Quân đội nước ngoài tại miền Bắc trong chiến tranh Việt Nam

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả: Trần Trung Đạo

Nhiều nguồn tin tình báo Mỹ trong thời kỳ chiến tranh đã biết không lực Bắc Hàn có thể đã tham chiến tại Bắc Việt. Nhưng mãi cho tới năm 1996, những tin đồn này mới được xác nhận qua sự kiện đại úy phi công Yi Chol-su thuộc không lực Bắc Hàn lái chiếc Mig-19 đào thoát sang Nam Hàn. Trong thời gian ở Nam Hàn, phi công Yi tiết lộ ít nhất 70 phi công Bắc Hàn đã tham chiến tại Việt Nam.

Năm 2000 những tin đồn cũng được CSVN xác nhận. Đầu tháng 4, 2000, trong dịp viếng thăm CSVN, Bộ trưởng Quốc Phòng Bắc Hàn Paek Nam-sun cũng đã đến thăm một nghĩa trang nhỏ ở Bắc Giang, nơi an táng 14 phi công Bắc Hàn chết trong chiến tranh Việt Nam.

Báo Tuổi Trẻ trong bài “14 chiến binh Triều Tiên trên bầu trời Việt Nam” phát hành ngày 18 tháng 8, 2008 nhắc lại “Những trận không chiến oanh liệt để bảo vệ bình yên bầu trời miền Bắc VN trong kháng chiến chống Mỹ lùi vào quá khứ gần nửa thế kỷ. Nhưng 14 tấm bia mộ liệt sĩ Triều Tiên ở khu đồi rừng Hoàng (xã Tân Dĩnh, Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang) ngày ngày vẫn nhắc nhớ về những người bạn nước ngoài đã đổ máu cho độc lập của VN.”

Bài báo còn diễn tả hành động rất quen thuộc nhưng rất phi nhân trong lý thuyết CS áp dụng trong chiến tranh là “khóa chân vào súng” hay “khóa chân vào ghế máy bay” vì khẩu súng hay chiếc máy bay đối với đảng CS quan trọng hơn mạng người. Bài báo viết: “Cuộc chiến đấu của đội chiến binh Triều Tiên chủ yếu diễn ra trên vùng trời các tỉnh ven Hà Nội như Hà Bắc, Vĩnh Phúc và Hải Hưng. Với lòng cảm tử đặc trưng của dân tộc Triều Tiên đã chiến đấu là phải quyết tiêu diệt bằng được đối phương, không bảo vệ được phi cơ thì chiến binh cũng sẽ hi sinh theo nên trong các đợt xuất kích, 14 chiến binh Triều Tiên đều không trang bị dù cũng như các thiết bị thoát hiểm khác. Thậm chí một cựu chiến binh cùng thời với họ cho biết họ còn tự khóa chân mình vào chân ghế máy bay.”

Diễn tiến theo thời điểm trích từ văn khố của Wilson Center.

Ngày 21 tháng 9, 1966, tướng Phùng Thế Tài, tư lịnh không quân CSVN, báo cáo với Quân Ủy Trung Ương rằng Bắc Hàn muốn gởi các phi công tình nguyện chiến đấu tại Việt Nam. Các đơn vị Bắc Hàn sẽ ăn mặc quân phục Việt Nam.

Ngày 30 tháng 9, 1966, tướng Văn Tiến Dũng và tướng Choi Kwang, tổng tham mưu trưởng quân đội Bắc Hàn đạt tới thỏa thuận để Bắc Hàn đưa phi công sang bay các Mig-17. Theo thỏa thuận giữa hai bên, năm sau, Bắc Hàn sẽ đưa thêm phi công để bay một phi đội Mig-21. Các đơn vị Bắc Hàn được gọi dưới mật danh là Đoàn Z đặt bản doanh tại phi trường Kép, đông bắc Hà Nội.

Cũng trong thời điểm này, Võ Nguyên Giáp chấp thuận.

Các đơn vị Bắc Hàn đặt dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Kim Chang-sŏn với các đơn vị đóng tại phi trường Kép và Phúc Yên. Phúc Yên là bản doanh của trung đoàn không quân 921 còn được gọi là trung đoàn không quân sao đỏ. Phi công của đơn vị này được gởi sang Trung Cộng huấn luyện và nhận các Mig-17. Một trung đoàn khác, 923, đặt bản doanh tại phi trường Kép và được trang bị với các Mig-17 nhận từ LX. Đây là hai đơn vị đầu tiên của không quân CSVN tại thời điểm nguy kịch này.

Theo giáo sư Jiyul Kim trong biên khảo chi tiết Bắc Hàn Trong Chiến Tranh Việt Nam, trích dẫn lời Phan Khắc Hy, cựu thiếu tướng CSVN, người đã làm việc với phi đoàn Bắc Hàn cho biết trong khoảng thời gian giữa 1967 và 1969, đơn vị Bắc Hàn có 200 người gồm 87 phi công. Một nguồn tin khác cho rằng đơn vị Bắc Hàn có tới 384 người bao gồm 96 phi công. ( Jiyul Kim, North Korea in the Vietnam War, 1 Sep 2017)

Vì thiếu phi công, sự có mặt của các đơn vị Bắc Hàn hết sức cần thiết trong giai đoạn quan trọng của cuộc chiến trên không vào những năm trước 1968. Không lực Bắc Hàn đã gia tăng 50% khả năng chiến đấu của không quân CSVN.

Ngoài việc gởi các đơn vị không quân sang chiến đấu, Bắc Hàn còn gởi các đoàn tâm lý chiến sang trộn lẫn vào bộ binh CSVN xâm nhập miền Nam Việt Nam để hoạt động chống lại các sư đoàn Nam Hàn đang có mặt tại miền Nam.

Trong suốt cuộc chiến, đảng Lao Động Việt Nam (CSVN) vẫn cho rằng cuộc “kháng chiến chống Mỹ cứu nước” là cuộc kháng chiến “thần thánh” của “nhân dân Việt Nam”, các nước xã hội chủ nghĩa có giúp đỡ phương tiện nhưng không ai, không nước nào trực tiếp tham gia trận chiến.

Ngay cả mấy chục sư đoàn quân đội miền Bắc xâm lăng VNCH cũng được che đậy dưới màu cờ khác, “quốc ca” khác. Đừng nói chi thế giới, không ít người kể cả trí thức miền Nam vẫn ngây thơ tin rằng họ “đứng dậy” hay “vùng lên” từ Bến Tre, Huế, Quảng Trị, Quảng Nam v.v…

Sau khi Liên Xô (LX) sụp đổ, văn khố giữ các tài liệu bí mật trước đây được cho phép tham khảo. Tài liệu về sự tham gia của LX đã được công khai hóa. Việc trực tiếp tham gia của các lực lượng phòng không LX đã được nhiều nhà sử học đưa ra ánh sáng. Các đơn vị phòng không LX lên đến 3000 người, không chỉ đóng vai trò huấn luyện mà còn trực tiếp tham gia trận chiến.

Các lính bắn sẻ (snipers) LX còn trà trộn trong quân đội CSVN xâm nhập miền Nam Việt Nam.

Theo Paul Combs trong phân tích “Vai trò ít được biết của Liên Xô trong chiến tranh Việt Nam” (The Little-Known Role of the Soviet Union in the Vietnam War) dựa theo một số nguồn tin cho rằng các tay bắn sẻ của quân đội LX đã theo chân quân CS Bắc Việt xâm nhập miền Nam Việt Nam để thử nghiệm loại súng bắn sẻ SVD Dragunov mới của LX. Những người lính mắt xanh đi cùng quân đội Bắc Việt đã được phát giác nhưng những nguồn tin này chưa được kiểm chứng. Thậm chí còn có tin đồn các lực lượng đặc biệt LX trực thuộc cơ quan tình báo quân đội (Soviet GRU Spetsnaz special forces) cũng tấn công một đơn vị Mỹ gần biên giới VietNam-Cambodia.

Về phía Trung Cộng (TC) việc đưa 320 ngàn quân TC tham gia trong chiến tranh Việt Nam, trực tiếp và gián tiếp, không còn là một “nguồn tin” mà là các công bố chính thức. Rất nhiều sách và nghiên cứu đã phân tích một cách chi tiết sự đóng góp người và của TC đã đổ ra trong chiến tranh Việt Nam.

Năm 1950, Hồ Chí Minh không chỉ yêu cầu được trang bị và huấn luyện mà còn yêu cầu TC gởi sĩ quan chỉ huy sang Việt Nam để trực tiếp chỉ huy cấp trung đoàn quân CSVN. Yêu cầu này đã bị từ chối. (Qiang Zhai, China and the Vietnam Wars, 1950-1975, (Chapel Hill: University of North Carolina Press, 2000, 18-19)

Theo Bob Seals, tác giả của nghiên cứu Sự hỗ trợ của Trung Quốc cho Bắc Việt trong Chiến tranh Việt Nam: Lợi thế quyết định” (Chinese Support for North Vietnam during the Vietnam War: The Decisive Edge): “Viện trợ quân sự bắt đầu vào tháng 3 năm 1946 khi Trung đoàn I Cộng sản Trung Quốc vượt biên giới vào Việt Nam để tránh Quân đội thuộc đơn vị 46 và 64 của Quốc dân đảng Tưởng Giới Thạch trong Nội chiến Trung Quốc. Ngoài việc tránh bị tiêu diệt, Trung đoàn này của Trung Quốc sẽ bắt đầu đặt nền móng cho việc huấn luyện và cố vấn cho các lực lượng Việt Nam còn non kém. Đơn vị một nghìn người này của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc cung cấp các sĩ quan cho Trường Bộ binh Tiên tiến Việt Nam và Trung tâm Huấn luyện Cán bộ ở Bắc Việt Nam với khoảng 830 nhân viên được đào tạo vào năm 1947. Liên hệ trực tiếp bao gồm lưu lượng truyền hình cáp và tài trợ đã tồn tại vào thời điểm ban đầu này giữa hai phong trào cộng sản.” (Bob Seals , Chinese Support for North Vietnam during the Vietnam War: The Decisive Edge, 2008)

Quan hệ giữa TC và CSVN là quan hệ tư tưởng và ý thức hệ, và mối quan hệ đó đã kéo dài từ những năm đầu khi đảng CS Trung Quốc được thành lập, 1921, tới nay.

Sự thật gần như hiển nhiên rằng chiến thắng của Mao tại Trung Hoa lục địa là yếu tố quyết định dẫn tới chiến thắng của CSVN trong Chiến Tranh Đông Dương lần thứ nhất 1946-1954 và Chiến Tranh Đông Dương lần thứ hai 1959-1975. Không đợi đến khi chiếm toàn lục địa 1949 mà trước đó quân TC đã xâm nhập Việt Nam.

Trong thời kỳ “cơm không lành canh không ngọt” sau 1979, bộ máy tuyên truyền của hai đảng tố cáo nhau không tiếc lời và “đàn rận” trong chăn một thời êm ấm đã chui ra. Họ kể tội nhau không khác gì mấy bà hàng xóm mất gà.

Tác phẩm Sự Thật Về Quan Hệ Việt Nam -Trung Quốc Trong 30 Năm Qua là một bản cáo trạng không chỉ tố cáo tội ác của đảng CSTQ thôi mà qua tác phẩm đó đảng CSVN còn tự tố cáo mình.

Tham vọng bành trướng của đảng CSTQ qua tác phẩm nêu trên quá rõ và các nhà phân tích chính trị cũng đều biết nhưng suốt giai đoạn lịch sử dài mấy mươi năm các thế hệ lãnh đạo CSVN im lặng.

“Đường chín đoạn” đặt Hoàng Sa và Trường Sa trong lãnh thổ Trung Hoa, được Trung Hoa Dân Quốc công bố 1948 khi Tưởng Giới Thạch còn là tổng thống tại lục địa. Thủ tướng Trần Văn Hữu, 1951, dưới thời Bảo Đại và Tổng thống Ngô Đình Diệm, 1956 và 1961, đều liên tục khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, thành lập 1945, và theo tinh thần hiến pháp 1946, cũng tuyên bố đại diện cho “một khối thống nhất Trung Nam Bắc” nhưng im lặng suốt 10 năm.

Thế rồi mười năm sau, nhà nước CS này đã can một tội phản quốc nghiêm trọng chưa từng có trong lịch sử bốn ngàn năm của dân tộc Việt khi thừa nhận chủ quyền của TC trên quần đảo Hoàng Sa gấm vóc, dù chỉ trong văn bản, chỉ với mục đích làm vừa lòng bảo hộ TC.

Cái đầu của các lãnh đạo CS là đầu chứa đầy tham vọng quyền lực chứ không phải đầu để nhìn xa, trông rộng.

Các lãnh đạo đảng hy sinh mọi phương tiện chỉ để đạt cho được mục đích thống trị nhưng họ không hề nghĩ những phương tiện mà họ hy sinh một ngày không xa sẽ trở thành mục đích sống còn của cả dân tộc.

Với các thế hệ lãnh đạo đảng, nhuộm đỏ toàn cõi Việt Nam quan trọng hơn Hoàng Sa, cần thiết hơn sinh mạng của nhiều triệu người Việt và xứng đáng hơn tương lai của dân tộc.

Hôm qua, 28 tháng 3, 2023, Bùi Thanh Sơn , Bộ trưởng Ngoại Giao CSVN phát biểu trong điện đàm với Tần Cương, Bộ trưởng Ngoại Giao TC: “Việt Nam coi trọng quan hệ láng giềng hữu nghị, đối tác hợp tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc, đây là lựa chọn chiến lược, ưu tiên hàng đầu trong tổng thể chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam; nhấn mạnh nhiệm vụ quan trọng của Bộ Ngoại giao hai nước là thúc đẩy các cấp, các ngành cụ thể hóa nhận thức chung của Lãnh đạo hai Đảng, hai nước.” (VOV, Thứ Tư, ngày 29 tháng 3 năm 2023)

Những lời nịnh bợ TC của Bùi Thanh Sơn như “chiến lược toàn diện“, “ưu tiên hàng đầu“ chẳng khác gì giọng văn một bồi bút điểm sách rẻ tiền cho thấy CSVN không có độc lập về chính sách đối ngoại mà chỉ rập khuôn TC. Bùi Thanh Sơn cũng đã thừa nhận “rập khuôn” TC, chỉ khác trong cách dùng từ khi gọi đó là “nhận thức chung của Lãnh đạo hai Đảng, hai nước.”

Dưới thời Tập Cận Bình, TC không cần phải xua quân lấn chiếm những ngọn đồi ở Hà Giang vì họ đã có bảy căn cứ quân sự, không tính Hoàng Sa, với các vũ khí hiện đại đặt trên các đảo nhân tạo dọc lãnh hải Việt Nam. Theo quan sát của Asia Maritime Transparency Initiative, một chương trình trực thuộc Trung Tâm Chiến Lược và Nghiên Cứu Quốc Tế (Center for Strategic and International Studies) tại Washington DC, các căn cứ quân sự của TC trên Biển Đông có thể đặt các loại phi cơ oanh tạc mang bom ném tận Miến Điện, Mã Lai, Nam Dương, nói chi là Hà Nội, Sài Gòn.

Trong thời chiến đảng CSVN có khả năng bưng bít thông tin, nhưng cuộc cách mạng tin học đã mở ra một không gian mới cho mọi người Việt Nam quan tâm đến tiền đồ dân tộc.

Mọi tranh chấp và cách giải quyết tranh chấp đều bắt đầu từ con người. Sức mạnh của một dân tộc là tổng hợp sức mạnh của những con người. Không một Mỹ, Anh, Nhật hay “NATO Thái Bình Dương” nào có thể cứu Việt Nam ngoài chính người Việt từ mọi ngả đường cuộc sống, mọi thế hệ trưởng thành.

Lịch sử nhân loại và lịch sử Việt Nam đã chứng minh, mọi bế tắt sớm hay muộn đều có một lối thoát dù đó là lối thoát chiến tranh. Bế tắc của Việt Nam cũng thế.

Việt Nam không thể nào bị tận diệt. Con đường phục hưng và khai minh Việt Nam dù nhỏ, dù hẹp nhưng vẫn luôn có người đi. Họ không cô đơn mà trái lại mỗi ngày một đông hơn, vui hơn và được trang bị nhiều phương tiện kỹ thuật tinh vi hơn.

Lãnh tụ anh minh của cuộc vận động dân chủ ngày nay không mang họ Đinh, Lê, Lý, Trần, Nguyễn v.v… mà có một họ chung là Khát Vọng Dân Chủ. Khát vọng dân chủ là ngọn lửa thiêng không thể nào bị dập tắt, là ngọn hải đăng chỉ lối thuyền về. Bức tường CS chuyên chính đang bị bào mòn từng giờ, từng ngày, từng tháng, từng năm và chắc chắn sẽ đổ.

Trần Trung Đạo

Việt Nam điều tra TikTok về nội dung “độc hại”

Báo Tiếng Dân

Reuters

Cù Tuấn, dịch

6-4-2023

Việt Nam sẽ điều tra các hoạt động của TikTok tại nước này từ tháng 5, vì nội dung “độc hại” trên nền tảng video ngắn “đặt ra mối đe dọa đối với thanh niên, văn hóa và truyền thống của nước này”, Bộ Thông tin cho biết ngày 6/4.

Đại diện Bộ, ông Lê Quang Tự Do cho biết tại một cuộc họp báo rằng việc kiểm duyệt nội dung trên ứng dụng phổ biến do Trung Quốc sở hữu mang các video có kích thước nhỏ “khó khăn hơn nhiều” so với trên các nền tảng khác.

“Chúng tôi sẽ cần những biện pháp cứng rắn hơn để chống lại nội dung đó, chỉ gỡ bỏ thôi là chưa đủ”, ông Do nói. Ông không nói chi tiết về các biện pháp.

Ứng dụng do ByteDance sở hữu này có gần 50 triệu người dùng ở Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, chính phủ cho biết, trích dẫn dữ liệu từ công ty nghiên cứu DataReportal.

TikTok đã xóa 1,7 triệu video theo yêu cầu của chính phủ Việt Nam trong quý 4 năm ngoái, vì chúng bị coi là vi phạm chính sách của chính phủ, theo dữ liệu của công ty.

Khi được hỏi liệu TikTok có bị cấm ở quốc gia Đông Nam Á này hay không, ông Do cho biết những công ty không tuân thủ các quy tắc địa phương sẽ không được chào đón.

“TikTok, Facebook và YouTube đều là mạng xã hội xuyên biên giới với các tiêu chuẩn quốc tế. Nhưng khi hoạt động tại Việt Nam, nền tảng này cần tuân thủ các quy định của địa phương về cả nội dung và nghĩa vụ thuế”, ông Do nói trong một tuyên bố vào đầu tuần này. TikTok gần đây đã cho phép nội dung “độc hại, xúc phạm, sai sự thật và mê tín dị đoan” trên nền tảng của mình.

Bộ này cho biết TikTok là nền tảng duy nhất đang được kiểm tra vì đây là nền tảng duy nhất có văn phòng địa phương.

Công ty cho biết vào tháng Hai, Cục Phát thanh Truyền hình và Thông tin Điện tử đã thông báo rằng một phái đoàn chính phủ sẽ đến thăm các văn phòng của công ty tại Việt Nam trong quý hai.

“Đây là hoạt động thanh tra liên ngành theo kế hoạch của Chính phủ và phù hợp với pháp luật Việt Nam đối với các công ty hoạt động tại Việt Nam, không riêng gì TikTok”, TikTok Việt Nam cho biết trong email.

Trong một tuyên bố với Reuters hôm thứ Năm, TikTok Việt Nam cũng cho biết họ đã cập nhật các hướng dẫn của mình, dự kiến có hiệu lực từ ngày 21 tháng 4, để minh bạch hơn về các quy tắc và cách thức thực thi chúng.

Suy niệm thứ sáu tuần thánh-Cha Vương

Nguyện chúc bạn ngày thứ 6 Tuần Thánh thật sốt sắng và tốt lành. Đừng quên ăn chay kiêng thịt hôm nay và nhớ cầu nguyện cho nhau, nhất là cho những người đau khổ về phần hồn lẫn phần xác nhé.

Cha Vương

Thứ 6 Tuần Thánh: 07/04/2023

TIN MỪNG: Sự thật, chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta, còn chúng ta, chúng ta lại tưởng người bị phạt, bị Thiên Chúa giáng hoạ, phải nhục nhã ê chề. Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành. Tất cả chúng ta lạc lõng như chiên cừu, lang thang mỗi người một ngả. Nhưng Đức Chúa đã đổ trên đầu người tội lỗi của tất cả chúng ta. (Is 53:4-6)

SUY NIỆM: Nếu bạn cảm thấy lương tâm bạn bị dằn vặt vì mặc cảm tội lỗi khi nghe bài Thương Khó Đức Giê-su Ki-tô hay nhìn lên thập giá, điều đó là tốt. Nó có nghĩa là lương tâm của bạn chưa bị chết hay bị bóp nghẹt. Bạn đang sống trong bối cảnh thế giới tục hóa, con người không chỉ hăng say đi tìm của cải vật chất, hư danh trần thế mà còn tôn thờ chủ nghĩa vô thần, chủ nghĩa tiền bạc, chủ nghĩa khoái lạc và coi nhẹ những đòi hỏi của lương tâm, như: trung thực, công bằng, bác ái… Từ đó, nó gây ra rất nhiều tội lỗi cho bản thân, gia đình và xã hội. Đặc biệt, đối với giới trẻ ngày nay, lương tâm là điều gì rất xa lạ. Lạ hơn nữa, dường như họ không muốn nghe tiếng nói của lương tâm chân chính, họ quả quyết điều họ làm là đúng tuy rằng nó rất là sai với giới răn của Chúa. Ước mong sự chay tịnh của ngày thứ 6 Tuần Thánh hôm nay hướng bạn về Thánh Giá, biểu tượng của đau khổ và của sự chết. Nó nhắc nhở bạn hãy thực sự xem xét lại cuộc sống và chú tâm lắng nghe tiếng gọi lương tâm của mình mà ăn năn hoán cải để cảm nghiệm được tình yêu vô biên của con Thiên Chúa dành cho bạn và cho toàn nhân loại.

LẮNG NGHE: Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha. (Lc 23:46)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin lấy lòng từ bi nhìn đến đại gia đình nhân loại. Chính vì gia đình này mà Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng con, không ngần ngại phó mình trong tay kẻ dữ và cam chịu khổ hình thập giá. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hợp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. (Kinh Sáng, Thứ 6 Tuần Thánh)

THỰC HÀNH: Dành ít thời gian hôm nay để cầu nguyện và suy niệm trước tượng Chúa Chịu Nạn. Chúa đang nói với bạn điều gì vậy?

Con Đường Chúa Đã Đi Qua – Lệ Hằng

From: Đỗ Dzũng

TRẦM TƯ DƯỚI CHÂN THÁNH GIÁ

Lạy Chúa Giê-su Ki-tô Cứu Thế, con quỳ trước Thánh giá hồng phúc của Chúa đây.  Xin cho trí lòng con chăm chú nghĩ tới cuộc Khổ nạn.  Xin Thánh giá Chúa dựng thẳng trước tâm hồn nghèo nàn của con, để giúp con hiểu hơn và ghi nhớ Chúa đã hoàn tất những gì, gánh chịu những gì và gánh chịu vì ai.

Xin ơn Chúa đến giúp con, xin cho lòng con bớt dửng dưng và đần độn; xin cho con quên đi, dù chỉ trong nửa giờ, sự tầm thường của những ngày sống, để đặt bên Chúa mối chân tình, lòng thống hối, niềm cảm tạ của con . Ôi Vua của mọi tâm hồn, xin ôm lấy quả tim yếu đuối, nghèo nàn, sầu khổ và nhọc mệt của con trong tình yêu bị đóng đinh của Chúa.  Xin làm cho nó cảm thấy hướng về Chúa tự bên trong.  Xin khơi dậy trong con những gì còn thiếu là lòng trung tín và niềm thương cảm, để suy ngắm cuộc Khổ nạn và cái Chết đáng tôn thờ của Chúa.

Con sẽ suy ngắm bảy lời của Chúa trên Thánh giá, bảy lời sau hết Chúa đã thốt lên trước khi cái chết bắt buộc Chúa –Ngôi Lời vĩnh cửu của Chúa Cha – phải im lặng mãi mãi trên chốn dương gian này.  Chúa đã thốt lên những lời phát xuất tự đáy con tim đó trong lúc tâm hồn lai láng đau khổ và đôi môi khát nước cằn khô.  Chúa nói với hết mọi người, nói cho chính con nữa.  Xin cho quả tim con đi sâu, đi thật sâu vào đó, để con thấu hiểu trọn vẹn . Đừng để những lời ấy xóa mờ trong quên lãng, nhưng sống mãi và hữu hiệu trong tâm hồn không sinh khí của con.  Chúa hãy đích thân thốt lên những lời ấy cho con đi, để con nghe được âm thanh của Chúa.

Một ngày kia, vào lúc con chết và sau lúc con chết, Chúa lại sẽ nói với con, và những lời ấy sẽ là tiếng đầu mở màn hạnh phúc vĩnh cửu hay tiếng cuối khởi sự nỗi khổ không cùng.  Lạy Chúa, ước mong giờ con chết, con được nghe miệng Chúa thốt ra những lời nhân thứ yêu thương; đừng để con lỡ dịp.  Vậy giờ đây, xin cho lòng con ngoan ngoãn đón nghe những lời sau hết của Chúa trên Thánh giá.

LỜI THỨ NHẤT: “CHA ƠI, XIN THA CHO HỌ, VÌ HỌ KHÔNG BIẾT VIỆC HỌ LÀM” (LC 23,34).

Chúa bị treo trên Thánh giá, nơi họ đã đóng đinh Chúa vào; Chúa chẳng còn cách nào thoát khỏi trụ đài dựng đứng giữa trời và đất như thế nữa.  Vết thương thiêu đốt toàn thân, mão gai xâu xé da đầu, đôi mắt đầm đìa máu thắm, tay và chân bị xuyên thâu như bởi một thanh sắt nung đỏ, tâm hồn Chúa là cả một đại dương sầu khổ và thất vọng.

Những kẻ trách nhiệm còn đó, dưới chân Thánh giá; họ chưa chịu đi khuất để ít nhất bỏ Chúa chết một mình.  Không, họ cứ đứng đó, cười đùa, tin chắc mình có lẽ phải.  Cảnh tượng trước mắt không là một bằng chứng sờ sờ đó sao, không chứng minh rằng thái độ của họ đối với Chúa hoàn toàn phù hợp với công lý, khiến họ có quyền hãnh diện như là đã tôn vinh Thiên Chúa đó sao?  Họ cười nói, đùa giỡn, xúc phạm; và ác tâm đó gây cho Chúa một nỗi thất vọng còn ghê gớm hơn mọi đau đớn trong thân mình.  Làm sao có người lại đê tiện đến thế?  Giữa Chúa và họ còn một chút liên hệ nào nữa không?  Có ai lại đi làm khổ một người cho đến chết như vậy không?  Làm khổ cho đến chết bằng sự dối trá, giả hình, điêu ngoa, bội phản, đê tiện, rồi còn mặc lấy cái vẻ của lẽ phải, tạo ra cái dáng của ngây thơ, khoác lên bộ diện của ông quan tòa liêm chính!  Thiên Chúa lại để cho xảy ra cái đó trong vũ trụ của Người được sao?  Tràng cười khinh mạn của các kẻ thù lại có thể vang lên cách mồn một và đắc thắng trong thế giới tạo vật của Thiên Chúa được sao?  A! Lạy Chúa, nếu là chúng con thì sẽ giận dữ thất vọng đến mức nào!  Nếu là chúng con thì sẽ nguyền rủa kẻ thù, nguyền rủa cả Thiên Chúa.  Nếu là chúng con thì sẽ hét to lên, sẽ phát điên lên mà bứt tung bàn tay khỏi đinh thập giá để tống cho một quả vào mặt!

Thế nhưng Chúa lại nói: “Cha ơi, xin tha cho họ, họ không biết mà!”  Thực hết hiểu nổi Chúa!  Trong tâm hồn xâu xé, đớn đau tột độ của Chúa, còn có chỗ cho một lời như vậy ư?  Thực hết hiểu nổi Chúa! Chúa yêu mến kẻ thù Chúa, gởi gắm họ cho Chúa Cha, cầu xin cho họ.  A!  Lạy Chúa, con xin lỗi nói phạm đến Chúa: Chúa còn bày đặt cho họ một lời chữa tội vô lý nhất, khó tin nhất: họ không biết việc họ làm!  Họ biết hết đó chứ!  Họ chỉ giả vờ không biết thôi; mà giả vờ không biết tức là càng biết rõ.  Đây là uẩn khúc sâu kín nhất của tâm hồn!  Nhưng người ta ghét uẩn khúc đó, chẳng muốn cho nó ra ngoài ánh sáng ý thức.  Thế mà Chúa lại bảo họ không biết việc họ làm!  Họ chỉ không biết một điều thôi, đó là tình yêu của Chúa đối với họ, một tình yêu chẳng ai có thể biết nếu không đích thân yêu mến Chúa, vì chỉ tình yêu mới giúp hiểu Ân huệ Tình yêu.

Chớ gì tình yêu không hiểu nổi của Chúa cũng thốt ra trên tội con lời tha thứ đó.  Xin Chúa hãy nói với Chúa Cha cho con nữa: “Cha ơi, xin tha cho nó, nó không biết việc nó làm!”  Ồ, con biết chứ, con biết hết, con chỉ không biết tình yêu của Chúa thôi!

Xin cho con nhớ lại lời thứ nhất này của Chúa trên Thánh giá mỗi khi đọc kinh Lạy Cha, con nói cách máy móc thuộc lòng lời thứ tha cho những ai xúc phạm.  Ôi lạy Chúa, không biết đã có lần nào con thực sự bị xúc phạm mà có thể tha thứ từ trên thập giá của tình yêu hay không?  Nhưng dù sao, con cần sức mạnh của Chúa để tha thứ, tha thứ tận đáy lòng, cho những ai mà tính kiêu căng và ích kỷ của con coi như những thù địch.

LỜI THỨ HAI: “TÔI BẢO THẬT ANH, HÔM NAY ANH SẼ ĐƯỢC Ở VỚI TÔI TRÊN THIÊN ĐÀNG” (LC 23,43).

Chúa đang hấp hối, thế mà trong tâm hồn lai láng đau khổ của Chúa vẫn còn có chỗ cho nỗi khổ của tha nhân.  Chúa sắp chết, thế mà Chúa vẫn băn khoăn về một tên tử tội vừa xưng thú là cuộc đời khốn nạn của hắn chỉ xứng với khổ hình ghê rợn hắn đang phải lãnh.  Chúa trông thấy Mẹ yêu dấu, thế mà Chúa lại ngỏ lời trước với đứa con hư hỏng.  Sự câm nín như bỏ rơi của Thiên Chúa làm ngẹn họng, thế mà Chúa lại nói đến Thiên đàng.  Bóng tử thần lởn vởn trước mắt, thế mà Chúa vẫn nhận ra được ánh sáng vĩnh cửu.  Khi hấp hối, chẳng phải con người chỉ còn biết nghĩ đến mình cô đơn và bị ruồng bỏ đó sao?  Thế mà Chúa lại quan tâm đến những linh hồn sắp cùng Chúa bước qua ngưỡng cửa Vương quốc.  Ôi tấm lòng từ ái!  Ôi tấm lòng hào hiệp quảng đại!  Một tên tử tội khốn khiếp tìm cách ép Chúa một tí mà Chúa lại hứa cho hắn trọn cả Thiên đàng.  Phải chăng mọi sự đều đổi mới nhờ cái chết của Chúa?  Phải chăng một đời bê tha tội lỗi được biến đổi ngay khi Chúa đến kề bên?  Chúa thốt ra trên một đời người những lời khuynh đảo, và đó là lời tha lỗi, tha cả cuộc sống xấu xa đê tiện.  Trước một biến đổi như thế, chả còn gì ngăn cản nó đi vào chốn thánh của Cha.

Tuy nhiên, Chúa nghĩ xem, cùng lắm là ta sẽ lưu tâm đến dấu thiện chí của tên vô lại ấy để giúp hắn tí cơ may thoát hiểm.  Nhưng còn những thói hư, tật xấu, hung ác, dơ bẩn, đê tiện… chẳng lẽ chỉ cần một xúc cảm tốt và một tia sáng hối hận lờ mờ trên thập giá là đủ hủy diệt hết ư?  Chẳng lẽ hạng người như thế lại được nước Thiên đàng mau lẹ như những tâm hồn sám hối, lâu năm thanh tẩy, như những thánh nhân dành cả cuộc đời thánh hóa xác hồn để xứng đáng với Thiên Chúa ba lần thánh ư?  Thật không thể chấp nhận nổi ! Thế nhưng Chúa, Chúa lại đưa ra phán quyết vô điều kiện, và hồng ân ấy đi sâu vào tâm can tên trộm, biến ngọn lửa hỏa ngục của cơn hấp hối thành ngọn lửa ngời sáng tình yêu thiên linh.  Tất cả những gì là công trình của Chúa Cha còn sót lại nơi hắn thì tình yêu ấy đã rọi sáng tức khắc; tất cả những gì xấu xa ghê tởm, chống lại Thiên Chúa trong cuộc đời hắn thì tình yêu ấy đã mau chóng tiêu diệt; và tên trộm cùng Chúa tay trong tay bước vào nhà Cha.

Xin Chúa cũng ban cho con ơn không bao giờ ngã lòng, nhưng dám chờ đợi tất cả, và nói mạnh hơn, dám đòi hỏi tất cả nơi lòng tốt của Chúa.  Ơn được can đảm thưa với Chúa: “Lạy Chúa, xin nhớ đến con khi Chúa vào trong Nước của Ngài,” dầu con là đứa tội lỗi tệ mạt.

Ôi lạy Chúa, chớ gì Thánh giá của Chúa cũng dựng thẳng bên chân giường chết của con.  Chớ gì miệng Chúa cũng hứa với con: “Quả thật, Ta bảo con, hôm nay con sẽ ở với Ta trên Thiên đàng!”  Chớ gì lời ấy khiến con nên xứng đáng đi với Chúa và trong Chúa vào Nước của Cha, với xác hồn hoàn toàn được cái chết của Chúa thánh hóa và xá giải.

LỜI THỨ BA: “THƯA BÀ, ĐÂY LÀ CON BÀ – HỠI CON, NÀY LÀ MẸ CON” (GA 19,26).

Nay đã đến giờ Mẹ Chúa lại phải đứng kề bên Chúa lần nữa… để chứng kiến Chúa hấp hối.  Người mà Chúa đã phán với tại Ca-na: “Thưa bà, giữa tôi với bà nào có việc gì.  Giờ tôi chưa đến” (Ga 2,4), người ấy nay không còn nài xin phép lạ nữa, nhưng vẫn phải có mặt.  Đây là giờ liên kết Con với Mẹ nhưng cũng là giờ chia ly, giờ của cái chết, giờ rứt khỏi tay từ mẫu, khỏi tay sương phụ đứa con trai độc nhất của mình.

Chúa đăm đăm nhìn Mẹ lần cuối.  Chúa đã không trừ cho bà mẹ đó một điều gì cả.  Chúa đã chẳng muốn là nguồn vui cho cuộc sống Người, trái lại chỉ là cớ đắng cay và sầu khổ.  Tuy nhiên, đấy bao giờ cũng là ân sủng, vì đấy bao giờ cũng là tình yêu của Chúa.  Và sở dĩ Chúa yêu Mẹ, ấy là bởi Mẹ đã nâng đỡ, phục vụ Chúa trong nỗi vui mừng cũng như trong sự đắng cay; vì chính như thế mà Người đã trở nên Mẹ Chúa trọn vẹn.  Ai là mẹ, là anh em, là chị em của Chúa, nếu chẳng phải là kẻ thực hiện thánh ý Cha trên trời?  Mặc dù đớn đau như cắt, tình yêu của Chúa cũng rung lên nét âu yếm mà trên thế gian này, vẫn thường nối kết đứa con với bà mẹ.  Cái chết của Chúa còn thánh hiến, thánh hóa những giá trị cao quý và dịu dàng đó nữa, những giá trị khiến rung cảm tâm hồn và làm đẹp trần gian.  Không, cái đó không thể chết trong con tim Chúa, dù con tim ấy bị tử thần nghiến nát ra trăm mảnh; Chúa muốn cứu nó để đưa lên trời.  Và bởi lúc ấy Chúa cũng đã yêu mến trái đất, nên rồi đây sẽ có một đất trời mới; vì khi chết để ban cho chúng con ơn rỗi vĩnh cửu, Chúa đã cảm xúc trước những giọt nước mắt của một bà mẹ, đã băn khoăn về phận số của một sương phụ còn ở lại dương gian, đến nỗi đã ban cho bà mẹ ấy một đứa con và ban cho đứa con ấy một bà mẹ.

Nhưng dưới chân Thánh giá, Mẹ không chỉ cảm thấy nỗi đớn đau của một bà mẹ có con bị người ta làm khổ.  Mẹ đứng đó nhân danh chúng con, như bà mẹ của mọi kẻ sống, hiến tế Quý Tử cho chúng con.  Nhân danh chúng con, Mẹ đã thốt lên lời xin vâng trước cái chết của Chúa.  Dưới chân Thánh giá, Mẹ là Giáo hội, là dòng dõi E-va, đang tham gia vào trận chiến bao la giữa con rắn và Con của người nữ.  Nên khi ban bà mẹ ấy cho môn đệ dấu yêu, là Chúa ban Mẹ Chúa cho chúng con tất cả.  Vì Chúa cũng muốn nói với con: “Con ơi, đây là Mẹ của con!”

Ôi lời đem lại cho chúng con một ân huệ vĩnh cửu!  Lạy Chúa Giê-su, dưới chân Thánh giá, kẻ xứng danh môn đệ dấu yêu của Chúa là kẻ từ lúc ấy đem Mẹ Chúa về nhà mình, người mẹ mà đôi tay trinh trong hiền mẫu từ nay sẽ phát ban mọi ân huệ do cái chết của Chúa trào tuôn.  Xin cho con ơn biết yêu mến và kính tôn Mẹ Chúa.  Xin cũng nhìn con hèn yếu mà nói với Mẹ: “Mẹ ơi, con của Mẹ đây này!”

Vì một tấm lòng trung trinh và thanh khiết như Mẹ Chúa hẳn sẽ nhân danh vũ trụ mà chấp thuận đám cưới giữa Chiên Con với Hiền thê Hội thánh, với nhân loại đã được máu Chúa cứu chuộc và thanh tẩy.  Sở dĩ con nghe Chúa phó mình cho trái tim từ mẫu của Mẹ, là vì Chúa đã không chết vô ích cho con; con sẽ có mặt vào lúc mở đầu tiệc cưới vĩnh cửu của Chúa, khi toàn thể nhân loại được biến đổi mãi mãi và kết hiệp với Chúa không cùng.

LỜI THỨ TƯ: “LẠY THIÊN CHÚA CON, LẠY THIÊN CHÚA CON, NHÂN SAO NGÀI BỎ CON?” (MT 27,46).

Cái chết đang lại gần, không phải là cái chết thể lý vốn đem đến giải thoát và bình an, nhưng là cái chết tượng trưng vực thẳm, tận diệt, tuyệt vọng.  Cái chết đang lại gần, cái chết nói lên sự bất lực khủng khiếp, cô đơn nặng nề, tước bỏ trọn vẹn, lúc mà tất cả sụp đổ, chạy trốn, chỉ còn sót lại một  sự ruồng bỏ chua xót, đau thương.  Và trong đêm tối của tinh thần, của giác quan ấy, trong sự trống rỗng con tim ấy, linh hồn Chúa vẫn kiên trì cầu nguyện; nỗi cô độc gớm ghê của con tim ngập tràn đau khổ ấy đã trở nên nơi Chúa một tiếng kêu van lạ lùng.  Ôi lời cầu nguyện của đau khổ, lời cầu nguyện của cảnh bị bỏ rơi, lời cầu nguyện của bất lực vô bờ bến, ngươi quả đáng ca tụng.  Lạy Chúa Giê-su, nếu Chúa đã biết cầu xin trong một nỗi khốn cùng như vậy, thì còn hoàn cảnh bi đát nào mà con người không thể kêu lên với Chúa Cha?  Còn nỗi thất vọng nào mà không thể trở nên lời cầu nguyện khi tìm đến ẩn thân trong cảnh bị bỏ rơi của Chúa?  Còn sự câm nín lớn lao nào mà lại quyết tâm không muốn biết rằng một tiếng kêu im lặng như thế vẫn có thể đạt được niềm vui thiên quốc?

Để nói lên nỗi khốn cùng của Chúa, để biến cảnh cô đơn hoàn toàn của Chúa nên một lời kinh, Chúa đã xướng lên câu đầu tiên của một Thánh vịnh (Tv 22).  Quả vậy, những lời Chúa nói: “Lạy Thiên Chúa con, lạy Thiên Chúa con, nhân sao Ngài bỏ con?” là câu đầu tiên của khúc ai ca cổ xưa ấy, khúc ai ca mà chính Thánh Thần Chúa đã đặt trên môi, trên lòng vị hiền nhân Cựu Ước, như một tiếng kêu cứu tuyệt vọng.  Thành ra ngay cả Chúa, con dám nói thế, trên đỉnh cao sầu khổ, đã không muốn một lời cầu nguyện nào khác ngoài lời cầu nguyện muôn người trước Chúa đã thốt trên môi; và có thể nói là khi cử hành cuộc hy tế trang nghiêm mà mình là hy lễ, Chúa đã dùng những công thức sẵn mang tính cách phụng vụ, để qua đó nói lên trọn vẹn nỗi lòng.

Xin cho con biết cầu nguyện với lời của Giáo hội Chúa, để những lời đó trở nên cách diễn tả của lòng con.

LỜI THỨ NĂM: “TÔI KHÁT” (GA 19,28).

Về lời ấy, Gioan thánh sử chú thích như sau: “Bấy giờ Đức Giê-su biết mọi sự đã hoàn tất, thì Người kêu to: “Tôi khát” để Thánh kinh nên trọn.”

Chúa lại xác minh một lời Thánh kinh nữa, một lời Thánh vịnh được Thánh Thần linh ứng từ lâu trước cuộc Khổ nạn Chúa.  Quả thế, trong Tv 22 câu 16, đã có nói đến Chúa thế này: “Cổ họng con khô ran như ngói, lưỡi với hàm dính lại cùng nhau.”  Và trong Tv 69 câu 22: “Thay vì đồ ăn, chúng trao mật đắng.  Con khát nước, lại cho uống dấm chua.”

Ôi người nô lệ của Chúa Cha, đã vâng lời cho đến chết, chết trên thập giá đau khổ.  Bên kia những gì xảy ra cho Chúa, Chúa thấy cái mình phải tìm cách đạt được; bên kia những hành vi của Chúa, Chúa thấy cái mình phải hoàn thành; bên kia những chướng ngại tràn lan, Chúa thấy rõ ràng bổn phận.  Ngay trong cơn hấp hối, giữa lúc nửa tỉnh nửa mê, Chúa vẫn lo sao để mọi chi tiết đời mình đều phù hợp với hình ảnh vĩnh cửu mà tâm trí Cha đã cưu mang.

Nên thực chẳng phải vì nghĩ đến cơn khát không tên đang dày vò tấm thân đẫm máu của Chúa, tấm thân phủ đầy vết thương và trần phơi dưới ánh nắng gay gắt của mặt trời chính ngọ, nhưng vì vâng phục đến cùng thánh ý Cha mà Chúa như muốn nói với một sự khiêm tốn thẳm sâu lạ lùng: “Vâng, điều thánh ý Cha đã tiên báo về tôi qua miệng các ngôn sứ, chính điều đó đang thực hiện.  Vâng, tôi khát!”  Ôi tâm hồn cao quý, vương giả, coi việc chịu khổ hình ghê gớm nơi thân xác chỉ là vấn đề tuân phục lệnh trên!  Mà Chúa đã hiểu tất cả sự ghê tởm của cuộc Khổ nạn như thế: như một sứ mạng phải chu toàn chứ không là một đòn mù quáng của định mệnh, như thánh ý Chúa Cha chứ không phải tâm can độc dữ của con người, như tình yêu cứu chuộc chứ không là âm mưu của kẻ tội lỗi.  Chúa đã gục xuống để chúng con được cứu thoát, Chúa đã chết để chúng con được sống, Chúa đã khát để chúng con được uống nơi nguồn nước mà Chúa mới mạc khải hôm nào đây, trong lễ Lều Trại: “Ai khát hãy đến với Ta, và hãy uống kẻ tin vào Ta; vì như lời Thánh kinh, tự lòng Người có những sông nước sống tuôn chảy” (Ga 7,37-38).

Chúa đã khát vì con, Chúa đã khát tình con, ơn cứu rỗi con; nên như nai khát nước nguồn, Chúa ơi, hồn con cũng khát Chúa!

LỜI THỨ SÁU: “MỌI SỰ ĐÃ HOÀN TẤT” (GA 19,30)

Thực ra, Chúa đã nói: “Chấm dứt rồi!”  Vâng, lạy Chúa, giây phút chấm dứt của Chúa đã đến rồi: chấm dứt cuộc đời, chấm dứt danh dự, chấm dứt hy vọng nhân loại, chấm dứt chiến đấu và những công trình đã thực hiện lâu nay.  Tất cả thực đã chấm dứt; tất cả đều trống rỗng và cuộc sống Chúa sắp tan biến.  Bất lực! Tuyệt vọng!…  Nhưng chính sự chấm dứt này lại hoàn thành đời Chúa, vì chấm dứt trong tình yêu và trung tín là một kết thúc rực rỡ.  Thất bại của Chúa là một chiến thắng oai hùng.

Ôi lạy Chúa, chừng nào con mới hiểu được quy luật này của đời Chúa, mà cũng là quy luật của đời con: chết là sống, từ bỏ là chiếm lại, khó nghèo là sung túc, khổ đau là ân sủng?  Khi nào con mới hiểu: chấm dứt có nghĩa là được hoàn thành?

Vâng, Chúa đã hoàn thành: hoàn thành sứ mạng Cha trao, nốc cạn một hơi chén đắng, gánh trọn cái chết kinh khủng, xong xuôi việc cứu rỗi đời.  Chúa đã chiến thắng tử thần, đập tan tội lỗi, chinh phục ma vương, mở cửa sự sống, cho con cái Thiên Chúa được hoàn lại tự do!  Cơn lốc Thánh Thần từ nay có thể mạnh thổi.  Và thế giới âm u dần cháy lên với ngọn lửa tình yêu Chúa, vũ trụ sầu khổ phực thiêu trong hỏa lò thần tính Chúa, địa cầu chìm trong biển lửa hạnh phúc của sự sống Chúa!  Mọi sự đã hoàn tất!

Chúa là Đấng hoàn thành vũ trụ, xin cho con nên hoàn thiện trong tinh thần của Chúa, lạy Ngôi Lời của Cha, Đấng đã hoàn tất hết thảy trong thể xác và trong cái chết đớn đau của mình.

Ước gì một ngày kia, lúc hoàng hôn cuộc sống, con cũng có thể nói: “Mọi sự đã hoàn tất.  Con đã chu toàn sứ mạng Chúa giao cho con.”  Ước gì con cũng có thể lặp lại theo Chúa lời kinh tế hiến, khi tử thần lảng vảng quanh con: “Cha ơi, giờ đã đến…  Con đã tôn vinh Cha trên trần gian, khi hoàn tất công việc Cha giao con thực hiện.  Thì giờ đây, xin hãy tôn vinh con bên Cha” (Ga 17,1-5).

Ôi Giê-su, dù sứ mạng Chúa Cha trao cho con là lớn hay nhỏ, quan trọng hay tầm thường, êm ái hay cay đắng, thì xin vẫn ban cho con ơn hoàn thành theo gương Chúa, Đấng đã hoàn thành hết thảy, ngay cả cuộc đời con, để con sống đời con cho tốt đẹp.

LỜI THỨ BẢY: “CHA ƠI, CON TRAO LẠI HỒN CON TRONG TAY CHA” (LC 23,46)

Ôi Giê-su, kẻ bị bỏ rơi nhất trong loài người, ôi trái tim tan nát vì đau đớn, Chúa đã kiệt lực.  Đây là lúc cùng tận, lúc mà hết thảy đều bị tước bỏ, ngay cả linh hồn, ngay cả tự do chọn lựa giữa ưng thuận hay từ chối, lúc mà ta không còn thuộc về ta.  Bóng thần chết đã lấp ló đứng chờ.  Nhưng ai tước bỏ như thế?  Cái gì tước bỏ như thế?  Hư vô ư?  Định mệnh mù quáng ư?  Thiên nhiên tàn nhẫn ư?  Không!

Chính là Cha, chính là vị Thiên Chúa khôn ngoan và lân mẫn.  Do đó Chúa đã phó mình.  Hoàn toàn tin tưởng, Chúa trao mình lại trong đôi tay vô hình hiền dịu của Cha, đôi tay mà chúng con, vì không tin, vì quá bám víu lấy mình, tưởng là thòng lọng gớm ghê của định mệnh mù quáng và của thần chết.  Chúa biết đấy là tay Cha, và đôi mắt Chúa, tối mờ vì thần chết, vẫn còn nhận ra Cha, vẫn còn đặt trong ánh mắt an bình đầy tình hiền phụ của Cha, và miệng Chúa thốt lên lời cuối cùng đời Chúa: “Cha ơi, con trao lại hồn con trong tay Cha.”

Chúa trao tất cả vào tay Đấng đã ban cho mình tất cả.  Chúa đặt hết vào tay Cha, không đòi bảo chứng, không chút giới hạn.  A!  Nhiều lắm, nhưng cũng nặng trĩu và cay đắng biết bao!  Cái làm nên gánh nặng đời Chúa: loài người, thô bạo, sứ mạng, thập giá, thất bại, cái chết, Chúa đã phải gánh lấy một mình.  Nhưng bây giờ, chẳng còn gì phải gánh nữa, và Chúa có thể trao lại tất cả và chính mình trong tay Cha.  Tất cả!  Tay Cha mang rất tốt, rất dịu dàng.  Đôi tay của người mẹ!  Đôi tay đó úp lên hồn Chúa, như người ta ấp ủ một cánh chim non trong lòng bàn tay với cả ý tứ mến thương.  Bây giờ chẳng còn gì nặng nữa.  Tất cả đều nhẹ, đều là ánh sáng, ân sủng, an toàn dưới bóng con tim Cha.  Nơi đây người ta có thể khóc hết nước mắt và được Cha lau khô bằng cái hôn hiền phụ.

Ôi Giê-su, một ngày kia Chúa cũng trao linh hồn hèn hạ và thân xác khốn khổ của con vào trong tay Cha chứ?  Lúc ấy, xin Chúa hãy đặt khối nặng đời con, khối nặng tội lỗi con đừng trên đĩa cân công lý nhưng trong tay Cha.  Chạy trốn đâu, ẩn khuất đâu ngoài bên Chúa, người anh em đã cay đắng chịu mọi khổ hình vì tội con.  Hôm nay, con đến với Chúa, quỳ trước Thánh giá Chúa, hôn đôi chân đã chảy máu vì im lặng bước theo con trên quãng đường quanh quéo của đời con.  Con ôm lấy Thánh giá Chúa, ôi Bạn Tình vĩnh cửu, Lòng của muôn lòng, Trái Tim bị đâm thủng, trái tim hết sức kiên nhẫn, trái tim vô cùng quảng đại.  Xin thương xót con.  Xin đem con vào tình yêu Chúa.  Và khi cuộc đời lữ thứ của con sắp chấm dứt, khi ngày đã gần tàn, khi bóng tử thần vây bọc lấy con, thì xin Chúa cũng thốt lên lời sau hết của Chúa: “Cha ơi, con trao lại hồn con trong tay Cha”, ôi Giê-su từ ái!  A-men.

Karl Rahner S.J.

Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi

 trích dịch từ Spiritualité pascale, phần Documents et Prières. Paris, DDB, 1957. Trang 275-278. 

Nghiên cứu mới có câu trả lời về lý do tại sao một số người sống đến hơn 100 tuổi

Theo USA ngày nay

Xuyên suốt lịch sử, những khoa học gia lỗi lạc đã cố gắng tìm ra bí mật đằng sau bí quyết sống thọ  lâu hơn. Phần lớn nghiên cứu đã ghi nhận chế độ ăn uống và tập thể dục, nhưng một nhóm các nhà khoa học đã mở rộng dữ liệu trước đó để đề xuất một lý thuyết khác.

Các nhà nghiên cứu từ Đại học Boston và Trung tâm Y tế Tufts đã tìm thấy những người sống từ 100 tuổi trở lên – được gọi là những người trăm tuổi – có thể có một thành phần độc đáo của các tế bào miễn dịch có khả năng bảo vệ cao chống lại bệnh tật, theo một nghiên cứu được công bố hôm thứ Sáu trên tạp chí Lancet . eBiomedicine.

“Dữ liệu của chúng tôi ủng hộ giả thuyết rằng những người sống trăm tuổi có các yếu tố về sức đề kháng giúp (họ) khỏi bệnh và đạt đến tuổi già,” tác giả chính Tanya Karagiannis, nhà tin sinh học cao cấp tại Trung tâm Phương pháp Định lượng và Khoa học Dữ liệu, và Viện Nghiên cứu Lâm sàng cho biết. Nghiên cứu Chính sách Y tế và Nghiên cứu tại Trung tâm Y tế Tufts. Những người có hệ thống miễn dịch bình thường tiếp xúc với các bệnh nhiễm trùng, họ phục hồi sau đó và cơ thể học cách thích nghi với các bệnh nhiễm trùng trong tương lai. Trong khi khả năng phản ứng với nhiễm trùng của hệ thống miễn dịch suy giảm theo tuổi tác, các nhà khoa học đưa ra giả thuyết rằng điều này có thể khác đối với những người sống trăm tuổi.

Bổ sung collagen có hiệu quả không?

Các chuyên gia cân nhắc về các loại thuốc, kem chống lão hóa phổ biến
Các nhà nghiên cứu đã phân tích các tế bào miễn dịch lưu thông trong máu được lấy từ bảy người tham gia trăm tuổi ở Bắc Mỹ và xác định các mô hình lão hóa đặc hiệu miễn dịch và tuổi thọ cực cao của con người.
Họ đã so sánh thông tin này với dữ liệu công khai khác xem xét các tế bào miễn dịch từ những người khác nhau trong suốt tuổi thọ của con người và nhận thấy hồ sơ miễn dịch của những người trăm tuổi không tuân theo các xu hướng liên quan đến quá trình lão hóa tự nhiên.

Tác giả cao cấp Stefano Monti, phó giáo sư y khoa, thống kê sinh học và tin sinh học tại trường y của Đại học Boston, cho biết vẫn chưa rõ khả năng miễn dịch độc đáo này là do di truyền, tự nhiên xảy ra hay là sự kết hợp của các yếu tố bên ngoài. Ông nói: “Câu trả lời cho điều gì khiến bạn sống lâu hơn là một câu hỏi rất phức tạp. “Có nhiều yếu tố, có di truyền – những gì bạn thừa hưởng từ cha mẹ, có lối sống, có may mắn.”

Các tác giả nghiên cứu hy vọng những phát hiện của báo cáo dựa trên nghiên cứu hiện có có thể giúp phát triển phương pháp trị liệu cho dân số già trên thế giới.

Tác giả chính George J. Murphy, phó giáo sư y khoa tại trường y của Đại học Boston cho biết: “Những người trăm tuổi và tuổi thọ đặc biệt của họ cung cấp một ‘kế hoạch chi tiết’ về cách chúng ta có thể sống một cuộc sống khỏe mạnh và hữu ích hơn.

Phan Sinh Trần 

Chị tôi bên bến sông – Diệu Phúc-Truyện ngắn

Diệu Phúc

Năm tôi lên bốn, chị đã lên mười. Người ta nói chị mãi là đứa trẻ bốn tuổi. Tôi không hiểu vì sao lại thế. Có lẽ vì chị chẳng khôn hơn tôi được bao nhiêu và mẹ lúc nào cũng phải săn sóc chị giống hệt tôi. Lên bảy tuổi, tôi bắt đầu thấy chán ghét chị. Sao chị lại khù khờ như thế, để bạn bè trong lớp trêu chọc rằng tôi có người chị điên, chị tàn. Mỗi lần đi học về ngang nhà tôi, bọn thằng Ân, thằng Tuấn lại hát to:

Bống tàn ăn quả dưa gang

Ăn nhầm lựu đạn nổ toang cả nhà.

Tôi nghe mà tức lộn ruột, chỉ muốn lấy đá ném cho chúng một trận.

Bống là tên chị tôi. Mẹ tôi kể, năm chị bốn tuổi thì bị chó dại cắn, sau bao nhiêu thuốc thang cứu chữa chị vẫn mê man. Hơn nửa tháng sau, chị tỉnh dậy, khỏe mạnh. Nhưng mẹ chưa kịp vui thì nhận ra chị không còn bình thường như trước nữa. Bác sĩ bảo thần kinh của chị bị ảnh hưởng, chậm phát triển trí tuệ nhưng mẹ không tin, nói đúng hơn là mẹ chưa thể chấp nhận được chuyện đó. Tháng tháng đôi lần, mẹ dẫn chị lên chùa khấn vái, cầu trời khấn Phật để chị được bình an vô sự. Chẳng biết trời có thấu, Phật có hay, nhưng chị tôi không biết thêm được gì nữa. Chị tôi mãi bốn tuổi là như thế. Khi tôi bắt đầu hiểu chuyện, tôi thương chị nhiều hơn. Những lời trêu chọc của đám bạn, tôi nghe dần rồi cũng thành quen.

Nhà văn trẻ Diệu Phúc ở Đà Nẵng

Năm tôi mười một tuổi, một hôm chị hái trộm xoài nhà người ta, bị đuổi đánh, rách cả vạt áo. Họ chửi: “Điên! Điên cái ngữ gì mà khôn thế!” Tôi nghe thấy liền vội chạy nhanh về nhà. Chị bị mẹ mắng, ngồi thu mình sau hè, thấy tôi, chị xòe tay đưa ra quả xoài xanh. Tôi nghẹn ngào ôm lấy chị, hai hàng nước mắt trào ra.

Tôi vào trường cấp hai, đi học cách nhà bốn cây số. Tôi học giỏi, có nhiều bạn, nhưng thân với Hưng và Ngọc hơn cả. Một lần, đám bạn cùng lớp kéo nhau về nhà tôi. Mẹ tôi bẻ ngô nấu một nồi to tướng. Nhà tôi lụp xụp, nền đất, nuôi nhiều gà vịt, chúng ị ra khắp sân. Mấy đứa bạn đi cùng khó chịu ra mặt, chúng tụ tập ở gốc cây mít ngoài ngõ, không chịu vào nhà vì nhìn thấy chị tôi thẫn thờ đi trong sân. Đến lúc ngô chín, chúng bỏ về gần hết vì thấy nhà tôi bẩn, chị tôi điên, chúng không dám ăn ngô vì sợ lây bệnh. Thằng Hưng, bạn thân nhất của tôi, bàn tay siết chặt giận dữ: “Một lũ khốn nạn”. Ngọc thì không nói gì, lẳng lặng lấy một bắp ngô đưa cho chị tôi. Chiều hôm đó, nhà tôi ăn ngô thay cơm. Thằng Hưng và cái Ngọc mang về một ít. Số còn lại, mẹ tôi mang biếu hàng xóm. Từ đó, ngoài Hưng và Ngọc ra, tôi không bao giờ dẫn thêm đứa bạn nào về nhà nữa.

Lên cấp ba, tôi, Hưng và Ngọc mỗi đứa mỗi lớp. Cả ba đứa đều nguyện vọng thi vào trường Sư phạm nhưng Hưng theo khối A, Ngọc khối D, còn tôi khối B. Ngoài giờ học thêm toán cùng nhau vào buổi tối, chúng tôi ít có thời gian gặp nhau. Dẫu vậy, tình bạn của chúng tôi vẫn bền chặt, keo sơn.

Mùa hè, trời nắng như đổ lửa, chị tôi có lẽ vì thế mà bệnh nặng thêm. Chị hay ôm đầu, tự đập vào tường rồi lại rì rầm những tiếng nghe không rõ. Chị nói suốt ngày đêm. Tôi thương chị nhưng cũng có chút bực dọc vì không thể tập trung học được. Lắm khi, tôi lại ngửa mặt lên trời, muốn hỏi trời cao, chúng tôi, những kẻ sống một đời thiện lương, đến con kiến cũng không nỡ giết, sao ông trời lại nhẫn tâm với chị như vậy.

Cả nhà bị chó dại cắn, 2 cha con tử vong

Vào đại học, Hưng ngỏ lời yêu tôi. Tôi bối rối tìm cách hoãn binh. Tình cảm của Hưng bao năm qua không phải tôi không biết. Tôi cũng không phải sắt đá đến nỗi không biết rung động. Nhìn mẹ tôi ngày một già đi, tôi ao ước gặp được một người chân thành và chấp nhận được chị tôi để tôi có thể đưa mẹ và chị về sống cùng. Hưng yêu tôi nhưng cậu có đồng cảm với những trăn trở của tôi hay không, tôi không chắc.

Một hôm, Ngọc bảo tôi đến trung tâm bảo trợ xã hội nuôi dạy trẻ mồ côi, người khuyết tật của thành phố cùng cô ấy. Ngọc chỉ một cậu bé, nói với tôi:

– Đó là Khang. Nó bị thiểu năng trí tuệ. Lúc mười tuổi được đưa vào đây, hiểu biết của nó như một đứa trẻ sáu tuổi. Được các thầy cô ở đây dạy bảo, mỗi năm, nó lại thêm một tuổi, nó sống ở đây bốn năm rồi. Giờ thì đã khá hơn.

Ngọc lại chỉ tay về phía một cô gái khác:

– Chị ấy là Bảo Trâm. Chị ấy bị tai nạn, bố mẹ mất cả, đi lại khó khăn nhưng học rất giỏi, đang học năm thứ ba trường Cao đẳng đấy.

Ngọc bảo rằng cô ấy đã tìm hiểu rất kĩ nơi này. Có rất nhiều người khuyết tật đã trưởng thành từ nơi này và khuyên tôi nên đưa chị vào đây. Tôi hiểu sự chân thành của Ngọc và đằng sau ấy có thể là sự quan tâm tế nhị của Hưng dành cho tôi vì cả ba chúng tôi vẫn thân thiết với nhau.

Nhưng suy đi tính lại, khi bàn bạc, mẹ tôi cương quyết không cho chị vào trung tâm bảo trợ xã hội. Mẹ bảo, chị được mẹ sinh ra thế nào thì sẽ ở với mẹ thế ấy. Nhìn chị sống như một đứa con mồ côi mẹ không đành lòng. Tôi cũng không đành lòng. Chị chỉ như một đứa trẻ, nếu không có mẹ và tôi ở cạnh, không biết chị sẽ thế nào, liệu có được ăn no, có được tắm rửa sạch sẽ, hay lại bị người khác bắt nạt, thậm chí đánh đập vì sự khù khờ của mình.

Rồi chị vẫn ở với chúng tôi như ngày nào và mẹ nhận thêm việc nấu ăn cho đoàn công nhân ở công trường. Buổi sáng, mẹ nấu luôn cả phần cơm trưa cho chị rồi đi làm, chiều muộn mẹ mới về. Còn tôi, sau khi nhận làm gia sư cho một cậu học trò lớp chín và một cô bé lớp bảy, tôi có thể tự trang trải chi phí sinh hoạt của mình. Cuộc sống của ba mẹ con tôi khá hơn. Tối tối, bên chiếc ti vi, chị ngồi trong lòng mẹ xem phim. Tôi mải mê với sách vở. Cuộc sống thanh đạm nhưng thật bình yên.

Một dạo, chị tôi bỗng lười ăn, mỗi bữa chỉ lưng bát cơm. Được mấy hôm, chị bảo không muốn ăn nữa. Mẹ tôi mua cho chị lọ nước yến hay hộp sữa nhưng uống vào chị nôn ra hết. Mẹ tôi mặt tái xanh đưa chị đến bệnh viện. Người ta khám cho chị rồi bác sĩ bảo, chị đang mang thai. Cái thai đã được mười một tuần tuổi. Cái tin như một cú sét đánh ngang tai. Mẹ tôi sững sờ, run rẩy, chân như muốn khuỵu xuống. Mẹ trừng mắt nhìn chị, cố kìm giận dữ nhưng vẫn gằn lên từng tiếng: “Là ai? Từ khi nào?”. Chị run sợ, nép mình vào chân tường, ngồi co ro như chú cún con bị ướt mưa. Mẹ hết dỗ ngọt lại đến dọa nạt, nhưng tra hỏi kiểu gì chị cũng không nói. Rồi mẹ bắt đầu khóc. Mẹ gào lên như một đứa trẻ. Mẹ trách ông trời, mẹ trách cuộc đời, rồi lại tự trách mình. Lòng tôi đau như cắt. Tôi hận ông trời, hận cuộc đời này và hận cả bản thân mình. Giá mà tôi ở bên chị nhiều hơn, quan tâm đến chị nhiều hơn thì đâu đến nông nỗi.

Sau một đêm thức trắng, mẹ ngậm ngùi nói những lời dứt khoát: “Bỏ cái thai đi. Đã không biết bố đứa bé là ai, nó lại điên điên khùng khùng như vậy, làm sao nuôi được con. Đẻ ra chỉ tổ làm tội con mà thôi. Đời nó khổ quá rồi, đừng để phải khổ thêm nữa”. Tôi chưa hết bàng hoàng thì chị tôi đã lao đến ôm chân mẹ, nấc lên từng tiếng một: “Không! Không! Con của Bống. Không được bỏ. Bống nuôi con”. Mẹ dỗ dành chị, rồi lại chuyển sang la mắng nhưng không lay chuyển được ý muốn của chị. Chị muốn có con. Lúc này, chị không còn là một đứa trẻ nữa.

Mẹ tôi tâm hướng Phật, đâu muốn tạo nghiệp nhưng đời chị khổ quá, mẹ tôi xót xa. Hai ngày chị bỏ ăn, chống đối. Nhìn thấy sự thay đổi của chị, mẹ cũng phải suy nghĩ lại. Ừ thì đầu óc nó như một đứa trẻ nhưng nó cũng đã gần ba mươi. Cái đầu nó không theo kịp tuổi, nhưng trái tim nó, biết đâu, lại theo kịp. Thôi đành, con dại cái mang. Ngày qua ngày, mẹ chăm chút chị nhiều hơn. Hàng xóm tiếng xì xào bán tán nhưng mẹ và chị mặc kệ. Chị hay nhìn xuống cái bụng bầu của mình, áp tay vào đó, đôi mắt lim dim như thể cảm nhận được nó – đứa bé ấy. Những lúc thế này, nhìn chị chẳng có vẻ gì là điên cả.

Rồi cũng đến ngày mãn nguyệt khai hoa, chị tôi sinh một bé trai kháu khỉnh. Mẹ tôi ẵm đứa bé, đặt vào lòng chị, bày chị cách cho con bú. Ngày đêm mẹ không rời chị nửa bước, sợ chị ngủ quên lúc cho bú, sẽ đè ngộp con. Căn phòng nhỏ tôi hay ngồi học, mẹ kê thêm chiếc giường cho mẹ con chị một chốn riêng tư trong thời gian ở cữ. Xóm giềng, cô bác, người ta cũng dần cảm thông, vừa mừng, vừa thương cho chị. Họ hay biếu chị khi chục trứng gà, khi đôi lốc sữa để chị bồi dưỡng. Không giống như cách chị chơi với con búp bê ngày trước, với đứa bé, chị nâng niu nó một cách kì lạ. Mỗi lúc nó cười, trên gương mặt chị toát lên vẻ rạng rỡ, dịu dàng. Đứa bé dường như biết thương mẹ, nó ít quấy khóc và bú nhiều, ngày càng phổng phao trông thấy. Mẹ tôi đặt tên nó là Minh, mong sao nó có một tương lai tươi sáng.

Thấy cảnh nhà cửa chật hẹp, lại thêm một đứa trẻ, mẹ tôi dành dụm xây thêm một gian nhà ngang dành riêng cho mẹ con chị. Tuy gọi là nhà riêng nhưng chị vẫn ăn cùng cả nhà, chỉ có buổi tối mẹ con chị mới về phòng để ngủ.

Rồi một thời gian, tôi thấy chị rạng rỡ hơn, chị chăm lo cho đứa bé tốt hơn và trên khuôn mặt người đàn bà nửa điên dại dường như có một niềm vui giấu kín. Tôi thấy chị dần trở nên sạch sẽ, gọn gàng. Một linh cảm trong tôi lớn dần.

Một buổi tối, tôi thức dậy giữa đêm. Mẹ tôi khó ngủ nên gần sáng bà mới ngon giấc. Cảm giác một điều gì đó rất lạ, tôi nhè nhẹ mở cửa, bước sang bên nhà ngang. Dưới ánh trăng mờ sáng, qua cánh cửa sổ khép hờ tôi nhìn thấy chị tôi và một người đàn ông đang quấn chặt vào nhau. Những âm thanh rên rỉ và tiếng da thịt chạm vào nhau khiến tôi đỏ mặt. Nhưng chị không giống bị người ta cưỡng bức, chị cũng hòa quyện, đung đưa theo hắn. Không lẽ đó là bố đứa trẻ? Tôi đứng chôn chân, nhìn hai bóng đen hòa quyện dưới ánh trăng.

Cả đêm hôm ấy, tôi không sao ngủ được. Mỗi lần nhắm mắt lại, hình ảnh hai cái bóng mờ ảo quấn quýt vào nhau lại hiện ra. Tôi không biết có nên nói với mẹ chuyện này hay không. Nhìn những thay đổi gần đây của chị, tôi biết, chị đang yêu. Chị sạch sẽ, ít nói những câu vô nghĩa hơn. Người điên, họ vẫn có thể yêu chứ, bởi vì họ cũng có trái tim. Nhưng tôi lo lắng, không biết chị có bị người ta lợi dụng hay không. Dù sao, về bản chất chị vẫn là một kẻ điên. Trên đời này, có người đàn ông nào lại ngu ngốc đi yêu một kẻ điên dại chứ? Tôi quyết định im lặng, tự đi tìm cho mình một câu trả lời.

Đúng như tôi linh tính, hôm sau, hắn lại đến. Hắn cúi xuống thơm nhẹ má đứa bé đang say giấc. Rồi hắn mò sang nằm bên cạnh chị, ôm ấp, vuốt ve. Nhìn cách hắn mơn trớn chị, tôi tựa hồ như đang có kiến bò khắp người. Một cảm giác rất lạ dâng lên khiến tôi hoang hoải, mất phương hướng. Tôi dám khẳng định hắn chính là cha của bé Minh. Nhưng vì sao hắn không đến nhận? Hắn có thật sự yêu chị tôi? Hắn xấu hổ khi yêu một kẻ điên hay hắn tìm đến chị chỉ để thỏa mãn dục vọng? Lòng tôi giằng xé giữa bao ngổn ngang. Tôi quyết định nếu có lần nữa sẽ ra mặt, gặp hắn để làm rõ mọi chuyện.

Khi ánh trăng lên đến đầu ngọn tre, một bóng đàn ông lẻn vào. Tôi toan gõ cửa thì linh cảm có người đang đứng ngay sau lưng. Bất giác, tôi quay lại. “Mẹ!” Tôi kêu lên, bàng hoàng. Nghe có tiếng người, hắn lao vọt ra khỏi cửa, bỏ chạy. Nhờ ánh trăng chiếu rọi, tôi nhận ra bóng hắn xiêu vẹo, khập khiễng. Một bên chân hình như bị thọt. Chị đứng ngây dại giữa màn đêm tối đen. Mẹ tôi tra hỏi dữ dội: “Là ai, đấy là thằng nào?” Cuối cùng, chị cũng nhận, hắn chính là cha của bé Minh. Ngày đó, chị đang tắm ở sau chòi, hắn vô tình đi ngang qua khi cả nhà đều đi vắng. Hắn chiếm đoạt chị. Một lần đó rồi thôi và chị có bầu. Nhưng sau khi chị sinh bé Minh, hắn đã quay trở lại, mang trứng, mang sữa, mang bánh trái cho chị. Và rồi, đêm đêm, hắn lại đến, để sống giây phút được làm chồng, làm cha lén lút.

Mẹ tôi chửi chị ghê lắm:

– Mày làm thế mà không biết tởm à, mày có biết nó là ai không, là gã thọt chuyên mò hến ven sông. Thằng ấy cũng dở người nên không ai lấy.

Chị khóc, tóc chị rũ rượi:

– Nhưng anh ấy là bố đứa bé. Anh ấy thương con. Cả xóm này không ai yêu con cả, chỉ có anh ấy thôi.

Còn những cảnh nghèo - YouTube

Mẹ tôi dẫn chị ra bờ sông, bế theo đứa bé, dẫn đến cái nhà tạm bợ của người đàn ông kia. Khi nhìn thấy mẹ tôi và đứa bé, anh ta bỗng trèo tót lên ngọn một cây. Hành động ấy càng làm mẹ tôi điên tiết.

– Này, cái thẳng dở người kia, mày có chịu xuống đây nói chuyện cho tử tế không hả?

Nghe mẹ tôi mắng, hắn biết mẹ tôi đã biết mọi chuyện, sợ bị bắt đền, càng ở tít trên cây không chịu xuống. Mẹ tôi giận lắm, nổi đóa lên:

– Mày mà không chịu xuống đây, tao lấy dao chặt gốc cho mày chết luôn.

Chị tôi tưởng mẹ làm thật, ngăn mẹ lại:

– Mẹ để con khuyên anh ấy.

Chị bế con, đứng dưới gốc cây, nước mắt lã chã:

– Anh xuống đi. Anh mà không chịu xuống, em bế con nhảy xuống sông luôn.

Rồi chị dịu dàng đưa tay vẫy vẫy. Thằng bé con cũng làm theo mẹ, cái tay bé xíu đung đưa. Người đàn ông ngượng ngùng, tụt xuống, rồi chạy lại bên chị, ôm đứa bé, hôn hít rối rít.

Mẹ tôi bảo:

– Chúng mày đã nhận nhau, dù điên dại thì cũng phải ở nơi tử tế. Cái lều ven sông này không hợp. Đứa trẻ cần có bố.

Rồi mẹ nhìn người đàn ông kia, quyết liệt:

– Còn mày, mày đã là cha đứa bé, phải có trách nhiệm với mẹ con nó. Mau sửa soạn, gói ghém đồ đạc về đó ở cùng mẹ con nó. Có mắm ăn mắm, có muối ăn muối. Một ngày vợ chồng, nghìn năm ân nghĩa, huống chi chúng mày…

Mẹ tôi bỏ dở câu nói. Chẳng biết hắn có hiểu được không, nhưng hắn chạy nhanh vào nhà, lấy mấy bộ quần áo cho vào cái túi, hớn hở đứng nép bên chị tôi, rồi lủi thủi theo mẹ về nhà.

Từ ngày có hắn về, chị tôi vui vẻ, nói cười nhiều hơn. Những lúc ở cạnh bé Minh và người đàn ông kia, trông chị chẳng điên, hắn cũng chẳng dở. Chiều chiều, chị tôi lại bế con ra ngõ, đợi hắn đi cào hến dưới sông về. Từ phía xa, người đàn ông mồ hôi nhễ nhại nhưng gương mặt tươi tỉnh chạy vội về phía hai mẹ con. Thấy cảnh ấy, tôi lại nhớ đến Hưng, thầm nghĩ, có lẽ đã đến lúc tôi phải chuẩn bị cho hạnh phúc của riêng mình rồi. Và mỗi khi ráng chiều tắt hẳn, cả nhà tôi lại quây quần bên mâm cơm. Ngôi nhà như sáng hơn bởi có bóng dáng đàn ông và tiếng bi bô con trẻ./.

DIỆU PHÚC

https://vanhocsaigon.com/truyen-ngan-cua-dieu-phuc-chi-toi-ben-ben-song/

Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con? – Suy niệm Thứ Sáu Tuần Thánh -Dòng Tên SJ (bài hai)

Lm. GB. Nguyễn Ngọc Thế SJ.

Di ngôn thứ Tư của Chúa Giesu trên Thánh Giá.

Mời Các Bạn cùng đọc bài suy niệm này dưới chân Thập Giá trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh.

Lạy Thiên Chúa,

Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?

 

(Mt 27,46; Mc 15,34)

      • Bài Tin Mừng.
      • Bối cảnh và ngôn ngữ.
      • Yếu tố thời gian.
      • Lời cầu nguyện của người lành thánh gặp khổ đau.
      • Thiên Chúa quyền năng im lặng trước khổ đau của Người Con yêu dấu?
      • Lời kêu cầu của niềm tin sắt đá không lay chuyển.
      • Đưa con ra khỏi thai bào, vòng tay mẹ ẵm Chúa trao an toàn.
      • Không có sức mạnh nào ngăn chặn lời kêu cầu của người đau khổ, nhưng tràn đầy tin tưởng kêu xin Chúa.
      • Bị bỏ rơi, một trải nghiệm đau đớn gắn liền với cuộc đời. Chúng ta nên có thái độ nào trong lúc bị bỏ rơi?
      • Hãy tin tưởng vào Thiên Chúa, vì sự dữ không bao giờ thắng được.
      • Bài tập sống di ngôn thứ tư của Chúa Giê-su trên Thánh Giá. 
  • Bài Tin Mừng.

33 Vào giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ khắp mặt đất mãi đến giờ thứ chín.34 Vào giờ thứ chín, Đức Giê-su kêu lớn tiếng: “Ê-lô-i, Ê-lô-i, la-ma xa-bác-tha-ni! ” Nghĩa là: “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con? “35 Nghe vậy, một vài người đứng đó liền nói: “Kìa hắn kêu cứu ông Ê-li-a.”36 Rồi có kẻ chạy đi lấy một miếng bọt biển, thấm đầy giấm, cắm vào một cây sậy, đưa lên cho Người uống mà nói: “Để xem ông Ê-li-a có đến đem hắn xuống không.”37 Đức Giê-su lại kêu lên một tiếng lớn, rồi tắt thở.38 Bức màn trướng trong Đền Thờ bỗng xé ra làm hai từ trên xuống dưới.39 Viên đại đội trưởng đứng đối diện với Đức Giêsu, thấy Người tắt thở như vậy liền nói: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa.” (Mc 15,33-39).

45 Từ giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ cả mặt đất, mãi đến giờ thứ chín.46 Vào giờ thứ chín, Đức Giêsu kêu lớn tiếng: “Ê-li, Ê-li, lê-ma xa-bác-tha-ni”, nghĩa là “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con? “47 Nghe vậy, một vài người đứng đó liền nói: “Hắn ta gọi ông Ê-li-a! “48 Lập tức, một người trong bọn chạy đi lấy miếng bọt biển, thấm đầy giấm, buộc vào đầu cây sậy và đưa lên cho Người uống.49 Còn những người khác lại bảo: “Khoan đã, để xem ông Ê-li-a có đến cứu hắn không! “50 Đức Giê-su lại kêu một tiếng lớn, rồi trút linh hồn.
51 Ngay lúc đó, bức màn trướng trong Đền Thờ xé ra làm hai từ trên xuống dưới. Đất rung đá vỡ.52 Mồ mả bật tung, và xác của nhiều vị thánh đã an nghỉ được trỗi dậy.53 Sau khi Chúa trỗi dậy, các ngài ra khỏi mồ, vào thành thánh, và hiện ra với nhiều người.54 Thấy động đất và các sự việc xảy ra, viên đại đội trưởng và những người cùng ông canh giữ Đức Giê-su đều rất đỗi sợ hãi và nói: “Quả thật ông này là Con Thiên Chúa.” (Mt 27,45-54).

 

  • Bối cảnh và ngôn ngữ.

Các sách Phúc Âm của Matthêu và của Mác-cô kể lại việc Chúa Giêsu trên Thánh Giá, đã hai lần kêu lớn tiếng. Lần thứ nhất là di ngôn thứ tư (x.Mt 27,46 và Mc 15,34), mà hai thánh sử đều trích dẫn. Còn lời thứ hai thì Mátthêu viết như sau: “Đức Giê-su lại kêu một tiếng lớn, rồi trút linh hồn” (Mt 27,50), còn Mác-cô thì viết: “Đức Giê-su lại kêu lên một tiếng lớn, rồi tắt thở” (Mc 15,37).

Như thế, di ngôn thứ tư của Chúa Giêsu được hai thánh sử Mát-thêu và Mác-cô nhắc đến. 

 Cả hai thánh sử đều kể lại, một số người đứng ở dưới Thánh Giá Chúa đã không hiểu tiếng kêu của Chúa, họ nghĩ là Chúa kêu cứu ông Ê-li-a, và họ còn chế diễu: “Để xem ông Ê-li-a có đến đem hắn xuống không” (Mc 15,36). Trong Do Thái giáo, Ê-li-a được coi như là người thường hay giúp đỡ những người cùng khổ.[4] Tuy nhiên, qua sự trích dẫn lời kêu cầu của Chúa bằng tiếng A-ram và Híp-ri của hai thánh sử, các nhà chú giải Thánh Kinh đã nhận thấy đó là những câu đầu tiên của Thánh Vịnh 22. Đó là về mặt ngôn ngữ của di ngôn, giờ đây chúng ta đi vào yếu tố thời gian của di ngôn.

  • Yếu tố thời gian.

Về thời gian của di ngôn, cả hai thánh sử đều nói là giờ thứ chín, nghĩa là ba giờ chiều theo lịch thời gian của chúng ta hiện nay. Để đi sâu vào ý nghĩa của thời gian mà Chúa Giêsu bị đóng đinh nói lên lời cuối cùng này, chúng ta lắng nghe suy tư của Đức Benedicto XVI: “Như chúng ta đã nghe, đây là điều mà Thánh Mác-cô viết: “Vào giờ thứ sáu (buổi trưa), tối tăm bao trùm khắp mặt đất đến giờ thứ chín (ba giờ chiều). Và vào giờ thứ chín, Chúa Giê-su kêu lên một tiếng lớn: ‘Ê-lôi, Ê-lôi, la-ma xa-bác-tha-ni!’ Nghĩa là: ‘Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (15,34). Trong cấu trúc của tường thuật, lời cầu nguyện, tiếng kêu của Chúa Giê-su ở tột đỉnh của ba giờ đen tối này, từ trưa cho đến ba giờ chiều, là những giờ mà tăm tối bao trùm khắp mặt đất. Ba giờ đen tối này là sự tiếp tục của một khoảng thời gian trước đó, cũng ba giờ, bắt đầu với việc đóng đinh Chúa Giêsu. Thực ra, thánh sử Mác-cô cho cho chúng ta biết rằng:“Khi đó là giờ thứ ba (chín giờ sáng), và chúng đóng đinh Người” (x.15,25). Chung quy thì những dấu chỉ về thời gian của tường thuật cho thấy rằng sáu giờ của Chúa Giê-su trên Thánh Giá được chia thành hai phần bằng nhau theo thứ tự thời gian.

Trong ba giờ đầu, từ chín giờ sáng đến trưa, chúng ta thấy sự chế nhạo của các nhóm người khác nhau, là những kẻ bày tỏ sự hoài nghi của họ và xác định rằng họ không tin. Thánh Mác-cô viết: “Những kẻ qua lại chế nhạo Người” (Mc 15,29), “Cũng vậy, các trưởng tế và luật sĩ đều chế giễu Người” (Mc 15,31), và“những tên cùng bị đóng đinh với Người cũng xỉ vả Người” (Mc 15,32). Trong ba giờ tiếp theo, từ trưa đến ba giờ chiều, thánh sử chỉ nói về bóng tối bao trùm khắp mặt đất: một mình bóng tối chiếm toàn cảnh mà không đề cập đến những chuyển động hay lời nói nào của các nhân vật. Khi Chúa Giê-su gần cái chết hơn bao giờ hết, chỉ có bóng tối đang bao trùm ‘khắp mặt đất’. Ngay cả vũ trụ cũng tham gia vào biến cố này: bóng tối bao phủ người và sự vật, nhưng ngay cả trong giờ đêm tối này Thiên Chúa vẫn hiện diện, Ngài không từ bỏ”. Và Ngài đã lên tiến. Tiếng kêu lên với Cha trên trời như một lời cầu nguyện của người Con yêu dấu của Cha. Như đã nói ở trên, tiếng kêu đó Chúa Giê-su đã trích dẫn từ Thánh Vịnh 22.

  • Lời cầu nguyện của người lành thánh gặp khổ đau. 

Thánh Vịnh 22 nói về người lành thánh gặp đau khổ và đã kêu cầu đến Chúa, và Chúa đã nhậm lời. Đức Benedicto XVI đã chia sẻ về Thánh Vịnh này như sau: “Thánh Vịnh này luôn xuất hiện trong những tường thuật về Cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu, với cả hai bình diện chịu sỉ nhục và vinh quang, sự chết và sự sống. Đó là Thánh Vịnh 22 theo truyền thống Do Thái hay Thánh Vịnh 21 theo truyền thống La-Hy, một lời cầu nguyện chân thành và cảm động, có sự phong phú về thần học và chiều sâu về nhân bản, khiến nó trở thành một trong những Thánh Vịnh được ưa thích và nghiên cứu nhiều nhất trong các Thánh Vịnh…Thánh Vịnh này trình bày hình ảnh của một người vô tội bị lùng bắt và bao vây bởi những kẻ thù muốn cho ông chết, và ông cầu cùng Thiên Chúa bằng một lời than thở đớn đau, trong niềm xác tín của đức tin, mở ra một cách bí nhiệm để chúc tụng. Trong lời cầu nguyện của ông, thực tại kinh hoàng của hiện tại và đầy an ủi trong quá khứ thay phiên nhau trong một ý thức đau đớn về tình trạng tuyệt vọng của mình, nhưng không muốn làm cho mình mất hy vọng. Lời kêu than lúc đầu của ông là một lời khẩn cầu cùng một Thiên Chúa dường như xa cách, không đáp lời ông và có vẻ đã bỏ rơi ông”.[6] Lời đầu tiên của Thánh Vịnh là:

“Ôi Thiên Chúa của con! Ôi Thiên Chúa của con! Sao Ngài lại nỡ bỏ rơi con?

Dù con thảm thiết kêu gào, nhưng ơn cứu độ nơi nào xa vời! (Tv 22,2).

Chúa Giê-su trên Thánh Giá đã thốt lên lời cầu nguyện này. Thật vậy, cả hai thánh sử đều kể lại rằng, Chúa Giê-su đã kêu lớn tiếng. Theo Pesch, việc kêu lớn tiếng là tính cách của việc cầu nguyện kêu xin lớn tiếng. Điều này tương hợp với lời Thánh Vịnh “Dù con thảm thiết kêu gào” (Tv 22,2b).

Lời cầu nguyện kêu xin lớn tiếng của Chúa “diễn tả tình trạng cô độc của Đấng Thiên Sai, Con Thiên Chúa, Người đang đối diện với thảm trạng bị chết, một thực tại hoàn toàn trái ngược với Chúa sự sống. Bị hầu hết những người thân yêu của Mình bỏ rơi, bị các môn đệ phản bội và chối từ, bị vây quanh bởi những kẻ nhục mạ Người, Chúa Giêsu đang bị đè nghiến bởi sức nặng của một sứ mệnh phải trải qua sỉ nhục và hủy diệt. Vì lý do đó mà Người than khóc cùng Chúa Cha, và nỗi thống khổ của Người được diễn tả qua những lời đớn đau của bài Thánh Vịnh”. 

… tại sao Thiên Chúa quyền năng không thể can thiệp vào biến cố đau thương này của Con mình, tại sao Ngài lại im lặng?

  • Thiên Chúa quyền năng im lặng trước khổ đau của Người Con yêu dấu? 

Trước hết, chúng ta thấy Đức Benedicto XVI đã đặt ra vấn nạn sau, khi Ngài suy niệm về di ngôn này: “Nhưng một câu hỏi phát ra trong trí chúng ta: làm sao mà một Thiên Chúa quyền năng như thế lại không can thiệp để tránh cho Con mình sự thử thách khủng khiếp này? Điều quan trọng là phải hiểu rằng lời cầu nguyện của Chúa Giêsu không phải là tiếng kêu của một người gặp gỡ cái chết trong tuyệt vọng, cũng không phải là tiếng kêu của một người biết rằng mình đang bị bỏ rơi. Trong giây phút ấy, Chúa Giê-su đã áp dụng toàn bộ bài Thánh Vịnh 22 cho mình, Thánh Vịnh cao cả của dân Israel đau khổ, và như thế Người tự mình gánh lấy không những chỉ nỗi thống khổ của dân Người, mà còn của tất cả mọi người bị sự dữ áp đảo, và đồng thời, Người mang tất cả những điều này đến trước trái tim của chính Thiên Chúa, trong khi tin chắc rằng tiếng kêu của Người sẽ được Thiên Chúa nghe trong biến cố Phục Sinh, “tiếng kêu của đau khổ tột cùng đồng thời vẫn là niềm tin chắc chắn về một câu trả lời từ Thiên Chúa, niềm tin chắc chắn về ơn cứu độ – không chỉ cho chính Chúa Giê-su, nhưng còn cho ‘nhiều người’” (Chúa Giê-su Thành Nazareth II, 239-240)”. 

Im lặng theo cái nhìn đầu tiên là không có tiếng nói, nhưng thực ra thì im lặng chính là một cách thức để nói. Vì thế, Thiên Chúa im lặng trong biến cố này, không có nghĩa là Ngài vắng mặt và không nói gì. Đức Benedicto XVI đã nói rằng: “Thiên Chúa nói qua sự im lặng: Sự im lặng của Thiên Chúa, cảm nghiệm về sự xa cách của Đấng Toàn Năng và Chúa Cha, là một quãng đường quyết định trong cuộc hành trình dương thế của Con Thiên Chúa, Ngôi Lời Nhập Thể. Khi bị treo trên cây gỗ Thánh Giá, Người đã than khóc về nỗi đau khổ mà sự im lặng như thế gây ra cho Người: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của Con, sao Cha nỡ bỏ rơi Con?” (Mc 15 34; Mt 27,46)…Nhưng sự im lặng của Thiên Chúa, như Chúa Giêsu cũng đã cảm thấy, không phải là dấu chỉ của sự vắng mặt của Ngài. Người Kitô hữu biết rằng Chúa hiện diện và lắng nghe, ngay cả trong đêm đen của đau khổ, bị khước từ và cô đơn. Chúa Giêsu bảo đảm với các môn đệ của Người, và với mỗi người trong chúng ta rằng, Thiên Chúa biết rõ các nhu cầu của chúng ta, trong mọi hoàn cảnh của đời sống chúng ta”. Như thế, sự im lặng của Chúa Cha không có nghĩa là sự bỏ rơi, nhưng là một cuộc gặp gỡ thật sự, cuộc gặp gỡ trong thinh lặng của Cha với Con yêu dấu.… 

Theo Anselm Gruen, khi Chúa Giê-su cầu nguyện với toàn bộ Thánh Vịnh 22, thì mầu nhiệm sự chết của Chúa mang một điều mới mẻ. Trên Thánh Giá Chúa Giêsu đã đón nhận tất cả mọi nỗi thống khổ, nhưng Ngài đã bám chặt vào Thiên Chúa. Ngài đã trình bày với Chúa về việc Ngài cảm thấy bị bỏ rơi. Và trong tình trạng bị bỏ rơi này, Ngài đã biết chắc là Thiên Chúa lắng nghe Ngài và đón nhận Ngài. Vì thế Chúa Giê-su trong nỗi thống khổ đã cầu nguyện với tất cả niềm tin tưởng. Và trong các câu cuối của Thánh Vịnh Ngài đã cầu nguyện:

“Mọi kẻ ngủ yên trong lòng đất
sẽ đều bái lạy một mình Người,
phàm những ai trở về cát bụi
sẽ cùng phủ phục trước Thánh Nhan.
Phần tôi, nguyện sẽ sống cho Chúa”
 (Tv 22,30)
.

sẽ đều bái lạy một mình Người,

phàm những ai trở về cát bụi

sẽ cùng phủ phục trước Thánh Nhan.

Phần tôi, nguyện sẽ sống cho Chúa” (Tv 22,30).

Elie Wiesel, một nạn nhân và cũng là nhân chứng về sự tàn ác của chế độ Phát-xít Đức. Ông đã từng phải sống trong trại tập trung Auschwitz và Buchenwald, nhưng may mắn cuối cùng ông được cứu thoát. Elie Wiesel người gốc Do-thái và là một học giả nổi tiếng, ông không ngừng đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, và đã nhận giải Nobel hoà bình năm 1986. Elie Wiesel đã chia sẻ về một cuộc xử từ bằng cách treo các tù nhân thật dã man trong trại tập trung ở Auschwitz.

Có hai người trưởng thành và một cậu bé bị treo lên một cây cột, cậu bé này được mọi người thương yêu. Tất cả các tù nhân phải đứng thành hàng lối trật tự trước ba người bị treo trên cột, để nhìn họ chết như thế nào.

Ba người bị kết án được dẫn lên trên các cái ghế. Ba cái đầu được đưa vào trong cái ba cái dây thòng lọng đang chuẩn bị siết cổ.

“Tự do vẫn tồn tại!”, hai người trưởng thành kêu lớn.

Cậu bé kia thì im lặng.

“Chúa ở đâu, Ngài ở đâu rồi?”, một người đàng sau tôi lên tiếng hỏi.

Tên chỉ huy trại ra hiệu và ba chiếc ghế bị xô đổ.

Trong trại một sự im lặng tuyệt đối bao trùm. Mặt trời đã lặn rồi…

Hai người trưởng thành đã chết. Lưỡi của họ sưng lên và lè ra với một màu xanh. Còn cái thòng lọng thứ ba không được cột kỹ lưỡng. Cậu bé kia vẫn còn sống…

Hơn nửa tiếng đồng hồ cậu bé bị treo lơ lửng như vậy, trước mặt chúng tôi cậu đang chiến đấu giữa sự sống và sự chết. Còn chúng tôi phải nhìn thẳng vào mặt cậu bé. Khi tôi đi ngang qua chỗ cậu bị treo, tôi cảm nhận cậu vẫn còn sống. Lưỡi cậu vẫn còn đỏ, đôi mắt của cậu chưa đóng lại.

Đàng sau tôi lại một giọng nói:

“Chúa đâu rồi?”

Tôi nghe một giọng nói khác trả lời:

“Chúa ở đâu sao? Chúa ở đó, Ngài đang bị treo trên cây gỗ kia kìa…”.

Một câu chuyện khác về Primo Levi, một người Ý gốc Do-thái. Anh này cũng ở trong trại tập trung Auschwitz. Anh kể lại rằng, một ngày nọ tất cả đều bị bỏ đói và khát khủng khiếp. Anh nhìn thấy thùng nước bị đông đá, anh đưa tay để mong lấy chút đá để uống, nhưng các tên lính gác đã ngăn cản anh. Khi Levi hỏi: “tại sao?”. Một tên lính gác nói: Ở đây không có hai chữ “tại sao”.

Tất cả chúng ta đều có thể trải nghiệm những hoàn cảnh thật ngớ ngẩn và đồi bại không có chữ “tại sao”. Như vậy, chúng ta không thể tìm cho được câu trả lời nào. Tất cả điều mà chúng ta có thể làm được, là tin tưởng rằng, Thiên Chúa đang ở đó. 

Chúa ở đó, dù chúng ta có rơi vào hoàn cảnh đau thương đến mấy, và ngay lúc chúng ta tưởng rằng Chúa bỏ rơi chúng ta, thì Chúa lại cho chúng ta biết Ngài ở thật gần bên chúng ta. Chính Chúa là mẫu gương cao vời dạy chúng ta biết điều đó, và Ngài cũng nói với chúng ta cần kiên tâm và tin tưởng trong mọi hoàn cảnh, ngay cả lúc phải đối diện với sự chết. Trong những lúc như vậy, chúng ta không bao giờ quên kêu cầu lên Thiên Chúa với một niềm tin sắt đá không lay chuyển.

  • Lời kêu cầu của niềm tin sắt đá không lay chuyển. 

Lạy Thiên Chúa của Con, lạy Thiên Chúa của Con, sao Ngài bỏ rơi Con?

Nếu đọc lời kêu cầu lớn tiếng của Chúa, di ngôn thứ tư của Ngài trên Thánh Giá, chúng ta dễ dàng cho rằng, đó là một tiếng kêu cầu đầy sợ hãi và bối rối, tiếng kêu của những người bị dồn vào ngõ cụt của cuộc đời. Có lẽ các thánh sử cũng muốn diễn tả tâm trạng thực sự đó của Chúa Giêsu. Tuy nhiên, lời kêu cầu này còn diễn tả một niềm tin mãnh liệt của Chúa Giêsu. Theo Pesch: “Lời kêu cầu của Chúa không phải là tiếng kêu bối rối hãi sợ, mà là một sự biểu lộ của niềm tin, một cách diễn tả về niềm tin sắt đá không lay chuyển khi ở trong hoàn cảnh đau khổ nhất. Trong đêm tối của tâm trạng ‘bị Thiên Chúa bỏ rơi’, Chúa Giê-su trong cầu nguyện đã hướng nhìn đến Thiên Chúa”. Thật vậy, chính trong hoàn cảnh tưởng chừng vắng bóng Thiên Chúa, Chúa Giê-su đã hướng nhìn đến Thiên Chúa. Vời những lời đầu tiên trích dẫn từ Thánh Vịnh 22, Chúa bước trong sự hoài nghi và hãi sợ, nhưng rồi Chúa đã xuyên suốt qua đó để đi vào chiều sâu của niềm tin vào Thiên Chúa, Đấng

“đưa con ra khỏi thai bào,

vòng tay mẹ ẵm Chúa trao an toàn.

Chào đời con được dâng cho Chúa,

được Ngài là Chúa tự sơ sinh” (Tv 22,10-11). 

… 

Chúa Giê-su đã bước qua tình trạng hoài nghi hãi sợ và bối rối, để đi vào niềm tin mãnh liệt, niềm tin sắt đá không lay chuyển. Niềm tin vào sự hiện diện của Thiên Chúa, ngay cả trong bóng tối của tử thần, Thiên Chúa vẫn ở bên. Qua niềm tin mãnh liệt vào Thiên Chúa và qua tình yêu trung tín cho đến giây phút cuối cùng của Chúa Giê-su, mà cái chết của Chúa Giê-su đã trở thành một hành động đem lại ơn cứu rỗi cho nhân loại. 

Qua đó, chúng ta mới thấy ý nghĩa cao cả của lời kêu cầu của Chúa, như thần học gia Ratzinger, diễn tả trong tác phẩm căn bản Einfuehrung in das Christentum – Dẫn vào Ki-tôn giáo: “Lời cầu nguyện này trào lên từ nỗi đau khổ tột cùng vì Thiên Chúa như vắng bóng, nhưng lại kết thúc bằng lời ca ngợi sự cao cả của Người. Tiếng kêu hấp hối của Đức Giêsu cũng mang ý nghĩa như thế”. 

Ngoài ra, lời kêu cầu của Chúa Giê-su lên Cha còn diễn tả sự hiệp thông của Chúa với chúng ta, những con người luôn có thể gặp đau khổ. Lúc đó chúng ta cần xin Chúa cho mình có được niềm tin mạnh mẽ và hướng nhìn lên Chúa để kêu lên Ngài. Thật vậy, chúng ta được phép kêu xin Ngài với chính lời Thánh Vịnh 22.

  • Đưa con ra khỏi thai bào, vòng tay mẹ ẵm Chúa trao an toàn.

Khi Chúa nói lời xin vâng để đồng ý cho chúng ta bước ra khỏi bào thai của người và bước vào cuộc đời, thì lời xin vâng của Chúa sẽ đồng hành và hiện diện bên chúng ta mãi mãi, để Ngài bồng ẵm và âu yếu, để Ngài che chở và đỡ nâng và để Ngài cho chúng ta một nơi tin tưởng và hy vọng. Vì thế, ở trong mọi hoàn cảnh chúng ta đều có thể kêu xin Chúa, Đấng giàu lòng thương xót, nhất là khi chúng ta rơi vào hoàn cảnh đau khổ nhất. Thánh Vịnh 22 chính là lời cầu nguyện của chúng ta, khi chúng ta đau khổ và cầu cứu lên Thiên Chúa, Ngài chắc chắn sẽ nhậm lời.

“Lạy Thiên Chúa của Con, lạy Thiên Chúa của Con, sao Ngài bỏ rơi Con? Đó là lời của Chúa. Làm sao con dám coi như lời của con? Làm sao con dám đem đau khổ của con để sánh với những thống khổ của Chúa? Làm sao con dám trèo lên thập giá mà thốt ra lời thở than của Chúa, lời muôn đời được thánh hiến nhờ cuộc tử nạn cá biệt của Chúa? Con biết Thánh Vịnh này của Chúa…Dù vậy, con cảm thấy Thánh Vịnh này cũng thuộc về con, trong cuộc đời con cũng có những giờ phút con được quyền và cần được thốt ra những lời ấy như tiếng vọng khiêm tốn từ những lời của Chúa. Con cũng sẽ gặp gỡ cái chết một lần nơi thân xác, và nhiều lần với nỗi cô quạnh tâm hồn trong khi phiêu bạt qua những khoảng tối trên trần gian này. Lạy Chúa, con không dám sánh mình với Chúa, nhưng con cũng gặp đắng cay và tuyệt vọng, cũng cảm thấy cô đơn và bị phụ bạc. Con cũng cảm thấy bị Chúa Cha ruồng rẫy, và những lời ấy đã vuột từ từ đôi môi khô nẻ của con: Lạy Thiên Chúa của Con, lạy Thiên Chúa của Con, sao Ngài bỏ rơi Con?”

“Thân sâu bọ chứ người đâu phải,

con bị đời mắng chửi dể duôi,

thấy con ai cũng chê cười,

lắc đầu bĩu mỏ buông lời mỉa mai” (Tv 22,7-8).

Chúa ơi, lời Thánh Vịnh này cũng diễn tả thân phận của con nữa, nhất là khi con rơi vào trong những nỗi đau khổ tuyệt vọng, đến nỗi con thấy phận người của mình sao mà thê lương quá. Vâng, “khi đau thương phủ bóng, nó làm cho mọi người nên như nhau. Cuộc sống mất hết ý nghĩa; chẳng còn gì ý vị; mọi mùi vị đều trở nên đắng cay và mọi sắc màu đều biến thành tối đen. Cuộc đời không còn mục đích. Mắt nhìn không thấy lối đường, và đôi chân ì ạch lê bước. Tại sao lại phải ăn, phải thở, lại phải sống? Đã tang thương cùng cực thì ai cũng như nhau, và chỉ những ai đã từng nếm trải mới biết điều ấy. Con biết những tang thương của con, và con biết đó là cái chết trong một cơ thể còn đang sống. Hoàn toàn cô đơn. Tột cùng chịu đựng. Mút cùng thất vọng. Đau khổ làm cho mọi người trở nên như nhau; và đau khổ tinh thần đến chỗ tột độ là thứ đau khổ khủng khiếp nhất. Con đã biết màu tối đen của nó”.

“Lạy Chúa con thờ, muôn lạy Chúa,
Ngài nỡ lòng ruồng bỏ con sao?
Dù con thảm thiết kêu gào,
nhưng ơn cứu độ nơi nao xa vời!
Ngày kêu Chúa, không lời đáp ứng,
đêm van Ngài mà cũng chẳng yên”
 (Tv 22,2-3).

Ngài nỡ lòng ruồng bỏ con sao?

Dù con thảm thiết kêu gào,

nhưng ơn cứu độ nơi nao xa vời!

Ngày kêu Chúa, không lời đáp ứng,

đêm van Ngài mà cũng chẳng yên” (Tv 22,2-3).

Chúa ơi, Chúa không xa con, nhưng hình như Chúa vắng mặt lúc này? “Chúa ở đâu khi đêm đen bủa xuống hồn con? Lạy Thiên Chúa con, con kêu thâu ngày mà Người chẳng đáp, đêm đến, con cũng chẳng được nguôi ngoai. Thật vậy, chính sự vắng mặt của Chúa đã gây nên nỗi thống khổ của con. Giả như Chúa ở bên cạnh, có lẽ con sẽ chịu nổi cảnh tân toan ấy và kiên cường trước mọi giông tố.  

Chúa ơi, thật ra, những lời con than trách kỳ thực chỉ là một hành vi tin tưởng vào Chúa. Con than thở Chúa đã bỏ rơi con chỉ vì con biết Chúa vẫn hiện diện ở đó. Lạy Chúa, xin hãy tỏ mình ra cho con đi mà. Xin dang tay ra và xua tan bóng đen đang bủa vây con. Xin ban lại hy vọng cho linh hồn con và sức mạnh cho thần xác con. Xin kết thúc nỗi cùng khốn cho con, và xin cho con hoá thân thành một người hoan lạc, tin tưởng và tràn đầy nhiệt huyết. Xin cho con được như ngày trước, được nghiệm thấy sự hiện diện của Chúa và tán tụng ngợi khen Chúa. Đó là cuộc vượt qua từ cõi chết đến cõi sống, và con muốn làm chứng rằng, chính quyền năng Chúa đã đưa linh hồn con ra khỏi chốn thất vọng, như một biểu chứng về quyền năng Chúa dẫn đưa nhân loại vào cuộc sống muôn đời…

  • Không có sức mạnh nào ngăn chặn lời kêu cầu của người đau khổ, nhưng tràn đầy tin tưởng kêu xin Chúa.

 Nếu nhìn vào cuộc đời hoạt động của Chúa Giê-su, chúng ta thấy rằng, Ngài luôn luôn chú ý đến những anh chị em bất hạnh. Trái tim nhân hậu giàu lòng thương xót của Chúa luôn tìm thấy nhịp đập của những tâm hồn thống khổ, đôi tai Ngài rất thính trước những lời kêu xin của người nghèo khổ và bất hạnh, dù họ còn có khả năng kêu lên Chúa, hay không còn khả năng thốt lên lời. Người bạn hành khất Bác-ti-mê của chúng ta là một điển hình sống động.

Dưới sức nặng của chiếc áo choàng đè trên vai, anh Bác-ti-mê đã từ lâu rồi ngồi bên cửa thành Giê-ri-cô, để xin ăn, để chờ đợi những bàn tay nhân ái bố thí. Và một ngày nọ nhưng không giống như mọi ngày, anh nghe tin có Đức Giê-su Na-da-rét đi ngang qua nơi anh ngồi, với niềm tin vào Chúa, anh đã kêu lên: “Lạy ông Giê-su, Con vua Đa-vít, xin rủ lòng thương tôi!” Một lời kêu xin rất chân thật, rất khẩn thiết, lời kêu xin của kẻ tin. Chúa có nghe anh không? Chưa biết. Chúng ta chỉ biết rằng, nhiều người đứng ở đó đã quát mắng Bác-ti-mê, một kẻ hành khất, bắt anh phải im tiếng, bắt kẻ tin phải câm lặng. Không lẽ chỉ có những người giàu có, những người tự cho mình là đạo đức, những người hiểu biết và có vai vế mới có quyền kêu lên với Chúa? Nếu quyền làm người không ai cướp đi được, thì quyền cầu nguyện, quyền kêu cầu lên Chúa không ai được phép lấy mất đi. Chẳng màng tới sự quát nạt, anh ta vẫn tin tưởng và kêu lớn tiếng hơn nữa “Lạy ông Giêsu, Con vua Đa-vít, xin rủ lòng thương tôi!” Lòng nhân hậu xót thương của Chúa không bao giờ điếc với những ai tin tưởng vào Ngài. Chúa Giê-su đã nghe lời kêu cầu của anh, và Chúa đã chẳng coi thường, chẳng khinh miệt anh là kẻ nghèo hèn khốn khổ, mang thân phận hành khất, Ngài cũng không ngoảnh mặt làm ngơ giả điếc bước đi tiếp để tránh bị quấy rầy, nhưng Ngài đã thương nghe lời cầu cứu, và dừng bước kêu anh lại, kẻ tin vào Ngài. Một cuộc gặp gỡ của lòng xót thương nhân hậu với tâm hồn thống khổ. Cuộc gặp gỡ của niềm tin. Cuộc gặp gỡ đó đã tháo cởi chiếc áo choàng nặng nề, như là biểu hiện của người ăn xin ra khỏi anh Bác-ti-mê, và sự mù loà đã phải trở về lại chỗ của nó, để trả lại cho Bác-ti-mê một thế giới của Ánh Sáng. Ánh Sáng soi chiếu anh bước đi theo Chúa trên con đường Chúa đi.

Lời kêu cầu của những con người bất hạnh và đau khổ luôn là quyền căn bản và quan trọng, đưa họ đến gần với Chúa. Không có ai và không có thế lực nào có thể cấm cản những người bất hạnh tin tưởng kêu cầu cùng Chúa. Dù đôi khi chúng ta tưởng rằng Chúa vắng mặt và im lặng, nhưng thực ra Ngài luôn hiện diện ở bên và lắng nghe chúng ta. Ngài ở bên chúng ta, lúc chúng ta cảm thấy mình bị mọi người bỏ rơi. Ngay cả khi cha mẹ, người phối ngẫu và cả những người bạn tri kỷ nhất bỏ rơi chúng ta, Chúa vẫn ở cạnh chúng ta. Cả những khi chúng ta rơi vào tình trạng đau khổ của bệnh nan y không còn cứu chữa được nữa, cả khi chúng ta bị sự dữ dồn vào đường cùng và manh nha nuốt chửng chúng ta, thì Thiên Chúa như người mục tử nhân hậu, Ngài vẫn ở bên cạnh chúng ta. Chúng ta chỉ cần tin tưởng và cầu nguyện. Chúng ta được phép kêu lớn tiếng lên với Chúa. Chúng ta được phép khóc lóc kêu gào với Chúa. Niềm tin luôn có chỗ cho nước mắt, niềm tin luôn đón chào những lời kêu gào lên với Chúa. Chúa sẽ không bao giờ đóng cánh cửa của căn nhà nhân hậu đối với chúng ta. Vì thế, không có sự sợ hãi nào, không có thế lực của sự dữ nào có thể cướp mất mạng sống của chúng ta, linh hồn của chúng ta, nếu chúng ta tin tưởng vào Chúa.

Tiếng kêu lớn tiếng của Chúa Giêsu với Cha trên trời thật là một di ngôn tuyệt vời. Di ngôn chất chứa sự sợ hãi, hoài nghi và bối rối lúc đầu, tìm thấy được sự trọn vẹn tuyệt vời ở khúc kết. Sự trọn vẹn của niềm tin tưởng mãnh liệt vào Chúa. Đó là sự thánh hoá mà niềm tin đem lại. Sức mạnh của niềm tin là thế đó. Niềm tin vào Thiên Chúa, Đấng là khởi đầu, là trung tâm điểm và là cùng đích của mỗi phận người chúng ta. Ở đây, thần học gia Ratzinger nói rằng: “Ernst Kaesemann mô tả tiếng kêu đó như lời kinh vọng lên từ vực sâu, như tấm bia ghi khắc giới răn thứ nhất dựng đứng trong sa mạc xem ra hoang vắng Thiên Chúa. ‘Nhưng Người Con vẫn giữ vững niềm tin, dù niềm tin dường như mất hết ý nghĩa, và thực tế rõ ràng cho thấy Thiên Chúa vắng bóng và lời của tên cướp thứ nhất cũng như của đám đông chế giễu không phải là vô lý. Tiếng kêu của Người không vì ham sống hay sống còn, cũng không vì bản thân mình, nhưng vì Cha mà thôi. Một tiếng kêu đối kháng lại tất cả thực tại trần gian’. Vậy giờ đây, chúng ta có còn phải băn khoăn với câu hỏi: thế nào là thờ phượng trong giờ phút đen tối của cuộc đời ?”[22] Chính trong những giờ phút đen tối đó, giờ phút chúng ta trải nghiệm sự bỏ rơi, chúng ta cần phải hướng về Chúa hơn nữa, để thờ lạy, để tin tưởng, vì chính Ngài là nguồn hy vọng của Chúa ta.

  • Bị bỏ rơi, một trải nghiệm đau đớn gắn liền với cuộc đời. Chúng ta nên có thái độ nào trong lúc bị bỏ rơi?

Nếu chính Chúa Giê-su cũng đã phải trải nghiệm sự bỏ rơi của Cha trên trời, ở trong hoàn cảnh thống khổ của Ngài, thì một cách nào đó Ngài cũng mời gọi chúng ta cùng với Ngài đón nhận những giây phút chúng ta bị bỏ rơi trong hành trình cuộc sống.

Nếu chúng ta sẵn sàng đón nhận, nghĩa là chúng ta cho phép việc “bị bỏ rơi” có mặt trong cuộc đời chúng ta. Dù cho mỗi lần bị bỏ rơi, chúng ta đều phải đón nhận những đau đớn, cô đơn, buồn tủi và đôi khi thất vọng hoàn toàn. 

Ngay từ thuở ấu thơ, khi mới sinh vào cuộc đời, chúng ta đã nếm cảm được trải nghiệm của sự bỏ rơi. Là trẻ thơ chúng ta sẽ khóc thét lên, khi cha mẹ chúng ta bỏ chúng ta một mình trong nôi, trong chiếc võng “trống vắng” kia.

… Ngay từ ấu thơ và thời thiếu nhi và thiếu niên, trải nghiệm “bị bỏ rơi” đã đồng hành với chúng ta. 

Và trải nghiệm này tiếp tục đến với chúng ta, khi các đấng sinh chúng ta vào cuộc đời, ấp ủ yêu thương và dạy dỗ chúng ta từ tấm bé cho tới lớn khôn, giờ đây qua đời và bỏ rơi chúng ta. Có giọt nước mắt nào không chứa đựng đau đớn và buồn tủi, khi mất cha mất mẹ? Bản thân tôi đã cảm nghiệm, khi cha mẹ qua đời. Khi đi làm mục vụ đám tang cho những người cao niên, chứng kiến khung cảnh của các người con quây quần xung quanh quan tài của cha hay của mẹ, để nhìn cha nhìn mẹ lần cuối cùng, trước khi quan tài được đậy nắp, thật xúc động biết bao. Tiếng kêu la, tiếng than khóc, sự bùi ngùi của chia ly vĩnh biệt, và trong đó có cả cái buồn đau vì “bị bỏ rơi”… Làm sao có thể lý giải được huyền nhiệm của sự chết? Câm lặng sẽ còn câm lặng hơn, khi cảm giác cha mẹ bị “con cái” bỏ rơi để về với Chúa trước cha mẹ, trước ông bà, trước mọi người thân trong gia đình. Dù có khóc lóc thảm thiết, kêu gào thế nào, thì phận người vẫn bị bỏ rơi.

image.png

“Bị bỏ rơi” thuộc về cuộc đời này, dù chúng ta có chấp nhận hay không. Mỗi lần bị bỏ rơi là mỗi lần chúng ta sợ hãi. Nói khác đi, chúng ta luôn sợ hãi bị bỏ rơi. Tình yêu đôi lứa thật đẹp biết bao, bởi vì tình yêu làm nên giá trị của đời người, làm cho con người cảm nhận được hạnh phúc và cuộc đời thật đẹp, cuộc đời thật đáng sống. Nhưng trong tình yêu đôi lứa, tình yêu vợ chồng vẫn có một mùi vị của sợ hãi. Sợ người yêu, người bạn đời không trung thành, và bỏ rơi mình. Trong tình bạn bè, tình đồng nghiệp cũng không thiếu vắng mùi vị “bị bỏ rơi” và “chia tay”. Nhiều người không có khả năng và không chấp nhận “chia tay” và không chấp nhận “bị bỏ rơi”.

Rồi còn chiến tranh mà con người chúng ta gây ra cho nhau đã tạo nên biết bao cuộc bỏ rơi. Những em bé mất cha mất mẹ và đôi khi mất hết mọi người thân trong những cuộc chiến. Tuổi thơ chẳng tội tình gì, giờ bị bỏ rơi giữa biển đời nhiều sóng gió. Cảnh cha mất con, vợ mất chồng vì chiến tranh có lẽ không còn lạ lẫm gì trong thế giới chúng ta. Như thế, chúng ta mới thấy việc “bị bỏ rơi” là một điều gì rất thật và thuộc về cuộc sống của con người.

Anselm Gruen, một tâm lý gia và nhà thiêng liêng học đã nói rằng, trong con người chúng ta luôn có “một em bé bị bỏ rơi”. Chúng ta mang em bé này trong lòng mình, dù chúng ta có muốn hay không…

Như thế, điều chúng ta cần làm trong lúc bị bỏ rơi là hướng về Chúa Giê-su, và lắng nghe lời kêu cầu của Chúa Giêsu với Chúa Cha. Lời này khuyến khích chúng ta hãy đón nhận hoàn cảnh bị bỏ rơi của chúng ta. Chúa Giê-su, Đấng trải qua hoàn cảnh bị bỏ rơi, và trong cầu nguyện Ngài đã thánh hóa sự bị bỏ rơi đó trở thành niềm tin tưởng vững vàng. Chính Ngài cũng muốn thánh hoá và biến đổi nỗi sợ hãi của chúng ta thành một niềm tin tưởng, là Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta. Như vậy, cầu nguyện là thái độ căn bản và quan trọng trong những lúc chúng ta bị bỏ rơi. Hãy cầu nguyện và trung thành cầu nguyện luôn mãi! Đừng buông xuôi và đừng bỏ rơi việc cầu nguyện! Khi chúng ta không bỏ rơi cầu nguyện, là chúng ta không bỏ rơi Thiên Chúa, khi chúng ta không bỏ rơi Thiên Chúa là chúng ta không bỏ rơi bản thân mình.

Karl Rahner đã suy niệm rất hay về hình ảnh cầu nguyện của Chúa Giêsu trên Thánh Giá: “Cái chết đang đến gần với Chúa…Cái chết đang đến gần. Đó là sự trống rỗng vô ngần, sự bất lực rất tàn nhẫn, sự cô đơn dày xéo. Nơi mà tất cả đều mềm ra, tất cả đều chạy trốn, nơi tất không còn gì cả, thì có sự bỏ rơi. Sự bỏ rơi đang cháy bừng, và đó là cái chết. Và trong đêm này, trong sự trống rỗng của trái tim mà tất cả mọi sự đã bị thiêu đốt, tâm hồn của Chúa vẫn luôn chìm sâu trong cầu nguyện, và sự cô đơn tàn nhẫn của trái tim Chúa – trái tim bị thiêu đốt bởi mọi sự đớn đau – ở trong Chúa trở thành một tiếng kêu duy nhất đến Thiên Chúa. Ôi, lời cầu nguyện của đớn đau, lời cầu nguyện của tình trạng bị bỏ rơi, lời cầu nguyện của bất lực tột cùng, lởi cầu nguyện của Chúa đã bị bỏ rơi…

Lạy Chúa Giêsu, nếu Chúa trong hoàn cảnh thống khổ đó vẫn cầu nguyện, thì tận cùng ở chỗ nào đi nữa, người ta vẫn có thể kêu lên cùng Cha”. 

Cầu nguyện và cầu nguyện. Đó cũng là phương cách của cha Alfred Delp, một tu sĩ dòng Tên, sống những ngày cuối cùng trong tù của phát xít Đức ở Berlin, trước khi Ngài bị treo cổ. Cầu nguyện là ở trong tương quan thân tình với Chúa, và nhờ đó chúng ta sẽ tìm thấy được ủi an cho hành trình cuộc sống, nhất là những lúc thống khổ nhất. Paglia đã nói rất sâu sắc: “Thật vậy, trong chiều sâu của tâm hồn chúng ta phải hiểu rằng, Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi con cái của Ngài, vì trong một ý nghĩa nhất định, Ngài cần đến chúng ta, để Ngài có thể là Thiên Chúa”.

 Với Chúa Giê-su, khi chúng ta phải trải qua kinh nghiệm bị bỏ rơi và cô đơn giống Chúa, thì với Ngài chúng ta không bao giờ thất vọng, với Ngài chúng ta vẫn kêu cầu lên Cha, dù cho lúc đó bóng đêm tưởng như đang nuốt chửng lấy Ánh Sáng, sự cô đơn tưởng như đã phá tan tình yêu của Cha dành cho Con. Không, ngay trong bóng đêm dày đặc của đời mình, trong nỗi thống khổ tột cùng, với Chúa Giê-su chúng ta vẫn thốt lên lời kêu cầu. Chúa biết chắc rằng, Cha Ngài luôn ở bên và lắng nghe Ngài. Qua đó, Chúa dạy chúng ta hãy noi theo gương Ngài, theo gương anh Bác-ti-mê, không bao giờ bỏ cuộc, mà luôn kiên tâm và hướng nhìn về Chúa.

Khi giải thích những lời Đức Giêsu nói trên Thánh Giá: “Lạy Chúa Trời, lạy Chúa Trời, tại sao Ngài bỏ con?”, thánh Âu-tinh giám mục đã bàng hoàng: ‘Lạy Chúa Giêsu là Đấng trung gian, là Thiên Chúa cao cả hơn chúng con nhưng đã trở thành người vì chúng con, đây chính là do lòng thương xót của Ngài. Bởi chưng, dù cao cả nhưng Chúa đã chấp nhận bối rối hoang mang chỉ vì muốn quan tâm yêu thương chúng con. Điều này làm rất nhiều chi thể của Ngài được an ủi. Tuy xao xuyến vì bản tính yếu đuối, nhưng họ vẫn không vì thế mà tuyệt vọng và chấp nhận hư vong” (Chú giải Gioan số 52).

… Các bạn thân mến, trong cầu nguyện, chúng ta hãy mang Thánh Giá hàng ngày của mình đến dâng lên Thiên Chúa trong niềm xác tín rằng Ngài hiện diện và lắng nghe chúng ta”. 

Hơn nữa, “đặt tất cả niềm tín thác và hy vọng của mình vào Thiên Chúa Cha, và trong mọi hoàn cảnh khốn cùng, chúng ta cũng có thể cầu xin Ngài trong đức tin, và lời kêu xin giúp đỡ của chúng ta sẽ được biến đổi thành một bài ca chúc tụng”. 

Thật vậy, trong cầu nguyện và với niềm tín thác cùng hy vọng, chúng ta sẽ được Thiên Chúa đồng hành, ban ơn và giúp chúng ta biết sống như Chúa Giêsu đón nhận những đau khổ xảy đến, cũng như biết can đảm đối diện với sự dữ luôn gây ra khổ đau. Đối diện với sự dữ nhưng chúng ta xác tín rằng, sự dữ không bao giờ thắng được, vì có Chúa, Đấng quyền năng và nguồn mạch của lòng thương xót ở bên chúng ta.

  • Hãy tin tưởng vào Thiên Chúa, vì sự dữ không bao giờ thắng được. 

“Lạy Thiên Chúa của Con, lạy Thiên Chúa của Con, sao Ngài bỏ rơi Con?” Lời này không chỉ xé tan bầu khí thinh lặng, mà còn xé nát cõi lòng thâm sâu. Ngày xưa Chúa Giê-su đã kêu lên với Cha, hôm nay chúng ta có thể kêu lên với Chúa Cha như vậy không? Khi chúng ta thất bại trước cám dỗ và rơi vào trong vòng tròn tối tăm và quỷ quyệt của sự dữ, chúng ta còn có thể kêu lên như Chúa Giê-su không?

…Trong hoàn cảnh đó, chúng ta biết rằng sức chúng ta có hạn, và tự bản thân chúng ta không thể thắng vượt được thần dữ. Nhưng may thay, chúng ta có Chúa ở bên chúng ta, người Cha đã dựng nên chúng ta và đưa chúng ta vào cuộc đời, Ngài không bao giờ bỏ rơi chúng ta một mình, Ngài không bao giờ để chúng ta phải quằn quại đau đớn trong hố sâu của đêm đen mà thần dữ đang ngự trị.

Ở đây, chúng ta cũng nhớ lại lời Kinh Lạy Cha với hai câu “xin cứu chúng con ra khỏi sự dữ”, mà Chúa Giêsu đã dạy chúng ta và chúng ta ý thức rằng: “Con người sống trong lòng một thế giới luôn bị đe dọa bởi quyền lực của thần dữ, bởi sức mạnh của thế lực đen tối luôn đối nghịch với tình yêu của Thiên Chúa. Qua lời cầu nguyện căn bản này, con người xin Thiên Chúa giải thoát họ khỏi quyền lực của thần dữ, kẻ có thể bắt chúng ta, những con người yếu đuối, trở thành kẻ tòng phạm của chúng. Lời cầu xin này kết nối với lời cầu nguyện của Chúa Giê-su dành cho chúng ta : ‘Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần’ (Ga 17,15).

Chúa Giê-su tiếp tục cầu nguyện cho chúng ta, và Ngài cũng dạy chúng ta ý thức cầu nguyện luôn mãi: ‘xin cứu chúng con cho khỏi sự dữ’. Đó là một lời cầu nguyện căn bản và đầy tin tưởng, phát xuất từ chính tâm hồn của chúng ta, khi chúng ta rơi vào tay của ác thần đang giam hãm chúng ta trong đêm đen, và gây ra cho chúng ta biết bao đau khổ. Lời cầu xin này là tiếng cầu cứu của chúng ta với Thiên Chúa, một lời cầu cứu rất thật và rất đơn sơ của người con nhỏ bé và đầy giới hạn dâng lên Cha quyền năng ở trên trời.

Khi kêu cầu với Cha như vậy, là chúng ta đang tuyên xưng niềm tin vào quyền năng Thiên Chúa, vì Người đã thắng thủ lãnh thế gian này, nhờ sự chiến thắng của Đức Giêsu phục sinh. Lời cầu nguyện của chúng ta cũng là một cách kêu gọi chúng ta tỉnh thức để luôn luôn sẵn sàng đón Chúa đến. Sau hết, lời cầu nguyện ấy chính là một tiếng kêu đầy hy vọng, tin tưởng rằng ơn Chúa sẽ làm cho ‘bất cứ ai sinh bởi Thiên Chúa’ (Ga 5,18) khỏi bị nhiễm độc. Vì Chúa Cha ‘dắt ta khỏi quyền lực tối tăm, và đưa vào Nước Con chí ái của Người’ (Cl 1,13).

Trong niềm tin tưởng vào Thiên Chúa là cha giàu lòng thương xót, chúng ta tin rằng, quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi – non praevalebunt  (x.Mt 16,18b). Mặc dù tỏ ra yếu ớt, nhưng sức mạnh của thần tốt – thần lành sẽ chống trả lại với quyền lực của thần dữ và sẽ chiến thắng chúng. Đó cũng chính là sự xác tín của thánh Phao-lô tông đồ: “Chúng tôi bị dồn ép tư bề, nhưng không bị đè bẹp; hoang mang, nhưng không tuyệt vọng; bị ngược đãi, nhưng không bị bỏ rơi; bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt. Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giêsu, để sự sống của Đức Giêsu cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi” (2Cr 4,8-10).

Ngoài ra, với những câu cuối cùng của Thánh Vịnh 22, chúng ta xác tín vào sức mạnh của Thiên Chúa, là Vua Vũ Trụ, là Đấng Công Chính và luôn giàu lòng xót thương với con cái của Ngài. 

“Bởi vì CHÚA nắm quyền vương đế,

Người thống trị chư dân.

Mọi kẻ ngủ yên trong lòng đất

sẽ đều bái lạy một mình Người,

phàm những ai trở về cát bụi

sẽ cùng phủ phục trước Thánh Nhan.

Phần tôi, nguyện sẽ sống cho Chúa,

con cháu tôi sẽ phụng sự Người.

Thiên hạ sẽ nói về Đức Chúa

cho thế hệ tương lai,

truyền tụng cho hậu sinh đức công chính của Người,

rằng: Đức Chúa đã làm như vậy!” (Tv 22,29-32).

  • Bài tập sống di ngôn thứ tư của Chúa Giêsu trên Thánh Giá. 

Đến trước tôn nhan của Chúa Giêsu đang bị đóng đinh trên Thánh Giá, bạn kính cẩn cúi đầu thờ lạy Ngài. Dành một phút thinh lặng bạn chiêm ngắm Ngài. Đấng chịu chết cho bạn, vì Ngài yêu thương Bạn.

Sau đó, quỳ xuống hoặc ngồi xuống bạn tiếp tục chiêm ngắm Chúa, và lòng bạn tự nhủ: Ngài tự mình gánh lấy không những chỉ nỗi thống khổ của của tôi và của nhiều người, những nỗi thống khổ đó chúng ta chịu bởi tội lỗi chúng ta, bởi chúng ta bị sự dữ áp đảo. Ngài đang gánh mọi khổ đau của bạn, của tôi và của muôn người trên thân xác của Ngài.

Bạn hãy suy xét trong lòng: Trước tình yêu và lòng thương xót vô bờ của Chúa, tôi nên có tâm tình gì cho Chúa đây? Tôi có muốn nói gì hay làm điều gì để diễn tả lòng biết ơn của tôi, để chia sẻ phần nào nỗi thống khổ của Chúa?

Với lời kêu cầu “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?”, Chúa Giê-su diễn tả cảm nhận bị bỏ rơi của Chúa, nhưng tiềm ẩn trong lời cầu nguyện này là một niềm tin tưởng mãnh liệt vào Thiên Chúa, Đấng không bao giờ ở xa Con Một của Ngài.

Có khi nào bạn đã cầu nguyện giống Chúa Giê-su như vậy không? Bạn hãy nhớ lại giây phút đó, trải nghiệm đó. Giờ đây, một lần nữa bạn hãy dâng lời cầu  nguyện với Thiên Chúa, lời cầu nguyện gắn liền với sự kiện trước đây bạn đã gặp! Bạn có cảm thấy Chúa ở gần bạn không? Chúa đã lắng nghe bạn thế nào? Qua dấu hiệu gì bạn cảm nhận được Chúa lắng nghe bạn và yêu thương chở che bạn?

image.png

“Bị bỏ rơi” là một điều thuộc về cuộc sống của đời người. Tuy nhiên, có những “cuộc bị bỏ rơi” mà chúng ta không thể chấp nhận được. Bạn có trải nghiệm đó không? Bạn hãy nhớ lại biến cố hay sự kiện bạn bị bỏ rơi, và bạn đau khổ sợ hãi quá đỗi, đến nỗi hôm nay bạn vẫn không thể chấp nhận điều đó đã xảy ra với bạn.

Bạn xin Chúa ban thêm cho bạn ơn can đảm và niềm tin tưởng cậy trông, để bây giờ bạn nhớ lại giây phút đó, giây phút bạn bị bỏ rơi. Đừng sợ hãi quá! Hãy cứ để những cảm giác của ngày xưa trở lại. Nhưng mỗi cảm giác tiêu cực đó trở về, bạn hãy đưa đến bên Thánh Giá Chúa, dâng lên Ngài, và cùng với Chúa Giê-su bạn hãy cầu nguyện với Cha trên trời, Đấng giàu lòng thương xót đang lắng nghe và dịu dàng đón nhận tâm tình của bạn.

Bạn hãy để lòng bạn tự nhiên thúc đẩy và đánh động bạn. Nếu bạn muốn khóc, hãy để những giọt nước mắt rơi ra! Nếu bạn cảm thấy chỉ muốn đứng im lặng và hướng nhìn lên Chúa, bạn hãy làm như vậy! Có thể, bạn hãy thử đưa đôi tay của mình lên và hướng về Chúa Giêsu trên Thánh Giá, như là bạn dâng nỗi niềm đang có trong tâm hồn cho Ngài!

Ngoài ra, nếu bạn cảm thấy muốn nói gì đó với Chúa, Đấng yêu thương bạn và không bao giờ để bạn cô đơn lẻ loi một mình, bạn hãy nói với Ngài.

Kết thúc, bạn dâng lên Chúa một lời kinh Lạy Cha hay một bài hát mà bạn cảm thấy muốn hát trong lúc này.

https://www.youtube.com/watch?v=7ArShQCDA8k

Front Line Defenders: Nhà hoạt động Đỗ Công Đương bị giết trong năm 2022

RFA 2023.04.05 Ông Đỗ Công Đương trong một bài nói chuyện về sai phạm đất đai trước khi bị bắt năm 2018
Tổ chức nhân quyền Những người Bảo vệ tuyến đầu (Front Line Defenders- FLD) đưa nhà báo công dân Đỗ Công Đương của Việt Nam vào danh sách 401 người hoạt động nhân quyền trên thế giới bị giết trong năm 2022. Ông Đỗ Công Đương chết không rõ nguyên nhân trong Trại giam số 6 (Nghệ An) đầu tháng 8 năm ngoái trong khi đang thi hành án tù tám năm, thi thể của ông không được giao cho gia đình mai táng mà phải chôn luôn ngay trong nghĩa trang của trại. Tổ chức quốc tế có trụ sở tại Dublin, Ireland ghi tên ông Đương trong phần tưởng nhớ các nhà hoạt động nhân quyền bỏ mạng trong báo cáo về tình hình nhân quyền của thế giới năm vừa qua mang tựa đề Global Analysis 2022 công bố ngày 04/4. Ông Đương, sinh năm 1964, hoàn toàn khoẻ mạnh trước khi bị bắt giữ năm 2018 về cáo buộc “chống người thi hành công vụ” và “lợi dụng quyền tự do dân chủ.” Ông là một trong số nhiều tù nhân lương tâm chết trong thời gian thi hành án tù trong vài năm gần đây. Những người khác được ghi nhận là cựu giáo chức Đào Quang Thực, mục sư Đinh Diêm, ông Phan Văn Thu và Đoàn Đình Nam. Việt Nam phải cải thiện điều kiện giam giữ tù nhân lương tâm Cựu tù nhân lương tâm Nguyễn Văn Hải (tức Hải Điếu cày), người từng bị giam giữ ở hơn 10 trại giam ở Việt Nam bao gồm cả Trại giam Xuyên Mộc (Bà Rịa-Vũng Tàu) và Trại giam số 6 nơi xảy ra cái chết của nhiều tù nhân lương tâm, nói điều kiện chăm sóc y tế kém và hình thức đối xử tàn bạo đối với tù nhân lương tâm là nguyên nhân gây ra những cái chết trên. Từ California, ông Hải cho rằng, chính quyền Việt Nam cần cải thiện điều kiện giam giữ và chăm sóc y tế đối với tù nhân lương tâm để bảo vệ tính mạng của họ. Ông nói với Đài Á Châu Tự Do (RFA) qua điện thoại ngày 5/4: “Giam giữ tù nhân chính trị như mọi tù nhân hình sự khác. Những người mắc bệnh hiểm nghèo cần được phép giữ một cơ số thuốc nhất định để phòng trường hợp đột quỵ hoặc bệnh trở nặng thì họ có thuốc uống. Cái thứ ba là phải cải thiện đường dây liên lạc giữa khu giam giữ tù chính trị với bộ phận chăm sóc y tế. Khi người tù có bệnh nặng phải đưa đi chữa trị.” Luật sư Nguyễn Văn Đài, người từng có hai lần bị cầm tù vì hoạt động dân chủ và nhân quyền, cho biết Chính phủ Việt Nam có chính sách không chỉ tước đoạt tự do của tù nhân lương tâm mà còn áp dụng mọi biện pháp để tước đoạt sức khoẻ của họ. “Để mà ngăn chặn chính sách độc ác này của Nhà nước độc tài cộng sản Việt Nam, chúng ta cần sự phối hợp của các chính phủ và các tổ chức quốc tế, phải lên án mạnh mẽ chính sách vô nhân đạo của chính quyền cộng sản Việt Nam đối với các tù nhân lương tâm. Đồng thời, gia đình các tù nhân lương tâm phải thường xuyên thăm hỏi và đưa tin về tình trạng đàn áp trong tù đối với người thân của mình.” Phóng viên đã gọi điện cho Bộ Ngoại giao Việt Nam để đề nghị bình luận về báo cáo của Những người Bảo vệ tuyến đầu nhưng không có ai nghe máy. Chúng tôi có gửi email cho cơ quan này nhưng chưa nhận được phản hồi. Bỏ tù người hoạt động nhân quyền Trong báo cáo công bố vào thứ ba, Những người Bảo vệ tuyến đầu nói trong năm 2022, Chính phủ Việt Nam tiếp tục đàn áp người hoạt động nhân quyền, bắt giữ và tiếp tục cầm tù dài hạn nhiều người đấu tranh cho quyền con người bên cạnh việc sử dụng công cụ luật pháp để kiểm soát quyền truy cập thông tin và ngăn chặn quyền tự do ngôn luận trực tuyến. Việt Nam và nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ khác ở Châu Á như Trung Quốc, Hồng Kông, Ấn Độ, Pakistan, Philippines, và Sri Lanka sử dụng luật an ninh quốc gia và chống khủng bố như công cụ để hình sự hóa, bức hại và bỏ tù những người bảo vệ nhân quyền. Theo đó, Chính phủ Việt Nam đã sử dụng luật pháp và các biện pháp đàn áp khác để nhắm mục tiêu vào người bảo vệ nhân quyền, bao gồm bắt giữ và giam giữ tùy tiện, sách nhiễu, giám sát và hạn chế quyền tự do đi lại của nhiều nhà hoạt động. Những người Bảo vệ tuyến đầu cũng nhắc lại trường hợp nhà hoạt động Nguyễn Lân Thắng đã bị bắt giữ với cáo buộc “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm chống nhà nước” theo Điều 117 của Bộ luật Hình sự với mức án có thể lên đến 20 năm tù giam. Tổ chức này nói Hà Nội vi phạm quy trình tố tụng và quyền được xét xử công bằng của ông Nguyễn Lân Thắng khi biệt giam ông trong thời gian dài mà không được gặp luật sư và người thân trong khi sức khỏe của ông xấu đi. Những người Bảo vệ tuyến đầu đưa ra trường hợp Trần Huỳnh Duy Thức như một minh chứng về việc Nhà nước Việt Nam tiếp tục giam giữ người hoạt động với án tù dài hạn. Ông Thức, 57 tuổi, đang thụ án tù năm thứ 15 về tội danh “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” chỉ vì các hoạt động nhằm cổ suý nhân quyền và dân chủ. Sử dụng công cụ luật pháp để hạn chế quyền tự do thông tin Phúc trình của Những người Bảo vệ tuyến đầu nói, việc đe dọa và giám sát kỹ thuật số phổ biến trong khu vực châu Á, ngoài ra các chủ thể nhà nước và phi nhà nước sử dụng giám sát kỹ thuật số như một phương tiện để kiểm soát và trừng phạt những người bất đồng chính kiến. Nhiều chính phủ đã tìm cách tăng phạm vi và năng lực giám sát của họ thông qua một loạt các sửa đổi luật ở Campuchia, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam. Trong nỗ lực lâu dài nhằm kiểm soát quyền truy cập thông tin và ngăn chặn quyền tự do ngôn luận trực tuyến, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định 53 điều chỉnh Luật An ninh mạng 2018. Theo quy định mới, các công ty công nghệ bị yêu cầu lưu trữ dữ liệu người dùng trong thời gian tối thiểu 24 tháng và bàn giao dữ liệu cá nhân cho chính phủ nếu có yêu cầu. Báo cáo dài 88 trang nói những điều khoản như vậy gây rủi ro nghiêm trọng cho các nhà hoạt động và người bảo vệ nhân quyền, đồng thời làm tăng nguy cơ các công ty công nghệ thông đồng lạm dụng chống lại họ. Vi phạm quyền không bị trục xuất của người tị nạn Những người Bảo vệ tuyến đầu nói trong năm 2022, Chính phủ Việt Nam đã vi phạm quyền không bị trục xuất của người tị nạn trong trường hợp ông Đổng Quảng Bình (Dong Guangping), một nhà hoạt động nhân quyền Trung Quốc. Ông Đổng Quảng Bình, 65 tuổi, bị chính quyền Trung Quốc bỏ tù ba lần vì các hoạt động đòi hỏi nhân quyền và dân chủ ở trong nước, trong đó có việc vận động tưởng niệm các nạn nhân vụ thảm sát Thiên An Môn năm 1989. Ông được cho là bị lực lượng an ninh Việt Nam bắt giữ vào cuối tháng 8/2022 sau gần ba năm lánh nạn ở Hà Nội để chờ được định cư ở Canada như một người tị nạn và đoàn tụ với gia đình ở đó. Tháng trước, trong công văn phản hồi chất vấn của Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc (OHCHR) về ông Đổng Quảng Bình, Hà Nội nói không có thông tin gì liên quan đến việc ông Đổng Quảng Bình có mặt tại Việt Nam. Những người Bảo vệ tuyến đầu cho rằng ông đã bị cưỡng chế trục xuất về Trung Quốc, hoặc sắp có nguy cơ bị trục xuất như vậy. Bằng việc trục xuất ông về Hoa Lục, Việt Nam đã vi phạm nghĩa vụ không được từ chối người tị nạn, một quy định nghiêm cấm việc đưa bất kỳ người nào trở lại một quốc gia nơi họ thực sự có nguy cơ bị vi phạm nhân quyền nghiêm trọng. Hành động trên của Hà Nội cũng là biểu hiện của việc tham gia đàn áp xuyên quốc gia đối với người hoạt động nhân quyền, Những người Bảo vệ tuyến đầu nói. HRW nói Việt Nam đang giam giữ 160 tù nhân chính trị Ngày 03/4, trong thông cáo báo chí, tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW) nói hơn 160 tù nhân chính trị đang giam giữ ở Việt Nam chỉ vì thực hành các quyền cơ bản. Tổ chức nhân quyền có trụ sở ở New York (Hoa Kỳ) nói blogger và nhà hoạt động nhân quyền phải đối mặt với sự sách nhiễu, đe dọa, theo dõi và thẩm vấn của công an hàng ngày. Nhà nước cảnh sát không dung thứ bất đồng chính kiến, các nhà hoạt động phải đối mặt với thời gian dài bị giam giữ trước khi xét xử, không được tiếp cận với luật sư hoặc gia đình, HRW nói. HRW cũng kêu gọi các nhà tài trợ và đối tác thương mại quốc tế hành động để buộc Hà Nội chấm dứt cuộc đàn áp có hệ thống đối với những người chỉ trích ôn hòa và yêu cầu trả tự do ngay lập tức cho tất cả những người bị cầm tù chỉ vì đã thực hiện các quyền của họ một cách ôn hòa.

Vụ án “giải cứu”: Đường đi của 2.65 triệu USD hối lộ từ thiếu tướng công an tới trưởng phòng điều tra, cục an ninh

Tổng hợp báo chí lề phải của VN

Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an vừa đề nghị truy tố 54 bị can về các tội danh: Đưa hối lộ, Môi giới hối lộ, Nhận hối hộ, Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ liên quan đến “chuyến bay giải cứu”.

Để được cấp phép, phê duyệt các chuyến bay combo đưa công dân Việt Nam từ nước ngoài về Việt Nam cách ly phòng dịch Covid – 19, Lê Hồng Sơn, Tổng giám đốc Công ty Bầu trời xanh (Blue Sky) và Nguyễn Thị Thanh Hằng, Phó Tổng giám đốc đã liên hệ, gặp gỡ, đưa hối lộ cho nhiều cá nhân có trách nhiệm liên quan thuộc các bộ, ban, ngành ở Trung ương và địa phương.

Bí mật trong chiếc vali cựu PGĐ Công an Hà Nội đưa cho Hoàng Văn Hưng - 1

Cựu Phó Giám đốc Công an TP Hà Nội Nguyễn Anh Tuấn (Ảnh: ANTĐ).

Trong số 54 bị can có bị can Hoàng Văn Hưng, cựu Trưởng phòng thuộc Cục An ninh điều tra Bộ Công an, đồng thời là điều tra viên thụ lý chính đối với vụ án “chuyến bay giải cứu”

Hoàng Văn Hưng, cựu trung tá, nguyên Trưởng phòng Điều tra Cục An ninh điều tra Bộ Công an. Hưng được xác định đã nhận lời “chạy án” cho Nguyễn Thị Thanh Hằng, Phó Tổng Giám đốc Công ty du lịch Bluesky và Lê Hồng Sơn, Tổng giám đốc Công ty du lịch Bluesky, thông qua sự kết nối của ông Nguyễn Anh Tuấn, thiếu tướng, nguyên Phó Giám đốc Công an TP Hà Nội.

Sau đó,  ông Hưng tiếp tục gặp Hằng, hướng dẫn cách thức khai báo; đưa ra những lý do như chi tiền cho các cá nhân ở VKS, Cơ quan điều tra và Cục Nghiệp vụ Bộ Công an để các đơn vị, cá nhân có liên quan ủng hộ quan điểm không xử lý hình sự đối với Hằng, Sơn.

Ông Hưng vẫn nói rằng mình “kiểm soát được tình hình”, vẫn chỉ đạo điều tra và trực tiếp báo cáo đề xuất chủ trương xử lý vụ án.

Kết luận điều tra cho rằng, ông Tuấn đã nhận 2,65 triệu USD từ Hằng để đưa cho Hưng “lo lót”. Khoản tiền trên giao dịch nhiều lần, tại nhiều địa điểm, hầu hết là ở nhà ông Tuấn. Tuy nhiên, Bộ Công an xác định, có một lần, cuộc giao dịch diễn ra trên ô tô ( trước một khách sạn)

Theo yêu cầu của Hưng, ông Tuấn chia số tiền làm 2 túi, một túi để 350.000USD (để đưa cho Viện kiểm sát), túi còn lại để 100.000USD (đưa cho lãnh đạo Vụ) rồi cho vào một chiếc cặp số vỏ cứng, cài mã khóa “104”.

Số tiền 100.000 USD đã được mang vào Cục An Ninh nhưng chưa giao

Cuộc giao dịch diễn ra lúc 9h51. Lấy được tiền, Hưng gọi báo lại cho ông Tuấn. Sau đó, Hưng xách cặp tiền cất vào ghế sau của ô tô cá nhân, hiệu Ford Explorer màu đen, đang đỗ tại số 15 Trần Bình Trọng.

…Xe tiếp tục chạy về Cục An Ninh Bộ Công An

…khi đó, Hưng vào trong xe, ngồi khoảng 8 phút (để liên lạc với cấp trên?), rồi lại xuống xe và đi vào trụ sở cơ quan, không mang theo cặp tiền. Thời điểm trên, lái xe của Hưng ngồi trong xe và điều khiển ô tô rời đi lúc 10h02.

Cục An ninh điều tra - Bộ Công an:  Xứng danh đơn vị anh hùng

Theo Bộ Công an, lời khai của Sơn và Hằng cho biết, 2 bị can đã 13 lần đưa tiền cho ông Tuấn, tổng 2,8 triệu USD (tương đương hơn 65 tỷ đồng) để cựu PGĐ Công an TP Hà Nội “lo lót” cho họ.

Tuy nhiên, ông Tuấn khai chỉ nhận 2,65 triệu USD (tương đương hơn 61 tỷ đồng) từ Hằng, trong đó, 2,25 triệu USD để “chạy án”, 400.000USD mua bất động sản. Toàn bộ 2,25 triệu USD, ông Tuấn nói đã đưa hết cho Hưng.

Trong khi đó, Hưng lại cho biết không nhận bất kỳ khoản tiền nào từ Hằng hay ông Tuấn.

Sau quá trình điều tra, Cơ quan An ninh điều tra xác định, ông Tuấn đã nhận 2,65 triệu USD từ Hằng, còn Hưng đã nhận 800.000USD từ ông Tuấn.

Theo kết luận của Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an: Trong vụ án “chuyến bay giải cứu” có khoảng hơn 100 doanh nghiệp được cấp phép thực hiện chuyến bay đưa công dân Việt Nam về nước nhưng thực tế chỉ có khoảng 20 nhóm doanh nghiệp thực sự là đơn vị triển khai các chuyến bay sau khi được duyệt. Số còn lại là doanh nghiệp cho mượn pháp nhân hoặc đứng ra xin cấp phép chuyến bay, sau đó bán quyền được tổ chức các chuyến bay cho doanh nghiệp khác thực hiện.

Lời bàn:

– Đây là một trong các chuyện dài của CHXHCN Việt Nam, tham nhũng ở cấp Nhà Nước và nay, tham nhũng ở ngay chính kẻ trực tiếp điều tra tham nhũng.

– Để một bị can được miễn truy tố thì cần chung chi cho người chạy án, Viện Kiểm Sát, Bộ phận điều tra của Công An, Cán bộ lãnh đạo Công An

– Tội nghiệp cho dân tôi dưới ách tham nhũng của chế độ đặc quyền, đặc lợi phe nhóm của Cộng Sản Chủ Nghĩa.

Phan Sinh Trần

“Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy.” (Ga 13:8b

Chúc bạn và gia đình ngày Thứ 5 Tuần Thánh tràn đầy ân sủng và bình an của Chúa nhé.

Cha Vương

 Thứ 5 Tuần Thánh: 06/04/2023

TIN MỪNG: Đức Giê-su đáp: “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy.” (Ga 13:8b)

SUY NIỆM: Đối với những người trong nghề nails, việc làm chân tay nước cũng không còn gì xa lạ gì nữa. Đây là nghề phục vụ, đòi hỏi sự tận tuỵ ở một mức độ cao. Hôm nay Thứ 5 Tuần Thánh Giáo Hội tưởng niệm Bữa Tiệc Ly, trong đó Chúa Giêsu đã rửa chân cho các tông đồ và thiết lập Bí Tích Thánh Thể. Hai cử chỉ này là bài học cụ thể về sự khiêm nhường và hy sinh phục vụ. Bạn thử hình dung ra hai tay (của Đức Kitô) đã khéo léo lau chân Phêrô với chiếc khăn ở thắt lưng. Cử chỉ này cũng thấy gần gũi với người thợ làm chân tay nước đó hả? Đức Giê-su đã hạ giáng, đã bước xuống chỗ thấp nhất, Đấng là “Chúa và Thầy” mà ăn mặc như một nô lệ để phục vụ dưới chân các môn đệ! Ngài lấy việc làm này để lập ra một quy luật cho các môn đệ, cho bạn và mình: “Thầy đã nêu gương cho anh em, để theo như Thầy đã làm như thế nào thì anh em cũng làm y như vậy” (13:15). Thiên Chúa đã hạ mình đến mức đó. Vậy hôm nay bạn hãy tự hạ mình, vì yêu thương nhau hãy đưa cái bản ngã của mình xuống chỗ thấp nhất để phục vụ những người chung quanh của mình nhé.

LẮNG NGHE: CHÚA nói: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em.” (Ga 13:34)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, thất bại lớn nhất của đời người là tự cao tự đại, xin giúp con hiểu được bài học khiêm nhường mà Chúa dạy: “Các con cũng phải rửa chân cho nhau” để sống tinh thần hiệp nhất với anh em chung quanh con hôm nay.

THỰC HÀNH: Hôm nay bạn thử tập rửa chân cho những thành viên trong gia đình rồi chia sẻ với nhau cảm nghiệm của bạn.

From: Đỗ Dzũng

ĐÂU CÓ TÌNH YÊU THƯƠNG – HOÀNG OANH

9 bí quyết để sống trọn vẹn từng giây phút trên đời

Báo Nguoi-viet

LOS ANGELES, California (NV) – Người Mỹ có câu “Live life to the fullest,” nhằm khuyến khích chúng ta sống thật an nhiên, hạnh phúc và vui vẻ với thực tại, bỏ qua những lo lắng trong tương lai và những buồn phiền trong quá khứ.

Tuy nhiên, nói thì dễ nhưng làm thì khó. Cuộc sống bộn bề với nhiều mối lo toan, cộng với áp lực công việc, gia đình và xã hội, đôi khi sẽ khiến chúng ta dù có lạc quan và tích cực đến mấy thì có những lúc bạn sẽ cảm thấy buồn phiền.

Chúng ta thường hay nhìn lại quá khứ và lo lắng tương lai nhưng lại không tập trung vào hiện tại. (Hình: Elena Fusco/Getty Images)

Dưới đây là những điều mà bạn có thể thực tập làm hằng ngày để cuộc sống trở nên nhẹ nhàng hơn và quan trọng là có thể sống trọn vẹn từng phút giây, theo trang mạng Health.

  1. Tập thể dục

Tập thể dục hằng ngày không chỉ mang lại điều kỳ diệu cho cơ thể, mà hoạt động thể chất còn giúp cải thiện sức khỏe của bạn.

Ông James Baraz, giáo viên dạy thiền tại trung tâm Spirit Rock Meditation Center ở Woodacre, California, cho biết, cho dù là bạn tập gì, từ vận động mạnh như chạy bộ nhanh, chơi bóng rổ hay nhẹ nhàng như yoga, tai chi, tập thể dục sẽ giúp cơ thể tiết ra endorphin, là hormone giải phóng những năng lượng tích cực, làm cho tinh thần bạn hưng phấn, vui vẻ và hạnh phúc hơn.

  1. Bỏ qua lòng hận thù, giận dữ

Đừng lãng phí thời gian và năng lượng của bạn để nuôi dưỡng sự giận dữ hay lòng hận thù. Đôi khi mọi việc hay mọi người có thể khiến bạn nổi điên nhưng việc tiếp tục nổi điên sẽ gây hại cho bạn hơn là cho người đã châm ngòi cho cơn giận.

  1. Thiền định

Cho dù là bạn ngồi thiền hay chỉ dành thời gian im lặng cho chính mình, việc làm như thế sẽ giúp cho bạn trân trọng hiện tại và biết ơn cuộc sống mà mình đang có.

  1. Ca hát

Cho dù bạn đang tắm, đang lái xe hay đang gặp gỡ bạn bè, đừng ngần ngại cất tiếng hát.

Các cuộc nghiên cứu cho thấy một cơ quan trong lỗ tai kết nối với một phần bộ não ghi nhớ lại những niềm vui. Vì vậy, ca hát có thể khiến bạn hạnh phúc hơn, ngay cả khi bạn không phải là một ca sĩ thực thụ.

Thiền hay dành thời gian im lặng là cách để bạn tập trung vào hiện tại hơn. (Hình: Anthony Wallace/Getty Images)
  1. Hít thở không khí trong lành

Bạn nên dành thời gian đi bộ, thả mình dưới không gian bên ngoài cho dù là sáng hay tối.

Theo nghiên cứu của trường đại học University of Michigan, chỉ với 30 phút ngoài trời dưới ánh nắng mặt trời, cho dù ngày đó là ngày u ám, bạn vẫn sẽ cảm thấy đầu óc thư giãn hơn khi hít thở không khí trong lành.

  1. Ngủ đủ giấc

Đừng cảm thấy tội lỗi nếu lỡ ngủ thêm một vài tiếng. Thật ra, ngủ rất quan trọng vì giúp cải thiện tâm trạng của bạn, cải thiện trí nhớ, tăng cường sự tập trung, đồng thời còn giúp duy trì cân nặng cân đối.

  1. Đọc sách

Hãy dành một chút thời gian để đọc sách, đây là một thói quen mà người xưa từng làm.

Bạn có thể tùy chọn sách nào mà mình cảm thấy muốn đọc. Nó có thể là một cuốn sách dạy một kỹ năng mới, hay đơn giản là một cuốn tiểu thuyết ngôn tình giúp bạn thoát ly với thực tế một chút.

Bạn có thể chừa lại 1/5 calories nạp vào cơ thể cho những món ăn bạn thích. (Hình: Ethan Miller/Getty Images)
  1. Ăn món ăn bạn thích

Chúng ta đều biết rằng, việc ăn uống lành mạnh và điều độ là điều quan trọng nhưng điều đó không có nghĩa là bạn phải từ chối những món ăn mà bạn yêu thích. Do đó, bạn nên học cách thưởng thức một cách thông minh.

Huấn luyện viên và chuyên gia dinh dưỡng Jillian Michaels cho biết, ăn uống lành mạnh không nhất thiết là cắt giảm mọi thứ hoàn toàn. Thay vào đó, bạn hãy chừa lại 1/5 calories nạp vào cơ thể cho những món mà được xem là không lành mạnh nhưng bạn thích như kem, bánh ngọt hay đồ chiên.

  1. Tạm ngừng kết nối với điện thoại

Để điện thoại sang một bên, tắt TV đi, đóng laptop lại là những gì bạn cũng nên làm để cuộc sống dễ thở hơn.

“Việc tiếp xúc với những ánh sáng xanh từ các thiết bị điện tử sẽ khiến não bộ hoạt động liên tục, ảnh hưởng đến hệ thần kinh lâu dài,” Bác Sĩ Alan Keck, công tác tại Trung tâm Center for Positive Psychology, ở Orlando, Florida, cho biết. (UPK)

Trăn Trối & Gởi Trao của Chúa Giê Su từ trên Thánh Giá – Suy niệm Thứ Sáu Tuần Thánh – Dòng Tên SJ

Lm. GB Nguyễn ngọc Thế SJ

Mời Bạn suy niệm dưới chân thập giá trong ngày thứ sáu Tuần Thánh với bài “Di ngôn thứ ba của Chúa trên Thánh Giá”

Thưa Bà, này là con Bà.

Này là Mẹ của anh.

(Ga 19,26-27)

  • Bài Tin Mừng.
  • Bối cảnh của di ngôn thứ ba.
  • Các phụ nữ trung thành đứng dưới chân Thánh Giá.
  • Sự hiện diện của Mẹ bên Thánh Giá, cùng niềm hy vọng và lời xin vâng.
  • Cana và Thánh Giá – Tiệc cưới giữa Thiên với Trần.
  • Thưa Bà, đó là con Bà.
  • Này là Mẹ của con.
  • Mở rộng cánh cửa đón mời Mẹ.
  • Đón nhận tình yêu để biết sống yêu thương.
  • Đứng bên cây Thánh Giá.
  • Bài tập sống di ngôn thứ ba của Chúa Giê-su trên Thánh Giá.

*******

  • Bài Tin Mừng.

23 Đóng đinh Đức Giê-su vào thập giá xong, lính tráng lấy áo xống của Người chia làm bốn phần, mỗi người một phần; họ lấy cả chiếc áo dài nữa. Nhưng chiếc áo dài này không có đường khâu, dệt liền từ trên xuống dưới.24 Vậy họ nói với nhau: “Đừng xé áo ra, cứ bắt thăm xem ai được.” Thế là ứng nghiệm lời Kinh Thánh: Áo xống tôi, chúng đem chia chác, cả áo dài, cũng bắt thăm luôn. Đó là những điều lính tráng đã làm.

25 Đứng gần thập giá Đức Giê-su, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Ma-ri-a vợ ông Cơ-lô-pát, cùng với bà Ma-ri-a Mác-đa-la.26 Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giê-su nói với thân mẫu rằng: “Thưa Bà, đây là con của Bà.”27 Rồi Người nói với môn đệ: “Đây là mẹ của anh.” Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.

  • Bối cảnh của di ngôn thứ ba.  

Di ngôn thứ ba của Chúa Giê-su nói từ trên Thánh Giá, theo nhiều nhà chú giải Thánh Kinh, có ý nghĩa biểu tượng… Sau khi Chúa Giê-su đã bị đóng đinh trên Thánh Giá (Ga 19,23), thì quân lính chia nhau những tấm áo của Ngài, để “ứng nghiệm lời Kinh Thánh: Áo xống tôi, chúng đem chia chác, cả áo dài, cũng bắt thăm luôn. Đó là những điều lính tráng đã làm” (Ga 19,24).

Trong bối cảnh đó, Gio-an kể lại rằng, một số phụ nữ có mặt ở gần bên Thánh Giá, đặc biệt có Mẹ Maria hiện diện. Gioan còn kể ra danh tánh của các phụ nữ: “thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Ma-ri-a vợ ông Cơ-lô-pát, cùng với bà Ma-ri-a Mác-đa-la” (Ga 19,25).

Ngoài các phụ nữ này ra, có một nam nhi duy nhất là Gio-an Tông Đồ, môn đệ yêu dấu của Chúa, và cũng là tác giả của Phúc Âm thứ IV. Khi Mẹ Maria, các phụ nữ và Gio-an hiện diện dưới chân Thánh Giá, Chúa Giê-su đã nhìn xuống thân mẫu của Ngài cùng người môn đệ yêu dấu, và Ngài đã nói lời thứ ba này.

 Các phụ nữ trung thành đứng dưới chân Thánh Giá.

Ở Mác-cô chúng ta đọc thấy rằng: “Nhưng cũng có mấy phụ nữ đứng xa xa mà nhìn, trong đó có bà Ma-ri-a Mác-đa-la, bà Ma-ri-a mẹ các ông Gia-cô-bê Thứ và Giô-xết, cùng bà Sa-lô-mê. Các bà này đã đi theo và giúp đỡ Đức Giê-su khi Người còn ở Ga-li-lê. Lại có nhiều bà khác đã cùng với Người lên Giê-ru-sa-lem, cũng có mặt tại đó” (Mc 15,40-41)…

Các bà thật can đảm, còn các môn đệ thì khiếp sợ và trốn mất. Như thế, những người yếu đuối đã tỏ ra là người mạnh mẽ. Từ biến cố này, mọi sự đã hoàn toàn thay đổi”…

Như thế có tất cả 04 phụ nữ: (1) thân mẫu Người, (2) chị của thân mẫu, (3) bà Ma-ri-a vợ ông Cơ-lô-pát, (4) bà Ma-ri-a Mác-đa-la. Theo Đức BenedictoXVI[3], ngay khi các thánh sử không kể lại gì cách trực tiếp về tâm trạng của các phụ nữ đang hiện diện dưới chân Thánh Giá, nhưng người ta có thể nhận ra được sự buồn rầu và đau đớn của họ về những việc đang xảy ra đối với Chúa Giê-su.

Hơn nữa, thánh sử Gio-an đã trích dẫn lời của tiên tri Gia-ca-ri-a ở phần cuối bài thương khó: “Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu” (Ga 19,37). Cũng chính thánh Gio-an, ở trong sách Khải Huyền, đã nhắc lại cảnh Chúa Giê-su bị đâm thâu trên Thánh Giá, nhưng ở trong viễn cảnh Chúa Giê-su đến trong ngày quang lâm: “Kìa, Người ngự đến giữa đám mây. Ai nấy sẽ thấy Người, cả những kẻ đã đâm Người. Mọi dân trên mặt đất sẽ đấm ngực than khóc khi thấy Người” (Kh 1,7).

Những người đâm thâu Chúa, và cả những phụ nữ theo Chúa từ bấy lâu nay, cũng đều nhìn lên Đấng bị đâm thâu. Nhưng mỗi nhóm người có cái nhìn khác nhau. Cái nhìn của khinh khi và ác nhân của những người kết án và hành hạ Chúa, cái nhìn cảm thông và đau xót của các phụ nữ trung thành theo chân Chúa.

Sertillanges diễn tả về các phụ nữ đứng dưới chân Thánh Giá Chúa, Các người đàn bà đạo đức này ngay từ đầu đã tận tụy với Đức Giêsu và kiên trì cho đến giây phút cuối cùng. Họ sẽ xức dầu thơm cho mộ Ngài, sẽ làm nhân chứng cho việc Ngài sống lại, sẽ có vai trò trong ngày Thánh Thần hiện xuống. Họ dâng hiến cuộc đời cho công việc cứu rỗi nhân loại, sau khi đã thờ lạy và làm vui lòng Ngôi vị Ngài. Trên ngọn đồi Calvario họ nhận lãnh chức vụ mà sau này sẽ truyền lại cho nữ giới suốt lịch sử Kitô giáo. Họ đang hiện diện dưới chân Thánh Giá. Như vậy họ đứng làm hình ảnh chính thức cho nửa phần nhân loại được thánh hiến…

Những trái tim dịu dàng này (chúng ta khoan nói đến Đức Maria) thấu hiểu tốt hơn đàn ông về tính dịu ngọt thần linh và sức mạnh siêu phàm của Đức Giêsu, Đấng Thiên sai và tử đạo. Sự vĩ đại của Ngài đã chiến thắng họ. Lòng thương xót và nhân lành của Ngài lôi kéo họ đến bên cạnh Chúa. Nó làm cho họ ngất ngây.

Về căn bản phụ nữ là người thích an ủi vỗ về. Quan điểm của họ về sự sống khiến họ dễ trở nên người trợ giúp. Bởi vì là người ban sự sống, cho nên phụ nữ ý thức rõ hơn đàn ông về tính mỏng dòn và yếu đuối của loài người… các bà mẹ hiền dịu dưới chân khổ giá, khóc cay đắng cho số phận của Thầy mình. Họ nhìn lên Thầy với chút an ủi và khích lệ. Họ mời mọc Thầy chia sẻ với họ sự yếu đuối của thân phận làm người. Quỳ lạy tuyên xưng Ngài là Thiên Chúa, là Đấng cứu độ mình, kêu cầu Ngài ban ơn xuống cho mình và con cháu.

Phần thưởng của họ là được ủy thác chôn cất xác Chúa. Nhưng chính giờ này xác Thầy đã là của họ. Một chị em đã xức thuốc thơm cho thân xác Thầy trước rồi và ít lâu nữa họ sẽ vội vã đi mua dầu thơm trước khi bình minh thứ bảy ló rạng (thứ 7 cấm đi xa), để có thể ướp xác bằng hương liệu ngọt ngào và đặt Chúa vào chiếc giường đá lạnh lẽo”.[4]

… Ở đây, chúng ta có thể đọc lại lời của tiên tri Da-ca-ria: “Chúng sẽ khóc than Đấng chúng đã đâm thâu, như người ta khóc than đứa con một. Chúng sẽ thương tiếc, như người ta thương tiếc đứa con đầu lòng” (Dcr 12,10). Trong bầu khí của bạo tàn, của sỉ nhục và ác nhân, vẫn có sự trung thành của tình yêu, sự xót thương của các phụ nữ dành cho Đấng Cứu Độ.

Trong tâm tình này, chúng ta có thể thấy được điều mà tiên tri Da-ca-ria nói: “Ngày ấy, một dòng suối sẽ vọt ra cho nhà Đa-vít và dân cư Giê-ru-sa-lem để tẩy trừ tội lỗi và ô uế” (Dcr 13,1). Tâm tình hướng nhìn lên Đấng bị thâu – Đấng Cứu Độ, lòng thương cảm và tâm tình hiệp thông chia sẻ với Ngài sẽ đưa lại một dòng suối thanh tẩy tội lỗi. Sức mạnh biến đổi của cuộc thương khó đã bắt đầu.

Như đã nói ở trên, thánh Gio-an không chỉ kể lại sự hiện diện của các phụ nữ, mà còn nhắc đến sự có mặt của môn đệ mà Chúa Giêsu thương yêu, và đặc biệt nhấn mạnh đến sự hiện diện của thân mẫu Chúa Giêsu, Mẹ Maria – người Mẹ cao quý.

  • Sự hiện diện của Mẹ bên Thánh Giá, cùng niềm hy vọng và lời xin vâng.

Nếu chúng ta chiêm ngắm Mẹ Maria đứng dưới chân Thánh Giá của Chúa Giê-su, người phụ nữ đang nhìn người con duy nhất của mình, bị những người ác nhân kết án tử và đóng đinh trên Thánh Giá, chúng ta sẽ cảm nhận được tâm trạng của Mẹ: run rẩy, đau xót về những gì Mẹ đã chứng kiến trên con đường khổ nạn của con.

Truyền thống Kitô giáo, qua việc chiêm ngắm Mẹ trong khung cảnh đó, đã nhận thấy kinh nghiệm đau khổ tột cùng của Mẹ. Nhưng Mẹ hiện diện dưới Thánh Giá không rũ rượi, khi thấy con mình đang chết đau đớn, nhưng mẹ “đứng”, trong một tư thế rất kiên vững. Thế “đứng” của Đức Mẹ đã là đề tài cho bao người chiêm ngưỡng và suy gẫm: Stabat Mater dolorosa – Mẹ sầu bi đứng dưới chân Thánh Giá! Đó là bài thơ bằng tiếng La-tinh, được viết trong thời Trung Cổ. Dưới đây là một phỏng dịch từ tiếng La-tinh:

Mẹ đứng dưới chân thánh giá con yêu,

Tâm can nát tan Mẹ chết trăm chiều,

Gần bên Chúa trong giờ tử nạn.

Mẹ diễm phúc của Con một Cha,

Đấng tạo dựng đất trời,

Buồn thương và thảm thiết biết bao!

Đức Kitô chịu hành hạ trên cao,

Bên dưới Mẹ đứng nhìn xót xa,

Thấy Con chết anh hùng, tử đạo.

Hỡi những kẻ đi đường lơ đễnh,

Hãy trông xem Hiền Mẫu chúng ta

Đau xót nào sánh bằng của Mẹ?

Trái tim ai chịu nổi được không?

Mà chẳng hề chia sớt với Mẹ

Nỗi đau tày biển rộng trời cao?

Hội Thánh áp dụng lời này cho Mẹ Sầu Bi, như khi nói về Đức Giêsu, Hội Thánh áp dụng thân phận cô gái héo hắt Si-on: ‘Này tất cả những ai qua lại, hãy nhìn kỹ mà xem, có nỗi khổ nào so sánh được với nỗi khổ Đức Chúa giáng trên tôi?’ (Ac 1,12)”.[5]

Giáo hội hô lớn với ngôn sứ Giê-rê-mia, tổ phụ của mình rằng: ‘Tai họa ngươi mắc phải lớn quá rồi, lớn tựa trùng dương ai chứa nổi?’ (Ac 2,13).

…Cuộc đời của Mẹ Maria luôn kết hợp với những nỗi khổ đau của Chúa Giê-su, con Mẹ. Có lẽ không đau khổ nào lớn hơn đau khổ của chính Đức Mẹ Thiên Chúa, Đấng mà theo lời của Thánh Gioan, “đã đứng kề bên thập tự giá Đức Chúa Giêsu” (Ga 19,25) trên đồi Canvê. Không ai hiểu con cho bằng người mẹ, và cũng không ai đau khổ hơn người mẹ khi phải chứng kiến sự đau khổ và cái chết của con mình.

Cũng nên nhắc đến bài thánh ca của linh mục Kim Long Mẹ đứng đó, “Mẹ đứng đó khi hoàng hôn tím mầu. Nhạc thương trầm buông hắt hiu. Đồi cao u hoài loang máu đào. Con Chúa đau thương treo trên Thánh Giá. Hiến thân vì nhân loại tội tình. Mẹ đứng đó tâm hồn tê tái sầu. Đồng công cùng con dấu yêu. Vì thương nhân loại bao khốn cùng. Xin dẫn đưa bao tâm hồn lạc hướng về bên Mẹ, Mẹ ơi!”

Sandro Vitalini suy niệm như sau: “Tư thế của Mẹ khi đứng cạnh Thánh Giá phải diễn tả một tâm hồn đặc biệt là ngần nào. Mẹ ý thức rằng thời điểm để hạ sinh một tân nhân loại đã điểm, và từ lòng Mẹ một niềm vui đã tuôn trào từ trái tim tan nát, đau đớn của Mẹ. Mẹ biết rằng qua cái chết rùng rợn của đầy tớ thống khổ của Gia-vê mà nhiều người được công chính hoá (x.Is 53,11), và cái chết nhân loại đã bị cái chết của Đức Giê-su tiêu huỷ đi cách vĩnh viễn (x.1Cr 15,53)”.[6]

Hồng Y Cantalamessa diễn tả thật tuyệt vời về sự đau khổ của Mẹ trên đường thương khó và ở dưới Thánh Giá: “Ðức Maria cũng đã uống cạn chén khổ nạn. Có thể nói về Người như đã nói về Nữ Tử Sion, Người “đã uống chén lôi đình từ tay Giavê, Người đã uống, đã nốc cạn ly (x.Is 51,17). Nếu bên khổ giá Ðức Giêsu, trên Núi Sọ, có Maria Mẹ Ngài, thì điều đó có nghĩa là trong những ngày đó Người có mặt tại Giê-ru-sa-lem, đã chứng kiến tất cả, đã tham dự vào tất cả cuộc khổ nạn. Người đã nghe thấy tiếng la hét: ‘Không phải hắn mà là Baraba!’; Người đã thấy Ecce homo; Người đã nhìn thấy thịt bởi thịt mình bị đòn roi, đẫm máu, bị đội vòng gai, nửa thân trần trụi trước đám đông dân chúng, Người đã chứng kiến tấm hình hài đó run rẩy, co giật bởi những cơn rùng mình của cái chết. Người đã nghe tiếng búa nện và những lời lăng nhục: ‘Nếu mày là Con Thiên Chúa’. Người đã nhìn thấy những tên lính chia nhau áo xống của Ngài, cả tấm áo trong mà chính tay Người đã dệt. Tâm tình đạo đức Kitô giáo quả đã không lầm khi áp dụng cho Ðức Maria những lời mà Nữ Tử Si-on thốt lên trong nỗi buồn sầu đau đớn: ‘Hỡi những khách qua đường, hãy trông xem: có đớn đau nào như nỗi đớn đau hành hạ thân tôi’ (Ac 1,12). Nếu Thánh Phaolô đã có thể nói: ‘Tôi mang nơi thân mình tôi những vết hằn của Ðức Giêsu’ (Ga 6, 17), thì Ðức Maria có thể nói đến thế nào nữa? Ðức Maria là người đầu tiên trong Kitô giáo được in thương tích vô hình, hằn sâu trong trái tim, như sau này sẽ xảy ra nơi các thánh nam nữ”.[7]

Tuy nhiên, thật là thiếu sót, nếu chỉ dừng lại ở sự khổ đau của Mẹ tại Thánh Giá, bởi vì từ Thánh Giá Chúa, từ chính trong khổ đau và cái chết của Chúa luôn có tia sáng hy vọng đang âm ỉ cháy. Thật vậy, ba lần Chúa Giêsu loan báo về cuộc thương khó Ngài phải chịu, thì trong cả ba lần sứ điệp Phục Sinh luôn được Ngài nhắc tới. Cantalamessa nhắc nhớ: “Hình ảnh về Ðức Maria dưới chân Thập Giá, như hình ảnh gợi hứng từ bài Stabat Mater (Mẹ đứng đó), trong đó Ðức Maria chỉ có ‘buồn và sầu khổ’ mà thôi, chỉ còn là Người Mẹ sầu khổ (Mère des douleurs), hình ảnh đó sẽ rất thiếu sót, không đầy đủ vì như thế là không lý gì đến sự kiện chính Gioan trình bày hình ảnh đó, và theo Gioan, Thánh Giá còn hàm chứa giá trị vinh quang và của chiến thắng. Trên Núi Sọ, Ðức Maria không chỉ là ‘Mẹ sầu bi’ mà còn là Người Mẹ cậy trông, Mater spei, như một thánh thi của Giáo Hội đã cầu khẩn Người…

Thánh Phaolô khẳng định về Abraham trong thử thách: đó là ‘tuyệt vọng mà vẫn một niềm cậy trông, ông đã tin’ (Rm 4,18). Lời tuyên bố này áp dụng cho Ðức Maria dưới chân Thánh Giá lại càng đúng hơn: tuyệt vọng mà vẫn một niềm cậy trông, Mẹ đã tin. Tuyệt vọng mà vẫn một niềm cậy trông là gì nếu không phải là ‘chẳng còn là lý do gì để hy vọng, ở trong một tình cảnh hoàn toàn bị tước hết mọi hy vọng, xét trên bình diện nhân loại, và hoàn toàn đối nghịch với lời hứa, nhưng không vì thế mà vơi niềm cậy trông, chỉ duy còn dựa vào lời hy vọng mà Thiên Chúa đã phán vào thời của Người… Một lần nữa, chúng ta hãy nhìn về Người đã biết đứng bên Thánh Giá, tuyệt vọng mà vẫn một niềm cậy trông, hãy biết năng kêu cầu Người dưới danh hiệu ‘Mẹ cậy trông’, và nếu lúc này ta đang gặp thử thách, muốn thất vọng buông xuôi, thì hãy lấy lại bình tĩnh bằng cách lập lại cho chính mình những lời này: Quả ơn nghĩa Giavê không hết, lòng thương xót của Người không cạn, nên tôi trông cậy vào Người”.[8]

Sự hiện diện và đau khổ tột cùng của Mẹ, và niềm hy vọng vững vàng của Mẹ tại Thánh Giá, một cách nào đó diễn tả sống động quyết tâm sống lời xin vâng của Mẹ. Khi Mẹ nói lời xin vâng với Thiên Chúa qua sứ thần Gabriel, thì Mẹ đã sẵn sàng đi vào con đường mà Thiên Chúa chuẩn bị cho Mẹ. Con đường hẹp của người phụ nữ mang thai không được ngôi nhà nào đón tiếp, để có thể sinh con trong mái ấm của cuộc đời, mà cuối cùng phải sinh con trong hang bò lừa hôi hám và lạnh lẽo. Con đường của người Mẹ cùng với chồng là thánh Giuse phải đưa con mình là hài nhi Giêsu chạy trốn qua Ai-cập, thoát khỏi sự lùng sục bắt bớ với âm mưu triệt hạ hài nhi của vị vua trần thế. Con đường xin vâng của Mẹ là con đường tuân theo thánh ý Chúa, con đường hẹp nhiều chông gai. Con đường đó kéo dài cho đến cuộc tử nạn của Chúa Giêsu.

Ở đoạn cuối này, lời xin vâng của Mẹ ngày xưa vẫn không thay đổi, hay có thể nói mạnh mẽ hơn nữa. Mỗi bước chân Con của Mẹ lê bước vác Thánh Giá, đều có bước chân của Mẹ dõi theo, đồng hành và sẻ chia. Ở tại cây Thánh Giá, nơi con Mẹ đang bị treo đau đớn, lời xin vâng của Mẹ mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Thật vậy, sự hiện diện của Mẹ bên Thánh Giá cho thấy, Mẹ quyết tâm chia sẻ trọn vẹn sứ mạng và hy lễ cứu độ của Con Mẹ là Chúa Giê-su. Mẹ muốn tham dự vào tận đáy sâu thẳm những thống khổ mà Chúa Giêsu chịu. Mẹ không khước từ lưỡi gươm cụ già Si-mê-on ngày xưa tiên báo cho Mẹ: “Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà” (Lc 2,35b). Mẹ luôn nói lời xin vâng với Thiên Chúa, cụ thể trong chương trình huyền nhiệm của Chúa Cha dành cho Chúa Kitô. Cantalamessa đã cảm được tâm tình xin vâng của Mẹ Maria, cụ thể qua sự thinh lặng của Mẹ dưới chân Thánh Giá: “Ngôn ngữ của Thánh Giá là thinh lặng. Thinh lặng giữ hương thơm của hy tế cho riêng Thiên Chúa mà thôi. Nó giữ cho đau khổ không bị tiêu tán, không tìm kiếm và tìm thấy phần thưởng đền bù nơi trần thế này.

Nếu Ðức Maria có chịu cám dỗ như Ðức Giêsu đã từng chịu trong sa mạc, thì phải là và nhất là dưới chân Thánh Giá: một cơn cám dỗ vào loại thâm hiểm nhất mà cũng là đau đớn nhất, bởi lẽ chính Ðức Giêsu lại là căn cớ. Người đã tin vào các lời hứa, Người tin rằng nếu Ðức Giêsu cầu xin thì hẳn Chúa Cha sẽ gởi đến cho Ngài ‘hơn mười hai cơ binh thiên thần’ (x.Mt 26,53). Thế mà Ðức Giêsu đã không làm gì cả. Nếu Ngài tự cứu mình khỏi Thánh Giá thì cũng là cứu Người khỏi nỗi đau đớn khủng khiếp. Thế nhưng Ðức Maria đã không kêu: ‘Hãy xuống khỏi Thánh Giá đi, Con hãy tự cứu mình mà cũng là cứu cả Mẹ nữa !’. Người cũng không nói: ‘Con cứu bao nhiêu người khác, thế sao bây giờ không thể tự cứu mình nữa, hở Con?’. Dù rằng một ý nghĩ, một niềm ao ước như thế tự nhiên phải nẩy lên trong tâm hồn người mẹ, đó là điều dễ hiểu, thế nhưng Người thậm chí cũng không hỏi Ðức Giêsu: ‘Này Con, tại sao Con làm thế với cha mẹ?’, như khi xưa, lúc Người tìm được Ðức Giêsu trong Ðền Thờ (x.Lc 2,48). Maria lặng thinh dự phần vào hy lễ của Con, với tấm lòng của một Người Mẹ hết tình ưng thuận hiến tế lễ vật do lòng mình sinh ra, lời của Công Ðồng Vatican II. Người đã cùng với Ðức Giêsu cử hành lễ Vượt Qua của Ngài”.[9]

Ðức Maria hiệp nhất với hy tế của Con mình, cách nhìn đó đã được diễn tả cách đúng mức, giản dị và trang trọng trong một bản văn Công Ðồng Vatican II: “Như thế, Ðức Trinh Nữ cũng tiến bước trong cuộc lữ hành đức tin, trung thành hiệp nhất với Con cho đến bên Thập Giá, là nơi mà theo ý Thiên Chúa, Người đã đứng ở đó. Ðức Maria đã đau đớn chịu khổ cực với Con Một của mình và dự phần vào hy lễ của Con, với tấm lòng của một người mẹ hết tình ưng thuận hiến tế lễ vật do lòng mình sinh ra” (Lumengentium 58). Thật vậy, lời xin vâng của Mẹ đã gặp lời xin vâng của Chúa Giêsu trong hành trình sứ vụ của Ngài, ngay trong biến cố Chúa làm phép lạ đầu tiên ở Cana, và kết thúc với con đường Thánh Giá.

  • Cana và Thánh Giá – Tiệc cưới giữa Thiên với Trần.

…Trước hết, khi chiêm ngắm lại biến cố Ca-na, chúng ta có thể nhận ra Mẹ Maria là Mẹ của sự biến đổi. Thật vậy, qua Mẹ mà Chúa Giê-su con Mẹ đã biến những lu nước thành rượu ngon, cứu vãn đôi tân lang và tân nương thoát khỏi một hoàn cảnh tế nhị của việc hết rượu trong buổi tiệc cưới.

Một ý nghĩa sâu xa hơn ở tại Ca-na, là Thiên Chúa qua việc nhập thể của Chúa Giêsu đang cùng nhân loại chúng ta mừng tiệc cưới, Thiên Chúa muốn nối kết với nhân loại chúng ta, Ngài muốn ban cho chúng ta một hương vị mới, hương vị của rượu ngon, hương vị của tình yêu. Trong sách Khải Huyền có viết:

“Nào ta hãy vui mừng hoan hỷ

dâng Chúa lời tôn vinh,

vì nay đã tới ngày cử hành hôn lễ Con Chiên,

và Hiền Thê của Người đã trang điểm sẵn sàng,

nàng đã được mặc áo vải gai sáng chói và tinh tuyền” (19,7-8) 

“Và tôi thấy Thành Thánh là Giê-ru-sa-lem mới, từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống, sẵn sàng như tân nương trang điểm để đón tân lang” (21,2).

Trong ý nghĩa này, chúng ta cảm nhận được rằng, với câu chuyện ở Cana, Chúa Giê-su đến dự tiệc cưới để chúc mừng đôi tân hôn, để chia sẻ và nâng đỡ đôi tân hôn. Nhưng không chỉ như vậy, Chúa Giê-su tham dự một hôn lễ, mà mục đích của toàn bộ công trình của Chúa là gì, nếu không phải là chuẩn bị một hôn lễ khác – hôn lễ kết hợp Thiên Chúa với nhân loại? Hơn nữa, khi dự hôn lễ ở Cana, Chúa Giêsu đã làm một phép lạ thật “tràn đầy” và phong phú với vị ngon hảo hạng của rượu từ trong chum nước. Đó là dấu lạ tuyệt vời của lòng thương xót. Lòng thương xót đã biến những giọt nước thành rượu ngon hảo hạng. Thật phong phú và dồi dào biết bao nhiêu ân sủng của Thiên Chúa.

…Tình yêu của Chúa dành cho nhân loại ở tiệc cưới Ca-na, đã tìm được sự dồi dào phong phú và hoàn tất nơi Thánh Giá của Chúa Giêsu. Như thế, cái chết của Chúa trên Thánh Giá là sự hoàn tất của tiệc cưới giữa Thiên Chúa và nhân trần.[11]

Hơn nữa, tại Thánh Giá, sự vinh hiển của Thiên Chúa tỏ hiện ở tại Ca-na đã tìm được sự hoàn tất của nó. Và tại Thánh Giá của Chúa, mọi sự, ngay cả sự chết, ngay cả tội lỗi của chúng ta cũng được đón nhận vào trong tình yêu của Thiên Chúa. Vâng, không có gì nơi nhân loại có thể vượt ra khỏi sự đụng chạm của tình yêu Thiên Chúa nơi Thánh Giá Đức Kitô. Cũng thế, tất cả mọi sự tương phản của thế giới này tìm thấy được sự hiệp nhất tại Thánh Giá của Ngài. Ở Ca-na, Mẹ Maria là cánh cửa, Chúa Giê-su qua cánh cửa đó để bước vào thế giới. Dưới Thánh Giá, Mẹ cũng là cánh cửa, qua đó Chúa Giêsu đi vào trong vinh quang của Cha mình.[12]

Hơn nữa, dưới Thánh Giá, người phụ nữ thành Na-gia-rét, cũng trở thành người Mẹ của những người tin, qua tâm tình nhắn gởi của Chúa Giê-su, Con Mẹ.

  • Thưa Bà, đó là con Bà.

Trở về lại với biến cố truyền tin, chúng ta lắng nghe sứ thần Gáp-ri-en chào Mẹ tại Na-gia-rét: “Kính chào Bà đầy ân phúc” (Lc 1,28). Lời chào này một cách nào đó cũng soi sáng cho khung cảnh của Chúa chịu đóng đinh trên đồi Sọ. Biến cố Truyền tin báo hiệu một khởi đầu, Thánh Giá diễn tả một kết thúc. Trong cảnh Truyền tin, Mẹ Maria trao ban bản tính loài người cho Con Thiên Chúa trong cung lòng Mẹ; dưới chân Thánh giá, Mẹ đón nhận toàn thể nhân loại vào tâm hồn Mẹ qua lời trao gởi của Chúa Giêsu: Thưa Bà, đó là con bà. Chúa Giê-su muốn Mẹ đón nhận thánh Gio-an là người môn đệ Chúa yêu thương, trở thành đứa con của Mẹ. Chúa muốn đem lại cho Gio-an một mái ấm mới, một quê hương mới với người Mẹ luôn yêu thương chăm sóc con mình.[13] Nói cách khác, vào lúc đầu tiên của biến cố nhập thể, thiếu nữ thành Na-gia-rét đã trở thành Mẹ Thiên Chúa, thì trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời Chúa Giêsu – Con Mẹ, Mẹ trở thành Mẹ của những người tin, Mẹ Giáo Hội, Mẹ của nhân loại.

…Về điều này, Giáo Lý Hội Thánh viết rằng, Ðức Ma-ri-a kết hợp với Chúa Kitô, đó là nền tảng vai trò của Mẹ đối với Hội Thánh. Sự liên kết giữa Mẹ và Con trong công cuộc cứu độ được tỏ rõ từ khi Ðức Maria thụ thai Chúa Kitô cách trinh khiết, cho đến lúc Chúa Kitô chết; đặc biệt trong cuộc khổ nạn (x.GLHTCG số 964).[14]

Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội (LG – Lumen Gentium) của Công Đồng Vaticannô II, cũng nói rằng: “Ðức Trinh Nữ tiến bước trong cuộc lữ hành đức tin, trung thành hiệp nhất với Con cho đến bên Thánh Giá, là nơi theo ý Thiên Chúa, Mẹ đã đứng ở đó (x.Ga 19,25). Ðức Ma-ri-a chịu đau khổ kinh khủng với người Con duy nhất của mình, dự phần vào hy lễ của Con, với tâm tình của người mẹ ưng thuận hiến dâng lễ vật do lòng mình sinh ra, để cuối cùng khi hấp hối trên Thánh Giá, Chúa Giê-su Ki-tô đã trối Mẹ làm Mẹ của môn đệ: Thưa Bà, này là con Bà (Ga 19,26-27)” (số 58).[15]

…

Còn đối với Cantalamessa thì: “Như thế, dưới chân Thánh Giá, Ðức Maria xuất hiện như là Nữ Tử Si-on, sau khi chịu tang các con mình, đã được Thiên Chúa ban cho một dòng dõi mới, không theo xác thịt nhưng theo Thần Khí, một dòng dõi đông hơn dòng dõi ban đầu. Ðây là điều mà một thánh vịnh được phụng vụ áp dụng cho Ðức Maria nói lên: ‘Kìa xứ Philitinh, thành Tyr cùng miền Ethiopi, tại đó kẻ này người nọ đã sinh ra’. Nhưng về Si-on, người ta có thể nói: ‘Người người sinh tại đó’. Chúa ghi vào sổ bộ các dân: ‘Kẻ này người nọ đều sinh ra tại đó’ (Tv 87,2tt). Ðúng vậy: tất cả chúng ta đều sinh ra tại đó, mọi người đã sinh ra. Cả tôi, cả bạn”.[17]

…

Theo Cantalamessa, “ở đây chúng ta khám phá thấy một khía cạnh quan trọng trong hành trình thiêng liêng của Mẹ Thiên Chúa. Một lần nữa, ta thấy Người như khách kiều cư lữ thứ trong thế giới này, không mái ấm, không nơi ở thực sự là của mình trên trần gian. Người để cho Thiên Chúa ‘đặt định’ thời gian sinh Con, khi Lời Chúa đặt Người vào trong hoàn cảnh hoàn toàn cô đơn trước mọi người, Thiên Chúa yêu cầu Giuse đón nhận Ðức Maria: ‘Giuse, con của Ðavít, ngươi chớ sợ cưới Maria vợ ngươi về nhà’ (Mt 1,20). Tỉnh giấc, Giuse đã đem Người về nhà mình. Giờ đây, lúc Con chết, một lần nữa Người lại đơn độc trong cuộc đời. Thiên Chúa yêu cầu Gioan đem Người về nhà mình và ‘Gioan từ giờ ấy đã lãnh lấy Bà về nhà mình’. Maria quả là người phụ nữ lênh đênh, không bám vào đâu cả, từ đầu đến cuối, Người để cho Thiên Chúa quyết định cuộc đời mình. Ðối với chúng ta, Người như hiện thân của nghèo khó, Ðức Bà Nghèo Khó”.[19] Đức Bà nghèo khó là Mẹ của Chúa Giê-su và của chúng ta. Thật đẹp biết bao mẫu gương của người Mẹ có tâm hồn nghèo khó đứng dưới chân Thánh Giá.

Ở gốc cây biết lành biết dữ, Evà đã mất chức làm mẹ loài người.

Ở dưới chân Thánh giá, Đức Mẹ đón nhận chức vị làm Mẹ loài người.

…Như thế, qua hành động của Chúa Giêsu, Giáo Hội đã khám phá đôi chút về mầu nhiệm đời sống Kitô hữu. Người tín hữu là thành viên của một gia đình thiêng liêng. Cũng như một đứa trẻ cần có cha có mẹ để phát triển bình thường, thì người tín hữu cũng cần có Đức Maria và Cha trên trời.[20]

Ngoài ra, Cantalamessa cũng giúp suy niệm thêm về sự hiệp thông giữa Mẹ Maria và Chúa Giê-su qua lời Chúa nói với Mẹ: “Hỡi Bà, này là con Bà!, chắc chắn Ðức Giêsu đã quay về nhìn Mẹ, đến nỗi không cần phải gọi tên của Người. Ai có thể thấu được ánh mắt đó giữa Mẹ và Con, trong giây phút như vậy. Mọi nỗi đau khổ của con người đều hàm chứa một chiều kích ‘riêng tư’ thân thiết, và người ta chia sẻ đau khổ theo ‘gia đình’, giữa những người gắn bó với nhau bằng mối dây máu mủ ruột thịt. Niềm đau khổ của Ðức Kitô và của Ðức Maria cũng đã được chia sẻ như thế! Một niềm vui trong đau đớn tột cùng chuyển thông giữa hai người như nước trong hai bình thông nhau. Niềm vui đến từ việc, từ đây, các Ngài chẳng những không còn chống chọi lại nỗi đau đớn, mà ngay cả để cho nỗi đau đó tự do xâm nhập vào tận những gì thâm sâu nhất. Sau cuộc chiến đấu là niềm bình an. Các Ngài nên một với đau khổ và tội lỗi của toàn nhân thế. Ðức Giêsu nên một cách trực tiếp trong tư cách là ‘hy lễ đền tạ tội lỗi của thế gian’ (x.1Ga 2,2). Còn Ðức Maria thì một cách gián tiếp, qua sự kết hiệp với Con bằng cả thân xác và tâm hồn”.[21]

  • Này là Mẹ của con.

Đó là lời Chúa nhắn nhủ với Gio-an, môn đệ Chúa yêu thương. Khi đọc lời trên, chúng ta thấy rằng, trong cái nhìn đầu tiên mang tính con người, Chúa Giêsu đã diễn tả tình yêu của mình dành cho Mẹ Maria. Chúa là người con duy nhất của Mẹ, và sau khi Chúa chết, Mẹ sẽ sống lẻ loi một mình trên thế giới này. Có lẽ vì lo cho người Mẹ đang chịu nhiều đau khổ và mất mát, Chúa đã trao gởi Mẹ cho người môn đệ mà Chúa tin tưởng và thương yêu. Gio-an, tên người môn đệ đó, giờ đây trở nên người con trai của Mẹ, và Gio-an cần phải có trách nhiệm với Mẹ Maria.[22]

Chrysostom nói rằng: “Quân lính làm những điều đó với Chúa Giê-su, nhưng trong khi bị treo trên Thánh Giá, Chúa đã giao phó Mẹ của Ngài cho người môn đệ. Điều đó dạy dỗ chúng ta cũng cần chú ý chăm sóc cha mẹ của chúng ta cho đến hơi thở cuối cùng…Ở đây, Chúa đã diễn tả Chúa thương yêu Mẹ của Ngài hết mực và trao phó Mẹ cho người môn đệ mà Chúa yêu mến”.[23]

Điều Chúa Giê-su làm thật là một cử chỉ cao quý. Có lẽ thánh Giuse đã qua đời trước đó, nên Chúa không muốn Mẹ mình phải sống trong cảnh goá phụ bị lệ thuộc và cô đơn, cũng như bị người đời nguyền rủa, bởi vì trong xã hội Do-thái thời đó người phụ nữ đơn chiếc là coi như bị nguyền rủa.

Chúa không muốn người phụ nữ quá đau đớn vì mất con, và đã phải trải qua biết bao thống khổ khi đồng hành với con trên đường Thánh Giá, lại phải một mình chìm trong nỗi đau khổ tột cùng, trong những tháng ngày còn lại của bà. Cũng thật cao quý biết bao, khi Chúa Giê-su trong hoàn cảnh đau khổ của mình trên Thánh Giá, Ngài đã không nghĩ làm sao để Ngài có thể đỡ đau đớn, mà Ngài lại quên mình đi, và nghĩ tới Mẹ mình, nghĩ tới người khác đang đứng kia với một tâm hồn sầu não thảm thê. Đó là tình yêu của Chúa dành cho Mẹ. Một tình yêu không chỉ mang sắc thái của tình cảm con người, mà còn mang tinh thần quên mình đi, và luôn chú ý và chăm sóc người khác, người gần nhất cũng như người xa nhất.

Karl Rahner đã suy niệm như sau: “Đôi mắt của Chúa nhìn Mẹ lần nữa. Chúa ơi, Chúa đã không hờ hững với Mẹ. Chúa không chỉ là niềm vui của cuộc sống của Mẹ. Chúa cũng là sự đắng cay và đau khổ của cuộc sống của Mẹ. Nhưng cả hai điều này đều là hồng phúc, vì cả hai đều là tình yêu. Và vì Mẹ đều ở bên Chúa và Mẹ phục vụ Chúa trong niềm vui và trong khổ đau, nên Chúa đã yêu thương Mẹ. Trong tinh thần đó, Mẹ thật là Mẹ của Chúa…Trong sự thống khổ quằn quại, tình yêu của Chúa một lần nữa lại tỉnh táo cho sự trìu mến đang được trao gởi trong tình Mẹ Con. Vì trong chính sự chết của Chúa, những điều âu yếm trìu mến và cao quý trên trái đất này vẫn được thánh hiến. Những sự trìu mến và cao quý đó làm cho mọi trái tim mềm đi và đẹp hơn”.[24]

…

Dừng bước ở nơi đây, chúng ta cũng nên hỏi xem: khi chúng ta suy tư lời Chúa Giê-su nói Này là Mẹ của con, và hướng về tương quan giữa Mẹ Maria và chúng ta, thì chúng ta phải hiểu thế nào là làm con cái của Mẹ Maria? Chắc chắn chúng ta không phải là con cái Mẹ theo “chiếc cầu sinh vật học”, mà chúng ta có một “tình mẫu tử thiêng liêng” với Mẹ. Đối với Vitalini tình mẫu tử cao quý này được hiểu trong nhãn quan của Thánh Thần: “Từ ngữ ‘mẫu tử thiêng liêng’ phải được hiểu trong một ý nghĩa sâu xa hơn. Chúng ta là con cái của Mẹ, vì chúng ta là em của Đức Giê-su, được thông hiệp với Ngài do mối tình huynh đệ mạnh mẽ hơn là cái gì thuộc về xác thịt và máu huyết, vì nó tuôn trào từ Chúa Thánh Linh Đấng ban phát sự thật (Ga 3,5-8). Dĩ nhiên là chúng ta không được Đức Mẹ sinh ra bằng xác thịt, nhưng chúng ta được hưởng sự thông hiệp của Mẹ trong một cuộc sinh khác đến từ Chúa Thánh Linh”.[25]

Được là con của Mẹ Maria, thật là cao quý biết bao. Và cao quý hơn nữa, khi chúng ta được mời gọi sống ơn gọi của mình cách xứng hợp. Vitalini chia sẻ tiếp: “Tình mẫu tử của Mẹ Maria rất sâu xa và phổ quát cũng biểu lộ sự cao trọng của chúng ta: Chính trong ơn gọi của Mẹ mà người ta khám phá ra ơn gọi của con cái của người. Mối dây liên đới tận tuỵ mà chúng ta có với Mẹ chính là mối dây theo gót chân Mẹ vào lúc mà Thánh Linh được ban cho chúng ta (Ep 5,1; 1Tx 2,14; 2Tx 3,7). Các cử chỉ bên ngoài của sự tận tụy chỉ có ý nghĩa khi nó đâm rễ sâu trong một thái độ yêu mến giúp chúng ta bước theo mẫu gương đã được ban cho chúng ta. Một người mẹ được con cái ca tụng nếu con cái là một món quà, nhưng điều này chỉ trở nên mật thiết nếu món quà ấy diễn tả sự chú tâm bên trong của người con đối với ý muốn của người mẹ, khi bà muốn giáo dục con cái mình bằng lối tiệm tiến để con cái mỗi ngày nên tốt hơn. Một người mẹ được coi là hạnh phúc, nếu bà thấy con cái của mình không những giúp đỡ về phần xác, nhưng nhất là phần thiêng liêng, vì chính trong tác động ấy mà con cái kín múc được những phần tốt nhất nơi bà”.[26]

Vì thế, nếu chúng ta muốn làm con cái đích thực của Mẹ Maria, nếu chúng ta muốn làm cho Mẹ vui mừng và hài lòng, chúng ta cần cố gắng để trở nên giống Mẹ trong đời sống Đức Tin, đặc biệt với đời sống luôn “xin vâng” theo thánh ý Chúa, đời sống luôn âm thầm hướng theo Chúa Giê-su, Con của Mẹ.

Tóm lại, “hình ảnh của Đức Mẹ phải trở nên cho chúng ta một lời nhắc nhở hằng ngày để thực hiện ơn gọi của mình, đó là trở nên người con của Mẹ… Một trong những điều đầu tiên để chúng ta trở nên con cái của Mẹ, là chúng ta mở rộng cánh cửa để đón mời Mẹ.

  • Mở rộng cánh cửa đón mời Mẹ.

Khi Chúa Giêsu trao phó cho Gioan Mẹ của Người, Gioan đã phản ứng như thế nào? Đọc phần kế tiếp, ngay sau lời Chúa nói với Gioan, chúng ta thấy rằng: “Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình” (Ga 19,27b). Trong bản văn của tiếng Hy-lạp là eis ta idia. Theo cha A. Gruen, thì có nghĩa là vào trong nội tâm của anh, vào trong trái tim của anh.[29] Còn theo Đức BenedictoXVI, thì có nghĩa theo mạch chữ là anh ta đón nhận Mẹ vào trong nơi sâu kín của anh, vào cuộc sống nội tâm của anh.[30] Theo nhà Thánh Kinh học Schnackenburg cũng vậy. Từ ngữ eis ta idia diễn tả không gian của tâm hồn.[31]

Còn Cantalamessa thì giải thích rằng: “Câu ‘và môn đồ đã lĩnh lấy Bà về nhà mình’ (els tu ídin) trong nguyên bản có thể có hai nghĩa, và tất nhiên phải bảo tồn cả hai nghĩa đó. Môn đồ đã lĩnh lấy Bà về nhà mình và môn đồ đã nhận Bà vào số những gì mình quý giá nhất. Người ta rất ít nghĩ đến tất cả sự phong phú của câu văn thật ngắn ngủi đó. Nó chứa đựng bên trong một tin có tầm quan trọng lớn lao và được bảo đảm về mặt lịch sử, bởi nó được chính người có liên quan viết ra. Ðức Maria đã sống những năm cuối đời với Gioan. Những điều chúng ta đọc thấy trong Tin Mừng thứ Tư, về Ðức Maria ở Cana xứ Ga-li-lê và dưới chân Thánh Giá, thì đã được người sống dưới cùng một mái nhà với Ðức Maria viết ra.”.[32] Gio-an đã mở rộng cánh cửa đón mời Mẹ Maria vào. Cánh cửa đó không chỉ là cánh cửa nhà của ông, mà là cánh cửa tâm hồn sâu kín của ông. Như thế, Gioan đã sống đúng điều mà Chúa Giêsu nhắn nhủ ông.

Hơn nữa, khi Chúa nói “Đây là Mẹ của con”, Chúa cũng muốn Gio-an hãy yêu thương Mẹ như Chúa đã yêu thương Mẹ. Qua di ngôn này Chúa Giê-su cũng đã đặt nền tảng cho việc yêu mến Mẹ Maria trong lòng Giáo Hội, trong lòng mỗi tín hữu.

…Công Đồng đã dạy rằng: “Phần các tín hữu hãy nhớ rằng, lòng tôn sùng chân chính không hệ tại ở tình cảm chóng qua và vô bổ, cũng không hệ tại một sự dễ tin phù phiếm, nhưng phát sinh từ một đức tin chân thật. Đức tin dẫn chúng ta đến chỗ nhìn nhận địa vị cao cả của Mẹ Thiên Chúa, và thúc đẩy chúng ta lấy tình con thảo yêu mến và noi gương các nhân đức của Mẹ chúng ta” (LG 67).[33]

Một trong những nhân đức cao quý của Mẹ là luôn thờ lạy Thiên Chúa và luôn xin vâng theo thánh ý của Ngài.  Vì thế, đi đôi với sự tôn sùng Mẹ Maria, người tín hữu luôn ý thức thờ lạy Thiên Chúa trên hết mọi sự, và thờ lạy Ngài là Thiên Chúa Duy Nhất. Đó chính là nét đặc trưng của người Công Giáo: biết đón nhận Mẹ Maria, nhưng không vì thế mà lãng quên Thiên Chúa của mình.

Khi đón nhận Mẹ Maria, người tín hữu ý thức đó là món quà vô giá mà chính Chúa Giêsu ban tặng. Thật tuyệt vời, khi người tín hữu nhận ra rằng: Vì yêu thương nhân loại quá đỗi, nên Cha trên trời đã tặng ban Người Con Duy Nhất của Ngài cho nhân loại. Giờ đây, Người Con Duy Nhất yêu thương nhân loại đến nỗi hy sinh chính bản thân mình cho nhân loại, và ban tặng thêm một món quà cao quý là chính Mẹ của Ngài.

Cantalamessa cũng chia sẻ: “Chúng ta đặt thêm câu hỏi: việc lãnh lấy Ðức Maria về nhà mình có ý nghĩa đối với chúng ta cụ thể như thế nào? Tôi thiết tưởng đây là lúc để nói về cốt lõi lành mạnh, giản dị của linh đạo Monfort về niềm tín thác vào Ðức Maria: ‘Thực hiện mọi hành động nhờ Ðức Maria, với Ðức Maria, trong Ðức Maria, ngõ hầu thực hiện chúng cách hoàn hảo hơn nhờ Ðức Giêsu, với Ðức Giêsu, trong Ðức Giêsu và vì Ðức Giêsu’. ‘Cần phải phó thác theo tinh thần của Ðức Maria để được thúc đẩy và dẫn dắt theo cách thức Người muốn. Phải tự đặt mình trong đôi tay trinh khiết của Người, như một dụng cụ trong tay người thợ, như chiếc đàn luýt (luth) trong tay người nhạc công tài tình. Phải buông mình phó thác cho Người như viên đá ném vào biển cả: điều này thực hiện cách đơn giản, trong một khoảnh khắc bằng chỉ một liếc mắt của tâm trí, một chuyển động nhỏ của ý chí hay bằng môi miệng’…

Ðức Maria là một trong những phương thế ưu việt mà Chúa Thánh Thần dùng để dẫn dắt các tâm hồn và dẫn đưa họ đến chỗ nên giống Ðức Kitô, bởi lẽ Ðức Maria là thành phần của Lời Chúa, chính bản thân Người là một lời bằng hành động (parole en action) của Thiên Chúa. Câu“ad Jesum per Mariam”, nhờ Ðức Maria tới Ðức Giêsu, phải được hiểu theo nghĩa Chúa Thánh Thần dùng Ðức Maria để dẫn đưa chúng ta tới Ðức Giêsu thì mới có thể chấp nhận được. Trung gian thụ tạo (médiation crée) của Ðức Maria, giữa Ðức Giêsu và chúng ta, sẽ tìm lại được tất cả hiệu lực của nó nếu được hiểu như là phương tiện của trung gian bất thụ tạo (médiation incrée) là Chúa Thánh Thần”.[34]

Chúng ta xin Chúa cho chúng ta biết luôn mở rộng cánh cửa nhà mình, cánh cửa tâm hồn mình ra, để như Gio-an đón Mẹ Maria vào, dọn cho Mẹ một chỗ xứng hợp. Có Chúa có Mẹ, thì đời sống người tín hữu sẽ không bao giờ lẻ loi. Có Chúa, có Mẹ người tín hữu sẽ tìm thấy được an bình và hạnh phúc đích thật. Có Chúa có Mẹ ở bên, tất cả mọi khổ đau của cuộc đời này sẽ không thể làm cho người tín hữu đánh mất chính bản thân. …

  • Đón nhận tình yêu để biết sống yêu thương.

Thánh Tê-rê-sa thành A-vi-la trong tác phẩm Đường hoàn thiện đã suy niệm: “Xin Chúa uy linh ban cho chúng ta tình yêu Chúa trước khi gọi chúng ta ra khỏi đời này! Thật là một ân huệ cao cả, khi giờ chết đến chúng ta được phán xét bởi chính Đấng mà chúng ta đã yêu mến trên hết mọi sự. Chắc chắn nợ chúng ta sẽ được trả sòng phẳng; chúng ta không đi vào miền nước xa lạ, nhưng về quê hương của chúng ta, chúng ta đi về xứ sở của Đấng mà chúng ta yêu mến dường ấy và được Ngài yêu mến”.[35]

Thật vậy, tình yêu Thiên Chúa là món quà cao quý nhất của cuộc sống làm người. Mong sao mỗi người chúng ta đón nhận được tình yêu đó, trước khi chúng được Chúa gọi về. Đi vào di ngôn, chúng ta cha A. Gruen giải thích[36], khi Chúa Giê-su trao phó Mẹ Maria cho Gio-an, người môn đệ yêu dấu của Ngài, thì Chúa muốn ban tặng tình yêu của Chúa trong Mẹ Maria cho mọi người. Người môn đệ yêu dấu của Chúa là hình ảnh biểu trưng cho mọi người. Như thế, trách nhiệm của chúng ta là đón nhận tình yêu Chúa vào trong nhà của chúng ta, vào trong tâm hồn chúng ta, vào trong nơi sâu kín nhất của cuộc đời chúng ta. Khi có tình yêu trong chúng ta, chúng ta sẽ trở thành những người có khả năng yêu thương. Chúng ta không còn phải sợ hãi nữa. Có tình yêu, có Chúa và có Mẹ trong căn nhà cuộc đời và trong sâu thẳm của tâm hồn chúng ta, thì nguồn sống và nguồn tình yêu đang ở trong chúng ta. Không có gì có thể lấy mất kho tàng vô giá đó. Qua việc suy niệm di ngôn Chúa nói với Mẹ và môn đệ yêu dấu của Ngài, chúng ta đụng tới nguồn của tình yêu đang ở trong chiều sâu tâm hồn chúng ta.

Chúng ta cũng ý thức rằng, nguồn tình yêu đó luôn bị đe dọa và nhấn chìm bởi những thế lực đến từ sự dữ, bởi những lo âu và đau khổ hằng ngày, cũng như bởi những áp lực của cuộc sống. Khi suy niệm di ngôn này, chúng ta để cho nguồn tình yêu trong sâu thẳm tâm hồn của chúng ta nổi lên, lộ rõ lên và sống động lên. Nhờ đó, chính nguồn tình yêu này bước vào trong sự ý thức của chúng ta, chảy sâu vào trong suy nghĩ của chúng ta, và hướng dẫn lời nói cùng hành động của chúng ta. Hơn nữa, nếu nguồn tình yêu này thấm nhuần những cảm giác của chúng ta, thì nó sẽ giúp chúng ta tìm được những tương quan tốt đẹp với người khác, với bạn bè, với người than, đặc biệt giúp chúng ta đi vào được tương quan với Chúa Giêsu, cụ thể giúp chúng ta ý thức luôn đứng bên Thánh Giá, như ngày xưa môn đệ yêu dấu của Chúa đã làm.

  • Đứng bên cây Thánh Giá.

… Ðứng bên khổ giá của Ðức Giêsu. Những từ đó nói cho chúng ta biết điều phải làm trước tiên và cũng là điều quan trọng nhất, không phải là đứng bên khổ giá theo nghĩa chung chung, mà là đứng bên khổ giá của Ðức Giêsu. Không phải chỉ cần đứng bên khổ giá, chịu đau khổ là đủ, ngay cả chịu đựng trong câm lặng đi nữa. Không! Nếu chỉ có như thế thì có vẻ anh hùng đấy nhưng đó chưa phải là điều quan trọng nhất, thậm chí có khi chẳng là gì cả. Ðứng bên khổ giá của Ðức Giêsu, đó mới là điều quyết định. Ðiều quan trọng không phải là thập giá của chúng ta mà là Thánh Giá của Ðức Kitô. Không phải sự kiện chịu đau khổ nhưng là lòng tin, và qua đó nhận đau khổ của Ðức Kitô làm của mình. Ðức tin mới là điều quan trọng hàng đầu. Ðiều cao cả nhất của Ðức Maria dưới chân Thánh Giá là lòng tin hơn là nỗi đau khổ của Người. Thánh Phaolô nói: lời của Thánh Giá ‘là quyền năng của Thiên Chúa và là khôn ngoan của Thiên Chúa đối với những ai được kêu gọi’. (x.1Cr 1,18.24). Ngài còn nói Tin Mừng là quyền năng của Thiên Chúa ‘đối với mọi kẻ tin’ (x.Rm 1,16).

 Ðứng bên khổ giá… Dấu hiệu và bằng chứng, là vác lấy Thánh Giá của mình và theo Ðức Giêsu (x.Mc 8,34). Dấu hiệu là thông phần vào các thống khổ của Ngài (x.Ph 3,10; Rm 8,17) là cùng chịu đóng đinh với Ngài (Ga 2,20), là lấy chính những đau khổ của mình, bù đắp những gì còn thiếu nơi các nỗi quẫn bách Ðức Kitô phải chịu (Cl 1,24). Ðời sống người Kitô hữu phải trở nên một hy tế sống động như hy tế của Ðức Kitô (x.Rm 12,1). Nhưng vấn đề không phải chỉ là nỗi đau khổ mình phải chấp nhận, phải chịu đựng, mà còn là đau khổ chủ động, tự ý tìm kiếm: “Tôi đối xử khắc nghiệt với thân xác tôi và bắt nó quỵ lụy phục tùng” (1Cr 9, 17).

Ðứng trước Thánh Giá và cuộc Khổ Nạn của Ðức Kitô, quả thật chúng ta thấy có hai thái độ khác biệt trong Giáo Hội: một thái độ đặc trưng của thần học Tin Lành, đặt nền trên đức tin và đón nhận đức tin trong tâm hồn, thái độ này dựa vào Thánh Giá Ðức Kitô và không muốn biết thứ vinh quang nào khác ngoài Thánh Giá Ðức Kitô. Thái độ thứ hai đặc biệt được khai triển, ít là trong quá khứ, trong thần học Công Giáo. Thái độ này nhấn mạnh đến việc cùng chịu đau khổ với Ðức Kitô, thông phần cuộc khổ nạn của Ngài và, như trường hợp một số vị thánh, sống lại cuộc khổ nạn của Ðức Kitô nơi bản thân mình.

Lời Chúa gợi cho thấy điều quan trọng không phải là lựa chọn giữa thái độ này hay thái độ kia, nhưng là giữ cho hai thái độ đó kết hợp với nhau và phát triển cả hai thái độ đó: thái độ tin và thái độ noi theo. Hiển nhiên vấn đề không phải là đặt công trình của Ðức Kitô và việc làm của chúng ta lên cùng một bình diện, nhưng là đón nhận lời Kinh Thánh, vì lời Kinh Thánh dạy rằng đức tin và việc làm gắn liền với nhau, nếu không thì dù là đức tin, dù là việc làm cũng ra vô ích (x.Gcb 2,14tt).

Có thể nói, vấn đề rõ ràng liên hệ đến đức tin. Niềm tin vào Thánh Giá Ðức Kitô phải trải qua đau khổ để trở thành đức tin chính thực. Thư thứ nhất Phêrô nhắc lại rằng đau khổ là ‘lò luyện’ đức tin, và đức tin cần đến đau khổ để được tinh luyện, như vàng trong lửa (x.1P 1,6-7). Nói cách khác, thập giá của chúng ta tự nó không phải là ơn cứu độ, không phải là quyền năng cũng chẳng phải là khôn ngoan, tự nó, thập giá chỉ thuần túy là việc làm của con người ngay cả là sự trừng phạt. Thập giá trở nên quyền năng và khôn ngoan của Thiên Chúa trong mức độ nó kết hợp chúng ta lại với Thánh Giá của Ðức Kitô, và điều này phải là do quyết ý của Thiên Chúa và gắn liền với đức tin.  

Trong bài thánh thi về Thánh Giá vũ trụ chúng ta đọc thấy: ‘Ðối với tôi, cây gỗ này là ơn cứu độ muôn đời. Tôi được dưỡng nuôi, được no thỏa bằng cây đó. Bởi rễ của nó mà tôi đâm rễ sâu, bởi cành của nó mà tôi vươn rộng; sương của nó làm tôi ngất say, và bởi Thần Khí của nó như làn gió tuyệt vời mà tôi thành phong nhiêu. Dưới bóng của nó tôi dựng lều và tìm được nơi ẩn náu khỏi nóng bức mùa hè. Nhờ hoa của nó mà tôi nở hoa, nhờ trái của nó mà tôi thỏa thuê vui sướng, tôi mặc sức hái ăn, bởi đó là trái dành cho tôi ngay từ thuở ban đầu. Cây gỗ đó là thức ăn cho cơn đói, nguồn suối cho cơn khát và là trang phục cho sự trần trụi của tôi. Cây gỗ đó bảo vệ tôi khi tôi e sợ Thiên Chúa, là chỗ dựa khi tôi lao đao, là phần thưởng khi tôi chiến đấu, là chiến lợi phẩm khi tôi chiến thắng khải hoàn. Với tôi, cây gỗ đó là lối nhỏ, là con đường hẹp, là chiếc thang Giacóp, là đường đi của thiên thần, trên đỉnh của nó Chúa thực sự đã tựa vào”.[38] …

  • Là một gia đình quây quần bên Thánh Giá.

…

Elizabeth Johnson, một nữ thần học gia Hoa Kỳ chia sẻ trong tập sách Truly our sister: A theology of Mary in the communion of saints: “Đứng dưới chân Thánh Giá, qua lời của Chúa Giêsu họ đã quay qua nhau và đã cho nhau sự chú ý và chăm nom…Cách nói ‘nhận đây’ hay “nhìn đây” diễn tả rằng, một điều chuẩn bị được tỏ bày, như Gioan Tẩy Giả đã kêu lên ‘Đây là chiên Thiên Chúa’ (Ga 1,36) và như Phi-la-tô lên tiếng ‘đây là vua các ngươi’ (Ga 19,14). Đón nhận lấy nhau trong một tương quan mới – Mẹ của Chúa Giê-su và người môn đệ được Chúa yêu mến, đã đánh dấu một ‘cuộc sinh ra’ của một gia đình mới của niềm tin, gia đình được hình thành trên hành trình theo Chúa Giê-su và Thiên Chúa giàu lòng thương xót…

Thật vậy, trong cuộc sống hôm nay, tất cả những người tin hiệp nhất với nhau làm thành một gia đình trong Thần Khí. Họ là cha mẹ, là con cái và là anh chị em của nhau. Ở dưới chân Thánh Giá, Mẹ Maria đã trở thành Mẹ của gia đình chúng ta, khi chúng ta thực sự đón nhận lời của Chúa Giêsu cách vô điều kiện. Lời nối kết với một trách nhiệm không nhỏ.

Ngoài ra, Radcliffe cũng đã nhìn thấy ý nghĩa thiêng liêng về gia đình trong bối cảnh ở dưới chân Thánh Giá. Radcliffe chia sẻ: “Chúa không gọi Maria là ‘Mẹ’, mà là ‘Bà’, vì bà chính là E-và mới. E-và cũ là Mẹ của mọi sinh linh. Ở đây chúng ta nhìn thấy E-và mới của tất cả những ai sống từ nguồn mạch của niềm tin.

… Chúa Giê-su là chính đá tảng góc tưởng, đã bị người thợ xây loại bỏ (x.Tv 118). Như James Alison viết: ‘Chúa đang hiện diện ở giữa chúng ta như người cùng khổ bị xã hội loại bỏ’. Người cùng khổ này đang ở giữa để chúng ta thờ lạy….Chúng ta, những Kitô hữu, cần phải nhận ra rằng, gia đình của chúng ta được sinh ra ở dưới chân Thánh Giá và không có ai bị loại bỏ cả.

Nếu chúng ta gọi người khác là anh chị em, thì chúng ta đang xây dựng một tương quan chắc chắn và chúng ta đang sẵn sàng hoà giải với nhau…

Hôm nay, khi chiêm ngắm và suy niệm về tâm tình này, chúng ta càng nhận ra được hình ảnh của gia đình chúng ta cách sâu sắc hơn. Một gia đình có Mẹ Maria và người anh là Chúa Giêsu, nguồn mạch của lòng thương xót. Khi Ngài sinh ra ở hang lừa Bêlem, Ngài sinh ra cho mọi người. Cũng thế, khi Ngài vì tình yêu chịu chết trên Thánh Giá Ngài chịu chết cho mọi người. Không ai bị loại ra khỏi tình yêu của Chúa Giêsu. Bạn nghèo ư? Chúa sinh ra và chết cho bạn. Bạn giàu sao? Chúa cũng sinh ra và chết cho bạn. Khi bạn có công ăn việc làm tốt và cả lúc bạn rơi vào tình trạng thất nghiệp, Chúa Giêsu sinh ra và chết cho bạn. Lúc bạn sống trong một gia đình hạnh phúc bên vợ và con ngoan, hay nếu trớ trêu thay bạn đứng trước bờ vực đổ vỡ của gia đình bạn, Chúa Giêsu sinh ra và chết cho bạn. Bạn vui mừng và sống bình an trong tinh thần đạo đức giữ luật Chúa và Giáo Hội, hay khi bạn vì cám dỗ rơi vào trong hố sâu của sự dữ với biết bao lầm lỡ và tội lỗi, Chúa Giêsu sinh ra và chết cho bạn. Ngài sinh ra và chết cho bạn, cho tôi và cho mỗi người chúng ta, dù chúng ta là ai, dù chúng ta thế nào. Đơn giản bởi vì Ngài yêu thương chúng ta, bởi vì Ngài là Emmanuen – luôn ở bên chúng ta, bởi vì Ngài là Giêsu – ban ơn cứu độ cho chúng ta, và bởi vì Ngài cho phép chúng ta được là anh chị em với Ngài, để rồi chúng ta có một Cha trên trời mà mỗi ngày chúng ta có thể kêu cầu ‘Lạy Cha chúng con’, và Ngài còn ban tặng cho chúng ta một người Mẹ yêu dấu là chính Mẹ của Ngài.

…Đức tổng Giám Mục Hélder Câmara của Recife ở bên Brasil đã có một cảm nhận rất sống động: những người nghèo nhất là anh chị em của Ngài. Một lần nọ đức tổng nghe có một người bị cảnh sát bắt, ngài đã gọi cho cảnh sát và nói: Tôi vừa nghe các anh đã bắt người anh em của tôi”. Cảnh sát liền xin lỗi đức tổng và nói: “Kính thưa đức tổng, chúng con xin lỗi, chúng con không biết đó là anh em của đức tổng. Xin Ngài hãy đến và nhận người đó về”. Khi đức tổng đến trạm cảnh sát để đón người kia về, thì một anh cảnh sát đã lên tiếng: “Kính thưa đức tổng, anh này không có cùng tên họ với đức tổng”. Đức tổng Câmara đã trả lời rằng, mỗi người nghèo khổ đều là anh em và là chị em của tôi.[41]

Bài tập sống di ngôn thứ ba của Chúa Giê-su trên Thánh Giá.

  • Đứng dưới cây Thánh Giá, trong thầm lặng xin Chúa củng cố lòng tin của chúng ta vào Chúa, và với niềm tin xin Chúa giúp chúng ta đón nhận đau khổ của Ðức Kitô làm của mình.
  • Đứng dưới cây Thánh Giá như Thánh Gioan, chúng ta nhớ đến những đau khổ trong cuộc đời của chúng ta, xin Chúa cho chúng ta biết ý thức tích cực đón nhận các khổ đau đó như là thập giá cuộc đời chúng ta. Chúng ta đón nhận sự khổ đau này trong tinh thần hiệp thông với Chúa Giêsu chịu đau khổ và chịu chết trên Thánh Giá.
  • Đứng dưới cây Thánh Giá và kế bên Đức Mẹ, chúng ta lắng nghe lại lời Chúa nói với thánh Gioan: “Này là Mẹ con”. Chúng ta nhẩm đi nhắc lời này trong lòng. Thật nhẹ nhàng và trong sâu thẳm của tâm hồn, chúng ta mở vòng tay để đón nhận Mẹ là Mẹ chúng ta, và ý thức dọn một chỗ thật đẹp cho Mẹ trong căn nhà cuộc sống của chúng ta. Và khi có Mẹ là Mẹ, chúng ta cầu xin Mẹ cho chúng ta mỗi ngày sống giống như Mẹ, là người luôn xin vâng với thánh ý Chúa, là người luôn hướng về Chúa Giê-su, Đấng là trung tâm điểm của cuộc sống.
  • Ở dưới Thánh Giá, qua lời Chúa Giêsu, một gia đình của những người tin được hình thành. Mỗi người chúng ta tự hỏi mình xem, là người tín hữu tôi có muốn ở trong gia đình này. Một gia đình có Mẹ Maria Mẹ, và mọi người là anh chị em của nhau, không loại trừ ai cả. Chúng ta mường tượng mình đang sống ở trong gia đình đó. Mỗi người chúng ta nên sống thế nào để xây dựng mái nhà gia đình này tràn ngập tinh thần của Tin Mừng, tinh thần của Đấng chịu đóng đinh và sống lại để cứu độ muôn người?

…

Phan Sinh Trần sưu tầm