Nhân bi kịch ở Đăk Lăk, nhắc lại đôi điều “ôn cố tri tân”

Báo Tiếng Dân

Lê Nguyễn

18-6-2023

Tổng thống Ngô Đình Diệm (ngồi) và anh trai là Giám mục Ngô Đình Thục (áo đen) trong một buổi lễ đón năm mới ở Tây Nguyên năm 1957. Ảnh: John Dominis/LIFE

Tôi muốn gọi những biến động vừa xảy ra ở Daklak (xưa viết là Darlac) là một bi kịch, bi kịch trong mối quan hệ giữa những tộc người đã chung sống với nhau hàng ngàn năm qua, từ khi “nước sông không phạm nước giếng” đến những năm dài chan hòa cuộc sống, và gần đây là những trận đụng độ kinh hoàng.

Lịch sử ghi chép rằng, cho đến thời các chúa Nguyễn, nơi sinh sống của các tộc người trên Tây Nguyên ngày nay vẫn được gọi là “nước”. Năm 1751, đời chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát, (trích) “Thủy Xá, Hỏa Xá vào cống. Hai nước ở phía trên nước Nam Bàn (khi Lê Thánh Tông đánh được Chiêm Thành, dòng dõi nước ấy làm vua nước Nam Bàn, cắt cho đất từ núi Thạch Bi về phía Tây), thôn lạc có hơn năm chục, giữa có núi Bà Nam rất cao, vua Thủy Xá ở phía Đông núi, vua Hỏa Xá ở phía Tây núi. Buổi quốc sơ, vì cớ họ giáp giới với Phú Yên, cứ 5 năm một lần sai người đến các nước ấy cho quà (áo gấm, mũ, nồi đồng, chảo sắt và chén đĩa bằng sứ). Vua hai nước ấy nhận được vật cho, tức thì sắm sửa phẩm vật địa phương (kỳ nam, sáp ong, nhung hươu, mật gấu, voi đực) để hiến. Tới đây, sai sứ sang cống. Chúa hậu tứ rồi cho về”. (Hết trích) – (Đại Nam thực lục – Tập một – NXB Giáo Dục 2002, trang 157).

Xem như thế, thấy rằng thời các chúa Nguyễn, chúa chủ động thể hiện tình lân bang bằng cách cho mang quà tặng hảo trước cho những sắc tộc sống ở Tây Nguyên ngày nay. Đó là cách thu phục chính danh nhất của kẻ bề trên, khiến người dưới chiếu cảm kích mà tuân phục. Năm 1794, dù cho cuộc chiến với nhà Tây Sơn đang hồi gay cấn, song khi vua Thủy Xá ở Tây Nguyên lên ngôi, chúa Nguyễn Ánh vẫn không quên ban phẩm vật cho, và vị vua này đã “sai man thuộc đến thông hiếu ở thượng đạo Phú Yên, xin làm phiên thuộc và xin ban ơn cho” (Đại Nam thực lục – sđd, trang 311).

Năm 1803, khi vua Gia Long đã thống nhất đất nước, vua hai nước Thủy Xá, Hỏa Xá lại sai sứ đến quy phục tại Phú Yên, vua lại sai ban phẩm vật cho (ĐNTL, sđd, trang 556). Mối quan hệ hữu hảo đó kéo dài cho đến khi Việt Nam hoàn toàn nằm dưới ách đô hộ của người Pháp.

Về phần người Pháp, có lẽ do còn phải đối phó với nhiều biến động dưới đồng bằng nên gần như trong suốt thế kỷ XIX, họ không quan tâm lắm đến vùng gọi là Tây Nguyên ngày nay. Song các giáo sĩ phương Tây thì không thế. Ngay vào năm 1848, nghĩa là hơn 10 năm trước khi Pháp áp đặt chế độ thuộc địa cho Việt Nam, một số giáo sĩ Pháp như Combes, Fontaine đã lặn lội lên vùng này, cất chòi sống chung đụng với người Bahnar để thực hiện sứ mạng truyền đạo do Giáo hội La Mã giao phó.

Sự chung đụng gợi ra nhiều nghi kỵ cho người bản địa, song sau một trận dịch đậu mùa, các giáo sĩ tiêm chủng cho họ và cứu mạng nhiều người, mối quan hệ giữa hai bên dần tốt đẹp lên. Việc giảng đạo đạt kết quả, các giáo sĩ dạy cho người bản địa cách cày bừa, trồng lúa và trở thành cố vấn cho họ về nhiều mặt của đời sống. Năm 1854, có 4 giáo sĩ Pháp bị triều đình Huế truy sát, họ lang thang trong rừng nhiều ngày, sau được người Bahnar cứu thoát (Lê Nguyễn – Cuộc phiêu lưu của Marie Đệ nhất, quốc vương xứ Sedang – NXB Tổng hợp TPHCM 2019, từ trang 49).

Cho đến những thập niên cuối thế kỷ XIX, mối quan hệ giữa người Kinh và các sắc tộc thiểu số vẫn diễn ra tốt đẹp. An Khê, khu vực địa đầu của tỉnh Bình Định, trở thành một trung tâm thương mại nhỏ, nơi người Việt dưới đồng bằng mang hàng hóa, thực phẩm lên để đổi lấy thổ sản vùng cao. Ca dao thời ấy có câu:

Ai về nhắn với nậu nguồn,

Măng le gùi xuống, cá chuồn chở lên.

Người miền xuôi (người Kinh) mang lên muối, các loại hải sản (cá, tôm, cua..), kim loại (thiếc, đồng…) đổi lấy thổ sản miền ngược (Tây Nguyên ngày nay) như gạo, thuốc lá, sáp ong, mật ong, sừng tê giác… Chuyện mua bán, đổi chác giữa hai tộc người hầu như không thấy gì bất ổn xảy ra.

Về phần thực dân Pháp, có thể nói trong suốt thế kỷ XIX, họ không bận tâm đến vùng Tây Nguyên. Trừ một trường hợp vào năm 1888, khi Toàn quyền Đông Dương Constans nhận được tin một đoàn khảo sát người Đức đang tiếp xúc với chính quyền Xiêm (Thái Lan) và Ai Lao (Lào) về nhiều điều chưa được biết rõ. Ông ta lo ngại là những người Âu này sẽ dòm ngó vùng Tây Nguyên và khống chế hay chiếm hữu nó, vì thế, đã nhờ một tay viết báo thích phiêu lưu mạo hiểm tên David de Mayréna lên Tây Nguyên, kết hợp các bộ tộc chính như Bahnar, Djarai, Sedang… đặt dưới sự quản lý hay ít ra cũng dưới sự chi phối của chính quyền Pháp.

Nhờ tài ứng biến, sự lanh lợi và may mắn, De Mayréna hoàn thành mỹ mãn sứ mạng được giao phó, song sang đến viên Toàn quyền kế nhiệm Constans là Richaud, có lẽ vì thấy sự lo ngại của Constans đã không xảy ra, phần khác, do De Mayréna làm nhiều việc không bình thường trên cái gọi là “vương quốc Sedang” mà đang từ kẻ có công lớn, De Mayréna trở thành kẻ tội đồ.

Mãi đến những năm đầu thập niên 1890, sau khi nhà bác học Yersin tìm ra cao nguyên Langbian (Lâm Viên), căn cứ vào tình trạng khí hậu và thổ nhưỡng tốt của vùng đất này, chính quyền Pháp quyết định biến nơi đây thành nơi nghỉ dưỡng của bọn thực dân da trắng.

Năm 1904, một biến động lớn xảy ra. Người bản địa dưới quyền hai quốc vương Thủy Xá và Hỏa Xá phản ứng lại chính sách trực trị của người Pháp đang manh nha trên lãnh thổ họ. Họ mời viên công sứ Odend’han đến ăn yến rồi mai phục hạ sát ông này cùng 7 người giúp việc (Đại Nam thực lục chính biên – Đệ lục kỷ phụ biên – NXB Văn hóa-Văn nghệ 2011, trang 419, cùng một bài viết của tiến sĩ Nguyễn Văn Huy). Từ đó, thực dân Pháp xóa sổ hai vương quốc Thủy Xá và Hỏa Xá.

Nhiều người trong chúng ta biết rằng, vào thời Pháp thuộc, người Kinh gọi người sống ở vùng Tây Nguyên ngày nay là “Mọi”. Lớp người sinh trưởng tại miền Nam vào thập niên 1940 trở về trước thường nghe cụm từ “mọi cà răng căng tai” dùng để chỉ người miền Thượng, vì nhiều tộc người cà cho hàm răng của họ ngắn lại, đeo những chiếc vòng nặng trĩu trên tai, khiến dái tai họ to ra và trĩu xuống.

Từ cách gọi của người Kinh, người Pháp cũng gọi họ là Moi hay Mois.

Từ “mọi” gợi ra một cái gì đó thấp kém, lạc hậu và dã man nữa. Thời Đệ nhất Cộng hòa, chính quyền Ngô Đình Diệm cấm chỉ gọi họ là “mọi”, mà gọi là “người Thượng”, thậm chí là “đồng bào Thượng”. Từ “đồng bào” có lẽ được sử dụng với một nghĩa bao quát hơn, chỉ những tộc người sống thành một cộng đồng rộng lớn bên dưới đại lục Trung Hoa. Từ đó, khẩu hiệu “Kinh-Thượng một nhà” rất phổ biến trên các biểu ngữ, các phương tiện truyền thông.

Song song với hai từ Kinh-Thượng, về mặt lãnh thổ lúc bấy giờ, miền Trung được chia thành hai vùng rõ rệt là vùng “cao nguyên Trung Phần”, tức khu vực của người Thượng và “duyên hải Trung Phần” của người Kinh, từ Qui Nhơn-Bình Định trở về hướng biển.

Cuối những năm 1950, có lẽ do bận rộn với việc định cư và cung ứng các điều kiện sinh sống của gần một triệu đồng bào miền Bắc di cư vào Nam mà chính quyền Ngô Đình Diệm có những sơ hở về mặt quản lý các đồng bào sắc tộc. Năm 1958, một tổ chức có chủ trương chống chính quyền ra đời có tên BaJaRaKa, với sự kết hợp của bốn sắc tộc khác nhau là Bahnar, Jarai (hay Djarai), Radhés, Kaho đã gửi thư đến các sứ quán Pháp, Mỹ và đại diện Liên Hiệp Quốc, tố cáo những hành vi phân biệt sắc tộc của chính quyền Đệ nhất Cộng Hòa và yêu cầu các cường quốc can thiệp để người Thượng được độc lập trong khối Liên hiệp Pháp hoặc dưới sự lãnh đạo của Hoa Kỳ.

Đầu những năm 1960, quan hệ giữa VNCH và chính quyền Cambodge (Campuchia) gặp nhiều rắc rối, đi đến chỗ bế tắc, hai bên rút Đại sứ về và chỉ quan hệ với nhau ở cấp thấp hơn (Đại lý Đại sứ). Năm 1964, với sự hỗ trợ tinh thần của quốc vương Campuchia Sihanouk, các tổ chức bất đồng với chính quyền VNCH liên kết lại thành một tổ chức thống nhất, lấy tên Pháp là Front unifié pour la Libération des Races Opprimées (Mặt trận thống nhất giải phóng các sắc tộc bị áp bức), viết tắt là FULRO.

Sau thời điểm này, chính sách của chính quyền VNCH đối với người thiểu số vùng cao đã có những cải tiến rõ rệt, về lượng cũng như về chất. Thông thường ở vùng đồng bằng, cơ cấu chính quyền cấp tỉnh có hai Phó Tỉnh trưởng là Phó Tỉnh trưởng Hành chánh và Phó Tỉnh trưởng Nội An (chức vụ sau bị bãi bỏ từ năm 1966). Tại các tỉnh cao nguyên Trung Phần, chính phủ VNCH đặt thêm chức Phó Tỉnh trưởng Thượng vụ, phụ trách các vấn đề liên quan đến đời sống của đồng bào Thượng. Phó Tỉnh trưởng Thượng vụ tỉnh Kontum đầu tiên là ông Paul Nưr, một thành viên trong các tổ chức chống đối trước đây. Dưới cấp tỉnh, ở cấp Quận, cũng có những ban sắc tộc do các công chức hay quân nhân người gốc Thượng đảm trách.

Không chỉ về mặt quản lý hành chánh, về mặt luật pháp, chính quyền VNCH cũng quan tâm đến việc giải quyết những vấn đề phát sinh trong cộng đồng người thiểu số có lý tới phong tục, tập quán của họ. Ngay từ năm 1929, thực dân Pháp đã cho thành lập các “Tòa án tập quán” ở các cấp Tỉnh, Quận, Xã nhằm để cho người Thượng xét xử người Thượng, xét xử căn cứ vào tín ngưỡng của các bộ tộc.

Sang thời VNCH, năm 1965, chính phủ cho thiết lập các “Tòa án phong tục” trên cao nguyên Trung phần, hoạt động như các Tòa án tập quán thời Pháp, chỉ có khác là Tòa án tập quán là một tổ chức hành chánh, còn tòa án phong tục là một tổ chức tư pháp hẳn hoi (Nguyễn Trắc Dĩ – Đồng bào các sắc tộc thiểu số Việt Nam (nguồn gốc và phong tục) – Sài Gòn 1972, trang 155-160)

Những cải tiến về các chính sách nêu trên giúp nhiều người Thượng có học vấn tham gia thiết thực vào việc điều hành công vụ của chính quyền VNCH. Tiêu biểu là ông Touneh Hàn Thọ, cựu sinh viên Học viện Quốc gia Hành chánh, vào những năm 1969-1970, từng được cử vào học trường Cao đẳng Quốc phòng, chung với nhiều sĩ quan cao cấp trong quân đội, thông thường ở cấp Đại tá. Năm 1970, ông Touneh Hàn Thọ ra trường Cao đẳng Quốc phòng với luận văn nhan đề “Quan niệm về sở hữu đất đai và thực trạng sinh kế của các sắc dân Thượng”.

Vào nửa đầu thập niên 1970, ông Hàn Thọ được cử giữ chức vụ Tổng Thư ký Bộ Phát triển sắc tộc, một cơ quan quan trọng được thành lập ngay vào năm đầu tiên của nền Đệ Nhị Cộng hòa (1967). Đến lúc đó, sự tham gia của đồng bào Thượng vào chính quyền đương nhiệm là một việc làm có thực chất, không mang màu sắc tuyên truyền hay mị dân. Có những người được bầu vào Quốc Hội, vào bộ máy chính quyền, tiêu biểu là Bộ Phát triển sắc tộc. Người đầu tiên lãnh đạo bộ này chính là ông Paul Nưr, nguyên Phó Tỉnh trưởng Thượng vụ tỉnh Kontum.

Năm 1975, khi trở thành tù cải tạo, người viết bài này từng sống chung nhà, chung đội với nhiều đồng bào Thượng từng là dân biểu, viên chức cao cấp của Bộ Phát triển sắc tộc. Họ rất hiền hòa, sống chan hòa với các bạn tù người Kinh, đến bây giờ, tôi vẫn còn thấy nhớ người bạn tù hiền lành Touneh Yơh, một con người luôn vui vẻ, cười đùa với mọi người và cư xử với bạn tù một cách chân tình nhất.

Ngay sau tháng 4.1975, chính quyền mới của những người thắng cuộc đã đưa nhiều đồng bào miền Bắc đến Lâm Đồng (tên cũ là tỉnh Tuyên Đức) để lập nghiệp. Chính sách di dân là hệ quả tất yếu của sự phát triển dân số, khiến vùng này có mật độ dân cư quá cao, dẫn đến nhiều hậu quả bất lợi về xã hội, vùng khác mật số dân số thấp, đất đai, rừng núi chưa được khai thác đúng mức.

Tuy nhiên, chính sách di dân hay giãn dân nếu không được thực hiện xuyên suốt, có quan tâm đến quyền lợi, đời sống văn hóa, xã hội của người bản địa, sẽ dễ trở thành chính sách tàm thực (tằm ăn dâu) và dẫn đến nhiều hậu quả khó lường. Điều lo lắng này không phải là không có cơ sở, cùng là đồng bào, đồng chủng với nhau, chung một tổ tiên, nòi giống, mà sau gần 50 năm, giữa người thắng cuộc và kẻ thua cuộc vẫn còn những khoảng cách nhất định, về mặt tâm thức cũng như quan điểm chính trị, thì nói gì đến mối quan hệ giữa chính quyền với đồng bào thiểu số Tây nguyên từng vùng lên tranh đấu dưới thời VNCH.

Chính sách di dân theo kiểu “tằm ăn dâu” khiến người các sắc tộc thiểu số dễ có cảm giác đất đai của tổ tiên họ ngày bị thu hẹp dần, nhiều quyền lợi căn cơ có nguy cơ bị tước đoạt, đời sống không được cải thiện theo đúng xu thế một đất nước đã thống nhất gần 50 năm trời…

Trong trường hợp đó, nếu chính quyền địa phương cai trị thiếu sự chân tình hay có nhiều sơ hở trong các biện pháp quản lý xã hội thì cái ngòi nổ trong quả bom bất mãn dễ dàng bị kích nổ. Khi người thiểu số sống trong một tâm trạng như thế thì dù có “thế lực thù địch” đứng đàng sau hay không, những hậu quả bất lợi cũng dễ dàng xảy đến.

Trong những ngày qua, đọc tin về việc đồng bào Nghệ An, Thanh Hóa… vây bắt được nhiều người dính líu tới bi kịch vừa xảy ra, không ít người trên mạng xã hội bày tỏ sự… bất ngờ. Bất ngờ vì sự tham gia, chủ động của những cư dân từ phương xa đến lập nghiệp trên vùng đất Tây nguyên.

Từ sự bất ngờ đó, họ dễ dàng suy diễn đến nhiều tình huống khác. Việc xây dựng đường dây điện Bắc-Nam, đường Hồ Chí Minh, với những lợi ích nhãn tiền hẳn nhiên là dễ dàng thuyết phục người thiểu số Tây Nguyên, mất bao nhiêu đất họ cũng dễ dàng hứng chịu. Song còn sự hiện diện quá nhiều người từ các địa phương khác đến, liệu tác động thế nào đến người bản địa? Điều đó, có ai thực hiện những cuộc điều tra tỉ mỉ và khả tín, để có thể giúp đưa ra những quyết sách có tình, có lý, hợp với tính nhân bản vẫn là cốt cách của dân tộc này?

Trở lại chuyện cách nay hơn 50 năm, sau những rối loạn ở Tây Nguyên vào nửa sau thập niên 1950 và nửa đầu thập niên 1960, chính quyền VNCH đã có những cải tiến rõ rệt trong chính sách đối với đồng bào thiểu số, tiêu biểu là các tòa án phong tục, các định chế quốc gia có sự tham gia của người Thượng, một cách tích cực và có thực chất, thì liệu chính quyền hiện nay có cần quan tâm hơn nữa đến tâm tư nguyện vọng và quyền lợi chính đáng của họ hay không?

Trong lịch sử hiện đại, một anh hùng Núp chỉ có công lớn với người thắng cuộc, trong công cuộc “chống Mỹ cứu nước”. Song anh hùng cũng năm bảy kiểu anh hùng, sau 1975, đồng bào Tây Nguyên cần có thêm nhiều anh hùng khác, góp phần thiết thực, mang lại cơm no áo ấm cho họ, kéo họ lên khỏi đáy vực của u mê, tăm tối, bảo tồn cho họ di sản đất đai, văn hóa do tổ tiên họ để lại. Có như thế, họ mới sẽ dễ dàng hợp tác với chính quyền, không một “thế lực thù địch” nào dám bén mảng đến gần họ.


 

Diễn tiến mới nhất vụ Người Ê Đê tấn công hai đồn Công An ở Ea Tiêu và Ea Ktur

Lời thú tội của kẻ bị coi là cầm đầu nhưng không giống như một người cầm đầu.

YouTube player

Vậy Người Cầm Đầu thực sự là ai?

Mời Các Bạn xem Video sau của Luật Sư Nguyễn Văn Đài:

Đâu là nguyên nhân chánh của mọi đau khổ của Đồng Bào Các Dân Tộc ở  Việt Nam

Phân tích thực hư của Phil Dong:

  • Mâu thuẫn Kinh Thượng đã xảy ra từ nhiều đời qua.
  • Sự áp bức của Cán Bộ và người di cư miền Bắc vào đã dồn đồng bào Ê Đê vào con đường cùng.
  • Hy vọng sau vụ việc này Cộng Sản tỉnh ngộ hơn một chút và nghiên cứu các nguyên do sâu xa dẫn đến sự cuồng trí của đồng bào thiểu số bị áp bức và dồn họ đến con đường cùng.

Mối thù ‘không đội trời chung’ của thủ lĩnh Wagner với bộ trưởng quốc phòng Nga chứng tỏ rằng Putin không còn kiểm soát được nội bộ

Theo nhật báo tốc hành – Daily Express

Việc Evgeny Prigozhin không ngừng nhắm vào Sergei Shoigu, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Nga, bao gồm cả việc công khai kêu gọi xử tử ông bộ trưởng, cho thấy Vladimir Putin ‘không thực sự kiểm soát (nội bộ chóp bu)’, một chuyên gia người Anh về chính trị Nga cho biết.

“Và hơn nữa, ông ấy thực sự đang kêu gọi xét xử và hành quyết Bộ trưởng Quốc phòng Nga Sergei Shoigu. Ý tôi là, điều đó hoàn toàn là một hành động điên rồ dựng tóc gáy và nó chỉ cho thấy rằng Putin không thực sự kiểm soát được.”

Prigozhin đã gây chú ý trong những tuần gần đây với một loạt lời chỉ trích gay gắt đối với các nhân vật cấp cao của Nga, bao gồm cả Shoigu, một trong những người mà ông đã đề xuất nên đối mặt với án tử hình.

Hình trích từ Video của báo Ấn Hindu Times

Đầu tuần này, Bộ Trưởng Quốc Phòng Nga, Shoigu cho biết tất cả các Công ty quân sự tư nhân (PMC), bao gồm cả Wagner, sẽ được đặt dưới sự chỉ huy của quân đội Nga, một đề nghị bị Prigozhin, 62 tuổi, giận dữ bác bỏ.

Ông Matthews, người có cuốn sách Overreach: The Inside Story of Putin’s War Against Ukraine, đã được xuất bản vào đầu tháng này, nói với Express.co.uk: “Những gì đang diễn ra về cơ bản là sự vắng mặt hoàn toàn của sự lãnh đạo từ Điện Kremlin.

Ông Matthews cho rằng “phong cách quản lý” của Putin là luôn có tình trạng cấp dưới “cạnh tranh với nhau”, nhưng những nhân chứng đấu đá nội bộ trong những tháng gần đây ở một cấp độ (nghiêm trọng rối ren) hoàn toàn khác.

Ông  giải thích: “Việc Prigozhin thậm chí vẫn đi trên Trái đất là điều phi thường đối với tôi. “Mẩu tin ít gây ngạc nhiên nhất trên thế giới sẽ là việc Yevgeny Prigozhin bị sát hại.

“Tuy nhiên, những gì ông ấy đại diện là một điều gì đó cực kỳ đáng sợ, bởi vì những gì ông ấy nói là ‘người Ukraine rất cứng rắn, họ được trang bị vũ khí tốt, họ có động cơ rất tốt, người Ukraine là một kẻ thù đáng gờm, và hiện tại chúng tôi đang thua cuộc’. Anh ấy nói điều đó một cách công khai.

Vladimir Putin Yevgeny Prigozhin

Vladimir Putin đối mặt với Yevgeny Prigozhin© 

Owen Matthews tin rằng mặc dù còn quá sớm để coi người sáng lập Tập đoàn Wagner là một đối thủ nặng ký của Tổng thống Nga, nhưng đẳng cấp quân sự của ông chắc chắn đặt ra câu hỏi về việc có bao nhiêu quân sẽ hỗ trợ ông trong trường hợp xảy ra nội chiến.

Ông Matthews nhấn mạnh Prigozhin không thể được coi là một nhân vật của điện Kremlin – nhưng cũng không nên đánh giá thấp ông ta. “Ông ta đã ở tiền tuyến, ông đã bị sa thải, ông thực sự hiểu rõ điều đó.”…

“Nhưng anh ấy cũng nói chuyện với những người Nga bình thường và thông điệp của anh ấy là, ‘những bà mẹ ****** ưu tú,  Điện Kremlin ngồi trong những văn phòng sang trọng và gửi những đứa con trai của bạn ra chiến trường để bị làm thịt, và làm tiêu rữa họ.”

Ông Matthews nói thêm: “Prigozhin là một cựu tù nhân, một đầu bếp và một tỷ phú cung cấp thực phẩm cho Putin, người chỉ huy 50.000 người đàn ông được trả lương từ ngân sách nhà nước Nga. Vì vậy, anh ta không phải là đối thủ của sức mạnh to lớn của nhà nước Nga. Nhưng câu hỏi đặt ra là, bao nhiêu quân đội Nga sẽ đi cùng Prigozhin nếu phải lựa chọn?

“Liệu họ có chọn Prigozhin trong một tình huống kiểu nội chiến không, mặc dù rõ ràng chúng ta vẫn còn một chặng đường dài để xảy ra điều đó.

“Ngay bây giờ, tôi không nghĩ Prigozhin là một ứng cử viên nặng ký cho Điện Kremlin, nhưng thực tế là bạn về cơ bản có chỉ huy của một đội quân tư nhân, cảm thấy rằng ông ta có thể chỉ trích Bộ trưởng Quốc phòng mà không bị trừng phạt là một dấu hiệu của sự vô tổ chức thực sự nghiêm trọng. và sự yếu đuối (của Chính Phủ Putin).”


S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Phiên bản tình yêu

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả:  Tưởng Năng Tiến

Tôi mới lần ra danh sách bộ chính trị đảng CSVN từ 1951-1960. Đó là Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Hoàng Quốc Việt, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chí Thanh, Lê Đức Thọ, Hoàng Văn Hoan, Nguyễn Duy Trinh, Phạm Hùng, Lê Thanh Nghị, và Lê Văn Lương. Phạm Văn Đồng chỉ là nhân vật hàng thứ sáu, chỉ bậc trung thôi… Án chung không thể tội riêng, một mình Phạm Văn Đồng mà dám qua mặt chủ tịch Hồ Chí Minh a? Dám qua mặt đảng Cộng Sản a?

Vũ Điện Biền

Tôi (trộm) nghe nói rằng quân tử ba ngày mà không đọc sách thì diện mạo dơ dáng, và trò chuyện khó nghe. Tôi vốn bẩm sinh mặt mũi không mấy dễ coi, và chuyện trò vô cùng nhạt nhẽo nên (lắm khi) đến vài ba năm cũng chả nhìn đến một cuốn sách nào mà vẫn cứ sống phây phây – chả có (trăng) sao gì ráo trọi.

Tháng trước, tôi được nhà xuất bản Tiếng Quê Hương gửi cho một bộ sách to đùng, dầy hơn ngàn trang (thấy mà ớn chè đậu) tựa là Phiên Bản Tình Yêu (*). Bìa trước và bìa sau đều có hình của hai phụ nữ khỏa thân, và trông (hơi) gợi dục!

Tên tác giả (Vũ Biện Điền) lại hoàn toàn xa lạ. Trong tình yêu, cũng như tình dục, tôi rất ngại chuyện “phiêu lưu” nên lẳng lặng đẩy luôn cái “của nợ” trông rất “ướt át” này vào một góc! Tuần rồi, chả may, giáp mặt người tặng sách – nhà báo Uyên Thao:

– Cậu nghĩ sao về cuốn Phiên Bản Tình Yêu của Vũ Biện Điền?

Tôi đỏ mặt, ấp úng:

– Dạ, em chưa đọc chữ nào.

Dù không nghe nhưng tôi cảm được một tiếng thở dài (cố nén) của người đối diện. Với đôi chút áy náy, ngay tối hôm ấy, tôi đọc hơn bốn trăm trang sách. Sáng hôm sau, cáo bệnh, nằm nhà “chơi” luôn hơn bẩy trăm trang nữa với rất nhiều ngạc nhiên và thích thú.

Mấy thế hệ người Việt liên tiếp vừa qua, ít nhiều, đều là nạn nhân của thời cuộc hay của chế độ hiện hành nhưng chắc chưa có ai ngồi cặm cụi (nhiều năm trời) để ghi lại những nhận xét tỉ mỉ và chính xác của mình về “những loại nhà nước” hiện nay – như Vũ Biện Điền:

Trong số đó đáng kể hơn cả là nhà nước Đảng, còn gọi là nhà nước Quỷ hoặc Siêu Chính Phủ vì nó biến hóa như một cái bóng ma khổng lồ tác nghiệp lên tất cả các nhà nước khác. Ở trung ương, đứng đầu nhà nước này có tổng bí thư, nội các cơ mật là bộ chính trị. Ở địa phương, đứng đầu nhà nước này có bí thư tỉnh ủy, nội các cơ mật là ban thường vụ… Nó là đầu mối của mọi nhũng nhiễu, tai họa và tội ác nhưng rất có tài bẻm mép phủi tay

Tiếp theo là nhà nước Hành Chánh, còn gọi là nhà nước Hành Dân vì bộ nào của nhà nước này cũng có chức năng làm dân khổ cực do đặc tính cửa quyền, nó vâng lệnh đảng như một thứ đầu sai quản lý đất đai và điều hành nô lệ cho chủ nhân, thu gom vô tội vạ tài sản trong nhân dân, sau khi trích nạp cho chủ, nó được quyền chi tiêu xả láng. Ở trung ương, đứng đầu nhà nước này có một chủ tịch không thực quyền, nội các cơ mật là thủ tướng và các bộ trưởng. Ở địa phương, đứng đầu nhà nước này có chủ tịch, nội các cơ mật là ban thường trực và các giám đốc sở…

Thứ ba là nhà nước Quốc Hội, còn gọi là nhà nước Phường Chèo hoặc nhà nước Kỳ Nhông vì đặc tính hát ca véo von theo cách dàn dựng của đảng, nhanh nhạy thay vai đổi màu tùy từng vị trí – ở trung ương nó là lập pháp, ở tỉnh nó là hành pháp, ở tòa án nó là tư pháp. Hình thái nhà nước Quốc Hội về đến địa phương gọi là Hội Đồng Nhân Dân, đặc tính véo von và đổi màu vẫn lưu cửu.….

Thứ bốn là nhà nước Mặt Trận Tổ Quốc, còn gọi là nhà nước Chịu Trận, vì nó là một thứ bung xung vỹ đại hứng đòn – phản đòn – đỡ đòn cho các nhà nước kia. Nhà nước này còn có một chức năng định kỳ như một lò hộ sinh, phù phép hiệp thương ba lên bốn xuống trong mỗi mùa bầu cử, cho ra những đứa con đúng kiểu mẫu đặt hàng của đảng… Quá trình vận động, thành tích cao nhất của Mặt Trận Tổ Quốc là tạo ra Mặt Trận Việt Minh trước trước 1954, và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam trước 1975 – hai lá bài này khá ăn khách, nhưng tới hồi lật tẩy thì vô cùng bỉ ổi!

Thứ năm là nhà nước Quân Đội, còn gọi là nhà nước Vũ Trang… nhà nước này làm bằng sức người và của nả của nhân dân nhưng chỉ trung với đảng. Nên chi nó khu trú ở đâu là lãnh thổ riêng ở đó, từa tựa như một quốc gia trong một quốc gia. Khi cần, nó mạo danh quốc phòng, đưa quân chiếm hữu đất đai, rồi đặt ra định chế tự cấp tự quản… Ở trung ương, đứng đầu nhà nước này có quân ủy, hội đồng cơ mật bao gồm các tổng cục chuyên ngành… Nhà nước này hội đủ tính chất phong kiến trung cổ La Mã, sỹ quan là giai cấp đảng viên gọi là cán bộ, bổng lộc hậu hĩ – hạ sỹ quan và lính (con em nhân dân thi hành nghĩa vụ), gọi là chiến sỹ, chỉ được hưởng sinh hoạt phí vừa đủ cầm hơi tới ngày phục viên…

Thứ sáu là nhà nước Công An, còn gọi là nhà nước Tam Đại vì mỗi thành viên phải có lý lịch ba đời bần cố… vừa nghèo vừa ngu từ đời ông đến đời cháu. Đây là nhà nước bán vũ trang, thừa quan thiếu lính, quyền hành vô giới hạn, bổng lộc vô bờ bến. Không những nhân dân kinh sợ mà một số viên chức các nhà nước khác cũng chùn bước trước những đặc quyền đặc lợi của các ấm tử viên tôn. Lịch sử nhân loại từ xưa đến nay, chỉ dưới thời phát xít Đức-Ý-Nhật và các nước xã hội chủ nghĩa mới có thứ nhà nước kỳ lạ này. Nó đồng hóa mình với đảng chuyên chính, tự quyết tất cả và không chịu một quyền lực nào ràng buộc, một tổ chức nào kiểm soát.

Nguồn phóng ảnh: http://www.bacaytruc.com

Vũ Biện Điền cũng “tính sổ” rành mạch từng vụ một, cùng với tên tuổi rõ ràng của những tên chính phạm. Xin đơn cử vài vụ tiêu biểu:

Công Hàm 1958:

“Tôi mới lần ra danh sách bộ chính trị đảng CSVN từ 1951-1960. Đó là Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Hoàng Quốc Việt, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chí Thanh, Lê Đức Thọ, Hoàng Văn Hoan, Nguyễn Duy Trinh, Phạm Hùng, Lê Thanh Nghị, và Lê Văn Lương. Phạm Văn Đồng chỉ là nhân vật hàng thứ sáu, chỉ bậc trung thôi… Án chung không thể tội riêng, một mình Phạm Văn Đồng mà dám qua mặt chủ tịch Hồ Chí Minh a? Dám qua mặt đảng Cộng Sản a?”

Thảm sát Mậu Thân 1968:

“Tôi đào được danh sách của bộ chính trị nhiệm kỳ ba của đảng Cộng Sản Việt Nam 1960 -1976. Nhìn chung, chẳng ai xa lạ, Hồ Chí Minh chủ tịch, Lê Duẩn bí thư thứ nhất, Trường Chinh chủ tịch quốc hội, Phạm Văn Đồng thủ tướng, Phạm Hùng phó thủ tướng, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp phó thủ tướng kiêm bộ trưởng quốc phòng, Nguyễn Chí Thanh mất năm 1967, Nguyễn Duy Trinh phó thủ tướng, Lê Thanh Nghị phó thủ tướng, Hoàng Văn Hoan phó chủ tịch quốc hội, Trần Quốc Hoàn và Văn Tiến dũng, hai thành viên này được bổ sung từ năm 1972.”

Cách nhìn của Vũ Biện Điền về những người đồng thời với mình – qua lời những nhân vật của ông – cũng khá khắt khe, và rất có thể gây ra tranh cãi gắt gao:

“Nhưng người Hà Nội đến lạ! Họ biết Xã Hội Chủ Nghĩa là cái bánh vẽ cực kỳ thối tha mà cứ hớn hở ngồi vào lột lá bóc ăn và xơn xớt khen ngon khen ngọt đến nỗi người ngoài nhìn vào phát thèm. Họ biết Hồ Chí Minh gian manh xảo trá mà cứ ngoác miệng ngợi ca lúc ông ta còn sống và khóc khô nước mắt khi ông chết. Họ biết bè lũ kế thừa đang đi tiếp con đường của ác quỉ mà vẫn tranh nhau làm tôi mọi, cúc cung tận tụy. Họ biết lịch sử đang rao giảng là thứ cực kỳ giả dối nhưng học thuộc vanh vách, nếu có ai mạnh dạn đính chính thì phồng mang trợn mắt, cãi cối cãi chầy như sợ mất đi độc quyền làm thân sáo vẹt. Họ nhận quá nhiều đau khổ do độc tài đảng trị nhưng không dám đối mặt với kẻ thù cứ ươn hèn đổ vạ cho phong kiến, cho tư sản, cho địa chủ, cho Mỹ Ngụy, xua con em vào chết ở miền Nam mà không biết đang hiến máu cho hung thần và đang hy sinh cho một thiên đường mù… Ngoại trừ một số rất ít sớm thức tỉnh như Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Trần Xuân Bách, Phạm Quế Dương, Nguyễn Thanh Giang, Dương Thu Hương, Lê Hồng Hà, Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc… tôi chưa thấy một tổ chức nào bi phẫn, chưa thấy một đoàn thể nào muốn nắm tay nhau liên kết xuống đường biểu tình, họp mít-tinh vạch mặt chỉ tên bè lũ tay sai Nga – Hoa, tập đoàn phi nhân bản, phản nhân quyền, bọn bán nước cầu vinh…”

Một tác phẩm mang đậm mầu sắc chính trị như thế sao lại có cái tựa trữ tình và ướt át là Phiên Bản Tình Yêu? Trong phần lời tựa nhà văn Trần Phong Vũ đã giải thích (phần nào) như sau:

“Như nhan sách, Phiên Bản Tình Yêu là một chuyện tình – mà là một chuyện tình xuyên thế hệ, mang nhiều kịch tính với những tình tiết éo le, ngang trái, chuyển biến bất ngờ. Nhưng Tình Yêu ở đây chỉ là lớp vỏ, là mặt nổi của một tảng băng sơn giữa đại dương mờ mịt… Cuộc tình xuyên thế hệ ở đây có thể được hiểu như một thứ ‘thang’ để dẫn ‘thuốc’, một chất xúc tác, tạo hấp lực lôi cuốn người đọc đi sâu vào những âm mưu, những màn đấu đá, những trò lường gạt, thay bậc đổi ngôi trong một xã hội người ta nhân danh đủ thứ với những mặt nạ khóc cười, hỉ nộ đã được mã hóa khi thực chất chứa đầy tâm thái tham lam, ích kỷ, độc ác, chỉ vụ thỏa mãn những lợi ích cá nhân, bè nhóm, bất chấp sự an nguy của tiền đồ quốc gia dân tộc. Và trong chừng mực nào đó, với tư cách người chứng, tác giả đã đạt được mục đích của ông.

Tôi cũng tin là Vũ Biện Điền hoàn toàn đạt được mục đích của mình nhưng e rằng ông không thành công (lắm) khi dùng hình thức tiểu thuyết như “một chất xúc tác, tạo hấp lực lôi cuốn người đọc đi sâu” vào “chuyện tình xuyên thế hệ” này. Những nhân vật trong Phiên Bản Tình Yêu (e) hơi quá nhiều kịch tính, nhất là qua những mẫu đối thoại rất dài và (rất) trí tuệ nhưng cũng rất xa lạ với đời thường hay đời thật.

Tất nhiên, đây chỉ là suy nghĩ hoàn toàn chủ quan (và có thể là hoàn toàn sai lạc) của một thường dân mà trình độ thưởng ngoạn nghệ thuật còn nhiều giới hạn. Mong được đón nhận những nhận định khác, từ những người đọc khác, về công trình tâm huyết và đồ sộ này của Vũ Biện Điền.

Con cháu của anh hùng Núp, không… núp nữa!

Báo Tiếng Dân

BM B’krông

17-6-2023

Như chúng ta đều biết, Việt Nam hiện nay là một quốc gia có hình chữ S, với diện tích hơn 300,000 km2, chia làm 3 miền Bắc Trung Nam, có 64 tỉnh thành, dân số khoảng 100 triệu người, bao gồm 54 dân tộc khác nhau. Trong đó, người Kinh, tức người Việt, chiếm khoảng 86%, còn 14% là các dân tộc thiểu số, gọi chung là người Thượng, sinh sống rải rác ở miền núi, cao nguyên.

Trong đất nước này, có một vùng lãnh thổ vô cùng đặc biệt là Tây Nguyên. Đây là nơi mà những người Thượng đã định cư hàng ngàn năm, như người da đỏ Indian định cư ở châu Mỹ. Nếu người da đỏ được coi là người bản địa của châu Mỹ, thì người Thượng ở Tây Nguyên cũng phải được coi là người bản địa của vùng lãnh thổ này. Vùng đất này tiếp giáp với biên giới Campuchia và Lào, là hai quốc gia hiện rất thân thiện với Trung Quốc.

Người Thượng ở Tây Nguyên bao gồm nhiều dân tộc thiểu số khác nhau như người Jarai, Ede, Raglai, Churu, Bahnar, Sedang, Hre, Koho, Mnong, Brau, Rmam, Stieng, Bru-Van Kieu, Katu, Gietrieng, Taoi, Ma, Cor, Chrau… Và một thực tế không thể chối cãi là, những người dân thiểu số hoàn toàn khác biệt với người Kinh, tức người Việt, về mọi mặt như ngôn ngữ, truyền thống, tôn giáo, luật lệ, y phục, văn hoá, tính cách, lối sống… Tương tự như thổ dân da đỏ ở châu Mỹ, hoàn toàn khác biệt với người da trắng từ châu Âu đến xâm chiếm lục địa của họ từ sau thế kỷ 17.

Sau khi cộng sản Việt Nam thống nhất đất nước bằng vũ lực hồi tháng 4-1975, vùng Tây Nguyên mặc nhiên bị sát nhập vào lãnh thổ Việt Nam và trở thành một bộ phận của quốc gia này. Đồng thời, người dân Tây Nguyên mặc nhiên bị đặt dưới sự cai trị của đảng Cộng sản Việt Nam một cách miễn cưỡng. Họ, người Thượng Tây Nguyên, có muốn vậy không? Tất nhiên là không.

Đừng chỉ nhìn Tây Nguyên với con mắt của “khách du lịch”

Trong chiến tranh Việt Nam giữa hai quốc gia Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (ở miền Bắc) và Việt Nam Cộng hòa (ở miền Nam), một số người Thượng đã tích cực tham gia vào lực lượng cộng sản Bắc Việt, chiến đấu chống lại Việt Nam Cộng hòa, không phải vì họ ủng hộ và muốn đưa dân tộc mình đi theo chế độ cộng sản, mà bởi vì họ được giới lãnh đạo cộng sản hứa hẹn rằng, sau khi tiêu diệt được Việt Nam Cộng hòa, nhà nước cộng sản sẽ để cho vùng Tây Nguyên trở thành khu vực tự trị. Tuy nhiên, nhà nước cộng sản đã không bao giờ thực hiện lời hứa đó.

Sau khi thống nhất được đất nước, nhà nước cộng sản không bao giờ cho người Thượng quyền tự trị vùng Tây Nguyên, trái lại, họ nhanh chóng áp đặt quyền cai trị độc đoán lên các dân tộc thiểu số này, bất chấp sự khác biệt sâu sắc về chủng tộc, ngôn ngữ, văn hoá, tôn giáo, luật lệ, lối sống… Và mọi sự bất bình, phản kháng của người Thượng đều bị cộng sản dập tắt bằng bạo lực.

Vậy là, sau nhiều thập niên nhiệt tình hăng hái giúp sức cho “đối tác” cộng sản Bắc Việt tiêu diệt Việt Nam Cộng hòa, cuối cùng, người Thượng bị “đối tác” trở mặt, xâm lược luôn lãnh thổ của mình, biến dân tộc mình thành nô lệ.

Thế lực thù địch xuyên tạc về tình hình ở Tây Nguyên

Nhưng đó mới chỉ là bước khởi đầu, bước tiếp theo mới thật sự kinh hoàng. Trong suốt nhiều thập niên sau khi chiến tranh kết thúc, nhà nước cộng sản Bắc Việt không ngừng thực hiện âm mưu đồng hoá người Thượng Tây Nguyên, xóa bỏ bản sắc dân tộc của họ, bằng nhiều chính sách hiểm độc. Đáng kể nhất là họ liên tục đưa người Kinh (tức người Việt) tới định cư ở vùng Tây Nguyên, chiếm đoạt một cách thô bạo và có hệ thống đất đai canh tác của người Thượng bằng các thủ đoạn nham hiểm, cũng như bằng cái luật đất đai “biến thái” nhất hành tinh, quy định là “đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước quản lý”. Nói một cách thực tế, nghĩa là “toàn bộ đất đai vùng Tây Nguyên đều thuộc quyền sở hữu của đảng Cộng sản Việt Nam”!

Vậy là kết cục đã rõ, vùng đất Tây Nguyên màu mỡ mà tổ tiên người Thượng dày công khai phá hàng ngàn năm qua, rừng núi Tây Nguyên mênh mông trù phú đã nuôi sống nhiều thế hệ người Thượng từ bao đời nay, cuối cùng đã bị đảng cộng sản “sở hữu”! Nhà nước cộng sản tự cho mình quyền “sở hữu” toàn bộ đất đai ở Tây Nguyên, cũng như trên lãnh thổ Việt Nam, với sức mạnh bạo lực trong tay, đã dễ dàng chiếm đất, chiếm rừng của người Thượng ở bất cứ nơi nào họ muốn, bằng thuật ngữ “quy hoạch”.

Nhà nước Cộng sản Việt Nam cho rằng, chiếm đất là cách làm kinh tế hiệu quả vô cùng. Ví dụ, họ chiếm một khu đất A của người Thượng, đền cho người chủ đất 100 ngàn đồng/m2, một cái giá chỉ bằng hai tô phở, để đuổi người ta đi. Sau đó, họ làm dự án nhà ở thương mại hoặc khu dân cư cao cấp gì đó, hoặc chỉ đơn giản là phân lô bán nền cho khách hàng người Việt với giá hàng triệu đồng/m2. Thế là họ kiếm lãi gấp hàng chục, thậm chí hàng trăm lần, so với số tiền bỏ ra “đền bù”, thử hỏi trên thế giới có mô hình kinh doanh nào tạo ra lợi nhuận siêu khủng như vậy không? Thế mà các “thế lực thù địch” cứ chỉ trích nhà nước cộng sản chỉ giỏi chiến tranh, bắn giết, không biết làm kinh tế!

Người Thượng Tây nguyên đã từng chạy sang tỉnh Ratanakiri để lánh nạn cách nay một thập niên

Người Thượng Tây nguyên đã từng chạy sang tỉnh Ratanakiri để lánh nạn cách nay một thập niên

Người Thượng Tây Nguyên bàng hoàng, phẫn nộ và bất mãn. Nhiều lần họ đứng lên phản đối, tranh đấu ôn hòa bằng lý lẽ, quyết bảo vệ đất đai canh tác quý giá mà ông cha để lại, nhưng chỉ dẫn đến một kết cục: Nhà nước cộng sản cho công an hoặc cảnh sát cơ động đàn áp họ bằng bạo lực, chứ không có lý lẽ phải trái gì cả. Người Thượng đã thực sự rơi vào tình thế rất tuyệt vọng. Họ không những không bảo vệ được đất đai, mà còn bị đánh đập, bắt bớ, tra tấn, bỏ tù, sát hại một cách tàn bạo như nô lệ da đen ở nước Mỹ thời xưa. Ngay cả niềm tin tôn giáo của họ cũng liên tục bị nhà nước cộng sản cấm đoán và xoá bỏ một cách quyết liệt. Trong bối cảnh bất lực và cùng quẫn ấy, một số người Thượng đã chọn cách bỏ chạy sang các quốc gia khác xin tị nạn.

Tổ quốc của họ thực sự không còn, nó đã bị giặc ngoại bang xâm lược.

Ước mơ tự trị của người Tây Nguyên như ngọn lửa chưa bao giờ lụi tắt, nhưng bàn tay sắt máu tàn bạo của nhà nước cộng sản đã bóp lấy ngọn lửa ấy và cứ siết chặt dần. Cho đến hôm nay, ước mơ ấy chỉ còn là một bệnh nhân thoi thóp những hơi thở sau cùng trước khi sự sống hoàn toàn tắt lịm.

Vậy trong trái tim của người Thượng Tây Nguyên có cái gì? Sự sợ hãi! Đúng, một nỗi sợ giống hệt nỗi sợ của người nô lệ da đen dành cho các chủ nhân da trắng tàn bạo của mình bên nước Mỹ thuở xưa. Ngoài nỗi sợ ra, họ còn gì nữa không? Còn. Lòng căm thù!

Đúng, một lòng căm thù vĩnh viễn không thể gỡ bỏ, dành cho nhà nước cộng sản, những kẻ xâm lược, những tên “chủ nô” da vàng còn tàn bạo và độc ác hơn đám chủ nô da trắng bên xứ Mỹ thời xưa.

Nếu có một cây đèn thần như trong truyện cổ tích “Nghìn Lẻ Một Đêm”, cho phép họ đưa ra ba điều ước, thì người Thượng sẽ ước gì? Ồ, họ thật sự không cần đến ba điều ước, họ chỉ cần một điều thời. Chắc chắn họ sẽ ước rằng, tất cả bọn cộng sản người Kinh và các đồng chủng da vàng của chúng hãy cút xéo ra khỏi vùng Tây Nguyên ngay lập tức, trả lại quyền tự trị cho người Thượng. Hãy biến đi, và đừng bao giờ quay trở lại với các luật lệ tàn ác xấu xa của mình như điều 331 và 117. Chỉ thế thời.

Với vụ đột kích táo bạo vào hai trụ sở nhà nước cộng sản ở Đăk Lăk ngày 11 tháng 6, giết nhiều công an và cán bộ cộng sản đang tụ tập ăn nhậu và xem bóng đá, được thực hiện bởi một lực lượng vũ trang rằn ri người Thượng, họ đã đưa ra một thông điệp mạnh mẽ và dứt khoát: Đó là họ muốn lấy lại vùng Tây Nguyên, để thành lập quốc gia riêng biệt của mình, như Campuchia và Lào, tách biệt khỏi lãnh thổ Việt Nam, là nước đang bị Đảng Cộng sản cai trị từ 1975.

Ngọn lửa Tây Nguyên có thể chỉ loé sáng một lần rồi vụt tắt trước bàn tay tàn bạo ngày càng bóp chặt hơn của nhà nước cộng sản, với hàng loạt vụ truy lùng bắt bớ người Thượng vô tội vạ sau sự việc, kiểu như “cứ thấy mặc đồ rằn ri là bắt trước đã, rồi tính sau” thậm chí, ai bán đồ rằn ri cũng bị xử phạt, không cần căn cứ theo điều luật, quy định nào cả. Nhưng trong trái tim của người Thượng Tây Nguyên, trong tận cùng sâu thẳm của tâm hồn họ, ngọn lửa ấy không thể nào bị dập tắt được, cũng như niềm tin, niềm hy vọng rằng, một ngày kia họ sẽ tìm thấy cây đèn thần như trong truyện cổ tích “Nghìn Lẻ Một Đêm”, để biến điều ước thiêng liêng duy nhất của dân tộc mình thành sự thật.

Bắt một trong những kẻ cầm đầu vụ dùng súng tấn công trụ sở UBND xã ở Đắk Lắk - Ảnh 1.

Dù kết cuộc có bi thảm hay đẫm máu thế nào, khi dám đứng lên đương đầu với nhà nước cộng sản tàn bạo, cũng xin nghiêng mình kính cẩn trước 40 chiến binh rằn ri, những đứa con của núi rừng bất khuất. Các anh không phải là bọn khủng bố. Đứng lên chống giặc ngoại xâm, sao lại gọi là khủng bố?

Ngọn lửa các anh đốt lên hôm nay sẽ sáng mãi trong tim người Tây Nguyên, sẽ đi vào lịch sử hào hùng của vùng đất huyền thoại này. Vinh quang thay 40 chiến binh vệ quốc, những hậu duệ phi thường của anh hùng Núp năm xưa, các anh đã quyết định không… núp nữa!


 

Lễ Trái Tim Vẹn Sạch Đức Mẹ – Cha Vương

Hôm nay Giáo Hội mừng kính Lễ Trái Tim Vẹn Sạch Đức Mẹ, ước mong bạn cảm nghiệm được sự âu yếm và an ủi nơi Mẹ Từ Bi nhé.

Cha Vương

Thứ 7: 17/06/2023

TIN MỪNG: Maria giữ kỹ mọi điều ấy và hằng ngày suy nghĩ trong lòng. (Lc 2:19)

SUY NIỆM: Đức Piô XII nói: “Tình Hiền Mẫu của Trái Tim Mẹ Maria gần như vô biên. Tâm hồn Mẹ đầy tình hiền ái nồng nàn nhất. Trong giờ phút bi thảm của lịch sử loài người này, chúng con phó thác và hiến dâng chúng con cho Trái Tim Vô nhiễm Mẹ.” Sau đây là những câu gợi ý suy niệm của các thánh ước mong bạn yêu mến Mẹ hết lòng và được Mẹ thương chở che trong mọi hoàn cảnh:

❦ Không trí khôn thụ tạo nào, không trái tim thụ tạo nào, không sức lực nhân loại nào có thể biết được Trái Tim Mẹ Maria yêu mến Chúa chúng ta đến mức nào. (Thánh Giêrônimô)

❦ Tình Chúa yêu thương chiếm trọn Trái Tim Mẹ Maria, đến nỗi Trái Tim Mẹ dầy tràn tình yêu, vì Thiên Chúa không làm bùng lên tình yêu trong trái tim nào khác như trong Trái Tim Rất Thánh Nữ Trinh. Và vì Mẹ thoát khỏi mọi dính bén thế tục để Mẹ lãnh nhận được ngọn lửa thánh này. (Thánh Bênađô)

❦ Đức Nữ Trinh hiển vinh không lặp lại những tác động yêu mến như các thánh, vì trọn cuộc đời Mẹ là một tác động yêu mến liên lỉ do một đặc ân Mẹ luôn luôn yêu mến Thiên Chúa. (Thánh Bênađino)

❦ Mẹ Maria trung thành yêu mến Thiên Chúa trong những giờ phút đen tối nhất và tuyệt vọng nhất, đặc biệt trên đồi Canvê. Mẹ tới một mức độ yêu mến hoàn hảo nhất, cao cả nhất. Điểm căn bản là tâm hồn Mẹ tan hòa kết hợp với Chúa và chỉ yêu mến duy một Thiên Chúa trong mọi sự và mọi nơi. (Thánh Phanxicô Salêsiô)

❦ Chúng ta có thể tìm một nơi náu ẩn nào có bảo đảm hơn Trái Tim từ bi Mẹ Maria? Người khốn khó tìm được sự cứu giúp, kẻ ốm liệt tìm được thuốc thang, người sầu khổ tìm được sự ủi an, người xao xuyến tìm được lời khuyên răn, kẻ thất vọng tìm được sự trợ phù. (Thánh Tôma Kempi)

❦ Chúa Con có đức công bình của Người, Mẹ không có gì, chỉ có tình yêu là Trái tim của Người. Không có ơn nào từ trời xuống mà không qua tay Mẹ. (Thánh Gioan Maria Vianney)

❦ Ai muốn hiểu biết những bí nhiệm thẳm sâu tình yêu Thiên Chúa, và những nhân đức kín nhiệm Thiên tính Chúa Giêsu, thì phải học trong bức gương trong suốt Trái tim Vô nhiễm Mẹ Maria. (Thánh Eymard)

LẮNG NGHE: Một mũi gươm sẽ đâm thâu qua lòng Bà ” (Lc 2:35)

 CẦU NGUYỆN: Lạy Mẹ Maria, xin uốn lòng con nên giống Trái tim Mẹ.

THỰC HÀNH: Đọc chậm và suy niệm Kinh Dâng Mình Cho Đức Mẹ: Lạy Mẹ Maria là Mẹ nhân thay, con xin dâng mình con cho Đức Mẹ và cho chúng con hết lòng làm con Đức Mẹ, thì ngày (đêm) hôm nay con xin dâng con mắt, lỗ tai, miệng lưỡi, trái tim cùng tất cả thân mình con cho Đức Mẹ. Lạy Mẹ Maria là Mẹ khoan thay, này con thuộc về Đức Mẹ thì xin Đức Mẹ gìn giữ con như của riêng Đức Mẹ vậy. Amen. (Bạn có thể đọc ban sáng/tối mỗi ngày)

From: Đỗ Dzũng

Đền tạ trái tim Mẹ – Mai Thiên Vân 

Không cần phải giàu có bạn mới có thể trao đi tình yêu thương

Giả nghèo sống với người vô gia cư, sau nửa năm , ra loạt bài chấn động nước Mỹ

William James – ký giả tờ báo New York Times đã cải trang thành một người lang thang, nghèo khổ và què một chân.

Anh đã trà trộn và sống với những người vô gia cư ở Miami, một thành phố ở tiểu bang Florida, Hoa Kỳ khoảng nửa năm để tìm hiểu cuộc sống của họ.

Ngay ngày đầu tiên, nhìn thấy James tàn tật, ăn mặc rách rưới và bẩn thỉu, từ trong đáy mắt của những người vô gia cư này đã lập tức biểu lộ ra một sự quan tâm, một người đàn ông trong nhóm đã bước đến, đưa cho James một cây gậy gỗ và nói với anh rằng: “Người anh em, hãy cầm lấy nó, như thế sẽ thuận tiện hơn nhiều”.

The State of Homelessness in NYC and How to Help | Broke Ass Stuart's ...

James đưa tay đón lấy cây gậy, dùng tay vuốt ve cây gậy này hết lần này đến lần khác, trong lòng không khỏi cảm kích. Đúng lúc đó, một bóng dáng loang loáng phản ánh trên mặt dường, dáng đi không bình thường, ngẩng lên nhìn, trong lòng James cảm thấy như bị cái gì đó thiêu đốt: người đàn ông đưa gậy lúc nãy đang đi cà nhắc…

Seattle to put up to $11.6 million to help organizations serving ...

Chống cây gậy này, James dường như cảm thấy có một loại sức mạnh vô hình từ nó truyền đến; rất mau, anh đã giành được tín nhiệm của những người vô gia cư này. Họ dẫn James đi đến nơi đặt những chiếc thùng rác ở các siêu thị, đến khu dân cư để thu lượm thức ăn và phế liệu bị người ta vứt đi. Họ còn nói cho James biết nơi nào có nhiều đồ phế liệu, những phế liệu nào đáng tiền và nên đi lượm vào khung giờ nào, .v.v…

Trong một lần trông thấy James bước đi khập khiễng một cách vất vả để lật tìm phế liệu, một anh chàng thanh niên da đen với hàm răng trắng bóng đã bước đến, vỗ nhẹ lên vai của James, đưa cho anh túi phế liệu và nói: “Này người anh em, anh hãy đi sang bên cạnh nghỉ ngơi một chút, túi đồ phế liệu này anh hãy cầm lấy đi!”.

James nghe xong, đứng ngẩn ra đó, như thể không tin vào tai mình: “Vậy làm sao được? Những thứ này cậu vất vả lắm mới lượm được mà!”

Người lang thang đó nghe xong, khẽ nhếch miệng cười, nói một cách rất vui vẻ: “Tôi dễ dàng hơn anh một chút”.

Nói xong, liền quay người bỏ đi.

Can and bottle recycling center in Harlem New York City where homeless ...

James xách túi phế liệu đó, nhớ lại câu mà anh chàng da đen vừa nói khi nãy, trong tâm cảm thấy vô cùng ấm áp và cảm động.  Tới buổi trưa, trong lúc đang cảm thấy đói, một người đàn ông bị còng lưng trong nhóm đi đến trước mặt James, đưa cho anh hai ổ bánh mì và nói: “Này người anh em, hãy ăn đi!“.  James nghe xong, cảm thấy có chút ngại ngùng: “Nếu anh cho tôi, thế thì anh ăn gì đây?”.

Người đàn ông nghe xong, khẽ nhếch miệng cười, nói: “Tôi dễ dàng hơn cậu một chút!”.

Nói xong, liền lảng sang bên cạnh bỏ đi.

- Manhattan, homeless is searching for salvageable items in a rubbish ...

James cầm hai ổ bánh mì trong tay, nước mắt lã chã rơi, phải rất lâu sau đó mới bình tĩnh lại được. Đến tối, James cùng vài người vô gia cư rủ nhau co rúc dưới chân cầu. Nhìn thấy James ngủ ở nơi ngoài rìa chân cầu, một ông lão đầu tóc bạc trắng chầm chậm đi đến, vỗ nhẹ vào vai anh rồi nói: “Này người anh em, cậu hãy đến ngủ ở chỗ tôi, ở đó thoải mái hơn một chút”.

James nghe xong, cảm thấy nghi hoặc nói: “Nếu tôi ngủ chỗ ông, thế thì ông ngủ chỗ nào?” Ông lão đó nghe xong, nhoẻn miệng cười, nói: “Tôi dễ dàng hơn cậu một chút!”

Lại là “tôi dễ dàng hơn cậu một chút !“, James nghĩ, những người vô gia cư sống ở giai tầng thấp nhất trong xã hội này, tuy cuộc sống vô cùng gian khổ, thế nhưng khi họ nhìn thấy người khác khó khăn, đều luôn chìa tay giúp đỡ, họ luôn thấy bản thân mình có một phương diện mạnh hơn người khác.

De Blasio says NYC is 'on the offensive' to tackle staggering ...

James sống chung với những người vô gia cư này hơn nửa năm, trong khoảng thời gian hơn nửa năm đó, sớm chiều ở chung đã khiến anh sinh ra tình cảm thân thiết sâu sắc.

Chàng trai vô gia cư người da đen tên Ali luôn thích nói đùa kia, một tay bị tàn tật, nhưng cậu vẫn luôn thích giúp đỡ những người bị tật cả hai tay. Khi người này bày tỏ cảm kích, cậu luôn thích nói một câu: “Tôi dễ dàng hơn cậu một chút”.

Anh chàng vô gia cư tên Bobby, thính giác ở hai lỗ tai không được tốt lắm, mỗi lần nhặt được thứ gì tốt, luôn thích chia sẻ một chút cho người bạn vô gia cư có tật ở mắt; khi người này bày tỏ sự cảm kích, anh luôn nói một câu, chính là: “Tôi dễ dàng hơn cậu một chút”.

76 homeless people die of coronavirus in NYC - New York Daily News

Anh chàng vô gia cư thân thể ốm yếu tên Chater ấy, luôn thích giúp đỡ người bạn vô gia cư thân thể béo phì kia của mình; khi nhận được sự cảm kích, câu mà Chater thích nói nhất cũng chính là: “Tôi dễ dàng hơn cậu một chút”

Không lâu sau đó, James có một loạt bài viết trên trang New York Times với tiêu đề: “Tôi dễ dàng hơn cậu một chút.” Loạt bài báo đã gây sự chấn động lớn đối trái tim và tâm hồn hàng triệu độc giả thân thiết của tờ báo. James ngập trong những bình luận bất tận đầy xúc động của độc giả gửi về. Một nhà bình luận nói, đó thực sự là một loạt bài đánh thức những trái tim đã ngủ quá lâu trong sự thờ ơ, lạnh nhạt ở một đất nước quá coi trọng sự riêng tư.

Bất kỳ ai đọc loạt bài đó đều muốn ngả mũ chào những người vô gia cư mà họ gặp, với sự kính trọng thực sự. Tuy họ sống ở giai tầng thấp nhất trong xã hội, nhưng họ luôn có thể nhìn thấy bản thân mình có ưu thế hơn người khác, và dùng ưu thế nhỏ nhoi ấy để giúp đỡ những người yếu hơn, mang cho người khác một loại cảm giác ấm áp và dũng khí để tiếp tục sống.

Hàng triệu độc giả của tờ báo danh tiếng hàng đầu thế giới bàng hoàng nhận ra, sự rách rưới, bẩn thỉu, tàn tật hay nghèo khó, không ngăn cản con người trở nên tôn quý và cao cả. Và không cần phải giàu có bạn mới có thể trao đi tình yêu thương, nỗi đồng cảm, thậm chí cả một chút vật chất vốn không có mảy may ra gía trị gì đối với hầu hết mọi người… như là một cây gậy…

James đã viết trong loạt bài gây chấn động của mình rằng: “Tôi dễ dàng hơn cậu một chút”, là câu nói kỳ lạ nhất lưu truyền trong những người vô gia cư, câu nói kỳ lạ nhất mà anh từng đươc nghe thấy trong đời, bởi vì mỗi khi nó được thốt ra từ một người vô gia cư tàn tật, rách nát mà với anh là không thế nào khốn khó hơn, nó bỗng biến thành một sức mạnh cảm hoá mãnh liệt khiến hết thảy những quan niệm cố hữu về người khác, sự lạnh nhạt, vô tình, sự hãnh tiến và ích kỉ của một người ở tầng lớp trên như anh tan biến.

Nó cho anh một thứ niềm tin về cuộc sống mà anh chưa bao giờ cảm thấy khi đến những toà nhà tráng lệ nhất New York, giữa những chính khách, nhà tài phiệt, hay ngôi sao đỉnh cao thế giới…

Và chúng ta, những con người chắc chắn giàu có hơn rất nhiều những người vô gia cư khốn khổ, lại thường là những kẻ kêu ca than phiền nhiều nhất về số phận.

Thực ra cuộc đời sẽ đơn giản và hạnh phúc hơn rất nhiều nếu chúng ta có thể nói: “Tôi dễ dàng hơn cậu một chút” với bất kì ai đó mà bạn gặp trên đường đời.

Bởi vì như những người vô gia cư kia, bạn luôn có thể nói câu nói đầy cảm hứng đó ngay cả khi bạn không có gì cả, ngoài… một trái tim.

From: TU-PHUNG


 

CHÚC LÀNH CỦA NGƯỜI CHA

 

Ðức Hồng Y Cardjin, vị sáng lập của phong trào Thanh Lao Công, đã tự thuật như sau: “Tôi là con của giai cấp công nhân.  Nếu tôi đã có thể trở thành linh mục, là cũng nhờ cha tôi.”  Cha tôi là một công nhân nghèo, người đã phải hy sinh để nuôi dưỡng những đứa con mà hẳn người đã hãnh diện.  Tôi còn nhớ, khi lên 13 tuổi, một buổi tối nọ, khi các anh chị của tôi đã lên giường đi ngủ, tôi rón rén bước xuống nhà bếp.  Tôi đến gần cha tôi.  Người đang ngồi trầm ngâm với chiếc ống điếu.  Còn mẹ tôi thì đang khâu giày cho chúng tôi.  Tôi rụt rè thưa với cha tôi: “Thưa ba, con có thể tiếp tục học không?”  Cha tôi trả lời: “Con ơi, ở tuổi con ba đã phải đi làm rồi.  Nay thì ba đã già và sức ba cũng đã mòn.”

Tôi lấy hết can đảm để thuyết phục cha tôi: “Ba ơi, con nghĩ là Chúa đã gọi con, con muốn trở thành linh mục.”

Bình thường cha tôi là một người ít biểu lộ tình cảm.  Nhưng tối hôm đó, khi vừa nghe tôi cho biết ý định làm linh mục, nước mắt người bỗng từ từ lăn trên gò má…  Và đôi tay của mẹ tôi cũng run lên vì xúc động.

Cuối cùng, khi làm chủ được cơn xúc động, cha tôi mới thốt lên với tất cả cương quyết: “Ba má đã hy sinh quá nhiều…  Nhưng để cho một người con làm linh mục, ba má nguyện sẽ tiếp tục hy sinh.”

Mà quả thực, cha mẹ tôi đã tiếp tục làm việc nhiều hơn nữa để tôi có thể tiếp tục học.  Vừa mãn trung học, 8 ngày trước khi lãnh thưởng cuối năm, tôi nhận được điện tín nhắn tin cha tôi đau nặng.

Dead Body Bed Photos and Premium High Res Pictures - Getty Images

Trên giường hấp hối, cha tôi nhìn tôi mỉm cười: đó là chúc lành cuối cùng mà người dành cho tôi.  Người cha đáng thương, hy sinh cho đến chết để người con được trở thành linh mục.

Sau khi vuốt mắt người, tôi đã thề hứa sẽ hy sinh để trở thành linh mục, nhất là linh mục cho giới công nhân.

Thiên Chúa muốn gọi ai tùy Ngài muốn.  Nhưng tiếng gọi ấy luôn được ngỏ với con người trong một khung cảnh sống cụ thể.  Khung cảnh ấy có thể là gia đình, là chợ búa, là trường học, là chỗ làm việc…  Có những khung cảnh thuận tiện, mà cũng có những khung cảnh không thuận tiện.  Có những nơi hạt giống ơn gọi được nảy mầm, vun xới.  Có những nơi hạt giống ấy bị bóp nghẹt…

Thiên Chúa muốn gọi ai tùy Ngài muốn, nhưng kẻ được gọi luôn là người đang sống cùng, và sống với những người khác.  Do đó, nếu không có sự nâng đỡ của những người xung quanh, hạt giống ơn gọi cũng sẽ mai một dễ dàng…

The best advice I can offer new priests | America Magazine

Chúng ta hãy cầu nguyện cho ơn thiên triệu linh mục và tu sĩ.  Ý thức đầu tiên của chúng ta trong ngày hôm nay phải là: ơn gọi là vấn đề của mọi người Kitô.  Từ gia đình, đến trường học, công sở… mọi người chúng ta đều có trách nhiệm nâng đỡ và bảo vệ hạt giống ơn gọi mà Chúa muốn gieo vào lòng những người anh chị em của chúng ta.

Thánh Gioan Bosco đã nói: phần thưởng quan trọng nhất mà Chúa có thể dành cho mọi gia đình Kitô, đó là kêu gọi một người con làm linh mục.  Phần thưởng trọng đại ấy, Chúa dành cho các gia đình có con cái tận hiến cho Chúa, nhưng Ngài cũng dành cho tất cả những ai cách này hay cách khác biết cổ vũ, nâng đỡ và giúp phát triển ơn kêu gọi…

Sưu tầm

From: Langthangchieutim


 

“Ngọc Sa Mạc” – Quả Chà Là mang lại sự bảo vệ cho Tim Mạch của Bạn

Tổng hợp báo chí về dinh dưỡng

Loại quả được mệnh danh 'ngọc sa mạc', là thực phẩm vàng cho tim
Quả chà là – Ảnh: ST, Soha.

Quả chà là được mệnh danh là ‘ngọc của sa mạc’ đồng thời cũng là vị thuốc quý mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe.

Chà là thuộc chi Phoenix có nguồn gốc từ các vùng đất xung quanh Vịnh Ba Tư. Hiện nay chúng cũng được trồng ở Địa Trung Hải, Châu Á, Hoa Kỳ và Mexico.

Quả chà là là nguồn cung cấp sắt rất dồi dào, giúp bổ máu. Ngoài ra, chà là cũng giúp thúc đẩy sức khỏe tim mạch, tốt cho hệ tiêu hóa, bảo vệ xương,…

Chà là rất giàu kali, glycine và threonine sẽ kích hoạt hormone tạo sữa prolactin. Do đó, nó có thể thúc đẩy sản xuất sữa giúp sản phụ sau sinh.

Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng quả chà là có chứa 15 loại vitamin và khoáng chất với hàm lượng cao Kali, Selen, Ma-giê, giàu vitamin A và C, chất xơ, canxi, sắt, phốt pho, lưu huỳnh, đồng và mangan.

Loại quả được mệnh danh ngọc sa mạc, là thực phẩm vàng cho tim - Ảnh 1.

Chà là khô – Ảnh: ST, trang báo Soha

Chà là là thực phẩm ‘vàng’ tốt cho tim do có thể loại bỏ cholesterol ra khỏi động mạch. Chà là khô cũng chứa ít calo và giúp chống lại cholessterol ‘xấu’. Trong quả chà là có nhiều Kali là khoáng chất quan trọng giúp cơ thể chống lại bệnh cao huyết áp – một trong số những nguyên nhân chính dẫn tới bệnh tim.

Cư dân Trung Đông và các nước Bắc Phi cũng sử dụng chà là như là một vị thuốc tự nhiên để điều trị các loại bệnh như đau họng, cảm lạnh.

Quả chà là cung cấp nhiều chất chống oxy hóa,  So với các loại trái cây tương tự, chẳng hạn như sung và mận khô, chà là có hàm lượng chất chống oxy hóa cao hơn cả 2 loại trên. Dưới đây là ba chất chống oxy hóa mạnh nhất trong quả chà là:

    • Flavonoid: Flavonoid là chất chống oxy hóa mạnh có thể giúp giảm viêm và đã được nghiên cứu về khả năng làm giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường, bệnh Alzheimer và một số loại ung thư.
    • Carotenoids: Carotenoids được chứng minh là có tác dụng thúc đẩy sức khỏe tim mạch và cũng có thể làm giảm nguy cơ mắc các chứng rối loạn liên quan đến mắt, chẳng hạn như thoái hóa điểm vàng.
    • Axit phenolic: Được biết đến với đặc tính chống viêm, axit phenolic có thể giúp giảm nguy cơ ung thư và bệnh tim mạch chuyển hóa.

Ăn quả chà là thường xuyên có thể giúp cải thiện chức năng não. Các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đã phát hiện ra quả chà là rất hữu ích trong việc giảm các dấu hiệu viêm, chẳng hạn như interleukin 6 (IL – 6), trong não. Mức độ IL – 6 cao có liên quan đến nguy cơ cao mắc các bệnh thoái hóa thần kinh như Alzheimer’s.

Quả chà là tốt cho não
Quả chà là có thể giúp bạn cải thiện chức năng não bộ

 

Chống loãng xương: Quả chà là chứa một số khoáng chất trong đó có: phốt pho, kali, canxi và magiê. Tất cả những chất này đã được nghiên cứu chứng minh về khả năng ngăn ngừa các bệnh liên quan đến xương nhưloãng xương.

Kiểm soát lượng đường trong máu ở mức ổn định: Quả chà là có khả năng giúp điều chỉnh lượng đường trong máu do chỉ số đường huyết (GI) thấp, chất xơ và chất chống oxy hóa. Do đó, ăn quả chà là có thể có lợi cho việc kiểm soát bệnh tiểu đường.


 

ĐI CẢ THẾ GIỚI, CHỈ CÓ MỘT ĐỒI CÙ

Kim Dao Lam

Nên nhớ, Đồi Cù là CÔNG VIÊN, CÔNG THỔ !!!

Nay ai dám chiếm làm của riêng và phá hoại !?!?!?!?

Cả một lũ lộng quyền vô pháp vô thiên !!!

***

[ RỪNG KHÓC]

——- ——

ĐI CẢ THẾ GIỚI, CHỈ CÓ MỘT ĐỒI CÙ

– Trịnh Sơn –

Tui đã đến Tam Đảo, tui đã lội Bà Nà. Tam Đảo với Bà Nà khá tương đồng về cảnh quan. Vài năm gần đây 2 nơi này rộn lên du lịch do Mặt Trời Group gọt núi đầu tư. Ồn có ồn đó, tuy nhiên nói đến 2 cái tên này thì Làm Sao So Bì cho lại địa danh Đà Lạt được. Nói cái tên Đà Lạt hầu như toàn dân đều biết.

Trong Đà Lạt có cái mảng xanh Đồi Cù bên bờ Hồ Xuân Hương. Biết Đà Lạt là biết Đồi Cù-biết Đồi Cù là biết Đà Lạt.

Đồi Cù diện tích tầm 72 hécta. 1kilomet đường xe hơi. Nay nó trên 100 năm tuổi. 1920 ông Bảo Đại kí duyệt làm lên nó, 1922 xong. Nay 101 năm rồi. Nhớ thời 1990 từ viện Đại Học Đà Lạt, tui có thể lon ton đi bộ xuyên Đồi Cù lội tới Hồ Xuân Hương vì thời đó không có rào. Thời đó nó đúng là của toàn dân Đà Lạt. Giờ nó của 1 thằng mặt L ất ơ nào đó!

Nói đến Đồi Cù cả nước/cả thế giới chỉ có 1 Đồi Cù. Nói đến trung tâm thương mại cả nước này nghìn nghìn trung tâm thương mại, và chả mấy ai cần biết tên hết chi.

Trung tâm thương mại chỉ là nơi đến để mua sắm rồi về. Xây ở đâu cũng được & mua ở đâu cũng dễ. Đồi Cù chỉ có một, mất rồi nghìn năm sau không có đẻ ra lại được.

Vậy mà người ta vẫn kí phê duyệt cho xoá sổ Đồi Cù đi. Chủ đầu tư vô tâm, vô cảm, khốn nạn… đã đành, nhưng kệ cụ nó. Cái đứa kí phê duyệt, kí làm chi?

Trung tâm thương mại chắc là tầm vài nghìn mét vuông! Rồi vài trăm nghìn mét vuông còn lại nào là biệt thự, nhà hàng, quán bar, khu phức hợp nghỉ dưỡng vui chơi…phân lô bán nền chứ chạy đi đâu.

.

Bạn nói bạn yêu Đà Lạt hãy cùng tôi góp lời đi.

Cái trung tâm thương mại Vin Mark ở Đà Lạt đã ế dẹp tiệm lâu rồi. Giờ mọc thêm trung tâm thương mại chi nữa mà mọc ngay cái vị trí siêu kim cương như thế? Muốn vô trung tâm thương mại, tỉnh nào cũng có rồi mà.

.

Làm ơn, tui lạy các ngài hãy trả Đồi Cù, lại là 1 Đồi Cù xanh ngút ngát đi!

Trả Đồi Cù lại là 1 công viên Công Thổ giữa lòng Đà Lạt cho toàn dân đi!

Tui lạy, nếu trả lại hứa sẽ đọc kinh thánh cầu nguyện+đọc kinh Phật nguyện cầu cho gia đình các vị bình an. Còn vẫn cứ phá, đây xin lỗi tui sẽ trùuuu cho gia tộc các người lọt mịa hết xuống….

 

(Đà Lạt, còn thấy đau là còn thương.)

St.

LeVanQuy share từ FB Canh Le