Phê phán chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam hiện nay

Phê phán chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam hiện nay

Kính Hòa, phóng viên RFA
2014-08-18

081892014-dcs-kh.mp3

000_Hkg2678165.jpg

Công nhân đô thị chăm sóc công viên Lê Nin ở Hà Nội.

AFP photo

Một trong những khía cạnh mà những người tham dự hội thảo nhan đề “Thoát Trung” ở Hà Nội vừa qua đề cập tới là chủ nghĩa cộng sản, cũng như những biến thái của nó là chủ nghĩa Stalin và chủ nghĩa Mao. Mặc dù trong hội thảo này, tranh luận về văn hóa được đưa lên hàng đầu nhưng không tránh khỏi những bàn luận về chính trị xoay quanh ba thứ chủ nghĩa vừa nêu.

Điều trớ trêu là ngay giữa lòng Hà Nội, dưới câu khẩu hiểu ca tụng chủ nghĩa cộng sản và các nhà lý luận của nó như Marx, Engels, Lenin, người ta công khai thách thức tính đúng đắn của chủ nghĩa cộng sản.

Sự thách thức chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam có lịch sử dài lâu chứ không phải mới đây, từ những ngày đầu tiên chủ nghĩa này bám rễ vào Việt Nam. Sự thách thức đó vẫn tồn tại trong lúc chủ nghĩa này lên đến đỉnh điểm hùng mạnh nhất. Và khi hệ thống cộng sản đổ vỡ khắp nơi, cộng với bùng nổ của công nghệ thông tin thì sự thách thức đó ngày càng lớn.

Một trong những người thách thức chủ nghĩa cộng sản ngay trước khi đảng cộng sản chấp nhận nền kinh tế thị trường là tiến sĩ Hà Sĩ Phu, người học hành và lớn lên trong lòng chế độ cộng sản. Trước cuộc hội thảo ở Hà Nội trong tháng tám này, cũng có một cuộc hội thảo khác tương tự, ông Hà Sĩ Phu nói với chúng tôi sau cuộc hội thảo ấy rằng vấn đề chung của cả hai dân tộc Việt và Hoa là chủ nghĩa cộng sản.

Năm 2013 chủ nghĩa cộng sản chứng kiến một thách thức lớn là 72 nhân sĩ trí thức gửi kiến nghị đòi bỏ điều bốn trong Hiến pháp quốc gia về sự độc tôn của chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam.

Tháng bảy 2014 đến lượt 61 đảng viên hiện vẫn còn sinh hoạt đảng kiến nghị kêu gọi từ bỏ chế độ toàn trị.

Cũng trong tháng bảy 2014, luật sư Nguyễn Đăng Trừng tại Sài Gòn bị khai trừ ra khỏi đảng. Lý do được nhiều người nói đến chính là việc luật sư Trừng không đồng ý sự can thiệp quá nhiều của đảng bộ TP HCM vào công việc của đòan luật sư Thành phố HCM.

Con đường đến Việt Nam của CNCS

Chủ nghĩa cộng sản đến Việt Nam với lý do làm phương tiện cho việc đòi độc lập. Lý do lớn này làm cho ngay chính những đảng viên cộng sản không coi trọng phương diện ý thức hệ của nó bằng những vấn đề thực tế. Ông Trần Đức Nguyên, từng là thư ký của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt nới với chúng tôi sau khi ký tên vào bản kiến nghị 61:

Cái việc mà đưa ra yêu cầu sửa đổi chế độ toàn trị thì đã nói từ thời kiến nghị 72 rồi. Sau đó có những ý kiến đã nói rõ là đất nước phải chuyển từ chế độ toàn trị sang dân chủ một cách ôn hòa. Và như thế là không đụng đến những vấn đề về chữ nghĩa. Cái đó là cái thực trạng thì cần phải thay đổi.

Mới đầu thì họ chống ở một chừng mực nào đó nhưng thật ra họ bị ảnh hưởng của Khổng giáo mà chính họ không biết bởi vì nó ăn vào trong máu, và điều đó làm cho chính quyền hiện nay hưởng lợi.
– Nhà văn Thùy Linh

Trên con đường đến Việt Nam nói riêng và đến châu Á nói chung chủ nghĩa cộng sản đã gặp phải một thực trạng mà nhiều người cho là thuận lợi để phát triển, đó chính là khía cạnh chuyên chế của ý tưởng xã hội Khổng Giáo.  Nhà văn Thùy Linh, từ Hà Nội nói với Mặc Lâm của đài RFA, sau hội thảo “Thoát Trung” trong tháng tám:

Sau khi chủ nghĩa cộng sản nắm quyền thì đạo Khổng rất có lợi cho sự tồn tại của họ. Mới đầu thì họ chống ở một chừng mực nào đó nhưng thật ra họ bị ảnh hưởng của Khổng giáo mà chính họ không biết bởi vì nó ăn vào trong máu, và điều đó làm cho chính quyền hiện nay hưởng lợi.”

Phản hồi của ĐCS và ảnh hưởng của sự thách thức

Sau khi kiến nghị 72 ra đời hồi năm 2013, đảng cộng sản im lặng một thời gian rồi lên tiếng chỉ trích những người đưa kiến nghị 72 là chống lại sự cai trị của đảng. Hiến pháp Việt nam sửa đổi 2013 vẫn duy trì đảng cộng sản và ý thức hệ của nó ở vị trí độc tôn.

Sau khi ký kiến nghị 61, Giáo sư Tương lai nói rằng ông chờ đợi sự phản hồi của đảng. Từ đó đến thời điểm chúng tôi hoàn thành bài viết này thời gian đã hơn một tháng, người ta chưa thấy truyền thông của đảng cộng sản lên tiếng. Còn ông Hà Sĩ Phu thì nói rằng đảng cộng sản cũng sẽ bỏ ngoài tai kiến nghị 61:

Có thể nói chắc chắn rằng họ không nghe gì cả. Điều đó là đương nhiên, họ không nghe một tí gì, không nghe một phần trăm nào. Bởi vì cái lập trường của đảng thì quá rõ rồi, vì đối với đảng cộng sản chân lý là vô nghĩa, lòng tốt là vô nghĩa, đặt trên bàn của họ chỉ là lợi ích.”

Tuy nhiên cũng có người, như Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng người theo dõi sát chính trị Việt nam cho rằng mặc dù có thể không được lắng nghe, nhưng những kiến nghị như thế là rất tốt. Nhà văn Phạm Đình Trọng thì hy vọng tác động của kiến nghị 61 đến các đảng viên của chính đảng cộng sản:

Có thể nói chắc chắn rằng họ không nghe gì cả. Điều đó là đương nhiên, họ không nghe một tí gì, không nghe một phần trăm nào.
– TS. Hà Sĩ Phu

Cái kiến nghị này là văn bản chính thức của một số đảng viên, họ đã dứt khoát lên tiếng đoạn tuyệt với chủ nghĩa Marx, chủ nghĩa cộng sản. Đoạn tuyệt với chủ nghĩa Marx tức là cái lõi lý luận của chủ nghĩa cộng sản. Đây là một tiếng nói rất rõ ràng. Còn lại là những người kiếm lợi từ chủ nghĩa cộng sản, những người bất tài, kém cỏi, và nhờ có chủ nghĩa cộng sản họ mới có vị trí như thế, thì họ sẽ cố duy trì, nhưng đây là một đợt tấn công mạnh mẽ vào cái thành trì bảo thủ ấy.”

Những lời phát biểu này thể hiện rằng sự thách thức chủ nghĩa cộng sản tại Việt nam theo năm tháng đã chuyển từ sự thách thức trên phương diện ý thức hệ sang sự thách thức về quyền lực và quyền lợi không còn mang màu ý thức hệ nữa. Chỉ trích ý thức hệ vẫn có thể diễn ra một cách công khai khi mà nó chưa xuống đường để đụng chạm tới quyền lợi của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Điều này được thấy rõ trong một tương quan so sánh sau đây: chỉ sau hội thảo “Thoát Trung” vài ngày, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong buổi nói chuyện với lực lượng công an đã nhắc đến thế lực thù địch và sự chuyển hóa chính trị nguy hiểm cho chế độ. Tuy nhiên trước đó, trong hội trường diễn ra hội thảo “Thoát Trung” nhiều người nêu lên sự không đúng đắn của chủ nghĩa Marx ngay dưới chân dung ông.

Của Thiên Trả Địa – Easy Come, Easy Go

Của Thiên Trả Địa  –   Easy Come, Easy Go

Trong khi nhiều người dân nước Mỹ “thèm thuồng” nhìn một công dân ở bang Florida (Mỹ) hồi tháng 5 vừa qua ẵm giải độc đắc Powerball trị giá hơn 590 triệu USD, mức trúng thưởng cao nhất từ trước đến nay, trang tin Business Insider  (Mỹ) đã điểm lại danh sách 10 người từng trở nên siêu giàu nhờ trúng số triệu đô nhưng sau đó lại nhanh chóng lâm vào cảnh túng bấn hoặc tự kết liễu cuộc đời mình.

Trúng số chưa hẳn là may?

1. Gia đình Griffith (Anh)
Giải độc đắc: 2,76 triệu USD
Thời gian từ lúc trúng số đến lúc khánh kiệt: 6 năm

Trước khi trúng giải độc đắc trị giá 2,76 triệu USD hồi năm 2006, hai vợ chồng Lara và Robert Griffith hiếm khi gây gổ.  Họ đã mua một căn nhà trị giá một triệu USD và một chiếc xe Porsche sang trọng sau khi lãnh giải.

Tuy nhiên, vào năm 2012, Robert lái chiếc Porsche bỏ đi sau khi Lara chất vấn chồng về những email cho thấy anh này đang có tình cảm với một người phụ nữ khác.

Thế là cuộc hôn nhân kéo dài 14 năm của họ tan vỡ, rồi một trận hỏa hoạn lớn đã thiêu hủy toàn bộ căn nhà. Giờ thì Lara chẳng còn lại một xu nào từ khoản tiền trúng số đó nữa.

2. Sharon Tirabassi (Canada)
Giải độc đắc: hơn 10 triệu USD
Thời gian từ lúc trúng số đến lúc khánh kiệt: khoảng 9 năm

Vào năm 2004, Sharon Tirabassi, một bà mẹ độc thân phải sống nhờ trợ cấp xã hội tại Canada, trúng độc đắc hơn 10 triệu USD.

Cô này vung tiền trúng số cho việc mua một căn nhà lớn, những chiếc xe sang, quần áo hiệu, những chuyến du lịch đắt giá, tiệc tùng, tặng người thân, cho bạn bè vay.  Kết quả là chưa đến 10 năm sau, Tirabassi giờ đây phải quay lại kiếm sống bằng nghề lái xe buýt, làm thêm giờ và sống trong một căn hộ cho thuê.

May mắn là cô còn để lại được một số tiền cho sáu đứa con của mình với điều kiện chúng chỉ được phép lấy khi tròn 26 tuổi.

Xếp hàng mua vé số Powerball
– Ảnh: Reuters

3. Suzanne Mullins (Mỹ)
Giải độc đắc: 4,2 triệu USD
Thời gian từ lúc trúng số đến lúc khánh kiệt: 8 năm

Khi trúng thưởng khoản tiền 4,2 triệu USD vào năm 1993 tại bang Virginia (Mỹ), Suzanne Mullins quyết định chọn hình thức nhận tiền trúng thưởng hằng năm, thay vì lãnh trọn một lần.

Bà này ban đầu mượn một số tiền trị giá 200.000 USD và dùng những khoản tiền trúng giải hằng năm để thanh toán.

Sau đó, Mullins đã đổi qua nhận tiền thưởng luôn một lần và ngưng không tiếp tục trả nợ, dẫn đến tình trạng nợ nần ngập đầu do lãi mẹ đẻ lãi con.  Các chủ nợ đã đâm đơn kiện và tòa đã yêu cầu bà này nộp 154 triệu USD. Tuy nhiên, bà đã không còn “một xu dính túi”.

4. Evelyn Adams (Mỹ)
Giải độc đắc: 5,4 triệu USD
Thời gian từ lúc trúng số đến lúc khánh kiệt: 15 năm

Evelyn Adams, ngụ tại bang New Jersey (Mỹ), trúng độc đắc đến hai lần, một lần vào năm 1985 và lần thứ hai một năm sau đó, với tổng số tiền là 5,4 triệu USD.

Bà này sau đó đã nướng sạch tiền vào trong các sòng bạc ở thành phố Atlantic. Giờ thì bà đang sống lang thang trong công viên.

5. Jack Whittaker (Mỹ)
Giải độc đắc: 315 triệu USD
Thời gian từ lúc trúng số đến lúc khánh kiệt: 4 năm

Trước khi trúng giải độc đắc trị giá 315 triệu USD của vé số Powerball vào năm 2002, Jack Whittaker đã có một cuộc sống khá giả tại bang West Virginia, với một công ty dịch vụ trị giá hơn 1 triệu USD.

Ông này sau đó đã trích một phần tiền trúng thưởng để xây nhà thờ, bỏ ra 10% để làm từ thiện và thành lập một quỹ từ thiện của riêng mình.  Whittaker có lẽ sẽ không có tên trong danh sách này nếu như vận rủi liên tục đến với ông.

Ông bị trộm cuỗm mất hơn 500.000 USD khi đậu xe bên ngoài một câu lạc bộ thoát y. Ông trở nên nghiện rượu, ly dị vợ và thường xuyên gây gổ với những người xung quanh.  Chỉ trong vòng 4 năm, toàn bộ tài sản của Whittaker đã tiêu tan và ông này từng tuyên bố rằng lấy làm tiếc phải chi mình xé tờ vé số trúng đi.

6. Janite Lee (Mỹ)
Giải độc đắc: 18 triệu USD
Thời gian từ lúc trúng số đến lúc khánh kiệt: 8 năm

Janite Lee, một người nhập cư gốc Hàn Quốc sống tại Mỹ, có một quyết định lạ lùng khi chọn cách chi 18 triệu USD tiền trúng số cho người khác hơn là cho bản thân.

Sau khi trúng số hồi năm 1993, bà này đã dùng phần lớn tài sản mà mình vừa may mắn có được để tài trợ cho các chương trình của chính phủ và cho các tổ chức chính trị.  Lee từng được ăn tối cùng cựu Tổng thống Bill Clinton nhờ những khoản đóng góp kếch xù của mình.  Lee còn cho Đại học Washington (Mỹ) 1 triệu USD để xây một thư viện. Nhà trường đã lấy tên bà để đặt cho thư viện mới này.

Ngoài ra, bà cũng rất mê cờ bạc. Với thói quen chi 347.000 USD/năm, bà nhanh chóng ngập trong nợ nần và phải tuyên bố phá sản vào năm 2001.

7. Michael Carroll (Anh)
Giải độc đắc: 15,5 triệu USD
Thời gian từ lúc trúng số đến lúc khánh kiệt: 8 năm

Vào năm 2002, Michael Carroll, một thanh niên 19 tuổi làm nghề dọn rác, trúng độc đắc khoảng 15,5 triệu USD.Sau khi trở nên giàu có, Carroll bắt đầu vung tiền vô tội vạ, mua quà cho gia đình và bạn bè, hút ma túy, rượu chè, cờ bạc và thường ngủ với bốn gái mại dâm/ngày.

Tám năm sau, anh này quay lại nghề dọn rác.

Mega Millions grows to $640M

8. Billie Bob Harrell Jr. (Mỹ)
Giải độc đắc: 31 triệu USD
Thời gian từ lúc trúng số đến lúc khánh kiệt: 20 tháng

Billie Bob Harrell Jr. trúng giải thưởng độc đắc 31 triệu USD vào năm 1997 khi đang là một người bán hàng rong.  Ban đầu, ông này mua một trang trại, tậu thêm 6 căn nhà và nhiều xe hơi.

Nhưng cũng giống như những người trúng vé số khác, Harrell không thể từ chối những lời cầu khẩn vay tiền từ bạn bè và người thân, để rồi trở nên khánh kiệt chỉ trong vòng 20 tháng.

Harrell tự sát vào năm 1999.

9. Callie Rogers (Anh)
Giải độc đắc: 3 triệu USD 9.
Thời gian từ lúc trúng số đến lúc khánh kiệt: 6 năm

Khi trúng độc đắc 3 triệu USD vào năm 2003, Callie Rogers chỉ mới 16 tuổi. Cô này tung tiền vào mọi thứ, từ quần áo, các chuyến du lịch, tiệc tùng, phẫu thuật thẩm mỹ để tăng kích cỡ vòng ngực và ma túy.

Sáu năm sau, cô lâm vào cảnh nợ nần và đã hai lần tìm cách tự sát. Cuối cùng, Rogers phải đi làm người ở để có tiền nuôi sống bản thân và hai đứa con.

10. Gerald Muswagon (Canada)
Giải độc đắc: 10 triệu USD
Thời gian từ lúc trúng số đến lúc khánh kiệt: 7 năm

Vào năm 1998, Gerald Muswagon trúng độc đắc 10 triệu USD tại Canada. Tuy nhiên, anh này nướng hết tiền vào rượu và tiệc tùng trong vòng vỏn vẹn có 7 năm.

Đến năm 2005, Muswagon tìm đến cái chết bằng cách tự treo cổ trong nhà xe của cha mẹ.

Kẻ cầm đầu một mạng lưới tội phạm tin học quốc tế đã bị bắt ở Đức

Kẻ cầm đầu một mạng lưới tội phạm tin học quốc tế đã bị bắt ở Đức

RFI

Ảnh minh hoạ

Ảnh minh hoạ

REUTERS/Kacper Pempel/Files

Thụy My

Hãng tin Đức DPA hôm 17/08/2014 dẫn nguồn tin từ Viện Kiểm sát Düsseldorf cho biết, nghi can cầm đầu một mạng lưới tội phạm tin học quy mô được cho là đã trộm trên 40 triệu đô la tại nhiều ngân hàng quốc tế, đã bị bắt hồi tháng 12 năm  ngoái tại Francfort, Đức.

Trong số ra ngày hôm qua, tuần báo Der Spiegel đăng một bài báo dài nói về vụ cướp kỹ thuật số xứng đáng là một bộ phim gangster Hollywood. « Predator », tên trộm bí mật mang quốc tịch Thổ Nhĩ Kỳ được tờ báo cho là một trong những tin tặc tài ba nhất thế giới. Anh ta bị cảnh sát Đức bắt tại Francfort mùa đông năm ngoái, nhờ nguồn tin của tình báo Mỹ.

Theo các nhà điều tra, nghi can này là thủ phạm của « một trong những vụ cướp nhà băng được nghiên cứu kỹ nhất và thực hiện tốt nhất từ trước đến nay ». Tháng 2/2013, trong cùng một đêm gần 40 triệu đô la đã bị cướp mất tại nhiều ngân hàng trên thế giới, nhờ các thẻ tín dụng bị sao chép, được rút tiền không hạn chế. Hoạt động này cần có sự phối hợp của khoảng một trăm đồng lõa được tuyển mộ thông qua các nhánh trên khắp hành tinh. Những người này được huy động từ Đức cho đến Mỹ, Nhật để lấy trộm tiền tại nhiều máy rút tiền tự động (ATM).

Để tổ chức vụ cướp ngân hàng bằng kỹ thuật số này, thủ phạm trước hết đã xâm nhập vào hệ thống một chi nhánh Ấn Độ của một công ty tin học Mỹ, phụ trách quản lý lưu lượng giao dịch ngân hàng trên thế giới. Nhờ các kẽ hở trong hệ thống của công ty trên, tin tặc lấy được dữ liệu từ 12 thẻ tín dụng của ngân hàng Muscat tại Oman và hủy bỏ mọi hạn mức rút tiền.

Sau đó tin tặc sao chép lại các thông tin này vào hàng trăm thẻ tín dụng giả, rồi phân phối cho mạng lưới của mình. Theo Der Spiegel, chỉ riêng tại Đức, trong đêm đó nhiều máy rút tiền tự động tại hơn một chục thành phố đã cho rút 1,8 triệu euro.

Nhóm tội phạm này hành động thông qua các thẻ tín dụng sao chép. Hai đồng lõa đã bị bắt quả tang tại Düsseldorf với 170.000 euro trong túi, nhờ chỉ dẫn của một nhân chứng. Người thợ mộc Hà Lan cùng với người mẹ đã bị kết án bốn năm ba tháng tù giam hồi tháng 11 năm ngoái. DPA cho biết, do sợ gia đình bị trả thù, hai người này lúc đó đã không khai ra cấp trên trong mạng lưới tội phạm.

ĐTC tại Nam Hàn: Bài giảng lễ bế mạc Đại Hội Giới Trẻ Á Châu lần VI “Các con là hiện tại và tương lai của Giáo Hội”

ĐTC tại Nam Hàn: Bài giảng lễ bế mạc Đại Hội Giới Trẻ Á Châu lần VI “Các con là hiện tại và tương lai của Giáo Hội”

Chuacuuthe.com

1

VRNs (18.08.2014) -Sài Gòn- Sau đây là nội dung bài giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô trong thánh lễ bế mạc Đại Hội Giới Trẻ Á Châu lần VI diễn ra vào Chúa Nhât hôm qua, 17.08 tại Nam Hàn

Các con thân mến,

Vinh quang của các vị tử đạo tỏa sáng trên các con! Đây là chủ đề của Ngày Giới Trẻ Á Châu lần VI, là sự an ủi và sức mạnh cho tất cả chúng ta. Hỡi những người trẻ Á châu: các con là những người thừa kế lời minh chứng tuyệt vời của các chứng nhân về Chúa Kitô. Ngài là ánh sáng của thế giới; Ngài là ánh sáng của cuộc sống của chúng ta! Các vị tử đạo Nam Hàn và vô số những anh hùng tử đạo khác trên khắp Á châu, đã bị tra tay và bắt bớ; họ đã đã trao lại cho chúng ta lời chứng vĩnh viễn về ánh sáng chân lý của Chúa Kitô xua tan mọi bóng tối và tình yêu của Chúa Kitô là sự chiến thắng vẻ vang. Nhờ Chúa Giêsu chiến thắng trên sự chết và sự tham dự của chúng ta vào chiến thắng ấy mà hôm nay chúng ta, những đồ đệ Chúa Ki-tô, có thể đối mặt với những thách thức trong mọi hoàn cảnh cuộc sống.

Những lời mà chúng ta vừa nói với nhau mang lại cho chúng ta niềm khích lệ. Một chủ đề khác của Ngày Đại hội là: “Giới trẻ Á châu! Hãy trỗi dậy!” gợi lên cho chúng ta về bổn phận và trách nhiệm. Chúng ta hãy cùng điểm qua những từ này.

Trước hết từ “Á Châu

Các con quy tụ nơi đây từ khắp nơi trên lục địa châu Á này. Mỗi người trong các con đều được tình yêu Thiên Chúa kêu mời cách đặc biệt từ những nơi chốn và lịch sử khác nhau. Nơi lục địa châu Á này được thấm nhuần một nền truyền triết học và tôn giáo vừa phong phú vừa lâu đời. Đó là một môi trường tuyệt vời để lời minh chứng của chúng ta về Chúa Kitô vang lên: “Thầy là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” (Ga 14, 6).  Lời minh chứng này không chỉ dành riêng cho các bạn trẻ châu Á, mà còn mời gọi tất cả mọi giới trên toàn lục địa mênh mông này đem vào đời sống xã hội với tinh thần bổn phận và quyền lợi. Đừng sợ đem đức tin vào mọi môi trường trong đời sống xã hội!

Là người Á Châu các con nhận ra tình yêu đã nằm sẵn trong nền văn hóa truyền thống lâu đời tuyệt đẹp này. Tuy nhiên là Kitô hữu, các con biết rằng sức mạnh thuần khiết của Tin Mừng sẽ “rửa tội” cho nền di sản văn hóa đã hoàn thiện này. Qua sự hiện diện của Chúa Thánh Thần đã được ban cho trong bí tích Rửa Tội và được cũng cố nơi bí tích Thêm sức và trong sự hiệp nhất với các chủ chăn, các con phân định những giá trị tích cực trong các nền văn hóa đa dạng ở Á Châu. Các con cũng có thể biện phân được điều gì là không phù hợp với đức tin Công giáo của mình, những gì là đi ngược lại đời sống ân sủng được ban trong Bí Tích Rửa Tội và những tiêu cực của nền văn thế hóa thế tục đầy tội lỗi, lũng đoạn đưa con người ta đến chỗ chết.

Quay trở lại với chủ đề của Ngày Đại hội, chúng ta hãy suy nghĩ về từ thứ hai: “Giới trẻ“.

Các con cùng bạn hữu là những người tràn đầy lạc quan, dồi dào sinh lực và thiện chí. Đó là những đặc tính nơi người trẻ. Hãy để Đức Kitô biến những lạc quan vốn có nơi các con vào trong niềm hy vọng Kitô giáo, sinh lực của các con vào trong các nhân đức, thiện chí của các con vào trong tình yêu tự hiến! Đây là con đường mà các con được mời gọi để bước đi. Đây là con đường để vượt qua tất cả những gì đe dọa niềm hy vọng, đe dọa việc thực  hành nhân đức và tình yêu trong cuộc sống và nơi nền văn hóa của các con. Bằng cách này, các con  sẽ trở nên quà tặng cho Chúa Giêsu và với thế giới.

Các bạn trẻ Kitô hữu, cho dù các con là công nhân hay sinh viên; khởi nghiệp hay an nghiệp; sống đời hôn nhân gia đình hay sống ơn gọi tu trì trì linh mục, các con không chỉ là thành phần của tương lai Giáo Hội mà cần hơn là  hiện diện và được yêu ngay thời điểm hiện tại của Giáo Hội! Hãy lôi kéo để gần nhau hơn nữa, gần hơn với Thiên Chúa, với các giám mục và linh mục, dùng những năm tháng này để xây dựng một Giáo Hội thánh thiện, truyền giáo và khiêm tốn hơn – một Giáo Hội nơi đó yêu thương và phụng thờ Thiên Chúa bằng việc tìm gặp và phục vụ người nghèo, người cô đơn, thấp cổ bé họng và chịu thiệt thòi nhất .

Trong đời sống Kitô hữu nhiều lần các con sẽ gặp những cám dỗ như các môn đệ trong Tin Mừng hôm nay là xa lánh những ai xa lạ, những người nghèo và người đau khổ. Đó là những người như người phụ nữ trong Tin Mừng hôm nay đã liên tục van xin: “Lạy Chúa, xin giúp tôi”. Lời cầu xin người phụ nữ Canaan là tiếng kêu của tất cả những người đang tìm kiếm tình yêu, sự đón nhận và tình bạn với Chúa Kitô. Đó là tiếng kêu của rất nhiều người đang sống nơi các thôn làng vô danh, tiếng kêu những người đương thời xung quanh ta và tiếng kêu của những chứng nhân tử đạo hôm nay đang bị bắt bớ và bách hại vì Danh Chúa Giêsu. “Lạy Chúa, xin giúp tôi” là tiếng van nài thổn thức bật lên từ trái tim của chúng ta. Hãy trả lời cho tiếng van xin này, không phải là lẫn trách trước các nhu của người khác, nhưng là phục vụ những người nghèo, người cần cứu giúp, bằng cách này chúng ta gắn bó với Chúa. Chúng ta phải nên giống Chúa Kitô, đáp lại lời van xin giúp đỡ bằng tình yêu, lòng thương xót và nhân từ.

Sau cùng từ “Trỗi dậy!” – nói đến trách nhiệm mà Chúa trao ban cho các con. Đây là bổn phận phải thận trọng, để không cho phép các áp lực, cám dỗ và tội lỗi của chúng ta làm cho chúng ta mất nhạy cảm đối với vẻ huy hoàng của sự thánh thiện, và niềm vui của Tin Mừng. Thánh vịnh đáp ca hôm nay liên tục mời gọi chúng ta “vui mừng và ca hát”. Không ai ngủ mà ca hát nhảy múa được.

Các con thân mến, “Ước gì chư dân cảm tạ Ngài, lạy Thiên Chúa, chư dân phải đồng thanh cảm tạ Ngài.” (Tv 67, 6); từ Ngài chúng ta “đón nhận lòng thương xót” (Rm 11:30). Tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa tràn đầy lòng các con đẩy các con đi ra với thế giới, đến với các bạn bè, đồng nghiệp, hàng xóm, đồng hương, tất cả mọi người trên lục địa mênh mông này – ” họ cũng thế: nay họ không vâng phục Thiên Chúa, vì Người thương xót anh em, nhưng đó là để chính họ cũng được thương xót” (Rm 11:31). Do bởi lòng thương xót của Chúa mà chúng ta được cứu độ.

Các con thân mến,

Cha hy vọng rằng, trong sự hiệp nhất với Chúa Kitô và Giáo Hội, các con sẽ giữ vững con đường này, chắc chắn nó sẽ mang lại cho các con nhiều niềm vui. Bây giờ, chúng ta chuẩn bị bước sang phần phụng vụ Thánh Thể, chúng ta hãy nhớ đến Mẹ Maria là Mẹ chúng ta, người đã đem Chúa Giêsu vào trong thế gian. Xin Mẹ cũng lôi kéo chúng con đến với Chúa Giêsu và trong lòng từ ái của Mẹ xin giúp chúng con mang Chúa Giêsu đến cho người khác, để phụng sự Ngài cách trung thành và tôn vinh Ngài trong mọi lúc, mọi nơi  trên đất nước này và toàn lục địa Á Châu. Amen.

Hoàng Minh

NIỀM TIN CỦA MỘT “DÂN NGOẠI”

NIỀM TIN CỦA MỘT “DÂN NGOẠI”

Tác giả: JM. Lam Thy ĐVD.

Bài Tin Mừng hôm nay lại một lần nữa biểu lộ lời nói và hành động khó hiểu của Đức Giê-su. Miền Tia và Xi-đon vốn được người Do thái coi là dân ngoại. Người đàn bà từ Ca-na-an ở miền ấy tới gặp Đức Ki-tô, xin Người chữa bệnh cho con mình. Lần thứ nhất bà cầu xin, nhưng Đức Ki-tô không trả lời. Không trả lời thì cũng có nghĩa là không đáp ứng lời cầu xin của bà ta. Nhưng với một niềm tin vững vàng, bà vẫn tiếp tục năn nỉ. Các môn đệ có vẻ không hài lòng về bà và xin Đức Ki-tô đuổi bà ấy đi, thì Người lại nói: “Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Ít-ra-en mà thôi.” (Mt 15, 24). Câu nói này của Đức Ki-tô trái ngược hẳn với thái độ trước đó của Người, đồng thời còn cho biết bà Ca-na-an là dân ngoại và Người được sai đến với họ.

Sự kiện mâu thuẫn không dừng lại ở đây. Người đàn bà vẫn tiếp tục năn nỉ “Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi!” và Đức Ki-tô đã nặng lời với bà ấy: “Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con” (Mt 15, 26). Với câu trả lời này, Đức Ki-tô đã ví việc chữa bệnh như đem bánh cho người ta ăn và bánh đó không được cho “lũ chó con” ăn. Bà bị coi như chó và nếu giả thử gặp cỡ các kinh sư hay Pha-ri-sêu chắc chắn sẽ phản ứng rất mạnh. Nhưng bà này vẫn không buồn rầu bỏ đi, mà nhất định ở lại cầu xin cho bằng được. Lời cầu xin quả thật khiêm tốn và tin tưởng: “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống” (Mt 15, 28). Tuyệt vời!

Phải nói rằng bà này là típ người thông mình, rất thông mình. Nếu không, bà sẽ thấy lời của Đức Ki-tô không dính dáng gì tới việc bà cầu xin, và sẽ xảy ra 2 trường hợp: Một là thấy người mình cầu xin không hiểu được ý mình. Đã không hiểu được mình, thì cầu xin cũng vô ích, bỏ đi cho rảnh. Trường hợp thứ hai, sẽ cho là Đức Ki-tô không nghe rõ lời cầu xin nên mới nói về bánh, và nếu còn tin tưởng, bà ta sẽ cứ một mực xin Người chữa bệnh cho con mình. Cả 2 trường hợp đều không đúng với bà, vì bà đã hiểu ngay Lời dạy của Người mà bà tin tưởng. Khẳng khái nhận mình là “lũ chó con” (Người Do-thái vẫn coi những dân ngoại như lũ chó con), không dám xin ăn bánh trực tiếp, mà chỉ khiêm tốn xin được ăn những mảnh vụn rơi vãi.

Thêm một đức tính đặc biệt của bà nổi bật lên: Tuyệt đối khiêm nhường! Dù có bị coi là chó, bà cũng xin vâng (“Thưa Ngài, đúng thế!”), vì bà nghĩ rằng Người mà bà đang cầu xin đích thị là Đấng Quyền Năng, là Thiên Chúa. Là Thiên Chúa mà chấp nhận xuống phàm trần làm một con người bình thường như bao người khác, thì mình có bị coi là chó cũng xứng đáng thôi. Đức tình khiêm tốn tuyệt vời ấy chắc chắn không thể có được nơi những thượng tế, những kinh sư, luật sĩ, những Pha-ri-sêu, những con người vẫn luôn miệng nói “Lạy Chúa! Lạy Chúa!” và tự coi mình mới là “hàng nội” chính tông, là con dòng cháu giống của Thiên Chúa; những con người luôn kiêu ngạo tự cho mình là đệ nhất thông minh và chỉ thích được “ngồi trên toà ông Mô-sê mà giảng dạy” thiên hạ. Vậy đó!

Thông minh nhưng khiêm tốn,  người đàn bà Ca-na-an đã khiến Đức Giê-su Thiên Chúa động lòng trắc ẩn, buột miệng khen ngơi: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật”. Và thế là: “Bà muốn sao thì sẽ được vậy.” Từ giờ đó, con gái bà được khỏi” (Mt 15, 28). Quả thực, bài học rút ra được ở đây là đức tính khiêm nhường, đức tính đứng hàng đầu trong bảy đức tính căn bản của Ki-tô giáo. Phải luôn nghĩ rằng tất cả những gì con người có được nơi trần thế đều là ân sủng của Thiên Chúa ban tặng. Những ân sủng đó Thiên Chúa ban cho mỗi người mỗi khác là vì ich chung (1Cr 12, 4-10). Không tự kiêu, tự mãn khi mình có được sự thông minh hơn người, hoặc có được những đặc ân khác những người xung quanh; nhưng cũng không tự ti mặc cảm khi thấy mình không có được những ân sủng như những người khác Tuy nhiên, bài học lớn nhất, bao trùm lên tất cả là đức tin của người đàn bà ở Ca-na-an.

Bà thực sự tin tưởng Đức Giê-su Ki-tô là Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ và bà vững tin rằng Thiên Chúa không thiên vị một ai, không phân biệt “nội hay ngoại”, nếu chân thành cầu xin với một niềm tin vững vàng, thì dù xin gì, Người cũng sẽ ban cho (“Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở ra cho. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở ra cho.” – Mt 7, 7-8). Bà không chỉ tin ở trên môi miệng, mà chính là ở chỗ đối diện với thử thách nghiệt ngã (bị dân Do thái coi là dân ngoại và chính Người mà bà tin tưởng mãnh liệt nhất lại coi bà và con gái bà là chó), vậy mà bà vẫn trung kiên với niềm tin của mình.

Với một người chưa được coi là Ki-tô hữu, mà đã có một niềm tin sắt đá như vậy, thiển nghĩ cũng rất đáng xấu hổ cho những người đã được coi là Ki-tô hữu (đã nhận lãnh Phép Rửa) mà chỉ hơi chạm đến tự ái, hoặc chỉ mới phỏng đoán mình sẽ bị “thử lửa”, đã vội vàng chối bay chối biến Chúa của mình một cách ngon lành. Hoá cho nên, chính trong cuộc sống đời thường, trong gian truân thử thách, trong tất cả mọi nghịch cảnh, người Ki-tô hữu vẫn sống đức tin một cách chân thực như bà mẹ người Ca-na-an trong bài Tin Mừng, không màu mè sáo rỗng, ấy mới thực sự xứng đáng với danh hiệu mà Đức Giê-su Ki-tô đã ban tặng: Ki-tô hữu (“Thầy không gọi anh em là tôi tớ, mà gọi anh em là bạn hữu” – Ga 15, 15).

Cho đến hôm nay, phần đông người Công Giáo Việt Nam vẫn giữ được đời sống đức tin rất tốt, được cụ thể hóa qua việc tham dự Thánh Lễ cũng như lãnh nhận các bí tích. Tuy nhiên, đời sống đức tin ấy nhiều khi chỉ là những thói quen do ảnh hưởng của gia đình, xứ đạo hơn là một chọn lựa và dấn thân cá nhân. Một đức tin như thế sẽ khó lòng đứng vững trong khung cảnh đô thị hóa và xã hội hóa đang và sẽ diễn ra mỗi ngày một nhanh hơn. Vì thế, cần xây dựng một đức tin mang tính cá vị, hiểu như một chọn lựa tự do và ý thức trước tiếng gọi của Thiên Chúa (Thư Chung của Hội Đồng Giám Mục VN về Năm Tân Phúc Âm Hóa, số 3). Đức tin là lời đáp trả của con người toàn diện trước tiếng gọi của Thiên Chúa. Con người toàn diện ấy bao gồm cả lý trí, tình cảm, ước muốn và hành động. Vì thế, để sống đức tin, người tín hữu không chỉ ngừng lại ở những hiểu biết thuần lý, nhưng phải bước vào hành động – hành động và liên lỉ cầu nguyện – bởi vì “Đức tin không có hành động thì quả là đức tin chết” (Gc 2, 17).

Xin đừng bao giờ quên Lời Thầy Chí Thánh: “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này: “Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc”, nó cũng sẽ vâng lời anh em.” (Lc 17, 6); “Thầy bảo thật anh em, nếu anh em tin và không chút nghi nan, thì chẳng những anh em làm được điều Thầy vừa làm cho cây vả, mà hơn nữa, anh em có bảo núi này: “Dời chỗ đi, nhào xuống biển!”, thì sự việc sẽ xảy ra như thế. Tất cả những gì anh em lấy lòng tin mà xin khi cầu nguyện, thì anh em sẽ được.” (Mt 21,21-22). Vâng, nhờ cầu nguyện, chúng ta gặp gỡ chính Đấng mà chúng ta tin. Và niềm tin đích thực được thể hiện qua đời sống hằng ngày là “Căn cứ vào điều này, chúng ta nhận ra rằng chúng ta biết Thiên Chúa, đó là chúng ta tuân giữ các điều răn của Người” (1Ga. 2, 3). Ước được như vậy. Amen.

JM. Lam Thy ĐVD.

KHI NGHỊCH CẢNH ĐẾN, BẠN CÓ THÁI ĐỘ NÀO?

KHI NGHỊCH CẢNH ĐẾN, BẠN CÓ THÁI ĐỘ NÀO?

Jos. Vinc. Ngọc Biển

Trong cuộc sống, rất nhiều người sợ lâm vào khó khăn, nghịch cảnh. Vì thế, họ luôn đặt ra cho mình những câu hỏi như: “Sao mọi thứ lại không trôi chảy?”; “Sao cuộc đời lại đầy rẫy khó khăn, trở ngại?”; “Tại sao điều này lại xảy ra với mình?”; “Tại sao đời bất công đến vậy?”; hay “Tôi đã làm gì để ra nông nỗi này?”. Nhưng nếu suy tư một chút, chúng ta sẽ thấy: nghịch cảnh cuộc đời là điều không thể tránh. Không ai tránh được những bất trắc trong cuộc sống. Thật thế, người thì bị mất việc, kinh doanh thất bại, mất đi người thân, khủng hoảng tài chính, người thì đổ vỡ trong các mối quan hệ, hoặc thậm chí sức khỏe sa sút. Đôi khi những thử thách đó lại nằm ngoài tầm kiểm soát của ta, nên dù cố gắng đến mấy, nó vẫn tan thành mây khói.

Điều đáng bàn ở đây là: chúng ta sẽ phải ứng xử với những nghịch cảnh đó như thế nào cho đúng mực, hầu đem lại hiệu quả tối ưu!

  1. Những thái độ khác nhau khi gặp nghịch cảnh

Thật ra, mỗi khi thử thách đến trong đời, chúng ta thấy có rất nhiều thái độ khác nhau, mỗi người đối diện và phản ứng một kiểu, chẳng ai giống ai. Có người thì quay lưng lại với chúng. Có người lại không dám tiến lên vì sợ thất bại. Lại có người không bao giờ hành động… vì lo không đạt được mục tiêu.

Tuy nhiên, cũng có những người khi thất bại đến, họ coi đó như là một điều kiện cần để tiến đến thành công. Lại có những người coi việc thất bại như là một phần của cuộc sống để làm cho cuộc đời này ý nghĩa, giá trị hơn. Những người đó, họ coi thất bại như là chút mắm, muối, gia vị… để làm cho “tô phở cuộc đời” được mặn mà, thơm ngon hơn. Ralph Waldo Emerson đã nói: “Vinh quang lớn nhất của chúng tôi không phải là không bao giờ thất bại, nhưng tăng lên mỗi khi chúng tôi thất bại”; “Chẳng ai trở nên hoàn hảo và tốt đẹp mà chưa từng mắc lỗi lầm nào cả” (William E. Gladstone).

Thật thế, những người có thái độ tích cực đối với thất bại thì trong đầu họ luôn nghĩ: “Nghịch cảnh không phải là một tảng đá cản lối bước chân bạn. Hãy xem đó như một thềm đá nâng bạn bước cao hơn” (Fanco Molinary).

“Thất bại chỉ là cách chúng ta học hỏi qua phương pháp thử và sai. Chúng ta không chỉ cần chấm dứt ngay nỗi sợ hãi thất bại mà còn cần sẵn sàng chấp nhận thất bại – thậm chí hào hứng đón nhận thất bại. Họ gọi phương pháp đón nhận thất bại này là ‘thất bại để tiến lên’. Bạn chỉ cần bắt tay thực hiện, phạm sai lầm và tiếp tục tiến về phía mục tiêu của mình. Tất cả những kinh nghiệm thu được đều là những thông tin hữu ích bạn có thể sử dụng cho những lần sau” (Jack Canfield – trích trong “những nguyên tắc thành công”). Nghe có vẻ hơi điên rồ, nhưng nếu nhìn lại cuộc đời mình, bạn sẽ nhận ra những món quà quý giá bạn đang tận hưởng trong hiện tại lại “đâm chồi nảy lộc” từ nơi nghịch cảnh bạn phải hứng chịu trong quá khứ.

Tại sao thế? Thưa vì: “Bạn không thể học được ít hơn, bạn chỉ có thể học được nhiều hơn. Tôi có kiến thức sâu rộng chính là bởi tôi đã phạm rất nhiều sai lầm” (Buckínter Fuller – Nhà toán học và triết gia). Thất bại là chậm trễ, nhưng không đánh bại. Đó là một đường vòng tạm thời, không phải là một ngõ cụt.

Tuy nhiên, “nghịch cảnh chỉ mang đến lợi ích trong tương lai nếu bạn giữ được thái độ tích cực, chủ động tìm kiếm những cơ hội mới và không ngừng bước tới. Nếu bạn cho phép nghịch cảnh nhấn chìm bạn vào những suy nghĩ tiêu cực và thôi không phấn đấu thì đương nhiên, chẳng điều tốt đẹp nào đến với bạn cả” (trích trong “3 món quà đến từ nghịch cảnh” đăng trên: http://www.hoclamgiau.vn/skill/1641/mon-qua-den-tu-nghich-canh)

  1. Câu chuyện thành công từ những nghịch cảnh

Có một câu chuyện kể rằng:

Những nông dân ở miền Nam Alabama đã quen trồng chỉ mỗi một thứ là cây bông (dùng để se chỉ, dệt vải).

Một năm kia, những con sâu bọ đã tàn phá cả vùng. Năm sau những người nông dân đem nhà cửa của họ đi cầm cố để có tiền và lại tiếp tục trồng cây bông, hy vọng vào một kỳ gặt hái tốt đẹp. Thế nhưng, khi những cây bông bắt đầu mọc, những con sâu bọ đó lại đến và phá sạch hầu hết các cánh đồng.

Một số ít những người “sống sót” qua 2 năm đó đã quyết định trồng thử một thứ mà trước đây họ chưa bao giờ trồng, đó là cây lạc (đậu phộng). Và kết quả là cây lạc của họ nhanh chóng được thị trường ưa chuộng, đến nỗi lợi tức của năm đó đủ để họ trả hết nợ của 2 năm trước. Kể từ đó họ trồng cây lạc và rất phát đạt.

Và rồi bạn biết những người nông dân đó làm gì không? Họ trích một phần trong tài sản của mình để dựng một đài kỷ niệm ngay giữa trung tâm thành phố để ghi công “những con sâu bọ”. Bởi nếu không vì những con sâu đó họ sẽ không bao giờ khám phá ra cây lạc. Họ sẽ mãi mãi đủ ăn với nghề trồng cây bông từ thế hệ này qua thế hệ khác.

  1. Đứng trước nghịch cảnh, người Công Giáo cần có thái độ nào?

Khởi đi từ nguyên tắc cứu độ của Đức Giêsu trong nguyên lý của hạt lúa mì: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24); rồi chính Đức Giêsu đã đi trên con đường tự hủy đó để cứu độ con người. Đỉnh cao của mầu nhiệm này là cái chết trên thập giá như Ngài đã tiên báo: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết và sau ba ngày, sống lại” (Mc 8, 31). Tinh thần này đã được thánh Phanxicô Assisi lựa chọn và sống, ngài viết: “Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”.

Quả thật, con đường này là con đường nghịch lý của thập giá mà chính Đức Giêsu đã lựa chọn. Tuy nhiên, đằng sau sự mục nát của hạt lúa, chúng ta thấy trổ sinh nhiều cây và bông hạt khác. Cũng vậy, nếu không có thập giá hôm nào thì không có sự phục sinh của Đức Giêsu và niềm hy vọng của chúng ta. Chính Tôi Tớ Chúa, Đức Hồng Y Fx. Nguyễn Văn Thuận cũng đã nói: “Đừng nản lòng vì thất bại. Nếu con tìm ý Chúa thực sự, thì chính sự thất bại đó là thành công. Chúa muốn như vậy. Xem gương Đức Giêsu trên thánh giá”; “ Chỉ có một sự thất bại là không hy vọng vào Chúa. Con đã hy vọng vào Chúa và con sẽ không hổ thẹn đến muôn đời” (ĐHV., số 41. 43).

“Lửa thử vàng, gian nan thử đức”. Trong hành trình sống đạo, hẳn không thiếu những nghịch cảnh. Tuy nhiên, khi đối diện với chúng, mỗi người chúng ta hãy kiên trì và trung thành với ơn gọi mà mình đã khám phá và cảm nghiệm. Mỗi khi khó khăn thử thách đến với chúng ta, đừng vì thất vọng mà buông xuôi. Nhưng hãy trung thành đến cùng. Nếu bỏ cuộc, chúng ta đã làm việc này việc nọ vì hứng chứ không phải vì lòng yêu mến Chúa.

Tuy nhiên, lòng yêu mến Chúa thì không phải là hứng mà làm, nhưng là vì cảm nghiệm. Khi đã cảm nghiệm thì không còn chuyện bàn tán nên hay không nên, mà tất cả đều có ích cho những người yêu mến Chúa.

Hình ảnh người trộm lành cho chúng ta thấy, anh ta hạnh phúc ngay trong sự thất bại. Anh ta được hạnh phúc là vì anh ta tin tưởng tuyệt đối vào tình yêu của Thiên Chúa. Còn Giuđa thì thất vọng khi đang sống trong tình yêu nhưng lại nghi ngờ, nên ông đã là người thất bại thê thảm.

Nếu không bền chí thì không phải là người tài đức song toàn. Người tài là người được lớn lên trong thử thách. Người có đức là người bền chí, trung thành và can đảm. Bền chí là dấu hiệu của người đang dồi dào ân sủng.

Nếu thiếu đi hai yếu tố trên thì không phải là mình “hiền” như mình vẫn lầm tưởng, mà là “hèn”. Cần hiểu và phân định rõ rằng: “hiền”“hèn” là hai lối sống và biểu hiện khác nhau.

Nếu không có lòng yêu mến Chúa, thì không thể kiên trì, trung thành được, bởi vì, họ sẽ không thể tìm ra ý nghĩa của đau khổ, thất bại. Họ sẽ không thấy sự sống trổ sinh từ cây thập giá chết. Họ sẽ không thể hy vọng về một tương lai tươi sáng khi đang phải đối diện với tối tăm mù mịt.

Giuđa và Gioan chỉ khác nhau ở lòng mến mà thôi. Trong tâm hồn chúng ta cũng vẫn còn đó hai hình ảnh và hai lối sống lẫn lộn: Gioan và Giuđa. Bao lâu chúng ta còn kiên trung, bền chí, và hy vọng, ấy là dấu chỉ ta theo Gioan để đi trọn con đường tình yêu dưới chân thập giá. Còn giờ phút nào chúng ta nhát đảm, sợ sệt, ham tiền, ham danh, ấy là lúc chúng ta đã chọn Giuđa làm quan thầy và thắp hương tôn thờ vị “quan thầy phản bội”.

Bạn thân mến,

Chúng ta thường than oán mỗi khi rơi vào nghịch cảnh. Thế nhưng, chúng ta quên rằng Chúa là Cha của chúng ta ở trên trời, Chúa luôn yêu thương chúng ta, Ngài biết trước những gì chúng ta cần, vì thế chúng ta nên phó thác trong tay Ngài. Hãy tin tưởng vào Chúa quan phòng (x. Mt 6,25-34). Mỗi khi gặp nghịch cảnh , khó khăn xảy đến, chúng ta đừng quá bận tâm cho câu hỏi tại sao? Mà hãy chú tâm và khám phá ra ý định của Thiên Chúa trong nghịch cảnh đó.

Khi thinh lặng nội tâm, Ngài sẽ cho biết lý do tại sao, hay cần làm gì để chúng ta nhận biết được những hồng ân quý báu Chúa ban cho trong nghịch cảnh đó.

Thật vậy, mọi sự đều trở nên ích lợi cho những người yêu mến Chúa. Vì thế, không còn chuyện than thân trách phận hay buồn bực, chán nản và thất vọng vì những điều không hợp với ý của ta nữa. Các thánh là những người đã sống mầu nhiệm thập giá qua những nghịch cảnh cách xuất sắc. Có những đấng đã xin Chúa cho chịu thật nhiều đau khổ để đến vì tội mình. Lại có đấng sẵn lòng chịu khổ cực thay cho người khác. Và cũng có những đấng đón nhận mọi khổ cực đắng cay, hiểu lầm vì lòng yêu mến Chúa. Các thánh là những người phải chiến đấu với sự yếu đuối bản thân, với những nghịch cảnh từng ngày từng giờ, từng phút, từng giây trong cuộc sống.

Xin hãy nhớ rằng: những điều tốt đẹp ngày hôm nay là kết quả của những thử thách ngày hôm qua.

Để kết thúc, xin bạn cùng với tôi, chúng ta cùng nhau suy ngẫm câu nói sau: ” ‘Khổ’. Đúng vậy. Thương khó, bỏ dễ. Khó mới quí, bỏ là quỉ” (ĐHV., số 60).

Vậy bạn và tôi, chúng ta muốn làm thánh hay là quỷ???

Jos. Vinc. Ngọc Biển

SỨC MẠNH CỦA LÒNG TIN

SỨC MẠNH CỦA LÒNG TIN

LM Ignatiô Trần Ngà

Norman Vincent Peale (1898-1993) là một mục sư danh tiếng trong Giáo Hội Tin Lành Methodist, đồng thời cũng là nhà tâm lý trị liệu danh tiếng ở Mỹ, đã xuất bản nhiều tác phẩm thuộc hạng ăn khách nhất (best-selling books), trong đó có cuốn “sức mạnh của tư tưởng tích cực” (The Power of positive thinking) xuất bản năm 1952, được dịch ra đến 41 thứ tiếng, bán ra hơn 20 triệu cuốn và còn được thu vào băng dĩa để phát hành.

Cuốn sách nầy lôi cuốn được nhiều độc giả đến thế vì nó giúp cho người ta tìm thấy bí quyết tránh thất bại và đạt tới thành công.  Bằng cách nào?  Tác giả cuốn sách viết: người ta thất bại vì người ta thiếu lòng tin, thiếu lòng tin nơi Thiên Chúa và thiếu tin tưởng vào khả năng của mình.  Vậy muốn thành công, hãy gầy dựng cho mình một niềm tin mạnh mẽ.

Tác giả dùng một câu lời Chúa, trích trong Tin Mừng Mat-thêu làm nên bí quyết để thành công trong cuộc đời, để giành lấy thắng lợi.
Câu đó là:
“nếu bạn có lòng tin thì chẳng có việc gì mà bạn không làm được.” (Mt 17, 20)

Chân lý đó được chứng tỏ qua sự kiện sau đây:

Khi Chúa Giêsu vượt qua biên giới Do-thái qua miền Tia và Xi-đôn, có một người đàn bà xứ Canaan, là người ngoại bang đến gặp Chúa Giêsu và thống thiết nài xin Người: “Lạy Ngài là con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!  Con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm!”

Chúa Giêsu lặng thinh không đáp.

Nếu ở trong hoàn cảnh người đàn bà nầy, chắc chúng ta tức tối bỏ đi, thầm oán trách Chúa vô tâm.  Đó là bức tường thứ nhất người đàn bà Canaan đụng phải, nhưng bà không thối lui.

Bà cứ liên lỉ nài van, còn Chúa Giêsu thì cứ tiếp tục lặng thinh.  Bà kêu xin bền bỉ đến độ các tông đồ đi theo chịu hết nổi, nên mới xin Chúa Giêsu đáp lại ước vọng của bà: “Xin Thầy bảo bà ấy về đi, vì bà ấy cứ theo sau chúng ta mà kêu mãi!”

Chúa Giêsu lại từ chối: “Thầy chỉ được sai đến với chiên lạc nhà Israel”.

Sứ mạng của Chúa Giêsu vào thời điểm đó chỉ dành cho dân Israel mà thôi.  Chưa đến lúc, chưa đến giờ đem ơn cứu độ cho mọi dân tộc.

Bị từ chối thẳng thừng, bị đụng vào bức tường thứ hai, nhưng bà không nhụt chí.  Bà vẫn tiếp tục van xin.  Bà bái lạy Người cách thành khẩn: “Lạy Ngài xin cứu giúp tôi”.

Lần nầy, Chúa Giêsu trả lời cách cứng cỏi và quyết liệt: “Không nên lấy bánh của con cái mà cho chó con.”  Thế là bà lại đụng phải bức tường thứ ba, tưởng như còn cao hơn, dày hơn hai bức tường trước.  Vẫn không thoái chí, bà khiêm nhường chấp nhận thân phận thấp hèn của mình và khiêm tốn cầu xin: “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống.”

Đến đây thì Chúa Giêsu không thể chối từ được nữa và nguyện vọng của người phụ nữ Canaan đã được đáp ứng hoàn toàn.  Con gái bà đã được cứu chữa.

Chúa Giêsu xác nhận rằng bà được như ý bà muốn là nhờ lòng tin: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật.  Bà muốn sao thì sẽ được vậy.”

Vì muốn cho chúng ta biết rằng lòng tin có sức cứu chữa và làm nên phép lạ, nên sau mỗi lần cứu bệnh nhân lành bệnh, Chúa Giêsu không nói: “Ta đã chữa lành con, hãy về bình an,” nhưng Ngài lại nói: “Đức tin của con đã cứu chữa con.”

Tin Mừng Mátthêu cũng nhấn mạnh rằng nếu không có lòng tin, thì người ta chẳng đạt được gì cả, bằng chứng là khi Chúa Giêsu về thăm quê hương Ngài là Nadarét, người đồng hương không tin vào Ngài, nên không có phép lạ nào xảy ra. “Người không làm nhiều phép lạ tại đó, vì họ không tin” (Mt 13, 58) hay như tường thuật của thánh Máccô: “Người đã không thể làm được phép lạ nào tại đó… Người lấy làm lạ vì họ không tin” (Mc 6, 5-6)

Chúa Giêsu khẳng định rằng ai có lòng tin thì có thể làm được bất cứ việc gì.  “Nếu anh em có lòng tin bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi nầy: “rời khỏi đây, qua bên kia!” nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được.” (Mt 17, 20)

Một sự kiện điển hình chứng tỏ niềm tin làm nên phép lại là khi Phê-rô thấy Chúa Giêsu đi trên mặt nước, ông cũng muốn được như Thầy và đã xin Chúa Giêsu cho ông thực hiện điều đó.  Chúa Giêsu chấp thuận.  Tin vào quyền năng Chúa Giêsu, Phêrô làm nên được điều kỳ diệu: ông đi được trên mặt nước để đến với Thầy.  Thế nhưng khi thấy gió thổi mạnh, ông đâm ra lo sợ và nghi ngờ.  Chính vì mất niềm tin nên ông bị chìm đắm.  Ông hốt hoảng la lên.  Chúa Giêsu nắm lấy tay Phêrô kéo lên và trách ông: “Người đâu mà kém tin vậy!  Sao lại hoài nghi!”  (Mt 14, 22 – 33).

Lòng tin là bí quyết của thành công, đó là bài học quan trọng mà Chúa Giêsu muốn gửi đến chúng ta hôm nay, tiếc thay chúng ta không biết tận dụng bài học đó để thu hoạch những thành quả tốt đẹp trong cuộc đời.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đề cao lòng tin, khen ngợi những người mạnh tin và chê trách các môn đệ yếu lòng tin.  Xin ban thêm Đức tin cho chúng con để nhờ đó, chúng con vững vàng thắng vượt gian nan thử thách và giành lấy những thành tựu tốt đẹp trong cuộc đời.

LM Ignatiô Trần Ngà

Mưa với nắng dẫu chung trời, chung đất,

“Mưa với nắng dẫu chung trời, chung đất,

Mà quanh năm bắt buộc tránh nhau hoài.”

(Dẫn từ thơ Nguyễn Tất Nhiên)

Mt 16: 13-20

Chung trời đất, nhưng cuộc đời nào có chung. Tránh nhau hoài, là tư-thế của người đời thường ứng-xử với nhau trong đời người.

Trong đời người đi Đạo và sống Đạo cũng thế. Cũng có những cảnh người người tránh né nhau, như người dưng nước lã, khó làm thân. Chả thế mà, Đức GIêsu hôm nay cứ lần lữa hỏi đồ-đệ xem người người gọi Ngài là ai? Có biết gì về Đấng Mêsia không? Có biết Ngài là Đấng được gửi đến sống chung đụng, gần gũi trong trời đất, vẫn thương-yêu, gần cận biết bao người, như trình-thuật thánh Mát-thêu còn ghi chép.

Trình-thuật thánh Mát-thêu hôm nay ghi về cung cách sống rất chung đụng của người trần-thế, rất ở đời. Trong đời trần thế, sống đúng tư cách của người đi Đạo là sống cho ra sống. Dù cuộc sống có trần ai/bĩ cực, người tín hữu Đức Kitô vẫn phải sống có căn cước của nhà Đạo. Chứng tỏ căn cước nhà Đạo, là ưu tư của người đi Đạo.

Ở đây, “danh xưng” Kitô-hữu vẫn được coi như một căn cước. Ở đây, “căn cước” người tín hữu, vẫn nói lên cả một hiện tượng, thường xảy ở nhiều nơi.

Tại giáo phận miền quê hôm ấy, xảy ra một vụ nổ lớn về cách thức vị linh mục chánh xứ tổ chức buổi tĩnh tâm cuối tuần, cho các học sinh trung học. Đêm thứ sáu của tuần lễ trầm mặc, là đêm căng thẳng nhất, khi vị linh hướng thông báo với các người trẻ, rằng: họ phải có quyết định dứt khoát, về niềm tin tôn giáo của mình.

Nhiều phụ huynh đã sững sờ, khi biết là đám trẻ nhà mình, đã nhận được tối hậu thư rất gay, có thể dẫn tới hậu quả là chúng sẽ chối bỏ đức tin. Vị linh hướng hôm ấy, còn quả quyết rằng: người trẻ Kitô-hữu vẫn phải có quyết định chọn nghề, chọn lối sống; chọn nơi ăn chốn ở, môn học và các tương quan ở đời thường.

Vị chủ trì buổi tĩnh huấn, còn quả quyết: tôn giáo lâu nay bị đẩy lùi ra ngoài xã hội, và cuộc sống. Và, đây là chuyện khá quan trọng, để giới trẻ nên quan tâm suy nghĩ, hầu có quyết định chọn lựa trước khi bước vào cuộc đời đích thật. Và, nếu không có quyết định dứt khoát về niềm tin tôn giáo, thì Đạo của ta sẽ đắm chìm trong quên lãng. Hoặc, bị phủ vùi trong lớp ẩm mốc, cát bụi; để rồi, cuối cùng cũng làm mồi cho củi lửa, thiêu đốt.

Linh mục ấy còn thêm: đòi hỏi giới trẻ có thái độ như thế, vẫn chưa đủ. Sau 12 năm thấm nhuần nền giáo dục mang tính Kitô-giáo; và sau nhiều năm học hỏi giáo lý, Hội thánh vẫn kêu gọi giới trẻ phải có thái độ đối với niềm tin của mình. Một số người trẻ, đã quyết định một cách có ý thức, dứt khoát tiến bước dấn thân làm thành viên của Giáo hội.

Và, khi quyết định tạo cho mình một nghề đầy lòng tin như thế, nhiều bạn trẻ cho biết: họ đã phải đối đầu cả với Chúa. Họ đã kinh nghiệm trực tiếp giáp mặt với Ngài. Có người đã không ngại ngần phản chống lại Giáo hội, đến độ về sau, họ không thể nào rút lại quyết định của mình, được nữa.

Tiến-trình tĩnh tâm, cũng dựa trên nền tảng được nêu ra trong Tin Mừng, hôm nay: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”. Đáp lại câu hỏi này, các môn đệ muốn phản ánh kinh nghiệm mình đã sống với Đức Kitô, nên đã đưa ra những giải đáp khác nhau. Duy có Simôn Phêrô, lại quả quyết: Đức Kitô là sự mặc khải của Chúa gửi đến cho con người. Đây là tuyên ngôn nền tảng, mà qua đó Giáo hội của Chúa được thiết lập, chốn gian trần.

Những gì khi xưa là chân lý, nay vẫn là sự thật. Rất hoàn toàn. Có một vài điểm, nếu ta vẫn muốn cho niềm tin chuyển đổi từ lề luật, rất ý niệm hoặc những quan điểm riêng tư, thành những gì ta có thể cảm nghiệm được, thì ta phải gánh vác niềm tin mà Giáo hội hằng nuôi dưỡng ta, mãi đến hôm nay.

Và, phải coi đó như trọng trách hoặc nghề nghiệp, của chính ta. Làm thế, khi giáp mặt Đức Kitô, ta mới thực sự cộng tác vào công cuộc tái tạo Hội thánh, cùng với thế hệ đương đại.

Ý thức tận hiến đời mình, làm thành viên “cộng đoàn Hội thánh”, có lẽ là thách thức lớn Đức Chúa đem đến cho môn đệ, trong Tin Mừng. Như môn đệ xưa, chúng ta được kêu mời làm chứng tá cho tình yêu của Chúa tại nơi mình công tác hay làm lụng.

Hoặc, khi hòa mình sống với bạn bè/người thân trong gia đình. Còn lại, là chuyện nhắc nhớ: chúng ta vẫn đại diện cho Hội thánh. Một Hội thánh duy nhất. Thánh thiện. Mà, tất cả mọi người chúng ta đang giáp mặt, sống chan hòa.

Đường lối ta đeo đuổi, có thể sẽ cột thắt hoặc giải phóng mọi người, sẽ được đo lường bằng niềm tin yêu của ta. Mọi người sẽ nhìn qua ta, để phán đoán xem Hội thánh có còn phản ảnh Đức Kitô, sống với thế giới gian trần, hôm nay không. Mọi người sẽ tìm hiểu xem Hội thánh có còn là căn nhà chung, mọi người chúng ta đang sống.

Và, tất cả đều được coi như thực chất/bản-lề đặt ở câu hỏi gửi đến mỗi người, trong cộng đoàn. Câu hỏi, là: “Thế còn bạn, bạn bảo Tôi là ai?” Cách thức ta trả lời cho câu hỏi, sẽ bộc lộ thật nhiều điều. Và, điều rõ nét nhất, vẫn là:  Đức Kitô có còn lý tưởng ta yêu thích. Có còn là, đối tượng ta mê say, phục vụ, nữa hay không?

Một lần nữa, hỏi tức là trả lời. Một trả lời ở đâu đó, nơi lời kinh/nguyện cầu rất hăng say. Trong cảm-nghiệm về câu trả lời cho tình thương yêu gần cận với Thày, cũng nên ngâm lại lời thơ trên còn bỏ dở, rằng:

“Mưa với nắng dẫu chung trời, chung đất,

Mà quanh năm bắt buộc tránh nhau hoài.

Ta với người bắt buộc phải chia hai,

Làm sao em biết trời đau đớn

Làm sao em lớn bằng ta lớn.

Để chung cùng công việc: đứng than thân…”

(Nguyễn Tất Nhiên – Vài Đoạn Viết Ở Đinh Tiên Hoàng)

Viết ở đâu cũng là viết. Viết về tư thế của mưa với nắng, tránh nhau hoài. Đứng ở đâu, cũng là đứng trong trời đất, mà cứ bắt buộc tránh nhau hoài, thế đó đâu phải là đời người. Chí ít là đời của người đi Đạo và sống Đạo, vẫn có Chúa thương yêu ở chung cùng mình, rất an bình.

Lm Richard Leonard sj

Mai Tá lược dịch

Đôi chim, là chim ríu rít trên cành,

Đôi chim, là chim ríu rít trên cành,

Em yêu là yêu tiếng gọi

Của Mình là Mình, Mình ơi!

(Diệu Hương – Mình Ơi)

(1Cor 9: 19-23)

Nếu ai đó, hiểu sâu và hiểu xa ý-nghĩa của từ-vựng “Mình” chỉ là “bạn tình” rất thường tình, chứ không là “bạn trăm năm”, thì chắc bạn và tôi, ta sẽ có rất nhiều điều để nói và để bàn, rất không chán.

Chuyện đáng nói và bàn, mà nhiều người cứ tưởng là chuyện trăm-năm-cuộc-tình-đôi-lứa như thế, nhiều lúc thấy cũng rất thường. Thường xảy đến, câu hát buồn từng nối đuôi theo, như:

“Đem qua thức giấc bùi ngùi

Nhìn quanh, là em không thấy mặt người.

Là, người mình thương.”

(Diệu Hương – bđd)

Ý-tưởng, được người viết nhạc diễn-tả ở đây muốn nói đến, có thể là tâm tình của người tình từng có “trăm năm một cõi đi về”, mà thôi. Nếu người đọc, lại diễn rộng thứ tình trăm năm hoặc nghìn năm mây bay thành tình bạn/tình người với mọi người, hẵn rằng lại khác!

Vâng! Sự thật lại rất khác. Cũng sẽ khác, nếu như ta lại cứ hát câu cuối của nhạc bản này và nghĩ đến người-tình-ngàn-năm sẽ thấy khác, cũng rất nhiều như những điều sau đây:

Đôi chim gẫy cánh giữa đường,

Từ nay là em thôi hết được

Gọi Mình là Mình, Mình ơi.”

(Diệu Hương – bđd)

Thế thì, nay có đề-nghị từ một người nghe nào đó, không phải là bần đạo bầy tôi đây, cứ hiểu chỉ một “tình mình” ngàn-năm-mây-bay không là tình bạn đôi lứa mà thôi, hẳn rằng bạn và tôi, ta lại sẽ có cả thiên/cả nghìn vấn-đề đặt ra cho riêng mình, và cho mọi người từ xưa đến nay.

Nói dông nói dài, là để dẫn vào câu chuyện xảy đến với nhà Đạo, rất không lâu. Muốn biết là chuyện gì vừa xảy đến không lâu, xin mời bạn/mời tôi ta đọc tiếp các “mẩu” thông-tin từ nhà Đạo mình, như sau:

“Trong lần gặp gỡ bạn bè xưa/cũ tại nhà thờ Caserta, Đức Phanxicô có nói: ngài biết chắc rằng: một số người đã tỏ ra sửng sốt khi thấy ngài thực-hiện chuyến đi thăm nhóm bạn-hữu thuộc giáo-phái Ngũ Tuần, xưa nay là bạn của ngài.

Đức Phanxicô có nói với nhóm Ngũ Tuần này, rằng: ‘Chúa Thánh Thần là nguồn-cội của sự đa-dạng trong Hội-thánh. Đa-dạng đây, là đặc-tính phong-phú, tốt lành, hạnh-đạo như mọi đạo. Chúa Thánh Thần là Đấng tạo sự hiệp-nhất hết mọi người. Theo cách này, Hội thánh vẫn là một trong Giáo hội đa-dạng ấy. Và Đức Phanxicô lại nói: ngài yêu-thích từ-vựng rất hay và rất đẹp vẫn được ghi trong Kinh thánh, đó là câu: Tính đa-dạng thực-hiện sự hoà-giải đích-thị là quà tặng của Chúa Thánh Thần.”

Trong buổi này, Đức Phanxicô lại đã dấy lên một đòi hỏi gửi đến cộng-đồng các vị Rao giảng Phúc Âm gốc Ý, là: thời Phát-xít lộng-hành, một số người Công-giáo đã là đồng-phạm trong vụ giết chết rất nhiều anh chị em Tin Lành thuộc phái Ngũ Tuần và Rao Giảng Phúc Âm, ở đây.

Thế nên, với tư-cách là mục-tử Đạo Chúa, tôi mong anh chị em hãy tha thứ cho những người anh/người chị của chúng ta, là những người Công giáo khi xưa vì không biết và do sự dữ cám-dỗ nên đã làm những chuyện xằng bậy mất đoàn-kết như thế…

Đồng thời hôm ấy, Đức Phanxicô cũng đem đến cho các linh-mục vài tư-tưởng về mối quan-hệ giữa người Công-giáo với các anh em Ngũ Tuần khiến mọi người thấy ngạc-nhiên. Đặc biệt là khi, Đức Giáo Hoàng cho biết: nhiều người Công-giáo ở Châu Mỹ La-tinh đã gia-nhập cộng-đồng tín-hữu Ngũ Tuần. Ngài kể lại câu chuyện nữ tín-hữu nọ là người Công giáo có nói: Giáo-hội Công-giáo đã bỏ rơi chị và cả bạn bè của chị theo Công giáo nữa. Chị nói: chị cần có Lời Chúa dẫn-dắt, nên đã phải gia-nhập sinh-hoạt của anh em Tin Lành này…

Để minh-hoạ và cũng kết thúc bài nói chuyện hôm ấy, Đức Phanxicô nhấn mạnh: “Bất cứ ai, dù nam hay nữ, vẫn có thể đem đến cho ta đôi điều làm quà-tặng. Đó, có thể là chuyện đời riêng hoặc tình-cảnh tư-riêng của họ. Dù thế nào đi nữa, cũng nên lắng nghe họ. Và, Chúa Thánh Thần là Đấng khôn-ngoan rất mực, sẽ chỉ dạy cho ta biết cách ăn/nói với người đó.

Đừng bao giờ hãi sợ khi đối-thoại với bất cứ ai. Đối-thoại, không phải để bảo-vệ niềm tin của mình, dù nó có nghĩa là giải-thích những gì mình tin. Và, cũng là cung-cách làm áp-lực để thuyết-phục người nghe gia-nhập Đạo mình. Đức Bênêđíchtô 16 có lý khi nói rằng: “Hội thánh lớn mạnh không do việc khuyến-dụ người khác gia-nhập Đạo mình, mà là ngang qua sự thu hút của mình bằng cuộc sống”. (X. Cindy Wooden, Pope, friends move in the Spirit, The Catholic Weekly 03/8/2014 tr. 7)

Nói gì thì nói, nếu cứ nói và hát theo ca-từ của nhạc-bản trích ở trên, người đọc lại sẽ như bầy tôi đây, sẽ hát những lời bức-bách rất như sau:

“Từ khi, từ khi là Mình bỏ em buồn

Đôi chim lơ láo, quay cuồng là cuồng biếng ăn.

Co ro, co ro tìm một chỗ em nằm,

Phòng không, phòng không là không không chiếu lạnh

Nhện sầu là sầu giăng ngang.”

(Diệu Hương – bđd)

Nếu hiểu chữ “Mình” theo ý của cố Linh mục DCCT người Canada là Lm Gérard Gagnon khi trước vẫn hiểu chữ “Mình” trong câu thơ Kiều: “Nghĩ Mình, Mình lại nên thương nỗi Mình” là Đức Chúa Trời Ba Ngôi hiện-diện nơi mình/nơi người, trong đời, thì hôm nay chữ này còn mang nhiều ý-nghĩa hơn.

Nếu thế thì, xin bạn và tôi, ta cứ tiếp-tục hát thêm câu hát có những chữ “Mình” như sau:

“Mình ơi là Mình, Mình ơi!

Mình đi là đi đi mãi quên lời,

Lời xưa mà ta ước hẹn,

Một đời là một đời sắt son.

Cây xanh, là xanh lá vẫn tươi màu,

Riêng em là em héo tàn.

Nhạt nhoà, là nhoà tình xuân.”

(Diệu Hương – bđd)

Thật ra thì, khi nghe hát những ý/lời có chữ “mình” ở trên, bần-đạo đây lại cứ liên-tưởng đến những chuyện rất khác với ý-tưởng của tác-giả bài hát rất úi chà “Mình ơi, là mình!”

Vâng! Thật sự thì: trong đời mình, lại cũng có những “mình” và “mình” vốn liên-kết với nhau không chỉ ngang qua tình ruột thịt mà còn là tình-thân thương của những con cái Chúa, ở Nước Trời nhà Đạo.

Liên-tưởng đến những gì mang chữ “mình”, bần đạo đây lại bắt gặp những đoạn gọi là “tình mình bây giờ” và khi xưa, những kể rằng:

“Theo các cụ Zelmyra và Herbert Fisher, là cặp phối-ngẫu có 87 năm chung sống với nhau, thì: muốn cho hôn-nhân của mình kéo dài cả đời người, không có gì khó khăn cho lắm. Sau đây là một vài mẹo vặt do hai cụ đề-nghị hầu đảm-bảo cho hôn-nhân của mình được thành-công, toại nguyện:

Ly-dị, không phải là chọn-lựa. Điều này ít được nói đến, nhưng tôi tin chắc là ngày nay, càng có nhiều người tính chuyện ly-dỵ chỉ vì đó là chọn-lựa, ngay trước mắt. Nếu bạn nghĩ rằng ly-dị là chuyện khả-thi, thì nhiều khả-năng là: khi mọi sự đi đến khó-khăn, bạn sẽ “chọn” việc đó như con đường “dễ đi” hơn là làm hết mình để chỉnh-sửa tương-quan mình vẫn có.

Hãy nhớ rằng: hôn-nhân là cuôc “thi-đấu”, đừng bao giờ duy-trì số điểm mình đạt được. Bởi lẽ, bạn ở cùng chung một đội-ngũ quyết giành phần thắng lợi, chứ không chỉ riêng mỗi một mình.

Mẹo kế tiếp, là: Hãy đồng-ý với nhau là mình có thể bất-đồng về nhiều chuyện và chiến-đấu cho những gì thực sự thành vấn-đề. Hãy học cách cúi gập người mình xuống mà đồng-thuận chứ không phải phá đổ mọi sự. Theo tôi thì, những gì đi đến nền tảng của sự việc mình tin-tưởng, thì cũng là điều tốt nếu như người phối-ngẫu với mình ở trên cùng chiều dài của cơn sóng vỗ như mình vậy. Không có gì là xấu xa nếu ta bất-đồng với nhau về cả “chuyện nhỏ”. Thật sự thì, cũng là điều tốt nếu như ta học được nhiều điều từ những người đồng-thuận với mình. Thêm nữa, điều đó cho thấy mình thật sự thoải-mái đối với nhau, có thể trân-trọng ý-kiến/lập-trường của nhau và nhượng bộ nhau, nếu cần.

Mẹo cuối thêm nữa là: điều mà bạn nên có chung với nhau, đó là: hãy thăng-tiến hết mọi sự, bởi ta đều là tín-hữu Đức Kitô và cùng tin vào Chúa. Điều này không có ý bảo rằng: muốn thành vợ chồng thành-công trong hôn-nhân, thì phải là Kitô-hữu.

Không. Không phải thế. Điều này, chỉ muốn nói đến yếu-tố bảo rằng: hầu hết các cặp vợ-chồng hoà-hợp/đoàn-kết với nhau là những người cùng san-sẻ một niềm tin hoặc giá-trị đạo-đức. Tại sao thế? Bởi như thế, họ hiểu nhau hơn, họ có thể giúp đỡ nhau vững chí với niềm tin của họ và như thế sẽ không giáp mặt với những xung-đột lớn lao khi nuôi dưỡng giáo dục đàn con của họ”. (xem Tamara Rajakariar, A Happy Marriage is Simple, MercatorNet 21/5/2014)

Thế đó, cũng chỉ là lập-trường tư-riêng của ai đó. Có thể gọi họ là “các cụ giòng họ Fisher” ở Úc hay Mỹ Quốc. Có thể gọi họ là ông A bà B, rất đáng kể. Nhưng, gọi thế nào thì gọi, nói gì thì nói vẫn cứ nên nói cho có sách và mách cho có chứng. Những chứng cứ được ghi dấu ở Kinh Sách rất như sau:

“Phải, tôi là một người tự do,

không lệ thuộc vào ai, nhưng tôi đã trở thành nô lệ của mọi người,

hầu chinh phục thêm được nhiều người.

Với người Do-thái, tôi đã trở nên Do-thái, để chinh phục người Do-thái.

Với những ai sống theo Lề Luật, tôi đã trở nên người sống theo Lề Luật,

dù không còn phải sống theo Lề Luật nữa, để chinh phục những người sống theo Lề Luật.

Đối với những kẻ sống ngoài Lề Luật, tôi đã trở nên người sống ngoài Lề Luật,

dù tôi không sống ngoài luật Thiên Chúa, nhưng sống trong luật Đức Kitô,

để chinh phục những người sống ngoài Lề Luật.

Tôi đã trở nên yếu với những người yếu, để chinh phục những người yếu.

Tôi đã trở nên tất cả cho mọi người, để bằng mọi cách cứu được một số người.

Vì Tin Mừng, tôi làm tất cả những điều đó,

để cùng được thông chia phần phúc của Tin Mừng.”

(1Cor 9: 19-23)

Sống thực tế, là sống với và sống bằng Lời khuyên dạy từ Tin Mừng. Sống, Lời dạy từ Tin Mừng, có là cùng sống và cùng tin với mọi thành-viên Hội-thánh, tức chính Hội thánh. Sống như thế, còn là sống rất thực bằng vào và ngang qua ý-kiến của nhiều người, trong đó có cả các bậc thày-dạy ở trường lớp rất thần-học.

Và hôm nay, bần-dạo bầy tôi lục-lọi xấp bài viết của một trong các bậc thày như thế, đã thấy được như sau:

“Trong mọi hoàn-cảnh, các vị quan-tâm đến nền thần-học của Giáo-hội thường có vấn-nạn trước nhất, hỏi rằng: “Thiên Chúa đang làm gì cho thế-gian?” Câu trả lời căn-bản từ nền thần-học thường vẫn bảo: Thiên-Chúa sống-động vẫn đang tiếp-tục công việc của Ngài nơi nhân-loại, ở mọi thời, để tỏ-lộ sự hiện-diện và quyền-uy của Ngài theo cách kín đáo, và gián-tiếp.

Thế nên, trách-nhiệm tiên-quyết của Giáo-hội, là nhận-thức cho rõ và ngoan-ngoãn ứng-đáp bằng niềm tin-tưởng đối với công-việc của Chúa, ở chốn gian trần. Nhận-thức cho rõ những gì Chúa đang làm và Ngài đã làm được tới đâu, cũng như những gì Chúa gọi mời Giáo-hội biết vâng lời, dù đôi lúc thấy việc ấy cũng không mấy dễ.

Bằng vào trao-đổi với tác-giả Duffy hôm trước từng có nhận xét, là: hiện có một số khá đông tín-hữu Công-giáo vẫn sống cuộc sống kết-hợp hôn-nhân “không theo qui-cách của Đạo”. Dù ta có chấp-nhận vụ việc được kể trong buổi trao-đổi ấy như kết-luận của tác-giả về yếu-tố mục-vụ mang ý-nghĩa như việc châm ngòi cho bom nổ chậm nào đó, thế thôi.

Tuy là thế, điều đó cũng không nhất-thiết cho thấy con số các vụ sống với nhau không theo qui-cách nhà Đạo, như thế, lại là dấu chỉ về đường-lối mà các giá-trị xã-hội lâu nay đặt-định cho sự sống và khả-năng nhận-thức của tín-hữu, hoặc dấu-hiệu hôn-nhân Công-giáo hoặc thể-chế hôn-nhân Công-giáo trên đà đi xuống.

Thật ra, ta cũng có thể đọc các dấu hiệu ấy như dấu chỉ về lời mời gọi hãy liên tục sống kết-hợp hôn-nhân như giao-ước, hoặc đặc-biệt hơn, là dấu chỉ về sự thể xảy đến với người từ-chối tính-cách pháp-lý đối với bí-tích hôn-phối mỗi khi cần có quyết-tâm.

Có lẽ, vấn-đề trên đã bộc-lộ động-lực tạo “kết-hợp sai qui-cách” có thể là việc coi thường Giáo-hội cùng các bí-tích mà Giáo-hội đề ra. Hoặc, để xác-tín rằng việc sống chung-thủy không là vấn-đề và tính thánh-thiêng của hôn-nhân nay đã là chuyện của quá-khứ.

Từ đó, ta kết-luận được rằng: những gì được bộc-lộ, là mô-hình hoặc hình-thức của tội lỗi. Trong trường-hợp này, Hội thánh cũng nên tự biện-hộ cách đúng-đắn về chuẩn-mực đề ra cho hôn-nhân như luật-định, với cái giá mà Giáo hội phải trả cho lập-trường khác biệt cũng biết sống lành thánh/hạnh đạo. Bởi thế nên, việc thích-nghi và chỉnh-sửa chuyện này, tức có đúng qui-cách hay không, cũng đưa đến động-thái không còn biết tin vào Giáo-hội nữa.

Có lẽ, các chuyện do người sống đời hôn-nhân sai qui-cách mà Giáo hội tạo thành luật vẫn có thể là sự thủy-chung đối với Chúa và là đáp-ứng lại ân-huệ lành, ngay trong hoàn-cảnh khó khăn này khác.

Thế nên, cũng có thể Chúa mặc-khải cho Giáo Hội biết nhu-cầu phải nhận ra và ứng-đáp công việc của Chúa trong cuộc sống bằng vào động-thái cho phép các người phối-ngẫu sống như thế được phép hiệp-thông san-sẻ các bí-tích của Giáo-hội.

Ngay Giáo-hội có thể cũng được mời xem xét lại một số điều-khoản “thể-chế hôn-phối” dựng ra lâu nay, vì vẫn chưa làm hài-lòng được nhiều người, hầu củng-cố và đáp-ứng với công-việc của Chúa như từng diễn-lộ nơi đời sống của những người được ơn lành Chúa ban. Trong trường-hợp này, đổi-thay sẽ là cung-cách để Giáo-hội chứng-tỏ mình cũng vâng lời bằng niềm tin ngoan-cường”. (xem thêm Luke Timothy Johnson, Sex, Marriage and the Church, The Corpus Blog, 2011-2012)

Thế mới biết, hễ nói chuyện sống đời hôn-nhân theo qui-cách rất qui-củ ở nhà Đạo, đều không là chuyện dễ nói, dễ làm. Chả thế mà, Đức Giáo Tông nhà mình đã cùng với Hội thánh chuẩn bị rất nhiều tháng, để sẽ có một hoặc hai buổi họp gọi là “Thượng Hội Đồng Giám Mục ở  Rôma” vào những tháng sắp tới, trong năm 2014 và 2015 này.

Thế mới biết, cứ ới gọi nhau qua câu hát “Mình ơi là mình” cũng không dễ, như các câu:

“Đôi chim gẫy cánh giữa đường,

Từ nay là chăn gối ngậm ngùi

Là ngùi tiếc thương.

Hò là hò ơi ới hò,

Mình đi mô mà mình đi miết rứa không về

Rứa để em chứ rứa để em chẳng có ai nằm

Rứa em chẳng có ai nằm kề một bên.”

(Diệu Hương – bđd)

“Chim gẫy cánh giữa đường”, chăn gối ngậm ngùi”, “tiếc thương” cũng vẫn là những ý-tưởng và tư-tưởng về một thứ hạnh phúc nào đó trong sống đời chăn gối. Sống, với cả nhà Đạo định ra chuyện chăn gối với con dân mình, rất tận tình.

Tất cả vẫn cứ là những nhận-thức và lãnh-nhận ơn-huệ lành thánh Chúa tặng ban cho mọi người. Cả những người đã và đang hoặc cũng từng sống đời chăn gối theo qui-cách đạo-hạnh của nhà Đạo, lẫn người bình thường ở đời, rất khơi khơi.

Tất cả, chỉ là hành-trình kiếm tìm hạnh-phúc có bài-bản hay không, có nhờ vào sự dẫn-dắt của Hội-thánh hoặc cơ-quan, đoàn-thể nào đó ở đời, hay không.

Tất cả, sẽ qui vào và về một cung-cách kiếm tìm nào đó, giống như nhận-định sau đây:

“Nếu hạnh phúc là thứ tìm có thể thấy thì có lẽ con người chẳng phải nếm mùi khổ đau nhiều như vậy nhỉ.

Nếu hạnh phúc là thứ ẩn nấp để cùng con người tham gia trò trốn tìm thì cuộc sống này liệu có còn thời gian cho yêu thương?

Vì thế, hãy dừng cuộc tìm kiếm hạnh phúc ấy lại bởi nó không phải là đích đến mà nó là thứ luôn hiện hữu song hành bên ta, chỉ vì ta quá bận rộn với cuộc sống bộn bề mà ta quên mất nó đấy thôi.

Nếu đến đây mà bạn vẫn không thể tìm thấy hạnh phúc của mình ở nơi đâu thì tôi chỉ bạn nhé.

Hạnh phúc nằm ở đôi môi của bạn đấy.

Một đôi môi biết mỉm cười và biết nói lời yêu thương chính là cửa ngõ dẫn đến hạnh phúc an nhiên của con người.

Nếu bạn chỉ biết than vãn, chỉ biết oán trách những trớ trêu của cuộc đời, chỉ biết dùng lời nói để chê bai, mỉa mai, công kích người khác thì đừng hỏi “Vì sao tôi không thấy hạnh phúc“.

Hãy nói về những yêu thương tốt đẹp, hãy mỉm cười với cuộc sống xung quanh, hãy dành những lời ngọt ngào cho những người bạn yêu quý và bạn sẽ thấy hạnh phúc nảy nở từ đôi môi.

Hạnh phúc nằm ở sự tha thứ.

Chẳng có ai ôm trong lòng mối hận thù mà cảm thấy vui vẻ và thoải mái cả. Có thể, họ đã làm tổn thương bạn, họ đã phản bội lòng tin và hằn trong lòng bạn một vết thương sâu hoắm và nhức nhối nhưng hãy đặt tay lên ngực mình và dặn với chính mình “Cuộc đời này vốn không đủ dài để yêu thương thì tại sao lại phí hoài nó cho hận thù”.
Vì thế, bằng cách này hay cách khác, hãy quên đi những vết thương và quên đi người để lại vết thương ấy. Một khi bạn cho đi sự tha thứ thì cũng chính là cách bạn tự cho chính mình một món quà chứa đầy hạnh phúc và an nhiên.

Tôi không chắc chúng ta có thể lại tin, lại yêu người ấy như chưa có chuyện gì nhưng chỉ cần bản thân tha thứ được thì ta sẽ lại có thể mỉm cười khi giáp mặt nhau.

Như vậy, không phải sẽ tốt hơn sao.

Hạnh phúc nằm ở chữ Cho chứ không phải chữ Đòi.

Hãy cho đi những thứ bạn muốn nhận rồi cuộc đời sẽ trả lại cho bạn những điều mà bạn muốn, có thể nó không đến từ người bạn cần nhưng chắc chắn rằng trong dòng đời sau này, sẽ có người cho bạn lại những điều như thế.

Đừng đòi hỏi điều gì khi bản thân không làm được. Sự hụt hẫng khi điều mình muốn không được đáp lại rất dễ đẩy bạn vào hố sâu của thất vọng.

Vì thế, đừng tự giết cảm xúc của mình chỉ vì những đòi hỏi cho thỏa mãn cảm xúc của bản thân, hãy học cách cho đi thật nhiều, cuộc sống này, không để bạn chịu thiệt thòi đâu.

Hạnh phúc là khi bạn biết Đủ.

Nói theo kiểu dân gian là “cái gì quá cũng không tốt”.

Yêu thương quá sinh ra gò bó, quan tâm quá sẽ khiến mất tự do, ghen tuông quá cũng mất vị tình yêu và cái gì cũng thế, chạm đến chữ Đủ sẽ chạm được hạnh phúc tròn vị.

Đừng chạy theo cái gì quá hoàn chỉnh và cũng đừng ép bản thân phải trở nên quá hoàn hảo, yêu thương vừa đủ, ấm áp vừa đủ, quan tâm vừa đủ và bên nhau vừa đủ có lẽ sẽ hạnh phúc hon.

Và hạnh phúc chẳng nằm ở đâu xa, nó nằm ngay trong trái tim của chính ta, khi bản thân chông chênh mệt mỏi, hãy đặt tay lên tim và tự nỏi “Rồi mọi thứ sẽ ổn”.

Khi nỗi buồn xâm chiếm tâm trí và cô đơn thống trị lấn át hạnh phúc, hãy tìm một khoảng không gian riêng với những bản nhạc ta yêu, những món ăn ta thích và tự nói với lòng “Hết hôm nay thôi nhé, ngày mai ta sẽ lại mỉm cười”.
Đừng gắng gượng, hãy đối diện và tìm cách giải tỏa nỗi buồn và mang hạnh phúc quay về.
Hạnh phúc của ta nên tự ta xây lấy, đừng chạy theo người khác để thỏa mãn lòng họ và mang về thứ hạnh phúc ảo sẽ chết theo thời gian.”
(trích điện-thư bươm bướm trên mạng)

Điện-thư nhận-định như trên có thể là và vẫn là cung-cách sống của ai đó, có bài-bản hay không đó mới là vấn-đề. Và vấn-đề còn lại, vẫn xin dành cho bạn/cho tôi, là những người có quyết-định và quyết-tâm về đời mình. Cho chính mình.

Trần Ngọc Mười Hai

Và những đề-nghị cỏn con

Đề ra cho tôi và cho bạn

Để cho vui mà thôi.

Đức Phanxicô phong chân phúc cho 124 vị tử đạo Đại Hàn

Đức Phanxicô phong chân phúc cho 124 vị tử đạo Đại Hàn

Vũ Văn An

8/16/2014

Theo tin CNA, Đức Phanxicô, hôm nay, 16 tháng Tám, đã phong chân phúc cho các vị Tử Đạo Đại Hàn là Phaolô Yun Ji-chung và123 đồng bạn, ca ngợi các hy sinh vĩ đại của họ và lời kêu gọi “đặt Chúa Kitô lên trên hết” của họ.

Trong Thánh Lễ tại Cổng Gwanghwamun ở Hán Thành, trước hàng chục ngàn người, ngài nói rằng “Tất cả các vị đã sống và chết cho Chúa Kitô, và nay các vị đang trị vì với Người trong hân hoan và vinh quang. Chiến thắng của các vị tử đạo, chứng tá của các vị đối với sức mạnh của tình yêu Thiên Chúa, tiếp tục mang nhiều hoa trái hiện nay tại Đại Hàn, trong Giáo Hội từng nhận được sự lớn mạnh do chính các hy sinh của các vị”.

“Việc chúng ta cử hành Chân Phúc Phaolô và Các Bạn Tử Đạo đem lại cho chúng ta cơ hội trở về với những giờ phút đầu tiên, thời sơ sinh, có thể nói như thế, của Giáo Hội tại Đại Hàn. Nó mời gọi chúng ta, người Công Giáo Đại Hàn, nhớ tới các việc lớn lao mà Thiên Chúa đã thực hiện tại đất nước này và trân qúi di sản đức tin và đức ái từng được các bậc cha ông ủy thác cho anh chị em”.

Kitô Giáo Đại Hàn có mặt từ thế kỷ 18, lúc các học giả Đại Hàn nghe biết sự phát triển đức tin tại Trung Hoa. Họ tới Trung Hoa để học hỏi Kitô Giáo nơi các nhà truyền giáo Dòng Tên. Rồi trở lại quê hương để giảng dạy đức tin, thu hút hàng ngàn tân tòng dù không có linh mục.

Các nhà cầm quyền Đại Hàn bắt đầu bách hại các Kitô hữu và ngăn cấm sách vở Công Giáo.

Phaolô Yun Ji-chung và Giacôbê Kwong Sang-yon, cả hai đều là người Công Giáo thuộc giai cấp quí tộc, bị chém đầu năm 1791 vì vi phạm lễ nghi Khổng Giáo. Việc xử trảm họ đánh dấu việc khởi đầu cuộc bách hại lớn hàng giáo dân Đại Hàn.

Chỉ có một linh mục duy nhất, xuất thân từ Trung Hoa, trong số 124 vị tử đạo được phong chân phúc hôm nay.

Lời tuyên bố chính thức của Đức Giáo Hoàng về việc phong chân phúc đã khiến công chúng hoan hô vang dội trong khi kèn đồng và trống phách trổi lên trong Công Trường Gwanghwamun. Những màn ảnh truyền hình khổng lồ dựng hai bên bàn thờ chiếu hình ảnh các vị tử đạo.

Bài giảng của Đức Phanxicô nói rằng nguồn gốc Kitô Giáo Đại Hàn chứng tỏ “tầm quan trọng, phẩm giá và vẻ đẹp” của ơn gọi làm người Công Giáo giáo dân.

Ngài nói: “Trong ơn quan phòng mầu nhiệm của Thiên Chúa, đức tin Kitô Giáo đã được mang tới các bờ biển Đại Hàn không qua các nhà truyền giáo; đúng hơn, nó đi thẳng vào tâm trí người dân Đại Hàn. Nó được dẫn khởi từ sự tò mò trí thức, muốn đi tìm sự thật tôn giáo. Nhờ gặp gỡ sơ khởi với Tin Mừng, các Kitô hữu Đại Hàn tiên khởi đã mở tâm trí mình cho Chúa Giêsu. Họ muốn hiểu biết nhiều hơn về Chúa Kitô, Đấng chịu đau khổ, chịu chết và đã sống lại từ cõi chết”.

Các vị tử đạo Đại Hàn đã được thừa nhận là Thánh. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II phong hiển thánh cho 103 vị tử đạo Đại Hàn vào ngày 6 tháng Năm năm 1984 trong một cuộc viếng thăm Nam Hàn.

Trong bài giảng của ngài, Đức GH Phanxicô khẩn cầu các vị thánh này, Thánh Anrê Kim Taegon, Phaolô Chong Hasang và các bạn tử đạo, cùng với các vị mới được phong chân phúc.

Ngài nói “Tất cả các vị đã sống và đã chết cho Chúa Kitô, và giờ đây, các vị đang hiển trị với Người trong hân hoan và vinh quang”.

Đức Giáo Hoàng thảo luận bài đọc Tin Mừng trích từ chương 17 Tin Mừng theo Thánh Gioan và sự liên quan của nó đối với các vị vừa được phong chân phúc.

Ngài cho hay: “…Điều có ý nghĩa là khi Chúa Giêsu cầu xin Chúa Cha thánh hiến và che chở chúng ta, Người không xin Chúa Cha lấy chúng ta ra khỏi thế gian này. Chúng ta biết rằng Người sai các môn đệ ra đi làm men thánh thiện và sự thật trong thế gian: làm muối đất, làm ánh sáng thế gian. Về điều này, các vị tử đạo chỉ đường cho ta”.

Các vị tử đạo Đại Hàn “đã phải chọn giữa việc theo chân Chúa Giêsu hay theo thế gian. Họ biết cái giá của việc làm môn đệ. Họ sẵn sàng thực hiện những hy sinh lớn lao và tự để mình bị tước đoạt bất cứ những gì tách biệt họ khỏi Chúa Kitô: của cải, đất đai, danh tiếng và vinh dự, vì họ biết rằng chỉ một mình Chúa Kitô mới là trân châu ngọc qúi thực sự của họ”.

Đức GH lưu ý sự cám dỗ “muốn thỏa hiệp đức tin, muốn hạ thấp các đòi hỏi triệt để của Tin Mừng và sống theo tinh thần thời đại. Ấy thế nhưng các vị tử đạo kêu gọi chúng ta đặt Chúa Giêsu lên trên hết và nhìn mọi sự khác trên thế gian này trong tương quan với Người và vương quốc đời đời của Người. Các vị thách thức chúng ta suy nghĩ về điều ta sẵn sàng chết cho”.

Đức Phanxicô kết thúc bài giảng của ngài bằng một lời cầu nguyện: “Ước chi lời cầu nguyện của mọi vị tử đạo Đại Hàn, kết hợp với lời cầu nguyện của Đức Mẹ, Mẹ Giáo Hội, giúp chúng ta nhận được ơn kiên nhẫn trong đức tin và trong mọi việc lành phúc đức, ơn thánh thiện và trong sạch tâm hồn, và lòng nhiệt thành tông đồ trong việc làm chứng cho Chúa Giêsu trên quê hương yêu quí này, trên khắp Á Châu, và cho tới tận cùng trái đất”.

Xin xem thêm:

Đức Giáo hoàng phong chân phước cho 124 vị tử đạo Triều Tiên (RFI)

Đức Giáo Hoàng Phanxicô cử hành thánh lễ phong chân phước trước cung của triều vua Chosun - REUTERS /Ahn Young-joon

Đức Giáo Hoàng Phanxicô cử hành thánh lễ phong chân phước trước cung của triều vua Chosun – REUTERS /Ahn Young-joon