NGƯỜI NỮ CÔNG GIÁO VIỆT NAM THỜI CẤM ĐẠO

NGƯỜI NỮ CÔNG GIÁO VIỆT NAM THỜI CẤM ĐẠO

Tạ Thanh Minh-Khánh

1/16/2013

nguồn:vietcatholic.net

Sự hiểu biết của tôi về chuyên đề nầy rất giới hạn, lại nữa cũng không có được
nhiều tài liệu để tham khảo, tôi chỉ cố gắng sắp xếp những gì đọc được, xem như
góp chút phần nhỏ vào việc chung : nhớ về kỷ niệm 25 năm tôn phong hiển thánh
117 vị tử đạo Việt Nam (1988-2013).

I. Bối cảnh lịch sử thời cấm đạo

Nước ta lúc ấy, thế kỷ 16, thời Nam Bắc phân tranh, các vua chúa Lê, Mạc rồi
Trịnh, Nguyễn đều cho phép mở cửa biển đón các tàu buôn ngoại quốc vào giao
thương. Bởi thế, mới có người Âu Châu sang Việt Nam để buôn bán và truyền đạo.

Khi đó vua Lê giữ hư vị. Họ Trịnh và họ Nguyễn cùng dùng danh nghĩa phò Lê,
nhưng đều mưu cũng cố cơ nghiệp riêng.

Họ Trịnh xưng chúa, cha truyền con nối, nắm giữ quyền hành ở miền Bắc, xưa gọi
Đàng Ngoài.

Cũng thế, họ Nguyễn lập nghiệp chúa ở phương Nam, gọi Đàng Trong.

Sau 7 lần đánh nhau (45 năm) mà chưa bên nào trọn thắng, nên đồng ý lấy sông
Gianh làm ranh giới, mỗi bên tự lo việc trị an, kinh tế, văn học và ngoại
thương. Chúa Trịnh mở cảng Phố Hiến (Hưng Yên), chúa Nguyễn mở cửa Hội An
(Quảng Nam) cho các tàu buôn của nước ngoài vào buôn bán và các giáo sĩ Tây
phương đã theo tàu buôn nhập cảnh Việt Nam. Thế giới bấy giờ có trào lưu bành trướng thuộc địa, liên kết những người cầm quyền chính trị với các tập đoàn thương mại đi tìm thị trường. Bồ Đào Nha tới Ma Cao (Tàu), Tây Ban Nha bảo hộ Phi Luật
Tân, Hòa Lan chiếm Java (Indonesia) làm thuộc địa. Sau đó mới có thêm Anh, Pháp
đến Ấn Độ.

Bài nầy giản lược, chỉ kể lại một số sự việc liên quan đến vấn đề truyền giáo
tại Việt Nam.

II. Sự hiện diện của các giáo sĩ Âu châu tại Việt Nam

Lúc đầu, chỉ là các giáo sĩ Bồ Đào Nha làm tuyên úy cho thương thuyền, từ từ về
sau mới có thêm giáo sĩ Tây Ban Nha và Pháp đến giảng đạo.

Ngoài Bắc, vua Lê chúa Trịnh

Trước đó, từ đời nhà Mạc (1527-1592) đã có giáo sĩ Tây phương vào truyền đạo.

1533, thời vua Lê Trang Tông có người tên Inê Khu (Ignatio) đi đường biển vào
giảng đạo ở làng Ninh Cường, Quần Anh (Nam Định) và làng Trà Lũ, huyện Giao
Thủy. (Theo sách Khâm Định Việt Sử)

– 1583 Các giáo sĩ Diego de Oropesa, Bartolomeo Ruiz, Petro Ortiz, Francisco de
Montila và 4 trợ sĩ dòng Phanxicô từ Phi Luật Tân theo tàu Bồ đến truyền giáo
tại Thăng Long, Bắc Việt.

– 1590 giáo sĩ Ordeonez de Cevallos đi tàu gặp bão, trôi giạt đến bờ biển Bắc
Việt, được vua Lê Thế Tông tiếp kiến. Chị của vua là công chúa Chiêm (giữ tước
vị nhiếp chính vì vua còn vị thành niên) được cha Cevallos dạy đạo và rửa tội,
tên thánh gọi Mai Hoa (Việt-hóa tên Maria). Bà là con vua Lê Anh Tông.

– 1626 giáo sĩ Giuliano Baldinotti, dòng Tên và trợ sĩ Giulio Piani (người
Nhật) theo tàu Bồ Đào Nha đến Bắc Việt, được chúa Trịnh Tráng tiếp kiến vì cha
Baldinotti giỏi thiên văn, được nhà chúa yêu cầu giải thích việc vận hành các
tinh tú, được đãi tiệc và tặng phẩm vật. Chúa Trịnh còn gửi thư và lễ vật đến
ĐGH Urbano VIII hứa sẽ thu xếp chỗ ở cho các giáo sĩ tới giảng đạo.

1627 giáo sĩ Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) và Pedro Marquez đến Cửa Bàng (Thanh Hóa), xin vào yết kiến chúa Trịnh Tráng ở Hà Nội. Cha dâng tặng một đồ hình quả đất có chữ Hán do các giáo sĩ bên Tàu dịch, và chú thích. Sau đó, được nhà chúa vời đến giải thích thêm. Lần nầy, cha biếu một đồng hồ treo có chuông
gõ báo giờ với kim ngắn chỉ giờ, kim dài chỉ phút. Đây là chiếc đồng hồ đầu
tiên tới đất Bắc. Chúa Trịnh có cảm tình cho phép cha truyền đạo trên lãnh thổ
thuộc quyền (theo Việt Sử Giai Thoại, Đào Trinh Nhất). Cha Đắc Lộ đã dạy đạo,
rửa tội cho người em gái chúa Trịnh, tên thánh gọi Catarina. Cha còn được phép
cất một nhà thờ ở gần đền vua.

– 1631 chúa Trịnh Tráng muốn các tàu Bồ Đào Nha trở lại buôn bán nên cho phép
các giáo sĩ Antonio de Torres, Francesco Gardim, Gasparo d’Amiral trở lại miền
Bắc.

– 1647 vua Lê Chân Tông ban sắc nhận giáo sĩ dòng tên Felix Morelli làm dưỡng
tử (Dòng Máu Anh Hùng III, Vũ Thành trang 341).

– 1676 giáo sĩ Juan de Santa Cruz và Juan Arjona đến Trung Linh, Phố Hiến (Hưng
Yên).

– 1678 một người Pháp tên Boureau-Deslandes vào yết kiến chúa Trịnh, dâng thư
của vua Louis XIV xin cho các giáo sĩ vào giảng đạo tại Việt Nam.

– 1685 chúa Trịnh Căn không làm khó việc truyền giáo, bằng lòng nhận quà của
vua Pháp Louis XIV gởi tặng.

– 1745, thời chúa Trịnh Doanh, mời 6 cha dòng Tên giảng dạy toán học. Nhưng khi
các ngài đến nơi thì nhà chúa đổi ý.

– 1748 chúa Trịnh Sâm đình chỉ việc cấm đạo vì trong chiến lợi phẩm thu được có
một số súng ghi chữ Hòa Lan. Nhà chúa cho lệnh tìm các giáo sĩ. Bấy giờ cha
Vinceslas Paleuk, dòng Tên, quốc tịch Đức đang ẩn trú ở Hà Nội, biết tiếng Hòa
Lan, giải thích được nhà chúa hài lòng.

Trong Nam, chúa Nguyễn

– 1550 giáo sĩ Gaspar de Santa Cruz, dòng Đa Minh, từ đảo Malacca, theo tàu
buôn Bồ Đào Nha đến truyền giáo tại Hà Tiên.

– 1580 giáo sĩ Luis de Fonseca và Grégoire de la Motte, dòng Đa Minh, cũng từ
Malacca đến truyền giáo tại Quảng Nam.

– 1596 đời chúa Nguyễn Hoàng, có giáo sĩ Tây Ban Nha Diego Adverte vào Nam
giảng đạo. (theo sách Nam Sử của Trương Vĩnh Ký)

– 1615 giáo sĩ Francesco Buzomi và Diego Carvalho tới Đà Nẵng.

– 1619 chúa Nguyễn Phúc Nguyên cho phép các giáo sĩ dòng Tên tự do đi lại
truyền đạo. Các cha còn được phép cất hai nhà thờ ở Hội An và Quảng Nam.

Quan trấn thủ Bình Định cũng mời cha Francesco Buzomi tới truyền giáo và cất
cho một nhà thờ.

– 1620 giáo sĩ Cristoforo Borri người Ý truyền đạo tại Nước Mặn (Bình Định).

– 1624 cha Francesco di Pina dạy đạo và rửa tội cho bà Minh Đức Vương Thái Phi,
vợ thứ chúa Nguyễn Hoàng, tên thánh gọi Maria Mađalêna và 50 người trong giới
quan lại, học thức.

– 1640 cha Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) trở lại Thuận Hóa, dâng biếu nhiều lễ
vật cho chúa Nguyễn Phúc Lan, hi vọng nhà chúa nới tay cho các giáo sĩ giảng
đạo, nhưng rồi sau đó chính cha cũng bị trục xuất (1645).

– 1645 hai giáo sĩ và 4 chị dòng Thánh Phanxicô Tây Ban Nha bị nhà cầm quyền Bồ
Đào Nha trục xuất khỏi Macao (khi ấy thuộc quyền bảo hộ của Bồ Đào Nha). Trên
đường về Phi Luật Tân, tàu bị bão, ghé vào Hải Phố (Cửa Hàn) được chúa Nguyễn
Phúc Lan cho vào kinh, được bà Minh Đức Vương Thái Phi tiếp đón tử tế và ngỏ ý
xin các chị một chiếc áo dòng để mặc lúc lâm chung.

– 1656, 1657 : chúa Nguyễn Phúc Tân thắng chúa Trịnh ở Bố Chính, định tiến quân
ra Bắc nên dễ dãi cho hai giáo sĩ Francisco Rivas và Pedro Marquez được giảng
đạo, miễn không rời khỏi Cửa Hàn và Hội An.

– 1704 chúa Nguyễn Phúc Chu lơi việc cấm đạo do bởi giáo sĩ Juan (Antonio) de
Arnedo, dòng Tên Tây Ban Nha được trọng dụng (nhà toán học của triều đình) vì
cha rất giỏi thiên văn và là thầy thuốc riêng của nhà chúa. Thời ấy cha
Langlois còn được phép làm thuốc chữa bệnh miễn phí cho người nghèo.

– Về sau chúa Nguyễn Phúc Khoát (1725-1768) cũng dùng cha Siebert làm y sĩ cho
triều đình và khi anh em nhà Tây Sơn khởi nghĩa cũng nhờ một cha dòng Phanxicô
làm y sĩ.

– 1777 Giám Mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) được quan trấn thủ Hà Tiên cho
đến truyền giáo. Họ đạo Hà Tiên được thành lập trên phần đất của quan trấn thủ
tặng.

Trên đây là một số giao tiếp của vua, chúa với các giáo sĩ Tây phương lúc ban
đầu, thời Trịnh – Nguyễn phân tranh.

III. Thời cấm đạo

Rồi các giáo sĩ cứ dần dần vào nước dạy đạo, mà người mình càng ngày càng theo
đạo cũng nhiều. Nhưng nước ta, từ xưa đến nay vẫn theo Nho giáo, lấy sự thờ
cúng ông cha làm trọng, lấy sự tế tự thần thánh làm phải… Đột nhiên thấy nhiều
người mình theo đạo Thiên Chúa, bỏ cả các thói cũ, chỉ chuyên về một mặt theo
đạo mới, bởi vậy cho nên trong Nam, ngoài Bắc, vua chúa đều cho ấy là một tả
đạo, làm hủy hoại cả cái phong hóa của nước nhà xưa nay, bèn xuống chỉ cấm
không cho người trong nước theo đạo nữa và đặt ra phép nghiêm để bắt tội những
kẻ không theo chỉ dụ ấy. (Việt Nam Sử Lược II, Trần Trọng Kim, trang 99)

Liên tiếp khởi từ Trịnh – Nguyễn phân tranh, rồi nhà Tây Sơn và các vua nhà
Nguyễn sau đó (Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức) vẫn duy trì việc cấm đạo.

Vua Gia Long vì mang ơn Giám Mục Pigneau de Béhaine, Bá Đa Lộc (giúp đỡ lúc sa
cơ cùng cực, chưa lên ngôi vua, bị nhà Tây Sơn truy lùng) nên ban phép cho
giảng đạo nhưng không ban hành sắc dụ nào bãi bỏ việc cấm đạo.

Lý do cấm đạo : Lý do chính được nêu truyền là người tín hữu Ki-tô không thờ
kính tổ tiên. Tại sao việc tôn kính tổ tiên lại trở thành vấn đề trầm trọng khi
mà điều răn thứ tư của Thiên Chúa giáo có ghi rõ “thảo kính cha mẹ” ? Nghĩa vụ
hiếu đạo khuyên nhắc con cái hành xử đối với cha mẹ khi còn sống cũng như lúc
đã qua đời không khác văn hóa tín ngưỡng Gia tiên “sự tử như sự sinh, sự vong
như sự tồn”?

Ngoài ra, có lẽ còn một lý do khác là luật “một vợ một chồng”. Có lần vua Gia
Long nói với GM Pigneau de Béhaine : Đạo của Đức Cha là một đạo tốt lành, nhưng
nghiêm khắc quá, ai mà có thể giữ được ? Tôi không thể nào chỉ cưới có một vợ.
(Dòng Máu Anh Hùng II, Vũ Thành, trang 5)

Lịch sử truyền đạo Thiên Chúa vào Việt Nam đã từng là đề tài tranh luận. Theo
nhà văn Thế Uyên, ông Trần Quốc Vượng, tác giả quyển Trong Cõi đã chiếu một cái
nhìn ngay thẳng của sử gia vào thời kỳ đầu của đạo Công giáo ở miền Bắc.

Thoạt kỳ thủy đạo Thiên Chúa được truyền bá vào Việt Nam thì nó lại được sự
hưởng ứng trước hết của những người nghèo, trước hết là dân chài, những người
bị gạt ra ngoài lề của xã hội Quân chủ Nho giáo và những người bình dân nghèo
khó.

Đi thực tế điền dã và điều tra hồi cố ở miền Bắc Việt Nam, tôi nhận thấy các
cộng đồng Thiên Chúa Giáo Việt Nam được phát triển trước hết ở vùng ven biển,
các cửa sông tập trung nhiều dân chài. Do nhu cầu tâm linh, dân chài có nhu cầu
tôn giáo, nhu cầu cúng quẩy… Thế mà từ đại triều đình ở Thăng Long đến các tiểu
triều đình làng xã Việt Nam ngày trước đều gạt dân chài ra rìa, không những các
sinh hoạt xã hội cộng đồng mà cả các sinh hoạt tâm linh tôn giáo cộng đồng.

… Khi đạo Thiên Chúa được truyền bá đến với lý tưởng ”Bác Ái” và tình ”Huynh
đệ phổ quát”, dân chài và dân cày nghèo ”cùng đinh” của làng xã và xã hội
Quân chủ Nho giáo lập tức theo Công giáo ngay… Đạo Thiên Chúa vào ngày ấy có
tác dụng giải tỏa dồn nén những người cùng đinh và dân chài Việt Nam, những
người ở vị thế bên lề.

Ông nhận xét Xã hội Việt Nam là xã hội Nho giáo phụ hệ nên chỉ đàn ông mới ra
đình hội họp và tế lễ, thỏa mãn được nhu cầu tâm linh. Trong khi đó, Công giáo
tôn trọng phụ nữ hơn nhiều, các nữ tín đồ được ngồi chung với nam trong mọi
buổi lễ ở nhà thờ.

Chế độ đa thê tạo ra tầng lớp bị thiệt thòi nhiều là các bà vợ lẽ, nàng hầu ;
bởi thế thành phần nầy theo đạo trước tiên”. Theo ông Trần Quốc Vượng Sự truyền
bá đạo Thiên Chúa vào Việt Nam là một phương tiện vô thức và hữu thức phủ định
nền văn hóa Nho giáo cổ truyền và đưa Việt Nam vào quĩ đạo giao lưu văn hóa Tây
phương. Vì lẽ đó mà vua chúa Việt Nam cấm đạo. (Thế Uyên đọc “Trong Cõi” của
Trần Quốc Vượng, NXB Trăm Hoa, CA, U.S.A. – Báo Hợp Lưu số 10 tháng 2-1993,
trang 184-187)

Các sắc lệnh cấm đạo : Khởi từ vua Lê, chúa Trịnh-Nguyễn, nhà Tây Sơn rồi nhà
Nguyễn (vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức) ghi được tất cả 54 sắc lệnh cấm đạo
và 2 kiến nghị của các quan triều (năm 1826, 1830) mục đích thắt ngặt thêm sự
bách hại.

Ban đầu cấm không cho theo đạo, cấm giảng đạo, trục xuất giáo sĩ Tây phương,
rồi hiểu dụ, phạt vạ, đeo gông xiềng xích, giam tù, tra khảo, tịch thu ảnh
tượng, của cải, tài sản, phá hủy nhà thờ, trường học, khắc chữ “tả đạo” lên
mặt, phân sáp, lưu đày biệt xứ, cuối cùng đến xử tử, voi giày, thắt cổ, bỏ đói
cho chết, thiêu sống, trói cột từng 5 người thả trôi sông, chém đầu quăng sông,
xử phân thây…

Các biện pháp trừng trị được áp dụng từ hạ tầng cơ sở, thôn ấp, xã làng,
huyện tỉnh tới tận kinh đô :

– Trẻ trên 15 tuổi phải thường xuyên trình diện định kỳ trước nhà cầm quyền sở
tại.

– Nam 20 tuổi bị xung vào quân ngũ làm tạp dịch.

– Đàn ông bị cưỡng bách đánh trận dẹp giặc loạn.

– Đàn bà làm nô tỳ trong các nhà quan.

– Phân sáp : chia rẽ các thành phần trong gia đình, cha mẹ, con cái, anh em đày
đi các nơi khác nhau.

– Công quyền không thu dụng người bên đạo. Đang làm việc phải chối bỏ đạo, nếu
không thì bị giáng cấp lưu đày, bãi nhiệm, xử tù hay xử tử.

– Cấm cho người bên đạo vay tiền, cấm đi lại buôn bán, đóng cửa các tiệm buôn
có sẵn.

Ki-tô giáo bị coi là “tả đạo” rồi “dịch tể” (Sắc lệnh vua Tự Đức 7-6-1857),
người Tây phương bị coi là “mọi rợ”, không dung thứ người “mọi rợ” đến giảng
đạo, cấm các sách viết bằng chữ “mọi rợ” (chữ quốc ngữ thuở ban đầu. TTMK),
tịch thu và tiêu hủy tất cả (Kiến nghị của quan Bộ Hình năm 1830). Dân Việt Nam
bên đạo gọi là “dữu dân” (dân xấu).

IV. Người nữ thời cấm đạo

Dù không có điều kiện để đọc được nhiều sử liệu về nữ giới thời cấm đạo, tôi
vẫn nhìn thấy rải rác đó đây hình ảnh phụ nữ trong suốt tiến trình truyền giáo
tại Việt Nam ; giới hạn ở bài nầy là thời kỳ 300 năm bị ngăn cấm bách hại. Trừ
một số ít có được vài chi tiết, phần đông chỉ ghi vắn tắt tên thánh (lúc rửa
tội) không có tên Việt đi kèm.

Trong hàng phẩm tước

Công chúa Mai-Hoa con vua Lê Anh Tông. Để rảnh tay với người Chiêm ở mạn
Nam, nhà vua có cưới một công chúa người Chiêm là em vua nước Chiêm Thành. Khi
vua nước nầy chết, không con nối nghiệp, con gái mới sinh của vua Lê Anh Tông
(công chúa Mai-Hoa – TTMK) được hưởng tước Bà chúa Chiêm, hay Bà chúa Chàm hoặc
Chèm. Bà vào đạo năm1591, kéo theo các nàng hầu, cung nữ, tất cả 72 người.

Bà cho sửa sang khu chính cung điện thành nhà nguyện, cha Ordeonez de Cevallos
(người rửa tội cho bà) đã đến dâng lễ lần đầu. Bà còn lập tu viện Đức Mẹ Vô
Nhiễm, ngày đó có 51 người nữ gia nhập đời sống tu trì (Có lẽ chỉ là sống
chung, để cùng nhau giữ đạo, rèn tập nhân đức, làm việc từ thiện… chớ không hẳn
là dòng tu với thủ bản, lề luật. Đến 1670 dòng Mến Thánh Giá mới được thành lập
qui cũ và là dòng nữ đầu tiên trên đất nước Việt Nam). Nhờ bà, có thêm nhiều
người chịu phép rửa. Vua em, Lê Thế Tông cho bà một khu đất rộng, để lập một
làng đạo Gia-tô. Bà Hoàng Thái Hậu cũng nhận phép rửa trước khi qua đời. “Hiện
nay vẫn còn một nền nhà thờ và một giếng Da Tô do công chúa cho đào tại An
Trường, xã Phúc Lập, Thanh Hóa”. (theo Bách khoa Toàn thư Wikipedia.org : công
chúa Mai Hoa)

Bà Minh Đức Vương Thái Phi (1568-1648) mẹ chúa Nguyễn Phúc Nguyên và
Nguyễn Phúc Khê. Bà là vợ thứ chúa Nguyễn Hoàng, đã giúp chồng dựng nghiệp, lại
có con trai nối nghiệp chúa, nên việc bà nhập đạo cũng có ảnh hưởng. Bà cất một
nhà nguyện rất đẹp trong khu dinh của bà, người bên đạo được tự do tới lui thờ
phượng. Bà bảo vệ nhà nguyện qua những lần cấm cách gắt gao. Bà đưa được nhiều
người có vị thế trong phủ chúa, hoàng gia vào đạo.

Năm 1643 các thầy giảng tổ chức lễ giáng sinh ở dinh Tổng Trấn Nguyễn Phúc Khê.
Không có linh mục hành lễ, chính bà Minh Đức Vương Thái Phi đã nói về ý nghĩa
Chúa Giáng Trần.

Cha Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) cũng có dịp làm lễ ở nguyện đường nầy. Năm đó,
1639, cha rửa tội cho ba người trong hoàng tộc và một thầy sãi nổi tiếng.

Bà mộ đạo, đến cuối đời còn tiếp đón tử tế hai giáo sĩ và bốn chị dòng Phanxicô
Tây Ba Nha, ngỏ ý xin một chiếc áo dòng để mặc lúc lâm chung, hưởng thọ khoảng
80 tuổi.

Công chúa Catarina Em hay chị của chúa Trịnh Tráng (vì tài liệu tiếng
Pháp chỉ ghi là sœur). Bà được cha Đắc Lộ dạy đạo và rửa tội khoảng năm 1627.
Bà nhiệt thành truyền đạo, kết quả là 18 người trong hoàng cung, có thân mẫu
bà, theo đạo.

Bà viết “Lịch Sử Giáo Hội” bằng chữ nôm. “Bà đặt thành thơ, vãn tất cả lịch sử
đạo Công giáo bắt đầu từ tạo thiên lập địa đến khi Chúa xuống thế làm người,
đời sống, cuộc tử nạn, phục sinh và lên trời của Đấng Cứu Thế, Chúa Giêsu
Ki-tô, Chúa chúng ta, và ở cuối còn phụ thêm đoạn kể chuyện chúng tôi (các cha
dòng Tên – TTMK) tới xứ Tonkin và truyền giáo ở đó. Bà làm rất hay. Sau nầy vãn
còn được các người có đạo truyền tụng cho nhau, họ ngâm lén, lúc làm việc ở
nhà, ngoài đồng hay lúc đi đường. Dân bên lương cũng thích ngâm vịnh ; nhờ
những thơ, vãn đó mà nhiều người đã trở lại”. Bà còn bắt chước làm các ảnh
tượng bằng sáp theo mẫu cha Đắc Lộ phân phát (không đủ) để đưa tiếp cho các
người mới theo đạo.

Bà Mađalêna (Phú Yên) là vợ trấn thủ dinh Trấn Biên. Sau khi vào đạo, bà
lập nhà nguyện ngay trong tư dinh, với sự đồng ý của chồng. (Ông không theo
đạo, nhưng mến đạo). Có lần bà mời cha Đắc Lộ vào dinh dâng lễ, cha lưu lại đó
4 ngày để dạy giáo lý, rửa tội 90 người, trong số đó có con gái bà. Bà còn mở
nhà thương, đi thăm kẻ yếu, người già, người nghèo. Được nhiều người tiếp giúp
; nhờ thế nhiều người theo đạo.

Bà Ursula phu nhân đại sứ An Nam tại Cao Miên năm 1618, thời chúa Nguyễn
Phúc Nguyên. Trước cuộc trấn nhậm xa nhà, bà xin học đạo, được cha Francesco
Buzomi rửa tội cùng với 25 gia nhân tại nhà thờ Nước Mặn, Qui Nhơn. (Bà là con
gái quan phủ Qui Nhơn). Ban tối bà tổ chức đọc kinh chung, lần hạt trước bàn
thờ. Trong số tùy tùng rửa tội có các cô vợ nhỏ của quan đại sứ. Bà giải thích
lề luật “một vợ một chồng”, các cô đồng ý, bà thu xếp gả chồng, tìm nghề cho
từng cô. Quan đại sứ cũng bằng lòng xa hết các cô vợ nhỏ, sau đó chịu phép rửa
cùng với 20 gia nhân tùy tùng, tên thánh gọi Inhaxu.

Bà Gioanina quả phụ quan Trần Kẻ Chợ (cuối thời chúa Trịnh Tráng). Sau
khi chồng qua đời, được gọi vào phủ trông coi các cung nữ. Bà đã đưa nhiều cung
phi vào đạo, trong đó có hai bà Pia và Colomba là vợ hoàng tử và một hầu nữ
Bianca. Cả ba người nầy cùng bà Gioanina hợp nhau truyền giáo trong cung phủ.
Có những người không theo đạo nhưng mến đạo và tìm cách giúp đạo khi bị cấm
cách. Nhờ họ, cha Phanxicô Rangel được khỏi tù năm 1656.

Bà Anna em chúa Trịnh Tráng. Chồng là quan triều đi làm nhiệm vụ ở Thanh
Hóa, bất ngờ bị bệnh nặng, muốn được về nhà gặp giáo sĩ. Cha Đắc Lộ không đến
kịp để rửa tội. Chỉ có vợ quan và bà mẹ già theo đạo. Bà góa Anna chuyên lo đọc
kinh và làm việc bác ái. Một số khác theo gương bà, vào đạo như bà Monica…

Ngoài ra còn có công chúa Ngọc Liên (con chúa Nguyễn Phúc Nguyên, vợ
quan trấn thủ Quảng Bình), bà Thượng Trâm, quê ở Hải Dương, mẹ Hoàng tử Sáu…

Đó là những người thuộc hoàng tộc, quan quyền theo đạo lúc ban đầu, nhờ họ đạo
được truyền nơi cung vua phủ chúa, đó là chỗ nương tựa của Giáo hội thời mới
chớm nở (lời cha Đắc Lộ).

Ngoài hàng thứ dân

Bà Eulalia vợ ông Andréa, là một trong các gia đình theo đạo đầu tiên ở
Quảng Nam. Nhà bà là nơi hội họp người bên đạo thời bình, nơi ẩn trú khi bị bắt
đạo. Nhiều người chịu phép rửa tại đó, cũng nhiều lần bị khuấy phá, là một
trong những người bị tù giam vì đạo lúc đầu tiên ở đấy…

Bà Paola vợ thầy sãi Antôniô. Ở làng Vũ Xá có một bà vương phi muốn được
đặt làm thần hoàng xã đó sau khi chết, nên cất một ngôi đền. Trong đền chỉ có
một chiếc ngai sơn son thếp vàng để trống. Bà tin rằng khi bà chết, hồn bà sẽ
ngự trên ngai đó, và dân làng phải cúng tế bà như một vị thần. Thầy sãi Antôniô
được dân làng giao việc trông coi ngôi đền của bà vương phi. Khi hai ông bà
Antôniô và Paola theo đạo, bà vương phi bắt ông Antôniô trói cột giữa chợ, đánh
đòn, nhưng ông bà không bỏ đạo, nên bị tịch thu tài sản, đuổi ra khỏi làng. Ông
bà tiếp giúp các thầy giảng, đưa nhiều người tới học đạo, rửa tội được hàng
trăm người.

Bà Lina ở bên sông làng Văn No, khuyên được người chồng xa rời vợ nhỏ,
rửa tội tên thánh Giuse. Các con cũng nhập đạo. Ông bà hiến nhà mình làm nhà
thờ, cất một nhà tế bần giúp người già cả đau yếu.

Bà Lina (khác) cũng là một trong những người rửa tội đầu tiên ở đất Bắc.
Bà giàu có nên rộng rãi phân phát thức ăn cho người nghèo túng. Bà cất một nhà
cho các thầy giảng trú ngụ. Bà nhiệt thành làm việc bác ái thời đó : góp giúp
những người bên đạo bị tịch thu tài sản và việc thờ phượng công ích.

Bà Saula người bên đạo, được phủ chúa Trịnh Tráng tin cẩn dùng vào việc
phục dịch cơm nước. Có dịp, bà thường lập lại lời giảng của các linh mục. Nhờ
đó, bà cô chúa Trịnh Tráng theo đạo, tên thánh rửa tội Gioanna.

Bà Luxê có chồng là Phaolô ở Kẻ Bờ. Nghe tin cha Đắc Lộ đến, bà mời cha
tới nhà làm lễ, giới thiệu một số người muốn học đạo.

Bà Colombia xây nhà nguyện, nhà giáo lý, giúp thuốc men, quần áo cho các
thầy giảng, thương người nghèo cô đơn. Bà bị té trên đường đi thăm bệnh nhân.
Trước khi chết, trối dặn chôn theo với bà cây thánh giá.

Bà Anna có chồng là Gioan, thầy sãi, ở An Vực. Cả gia đình thầy sãi được
cha Đắc Lộ rửa tội. Nhà thầy trở thành nhà nguyện. Đền thờ, tài sản của thầy
được bán đi để làm việc từ thiện. Bà Anna rất năng động, nhờ đó mà nhiều người
vùng An Vực xin tòng giáo.

Ngoài các người nữ được nêu nhắc kể trên, còn một số rất đông, tầng lớp thầm
lặng. Họ là những người vợ, người mẹ, những bà nội, bà ngoại… sốt sắng giữ đạo,
truyền đạo, mà sách sử chỉ tóm ghi trong vài dòng ngắn gọn :

– Các bà thấy một thiếu niên nghèo, chăn trâu cho nhà dòng, tính nết lễ độ, nên
cùng nhau xin cho thiếu niên ấy được vào học trong chủng viện. (Sau thành linh
mục : cha Phêrô Phan Văn Thi, tử đạo năm 1839, lúc gần 70 tuổi)

– Khi xem phương pháp truyền đạo của GM Etienne Cuénot Thể, 1802-1861, Hội Thừa
Sai Paris – Missions Etrangères de Paris, M.E.P.) : “Ngài cho tập họp từng
nhóm, độ 15-20 người, rồi đàn ông dạy đàn ông, đàn bà dạy đàn bà.”

– “Cha mẹ là những tín hữu sốt sắng”, “Sinh trưởng trong một gia đình cha mẹ
đạo đức” hay “Được cha mẹ lo cho kết hôn với một thiếu nữ nết na, đạo hạnh”…
(tiểu sử các thánh tử đạo).

Trên đây là hình ảnh của nữ giới tuy sống thời cấm đạo mà tương đối được bình
yên. Nhưng nắng ấm hiếm hơn cuồng phong, giông bão. Giáo hội Công giáo Việt Nam
trải qua những tháng năm đau thương mà nhà văn quá cố Cao Thế Dung gọi là “đất
thảm trời sầu”. Người nữ hiện diện lúc bình minh quang đãng thì cũng hiện diện
trong đêm đen, lắm khi tối đến kinh hoàng.

Người nữ chịu khổ vì đạo

Đây là những chứng từ :

Truyện chân phước Anrê (Phú Yên) : Bà góa Gioanna thuộc hàng vọng tộc,
được cha Francesco Buzomi rửa tội cùng với 90 người khác, trong đó có con trai
út của bà là Anrê (1641). Năng động trong các sinh hoạt đạo giáo, bà gởi gắm
cha Đắc Lộ huấn dạy cho cậu Anrê làm thầy giảng. Thầy bị bắt, tử đạo năm 1644,
lúc 19 tuổi.

Truyện thánh Anrê Trần Văn Trông (tử đạo năm 1835) : con trai của bà
Gia, làm nghề nuôi tầm dệt vải, nguyên là binh sĩ trong đội dệt tơ lụa của
triều đình, vì không chịu bỏ đạo nên bị xử chém. Trước giờ tử biệt, bà mẹ nầy
muốn biết coi con bà có còn mang mắc nợ nần gì của ai chăng để bà thay con hoàn
trả giúp con giữ lẽ công bằng. Theo con ra tận pháp trường, khi đầu con rơi
xuống, bà nộp tiền xin chuộc rồi dùng tà áo bọc lấy mang về chôn.

Truyện thánh Micae Nguyễn Huy Mỹ (tử đạo năm 1838), vốn là lý trưởng,
thấy cuộc bắt đạo ngày một gia tăng, nhiều người đã chết vì đạo, ông hỏi vợ là
nếu ông tử đạo thì bà có bằng lòng không ? Bà trả lời : “Nếu Chúa muốn, và ông
được phúc tử đạo thì bà và các con chẳng những bằng lòng mà lại còn vui lòng
nữa”…. “Hãy trung thành với Chúa cho tới cùng, đừng lo nghĩ về mẹ con tôi.
Thiên Chúa quan phòng tất cả. Đến thăm ông lần cuối, cầu xin Chúa cho ông vâng
theo thánh ý Ngài.”

Truyện chủng sinh Phaolô Bột bị bắt lúc 17 tuổi, bị hăm dọa, được chiêu
dụ dỗ dành, hứa hẹn, đã khước từ “quá khóa” (bước qua thập giá) hai lần, nhưng
tới lần thứ ba thì bằng lòng để cho người ta khiêng qua thập giá vẽ dưới đất.
Về đến nhà, nhìn thấy nét thất vọng của bà mẹ, cậu ăn năn hối hận, xin mẹ tha
thứ, rồi đi tìm linh mục xưng tội, sau đó trở lại nộp mình, chịu voi giày năm
1858.

– Có một bà bị bắt giam, phải nộp phạt 3000 đồng vì cổ đeo chuổi tràng hạt
(không thấy nêu tên).

– Năm người đàn bà làng Văn Cui bị bắt giam, sau được thả ra (năm 1714).

– Bắt được mấy người đàn bà mang thư liên lạc.

– Có hai, ba người đàn bà bị bắt, bị đánh đòn.

– Nhiều giáo dân bị bắt ở Đà Nẵng và Phố Hiến, trong đó có những phụ nữ bị đeo
xiềng xích nơi cổ.

– Bà Mađalêna Hồ bị phạt 2 roi, 3 lần khác bị đánh 14 roi móc chì.

– Ba cô Monica, Nympha, Phanxica trên đường ra Hà Nội hành đạo, bị bắt bỏ xuống
hố, lấp đất tới cổ, nhờ người bên đạo đi ngang trông thấy cứu lên.

– Bà Ysave và con gái không chối đạo, bị giam tù, mang gông rồi được thả về.

– Một bà người hầu trong cung đời chúa Nguyễn Phúc Chu bị hành hạ, tra khảo
bằng cực hình dùng kim tẩm dầu đốt các ngón tay (sau nầy tử đạo).

– Một thiếu nữ 16 tuổi bị đánh đòn vì nhất quyết không chỉ nơi trú ẩn của giáo
sĩ Pierre Borie (Cao), M.E.P.

– Bà Trương ở Phú Yên, đời chúa Nguyễn Phúc Thuần, bị tra khảo vì không chỉ chỗ
chôn dấu các đồ đạo và nơi các giáo sĩ ẩn trú.

– Bà A-nê Thu để linh mục làm lễ tại nhà, bị phạt một ngày tù. (Thánh linh mục
Thomas Đinh Viết Dụ, tử đạo 1839)

Ngoài ra còn những người nữ không trực tiếp bị đánh đập, bắt giam… họ thinh
lặng hành động : cho các giáo sĩ bị truy nã nương ẩn trong nhà, khuyên chồng
con giữ vững niềm tin, thấy các ông bên đạo bị bắt phơi nắng, các bà lấy quạt
ra che và nấu cơm cho ăn, lo tiền lính canh để vào thăm nuôi, chăm sóc thương
tích, đưa tin tức, thư từ cho những người bị bắt giam, mang chiếu trải cho
người sắp tử đạo quì, chứng kiến các cuộc xử tử, xin lãnh xác về chôn… Những bà
Ngoan, Nghiêu, Xinh, Mai, Huyên, Ngôn, Thao, Nho, Dân… những dì Phụng, Vân,
Hiền, Ơn… là những dấu chỉ thông hiệp với niềm tin, mộ đạo.

V. Người nữ tử đạo

Nhìn qua danh tánh 117 vị tử đạo ở Việt Nam được tôn phong hiển thánh bởi ĐGH
Gioan Phaolô II tại quảng trường Roma năm 1988, có một bà mẹ gia đình, nữ thánh
đầu tiên của Giáo hội Công giáo Việt Nam.

A. Thánh Agnès Lê Thị Thành, còn gọi là A-nê Đê hay I-nê Đê Thành.

Đê : tên con trai đầu lòng. Theo tục lệ nơi bà cư ngụ, dân làng lấy tên con
trai đầu lòng để kêu cha mẹ, do đó ông bà được gọi là ông bà Đê. Chính thực tên
ông là Nguyễn Văn Nhất.

Bà Đê sinh khoảng 1781 tại làng Bái Điền, tỉnh Thanh Hóa, con của ông Carôlô và
bà Save. Gia đình có 12 con, bà Đê là người thứ 8. Từ thuở nhỏ đã theo mẹ về
bên quê ngoại, xứ Phúc Nhạc, Ninh Bình.

Theo GM Pierre Retord (Liêu), 1803-1858, M.E.P., viết trong thư ngày 10-2-1843
thì “bà sống nết na, đạo hạnh, biết phụ mẹ kiếm sống bằng cách têm trầu để bán,
siêng năng đọc kinh, xem lễ”.

Năm bà 16 tuổi, mẹ mất. Năm bà 19 tuổi thành hôn với ông Marcô Nguyễn Văn Nhất,
có 6 con : 2 trai (Đê, Trân), 4 gái (Thu, Nam, Duyên, Nụ).

Gia đình thuận hòa, sống bằng nghề làm ruộng và nuôi tằm ; cho đến lúc bà qua
đời, ông bà có tất cả 17 cháu trai và gái.

Hạnh tích kể rằng : bà rất quan tâm đến việc dạy dỗ con cái, giúp người hoạn
nạn. Chính vì niềm tin, vì mộ đạo, thương người bị ngược đãi, bách hại mà bà
cho ẩn trú, che giấu các giáo sĩ thừa sai bị truy lùng để rồi chịu giam cầm,
đòn bọng và chết đi trong niềm tin phó thác (giáo sĩ Galy Lý bị bắt lúc ẩn trốn
sau vườn nhà bà).

Trong Tự Điển Việt-La (Dictionarium Latino-Anamiticum) do GM Jean Louis Taberd
(Từ), 1794-1840, M.E.P., ấn hành có đăng bài Inê Tử Đạo Vãn (Agnetis Martyrium)
của thánh Philipphê Phan Văn Minh, gồm 563 câu, trang 110-134. Qua đó, có thể
biết thêm về bà.

Trung thành với đức tin :

– Khi bị buộc phải đạp ảnh thánh giá, bà từ chối

Ảnh nầy hình Chúa tôi xưa

Khi nào thờ phượng bây giờ đạp đi.

– Trả lời quan nghè tra xét

… Chúng tôi giữ đạo Chúa Cha nhơn từ

Thật đàng công chính chẳng tư…

Tôi đâu dám bỏ công phu ngãi người.

Mặc ông tha, giết hai lời

Tôi thà chịu chết cõi trời nên công

Giết tha thì mặc lượng ông

Kim thạch là lòng chẳng chậy mỗ phân.

– Khi ông Marcô, chồng bà vào ngục thăm, thấy cảnh bà chịu roi đòn, ngõ ý xa
xôi muốn bà liệu cách trở về nhà lo cho con nhỏ. Bà nói Chớ ra lòng mọn lỗi
nghì chẳng nên.

Gìn giữ gia phong, bình tĩnh toan liệu mọi điều trước khi tử đạo

– Với cha mẹ chồng

Kính thăm nhạc phụ, từ mẫu song thân

Nữ tử vọng ân trăm đàng miễn chấp…

– Với anh chị em

Thăm trên dưới huynh đệ họ hàng.

– Với láng giềng

Chào cựu bang từ rày ly biệt.

– Trối với chồng

Thiếp dầu lỗi tam tùng tứ đức

Dốc trọn nguyền vạn thọ cõi xa

Xin lang quân chớ chấp ngãi hòa

Thương ấu nữ mồ côi mất mẹ…

Chàng thì chớ nại, giữ đạo cho bền

Đến cõi trường niên hai ta lại hiệp.

Nếu tái hôn thì

Phải chọn bề nhơn đức đạo cao

Gởi ấu tử cho con nương cậy…

Sau, con dầu khôn lớn thành hình

Xin dạy dỗ ủi an chớ bỏ.

– Dặn các con

Trước kính tin một Chúa chớ nài

Sau thảo kính hai bên cha mẹ.

Khi cha tái hôn

Dầu cha cải nghiệp, kế mẫu qui đàng

Hai con thìn khiêm nhượng kính đang

Chớ khá ở bạc tình, kiêu ngạo.

Lời lành dặn bảo, thương mẹ thì nghe

Cho mẹ đặng ngày sau thấy mặt

Bức thơ nầy để lại cho con

Sau khôn lớn mọi lời cho biết.

– Khuyên người em tên Du Minh bị bắt giam chung

Chị em cốt nhục đồng bào mẹ cha

Đồng sinh đồng tử hai ta

Trả công ơn Chúa một nhà hiệp nhau.

Lo nghĩ tương lai dân Chúa :

Khi người anh cả là linh mục Lôrensô muốn tự ra nộp mình, ở tù chung với hai
em, để cùng chịu tử đạo, bà can ngăn

Khuyên cha, cha hãy nghe tôi kẻo lầm

Nước nầy đạo Chúa ngăn cầm

Ngày sau giáo hữu mê tâm nguôi lòng

Cha mà toan chịu tử đồng

Ắt là bổn đạo lạt lòng ngãi nhơn.

Chẳng bằng ở lại thì hơn

Giữ gìn xem sóc mọi nơi linh hồn.

Ngoài ra, còn chứng từ của hai người con gái.

Người con út tên Nụ kể : Mẹ tôi rất lo lắng về việc giáo dục con cái. Chính bà
đã dạy chúng tôi đọc chữ và học giáo lý. Khi chúng tôi bắt đầu khôn lớn, bà dạy
cho biết cách dự lễ và lãnh nhận các phép bí tích. Chúng tôi không ai có thể hờ
hửng không đi xưng tội. Mẹ tôi nhắc nhở, thúc hối cho đến khi tất cả đều nhận
lãnh bí tích nầy. Riêng chúng tôi là gái, bà cho vào hội Đạo Binh Đức Mẹ, gia
nhập nhóm thiếu nữ mang trách nhiệm kinh sách trong nhà thờ mỗi ngày.

Một người khác tên Nam kể : Cha mẹ chúng tôi lo cho chúng tôi kết bạn với người
Công giáo tốt lành. Sau khi tôi lập gia đình, mẹ tôi thường hay lui tới thăm
hỏi, khuyên dạy. Tôi còn nhớ bà nói : ”Con đã được Chúa soi sáng đi kết bạn.
Đó là trách nhiệm. Con phải ăn ở tốt lành, đừng gây chuyện với bố mẹ chồng. Con
phải sẵn sàng đón nhận thánh giá Chúa gởi tới cho con.” Bà còn nói với hai vợ
chồng tôi : ”Các con hãy sống trong tình đoàn kết, thuận hòa. Chớ gì không một
ai nghe thấy chúng con cãi vã nhau”.

Gia đình không giàu, nhưng không bao giờ từ chối một ai đến xin ăn mà không
cho.

Đó là cách dạy con của người mẹ hiển thánh, đồng thời cũng là cách hành xử quen
thuộc của rất nhiều bà mẹ Công giáo Việt Nam. Thoạt nghe không thấy gì cao
siêu, mới lạ nhưng đó là thực tế sống động, truyền trải bao đời để hướng dẫn
con cháu thành những cha mẹ tốt, vô cùng cần thiết cho gia đình, xã hội.

B. Những người nữ tử đạo khác: Cho tới nay, thánh I-nê Đê Thành là nữ
giáo dân đầu tiên và duy nhất mang chính danh tử đạo, nhưng không phải là người
độc nhất tử đạo. Một số người nữ khác cũng chịu chết vì niềm tin, đủ cách :

– Chết vì bị xử giảo : Bà Tuân giúp thầy F.X. Hà Trọng Mậu ẩn trú, thấy
quan quân truy lùng ráo riết, bà gởi sang nhà bên lương nhưng rồi bị họ làm
phản, tố cáo, bà bị bắt, xử giảo năm 1839.

– Chết vì bị xử voi giày : Bà mẹ ông Alexi Đâu, bà Isave (1650), bà Monica,
bà Agatha, bà Gioanna, bà Bênêđita, cô Luxia (con ông Phêrô Kỳ tử đạo) và bà
Maria,
1665.

– Chết vì bị xử trảm : Bà Matta Phước và Monica (1661), cô Fidelis (1666),
bà Thảo cho cha Phêrô Nguyễn Văn Tự ẩn trú, bà Mađalêna Huỳnh Thị Lựu
cho
GM Etienne Cuénot Thể và 2 chủng sinh trú ngụ (1861).

– Chết vì bị bỏ đói trong tù : Bà Agnès Bưởi, bà A-nê (em linh mục Lôrensô
Lâu), bà Maria Thanh, bà Monica Sum (1700), bà Anna Ven, bà Benoît…

Tương tự như lời thơ “Thiên Đường Máu”

Tôn giáo pháp đình,

Một tòa án nghe tên

Muôn đời sau còn dựng óc…

… Một pháp đình thần sầu quỷ khốc

Những giá treo cổ người

Đêm nghiến răng rong róc

Những giàn lửa thiêu tươi

Bao con chiên hiền đạo nhất. (Hữu Loan)

– Chết vì bị thiêu sống (tập thể) 14-12-1861 : Lúc người Pháp tiến đánh
Biên Hòa, có một trại nhốt khoảng 300 tín hữu, trước khi rút về Bà Rịa,
người cầm binh triều cho đốt trại. Chỉ có 5 người thoát được, trong đó có một
thiếu nữ trèo lên cành cây cao, bị cháy hai bắp đùi, sau qua đời tại Sàigòn ;
và cô Mađalêna bị lưỡi đòng lướt qua đầu, cô bất tĩnh, lính tưởng cô chết nên
bỏ đi. Cô là nhân chứng kể thuật lại câu chuyện nầy.

– Đợt sát hại tại Bà Rịa 7-1-1862 : Có mấy trại giam nhốt vài trăm người
bên đạo. Khi lính Pháp tới, quân binh nhà Nguyễn đốt trại, lần ấy 288 đàn ông,
106 phụ nữ và 50 trẻ em chết trong lửa đỏ. Họ cũng làm ngơ để cho một số đàn bà
và trẻ em chạy thoát. Người tử đạo cao niên nhất là bà Maria Liệu, 76 tuổi.

– Có trường hợp một phụ nữ bị thả xuống giếng 2 lần (lần đầu 1 ngày, lần
sau 4 ngày), đói khát, đơn độc trên xác chết những người đồng đạo, mà bà được
sống sót để làm chứng nhân cho tập thể tử đạo vô danh, trong đó có nhiều người
nữ.

Trên đây là hình ảnh người nữ tử đạo sống giữa đời thường, những nữ giáo dân.

Trong thành phần dân Chúa, còn một lớp người nữ dấn thân vào đường tu dòng, đặc
biệt sớm hơn hết ở Việt Nam là dòng Mến Thánh Giá.

C. Dòng Mến Thánh Giá do Giám Mục Phêrô Maria Lambert de la Motte, Đại
Diện Tông Tòa tiên khởi, 1624-1679, M.E.P., sáng lập năm 1670 ở Đàng Ngoài
(Bắc) – và năm 1671 ở Đàng Trong (Nam), chính thức đi vào lịch sử Giáo hội Công
giáo Việt Nam. Khai sinh bởi ý thức truyền giáo cho người Việt, hành đạo ngay ở
thời kỳ bị cấm đoán, bách hại, các dì Mến Thánh Giá thầm lặng, tích cực, hữu
hiệu. Theo qui định : sống tập thể (nhà dòng), cọng hưởng thành quả vật chất do
tất cả chung tay gầy dựng với tinh thần khó nghèo, vâng phục bề trên, giữ đức
trinh khiết. Khi gặp cơn bắt đạo ngặt nghèo, các dì phải phân tán, về gia đình
ẩn cư một thời gian, chỉ để 2 dì cao tuổi giữ nhà dòng, sau đó tình hình lắng
dịu thì lần lượt trở lại. Khép mình theo kỷ luật, cầu nguyện, suy gẫm về sự khổ
nạn của Chúa Ki-tô trên thập giá làm hành trang sống đạo giữa đời.

HÌNH ẢNH CÁC DÌ MẾN THÁNH GIÁ

– Qua tiểu sử thánh GM Etienne Cuénot (Thể) : cha mở nhà nuôi trẻ mồ côi và
chuộc những trẻ em bị bán đem về cho ở đó. Mỗi nhà độ 30 em, đa số là bé gái,
trao cho 2 dì phước và 2 em lớn trông coi. Khi nhà hết chỗ, cha xoay sở cất
thêm nhà khác.

– Từng 2 dì, đi bán thuốc để giúp đỡ, an ủi giáo hữu, rửa tội trẻ em sắp lìa
đời.

– Lo việc săn sóc trẻ mồ côi, viếng bệnh nhân, thăm người nghèo, giúp các giáo
sĩ ẩn lánh khi bị truy lùng… như dì Anna Nguyễn Thị Nhường, Mến Thánh Giá Qui
Nhơn ; dì Thủ, Mến Thánh Giá Huế.

– Một nữ tu bị bắt ở Kẻ Báng vì trữ giấu các đồ đạo và thông tin liên lạc. Dì
Ysave Ngọ ở Cái Mơn bị giam tù, đánh đập.

– Dì Anna Khiêm và A-nê Thanh bị bắt giam chung với thánh I-nê Đê Lê Thị Thành.
Hai dì bị thả rắn trong quần áo, rồi buộc chặt ống quần và tay áo, cốt làm
hoảng sợ để chối đạo và chỉ nơi các giáo sĩ ẩn trốn.

Có lẽ do hoàn cảnh thực tế của Giáo hội Công giáo Việt Nam thời đó, nên các nữ
tu Mến Thánh Giá không chỉ chuyên cần cầu nguyện, mà còn thể hiện tinh thần
nhập thế của Ki-tô giáo, chia xẻ nghĩa vụ với nhân gian. Các dì canh tác ruộng
vườn, dệt chiếu, làm và bán thuốc tễ (thuốc viên theo đông y) để tự lực cánh
sinh, đồng thời chú tâm dạy dỗ các trẻ nữ, giảng giáo lý cho người tân tòng
(muốn theo đạo), nuôi dưỡng trẻ mồ côi, săn sóc người bệnh tật, rửa tội người
hấp hối, liên lạc, giúp đỡ, mang Mình Thánh Chúa cho các người bên đạo bị giam
tù, theo hỗ trợ tinh thần người bị xử tử tới tận pháp trường, đọc kinh cầu
nguyện, tìm xin lãnh xác những người tử đạo về mai táng hoặc cải táng.

Các dì là phụ tá của hàng giáo sĩ, thầy giảng, góp phần đắc lực bù đắp nhu cầu
của một Giáo hội đang đà phát triển đồng thời cũng bị giới hạn, cấm cách, bách
hại. Vì thế, đương nhiên các dì phải hiện diện trong danh sách những người chịu
khổ vì đạo, chết vì đạo như các người nữ tín hữu khác.

CÁC DÌ MẾN THÁNH GIÁ TỬ ĐẠO

Thỉnh nguyện thư ngày 14-1-1917 xin phong Thánh 1265 vị tử đạo, trong đó có 270
dì Mến Thánh Giá. Và một thỉnh nguyện thư khác ngày 13-12-1918 xin phong Á
thánh cho 2 dì Mến Thánh Giá ở Láng Mun, bị xử giảo tại Phan Rí năm 1861-1862,
bằng 2 cuộn giây thừng chế tạo từ cây dừa ra, 2 cuộn giây ấy dùng để siết cổ 2
Đấng Đáng Kính I-nê Soạn và Anna Trị, nữ tu Việt Nam. Hai cuộn giây thừng ấy
được lưu giữ, chưng bày nơi Phòng Các Thánh Tử Đạo của Hội Thừa Sai Paris.
(Chứng từ của linh mục Eugène Marie Durand Lộc, 1840-1904, M.E.P., là người
viết nhiều bài báo giới thiệu Dòng Mến Thánh Giá với độc giả Âu Châu, theo bản
dịch Việt ngữ của linh mục Đào Quang Toản). Hai dì được “công nhận là Tôi Tớ
Chúa đã hy sinh tính mệnh vì Đức Tin”.

Trước đó, một nữ tu khác, cũng được biết đến như “tử đạo”, dì Maria Mađalêna
Nguyễn Thị Hậu (1814-1841) thuộc dòng Mến Thánh Giá Nhu Lý, Quảng Trị. Tóm tắt
theo tài liệu của LM Đào Quang Toản : Đêm 12 rạng 13 tháng 4 năm 1839, trên
đường đưa linh mục Gilles Joseph Louis Delamotte (Y), 1769-1840, M.E.P., đi lánh
nạn truy nã bằng đường thủy, dì Hậu bị bắt cùng với bà Maria Trần Thị Vững (chủ
thuyền), cha Delamotte, lương y Simon Phan Đắc Hòa, lương y Trần Văn Thuật.
Ngoài 5 người kể trên, còn thêm 3 người liên can bị bắt sau đó : ông xã trưởng
Nhu Lý Phêrô Nguyễn Công Duyên, ông xã Nguyễn Công Nghiêm (còn gọi Gioan
Baotixita Trang) bị bắt thay con trai (vì chú Điền giúp việc thư ký cho cha
Delamotte đã trốn thoát), ông Nguyễn Viết Tốt (Vincentê Luật), người làng An
Do. Tổng cộng 8 người. Trừ bà chủ thuyền Maria Vững, 7 vị khác đều tử đạo.

Dì Maria Hậu bị giam ở nhà tù Trấn Phủ Huế, bị đánh 5 đòn, bị hình phạt “trùng
rúc” (trói 2 chân lại, bắt đứng trong một chậu nước vo gạo có thả nhiều trùng
đất : vers de terre), rồi còn phải quỳ trên tấm gỗ có đinh nhọn.

Tháng 12 năm 1840, dì Hậu và bà Vững cùng bị lưu đày làm nô tỳ nơi nước độc
chướng khí. Nhưng vị quan trông coi vùng ấy là người bên đạo nên cho dẫn Dì Hậu
và bà Vững về Đá Hàn, rồi Phủ Cam. Tại đây, dì Hậu ở trong nhà dòng Mến Thánh
Giá, nhưng chỉ vài ngày sau đó, lâm bạo bệnh, dì qua đời lúc 27 tuổi (1841).

Lời nói của dì được ghi nhắc Tôi xin các quan cứ chặt tôi ra làm ba, tôi sẽ sẳn
lòng vui chịu, nhưng đạp thánh giá dưới chân thì tôi sẽ không bao giờ ưng chịu.

VÀI CHỨNG TỪ VỀ DÌ HẬU :

– “Annales de la Propagation de la Foi” là tập san do Hiệp Hội Công Giáo tại
Lyon xuất bản, phổ biến khắp Âu Châu, trong số 16 năm 1844, đã dành 10 trang
nói về vụ Nhu Lý, bài do các giáo sĩ Hội Thừa Sai Paris gởi về, có những lời
sau đây … Dù sự hy sinh của chị đã không hoàn tất bằng lưỡi gươm, chị thật xứng
đáng được kể vào số những vị tử đạo sáng chói nhất của Giáo hội An Nam.

– Thánh GM E. Cuénot Thể, giám mục địa phận nơi dì Hậu cư ngụ Thực tình mà nói
thì chị đã không chết trên trận chiến, nhưng có đủ chứng cớ để tin rằng cơn
bệnh và cái chết của chị là do bởi thời gian tù đày, tra tấn, hành hạ mà người
ta bắt chị phải chịu gây nên… Người trinh nữ can đảm Marie Mađalêna Hậu có thể
được xem như vị tử đạo của Chúa Ki-tô.

– GM Dominique Lefèvre (Ngãi), 1810-1864, M.E.P., có một thời làm phụ tá cho GM
Cuénot Thể, người theo dõi các sự việc, thu thập nhiều dữ kiện về vụ án, thẩm
định rằng Chị Hậu xứng đáng lên trời lãnh nhận triều thiên dành cho những kiệt
sĩ anh hùng đức tin.

Tóm lại người nữ, giáo dân hay tu sĩ Mến Thánh Giá đều đã trầm luân theo dòng
lịch sử bách hại, chịu mọi cực hình, là tác nhân thầm lặng suốt quá trình gian
khổ dài hơn 300 năm của Giáo hội Công giáo trên giang sơn đất Việt thời cấm
đạo.

VI. Những cảm thông

Sử gia Trần Trọng Kim viết … Nhà vua mà dùng uy quyền để giết hại bao nhiêu thì
dân sự lại khổ sở bấy nhiêu, chứ lòng tin tưởng của người ta không sao ngăn cấm
được. Vả lại đạo Thiên Chúa cũng là một đạo tôn nghiêm, dạy người ta lấy lòng
nhân ái, việc gì mà làm khổ dân sự như thế ?!

Đó cũng là ý nghĩ của một số người bên lương sống trong thời cấm đạo. Qua sử
sách, thấy những dấu chỉ cảm thông đối với các người bên đạo bị giam tù, xử tử
:

– Ông Phan Đình Phùng, 1847-1895, nói Đạo Thiên Chúa lấy Gia Tô làm Trời, cũng
như Thích Ca Mâu Ni là Trời của đạo Phật, hay Khổng Phu Tử là Trời của nhà Nho.
Hể ai đã tín ngưỡng điều gì thì điều ấy là Trời của mình. Mình muốn người ta
đừng xâm phạm đến tín ngưỡng của mình thì mình cũng đừng xâm phạm đến sự tín
ngưỡng của người ta. Thiên Chúa cũng là một thứ tôn giáo, mặc ai tin thì theo.
(Đào Trinh Nhất, Việt Nam Chí Sĩ Phan Đình Phùng, trang 20)

– Có quan huyện cáo tế với trời đất Tôi không muốn bắt người hiền lành. Án phạt
có xuống thì xuống cho người ra lệnh.

– Người lãnh lệnh hành hình miệng niệm Nam Mô A Di Đà Phật, tội phạm đến các
ngài, không phải là tôi, xin đừng thù oán.

– Ông cai đội Tham ngầm giúp đỡ cho phép các bà vào ngục săn sóc vết thương,
tiếp tế thức ăn. Người chết trong tù được ông giúp thay quần áo sạch sẽ và khấn
Lạy ông, khi ông lên trời xin nhớ đến tôi cùng.

– Ông cai Tấn, mỗi lần quan trên ra lệnh bắt đạo, ông tình nguyện dẫn lính đi
rình canh bắt, nhưng rồi lại báo cáo là không tìm thấy ai, có khi còn chỉ đường
cho người bên đạo trốn.

– Đao phủ tên Minh Thưa cha, con bị cưỡng ép làm theo lệnh vua, con sẽ ráng hết
sức chém ngon ngọt và khi cha về trời xin cầu nguyện cho con.

– Một bà bán hàng nói Tôi thờ Trời đất và Thần Phật, tôi rất nghèo, không có gì
để dâng cúng, chỉ có cái chậu nhỏ nầy xin dâng cha với tất cả tấm lòng. Khi cha
khát có thể dùng nó để chứa nước.

– Trong tiểu sử các vị tử đạo, không thiếu trường hợp các quan án hỏi cung tỏ
ra thông cảm với niềm tin của người bị kết tội : trải chiếu cho ngồi, mời trà,
cho thân nhân chuộc đầu người bị xử chém mang về ráp lại chôn (thay vì quăng
sông hay bêu đầu giữa chợ)…

– Khi giặc loạn nổi lên ở miền Bắc, quan Tổng Đốc Nam Định nói rằng tỉnh được
bình yên nhờ có đông người công giáo, còn xin vua trợ cấp nhà tế bần nuôi người
cùi tại Kẻ Vĩnh của GM Pierre Retord Liêu, 1803-1858, M.E.P. (Vũ Thành, Dòng
Máu Anh Hùng III, trang 102).

Nhưng vào thời cấm đạo, một Phan Đình Phùng nêu lên tiêu ngữ “Lương-Giáo Thông
Hành” để cùng chống Pháp đã không thắng nổi các quan quyền Văn Thân hô hào
“Bình Tây Sát Tả”. Tại kinh đô, họ liên kết với Nhóm Hồng Tập (7 người trong
hoàng tộc) chủ động hẹn ngày 3-8-1864 đồng loạt nổi lên định giết ông Phan
Thanh Giản và các người theo đạo Thiên Chúa bị qui trách nhiệm làm mất nước. Họ
dự mưu đưa ông Hồng Tập lên ngôi thay vua Tự Đức. Nhưng công việc bất thành.

Sau sự thể ấy, vua Tự Đức ra Sắc Chỉ tháng 7 năm 1864 :

… Các người Công giáo đã trải qua tình thế khốn khổ nhất nhưng vẫn trung thành
với đạo và cũng trung thành với triều đình. Triều đình không thể không khen
ngợi và ghi nhận điều đó. Vì thế, sau khi được tự do, triều đình coi Công giáo
như lương dân, các người phải biết rõ điều đó. Các người không được để trong
lòng những oán thù vì như thế là không vâng mệnh vua, không vâng mệnh vua là
phản nghịch thì làm sao nói được là người Công giáo nữa. Hãy làm việc để đạt
tới mức hoàn thiện và lời cầu nguyện của các người dễ được chấp nhận. Vua cũng
khuyên các quan triều và giới ăn học nên cởi bỏ hận thù và nghi ngờ người bên
đạo. (Dòng Máu Anh Hùng III trang 348, Vũ Thành) (1)

Năm 1869, vua lại ban Sắc chỉ cho phép người bên đạo được trở về làng cũ, cấm
lương dân không được sách nhiễu người công giáo, các giáo sĩ được tự do đi lại
giảng đạo, miễn là phải báo cho quan sở tại biết.

Cuộc nổi loạn của nhóm Văn Thân đến tháng 5 năm 1874 mới chấm dứt. Nhưng có lẽ
hệ quả vẫn còn âm-ỷ, nên vua Hàm Nghi ra Chỉ Dụ ngày 23-9-1885 :

Ngăn cấm không được đánh phá những người theo đạo Gia Tô vì giáo dân cũng là
những người đồng tộc loại, chỉ vì họ theo tôn giáo nước ngoài mà bất đồng thôi.
Và người Pháp hiếp nước ta chẳng phải là mưu của giáo dân. Triều đình mong muốn
lương giáo chung sống và các thân hào sĩ dân đừng vì chống Pháp mà tức giận
đánh phá giáo dân (Việt Sử Đại Cương, trang 199, Phạm Ngọc Huyền, Cổ Kim Thư
Hương Paris 1983).

VII. Thay lời kết

Thân phận con người, trong hoàn cảnh lịch sử chính trị nhiêu khê, cực kỳ biến
động, chập chùng những hệ lụy, nhưng với thời gian mọi sự dần dần lắng đọng.

Nói về tín ngưỡng ông Phan Xuân Hòa nhận định Dân Việt Nam hầu hết theo Phật
giáo, lấy lòng từ bi bác ái làm trọng, đồng thời tôn sùng đạo Lão, tin thuyết
thần tiên bất tử, phụng sự tổ tiên, tôn kính thần thánh. Từ ngày tiếp xúc với
Tây phương, một số dân theo đạo Gia Tô và Cơ Đốc Cải Cách cũng chú trọng vào từ
tâm, ham làm việc thiện. … Dân tộc Việt Nam không bài bác tôn giáo nào (trừ mấy
vua đầu nhà Nguyễn và một số đình thần thủ cựu dưới triều đại ấy) mà cũng không
chấp nê mê muội vì tôn giáo nào. Mọi người đều tự do trên đường ”tín ngưỡng”.
Không ai vì theo tôn giáo khác nhau mà khích bác, chê bai lẫn nhau.… Trong lúc
bên Âu Châu từng xảy ra “chiến tranh tôn giáo” và bên Ấn Độ thì hai
người khác tôn giáo nhất quyết không đi lại với nhau. Dân tộc Việt Nam, trái
lại ngoài đời tín ngưỡng luôn luôn sống chung thân thiện và đoàn kết.

Người ngoại quốc không thể không lấy làm ngạc nhiên khi thấy trong một gia đình
Việt Nam mà có những trường hợp anh theo tôn giáo nầy, em theo tôn giáo khác ;
hay bố mẹ đi tế lễ ở chùa đình, con cái lại đi cầu nguyện ở giáo hội. Thế mà
mọi người vẫn sống chung yên vui hàng ngày, không hề có chuyện xích mích.… Do
lẽ ấy, trong nước Việt Nam, hầu khắp các nơi đã có chùa thờ Phật Thích Ca Mâu
Ni và các vị Bồ Tát, lại có ngay bên cạnh, nào đền thờ Thái Thượng Lão Quân,
nào giáo đường thờ Đức Chúa Trời, nào đền đình thờ chư vị Thánh Thần, anh hùng
liệt sĩ, và thành Hoàng…

Trong đời sống thực tế, mọi người Việt Nam, dầu theo tôn giáo nào cũng thế, đều
lấy lòng Hiếu-Đễ ở trong gia đình làm trọng ; đối với xã hội lấy đức Tín nghĩa
làm đầu ; đứng trước Tổ quốc lấy sự Trung hiếu làm mục tiêu.

Chính lý tưởng “sống vì quyền lợi chung” đặt quyền lợi tổ quốc trên
hết mà dân Việt Nam vẫn sẵn sàng tiếp rước bất luận tôn giáo nào truyền vào
trong nước, để rồi gạn lọc lấy những tinh túy mong giúp ích cho thực tế hằng
ngày, xây dựng trên một nền gia đình giáo dục truyền thống. (Việt Nam Gấm Vóc,
Phan Xuân Hòa, trang 164-168)

Tạ Thanh Minh-Khánh. (Tháng 10 năm 2012)

(1) Thời vua Tự Đức (1848-1883), các giáo sĩ thuộc Hội Thừa Sai Paris, M.E.P. :

1. Linh mục Pierre-Jean Marie GENDREAU (ĐÔNG), (1850-1935), 1887 là Giám mục
địa phận Nam Đàng Ngoài (Vinh) ;

2. GM Jean Denis Gauthier (HẬU) (1810-1877), 1942 địa phận Tây Đàng Ngoài (Hà
Nội) ;

3. GM Joseph Hyacinthe Sohier (BÌNH) (1818-1876), địa phận Bắc Đàng Trong (Huế)
;

Làm đơn xin Bộ Lễ đổi bốn chữ “tả đạo, dữu dân” thành “dân đạo hoặc giáo dân”
được chuẩn y, có ghi trong Đại Nam Thực Lục Chính Biên Đệ Tứ Kỷ, quyển LII
(Thoáng nhìn Giáo hội Công giáo VN, Trần Anh Dũng, trang 228).

Tài liệu tham khảo :

– Việt Nam Sử Lược II, Trần Trọng Kim, Institut de l’Asie du Sud-Est,
I.D.A.S.E. Paris.

– Việt Sử II, Một Nhóm Giáo Sư, I.D.A.S.E. Paris.

– Việt Nam Gấm Vóc, Phan Xuân Hòa, I.D.A.S.E. Paris.

– Việt Sử Biên Niên Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, Trần Anh Dũng, Orlando 1986.

– Dòng Máu Anh Hùng I, II, III, Vũ Thành, Phong Trào Thanh Sinh Công VN tại Hoa
Kỳ, xuất bản 1987, 1988.

– Inê Tử Đạo Vãn – Tự Điển Việt-La, Jean Louis Taberd, trang 110-134.

– Nữ Tu Nguyễn Thị Hậu, Đào Quang Toản, Imprimerie “Médiations” Toulouse, năm
2000.

– Vai Trò Phụ Nữ Việt Trong Vấn Đề Truyền Giáo Tại Việt Nam, Teresa Huỳnh, Báo
Giáo Xứ Việt Nam Paris, 1988.

– Làm Chứng Cho Tin Mừng, Phạm Bá Nha, 2006

CHÚA ĐẾN MANG LẠI NIỀM VUI VÀ HẠNH PHÚC

CHÚA ĐẾN MANG LẠI NIỀM VUI VÀ HẠNH PHÚC

(Suy niệm Tin Mừng Gioan (Ga 2,1-11) trích đọc vào Chúa Nhật
II thường niên)

Tác giả: Lm Inhatio Trần Ngà

nguồn:conggiaovietnam.net

Một số người cho rằng Chúa Giê-su đến trần gian chỉ nhằm cứu rỗi phần hồn con người; còn phần xác thì chẳng đáng bận tâm.

Thật ra không phải thế, vì ngoài việc loan Tin Mừng và tự hiến đời mình cứu độ nhân loại, cho họ được hưởng hạnh phúc đời sau, Chúa  Giê-su còn thiết tha đem lại niềm vui và hạnh phúc cho mọi người ngay trên cõi đời nầy nữa.

Sự kiện xảy ra tại tiệc cưới Ca-na chứng tỏ điều đó.

Hôm ấy, Chúa Giê-su đến tham dự tiệc cưới tại Ca-na cốt để đem lại niềm vui cho cô dâu chú rể và chúc lành cho họ được trăm năm hạnh phúc. Chúa Giê-su xem đây là điều quan trọng nên Người không chỉ tham dự một mình mà cùng đi với Mẹ Maria và các môn đệ để cho niềm vui của đôi hôn nhân được tăng lên.

Thế rồi, đang giữa tiệc vui bỗng hết rượu. Đây là chuyện không may và ngày vui của đôi tân hôn có nguy cơ trở thành ngày rầu rĩ vì cô dâu chú rể sẽ bị gièm pha trách móc, tiệc cưới sẽ để lại ấn tượng đáng buồn trong lòng khách dự tiệc.

Trước tình thế đó, Mẹ Maria tìm đến với Chúa Giê-su để xin Người cứu vãn. Thế là mặc dù “giờ của Người” chưa đến (Ga 2,4), Chúa Giê-su cũng đã thực hiện phép lạ đầu tay, hoá nước thành rượu ngon với số lượng dư dật để đem lại niềm vui cho mọi người.

Sự việc nầy cho thấy hạnh phúc đời nầy của con người là mục tiêu quan trọng mà Chúa Giê-su nhắm tới. Sau nầy, Chúa Giê-su thực hiện nhiều phép lạ khác cũng không ngoài mục tiêu đó.

Vì muốn đem lại niềm vui và hạnh phúc cho người goá phụ Na-in nên Chúa Giê-su đã cho con trai bà đã chết được sống lại, dù bà chưa ngỏ lời van xin. (Lc 7,11-17)

Vì muốn đem lại niềm vui và hạnh phúc cho hai chị em Mác-ta và Maria ở Bê-ta-ni-a đang sầu thảm vì mất em, Chúa Giê-su đã truyền cho La-da-rô chết chôn trong mồ được sống lại. Nhờ đó, cả gia đình được chan hoà niềm vui. (Ga 11, 32-43)

Cũng vì muốn đem lại niềm vui cho hai môn đệ Em-mau đang sống trong ưu phiền thất vọng, Chúa Giê-su phục sinh đã hiện ra, cùng đồng hành với các ông, đem lời kinh thánh sưởi ấm tâm hồn sầu muộn của các ông. (Lc 24, 32)

Và rất nhiều phép lạ khác Chúa Giê-su đã thực hiện như cho người mù được xem thấy, cho người điếc được nghe, người què đi được, người phong hủi được sạch, người câm được nói, cho người đói được ăn, cho người nghèo được nghe Tin Mừng… cũng đều nhằm đem lại niềm vui và hạnh phúc cho tha nhân.

Hơn nữa, Chúa Giê-su không muốn đem lại cho người đời một niềm vui chóng qua, một thứ hạnh phúc mau tàn, nhưng là một thứ hạnh phúc vững bền đặt nền trên tình yêu thương huynh đệ.

Biết rằng con người sẽ luôn luôn bất hạnh nếu thiếu vắng tình thương, rằng tình thương là yếu tố cốt thiết đem lại niềm vui và hạnh phúc cho muôn người, nên Chúa Giê-su không ngừng kêu gọi mọi người hãy yêu thương đùm bọc nhau như anh chị em một nhà: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” (Gioan 13, 34).

Người cũng báo trước cho mọi người biết rằng hạnh phúc đời đời trên thiên quốc chỉ dành riêng cho những ai yêu thương phục vụ người khác, đồng thời cảnh báo rằng khổ hình đời đời trong hỏa ngục là hậu quả phải đến cho những kẻ không sẵn sàng cứu giúp những người khốn khổ quanh mình. (Mát-thêu 25, 31-46)

Như thế, đem lại niềm vui và hạnh phúc cho những người chung quanh không còn là chuyện nhỏ nhưng là một quan tâm hàng đầu của Chúa Giê-su.

Là ki-tô hữu, là cánh tay nối dài của Chúa Giê-su, chúng ta cũng được mời gọi tiếp tay với Người để vun đắp niềm vui và hạnh phúc cho những người đang sống quanh ta bằng quyết tâm sống theo luật yêu thương của Người, để nhờ đó, gia đình, thôn xóm và đất nước chúng ta được hạnh phúc an ủi.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

 

NGÀI ĐÃ DỰNG NÊN NGƯỜI NAM VÀ NGƯỜI NỮ – GIỚI TÍNH KHÔNG THỂ TỰ MÌNH CHỌN ĐƯỢC

NGÀI ĐÃ DỰNG NÊN NGƯỜI NAM VÀ NGƯỜI NỮ – GIỚI TÍNH KHÔNG THỂ TỰ MÌNH CHỌN ĐƯỢC

Nguyễn Tiến Cảnh, MD
nguồn: conggiaovietnam.net

Lần đầu tiên vào tháng 11 năm 2012 giới tính được đưa vào nghị trình thảo luận của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc (LHQ) về chống kỳ thị như là một định nghĩa/xếp loại đặc biệt để bảo vệ nó. Danh xưng này đặc biệt vì nó đã nâng giới tính lên ngang hàng với chủng loại (race), tín điều, tôn giáo và xu hướng dục tính (sexual orientation). Tuy nhiên nó vẫn còn mơ hồ, chưa có sự đồng thuận rõ ràng về định nghĩa của danh xưng kỳ thị dựa trên ý nghĩa căn bản của giới tính. Mang vào ngôn ngữ của luật quốc tế một danh xưng không rõ ràng, không chắc chắn như vậy là mở cửa cho quyền đòi hỏi rộng rãi của những người gọi là “đổi giống”.

Theo nghĩa rộng, kỳ thị là kỳ quái hóa một người hoặc một nhóm người một cách bất công và thiếu công bằng. Liên Hiệp Quốc đã tuyên bố là không ai có thể mặc nhiên bị xử tử hoặc giết chết mà không có tòa án xét sử vì lý do chủng tộc, niềm tin, dục tính/sex, khuynh hướng sắc dục, hay giới tính. Đúng vậy, không ai có quyền cho rằng những người rối loạn giới tính sẽ phải chịu khốn khổ vì những hình phạt ác quái. Tuy nhiên, một khi căn cước của giới tính (gender identity) được đặt vào loại ngôn ngữ chống kỳ thị thì nhiều người sẽ kết luận đổi giống là một kiểu thay đổi căn cước giới tính, cũng là một rối loạn giới tính. Việc này đã xẩy ra với danh từ “xu hướng sắc dục”, được cắt nghĩa là chấp nhận hoặc cổ võ đồng tình luyến ái. Bao gồm đặc tính của giới
tính vào loại cần bảo vệ tức đã biến căn cước khách quan của giới tính thành
một căn cước chủ quan. Nam tính hoặc nữ tính trở thành một cấu trúc chuẩn được
tạo ra do những thay đổi bất thường của từng cá nhân và cái căn cước giới tinh
ấy phải được chấp nhận khi tự mình tuyên xưng giới tính của mình. Không chấp
nhận điều đó là coi như kỳ thị.

Như chuyện mới xẩy ra đây ở tiểu bang Washington, việc bảo vệ chống lại kỳ thị dựa vào giới tính được thể hiện qua trường hợp một người đàn ông nếu mặc quần áo đàn bà là có quyền được coi như một người đàn bà thực sự. Một trường hợp nữa, tại đại học Evergreen ở Olympia, cũng tại Washington, một sinh viên 45 tuổi là đàn ông với đầy đủ bộ phận sinh dục của nam giới đã khai với văn phòng nhà trường mình là đàn bà. Nhà trường tuyên bố: vì trường hợp giới tính của sinh viên này nằm trong những điều khoản chống kỳ thị của tiểu bang, nên sinh viên này phải được đối xử như một người đàn bà trong mọi sinh hoạt của sinh viên của trường. Sinh viên này được phép dùng phòng chung với các nữ sinh viên như nhà tắm, cầu tiêu….và có quyền hoàn toàn để lộ thân mình cho các nữ sinh viên khác cùng sài chung phòng. Những ai chống lại điều lệ này đều được dán nhãn hiệu là cuồng tín và coi như đã vi phạm vào quyền tự quyết định giới tính của sinh viên.

Tin rằng giới tính là do mình tự chọn đã trở thành một thời trang đến độ người ta tránh áp đặt giới tính lên con trẻ. Egalia là một trường mẫu giáo công lập “không giới tính”, ở Thụy Điển, được chính phủ tài trợ. Người ta không gọi các học sinh của trường là nam sinh hay nữ sinh mà gọi là “các bạn”. Họ không dùng những đại danh từ đặc biệt để chỉ giới tính, mà họ dùng danh xưng “hen” để thay thế cho tiếng “hon” và “han” mà tiếng Thuỵ Điển gọi là “cô” và “cậu”. Họ cấm những chuyện như Cinderella hoặc Snow White, mà lại khuyến khích hình ảnh đồng tình luyến ái, cha mẹ độc thân và con nuôi để tránh áp đặt giới tính do trời sinh ra.

Một số cha mẹ lại đi quá xa đến độ dấu cả giới tính của con mình để tránh bất cứ ảnh hưởng của nền văn hóa nào lên căn cước giới tính của chúng. Một cặp vợ chồng Canada được đài BBC đưa lên sau khi họ quyết định giữ kín giới tính của đứa nhỏ không cho bất cứ ai biết, ngay cả chính cha mẹ họ. Họ đặt tên cho đứa trẻ là Storm với chủ ý để cho đứa trẻ tự khám phá ra vai trò của những giới tính khác nhau rồi tự quyết định mình là nam hay nữ hay gồm cả hai.

Tuy nhiên, chúng ta còn nhớ Tổng thống Abraham Lincoln đã nói: “Gọi cái đuôi là cái đùi thì cũng không thể biến cái đuôi thành cái đùi được.” Thiên Chúa đã tạo ra chúng ta là Nam và Nữ. Những ai sinh ra là nam thì có những đặc tính riêng của nam giới, và những ai sinh ra là nữ cũng có những đặc tính nữ riêng. Tất cả đều có nhân phẩm đồng đều, nhưng đặc tính thì khác biệt. Một người đàn ông có thể có những nét gống như đàn bà con gái, chẳng hạn như hay thổ lộ tâm tình, nhẹ nhàng, nâng niu chiều chuộng vuốt ve. Nhưng những cái đó không thể thay đổi thực tế họ là đàn ông. Tương tự như vậy, một người đàn bà có thể có những nét giống như đàn ông chẳng hạn tính tình quả quyết, mạnh bạo. Cái đó cũng chẳng có thể thay thế được một thực tế bà ta là đàn bà. Cứ nghĩ mình là đàn bà trong khi thực sự mình là đàn ông, và ngược lại là một ý nghĩ bất bình thường. Cha mẹ cứ chiều theo cái ưa thích ảo tưởng của con mình -muốn là trai hay gái trong khi chúng không phải như vậy- hoặc khuyến
khích chúng ngược lại với thực tế của chúng thì rõ ràng hành động đó không phải
là yêu con. Đúng ra họ đã làm giảm nhân phẩm của chúng khi chối bỏ yếu tố chính
và hiển nhiên của bản tính con người.

Trong một phát biểu với Giáo triều vào dịp Lễ Giáng Sinh 2012, đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã nói: chối bỏ căn cước dục tính (sexual identity) Nam và Nữ tức là chối bỏ Thiên Chúa. Ngài cảnh cáo hãy coi chừng vì hành động này đe dọa không chỉ riêng cá nhân mà cả sự hiện diện và tồn vong của gia đình và an toàn hạnh phúc của cả xã hội:

Chuyện Nam hay nữ được trời dựng nên với những đặc tính riêng để bổ túc cho nhau hầu làm thành loài người vẫn còn đang được tranh cãi bởi một số người. Nhưng thử hỏi, NẾU trong công tác tạo dựng không có gì sắp đặt trước là phải thế này thế nọ để là nam hay nữ, thì lúc đó chuyện tạo lập gia đình cũng như vậy thôi. Nếu công nhận vấn đề như thế thì một đứa trẻ, cho đến giờ này, đã mất vị trí thực của nó và cả nhân cách của nó nữa…. Do đó bảo vệ gia đình tức là bảo vệ chính con người vậy. Và hiển nhiên khi chúng ta chối bỏ Thiên Chúa thì nhân phẩm cũng không còn. Ai bảo vệ Thiên Chúa là bảo vệ con người.

Có những người vẫn lớn tiếng cổ võ tinh thần đa văn hóa, coi nó như một kết luận chắc nịch cho một xã hội lành mạnh thì trong khi đó, chính họ lại là những kẻ tìm cách phá hủy tính đa diện của dục tính để tạo một nền văn hóa vô tính, ái nam ái nữ. Đây là loại triết lý –như Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã nêu rõ- muốn định nghĩa lại thế nào là con người nguyên gốc. Nó là nguồn gốc, trung tâm điểm, chủ lực tấn công hôn nhân và gia đình. Khi người nam và người nữ được gán cho một nhãn hiệu vô nghĩa thì cuộc hôn nhân kết hợp giữa người đàn ông và người đàn bà trở thành không cần thiết. Thực vậy, điều kiện cần để có hôn nhân giữa hai người sẽ mất ý nghĩa khi mà những đặc tính bổ sung cho nhau -nam bổ sung cho nữ, nữ bổ sung cho nam- bị chối bỏ. Khi mà vai trò độc nhất của người chồng hoặc người vợ bị xóa bỏ thì hiện trạng của con cái cũng thay đổi. Chúng trở thành những dụng cụ đơn giản chỉ vì lợi ích của một tổ hợp người lớn vô tính thay vì những cá nhân con người riêng rẽ với phẩm cách nội tại được sinh ra do sự phối hợp giữa một người nam và một người nữ.

Lẫn lộn giữa những khác biệt giới tính với bất cân bằng giới tính là một sai lầm nguy hiểm. Từ nhận thức đàn ông và đàn bà khác nhau không thể nói được đàn ông tốt hơn đàn bà hoặc ngược lại. LHQ cho rằng những ai đau khổ vì giới tính bị rối loạn thì không thể là mục tiêu bị quấy rầy chế nhạo. Quả quyết đó không giải thích được ý nghĩa của giới tính là cái gì có thể thay thế được. Những người đổi giống phải được đối sử đúng phẩm giá và tình yêu thương là lẽ đương nhiên. Nhưng chối bỏ thực tế căn cước dục tính bẩm sinh là đã làm giảm giá trị của cả hai.

Giáo Lý Công Giáo đã xác định, khi tạo dựng nên người đàn ông và người đàn bà Thiên Chúa đã chứng tỏ sự khôn ngoan và tốt lành của Ngài cho nhân loại. Chối bỏ tặng phẩm đó là chúng ta chấp nhận nguy hiểm cho chính chúng ta.

Fleming Island, Florida

Jan. 14, 2013

NTC

Tác giả: Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh

Lm. Chân Tín: Luồng gió mới – Công đồng đã đến (10)

Lm. Chân Tín: Luồng gió mới – Công đồng đã đến (10)
VRNs (16.01.2013) – Sàigòn
Công đồng đã đến
Công đồng Vatican II đã đến. Đức Thánh Cha Gioan XXIII đã ấn định
ngày 11 tháng 10 để long trọng khai mạc. Các giám mục khắp toàn cầu đã lần lượt
lên đường về La Mã. Thế là thời gian chuẩn bị trong vòng gần 4 năm đã hoàn tất.
Trong thời gian ấy chúng ta đã theo dõi từng biến cố từng giai đoạn. Giờ đây,
trước khi Công đồng khai mạc, chúng ta tự hỏi: Chúng ta còn phải làm gì cho
Cộng đồng?
Trước hết, chúng ta phải cầu nguyện sốt sắng hơn nữa cho Công
đồng. Chính Đức Thánh Cha đã thúc giục chúng ta: “Giờ đây, Ta nài xin mỗi tín
hữu và toàn thể giáo dân hướng tất cả lòng nhiệt thành của mình về công đồng và
sẵn sàng cầu nguyện tha thiết cùng Thiên Chúa Toàn năng, xin Người lấy lòng
nhân ái của Người yểm hộ công trình trọng đại này, mà hôm nay đã cận ngày khai
mạc; xin Người lấy uy lực của Người củng cố Công đồng ngõ hầu Công đồng thành
tựu một cách tương xứng với địa vị của mình”. Qua lời của Đức Thánh Cha, chúng
ta nhận thấy rằng lời cầu nguyện của chúng ta là một yếu tố cần thiết cho sự
thành tựu của Công đồng. Đó là bổn phận của tất cả những ai mang danh con cái
Giáo hội. Tất cả công trình chuẩn bị trong vòng gần 4 năm qua sẽ trở nên vô
hiệu, nếu không được ơn đặc biệt của Đấng Toàn Năng.
Một công việc thứ hai chúng ta phải làm để Công đồng được hiệu quả
đó là thánh hóa bản thân ta, là sống đời sống đức tin của ta cách đầy đủ. Yếu
tố này chính Đức Thánh Cha đã dạy: “Ước gì mọi lời cầu nguyện đó phát ra cách
liên lỉ từ nguồn mạch sự sống đức tin. Có như vậy mới dễ được Chúa nhận lời và
trở nên hoàn toàn đắc lực. Ước gì chúng con được tăng thêm giá trị bằng một cố
gắng tận tình để sống đời sống Công giáo để ta kết hợp được rằng hết mọi người
đều dọn mình sẵn sàng tuân theo mệnh lệnh và những quyết nghị mà chính Công
đồng sẽ ban bố một ngày gần đây”. Chúng ta chưa biết được những chỉ thị và
quyết định nào sẽ được ban bố. Nhưng có một điều chắc chắn là Công đồng sẽ đòi
hỏi ở ta một cuộc đổi mới trong đời sống đức tin của ta.
Sau hết để Công đồng được kết quả mỹ mãn, Đức Thánh Cha đã nhấn
mạnh việc ăn năn đền tội. trong thông điệp “Sám hối” Đức Thánh Cha đã khuyên
dạy chúng ta lo việc ăn năn đền tội: “Sám hối theo giáo lý của Chúa Giêsu, là
một phương làm cho người có tội được ơn tha thứ và bảo đảm phần rỗi đời sau.
Bởi thế không ai lạ gì, khi Giáo hội Công giáo… vẫn coi việc ăn năn sám hối như
một điều kiện căn bản, để cải thiện đời sống con cái mình và để chấn hưng tiền
đồ của chính Giáo hội. Vì lý do trên đây,trong sắc chỉ triệu tập Công đồng
Vatican II, ta đã kêu gọi giáo dân phải chuẩn bị tiếp đón công cuộc lớn lao này
không những bằng lời cầu nguyện, bằng sự thực hành các nhân đức Công giáo, mà
còn bằng cả sự tự ý hu sinh hãm mình. Hôm nay, đứng trước thềm đại Công đồng,
Ta càng phải nhấn mạnh lời khuyên nhủ trên đây… Trước hết, cần sự thống hối bề
trong, tức là ăn năn và đền các tội mình đã phạm… Thực ra, các viện đền tội bề
ngoài sẽ thánh vô ích, nếu không đi theo với sự trong sạch bên trong nếu không
có sự ăn năn hối lỗi”.
Cầu nguyện, sống đức tin Công giáo và ăn năn đền tội, đó là ba
việc cần thiết chúng ta phải làm, trong những ngày trọng đại Cộng đồng nhóm họp
tại La Mã. Chúng ta hãy nhiệt tình tham gia vào Công đồng. Chúng ta hãy theo
các giám mục chúng ta bằng lời cầu nguyện, bằng sự sống đức tin và bằng sự ăn
năn đền tội, để Công đồng Vatican II trở nên một Lễ Hiện Xuống mới khả dĩ đem
lại cho Giáo hội một mùa xuân mới.
Nguyệt san Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp

Số 161-10/1962

THIÊN ĐƯỜNG . . .hạ giới

THIÊN ĐƯỜNG . . .hạ giới

Những gì mẹ Thiên Nhiên mang lại cho chúng ta luôn kì diệu và ấn tượng. Hãy cùng chúng tôi khám khá những thiên đường ấn tượng trên mặt đất.

Mỏm đá Preikestolen, Naouy

Sững sờ trước những thiên đường mặt đất

Preikestolen là khối đá vuông vức này trông giống như một chiếc bục giảng kinh của Cha sứ. Khối đá tự nhiên này có diện tích bề mặt là 24.99m × 24.99m, khá bằng phẳng, cao 604m so với mực nước biển. Để có thể đến được đây, du khách phải mất hơn 2 giờ đi bộ, tuy nhiên khối đá kỳ vĩ này cũng có thể được thưởng ngoạn bằng cách đi thuyền trên biển. Tên gốc của tảng đá này là ‘Hyvlatonnå’, nghĩa là cái lưỡi
của cái bào gỗ.

Hang Ngọc Bích, Hy Lạp
Sững sờ trước những thiên đường mặt đất

Tên của nó xuất phát từ màu xanh thật đáng kinh ngạc của vùng nước biển nơi đây do sự khúc xạ của ánh sáng. Thời gian tốt nhất trong ngày để ngắm những hang động này là khoảng buổi trưa, khi mặt biển yên tĩnh ta có thể thấy cát hạt cát lăn tăn hòa quyện cùng nước biển.

Các hang động ngọc bích được hình thành do cấu tạo địa chất đặc biệt tạo thành một chuổi các hang động dọc bờ biển theo hướng Tây Bắc của hòn đảo, chúng bắt đầu từ Agios Nikolaos và kết thúc gần Skinari Cape.

Các hang động này chỉ có thể tham quan bằng đường biển, từ thành phố Zakynthos hoặc bằng thuyền từ ngọn hải đăng Skinari gần đó.

Hang băng Skaftafeli, Iceland

Sững sờ trước những thiên đường mặt đất

Hang băng Skaftafeli nằm trong khuôn viên công viên quốc gia Skaftafeli ở niềm Nam Iceland. Bước vào hang bạn sẽ có cảm giác như bước vào trong nhà gương bởi băng ở đây trong suốt.

Hồ Plitvic – Croatia

Sững sờ trước những thiên đường mặt đất

Vườn quốc gia Plitvice nằm trên cao nguyên cùng tên ở Croatia; gần biên giới với Bosnia và Herzegovina – một nơi nổi tiếng với cảnh quan thiên nhiên độc đáo. Công viên Plitvice trở thành Di sản quốc gia của Croatia năm 1949 và đồng thời cũng được công nhận là Di sản thế giới 30 năm sau đó. Tại Plitvice có 16 chiếc hồ nối liền với nhau từng tầng ở độ cao 636m tới 503m,trong đó có 12 hồ ở trên cao và 4 hồ nước ở
phía dưới.

Cửu Trại Châu, Trung Quốc
Sững sờ trước những thiên đường mặt đất

Cửu Trại Châu (Thành Đô, Trung Quốc) mùa thu đẹp như một bức tranh. Quả nhiên xứng với tên gọi “thiên đường hạ giới”, Cửu Trại Châu sở hữu phong cảnh thiên nhiên
độc đáo, gần như chưa có sự can thiệp của bàn tay con người.

Đảo Bora Bora

Sững sờ trước những thiên đường mặt đất

Đảo Bora Bora cách Papeete, trung tâm Polynésie, Pháp, 230km về phía tây bắc, được bao quanh bởi một đầm phá lớn và một rặng san hô dài. Trung tâm của đảo là tàn tích của một ngọn núi lửa đã tắt. Qua thời gian và các hoạt động địa chất, hai ngọn núi lớn
của đảo là Pahia và Otemanu đã được hình thành.

Bora Bora rất nổi tiếng với làn nước trong xanh và dải cát trắng mịn màng quanh đảo. Hỏn đảo xinh đẹp này được rất nhiều người ưu ái gọi là thiên đường du lịch biển ở Thái Bình Dương.

Động Cẩm Thạch, Chile

Sững sờ trước những thiên đường mặt đất

Vẻ đẹp thiên nhiên độc đáo của những vách đá cẩm thạch cùng với dòng nước trong xanh tuyệt đẹp đã mang lại cho động cẩm thạch Marble Cathedral nét cuốn hút đặc biệt đối với du khách thập phương. Động cẩm thạch Marble Cathedral tọa lạc tại hồ General Carrera (hồ nước ngọt lớn thứ hai của vùng Nam Mỹ) ở Pantagonia, Chile

Vườn Marqueyssac

Sững sờ trước những thiên đường mặt đất

Marqueyssac là một khuôn viên có từ thế kỷ 17 với những khu vườn nằm ở Vézac, tại Dordogne của nước Pháp. Khuôn viên được tạo dựng vào cuối thế kỷ 17. Đó có thể gọi là công trình tuyệt đẹp với những view trên cao của khối vách đá nhìn xuống thung lũng Dordogne.

Đường trượt băng giữa hồ Paterswoldse Meer, ở miền nam Hà Lan

Sững sờ trước những thiên đường mặt đất

Sững sờ trước những thiên đường mặt đất

Hẻm băng, Greenland, Đan Mạch
Sững sờ trước những thiên đường mặt đất

Greenland là một quốc gia tự trị nằm trong vương quốc Đan Mạch và là hòn đảo lớn nhất thế giới. Đây là một quốc giá rất đặc biệt, bởi khoảng 81% diện tích bề mặt Greenland bị băng bao phủ. Hiện tượng băng tan ở đây đã tạo nên một hẻm núi sâu khoảng 46m.

Cầu treo Capilano

Sững sờ trước những thiên đường mặt đất

Cầu treo Capilano (Capilano suspension bridge) ở Vancouver là một cây cầu đoạt được 3 cái nhất thế giới: cao nhất, xưa nhất và dài nhất. Mỗi năm khoảng trên 800,000 du khách đã đến đây thăm viếng và đi qua cây cầu này.

Hồ Moraine, Canada

Sững sờ trước những thiên đường mặt đất

Moraine thuộc công viên quốc gia Banff, cách làng hồ Louise 14km, ở tỉnh Alberta, Canada. Hồ nằm trong thung lũng dưới chân núi Ten Peaks, gồm 10 đỉnh phủ đầy tuyết trắng, ở độ cao trung bình 1.885m trên mực nước biển, được bao bọc bởi dãy núi đá Canada Rocky xinh đẹp. Diện tích mặt hồ rộng 0,5 km2.

Hồ Moraine chỉ đón du khách từ tháng 6 đến tháng 10 hàng năm khi băng tuyết trên núi Ten Peaks tan chảy và trút xuống lòng hồ tạo thành sắc xanh diễm lệ.

Petra, Jordan
Sững sờ trước những thiên đường mặt đất

Petra – khu di tích khảo cổ ở miền Tây Nam Jordan, một trong những điểm du lịch nổi tiếng với nhiều công trình kiến trúc và tượng đài được chạm trổ tinh xảo trên vách đá.

Nét kiến trúc A Rập cổ độc đáo cùng với bề dày văn hóa lịch sử, thể hiện trên các di vật ở đây đã tạo nên nét hấp dẫn thu hút du khách khắp nơi đến tham quan Petra mỗi năm.

Lâu đài Benteng Chittorgarh, Ấn Độ
Sững sờ trước những thiên đường mặt đất

Lâu đài Benteng Chittorgarh, Ấn Độ đẹp như bước từ trong các câu chuyện cổ tích ra đời thật.

Vườn hoa Keukenhof, Hà Lan

Sững sờ trước những thiên đường mặt đất

Keukenhof, ở Lisse, một thị trấn nhỏ ở phía nam Amsterdam, Hà Lan, là một trong những vườn hoa lớn nhất thế giới. Keukenhof mở cửa cho khách du lịch bắt đầu từ tuần cuối cùng của tháng 3 đến giữa tháng 5.

Lễ hội đèn trời tại Đài Loan

Sững sờ trước những thiên đường mặt đất

Vào dịp lễ Nguyên Tiêu, giống như nhiều nước khác Đài Loan cũng tổ chức lễ hội đèn trời với qui mô hoành tráng. Trong lễ hội, những chiếc đèn lồng được thả lên trời sau khi được viết vào giấy đèn lồng những mong muốn, ước nguyện của người thả với niềm tin là mong muốn của họ bay lên trời và được chuyển giao cho thần thánh…

The Wave, Arizona, Mỹ

Sững sờ trước những thiên đường mặt đất

Sau hơn 190 triệu năm hình thành, những đụn cát biến thành núi đá gặp sự bào mòn bền bỉ của gió đã hình thành vô số đường cong mềm mại như những con sóng, tại khu vực nằm giữa hai bang của Mỹ là Arizona và Utah.

Để chiêm ngưỡng kỳ quan thiên nhiên nhưng còn ít người biết đến này chỉ có cách đi bộ khoảng ba dặm, từ nơi gần nhất mà ôtô có thể tiếp cận.

Đỉnh Roraima, Brazil

Sững sờ trước những thiên đường mặt đất

Núi Roraima là ngọn núi cao nhất trong cao nguyên Pakaraima, Nam Mỹ. Nó nằm trên biên giới 3 nước Venezuela, Brazil và Guyana.

Núi Roraima là dãy núi luôn ngập trong mây, khung cảnh tựa như trong truyện cổ tích với một hệ động, thực vật phong phú và rất nhiều giống, loài độc nhất vô nhị chỉ có ở nơi đây. Toàn bộ bề mặt của núi là đá sa huỳnh. Do luôn nằm lẫn trong mây nên Roraima quanh năm mưa ẩm.

(theo tìin)

nguồn: Anh Nguyễn Đình Hữu gởi

Lòng Chúa Thương Xót tại Giáo xứ Thanh Đa

Lòng Chúa Thương Xót tại Giáo xứ Thanh Đa

Trầm Thiên Thu

1/12/2013                                         nguồn: Vietcatholic.net

TGP SAIGON – Chiều thứ Sáu, 11-1-2013, theo truyền thống tốt lành của giáo hạt Gia Định, các cộng đoàn Lòng Chúa Thương Xót (LCTX) của các giáo xứ trong giáo hạt Gia Định quy tụ về Gx Thanh Đa cùng tôn vinh LCTX. 14 giờ 30, mọi người lần Chuỗi LCTX; đúng “giờ linh” 3 giờ là Thánh Lễ do Lm Đaminh Nguyễn Đình Tân chủ tế.

Tôn kính LCTX là lòng sùng kính của thời đại chúng ta, thời cánh chúng. Khi làm việc sùng kính LCTX, cũng như các việc đạo đức khác, chúng ta cần tự cẩn trọng, vì có thể “quen quá hóa lờn”, lo hình thức và nghi thức mà quên tâm điểm phải là nội tâm chân thành với Thiên Chúa. Yêu thương là điều chúng ta nghe nói hằng ngày, càng cao niên càng nghe nhiều, mà Luật Chúa cũng chỉ có nhiêu đó, thế mà chúng ta vẫn chẳng thực hiện được bao nhiêu. Nói rất dễ, nhưng làm thì chẳng dễ chút nào!

Nhật Ký của Thánh Faustina, số 1541, ghi lại lời Chúa Giêsu: “Hãy khuyến khích
các linh hồn lần Chuỗi LTX mà Ta trao cho con. Chuỗi kinh này làm cho Ta vui
lòng ban cho mọi ơn mà họ cầu xin Ta qua Chuỗi kinh này. Khi các tội nhân lần
Chuỗi kinh này, Ta sẽ làm cho tâm hồn họ đầy sự bình an, và trong giờ chết họ
sẽ là người hạnh phúc”. Điều đó làm tăng lòng tin nơi chúng ta khi lần Chuỗi
LCTX và thêm tín thác nơi Thánh Tâm Thương Xót của Đức Kitô, Đấng đã chấp nhận
làm người để cứu độ nhân loại.

Thiên Chúa đã nói qua miệng ngôn sứ Êdêkien: “Ta sẽ chăn dắt chúng trong đồng
cỏ tốt tươi và chuồng của chúng sẽ ở trên các núi cao Ít-ra-en. Tại đó chúng sẽ
nằm nghỉ trong chuồng êm ái, sẽ đi ăn trong đồng cỏ mầu mỡ trên núi non
Ít-ra-en. Chính Ta sẽ chăn dắt chiên của Ta, chính Ta sẽ cho chúng nằm nghỉ.
Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương,
Ta sẽ băng bó; con nào bệnh tật, Ta sẽ làm cho mạnh; con nào béo mập, con nào
khoẻ mạnh, Ta sẽ canh chừng. Ta sẽ theo lẽ chính trực mà chăn dắt chúng” (Ed
34:14-6). Rõ ràng Thiên Chúa yêu thương mọi người, không trừ ai, thậm chí con
chiên nào yếu thì càng được Ngài quan tâm chăm sóc, như Thánh Phaolô xác định:
“Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội” (Rm 5:20).

Nói đi nói lại cũng vẫn là yêu thương. Tình yêu phát xuất từ Thánh Tâm, lòng
thương xót cũng phát xuất từ Thánh Tâm. Cách gọi khác nhau nhưng vẫn là MỘT:
Tình yêu à Thánh Tâm à LCTX.

Trong bài giảng, Lm Tân cũng nhấn mạnh đến chiều kích yêu thương khi tôn sùng
LCTX. Thánh Gioan là Tông đồ mệnh danh là người-được-Chúa-yêu và được tựa đầu
vào ngực Chúa Giêsu trong Bữa Tiệc Ly để nghe được nhịp-thổn-thức của LCTX,
thánh nhân nói rõ: “Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên
Chúa là tình yêu” (1 Ga 4:8). Thậm chí thánh nhân còn nói “toạc móng heo” hơn:
“Nếu ai nói: ‘Tôi yêu mến Thiên Chúa’ mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ
nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể
yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1 Ga 4:20). Nghe mà “nhột gáy” quá!

Thường thì ai cũng chỉ yêu người yêu mình, và không ưa người không ưa mình,
thậm chí ai không theo “phe” mình thì mình cũng “chơi tới bến”. Thế nhưng Chúa
Giêsu bảo rằng làm như vậy thì ai cũng làm được, người tội lỗi và người ngoại
cũng vẫn làm, sống LCTX là phải yêu cả kẻ thù (x. Mt 5:44; Lc 6:27 & 35).
“Căng” thật đấy!

Nhưng phải là như thế, không thế không được. Vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng
ta trước, yêu vô điều kiện, yêu ngay khi chúng ta là những tội nhân khốn nạn và
đáng chết, thậm chí còn chết vì các tội nhân là chính chúng ta. Chắc chắn chúng
ta không yêu thương nhau thì không xong với Chúa đâu, đừng “lẻo mép”! Chính
người đời còn nói: “Ai khổ vì yêu, hãy yêu hơn nữa; chết vì yêu là sống trong
tình yêu” (Victor Hugo). Chết vì yêu lại là sống vì yêu. Lạ thật!

Yêu thương có liên quan mật thiết với tha thứ. Vĩ nhân Gandhi nói về lòng tha
thứ: “Cách xử thế vàng là biết tha thứ cho nhau”. Chính ông đã nói rằng “Bài
Giảng Trên Núi” (Bát Phúc hoặc Tám Mối Phúc Thật) của Chúa Giêsu là bản tuyên
ngôn độc lập tuyệt vời nhất.

LCTX đã có từ đời đời, chính Đức Maria đã tung hô: “Đời nọ tới đời kia, Chúa
hằng thương xót những ai kính sợ Người” (Lc 1:50), nhưng rõ ràng nhất là “giờ
linh” trên đồi Can-vê. Trước đó, quân lính đã đánh giập ống chân hai tội nhân
cùng bị đóng đinh với Đức Giêsu. Họ cũng định đánh giập ống chân Ngài luôn,
nhưng thấy Ngài đã tắt thở nên họ không đánh giập ống chân Ngài. Tuy nhiên, một
người lính lại “chơi khăm” mà lấy giáo đâm vào cạnh sườn Ngài. Nhân chứng Gioan
cho biết: “Tức thì, máu cùng nước chảy ra” (Ga 19:34). Đỉnh cao của LCTX là đó!

Xin “mở ngoặc” một chút. Nhà thờ Thanh Đa có ghi câu: “Hãy mang trong anh em
những tâm tư của Đức Kitô” (Pl 2:5), cả ở ngoài và trong nhà thờ. D(ó là câu
“châm ngôn” dành cho mọi người sống trong năm. Thiết nghĩ đây cũng là cách nhắc
nhở hay, vì sống kết hiệp với Chúa và cầu nguyện liên lỉ là điều rất cần thiết
cho bất kỳ ai.

Nói tới nhà thờ Thanh Đa, tưởng cũng nên nhắc lại “kỷ niệm đẹp” về Mẹ Têrêsa
Calcutta, người sáng lập Dòng Bác Ái Thừa sai. Gx Thanh Đa vùng ven của nội
thành Saigon nhưng đã được đặc ân đón tiếp Mẹ Thánh hai lần ghé thăm. Hiện nay,
nơi hàng ghế đầu của dãy bên trái nơi Nhà thờ Thanh Đa có di ảnh của Mẹ Thánh
nơi Mẹ đã quỳ tham dự Thánh lễ, và luôn có bình hoa tươi để tưởng nhớ Mẹ.

Chân phước Têrêsa Calcutta đến Nhà thờ Thanh Đa lần thứ nhất vào một buổi chiều
đầu tháng 11-1993, cùng đi với Mẹ có nữ tu Nirmala (nay là Bề trên Tổng quyền
Dòng Thừa Sai Bác ái), để tìm hiểu ơn gọi và xin mở cơ sở của Dòng tại đây.
Ngày 21-4-1994, Mẹ Têrêsa Calcutta đến Gx Thanh Đa lần hai, trao đổi với Lm
Đaminh Nguyễn Đình Tân về ý nguyện của Mẹ, Cha Đaminh rất cảm kích vì sự ưu ái
mà Mẹ dành cho giáo xứ và ngài sẵn sàng để ước nguyện của Mẹ thành sự thật. Rất
tiếc, do không được phép từ chính quyền, việc mở cơ sở tại đây vẫn chưa được
thực hiện.

Ngày 5-9-1997, Mẹ đã từ giã cõi đời để về Quê Thật theo tiếng gọi của Chúa,
ngày này cũng là ngày Giáo hội mừng kính Mẹ hằng năm.

Để tỏ lòng tôn kính và tri ân Mẹ Têrêsa Calcutta, ngày 14-5-2008, tượng đài của
Mẹ Thánh đã được trang trọng khánh thành trong khuôn viên thánh đường, gọi là
LINH ĐỊA TÊRÊSA CALCUTTA THANH ĐA.

Cô gái Pakistan: Malala Yousafzai – tiếng nói cho giáo dục

Cô gái Pakistan: Malala Yousafzai – tiếng nói cho giáo dc

Jos. Tú Nạc,

 

NMS 1/11/2013

nguồn:Vietcatholic.net

“Họ không cấm được tôi. Tôi cần nhận được sự giáo dục. Dù ở nhà, ở trường học, hay bất cứ nơi nào. Đây là yêu cầu của chúng tôi đối với toàn thế giới. Hãy cứu Pakistan chúng tôi! Hãy cứu Swat của chúng tôi.”

Đây là những lời của Malala Yousafzai. Cô là một thiếu nữ từ Thung lũng Swat ở
Pakistan. Malala đã thốt lên những lời này trong phim “Class Dismissed”. Cuốn
phim này nói về sự giáo dục đối với thiếu nữ ở Thung lũng Swat. Adam Ellick và
tờ New York Times đã dựng cuốn phim này năm 2009. Họ bắt đầu cuốn phim này sau khi một nhóm, gọi là Taliban, nắm quyền kiểm soát thung lũng này. Nhóm Hồi giáo cực đoan này tuyên bố cấm sự giáo dục đối với thiếu nữ.

Malala không đồng ý với Taliban. Cô đã tranh đấu cho sự giáo dục của mình ở
tuổi 11. Từ đó, cô là tiếng nói cho nền giáo dục của thiếu nữ. Sự tranh đấu của
cô đã ảnh hưởng đến thế giới.

Cuối năm 2008, Taliban đưa ra một thông báo trên đài phát thanh. Họ nói rằng
sau ngày 15 tháng 1 ngăm 2009, con gái ở thung lũng swat không còn được đi học.
thông báo này làm Malala rất buồn. Cô đã yêu mái trường.

Sau thông báo này Malala đạ viết một cuốn nhật ký. Mỗi ngày cô đều viết những
suy nghĩ và trải nghiệm của mình. Nhưng Malala không giấu kín cuốn nhật ký. Cô
đã chia sẻ cuốn nhật ký của cô trên website tin tức BBC của Pakistan. Malala
muốn cho thế giới biết về nỗ lực tranh đấu của cô cho giáo dục.

Để bảo vệ sự sống, cô đã dùng bút danh là Gul Makai. Cô đã nói với Owais Tohid,
người viết tin tức của chương trình Spotlight, lý do mà cô muốn chia sẻ cuốn
nhật ký của mình trên internet.

“Tôi muốn gào thét lên. Tôi muốn nói với toàn thế giới những gì mà chúng tôi
đang phải trải qua. Nhưng điều đó không thể. Taliban sẽ giết tôi, giết cha tôi
và cả gia đình tôi. Tôi không muốn chết mà không để lại một dấu tích nào. Nên
khi viết tôi đã chọn một cái tên khác.”

Năm 2009, Pakistan đã đánh Taliban. Trong thời gian giao chiến. Malala và gia
đình đã rời khỏi nhà, nhiều gia đình khác cũng rời khỏi Thung lũng Swat. Sau
vài tháng, chính quyền Pakistan giành được quyền kiểm soát Thung lũng Swat.
Nhưng nhiều thủ lĩnh Taliban vẫn ở trong khu vực này.

Malala và gia đình trở lại thung lũng Swat. Cô cũng đến trường trở lại. Malala
đã bắt đầu lên tiếng nhiều về vần đề quyền lợi giáo dục cộng đồng đối với thiếu
nữ. Sau đó, Adam Ellich đã phát hành phim tài liệu về những trải nghiệm của
Malala. Malala và cha cô đã gặp những nhà lãnh đạo quốc tế. Cô đã xuất hiên
trên truyền hình. Cô đã nói chuyện với nhiều cơ quan thông tấn. Vượt thời gian,
Malala đã trở nên nổi tiếng về sự can đảm của cô đã dám lên tiếng chống lại
Taliban.

Dân chúng trên khắp thế giới đã chú ý đến những nỗ lực của Malala. Năm 2011,
những viên chức nhà nước đã giới thiệu cô là ứng viên Giải thưởng Hòa binh
Thiếu nhi Quốc tế, Cô không đạt. Nhưng cô được tôn vinh về lòng can trường và
dũng cảm. Malala đã nói với BBC về cách mà các phương tiện truyền thông tin tức
đã giúp đỡ tạo cho công việc của cô thực hiện được.

“Trường Trung học và Cao đẳng Khushal của tôi và những phương tiện truyền thông
đại chúng đã ủng hộ tôi rất nhiều. Nếu không có BBC, không có New York Times,
làm sao mà tiếng nói của tôi có thể vươn tới quần chúng.”

Dân chúng Pakistan cũng tôn vinh những nỗ lực của Malala cho nền giáo dục nữ
giới. Tháng 12 năm 2011 các viên chức thẩm quyền đã trao tặng cho cô Giải
thưởng Hòa bình Quốc gia dành cho Thanh niên đầu tiên cho cô. Sau khi nhận phần
thưởng này, Malala đã nói với các cơ quan truyền thông. Cô nói với họ về những
kế hoạch của mình trong tương lai.

“Tôi muốn thay đổi hệ thống chính trị để có một xã hội công bằng và bình đẳng.
Tôi muốn thay đổi vị trí của thiếu nữ và phụ nữ. Tôi có kế hoạch mở trường học
của riêng tôi cho thiếu nữ.”

Nhưng không một ai ở Pakistan tự hào về những thành công của Malala. Taliban
không bằng lòng ý kiến những ý kiến của cô. Họ không ưa cách mà cô đã cổ vũ
thiếu nữ và phụ nữ đi học.

Vào ngày 9 tháng Mười năm 2012, những phần tử thuộc Taliban đã cố tìm cách giết
cô. Họ muốn làm im tiếng nói của cô mãi mãi. Vào lúc tan trường của Malala.
Malala và các học sinh khác đang trên xe bus nhà trường về nhà. Những người có
vũ trang súng đã chận chiếc xe bus. Một trong số họ đã yêu cầu cho biết học
sinh nào là Malala Yousafzai. Kho họ thấy cô, họ đã bắn cô. Những viên đạn đã
trúng đầu và ngực cô. Và cũng trúng hai em khác trên xe bus. Sau biến cố kinh
hoàng này, những tay súng đã bỏ chạy.

Malala đã bị thương rất trầm trọng. Nhưng cô vẫn còn sống sau cuộc tấn công
này. Các bác sỹ đã thực hiện một cuộc giải phẫu để lấy những viên đạn ra. Nhưng
người ta sợ Malala không được an toàn tại bệnh viện địa phương. Họ sợ Taliban
sẽ tìm cách giết cô lần nữa. Nên gia đình Malala và các bác sỹ quyết định đưa
cô rời khỏi Pakistan. Họ đã đưa cô bằng máy bay tới Anh quốc để chữa trị.

Tin tức về Malala đã lan khắp thế giới. Nhiều người tỏ ra căm phẫn Taliban đã
nhắm mục tiêu vào một cô gái trẻ trung, vô tội. Những người khác yêu cầu chính
phủ Pakistan phải đưa ra những hành động của họ. Nhưng hầu hết người ta noi về
việc mà Malala đã tranh cho đấu cho giáo dục đã ảnh hưởng tới họ. Feryal Gauhar
đã viết những suy tư của bà trên tờ Express Tribune của Pakistan.

“Tiếng nói của em là tiếng nói mà đã làm cho chúng ta cân nhắc kỹ rằng có thể
có những đường lối khác để hành động. Điều đó có thể là sự kháng cự đối với mọi
hình thức trấn áp. Hôm nay, những cố gắng làm im tiếng sẽ chỉ tạo cho em thêm
mãnh mẽ hơn.”

Hai nhóm quyền phụ nữ ở Anh, họ đã tổ chức một cuộc tập trung ủng hộ Malala.
Tại sự kiện này, họ đã lên tiếng.

“Malala dũng cảm đã nói lên những gì mà nhiều người trong chúng ta muốn nói
nhưng chúng ta rất sợ …Giống như nhiều người trên khắp thế giới, chúng ta được
đánh thức và cổ vũ bời lòng quả cảm của cô. Chúng ta cầu mong cô và bạn bè của
cô mau bình phục,”

Giờ đây, dân chúng trên toàn thế giới đang trả lời. Cha của cô, ông Ziauddin
Yousafzai đã nói với tạp chí Time,

“Mọi người trên toàn thế giới đã lên án cuộc tấn công bằng những lời mạnh mẽ.
Họ đã cầu nguyện cho con gái tôi. Cháu không chỉ là con gái của tôi, mà cháu là
con gái của mọi người, chị em của mọi người.”

Người Mỹ gốc Việt có tên trong danh sách ‘tài năng trẻ’ của Forbes

Người Mỹ gốc Việt có tên trong danh sách ‘tài năng trẻ’ của Forbes

Danh sách có tên gọi ’30 under 30’ của Forbes gồm 30 cá nhân xuất sắc nhất dưới 15
tuổi trong 15 lĩnh vực như tài chính, marketing hay công nghệ.

 

VOA Tiếng Việt

15.01.2013

Anh Nam Nguyễn, 29 tuổi, mới được tạp chí Forbes chọn vào danh sách những
thanh niên tài năng dưới 30 tuổi, có khả năng tạo nên sự thay đổi trên toàn thế
giới.

Danh sách có tên gọi ’30 under 30’ gồm 30 cá nhân xuất sắc nhất dưới 15 tuổi
trong 15 lĩnh vực như tài chính, marketing hay công nghệ.

Anh Nam Nguyễn dứng ở vị trí thứ 19 trong danh sách hơn 30 thanh niên xuất sắc nhất trong lĩnh
vực marketing và quảng cáo.

Trả lời VOA Việt Ngữ, anh Nam cho biết anh rất bất ngờ khi được Forbes lựa
chọn.

Anh Nam cho biết: “Đây không phải là điều tôi từng mong đợi, nhất là một
giải thưởng có quy mô như vậy. Forbes là một tạp chí danh tiếng, với lượng
người đọc có khả năng xuất sắc. Vì vậy nên khi được nêu tên trong danh sách ‘30
under 30’, tôi thực sự bị choáng ngợp, nhưng đồng thời cũng cảm thấy hết sức
vinh dự.”

Chàng thanh niên gốc việt 29 tuổi là giám đốc phụ trách về nội dung của công ty
360i.

Anh quản lý nội dung theo thời gian thực, tận dụng các dữ liệu về người tiêu
dùng để tạo ra các sản phẩm đa phương tiện cho các công ty lớn như Coca-Cola
hay Kraft Foods.

Anh Nam Nguyễn sinh ra và lớn lên tại California.  Nhưng anh cho biết Việt
Nam có một vị trí quan trọng trong anh và đó chính là lý do vì sao anh đã giữ
tên họ Việt Nam.

Anh Nam cũng mới cùng cha trở lại Việt Nam, và anh gọi đó là một ‘ước mơ đã
thành sự thật’.

Anh Nam nói: “Tôi sinh ra và lớn lên ở Hoa Kỳ, tôi luôn luôn tự hỏi về
nguồn gốc Việt Nam của mình. Dù là một người Mỹ nhưng tôi luôn tự hào là một
người gốc Việt. Tôi thất rất hạnh phúc khi được cảm nhận văn hóa Việt Nam từ âm
thanh của đường phố, quang cảnh, con người và ẩm thực của Việt Nam. Tôi thật sự
xúc động được trở về nơi đã sinh ra cha mẹ tôi.”

Anh Nam nói với VOA Việt Ngữ rằng anh hy vọng sẽ có dịp quay trở lại Việt Nam
trong tương lai.

 

Bởi yêu thương là điều không đơn giản

Bởi yêu thương là điều không đơn giản

‘Chúng ta sẽ luôn bên nhau, không xa rời’.

Năm 7 tuổi, cậu đi học về tình cờ thấy một cô bé đứng khóc run rẩy vì trước mặt
là con chó hung dữ đang gầm gừ. Không chần chừ, cậu vớ lấy cây sao nhét

bên hông cặp, chạy đến đánh đuổi con vật rồi cùng cô bé nọ chạy thoát.

Được một đoạn, cả hai dừng lại thở…

“Cám ơn cậu nha!” Cô bé lau nước mắt nói.

“Không có gì. Lần sau cậu đừng đi đường đó nữa. Chó dữ lắm”. Cậu dặn dò.

“Nhưng đường về nhà mình chỉ có thể đi qua đó thôi”.

Nghe vậy, cậu nhóc đắn do hồi lâu rồi bảo:

“Hay là đến chiều, cậu đứng chờ mình ở đầu đường khi nãy mình sẽ giúp cậu về nhà”.

“Thiệt hả? Tuyệt quá! Thế chúng ta làm bạn nhé!”.

Cậu cười tươi, gật đầu.

Năm 10 tuổi, cậu nhóc và cô bé đã là đôi bạn thân. Một hôm, cô bé mang sổ liên lạc về khoe bố mẹ vì đạt thành tích cao. Nhưng không may, bố mẹ lại đang cãi nhau. Trong lúc nóng giận, họ đã ném cuốn sổ đi và la mắng con.

Cô bé bật khóc, chạy ra khỏi nhà đến tìm cậu bạn.

Cậu nhóc không ngừng an ủi, chọc cười cô bé.

“Cám ơn cậu vì đã luôn bên mình.” Cô bé nói khẽ.

“Bất kể khi nào cậu cần, mình sẽ luôn bên cạnh!” Cậu tuyên bố.

“Vậy… chúng ta hãy hứa sẽ luôn bên nhau, không xa rời!”.

Lời đề nghị của cô bé vừa dứt, cậu nhóc đồng ý liền: “Ừ, hứa!”.

Năm 14 tuổi, cả hai dần có tình cảm với nhau. Ngày nọ, cô bé bị đám bạn trai cùng lớp bắt nạt. May thay cậu nhóc thấy và lập tức chạy đến bảo vệ cô. Vì chúng quá đông nên cậu bị đập một trận tơi bời.

“Xin lỗi, vì mình mà cậu ra thế này.” Cô bé vừa băng bó vết thương cho cậu vừa khóc.

“Có gì đâu, mình ổn. Cậu bị hiếp đáp, dĩ nhiên mình phải bảo vệ.” Dù rất đau nhưng cậu cứ cười lớn.

Im lặng một lúc, cô bé khẽ cất tiếng:

“Thế, chúng ta tiếp tục lời hứa sẽ luôn bên nhau, không xa rời nha?”

Mặt đột nhiên đỏ ửng nhưng cậu vẫn đáp:
“Ừm, hứa!”

Năm 18 tuổi, hai người học cùng trường.
Vào ngày sinh nhật mình, cậu đã bất ngờ hôn cô.

“Cậu thích không?” Cậu ngập ngừng hỏi.

“Mình chờ nụ hôn này lâu lắm rồi”.
Cô bẽn lẽn nói.

“Chúng ta sẽ luôn bên nhau, không xa rời!”. Cậu nắm tay cô, dịu dàng lặp lại lời hứa.

Cô không đáp chỉ mỉm cười gật đầu.

Năm 23 tuổi, anh cầu hôn cô. Một lễ cưới hạnh phúc diễn ra trong thánh đường. Khi Cha đọc lời thể xong, cả hai cùng đồng thanh.

“Con đồng ý.”

Lúc đeo nhẫn cưới vào tay cô, anh hỏi: “Sẽ luôn bên nhau, không xa rời?”

Cô nở nụ cười thật tươi, trả lời:
“Vâng, em hứa!”

Năm 25 tuổi, khi đã là vợ chồng được hai năm, ngày nọ, cô hẹn anh ra và trao lại nhẫn cưới.

“Mình chia tay anh nhé”. Cô chậm rãi bảo.

“Tại sao?” Anh vô cùng kinh ngạc.

“Em thật sự xin lỗi! Cảm giác yêu thương em dành cho anh đã không còn như xưa!” Cô cúi đầu, nói thật khẽ.

Khi cô rời khỏi, chàng trai cầm nhẫn cưới trong tay, im lặng rất lâu. Sau đó, anh mỉm cười: “Tiếp tục lời hứa sẽ luôn bên nhau, không xa rời”.

Hôm ấy, chỉ còn một mình anh hứa.

Năm 26 tuổi, ly dị xong cô quen người yêu mới. Còn anh, vẫn yêu cô. Mỗi ngày, anh đều đứng từ xa quan sát cô nói chuyện vui vẻ với người con trai xa lạ.

Nhìn cô, anh thì thầm: “Sẽ luôn bên nhau, không xa rời”.

Lúc giận bạn trai, cô ngồi khóc một mình. Anh thấy liền giả làm thú bông đến tặng cô bó hoa và  chọc cười.

Trông cảnh người yêu cầm hoa, cười trở lại, trong đầu anh nghĩ: “Sẽ luôn bên nhau, không xa rời”.

Năm 30 tuổi, bạn trai đi xa, cô ở lại một mình. Và anh, biết tin mình bị bệnh nan y.

Mỗi buổi chiều, dù mưa hay nắng, anh đều trốn khỏi bệnh viện đến nơi làm việc chỉ để được nhìn cô. Dù mệt mỏi, anh vẫn âm thầm đi theo để biết rằng, cô đã về nhà an toàn.

“Sẽ luôn bên nhau, không xa rời”.
Anh luôn nói câu đó trước khi quay lưng trở về.

Bệnh trở nặng, bác sĩ bắt anh phải ở trong bệnh viện. Nhưng anh không nghe, tiếp tục ra ngoài vì biết tối nay cô sẽ dự sinh nhật một mình.

Cô ngồi tại quán cafe ăn bánh kem trong nỗi cô đơn. Và cô đã không biết, cách đó mấy chiếc bàn, anh âm thầm bên cô đón sinh nhật.

“Sẽ luôn bên nhau, không xa rời”.
Anh để dành lời hứa năm xưa làm quà cho cô.

Tối đó, anh và cô cùng về muộn.

Năm 32 tuổi, người yêu cô trở về rồi cả hai quyết định kết hôn. Về phía anh, bác sĩ lắc đầu, bảo hết hy vọng. Ngày cuối cùng, mặc cơn đau của bệnh, anh vận đồ thật đẹp đến dự đám cưới lần thứ hai của cô.

Lúc chú rể đeo nhẫn cho cô, anh nở nụ cười:

“Lời hứa sẽ luôn bên nhau, không xa rời có lẽ anh không thể thực hiện được nữa. Nhưng từ giờ, đã có người thay anh tiếp tục lời hứa đó với em!”.

Khi chúc phúc cô xong, anh rời khỏi thánh đường.

Trưa hôm ấy, người ta thấy có một chàng trai chết trong công viên. Anh ngồi trên ghế đá với vẻ mặt thanh thản.

Dù yêu theo cách nào, chúng ta đều mong muốn người mình yêu được hạnh phúc, phải không?

Nguồn: FB

Nguyễn Phi Phượng gởi

ÂN SỦNG

ÂN SỦNG (CN 2 QN.C)

(Is 62, 1-5; 1Cor 12, 4-11; Ga 2, 1-12)

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Tất cả là hồng ân. Hồng ân, ân sủng, đặc ân, đặc sủng, qùa tặng, tài năng, ân lộc, ân phúc, phúc lộc, thiên tài, an lạc và hạnh phúc đều là những món qùa được trao ban. Người ta thường nói: Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên. Trải qua bao đời, cha ông của chúng ta đã nghiệm ra rằng con người không thể làm chủ toàn diện đời mình. Trước hết, mỗi người đón nhận hồng ân sự sống để được hiện hữu. Mỗi tạo vật lãnh nhận một kho tàng mầu nhiệm một cách nhưng không. Người hữu thần tin tưởng vào Thượng Đế, Đấng đã tạo dựng và quan phòng vạn vật muôn loài trong trật tự. Người vô thần cắt đứt nguồn gốc sáng tạo và chỉ chú tâm vào nỗ lực của con người hiện tại. Có người nghĩ rằng với khả năng và nỗ lực tu tâm và tu
thân, con  người có thể quyết định hoàn toàn số mệnh của mình. Là người trí tuệ,
chúng ta nên mở rộng tâm trí để học hỏi và trau dồi kiến thức thêm. Quan sát sự
sống muôn loài và vũ trụ vạn vật bao la, điều quan trọng là chúng ta hãy khiêm
tốn chấp nhận thân phận yếu đuối, mỏng dòn và rất giới hạn của mình.

Phần phụng vụ lời Chúa của Chúa nhật thứ hai Thường Niên giúp chúng ta có một xác tín về ân sủng thiêng liêng. Thiên Chúa sáng tạo, dẫn dắt điều khiển sự vận hành của vũ trụ và sự sống của muôn loài. Con người là tạo vật cao quý mà Thiên Chúa đã tác tạo. Mỗi một con người được tựu thai là một tạo vật hoàn toàn mới và duy nhất. Mọi khả năng tiềm tàng về di truyền đã được in ghi trong từng tế bào của mỗi sự sống.
Thượng Đế cho con người có ý chí, lý trí, ước muốn, tự do và khả năng để phát
triển tới đỉnh cao. Con người có thể dùng khả năng và nỗ lực quyết tâm tu tâm
và tu thân để trở nên con người hữu dụng và trọn hảo. Tiên tri Isaia đã diễn
tả: Ngươi sẽ là ngọc miện huy hoàng trong lòng bàn tay Thiên Chúa, sẽ
là mũ triều thiên vương giả Thiên Chúa ngươi cầm ở tay (Is 62, 3).
Đấng
Tạo Hóa trao ban cho mỗi loài có khả năng truyền sinh giống nòi theo cách thế
riêng biệt. Sự sinh xôi nẩy nở và tăng triển thêm nhiều sẽ làm tăng vẻ huy
hoàng của vũ trụ vạn vật. Thiên Chúa đã chúc phúc cho mọi loài được tốt đẹp.

Chúng ta thử suy về nguồn sự sống trong con người cụ thể. Trước khi được hiện hữu, chúng ta chỉ là không. Đã có một khoảnh khắc mỗi người được bắt đầu hiện hữu. Mầu nhiệm sự sống khởi đầu từ sự kết hợp giữa mầm sống từ cha và mẹ. Ôi thật bé nhỏ và nhiệm mầu! Chỉ trong tế bào tí ti đó đã ẩn tàng mọi sự. Sự sống đó không chỉ bắt đầu từ cha và mẹ nhưng nó được nối dài từ thuở tạo dựng. Mầm sống đó được truyền sinh qua vô lượng kiếp. Sự sống phát sinh ra sự sống. Vậy sự sống trong chúng ta đã được
truyền sinh qua sự sống của muôn thế hệ cha ông. Cha mẹ cộng tác với Tạo Hóa
sáng tạo sự sống nơi mỗi con người một cách đặc thù và riêng biệt. Mỗi cá nhân
đều có Deoxyribonucleic acid (DNA) khác nhau và dấu chỉ tay cũng khác biệt.
Thật lạ lùng!

Người khôn ngoan và trí tuệ là đừng từ chối điều gì mà mình chưa được học hiểu. Vì càng tìm hiểu và học hỏi, chúng ta càng hiện hữu thêm. Chúng ta biết rằng cả kho tàng kiến thức của loài người góp lại cũng chẳng thấm vào đâu so với sự diễn tiến, hiện hữu và sinh tồn của vũ trụ. Nhiều người có trí khôn hiểu biết còn nông cạn, chưa thấu
hiểu được lòng người và cũng chẳng thông suốt thế thái nhân tình, nhưng lại phán
quyết nhiều điều vô căn cớ. Có người lại mạnh miệng lên tiếng phủ nhận sự hiện
hữu của Đấng tác thành mọi sự. Khi không muốn qui phục, người ta chỉ việc đơn
giản chối bỏ uy quyền của Thượng Đế và nói rằng mọi sự hiện hữu là tự nhiên mà
có. Họ nghĩ rằng những người hữu thần tin vào thượng đế là thiếu trí tuệ và
chưa giác ngộ. Đối với họ, thần thánh chỉ như là bánh vẽ hù dọa những người sơ
khai và âu trĩ. Có lẽ chính họ còn đang ngồi trong bóng tối của vô minh

Qua Kinh Thánh mạc khải và quan sát ngắm nhìn sự vạn vần trong vũ trụ, con người nhận ra nguyên nhân cội rễ của muôn loài. Đó chính là nguyên lý nhân qủa. Trông qủa thì biết cây. Ngày xưa, Thiên Chúa đã chọn một dân riêng để chuẩn bị đón nhận Đấng Cứu Thế. Người đã dùng mọi hình thức cụ thể để tỏ bày sự quan tâm chăm sóc, khế ước yêu thương ràng buộc và sự trung tín trong giao ước. Là Kitô hữu, chúng ta tin và tôn thờ một Thiên Chúa có ngôi vị và yêu thương.Tiên tri Isaia đã dùng hình ảnh đôi trai tài gái sắc để diễn tả tình yêu sống động của Đấng tác tạo: Như
tài trai sánh duyên cùng thục nữ, Đấng tác tạo ngươi sẽ cưới ngươi về. Như cô
dâu là niềm vui cho chú rể, ngươi cũng là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ (Is
62, 5).

Thánh Phaolô phân tích một cách khá rõ ràng về những đặc sủng mà mỗi người được lãnh nhận: Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí (1Cor 12, 4). Quan sát cuộc sống trong bất cứ một nhóm người, một hội, môt tổ chức hay một sinh
hoạt chung nào cũng đều có con người có khả năng khác nhau. Mỗi người đều nhận
lãnh khả năng để sinh lợi. Thần khí ban cho mỗi người một cách: Người nói tiên
tri, kẻ giảng dạy, người được ơn chữa bệnh, kẻ làm phép lạ và người được ơn nói
nhiều thứ tiếng…Như trong dụ ngôn về nén bạc, mỗi người đều nhận số vốn khác
nhau: Có kẻ nhận 5 nén bạc, người 2 nén và người 1 nén tùy theo khả năng. Khả
năng, thời gian và tài lực là nguồn vốn của mỗi cá nhân. Điều quan trọng là mỗi
người biết dùng tài năng ân sủng của mình để sinh hoa kết trái. Khả năng như
hạt giống được trao, chúng ta phải biết gieo vãi, vun trồng và chăm sóc thì khả
năng mới phát triển.

Mỗi cá nhân là một thế giới riêng tư nhưng không thể tách rời. Sống là sống chung, sống cùng và sống với người khác, sự liên đới hỗ tương giúp xây dựng một xã hội tốt đẹp: Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung (1Cor 12, 7). Không ai nhận ân sủng cho riêng mình nhưng đều vì ích lợi chung. Cuộc sống rất đa
dạng. Lịch sử loài người phát triển từng bước liên tục và nối dài. Tất cả thành
qủa của chất xám tri thức đã đặt nền tảng phát minh trong mọi thời. Nhờ trí
khôn, con người đã tìm ra được một số những nguyên nhân ẩn tàng trong thiên
nhiên. Mỗi sự phát minh mới đều đặt nền tảng trên các định luật đã có trước. Sứ
mệnh của con người là phục vụ lẫn nhau trong khả năng của mình. Con người có
muôn trùng khả năng chuyên môn và công việc khác nhau để phục vụ công ích.
Chúng ta tuy nhiều nhưng cùng tin vào một Thiên Chúa: Có nhiều việc
phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa (1Cor 12, 5).

Chúa Giêsu đầy quyền năng trong ý tưởng, lời nói và việc làm. Chúa đã hiện hữu từ đời đời có uy quyền sáng tạo và biến đổi cả tinh thần lẫn vật chất. Tại tiệc cưới Cana qua lời khẩn nài của Mẹ Maria, Chúa Giêsu là làm phép lạ đầu tiên biến nước thành
rượu. Thánh Gioan đã viết: Đức Giê-su đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Ca-na
miền Ga-li-lê và bày tỏ vinh quang của Người. Các môn đệ đã tin vào Người (Ga
2, 11).
Với sự cộng tác của con người, Chúa đã tỏ quyền năng và vinh quang của Ngài. Ngài không khoe khoang hô lớn nhưng chỉ hành động âm thầm qua những việc rất bình thường của gia nhân: Đức Giê-su bảo họ: “Các anh đổ đầy nước vào chum đi! ” Và họ đổ đầy tới miệng (Ga 2, 7). Chỉ có các gia nhân biết sự việc đã xảy ra cũng giống như các mục đồng nhận diện ra Chúa nơi máng cỏ Belem.

Chúng ta hãy đến cùng Đức Maria, Mẹ là đấng cầu bầu có thần thế trước tôn nhan Thiên Chúa. Mẹ sẽ dẫn dắt chúng ta đến với Chúa Giêsu. Nghe lời của Thân Mẫu Chúa nói với các gia nhân: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.”(Ga 2,
5).
Lạy Chúa, Chúa đã biến nước thành rượu ngon, xin Chúa biến đổi tâm
hồn chúng con nên khí cụ bình an của Chúa.

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Bronx, New York.

Anh chị Thụ & Mai gởi

Phanxicô Assisi

Phanxicô  Assisi

Br. Huynhquảng

 

 

Nếu Con Thiên Chúa không ngần ngại đến và  sống với thế giới vật chất đổ nát này, thì tôi là ai mà dám khước từ chạy  trốn khỏi thế giới vật chất này?

Khi nghe tên hay thấy hình ảnh của Phanxicô Assisi (Phanxicô Khó Nghèo), nhiều
người trong chúng ta dễ dàng bị thu hút bởi thánh nhân này. Vì lẽ đó, khi nghĩ
đến Phanxicô, chúng ta thường nghĩ về một con người đem sự bình an, yêu thương,
chan hoà giữa con người với nhau và giữa con người với vạn vật trong vũ trụ.
Phanxicô trở nên biểu tượng  cho các cuộc đối thoại nhằm tìm giải pháp hoà
bình, tranh chấp không những giữa các tôn giáo với nhau mà con giữa các nhà
chính trị. Phanxicô còn lá biểu tượng và mẫu gương cho nhiều nhà từ thiện trong
việc giúp đở người nghèo đói trong xã hội. Vậy Phanxicô đã có cuộc sống như thế
nào? Ngài đã hành động ra sao đến nỗi tầm ảnh hưởng của Ngài vẫn còn diễn ra
cho đến hôm nay, sau hơn tám thế kỷ?!

* * *

Phanxicô sinh vào năm 1182 tại Assisium, một thị trấn nhỏ toạ lạc
trên dãy đồi Assisi trong một gia đình thương gia giàu có tại Ý. Dầu được người
cha cưng chiều và được hướng dẫn để tiếp nối trở thành một thương gia giàu có,
Phanxicô đã không tìm được ý nghĩa đích thực của đời mình qua tiền bạc, giàu
sang, và thú vui trần thế. Nhưng Phanxicô đã thực sự tìm được hạnh phúc đời
mình khi chàng từ bỏ địa vị, sự an toàn của bản thân, và danh tiếng của gia
đình để sống và làm bạn với những người ăn xin, ôm ấp và chăm sóc người phong
hủi. Kết quả của sự dấn thân “liều mạng” này chính là bị khước từ quyền làm con
của ông Peter Bernardon, và từ một chàng thanh niên giàu có đã trở thành kẻ ăn
mày bên vệ đường. Đặc biệt từ trong cầu nguyện, Phanxicô đã nghe được tiếng
Chúa trong nguyện đường rách nát St. Damian, “Phanxicô, hãy sửa nhà cho Ta.” Từ
đó, Phanxicô càng dấn thân hơn nữa để sống theo giá trị của Tin Mừng một cách
tuyệt đối. Lạ lùng thay, càng làm người ăn mày, càng làm người chăm sóc bệnh
nhân, càng làm người đi xin từng đồng xu để xây dựng Nhà Chúa, Phanxicô càng có
nhiều bạn và càng thu hút nhiều người theo Phanxicô. Sức mạnh này từ đâu? Lý do
nào mà Phanxicô có sức thu hút lạ thường như thế?

Bàn về thần học, Phanxicô chú trọng vào mầu nhiệm Giáng Sinh hơn là
mầu nhiệm Tử nạn – Phục sinh. Đối với Phanxicô, cái chết và sự phục sinh của
Chúa Kitô là hệ quả tất yếu của mầu nhiệm Giáng sinh làm người của con Thiên
Chúa. Đương thời, nhóm dị giáo Cathars thuộc phái Nhị Nguyên cho rằng,
thế giới vật chất mà con người đang sống là do thần dữ (ma quỉ) và thần lành
tạo dựng. Vì thế, những gì mà con người đang hưởng thụ trong một thế giới vật
chất này đều của ma quỉ. Để cứu con người, Thiên Chúa gởi thiên thần Giêsu đến
để giải thoát con người ra khỏi thế giới vật chất này. Vì cho rằng thế giới này
rách nát và sa đoạ, nên nhóm Cathars chủ trương triệt để khước từ thế giới vật
chất và những đau khổ trong thế giới con người. Họ quan niệm rằng, bệnh hoạn,
tật nguyền, nghèo đói là hậu quả của thế giới vật chất này, nên không thể chấp
nhận chúng được! Vậy mà Phanxicô lại đi ôm và hôn người phong hủi! Vậy mà
Phanxicô lại đi làm bạn với vạn vật cây cỏ và gọi những thụ tạo là anh chị em!
Hành động dấn thân của Phanxicô đã phủ nhận học thuyết của dị giáo Cathars.

Phanxicô ôm trọn con người và thế giới vạn vật là vì Phanxicô được mặc khải tình yêu của Thiên Chúa qua mầu nhiệm Nhậm Thể và Nhập Thế của con Thiên Chúa. Khi chiêm niệm mầu nhiệm Giáng Sinh, Phanxicô đã đi vào cung lòng của Thiên Chúa khi thấu chạm được rằng mầu nhiệm Giáng Sinh của Con Thiên Chúa là hành động tuyệt đối biểu lộ tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người: Chúa Giêsu đã ôm hôn thế giới tội lỗi này bất chấm sự ghê tởm của nó. Chúa Giêsu đã sống và làm người trong thế giới này bất chấp sự mục nát và suy đồi của nó. Đây chính là sức mạnh then chốt mà Phanxicô đã tìm gặp để dấn thân. Nếu Con Thiên Chúa đã không ngần ngại ôm hôn thế giới này, thì tôi là ai mà không ôm hôn và chăm sóc anh em tôi? Nếu Con Thiên Chúa không ngần ngại đến và sống với thế giới vật chất đổ nát này, thì tôi là ai mà dám khước từ chạy trốn khỏi thế giới vật chất này? Nếu Con Thiên Chúa đã tự hạ mình để chấp nhận làm người rách nát trong máng cỏ của chiên bò, thì tôi là ai mà không hạ mình xuống phục vụ anh em đồng loại rách nát như tôi? Chiêm ngắm sự hạ mình khiêm tốn của Chúa Giêsu trong mầu nhiệm Giáng Sinh đã biến đối con người Phanxicô: Từ một người giàu có  thành kẻ ăn mày, từ một người làm chủ thành kẻ tôi tớ, và từ một người ăn chơi sung sướng trở thành kẻ nô lệ và tù nhân cho một Thiên Chúa vô hình.

Trong bài cuối của loạt bài học hỏi về đức khiêm tốn, chúng ta được
mời gọi nhận diện về giá trị và sức mạnh của sự khiêm tốn vốn thật sâu thẳm và
huyền nhiệm; vì thế, tự khả năng con người không thể có được. Chúng ta cần sức
mạnh của Thiên Chúa qua cầu nguyện và chiêm niệm. Có lẽ, những vấp ngã hằng
ngày của chúng ta cũng phần nào giúp ta thấm thía nhìn nhận rằng: Tôi thật yếu
đuối. Nhưng cũng có thể nhờ những vấp ngã này, chúng ta mới thấy rằng mình cần
Chúa biết bao!