Căn Hầm Bí Mật

Căn Hầm Bí Mật

Một người hà tiện, bủn xỉn kia có thói quen giữ tất cả vàng bạc và những vật quý giá trong một chiếc hầm bí mật tự tay ông ta lén lút xây cất dưới nền nhà.

Một ngày kia, như thường lệ, ông ta lẻn xuống hầm để ngắm những vật quý, nâng niu những thỏi vàng và những dây chuyền, những cà rá nạm kim cương, hột xoàn to bằng những hạt đậu.  Rủi thay, vì vô ý gài cửa không kỹ, nên bộ phận bí mật vụt bật lên đóng sầm chiếc cửa cực kỳ kiên cố lại, chắn lối ra duy nhất.

Dĩ nhiên không ai trong nhà biết về chiếc hầm bí mật.  Vì thế, mọi người đã bỏ cuộc sau khi lục lạo tìm kiếm ông ta mọi nơi trong nhà cũng như mọi gốc cây, bụi kiểng ngoài vườn.

Sau một thời gian dài chờ đợi nhưng không nghe thấy tăm hơi của ông ta ở đâu, người ta quyết định bán căn nhà.

Người chủ nhà mới có ý định sửa chữa lại một vài căn phòng của ngôi nhà và trong khi các người thợ nề đập một bức tường, người ta khám phá ra cánh cửa bí mật ăn thông xuống chiếc hầm.  Khi những ngọn nến được thắp lên, người ta không khỏi sợ hãi thấy bộ xương của một người đang ngồi bên cạnh một chiếc bàn con với một số vàng bạc, kim cương bị quăng tung tóe xung quanh.

Có dấu hiệu cho thấy là thậm chí người chết đã phải ăn một cây nến trước khi bị chết đói.

“Khốn cho các ngươi là những kẻ phú quý ở Sion, khốn cho các ngươi là những người tự cho mình là an toàn trên núi Samaria”.

Lời chúc dữ những người giàu có bất nhân và kiêu căng trên của tiên tri Amos cũng như những lời Chúa Giêsu chúc dữ những kẻ giàu trong Tin Mừng không phải là những lời lên án tiền bạc và của cải cách chung.

Nhưng đây là những lời nói lên sự nguy hiểm của quan niệm kiêu hãnh, của tính tự cao, tự đại và nhất là thái độ và nếp sống ích kỷ, dửng dưng không để ý đến những người nghèo khổ đang sống bên cạnh.  Ðây là thái độ và nếp sống thường thấy nơi những người giàu có.

Mahatma Gandhi, người đã đưa dân tộc Ấn Ðộ đến nền độc lập khỏi ách thống trị của Anh quốc đã tuyên bố một tư tưởng cách mạng có thể đổi mới xã hội:

“Trong hoàn cảnh đói khổ của những người đồng bào, đồng chủng, nếu ta giữ một vật gì mà ta không cần dùng đến ngay bây giờ thì đó là những của chúng ta ăn cắp”.

Sống trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn hiện nay, tinh thần liên đới và sự sẵn sàng chia sẻ cơm ăn áo mặc cho những người cần đến là những ngọn đuốc sáng, là những đức tính giúp người Kitô chúng ta đóng trọn vai trò men trong bột ở giữa xã hội chúng ta đang sống.

Đức Ông Phêrô Nguyễn Văn Tài

Ba Mối Tình

Ba Mối Tình

Tình Bạn : Tại sao anh khóc?

Một anh nọ đến gõ cửa nhà anh bạn Bedouin để nhờ vả:

“Tôi muốn anh cho tôi mượn bốn ngàn dinar vì tôi phải trả nợ. Anh giúp tôi được không?”

Anh bạn bảo vợ gom hết mọi thứ giá trị họ đang có, nhưng cũng không đủ. Hai vợ chồng phải đi mượn hàng xóm cho tới khi gom đủ số tiền.

Khi anh nọ đi rồi, vợ thấy chồng mình khóc.

“Sao anh lại buồn? Giờ đến lượt hai vợ chồng mình lại nợ hàng xóm, có phải anh sợ mình không trả nợ nổi?”

“Chẳng phải vậy đâu! Anh khóc vì anh ấy là người anh rất quý mến, vậy mà anh chẳng hề biết anh ấy gặp hoạn nạn. Anh chỉ nhớ tới anh ấy khi anh ấy đến gõ cửa hỏi mượn tiền.”

Tình Mẹ : Không chịu buông tay!

Vài năm về trước, vào một ngày mùa hè , một cậu bé quyết định đi bơi ở con sông gần nhà. Trời thì nóng mà nước sông thì mát, cậu mừng rỡ nhảy ào xuống, bơi ra giữa sông mà không để ý rằng một con cá sấu đang bơi lại phía sau!

Cùng lúc đó, mẹ cậu bé đang ở trong nhà và khi nhìn ra cửa sổ, bà hoảng hốt khi thấy con cá sấu tiến ngày càn gần cậu con trai hơn! Hoảng sợ tột độ, bà mẹ lao ra, nhanh gấp nhiều lần cậu bé khi cậu chạy đi bơi, vừa chạy, vừa hét gọi con trai. Nghe tiếng mẹ gọi, cậu phát hiện ra con cá sấu và bơi ngược trở lại về phía bờ. Nhưng quá muộn, đúng khi cậu bơi tới bờ thì cũng là lúc con cá sấu đớp được chân cậu! Từ trên bờ, người mẹ chậm một giây, chộp lấy cánh tay cậu. Và bắt đầu một trận kéo co không cân sức. Con cá sấu khoẻ hơn người mẹ rất nhiều, nhưng người mẹ còn quá nhiều tình thương và không thể buông tay.
Lúc đó, một bác nông dân đi qua, nghe tiếng kêu cứu vội vã của người mẹ nên đã vội vã lấy một chiếc gậy to ra cùng chiến đấu với con cá sấu! Con cá sấu đành thả chân cậu bé ra.

Sau hàng tuần, hàng tuần trong bệnh viện, cậu bé đã được cứu sống. Nhưng chân cậu có một vết sẹo rất to, trông rất khủng khiếp – bằng chứng của lần bị cá sấu tấn công.

Một phóng viên tới gặp cậu bé khi cậu đã hoàn toàn bình phục. Phóng viên này hỏi cậu bé có thể cho xem vết sẹo được không. Cậu bé kéo ống quần lên, để lộ vết sẹo cho phóng viên chụp ảnh. Và phóng viên nọ đã nói rằng vết sẹo này cậu bé sẽ không thể nào quên!

– Không đâu, hãy nhìn tay cháu đã! – cậu bé nói rồi kéo tay áo lên. Trên tay áo của cậu là một vết sẹo to, thậm chí còn sâu hơn cùng với những vết cào xước rất đậm và kéo dài do móng tay của mẹ cậu – khi người mẹ dồn tất cả sức lực và yêu thương đễ giữ lại đứa con trai yêu quý. Cậu bé nói với phóng viên:

– Chính vết sẹo này cháu mới không bao giờ quên được! Và cháu tự hào về nó, tự hào vì mẹ cháu đã không chịu buông tay.

Trong cuộc sống những người cha – người mẹ luôn như thế đấy, họ yêu đứa con của mình bằng cả trái tim và chấp nhận hy sinh, chấp nhận đau đớn và níu giữ lấy ngay cả những hy vọng nhỏ nhoi, mong manh nhất chỉ cần đứa con mình được sống, được no đủ và êm ấm.
Bất cứ người cha, người mẹ nào cũng sẽ không bao giờ buông tay khi con mình đang ở trong tận cùng hiểm nguy. Nơi bình yên nhất, chính là trong vòng tay gia đình thân yêu!
Gia đình chính là nơi bình yên và luôn dang tay che chở ta. Là nơi ta tìm về khi mệt nhòai trên con đường đời đầy rẫy chông gai.

Tình Người : Tiếng đóng cửa

Tôi mới chuyển đến nơi ở mới, cứ gần nửa đêm đang lúc ngủ ngon, tôi bị thức giấc vì tiếng đóng cửa rất mạnh ở lầu trên và tiếng chân lộp cộp rất khó chịu.

Nhiều ngày kế tiếp nhau, vẫn tiếng đóng cửa và tiếng dép vào đúng giờ ấy khiến tôi không sao chịu nổi.

Mẹ tôi khuyên: “Thôi con à, chúng ta mới đến, con đừng vội, kẻo làm mất lòng hàng xóm”.

Tôi đem chuyện ra than thở với mấy người trong xóm.
Có người khuyên: “Bà và chị cố gắng chịu đựng tiếng đóng cửa đó một thời gian. Chắc sẽ không lâu đâu…”

Rồi người ấy nói tiếp: “… Nửa năm trước, người cha bị tai nạn xe qua đời; người mẹ bị ung thư, liệt giường, không đi lại được.
Tiếng đóng cửa đó là của người con. Hoàn cảnh khá đáng thương, xin bà và chị thông cảm!

Cậu thanh niên này mới chỉ độ 16 tuổi. Tôi tự nhủ: “Trẻ người non dạ, cố chịu đựng thôi”.

Thế nhưng, tiếng đóng cửa vẫn tiếp tục xảy ra. Tôi quyết định lên lầu nhắc nhở.

Cậu bé mở cửa, hốt hoảng xin lỗi: “Dì thứ lỗi, cháu sẽ cố gắng cẩn thận hơn…”

Thế nhưng, cứ khi tôi vừa thiu thiu giấc ngủ, tiếng đóng cửa quen thuộc lại vang lên đập vào tai tôi như thách thức.

Mẹ tôi an ủi: “Ráng đi con, có lẽ nó quen rồi! Từ từ mới sửa được…”

Rồi khoảng một tháng sau, đúng như lời mẹ nói, tiếng đóng cửa đột nhiên biến mất.

Tôi nằm trên giường nín thở lắng tai nghe, tiếng khép cửa thật nhỏ, và bước chân nhẹ nhàng cẩn thận.

Tôi nói với mẹ: “Mẹ nói đúng thật!”

Nhưng tôi bỗng bất ngờ… khi thấy hai mắt mẹ tôi ngấn lệ.

Mẹ tôi nghẹn ngào nói: “Mẹ thằng bé trên lầu đã ra đi rồi, tội nghiệp thằng bé, ban ngày đi học, đêm đến quán chạy bàn.

Nó cố gắng đi làm thêm để kiếm tiền chạy chữa cho mẹ, nhưng rồi bà ấy vẫn không qua khỏi

Trong tình hàng xóm, tôi sắp xếp thời gian viếng xác người phụ nữ ấy.

Cậu bé cúi thấp đầu, tiến đến gần tôi và nói: “Dì! Nhiều lần cháu làm Dì mất ngủ, cháu xin Dì tha lỗi”.

Rồi cậu nói trong tiếng nấc: “Mẹ cháu mỗi ngày một yếu, nói không được, nghe không rõ, cháu đóng cửa mạnh để mẹ biết cháu đã về, có thế bà mới an tâm ngủ, Nay mẹ cháu không còn nữa, Dì ạ…”

Nghe câu chuyện, tôi bỗng cảm thấy như bị ù tai, lệ từ hai khóe mắt tôi bỗng tuôn trào ra…

Tôi thấy mình quả là vô tâm, thiếu cảm thông với hoàn cảnh của người khác.

Cảm thông là tối cần trong các mối quan hệ và lòng khoan dung là quà tặng đáng giá nhất trên đời.

Xin Bạn đừng bao giờ khép lại lòng mình,

Cầu mong cho con người chúng ta luôn hướng đến một nhịp đập trái tim quảng đại, tấm lòng vị tha, nhân ái, vượt qua những suy nghĩ tầm thường, để mặc lấy tâm tình yêu thương.

Tạo Hóa ban tặng riêng chỉ có ở “Con Người”…

S.T.

Cha Tôi & Liên khúc cha yêu (cha tôi, nhớ cha, hình bóng cha già) & LK Lòng Mẹ Tình Mẹ Tình Cha – Ngọc Sơn ft Lâm Ngọc Huỳnh

Cha Tôi

httpv://www.youtube.com/watch?v=aSzeJF9zg3I&index=39&list=ULvItStPNcQmE

Liên khúc cha yêu (cha tôi, nhớ cha, hình bóng cha già)

httpv://www.youtube.com/watch?v=mogzgoZbJro

LK Lòng Mẹ Tình Mẹ Tình Cha – Ngọc Sơn ft Lâm Ngọc Huỳnh [Official]

httpv://www.youtube.com/watch?v=syJHsp4kQ9g

“Rồi mai đây có khi em quay về nơi cũ”,

“Rồi mai đây có khi em quay về nơi cũ”,

Mang trong tim mình những ước mơ đã nhoà xưa

Làm sao khi tóc ta thay màu lòng ta vẫn

Tìm lại được ra bao hình bóng đã phai mờ.”

(Nguyễn Đình Toàn – Quê Hương Thu Nhỏ)

(Thư Galát 2: 15-16)

Trần Ngọc Mười Hai

Vâng. Câu hát nghe rất quen quen. “Rồi mai đây có khi em quay về nơi cũ” đã cất lên trong buổi “Hát Cho Nhau Nghe” với chủ-đề “Những Nẻo Đường Việt Năm thực-hiện vào năm 2013. Câu hát ấy vẫn còn vang vọng đến hôm nay. Như sau này.

Hôm nay, lại vẫn thấy những chuyện tình xảy ra như câu hát thêm ở bên dưới:

Đêm có mây sầu đưa.

Trăng giấu đi tuổi thơ.

Ven con sông dài.

Quê ta thiu ngủ.

Đêm nào đó ta đứng trông xa ngọn đèn lu.

Thắp trong sương mù dáng ai ngồi co ro.

Như quê hương mình thu nhỏ.

để người viễn xứ mang cho vừa.

Ngày đau thương kia ta còn nhìn thấy mình.

Trong tấm gương đầy nước mắt (í)

Trăm muôn lời than rồi khăn tang và tiếng thét.

Với bao nhiêu đời dở dang.

Người chờ người đi.

Đã như nhang tàn.

Người bỏ người thôi.

Khác chi nợ nần.

Đã trả xong.

Rũ sạch trơn.”

(Nguyễn Đình Toàn – bđd)

Vâng. Nợ trần đã trả xong. Nhưng, nợ đời vẫn có đó. Nợ ở đời, vẫn cứ hay, cứ tưởng mình đã mất, như câu người nghệ sĩ còn hát tiếp:

“Từ khi ta bước đi mới hay mình đã mất,

Trông ra nơi nào cũng như quê hương lượn quanh.

Một cơn gió lướt qua cũng nghe lòng tha thiết.

Tưởng một mùi hương nơi vườn cũ bay theo mình.

Và tiếng ai gọi ai.

Vọng mãi trong hồn tôi.”

(Nguyễn Đình Toàn – bđd)

“Tiếng ai gọi ai trong hồn tôi”, là như thế. Tiếng tôi gọi tôi ở một nơi, mọi chỗ lại có thể rất khác. Khác, như lời kể của một người, rất sau đây:

“Các Giám mục và toàn thể tín-hữu Công giáo cùng một “ràn chiên” với các ngài, nay vẫn được gọi mời “làm chứng nhân vui vẻ cho Đức Chúa đã Phục sinh-Trỗi dậy, ngõ hầu tất cả sẽ chuyển-tải niềm vui và hy-vọng đến với mọi người…

Đó là ưu-tư thấy rõ nơi lời phát-biểu của Đức Giáo Tông Phanxicô từng trần-tình với hàng Giáo-phẩm người Ý-Đại-Lợi vào hôm trước, tức ngày 18 đến 21/5/2015 ở Vaticăng.

Hôm ấy, Đức Giáo Tông còn nói thêm rằng:

Thật đáng buồn, khi tôi gặp vị giám-mục nọ, linh-mục kia hoặc tu-sĩ ấy như bị trời giáng, không động-lực hoặc mệt-mỏi. Mệt và mỏi, như thể con giếng khô ở đó chúng-dân không thể tìm thấy nước để uống vào cho đỡ cơn khát.

Và, Đức Giáo Tông Phanxicô còn kể cho các Giám-mục mình gặp để bảo rằng: trong hai năm ngài làm Giáo-Hoàng có hàng ngàn cuộc gặp gỡ với đủ người Công-giáo thuộc đủ mọi hạng, ngài đã nhận ra là bà con trong Đạo đã mất dần tính tập-thể hoặc gọi là sự hiệp-thông chân-chất giữa các giám-mục và giữa giám-mục với linh-mục tại nhiều phần đất khác nhau trên thế-giới.

Ngài có nói: một dấu-hiệu thấy rõ về việc ấy, là các vị nay để mất thói quen xét lại xem mình có thực-hiện tốt các dự-án đặt ra không, và việc thực-thi ấy có mang lại kết quả khá hiệu-nghiệm hay không và mình đón-nhận các dự-án ấy như thế nào.

Ngài cón bảo: Hội-thánh đã mất điểm tốt, tỉ dụ như: khi ai đó tổ-chức buổi hội-thảo hoặc sự-kiện nào đó, có để ý đến các tiếng-giọng thông thường ở bên dưới hay không, có làm ngưng-trệ cộng-đoàn mình chung sống không, có đáp-ứng cách bình-đẳng với các chọn-lựa, lập-trường và con người khác nhau thay vì chỉ cho phép chính mình thực-thi đến với các chân-trời mà Thánh Thần Chúa sai phái mình đi đến không.

Và, ngài cũng nói: Giống như Đức Kitô, các giám-mục không được tỏ ra “rụt rè hoặc không thích-đáng để lên án hoặc đánh-bại một não-trạng phổ-biến cách rộng rãi các hành-vi tham-nhũng cách công-khai hoặc trong chỗ riêng-tư khiến các gia-đình bình thường, giới trẻ, người hồi-hưu, cũng như đám người nghèo khổ bị đẩy lùi khỏi xã hội ngày càng trở nên nghèo và khổ hơn.

Đức Giáo Tông lại đã thúc-giục các giám-mục hãy ra đi mà đến với người của Chúa ngõ hầu bênh-vực họ khỏi mọi “cuộc đô-hộ ý-thức-hệ” lâu nay đã lấy mất đi lý-lịch và phẩm cách con người…

Đức Giáo Tông lại cũng nói với hàng giám-mục người Ý rằng: quá nhiều hội-đồng Giám-mục xem ra đã tảng-lờ thực-tại cụ-thể về dân con của các ngài khi viết ra những gì được coi như lời giảng dạy và hướng-dẫn mục-vụ cần có.” (xem Cindy Wooden, Call it as you see it, leave laity to do their job, Pope tells bishops, The Catholic Weekly 24/5/2015, tr. 29)

Lời mời gọi từ Đấng Chủ-quản ở trên cao tít, mãi tận thủ-đô của Giáo-hội, nếu diễn-tả cách bài bản bằng nhạc đời, lại thấy hơi giòng-giống giòng nhạc ở trên từng hát mãi:

“Ôi tiếng chuông chùa nào xa vói.

Thèm miếng khoai ngày đói.

Hỏi áo xưa mòn vai.

Và từng đêm nghe gió lay.

Khi nao ta về tới.

Soi trong gương sầu ấy.

Có còn ta nữa hay là ai”.

(Nguyễn Đình Toàn – bđd)

Mời hay gọi, có lẽ cùng một nghĩa. Ới gọi hay kêu mời, nào có khác chi một ý khác, khi Đức Giáo Tông, một lần nữa, lại lên tiếng ở buổi gặp gỡ Hiệp-hội các công nhân người Ý đồng thời là tín-hữu Đức Kitô của Hiệp-Hội, những nhủ rằng:

“Lên tiếng trong dịp này, ĐTC nhắc đến những thách đố đang đề ra cho Hiệp hội Kitô các công nhân Italia, đặc biệt là tình trạng gia tăng mau lẹ và rộng lớn những chênh lệch trong xã hội, kèm theo những hiện tượng như công ăn việc làm bấp bênh, làm lậu, và sức ép của các tổ chức bất lương, khiến cho nhiều người trẻ thiếu công ăn việc làm, phẩm giá của họ bị thương tổn, ngăn cản họ thực hiện cuộc sống nhân bản viên mãn. Ngài cũng mạnh mẽ phê bình sự kiện ở Italia có tới 40% người trẻ dưới 25 tuổi không có công ăn việc làm.

Trong bối cảnh đó, ĐTC nhấn mạnh đến 4 đặc điểm mà lao công cần phải có. Trước tiên là lao công tự do, qua đó con người tiếp tục công trình của Đấng Tạo Hóa. ”Đáng tiếc là ngày nay nhiều khi lao công phải chịu những đàn áp từ nhiều phía, của người đè người, của các tổ chức biến con người thành nô lệ, áp bức người nghèo, đặc biệt là nhiều trẻ em và phụ nữ.”

Tiếp đến là lao công sáng tạo, giúp con người diễn tả trong tự do và sáng tạo một số hình thức xí nghiệp, lao động hợp tác trong tinh thần cộng đoàn.

ĐTC nói: ”Không thể chặt đôi cánh của những người, đặc biệt là người trẻ, có bao nhiêu điều để cống hiến nhờ trí thông minh và khả năng của họ. Cần phải giải thoát họ khỏi những gánh nặng đè nén và cản trở họ đi vào thế giới lao động với trọn quyền lợi càng sớm càng tốt”.

Đặc điểm thứ 3 ĐTC nhấn mạnh, đó là lao công tham gia, giúp con người luôn nhìn thấy nơi mục đích của lao công khuôn mặt của tha nhân và sự cộng tác với người khác trong tinh thần trách nhiệm.

Ngài nói: “Nơi nào vì quan niệm duy kinh tế, người ta nghĩ đến con người một cách ích kỷ và coi tha nhân như những phương tiện thay vì như mục đích, thì lao công mất đi ý nghĩa nguyên thủy là tiếp tục công trình của Thiên Chúa, hướng đến toàn thể nhân loại”.

Sau cùng là lao công liên đới. ĐTC nói với các thành viên hiệp hội Kitô công nhân Italia rằng: ”Mỗi ngày anh chị em gặp những người bị mất công ăn việc làm, hoặc đang phải tìm việc.. Cần mang lại cho họ một câu trả lời. Trước tiên là tỏ ra gần gũi và liên đới với họ. Bao nhiêu chi hội của anh chị em có thể là những nơi tiếp đón và gặp gỡ cũng như giúp đỡ những người ấy”.

Sau cùng, ĐTC nhắn nhủ các thành viên Hiệp Hội Kitô công nhân Italia luôn lấy nguồn hứng và sự hướng-dẫn từ đạo lý Kitô, trong niềm trung thành liên lỷ với Chúa Giêsu Kitô, với Lời Chúa và học hỏi áp dụng Giáo huấn xã hội Công Giáo, để đối phó với những thách đố mới ngày nay (SD 23-5-2015). (Xem Trần Đức Anh OP, dịch bản tin trên VietCatholcis News hôm 23/5/15 dưới đầu đề: “Đức Thánh Cha tố-giác tệ-nạn trong lãnh-vực lao-động).

À thì ra, tệ nạn xã-hội không chỉ thấy trong lãnh-vực lao-động ở Ý-Đại-Lợi mà thôi, nhưng còn  ở nhiều nơi khác, kể cả Giáo-hội Công-giáo vẫn tự-hào rằng mình không thấy có tệ-nạn nào trong các hàng ngũ trên/dưới.

Thôi thì, gọi đó là gì cũng đặng. Miễn là tôi và bạn, ta vẫn hiên ngang mở tai nghe những lời dặn dò hôm trước có đấng thánh hiền lành từng bảo ban, như sau:

“Chúng ta bẩm sinh là người Do-thái

chứ không phải hạng người tội lỗi xuất thân từ dân ngoại.

Tuy nhiên, vì biết rằng con người được nên công chính

không phải nhờ làm những gì Luật dạy,

nhưng nhờ tin vào Đức Giêsu Kitô,

nên chúng ta cũng tin vào Đức Kitô Giêsu,

để được nên công chính,

nhờ tin vào Đức Kitô,

chứ không phải nhờ làm những gì Luật dạy.”

(Thư Galát 2: 15-16)

Vâng. Đúng là như thế. Tệ-nạn ở đâu đó, có bao giờ công-nhận mình là tệ-nạn. Chí ít, là ở nhà thờ, nhà Đạo rất chính-chuyên. Tệ-nạn, nhiều khi chỉ là sự ỷ y mình là người công-chính từng tin vào Đức Kitô rất Công-chính và từng nhờ cậy vào Lề-luật do thế-quyền hay thần-quyền ban ra.

Thật ra thì, gọi bằng tự-vựng “tệ-nạn” cũng hơi quá đối với thần-quyền. Thế nhưng, theo ý của đấng thánh-hiền từ-nhân thì không thế. Hiền-nhân rất thánh ở thế-quyền hay thần-quyền là người nắm được chân-lý, nằm bên ngoài luật-lệ, dù ta gọi đó là luật Đạo hay luật đời.

Chỉ là chân-lý, như người kể ở bên dưới, một lần nữa, lại minh-định bằng những lời kể như sau:

“Dưới đây là 9 câu nói rất hay về chân lý của cuộc sống:

1. Trên đường đời, ta sẽ gặp những người đối xử tệ với mình. Không ai có bổn phận phải đối xử tốt với ta, trừ bố mẹ. Đối với những người đối xử tử tế với con, hãy trân trọng và biết ơn, nhưng cũng hãy đề phòng họ. Họ có thể đối tốt với ta vì mục đích nào đó. Hãy tìm hiểu động cơ thực sự. Đừng vội kết luận một người là tốt chỉ đơn giản vì họ ưu ái ta.

2. Không ai là không thể thay thế. Không có thứ gì  trên thế  giới này ta phải bám chặt lấy hay cố sở hữu bằng mọi giá. Nếu ta hiểu điều  này, thì về sau, dù mất bất cứ điều gì trong đời, ta vẫn có thể đứng vững.

3. Cuộc đời rất ngắn ngủi. Đừng phí thời gian và năng lượng vào những người, việc, thứ không cần thiết. Nếu ta làm vậy, sau này ta sẽ nhận ra rằng ta đã lãng phí tất cả những ngày tháng qua.

4. Không có gì trên thế giới là mãi mãi, kể cả tình yêu. Tình cảm có thể thay đổi theo thời gian. Nếu một ngày nào đó ta mất đi người mà ta từng yêu tha thiết, hãy nhẫn nại. Đừng cố níu kéo những gì đã mất hay phóng đại cảm xúc của mình. Thời gian sẽ làm dịu nỗi đau. Thời gian sẽ hàn gắn tất cả.

5. Không phải tất cả những người thành công đều học hành đến nơi đến chốn, nhưng điều này không có nghĩa là ta có thể bỏ bê việc học của mình. Kiến thức ta có được là tài sản lớn nhất của ta.

6. Bố mẹ không mong đợi ta sẽ chăm lo cho bố mẹ khi các ngài về già. Cũng vậy, bố mẹ không có trách nhiệm phải bao bọc con khi con đã trưởng thành. Con có thể đi xe bus hay lái xe Benz đắt tiền. Tương tự, ta có thể ăn mì gói hay bào ngư. Lựa chọn đó thực sự do ta.

7. Ta có thể đối xử tốt với người ta nhưng đừng hy vọng họ đáp lại ta như vậy. Nếu ta không thể nhìn thấu điều này, về sau ta sẽ chỉ có thêm nhiều đau khổ, thất vọng.

8. Rất nhiều người mua vé số suốt nhiều năm nhưng cuối cùng họ vẫn trắng tay, nghèo đói. Để thành công hay giàu có, ta đều phải nỗ lực hết mình. Có một điều đơn giản cần nhớ là: Trên thế giới này không có gì miễn phí.

9. Chúng ta ở bên nhau như một gia đình chỉ trong cuộc đời này thôi, dù ta thích hay không. Vì thế, hãy trân trọng và nâng niu khi chúng ta bên nhau, chia sẻ, gắn bó. Dù muốn hay không, chúng ta sẽ không thể gặp nhau ở kiếp sau…” (Tsuki – Tổng hợp)

Nghe kể rồi, sao bạn và tôi, ta không hiên-ngang ngước mặt về phía trước hiên-ngang cả những lời dù không vui khi nghe thấy. Bởi, làm sao vui khi tâm-hồn mình còn vướng-vấn rất nhiều thứ. Cả những thứ và những sự diễn ra không theo ý mình muốn.

Vậy thì, tôi và bạn, ta cứ hiên ngang mà hát mãi những câu rằng:

“Rồi mai đây có khi em quay về nơi cũ”,

Mang trong tim mình những ước mơ đã nhoà xưa.

Làm sao khi tóc ta thay màu lòng ta vẫn

Tìm lại được ra bao hình bóng đã phai mờ.

Đêm có mây sầu đưa,

Trăng giấu đi tuổi thơ.

Ven con sông dài,

Quê ta thiu ngủ.

Đêm nào đó ta đứng trông xa ngọn đèn lu,

Thắp trong sương mù dáng ai ngồi co ro .

Như quê hương mình thu nhỏ,

để người viễn xứ mang cho vừa.

Ngày đau thương kia ta còn nhìn thấy mình.

Trong tấm gương đầy nước mắt (í)

Trăm muôn lời than rồi khăn tang và tiếng thét.

Với bao nhiêu đời dở dang.

Người chờ người đi.

Đã như nhang tàn.

Người bỏ người thôi.

Khác chi nợ nần.

Đã trả xong.

Rũ sạch trơn.”

(Nguyễn Đình Toàn – bđd)

Hát thế rồi, ta lại sẽ mạnh mẽ bước về chốn cũ, ở nơi đó vẫn có bạn hiền còn đứng chờ những người như ta, đang miên-man tìm kiếm “Quê hương thu nhỏ” là Nước Trời ở đây. Bây giờ. Theo quan-niệm rất Đạo của Đạo mình.

Trần Ngọc Mười Hai

Và những ngày lại cứ thấy

Quê hương thu nhỏ

Nằm mãi trong lòng mình

Rất giống mình.

Đêm nay ta khạc hồn ra khỏi miệng,

Tin Mừng (Mc 5: 21-43)

Đức Giêsu xuống thuyền, lại trở sang bờ bên kia. Một đám rất đông tụ lại quanh Người. Lúc đó, Người đang ở trên bờ Biển Hồ. Có một ông trưởng hội đường tên là Gia-ia đi tới. Vừa thấy Đức Giêsu, ông ta sụp xuống dưới chân Người, và khẩn khoản nài xin: “Con bé nhà tôi gần chết rồi. Xin Ngài đến đặt tay lên cháu, để nó được cứu thoát và được sống.” Người liền ra đi với ông. Một đám rất đông đi theo và chen lấn Người.

Có một bà kia bị băng huyết đã mười hai năm, bao phen khổ sở vì chạy thầy chạy thuốc đã nhiều đến tán gia bại sản, mà vẫn tiền mất tật mang, lại còn thêm nặng là khác. Được nghe đồn về Đức Giêsu, bà lách qua đám đông, tiến đến phía sau Người, và sờ vào áo của Người. Vì bà tự nhủ: “Tôi mà sờ được vào áo Người thôi, là sẽ được cứu.” Tức khắc, máu cầm lại, và bà cảm thấy trong mình đã được khỏi bệnh. Ngay lúc đó, Đức Giê-su thấy có một năng lực tự nơi mình phát ra, Người liền quay lại giữa đám đông mà hỏi: “Ai đã sờ vào áo tôi? ” Các môn đệ thưa: “Thầy coi, đám đông chen lấn Thầy như thế mà Thầy còn hỏi: Ai đã sờ vào tôi?” Đức Giêsu ngó quanh để nhìn người phụ nữ đã làm điều đó. Bà này sợ phát run lên, vì biết cái gì đã xảy đến cho mình. Bà đến phủ phục trước mặt Người, và nói hết sự thật với Người. Người nói với bà ta: “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh.”

Đức Giêsu còn đang nói, thì có mấy người từ nhà ông trưởng hội đường đến bảo: “Con gái ông chết rồi, làm phiền Thầy chi nữa?” Nhưng Đức Giêsu nghe được câu nói đó, liền bảo ông trưởng hội đường: “Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi.”Rồi Người không cho ai đi theo mình, trừ ông Phêrô, ông Giacôbê và em ông này là ông Gioan. Các ngài đến nhà ông trưởng hội đường. Đức Giê-su thấy người ta khóc lóc, kêu la ầm ĩ. Người bước vào nhà và bảo họ: “Sao lại náo động và khóc lóc như vậy? Đứa bé có chết đâu, nó ngủ đấy!” Họ chế nhạo Người. Nhưng Người bắt họ ra ngoài hết, rồi dẫn cha mẹ đứa trẻ và những kẻ cùng đi với Người, vào nơi nó đang nằm. Người cầm lấy tay nó và nói: “Talithakum”, nghĩa là: “Này bé, Thầy truyền cho con: trỗi dậy đi!” Lập tức con bé đứng dậy và đi lại được, vì nó đã mười hai tuổi. Và lập tức, người ta kinh ngạc sững sờ. Đức Giêsu nghiêm cấm họ không được để một ai biết việc ấy, và bảo họ cho con bé ăn.

“Đêm nay ta khạc hồn ra khỏi miệng,

Để cho hồn đỡ bớt nỗi bi thương.
Nhưng khốn nỗi xác ta đành câm tiếng,
Hồn đi rồi, không nhập xác thê lương.

(dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

Mc 5: 21-43

Mai Tá, lược dịch

Khạc hồn ra khỏi miệng”, là tâm trạng của nhà thơ, nay rất khổ. Nỗi xác đành câm tiếng, là tình huống người nhà Đạo, vẫn thương tâm. Chúa thương tâm cả nhà thơ lẫn người đời, như có nói ở trình thuật.

Trình thật thánh Mác-cô hôm nay, lại đã ghi về niềm thương tâm Chúa phú ban cho con ông trưởng hội đường và cho cả người đàn bà, bị băng huyết. Những 12 năm. Và thánh Mác-cô nói “bà đã bao phen khổ sở vì chạy thầy chạy thuốc đến tán gia bại sản…mà tiền mất tật mang” (Mc 5: 21). Và, đã cả gan sờ vào gấu áo Ngài, và được khỏi.

Vào khi ấy, Đức Giêsu quay lại hỏi: “Ai đã sờ vào áo của tôi?” Hỏi như thế, Ngài biết uy lực thần thiêng vừa ra khỏi mình Ngài. Đây là điều, khiến môn đệ Chúa cứ thắc mắc với tranh luận. Ngay lúc ấy, người nữ phụ đã bước ra, mà nhận lỗi. Vì bà quá hoảng sợ. Chính ra, bà cũng không nên len lỏi vào chốn ấy, vì ô uế? Và đó là lý do mà bà chẳng dám đến, ngay phút đầu. Đây cũng là nỗi hoảng sợ của các bệnh nhân Siđa của thời đại. Một hoảng sợ, không tên tuổi, không lý do.

Từ lúc ấy, bí mật của bà bị lộ ra cho mọi người thấy. Điều này càng khiến bà hốt hoảng hơn nữa. Thế nhưng, bằng một cử chỉ khác thường, bà tiến về phía trước, phủ phục trước mặt Chúa, và nói hết sự thật với Ngài. Về phía Đức Giêsu, Ngài không mảy may nổi nóng hoặc giận dữ, nhưng nhẹ nhàng nói: “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Hãy đi bình an và khỏi hẳn bệnh.” (Mc 5: 34)

Bằng việc chữa lành, Đức Chúa của sự sống và sự sống lại, đã đưa bà về lại với sự vẹn toàn của cuộc sống. Bà không chỉ được chữa lành khỏi tật bệnh thể xác thôi; nhưng, còn trở về với tháp nhập cùng xã hội nơi bà sống. Bà đã kiện toàn con người mình, theo mọi ý nghĩa. Qua tư cách cá nhân lẫn cộng đoàn. Nhưng, chính niềm tin sâu sắc vào Chúa, qua cử chỉ “sờ gấu áo Ngài”, là yếu tố chính tạo sự chữa lành.

Với câu truyện đầu ở trình thuật, Đức Giêsu đích thật là Đấng chữa lành mọi tật/bệnh. Nhưng mọi người không kỳ vọng là Ngài sẽ cho người chết được hồi sinh. Nhưng, Ngài vẫn cứ nhấn mạnh đến những câu khiến mọi người cần ghi nhớ trong đời: “Đừng sợ!”, được nhắc đi nhắc lại, trong Kinh thánh, những 399 lần.

Ở trình thuật, Đức Giêsu chỉ cho phép có 3 tông đồ, thành phần cốt lõi là Phêrô, Giacôbê và Gioan, được đi theo. Chúa muốn các Ngài nhận thấy những gì xảy ra; nhưng Ngài không muốn thoả mãn tính tò mò của đám người dễ bị kích động.

Khi mọi người kéo đến nhà bệnh nhân, lại nghe có tiếng ai oán, cùng khóc than. Ngài bèn bảo: “Sao lại náo động và than khóc đến như thế? Đứa bé có chết đâu, nó chỉ ngủ.” (Mc 5: 39) Thế là, họ cười nhạo Ngài. Nhạo và cười, vì chỉ cần nhìn thoáng, họ cũng biết ai chết, ai còn sống. Mọi người còn biết: nếu không có Chúa ở đó, cô kia chắc đã bị chôn rồi.

Chúa vào nhà người lạ, chỉ có cha mẹ cô bé và 3 môn đồ thân cận. Ngài cầm tay có bé lên rồi nói: “Này cô bé. Thầy truyền cho con hãy trỗi dậy!” (Mc 5: 41). Đứa bé lập tức trỗi dậy và đi lại như người bình thường, không có gì xảy ra. Động từ “trỗi dậy” ở đây, gợi cho người nghe nhớ về tình huống sống lại. Tình huống, Đức Giêsu cũng đã “trỗi dậy”, từ cõi chết.

Đây là cách thức thánh sử Mác-cô diễn tả sự việc rõ ràng và dứt khoát hơn thánh Tin Mừng của Gio-an: “Ta là sự sống lại và là sự sống!”. Dù bị hôn mê hay đã chết, cô bé vẫn được tái tạo vẹn toàn về với cuộc sống. Và Đức Giêsu được bộc lộ cho biết Ngài là Chúa của sự sống. Chính vì thế, những ai chứng kiến việc xẩy ra, đều đã “kinh ngạc sững sờ.”

Sững sờ đến độ, Chúa phải nhắc họ cho cô bé ăn. Điều này nói lên chỉ một phần của con người Đức Chúa. Bởi, Ngài là Đấng chỉ biết lo cho người khác. Chăm nom đùm bọc người khác, mà thôi. Với người khác, có thể sẽ xảy ra chuyện là: sẽ ngủ quên trên chiến thắng, những muốn được  bái phục. Nhưng ở đây, Chúa tập trung lo cho nhu cầu của trẻ nhỏ, thôi. Cả hai truyện trong cùng một trình thuật, cho thấy Đức Giêsu là nguồn mạch sự sống và chữa lành.

Bài đọc 1, Sách Khôn ngoan nói rõ: “Thiên Chúa chẳng vui gì, khi sinh mạng tiêu vong.” (Kn 1: 13). Và các đoạn khác còn nói tiếp: “Người đã sáng tạo muôn loài thọ tạo trên thế giời, đều hữu ích cho sinh linh.”(Kn 1: 14). Và điểm quan trọng khác, sách này cũng nói: ta được dựng nên theo hình ảnh bản tính của Thiên Chúa. Chính đây là mục tiêu của sự sống trong chúng ta là: để hiểu biết, yêu thương và san sẻ cuộc sống với Ngài mãi mãi không ngưng.

Quả thật, bằng cách này cách khác, tất cả chúng ta đều cần được Chúa chữa lành. Chữa tật bệnh, cho lành mạnh, sự toàn vẹn, lành thánh bên tiếng Anh, là những cụm từ được đan kết, nối với nhau. Khi nguyện cầu, ta xin cho được lành mạnh để có sức khoẻ, trong mọi địa hạt của cuộc đời chứ không chỉ lành và mạnh, nơi thể xác thôi.

Sự thể đem đến cho ta toàn vẹn sức khoẻ lành mạnh, là cốt trở thành con người vẹn toàn. Vẹn toàn, trong đó mỗi phần trong ta –từ tâm linh, trí tuệ, xã hội, tâm lý, cho chí thể xác—đều hoạt động theo chức năng của nó. Hoạt động trong hài hoà cả ở bên trong, với thế giới bên ngoài. Với cả môi trường chung quanh, người và vật.

Bài đọc 2, thánh Phaolô cũng có nói đến sự toàn vẹn này, khi thánh nhân nhắc nhở giáo đoàn Côrinthô về Đức Giêsu: “Ngài vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo, vì anh em. Để anh em nên giàu có, từ cái nghèo của Ngài” (2Cr 8: 9). Chúa chịu mình trần trên thập giá, là để đổ tràn tình yêu xuống cho ta. Ngài ban sự sống của Ngài, để ta được sống. Và vì thế, Ngài sẽ sống mãn đời. Và nhờ đó, ta trở nên giàu sang phú quý.

Thánh Phaolô lấy đó làm mẫu mực, để giáo dân ở Côrinthô biết mà sẻ san bất cứ thứ gì làm được cho những người anh người chị nghèo khó hơn họ, trong Hội thánh. Có điều là, cả vào khi ta san sẻ cho người khác, không phải là được kỳ vọng cho đi những nhu cầu mà ta cần có cho chính mình, nhưng là những gì ta có dư. Và khi ta san sẻ của thặng dư cho người đang có nhu cầu nhiều hơn, ta sẽ hy vọng được đối xử cùng một cách như thế  những khi ta cần.

Xử sự theo cách này, cuộc sống sẽ quân bình hơn. Và, thánh Phaolô đã trích dẫn Kinh sách Cựu Ước nói rằng: ai tích tụ nhiều sẽ chẳng có được bao nhiêu, nhưng ai tích luỹ ít, cũng sẽ không thiếu hụt.

Đây chính là mẫu mực của cuộc sống cộng đoàn, trong xã hội. Xã hội Cộng sản đáng lý ra đã phải làm như thế. Nhưng ngày nay, chỉ còn mỗi cộng đoàn dòng tu mới đích thực biến phương cách sống ấy thành hiện thực. Phương cách ấy, là “làm theo khả năng, nhưng hưởng theo nhu cầu.”

Thành phần của việc chữa lành trong toàn bộ cộng đoàn ta sống, là sự toàn vẹn dựa trên sự thật, tình yêu, lòng xót thương và ý nghĩa công bằng đích thực cho mọi người. Và đây chính là sự thánh thiêng, bởi lẽ Thiên Chúa Đấng Thánh Thiêng là thành phần vẹn toàn của sự trọn vẹn. Ngài được biết với Danh hiệu Đấng tạo Dựng, Gìn Giữ và Cùng Đích của tất cả những gì ta phải là và có thể trở thành. Là, tất cả chúng ta đã, đang và sẽ trở thành, như thế.

Vào buổi tiệc thánh hôm nay, ta cầu mong sao Đức Giêsu, Đức Chúa của sự sống giúp ta đạt đến mức độ ấy. Mức độ của sự lành mạnh, toàn vẹn và thánh thiêng, ta vẫn được mời gọi để đạt đến.   

Lm Frank Doyle sj

Mai Tá, lược dịch

KHỎI CHỨNG BẠI LIỆT NHỜ TÌNH PHỤ TỬ BAO LA

KHỎI CHỨNG BẠI LIỆT NHỜ TÌNH PHỤ TỬ BAO LA

Sr.Jean Berchmans Minh Nguyệt

Bà Alessandra York là phụ nữ Hoa Kỳ.  Với mái tóc vàng óng ánh, với đôi mắt tinh anh và với dáng đi uyển chuyển, bà là biểu tượng cho mẫu phụ nữ tự tin, yêu đời và thành công trong cuộc sống.  Nhưng sỡ dĩ bà được như thế là nhờ đức kiên nhẫn, lòng can đảm và tình thương bao la của hiền phụ.  Sau đây là chứng từ của bà về người Cha đáng kính.

Mùa hè năm 1949 – tôi lên 8 tuổi – Hoa Kỳ trải qua thời kỳ đau thương.  Đây đó trên toàn nước bị bệnh dịch tê bại trẻ con hoành hành.  Tại nhiều thành phố, nhà thương không còn chỗ để tiếp nhận các trẻ em đáng thương.  Người ta phải đặt thêm giường trên các hành lang.

Tôi là một trong số các trẻ em bị bệnh này.  Chứng bệnh ban đầu làm cho tôi không nuốt được.  Tiếp đến: cổ, hai chân và cánh tay phải hoàn toàn bị tê liệt.  Tôi được chở đến nhà thương.  Các bác sĩ nói với Cha Mẹ tôi là tôi không thoát ra được chứng bệnh hiểm nghèo này.

Bệnh tê bại từ từ lan rộng sang các phần thân thể khác.  Nhưng phần bị nặng nhất là các đốt xương nơi cổ, khiến tôi không thể nào nhấc đầu lên khỏi chiếc gối.

Các bác sĩ giải thích cho Cha Mẹ tôi hiểu rằng, nếu theo một lối chữa trị thích hợp, có lẽ tôi sẽ đi đứng và sử dụng được cánh tay phải, nhưng tôi phải mang một vòng bao quanh cổ và phải theo học nơi trường dành cho các trẻ em tàn tật.

Ý nghĩ rồi đây tôi sẽ trở thành một đứa trẻ tàn tật, luôn luôn tùy thuộc người khác và là đối tượng cho lòng xót thương, khiến thân phụ tôi không thể nào chấp nhận được.  Ba tôi lục lọi tìm đọc tất cả sách nói về chứng bại trẻ em.  Ba tôi cũng thăm dò ý kiến các bác sĩ và y tá.  Sau cùng, Ba tôi thấy rằng, cần phải đưa tôi ra khỏi nhà thương càng sớm càng tốt để bắt đầu các buổi thực tập hầu tôi có thể sử dụng lại tứ chi.  Trong khi chờ đợi, Ba nói với tôi:

– Con phải làm tất cả những gì các bác sĩ và y tá bảo con làm, và phải làm cho tận lực!

“Phải làm cho tận lực”, là điều Ba vẫn hằng nhắn nhủ tôi, và hôm nay, Ba tôi trịnh trọng nhắc lại.

Thời gian sau đó, tôi thấy các trẻ gái lần lượt rời nhà thương trên xe lăn.  Ba nói với tôi:

– Con cũng sẽ rời nhà thương, nhưng không phải trên xe lăn mà bằng hai chân của con!

Ba tôi không bao giờ nói:

– Nếu con được khỏi bệnh,

nhưng luôn luôn nói:

– Khi nào con khỏi bệnh.

Từ tuổi lên 3, tôi theo học các khóa dạy vũ cổ điển.  Nhớ lại các bài học, tôi tận dụng các hiểu biết để tìm ra phương pháp giúp tôi ngồi yên trên giường được hai ba phút.  Tôi cũng tìm cách giữ cho đầu thăng bằng.  Các bác sĩ không thấy gì là đặc biệt, nhưng Ba tôi thì thật vui mừng, như thể là tôi sắp lành bệnh đến nơi!

Tôi rời nhà thương, nhưng vẫn chưa đi được.  Thay vì đẩy tôi trên xe lăn, Ba tôi quyết định bồng tôi trên đôi tay người.

Tôi học đánh dương cầm từ tuổi lên năm.  Khi về đến nhà, Ba tôi ngồi trước đàn và đặt tôi ngồi trên đầu gối của người.  Giữ cho tôi được thăng bằng xong, Ba tôi để hai bàn tay tôi trên các phím đàn.

Nhưng tay phải của tôi cứ buông thõng xuống, trượt ra khỏi các phím đàn.  Thấy thế Ba tôi nói:

– Không sao cả:  Thế nào con cũng chơi đàn trở lại.  Rồi con sẽ thấy!

Ba tôi mời bác sĩ đến tận nhà tập cho tôi sử dụng các bắp thịt.  Chính Ba tôi cũng bỏ bớt việc làm để đứng ra tập luyện cho tôi.  Từ từ tôi có thể đi đứng được, giữ cho đầu thăng bằng và chơi được vài nốt đàn.

Mùa thu năm sau, tôi trở lại trường học và trở lại với môn dương cầm và môn vũ cổ điển.

Khi bước vào bậc trung học, tôi là thiếu nữ bình thường như bao thiếu nữ khác.  Ba nói với tôi:

– Con sắp gặp số đông học sinh không biết gì về chứng bệnh của con.  Vậy con đừng nói với ai cả.  Bệnh tật đã qua rồi.

Tôi tuyệt đối nghe theo lời khuyên của Ba.  Ngay cả giờ đây, chỉ trừ ít người thân và bạn bè, còn lại không ai biết tôi từng bị bệnh tê liệt.

Ba tôi qua đời vào năm 61 tuổi.  Nhưng trước đó, Ba hãnh diện đưa tôi vào nhà thờ ngày tôi lãnh nhận Bí Tích Hôn Phối.  Sau đó, Ba sung sướng khi thấy tôi xuất hiện trên màn ảnh truyền hình.  Rồi Ba cảm động đọc các tác phẩm tôi viết về sức khoẻ và về sắc đẹp.  Nói tóm lại, Ba chứng kiến tất cả thành công của tôi, và nhất là Ba tôi biết rằng, tôi là phụ nữ tự tin, hạnh phúc và ngẩng cao đầu khi góp mặt với đời.

Tất cả thành công tôi đạt được là nhờ công ơn trời biển của hiền phụ tôi.  Người không đầu hàng trước căn bệnh hiểm nguy của tôi và cùng tôi chiến thắng căn bệnh.  Suốt đời, tôi ghi ơn Ba tôi.

… “Giờ đây, chúng ta hãy ca ngợi những vị danh nhân, cũng là cha ông chúng ta qua các thế hệ. THIÊN CHÚA đã sáng tạo nên nhiều người con hiển hách là các vĩ nhân từ những thưở xa xưa: Có những người cai trị đất nước mình và là những con người nổi danh về quyền lực.  Có những người lãnh đạo dân bằng các lời chỉ dẫn, bằng tài dạy dỗ dân chúng và những lời giáo huấn khôn ngoan.  Có những người sáng tác những điệu nhạc du dương, viết ra những bài thơ bài phú.  Có những người giàu sang, lắm quyền nhiều thế, sống bình an hòa thuận trong nhà.  Hết thảy đều được người đương thời khen ngợi, được vẻ vang trong lúc sinh thời. Trong các vị, có những người lưu danh hậu thế cho người đời ca ngợi tán dương” (Sách Huấn Ca 44, 1-8).

Sr.Jean Berchmans Minh Nguyệt

(”Reader’s Digest SELECTION”, Juin/1992, trang 49-53). (radio Vatican)

CÓ LINH HỒN KHÔNG?

CÓ LINH HỒN KHÔNG?

Chu Tất Tiến

Vấn đề “có linh hồn hay không” đã được tranh cãi từ nhiều thế kỷ đến nay và vẫn chưa dứt. Những người vô thần, không tin có Thượng Đế hay Thiên Chúa, dĩ nhiên, cũng không tin có linh hồn. Họ đều cho rằng “chết là hết”. Vì thế, đa số những người tự tử đều là người không có tín ngưỡng, không tin có linh hồn. Một khi họ không tìm thấy ý nghĩa cuộc sống nữa, hoặc khi họ bị các yếu tố của xã hội (tiền bạc, gia đình, việc làm, tương lai, bệnh hoạn, đẳng cấp, danh dự..) đẩy họ vào chỗ tuyệt vọng, không còn tìm thấy lối thoát nữa, thì họ chán sống, và tự tìm lấy cái chết để chấm dứt nỗi đau âm ỉ trong lòng. Một số khác, tin có linh hồn nhưng lại tin một cách quá đáng là sau khi chết có thể gặp lại linh hồn người mình yêu ở một cõi khác, nên cũng tự sát. Số nhỏ nữa, cũng tin có linh hồn, nhưng cũng tin là mình làm nhiều việc sai trái quá phạm đến Thượng Đế, đến Chúa, nên tự giết mình để đền tội.

Nhìn vào vấn đề Sống, Chết theo phương pháp toán học, chúng ta có câu hỏi:

Tại sao đang sống lại chết? Đang sinh hoạt, suy nghĩ, ăn ngủ, yêu đương, vệ sinh, đột nhiên tim ngừng đập vĩnh viễn, óc ngưng hoạt động, tất cả mọi vấn đề liên quan đều chấm dứt, như vậy, theo toán học, thì Người Sống khác với Người chết là người Chết thiếu đi một yếu tố nào đó, mà ta gọi là Ẩn Số X. Vậy, chúng ta có phương trình:

NGƯỜI CHẾT = NGƯỜI SỐNG – Ẩn Số X.

Hoặc ngược lại: NGƯỜI CHẾT + Ẩn số X = NGƯỜI SỐNG!

Vậy, Ẩn Số X là gì?

Đừng vội cho Ẩn Số X là da thịt, xương cốt, tế bào vì hàng chục tỷ người đã chết vì già, vì đau tim, trong khi xương cốt, tế bào vẫn nguyên vẹn. Ẩn số X này không phải là máu, vì có rất nhiều người chết mà không mất đi một chút máu nào. Ẩn số X cũng không phải chỉ là vì tế bào bị hư hại như ung thư, hoại huyết… vì có người chết vì bị kích xúc quá mạnh. Nhiều triết gia lại cho là vì con người mất đi tình cảm, xúc động, yêu thương, mà tình cảm và xúc động, yêu thương đó là chỉ đạo của cơ thể, cho nên khi mất những yếu tố đó, thì con người Chết! Lý luận như vậy cũng không đúng, vì có những người bị tai nạn, sống đời thực vật hoặc bị Alzheimer, không biết rung động, yêu thương, nhưng vẫn là Sống.

Như thế, Ẩn Số X là gì nếu không phải một yếu tố mà người gọi là LINH HỒN? Vậy Linh Hồn cư ngụ ở đâu trong cơ thể? Nếu chúng ta nhìn vào mắt một con mèo, con chó, con vật nuôi nào bị bỏ rơi,chúng ta thường thấy mắt chúng đẫm lệ và chúng ta biết rằng chúng đang mang một linh hồn đau khổ mà không có khả năng diễn tả, ngoài cặp mắt rưng rưng. Với Con Người, khi chúng ta nhìn vào mắt người đối diện, chúng ta thấy trong cặp mắt đó lung linh sáng, cho dù đó là cặp mắt của người Ác, kẻ giết người, hay là cặp mắt hiền từ của một tu sĩ, một Ma Sơ, một tăng ni.. Từ ánh mắt đó, mà chúng ta cảm thấy chúng ta đã nhìn thấy Linh Hồn của họ. Những linh hồn sầu đau, cô quạnh, yếu đuối thì ánh sáng trong mắt bị lu mờ. Những linh hồn vui tươi, hạnh phúc thì ánh mắt như có lửa sáng. Linh hồn nhẩy múa theo cơ thể đang nhẩy múa, nhưng linh hồn không ngủ vùi với cơ thể nhắm mắt, vì trong khi ngủ, óc não vẫn có những giấc mơ phản ảnh với hiện thực ngoài đời, dĩ nhiên, vì thần kinh não là một hệ thống chằng chịt, xuyên qua xuyên lại, không phải là một tấm kính của máy ảnh chụp cho nên linh hồn tạo ra những giấc mơ bị vặn xoắn ra nhiều thứ hình ảnh lạ lùng. Đôi khi, vì sự trùng hợp ngẫu nhiên nào đó của linh hồn mà hệ thống thần kinh não cho ra những giấc mơ trọn vẹn, ngay ngắn, có đầu đuôi, xuôi ngược y như một cuốn phim được chiếu lên tường. Và cũng vì linh hồn không phải là vật thể, cho nên có thể giao lưu với những linh hồn khác trong một tần số nào đó, của một thế giới nào đó, cho nên có những vụ “báo mộng” hoàn hảo.

DUNG TÍCH (THỂ TÍCH) CỦA LINH HỒN CÓ CÂN ĐƯỢC KHÔNG?

Dung tích hay Thể tích của linh hồn phải bằng với thể tích của xác, vì khi người ta chết, thì toàn bộ các tế bào từ da, xương, thịt.. đều chết, không chừa một ngón tay, ngón chây nào không chết, cả tóc cũng chết luôn. Như vậy thì Thể Tích của Linh Hồn = thể tích của thân xác, nghĩa là linh hồn tràn ngập một con người, từ tóc, đến gan bàn chân. Khi người ta chết, linh hồn rời khỏi xác thân và đi đến một không gian mới, tùy theo quan niệm về tín ngưỡng, mà người ta gọi là Thiên Đàng, Địa Ngục, hay Niết Bàn.

TẠI SAO KHÔNG NHÌN ĐƯỢC LINH HỒN?

Tuy thể tích của linh hồn bằng thể tích của xác thân, nhưng linh hồn lại không phải là vật chất, nên ta có thể tưởng tượng linh hồn giống như một lớp sương mù hòa lẫn với những lớp tế bào bao bọc ngoài thân xác mà không có trọng lượng, khối lượng.

Ta có ba giả thiết:

1-Linh hồn = vật chất. Giả thiết này sai vì nếu linh hồn có trọng lượng, khối lượng như thân xác thì chẳng hóa ra linh hồn lại là vật chất sao? Nếu linh hồn có khối lượng thì như vậy, một con người có gấp đôi trọng lượng sao?

2-Linh hồn = ½ thể xác. Cũng không đúng vì nếu như vậy, khi chết, trọng lượng của con người sẽ giảm đi một nửa. Trước đây, có vài bài nghiên cứu cho rằng nếu đem cân người chết ngay sau khi tắt hơi, thì thấy người chết nhẹ hơn khi sống một chút xíu (?)

3-Linh hồn = 0. Vì không có khối lương nên trọng lượng = 0. Một khi trọng lượng là 0, thì mất thường không thể nhìn thấy được.

AI TẠO RA LINH HỒN?

Câu hỏi này là loại bài toán không có đáp số, nếu chúng ta không tin có Thượng Đế, có Thiên Chúa, có ông Trời. Người Bình dân thường khi gặp đau khổ, thì kêu lên: “Trời ơi!” như thể có một ông Trời lúc nào cũng lắng tai nghe người ta gọi, cho dù người ta ở Bắc Bán Cầu hay Nam Bán Cầu, ở Xích đạo hay miền ôn đới, trong rừng sâu núi thẳm hay dưới biển, trong sông. Tuy nhiên, hầu như người ta cũng không thể nói Trời ở đâu, và Trời là gì? Chỉ có người theo Thiên Chúa Giáo (Công Giáo, Tin Lành) thì có thể trả lời câu hỏi này được: “Chúa dựng nên con người và thổi Linh hồn vào thể xác con người.” Câu này không có nghĩa là cứ mỗi người sinh ra, Chúa lại thổi một lần, mà chỉ có một lần duy nhất khi tạo ra con người đầu tiên trên trái đất, mà huyền thoại đặt tên là Adam, Ông A dong, thì Chúa mới tạo ra cả Xác và Hồn, từ đó, con người được lưu truyền Cả Xác và Hồn theo sự sắp xếp của Chúa từ tiên khởi. Đến đây, cũng phải ngừng lại một chút để nói về Thuyết Sáng Tạo và 7 ngày đầu tiên. Sách Sáng Thế viết rằng “Chúa dựng nên vũ trụ và con người trong 7 ngày”. Nhiều người tin thực là có 7 ngày theo lịch hiện đại, và cũng từ niềm tin này mà những kẻ chống báng lại Thiên Chúa ngạo mạn điều này và nói đó là vô lý! Thật sự, đó là điều vô lý nếu người ta tin rằng con số 7 ngày đây đúng là 7 ngày theo thời khắc lịch mà con người đặt ra. Không phải thế đâu! Thứ nhất, lúc Chúa tạo dựng ra vũ trụ, trái đất, mặt trăng.. “Ai” có mặt ở đó mà ghi lại? Mà ghi lại bằng phương pháp nào? Chữ viết mới có từ thời Babylon, người ta dùng cỏ Papirus làm thành giấy và lấy đầu nhọn khắc những ký hiệu tượng trưng cho sự việc. Nhưng đó là khi con người đã có văn minh rồi, còn Người nguyên tổ thì đã xuất hiện cả triệu năm trước! Như thế thì sao lại ghi chép là có 7 ngày sáng tạo? Điều này dễ hiểu nếu người đọc biết rằng người Do Thái cổ xưa, là người đã viết nên sách Sáng Thế, có khuynh hướng sắp xếp những gì giống nhau vào một loại, MỘT NGÀY. Do đó, khi muốn nói về sự Sáng thế, người Do Thái cổ mới xếp những gì giống nhau vào một NGÀY! Như ngày của Trời và Đất, ngày của Ánh sáng và Bóng tối, ngày của Đất và Nước ..rồi Ngày tạo ra CON NGƯỜI là xếp sau cùng!

Tóm lại, Linh Hồn là có thực. Đã có hàng triệu chuyện ma, dĩ nhiên, trong đó, đa phần là tưởng tượng, nhưng phải công nhận là có rất nhiều chuyện ma có thật. Và ma là gì nếu không phải là những linh hồn lang thang, uổng tử, còn dính líu đến xã hội vật chất mà không chịu đi sang thế giới khác. Người Mỹ cho hồn ma là những linh hồn còn những công việc, dịch vụ chưa hoàn tất trên thế gian (unfinished business). Và nếu tin có linh hồn, thì phải tin có Chúa Trời, mà đã tin có Chúa Trời, thì phải tin có Thưởng, Phạt phân minh, do đó, mà con người khi còn sống, phải cố gắng sống Thiện, sống Lành, sống theo Lương tâm của người Công chính, không mong làm hại ai, không muốn cho ai buồn về mình, và đồng thời, phải làm chuyện công đức, giúp người, giúp đời thì mới mong linh hồn mình được an vui mãi mãi cho đến ngày Chúa lại đến.

Quảng Ninh: Xây trường học 10 tỷ rồi bỏ hoang

Quảng Ninh: Xây trường học 10 tỷ rồi bỏ hoang

Nguoi-viet.com

QUẢNG NINH (NV)Nằm trên ngọn đồi ngay trung tâm thành phố Hạ Long, thế nhưng trường trung học cơ sở Cao Xanh xây chưa được chục năm đã bị bỏ hoang 2 năm nay do xuống cấp nghiêm trọng.


Trông bề ngoài ngôi trường rất bề thế, vững chãi. (Hình: VNEpxress)

Theo tin ngày 18 tháng 6, 2015 của VNEpxress, trường cấp 2 Cao Xanh, kinh phí xây dựng 10 tỷ đồng, có quy mô 3 tầng, gồm 15 phòng học, một khu nhà hiệu bộ, đáp ứng được cho 500 học sinh và giáo viên đưa vào sử dụng năm 2008, nhưng nay đã ngừng hoạt động gần 2 năm, với cổng khóa chặt, khuôn viên không một bóng người.

Những người dân ở xung quanh cho biết, nhiều năm trước khu vực này từng là nơi khai thác than lậu, nhiều hầm than đào sâu vào lòng núi. Trong đó, có cả khu đồi mà trường cấp 2 Cao Xanh xây dựng.

Mô tả của VNExpress, xung quanh móng ngôi trường bị nứt hở rộng 5-7 cm. Tường và trần nhà xuất hiện rãnh nứt rộng từ tầng 1 lên đến tầng 3. Khu vực tầng 1 của ngôi trường có nhiều vết nứt kéo dài. Tại các cột chịu lực chính, các vết nứt chằng chịt đan chéo vào nhau. Tại khe co giãn giữa 2 khối nhà xuất hiện tình trạng lún, xô lệch rộng 6 đến 7 cm; kính của nhiều phòng học vỡ bắn tung tóe. Do bị bỏ hoang lâu ngày, cỏ mọc cả trên hành lang lát gạch.


Cây dại mọc lên cả hành lang do bị bỏ hoang lâu ngày. (Hình: VNEpxress)

Ông Ðỗ Văn Lộc, tổ trưởng tổ dân phố 34, phường Cao Xanh cho biết, ngôi trường này đưa vào sử dụng từ năm 2008, chỉ một năm sau hiện tượng lún, nứt xuất hiện. Từ năm 2013, do lo sợ tình trạng lún nứt ảnh hưởng tới sự an toàn của học sinh, phụ huynh đã phản đối yêu cầu các cơ quan chức năng cho chuyển toàn bộ học sinh về địa điểm khác cách chỗ cũ gần 4 cây số.

Trả lời về hướng xử lý với công trình 10 tỷ đồng này, ông Trần Trọng Trung, phó chủ tịch thành phố Hạ Long cho biết: “Sắp tới chính quyền thành phố sẽ chi nhiều tỷ đồng để tu sửa và bàn giao cho đơn vị khác sử dụng, tránh lãng phí. Còn về nguyên nhân vì sao trường nhanh chóng bị xuống cấp, phải có thẩm định của chuyên gia mới xác định được,” ông Trung nói. (Tr.N)

Chiến Hữu

Chiến Hữu

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

“Tôi nhân danh sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hoà xin hứa sẽ trở lại với đồng bào.”

Trung úy Đỗ Lệnh Dũng

Tưởng gì chớ sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hoà, cấp bực làng nhàng, như ông Dũng, tôi quen cả đống.  Bạn cùng khoá độ vài trăm, cùng đơn vị khoảng vài chục, và cùng trại (tù) chắc … vài ngàn!

Tôi đã nghe vô số thằng kể lại những giờ phút cuối cùng của đơn vị mình, nhưng chưa thấy ai bị lâm vào hoàn cảnh bi đát – và giữa lúc thập tử nhất sinh – vẫn “tuyên bố” một câu (ngon lành) dữ vậy.  Cỡ Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu (vào giờ phút chót) cũng chỉ âm thầm … đào ngũ thôi, chứ chả hề có mở miệng nói năng gì ráo trọi – với bất cứ ai.  Còn Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ thì ồn ào hơn chút đỉnh, cho nó đã miệng, rồi cũng chuồn êm – không lâu – sau đó.

Trường hợp của Đỗ Lệnh Dũng thì hơi khác.  Cách hành xử của ông cũng khác.  Bảnh hơn thấy rõ. Coi:

Đúng nửa đêm 24/11/1974, trái đạn 82 ly đầu tiên rót vào trong vòng đai Đồng Xoài.  Với đại pháo và T-54 yểm trợ, hai trung đoàn của Sư Đoàn 7 của Bắc Quân – sử dụng chiến thuật tiền pháo hậu xung –  đã chiếm được chi khu này, vào rạng sáng 7/12/1974.

Buổi chiều cùng ngày, trong khi đang cùng những quân nhân còn sống sót tìm cách thoát khỏi vòng vây, trung úy Đỗ Lệnh Dũng (bỗng) thấy một đoàn người – toàn là đàn bà và trẻ con nhếch nhác, với tay nải hòm xiểng, lôi thôi, lếch thếch – nằng nặc đòi đi theo toán quân của ông, để trốn ra khỏi vùng đất (sắp) được … hoàn toàn giải phóng.

Tháng 6, 1965: Đồng Xoài, Vietnam. Nguồn: AP/Horst Faas

Trước nguy cơ dân chúng có thể bị thiệt mạng oan uổng trong lúc giao tranh, và để thuyết phục mọi người nên ở lại nhà cho được an toàn, trung úy Dũng đã dõng dạc nói với mọi người:

Tôi nhân danh sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hoà xin hứa sẽ trở lại với đồng bào.”

Và Đỗ Lệnh Dũng đã trở lại thực, chỉ vài ngày sau, như là một … tù binh!  Ngay sau đó, ông bị đấu tố trước Toà Án Nhân Dân Huyện Đôn Luân (một tên gọi khác, mỹ miều hơn, của Đồng Xoài) rồi bị đưa từ Nam ra Bắc –  theo đường mòn Hồ Chí Minh – để … học tập cải tạo. Gần muời năm sau, năm 1982, Đỗ Lệnh Dũng lại được chuyển trại từ Bắc vào Nam (chắc) cho dễ thăm nuôi.

Cuộc đời rõ ràng (và hoàn toàn) không may của trung úy Đỗ Lệnh Dũng đã được ghi lại bởi nhà văn Lê Thiệp bằng một cuốn sách, dầy đến bốn trăm trang, lấy tên của chính ông làm tựa. Tác phẩm này được nhà xuất bản Tiếng Quê Hương viết lời giới thiệu như sau:

“Đỗ Lệnh Dũng không chỉ là câu chuyện về chiến tranh, dù nhân vật chính là một chiến binh mất tích giữa chiến khu D sau một trận đánh dữ dội. Đây là câu chuyện về những oan khiên khắc nghiệt mà người dân Việt Nam phải trải gần trọn thế kỷ qua cho đến ngày nay.”

“Nhân vật chính giã từ cha mẹ khi tròn 18 tuổi và lúc được gặp lại cha mẹ thì đã gần tới tuổi ngũ tuần.  Thời gian xa cách là lửa đạn, là những ngày lê gót trên con đường mòn vượt rừng núi Trường Sơn từ Nam ra Bắc, là những năm tháng đoạ đầy tại những trại tù …”

“Dù chỉ là một góc cạnh giữa muôn ngàn góc cạnh của một thời bão táp, câu chuyện vẫn là bằng cớ vô giá về thảm trạng con người bị tước đoạt trọn vẹn tuổi trẻ, tình yêu gia đình và mọi điều kiện an bình của cuộc sống.”

Cuốn Đỗ Lệnh Dũng đã được ra mắt tại thành phố San Jose, California.  Hôm đó, tôi được hân hạnh nhìn thấy Trung Úy Dũng và Thiếu Tá Đặng Vũ Khoái – chỉ huy trưởng Chi Khu Đôn Luân – người mà không mấy ai tin là còn có thể sống sót, sau khi đơn vị này bị tràn ngập bởi địch quân.

Thiếu tá Khoái cho biết nhờ tác phẩm này mà trong thời gian qua, một số những người lính năm xưa – đang tản mát khắp năm Châu – đã tìm lại được nhau.  Và ông nghẹn ngào khi giới thiệu với mọi người, vài quân nhân khác của đơn vị hiện (cũng) đang có mặt trong buổi ra mắt sách.

Ảnh: NXB Tiếng Quê Hương

Tôi ngồi ở cuối hội trường, không nhìn được rõ nét mặt của những nhân vật này nhưng có thể đoán được rằng mắt họ đều ngấn lệ.  Tôi cũng là một cựu chiến binh, cũng có cái may mắn lớn lao còn sống sót sau cuộc chiến vừa qua, và thoát thân được đến một nơi an bình nên cảm thông (thấm thía) tình cảm xúc động này.

Trong giây phút đó chắc chắn mọi người đều cảm thấy an ủi và ấm lòng, trước cảnh trùng phùng bất ngờ (và khó ngờ) đến thế.  Cái cảm giác sung sướng vì sự may mắn (hiếm hoi) của mình đã theo tôi suốt cả buổi chiều hôm ấy, và đã cùng với tôi đi vào giấc ngủ.

Nửa khuya, tôi thức giấc. Tôi vẫn luôn thức giấc vào giấc đó.  Và đó cũng là lúc mà tôi hay lò dò trở về … chốn cũ!  Như một công dân “part – time” của nước Hoa Kỳ, tôi chưa bao giờ sống hết mình và hết tình nơi quê hương mới.  Hơn nửa đời lưu lạc, tôi vẫn cứ sống mộng mị –  theo kiểu “ngày ở / đêm về” – như thế.

Tôi thường trở về Đà Lạt.  Đây là nơi mà tôi đã lớn lên, và đã ướp đẫm tuổi thơ (cũng như tuổi trẻ của mình) bằng rất nhiều đặc sản của núi rừng: nuớc hồ Xuân Hương, sương mù, phấn thông vàng, mùi cỏ khô của Đồi Cù, cùng với hàng trăm loại hương hoa man dại.

Có dạo, tôi hay trở về những đồi trà, đồi bắp, đồi khoai mì – bao quanh trại cải tạo Tân Rai –  ở Blao.  Tôi cùng lũ bạn tù cứ đi trong nắng sớm, trên những con đường mịn màng (thơm nồng mùi đất) sau một đêm mưa.  Cũng có khi tôi về lại Sài Gòn, ghé thăm một người bạn đồng đội, chỉ vừa mới biết sơ, qua một bài báo ngắn – của ký giả Bùi Bảo Trúc:

“Sáng nay mở e-mail ra đọc, tôi nhận được từ một người không hề quen biết, không kèm theo một giòng chữ nào, bức hình một người đàn ông mà tôi cũng chưa gặp bao giờ.  Hình chụp người đàn ông đang ngồi trên giường có trải chiếu, đằng sau là bức tường loang lổ, hoen ố những vết đen mốc.  Ông có một bộ ria, tóc dầy và đen, một mắt to, một mắt nhỏ mà tôi nghĩ là bị hư, chỉ còn một con.  Ông không còn chân tay.  Hai chân bị cụt trên đầu gối.  Và hai tay cụt ở trên khuỷu tay, gần nách.”

“Trong hình có ghi tên ông.  Ông tên là Thìn, Nguyễn Văn Thìn.  Năm sinh được ghi là 1952.  Hàng chữ phía dưới cho biết ông là thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa.  Đơn vị cuối của ông là Trung Đoàn 49, Sư Đoàn 25 Bộ Binh.  Cấp bậc của của ông là Trung Sĩ Nhất.  Ông sinh năm 1952, tuổi Thìn nên tên cũng là Thìn.  Ông không còn chân tay.  Từ 30 năm nay, ông không có chân, cũng không có tay.”

“Ông làm sao sống nổi qua bằng ấy năm không có hai chân mà cũng không có cả hai tay.  Tôi tưởng tượng, không khó khăn lắm, cũng vẫn thấy ra được những khó khăn của ông.  Trong một chế độ thân thiện với ông, ông cũng đã vô cùng bất hạnh vì thiếu con mắt, thiếu hai tay, lại thiếu luôn cả hai chân.  Huống chi trong một khung cảnh không thân thiện nếu không muốn nói là thù nghịch, thì ông còn khổ biết là bao nhiêu nữa.  Tôi không dám tưởng tượng thêm ra những chuyện khác trong đời sống hàng ngày của ông, nếu đó có thể gọi được là một đời sống.”

Thương binh Nguyễn Văn Thìn. Nguồn: OntheNet

Người bạn đồng đội luôn luôn nhìn tôi với đôi mắt u buồn và lắc đầu ra dấu, như có ý nói là đừng đến thăm nhau nữa: “muộn mất rồi.”  Mãi sau này tôi mới biết là … muộn thật!  Trong những trang sổ tay cũ, khi viết về trung sĩ Nguyễn Văn Thìn, cách đây khá lâu, tôi đã có dịp phổ biến địa chỉ của ông: nhà số 9/8 đường Bông Sao, phường 5, quận 8, Sài Gòn.

Độ một tháng sau, có độc giả báo cho tôi biết là họ đã gửi quà về biếu ông Thìn nhưng không còn … kịp nữa.  Ông bạn của tôi đã qua đời, vài tuần, trước đó!

Có đêm thì tôi về miền Trung, phần quê hương khốn khó mà trước đây tôi chưa bao giờ có dịp ghé qua, để thăm một đồng đội khác:

“Tôi phải vượt đường xa tít tăp từ Huế tìm đến nơi 1 anh Thương Binh mù hai mắt, cụt 2 tay lẫn 2 chân gần Lăng Cô … Tôi nhìn thấy anh Dương Quang Thương nằm xấp ngay ngạch cửa.  Tôi lên tiếng chào, anh bật ngồi dậy hỏi tôi là ai?”

“Qua những phút giây trao đổi, tôi thấy anh khóc, những dòng nước mắt lăn ra từ hai hố mắt sâu thẳm ấy làm tôi phải khóc theo.  Nghe tiếng người lạ, vợ anh từ sau hè chạy lên trên tay còn cầm nắm rau dền hoang vừa mới ngắt về để lo bữa ăn chiều, chị chào hỏi tôi rồi rót nước mời tôi uống …”

“ Thoạt đầu tôi chỉ nói tôi là người mang tiền và thuốc tây đến cho anh do bà con từ bên Úc đóng góp gửi về. Tôi gởi anh 100 đô Úc và 5 hộp thuốc tây.  Anh đã rưng rưng khóc lần nữa và cảm ơn nhiều lắm đến bà con ở Úc và Hội. Sau một hồi tâm sự anh nhắn gửi lời cảm ơn đến người điều hành Hội mà gia đình anh thường thư từ qua lại nhiều năm nay.  Tôi xúc động quá và cho biết là: Thưa anh chị chính tôi đây…  Nghe đến đó anh quờ quạng hai cái cùi tay còn lại lết thật nhanh về hướng tôi và ôm lấy tôi mà khóc.”

“ Vợ anh cũng khóc.  Tôi cũng khóc.  Người chạy xe ôm cũng khóc theo…  Sự hy sinh của anh quá lớn, hai mắt, hai tay và hai chân cho tổ quốc còn cá nhân chị đã hy sinh cả cuộc đời cho những người mà cả tổ quốc phải tri ân.  Chị đã khóc nhiều lắm vì những khó khăn đè nặng thân phận của người phụ nữ ốm o gầy còm cố vươn vai suốt hơn ¼ thế kỷ gánh gồng, ẵm bồng tắm rửa, đút ăn và những cơn lũ lụt khủng khiếp phải cõng chồng chạy tìm sinh lộ… Ra tới đầu ngõ, tôi và anh xe ôm vẫn còn khóc… “(Nguyễn Cảnh Tân, “Nỗi Sầu Riêng Hay Cái Đau Chung,” Việt Luận, 27 Oct. 2006).

HIỀN PHỤ

HIỀN PHỤ

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Tình cha núi thái cao vời,
Trao duyên kết nối, ơn trời phú ban.
Tình yêu đắp đổi nồng nàn,
Cha trao mẹ đón, muôn vàn yêu thương.

Đời con có chỗ tựa nương,
Mẹ cha sinh dưỡng, bên giường ấm êm.
Mỏi mòn canh thức từng đêm,
Say mê giấc ngủ, êm đềm bên cha.

Vững chân cột trụ mái nhà
Vòng tay ấm áp, hải hà dấu yêu.
Ơn cha nghĩa mẹ cao siêu,
Một đời chung thủy, thiên triều khắc ghi,

Dù cho gian khó lo chi,
Lao công vất vả, cũng vì đàn con.
Tình cha duyên mẹ sắt son,
Cha nâng mẹ đỡ, vuông tròn thánh gia.

Xứng danh tiếng gọi là cha,
Thiện tâm công đức, ngợi ca rạng ngời.
Mừng ngày Hiền Phụ, cha ơi,
Tạ ơn Thiên Chúa, muôn đời chúc khen.

Ngày Hiền Phụ (Father’s Day), dân nước Hoa Kỳ dành ngày Chúa Nhật thứ ba của tháng Sáu để đặc biệt tôn vinh các người cha.

Thật là sung sướng khi được sống trong tổ ấm gia đình có mẹ có cha. Cha là cột trụ, mẹ là mái che. Mẹ cha, thuận vợ thuận chồng thì con cái được ấp ủ trong yêu thương đùm bọc. Một gia đình lý tưởng gồm ba thành viên: Cha, mẹ và con cái. Con cái là hoa quả của tình yêu. Sự liên kết giữa cha mẹ và con cái tạo nên một thế vững chân kiềng. Tình yêu được thăng hoa, trao đổi và thánh hóa nên hoàn thiện.

Hôm nay chúng ta tôn vinh tất cả những người làm cha. Được gọi là ‘cha’ là một đặc ân tuyệt vời. Tiếng gọi ba ơi, cha ơi, thầy ơi, daddy ơi và tía ơi… nghe thật là thân thương trìu mến. Con cái rất quý mến và tôn trọng cha. Trong đời sống, chúng ta biết có rất nhiều người cha gương mẫu, biết chu toàn bổn phận, chăm lo và gầy dựng cho đời sống gia đình, yêu vợ thương con. Mong là ‘Cha mẹ hiền lành để đức cho con’. Các người cha đôi khi cũng nên tự vấn rằng mình đã sống đúng tư cách của một người cha hay chưa? Vì có rất nhiều người cha đã đang sa đà rơi vào nghiện ngập, bài bạc, hút sách, si tình, bỏ bê vợ con, ăn chơi trác táng và chỉ lo tìm thỏa mãn cuộc sống riêng tư. Con cái sẽ bị nhiễm độc: ‘Đời cha ăn mặn, đời con khát nước’ hay lại ‘cha nào con nấy’.

Hiện hữu trên đời, ai cũng có một người cha ruột thịt. Chúng ta biết rằng không phải tất cả mọi người cha đều tốt và hoàn thành trách nhiệm của mình. Kinh nghiệm cuộc sống xã hội hôm nay cho chúng ta thấy đang có quá nhiều đổi thay trong quan niệm sống. Ảnh hưởng của cá nhân chủ nghĩa và tục hóa hưởng thụ, đã có biết bao gia đình đang phải sống trong cảnh đổ vỡ chia xa. Đời sống hôn nhân gia đình bị rơi vào sự bế tắc và khủng hoảng. Có rất nhiều gia đình, mẹ đóng hai vai và không cần bóng dáng đàn ông. Dần dần, chỗ đứng của người cha trong gia đình không còn là trụ và là nóc nữa. Người ta thường nói: ‘Con có cha như nhà có nóc’. Có nguy cơ lỗi thời!

Tiếng ‘CHA, DADDY’ rất là cao đẹp. Cha là thần tượng của con cái. Cuộc sống dài hay ngắn không quan trọng. Mỗi người cha hãy cố gắng sống với danh hiệu ‘cha’ của mình. Dù trong hoàn cảnh nào, chúng ta đều có cơ hội nên tốt, làm tốt và sống tốt hơn. Không có khi nào trễ, nếu chúng ta biết bắt lại từ đầu. Quay đầu là bờ. Tôi xin chia sẻ một câu truyện nhỏ. Con cái của chúng ta tuy nhỏ bé nhưng luôn ngưỡng mộ những người cha biết lo cho gia đình. Vai trò người của cha trong đời sống gia đình quan trọng hơn bao giờ hết. Nó đòi hỏi một sự hy sinh, nhiệt tình và hướng thiện.

Truyện kể: Cô bé đứng bên một đám đông, trong khi ba của cô trình bày về một sự thật việc Chúa Giêsu đã đánh động thay đổi đời sống của ông. Ông đang minh chứng làm thế nào mà Chúa đã cứu và giải thoát ông khỏi lối sống cũ như một tay nghiện ngập. Hôm đó, có một người hay chỉ trích cũng đứng trong đám đông. Ông ta không thể chịu nổi khi nghe những chứng cứ về tôn giáo vô nghĩa này. Nên ông la to:“Tại sao ông già dịch không câm miệng và ngồi xuống. Ông chỉ đang mơ màng”.

Bất chợt, ông đa nghi này cảm thấy có cái gì đang níu kéo tay áo của ông. Ông ta nhìn xuống và thấy một cô bé. Cô bé nhìn ông ngạc nhiên trong khóe mắt và nói: “Thưa ông, đó là ba của cháu mà ông đang nói tới đó. Ông đã nói rằng ba cháu là người mơ mộng phải không? Để cháu kể về ba của cháu. Ba của cháu là một tay nghiện và mỗi đêm khi trở về nhà, ba đã đánh đập mẹ của cháu. Mẹ khóc suốt đêm. Và thưa ông, chúng cháu thường không có quần áo tốt để mặc, vì ba cháu tiêu xài và trả tiền rượu whiskey hểt rồi. Đôi khi, cháu không có giầy để mang khi đến trường. Nhưng bác nhìn nè, đây là giầy mới và quần áo mới! Bây giờ ba cháu đã có công việc tốt”. Cô bé chỉ qua phía bên kia và nói: “Bác có thấy người đàn bà đang mỉm cười kia không? Mẹ của cháu đó! Mẹ không còn khóc qua đêm nữa. Bây giờ mẹ vui lắm! Rồi cô bé nắm tay xác tín. Cô bé nói: Chúa Giêsu đã làm thay đổi đời ba cháu. Chúa Giêsu đã đổi thay gia đình của cháu. Thưa ông, nếu ba của cháu đang mơ mộng, xin ông đừng đánh thức ba cháu dậy.”

Những người cha như là những mắt xích nối kết truyền gieo sự sống đời này qua đời khác. Cha là dụng cụ Thiên Chúa đã quan phòng sắp đặt để sự sống được nối dài. Cha đã cộng tác vào công trình sáng tạo và hoàn thành sứ mệnh. Một sứ vụ cao cả và nhiệm mầu. Cám ơn cha đã truyền cho con sự sống.

Chúng con cũng biết ơn và tôn vinh tất cả những ai mang danh hiệu là cha, cha tinh thần, cha đỡ đầu, cha linh hướng và cha nuôi… Xin dâng lời tạ ơn Thiên Chúa. Cầu xin cho các người Cha được chu toàn bổn phận, trách nhiệm và nêu gương sáng cho lũ cháu đàn con. Xin Thánh Cả Giuse là mẫu gương của sự khiêm nhường, nhịn nhục và đơn sơ thánh thiện phù trợ và bảo vệ. Xin Thiên Chúa gìn giữ và chúc phúc lành cho tất cả các người cha đang hiện diện với chúng con đây.

Chúng con cũng nài xin lòng nhân lành Chúa đón nhận tất cả các linh hồn những người cha đã qua đời, được vào nơi hằng sống hưởng phúc trường sinh. Amen.

SÓNG GIÓ TRONG CUỘC ĐỜI

SÓNG GIÓ TRONG CUỘC ĐỜI

Tác giả: Lm. Inhaxio Trần Ngà

Suy niệm Tin Mừng Mác-cô (4, 35- 41)

Khi Chúa Giê-su cùng các môn đệ xuống thuyền sang bờ bên kia biển hồ, một trận cuồng phong nổi lên dữ dội, nước xô ập vào thuyền. Các môn đệ hoảng hốt đối phó với sóng to gió lớn. “Trong khi đó, Chúa Giê-su dựa đầu vào chiếc gối mà ngủ” như chẳng có gì xảy ra. (Mc 4,38)

Đối diện với tình thế vô cùng nguy khốn, các môn đệ sợ hãi đánh thức Chúa Giê-su dậy và lên tiếng trách móc, như thể Chúa Giê-su là người vô cảm vô tâm: “Thầy ơi! Chúng ta chết đến nơi rồi mà Thầy chẳng quan tâm sao?” (Mc 4,38)

Trình thuật này gợi lên nơi chúng ta hai vấn nạn:

  1. Tại sao Thiên Chúa  để cho “sóng gió” xảy ra trong đời người?
  2. Tại sao Thiên Chúa như thể “ngủ quên” trước lời kêu cứu của con người?

Có nhiều khó khăn, thách thức, tai ương, hoạn nạn… xảy ra trong đời người, ta tạm gọi chung những thứ này là “sóng gió.” Khi gặp phải những cơn sóng gió này, nhiều người vội kêu cầu Chúa cứu giúp và nếu không được toại nguyện, thì họ quay ra oán hận Chúa, từ bỏ Chúa. Người ta oán trách Chúa đủ điều: Tại sao Chúa để cho tôi phải gặp khó khăn, gian khổ, đau thương thế này? Tại sao Chúa để cho vô vàn sóng gió xảy ra trên thế giới? Nếu Chúa là Đấng nhân từ, là Người Cha tốt lành, sao Chúa để cho sự dữ xảy ra?

Tại sao Thiên Chúa để cho “sóng gió” xảy ra?

Thiên Chúa là Người Cha nhân từ, rất mực tốt lành và hết lòng yêu thương hết mọi người. Thiên Chúa có lý do chính đáng khi để cho sóng gió, gian truân xảy ra trên địa cầu. Không ai dò thấu tư tưởng của Thiên Chúa. Tuy nhiên, dưới góc nhìn thiển cận của người phàm, ta nhận thấy rằng:

Trần gian là trường huấn luyện, chứ không phải là thiên đàng

Nhờ kiên trì giải những bài toán khó mà đầu óc học sinh được mở mang và các em trở thành học sinh giỏi; nhờ những khổ luyện trong quân trường mà các tân binh trở thành những chiến sĩ chiến đấu can trường và đạt nhiều thắng lợi vẻ vang; nhờ những giờ tập luyện kiên trì và nghiêm ngặt mà các vận động viên điền kinh giật được những huy chương vàng; nhờ dày công nghiên cứu liên lỉ ngày đêm mà các nhà khoa học cống hiến cho đời những phát minh tuyệt diệu…

Nếu xoá bỏ hết những bài toán khó trong các trường học, bỏ hết những rèn luyện gian khổ trong quân trường, bỏ hết những bài tập nghiêm ngặt cho các vận động viên và các nhà khoa học không còn miệt mài khổ công nghiên cứu nữa… thì còn đâu là văn minh, tiến bộ, phát triển trên địa cầu này?

Nếu trần gian này không có khó khăn, thách thức, gian khổ… mà chỉ có dễ dàng, thoải mái, cầu được ước thấy… thì trần gian này đã là thiên đàng rồi; khi đó, người ta không cần ngưỡng vọng một thiên đàng thứ hai. Khi đó, người ta không cần rèn luyện, tu tâm sửa tính để mong đạt tới thiên đàng thượng giới. Bấy giờ, phẩm chất con người sẽ thấp kém hơn nhiều.

Bấy giờ, mọi người đều tha hồ vui hưởng thiên đàng hạ giới này, đều đắm mình trong lạc thú, tha hồ ăn nhậu, chơi bời trác táng cho thoả mãn những đòi hỏi vô độ của thân xác… Như thế, chắc chắn loài người sẽ sa đoạ và lún sâu vào vũng lầy tội lỗi.

Như thế, những khó khăn, thách thức trên cõi đời này có tác dụng như những bài luyện tập cần thiết để rèn luyện con người trở nên can trường mạnh mẽ, tốt lành thánh thiện, có nhiều phẩm chất cao đẹp, xứng đáng đạt tới thiên đàng thượng giới trong tương lai.

Tại sao Thiên Chúa như thể “ngủ quên” trước lời kêu cứu của con người?

Nếu ta xin bất cứ điều gì Chúa cũng ban, thì trần gian sẽ là thiên đàng hạ giới nên không ai còn ngưỡng vọng thiên đàng thượng giới nữa và khi đó, nhiều hậu quả tai hại sẽ từ đó xảy ra như đã nói trên đây .

Nếu ta xin bất cứ điều gì Chúa cũng ban thì ai nấy đều chạy đến với Chúa để xin ăn chứ không phải khổ công làm việc. Thế là vô tình Chúa biến hết thảy mọi người thành những kẻ ăn xin.

Nếu ta xin bất cứ điều gì Chúa cũng ban thì vô số người sẽ tuôn về với Chúa và như thế, Thiên Chúa trở nên một Ông Thần Tài, chuyên dùng ân huệ, lợi lộc để dụ dỗ người ta đến đầu phục mình.

Bấy giờ, người ta sẽ tôn thờ Chúa không phải vì lòng yêu mến mà chỉ vì tìm kiếm lợi lộc cho bản thân mình.

Thiên Chúa là Người Cha khôn ngoan, nên khi chúng ta xin cá, thì thay vì cho cá, Chúa lại cho chiếc cần câu.

Ý tưởng này đã được một tác giả diễn tả cách chí lý như sau:

“Tôi xin sức mạnh… và Ngài đã cho tôi gặp khó khăn để trui rèn tôi nên mạnh mẽ.

Tôi xin khôn ngoan… và Ngài đã cho tôi những vấn đề (như những bài toán khó) để giải quyết, nhờ đó tôi trở thành người khôn ngoan.

Tôi xin tiền của… và Ngài đã cho tôi khối óc và bắp thịt để làm việc, nhờ đó tôi trở nên giàu có.

Tôi xin được ‘bay’… và Ngài đã cho tôi những trở ngại phải vượt qua (như máy bay phải vượt qua sức cản của không khí) nhờ đó tôi được ‘bay cao’…

Thế là, tuy không trực tiếp lãnh nhận những gì tôi xin… nhưng tôi có được tất cả những thứ tôi cần” (Khuyết danh).

Lạy Chúa Giê-su,

Xin cho chúng con sẵn sàng dấn thân vào thế giới này như thể tham gia vào một trường huấn luyện vĩ đại và vui lòng chấp nhận “sóng gió” trong cuộc đời như những bài luyện tập cần thiết để trui rèn chúng con thành những người có đạo đức và phẩm chất cao đẹp, hầu mai sau xứng đáng được đội vòng nguyệt quế hoan hỉ bước vào thiên quốc.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Điều trần về nhân quyền, tôn giáo Việt Nam tại Hạ viện Hoa Kỳ

Điều trần về nhân quyền, tôn giáo Việt Nam tại Hạ viện Hoa Kỳ

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2015-06-18

06182015-vn-right-viola-hearing-in-hous.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Tại buổi điều trần từ trái ngồi : Điếu Cầy, Hoàng Tứ Duy, mục sư Nguyễn Mạnh Hùng, tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng và bà Đoàn Thị Hồng Anh

Tại buổi điều trần từ trái ngồi : Điếu Cầy, Hoàng Tứ Duy, mục sư Nguyễn Mạnh Hùng, tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng và bà Đoàn Thị Hồng Anh

RFA

Một buổi điều trần về đàn áp tôn giáo và những vi phạm nhân quyền khác của Việt Nam đã diễn ra hôm qua, thứ Tư ngày 17, trước Tiểu Ban Nhân Quyền hạ viện Hoa Kỳ ở thủ đô Washington.

Chủ tọa buổi điều trần hôm qua là dân biểu Chris Smith thuộc nhóm Vietnam Caucus, các đại diện dân cử quan tâm đến Việt Nam, chủ tịch Tiểu Ban Nhân Quyền, cũng là tác giả dự luật nhân quyền cho Việt Nam từng được hạ viện nhiều lần thông qua.

Cùng dân biểu Chris Smith còn có sự hiện diện của hai vị dân cử thường lưu ý quốc hội về những vi phạm tín ngưỡng và quyền con người của Việt Nam, đó là dân biểu Alan Lowenthal và dân biểu Dana Rohrabacher.

Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, giám đốc điều hành BPSOS, cũng là phát ngôn nhân của Liên Minh Cho Một Việt Nam Tự Do Và Dân Chủ, cho biết trong buổi điều trần hôm nay ông sẽ là người trình bày về tình trạng vi phạm tự do tôn giáo và về dự thảo luật tôn giáo của Việt Nam:

Và cuộc điều trần này là để chuẩn bị cho cuộc tổng vận động vào ngày mai, dự trù khoảng 700 đến 800 người Việt từ 28 tiểu bang và 7 quốc gia khác nhau. Mục tiêu kỳ này là cài những điều kiện nhân quyền, trong đó đặc biệt hai điều kiện lớn. Thứ nhất là quyền của người lao động thành lập hoặc là tham gia các nghiệp đoàn tự do và độc lập. Thứ hai là quyền tự do tôn giáo, cài vào trong cuộc thương thảo đàm phán về mậu dịch giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Cộng vào đó, chúng tôi cũng kêu gọi Việt Nam là phải trả tự do cho tất cả tù nhân lương tâm. Đó là 3 mục tiêu chính của cuộc tổng vận đợng hôm nay, ngày mai và ngày thứ Sáu thì chúng tôi sẽ tiếp xúc với Ủy Hội Hoa Kỳ Về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế cũng như Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, bộ phận đặc trách về dân chủ, nhân quyền và lao động.

” Mục tiêu kỳ này là cài những điều kiện nhân quyền, trong đó đặc biệt hai điều kiện lớn. Thứ nhất là quyền của người lao động thành lập hoặc là tham gia các nghiệp đoàn tự do và độc lập. Thứ hai là quyền tự do tôn giáo, cài vào trong cuộc thương thảo đàm phán về mậu dịch giữa Hoa Kỳ và VN

TS. Nguyễn Đình Thắng”

Người thứ hai được mời ra điều trần trước Tiểu Ban Nhân Quyền hạ viện hôm thứ Tư là blogger Điều Cày Nguyễn Văn Hải, từng trải qua án tù 6 năm rưỡi và qua 11 trại giam trong nước, nói rằng có hai vấn đề ông muốn trình bày:

Dân biểu Chris Smith (bên phải) thuộc nhóm Vietnam Caucus chủ tọa buổi điều trần. RFA

Dân biểu Chris Smith (bên phải) thuộc nhóm Vietnam Caucus chủ tọa buổi điều trần. RFA

Ngày hôm nay trước quốc hội Hoa Kỳ thì tôi muốn nói với các vị trong quốc hội rằng ở Việt Nam toàn bộ hệ thống truyền thông nằm trong tay chính quyền cộng sản, người dân không có phương tiện gì để cất lên tiếng nói của mình. Bất kỳ ai có quan điểm có ý kiến khác biệt thì đều có thể bị ghép vào những Điều Luật như 258, 88, 79 , bị bắt và bị bỏ tù với bản án hàng chục năm mà chính tôi cũng là một nhân chứng.

Thứ hai là vấn đề tù nhân lương tâm. Là người đã trải qua 11 nhà tù, qua 6 năm rưỡi, tôi biết rằng các bạn tôi trong tù gần đây liên tục tuyệt thực. Vì sao như vậy? Đó là chính vì chế độ giam giữ rất hà khắc của chính quyền cộng sản. Cụ thể họ đã ban hành Thông Tư 37 của Bộ Công An, triển khai hàng loạt những khu giam giữ mới, hình thức giam giữ hoàn toàn không được ghi trong Luật thi hành án hình sự. Cho nên chúng tôi muốn nói với các vị đại biểu quốc hội yêu cầu Việt Nam phải làm rõ cái Thông Tư 37, rằng Hoa Kỳ không chấp nhận Việt Nam sử dụng những Điều Luật bị dấu kiến để đàn áp tù nhân như vậy.

Đến từ Việt Nam, Canada

Ngoài thứ ba, mục sư Nguyễn Mạnh Hùng đến từ Việt Nam, sẽ tường trình về những vụ đàn áp các tôn giáo trong nước, trong đó có Hội Thánh Chuồng Bò mà ông là quản nhiệm. Một điều trần viên khác là bà Đoàn Thị Hồng Anh. Bà Hồng Anh là vợ ông Nguyễn Thành Năm, giao dân Cồn Dầu, năm 2010 bị công an tra tấn đến chết vì tranh đấu chống lại chủ trương của chính quyền Đà Nẵng muốn xóa sổ Giáo Xứ Cồn Dầu. Bà Hồng Anh cùng hai con trốn sang Thái Lan, vừa qua được chấp nhận cho tị nạn và định cư tại Mỹ:

” Tôi đến cuộc điều trần tôi muốn nói về cái chết của chồng tôi và những sự việc ở Cồn Dầu. Chồng tôi chết vì dân phòng và công an Đà Nẵng đàn áp chồng tôi.

Bà Hồng Anh”

Tôi đến cuộc điều trần tôi muốn nói về cái chết của chồng tôi và những sự việc ở Cồn Dầu. Chồng tôi chết vì dân phòng và công an Đà Nẵng đàn áp chồng tôi.

Được biết trong số những người ghi tên tham dự Ngày Vận Động Nhân Quyền Cho Việt Nam 18 tháng Sáu, khoảng 30 người đã đến sớm để tham dự buổi điều trần hôm qua:

Hình ảnh những người tham dự buổi điều trần tại Tiểu Ban Nhân Quyền hạ viện Hoa Kỳ ở thủ đô Washington.

Hình ảnh một số người tham dự buổi điều trần tại Tiểu Ban Nhân Quyền hạ viện Hoa Kỳ ở thủ đô Washington.

Tôi là Dan Trần, từ Dallas, Texas, đến đây với mục đích vận động quốc hội về nhân quyền cho Việt Nam.

Tôi tên là Đặng Thành Tiến cùng với anh Sơn và anh Cơ từ Canada đến đây để ủng hộ cho phong trào dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam. Coi như tất cả là 6 người.

Chiến dịch tổng vận động nhân quyền cho Việt Nam lần này có sự tham dự của một số người trẻ khắp nơi, điển hình như:

Em tên Nguyễn Khuê Tú đến từ Vancouver Canada. Hai tuần vừa rồi em đã điều trần ở quốc hội Canada. Hôm nay em tới quốc hội Hoa Kỳ để tham dự và để học hỏi thêm. Em thấy cuộc điều trần rất thành công.

Tôi tên Đinh Thị Ngọc Tuyết, đến từ Kentucky, ngày hôm nay tôi có mặt ở đây để lắng nghe điều trần những vi phạm nhân quyền của chính quyền Việt Nam đối với công dân của chinh họ. Sau 40 năm thì không chỉ lắng nghe mà chúng ta có những hành động thiết thực để chính quyền Hoa Kỳ áp lực Việt Nam thay đổi tình trạng nhân quyền cho đồng bào của mình ở Việt Nam.

Đến từ Nebraska, cô Cung Hoàng Kim, thiếu nữ Mỹ gốc Việt đầu tiên đoạt vương miện Miss Nebraska USA, hoa hậu tiểu bang Nebraska, cho biết trong tư cách một phóng viên đài truyền hình NBC tiểu bang Nebraska, cô sẽ làm MC cho một trong ba ngày tổng vận động này:

Có một buổi lễ ở Kennedy Center Hoàng Kim sẽ làm MC , sẽ giới thiệu buổi lễ đó và Hoàng Kim rất hân hạnh tới Washington DC hôm nay. Hoàng Kim nhớ là ba mẹ và gia đình của Hoàng Kim tới nước Mỹ để có tự do, dân chủ, nhân quyền và công lý. Đó là chuyện mình có thể nói hôm nay và ngày mai ở DC.

Để đẩy mạnh tiến trình vận động nhân quyền cho Việt Nam, hôm nay ngày 18 tháng Sáu, khoảng năm chục nhóm người Việt cùng vào điện Capitol , gặp gỡ tiếp xúc với khoảng 200 vị dân cử Mỹ hay nhân viên lập pháp của họ. Mục đích những cuộc tiếp xúc này là hướng sự quan tâm và vận động cài những điều kiện nhân quyền, tự do tôn giáo, tù nhân lương tâm, quyền lợi người lao động Việt Nam vào nghị trình thảo luận TPP giữa hành pháp Washington và chính phủ Hà Nội.

Thanh Trúc tường trình từ Rayburn House, Washington.