấm và quẹt.
Bà bác sĩ gia đình của tôi cả năm chưa lấy hẹn cho tôi gặp mặt một lần ở văn phòng. Lý do dịch bệnh giảm thiểu tối đa gặp mặt. Ông Bác sĩ chuyên khoa cũng “Text ” gửi qua phone order đi xét nghiệm và chụp hình. Kết quả cũng “text” trên messages là “Kết quả tốt. không cần gặp” rồi gửi order cho tái xét nghiệm năm sau.
Hôm qua tôi đi thử máu theo order của bác sĩ để tuần sau gặp ông ta. Con gái cũng làm đủ thủ tục ở nhà rồi. Trung tâm Quest Diagnostic gửi cho tôi trên iphone để tôi check in 20 phút trước giờ hẹn. Tôi bấm vô “I am here of Quest ” theo yêu cầu. Nhưng tới bãi đậu xe bấm vào vẫn chưa cho check in. Vào tận nơi văn phòng bấm lại mới được và tên mình hiện lên TV với giờ hẹn. Rất nhiều người đứng đó cầm iphone quẹt quẹt rồi hỏi y tá. Có người bỏ về.. có người lúng túng không biết làm sao.Tôi nghĩ với lối làm việc hiện đại, thật khó khăn cho những người không biết sử dụng internet, nhất là những người lớn tuổi và lẩm cẩm như tôi.
Chúng tôi là những người không còn trẻ. Vợ vật lộn chợ đời trong thời buổi quản lý thị trường, lao động là vinh quang. Chồng tù cải tạo ở trong rừng sâu không hề thấy ánh sáng văn minh và con người lịch sự. Qua đến xứ Mỹ hai bàn tay trắng, hai vợ chồng cong lưng cày hai ba job để có được một mái nhà, lo cho con học đến nơi đến chốn. Con học xong, đổ đạt ra trường và bay đi xa. Nhiều khi nhớ con, tôi gọi hỏi thăm mà quên đi mỗi tiểu bang, hay quốc gia múi giờ đều khác. Có những lúc con còn đang say ngủ, nhận facetime của mẹ mà bên đó tối om. Tôi đành xin lỗi con rồi chúc nó ngủ ngon. Có lúc quên canh giờ gọi con đang giờ làm. Con quẹt lại : “Mẹ ơi! con đang bận, con sẽ gọi lại sau giờ làm việc”
Nhớ ngày xưa, khi con tôi học đại học, cùng nhóm bạn lắp ráp làm và bán computer. Chúng tự làm cho mình cái máy theo ý và thảy cái laptop cũ cho tôi. Thú thật tôi không thể tin được có cái dụng cụ tuyệt vời như vậy. Tôi mày mò vào máy và hỏi con cách sử dụng. Tất cả những gì lúc đó lạ lẫm tôi chưa từng biết. Cháu chịu khó chỉ từng chút mà tôi như lạc vô mê hồn trận quên trước quên sau. Có lẽ trong đầu con nghĩ rằng sao dễ như vậy mà mẹ mình không biết. Tôi phải bảo con nói chậm rồi ghi ra giấy làm từ từ từng bước. Bây giờ thỉnh thoảng xem lại thấy cũng vui vui.
Tôi bắt đầu mày mò vô mail và viết trả lời …không có dấu. Mặc ai đoán sao cũng được vì tôi đâu biết phải làm sao đánh chữ Việt. Một lần trả lời Email cho một người học trò, em gọi phone lại cười ngất khi thấy tôi trả lời email không dấu. Tôi cũng không rành để có thể theo em từng step mà download Unikey. Con trai tôi đang học High School, cháu theo chỉ dẫn để gắn cho tôi bảng đánh bằng tiếng Việt trên máy.
Phải nói chưa có lúc nào tôi vui và say sưa viết như thế. Thật lâu…rất lâu, có đến mấy chục năm tôi không dùng đến chữ nghĩa. Tôi chỉ biết làm việc kiếm tiền, quán xuyến gia đình, chăm mẹ chồng, chồng và con cái. Tôi chưa bao giờ được sống cho riêng tôi. Bây giờ có cái máy xinh xắn này làm bạn, tôi như có thêm sức sống để yêu đời.
Những lúc quá căng thẳng vì những áp lực… tôi mở máy, hít sâu và tay tôi bấm phím. Những suy nghĩ trong đầu tôi được dịp nhảy múa trên màn ảnh nhỏ. Khi có việc cần phải làm ngay, tôi bỏ đó đi làm. Trở vào trang giấy vẫn còn chờ đợi. Chưa có người bạn nào chung thủy và tốt như computer. Không phàn nàn, không nóng giận. Chờ đợi và chia sẻ.
Chỉ ở màn hình và những con chữ tôi đã tìm lại bạn bè từ lâu lắm không gặp. Tôi có thể đi du lịch khắp cùng thế giới. Tôi kết bạn với những người chưa bao giờ tôi biết mặt ở khắp năm châu. Tôi học hỏi rất nhiều ở những người bạn phương xa tài giỏi. Mặc dù là ảo nhưng tôi đã có một tình bạn rất thật và rất tốt. Một tình bạn đối xử với nhau chân thành ở tấm lòng, sự cảm thông, hợp ý. Tình bạn này không đặt vấn đề giàu nghèo hay địa vị xã hội. Mạng lưới Internet đó đã khiến tôi lặn lội qua tận Canada,Texas, Oregon, Virginia …để gặp mặt và chúng tôi thành những người thân như trong một gia đình. Vùng Riverside nắng như thiêu đốt nhưng tôi biết giờ này ở Úc trời đang mưa. Cây mận nhà anh Năm Sanh trái từng chùm chi chít và bầy dơi về lùng sục mỗi đêm. Tôi có thể biết được giờ này bên Pháp đang có biểu tình hay Canada tuyết đang rơi thật nhiều trắng cả vùng trời. Nhờ Internet tôi đã về với trường xưa, gặp lại thầy cô, bạn bè và chia sẻ vui buồn. Internet đã cho tôi một năng lượng sống, một không gian tĩnh lặng bình yên để tâm sự.
Tuy nhiên trong cái hay vẫn có những cái tiêu cực, nhiều nữa là khác. Mọi người đều biết những cái không tốt và nguy hiểm từ Facebook, Youtube, Instagram…cho nên mình phải biết chọn lựa và dừng lại kịp lúc. Đừng quá say mê trên mạng ảo cũng đừng quá tin vào những quảng cáo hay những tin tức không đáng tin cậy mà có ngày hối hận không kịp.
Phải công nhận khoa học kỹ thuật tiến bộ khôn lường. Ngày nào một cái phone cùi bắp cũng đã quá hay. Không còn gửi thư chờ đợi cả tháng trời thư mới tới. Chỉ một cú phone bên kia đầu dây xa nửa vòng trái đất đã nghe rõ câu trả lời, tin tức biết ngay tức khắc.
Ba tôi mất tại Việt Nam (ba tôi đi tu và mất tại chùa). Ngày làm lễ phát tang, chúng tôi bên này con cháu tụ tập về nhà tôi và cùng thực hiện các nghi thức phát tang đồng loạt với bên Việt Nam. Từng hồi chuông tiếng mõ, tiếng tụng kinh của rất đông chư tăng ni, những lời thầy thuyết pháp, chúng tôi hiểu rõ hơn về sinh tử và sự vô thường. Chúng tôi có cảm giác gần gũi gia đình hơn, cùng chịu đại tang và cùng nhau chí thành cầu nguyện.
Thế giới mỗi ngày mỗi tiến bộ mà óc tưởng tượng của chúng ta không thể nghĩ tới. Khó tin như chuyện Tôn ngộ Không bay trên mây. Như tiên thánh có thể thấy người dưới trần gian.Thuận phong nhĩ có thể nghe ngàn dặm…Iphone thời nay có thể thấy rõ người đang trực tiếp nói chuyện với mình. Đi chơi vòng quanh thế giới có thể Livestream cho người ở nhà cùng thưởng ngoạn. Con cái có thể biết cha mẹ đang ở đâu, làm gì, nhà mình có ai vào không và từng ngóc ngách trong nhà ngồi ở văn phòng có thể nhìn thấy rõ ràng. Những cái bấm, quẹt thay đổi từng giờ. Con người mập có thể lên hình đẹp như tiên nga. Con có thể ở Ý ở Đức ở Nhật order thức ăn cho mẹ, nhà hàng mang tới tận nhà. Sự hiếu để, chăm sóc dễ dàng như trong một giấc mơ.
Vì vậy, cả thế giới bấm và quẹt. Quẹt đem niềm vui đến với người khác. Bấm để báo một tin không lành. Bấm một cái có thể chuyển tặng một số tiền rất lớn. Quẹt sai một cái tiêu tan hết số tiền trong ngân hàng hay Facebook mình bị mất sạch.
Chỉ một cái Iphone nho nhỏ, ta chỉ cần hai ngón tay bấm và quẹt ta có thể đi khắp năm châu. Nó có thể khiến ta vui buồn, giận ghét. Nó khiến ta quên ăn mất ngủ. Nó chiếm hết thời gian của mọi thành viên trong gia đình. Trong nhà không còn cười vui nói chuyện hay tâm sự với nhau. Mỗi người mỗi cái iphone và sống trong ốc đảo của mình. Mỗi người có bạn bè riêng, cuộc sống riêng và nép mình vào đấy để tìm hạnh phúc riêng tư. Để thấy người tàng hình trong đó tốt hơn cha mẹ. Ngọt ngào hơn người chồng, người vợ trong nhà. Người trong đó hiểu ý mình hơn bất cứ ai và yêu mình hơn cả mạng sống của người ấy…Thế là lao vào cuộc tình xa để bỏ cả học hành và sập bẫy. Cuộc sống ở thời đại internet muôn màu muôn sắc khiến con người sống ảo vui hơn sống thực, say mê theo nó quên hẳn với những người yêu thương trước mặt.
Hãy coi Iphone là phương tiện chứ không phải là người thân. Laptop, Iphone hư, mất ta có thể mua một cái mới, người thân mất ta không thể tìm lại được. Khi không cần thiết hãy tắt Iphone, ngừng bấm và quẹt. Dành một chút thời gian nghe cha mẹ tâm sự và cùng cha mẹ đi dạo một vòng để người già thấy mình được quan tâm chăm sóc.
…..
Tôi đã chấm dứt bài viết này ở đây. Thế nhưng có một điều tôi muốn chia sẻ. Một sự chia sẻ rất ngại ngùng và khó khăn mà tiếng miền Trung gọi là “ốt dột” tiếng miền Nam mình gọi là “mắc cỡ hay quê xệ”
Tháng 5 tôi đi cruise với nhóm học trò cũ mà tôi coi như em gái. Có em đã hơn 40 năm tôi chưa gặp lại. Mấy cô trò đi chơi vui lắm. Để có thể chung phòng nói chuyện cho đã, chúng tôi chọn 4 người một phòng dù không có balcony cũng không sao.
Trước khi đi chơi tôi dặn hết con, cháu, bạn bè đừng gọi phone hay nhắn tin vì tôi sẽ không mua internet trên tàu. Tôi muốn dùng thời gian để nghỉ ngơi, chơi với các em cho thỏa thích.
Thường mỗi khi đi cruise, khi tàu ghé đất liền internet trong iphone sẽ hoạt động trở lại và khi ấy là dịp liên lạc báo tin cho gia đình. Tàu rời bến là phải bấm đóng Airplane Mode để bên ngoài có gọi cũng không được.
Thế nhưng, các bạn biết thế nào không? Sau 7 ngày rong chơi trên biển, tàu ghé vào cảng Long Beach tôi mở Iphone ra để gọi về nhà thì phát hiện tin nhắn trong Messages của AT&T báo là tiền tôi xài phone đang vượt qua 200$.00. Tôi hết hồn và sực nhớ khi tàu rời bến hôm qua tôi quên không đóng Airplane Mode và cách đây vài hôm khi đang ngủ tôi thấy điện thoại mình có internet. Cứ tưởng tàu cặp bến đất liền, tôi nằm mở Facebook ra xem và post hình mấy cô trò trên tàu. Coi đồng hồ thì chưa tới giờ tàu cập bến. Tôi vội vàng tắt phone và kể cho các em biết và ngạc nhiên không hiểu vì sao? Lúc ấy tàu cũng cập bến rồi, phone các em ấy cũng đã hoạt động.
Điện thoại này do con trai mua tặng mẹ và cháu trả bill hàng tháng nên tôi lâu nay cứ thế mà xài. Về nhà thấy tin nhắn con trai:
– Mẹ cũng mới biết và mẹ đã về nhà rồi. Tôi kể cho con biết tôi sử dụng điện thoại như thế nào.
Thật lòng tôi cũng không biết tôi đã vô tình bấm hay quẹt sai lúc nào để điện thoại nhảy qua đường dây quốc tế. Tôi không gọi phone hay xài Youtube hoặc Facebook khi tàu chạy giữa biển. Con tôi và bạn bè cũng không gọi vì tôi đã dặn trước rồi. Vậy thì do đâu đường dây điện thoại viễn liên charge số tiền này.
Con tôi gọi phone hỏi thăm sức khỏe mẹ và an ủi tôi:
– Không sao! Mẹ đừng lo, con sẽ trả. Mẹ đi chơi vui là được rồi
Thế nhưng vài ngày sau, khi nói chuyện cháu cười cười hỏi tôi:
– Mẹ biết đường dây điện thoại charges bao nhiêu nhiêu không? ” Tôi trả lời đầy tự tin:
-Khoảng 220$. Nó cười mà tôi thấy thật là tội nghiệp:
– Hơn 500$ đó mẹ
Thật lòng tôi không tin được. Tôi nói con gọi hỏi kỹ và khiếu nại. Cháu nói con gọi mấy lần mà không được gì hết. Mỗi lần con gọi nó tính tiền viễn liên mắc lắm mẹ ơI. Thôi con trả cho rồi.
Trời ơi! Đi chơi 7 ngày mua vé chỉ có hơn 300$ mà tiền điện thoại không gọi, không xài phải trả hơn 500$ quả là chuyện tệ hại nhất của tôi từ trước tới giờ.
Con gái tôi khi biết chuyện, tới phiên nó khiếu nại và nó trả lời với tôi như vầy:
– Má không gọi phone, không viết mail và gửi đi. Má không mở Youtube hay Facetime, nhưng đường line internet của Iphone vẫn hoạt động. AT&T charge mình giá cao vì giữa biển là không phận quốc tế có rất nhiều hãng điện thoại sử dụng dịch vụ. AT&T phải trả chi phí nối kết đường dây viễn liên đó. Không biết có đúng như vậy hay không, nhưng đành phải ký check cho trả tiền cho xong.
Bây giờ tôi đã sáng mắt ra và biết cái lỗi của mình. Tôi viết thêm phần này để các bạn thấy cái sai của tôi mà tránh. Nếu đi cruise, đi Âu Châu hay bất cứ nước nào ngoài Mỹ, các bạn có thể mua đường line phone của hãng mình trước. Hình như AT&T giá 10$ một ngày và quy định xài như thế nào đó (Con tôi sẽ mua cho tôi trong chuyến đi Âu Châu sắp tới)
Khi các bạn đi cruise nhớ đóng lại Airplane Mode bằng cách gạt nó qua màu xanh như vậy sẽ không ai gọi vào được. Nhất là cẩn thận đừng bấm hay quẹt bất cứ cái gì mình không biết hay không hiểu trên Iphone.
Một lần lẩm cẩm tôi đã mất đi hơn 500$ mà không dám gọi một cú phone cho con. Nếu xài thả ga thì tôi cũng không tiếc làm gì. Nhưng thôi! Một bài học để nhớ đời Đừng bấm sai, quẹt bậy trên Iphone có ngày trả tiền sặc máu.
– Bọn bò đỏ và đám DLV vu khống họ cái tội loạn luân:
* Nhưng sau khi thử nghiệm ADN, không có trường hợp nào phạm tội loạn luân hết.
– Cáo trạng tại tòa, được báo chí nhà nước dẫn lại, nói từ năm 2019 đến 2021, bị cáo Lê Tùng Vân đã chỉ đạo Hoàn Nguyên, Nhất Nguyên lập tài khoản Youtube 5 Chú Tiểu – Thiền Am Bên Bờ Vũ Trụ và Nhất Nguyên – Hoàn Nguyên Official.
* Từ lúc nào lập tài khoản Youtube để post những bản nhạc ca hát của mình lên mạng là có tội ???
– Biết bao nhiêu người ở VN trong nước cũng làm như vậy nhưng không bị ghép tội ???
– Bộ Luật nào bắt buộc những người “tu tại gia” phải đăng ký cái gọi là GH Phật giáo quốc doanh ????
*** Rốt cuộc rồi Nhóm Tịnh thất Bồng Lai bị tuyên án nhưng họ không có và cũng không nhận tội gì hết, trừ cái tội bị công an hành hạ, đánh đập, ép cung…
– Bảng án “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân theo khoản 2 Điều 331 Bộ luật Hình sự chỉ là một cái cớ “mơ hồ & vô lý” để nhà nước CSVN “đàn áp Tự Do Tôn Giáo” và “bắt bớ & bỏ tù” những ngườic công dân vô tội không tuân phục cái chế độ thối nát độc tài đảng trị CSVN.
KIÊN GIANG, Việt Nam (NV) – “Không có việc làm” và “bị trầm cảm,” ông Hoàng Minh Vĩ, 37 tuổi, ở phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc, đã chém chết vợ cùng con trai 7 tuổi rồi gọi điện báo công an, theo VNExpress hôm 21 Tháng Bảy.
Báo này cho biết thêm, Công An thành phố Phú Quốc đã bắt ông Vĩ với cáo buộc “giết người.”
Nghi can Hoàng Minh Vĩ tại đồn công an. (Hình: An Thới/VNExpress)
Sáng cùng ngày, người vợ 37 tuổi của ông Vĩ chuẩn bị bữa sáng cho chồng trước khi ông này dự kiến ra phi trường bay đi Hà Nội, để khám bệnh trầm cảm. Bất ngờ, ông Vĩ cầm một cái chảo đánh vào đầu vợ rồi dùng dao chém chết tại chỗ.
Sau đó, ông Vĩ tiếp tục cầm dao qua phòng con trai 7 tuổi đang ngủ, chém cậu bé tử vong.
Tại đồn công an, ông Vĩ khai rằng mình đưa vợ con từ quê ở tỉnh Bắc Kạn vào Phú Quốc, giữ nhà nghỉ cho người quen. Nhiều tháng qua không có việc làm, ông rơi vào trầm cảm, lo không có tiền trị bệnh nên nảy sinh ý định sát hại vợ con rồi tự sát.
Trước vụ này, các vụ giết người thân hoặc tự sát do trầm cảm diễn ra thường xuyên tại Việt Nam, với tần suất gần như mỗi tháng.
Hồi tháng trước, tờ Tuổi Trẻ loan tin ông ĐMT, 33 tuổi, bị trầm cảm, đã giết con trai 5 tuổi trong phòng ngủ một căn hộ ở tầng 9 chung cư 4S Linh Đông, phường Linh Đông, thành phố Thủ Đức, Sài Gòn, rồi tự tử.
Tại hiện trường, công an thu giữ một lá thư tuyệt mệnh được cho là của ông T. để lại.
Ngoài vụ này, liên tiếp xảy ra các vụ mẹ giết con do “trầm cảm sau sinh” tại nhiều tỉnh thành.
Theo tờ Tuổi Trẻ hôm 8 Tháng Bảy, các nghiên cứu ở một số bệnh viện phụ sản tại Việt Nam cho thấy tỷ lệ trầm cảm sau sinh là từ 11.6-33%. Đáng lo ngại là ước tính có gần 50% phụ nữ bị trầm cảm sau sinh không được chẩn đoán bởi chuyên gia y tế.
Phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc. (Hình minh họa: VOV)
Theo báo Dân Trí hôm 3 Tháng Bảy, bệnh trầm cảm là nguyên nhân khiến gần 40,000 người Việt tự tử mỗi năm, gấp bốn lần số ca chết do tai nạn giao thông.
Con số nêu trên được công bố tại buổi tọa đàm “Thực trạng sức khỏe-hạnh phúc của người Việt Nam và giải pháp kiến tạo nếp sống khỏe- sống an,” do Hội Tâm Lý Trị Liệu Việt Nam tổ chức tại Sài Gòn. (N.H.K)
Henry Kissinger. Nguồn: George Etheredge / DER SPIEGEL
SPIEGEL phỏng vấn Ngoại trưởng Mỹ huyền thoại về nỗi ám ảnh và lệnh ngừng bắn của Putin.
Kissinger sinh ra ở Fürth năm 1923. Năm 1938,ông di cư cùng cha mẹ sang Hoa Kỳ và được Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon bổ nhiệm làm Ngoại trưởng vào năm 1973. Kissinger được coi là một trong những chính khách có ảnh hưởng mạnh nhất thời hậu chiến. Trong cuốn sách“Nghệ thuật lãnh đạo đất nước: Sáu bài học cho thế kỷ 21” mới xuất bản gần đây của C. Bertelsmann; 608 trang; giá 38 Euro), cho biết Kisinger xây dựng di sản của mình theo học thuyết hiện thực.
***
SPIEGEL: Thưa ông Kissinger, khi ông chào đời, Lenin vẫn còn sống. Ông được 29 tuổi khi Stalin qua đời, năm ông 39 tuổi thì Nikita Khrushchev đặt tên lửa hạt nhân ở Cuba và năm ông 45 thì Leonid Brezhnev đánh bại cuộc nổi dậy Mùa xuân Prague. Trong số những nhà cai trị ở điện Kremlin này, người nào làm cho ông nhớ đến Vladimir Putin ?
Kissinger: Khrushchev
SPIEGEL: Tại sao?
Kissinger: Khrushchev, vì tất cả liên hệ về sự công nhận. Khrushchev muốn xác nhận tầm quan trọng của đất nước mình và được mời đến Mỹ. Đối với Khrushchev, mọi thứ đều xoay quanh sự bình đẳng. Trong trường hợp của Putin, điều này thậm chí còn gay gắt hơn. Putin coi sự sụp đổ vị thế của Nga ở châu Âu kể từ năm 1989 là một thảm họa chiến lược. Đây gần như là một nỗi ám ảnh của Putin. Tôi không chia sẻ đánh giá rằng Putin muốn lấy lại tất cả những gì Moscow đã mất kể từ năm 1989. Nhưng Putin không thể chịu đựng được là gần như toàn bộ lãnh thổ giữa Berlin và biên giới Nga đã rơi vào tay của khối NATO. Đối với Putin, điều đó đã khiến cho Ukraine trở thành một điểm tế nhị.
SPIEGEL: Khrushchev đã gây ra cuộc khủng hoảng tên lửa ở Cuba, nhưng cuối cùng đã nhượng bộ. Liệu Putin có làm như vậy không?
Kissinger: Putin không bốc đồng như Khrushchev. Putin tính toán hơn và bực bội kéo dài. Có lẽ sẽ dễ dàng hơn nếu chúng ta phải đối phó với một nhà lãnh đạo khác của Nga trong cuộc khủng hoảng này. Nhưng không chắc rằng việc chuyển đổi từ Putin sang người kế nhiệm sẽ diễn ra trong suôn sẻ. Nga tự phát triển như thế nào, cuối cùng đó là một vấn đề của Nga. Sau đó, các quốc gia phương Tây sẽ phải tuân theo điều này và kết quả quân sự ở Ukraine.
SPIEGEL: Ông đã viết một cuốn sách mới, và chương đầu tiên mô tả về Konrad Adenauer. Ông viết rằng chính sách của Adenauer “dựa trên việc coi sự phân chia đất nước Đức là tạm thời”. Ông đã nghĩ đến ý nghĩa này khi gần đây ông đưa ra đề xuất chấm dứt chiến tranh Ukraine bằng cách Ukraine chấp nhận một sự phân chia tạm thời lãnh thổ của mình, phát triển một phần của đất nước thành một quốc gia thân phương Tây, dân chủ, mạnh về kinh tế và chờ đợi đến một ngày nào đó phần khác cùng tham gia?
Kissinger: Những gì tôi đã nói là một điều khác: để kết thúc cuộc chiến này, đường phân chia tốt nhất là hiện trạng, bao gồm khoảng 93% đất nước. Khôi phục hiện trạng này có nghĩa là sự xâm lược đã không thành công. Do đó, đây là một câu hỏi về một lệnh ngừng bắn dọc theo đường liên lạc của ngày 24 tháng 2. Lãnh thổ do Nga kiểm soát, khoảng 2,5% lãnh thổ Ukraine ở Donbass và bán đảo Crimea, sau đó sẽ là một phần của các cuộc đàm phán tiếp theo.
SPIEGEL: Tuy nhiên, ông đã nói thêm rằng, nếu cuộc chiến tiếp tục vượt ra ngoài đường liên lạc của ngày 24 tháng 2, nó “không còn là về tự do của Ukraine, mà là về một cuộc chiến mới chống lại chính Nga”.
Kissinger: Tôi chưa bao giờ nói rằng, Ukraine nên từ bỏ một phần lãnh thổ của mình.
SPIEGEL: Nhiều người Ukraine đã hiểu khác đi. Dân biểu Quốc hội Oleksej Gontscharenko nói rằng, ông “vẫn đang sống trong thế kỷ 20” và Ukraine sẽ không từ bỏ một tấc đất nào thuộc lãnh thổ của mình.
Kissinger: Tổng thống Volodymyr Zelenskyi không nói điều đó. Ngược lại. Chưa đầy hai tuần sau lời tuyên bố của tôi, Zelenskyi đã nói trong một cuộc phỏng vấn với “Financial Times” rằng, việc phục hồi hiện trạng sẽ là một chiến thắng vĩ đại. Và sau đó họ sẽ tiếp tục chiến đấu bằng ngoại giao cho phần còn lại của lãnh thổ. Điều đó phù hợp với quan điểm của tôi.
SPIEGEL: Trong phần giới thiệu cuốn sách mới, ông trích dẫn lời của Winston Churchill: “Hãy nghiên cứu lịch sử. Lịch sử nắm giữ tất cả các bí mật của nghệ thuật lãnh đạo đất nước”. Tiền lệ lịch sử nào ông coi là bài học sâu xa nhất để hiểu và kết thúc cuộc chiến Ukraine?
Kissinger: Đó là một câu hỏi rất hay mà tôi không có câu trả lời trực tiếp. Bởi vì ở một bình diện, cuộc xung đột về Ukraine là một cuộc chiến về quân bình quyền lực, và trên bình diện khác, nó có các yếu tố của một cuộc nội chiến. Do đó, nó kết hợp một cuộc xung đột cổ điển của châu Âu với một cuộc xung đột hoàn toàn trong toàn cầu. Khi cuộc chiến này kết thúc vào một ngày nào đó, câu hỏi sẽ được đặt ra là liệu Nga sẽ tìm thấy một mối quan hệ chủ yếu với châu Âu – điều mà họ luôn mong muốn – hay trở thành một tiền đồn của châu Á ở ngay biên giới với châu Âu. Không có ví dụ tốt đẹp về một cuộc xung đột như vậy.
SPIEGEL: Chính ông và sáu nhân vật mà ông mô tả trong cuốn sách của mình – ngoài Adenauer, còn có Charles de Gaulle, Richard Nixon, Anwar el-Sadat, Lý Quang Diệu và Margaret Thatcher – đã định hình cho thế giới mà chúng ta đang sống ngày nay. Đó không phải là một thế giới ổn định: ở châu Âu, cuộc chiến Ukraine đang hoành hành, ở châu Á, một cuộc xung đột về Đài Loan là đáng sợ, ở Trung Đông là một cuộc xung đột về chương trình hạt nhân của Iran. Tại sao các chính trị gia nên làm theo các ví dụ trong cuốn sách của ông?
Kissinger: Tôi không nói rằng các chính khách nên noi gương theo những nhân vật này là vì tính cách rất khác biệt này. Nhưng tôi nghĩ rằng, người ta có thể học hỏi từ những vấn đề mà họ đang giải quyết. Thế giới đang đầy rẫy những xung đột, đó không phải là chuyện mới. Điều mới là, do toàn cầu hóa, chúng ta hiện đang đối phó lần đầu tiên với xung đột thường trực của các khu vực khác nhau về văn hóa. Đối với một số xung đột hiện tại, các ví dụ từ trong cuốn sách có thể hữu ích, đối với những người khác thì không. Tôi không viết một cuốn sách dạy về nấu ăn về cho các mối quan hệ quốc tế.
SPIEGEL: Ông có nghĩ rằng chính sách đối ngoại, chẳng hạn như chính sách mà Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon và ông theo đuổi, vẫn là hiệu quả nhất – có nghĩa là, sự ổn định là quan trọng hơn việc tuân theo các điều nên làm mang tính quy phạm, và các chính khách trong chính trị thích hợp hơn là những người có viễn kiến?
Kissinger: Các chính khách và những người có viễn kiến chỉ đơn giản là hai khuôn mẩu của các nhà lãnh đạo khác nhau.
SPIEGEL: Ưu tiên của ông là hiển nhiên: Trong cuốn sách của ông, ông đặt tên cho Theodore và Franklin D. Roosevelt, Kemal Ataturk và Jawaharlal Nehru là “các chinh khách” và Echnaton, Jean d`Arc, Robespierre và Lenin là “những người có viễn kiến”. Ông có nghĩ rằng nó vẫn là tất cả về việc cân bằng trọng lượng của các sức lực?
Kissinger: Quân bình quyền lực là điều kiện tiên quyết cho nhiều thứ, nhưng tự nó không phải là một mục đích. Chỉ riêng sự cân bằng quyền lực không đảm bảo cho sự ổn định. Tuy nhiên, nếu không có sự cân bằng, không có sự ổn định.
SPIEGEL: Trên giá sách phía sau lưng ông là tiểu sử của Hoàng tử Metternich, đó là một nhân vật mà ông đã làm luận án tiến sĩ và được coi là kiến trúc sư của trật tự hòa bình châu Âu hồi đầu thế kỷ 19. Các giai đoạn của một vài thập kỷ ổn định tương đối như khi xưa hoặc sau Thế chiến II có phải là điều tốt nhất mà chúng ta có thể thực sự hy vọng?
Kissinger: Không. Tôi tin rằng trong cái nhìn này, hiện tại là duy nhất. Theo quan điểm của tôi, Thế chiến thứ nhất đã chứng minh rằng, công nghệ hiện đại đang phát triển nhanh hơn khả năng chế ngự kỷ thuật bằng chính trị của chúng ta. Trong thời đại của chúng ta, không còn nghi ngờ gì về điều này. Vũ khí hạt nhân đã có mặt trên thế giới gần 80 năm và hàng ngàn tỷ đã được chi trả cho sự phát triển của chúng. Kể từ năm 1945, không ai dám sử dụng chúng, thậm chí không một lần chống lại các quốc gia không có vũ khí hạt nhân. Tuy nhiên, ngày nay, vũ khí hạt nhân thậm chí còn nguy hiểm hơn thông qua các phương tiện điều khiển binh pháp trong không gian mạng và trí tuệ nhân tạo…
SPIEGEL: … bởi vì trong trường hợp xảy ra khủng hoảng, các binh pháp không thể tiên đoán thuật toán kiểm soát?
Kissinger: Trong mọi trường hợp, đối với nhà lãnh đạo chính trị, họ đã gặp các khó khăn cực kỳ để kiểm soát tình trạng công nghệ của mình, trước tiên là trong trường hợp có chiến tranh. Đó là lý do tại sao có một nghĩa vụ quan trọng đối với mọi thứ khác để ngăn chặn một cuộc chiến, mà trong đó công nghệ cao như vậy có thể được mang ra sử dụng. Trên tất cả, tất nhiên, một cuộc chiến giữa hai quốc gia công nghệ cao hàng đầu là Trung Quốc và Mỹ. Một tình huống tương tự như vậy chưa bao giờ có trước đây, bởi vì trong các cuộc chiến, người ta luôn có thể tưởng tượng được rằng, một trong hai đối thủ ít nhất có thể tận dụng một số lợi thế của chiến thắng trước đối phương.
SPIEGEL: Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden mô tả tình hình địa chính trị hiện tại là một cuộc đấu tranh giữa nền dân chủ và chuyên chế. Chính phủ liên bang mới cũng đã đặt cho mình mục tiêu của một chính sách đối ngoại “định hướng theo giá trị” hơn. Ông đánh giá điều đó như thế nào?
Kissinger: Đối với một người với lịch sử cá nhân tôi, sự ưu tiên dành cho nền dân chủ là vấn đề không cần phải nói. Đối với tôi, nền dân chủ là hệ thống đáng để theo đuổi hơn. Nhưng nếu vấn đề ưu tiên này được tuyên bố là mục tiêu chính trong các mối quan hệ quốc tế của thế giới ngày nay, nó sẽ dẫn đến một sự thúc đẩy mang tính truyền giáo. Điều này có thể dẫn đến một cuộc xung đột quân sự mới như trong Chiến tranh Ba mươi năm. Đối với Trung Quốc, chính quyền Tổng thống Biden đã tuyên bố rằng, họ không có ý định mang lại “sự thay đổi chế độ” ở đó. Vì vậy, Biden phải đối mặt với một vấn đề mà tất cả các nhà lãnh đạo của các quốc gia lớn gặp phải. Thực sự có những tình huống trong đó có nghĩa vụ tự vệ – và đó là cách châu Âu nhận thức về cuộc xung đột Ukraine. Tuy nhiên, trong tình huống này, nghệ thuật lãnh đạo nhà nước phải bao gồm ba điều cùng một lúc: ý nghĩa lịch sử của sự cân bằng lực lượng, ý nghĩa mới của công nghệ cao và bảo tồn các giá trị thiết yếu của nó. Thách thức này là mới.
SPIEGEL: Ông đánh giá như thế nào về lời tuyên bố của Biden:“Tổng thống Putin không thể nắm quyền”?
Kissinger: Đó không phải là một câu nói thông minh.
SPIEGEL: Một trong những giả định cơ bản của chủ thuyết hiện thực chính trị cho là, hệ thống quốc tế cuối cùng là tình trạng vô chính phủ và không có thẩm quyền đối với từng quốc gia riêng. Kinh nghiệm của ông có xác nhận giả định này không?
Kissinger: Không. Nguyên tắc chủ quyền, mà trong đó các mối quan hệ quốc tế đã được xây dựng đầu tiên ở châu Âu và cuối cùng trên toàn thế giới, có hai hậu quả: một mặt, nó đã thiết lập một khái niệm về tính hợp pháp trong luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, mặt khác, nó phân mảnh thế giới, bởi vì ở từng các quốc gia riêng, nguyên tắc chủ quyền của chính mình được coi là tối thượng. Đây là một vấn đề nan giải, nó rất khó giải quyết về mặt triết học, đặc biệt là vì từng khu vực riêng tuân theo các hệ thống phân cấp giá trị rất khác nhau do sự dị biệt văn hóa.
SPIEGEL: Diễn biến của cuộc chiến Ukraine cho đến nay có đẩy mạnh hay làm suy giảm mong muốn của giới lãnh đạo Trung Quốc trong việc giải quyết vấn đề Đài Loan theo hướng có lợi cho mình không?
Kissinger: Không – cũng không. Putin rõ ràng đã đánh giá thấp sự kháng cự đang gặp phải. Tuy nhiên, phía Trung Quốc sẽ chỉ sử dụng toàn bộ sức mạnh chống lại Đài Loan, nếu họ kết luận rằng không một giải pháp hòa bình cho cuộc xung đột này là khả thi. Tôi tin rằng họ vẫn chưa đạt đến điểm này.
SPIEGEL: Nhưng nếu một ngày nào đó, Trung Quốc đi đến kết luận này, cuộc xung đột này sẽ khác với cuộc xung đột ở Ukraine như thế nào?
Kissinger: Đó là một đặc thù quân sự của cuộc xung đột Ukraine, hai đối thủ có vũ khí hạt nhân ở đó đang chiến đấu trong một cuộc chiến tranh thông thường trên lãnh thổ của một quốc gia thứ ba, tất nhiên có nhiều vũ khí của chúng ta. Mặt khác, một cuộc tấn công Đài Loan, về mặt pháp lý, sẽ đẩy Trung Quốc và Hoa Kỳ vào một cuộc xung đột trực tiếp, ngay từ đầu.
SPIEGEL: Đã 50 năm qua, từ khi Tổng thống Richard Nixon và ông thực hiện một chuyến Hoa du lịch sử. Theo quan điểm ngày nay, đó là một thành tựu hay sai lầm khi trì hoãn việc giải quyết cuộc xung đột Đài Loan vào thời điểm đó?
Kissinger: Đó là một đường lối duy nhất có thể để bắt đầu hợp tác với Trung Quốc. Ngược lại, điều này là cần thiết để chấm dứt chiến tranh Việt Nam, để mở ra việc kết thúc Chiến tranh Lạnh – và để đạt được sự phát triển hòa bình kéo dài trong ít nhất trong 25 năm. Việc Trung Quốc trỗi dậy sẽ gây ra nhiều vấn đề, đó là điều không thể tránh. Nhưng đối với Đài Loan, đó là một thành tựu khá lớn để giành lấy từ Mao Trạch Đông một sự hoãn lại giải pháp cuối cùng cho cuộc xung đột này.
SPIEGEL: Trong nhiều thập kỷ, các chính trị gia đã tìm lời khuyên của ông, các Tổng thống Mỹ, các Thủ tướng Đức từ Konrad Adenauer đến Angela Merkel. Nhưng ông cũng bị chỉ trích, bao gồm cả hành động của chính quyền Nixon ở Campuchia và Chile. Khi nhìn lại sự nghiệp chính trị của mình, ông đã sai ở đâu?
Kissinger: Hiện nay, tôi sẽ không tham gia vào một cuộc tranh luận về Campuchia và Chile, tôi đã viết về điều đó một cách chi tiết trong hồi ký của tôi. Nhưng sự công bằng của báo chí đòi hỏi chúng ta là phải chỉ ra rằng, tất cả những biến cố này có một bối cảnh nhất định. Cuộc ném bom đầu tiên tại Campuchia diễn ra chỉ hơn một tháng sau khi Nixon nhậm chức. Người Bắc Việt Nam đã phát động một cuộc tấn công ngay sau đó, với bốn sư đoàn đóng quân ở Campuchia, rất gần Sài Gòn. Họ đã giết khoảng 1.000 người Mỹ. Họ vượt qua biên giới vào ban đêm, tấn công và rút lui về Campuchia. Vì vậy, những cuộc ném bom này không phải là hành động của một tổng thống, người muốn mở rộng cuộc chiến, mà là của một tổng thống muốn kết thúc cuộc chiến. Đó là ý định của Nixon ngay từ đầu, ông đã viết thư cho Hồ Chí Minh, nhà lãnh đạo Bắc Việt Nam, trước khi nhậm chức.
Và việc lật đổ Tổng thống Salvador Allende là kết quả của những diễn biến nội bộ ở Chile. Chúng ta không may mắn khi ông nhậm chức vào năm 1970. Nhưng vào thời điểm ông bị lật đổ, tất cả các đảng dân chủ trong quốc hội Chile đã xa lánh ông. Đó là những điều tạo ra các điều kiện cho cuộc đảo chính quân sự. Các chính trị gia luôn phải đối mặt với tình thế tiến thoái lưỡng nan khi phải cân nhắc lợi ích quốc gia trong những tình huống mơ hồ. Sau đó, các nhà báo vô cùng thích thú khi chỉ ra những sai lầm hoặc hậu quả của chúng. Không ai có thể đưa ra đòi hỏi là mình chưa bao giờ phạm sai lầm. Nhưng để tiếp tục quay trở lại những điều đã xảy ra hơn 50 năm trước mà không đặt bối cảnh vào bối cảnh là không công bằng.
SPIEGEL: Đồng ý. Và vì chúng ta nói về Trung Đông, cuộc xâm lược Iraq của Mỹ có phải là một sai lầm?
Kissinger: Tôi đã không còn ở trong chính phủ hơn 20 năm khi cuộc xâm lược bắt đầu. Tôi hiểu biện pháp này. Ấn tượng của tôi là Tổng thống George W. Bush muốn cho thấy rằng, các chế độ hỗ trợ cho các cuộc tấn công bằng khủng bố tạo ra sự bất ổn thường trực. Có nhiều lời biện minh hợp lý và đạo đức cho quyết định loại bỏ Saddam ra khỏi chính quyền. Nhưng muốn cai trị Iraq theo cách mà chúng ta đã cai trị nước Đức bị chiếm đóng là một sai lầm về phân tích. Các tình huống là không thể so sánh được, và việc chiếm đóng Iraq vượt quá khả năng của chúng ta.
SPIEGEL: Trước cuộc chiến Ukraine, đã có một cuộc thảo luận về việc liệu Mỹ có nên tìm kiếm sự gần gũi với Nga để gây áp lực cho đối thủ Trung Quốc hay không. Ngày nay, câu hỏi đặt ra đúng hơn là, khi đối mặt với mối đe dọa của Nga, liệu Washington có nên giảm bớt căng thẳng với Bắc Kinh hay không – như Nixon và ông đã làm cách đây 50 năm. Ông có nghĩ rằng, nước Mỹ đủ mạnh để đối đầu với hai đối thủ lớn to lớn nhất cùng lúc?
Kissinger: Nếu điều đó có nghĩa là mở rộng cuộc chiến ở Ukraine thành một cuộc chiến chống lại Nga và đồng thời vẫn giữ thái độ thù địch với Trung Quốc, thì tôi nghĩ điều đó sẽ rất ư là không khôn ngoan. Tôi ủng hộ những nỗ lực của khối NATO và Mỹ nhằm ngăn chặn sự xâm lược của Nga và khôi phục Ukraine về các tầm vóc mà họ đã có trước chiến tranh. Và tôi hiểu rằng, Ukraine đang đưa ra những yêu cầu vượt xa hơn thế. Vấn đề này có thể được giải quyết trong khuôn khổ một nhãn quan rộng hơn về các mối quan hệ quốc tế. Nhưng ngay cả khi điều này thành công, mối quan hệ tương lai của Nga với châu Âu sau đó phải được làm rõ, tức là vấn đề liệu Nga sẽ vẫn là một phần của lịch sử châu Âu hay liệu nó sẽ trở thành một đối thủ thường trực trong liên minh với các vùng lãnh thổ hoàn toàn khác nhau. Đó sẽ là vấn đề chủ yếu. Và điền này đúng, bất kể cho kết quả của cuộc chiến Ukraine là gì, những hậu quả có thể xảy ra mà hiện nay tôi đã vạch ra nhiều lần – và chưa bao giờ nói rằng Ukraine nên từ bỏ một phần lãnh thổ của mình.
SPIEGEL:Ông Kissinger, chúng tôi cám ơn ông về buổi nói chuyện này.
________
Tác giả: Bernhard Zand sinh năm 1967 tại Bad Ausse (Áo). Từ năm 1998, ông là Biên tập viên của SPIEGEL và đầu năm nay là Thông tín viên tại New York.
Năm 2018, Công ty Thu Đức của ông Nguyễn Bình Dương đăng ký một loạt nhãn hiệu: Thu Đức Ga, My Tra Petro, OIRIGIN GAS, VINSIN trùng với tên viết tắt hoặc tương tự với tên thương mại của một số doanh nghiệp khác đã nổi tiếng trên thị trường hàng chục năm như THỦ ĐỨC GAS, MỸ TRÀ GAS, ORIGIN GAS, Vinashin.
Điều đáng ngạc nhiên là, cho dù hoạt động “cùng lĩnh vực kinh doanh”, lại sử dụng tên thương mại và nhãn hiệu “rất dễ gây nhầm lẫn” với những nhãn hiệu đã nổi tiếng nhiều thập niên, “có tính chất lừa dối về nguồn gốc, xuất xứ…” mà các nhãn hiệu của ông Nguyễn Bình Dương lập ra vẫn được Cục Sở hữu Trí tuệ Bộ Khoa học và Công nghệ cấp “giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa”.
Không dừng lại ở mức độ “gian lận thương mại”, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng, ngày 5-7-2021, khi kiểm tra một cửa hàng của Gas Thu Đức ở Hòa Bình, Đoàn kiểm tra liên ngành (Cục Quản lý thị trường phối hợp với PC03 Công an tỉnh Hòa Bình) đã bắt quả tang Công ty Thu Đức có hành vi làm giả, làm nhái nhiều loại thương hiệu gas nổi tiếng trên thị trường, như Thủ Đức gas, Mỹ Trà gas, ORINGIN GAS và Vinashin.
Ngoài việc làm giả, làm nhái, ông Nguyễn Bình Dương còn thu gom bình gas của nhiều doanh nghiệp về “cưa tai, mài vỏ, mài số chế tạo, bỏ logo cũ, dán lô gô của mình vào, rồi sang chiết gas không nguồn gốc rõ ràng để cung cấp ra thị trường”.
“Cưa tai, mài vỏ” không phải là “tội phạm mới” trong ngành kinh doanh gas. Nhưng, “cưa tai, mài vỏ” với “căn cước” được cấp bởi Cục Sở Hữu Trí Tuệ của Bộ Khoa học và Công nghệ thì hành vi gian lận đã được nâng lên một quy mô mới.
Các nạn nhân của Gas Thu Đức và Hiệp hội kinh doanh Gas đã nhiều lần gửi văn bản lên ông Cục trưởng Cục Sở hữu Trí tuệ đề nghị rút lại các giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa; gửi C03 đề nghị “xử lý hình sự người đại diện pháp luật của công ty này, ông Nguyễn Bình Dương”. Nhưng, đến nay sự việc vẫn chưa giải quyết.
Giả mạo các nhãn hiệu nổi tiếng không phải là câu chuyện riêng của Việt Nam nhưng ít có ở đâu, việc giả mạo lại ngang nhiên tồn tại như ở Việt Nam.
Trong thập niên 1990s, không mấy ai tới Hà Nội mà không biết phố thịt chó Nhật Tân. Khởi nghiệp thành công ở “ngành công nhiệp” này là “Anh Tú”. Bắt đầu một mình với một “mái lều tranh” nhưng khi “Anh Tú” được nâng cấp thành khu nhà sàn 2 tầng, Nhật Tân ngay lập tức trở thành “liên hiệp các xí nghiệp thịt chó Hà Nội” với gần 50 quán khác. Không chỉ có Trần Mục, Hồ Kiếm, A Trang… “thương hiệu Anh Tú” đã bị nhái bởi những Anh Tú Xịn, Anh Tú Nhà Kính, Anh Tú Nhà Lá…
“Kinh đô thịt chó” vì nhiều lý do nay đã không còn nữa. Nhưng, ngay giờ đây ở Hà Nội, bên cạnh “Lạc rang húng lừu gia truyền bà Vân” vẫn có “Thương hiệu bà Vân lạc rang húng lừu gia truyền”. Ở Hà Tĩnh, bên cạnh cửa hàng của một thương hiệu cu đơ uy tín, Thư Viện, mọc thêm ngay sát một Thư Viện khác.
Hẳn nhiều người còn nhớ, năm 2010, khi xuất hiện “thương hiệu Vincon” nhái Vincom, Chánh thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ đã ra quyết định xử Vincon với mức phạt tiền 14 triệu và yêu cầu loại bỏ “Vincon” trên biển hiệu, giấy tờ giao dịch… Không lẽ, Bộ Khoa học và Công nghệ giờ đây không còn khả năng vận hành như 12 năm trước.
Tôi không rõ, ông bà Thư Viện và “Bà Vân” chính hiệu đã từng đăng ký nhãn hiệu hay thưa kiện hay chưa; nhưng, trong một môi trường kinh doanh mà những kẻ lười biếng (sử dụng trí tuệ), kiếm tiền bằng làm nhái, ăn cắp, gian lận… được dung túng thì sẽ không bao giờ có kinh tế thị trường.
Trong nhiệm kỳ trước, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thường xuyên nói đến “nhà nước kiến tạo”, cho đến nay, người dân vẫn chưa thực sự hiểu rõ nội hàm của nhà nước kiến tạo là gì. Trước khi có thể kiến tạo cơ hội kinh doanh cho người dân, người dân và doanh nghiệp chỉ mong nhà nước làm đúng trách nhiệm của mình, không tiếp tay cho các hành vi gian dối, lừa đảo để chiếm đoạt thành quả kinh doanh của họ.
Không chỉ có dấu hiệu gian lận thương mại, hành vi của Thu Đức Gas có nhiều dấu hiệu chiếm đoạt tài sản của các công ty như Thủ Đức Gas, Mỹ Trà Gas… Khởi tố những vụ án tương tự (ở nhiều ngành khác nhau) không chỉ là cách duy nhất để dần thiết lập một môi trường kinh doanh lành mạnh, để thực sự có kinh tế thị trường, mà còn có thể giúp phát hiện ở Bộ Khoa học & Công nghệ thêm những vụ án khác có “mùi Việt Á”.