Sổ Tay Thượng Dân K’ Tien – Nước mắt Tây Nguyên

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

Nhà báo Bùi Tín, khi vui, tâm sự: “Có người nói đùa một cách chua cay rằng trên báo Nhân dân chỉ có tin dự báo thời tiết là có thể tin cậy phần nào (vì vẫn có trường hợp dự báo sai), có thể tin tưởng được hoàn toàn là tin buồn, tin cáo phó.” (Bùi Tín, Hoa xuyên tuyết, 2nd ed. Turpin Press, 1994, 42)

Dù đã rào đón (trước) đây chỉ là một cách nói đùa, kiểu đùa cợt của ông – ngó bộ – hơi kỳ, và cũng hơi… quá đáng! Nói nào ngay, ngoài tin thời tiết và tin buồn, cơ quan ngôn luận (chính thức) của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam – đôi lúc – cũng loan những tin tức khác, với độ khả tín và khả xác rất cao. Xin đơn cử một thí dụ:

Về số lượng học sinh sắc tộc được tuyển chọn vào đại học, nhật báo Nhân dân (số ra ngày 9 tháng 12 năm 2000) đã ghi:“Các dân tộc Ba Na, Cà Dong, Chu Ru, Cà Tu, Hà Nhì, Xê Đăng, Thổ Chỉ có từ hai đến ba học sinh đạt tiêu chuẩn. Đáng chú ý, mỗi dân tộc: Cơ Lao, Xtiêng, Giáy, Cơ-ho, Lào, La Chí chỉ có một học sinh đủ tiêu chuẩn cử tuyển vào học các trường đại học, cao đẳng.”

Đã có lúc tôi cứ ngỡ đây là con số đại biểu quốc hội, của những nhóm đồng bào sắc tộc, chứ không phải là số lượng “học sinh đủ tiêu chuẩn cử tuyển vào các trường đại học”. Vì nghi ngại có sự “lầm lỗi của ấn công”, tôi đã gửi điện thư đến toasoan@nhandan.org.vn (nhiều lần) để xin xác minh về vấn đề này. Thư cứ đi nhưng tin không lại.

Mãi cho đến mấy hôm gần đây, sau khi đọc bài viết “Phát triển bền vững ở Tây Nguyên” của nhà văn Nguyên Ngọc (www.diendan.org, ngày 20 tháng 8 năm 2008), tôi mới biết chắc rằng tin tức mà báo Nhân dân đã loan là (vô cùng) chính xác. Chuyện tôi yêu cầu tòa soạn xác nhận, đính chính, cáo lỗi, hay thanh minh (thanh nga) là việc – rõ ràng, và hoàn toàn – vớ vẩn.

Theo như cách nói của người dân Tây Nguyên thì Nguyên Ngọc là một già làng – trong làng văn và làng báo Việt Nam – với tất cả những đức tính mẫu mực, đáng quý của một người cầm viết: tài năng, uyên bác, đức độ, dũng cảm, và khả tín.

Ông viết: “Người Châu ở trong thung lũng Mường Hon của núi Ngok Linh, chỉ có khoảng 80 người…” Thế mới biết các dân tộc Ba Na, Cà Dong, Chu Ru, Cà Tu, Hà Nhì, Xê Đăng, Thổ Chỉ, Cơ Lao, Xtiêng, Giáy, Cơ-ho, Lào, La Chí… còn may mắn chán. Dân số của họ chắc chắn phải còn hơn tám mươi người. Nếu không, làm sao còn có được một (hay hai) học sinh đủ tiêu chuẩn cử tuyển vào học các trường đại học!

Nếu có ai thắc mắc, sao giữa thời đại “bùng nổ nhân số”, nhân loại đẻ đái tùm lum mà ở Việt Nam lại có những sắc dân chỉ còn sót lại vài chục mạng (loe ngoe) như thế… thì xin thưa: đó lại là chuyện khác, dài dòng hơn chút đỉnh. Muốn biết thêm chi tiết, xin vui lòng đọc tiếp – vài đoạn trích dẫn (rút ngắn) từ bài viết rất thấu đáo và cô đọng, dài chừng 30 trang đánh máy khổ 8×11 – của nhà văn Nguyên Ngọc:
“Từ sau năm 1975, đối với Tây Nguyên chúng ta có hai chủ trương chiến lược:

  • Xây dựng Tây Nguyên thành một địa bàn vững chắc về an ninh và quốc phòng.
  • Xây dựng Tây Nguyên thành một vùng trọng điểm kinh tế của cả nước.

Để thực hiện chủ trương chiến lược đó, đã :

  • Tăng cường lực lượng lao động lớn cho Tây Nguyên bằng cách tiến hành một cuộc đại di dân chưa từng có, chủ yếu từ đồng bằng châu thổ sông Hồng và vùng duyên hải Nam Trung Bộ lên Tây Nguyên…
  • Tổ chức toàn bộ Tây Nguyên thành các đơn vị kinh tế lớn… Toàn bộ đất và rừng ở Tây Nguyên được quốc hữu hoá, được lấy giao cho các binh đoàn làm kinh tế, các LHXNLCN, các nông trường, lâm trường, và giao cho dân di cư từ đồng bằng lên. Người bản địa chỉ còn phần đất thổ cư và một ít đất làm rẫy.”

Hệ quả, hay nói đúng ra là hậu quả của “hai chủ trương chiến lược” này, vẫn theo nhận xét của Nguyên Ngọc – có những chữ in đậm, như nguyên bản – như sau:

  1. Dân số Tây Nguyên tăng nhanh, đột ngột, với cường độ lớn… Đầu thế kỷ XX, các dân tộc bản địa chiếm 95% dân số. Đến năm 1975, tỷ lệ này là 50%. Hiện nay người bản địa chỉ còn 15-20% trên toàn địa bàn…
  2. Sự tan vỡ của làng Tây Nguyên. Từ sau năm 1975, quyền sở hữu tập thể truyền thống của cộng đồng làng đối với đất và rừng nghiểm nhiên bị xoá bỏ, tất cả đất và rừng đều bị quốc hữu hoá. Như đã thấy ở trên, quyền sở hữu này chính là nền tảng vật chất, kinh tế của làng ; bị bứng mất đi nền tảng này, làng, tế bào cơ bản của xã hội Tây Nguyên, tất yếu tan vỡ…
  3. Môi trường bị tàn phá nghiêm trọng. Cho đến nay, trừ một vài vùng nhỏ như một ít khu vực quanh núi Ngok Linh, vùng Komplong…, có thể nói về cơ bản rừng Tây Nguyên đã bị phá sạch, hậu quả về nhiều mặt không thể lường.
  4. Người bản địa bị mất đất. Việc mất đất, không phải trong một xã hội bình thường mà là từ tay người dân tộc bản địa sang tay người nơi khác đến là người Việt, đã khiến vấn đề đất đai trở thành vấn đề dân tộc. Đây chính là nguyên nhân trực tiếp của sự mất ổn định nghiêm trọng đã và đang diễn ra ở Tây Nguyên.
  5. Văn hoá Tây Nguyên bị mai một. Việc mất rừng, tan vỡ của làng, cơ cấu dân cư bị đảo lộn lớn và đột ngột, người bản địa bị mất đất và mất gốc rễ trở thành lang thang trên chính quê hương ngàn đời của mình… tất yếu đưa đến đổ vỡ về văn hoá.

Nhà văn Nguyên Ngọc cũng có đề cập đến những “lời cảnh báo sớm của một nhóm nghiên cứu về tình hình Tây Nguyên”, cùng với lời giới thiệu trang trọng:
“Năm 1997, một nhóm nghiên cứu thuộc Viện Dân tộc học Việt Nam gồm các tác giả Vũ Đình Lợi (nay đã mất), Bùi Minh Đạo và Vũ Thị Hồng đã hoàn thành một công trình có tên là Sở hữu và sử dụng đất đai ở Tây Nguyên, được giáo sư Đặng Nghiêm Vạn viết lời giới thiệu vào năm 1999, và ấn hành tại nhà xuất bản Khoa học Xã hội vào năm 2000. Sau khi đã trình bày các dữ liệu, phân tích toàn diện và tỉ mỉ tình hình đất và rừng ở Tây Nguyên từ sau năm 1975, các tác giả đã đưa ra lời cảnh báo mạnh mẽ như sau :

‘Sẽ là không quá sớm khi đưa ra lời cảnh báo rằng nếu không kịp thời có giải pháp khắc phục những khiếm khuyết của quá trình khai thác và sử dụng đất đai thì ‘vấn đề dân tộc’ sẽ rất có thể phát sinh trong thực tế nay mai ở Tây Nguyên, chí ít là mất ổn định, nghiêm trọng là máu lại đổ, với sự can thiệp vừa kín đáo, vừa trắng trợn của kẽ thù dưới chiêu bài bảo vệ người dân tộc, bảo vệ quyền tự do tôn giáo. Một khi vấn đề dân tộc và tôn giáo quyện vào nhau thì nguy cơ tới thật khó lường.’

Đây thật sự là một lời cảnh báo đầy trách nhiệm, trung thực, dũng cảm và đã được chứng tỏ là hoàn toàn chính xác. Rất tiếc là nó đã hoàn toàn bị bỏ ngoài tai, thậm chí cả sau khi những điều cảnh báo đã thành hiện thực!

Như vậy, sau hơn 30 năm triển khai, hai mục tiêu chiến lược được đề ra từ đầu đối với Tây Nguyên đã không thực hiện được. Tây Nguyên đã trở thành một vùng mất ổn định nhất trong cả nước; và việc xây dựng một vùng trọng điểm phát triển kinh tế trên một cơ sở mất ổn định như vậy chắc chắn không thể bền vững. Lãnh thổ tuy có được phát triển – cũng là một cách méo mó – nhưng chủ nhân của lãnh thổ thì bị bần cùng hoá và bế tắc. Tìm một con đường khắc phục những thực trạng đó hiện nay ở Tây Nguyên đã trở nên rất khó khăn.”

Ở góc nhìn của một kẻ hậu sinh (sinh trưởng nơi vùng cao nguyên Lâm Viên) tôi thành thực tin rằng chuyện “tìm một con đường khắc phục những thực trạng khó khăn ở Tây Nguyên” sẽ còn khó khăn hơn nữa, nếu vấn đề vẫn được nhìn theo nhãn quan của những nhà nghiên cứu thuộc Viện Dân Tộc Học – như nhà văn Nguyên Ngọc vừa trích dẫn: “Với sự can thiệp vừa kín đáo, vừa trắng trợn của kẽ thù dưới chiêu bài bảo vệ người dân tộc, bảo vệ quyền tự do tôn giáo. Một khi vấn đề dân tộc và tôn giáo quyện vào nhau thì nguy cơ tới thật khó lường.”

Ủa, chớ quí vị nói đến “kẻ thù” nào vậy cà? Và “kẻ thù,” cũng như “nguy cơ, của ai mới được chớ? Của Đảng Cộng sản Việt Nam hay của những nguời dân cùng khổ, bất hạnh ở Tây Nguyên?

Coi: đất đai thì mất trắng, môi trường bị tàn phá, văn hoá bị hủy hoại, xóm làng xơ xác tiêu điều, ngơ ngác đói khát trên mảnh đất quê hương ngàn đời của chính mình, không còn lối thoát nào khác nên cuối cùng người dân Tây Nguyên phải nổi dậy. Sau đó, họ bị đàn áp, săn đuổi (và săn đuổi đến cùng) như thú vật giữa rừng hoang – theo như tường thuật của đặc phái viên Nguyễn Khanh, thuộc đài tiếng nói Á châu Tự do, nghe được hôm 4 tháng 5 năm 2004:

“Hiện có một số người Thượng đang lẩn trốn trong rừng sâu ở tỉnh Mondulkiri nằm sát biên giới với Việt Nam. Những người này từ Tây Nguyên băng rừng sang đến Xứ Chùa Tháp hơm 16 tháng trước, tức sau cuộc biểu tình đòi tự do tôn giáo ở Dak Lak và Gia Lai…

Ðiều không mấy ai biết là trước đó vài ngày, công an địa phương cũng đã bắt giữ một số người Thượng, cáo buộc họ hoạt động chính trị, âm mưu lật đổ nhà cầm quyền. Một vài người trong số này may mắn trốn ra khỏi tù và nhanh chân chạy được vào rừng sâu chạy sang Kampuchea…

Ðiều này được chính các viên chức địa phương Cambodia xác nhận, đồng thời nói thêm là phía Hà Nội treo giải thưởng, cứ mỗi người Thượng trao trả lại cho Việt Nam sẽ được thưởng 125 đô la Mỹ. Với phần đông dân chúng Kampuchea thì đây là một số tiền lớn và khoản tiền thưởng này chính là động lực thúc đẩy binh sĩ, cảnh sát Mondulkiri truy lùng những người Thượng đang lẩn trốn trong địa phương của họ.”

Kẻ ở lại thì bị bị “đấu tố” bằng cách ép buộc phải đứng nhận tội trước làng, và những quan chức địa phương, thề phải ngưng liên lạc với người ngoài, và từ bỏ tôn giáo của mình (Villagers who had participated in the February 2001 demonstrations were forced to stand up in front of their entire village and local authorities to admit their wrongdoing, pledge to cease any contacts with outside groups, and renounce their religion. – “Vietnam’s Repression of Montagnard”, Human Rights Watch Press, New York, April 23, 2002)

Không lẽ trên đời này còn có loại “kẻ thù” nào khác, tàn ác và đáng sợ hơn thế nữa, hay sao?

Và vì quí vị đã nhắc đến hai chữ “kẻ thù”, tôi cũng xin phép được nói luôn: sống với những người cộng sản Việt Nam thì có bao giờ mà thiếu… kẻ thù, bất kể vào thời bình hay thời chiến. Chỉ có điều khác biệt là vào thời chiến thì họ động viên toàn dân xáp vào để đánh, chỉ còn cái khố cũng (phải) đánh, nhưng đến thời bình thì Đảng và Nhà Nước lại dành độc quyền bắt tay làm hoà (và… làm tiền) với kẻ thù!

Tôi xin lỗi vì nóng giận (và mất bình tĩnh) nên đã đi hơi xa vấn đề cần bàn, chút xíu. Xin được trở lại với bài viết “Phát triển bền vững ở Tây Nguyên” của nhà văn Nguyên Ngọc. Nơi phần kết luận, ông đã trích dẫn một câu nói “ để đời” (của nhà dân tộc học Jacques Dournes) khi nghiên cứu về các dân tộc miền núi Nam Đông Dương: “Nếu phải hiểu để mà có thể yêu, thì lại phải yêu để mà có thể hiểu.” (*)

Chính Nguyên Ngọc cũng viết thêm đôi dòng chữ ưu ái và thân ái chí tình, về mảnh đất này: “Đối với Tây Nguyên, cần một sự hiểu biết và một tình yêu đầy sự tôn trọng thật sự, một sự tôn kính chân thành và đầy ưu tư đối với một vùng đất và một vùng văn hoá vào loại độc đáo nhất còn lại trên đất nước ta và trên thế giới ngày nay.”

Thương yêu, hiểu biết, tôn kính, chân thành, tận tụy… – theo như quan niệm nhân bản của Jacques Dournes hay Nguyên Ngọc – đều là những thứ tình cảm (vô cùng) xa xỉ, chưa bao giờ thấy được ở Tây Nguyên, kể từ khi vùng đất này “được hoàn toàn giải phóng.” Xin lược thuật một vài sự kiện chính, để thấy lòng dạ “chân thành” hay “tôn kính” của những quan chức cộng sản nơi vùng sơn cước, cũng như tâm tình (chán ngán) của người dân bản địa đối với Nhà nước – ra sao?

Ngày 6 tháng 9 năm 2002, hãng thông tấn AFP loan tin nhà đương cuộc Hà Nội đã bắt giữ khoảng 30 người Thượng – sau khi họ tham dự vào một cuộc biểu tình phản đối chính phủ tại làng Sao, huyện Madrak, thuộc tỉnh Dac Lak. Tuy nhiên, khi được hỏi về biến cố này, ông Nguyễn Văn Lạng – Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Dac Lak – đã lắc đầu quầy quậy:” Làm gì có biểu tình, bất ổn hay bắt bớ những người dân thiểu số trong thời gian gần đây. Không, tuyệt đối là không có…” (There have been no demonstration, unrest or arrest of any ethnic minorities in recent days. No, absolute, not… – theo như tường thuật của AFP, vào ngày 6 tháng 9 năm 2002, “Demonstrators Arrested in Vietnam’s Central Highlands”.)

Tưởng ai xa lạ, chớ ông Lạng thì tôi đã có lần nhìn thấy hình trên tờ Việt Mercury (trang 44, số phát hành ngày 23 tháng 3 năm 2001) khi ông ấy đang trả lời phỏng vấn, về những biến động xẩy ra ở Dac Lak – hồi tháng 2 năm 2001. Bữa đó ông Lạng cũng nhún vai, bầy tỏ một thái độ (thản nhiên) tương tự: “Ðấy chả qua chỉ là những vụ cãi vã giản dị về văn khế đất đai tại hai ngôi làng mà thôi… Con số của người biểu tình đã tăng lên là do sự thổi phồng của những tay cực đoan phản cách mạng!”

Cái được ông Nguyễn Văn Lạng mô tả là “những vụ cãi vã giản dị… giữa hai ngôi làng”, theo như những nguồn tin đáng tin cậy khác, gồm “nhiều ngàn nông dân đã xử dụng vũ khí – phần lớn là cuốc xẻng và dao rựa – để đấu tranh chống lại sự thối nát của của Ðảng Cộng sản và những chính sách của chính phủ về chuyện đất đai (Credible reports suggest that several thousand peasants took up arms – mostly shovels, hoes and machetes – to do battle over Communist Party corruption and government policies on land use, theo như tường thuật của Mark Mc Donald [từ Việt Nam] qua bài báo “Peasants Battling Hanoi Over Land In Central Highlands Fight Over Premier Coffee-Growing Region Taking On Political And Religious Overtones”, San Jose Mercury News, 26 Feb 2001, A10.)

Sau đó, ai cũng biết là Hà Nội phải huy động cả lực lượng công an cũng như bộ đội và đã xử dụng đến trực thăng để uy hiếp và truy lùng những kẻ đã tham dự vào “những vụ cãi vã giản dị” này. Hàng trăm người Thượng đã bị bắt giữ, hàng ngàn người khác đã bị truy nã. Họ đã chạy sang Cao Miên xin tị nạn.

Theo lời bà Phan Thúy Thanh, phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao, đọc được tên báo Nhân dân – số ra ngày 7 tháng 3 năm 2002 – đây là những kẻ “do bị kích động, lừa gạt nên đã vượt biên trái phép sang Cam-pu-chia”. Một tuần lễ sau, hôm 13 tháng 3 năm 2002, khi được hỏi về thái độ của chính phủ Việt Nam đối với những người này, bà Phan Thúy Thanh đã nói với phóng viên David Brunstrom của hãng thông tấn Reuters rằng “thật đáng tiếc là chỉ có 15 người dân thuộc sắc tộc thiểu số từ Cam Bốt đã được Cao uỷ Tị nạn giao trả lại cho Việt Nam, mặc dù hầu hết họ đều có ‘khát vọng nóng bỏng’ được hồi hương” (‘the burning desire’ of most of them to come back.).”

Bà Thanh, rõ ràng, nói láo! Sự thực, khi được cho phép định cư ở một quốc gia đệ tam, không một ai trong số 905 người Thượng tị nạn tại Cao Miên đã thực hiện “cái khát vọng nóng bỏng được hồi hương” – như bà Thanh đã bịa đặt ra như vậy. Tất cả đều đã xin tị nạn và đã được phép định cư ở Hoa Kỳ, từ tháng 6 năm 2002.

Mấy năm sau, vào ngày 10 tháng 4 năm 2004, một cuộc biểu tình vĩ đại khác diễn ra tại Tây Nguyên. Lại đàn áp, trốn chạy, thương tích, tử vong…, không khác gì lần trước. Và cũng như lần trước, khi bị chất vấn về con số thương vong của người thiểu số, ông Lê Dũng, phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao – người kế nhiệm bà Thanh – cũng đã lắc đầu nguây nguẩy là “hoàn toàn không có ai bị đánh chết ở Buôn Ma Thuột như tin của Human Rights Watch. Chúng tôi cực lực bác bỏ tin này.”

Theo truyền thống của Nhà nước CHXHCNVN thì (ta) cứ “cực lực bác bỏ” – nghĩa là chối ngay, chối bay, chối biến, chối phăng, chối phắt, chối nằng nặc, chối bai bải, chối đây đẩy, chối quầy quậy, chối tuốt luốt, chối hết – là kể như… xong chuyện, và hết chuyện! Truyền thống này, tiếc thay, hơi khó giữ vào thời đại thông tin.

Bởi vậy, mấy bữa sau, ngày 17 tháng 4 năm 2004, ông Phạm Thế Duyệt – Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc – đành phải miễn cưỡng nhận rằng: “Chỉ có hai người trong số những người cố ý gây rối trật tự công cộng bị chết do chính họ ném đá vào nhau. Ngoài ra, còn có vài chục người bị thương trong các cuộc ẩu đả lẫn nhau.”

Ý, giàng ơi! Sao khi khổng khi không cái hàng chục ngàn người Thượng, bỏ buôn làng, kéo vô thành phố, chia làm hai phe, dàn hàng ngang rồi “ném đá vào nhau” và “ẩu đả lẫn nhau” cho… tới chết luôn – như vậy, hả trời? Nói (đại) như vậy mà nói được sao, cha nội? Cũng như bà Thanh, và ông Dũng, thằng chả – rõ ràng – cũng nói láo như… ranh. Thiệt là thầy chạy!

Mà người dân miền núi thì không quen dối trá. Họ không thể tiếp tục sống mãi với những kẻ (cứ mở mồm ra là) nói láo xoen xoét như thế. Bởi thế, sau khi trốn thoát được đến Cao Miên, theo tường thuật của BBC, nghe được vào hôm 21 tháng 7 năm 2004, ông Ralampee – một người tị nạn từ Tây Nguyên – đã nói với phóng viên của hãng tin Reuters rằng: “Tôi thà chết ở đây, chứ không trở lại Việt Nam và chết ở nơi đó (I would be happy to die right here, rather than go back to Vietnam and die there).”

Ông Ralampee không phải là người đầu tiên, cũng không phải là kẻ cuối cùng (hay duy nhất) đã bầy tỏ một thái độ quyết liệt như vậy. Có hàng trăm ngàn người dân miền núi, và hàng triệu đồng bào của họ ở miền xuôi, cũng đã dùng đến sinh mạng của mình để bỏ phiếu (bằng chân hoặc bằng thuyền) theo phương cách tương tự.

Tai hoạ mà cộng sản mang lại đâu chỉ giới hạn ở Tây Nguyên. Hãy đọc lại, một lần nữa, những vấn đề mà nhà văn Nguyên Ngọc vừa nêu xem. Xin vẫn được in đậm, theo nguyên bản:

  1. Dân số Tây Nguyên tăng nhanh, đột ngột, với cường độ lớn;
  2. Sự tan vỡ của làng Tây Nguyên;
  3. Môi trường bị tàn phá nghiêm trọng;
  4. Người bản địa bị mất đất;
  5. Văn hoá Tây Nguyên bị mai một.

Chớ có cái làng quê nào ở miền Bắc mà không “tan vỡ”, sau Cải cách Ruộng đất? Có dòng sông nào, khu rừng nào – xuyên suốt cả hai miền đất nước – không bị ô nhiễm, tàn phá, hủy hoại chứ đâu có riêng chi môi trường ở Tây Nguyên?

Dù chính sách hợp tác xã nông nghiệp không được thực thi ở miền Nam, chủ trương xây dựng lâm trường và nông trường cũng khiến cho vô số người dân miền xuôi mất trắng đất hết đai. “Tiếng kêu giữa rừng U Minh Hạ” (được ghi lại bởi phóng viên Hoàng Trí Dũng, đọc được trên Tuổi trẻ Online, vào ngày 18 tháng 9 năm 2005) nghe cũng ai oán, và thảm thiết đâu có khác gì tiếng nấc của núi rừng ở Tây Nguyên:

“Tôi đã đến nhiều miền quê nghèo khó vùng sông nước ĐBSCL, nhưng có lẽ chưa lần nào tơi bị ‘sốc’ như chuyến đi lần này. Nơi tôi đến là một vùng quê giáp ranh giữa hai tỉnh Kiên Giang – Cà Mau, cách không xa trung tâm hai thành phố Rạch Giá và Cà Mau, vậy mà đã 30 năm sau ngày đất nước thống nhất vùng quê ấy vẫn còn là bức tranh buồn thảm với nhiều nỗi bức xúc: không điện, đường, trường, không trạm xá, không hộ khẩu, không đất sản xuất…

Trái ngược với hình ảnh ấy là cơ ngơi của các quan chức địa phương – những người đang giành giật đất đai của dân. Đó là chuyện thật ở ngay một góc Lâm trường U Minh 2, ấp 4, xã Khánh Hịa, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

[…]

Cách đây hai năm một cháu bé tên Hằng, 10 tuổi, con của hai vợ chồng trẻ không may bị bệnh viêm ruột thừa cấp tính, nhưng ở giữa rừng không có trạm y tế, mà lòng kênh trơ đáy khô queo, còn trên bờ thì không có đường đi rốt cuộc đành ngồi nhìn con chết mà bất lực vì không cách nào chuyển đi bệnh viện…”

Tương tự, “văn hóa bị mai một” hay suy đồi là “tình trạng chung của cả nước,” chớ đâu có riêng chi ở Tây Nguyên! Tôi cũng chả thấy có sự dị biệt nào giữa hai cuộc biểu tình của dân chúng ở Tây Nguyên, với những cuộc biểu tình ở các tỉnh đồng bằng: Thái Bình, Đông An, Nam Hà, Nghệ An, Trà Cổ… Tựu trung, đó chỉ là những phản ứng tự nhiên của những người dân chân chất – khi bị dồn đến chân tường, thế thôi.

Và tôi e rằng đa số người dân đã bị dồn đến chân tường rồi. Trước tình trạng này những đề nghị phát triển , hay “phát triển bền vững”, đều bất khả thi. Kinh nghiệm của nạn nhân cộng sản, ở những quốc gia khác, cho thấy là thể chế này chỉ có thể thay thế chứ không thể nào thay đổi được

Còn làm thế nào thay thế được nó thì (sorry) tôi không biết. Và đây, chắc chắn, cũng không phải là “chuyện riêng” của người dân miền núi chúng tôi. Tây Nguyên, nghĩ cho cùng, chỉ là hình ảnh của một Việt Nam thu nhỏ, với những nét khắc khốc liệt và tàn bạo hơn (đôi chút) thế thôi.

K’ Tien
10/2008

(*) Jacques Dournes còn có bút danh là Dam Bo, tác giả công trình nghiên cứu Các dân tộc miền núi Nam Đông Dương, được giới thiệu vào đầu năm 1950, trên Tạp chí Pháp – Á (France-Asie 49-50 Numero Special Consacre aux Populations Montagnardes du Sud-Indochinois: Saigon,1950) và đã được chuyển dịch là Miền đất huyền ảo, một cách hết sức gẫy gọn và tài hoa bởi nhà văn Nguyên Ngọc.


 

Vụ giết nhân viên chính quyền ở Đắk Lắk: Nhiều người nói bạo lực không phải là giải pháp

12/06/2023


Công an Việt Nam bắt giữ 26 người sau vụ tấn công giết nhân viên chính quyền xã ở tỉnh Đắk Lắk hôm 11/6.

Hàng chục người chưa rõ danh tính đã tấn công 2 trụ sở chính quyền cấp xã ở tỉnh Đắk Lắk vào rạng sáng 11/6, giết chết ít nhất 7 người bao gồm 4 viên công an, báo chí Việt Nam tường thuật, dẫn lại thông tin từ chính quyền.

Bình luận về vụ việc, một số luật sư, nhà hoạt động, nhà báo nói với VOA rằng việc sử dụng bạo lực, kể cả để đấu tranh chống bất công, là điều không thể ủng hộ, song họ cũng cho rằng sự manh động tuyệt vọng của người dân không phải là vô cớ và phía chính quyền cần phải xem xét lại chính mình.

Vấn đề đất đai bị kích động?

Cổng thông tin điện tử của chính phủ Việt Nam cho hay một nhóm đông người vào sáng sớm ngày 11/6 đã dùng súng tấn công trụ sở công an của hai xã Ea Tiêu và Ea Ktur, thuộc huyện Cư Kuin (Chư Quynh), tỉnh Đắk Lắk, làm chết ít nhất 7 người, gồm 4 viên công an xã, những người còn lại là cán bộ xã và người dân.

Hai xã kể trên chỉ cách thành phố Buôn Ma Thuột hơn 5 km về phía đông nam theo đường chim bay và nằm rất gần sân bay Buôn Ma Thuột.

Tin cho hay đến trưa 12/6 công an bắt được “26 đối tượng” và thu giữ “một số vũ khí quân dụng, trong đó có súng trường CKC”. Một phát ngôn viên Bộ Công an cho hay lực lượng của bộ vẫn tiếp tục “truy quét các đối tượng còn đang lẩn trốn”.

Nhà nước nào cũng có đối lập, đúng không? Bên đối lập lợi dụng tình hình dân tộc và tình hình thu hồi đất để làm đường giao thông, các dự án phát triển kinh tế-xã hội để kích động nhóm đối tượng này.
Một người dân ở Ea Tiêu

Tin tức trên Cổng thông tin điện tử chính phủ và báo chí Việt Nam ở thời điểm chiều 12/6 không cho biết nguyên nhân nào đã dẫn đến vụ tấn công chết chóc.

Theo tìm hiểu của VOA, từ giữa năm 2022 đến tháng 3 năm nay, huyện Cư Kuin tiến hành giải phóng mặt bằng, bao gồm cả cưỡng chế, để lấy đất của hàng chục hộ dân ở hai xã Ea Tiêu và Ea Ktur.

Công tác giải phóng mặt bằng đó một phần là để phục vụ dự án xây dựng đường Hồ Chí Minh đoạn tránh phía đông thành phố Buôn Ma Thuột, một phần là để chấn chỉnh hành lang an toàn giao thông dọc theo quốc lộ 27.

Báo chí trong nước cho hay nhiều người bị “thiệt đơn thiệt kép” trong các cuộc giải phóng mặt bằng kể trên.

Vào cuối giờ hành chính ngày 12/6, VOA cố gắng liên lạc với ủy ban nhân dân và công an huyện Cư Kuin, các cơ quan cấp trên của hai xã có vụ tấn công, để hỏi xem liệu vấn đề đất đai có liên quan gì đến vụ tấn công, nhưng không có hồi đáp.

Một người dân không muốn nêu tên, sống gần trụ sở ủy ban nhân dân xã Ea Tiêu, nói với VOA rằng ông và nhiều người bàng hoàng về vụ tấn công và nêu nhận định về nguyên nhân:

“Nhà nước nào cũng có đối lập, đúng không? Bên đối lập lợi dụng tình hình dân tộc và tình hình thu hồi đất để làm đường giao thông, các dự án phát triển kinh tế-xã hội để kích động nhóm đối tượng này. Thực tế những người này theo tôi nghĩ là thành phần thiếu hiểu biết. Giờ xảy ra tình trạng như vậy cũng rất là đáng thương”.

Người dân này đưa ra nhận xét cá nhân về vị chủ tịch xã và bí thư đảng ủy xã bị thiệt mạng trong vụ tấn công:

“Chế độ này, chế độ tôi đang sống đây, có rất nhiều tiêu cực, nhưng hai đồng chí vừa mất được dân tin yêu, là hai cán bộ tốt thực sự. Là lãnh đạo cỡ chủ tịch, bí thư xã, họ không tham quyền, không tham chức, họ rất tốt với dân. Thứ bảy, Chủ nhật, họ đi làm rẫy. Hai người này thật hiếm có trong xã hội bây giờ”.

Nếu mà có điều tra phối hợp với một cơ quan độc lập, mọi chuyện sẽ tốt hơn. Điều tra của một cơ quan thì kết quả không thật như kỳ vọng đâu.
Nhà phản biện Chu Vĩnh Hải

Theo mô tả của người dân này, ban đầu, vụ tấn công làm người dân địa phương “sợ hãi” về mức độ “manh động”, nhưng sau khi được chính quyền,công an và bộ đội trấn an và thấy họ triển khai các lực lượng, người dân thấy “bình yên, không có xáo trộn gì”.

Ông Chu Vĩnh Hải, một cựu nhà báo lâu nay thường lên tiếng phản biện xã hội, nói với VOA rằng phía nhà nước Việt Nam cần phối hợp với một tổ chức độc lập để điều tra về vụ nổ súng ở Đắk Lắk vì nếu chỉ có cơ quan nhà nước điều tra sẽ không khách quan:

“Nếu mà có điều tra phối hợp với một cơ quan độc lập, mọi chuyện sẽ tốt hơn. Điều tra của một cơ quan thì kết quả không thật như kỳ vọng đâu. Nếu có điều tra độc lập nữa sẽ tốt hơn, có nghĩa là bất cứ tổ chức nào, trong nước hay ngoài nước, hay là điều tra độc lập của một cá nhân ở trong nước chẳng hạn”.

Hai xã Ea Tiêu, Ea Ktur (tỉnh Đắk Lắk) rất gần thành phố Buôn Ma Thuột và chính quyền huyện Cư Kuin.
Hai xã Ea Tiêu, Ea Ktur (tỉnh Đắk Lắk) rất gần thành phố Buôn Ma Thuột và chính quyền huyện Cư Kuin.

 

Những tiếng nói phản đối bạo lực

Trên mạng xã hội, một số người bình luận rằng vụ tấn công có thể là sự phản kháng bằng bạo lực của người dân sau những thua thiệt, bất công theo kiểu “con giun xéo lắm cũng quằn” hay “tức nước vỡ bờ”, theo quan sát của VOA.

“Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh”, “Dân oan căm phẫn bất ngờ đứng lên”, “Đây là những anh hùng thực sự nếu họ đứng lên vì đấu tranh”, v.v… là ý kiến của không ít người bày tỏ trên mạng.

Tôi phản đối các hành vi, hành động bạo lực, khủng bố. Thời buổi đã khác rồi, cuộc sống văn minh hiện đại rồi, người ta phản kháng bằng ôn hòa bất bạo động chứ không thể phản kháng bằng bạo lực và khủng bố được.
Cựu nhà báo Chu Vĩnh Hải

Tuy nhiên, có những người khác lên tiếng phản đối bạo lực, cho rằng làm như vậy có hại cho cuộc đấu tranh lớn hơn để có dân chủ, tiến bộ xã hội ở Việt Nam.

Một trong những người đó, ông Chu Vĩnh Hải, người vẫn hay đưa ra các ý kiến phản biện xã hội, chia sẻ suy nghĩ với VOA:

“Tôi phản đối các hành vi, hành động bạo lực, khủng bố. Thời buổi đã khác rồi, cuộc sống văn minh hiện đại rồi, người ta phản kháng bằng ôn hòa bất bạo động chứ không thể phản kháng bằng bạo lực và khủng bố được. Phản kháng bằng bạo lực, khủng bố gây thiệt hại rất lớn cho các bên, gây mất trật tự, mất ổn định cho cuộc sống xung quanh”.

Từng là nhà báo nhiều năm trong hệ thống báo chí nhà nước Việt Nam, ông Hải chỉ ra rằng vụ việc ở Đắk Lắk mới xảy ra nói riêng và những mâu thuẫn, xung đột ở Tây Nguyên trong nhiều năm qua nói chung có nguyên nhân từ một trong ba, hoặc cả ba vấn đề “nổi cộm” là đất đai, sắc tộc và tôn giáo. Ông nói thêm:

“Người dân họ sẽ bức xúc. Mà bức xúc thì như ông cha ta đã nói ‘con giun xéo lắm phải quằn’. Nhưng ‘quằn’ theo kiểu nào? ‘Quằn’ bằng bạo lực, khủng bố là tôi phản đối”.

Để đấu tranh dân chủ, cần biết tập hợp lực lượng và đấu tranh ôn hòa chứ không phải là tạo cớ cho chính quyền đàn áp.
Luật sư Hà Huy Sơn

Cũng phản đối bạo lực, luật sư Hà Huy Sơn nói với VOA:

“Bạo lực sẽ đẻ ra bạo lực. Nếu người dân sử dụng bạo lực, chính quyền càng căn cứ vào đó, lấy lý do đó để càng siết chặt hơn cái đòi hỏi dân chủ, đòi hỏi nhân quyền. Với những lý do như thế, tôi phản đối bạo lực trong đấu tranh”.

Luật sư Sơn đưa ra quan sát rằng ở Việt Nam, không ít người dân có quan niệm là chính quyền “có lỗi” trong những bất công, nên họ “hả hê” khi thấy những vụ tấn công vào cán bộ, nhân viên chính quyền. Ông Sơn cho rằng cách phản ứng đó chỉ kích động thêm bạo lực và vi phạm pháp luật. Ngược lại, ông đề cao sự ôn hòa:

“Xã hội nào cũng cần có pháp luật. Để đấu tranh dân chủ, cần biết tập hợp lực lượng và đấu tranh ôn hòa chứ không phải là tạo cớ cho chính quyền đàn áp”.

Trụ sở xã Ea Tiêu, tỉnh Đắk Lắk, sau vụ tấn công chết người hôm 11/6.
Trụ sở xã Ea Tiêu, tỉnh Đắk Lắk, sau vụ tấn công chết người hôm 11/6.

Vấn đề về phía chính quyền

Nếu sử dụng bạo lực thì các ông định giành chính quyền thì các ông sẽ xây dựng một chính quyền như thế nào? Cũng sẽ ứng xử với nhau bằng bạo lực thì khác gì tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa?
Luật sư Hà Huy Sơn

Với hiểu biết về Việt Nam, luật sư Sơn khẳng định các mâu thuẫn, bất ổn cũng có nguyên nhân từ phía chính quyền, mà cơ bản là “các quyền dân chủ của người dân chưa được tôn trọng, pháp luật chưa hoàn thiện, chưa nghiêm minh”. Đây là vấn đề lớn có tính lịch sử, ông nói và cho rằng không thể giải quyết bằng “một hai phản ứng tức thời”. Ông nói thêm:

“Người dân phải kiên trì, phải tìm hiểu pháp luật hiện hành để mà đấu tranh dựa trên pháp luật đó để mà đòi hỏi quyền lợi của mình. Giới trí thức, người có hiểu biết nên làm cho người dân hiểu điều đó, vì đó là cách đấu tranh phải trả giá thấp nhất”.

Ông Sơn lưu ý rằng khi dùng bạo lực, tương quan lực lượng giữa người phản ứng và chính quyền quá là chênh lệch, đồng thời ông cũng đặt câu hỏi về hệ lụy của đấu tranh bằng bạo lực:

“Nếu sử dụng bạo lực thì các ông định giành chính quyền thì các ông sẽ xây dựng một chính quyền như thế nào? Cũng sẽ ứng xử với nhau bằng bạo lực thì khác gì tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa?”

Ở Việt Nam, bạo lực đều xuất phát từ nhà cầm quyền … người ta sử dụng chính luật pháp và tòa án để làm công cụ phục vụ lợi ích của thiểu số cầm quyền và chà đạp mọi quyền lợi, ước nguyện hợp pháp của người dân.
Nhà hoạt động Phạm Thanh Nghiên

Nhà hoạt động, cựu tù nhân lương tâm Phạm Thanh Nghiên, nói với VOA rằng với tư cách là một người dân, bà “phản đối và lên án bạo lực, nhất là những vụ bạo lực gây ra cái chết”. Nhưng bà cũng chỉ ra rằng “bạo lực từ phía nhà cầm quyền cũng phải bị lên án một cách mạnh mẽ”.

Bà Nghiên và gia đình từng bị chính quyền Việt Nam o ép, ngăn cản đường sống trong nhiều năm và hiện sống tị nạn ở Mỹ. Bà đưa ra quan sát:

“Sự thực là ở Việt Nam, rất tiếc bạo lực đều xuất phát từ nhà cầm quyền. Luật pháp có, tòa án có nhưng người ta sử dụng chính luật pháp và tòa án để làm công cụ phục vụ lợi ích của thiểu số cầm quyền và chà đạp mọi quyền lợi, ước nguyện hợp pháp của người dân”.

Người dân sẽ chẳng bao giờ được biết sự thật đằng sau vụ việc kinh hoàng ở Đắk Lắk ngoài những gì được truyền thông nhà nước loan ra, bà Nghiên tiên liệu và nhận xét rằng cũng giống như tòa án, luật pháp, chính quyền Việt Nam “sử dụng truyền thông như là một phương tiện bạo lực để định hướng dư luận”.

Người phụ nữ từng bị chính quyền bỏ tù 4 năm và quản thúc 3 năm về tội “tuyên truyền chống nhà nước” cách đây hơn 10 năm giờ đây dự báo với VOA rằng “thế nào cũng có người bị bắt oan, bị xử oan. Một chế độ công an trị thì oan khuất ngút trời là lẽ đương nhiên”.

Nhắc lại quan điểm lên án bạo lực, giết chóc, song bà Nghiên cũng lưu ý đến yếu tố người dân bị công an, nhà cầm quyền “hãm hại, dồn nén quá mà ra thảm cảnh”. Người dân vốn rất sợ hãi công an và nhà cầm quyền, bà Nghiên nhận xét và nhấn mạnh rằng chính vì thế càng cần phải tìm hiểu điều gì dẫn đến việc họ dám manh động với kết cục như vậy.

Trong một bài có tựa đề “Người dân tuyệt đối không chia sẻ thông tin chưa kiểm chứng về vụ tấn công trụ sở công an 2 xã tại huyện Cư Kuin”, cổng thông tin của chính quyền tỉnh Đắk Lắk hôm 11/6 viết rằng Bộ Công an “đề nghị” bà con huyện Cư Kuin và các địa bàn lân cận “bình tĩnh, không hoang mang và thực hiện theo yêu cầu của chính quyền cơ sở và lực lượng chức năng”.

Trang web Đắk Lắk Điện tử còn dẫn lời phát ngôn viên Bộ Công an “khuyến cáo các cơ quan truyền thông cần kiểm chứng thông tin trước khi đăng tải để đảm bảo thông tin đúng sự thật”.


 

Công ty lính đánh thuê Wagner từ chối ký hợp đồng với bộ Quốc Phòng Nga

RFI

Thêm một rạn nứt giữa công ty lính đánh thuê Wagner và quân đội Nga : ông chủ của công ty, Evguéni Prigojine, hôm Chủ Nhật 11/06/2023, tuyên bố không một binh sĩ nào của Wagner « ký hợp đồng » với quân đội Nga.

Đăng ngày: 12/06/2023

Evgueni Prigojine (giữa) cùng với các lính đánh thuê của Wagner, tại một địa điểm không rõ trong mặt trận trận ở Ukraina. Hình cắt từ video của Wagner công bố ngày 05/05/2023. via REUTERS – PRESS SERVICE OF “CONCORD\

Thanh Hà

Phát biểu này được đưa ra một ngày sau khi bộ trưởng Quốc Phòng Nga Serguei Choigu ra lệnh cho tất cả « lính tình nguyện » từ nay đến cuối tháng 6/2023 phải trình diện và ký hợp đồng với bên quân đội.

Theo Reuters, giới quan sát cho rằng quyết định của bộ Quốc Phòng Nga chủ yếu nhắm vào lực lượng lính đánh thuê Wagner trong tay Evguéni Prigojine.

Bộ trưởng Quốc Phòng Serguei Choigu cách nay hai hôm giải thích, với hợp đồng này, lính của Wagner sẽ được hưởng những quyền lợi, được trả lương tương tự như lính chính quy. Đồng thời trong bối cảnh Ukraina đã bắt đầu « phản công », sự kết hợp với bên quân đội sẽ nhằm giúp nâng cao hiệu quả trong các hoạt động quân sự.

Thế nhưng lãnh đạo Wagner, ông Prigojine đã lập tức bác bỏ khả năng này khi cho rằng đội quân do ông lãnh đạo sẽ « mất hẳn tính tinh nhuệ » một khi được đặt dưới trướng của Serguei Choigu. Chủ nhân Wagner không còn che dấu hiềm khích với bộ trưởng Quốc Phòng của Vladimir Putin khi cho rằng Choigu bất tài và « không đủ khả năng lãnh đạo một cách đúng đắn » các đơn vị quân sự.

Hãng tin Reuters nhắc lại đây không là lần đầu tiên lãnh đạo Wagner trực tiếp nhắm vào ông Choigu và bộ Quốc Phòng Nga.

Xin đừng gọi tôi là: Việt cộng – Le Dinh

Le Dinh

Nếu tôi có làm anh buồn, giận anh muốn chửi tôi là đồ ma-cô, đĩ điếm, quân chó đẻ, … hay những gì bỉ ổi xấu xa nhất cũng được, nhưng xin đừng bảo tôi mầy là thằng: Việt cộng.

Hai tiếng này, tôi không hiểu sao, cho đến ngày nay, nó trở thành hai tiếng xấu xa, kinh tởm nhất trong số những danh từ để ám chỉ những hạng người mà ai ai cũng oán ghét, hận thù và muốn xa lánh. Nhưng hai tiếng Việt Cộng nguyên thủy đâu có gì là xấu xa, nó chỉ là một danh từ ghép thường thôi, như rừng núi, biển khơi, đồng áng, … nhưng theo thời gian biến đổi, nó trở thành một danh từ ghê tởm và rùng rợn lúc nào chúng ta không hay.

Nếu ai chỉ một tên nào đó mà nói “Mầy là thằng Việt Cộng” thì có nghĩa người đó là một người xấu xa nhất trong xã hội hiện nay. Chẳng thà chửi cha người ta, người ta không giận bằng chửi “Mầy là thằng Việt Cộng”. Như vậy đủ biết hai chữ Việt Cộng bị người đời thù ghét như thế nào rồi. Mà nghĩ cũng đúng thôi.

Nhớ lúc tôi còn nhỏ, năm tôi 11 tuổi, còn học ở trường Tiểu học Vĩnh Lợi, cách làng Vĩnh Hựu của tôi chừng ba cây số. Mỗi sáng thứ hai đầu tuần, mẹ tôi phải đưa tôi đến trường và tôi lưu trú tại nhà dì tôi cho đến cuối tuần mới trở về Vĩnh Hựu. Một buổi sáng thứ hai đầu tuần, cũng như mọi khi, mẹ tôi xếp đâu 2 chục trứng gà vào một cái giỏ để khi đưa tôi đến trường xong là mẹ tôi ra chơ bán 2 chục trứng gà đó, lấy tiền mua các thức ăn khô khác. Hai mẹ con đang đi, độ còn nửa đường là tới làng Vĩnh Lợi, thình lình trong một bụi cây rậm rạp, có một người mặc đồ đen, tay cầm khẩu súng ngắn sáng loáng, nhảy ra chận mẹ con tôi lại, quát to: Đứng lại! Anh ta đưa họng súng ngay truớc trán mẹ tôi, rồi đưa sang qua tôi, quơ qua quơ lại trên đầu tôi, hỏi mẹ con tôi có phải đem trứng ra chợ để bán cho Tây không? (Lúc đó, ở tại chợ Vĩnh Lợi, ngay phía bên kia đầu cầu sắt, có một cái đồn của người Pháp đóng tại đó). Mẹ tôi run run nói:

– Dạ thưa ông, đâu phải, tôi đem trứng này ra chợ bán để lấy tiền mua thức ăn.

– Chứ không phải mẹ con bà đem lương thực cung cấp cho Tây sao?

– Dạ thưa ông, đâu có phải như vậy.

– Thôi lần này tôi tha cho mẹ con bà đó, nhưng giỏ trứng thì bị Ủy ban tịch thu. Nhớ lần sau, còn gặp mẹ con bà đem trứng ra chợ như vậy nữa là tôi sẽ bắn bỏ.

– Dạ mẹ con tôi đội ơn ông.

Thật hú hồn hú vía. Lần đầu tiên trong đời, tôi mới nhìn thấy khẩu súng lục. Sao nó uy dũng, hiên ngang, trông rất dễ sợ. Và cũng lần đầu tiên trong đời tôi mới biết đó là những kẻ gọi là Việt Minh, những người mặc đồ đen, đầu quấn khăn rằn, rồi sau này trở thành Việt Cộng và hai chữ Việt Cộng đã ám ảnh tôi từ suốt thời bé thơ cho đến khi khôn lớn.

Nếu không có lần bị đón đường, bị đe dọa bắn bỏ hôm đó, tôi đã trở thành một tên Việt Minh từ thời trẻ dại này rồi. Tôi còn nhớ rất rõ, ở tuổi 11, 12, tôi say mê những bài hát êm đềm, như:

“Còn đâu trên chiến khu trong rừng chiều

Bên đèo lắng suối reo, ngàn thông reo

Còn đâu trên chiến khu trong rừng chiều

Bên đèo đoàn quân réo, đạn bay vèo…”

Hay hùng dũng, như:

“ Mùa thu rồi ngày hăm ba, ta ra đi theo tiếng gọi sơn hà nguy biến…”

Hoặc:

“Đoàn giải phóng quân một lòng ra đi

Nào có sá chi đâu ngày trở về…”

Và còn nữa:

“Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng

Kiếm nguồn tươi sáng…”

Hay là những bài thơ mà giờ đây hơn 60 năm qua, tôi vẫn còn nguyên trong trí nhớ:

“Tôi muốn tôi là một cứu thương

Cạnh theo chiến sĩ đến sa trường

Nằm lăn trên lá hay rơm ủ

Băng trắng đầu mình những vết thương”

Thật là lãng mạn, thật là dễ thương. Làm sao mà tôi không bị quyến rũ bởi nét nhạc, lời thơ như vậy được. Cho nên tôi có ý nghĩ là mình sẽ phải theo mấy anh lớn để được vào bưng, được nghe tiếng suối reo, ngàn thông reo, được nằm lăn trên lá hay rơm ủ, được nữ y tá săn sóc vết thương, … Rồi một ngày nọ, tôi được theo đoàn biểu tình đi bộ từ làng Vĩnh Hựu của tôi lên tới tỉnh Gò Công, cách xa làng tôi 14 cây số, để gọi là … ủng hộ Việt Minh. Thức dậy từ 3 giờ khuya, chuẩn bị cơm vắt muối mè, tập hợp lại rồi tháp tùng đoàn người, đi theo nhịp trống quân hành “rập rập thùng, rập rập thùng”… lội bộ suốt 14 cây số, nhờ vừa đi vừa hát “Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng”, cho nên thằng con nít 11 tuổi như tôi, khi đến nơi, nào có thấy chút mệt mỏi gì đâu? Nhưng sau lần gặp gã Việt Minh với khẩu súng giết người đó, tôi đã bừng tỉnh giấc mơ bỏ học, trốn cha mẹ để ra bưng biền.

Việt Cộng! Chỉ hai tiếng thôi, nhưng sao thiên hạ hoảng hốt, kinh hoàng khi nghe đến nó. Năm 1954, gần một triệu đồng bào miền Bắc, cũng vì hai tiếng này mà phải bỏ hết của cải, quê hương, làng xóm, mồ mả ông bà để chạy vô miền Nam xa lắc xa lơ, trốn khỏi bè lũ Việt Cộng. Năm 1975 cũng vậy, vì hai tiếng này mà hơn hai triệu người dân miền Nam phải liều chết, bằng đủ mọi cách để lánh xa loài quỷ dữ. Ở thôn quê miền Nam, khi nghe mấy tiếng “Việt Cộng về” hay “Mấy ổng về” là bà con gồng gánh, già trẻ, bé lớn chạy trối chết về phía thành phố để trốn khỏi bọn Việt Cộng. Rồi nào Việt Cộng pháo kích vào thành phố, vào quận lỵ giết hại dân lành, giết hại trẻ thơ nơi trường học. Việt Cộng đào lộ, đấp mô, đặt mìn, phá cầu, … Còn Việt Cộng ngày nay thì ngoài tham nhũng còn tội bán nước, buôn dân, bàn tay chúng phạm trăm ngàn thứ tội ác. Việt Cộng ngày nay bán rừng, bán biển, bán giang sơn cha ông cho Tàu, Việt Cộng ngày nay độc ác, tàn nhẫn với dân chúng, nhưng co ro, cúm rúm trước thằng Tàu như sợ ông nội, ông cố của chúng, bắt dân bỏ tù nếu dân đứng lên yêu nước chống lại lũ Hán xâm lăng.

Rồi tôi miên man suy gẫm, không biết những tên như Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Phú Trọng nghĩ sao – nhưng không biết những tên này có biết suy nghĩ không – chúng có thấy rằng sao mình đi đến đâu, thiên hạ bỏ chạy hết vậy? Mình giành được phân nửa xứ sở miền Bắc, đáng lẽ dân chúng phải ở lại với mình để kiến thiết xứ sở chứ, sao gần cả triệu người lại bỏ chạy vào Nam. Rồi mình cướp được luôn phân nửa miền Nam còn lại, thiên hạ lại ùn ùn bỏ chạy nữa, cả hơn hai triệu người xa lánh mình.

Tại sao và tại sao?

Chúng không tự đặt câu hỏi đó với chính chúng sao? Mình đi đến đâu thì người ta chạy trối chết khỏi nơi đó. Mình là thứ gì vậy? Nhìn hình ảnh cuộc di cư năm 1954, trên những chiếc tàu há mồm, nhìn những gương mặt hớt hơ hớt hãi, mất hồn, chạy đôn chạy đáo để rời khỏi Saigon tháng tư năm 1975, rồi nhìn những cảnh liều chết vượt biển lên đến cao điểm, từ năm 1975- 1980, nếu chúng là người, chúng phải suy nghĩ chứ? Mình cũng là người như họ, đầu, mắt tay chân cũng đầy đủ như họ, tại sao họ sợ mình mà chạy hết như thế? Mình có phải là quỷ dữ hay ác thú gì đâu?

Nhưng tôi nghĩ: Việt Cộng còn đáng sợ hơn là quỷ dữ nữa.

Nhìn lại, từ cái thời bé thơ, thuở mà mẹ con tôi đem hai chục trứng gà ra chợ bán để có tiền mua thức ăn cho gia đình, đến ngày nay, đã hơn 60 năm trôi qua, tôi cảm thấy rùng mình, ghê sợ. Từ những việc bắt người cho mò tôm, thả xác trôi sông thuở đó, cho đến những vụ lường gạt, gian dối cướp giật của Việt Cộng ngày nay, nhìn sự dã man tàn ác của Việt Cộng đối với người dân cùng chung máu mủ, … thật không thể nào tưởng tượng nổi. Quỷ chỉ nhát, chỉ hù người ta thôi, chứ không hại người ta, mà nếu quỷ có hại thì chỉ hại một người thôi. Còn Việt Cộng hại cả một dân tộc, tiệu diệt tất cả, đất đai, sông biển, núi rừng không còn, nhưng đó là nói về mặt những gì còn nhìn thấy được. Còn về mặt không nhìn thấy được thì là Việt Cộng tàn phá cả đạo đức, dung dưỡng tội ác, giết chết sự trong trắng trong lòng trẻ thơ, đưa nhiều thế hệ con em chúng ta vào vòng tối ám, dạy chúng dối trá, dạy chúng tội ác, …

Nhưng như vậy cũng chưa đủ. Những nguời đã quá sợ chúng mà bỏ xứ ra đi, để xứ cho chúng ở cũng chưa được yên thân. Chúng còn cho tay chân bộ hạ, núp bóng dưới danh nghĩa này, danh nghĩa nọ, chạy theo ra ngọai quốc để quyết hành hạ những người tỵ nạn Cộng sản này cho đủ … 36 kiểu của chúng. Thật trời không dung, đất không tha. Ngày xưa, chúng đã chiếm được phân nửa nước Việt Nam, tưởng đâu rằng chúng cùng miền Nam thi đua làm cho dân giàu nước mạnh, nhưng như chúng ta đã biết, Việt Cộng cho đến 1975, còn chưa thấy cái thang máy “biết tàng hình” là gì, chưa được nhìn chiếc đồng hồ “12 trụ, 2 cửa sổ, không người lái” là gì, không hiểu cái bồn cầu “để rửa rau” hay để làm gì, trong khi miến Nam lúc đó đã là một trong những quốc gia tân tiến ở Đông Nam Á châu. Rồi lòng tham vô đáy, thực hành chủ nghĩa Cộng sản toàn cầu của chúng, chúng cướp luôn miền Nam. Thiên hạ lại bỏ chạy, chúng rượt theo ra đến ngọai quốc để áp dụng … 36 kiểu lên đầu lên cổ người đã sợ chúng mà bỏ chạy 36 năm trước.

Nếu tôi có làm anh muôn vàn bực tức, xin anh cứ chửi tôi là thằng mất dạy, thằng láu cá, thằng bỉ ổi, thằng đê tiện, thằng vô học, thằng … thằng gì cũng được, hay bảo tôi là thằng không cha không mẹ, hay là thằng do … con gì sanh ra cũng được nốt, nhưng xin đừng bảo tôi là Việt Cộng. Mầy là thằng “Việt Cộng”, hai tiếng này nặng lắm, anh biết không? Nói như thế là anh chửi tôi đấy, mà chửi tôi thât nặng, đó là tiếng chửi ghê gớm nhất, đáng sợ nhất trong những tiếng chửi đương thời. Vì hai tiếng này đồng nghĩa với ác nhân, hung đảng, ác quỷ, ác tinh, man di, mọi rợ, lưu manh, gian xảo, côn đồ, thảo khấu, … lọai quỷ quái tinh ma, nghĩa là bọn trời đánh thánh đâm, trời tru đất diệt.

— Lê Dinh

https://saohomsaomai.wordpress.com/…/xin-dung-goi-toi…/

========

Vietnam 1970-71 by Inspector T. Xe đò trúng mìn. Thành tích của mấy ông ve chai.

Một chiếc cam-nhông (camion) bị trúng mìn của quý ông ve chai khủng bố. Đánh xe đò, giết toàn dân lành, đó là thành tích của Bên Thắng Cuộc. 1968. A civilian truck that hit a mine as our convoy was passing. Photo and caption by Gary Grace.

Thành tích vẻ vang của quý ông ve chai. Xe đò đụng mìn trên Quốc lộ 14 năm 1969. Photo by Michael T. Cunningham.

Hình chụp tháng Bảy 1969 tại Vĩnh Bình. Một chiếc xe đò bị trúng mìn của quý ông ve chai khủng bố. Đánh xe đò, giết toàn dân lành, đó là thành tích của Bên Thắng Cuộc.

Xe Lam đụng mìn Việt Cộng trên QL-1. This is a Lambretta that didn’t wait for us to complete a mine sweep of Ql-1. B Co 8th Engineer Bn 1st Cavalry. Photo and caption by Les White.

 

Rượu mùi Chartreuse của Pháp, mặt hàng ”quý hiếm” tại Hoa Kỳ

Theo Đài Radio Pháp Quốc Tê

Tu sĩ Jean-Jacques, một trong hai tu sĩ biết bí mật tinh chế rượu Chartreuse, kiểm tra việc sản xuất rượu Chartreuse, ngày 25/11/2011, tại Voiron, tỉnh Issère, vùng Auvergne-Rhône-Alpes, Pháp.Tu sĩ Jean-Jacques, một trong hai tu sĩ biết bí mật tinh chế rượu Chartreuse, kiểm tra việc sản xuất rượu Chartreuse, ngày 25/11/2011, tại Voiron, tỉnh Issère, vùng Auvergne-Rhône-Alpes, Pháp.Tu sĩ Jean-Jacques, một trong hai tu sĩ biết bí mật tinh chế rượu Chartreuse, kiểm tra việc sản xuất rượu Chartreuse, ngày 25/11/2011, tại Voiron, tỉnh Issère, vùng Auvergne-Rhône-Alpes, Pháp. AFP – JEAN-PIERRE CLATOT

Công thức gốc của Chartreuse có từ năm 1605 và giờ đây Chartreuse chủ yếu gồm hai loại : loại màu xanh lục có vị nồng đậm (55 độ cồn), còn loại màu vàng óng có vị dịu hơn một chút (43 độ). Từ đầu thế kỷ XVII cho tới nay, rượu mùi Chartreuse là đặc sản của tu viện dòng Chartreux (Carthusian trong tiếng Anh). Dòng này do vị thánh Bruno le Chartreux sáng lập vào năm 1084. Trong thời gian đầu, rượu Chartreuse chỉ được tìm thấy ở hai thành phố Grenoble và Chambéry, thuộc vùng Isère. Với thời gian, Chartreuse trở nên phổ biến ở khắp nơi. Riêng tại Hoa Kỳ, rượu mùi này lại càng được xem là một sản phẩm thịnh hành, nhất là tại các quán bar, nhà hàng hay khách sạn hạng sang. Chartreuse được dùng để pha chế các loại cocktail thời thượng. Dù ở Pháp hay ở Mỹ, khách hàng vẫn phải mua rượu gốc, chỉ được sản xuất tại tu viện Grande Chartreuse, ở vùng Isère.

Chỉ có điều là từ khoảng 4 tháng nay, rượu mùi Chartreuse ngày càng khan hiếm trên thị trường Hoa Kỳ. Theo báo New York Times, giá trung bình của một chai màu xanh lục (37cl) là khoảng 40 đô la, trong khi rượu Cognac, giá có thể cao hơn gấp đôi. Do giá cả phải chăng, cho nên trong mắt người tiêu dùng, Chartreuse không được xếp vào hàng xa xỉ phẩm. Tại Mỹ, nhiều khách hàng có thói quen dùng sản phẩm này từ nhiều thập niên qua, trước khi Chartreuse trở thành một loại rượu mạnh được nhiều thực khách yêu chuộng khi được pha chế thành nhiều loại cocktail có màu sắc quyến rũ và vị thơm hấp dẫn.

Vì cứ nghĩ rằng mặt hàng này dễ tìm, mua lúc nào cũng có, cho nên nhiều người thích uống Chartreuse chưa bao giờ thực sự quan tâm đến nguồn gốc của loại rượu mùi. Thế nhưng, theo báo New York Times, các cửa tiệm phân phối rượu tại các vùng đô thị lớn ở Hoa Kỳ đã hết sạch hàng kể từ đầu năm nay. Khách vẫn có thể đặt mua trên mạng từ các vùng địa phương khác hay mua hàng nhập thẳng từ Pháp, nhưng số chai được bán vẫn bị giới hạn.

Hạn chế số chai mua mỗi lần để tránh nạn tích trữ 

Theo tờ báo Mỹ, sự khan hiếm này không đến từ hệ thống phân phối hoặc vì thuế nhập khẩu gia tăng. Rượu Chartreuse ngày càng ít đi chủ yếu cũng vì giới tu sĩ ẩn dật vùng Isère quyết định giới hạn khối lượng sản xuất hàng năm. Tại cửa hàng Astor Wines & Spirits ở thành phố Manhattan, New York, khách hàng chỉ được mua mỗi lần một chai Chartreuse. Nhưng dù có hạn chế, cửa tiệm này vẫn không còn hàng để bán kể từ tháng Giêng năm 2023. Ngay cả khách đi du lịch ở Pháp khi đến tận vùng Isère để ghé thăm tu viện Grande Chartreuse cũng chỉ được quyền mua mỗi người hai chai mà thôi. Giá vẫn giữ nguyên y như cũ (khoảng 48 euro một chai 70cl) nhưng tu viện này tìm cách hạn chế tối đa việc phổ biến cũng như tích trữ, dòng tu sĩ Chartreux không muốn tăng thêm mức sản xuất hầu đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng.

Quyết định hạn chế sản xuất ở đầu nguồn đã tác động đến toàn bộ mạng lưới phân phối. Tại Pháp, người dân không tiêu thụ nhiều Chartreuse cho lắm, cho nên điều đó không ảnh hưởng gì đến thói quen ăn uống của họ. Trong khi tại Hoa Kỳ, sự kiện Chartreuse trở nên khan hiếm đã tác động trực tiếp đến các nhà hàng, quán bar, nơi các loại cocktail pha chế với Chartreuse chẳng hạn như kiểu rượu pha ”Sammy’s Paradise” được bán với giá 24 đô la một ly. Còn loại rượu pha ”Last Word” dựa vào một công thức có từ đầu những năm 1910, kết hợp Chartreuse với một chút rượu gin, rượu mùi maraschino và nước chanh vắt được bán với giá gần 30 đô la một ly.

Do thiếu Chartreuse, nhiều quán bar, nhà hàng hay khách sạn tại Mỹ chuyển sang khai thác nhiều loại rượu mùi khác, thế nhưng thành phần thực khách có nhiều tiền cũng như dân sành điệu sẵn sàng chịu bỏ ra vài chục đô la cho một ly rượu, vẫn quan niệm rằng : thà uống một loại cocktail khác còn hơn là uống rượu pha Chartreuse (có mùi hồi, đinh hương và hạt thì là) mà lại dùng một thứ rượu khác để thay thế.

Từ lâu, rượu mùi Chartreuse vẫn được xem là loại rượu mạnh dành cho thế hệ trung niên hoặc người cao tuổi. Nhưng kể từ đầu những năm 2000, Chartreuse lại trở thành sản phẩm thịnh hành trong ngành ”mixology” gồm những người chuyên pha chế cocktail, nâng phong trào thủ công thành một bộ môn nghệ thuật. Vào mùa xuân năm 2020, khi đại dịch Covid khiến cho nhiều quốc gia ban hành lệnh phong tỏa. Vào lúc ấy, rất nhiều quán bar hay nhà hàng buộc phải đóng cửa trong nhiều tháng liền. Đáng lẽ ra, doanh thu của Chartreuse phải đi xuống. Bất ngờ thay, mức bán của loại rượu mùi này lại tăng gấp đôi, phần lớn cũng vì nhiều người học cách pha chế cocktail tại nhà. Theo công ty xuất khẩu Chartreuse Diffusion, lượng tiêu thụ tăng rất nhanh trên thị trường Mỹ. Doanh thu của Chartreuse nhờ vậy đạt 30 triệu đô la mỗi năm và tăng đều đặn trong ba năm liền.

Chartreuse : càng cất giữ lâu lại càng cao giá 

Sản phẩm càng đắt khách, đáng lẽ ra người bán hàng càng lấy làm mừng. Nhưng dường như điều đó không làm cho giới tu sĩ dòng Chartreux hài lòng cho lắm. Trong một bức thư được công bố hồi tháng Giêng năm 2023, tu viện Grande Chartreuse nhắc nhở việc sản xuất rượu mùi Chartreuse không phải là để kinh doanh làm giàu, mà chủ yếu nhằm mục đích đỡ bớt gánh nặng chi phí đời sống trong tu viện. Báo New York Times trích dẫn cha Michael K. Holleran, một tu sĩ từng giám sát công việc sản xuất Chartreuse từ năm 1986 đến năm 1990, cho biết : Không thể nào tăng thêm sản lượng Chartreuse mà không ảnh hưởng đến đời sống của tu viện. Bản chất dòng Chartreux là tu sĩ, chứ không phải là doanh nhân. Mục tiêu tối hậu của những người chọn cách tu ẩn dật là sống một cách hết sức đơn giản, họ cần sự im lặng và đức tin trong cầu nguyện.

Sản lượng của Chartreuse hiện ở mức 1,6 triệu chai mỗi năm, đây là mức sản xuất cao nhất tính từ cuối những năm 1800. Phần lớn (hơn 40%) được xuất khẩu sang Hoa Kỳ, kế đến là các nước Úc, Anh, Đức hay Mexico… Trong dòng văn hóa đại chúng, Chartreuse từng xuất hiện trong phim ”Death Proof” của Quentin Tarantino hay video ca nhạc của nhóm hard rock ZZ Top. Chartreuse bắt đầu trở nên khan hiếm tại Hoa Kỳ từ đầu năm 2023, trong khi giá trung bình ở Pháp vẫn không có gì thay đổi. Ngược lại, giá của Chartreuse có thể đạt tới mức cao ngất ngưỡng nhận các kỳ bán đấu giá quốc tế.

Vào trung tuần tháng 03/2023, văn phòng đấu giá Baghera Wines, có trụ sở tại Genève Thụy Sĩ, đã tổ chức một cuộc bán đấu giá rượu Chartreuse lớn nhất trong lịch sử. Tất cả các lô hàng, kể cả các kiểu chai Chartreuse xưa, đã được bán sạch nội trong hai tiếng đồng hồ. Theo tờ báo Pháp Le Figaro, đôi khi một chai Chartreuse bỏ quên trong hầm rượu, lại trở thành một sản phẩm đắt tiền : giới sưu tầm có thể chi 2.000 euro cho một chai Chartreuse sản xuất vào hai thập niên 1930-1940. Giá có thể lên đến 6.000 euro cho một chai có nhãn hiệu trước năm 1903 và 20.000 euro trước năm 1878. Từ một đặc sản của vùng Isère, rượu mùi Chartreuse trên đất Mỹ nay lại trở thành quý hơn Cognac, hiếm hơn Champagne.

______

Theo tạp chí Nếm Thử – Pháp (Taste France)

Bạn đã nhìn thấy nó, bạn đã nghe nói về nó và rất có thể bạn đã sử dụng nó vào một thời điểm nào đó trong đời — mặc dù bạn thực sự biết bao nhiêu về Chartreuse? Loại rượu mùi bí ẩn của Pháp này là một loại rượu chủ yếu trong văn hóa cocktail cả trong và ngoài nước Pháp và được các nhân viên khách sạn trên toàn cầu yêu thích. Vậy thức uống có màu neon bí ẩn này chính xác là gì và điều gì khiến nó trở nên đặc biệt? Chúng tôi đang chia nhỏ mọi thứ bạn cần biết về Chartreuse tại đây.

biểu đồ

Chartreuse là gì?

Chartreuse là một loại rượu mùi của Pháp được sản xuất với 130 loại thảo mộc và thực vật. Nó được biết đến như một trong số ít rượu mùi trên thị trường có khả năng trở nên tốt hơn theo thời gian. Chartreuse lần đầu tiên được sản xuất bởi Carthusian Monks vào năm 1737 từ một công thức được phát hiện bởi François Annibal d’Estrées vào năm 1605.

Chartreuse được sản xuất ở đâu?

Chartreuse được sản xuất tại thị trấn Voiron (Isère), không xa thành phố Grenoble.

Chartreuse được tạo ra như thế nào?

Chartreuse được sản xuất từ ​​một công thức bí mật được truyền lại bởi các Tu sĩ Carthusian. Green Chartreuse được sản xuất từ ​​rượi mạnh làm từ củ cải đường, trong khi đó Yellow Chartreuse được sản xuất từ rượi mạnh làm từ nho. Cả hai loại rượu mạnh này đều được chưng cất trong nồi đồng, ngâm rượu với công thức thực vật độc đáo và ủ trong gỗ sồi Pháp cháy thành than. Chỉ có hai người giám hộ, Dom Benoit và Frère Jean-Jacques, được phép vào ‘phòng thảo mộc’, nơi các loại thảo mộc khô. Những loại thực vật này có nguồn gốc từ khắp nơi trên thế giới và bao gồm từ vỏ cam quýt đến cỏ xạ hương đến nghệ tây và hơn thế nữa.

nhà máy chưng cất
nhà máy chưng cất

Làm thế nào để Chartreuse có được màu sắc của nó?

Chartreuse xanh có màu từ chất diệp lục, trong khi Chartreuse vàng có sắc tố từ nghệ tây. Cả hai màu đều xuất hiện tự nhiên.

Lịch sử của Chartreuse là gì?

Lịch sử của Chartreuse bắt đầu từ năm 1605, khi François Hannibal d’Estrées phát hiện ra một công thức bí mật được cho là đã giúp người tiêu dùng ‘sống lâu’. Anh ấy đã mang công thức đến cho Monks gần Paris, người cuối cùng đã gửi nó xuống tu viện La Grande Chartreuse. Công thức cuối cùng đã được thử nghiệm vào năm 1737, và khoảng 60 năm sau, nó đã được điều chỉnh để tạo ra Green Chartreuse. Chartreuse mới và cải tiến này có hương vị nhẹ nhàng hơn và là công thức vẫn được sử dụng cho đến ngày nay. 75 năm sau, Frère Bruno Jacquet đã tạo ra một phiên bản tinh chỉnh khác của công thức, phiên bản này trở thành Yellow Chartreuse mà chúng ta biết và yêu thích ngày nay.

Sự khác biệt giữa Chartreuse xanh và Chartreuse vàng là gì?

Green Chartreuse được sản xuất từ ​​130 loại thực vật và được ngâm trong tám giờ. Sản phẩm cuối cùng có ABV là 55% và có mùi vị thảo mộc/hơi dược liệu. Ngược lại, Yellow Chartreuse có nồng độ cồn thấp hơn một chút (40% ABV) và có hương vị ngọt ngào hơn.

biểu đồ

chai rượu Chartreuse

Có bao nhiêu loại Chartreuse khác?

Ngoài Chartreuse xanh và Chartreuse vàng, có năm phiên bản Chartreuse khác có sẵn trên thị trường: Chartreuse VEP, Élixir Végétal de la Grande-Chartreuse, Liqueur du 9° Centenaire, Génépi, và Cuvée des Meilleurs Ouvriers de France.

Chartreuse VEP (Vieillissement Exceptionnellement Prolongé) được sản xuất theo phương pháp tương tự như rượu cuvée truyền thống, mặc dù nó được ủ trong thùng gỗ sồi trong thời gian dài hơn. Chartreuse VEP được sản xuất ở cả định dạng màu xanh lá cây và màu vàng. Élixir Végétal de la Grande-Chartreuse có cơ sở giống như Green Chartreuse, mặc dù được chưng cất ở mức ABV cao hơn (khoảng 70%). Liqueur du 9° Centenaire được tạo ra để kỷ niệm 900 năm thành lập tu viện ban đầu. Nó ngọt hơn một chút so với Green Chartreuse ban đầu.

Génépi lấy tên của nó cho thuật ngữ địa phương được sử dụng để mô tả rượu mùi tự chế ở các vùng Alpine của Pháp. Loại cuvée đặc biệt này của Chartreuse hầu như chỉ được tìm thấy ở miền đông nước Pháp và được đóng chai ở mức khoảng 40% ABV. Cuvée des Meilleurs Ouvriers de France được sản xuất vào năm 2007 với sự hợp tác của MOF Sommeliers. Nó là một biến thể của Yellow Chartreuse và có khoảng 40% ABV.

Chartreuse có vị như thế nào?

Chartreuse, giống như nhiều loại rượu mùi, có hương vị rất mạnh và khác biệt. Nó hơi ngọt, mặc dù có nhiều hương vị thảo mộc và thực vật hơn. Chartreuse vàng ngọt hơn Chartreuse xanh. Chartreuse vàng được ghi nhận với hương vị của mật ong, nghệ tây và gia vị hồi, trong khi Chartreuse xanh cho thấy hương vị nổi bật hơn của chanh, gia vị cam quýt và các loại thảo mộc mới cắt.


Dân: Vào hang trốn nóng – Nhà nước: Mất bò vẫn chưa làm được chuồng

Blog Hoàng Trường

Đại dịch Covid19 vừa dứt, dân Hà Nội lại rơi vào cơn hoảng loạn khác: Từ đầu hè, cả ngày lẫn đêm, người dân náo loạn do mất điện diện rộng trong cái nóng hầm hập như bị ai hắt lửa vào người. Cả nước nguyền rủa Tập đoàn điện lực (EVN).

May be pop art of one or more people, poster, Shwedagon Pagoda and text that says 'TỚỞMỸ TỚ VỪA VỀ ĐÂY. CHẠY ĐÂU DỮ VẬY??? 中 TỊ ĐIỆN NẠN SẬP!!! HE'

Tranh biếm họa của Fb La Thanh Hiền

Thảm cảnh

Hà Nội và các tỉnh miền Bắc và miền Trung đang nắng nóng như thiêu trên diện rộng trong những ngày qua, có nơi nóng gay gắt với nhiệt độ từ 36, 39 lên 40 độ. Độ ẩm 40 – 55%, càng làm dân tình thêm điêu đứng. Nắng nóng ở Hà Nội thường được dự báo kéo dài từ 10h đến 18h mỗi ngày. Nắng nóng gay gắt khiến cuộc sống của người dân, đặc biệt là những người lao động tự do bị đảo lộn, buộc họ phải tìm đủ cách chống chọi với thời tiết khắc nghiệt. Tổng công ty Điện lực (EVN) thông báo trong ngày 8/6, “nhiều nơi trên địa bàn TP Hà Nội bị cắt điện luân phiên. Đáng chú ý, tại thị xã Sơn Tây và huyện Thanh Oai mất điện trên rất nhiều địa điểm”. Danh sách các địa chỉ tại Hà Nội bị cắt điện trong ngày này dài gần 4 trang giấy A4.

Từ ngày 5/6, nhiều khu vực của Hà Nội bị mất điện kéo dài, người dân sinh sống gần chùa Trầm (huyện Chương Mỹ) đã rủ nhau vào hang động để tránh nóng, đợi có điện mới về nhà. Hàng chục gia đình mang theo nước đóng chai, chiếu, quạt giấy… vào hang động bên trong chùa Trầm để tránh nhiệt. Bà Trương Thị Quỳnh Như (45 tuổi, thôn Phượng Nghĩa, xã Phụng Châu, Chương Mỹ) cho biết, nắng nóng kéo dài lại mất điện, cả gia đình bà ăn vội bữa cơm rồi mang chiếu lên hang chùa Trầm nằm nghỉ. Theo bà, chùa Trầm cách nhà khoảng 1km, không khí mát mẻ hơn so với cái nóng hầm hập ở nhà. “Tôi người Sài Gòn, lấy chồng ra đây hơn chục năm nhưng vẫn chưa quen được cái nóng ngoài Bắc”. Mấy ngày qua, trời oi nồng, lại thêm mất điện, chồng và con bà không chịu được, ăn vội cho qua bữa rồi chạy trốn vào hang đá để tránh nóng.

Chật vật giữa cái nắng gay gắt, anh Vũ Văn Diện (quê ở Thường Tín), hiện đang làm tài xế GrabBike cho biết: “Nắng nóng đỉnh điểm khiến công việc chạy xe rất mệt. Nền nhiệt cao, không khí khô nóng khiến cho những người lao động mưu sinh ngoài đường như chúng tôi chịu không nổi, nhưng vì cuộc sống mưu sinh nên tôi cũng phải chấp nhận chống chọi lại nóng. Lúc trước chạy 5 – 7 cuốc xe vẫn bình thường, nhưng bây giờ chạy khoảng chừng 1 – 2 cuốc là mệt lử, nắng nóng quá khủng khiếp. Chạy mệt quá chẳng muốn ăn cơm, chủ yếu là uống nước rồi nghỉ ngơi cho khỏe lại rồi chạy tiếp”.

Một vài bác xe ôm tìm ngay cho mình một gốc cây để tránh nóng. Chú Quân chạy xe ôm khu vực Hồ Tùng Mậu có chia sẻ: “nắng nóng quá, khách vắng, chú chờ dài cổ mà không có cuốc nào, đành “án binh” chờ đến tắt nắng vậy”. 

Biết bao dân lao động chịu thảm cảnh mất người, mất của, cuộc sống ngắc ngoải. Mất điện dẫn đến vô vàn câu chuyện đau lòng. “Ba cha con ở Hải Phòng bị ngạt khi nằm ngủ trong ô tô vào ngày mất điện có lẽ là sự việc đau lòng nhất trong “mùa mất điện” năm nay. Em P.M.H. 20 tuổi, được đưa vào viện trong tình trạng đã ngừng tuần hoàn hô hấp. Sau gần 4 giờ được các bác sĩ hồi sức cấp cứu tích cực nhưng cô sinh viên này đã không qua khỏi. H. ra đi bỏ lại nhiều ước mơ dang dở khi đang là sinh viên đại học và được đánh giá là người ngoan ngoãn, chăm chỉ”. Chủ trại gà Chu Văn Dũng (xã Thạch Hòa, huyện Thạch Thất, Hà Nội) kể: “Sau khi khu vực trại gà bị mất điện, tôi đã gọi lên người phụ trách điện của thôn, lúc đầu họ bảo 13h. Đến 13h chưa thấy, gọi tiếp thì họ lại bảo 14 – 15h… Tôi gọi liên tục không biết bao nhiêu cuộc, vậy mà 21h mới có điện. Chỉ nửa ngày, hơn 1.000 con gà sốc nhiệt lăn đùng ra chết”.

Mất bò vẫn chưa làm nổi chuồng…

Nguyên nhân sâu xa của việc mất điện triền miền trên diện rộng mấy tháng nay là do đâu? Để giải mã khối nguyên nhân này, điều ngạc nhiên là không chỉ mạng xã hội, mà ngay báo chí nhà nước cũng “hăng hái” vào cuộc. Chứng tỏ, từ đâu đó, đã có bật đèn xanh cho việc “giải phẫu” căn bệnh trầm kha này. Nguyên nhân của mọi nguyên nhân là do nạn phá rừng và bán rừng có hệ thống và chủ ý, đồng thời kết hợp với tư duy dựa dẫm vào nhập điện từ Trung Quốc, được cho là giá rẻ hơn, so với thu mua điện từ các cơ sở sản xuất trong nước. Phác họa nguyên nhân như thế là đủ, và nghe ra cũng khá đơn giản để hiểu ra những vấn đề nhức nhối hiện nay. Tuy nhiên, để đi sâu vào “mổ sẻ” mạng lưới mafia, moi ra cho hết mọi ngóc ngách của cách thức “ăn xổi ở thì”, tư duy tham nhũng trục lợi, ăn hối lộ và làm giàu trên mồ hôi nước mắt của muôn dân, thì mọi việc không hoàn toàn đơn giản.

Mới đây, Thủ tướng vừa giao cho Bộ trưởng Bộ Công Thương chỉ đạo thành lập đoàn thanh tra chuyên ngành, theo quy định của pháp luật về quản lý và cung ứng điện của EVN từ ngày 1/1/2021 đến ngày 1/6/2023. Ngày 6/6, Thủ tướng Phạm Minh Chính ban hành Công điện về việc thực hiện các giải pháp bảo đảm cung ứng điện mùa khô năm 2023 và thời gian tới. Công điện gửi Bộ trưởng Bộ Công Thương, Chủ tịch Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Chủ tịch, Tổng giám đốc các tập đoàn: Điện lực Việt Nam, Dầu Khí Việt Nam, Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam. Xin Thủ tướng một câu bình luận: Giao cho Nguyễn Hồng Diên (đương kim Bộ trưởng) hay Trần Tuấn Anh (cựu Bộ trưởng Bộ Công thương) kiểm tra khâu quản lý và độc quyền cung ứng điện của EVN thì cũng như giao còi cho những trọng tài vừa thổi, vừa đá bóng. Tất cả rồi sẽ vô can!

Bởi vì, họa phúc phải đâu một buổi. Đáng ra Thủ tướng phải cho thanh tra EVN từ lâu rồi mới phải. Giờ thì “cháy nhà mới ra mặt chuột”. Mất điện trên diện rộng hiện nay đang đặt ra rất nhiều câu hỏi cho EVN. Một đất nước có thể gọi là cường quốc về điện gió và điện mặt trời như Việt Nam, nhưng tỉ trọng điện năng lượng tái tạo trong cơ cấu điện chỉ chiếm khoảng 26%? Tại sao bao nhiêu năm EVN vẫn không cân đối được nguồn điện, để điệp khúc thiếu điện – cắt điện không phải lặp lại mỗi khi vào thời kỳ cao điểm, trong khi phải nhập khẩu và giá điện liên tục tăng? EVN hiện nay cũng đang trực tiếp quản lý khai thác một số nhà máy điện, cơ bản đến nay các nhà máy điện ấy đã hết khấu hao, không phải mất chi phí nguyên liệu đầu vào, chỉ việc khai thác và lãi, tại sao vẫn báo cáo lỗ? Có lẽ Cơ quan của Hiệp hội Năng lượng điện Việt Nam là đơn vị hữu quan nhất có thể trả lời những câu hỏi này.

Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, tính đến ngày 6/6, hầu hết các hồ thủy điện lớn miền Bắc đã về mực nước chết gồm: Lai Châu, Sơn La, Tuyên Quang, Bản Chát, Hủa Na, Thác Bà. Riêng hai hồ Thủy điện Lai Châu và Sơn La đã phải chạy xuống dưới mực nước chết. Trong khi đó, trên cả nước, duy nhất chỉ có Thủy điện Đa Nhim là vẫn hoạt động trơn tru. Đây là biểu tượng vững chắc cho mối quan hệ thâm giao giữa hai nước Việt Nam – Nhật Bản. Công trình được khởi công xây dựng với sự tài trợ của chính phủ Nhật Bản. Tại thời điểm Cụm thuỷ điện đạt sản lượng 50 tỷ kWh, toàn Công ty CP Thuỷ điện Đa Nhim – Hàm Thuận – Đa Mi đã sản xuất được 85,072 tỷ kWh điện góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế xã hội đất nướ, đồng thời cấp nước phục vụ dân sinh và canh tác nông nghiệp cho hạ du các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận. Thủy điện Đa Nhim được khởi công từ ngày 1/4/1961 và hoàn thành toàn bộ công trình vào cuối năm 1964. Nhà máy có công suất lắp đặt 160 MW. Với độ cao cột áp 800 m, đây là nhà máy thủy điện có suất tiêu hao nước rất thấp, vào khoảng 0,55 m3/kWh. Bên cạnh nhiệm vụ phát điện, công trình còn cung cấp nước sinh hoạt và phục vụ thâm canh nông nghiệp cho đồng bằng tỉnh Ninh Thuận với diện tích khoảng 16.000 ha

“Lạy ông cơ chế, lạy bà tư duy…”

“Xin đừng hót nữa những lời chim chóc mãi…” Cách đây hơn phần tư thế kỷ, có một người cầm bút gan dạ đã đã dám lột trần bản chất “nửa dơi nửa chuột” của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, căn nguyên của mọi thảm họa. Đó là nhà thơ Nguyễn Duy. Ông suýt bị bắt, vì tội “thóa mạ Tổ quốc”. Nguyễn Duy thoát nạn do một sự tình cờ. Nếu như ngày nay thì ông đã bị bắt rồi, như Bộ Công an đã và đang bỏ tù một loạt các nhà hoạt động môi trường, từng dũng cảm tố giác nạn phá rừng và bán đất rừng có hệ thống. Nếu những ai đã nhìn thấy các bức ảnh về các bộ xa lông, tràng kỷ của những Nông Đức Mạnh, những Lê Khả Phiêu… của hằng hà sa số các nhà lãnh đạo cao cấp và các đại gia trọc phú khác, thì hiểu các khu rừng nguyên sinh đã bị bức tử ra sao, để có được những bộ xa lông, tràng kỷ ấy… Và đó là nguyên nhân sâu xa dẫn đến không còn những cánh rừng để giữ và điều tiết nước cho sông hồ, khiến các đập thủy điện bị cạn kiệt, dẫn đến “những mùa mất điện” như hiện nay.

Thảo luận dự thảo nghị quyết của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP.HCM ngày 8/6, đại biểu Đinh Ngọc Minh (Cà Mau) đề nghị “giao cho TP.HCM tính toán và tự cho phép các hộ dân và doanh nghiệp trên địa bàn tự lắp, tự dùng và có thể chuyển Điện lực TP.HCM về cho TP.HCM quản lý để giảm bớt độc quyền của Tập đoàn Điện lực Việt Nam”. Đề nghị này được dân Sài Gòn rất ủng hộ vì điện tiêu dùng của họ không thể phó thác cho EVN độc quyền mãi được. Không chỉ Sài Gòn mà các địa phương khác cũng muốn chủ động nguồn điện cho mình nếu có điều kiện. Bởi vì người dân đã hiểu quá rõ nếu mua điện và phân phối điện vẫn thuộc về độc quyền Nhà nước thì EVN chỉ có giải pháp mang tính “định hướng” là bắt chẹt giả thu mua trong nước để ưu tiên nhập điện của Trung Quốc!

Phê phán EVN là đúng nhưng chưa đủ. Trên EVN là cái cơ chế quái đản để EVN hàng năm tuy khai lỗ hơn 26 ngàn tỷ VND nhưng các Công ty con của nó thì vẫn lãi hàng nghìn tỷ và có hàng chục nghìn tỷ gửi Ngân hàng. Trò “úm ba la” đẻ ra cái “quái thai” này thì chỉ có nền kinh tế thị trường “định hướng xã hội chủ nghĩa” mới sản xuất được mặt hàng “đặc chủng” ấy. EVN là Tổng công ty nhà nước duy nhất có chức năng phân phối điện, nại lý do vì an ninh quốc gia (Cũng như người ta đang nại ra lý do vì an ninh quốc gia mà bắt giữ các nhà đấu tranh bảo vệ môi trường hiện nay!) Đó là lý do để EVN không nghĩ được cách “làm chuồng” như thế nào để có được một mạng lưới “hòa đồng bộ” các dòng điện khắp trên ba miền. Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng còn sống mà thiêng thật! Các hộ dân Thủ đô cả tháng nay, đêm ngày vừa khấn “đất nước chưa bao giờ… được như hôm nay”, vừa cầu xin hôm nay, khu phố mình đừng bị cắt điện. Thời chiến tranh, Nixon – Kissinger quyết đưa Bắc Việt trở về thời đồ đá. Sau nửa thế kỷ, nhờ đi theo mô hình cùng “bạn vàng”, dân Thủ đô đang đua nhau vào hang để tránh cái nóng như ai bốc lửa ném vào mặt.


 

Đắk Lắk: 26 nghi phạm bị bắt giữ – những gì chúng ta biết cho đến nay

Theo Đài Á Châu Tự Do

RFA

2023.06.12

Đắk Lắk: 26 nghi phạm bị bắt giữ - những gì chúng ta biết cho đến naySúng, dao và giấy tờ tùy thân bị thu giữ trong vụ việc

 Bộ Công an

Tính đến 11 giờ 30 sáng ngày 12/6/2023, lực lượng Công an bắt giữ thêm bốn nghi phạm liên quan đến vụ tấn công vào trụ sở Ủy ban nhân dân 02 xã Ea Tiêu và Ea Ktur, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk, nâng số người bị bắt giữ lên đến 26 người, thu giữ nhiều dao, súng.

Ban đầu, thông tin từ hai tờ báo nhà nước đăng tải và rút bài sau đó cho biết, có bốn công an và hai lãnh đạo xã tử vong trong vụ việc xảy ra vào rạng sáng 11/6/2023, cùng đó là một tài xế lái xe bán tải bị giết hại. 

Tuy nhiên, thông tin chính thức từ Bộ Công an cho hay, chỉ có bốn công an chết trong vụ việc và được Bộ trưởng Bộ Công an ký quyết định truy thăng cấp bậc hàm, hỗ trợ tiền mai táng. Ngoài ra, hai viên công an khác cũng bị thương trong vụ tấn công. 

Trong bài viết “Lãnh đạo Bộ Công an và lãnh đạo tỉnh Đắk Lắk thăm, viếng các nạn nhân trong vụ việc xảy ra tại Đắk Lắk” cũng trên Cổng thông tin điện tử Bộ Công an, nêu cụ thể hơn cho biết có tổng cộng 9 người thiệt mạng trong vụ việc, trong đó có ba người dân, hai cán bộ xã và bốn công an xã, cùng với hai công an xã bị trọng thương. 

Sự việc dùng súng tấn công vũ trang hai trụ sở ủy ban xã là một sự việc hiếm khi xảy ra ở Việt Nam, nơi súng đạn được kiểm soát chặt chẽ, người dân bình thường không được sở hữu súng. 

Nguyên do của hành động của nhóm người có vũ trang chưa được nêu rõ, tuy nhiên xung đột sắc tộc, đất đai và đàn áp của chính quyền đối với người bản địa ở Tây Nguyên không phải là vấn đề mới xảy ra gần đây. 

Nhiều vụ bắt giữ những thầy truyền đạo tin lành, các nhà hoạt động tôn giáo ôn hòa diễn ra trong thời gian gần đây với các điều luật như 117 “tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN Việt Nam”. 

Một số cuộc biểu tình của người dân liên quan đến việc phản đối các dự án xả thải gây ô nhiễm môi trường ở địa phương, hay cưỡng chế đất đai đều kết thúc bằng việc đưa Cảnh sát cơ động vào và bắt giữ những người bị cho là đứng đầu có liên quan. 

Hàng trăm người Thượng ở Tây Nguyên hiện nay phải bỏ nước ra đi vì các lý do bị đàn áp tôn giáo và đang xin tị nạn chính trị ở Thái Lan, chờ để được định cư một nước thứ ba. 

Tuy rằng, Bộ Công an chưa đưa ra thông tin chính thức về nguyên do vụ việc tuy nhiên các trang Facebook thân chính phủ đều chĩa mũi dùi về các tổ chức Đề Ga hay FULRO của người đồng bào.

___________________

 

CÁCH MẠNG MUÔN NĂM.

Linh Cao

Thật lòng mà nói, biểu hiện của Cộng sản ngày nay so với ngày xưa đã được Tây hóa lên rất nhiều,nhưng hình như bản chất vẫn còn là Cộng sản.

Thái Bá Tân

Trích truyện ngắn (NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ TẮM) của Thiết Ngưng (chủ tịch hội nhà văn Trung Quốc) về cách mạng văn hóa Mao ít.

… Một ngày mùa thu năm 1966, Khiêu mới là học sinh lớp 1, được dự đại hội phê đấu rất ồn ào náo loạn diễn ra ở sân trường

…

Cứ từng đợt từng đợt học sinh lại giơ cánh tay non nớt, từng đợt từng đợt hô rất mạnh mẽ những khẩu hiệu như: “đả đảo con đĩ Đường Tân Tân” là cô giáo của trường, dạy toán bậc trung học phổ thông. Khiêu còn nghe những bạn nam bàn luận ở phía sau, chẳng nhẽ cô giáo ấy lại là một con đĩ sao?

Cô giáo Tân bị mấy nữ học sinh dẫn lên sân khấu, trước ngực viết mấy hàng chữ bằng mực đen: “Tôi là một con đĩ”… dòng chữ làm Khiêu ghê người, trong ý niệm của cô bé, con đĩ không chỉ là xấu xa mà còn là xấu xa nhất trong những người xấu xa, xấu hơn cả địa chủ, nhà tư bản. Khiêu nghĩ không hiểu một người lớn lại tự nhận “tôi là một con đĩ” nhỉ ?

Cô giáo Tân chừng 30 tuổi, da trắng, người gầy, quá gầy và trắng, cắt tóc ngắn và sống mũi cao, trông như một cây tăm… Cô đúng là một cây tăm mà không phải là cây dương liễu, bởi trông cô mảnh mai nhưng cứng rắn, cô như cây tăm cắm trên mặt bàn, mấy nữ học sinh lớp trên cứ xô đẩy nhưng cô vẫn không chịu quì mà cũng không cúi đầu… Khiêu có phần đồng tình với cô giáo Tân bởi cô đẹp. Đẹp, chỉ thế thôi.

… chợt có một phụ nữ trạc tuổi trung niên mặc áo cánh xẻ tà mầu mỡ gà lên sân khấu, xỉa xói vào cô giáo Tân:

– “Gọi mày là con đĩ oan ức lắm à? tao hỏi mày, mày đã lấy chồng chưa? Mày chưa bao giờ lấy chồng, mày chưa lấy chồng mà đã có con, thế thì mày ngủ với ai? khai thật ra”.

Tiếng hô khẩu hiệu lại vang lên:

“Mụ Tân phải khai ra! không khai thì thầy giáo và học sinh cách mạng sẽ không tha!”…

Một học sinh nam lớn tuổi đi vòng ra phía sau cô giáo Tân đạp mạnh vào khuỷu chân cô giáo, cô giáo “hự” lên một tiếng rồi ngã quỵ xuống. Cả sân trường hoan hô, vậy là cái cô giáo chết cũng không chịu quỳ đã bị bọn học sinh lớn khuất phục. Đại hội phê đấu tiếp tục, mấy giáo viên trẻ thay nhau lên phát biểu, chỉ trích gay gắt cô giáo Tân đã giấu giếm chuyện quan trọng trong cuộc sống riêng, lừa dối để được đồng nghiệp tin tưởng, nhà trường tín nhiệm, học sinh tin yêu. Các em học sinh hãy nghĩ xem, một sự việc ghê tởm biết chừng nào, một phụ nữ suy đồi về đạo đức, tác phong xấu xa như thế mà có thể là cô giáo… Tiếng hô khẩu hiệu lại vang lên: – “Mụ Tân phải cút khỏi trường, không cút thì những người kế tục sự nghiệp cách mạng của nhà trường sẽ không tha!”… “còn nữa, hàng xóm của mụ còn phản ánh, ở trường mụ Tân giả bộ giản dị, ở nhà thì sống theo lối sống của giai cấp tư sản, mụ nuôi mèo, đối với mèo còn tốt hơn đối với người, có hôm mụ ta dám ngồi ngoài sân ôm con mèo, hôn hít nó! trời đất ơi, hôn mèo!”

Cả sân trường cười ồ lên, tiếp theo là khẩu hiệu tỏ ra phẫn nộ hơn: “đả đảo con đĩ Tân Tân”

Những cái xấu của cô giáo Tân càng nói càng nhiều, chỉ bắt cô quỳ nghe khẩu hiệu thôi thì chưa đủ. Nhất là khuôn mặt gầy, trắng trẻo kia tỏ vẻ đối địch, nhất định không nói điều gì càng làm cho những người trên sân khấu thêm phần nộ khí xung thiên. Một học sinh nam lớn tuổi gí ngay chiếc giầy lính hắn đang đi vào mặt cô giáo và nói:

– “Mèo của giai cấp tư sản mày còn hôn, chẳng nhẽ mày không hôn giầy của giai cấp vô sản hay sao!”

Hắn vừa nói vừa gí giày vào mặt cô giáo. Một nữ sinh đến gần ấn đầu cô giáo xuống, bắt cô áp miệng vào chiếc giày của thằng kia; rất nhiều cái chân cùng giơ ra, bắt cô giáo phải áp miệng vào những chiếc giầy đầy bụi bẩn.

Cả sân trường sôi sục, trên sân khấu người đứng lố nhố. Học sinh ngồi dưới cũng không trật tự nữa, chúng xô đẩy, có đứa trèo lên ghế, có đứa chen nháo nhào lên sân khấu để xem cho rõ…

Bỗng có mùi thối, không hiểu ai đã đem đến 1 ca phân. Chỉ nghe có tiếng nói:

– “Quá lắm, mụ Tân không chịu hôn giầy của chúng ta, mồm mụ chỉ xứng đáng ăn cứt! Đúng, đúng… bắt mụ phải khai thành thật , không khai phải ăn cứt!”

Phân xuất hiện làm cả sân trường trật tự trở lại, mùi thối làm mọi người ngơ ngác. Đúng là phân được đựng vào ca uống nước đưa lên sân khấu đã kích thích dây thần kinh sâu nhất trong cơ thể con người. Sức uy hiếp của phân đã lên đài như thế.

Những người chen đến sát sân khấu bỗng lùi lại, những người đứng trên ghế ngồi cả xuống. Giống như một vở diễn, bắt đầu mở màn người xem còn nhốn nháo, khi vở diễn đến hồi gay cấn thì mọi người cùng chăm chú thưởng thức. Bắt cô giáo ăn phân có thể là hồi gay cấn của đại hội phê đấu này.

Ca phân đặt trước mặt cô giáo Tân, chỉ cách cô chừng 1 mét. Vẫn khuôn mặt trắng trẻo. Mọi người chờ cô khai báo thành thật, vì cớ gì mà không nói…

Trái tim Khiêu như có ai bóp chặt, nó cứ mong cho cô giáo nói ngay ra, như thế cô giáo không phải ăn phân. Nhưng nhiều người không nghĩ như Khiêu, bon họ không muốn cô giáo khai báo. Khi mọi người phải lựa chọn khai báo và ăn phân thì bọn họ muốn không phải là thấy người kia khai báo, mà muốn thấy người đó ăn phân.

Cô giáo không nói mà cũng không chịu ăn. Lúc này có 1 một thằng học sinh lớn đến nói với cô giáo Tân:

– “Nếu mụ không chịu khai báo, không chịu ăn cứt thì chúng ta còn có cách khác, lẽ nào quần chúng cách mạng lại chịu thua con đĩ này, chúng ta điệu đứa con gái của mụ lên đây cho mọi người thấy, cho mọi người trông thấy đứa con gái của mụ, bằng chứng cho hành động đĩ thõa tội lỗi của mụ ta”.

Cô giáo Tân không còn giữ nổi bình tĩnh nữa. Khiêu thấy cô lê bằng đầu gối đến trước ca phân, cô không chờ cho tiếng hò hét đinh tai nhức óc của bọn người kia tắt đi mà đi đến quyết định dứt khoát, để lại cho Khiêu một ấn tượng suốt đời không thể quên. Cô giáo quì gối bưng ca phân lên, nhìn vào trong ca một lúc, rồi trước mặt mọi người, đưa lên ăn…

Khiêu về nhà, việc đầu tiên là đánh răng súc miệng, tưởng như phải dùng hết ống kem đánh răng. Đánh răng làm Khiêu nôn ọe, nôn ọe rồi lại đánh răng. Đánh răng xong, Khiêu đưa nhẹ cái bàn chải vào họng cho nôn thốc nôn tháo. Khiêu nôn ra thức ăn, cuối cùng là nước nhờn. Nôn xong lại đánh răng, hai tay bịt mũi bịt miệng, bịt thật chặt, hà hơi thật mạnh. Rồi Khiêu cũng yên tâm trong miệng mình sạch sẽ, sạch như kem đánh răng. Khiêu lấy khăn lau miệng, lau đi lau lại, miệng đỏ lên, bật cả máu, đau cả miệng… Khiêu ở trong nhà vệ sinh rất lâu…

(Coppy từ: Lê Tích).

CÁCH NHÌN CỦA NGƯỜI VIỆT VỀ SỰ THÀNH CÔNG (Trần Hùng)

Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Cách đây ít lâu một bài viết về chủ đề thành công với đàn ông Việt Nam được đón đọc khá nhiều trên Thông Luận (1). Đây là một chủ đề khá thú vị và có lẽ cần được thảo luận nhiều hơn. Mọi hành động của chúng ta xét cho cùng đều hướng tới một mục đích nào đó, và mục đích cao nhất của đời người chính là thành công. Cách mỗi chúng ta định nghĩa về sự thành công vì vậy sẽ tác động lớn tới cách suy nghĩ và hành động của mỗi người trong hiện tại. Tất nhiên là do sự đa dạng của xã hội nên sẽ có vô số câu trả lời khác nhau cho câu hỏi “thế nào là thành công”. Nhưng cũng vì chúng ta là sống trong một xã hội, cùng chia sẻ một ký ức lịch sử, văn hóa và ngôn ngữ nên chúng ta chia sẻ khá nhiều điểm giống nhau ở cách nhìn về thành công. Những điểm giống nhau này ít nhiều lý giải thực tại vô lý của đất nước hiện nay.

Thành công là hơn được người khác

Trong giáo dục gia đình, dường như việc so sánh con mình với ai đó là việc mà đa số các bậc phụ huynh đều làm. Thủa còn nhỏ tôi học tương đối khá nhưng mẹ hay ông bà tôi vẫn luôn có thể tìm ra cái gì đó khiến họ không hài lòng và so sánh với những bạn bè cùng trang lứa. Tôi biết họ có ý tốt, họ xem đó như là một cách để khích lệ con cái mình. Nhưng họ tin chắc ở điểm vươn lên có nghĩa là hơn được người khác, và họ dạy con cháu mình về cạnh tranh thay vì hợp tác. Đây là tâm lý của các thế hệ phụ huynh 197x trở về trước mà tôi đã được rèn giũa trong hơn 18 năm. Có vẻ tới nay nó cũng chưa thay đổi nhiều. Thế hệ trẻ thường dùng cụm từ “con nhà người ta” để miêu tả (và cả châm biếm) tâm lý này của các bậc phụ huynh, và rằng sẽ là “ác mộng” với ai đó có một thằng hàng xóm chăm chỉ, giỏi việc nhà mà học cũng giỏi!

Trong trường học, vào mỗi kỳ thi hay mỗi học kỳ kết thúc luôn có một bảng xếp hạng điểm của các học sinh trong lớp (nhiều khi là trong trường) được đưa ra công khai. Thời trung học, tôi nằm trong nhóm đầu, thỉnh thoảng ở vị trí số một, có vẻ nhóm đầu ai cũng thích vị trí này, mọi người đều cố để hơn được người khác, và với cái bảng xếp hạng công khai này việc giúp những bạn bè cùng nhóm học khá lên, thậm chí giỏi hơn mình là điều không một ai nghĩ tới ! Nhóm đầu là thế, nhưng cũng có những người ở nhóm cuối. Em họ của tôi, trong một lần được hỏi về thành tích học tập, phụ huynh nói rằng em ấy “xếp thứ tư từ dưới lên”. Phải nghĩ gì? Một nền giáo dục man rợ thay vì nâng đỡ lại chà đạp lên những người yếu kém. Tuy vậy điều này được xem là bình thường, là hiển nhiên. Ít có học sinh nào có một sự phản kháng nào đó với triết lý giáo dục này, dù là nhóm đầu hay nhóm cuối. Giới trẻ đã được huấn luyện để tin rằng hơn được người khác chính là cách để leo lên những nấc thang cao hơn trong xã hội. Học càng giỏi tâm lý hơn thua càng nặng, bằng cấp càng cao càng bị đầu độc bởi triết lý giáo dục độc hại này.

Trong gia đình và nhà trường như vậy thì ngoài xã hội cũng khó mà khác. Trong kinh doanh tôi vẫn thường nghe nhiều người, trong đó có những người bạn tương đối lương thiện của mình, nói rằng “chẳng ai đem bí quyết kiếm cơm của mình cho không người khác cả”. Vẫn chỉ biết có mình! Trong nhiều lĩnh vực, ai cũng có thể bắt gặp nhan nhản những người tìm mọi cách để hơn được người khác, để vươn lên, kể cả việc dẫm đạp lên người khác, phá rối đối thủ của mình. Một người quen của tôi đã rất phiền lòng khi so sánh tinh thần hợp tác của người Việt với cộng đồng người Hàn tại Việt Nam, họ luôn giúp đỡ, hỗ trợ nhau, có cơ hội hay dự án kinh doanh nào thì họ luôn ưu tiên người Hàn trước hết. Một đàn anh cùng quê có lần tâm sự với tôi rằng anh rất buồn chán khi mỗi lần về thăm quê và ngồi lại với những người bạn cũ của mình, dù anh rất tha thiết với quê hương, khi mà “mỗi lần ngồi lại bọn nó chỉ toàn hơn thua nhau tiền bạc, đất đai, con tao làm chức vụ này, có lương lậu thế này thế kia” – anh kể.

Sự tranh đua, nếu chỉ dừng lại ở một mức độ nào đó có lẽ cũng cần thiết, ít nhiều nó tạo ra sự năng động cho xã hội, nhưng với nhiều người Việt, nó lại được đặt lên trên hết. Từ gia đình tới nhà trường rồi cả xã hội đều xem nó là bình thường, là hiển nhiên, cố tôn vinh nó thay vì tìm cách làm nó dịu đi trong một xã hội có quá ít cơ hội và quá khó để vươn lên. Người ta hơn thua nhau từ điểm số trong nhà trường, rồi ra xã hội là tài sản, là nhà, là xe, là vị thế xã hội, là danh tiếng, là chức quyền… rồi về già là chức vụ, lương lộc của con cái.

Chắc chắn phải có một di sản lịch sử nào đó, hay một chấn động tâm lý nào đó rất mạnh khiến tâm lý hơn thua hằn sâu như vậy trong tâm trí người Việt. Nhưng nó là gì?

Một giải thích có thể đến từ văn hóa khoa bảng của Khổng Giáo. Trong các xã hội Khổng Giáo, con đường khoa bảng, cặm cụi đèn sách, học để thi rồi ra làm quan được xem là con đường duy nhất và vinh quang nhất để thay đổi số phận, cả về tài sản lẫn vị thế xã hội. Thay đổi số phận thì có hàng triệu người muốn, nhưng mỗi kỳ thi cơ hội chỉ đến với vài chục người. Tình trạng này buộc người ta phải luôn cố gắng, tìm mọi cách để hơn được những người khác. Giúp đỡ người khác đỗ đạt là giảm cơ hội thành công của mình, một điều có lẽ không người nào nghĩ tới trong các xã hội Khổng Giáo. Gần cả ngàn năm được nuôi dưỡng bởi văn hóa này, nó đã trở thành một phần của chúng ta, không dễ để nhận diện và phản bác nó, nhất là với một dân tộc có khả năng phê phán kém như người Việt Nam.

Dù vậy, vẫn còn một lý do quan trọng khác bên cạnh văn hóa khoa bảng : sự nghèo đói.

“… (năm 1182) Mùa hạ, tháng 4, sao Huỳnh Hoặc đi vào chòm Nam Đẩu. Đói to, dân chết gần một nửa…”.

Đây là một đoạn trích trong cuốn Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Thật là kinh hoàng ! So với nạn đói năm 1182 thì có vẻ nạn đói năm Ất Dậu (1944-1945) “chẳng là gì”. Không khó để bắt gặp những nạn đói lớn khi đọc cuốn Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Sự nghèo đói là một phần của lịch sử Việt Nam, có lẽ vì thế mà từ “ăn” hiện diện rất nhiều tiếng Việt, vượt ra cả ngoài hành động ăn uống thông thường, được “ăn” còn có nghĩa là hạnh phúc, là thành công.

Sự nghèo đói tới mức cùng cực này kéo dài trong hàng ngàn năm làm người ta tin chắc nịch vào truyện thuyết rằng hoạt động kinh tế chỉ là “một trò chơi có tổng không đổi”, có người no tức là có người đói, có người giàu lên thì có người nghèo đi, để cho người khác vươn lên đồng nghĩa với việc để cho mình bị dìm xuống, thành công của kẻ khác chính là thất bại của mình. Tính hơn thua, tranh giành càng trở nên khốc liệt. Hàng ngàn năm sống trong tâm lý này, 30 năm ra khỏi cảnh đói khổ vẫn là quá ngắn. Không có gì đáng ngạc nhiên khi tâm lý này còn hiện diễn mãnh liệt trong tâm trí của nhiều người.

Một lý do khác, thậm chí còn quan trọng hơn, giải thích cho tâm lý hơn thua của người Việt Nam là chúng ta thiếu hẳn một ý thức cộng đồng. Khi không có một tinh thần cộng đồng mạnh mẽ, sự vị kỷ sẽ lên ngôi và người ta sẽ chỉ tìm kiếm thành công cho cá nhân. Tâm lý hơn thua nhau là cái tự nhiên sẽ đến.

Thành công chỉ là thành công cho mình, ý niệm tìm kiếm thành công cho cộng đồng, cho đất nước vắng mặt

Đây là một cách nhìn khác về thành công của người Việt Nam. Nó hiện diện quá mạnh mẽ và quá rõ ràng. Trong sinh hoạt cá nhân, tôi chưa bao giờ nghe từ những thế hệ cha chú rằng mình phải có trách nhiệm hay nghĩa vụ, hay phải đóng góp gì đó cho cộng đồng hay cho đất nước, “cộng đồng” đối với họ chỉ dừng lại ở khuôn khổ gia đình, cùng lắm là dòng họ. Với những người bạn cùng thế hệ (199x) tuyệt đại đa số không có một dự án hay tham vọng gì cho đất nước cả, đa số vẫn chỉ lao đi trên con đường tìm kiếm sự giàu có cho mình. Rất ít người có những đóng góp cho cộng đồng thông qua các tổ chức thiện nguyện, số người muốn đóng góp cho đất nước thông qua các tổ chức chính trị còn ít hơn. Nhiều người bạn tôi thù ghét chế độ cộng sản, họ đều biết nếu đất nước có một thể chế như nhiều nước Châu Âu, Bắc Mỹ, chính họ và đất nước sẽ khá hơn nhiều, nhưng nếu phải chấp nhận một rủi ro nào đó cho đất nước thì không, họ sẽ đứng ngoài. Những từ ngữ như “lòng yêu nước” không bao giờ được nhắc tới trong những cuộc trò chuyện cá nhân, có lẽ vì nó làm người ta ngượng ngùng. Đây không phải là tâm lý của một vài người, mà là cả xã hội, thậm chí là cả những trí thức được xem là danh giá nhất, nếu quan sát những gì họ nói và viết.

Dĩ nhiên tôi không đánh giá thấp thành công cá nhân, ở một mức độ nào đó nó cũng rất quan trọng với mỗi người, với xã hội và với đất nước. Vấn đề của chúng ta là chỉ tìm kiếm thành công cho cá nhân, và cũng vì thế chúng ta sẽ không tiến xa được ngay cả khi chỉ xét trên mặt cá nhân, vì những thành công lớn của cá nhân đều được đặt nền tảng trên những thành công của tập thể. Đằng sau những doanh nhân lớn là những công ty tầm vóc, đằng sau những nhà khoa học nổi danh là cả một nền giáo dục, khoa học công nghệ, đằng sau những chính trị gia xuất sắc không thể thiếu những chính đảng lớn.

Tâm lý “vì mình” được đẩy quá xa này chủ yếu là một di sản của lịch sử.

Lý do trước hết là nội chiến. Theo thống kê của các sử gia, trong khoảng 50 năm đầu triều đại nhà Nguyễn có tới hơn 400 cuộc nổi dậy, chỉ riêng trong 21 năm vào thời Minh Mạng, có tới hơn 200. Nếu cứ giả sử mỗi cuộc nổi dậy kéo dài hai năm (một ước lượng thiếu chính xác) thì mỗi năm có tới hơn 20 cuộc nổi dậy. Tất cả các cuộc nổi dậy này đều thất bại, và đa số các lãnh đạo bị hành quyết, có những cuộc khởi nghĩa bị hành quyết tới cả ngàn người. Đây đều có thể xem là những cuộc nội chiến, dù ở quy mô nhỏ. Nếu so với những ông Vua khác, Minh Mạng không phải là kém. Trong lịch sử Việt Nam nội chiến áp đảo so với những cuộc chiến chống ngoại xâm, nó đã trở thành một phần của linh hồn Việt Nam. Cuộc nội chiến cuối cùng, và cũng là tàn khốc nhất từ năm 1945-1975 chỉ mới trôi qua chưa đầy nửa thế kỷ.

Những cuộc nội chiến huỷ hoại một cách toàn diện ý thức cộng động. Còn gì là tinh thần cộng đồng khi cầm gươm, cầm súng lên giết nhau. Nền tảng tinh thần cộng đồng là sự quý mến, sự gắn bó, là tâm lý mong muốn, giúp đỡ những người trong một cộng đồng cùng vươn lên, một tâm lý không thể có một khi đã tìm mọi cách để hạ nhục, để tàn sát lẫn nhau. Chúng ta đã trải qua một cuộc nội chiến dài và tàn khốc nhất trong thế kỷ 20, sau đó cũng không có một cố gắng hoà giải nào, và vì thế ý thức cộng đồng và tinh thần dân tộc của ta có lẽ cũng nằm trong nhóm thấp nhất khi so sánh với những quốc gia cùng chiều dài lịch sử. Thay vì tâm lý giúp nhau, chúng ta chỉ còn tâm lý hại nhau.

Một lý do khác cho sự thiếu vắng ý thức cộng đồng là sự đói nghèo, như đã nhắc tới ở phần trên, trong suốt dòng lịch sử, nó là mối nguy hằng ngày với dân tộc ta. Sự đói khổ tới mức như vậy nó đặt con người luôn nằm giữa ranh giới của sự sống và cái chết. Trong tình trạng này thì khó mà nghĩ được tới cái gì khác hay ai khác ngoài việc giúp mình sống và tồn tại. Phải vì mình trước hết. Những người không nghĩ tới mình trước hết có lẽ đã chết đói hết rồi ! Di sản của hàng ngàn năm đói khổ này, hàng ngàn năm sống qua hết thảm kịch này tới thảm kịch khác, vẫn hiện diện rất rõ trong mỗi người Việt Nam ngày này, chúng ta luồn lách rất giỏi, và có khả năng thích nghi với tình thế ở mức độ rất cao. Nó giúp mỗi cá nhân người Việt có thể vươn lên nhanh chóng tại nhiều nước phát triển, nhưng cũng chính nó làm cho những cộng đồng người Việt hải ngoại không phát triển được. Một cộng đồng không thể gắn kết được nếu tâm lý luồn lách vẫn nằm trong bản năng và phản xạ.

Vẫn còn một lý do quan trọng khác là chúng ta thiếu hẳn những suy tư mang tính trừu tượng, cho tới gần đây chúng ta không có những triết gia hay những nhà xã hội học. Mọi kết hợp đều chỉ là những hư cấu, là những thực thể mang tính trừu tượng. Không thể kết hợp được, và cũng không thể có những liên kết cộng đồng mạnh mẽ nếu thiếu những suy tư mang tính trừu tượng. Hãy lấy một ví dụ là Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên, nó là gì ? Nó không là ai cả và cũng không gắn liền với cái gì cụ thể cả. Nó là một sự tưởng tượng, được định nghĩa bởi những lý tưởng mà nó theo đuổi. Khó có thể cảm nhận, gắn bó, và muốn đóng góp cho nó nếu không có những suy tư, hay không nhìn thấy tầm quan trọng của những thứ trừu tượng.

Hay rộng hơn là đất nước Việt Nam, gồm cả những thứ cụ thể (lãnh thổ, ngôn ngữ, dân số và chính quyền), và cả những cái trừu tượng hơn là đồng thuận dân tộc về một khế ước sống chung và xây dựng một tương lai chung. Những cái cụ thể giúp ta tồn tại, nhưng cái trừu tượng mới là cái giúp ta vươn lên, xét theo kinh nghiệm của mọi quốc gia thịnh vượng, và cũng là cái mà hiện chúng ta không có. Dân chủ xét cho cùng cũng chỉ là một cách tổ chức xã hội để tìm kiếm đồng thuận này, hiến pháp chỉ là một cách thức để văn bản hóa, để cụ thể hóa thứ vô hình này. Như vậy việc quan trọng nhất của người tranh đấu cho đất nước là tìm kiếm và xây dựng một đồng thuận dân tộc. Tuy nhiên, tới này vẫn ít người nhìn rõ vấn đề. Nhiều người đấu tranh, tức là những người có tâm hồn nhất của dân tộc, vẫn nói cần phải làm cái gì đó cụ thể hơn là “những lý luận cao siêu”.

Sự thiếu vắng những suy tư mang tính trừu tượng tới mức độ nghiêm trọng như vậy có lẽ là di sản của của nền văn minh phù sa, cái đã nuôi dưỡng tổ tiên ta. Nó đã được ông Nguyễn Gia Kiểng giải thích khá kỹ trong cuốn Tổ Quốc Ăn Năn :

“Các xã hội nông nghiệp hình thành bên các dòng sông lớn đều mang một tật nguyền chung của các nền văn minh phù sa là tư tưởng và sáng kiến bị thui chột. Phải hàng ngàn năm mới đắp xong những con đê lớn với những chịu đựng ghê gớm. Cuộc sống đày đọa và gắn chặt với đất đó đã nhồi nặn ra những con người chỉ quanh năm vật vã với đất để kiếm miếng ăn, dần dần sự thủ cựu và thiển cận biến thành một bản chất, con người không biết nghĩ và không dám nghĩ. Chúng ta là một dân tộc như thế. Cả lịch sử lập quốc của ta đã chỉ là lịch sử con đê sông Hồng Hà. Ta hệ lụy với dòng sông hơn mọi dân tộc khác, đến nỗi gọi quốc gia là nước. Quốc gia của ta chỉ quanh quẩn là đất nước, núi sông, sơn hà. Chúng ta còn tật nguyền hơn mọi dân tộc phù sa khác. Trí tuệ của ta thui chột một cách thê thảm”.

Rất tai hại cho sinh hoạt tổ chức

Sự kết hợp của hai cách nhìn về thành công này lý giải sự yếu kém về khả năng sinh hoạt tổ chức của người Việt. Trong khi đây lại là khả năng quan trọng nhất để một dân tộc vươn lên, dù là về kinh tế, chính trị, văn hóa hay xã hội. Chúng ta có rất ít những tổ hợp kinh tế lớn mang tầm vóc quốc tế, các tổ chức thiện nguyện lớn tại Việt Nam chủ yếu là một chi nhánh của các tổ chức quốc tế, trong khi các tổ chức chính trị thì nhỏ cả về tầm vóc lẫn số lượng. Nó ngăn cản sự vươn lên của mỗi chúng ta và cả đất nước của chúng ta.

Cụ thể trong chính trị, việc quan niệm thành công là chỉ biết tới mình, và cố gắng để hơn được người khác khiến “những người đấu tranh nhìn những người khác như là đối thủ thay vì là anh em, nhìn những tổ chức có đường lối đúng đắn như là những đe dọa cho mình thay vì là những hi vọng cho đất nước” (2). Có lẽ tâm lý này trong các tổ chức xã hội dân sự cũng không khá hơn. Kết quả là nó giúp cho chế độ cộng sản có thể tiếp tục tồn tại khi không gặp phải một chống đối đáng kể nào dù đa số người dân Việt Nam đều đã rất bất mãn với chế độ. Những chống đối trên phương diện cá nhân không thể nào đe dọa sự tồn vong của một chế độ độc tài, chỉ có những hoạt động đấu tranh ở quy mô tổ chức, dù là tổ chức chính trị hay xã hội dân sự, mới có thể tạo ra sự thay đổi. Nhưng “cách nhìn của người Việt về sự thành công” ngăn cản sự ra đời của những tổ chức lớn.

Cái tệ hại nhất trong văn hóa của Đảng cộng sản là họ luôn đặt mình lên trên đất nước, khi làm một việc gì đó câu hỏi họ đặt ra trước hết là việc này có lợi hay có hại cho đảng, thay vì cho đất nước. Những người dân chủ chắn chắn đều thù ghét cái văn hóa này. Khi làm một việc gì đó câu hỏi mà chúng ta đặt ra trước hết phải là việc đó đúng hay sai, có hại hay có lợi cho đất nước. Và cách nhìn về thành công theo truyền thống của chúng ta rất có hại cho đất nước. Đã tới lúc ta phải vứt nó đi.

Trần Hùng

(10/06/2023)

Ngày giỗ lần thứ 40 của anh Nguyễn Văn Hoàng

Tandaiviet.org

Ngày đất nước được Tự Do, thanh bình trở lại, Dân Tộc sẽ ghi công Anh Nguyễn Văn Hoàng và các liệt sĩ khác của Ðảng TÐV cùng tất cả các Tổ chức yêu nước khác đã hiên ngang nằm xuống vì Tự Do, Dân Chủ cho quê hương Việt Nam thân yêu. BBT

Lê Minh Nguyên

Hôm nay là ngày giỗ lần thứ 40 của anh Nguyễn Văn Hoàng, một người sếp kính quý của tôi ở Phòng Thuế Vụ Gò Vấp, một đồng chí can trường trong đảng Tân Đại Việt, một nhà ái quốc hiên ngang và dũng cảm.

Nguời chết chỉ thực sự chết đi khi không còn ai nhắc gì đến họ nữa. Trong ý nghĩa đó, anh vẫn sống cùng Anh Em và Dân Tộc.

Xin thắp một nén hương để tưởng nhớ anh – ngày anh bị CS sát hại 31/5/1983.

Tưởng Niệm Nhà Chí Sĩ Nguyễn Văn Hoàng
(18/10/1947 – 31/5/1983)

Anh Nguyễn Văn Hoàng tự Nguyễn Chính Nghĩa sinh tại Biên Hoà trong một gia đình nghèo có 8 anh em mà anh Hoàng là anh cả. Anh có một vợ ba con và cha mẹ già cần phụng dưỡng.

Khi còn học tiểu học, anh vừa đi học anh vừa đi bán quà vặt để giúp gia đình. Khi học trung học, anh là học sinh xuất sắc của trường Trung Học Ngô Quyền, Biên Hoà và được giải thưởng danh dự của Tổng Thống VNCH trao tặng. Khi xong tú tài toàn phần, anh học Đại Học Khoa Học Sài Gòn, đến năm thứ ba anh được học bổng chính phủ để đi học ngành hoá học ở Algeria. Nhưng vì có cha mẹ già cần phụng dưỡng, và các con trong gia đình cần cha dạy dỗ, nên anh bỏ dở chương trình du học này để thi vào Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, Ban Tham Sự khoá 4. Trong khi học QGHC, anh còn học thêm tại Đại Học Luật Khoa Sài Gòn ban Tư Pháp. Anh tốt nghiệp QGHC năm 1969 và được bổ nhiệm làm việc ở Ty Thuế Vụ Quận I thuộc Tổng Nha Thuế Vụ.

Cuối năm 1969, thi hành lệnh động viên, anh nhập ngũ khoá 2/1969 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức và sau đó về làm việc ở Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH. Hai năm sau, anh được biệt phái về Tổng Nha Thuế Vụ và làm Trưởng Phòng Thuế Vụ Quận Gò Vấp – Lê Minh Nguyên biết anh ở đây khi về làm việc dưới quyền anh. Ban đêm anh đi làm bán thời gian trong vai trò giáo sư phụ khảo cho trường Cao Đẳng Thương Mãi Minh Trí. Chức vụ sau cùng của anh là Trung Uý Quân Lực VNCH được biệt phái về Tổng Nha Thuế Vụ và được bổ nhiệm làm Phó Ty Thuế Vụ Tỉnh Gia Định.

Trong thời gian anh làm Trưởng Phòng Thuế Vụ Quận Gò Vấp, Lê Minh Nguyên có mời anh và hai nhân viên khác tham gia Đảng Tân Đại Việt do GS Nguyễn Ngọc Huy lãnh đạo. Anh trực thuộc Biệt Bộ Lê Trí Vị, một biệt bộ công chức của TĐV.

Anh tốt nghiệp cử nhân ban tư pháp trường Đại Học Luật Khoa SG năm 1973, GS Nguyễn Văn Ngôn làm Chánh Chủ Khảo. GS Ngôn là cố vấn của Tổng Đoàn Sinh Viên Cấp Tiến và là ca sĩ bài Đường Xưa Lối Cũ của Tổng Đoàn khi có sinh hoạt văn nghệ.

Sau ngày 30/4/1975 anh bị đi tù tại trại 15-NV ở Long Thành. Đến tháng 11/1975 vì CSVN bị lúng túng trong vấn đề thiếu chuyên viên thuế vụ phụ trách việc thu thuế ở Miền Nam nên anh được tha nhưng bị quản chế 6 tháng để làm việc cho họ trong lãnh vực chuyên môn này.

Sau 6 tháng anh xin nghỉ việc và đứng ra thành lập Tổ Hợp Nông Sản, nhưng đó chỉ là mặt nổi bên ngoài, bên trong là tổ chức chính trị có tên là Binh Đoàn Lê Văn Duyệt. Đến tháng 10/1977 anh bị bắt, nhưng đến tháng 3/1978 anh được thả ra vì CS không khai thác được gì.

Ra tù anh tiếp tục hoạt động ngấm ngầm cho đến ngày 4/2/1979 tức vào ngày mùng 4 Tết Kỷ Mùi, anh cùng một số bạn bè thành lập tổ chức kháng chiến có tên là Mặt Trận Tự Do Cứu Quốc Việt Nam, có cơ sở chính tại Sài Gòn và chính anh là chủ tịch. Mặt Trận này có địa bàn hoạt động từ miền Đông qua chiến hữu Trần Quang Mẫn, cho đến miền Tây qua chiến hữu Nguyễn Văn An ở vùng Long Xuyên, Rạch Giá.

Ngày 27/4/1979, trên đường về chiến khu miền Tây, anh và các chiến hữu bị bắt, do sự phản bội của một người trong tổ chức có tên là Nguyễn Hải Đăng chỉ điểm.

Ngày 11/8/1981 anh bị toà Sơ Thẩm Nhân Dân CSVN tại Sài Gòn kết án tù chung thân. Trước toà anh hiên ngang và dũng cảm đối đáp với chánh án, gọi họ và nhà cầm quyền Hà Nội là tay sai bán nước, đưa nhân dân vào cảnh bần cùng đói rách, bóp nghẹt tự do dân chủ. Lúc quá căm phẩn, anh đã bất thần hô to “Đả đảo Cộng Sản! Đả đảo Hồ Chí Minh!” ngay trước phiên toà. Bị sỉ nhục quá bất ngờ, CS liền dùng bán súng đánh anh quỵ ngay tại chỗ. Sau đó họ xin lệnh Hà Nội để lập phiên toà khác xử lại.

Ngày 27/5/1983 cả ba anh đều bị kết án tử hình. Trước đó, các bạn bè ở Âu Châu liên lạc với Tổ Chức Ân Xá Quốc Tế tại Luân Đôn qua văn thư số UA234/82 ngày 7/10/1982 để can thiệp và xin ân xá, nhưng CSVN không đáp ứng.

Ngày 31/5/1983, chỉ 4 ngày sau khi kết án, lúc 9:00AM sáng, CSVN đem anh Hoàng và anh Mẫn ra xử bắn tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, riêng anh An thì bị họ đánh chết trong tù.

Chị Trần Mỹ Hường, vợ anh Hoàng, phải vội vã chạy lo lót tiền cho bọn cai ngục để được nhìn mặt chồng lần cuối, nhờ đó mới biết được sự đánh đập anh Hoàng dã man trong lúc xử án, cũng như việc đánh chết anh An trong tù.

Khi biết mình bị án tử hình, anh đã xin lỗi người vợ hiền vì đã không làm tròn trách nhiệm của người chồng, người cha, và cũng tạ lỗi với cha mẹ già vì đã không còn dịp để phụng dưỡng!

Trước khi bắn, CS nhét hai quả chanh thật to vào miệng hai anh vì sợ hai anh nhục mạ chế độ và lãnh tụ của họ. Sau đó họ vùi xác hai anh và cắm lên mỗi mộ phần – được lấp đất sơ sài – một tấm bảng với hàng chữ ” Âm mưu lật đổ chính quyền”.

Chị Hoàng núp sau lùm cây xa xa để lén nhìn chồng đang bị hành huyết nhưng không dám kêu gào mà chỉ âm thầm rơi lệ vì sợ bị lộ nơi ẩn nấp!

Anh Hoàng đã hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ – 36 tuổi!

Khi tin anh bị bức hại được loan truyền ra hải ngoại vào khoảng tháng 11/1983, GS Nguyễn Ngọc Huy, người thầy khả kính của những sinh viên Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, đã điếu học trò mình qua bài thơ “Điếu Một Môn Sinh” nói lên sự hy sinh anh hùng của anh cho quốc gia dân tộc.

Theo thư của chị Hoàng cho biết, năm 1993 hài cốt anh Hoàng đã được chị đưa về an táng nơi quê nhà của anh ở Biên Hoà để gia đình tiện việc hương khói. Các con của chị – con trai lớn Hiển và hai con gái Hân, Hạnh – cũng rất ngoan và chăm chỉ học hành. Tất cả đều tốt nghiệp đại học, có việc làm và đều đã lập gia đình.

Anh Hoàng mất cho đến nay – 2022 – là 39 năm. Xin thành kính dâng lên anh một nén hương lòng và luôn nhớ về anh, một nguời anh hùng đất Việt.

(Dựa theo bài viết của anh Nguyễn Văn Sáu, người bạn QGHC của anh Hoàng, trong Biên Khảo Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, Tập II, trang 426-431)

Điếu Một Môn Sinh

    • Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy
      Houston, Texas 26/11/1983

Năm trước cùng chung một mái trường
Trong chương trình phục vụ quê hương
Thầy trao trò nhận truyền tri thức
Giúp nước trong thời đại nhiễu nhương

Đến lúc non sông cát bụi lầm
Thầy đi nơi hải ngoại xa xăm
Trò bên trong nước đầy tang tóc
Nhưng vẫn cùng chung một quyết tâm

Đập nát xiềng gông lũ bạo tàn
Làm cho toàn quốc được khương an
Trong niềm vui sống và no ấm
Cùng tự do về với quốc dân

Nhưng giữa phong ba nổi bất ngờ
Trên đường tranh đấu rủi sa cơ
Trò đà ngã gục ngày hôm ấy
Và chết hiên ngang dưới bóng cờ

Nghe tin trò đã phải hy sinh
Xao xuyến trong tâm mối nghĩa tình
Thầy thấp nén hương thờ liệt sĩ
Cho nhà ái quốc cựu môn sinh

Trên con đường giải phóng nhơn dân
Còn có bao người quyết dấn thân
Diệt lũ hung tàn, xây đất nước
Suối vàng trò hãy cứ an tâm


 

Xung đột sắc tộc ở Tây Nguyên

Báo Tiếng Dân

Dương Quốc Chính

11-6-2023

Ảnh chụp màn hình

Tây Nguyên, nguyên là hai nước Thuỷ Xá và Hoả Xá, đến thời Minh Mạng vẫn chỉ là thuộc quốc của Đại Nam. Có lẽ chúa rồi vua Nguyễn cũng không định xâm lược và sát nhập. Khi Pháp chiếm Đông Dương thì vùng này mới được nhập và An Nam (Trung Kỳ), vì người Pháp mới tận dụng được lợi thế về đất đai và tài nguyên ở đây, các đồn điền cafe, cao su… mới chỉ có từ khi người Pháp xâm lược. Có nghĩa là đây là vùng đất cuối cùng được nhập vào Việt Nam.

Đến giai đoạn Quốc gia Việt Nam, vùng này được quy chế tự trị dành riêng cho Hoàng gia, gọi là Hoàng triều cương thổ. Các lãnh đạo địa phương chỉ thần phục Quốc trưởng Bảo Đại. Đến thời VNCH, ông Diệm thống nhất quốc gia nên xoá bỏ Hoàng triều cương thổ, nhập vào VNCH.

Trong chiến tranh Việt Nam, dân Tây Nguyên vẫn có những nhóm chống quân cộng sản, chứ không phải trên dưới một lòng theo Việt cộng như sách báo chính thống viết đâu. Điển hình là vụ thảm sát Đắk Sơn, anh em Google để biết chi tiết, có cả ảnh. Đây là một vùng ở Đắk Lắk luôn. Tức là mầm mống xung đột nó có từ lâu đời rồi.

Khi chiến tranh Việt Nam kết thúc thì tổ chức FULRO vẫn tồn tại ở Tây Nguyên đến 1992. Anh em Google tiếp để biết FULRO là tổ chức nào. Đại khái đây là tổ chức đấu tranh để giành độc lập cho các dân tộc Tây Nguyên, gồm cả người Chăm và Khmer. Có nghĩa là họ chống lại sự cai trị của người Kinh gồm cả VNCH lẫn Việt Nam cộng sản.

Năm 1999, nhà nước DEGAR được thành lập, đây là nhà nước tự xưng của người dân tộc ở Tây Nguyên. Thủ đô cũng ở Đắk Lắk. Google để biết chi tiết. Nhà nước này trên lý thuyết vẫn tồn tại, lãnh đạo lưu vong.

Mấy hôm trước, trùng hợp thay, có ông thày giáo cũng ở Đắk Lắk mới bị kết án vì kêu gọi dân chủ, nhân quyền trên Facebook. Nên mình mới bảo là vùng này rất nhạy cảm chính trị, nên dân mà ngo ngoe chống đối là bị dính án ngay. Hôm qua xảy ra vụ cũng ở Đắk Lắk, hiện chưa công bố nguyên nhân chính thức dẫn tới vụ khủng bô’. Nhưng nhiều người đồn đoán là tổ chức Degar đứng sau, cũng có người cho rằng chỉ là tranh chấp đất đai.

Mình tóm lược lại một số thông tin về sự nhạy cảm chính trị, nguy cơ ly khai của vùng này để mọi người hiểu bản chất của lịch sử xung đột ở vùng đất Tây Nguyên. Chuyện tương tự diễn ra khá phổ biến trên thế giới. Đặc biệt là ở các nước cộng sản hay độc tài thì nó diễn ra càng bạo lực hơn. Bên Tàu thì Tân Cương, Tây Tạng cũng không khác gì Tây Nguyên. Các vụ khủng bố rồi đàn áp đẫm máu diễn ra nhiều ở Nga, TQ vì nguyên nhân sắc tộc. Vùng Kosovo cũng vậy, đang tái diễn bạo lực.

Nói chung là việc cai trị những vùng đất mới có lịch sử, văn hoá, dân tộc quá khác biệt với các nơi khác là không hề đơn giản. Ở nhiều nước hay nhiều giai đoạn lịch sử thì các vùng đất này phải có quyền tự trị tương đối thoáng. Ngay ở TQ cũng có khu tự trị dân tộc Choang ở Quảng Tây giáp Việt Nam. Nga cũng có nước CH tự trị. Việt Nam hiện không có và đã từng có ở Tây Nguyên và miền núi phía Bắc (người Mèo).

Hiện tại chưa rõ nguyên nhân vụ vừa xong là gì, nhưng mâu thuẫn sắc tộc thường không được công bố là nguyên nhân chính thức, dễ bị lái thành mâu thuẫn thuần tuý hình sự.

Xem thêm chi tiết sự vụ tấn công 2 đồn Công An ở đây.


 

Thêm tàu hải cảnh Trung Quốc xuất hiện ở vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam?

Tàu hải cảnh Trung Quốc

NGUỒN HÌNH ẢNH,GETTY IMAGES Chụp lại hình ảnh,

Một tàu hải cảnh Trung Quốc ở ngoài khơi tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc vào ngày 19/4/2023

Tàu hải cảnh Trung Quốc CCG 5901 hiện diện tại vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam (EEZ), ở phía tây bãi Tư Chính từ ngày 8/6, theo Tướng Raymond M. Powell từ Đại học Stanford.

Trong một dòng tweet hôm 8/6, Tướng Raymond M. Powell, Trưởng Dự án Myoushu, Trung tâm Gordian Knot Center for National Security Innovation, Đại học Stanford thông tin về đường di chuyển của tàu hải cảnh được mệnh danh là “monster” (con quái vật) này.

“Điều khiến sự kiện này đáng chú ý đó tàu China Coast Guard 5901 (CCG 5901) là một trong tàu hải cảnh lớn nhất thế giới, với chiều dài 165 mét và nặng 12.000 tấn của Trung Quốc. Con tàu này vượt trội hẳn so với những tàu kiểm ngư dài trên 56 mét của phía Việt Nam được cắt cử để theo sát các hoạt động của tàu Trung Quốc.” ông Raymond M. Powell nói với BBC News Tiếng Việt.

Ông Raymond cho biết thêm với BBC là con tàu CCG 5901 này chỉ phát tín hiệu AIS trong khoảng 7,5 giờ trong ngày thứ Năm 8/6, và sau đó “đen” ngay lập tức sau đó.

Trung Quốc tăng hơn gấp đôi số tàu cảnh sát biển tuần tra trên các vùng mỏ dầu khí của Việt Nam ở bãi Tư Chính trong năm 2022, tăng từ con số 142 ngày vào năm 2020 lên 310 ngày vào năm 2022, theo Tổ chức Sáng kiến Minh bạch Hàng hải (The Asia Maritime Transparency Initiative – AMTI).

“Mục tiêu của Trung Quốc trong việc tuần tra tại những khu vực này để thiết lập cái gọi là “quyền lịch sử” đối với tuyên bố đường chín đoạn. Trung Quốc đã liên tục gia tăng sự hiện diện của mình trong những năm qua với sự phản đối công khai rất ít ỏi từ Hà Nội”, ông Raymond M. Powell bình luận.

Đây là những diễn biến mới nhất trên Biển Đông sau khi tàu Hướng Dương Hồng 10 (Xiang Yang Hong 10) của Trung Quốc và các tàu hộ vệ, hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam trên Biển Đông trong gần một tháng qua đã rời vùng biển Việt Nam hôm Thứ Hai 5/6.

Hôm qua 10/6, Việt Nam phản bác luận điệu của Trung Quốc cho rằng “tàu khảo sát Hướng Dương Hồng 10 hoạt động hợp pháp ở Biển Đông”.

Trước đó ngày 6/6, ông Uông Văn Bân, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc khẳng định “Trung Quốc có chủ quyền với quần đảo Nam Sa và vùng biển lân cận”.

Con tàu khách khổng lồ San Sha 2 (Tam Sa 2) và tàu tuần tra Zhong Guo Yu Zheng 310 của hải quân Trung Quốc cũng đã hướng đến Bãi Tư Chính vào ngày 8/6

NGUỒN HÌNH ẢNH,RAYMOND M. POWELL Chụp lại hình ảnh,

Con tàu khách khổng lồ San Sha 2 (Tam Sa 2) và tàu tuần tra Zhong Guo Yu Zheng 310 của hải quân Trung Quốc cũng đã hướng đến Bãi Tư Chính vào ngày 8/6, theo Tướng Raymond M. Powell

Ông Raymond ngày 8/6 cũng cho biết thêm con tàu khách khổng lồ San Sha 2 (Tam Sa 2) và tàu tuần tra Zhong Guo Yu Zheng 310 của hải quân Trung Quốc cũng đã hướng đến Bãi Tư Chính trong một động thái khẳng định chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông.

‘Càng hung hăng hơn’

Từ Sài Gòn vào hôm nay, nhà nghiên cứu Biển Đông Đinh Kim Phúc nhận định với BBC News Tiếng Việt, trong hơn 10 năm qua, các tàu địa chất, tàu cảnh sát biển, kiểm ngư Trung Quốc “luôn xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, thậm chí đi vào thềm lục địa của Việt Nam”.

“Đây là chuyện hết sức bình thường của nhà nước Trung Quốc. Từ thời Đặng Tiểu Bình đến nay, Trung Quốc không bao giờ giấu giếm tham vọng chủ quyền trên Biển Đông. Tuy nhiên những người quan sát trên Biển Đông nhất là trong hai tháng qua đã đặt ra một câu hỏi là tại sao Trung Quốc đợt này lại rất hung hăn đến như vậy”, ông Đinh Kim Phúc đặt câu hỏi.

Ông Đinh Kim Phúc nhận định có ba lý do chính cho thái độ ngày càng xác lập hơn từ phía Bắc Kinh trên Biển Đông, cụ thể bao gồm tiến trình đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) giữa Asean và Trung Quốc “dường như đang đi vào giai đoạn bế tắc và hành động của Trung Quốc là muốn đổ lỗi cho Asean nếu đàm phán thất bại”.

Được bắt đầu khởi động vào năm 2000, tiến trình đàm phán về Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (Code of Conduct – COC) giữa Asean và Trung Quốc cho đến nay chưa đạt kết quả cụ thể.

Cụm đảo Nam Yết

NGUỒN HÌNH ẢNH,GETTY IMAGES Chụp lại hình ảnh,

Các cấu trúc trên cụm đảo Nam Yết (Tizard bank) hiện do Việt Nam kiểm soát trên Biển Đông, ảnh ngày 22/4/2023

Hai lý do khác theo nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc là Trung Quốc muốn “lợi dụng sự suy yếu của Nga” trên chính trường thế giới, khi gây sức ép với lô dầu khí do Nga đang khai thác và vận hành trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam nhằm tiếp tục khẳng định chủ quyền

“Ngoài ra, trước những tin đồn dồn dập về nâng cấp quan hệ Việt-Mỹ thì Bắc Kinh dường như muốn gây sức ép cho phía Hà Nội. Lý do quan trọng nhất theo tôi là Trung Quốc muốn gây sức ép liên tục để Việt Nam từ bỏ tư tưởng đi với Phương Tây, đi với Mỹ, đánh bại ý chí tự do hóa, đa phương hóa quan hệ ngoại giao của Việt Nam. Trung Quốc muốn cho Việt Nam thấy các nước Phương Tây chỉ quan tâm đến tự do hàng hải, và sẽ không không muốn can dự liên quan đến tranh chấp chủ quyền”, ông Đinh Kim Phúc cho biết thêm.

Trong một bình luận trên Foreign Policy ngày 10/06, Giáo sư Peter A. Dutton, ngành luật quốc tế từ Đại học U.S. Naval War College và Đại học New York nhận định “Trung Quốc đang muốn viết lại luật biển”.

Cụ thể Giáo sư Peter A. Dutton đã đề cập đến quyển sách ‘China’s Law of the Sea: The New Rules of Maritime Order’ của tác giả Isaac B. Kardon, ấn bản hồi tháng Ba, về mong muốn thật sự của giới lãnh đạo ở Trung Nam Hải.

Đó là mong muốn của Bắc Kinh “một trật tự quốc tế hậu tự do [post-liberal international order]” khi định hình lại một trật tự quốc tế trên đại dương, một thuật ngữ do Tiến sĩ Isaac B. Kardon từ Carnegie Endowment for International Peace nêu trong sách.

Và Tiến sĩ Isaac B. Kardon cho rằng Trung Quốc đã “hưởng lợi vô cùng lớn” khi Mỹ “vắng bóng trong những đấu trường quan trọng” liên quan đến vấn đề Biển Đông trong những năm qua.