Ngoại giao Hoa Kỳ đã làm chậm quá trình mở rộng hoạt động gián điệp, đặt căn cứ ở nước ngoài của Trung Quốc, Blinken nói

Theo hãng tin Reuters,

Bởi và , ngày  12/06/2023

Ngoại trưởng Hoa Kỳ Antony Blinken nói chuyện với các thành viên của giới truyền thông trong Phòng Hiệp ước của Bộ Ngoại giao ở Washington

Ngoại trưởng Hoa Kỳ Antony Blinken nói chuyện với các thành viên của giới truyền thông trong Phòng Hiệp ước của Bộ Ngoại giao ở Washington, Hoa Kỳ, ngày 12 tháng 6 năm 2023. Mandel Ngân/Pool qua REUTERS

WASHINGTON, ngày 12 tháng 6 (Reuters) – Chính quyền Biden đã thực hiện các bước ngoại giao làm chậm nỗ lực của Trung Quốc nhằm phô trương sức mạnh quân sự trên khắp thế giới, Ngoại trưởng Antony Blinken cho biết hôm thứ Hai trước chuyến thăm Bắc Kinh vào cuối tuần này .

Nhà ngoại giao hàng đầu của Washington đã được hỏi tại một cuộc họp báo về phản ứng của Washington đối với một báo cáo của Wall Street Journal tuần trước trích dẫn các quan chức Mỹ nói rằng một nỗ lực gián điệp mới đang được tiến hành ở Cuba.

Blinken cho biết những nỗ lực của Trung Quốc tại Cuba là một phần trong nỗ lực toàn cầu của Bắc Kinh nhằm mở rộng sự hiện diện của họ ở nước ngoài và các hành động của Hoa Kỳ nhằm giải quyết vấn đề này kể từ khi Tổng thống Joe Biden lên nắm quyền vào tháng 1 năm 2021 đã mang lại kết quả, mà không nói rõ những kết quả đó là gì.

“Các chuyên gia của chúng tôi đánh giá rằng các nỗ lực ngoại giao của chúng tôi đã làm chậm nỗ lực này của CHND Trung Hoa,” Blinken nói, đề cập đến Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Trung Quốc hôm thứ Hai phủ nhận việc sử dụng Cuba làm căn cứ gián điệp.

Blinken cho biết chính quyền của cựu Tổng thống Donald Trump đã biết về việc Trung Quốc nâng cấp các cơ sở thu thập thông tin tình báo ở Cuba vào năm 2019 nhưng những nỗ lực giải quyết vấn đề này “không đạt được đủ tiến bộ”.

Blinken cho biết các quan chức tiếp theo của chính quyền Biden đã được thông báo về những nỗ lực của Trung Quốc nhằm “mở rộng cơ sở hạ tầng hậu cần, căn cứ, thu gom ở nước ngoài, để cho phép họ triển khai và duy trì sức mạnh quân sự ở khoảng cách xa hơn”, bao gồm cả việc nâng cấp ở Cuba, Blinken cho biết.

Blinken cho biết, Biden đã chỉ thị cho nhóm của mình thực hiện một cách tiếp cận trực tiếp hơn, bao gồm việc lôi kéo các chính phủ đang xem xét tổ chức các căn cứ của Trung Quốc và trao đổi thông tin với họ.

“Chúng tôi đã thực hiện cách tiếp cận đó một cách lặng lẽ, cẩn thận – nhưng, theo đánh giá của chúng tôi, có kết quả – kể từ đó. Tôi không thể đi sâu vào từng bước mà chúng tôi đã thực hiện, nhưng chiến lược bắt đầu bằng ngoại giao”, Blinken nói.


Tin Thêm về nguyên nhân gây ra sự căm phẩn của đồng bào Ê Đê ở Ea Tiên và Ea Ktur

Theo đài BBC 

Về vụ tấn công vào hai đồn công an xã thuộc huyện Cư Kuin vào rạng sáng 11/6, Bộ Công an vẫn chưa đề cập đến nguyên nhân. Tuy nhiên, khi gõ từ khóa huyện Cư Kuin sẽ thấy đây là điểm nóng liên quan tới đất đai.

Từ ngày 27-31/5/2022, UBND huyện Cư Kuin cưỡng chế tháo dỡ 64 công trình được cho là xây dựng trái phép trên đất cà phê do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Cà phê Việt Thắng quản lý tại xã Ea Tiêu.

Theo quy hoạch, các công trình này nằm trong khu đô thị mới Trung Hòa và từ khi thông tin này xuất hiện, giá đất sốt cao, nhiều người bỏ ra số tiền lớn mua lại và xây dựng công trình trái phép.

Hồi tháng 4, ở huyện Cư Kuin cũng nổ ra biểu tình của người đồng bào Ede ở xã Ea Bhốk, nhằm phản đối dự án Hệ thống thoát nước Khu Trung tâm hành chính huyện Cư Kuin. Người dân xung quanh hồ chống dự án vì lo ngại nước thải sẽ bị đưa vào hồ cùng với nước mưa, có thể gây ô nhiễm môi trường cũng như gây ngập lụt ở khu vực gần hồ. Hàng chục cảnh sát cơ động được điều đến trấn áp khiến nhiều người bị thương và bị bắt giữ trong ngày 21/4.

Tháng 2/2023, báo Đắk Lắk đưa tin huyện Cư Kuin đã tiến hành cưỡng chế thu hồi đất và giải phóng mặt bằng thực hiện Dự án đường Hồ Chí Minh đoạn tránh phía Đông TP Buôn Ma Thuột với chiều dài hơn 39km. Dự án có tổng kinh phí hơn 1.500 tỷ đồng, đi qua các thửa đất nông nghiệp do một số công ty cà phê đang quản lý.

Theo đó, nhà báo Nguyễn Văn Tuấn của tờ Tiền Phong đã điều tra hoạt động khai thác đất trái phép tự xã Ea Ktur, rồi chở đến đổ tại khu vực đang triển khai thi công dự án nói trên. Ngày 18/5, ông Tuấn nhận được các cuộc điện thoại dọa giết cả nhà nếu tiếp tục đến Cư Kuin điều tra. Bài phóng sự của nhà báo Tuấn đã được đăng vào ngày 28/5.

  • Ngày 20 và 21 tháng 4, 2023 đồng bào  Ê Đê phản đối việc đổ nước thải vào hồ nước uống của họ.
  • Đồng bào bị cảnh sát cơ động đàn áp bằng dùi cui và bạo lực.
  • Tức nước võ bờ đồng bào quá phẫn uất và không còn con đường sống nên đã có hành động phản kháng lại
  • Hơn một tháng sau đó sự kiện tấn công đồn Côn An đã xảy ra vào rạng sáng ngày 11, tháng 6, 2023.

Khi lãnh bí tích Rửa tội, người ta nhận một tên, điều này có ý nghĩa gì?

Mùa Hè nóng quá đi! Đừng để con tim bạn bị lạnh vì thiếu Tình Chúa nhé. 🙂 Chúc bình an!

Cha Vương

Thứ 2: 12/06/2023

GIÁO LÝ: Khi lãnh bí tích Rửa tội, người ta nhận một tên, điều này có ý nghĩa gì? Qua tên ta nhận khi lãnh bí tích Rửa tội, Thiên Chúa như nói với ta: “Ta đã gọi tên con, con thuộc về Ta” (Is 43, 1). (YouCat, số 201)

SUY NIỆM: Khi được rửa tội, con người không bị tan biến trong một khối vô danh, trái lại nhân cách của họ được xác nhận. Nhận một tên khi được rửa tội có nghĩa là: Chúa biết ta, Người nói với ta, “tốt”, “được” và đón nhận ta đời đời với tất cả nét đặc thù của ta.

❦ Tôi được mời gọi để làm hoặc để là cái mà không ai khác được mời gọi. Trên trái đất của Chúa, tôi có một chỗ trong chương trình của Chúa mà không ai có như vậy. Dù tôi giàu hay nghèo, bị khinh dể hay được trọng vọng bởi người đời, Chúa biết tôi và gọi tôi bằng chính tên tôi. (Hồng y John Henry Newman) (YouCat, số 201 t.t.)

LẮNG NGHE: Nhưng bây giờ, đây là lời ĐỨC CHÚA phán, lời của Đấng tạo thành ngươi, hỡi Gia-cóp, lời của Đấng nắn ra ngươi, hỡi Ít-ra-en: Đừng sợ, vì Ta đã chuộc ngươi về, đã gọi ngươi bằng chính tên ngươi: ngươi là của riêng Ta! (Is 43:1)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, vì yêu Chúa đã dựng nên con giống hình ảnh của Chúa. Chúa còn ban cho con được làm con cái Chúa qua Bí Tích Rửa Tội để được sống hạnh phúc mãi mãi với Chúa. Xin giúp con biết yêu thương giúp đỡ lẫn nhau, cùng vui sống bên nhau, đem lại hạnh phúc cho nhau để làm vinh danh Chúa.

THỰC HÀNH: Tên thánh (còn gọi là thánh quan thầy hay thánh bảo trợ) của bạn là gì? Bạn có biết ngày lễ bổn mạng (còn gọi là lễ quan thầy) của bạn là ngày nào không? Tập thói quen đọc kinh thánh quan thầy của mình để xin các ngài hướng dẫn và cầu bầu cho bạn nhé.

From: Đỗ Dzũng

Ngài Gọi Tên Con | Sáng tác: Dương Quảng | Trình bày: Nguyễn Minh Tâm

Chuyện hay ở Mỹ: Nhân viên mới nhất của hãng SpaceX – do Elon Musk làm chủ – chỉ có 14 tuổi

Theo tạp chí Tài Sản Viết bởi  CHLOE TAYLOR,  Ngày 12 tháng 6 năm 2023 . Một bức ảnh chân dung của Kairan Quazi
Kairan Quazi, 14 tuổi, được thuê làm kỹ sư phần mềm cho công ty SpaceX của Elon Musk.  SHAE HAMMOND—MEDIANEWS GROUP/THE MERCURY NEWS/GETTY IMAGES
Một nhân viên mới tại một trong những công ty của người đàn ông giàu nhất thế giới gây chú ý vào cuối tuần qua, đó là một cậu bé thần đồng tốt nghiệp đại học sớm 8 năm sẵn sàng bắt đầu làm việc tại SpaceX — hay như cậu thiếu niên mô tả về nó, “công ty tuyệt vời nhất thế giới”. 

Nhân viên mới nhất của SpaceX, Kairan Quazi, 14 tuổi, sẽ tốt nghiệp vào cuối tuần này với Khóa 2023 của Đại học Santa Clara (SCU), sẽ chứng kiến ​​cậu trở thành sinh viên tốt nghiệp trẻ nhất trong lịch sử 172 năm của tổ chức.

Anh ấy sẽ gia nhập SpaceX vào tháng tới với tư cách là kỹ sư phần mềm trong nhóm Starlink của công ty.

Quazi đã lên LinkedIn vào thứ Năm để thông báo về việc chuyển hướng sự nghiệp sau khi tốt nghiệp của anh ấy, điều này sẽ chứng kiến ​​​​anh ấy chuyển đến tiểu bang Washington cùng với mẹ của mình.

“Điểm dừng tiếp theo:  SpaceX !” anh đã viết. “Tôi sẽ gia nhập công ty thú vị nhất hành tinh…một trong những công ty hiếm hoi không sử dụng tuổi của tôi như một đại diện độc đoán và lỗi thời cho sự trưởng thành và khả năng.”

Đại diện của SpaceX không có bình luận ngay lập tức.

“Xin chân thành cảm ơn nhóm của tôi tại SpaceX vì quá trình phỏng vấn thú vị, thách thức về mặt kỹ thuật và minh bạch nhất,” Quazi nói thêm trong bài đăng trên LinkedIn hôm thứ Năm. “Tôi đang đóng gói đôi ủng đi mưa và  chuẩn bị sẵn sàng cho chuyến đi làm vào tháng 7 tới đây!”

Theo cuộc phỏng vấn của anh ấy với Mercury News , Quazi bắt đầu theo học trường cao đẳng cộng đồng Las Positas ở California khi mới 10 tuổi, bắt đầu thực tập ở cùng độ tuổi với Phòng thí nghiệm Intel với tư cách là thành viên hợp tác nghiên cứu AI. Anh ấy chuyển đến SCU năm 11 tuổi, tập trung học về khoa học máy tính và kỹ thuật.

Quazi đã viết trong bài đăng trên LinkedIn của mình rằng khóa thực tập tại Intel đã đưa anh đến con đường sự nghiệp của mình và cảm ơn giám đốc phòng thí nghiệm nghiên cứu hệ thống thông minh của công ty, Lama Nachman, vì đã cho anh cơ hội khi còn trẻ như vậy.

“Tôi bước vào cuộc gặp với Lama Nachman tại Phòng thí nghiệm Intel và bước ra với một cơ hội lớn về AI có thể thay đổi quỹ đạo sự nghiệp của tôi,” anh viết. “Lama nhận ra rằng những hoàn cảnh ngoại lệ đòi hỏi khả năng tiếp cận ngoại lệ với những người cố vấn có ảnh hưởng và những cơ hội đầy thử thách. Trong một biển rất nhiều từ ‘không’ của các công ty được ca ngợi nhất ở Thung lũng Silicon, việc một nhà lãnh đạo nói ‘có’ đã thay đổi mọi thứ.

Tuy nhiên, khả năng trí tuệ của Quazi đã không ngăn anh ta đối mặt với những trở ngại — trước khi đảm bảo một vị trí với SpaceX, anh ta đã nộp đơn cho hàng tá công việc và bị từ chối 95 lần cùng với ba lần chiến thắng, được mời làm việc toàn thời gian. Cố vấn học tập của anh ấy nói với Mercury News rằng Quazi đã phải vật lộn với việc muốn được coi trọng không vì tuổi đời còn non trẻ của mình.

Quazi nói với tờ báo: “Tôi luôn cố gắng ghi nhớ câu mà mẹ tôi nói, đó là, “chúng ta luôn ở nơi chúng ta phải ở.”

Theo đài TV CBS

Kairan sinh ra ở Pleasanton, California, với cha mẹ là người Mỹ gốc Bangladesh. Mẹ của anh, Jullia Quazi, nói với một chi nhánh của ABC News ở San Francisco rằng bà bắt đầu nhận thấy con trai mình có năng khiếu về trí tuệ khi cậu bé bắt đầu nói đủ câu từ năm 2 tuổi. 

Photo of Kairan Quazi meeting California Gov. Gavin Newsom during a dedication of Santa Clara University's $300 million STEM research center in 2021.   / Credit: @thepythonkairan

Hình ảnh Kairan Quazi gặp gỡ Thống đốc California Gavin Newsom trong buổi lễ khánh thành trung tâm nghiên cứu STEM trị giá 300 triệu đô la của Đại học Santa Clara vào năm 2021. / Tín dụng: @thepythonkairan© Được cung cấp bởi CBS News
Kairan sẽ nhận bằng cử nhân về khoa học máy tính và kỹ thuật từ SCU vào thứ Bảy – sinh viên tốt nghiệp trẻ nhất trong lịch sử 172 năm của trường, San Jose Mercury News  đưa tin .
Kairan Quazi.

Một lối văn hóa quái gở, chỉ có ở Việt Nam

Kim Dao Lam

Fb Cathy Tran

Ông không uống là không tôn trọng tôi – đây là kiểu ép rượu – một lối sống văn hóa quái gở.

Không hiểu ở đâu ra cái văn hóa cứ làm gì cũng phải đi nhậu nhẹt thì mới… dễ nói chuyện, nhân viên thì phải biết tiếp rượu sếp, sếp thì phải uống với đối tác, anh em bạn bè mời đến mà không uống là không tôn trọng, đàn ông mà không uống được rượu là hèn…

Tửu lượng không phải mức thang đo đạo đức hay giá trị con người. Nó không chứng tỏ độ giàu có, chịu chơi hay độ “men” của đấng mày râu. Nhưng vì một sức ép vô hình nào đó, nhiều người ngày nay đang gắng sức thể hiện bản lĩnh của mình trên bàn nhậu chứ không phải trong công việc hay cách đối nhân xử thế.

Ép rượu, nốc rượu hay chuốc rượu đều là hành động thể hiện sự thiếu văn hóa.

Đừng bao giờ dùng bất kì lời lẽ hoặc cách thức khiêu khích, dụ dỗ nào để người khác phải uống bia rượu vào người. Nếu người ta không muốn uống, bạn đừng cố ép. Người vì bạn mà uống vài lon bia có sẵn sàng “vào sinh ra tử” vì bạn không? Sẵn lòng uống với bạn, xỉn với bạn khác xa hoàn toàn với việc sống chết vì bạn.

Rượu vốn là thức uống mỹ vị. Chính vì thế, người thưởng rượu cũng phải là người tinh tế. Uống rượu có văn hóa là phải nhấp từng ngụm rất nhỏ để cho hương rượu ngấm vào đầu lưỡi, cảm nhận đến tận cùng cái vị cay nồng đặc trưng. Cứ thế mà thưởng từng chút một để thấy tinh thần phấn khởi, tâm hồn nhẹ nhàng bay bổng, dễ trò chuyện, chia sẻ tâm tình.

Đừng bao giờ để rượu bia làm bạn mất kiểm soát, điều này cực kì quan trọng! Đừng bao giờ để cho bản thân mình phải uống rượu vì người khác ép buộc.

Nếu bạn không muốn uống, hãy giữ chính kiến của mình. Những người bạn sẵn lòng bỏ rơi bạn, “tẩy chay” bạn, xem thường bạn, thậm chí đòi nghỉ chơi với bạn… chỉ vì bạn không uống với họ “vài ly” thì không thể nào là người bạn tốt được.

Đó chỉ là những người xem bạn như một trò đùa, một thứ để họ thử xem “tầm ảnh hưởng” của họ đến đâu mà thôi.

Hãy để việc uống rượu thành một nét đẹp có văn hóa của người Việt!

Mâu thuẫn vì hát karaoke ồn ào, ông Phú Quốc đâm chết bạn nhậu

Báo Người-việt

June 12, 2023

KIÊN GIANG, Việt Nam (NV) – Không ngủ được vì bị ông bạn nhậu mở loa kẹo kéo hát karaoke, một ông ở Phú Quốc đâm chết bạn nhậu khi người này hẹn ra giải quyết mâu thuẫn.

Theo báo Zing, khoảng 7 giờ sáng 11 Tháng Sáu, ông Trần Văn Thuận, 40 tuổi, ở phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, đến nhà bạn tại khu phố 6, phường Dương Đông, để nhậu.

Nghi can Trần Văn Thuận tại cơ quan điều tra. (Hình: Dương Đông/VNExpress)

Đến khoảng 9 giờ sáng thì ông Võ Văn Quí, 41 tuổi, ở thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long, gọi điện thoại hỏi ông Thuận đang ở đâu, ông Thuận báo địa điểm và rủ ông Quí đến nhậu cùng. Sau đó, ông Quí chở thêm thùng loa kẹo kéo để góp vui.

Khi ông Quí đến thì ông Thuận nói đã say rượu. Ông Thuận uống với ông Quí một ly rồi nằm ngủ tại chỗ nhậu.

Một lúc sau, ông Quí lấy thùng kẹo kéo ra hát karaoke và làm ông Thuận không ngủ được, dẫn đến mâu thuẫn.

Khoảng một tiếng sau, ông Thuận chở bạn là ông Danh Tài ở huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, đi nhậu tiếp.

Đến khoảng 6 giờ 15 phút tối cùng ngày, nghĩ đến chuyện lúc sáng, ông Quí bực tức gọi điện thoại hẹn ông Thuận đến phía trước khu vực tòa án thành phố Phú Quốc đánh nhau.

Nhận lời, ông Thuận lấy xe gắn máy chở ông Tài từ Hàm Ninh về Dương Đông để đánh nhau với ông Quí. Trên đường đi, ông Thuận ghé vào tiệm Bách Hóa Xanh mua hai cây dao mang theo.

Hiện trường vụ án. (Hình: Zing)

Khi đến điểm hẹn, ông Thuận đậu xe đối diện, hai tay cầm hai cây dao lao vào đánh nhau với ông Quí. Tương tự, ông Quí cũng cầm dao Thái Lan ứng chiến. Trong lúc xô xát, ông Thuận đâm chết bạn rồi đến công an trình diện.

Sáng 12 Tháng Sáu, nghi can Trần Văn Thuận, đã bị Công An Thành Phố Phú Quốc bắt giữ về tội “giết người.” (Tr.N)

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Ba O Hà Tĩnh

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

Cuối cùng, Miến Điện cũng đã mở cửa với thế giới bên ngoài. Họ hơi bị chậm nên thực đơn trong hàng quán ở đất nước này – phần lớn – vẫn chỉ cứ in những dòng chữ Miến (ngoằn nghoèo, bí hiểm) và tuyệt nhiên không hề có hình ảnh gì minh hoạ đi kèm ráo trọi.

Thực khách, bởi thế, thường rất cô đơn (và vô cùng hồi hộp) khi phải đối diện với những lựa chọn khó khăn. Gọi lầm thức ăn là chuyện tự nhiên, và cũng thường xuyên, y như… cơm bữa.

Dĩ thực vi tiên!

Và (chắc) vì vậy nên sân bay Mandalay và Yangon trông đìu hiu thấy rõ, so với sự tấp nập và ồn ào của phi trường Don Mueang hay Suvarnabhumi của Thái.

Thực phẩm của Thái Lan thì khó ai có thể phàn nàn, nhất là người Việt. Gừng, nghệ, sả, riềng, tiêu tỏi, ớt hành, mắm muối… đều là những gia vị thân thuộc đối với khẩu vị của cả hai dân tộc này. Nhiều tiệm ăn bình dân ở thủ đô Bangkok còn thuê người Việt nữa.

Loanh quanh Vọng Các, tôi thử óc quan sát (cùng trực giác) của mình nhiều lần, và rất ít khi bị trật:

– O là dân Hà Tĩnh, đúng không?

– Dạ!

Tiếng “dạ” rụt rè, với nụ cười hiền lành và niềm vui (không dấu) trên nét mặt người đối diện khiến cho kẻ tha hương chợt cảm thấy có cảm giác ấm lòng. Đôi khi, tôi cũng trật nhưng chưa bao giờ xa quá:

– Dạ không, con ở Diễn Châu mà.

Hoặc:

– Cháu người Quảng Bình, chú à.

Hay:

– Không phải mô, quê con ở Huế tề.

Theo Tiến Sĩ Nguyễn Ngọc Lan (Học Viện Nghiên Cứu Đông Nam Á – The Institute of Southeast Asian Studies) có hơn năm trăm ngàn lao động Việt Nam ở nước ngoài, trong số này khoảng 50 ngàn người đang làm việc tại Thái Lan. Tất nhiên, chưa kể số người “làm chui” được gọi một cách lịch sự là những công nhân không có giấy tờ – undocumented workers.

Tuy là một lực lượng lao động đáng kể và cần thiết cho nước Thái, người Việt đến xứ sở này chưa bao giờ được đón nhận một cách đàng hoàng tử tế. Không những thế “nhiều kẻ còn bị bạc đãi bởi giới chủ nhân với đồng lương bóc lột, đến mức gần như phải làm việc trong môi trường nô lệ, và thường bị bắt bớ bởi giới chức có thẩm quyền” (many workers are underpaid, even to the point of almost slave labour conditions, mistreated by employers and often arrested by authorities) theo như nhận xét (“Vietnamese workers in Thailand: lesser known but valuable labour source”) của Christopher F. Bruton – Executive Director of Dataconsult Ltd – đọc được trên Bangkok Post hôm 21 tháng 7 năm 2016.

Ở ngoại ô Vọng Các, trong khu chợ Yong Charoen, có một cái quán (không biết tên CHI) mà cả ba cô giúp việc đều là người Hà Tĩnh nên tôi gọi là “Quán Ba O.” Chúng tôi hay đến đây vì gần chỗ trọ, vì giá cả vừa phải, và vì được “cố vấn” về những món nhậu (ngon rẻ) cùng với thái độ thân thiện của những o đồng hương rất hiền ngoan và vô cùng chân chất.

Cứ nhìn thấy Ba O Hà Tĩnh, cùng nụ cười rất tươi tuy hơi bẽn lẽn là tôi lại nhớ đến bốn câu thơ của Hồ Dzếnh:

Cô gái Việt Nam ơi
Nếu chữ hy sinh có ở đời
Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực
Cho lòng cô gái Việt Nam tươi

Quán mở cửa từ 11 giờ sáng đến tận khuya. Nhiều đêm không làm việc được, tà tà ra quán uống vài ly, chúng tôi vẫn thấy “Ba O Hà Tĩnh” đang tất bật với những công việc chả nhẹ nhàng gì: lau dọn, rửa chén, chạy bàn… Hỏi thăm mới biết là dù làm việc đủ bẩy ngày một tuần, mỗi ngày trên 12 tiếng, hàng tháng cả ba chỉ được trả số tiền vô cùng khiêm tốn (200 Mỹ Kim) chỉ bằng nửa số lương tối thiểu – theo qui định hiện thời của Bộ Lao Động Thái.

Điều an ủi là chủ quán cho ở trọ không phải trả tiền nhà, và chuyện ăn uống tại chỗ – tất nhiên – cũng hoàn toàn miễn phí. Nhờ vậy, tiền công của cả ba o đều gửi hết về quê để nuôi mấy đứa em và bố mẹ già. Ở Hà Tĩnh, theo lời của họ: “Biết làm chi cho ra tiền được!”

Hà Tĩnh Không chỉ nổi tiếng về đói nghèo, và “hầu như năm nào chính quyền cũng than thở là phải ‘còng lưng’ xin gạo.” Địa phương này còn được cả thế giới biết đến “về sự cố môi trường biển” và là nơi chôn lấp chất phế thải của công ty Formosa.

Tuy thế, Báo Hà Tĩnh (số ra ngày 24 tháng 10 năm 2016) vẫn hớn hở cho hay:

“Các thành viên Chính phủ nhiệm kỳ mới, những nhân sự đứng đầu Bộ Y tế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài nguyên & Môi trường, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam… đều là người Hà Tĩnh. Người Hà Tĩnh không chỉ vinh quang bởi các Bộ trưởng, tư lệnh ngành mà Hà Tĩnh còn được biết đến là tỉnh có nhiều ủy viên Trung ương nhất trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, với số lượng 16 người.”

Giới tinh hoa của Hà Tĩnh, rõ ràng, hơi đông. Số người dân lưu lạc của tỉnh này cũng thế, cũng đông hơn rất nhiều nơi khác. Dường như có tỉ lệ thuận giữa con số “bộ trưởng, tư lệnh ngành, và ủy viên Trung ương trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng” của Hà Tĩnh với đám con dân của địa phương này đang phải sống đời lưu lạc.

Thảo nào mà dịch giả Phạm Nguyên Trường đã rất cẩn thận với hạn từ “tinh hoa” khi chuyển ngữ:

Nghĩa của từ ELITE: the richest, most powerful, best-educated, or best-trained group in a society cho nên nếu luôn luôn dịch là TINH HOA thì e rằng không đúng. Ví dụ, người nước ngoài khi nói về giới viết lách ở VN có thể sẽ coi Đoàn Hương, Hữu Thỉnh, Hồng Thanh Quang, Tạ Bích Loan… là nhóm elite trong văn giới, hay Vũ Huy Hoàng, Đinh La Thăng là nhóm elite trong chính trị…, nhưng nếu mình dịch lại thì mình chỉ viết “thuộc giới ăn trên ngồi trốc” mà thôi.

Dịch thuật như thế e hơi thiếu phần “thanh lịch” nhưng thực khó mà gọi đám người hiện đang cầm quyền ở Việt Nam (nói chung) và mười mấy vị Ủy Viên Trung Ương Đảng của Hà Tĩnh (nói riêng) bằng một hạn từ khác được. Tiểu luận (“Những Cơ Hội & Thách Đố Cho Lao Động Di Dân Việt Nam Tại Thái Lan”) của Linh Mục Antôn Lê Ngọc Đức, SVD, còn cho thấy rằng họ không chỉ là “bọn ăn trên ngồi trốc” mà còn là “đám ăn không ngồi rồi” nữa:

“ … hầu hết đến từ các tỉnh miền bắc và miền trung, trong đó Hà Tĩnh và Nghệ An chiếm phần đa số. Ngoại trừ một số trường hợp, hầu hết xuất thân từ những gia đình nông thôn…

Tính chất của một số công việc mà các lao động di dân Việt Nam làm tại Thái Lan lệ thuộc phần nào về tuổi tác và giới tính. Những công việc như xây dựng (cọ xang), trông bãi xe (rắp rốt), tẩm quất trong phòng vệ sinh nam (nuad hong nám) chỉ dành cho lao động nam. Các công việc giúp việc nhà (mae ban), chăm sóc người già trẻ con trong gia đình chủ thuê, bán hoa hồng dạo… thường dành cho lao động nữ.

Ngoài ra những công việc như may quần áo (yep pha), bán dạo (kem, trái cây, nước giải khát), mở quầy hàng (áo quần, thức ăn, hoa quả…), bán hàng trong các cửa tiệm bán lẻ… thì cả lao động nam và nữ đều tham gia…

Đối với lao động từ các nước như Lào và Miến Điện được đăng ký hợp pháp, mỗi người được cấp một thẻ bảo hiểm sức khỏe để được điều trị tại bệnh viện chính phủ với những quyền lợi tương đương với công dân Thái. Tuy nhiên đối với công nhân Việt Nam thì mỗi khi lâm bệnh hoặc gặp tai nạn và đi điều trị tại bệnh viện thì phải tự túc hoàn toàn.”

Hà Tĩnh có nhân sự đứng đầu Bộ Y Tế, Bộ Kế Hoạch/ Đầu Tư, Bộ Tài Nguyên/ Môi Trường, Ngân Hàng Nhà nước và cả đống Ủy Viên Trung Ương Đảng mà năm nào cũng ngửa tay đi xin gạo, và con dân địa phương thì phải tha phương cầu thực khắp nơi (làm việc như nô lệ ở xứ người) để có tiền gửi về nhà cứu đói thì có hãnh diện chi mà khoe khoang về cái “bọn ăn trên ngồi trốc” và cái “đám ăn không ngồi rồi” này!

Sổ Tay Thượng Dân K’ Tien – Nước mắt Tây Nguyên

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

Nhà báo Bùi Tín, khi vui, tâm sự: “Có người nói đùa một cách chua cay rằng trên báo Nhân dân chỉ có tin dự báo thời tiết là có thể tin cậy phần nào (vì vẫn có trường hợp dự báo sai), có thể tin tưởng được hoàn toàn là tin buồn, tin cáo phó.” (Bùi Tín, Hoa xuyên tuyết, 2nd ed. Turpin Press, 1994, 42)

Dù đã rào đón (trước) đây chỉ là một cách nói đùa, kiểu đùa cợt của ông – ngó bộ – hơi kỳ, và cũng hơi… quá đáng! Nói nào ngay, ngoài tin thời tiết và tin buồn, cơ quan ngôn luận (chính thức) của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam – đôi lúc – cũng loan những tin tức khác, với độ khả tín và khả xác rất cao. Xin đơn cử một thí dụ:

Về số lượng học sinh sắc tộc được tuyển chọn vào đại học, nhật báo Nhân dân (số ra ngày 9 tháng 12 năm 2000) đã ghi:“Các dân tộc Ba Na, Cà Dong, Chu Ru, Cà Tu, Hà Nhì, Xê Đăng, Thổ Chỉ có từ hai đến ba học sinh đạt tiêu chuẩn. Đáng chú ý, mỗi dân tộc: Cơ Lao, Xtiêng, Giáy, Cơ-ho, Lào, La Chí chỉ có một học sinh đủ tiêu chuẩn cử tuyển vào học các trường đại học, cao đẳng.”

Đã có lúc tôi cứ ngỡ đây là con số đại biểu quốc hội, của những nhóm đồng bào sắc tộc, chứ không phải là số lượng “học sinh đủ tiêu chuẩn cử tuyển vào các trường đại học”. Vì nghi ngại có sự “lầm lỗi của ấn công”, tôi đã gửi điện thư đến toasoan@nhandan.org.vn (nhiều lần) để xin xác minh về vấn đề này. Thư cứ đi nhưng tin không lại.

Mãi cho đến mấy hôm gần đây, sau khi đọc bài viết “Phát triển bền vững ở Tây Nguyên” của nhà văn Nguyên Ngọc (www.diendan.org, ngày 20 tháng 8 năm 2008), tôi mới biết chắc rằng tin tức mà báo Nhân dân đã loan là (vô cùng) chính xác. Chuyện tôi yêu cầu tòa soạn xác nhận, đính chính, cáo lỗi, hay thanh minh (thanh nga) là việc – rõ ràng, và hoàn toàn – vớ vẩn.

Theo như cách nói của người dân Tây Nguyên thì Nguyên Ngọc là một già làng – trong làng văn và làng báo Việt Nam – với tất cả những đức tính mẫu mực, đáng quý của một người cầm viết: tài năng, uyên bác, đức độ, dũng cảm, và khả tín.

Ông viết: “Người Châu ở trong thung lũng Mường Hon của núi Ngok Linh, chỉ có khoảng 80 người…” Thế mới biết các dân tộc Ba Na, Cà Dong, Chu Ru, Cà Tu, Hà Nhì, Xê Đăng, Thổ Chỉ, Cơ Lao, Xtiêng, Giáy, Cơ-ho, Lào, La Chí… còn may mắn chán. Dân số của họ chắc chắn phải còn hơn tám mươi người. Nếu không, làm sao còn có được một (hay hai) học sinh đủ tiêu chuẩn cử tuyển vào học các trường đại học!

Nếu có ai thắc mắc, sao giữa thời đại “bùng nổ nhân số”, nhân loại đẻ đái tùm lum mà ở Việt Nam lại có những sắc dân chỉ còn sót lại vài chục mạng (loe ngoe) như thế… thì xin thưa: đó lại là chuyện khác, dài dòng hơn chút đỉnh. Muốn biết thêm chi tiết, xin vui lòng đọc tiếp – vài đoạn trích dẫn (rút ngắn) từ bài viết rất thấu đáo và cô đọng, dài chừng 30 trang đánh máy khổ 8×11 – của nhà văn Nguyên Ngọc:
“Từ sau năm 1975, đối với Tây Nguyên chúng ta có hai chủ trương chiến lược:

  • Xây dựng Tây Nguyên thành một địa bàn vững chắc về an ninh và quốc phòng.
  • Xây dựng Tây Nguyên thành một vùng trọng điểm kinh tế của cả nước.

Để thực hiện chủ trương chiến lược đó, đã :

  • Tăng cường lực lượng lao động lớn cho Tây Nguyên bằng cách tiến hành một cuộc đại di dân chưa từng có, chủ yếu từ đồng bằng châu thổ sông Hồng và vùng duyên hải Nam Trung Bộ lên Tây Nguyên…
  • Tổ chức toàn bộ Tây Nguyên thành các đơn vị kinh tế lớn… Toàn bộ đất và rừng ở Tây Nguyên được quốc hữu hoá, được lấy giao cho các binh đoàn làm kinh tế, các LHXNLCN, các nông trường, lâm trường, và giao cho dân di cư từ đồng bằng lên. Người bản địa chỉ còn phần đất thổ cư và một ít đất làm rẫy.”

Hệ quả, hay nói đúng ra là hậu quả của “hai chủ trương chiến lược” này, vẫn theo nhận xét của Nguyên Ngọc – có những chữ in đậm, như nguyên bản – như sau:

  1. Dân số Tây Nguyên tăng nhanh, đột ngột, với cường độ lớn… Đầu thế kỷ XX, các dân tộc bản địa chiếm 95% dân số. Đến năm 1975, tỷ lệ này là 50%. Hiện nay người bản địa chỉ còn 15-20% trên toàn địa bàn…
  2. Sự tan vỡ của làng Tây Nguyên. Từ sau năm 1975, quyền sở hữu tập thể truyền thống của cộng đồng làng đối với đất và rừng nghiểm nhiên bị xoá bỏ, tất cả đất và rừng đều bị quốc hữu hoá. Như đã thấy ở trên, quyền sở hữu này chính là nền tảng vật chất, kinh tế của làng ; bị bứng mất đi nền tảng này, làng, tế bào cơ bản của xã hội Tây Nguyên, tất yếu tan vỡ…
  3. Môi trường bị tàn phá nghiêm trọng. Cho đến nay, trừ một vài vùng nhỏ như một ít khu vực quanh núi Ngok Linh, vùng Komplong…, có thể nói về cơ bản rừng Tây Nguyên đã bị phá sạch, hậu quả về nhiều mặt không thể lường.
  4. Người bản địa bị mất đất. Việc mất đất, không phải trong một xã hội bình thường mà là từ tay người dân tộc bản địa sang tay người nơi khác đến là người Việt, đã khiến vấn đề đất đai trở thành vấn đề dân tộc. Đây chính là nguyên nhân trực tiếp của sự mất ổn định nghiêm trọng đã và đang diễn ra ở Tây Nguyên.
  5. Văn hoá Tây Nguyên bị mai một. Việc mất rừng, tan vỡ của làng, cơ cấu dân cư bị đảo lộn lớn và đột ngột, người bản địa bị mất đất và mất gốc rễ trở thành lang thang trên chính quê hương ngàn đời của mình… tất yếu đưa đến đổ vỡ về văn hoá.

Nhà văn Nguyên Ngọc cũng có đề cập đến những “lời cảnh báo sớm của một nhóm nghiên cứu về tình hình Tây Nguyên”, cùng với lời giới thiệu trang trọng:
“Năm 1997, một nhóm nghiên cứu thuộc Viện Dân tộc học Việt Nam gồm các tác giả Vũ Đình Lợi (nay đã mất), Bùi Minh Đạo và Vũ Thị Hồng đã hoàn thành một công trình có tên là Sở hữu và sử dụng đất đai ở Tây Nguyên, được giáo sư Đặng Nghiêm Vạn viết lời giới thiệu vào năm 1999, và ấn hành tại nhà xuất bản Khoa học Xã hội vào năm 2000. Sau khi đã trình bày các dữ liệu, phân tích toàn diện và tỉ mỉ tình hình đất và rừng ở Tây Nguyên từ sau năm 1975, các tác giả đã đưa ra lời cảnh báo mạnh mẽ như sau :

‘Sẽ là không quá sớm khi đưa ra lời cảnh báo rằng nếu không kịp thời có giải pháp khắc phục những khiếm khuyết của quá trình khai thác và sử dụng đất đai thì ‘vấn đề dân tộc’ sẽ rất có thể phát sinh trong thực tế nay mai ở Tây Nguyên, chí ít là mất ổn định, nghiêm trọng là máu lại đổ, với sự can thiệp vừa kín đáo, vừa trắng trợn của kẽ thù dưới chiêu bài bảo vệ người dân tộc, bảo vệ quyền tự do tôn giáo. Một khi vấn đề dân tộc và tôn giáo quyện vào nhau thì nguy cơ tới thật khó lường.’

Đây thật sự là một lời cảnh báo đầy trách nhiệm, trung thực, dũng cảm và đã được chứng tỏ là hoàn toàn chính xác. Rất tiếc là nó đã hoàn toàn bị bỏ ngoài tai, thậm chí cả sau khi những điều cảnh báo đã thành hiện thực!

Như vậy, sau hơn 30 năm triển khai, hai mục tiêu chiến lược được đề ra từ đầu đối với Tây Nguyên đã không thực hiện được. Tây Nguyên đã trở thành một vùng mất ổn định nhất trong cả nước; và việc xây dựng một vùng trọng điểm phát triển kinh tế trên một cơ sở mất ổn định như vậy chắc chắn không thể bền vững. Lãnh thổ tuy có được phát triển – cũng là một cách méo mó – nhưng chủ nhân của lãnh thổ thì bị bần cùng hoá và bế tắc. Tìm một con đường khắc phục những thực trạng đó hiện nay ở Tây Nguyên đã trở nên rất khó khăn.”

Ở góc nhìn của một kẻ hậu sinh (sinh trưởng nơi vùng cao nguyên Lâm Viên) tôi thành thực tin rằng chuyện “tìm một con đường khắc phục những thực trạng khó khăn ở Tây Nguyên” sẽ còn khó khăn hơn nữa, nếu vấn đề vẫn được nhìn theo nhãn quan của những nhà nghiên cứu thuộc Viện Dân Tộc Học – như nhà văn Nguyên Ngọc vừa trích dẫn: “Với sự can thiệp vừa kín đáo, vừa trắng trợn của kẽ thù dưới chiêu bài bảo vệ người dân tộc, bảo vệ quyền tự do tôn giáo. Một khi vấn đề dân tộc và tôn giáo quyện vào nhau thì nguy cơ tới thật khó lường.”

Ủa, chớ quí vị nói đến “kẻ thù” nào vậy cà? Và “kẻ thù,” cũng như “nguy cơ, của ai mới được chớ? Của Đảng Cộng sản Việt Nam hay của những nguời dân cùng khổ, bất hạnh ở Tây Nguyên?

Coi: đất đai thì mất trắng, môi trường bị tàn phá, văn hoá bị hủy hoại, xóm làng xơ xác tiêu điều, ngơ ngác đói khát trên mảnh đất quê hương ngàn đời của chính mình, không còn lối thoát nào khác nên cuối cùng người dân Tây Nguyên phải nổi dậy. Sau đó, họ bị đàn áp, săn đuổi (và săn đuổi đến cùng) như thú vật giữa rừng hoang – theo như tường thuật của đặc phái viên Nguyễn Khanh, thuộc đài tiếng nói Á châu Tự do, nghe được hôm 4 tháng 5 năm 2004:

“Hiện có một số người Thượng đang lẩn trốn trong rừng sâu ở tỉnh Mondulkiri nằm sát biên giới với Việt Nam. Những người này từ Tây Nguyên băng rừng sang đến Xứ Chùa Tháp hơm 16 tháng trước, tức sau cuộc biểu tình đòi tự do tôn giáo ở Dak Lak và Gia Lai…

Ðiều không mấy ai biết là trước đó vài ngày, công an địa phương cũng đã bắt giữ một số người Thượng, cáo buộc họ hoạt động chính trị, âm mưu lật đổ nhà cầm quyền. Một vài người trong số này may mắn trốn ra khỏi tù và nhanh chân chạy được vào rừng sâu chạy sang Kampuchea…

Ðiều này được chính các viên chức địa phương Cambodia xác nhận, đồng thời nói thêm là phía Hà Nội treo giải thưởng, cứ mỗi người Thượng trao trả lại cho Việt Nam sẽ được thưởng 125 đô la Mỹ. Với phần đông dân chúng Kampuchea thì đây là một số tiền lớn và khoản tiền thưởng này chính là động lực thúc đẩy binh sĩ, cảnh sát Mondulkiri truy lùng những người Thượng đang lẩn trốn trong địa phương của họ.”

Kẻ ở lại thì bị bị “đấu tố” bằng cách ép buộc phải đứng nhận tội trước làng, và những quan chức địa phương, thề phải ngưng liên lạc với người ngoài, và từ bỏ tôn giáo của mình (Villagers who had participated in the February 2001 demonstrations were forced to stand up in front of their entire village and local authorities to admit their wrongdoing, pledge to cease any contacts with outside groups, and renounce their religion. – “Vietnam’s Repression of Montagnard”, Human Rights Watch Press, New York, April 23, 2002)

Không lẽ trên đời này còn có loại “kẻ thù” nào khác, tàn ác và đáng sợ hơn thế nữa, hay sao?

Và vì quí vị đã nhắc đến hai chữ “kẻ thù”, tôi cũng xin phép được nói luôn: sống với những người cộng sản Việt Nam thì có bao giờ mà thiếu… kẻ thù, bất kể vào thời bình hay thời chiến. Chỉ có điều khác biệt là vào thời chiến thì họ động viên toàn dân xáp vào để đánh, chỉ còn cái khố cũng (phải) đánh, nhưng đến thời bình thì Đảng và Nhà Nước lại dành độc quyền bắt tay làm hoà (và… làm tiền) với kẻ thù!

Tôi xin lỗi vì nóng giận (và mất bình tĩnh) nên đã đi hơi xa vấn đề cần bàn, chút xíu. Xin được trở lại với bài viết “Phát triển bền vững ở Tây Nguyên” của nhà văn Nguyên Ngọc. Nơi phần kết luận, ông đã trích dẫn một câu nói “ để đời” (của nhà dân tộc học Jacques Dournes) khi nghiên cứu về các dân tộc miền núi Nam Đông Dương: “Nếu phải hiểu để mà có thể yêu, thì lại phải yêu để mà có thể hiểu.” (*)

Chính Nguyên Ngọc cũng viết thêm đôi dòng chữ ưu ái và thân ái chí tình, về mảnh đất này: “Đối với Tây Nguyên, cần một sự hiểu biết và một tình yêu đầy sự tôn trọng thật sự, một sự tôn kính chân thành và đầy ưu tư đối với một vùng đất và một vùng văn hoá vào loại độc đáo nhất còn lại trên đất nước ta và trên thế giới ngày nay.”

Thương yêu, hiểu biết, tôn kính, chân thành, tận tụy… – theo như quan niệm nhân bản của Jacques Dournes hay Nguyên Ngọc – đều là những thứ tình cảm (vô cùng) xa xỉ, chưa bao giờ thấy được ở Tây Nguyên, kể từ khi vùng đất này “được hoàn toàn giải phóng.” Xin lược thuật một vài sự kiện chính, để thấy lòng dạ “chân thành” hay “tôn kính” của những quan chức cộng sản nơi vùng sơn cước, cũng như tâm tình (chán ngán) của người dân bản địa đối với Nhà nước – ra sao?

Ngày 6 tháng 9 năm 2002, hãng thông tấn AFP loan tin nhà đương cuộc Hà Nội đã bắt giữ khoảng 30 người Thượng – sau khi họ tham dự vào một cuộc biểu tình phản đối chính phủ tại làng Sao, huyện Madrak, thuộc tỉnh Dac Lak. Tuy nhiên, khi được hỏi về biến cố này, ông Nguyễn Văn Lạng – Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Dac Lak – đã lắc đầu quầy quậy:” Làm gì có biểu tình, bất ổn hay bắt bớ những người dân thiểu số trong thời gian gần đây. Không, tuyệt đối là không có…” (There have been no demonstration, unrest or arrest of any ethnic minorities in recent days. No, absolute, not… – theo như tường thuật của AFP, vào ngày 6 tháng 9 năm 2002, “Demonstrators Arrested in Vietnam’s Central Highlands”.)

Tưởng ai xa lạ, chớ ông Lạng thì tôi đã có lần nhìn thấy hình trên tờ Việt Mercury (trang 44, số phát hành ngày 23 tháng 3 năm 2001) khi ông ấy đang trả lời phỏng vấn, về những biến động xẩy ra ở Dac Lak – hồi tháng 2 năm 2001. Bữa đó ông Lạng cũng nhún vai, bầy tỏ một thái độ (thản nhiên) tương tự: “Ðấy chả qua chỉ là những vụ cãi vã giản dị về văn khế đất đai tại hai ngôi làng mà thôi… Con số của người biểu tình đã tăng lên là do sự thổi phồng của những tay cực đoan phản cách mạng!”

Cái được ông Nguyễn Văn Lạng mô tả là “những vụ cãi vã giản dị… giữa hai ngôi làng”, theo như những nguồn tin đáng tin cậy khác, gồm “nhiều ngàn nông dân đã xử dụng vũ khí – phần lớn là cuốc xẻng và dao rựa – để đấu tranh chống lại sự thối nát của của Ðảng Cộng sản và những chính sách của chính phủ về chuyện đất đai (Credible reports suggest that several thousand peasants took up arms – mostly shovels, hoes and machetes – to do battle over Communist Party corruption and government policies on land use, theo như tường thuật của Mark Mc Donald [từ Việt Nam] qua bài báo “Peasants Battling Hanoi Over Land In Central Highlands Fight Over Premier Coffee-Growing Region Taking On Political And Religious Overtones”, San Jose Mercury News, 26 Feb 2001, A10.)

Sau đó, ai cũng biết là Hà Nội phải huy động cả lực lượng công an cũng như bộ đội và đã xử dụng đến trực thăng để uy hiếp và truy lùng những kẻ đã tham dự vào “những vụ cãi vã giản dị” này. Hàng trăm người Thượng đã bị bắt giữ, hàng ngàn người khác đã bị truy nã. Họ đã chạy sang Cao Miên xin tị nạn.

Theo lời bà Phan Thúy Thanh, phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao, đọc được tên báo Nhân dân – số ra ngày 7 tháng 3 năm 2002 – đây là những kẻ “do bị kích động, lừa gạt nên đã vượt biên trái phép sang Cam-pu-chia”. Một tuần lễ sau, hôm 13 tháng 3 năm 2002, khi được hỏi về thái độ của chính phủ Việt Nam đối với những người này, bà Phan Thúy Thanh đã nói với phóng viên David Brunstrom của hãng thông tấn Reuters rằng “thật đáng tiếc là chỉ có 15 người dân thuộc sắc tộc thiểu số từ Cam Bốt đã được Cao uỷ Tị nạn giao trả lại cho Việt Nam, mặc dù hầu hết họ đều có ‘khát vọng nóng bỏng’ được hồi hương” (‘the burning desire’ of most of them to come back.).”

Bà Thanh, rõ ràng, nói láo! Sự thực, khi được cho phép định cư ở một quốc gia đệ tam, không một ai trong số 905 người Thượng tị nạn tại Cao Miên đã thực hiện “cái khát vọng nóng bỏng được hồi hương” – như bà Thanh đã bịa đặt ra như vậy. Tất cả đều đã xin tị nạn và đã được phép định cư ở Hoa Kỳ, từ tháng 6 năm 2002.

Mấy năm sau, vào ngày 10 tháng 4 năm 2004, một cuộc biểu tình vĩ đại khác diễn ra tại Tây Nguyên. Lại đàn áp, trốn chạy, thương tích, tử vong…, không khác gì lần trước. Và cũng như lần trước, khi bị chất vấn về con số thương vong của người thiểu số, ông Lê Dũng, phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao – người kế nhiệm bà Thanh – cũng đã lắc đầu nguây nguẩy là “hoàn toàn không có ai bị đánh chết ở Buôn Ma Thuột như tin của Human Rights Watch. Chúng tôi cực lực bác bỏ tin này.”

Theo truyền thống của Nhà nước CHXHCNVN thì (ta) cứ “cực lực bác bỏ” – nghĩa là chối ngay, chối bay, chối biến, chối phăng, chối phắt, chối nằng nặc, chối bai bải, chối đây đẩy, chối quầy quậy, chối tuốt luốt, chối hết – là kể như… xong chuyện, và hết chuyện! Truyền thống này, tiếc thay, hơi khó giữ vào thời đại thông tin.

Bởi vậy, mấy bữa sau, ngày 17 tháng 4 năm 2004, ông Phạm Thế Duyệt – Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc – đành phải miễn cưỡng nhận rằng: “Chỉ có hai người trong số những người cố ý gây rối trật tự công cộng bị chết do chính họ ném đá vào nhau. Ngoài ra, còn có vài chục người bị thương trong các cuộc ẩu đả lẫn nhau.”

Ý, giàng ơi! Sao khi khổng khi không cái hàng chục ngàn người Thượng, bỏ buôn làng, kéo vô thành phố, chia làm hai phe, dàn hàng ngang rồi “ném đá vào nhau” và “ẩu đả lẫn nhau” cho… tới chết luôn – như vậy, hả trời? Nói (đại) như vậy mà nói được sao, cha nội? Cũng như bà Thanh, và ông Dũng, thằng chả – rõ ràng – cũng nói láo như… ranh. Thiệt là thầy chạy!

Mà người dân miền núi thì không quen dối trá. Họ không thể tiếp tục sống mãi với những kẻ (cứ mở mồm ra là) nói láo xoen xoét như thế. Bởi thế, sau khi trốn thoát được đến Cao Miên, theo tường thuật của BBC, nghe được vào hôm 21 tháng 7 năm 2004, ông Ralampee – một người tị nạn từ Tây Nguyên – đã nói với phóng viên của hãng tin Reuters rằng: “Tôi thà chết ở đây, chứ không trở lại Việt Nam và chết ở nơi đó (I would be happy to die right here, rather than go back to Vietnam and die there).”

Ông Ralampee không phải là người đầu tiên, cũng không phải là kẻ cuối cùng (hay duy nhất) đã bầy tỏ một thái độ quyết liệt như vậy. Có hàng trăm ngàn người dân miền núi, và hàng triệu đồng bào của họ ở miền xuôi, cũng đã dùng đến sinh mạng của mình để bỏ phiếu (bằng chân hoặc bằng thuyền) theo phương cách tương tự.

Tai hoạ mà cộng sản mang lại đâu chỉ giới hạn ở Tây Nguyên. Hãy đọc lại, một lần nữa, những vấn đề mà nhà văn Nguyên Ngọc vừa nêu xem. Xin vẫn được in đậm, theo nguyên bản:

  1. Dân số Tây Nguyên tăng nhanh, đột ngột, với cường độ lớn;
  2. Sự tan vỡ của làng Tây Nguyên;
  3. Môi trường bị tàn phá nghiêm trọng;
  4. Người bản địa bị mất đất;
  5. Văn hoá Tây Nguyên bị mai một.

Chớ có cái làng quê nào ở miền Bắc mà không “tan vỡ”, sau Cải cách Ruộng đất? Có dòng sông nào, khu rừng nào – xuyên suốt cả hai miền đất nước – không bị ô nhiễm, tàn phá, hủy hoại chứ đâu có riêng chi môi trường ở Tây Nguyên?

Dù chính sách hợp tác xã nông nghiệp không được thực thi ở miền Nam, chủ trương xây dựng lâm trường và nông trường cũng khiến cho vô số người dân miền xuôi mất trắng đất hết đai. “Tiếng kêu giữa rừng U Minh Hạ” (được ghi lại bởi phóng viên Hoàng Trí Dũng, đọc được trên Tuổi trẻ Online, vào ngày 18 tháng 9 năm 2005) nghe cũng ai oán, và thảm thiết đâu có khác gì tiếng nấc của núi rừng ở Tây Nguyên:

“Tôi đã đến nhiều miền quê nghèo khó vùng sông nước ĐBSCL, nhưng có lẽ chưa lần nào tơi bị ‘sốc’ như chuyến đi lần này. Nơi tôi đến là một vùng quê giáp ranh giữa hai tỉnh Kiên Giang – Cà Mau, cách không xa trung tâm hai thành phố Rạch Giá và Cà Mau, vậy mà đã 30 năm sau ngày đất nước thống nhất vùng quê ấy vẫn còn là bức tranh buồn thảm với nhiều nỗi bức xúc: không điện, đường, trường, không trạm xá, không hộ khẩu, không đất sản xuất…

Trái ngược với hình ảnh ấy là cơ ngơi của các quan chức địa phương – những người đang giành giật đất đai của dân. Đó là chuyện thật ở ngay một góc Lâm trường U Minh 2, ấp 4, xã Khánh Hịa, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

[…]

Cách đây hai năm một cháu bé tên Hằng, 10 tuổi, con của hai vợ chồng trẻ không may bị bệnh viêm ruột thừa cấp tính, nhưng ở giữa rừng không có trạm y tế, mà lòng kênh trơ đáy khô queo, còn trên bờ thì không có đường đi rốt cuộc đành ngồi nhìn con chết mà bất lực vì không cách nào chuyển đi bệnh viện…”

Tương tự, “văn hóa bị mai một” hay suy đồi là “tình trạng chung của cả nước,” chớ đâu có riêng chi ở Tây Nguyên! Tôi cũng chả thấy có sự dị biệt nào giữa hai cuộc biểu tình của dân chúng ở Tây Nguyên, với những cuộc biểu tình ở các tỉnh đồng bằng: Thái Bình, Đông An, Nam Hà, Nghệ An, Trà Cổ… Tựu trung, đó chỉ là những phản ứng tự nhiên của những người dân chân chất – khi bị dồn đến chân tường, thế thôi.

Và tôi e rằng đa số người dân đã bị dồn đến chân tường rồi. Trước tình trạng này những đề nghị phát triển , hay “phát triển bền vững”, đều bất khả thi. Kinh nghiệm của nạn nhân cộng sản, ở những quốc gia khác, cho thấy là thể chế này chỉ có thể thay thế chứ không thể nào thay đổi được

Còn làm thế nào thay thế được nó thì (sorry) tôi không biết. Và đây, chắc chắn, cũng không phải là “chuyện riêng” của người dân miền núi chúng tôi. Tây Nguyên, nghĩ cho cùng, chỉ là hình ảnh của một Việt Nam thu nhỏ, với những nét khắc khốc liệt và tàn bạo hơn (đôi chút) thế thôi.

K’ Tien
10/2008

(*) Jacques Dournes còn có bút danh là Dam Bo, tác giả công trình nghiên cứu Các dân tộc miền núi Nam Đông Dương, được giới thiệu vào đầu năm 1950, trên Tạp chí Pháp – Á (France-Asie 49-50 Numero Special Consacre aux Populations Montagnardes du Sud-Indochinois: Saigon,1950) và đã được chuyển dịch là Miền đất huyền ảo, một cách hết sức gẫy gọn và tài hoa bởi nhà văn Nguyên Ngọc.


 

Vụ giết nhân viên chính quyền ở Đắk Lắk: Nhiều người nói bạo lực không phải là giải pháp

12/06/2023


Công an Việt Nam bắt giữ 26 người sau vụ tấn công giết nhân viên chính quyền xã ở tỉnh Đắk Lắk hôm 11/6.

Hàng chục người chưa rõ danh tính đã tấn công 2 trụ sở chính quyền cấp xã ở tỉnh Đắk Lắk vào rạng sáng 11/6, giết chết ít nhất 7 người bao gồm 4 viên công an, báo chí Việt Nam tường thuật, dẫn lại thông tin từ chính quyền.

Bình luận về vụ việc, một số luật sư, nhà hoạt động, nhà báo nói với VOA rằng việc sử dụng bạo lực, kể cả để đấu tranh chống bất công, là điều không thể ủng hộ, song họ cũng cho rằng sự manh động tuyệt vọng của người dân không phải là vô cớ và phía chính quyền cần phải xem xét lại chính mình.

Vấn đề đất đai bị kích động?

Cổng thông tin điện tử của chính phủ Việt Nam cho hay một nhóm đông người vào sáng sớm ngày 11/6 đã dùng súng tấn công trụ sở công an của hai xã Ea Tiêu và Ea Ktur, thuộc huyện Cư Kuin (Chư Quynh), tỉnh Đắk Lắk, làm chết ít nhất 7 người, gồm 4 viên công an xã, những người còn lại là cán bộ xã và người dân.

Hai xã kể trên chỉ cách thành phố Buôn Ma Thuột hơn 5 km về phía đông nam theo đường chim bay và nằm rất gần sân bay Buôn Ma Thuột.

Tin cho hay đến trưa 12/6 công an bắt được “26 đối tượng” và thu giữ “một số vũ khí quân dụng, trong đó có súng trường CKC”. Một phát ngôn viên Bộ Công an cho hay lực lượng của bộ vẫn tiếp tục “truy quét các đối tượng còn đang lẩn trốn”.

Nhà nước nào cũng có đối lập, đúng không? Bên đối lập lợi dụng tình hình dân tộc và tình hình thu hồi đất để làm đường giao thông, các dự án phát triển kinh tế-xã hội để kích động nhóm đối tượng này.
Một người dân ở Ea Tiêu

Tin tức trên Cổng thông tin điện tử chính phủ và báo chí Việt Nam ở thời điểm chiều 12/6 không cho biết nguyên nhân nào đã dẫn đến vụ tấn công chết chóc.

Theo tìm hiểu của VOA, từ giữa năm 2022 đến tháng 3 năm nay, huyện Cư Kuin tiến hành giải phóng mặt bằng, bao gồm cả cưỡng chế, để lấy đất của hàng chục hộ dân ở hai xã Ea Tiêu và Ea Ktur.

Công tác giải phóng mặt bằng đó một phần là để phục vụ dự án xây dựng đường Hồ Chí Minh đoạn tránh phía đông thành phố Buôn Ma Thuột, một phần là để chấn chỉnh hành lang an toàn giao thông dọc theo quốc lộ 27.

Báo chí trong nước cho hay nhiều người bị “thiệt đơn thiệt kép” trong các cuộc giải phóng mặt bằng kể trên.

Vào cuối giờ hành chính ngày 12/6, VOA cố gắng liên lạc với ủy ban nhân dân và công an huyện Cư Kuin, các cơ quan cấp trên của hai xã có vụ tấn công, để hỏi xem liệu vấn đề đất đai có liên quan gì đến vụ tấn công, nhưng không có hồi đáp.

Một người dân không muốn nêu tên, sống gần trụ sở ủy ban nhân dân xã Ea Tiêu, nói với VOA rằng ông và nhiều người bàng hoàng về vụ tấn công và nêu nhận định về nguyên nhân:

“Nhà nước nào cũng có đối lập, đúng không? Bên đối lập lợi dụng tình hình dân tộc và tình hình thu hồi đất để làm đường giao thông, các dự án phát triển kinh tế-xã hội để kích động nhóm đối tượng này. Thực tế những người này theo tôi nghĩ là thành phần thiếu hiểu biết. Giờ xảy ra tình trạng như vậy cũng rất là đáng thương”.

Người dân này đưa ra nhận xét cá nhân về vị chủ tịch xã và bí thư đảng ủy xã bị thiệt mạng trong vụ tấn công:

“Chế độ này, chế độ tôi đang sống đây, có rất nhiều tiêu cực, nhưng hai đồng chí vừa mất được dân tin yêu, là hai cán bộ tốt thực sự. Là lãnh đạo cỡ chủ tịch, bí thư xã, họ không tham quyền, không tham chức, họ rất tốt với dân. Thứ bảy, Chủ nhật, họ đi làm rẫy. Hai người này thật hiếm có trong xã hội bây giờ”.

Nếu mà có điều tra phối hợp với một cơ quan độc lập, mọi chuyện sẽ tốt hơn. Điều tra của một cơ quan thì kết quả không thật như kỳ vọng đâu.
Nhà phản biện Chu Vĩnh Hải

Theo mô tả của người dân này, ban đầu, vụ tấn công làm người dân địa phương “sợ hãi” về mức độ “manh động”, nhưng sau khi được chính quyền,công an và bộ đội trấn an và thấy họ triển khai các lực lượng, người dân thấy “bình yên, không có xáo trộn gì”.

Ông Chu Vĩnh Hải, một cựu nhà báo lâu nay thường lên tiếng phản biện xã hội, nói với VOA rằng phía nhà nước Việt Nam cần phối hợp với một tổ chức độc lập để điều tra về vụ nổ súng ở Đắk Lắk vì nếu chỉ có cơ quan nhà nước điều tra sẽ không khách quan:

“Nếu mà có điều tra phối hợp với một cơ quan độc lập, mọi chuyện sẽ tốt hơn. Điều tra của một cơ quan thì kết quả không thật như kỳ vọng đâu. Nếu có điều tra độc lập nữa sẽ tốt hơn, có nghĩa là bất cứ tổ chức nào, trong nước hay ngoài nước, hay là điều tra độc lập của một cá nhân ở trong nước chẳng hạn”.

Hai xã Ea Tiêu, Ea Ktur (tỉnh Đắk Lắk) rất gần thành phố Buôn Ma Thuột và chính quyền huyện Cư Kuin.
Hai xã Ea Tiêu, Ea Ktur (tỉnh Đắk Lắk) rất gần thành phố Buôn Ma Thuột và chính quyền huyện Cư Kuin.

 

Những tiếng nói phản đối bạo lực

Trên mạng xã hội, một số người bình luận rằng vụ tấn công có thể là sự phản kháng bằng bạo lực của người dân sau những thua thiệt, bất công theo kiểu “con giun xéo lắm cũng quằn” hay “tức nước vỡ bờ”, theo quan sát của VOA.

“Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh”, “Dân oan căm phẫn bất ngờ đứng lên”, “Đây là những anh hùng thực sự nếu họ đứng lên vì đấu tranh”, v.v… là ý kiến của không ít người bày tỏ trên mạng.

Tôi phản đối các hành vi, hành động bạo lực, khủng bố. Thời buổi đã khác rồi, cuộc sống văn minh hiện đại rồi, người ta phản kháng bằng ôn hòa bất bạo động chứ không thể phản kháng bằng bạo lực và khủng bố được.
Cựu nhà báo Chu Vĩnh Hải

Tuy nhiên, có những người khác lên tiếng phản đối bạo lực, cho rằng làm như vậy có hại cho cuộc đấu tranh lớn hơn để có dân chủ, tiến bộ xã hội ở Việt Nam.

Một trong những người đó, ông Chu Vĩnh Hải, người vẫn hay đưa ra các ý kiến phản biện xã hội, chia sẻ suy nghĩ với VOA:

“Tôi phản đối các hành vi, hành động bạo lực, khủng bố. Thời buổi đã khác rồi, cuộc sống văn minh hiện đại rồi, người ta phản kháng bằng ôn hòa bất bạo động chứ không thể phản kháng bằng bạo lực và khủng bố được. Phản kháng bằng bạo lực, khủng bố gây thiệt hại rất lớn cho các bên, gây mất trật tự, mất ổn định cho cuộc sống xung quanh”.

Từng là nhà báo nhiều năm trong hệ thống báo chí nhà nước Việt Nam, ông Hải chỉ ra rằng vụ việc ở Đắk Lắk mới xảy ra nói riêng và những mâu thuẫn, xung đột ở Tây Nguyên trong nhiều năm qua nói chung có nguyên nhân từ một trong ba, hoặc cả ba vấn đề “nổi cộm” là đất đai, sắc tộc và tôn giáo. Ông nói thêm:

“Người dân họ sẽ bức xúc. Mà bức xúc thì như ông cha ta đã nói ‘con giun xéo lắm phải quằn’. Nhưng ‘quằn’ theo kiểu nào? ‘Quằn’ bằng bạo lực, khủng bố là tôi phản đối”.

Để đấu tranh dân chủ, cần biết tập hợp lực lượng và đấu tranh ôn hòa chứ không phải là tạo cớ cho chính quyền đàn áp.
Luật sư Hà Huy Sơn

Cũng phản đối bạo lực, luật sư Hà Huy Sơn nói với VOA:

“Bạo lực sẽ đẻ ra bạo lực. Nếu người dân sử dụng bạo lực, chính quyền càng căn cứ vào đó, lấy lý do đó để càng siết chặt hơn cái đòi hỏi dân chủ, đòi hỏi nhân quyền. Với những lý do như thế, tôi phản đối bạo lực trong đấu tranh”.

Luật sư Sơn đưa ra quan sát rằng ở Việt Nam, không ít người dân có quan niệm là chính quyền “có lỗi” trong những bất công, nên họ “hả hê” khi thấy những vụ tấn công vào cán bộ, nhân viên chính quyền. Ông Sơn cho rằng cách phản ứng đó chỉ kích động thêm bạo lực và vi phạm pháp luật. Ngược lại, ông đề cao sự ôn hòa:

“Xã hội nào cũng cần có pháp luật. Để đấu tranh dân chủ, cần biết tập hợp lực lượng và đấu tranh ôn hòa chứ không phải là tạo cớ cho chính quyền đàn áp”.

Trụ sở xã Ea Tiêu, tỉnh Đắk Lắk, sau vụ tấn công chết người hôm 11/6.
Trụ sở xã Ea Tiêu, tỉnh Đắk Lắk, sau vụ tấn công chết người hôm 11/6.

Vấn đề về phía chính quyền

Nếu sử dụng bạo lực thì các ông định giành chính quyền thì các ông sẽ xây dựng một chính quyền như thế nào? Cũng sẽ ứng xử với nhau bằng bạo lực thì khác gì tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa?
Luật sư Hà Huy Sơn

Với hiểu biết về Việt Nam, luật sư Sơn khẳng định các mâu thuẫn, bất ổn cũng có nguyên nhân từ phía chính quyền, mà cơ bản là “các quyền dân chủ của người dân chưa được tôn trọng, pháp luật chưa hoàn thiện, chưa nghiêm minh”. Đây là vấn đề lớn có tính lịch sử, ông nói và cho rằng không thể giải quyết bằng “một hai phản ứng tức thời”. Ông nói thêm:

“Người dân phải kiên trì, phải tìm hiểu pháp luật hiện hành để mà đấu tranh dựa trên pháp luật đó để mà đòi hỏi quyền lợi của mình. Giới trí thức, người có hiểu biết nên làm cho người dân hiểu điều đó, vì đó là cách đấu tranh phải trả giá thấp nhất”.

Ông Sơn lưu ý rằng khi dùng bạo lực, tương quan lực lượng giữa người phản ứng và chính quyền quá là chênh lệch, đồng thời ông cũng đặt câu hỏi về hệ lụy của đấu tranh bằng bạo lực:

“Nếu sử dụng bạo lực thì các ông định giành chính quyền thì các ông sẽ xây dựng một chính quyền như thế nào? Cũng sẽ ứng xử với nhau bằng bạo lực thì khác gì tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa?”

Ở Việt Nam, bạo lực đều xuất phát từ nhà cầm quyền … người ta sử dụng chính luật pháp và tòa án để làm công cụ phục vụ lợi ích của thiểu số cầm quyền và chà đạp mọi quyền lợi, ước nguyện hợp pháp của người dân.
Nhà hoạt động Phạm Thanh Nghiên

Nhà hoạt động, cựu tù nhân lương tâm Phạm Thanh Nghiên, nói với VOA rằng với tư cách là một người dân, bà “phản đối và lên án bạo lực, nhất là những vụ bạo lực gây ra cái chết”. Nhưng bà cũng chỉ ra rằng “bạo lực từ phía nhà cầm quyền cũng phải bị lên án một cách mạnh mẽ”.

Bà Nghiên và gia đình từng bị chính quyền Việt Nam o ép, ngăn cản đường sống trong nhiều năm và hiện sống tị nạn ở Mỹ. Bà đưa ra quan sát:

“Sự thực là ở Việt Nam, rất tiếc bạo lực đều xuất phát từ nhà cầm quyền. Luật pháp có, tòa án có nhưng người ta sử dụng chính luật pháp và tòa án để làm công cụ phục vụ lợi ích của thiểu số cầm quyền và chà đạp mọi quyền lợi, ước nguyện hợp pháp của người dân”.

Người dân sẽ chẳng bao giờ được biết sự thật đằng sau vụ việc kinh hoàng ở Đắk Lắk ngoài những gì được truyền thông nhà nước loan ra, bà Nghiên tiên liệu và nhận xét rằng cũng giống như tòa án, luật pháp, chính quyền Việt Nam “sử dụng truyền thông như là một phương tiện bạo lực để định hướng dư luận”.

Người phụ nữ từng bị chính quyền bỏ tù 4 năm và quản thúc 3 năm về tội “tuyên truyền chống nhà nước” cách đây hơn 10 năm giờ đây dự báo với VOA rằng “thế nào cũng có người bị bắt oan, bị xử oan. Một chế độ công an trị thì oan khuất ngút trời là lẽ đương nhiên”.

Nhắc lại quan điểm lên án bạo lực, giết chóc, song bà Nghiên cũng lưu ý đến yếu tố người dân bị công an, nhà cầm quyền “hãm hại, dồn nén quá mà ra thảm cảnh”. Người dân vốn rất sợ hãi công an và nhà cầm quyền, bà Nghiên nhận xét và nhấn mạnh rằng chính vì thế càng cần phải tìm hiểu điều gì dẫn đến việc họ dám manh động với kết cục như vậy.

Trong một bài có tựa đề “Người dân tuyệt đối không chia sẻ thông tin chưa kiểm chứng về vụ tấn công trụ sở công an 2 xã tại huyện Cư Kuin”, cổng thông tin của chính quyền tỉnh Đắk Lắk hôm 11/6 viết rằng Bộ Công an “đề nghị” bà con huyện Cư Kuin và các địa bàn lân cận “bình tĩnh, không hoang mang và thực hiện theo yêu cầu của chính quyền cơ sở và lực lượng chức năng”.

Trang web Đắk Lắk Điện tử còn dẫn lời phát ngôn viên Bộ Công an “khuyến cáo các cơ quan truyền thông cần kiểm chứng thông tin trước khi đăng tải để đảm bảo thông tin đúng sự thật”.


 

Công ty lính đánh thuê Wagner từ chối ký hợp đồng với bộ Quốc Phòng Nga

RFI

Thêm một rạn nứt giữa công ty lính đánh thuê Wagner và quân đội Nga : ông chủ của công ty, Evguéni Prigojine, hôm Chủ Nhật 11/06/2023, tuyên bố không một binh sĩ nào của Wagner « ký hợp đồng » với quân đội Nga.

Đăng ngày: 12/06/2023

Evgueni Prigojine (giữa) cùng với các lính đánh thuê của Wagner, tại một địa điểm không rõ trong mặt trận trận ở Ukraina. Hình cắt từ video của Wagner công bố ngày 05/05/2023. via REUTERS – PRESS SERVICE OF “CONCORD\

Thanh Hà

Phát biểu này được đưa ra một ngày sau khi bộ trưởng Quốc Phòng Nga Serguei Choigu ra lệnh cho tất cả « lính tình nguyện » từ nay đến cuối tháng 6/2023 phải trình diện và ký hợp đồng với bên quân đội.

Theo Reuters, giới quan sát cho rằng quyết định của bộ Quốc Phòng Nga chủ yếu nhắm vào lực lượng lính đánh thuê Wagner trong tay Evguéni Prigojine.

Bộ trưởng Quốc Phòng Serguei Choigu cách nay hai hôm giải thích, với hợp đồng này, lính của Wagner sẽ được hưởng những quyền lợi, được trả lương tương tự như lính chính quy. Đồng thời trong bối cảnh Ukraina đã bắt đầu « phản công », sự kết hợp với bên quân đội sẽ nhằm giúp nâng cao hiệu quả trong các hoạt động quân sự.

Thế nhưng lãnh đạo Wagner, ông Prigojine đã lập tức bác bỏ khả năng này khi cho rằng đội quân do ông lãnh đạo sẽ « mất hẳn tính tinh nhuệ » một khi được đặt dưới trướng của Serguei Choigu. Chủ nhân Wagner không còn che dấu hiềm khích với bộ trưởng Quốc Phòng của Vladimir Putin khi cho rằng Choigu bất tài và « không đủ khả năng lãnh đạo một cách đúng đắn » các đơn vị quân sự.

Hãng tin Reuters nhắc lại đây không là lần đầu tiên lãnh đạo Wagner trực tiếp nhắm vào ông Choigu và bộ Quốc Phòng Nga.

Xin đừng gọi tôi là: Việt cộng – Le Dinh

Le Dinh

Nếu tôi có làm anh buồn, giận anh muốn chửi tôi là đồ ma-cô, đĩ điếm, quân chó đẻ, … hay những gì bỉ ổi xấu xa nhất cũng được, nhưng xin đừng bảo tôi mầy là thằng: Việt cộng.

Hai tiếng này, tôi không hiểu sao, cho đến ngày nay, nó trở thành hai tiếng xấu xa, kinh tởm nhất trong số những danh từ để ám chỉ những hạng người mà ai ai cũng oán ghét, hận thù và muốn xa lánh. Nhưng hai tiếng Việt Cộng nguyên thủy đâu có gì là xấu xa, nó chỉ là một danh từ ghép thường thôi, như rừng núi, biển khơi, đồng áng, … nhưng theo thời gian biến đổi, nó trở thành một danh từ ghê tởm và rùng rợn lúc nào chúng ta không hay.

Nếu ai chỉ một tên nào đó mà nói “Mầy là thằng Việt Cộng” thì có nghĩa người đó là một người xấu xa nhất trong xã hội hiện nay. Chẳng thà chửi cha người ta, người ta không giận bằng chửi “Mầy là thằng Việt Cộng”. Như vậy đủ biết hai chữ Việt Cộng bị người đời thù ghét như thế nào rồi. Mà nghĩ cũng đúng thôi.

Nhớ lúc tôi còn nhỏ, năm tôi 11 tuổi, còn học ở trường Tiểu học Vĩnh Lợi, cách làng Vĩnh Hựu của tôi chừng ba cây số. Mỗi sáng thứ hai đầu tuần, mẹ tôi phải đưa tôi đến trường và tôi lưu trú tại nhà dì tôi cho đến cuối tuần mới trở về Vĩnh Hựu. Một buổi sáng thứ hai đầu tuần, cũng như mọi khi, mẹ tôi xếp đâu 2 chục trứng gà vào một cái giỏ để khi đưa tôi đến trường xong là mẹ tôi ra chơ bán 2 chục trứng gà đó, lấy tiền mua các thức ăn khô khác. Hai mẹ con đang đi, độ còn nửa đường là tới làng Vĩnh Lợi, thình lình trong một bụi cây rậm rạp, có một người mặc đồ đen, tay cầm khẩu súng ngắn sáng loáng, nhảy ra chận mẹ con tôi lại, quát to: Đứng lại! Anh ta đưa họng súng ngay truớc trán mẹ tôi, rồi đưa sang qua tôi, quơ qua quơ lại trên đầu tôi, hỏi mẹ con tôi có phải đem trứng ra chợ để bán cho Tây không? (Lúc đó, ở tại chợ Vĩnh Lợi, ngay phía bên kia đầu cầu sắt, có một cái đồn của người Pháp đóng tại đó). Mẹ tôi run run nói:

– Dạ thưa ông, đâu phải, tôi đem trứng này ra chợ bán để lấy tiền mua thức ăn.

– Chứ không phải mẹ con bà đem lương thực cung cấp cho Tây sao?

– Dạ thưa ông, đâu có phải như vậy.

– Thôi lần này tôi tha cho mẹ con bà đó, nhưng giỏ trứng thì bị Ủy ban tịch thu. Nhớ lần sau, còn gặp mẹ con bà đem trứng ra chợ như vậy nữa là tôi sẽ bắn bỏ.

– Dạ mẹ con tôi đội ơn ông.

Thật hú hồn hú vía. Lần đầu tiên trong đời, tôi mới nhìn thấy khẩu súng lục. Sao nó uy dũng, hiên ngang, trông rất dễ sợ. Và cũng lần đầu tiên trong đời tôi mới biết đó là những kẻ gọi là Việt Minh, những người mặc đồ đen, đầu quấn khăn rằn, rồi sau này trở thành Việt Cộng và hai chữ Việt Cộng đã ám ảnh tôi từ suốt thời bé thơ cho đến khi khôn lớn.

Nếu không có lần bị đón đường, bị đe dọa bắn bỏ hôm đó, tôi đã trở thành một tên Việt Minh từ thời trẻ dại này rồi. Tôi còn nhớ rất rõ, ở tuổi 11, 12, tôi say mê những bài hát êm đềm, như:

“Còn đâu trên chiến khu trong rừng chiều

Bên đèo lắng suối reo, ngàn thông reo

Còn đâu trên chiến khu trong rừng chiều

Bên đèo đoàn quân réo, đạn bay vèo…”

Hay hùng dũng, như:

“ Mùa thu rồi ngày hăm ba, ta ra đi theo tiếng gọi sơn hà nguy biến…”

Hoặc:

“Đoàn giải phóng quân một lòng ra đi

Nào có sá chi đâu ngày trở về…”

Và còn nữa:

“Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng

Kiếm nguồn tươi sáng…”

Hay là những bài thơ mà giờ đây hơn 60 năm qua, tôi vẫn còn nguyên trong trí nhớ:

“Tôi muốn tôi là một cứu thương

Cạnh theo chiến sĩ đến sa trường

Nằm lăn trên lá hay rơm ủ

Băng trắng đầu mình những vết thương”

Thật là lãng mạn, thật là dễ thương. Làm sao mà tôi không bị quyến rũ bởi nét nhạc, lời thơ như vậy được. Cho nên tôi có ý nghĩ là mình sẽ phải theo mấy anh lớn để được vào bưng, được nghe tiếng suối reo, ngàn thông reo, được nằm lăn trên lá hay rơm ủ, được nữ y tá săn sóc vết thương, … Rồi một ngày nọ, tôi được theo đoàn biểu tình đi bộ từ làng Vĩnh Hựu của tôi lên tới tỉnh Gò Công, cách xa làng tôi 14 cây số, để gọi là … ủng hộ Việt Minh. Thức dậy từ 3 giờ khuya, chuẩn bị cơm vắt muối mè, tập hợp lại rồi tháp tùng đoàn người, đi theo nhịp trống quân hành “rập rập thùng, rập rập thùng”… lội bộ suốt 14 cây số, nhờ vừa đi vừa hát “Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng”, cho nên thằng con nít 11 tuổi như tôi, khi đến nơi, nào có thấy chút mệt mỏi gì đâu? Nhưng sau lần gặp gã Việt Minh với khẩu súng giết người đó, tôi đã bừng tỉnh giấc mơ bỏ học, trốn cha mẹ để ra bưng biền.

Việt Cộng! Chỉ hai tiếng thôi, nhưng sao thiên hạ hoảng hốt, kinh hoàng khi nghe đến nó. Năm 1954, gần một triệu đồng bào miền Bắc, cũng vì hai tiếng này mà phải bỏ hết của cải, quê hương, làng xóm, mồ mả ông bà để chạy vô miền Nam xa lắc xa lơ, trốn khỏi bè lũ Việt Cộng. Năm 1975 cũng vậy, vì hai tiếng này mà hơn hai triệu người dân miền Nam phải liều chết, bằng đủ mọi cách để lánh xa loài quỷ dữ. Ở thôn quê miền Nam, khi nghe mấy tiếng “Việt Cộng về” hay “Mấy ổng về” là bà con gồng gánh, già trẻ, bé lớn chạy trối chết về phía thành phố để trốn khỏi bọn Việt Cộng. Rồi nào Việt Cộng pháo kích vào thành phố, vào quận lỵ giết hại dân lành, giết hại trẻ thơ nơi trường học. Việt Cộng đào lộ, đấp mô, đặt mìn, phá cầu, … Còn Việt Cộng ngày nay thì ngoài tham nhũng còn tội bán nước, buôn dân, bàn tay chúng phạm trăm ngàn thứ tội ác. Việt Cộng ngày nay bán rừng, bán biển, bán giang sơn cha ông cho Tàu, Việt Cộng ngày nay độc ác, tàn nhẫn với dân chúng, nhưng co ro, cúm rúm trước thằng Tàu như sợ ông nội, ông cố của chúng, bắt dân bỏ tù nếu dân đứng lên yêu nước chống lại lũ Hán xâm lăng.

Rồi tôi miên man suy gẫm, không biết những tên như Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Phú Trọng nghĩ sao – nhưng không biết những tên này có biết suy nghĩ không – chúng có thấy rằng sao mình đi đến đâu, thiên hạ bỏ chạy hết vậy? Mình giành được phân nửa xứ sở miền Bắc, đáng lẽ dân chúng phải ở lại với mình để kiến thiết xứ sở chứ, sao gần cả triệu người lại bỏ chạy vào Nam. Rồi mình cướp được luôn phân nửa miền Nam còn lại, thiên hạ lại ùn ùn bỏ chạy nữa, cả hơn hai triệu người xa lánh mình.

Tại sao và tại sao?

Chúng không tự đặt câu hỏi đó với chính chúng sao? Mình đi đến đâu thì người ta chạy trối chết khỏi nơi đó. Mình là thứ gì vậy? Nhìn hình ảnh cuộc di cư năm 1954, trên những chiếc tàu há mồm, nhìn những gương mặt hớt hơ hớt hãi, mất hồn, chạy đôn chạy đáo để rời khỏi Saigon tháng tư năm 1975, rồi nhìn những cảnh liều chết vượt biển lên đến cao điểm, từ năm 1975- 1980, nếu chúng là người, chúng phải suy nghĩ chứ? Mình cũng là người như họ, đầu, mắt tay chân cũng đầy đủ như họ, tại sao họ sợ mình mà chạy hết như thế? Mình có phải là quỷ dữ hay ác thú gì đâu?

Nhưng tôi nghĩ: Việt Cộng còn đáng sợ hơn là quỷ dữ nữa.

Nhìn lại, từ cái thời bé thơ, thuở mà mẹ con tôi đem hai chục trứng gà ra chợ bán để có tiền mua thức ăn cho gia đình, đến ngày nay, đã hơn 60 năm trôi qua, tôi cảm thấy rùng mình, ghê sợ. Từ những việc bắt người cho mò tôm, thả xác trôi sông thuở đó, cho đến những vụ lường gạt, gian dối cướp giật của Việt Cộng ngày nay, nhìn sự dã man tàn ác của Việt Cộng đối với người dân cùng chung máu mủ, … thật không thể nào tưởng tượng nổi. Quỷ chỉ nhát, chỉ hù người ta thôi, chứ không hại người ta, mà nếu quỷ có hại thì chỉ hại một người thôi. Còn Việt Cộng hại cả một dân tộc, tiệu diệt tất cả, đất đai, sông biển, núi rừng không còn, nhưng đó là nói về mặt những gì còn nhìn thấy được. Còn về mặt không nhìn thấy được thì là Việt Cộng tàn phá cả đạo đức, dung dưỡng tội ác, giết chết sự trong trắng trong lòng trẻ thơ, đưa nhiều thế hệ con em chúng ta vào vòng tối ám, dạy chúng dối trá, dạy chúng tội ác, …

Nhưng như vậy cũng chưa đủ. Những nguời đã quá sợ chúng mà bỏ xứ ra đi, để xứ cho chúng ở cũng chưa được yên thân. Chúng còn cho tay chân bộ hạ, núp bóng dưới danh nghĩa này, danh nghĩa nọ, chạy theo ra ngọai quốc để quyết hành hạ những người tỵ nạn Cộng sản này cho đủ … 36 kiểu của chúng. Thật trời không dung, đất không tha. Ngày xưa, chúng đã chiếm được phân nửa nước Việt Nam, tưởng đâu rằng chúng cùng miền Nam thi đua làm cho dân giàu nước mạnh, nhưng như chúng ta đã biết, Việt Cộng cho đến 1975, còn chưa thấy cái thang máy “biết tàng hình” là gì, chưa được nhìn chiếc đồng hồ “12 trụ, 2 cửa sổ, không người lái” là gì, không hiểu cái bồn cầu “để rửa rau” hay để làm gì, trong khi miến Nam lúc đó đã là một trong những quốc gia tân tiến ở Đông Nam Á châu. Rồi lòng tham vô đáy, thực hành chủ nghĩa Cộng sản toàn cầu của chúng, chúng cướp luôn miền Nam. Thiên hạ lại bỏ chạy, chúng rượt theo ra đến ngọai quốc để áp dụng … 36 kiểu lên đầu lên cổ người đã sợ chúng mà bỏ chạy 36 năm trước.

Nếu tôi có làm anh muôn vàn bực tức, xin anh cứ chửi tôi là thằng mất dạy, thằng láu cá, thằng bỉ ổi, thằng đê tiện, thằng vô học, thằng … thằng gì cũng được, hay bảo tôi là thằng không cha không mẹ, hay là thằng do … con gì sanh ra cũng được nốt, nhưng xin đừng bảo tôi là Việt Cộng. Mầy là thằng “Việt Cộng”, hai tiếng này nặng lắm, anh biết không? Nói như thế là anh chửi tôi đấy, mà chửi tôi thât nặng, đó là tiếng chửi ghê gớm nhất, đáng sợ nhất trong những tiếng chửi đương thời. Vì hai tiếng này đồng nghĩa với ác nhân, hung đảng, ác quỷ, ác tinh, man di, mọi rợ, lưu manh, gian xảo, côn đồ, thảo khấu, … lọai quỷ quái tinh ma, nghĩa là bọn trời đánh thánh đâm, trời tru đất diệt.

— Lê Dinh

https://saohomsaomai.wordpress.com/…/xin-dung-goi-toi…/

========

Vietnam 1970-71 by Inspector T. Xe đò trúng mìn. Thành tích của mấy ông ve chai.

Một chiếc cam-nhông (camion) bị trúng mìn của quý ông ve chai khủng bố. Đánh xe đò, giết toàn dân lành, đó là thành tích của Bên Thắng Cuộc. 1968. A civilian truck that hit a mine as our convoy was passing. Photo and caption by Gary Grace.

Thành tích vẻ vang của quý ông ve chai. Xe đò đụng mìn trên Quốc lộ 14 năm 1969. Photo by Michael T. Cunningham.

Hình chụp tháng Bảy 1969 tại Vĩnh Bình. Một chiếc xe đò bị trúng mìn của quý ông ve chai khủng bố. Đánh xe đò, giết toàn dân lành, đó là thành tích của Bên Thắng Cuộc.

Xe Lam đụng mìn Việt Cộng trên QL-1. This is a Lambretta that didn’t wait for us to complete a mine sweep of Ql-1. B Co 8th Engineer Bn 1st Cavalry. Photo and caption by Les White.

 

Rượu mùi Chartreuse của Pháp, mặt hàng ”quý hiếm” tại Hoa Kỳ

Theo Đài Radio Pháp Quốc Tê

Tu sĩ Jean-Jacques, một trong hai tu sĩ biết bí mật tinh chế rượu Chartreuse, kiểm tra việc sản xuất rượu Chartreuse, ngày 25/11/2011, tại Voiron, tỉnh Issère, vùng Auvergne-Rhône-Alpes, Pháp.Tu sĩ Jean-Jacques, một trong hai tu sĩ biết bí mật tinh chế rượu Chartreuse, kiểm tra việc sản xuất rượu Chartreuse, ngày 25/11/2011, tại Voiron, tỉnh Issère, vùng Auvergne-Rhône-Alpes, Pháp.Tu sĩ Jean-Jacques, một trong hai tu sĩ biết bí mật tinh chế rượu Chartreuse, kiểm tra việc sản xuất rượu Chartreuse, ngày 25/11/2011, tại Voiron, tỉnh Issère, vùng Auvergne-Rhône-Alpes, Pháp. AFP – JEAN-PIERRE CLATOT

Công thức gốc của Chartreuse có từ năm 1605 và giờ đây Chartreuse chủ yếu gồm hai loại : loại màu xanh lục có vị nồng đậm (55 độ cồn), còn loại màu vàng óng có vị dịu hơn một chút (43 độ). Từ đầu thế kỷ XVII cho tới nay, rượu mùi Chartreuse là đặc sản của tu viện dòng Chartreux (Carthusian trong tiếng Anh). Dòng này do vị thánh Bruno le Chartreux sáng lập vào năm 1084. Trong thời gian đầu, rượu Chartreuse chỉ được tìm thấy ở hai thành phố Grenoble và Chambéry, thuộc vùng Isère. Với thời gian, Chartreuse trở nên phổ biến ở khắp nơi. Riêng tại Hoa Kỳ, rượu mùi này lại càng được xem là một sản phẩm thịnh hành, nhất là tại các quán bar, nhà hàng hay khách sạn hạng sang. Chartreuse được dùng để pha chế các loại cocktail thời thượng. Dù ở Pháp hay ở Mỹ, khách hàng vẫn phải mua rượu gốc, chỉ được sản xuất tại tu viện Grande Chartreuse, ở vùng Isère.

Chỉ có điều là từ khoảng 4 tháng nay, rượu mùi Chartreuse ngày càng khan hiếm trên thị trường Hoa Kỳ. Theo báo New York Times, giá trung bình của một chai màu xanh lục (37cl) là khoảng 40 đô la, trong khi rượu Cognac, giá có thể cao hơn gấp đôi. Do giá cả phải chăng, cho nên trong mắt người tiêu dùng, Chartreuse không được xếp vào hàng xa xỉ phẩm. Tại Mỹ, nhiều khách hàng có thói quen dùng sản phẩm này từ nhiều thập niên qua, trước khi Chartreuse trở thành một loại rượu mạnh được nhiều thực khách yêu chuộng khi được pha chế thành nhiều loại cocktail có màu sắc quyến rũ và vị thơm hấp dẫn.

Vì cứ nghĩ rằng mặt hàng này dễ tìm, mua lúc nào cũng có, cho nên nhiều người thích uống Chartreuse chưa bao giờ thực sự quan tâm đến nguồn gốc của loại rượu mùi. Thế nhưng, theo báo New York Times, các cửa tiệm phân phối rượu tại các vùng đô thị lớn ở Hoa Kỳ đã hết sạch hàng kể từ đầu năm nay. Khách vẫn có thể đặt mua trên mạng từ các vùng địa phương khác hay mua hàng nhập thẳng từ Pháp, nhưng số chai được bán vẫn bị giới hạn.

Hạn chế số chai mua mỗi lần để tránh nạn tích trữ 

Theo tờ báo Mỹ, sự khan hiếm này không đến từ hệ thống phân phối hoặc vì thuế nhập khẩu gia tăng. Rượu Chartreuse ngày càng ít đi chủ yếu cũng vì giới tu sĩ ẩn dật vùng Isère quyết định giới hạn khối lượng sản xuất hàng năm. Tại cửa hàng Astor Wines & Spirits ở thành phố Manhattan, New York, khách hàng chỉ được mua mỗi lần một chai Chartreuse. Nhưng dù có hạn chế, cửa tiệm này vẫn không còn hàng để bán kể từ tháng Giêng năm 2023. Ngay cả khách đi du lịch ở Pháp khi đến tận vùng Isère để ghé thăm tu viện Grande Chartreuse cũng chỉ được quyền mua mỗi người hai chai mà thôi. Giá vẫn giữ nguyên y như cũ (khoảng 48 euro một chai 70cl) nhưng tu viện này tìm cách hạn chế tối đa việc phổ biến cũng như tích trữ, dòng tu sĩ Chartreux không muốn tăng thêm mức sản xuất hầu đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng.

Quyết định hạn chế sản xuất ở đầu nguồn đã tác động đến toàn bộ mạng lưới phân phối. Tại Pháp, người dân không tiêu thụ nhiều Chartreuse cho lắm, cho nên điều đó không ảnh hưởng gì đến thói quen ăn uống của họ. Trong khi tại Hoa Kỳ, sự kiện Chartreuse trở nên khan hiếm đã tác động trực tiếp đến các nhà hàng, quán bar, nơi các loại cocktail pha chế với Chartreuse chẳng hạn như kiểu rượu pha ”Sammy’s Paradise” được bán với giá 24 đô la một ly. Còn loại rượu pha ”Last Word” dựa vào một công thức có từ đầu những năm 1910, kết hợp Chartreuse với một chút rượu gin, rượu mùi maraschino và nước chanh vắt được bán với giá gần 30 đô la một ly.

Do thiếu Chartreuse, nhiều quán bar, nhà hàng hay khách sạn tại Mỹ chuyển sang khai thác nhiều loại rượu mùi khác, thế nhưng thành phần thực khách có nhiều tiền cũng như dân sành điệu sẵn sàng chịu bỏ ra vài chục đô la cho một ly rượu, vẫn quan niệm rằng : thà uống một loại cocktail khác còn hơn là uống rượu pha Chartreuse (có mùi hồi, đinh hương và hạt thì là) mà lại dùng một thứ rượu khác để thay thế.

Từ lâu, rượu mùi Chartreuse vẫn được xem là loại rượu mạnh dành cho thế hệ trung niên hoặc người cao tuổi. Nhưng kể từ đầu những năm 2000, Chartreuse lại trở thành sản phẩm thịnh hành trong ngành ”mixology” gồm những người chuyên pha chế cocktail, nâng phong trào thủ công thành một bộ môn nghệ thuật. Vào mùa xuân năm 2020, khi đại dịch Covid khiến cho nhiều quốc gia ban hành lệnh phong tỏa. Vào lúc ấy, rất nhiều quán bar hay nhà hàng buộc phải đóng cửa trong nhiều tháng liền. Đáng lẽ ra, doanh thu của Chartreuse phải đi xuống. Bất ngờ thay, mức bán của loại rượu mùi này lại tăng gấp đôi, phần lớn cũng vì nhiều người học cách pha chế cocktail tại nhà. Theo công ty xuất khẩu Chartreuse Diffusion, lượng tiêu thụ tăng rất nhanh trên thị trường Mỹ. Doanh thu của Chartreuse nhờ vậy đạt 30 triệu đô la mỗi năm và tăng đều đặn trong ba năm liền.

Chartreuse : càng cất giữ lâu lại càng cao giá 

Sản phẩm càng đắt khách, đáng lẽ ra người bán hàng càng lấy làm mừng. Nhưng dường như điều đó không làm cho giới tu sĩ dòng Chartreux hài lòng cho lắm. Trong một bức thư được công bố hồi tháng Giêng năm 2023, tu viện Grande Chartreuse nhắc nhở việc sản xuất rượu mùi Chartreuse không phải là để kinh doanh làm giàu, mà chủ yếu nhằm mục đích đỡ bớt gánh nặng chi phí đời sống trong tu viện. Báo New York Times trích dẫn cha Michael K. Holleran, một tu sĩ từng giám sát công việc sản xuất Chartreuse từ năm 1986 đến năm 1990, cho biết : Không thể nào tăng thêm sản lượng Chartreuse mà không ảnh hưởng đến đời sống của tu viện. Bản chất dòng Chartreux là tu sĩ, chứ không phải là doanh nhân. Mục tiêu tối hậu của những người chọn cách tu ẩn dật là sống một cách hết sức đơn giản, họ cần sự im lặng và đức tin trong cầu nguyện.

Sản lượng của Chartreuse hiện ở mức 1,6 triệu chai mỗi năm, đây là mức sản xuất cao nhất tính từ cuối những năm 1800. Phần lớn (hơn 40%) được xuất khẩu sang Hoa Kỳ, kế đến là các nước Úc, Anh, Đức hay Mexico… Trong dòng văn hóa đại chúng, Chartreuse từng xuất hiện trong phim ”Death Proof” của Quentin Tarantino hay video ca nhạc của nhóm hard rock ZZ Top. Chartreuse bắt đầu trở nên khan hiếm tại Hoa Kỳ từ đầu năm 2023, trong khi giá trung bình ở Pháp vẫn không có gì thay đổi. Ngược lại, giá của Chartreuse có thể đạt tới mức cao ngất ngưỡng nhận các kỳ bán đấu giá quốc tế.

Vào trung tuần tháng 03/2023, văn phòng đấu giá Baghera Wines, có trụ sở tại Genève Thụy Sĩ, đã tổ chức một cuộc bán đấu giá rượu Chartreuse lớn nhất trong lịch sử. Tất cả các lô hàng, kể cả các kiểu chai Chartreuse xưa, đã được bán sạch nội trong hai tiếng đồng hồ. Theo tờ báo Pháp Le Figaro, đôi khi một chai Chartreuse bỏ quên trong hầm rượu, lại trở thành một sản phẩm đắt tiền : giới sưu tầm có thể chi 2.000 euro cho một chai Chartreuse sản xuất vào hai thập niên 1930-1940. Giá có thể lên đến 6.000 euro cho một chai có nhãn hiệu trước năm 1903 và 20.000 euro trước năm 1878. Từ một đặc sản của vùng Isère, rượu mùi Chartreuse trên đất Mỹ nay lại trở thành quý hơn Cognac, hiếm hơn Champagne.

______

Theo tạp chí Nếm Thử – Pháp (Taste France)

Bạn đã nhìn thấy nó, bạn đã nghe nói về nó và rất có thể bạn đã sử dụng nó vào một thời điểm nào đó trong đời — mặc dù bạn thực sự biết bao nhiêu về Chartreuse? Loại rượu mùi bí ẩn của Pháp này là một loại rượu chủ yếu trong văn hóa cocktail cả trong và ngoài nước Pháp và được các nhân viên khách sạn trên toàn cầu yêu thích. Vậy thức uống có màu neon bí ẩn này chính xác là gì và điều gì khiến nó trở nên đặc biệt? Chúng tôi đang chia nhỏ mọi thứ bạn cần biết về Chartreuse tại đây.

biểu đồ

Chartreuse là gì?

Chartreuse là một loại rượu mùi của Pháp được sản xuất với 130 loại thảo mộc và thực vật. Nó được biết đến như một trong số ít rượu mùi trên thị trường có khả năng trở nên tốt hơn theo thời gian. Chartreuse lần đầu tiên được sản xuất bởi Carthusian Monks vào năm 1737 từ một công thức được phát hiện bởi François Annibal d’Estrées vào năm 1605.

Chartreuse được sản xuất ở đâu?

Chartreuse được sản xuất tại thị trấn Voiron (Isère), không xa thành phố Grenoble.

Chartreuse được tạo ra như thế nào?

Chartreuse được sản xuất từ ​​một công thức bí mật được truyền lại bởi các Tu sĩ Carthusian. Green Chartreuse được sản xuất từ ​​rượi mạnh làm từ củ cải đường, trong khi đó Yellow Chartreuse được sản xuất từ rượi mạnh làm từ nho. Cả hai loại rượu mạnh này đều được chưng cất trong nồi đồng, ngâm rượu với công thức thực vật độc đáo và ủ trong gỗ sồi Pháp cháy thành than. Chỉ có hai người giám hộ, Dom Benoit và Frère Jean-Jacques, được phép vào ‘phòng thảo mộc’, nơi các loại thảo mộc khô. Những loại thực vật này có nguồn gốc từ khắp nơi trên thế giới và bao gồm từ vỏ cam quýt đến cỏ xạ hương đến nghệ tây và hơn thế nữa.

nhà máy chưng cất
nhà máy chưng cất

Làm thế nào để Chartreuse có được màu sắc của nó?

Chartreuse xanh có màu từ chất diệp lục, trong khi Chartreuse vàng có sắc tố từ nghệ tây. Cả hai màu đều xuất hiện tự nhiên.

Lịch sử của Chartreuse là gì?

Lịch sử của Chartreuse bắt đầu từ năm 1605, khi François Hannibal d’Estrées phát hiện ra một công thức bí mật được cho là đã giúp người tiêu dùng ‘sống lâu’. Anh ấy đã mang công thức đến cho Monks gần Paris, người cuối cùng đã gửi nó xuống tu viện La Grande Chartreuse. Công thức cuối cùng đã được thử nghiệm vào năm 1737, và khoảng 60 năm sau, nó đã được điều chỉnh để tạo ra Green Chartreuse. Chartreuse mới và cải tiến này có hương vị nhẹ nhàng hơn và là công thức vẫn được sử dụng cho đến ngày nay. 75 năm sau, Frère Bruno Jacquet đã tạo ra một phiên bản tinh chỉnh khác của công thức, phiên bản này trở thành Yellow Chartreuse mà chúng ta biết và yêu thích ngày nay.

Sự khác biệt giữa Chartreuse xanh và Chartreuse vàng là gì?

Green Chartreuse được sản xuất từ ​​130 loại thực vật và được ngâm trong tám giờ. Sản phẩm cuối cùng có ABV là 55% và có mùi vị thảo mộc/hơi dược liệu. Ngược lại, Yellow Chartreuse có nồng độ cồn thấp hơn một chút (40% ABV) và có hương vị ngọt ngào hơn.

biểu đồ

chai rượu Chartreuse

Có bao nhiêu loại Chartreuse khác?

Ngoài Chartreuse xanh và Chartreuse vàng, có năm phiên bản Chartreuse khác có sẵn trên thị trường: Chartreuse VEP, Élixir Végétal de la Grande-Chartreuse, Liqueur du 9° Centenaire, Génépi, và Cuvée des Meilleurs Ouvriers de France.

Chartreuse VEP (Vieillissement Exceptionnellement Prolongé) được sản xuất theo phương pháp tương tự như rượu cuvée truyền thống, mặc dù nó được ủ trong thùng gỗ sồi trong thời gian dài hơn. Chartreuse VEP được sản xuất ở cả định dạng màu xanh lá cây và màu vàng. Élixir Végétal de la Grande-Chartreuse có cơ sở giống như Green Chartreuse, mặc dù được chưng cất ở mức ABV cao hơn (khoảng 70%). Liqueur du 9° Centenaire được tạo ra để kỷ niệm 900 năm thành lập tu viện ban đầu. Nó ngọt hơn một chút so với Green Chartreuse ban đầu.

Génépi lấy tên của nó cho thuật ngữ địa phương được sử dụng để mô tả rượu mùi tự chế ở các vùng Alpine của Pháp. Loại cuvée đặc biệt này của Chartreuse hầu như chỉ được tìm thấy ở miền đông nước Pháp và được đóng chai ở mức khoảng 40% ABV. Cuvée des Meilleurs Ouvriers de France được sản xuất vào năm 2007 với sự hợp tác của MOF Sommeliers. Nó là một biến thể của Yellow Chartreuse và có khoảng 40% ABV.

Chartreuse có vị như thế nào?

Chartreuse, giống như nhiều loại rượu mùi, có hương vị rất mạnh và khác biệt. Nó hơi ngọt, mặc dù có nhiều hương vị thảo mộc và thực vật hơn. Chartreuse vàng ngọt hơn Chartreuse xanh. Chartreuse vàng được ghi nhận với hương vị của mật ong, nghệ tây và gia vị hồi, trong khi Chartreuse xanh cho thấy hương vị nổi bật hơn của chanh, gia vị cam quýt và các loại thảo mộc mới cắt.