Mỗi lần em về là gió lộng đường đi,

“Mỗi lần em về là gió lộng đường đi,”

Anh nhìn em bồi hồi trông theo tà áo
Nhẹ gót thắm vào mãi đáy tim tôi
Từ đó nhớ khôn nguôi và chiều chiều thấy đơn côi.”

(Tuấn Khanh – Từ Đó Khôn Nguôi)

(1 Timôthê 5: 13-16)

Trần Ngọc Mười Hai

Lại vẫn bảo: nếu hiểu tự-vựng “Em” khác hẳn ý của người viết nhạc, thì bạn và tôi, ta sẽ thấy khác và rõ hơn. Khác và rõ, là những gì “thắm vào mãi đáy tim tôi” và “chiều chiều thấy đơn côi” cứ là thế.

Viết giòng này, bần đạo đây thấy rõ là việc: dùng tự-vựng “Em” thay cho cụm-từ “Tin Vui”/“Tin Mừng” hoặc Phúc Ấm/Lời của Đấng Tối Cao, vv.. có lẽ sẽ có bạn không đồng ý cho lắm hoặc sẽ phản-đối liên-hồi chuyện như trên.

Thế nhưng, với vị Tổng Giám Mục họ Spong tên John ở Mỹ, thì ý-nghĩ này, cũng có cái hay nhưng lại khác. Hay và khác, như câu nhạc ở bên dưới vẫn tiếp-tục hát tiếng “yêu Em”, là những xưng hô mà đôi lúc bạn và tôi, ta cứ hát hoài hát mãi những lời ca như sau:

“Lúc gặp em lòng định nói rồi lại thôi,

Nhưng hồn tôi tựa trời giông đang nổi gió.

Tình nghệ sĩ là thắm cánh môi tươi,

Là gió cuốn mây trôi là thì thầm nói “yêu em”.

(Tuấn Khanh – bđd)

Với Đức Tổng thuộc Giáo-hội “đàng ngoài” bên Anh Giáo, hoặc “đàng trong” bên Công giáo, thì việc trở về với giòng chảy “Lời Chúa” có nhận-định như sau:

“Tác-giả Paul Tillich có lần nói: “Kinh thánh là chủ-đề để ta diễn-nghĩa rồi chuyển-tải mà không một học-thuyết cũng như ngôn-sứ, linh-mục hoặc quyền-lực nào dám yêu cầu cấm vận không cho ai được tiếp-cận với Sách này hết! Đối với tôi, Sách thánh là Sách rất thâm-sâu/huyền-nhiệm chứa-đựng một thứ quyền-uy/sức mạnh rất lạ kỳ.

 Đã từ lâu, Sách này thuộc loại bán chạy nhất mỗi năm, kể từ ngày phát-hành đầu tiên. Không lạ gì, khi mọi người đều nhớ lại lúc nhà xuất bản Gutenberg làm cuộc cách-mạng đầu tiên ra mắt với thế-giới về in ấn, thì chính Sách thánh lại là ấn-phẩm đầu có được bản kẽm, mới sáng-chế.

 Thế-giới hôm nay, hoạ-hoằn lắm mới thấy có văn-chương/ngôn-ngữ hoặc thổ-ngữ nào không đem Sách này ra mà dịch-thuật cho con dân mình đọc. Truyện kể, lời lẽ và các câu văn trong Sách thánh lâu nay đã thẩm-nhập vào các nền văn-minh/văn-hoá khắp trần-gian, thậm chí còn thẩm-thấu đến tận đáy sâu của tiềm-thức của nhiều người.

 Ản-hưởng của Sách thánh cón đánh động nhiều vào các ngành nghệ-thuật văn-hoá của nhiều nước, đặc-biệt là nghệ-thuật phim-ảnh, còn gọi là “Nghệ-thuật thứ 7”, ở Âu Mỹ. Cụ-thể hơn, rất nhiều phim-bộ từng sử-dụng nội-dung hoặc truyện kể lấy từ Sách thánh làm đầu đề hoặc cốt truyện cũng như chủ-đề để mọi người suy nghĩ.

 Đặc-biệt như các bộ phim nổi tiếng thế giới, trong đó có phim “Hoa Huệ Ngoài Đồng” (rút từ trình-thuật Mát-thêu đoạn 6 câu 28), một bộ phim được sản-xuất vào năm 1968 đã giúp cho tài-tử Sidney Poitier đoạt giải Oscar về Tài-tử hay nhất. Phim “Thừa-Hưởng Từ Gió” rút từ sách Châm ngôn đoạn 11 câu 29) là bộ phim cổ-điển nói về cuộc kiện-tụng giữa Bang Tennessee chống lại John Thomas Scopes xảy ra vào năm 1925. Phim này do Spencer Tracy đóng vai Clarence Darrow và Frederic March thủ vai William Jenning Bryan.

 Và, bộ phim mang tự-đề là “Lờ mờ Trong Gương” (rút từ thư thứ nhất Côrinthô đoạn 13 câu 12), một tuyệt-phẩm tạo tên tuổi cho đạo-diễn Ingmar Bergman… Rồi cứ thế, lại có các phim nổi tiếng rút từ truyện Cựu-Ước như: 10 điều Giáo-lệnh, Samson và Đalilah, Đavít và Bétsêđa, Barabbas, và mới đây nhất là bộ phim kể tryện Thương Khó Đức Giêsu do Mel Gibson thực hiện…

 Lời lẽ cũng như tư-tưởng của Sách Thánh xưa nay từng giúp phong-phú-hoá các bài diễn-văn hoặc giảng-thuyết của nhiều đấng bậc vị-vọng. Có vị còn trích-dẫn cốt truyện hoặc câu nói của nhiều nhân-vật trong Sách thánh để diễn-giải mọi hành-xử khác nhau như dấu chỉ của sự an-bình, tự tại. Chí ít, còn gạn lọc và tẩy sạch nền văn-hoá của nhiều nước trong quá-trình hơn 2 ngàn năm nay.

 Ngay cả lịch-sử thế-giới ở Phương Tây vốn đa-dạng là thế, Sách Thánh vẫn để lại nhiều dấu vết của niềm đau, nỗi sợ và những vết đọng đầy những máu hoặc chết chóc; tức: những gì mà mọi người bình-thường không thể nào phản-bác, chối bỏ. Yếu-tố này, lại thường cho phép con người đi vào hệ-thống ý-thức thật rõ nét. Lời ở Sách thánh được nhiều người sử-dụng không chỉ với mục-đích giết-chóc ai khác, mà còn để biện-minh cho hành-tung chém giết lẫn nhau, nữa.

 Và, Sách Thánh vẫn không ngừng được cả những người từng cho rằng mình có niềm tin vào Lời của Chúa để o ép người khác, mà theo các kẻ tin này, thì họ là những người được định-nghĩa rất “trân-trọng” ở các trang giấy như đấng bậc linh-thiêng, thần-thánh…

 Nhưng, cuối cùng thì cũng có người đặt ra những thắc mắc, hỏi rằng: làm sao một cuốn Sách nổi tiếng là “thánh-thiện” được rất nhiều người ở trời Tây trân-quý đến như thế lại có thể là nguồn-gốc của rất nhiều chuyện tàn-ác, xấu-xa, được? Làm sao con người lại có thể sử-dụng Sách này để quay lòng vòng rồi đưa vào một kết-đoạn nào đó? Làm sao Sách Thánh như thế, một lần nữa, lại được coi như nguồn-gốc cuối cùng của sự sống? Hoặc, phải chăng cũng quá trễ, và Sách Thánh lại trở nên mờ-nhoè, lấm tâm nhiều vết nhơ, vết máu?” (X. TGm John S Spong, The Sins of Scripture, HarperCollinsPublisher 2005 tr ix-xvi)

Nhận-định của Đức “Tổng” thuộc Đạo Chúa ở Mỹ, thì như thế. Ca-từ nghệ-sĩ lại như sau:

“Một đời chờ mong nhau em ơi!

Tìm nhau cuối trời, gặp nhau giữa đời.

Này em! Hỡi em người yêu dấu.

Môi hồng tươi thắm biết đâu!

“Dành tặng mình anh”

(Tuấn Khanh – bđd)

Và, cứ thế bạn hoặc tôi, ta lại sẽ hát hoài/hát mãi những lời nối tiếp ở bài ca trên như sau:

“Có nhiều khi lòng quạnh vắng tựa mùa Đông.
Nhưng ngờ đâu một mùa Xuân đang triền tới.
Hồn chới với tình ngỡ đã chia phôi.
Chợt bỗng ngát lên ngôi và đường đời bước chung đôi.”

(Tuấn Khanh – bđd)

Với nhà Đạo, hỏi rằng: có tiếng hát nào như thế không? Thì, có lẽ sẽ có vị cho rằng: trả lời câu này không quan-trọng bằng đặt câu hỏi: hát bằng tiếng/giọng trổi-trang cả những điều thiên-hạ từng nghe và từng hát mãi. Duy có điều, là: nhiều vị vẫn không dám nói hoặc cãi lại chỉ vì lý-do nào đó, như lập-trường của đấng bậc khác, nói về Kinh Sách rất như sau:

“Nhà văn Leon Tolstoy bắt đầu học hỏi Kinh Thánh là từ năm 1879. Lúc đầu, ông nghĩ rằng làm thế chỉ để rọi sáng tâm-thân mình, thôi. Về sau, ông lại triển-khai tâm-tình mình tìm gặp vào những tháng ngày sau khi có dự-định án dịch lại cả 4 sách Tin Mừng và tổng-hợp vào chung một truyện kể, thôi. Công việc này khiến ông mất đến ba năm, nhưng đã biến-đổi con người ông rất nhiều. Về sau, ông gọi đó là “thời tập-trung cô-đọng” và là thời-khắc ông chú-tâm vào các nỗ-lực say mê chuyện tâm-linh, thần-hồn. Nếu sử-dụng ngôn-từ của Sofia Andreyevna, là vợ hiền yêu quí của ông, thì: đây là lúc khiến cho Tolstoy trầm-tĩnh, tập-trung im ắng hơn bao giờ hết.

 Mục-đích của Tolstoy khi ông điều-nghiên Tin Mừng của Đạo Chúa là cốt tìm gặp lại giáo-huấn thanh-khiết hữu-dụng của Đức Kitô, hầu giải-phóng nó khỏi lớp rỉ sét ở ngôn-từ nghi-thức với Kinh sách, để rồi bỏ đi phần tín-lý đầy giáo-điều và tính siêu-nhiên mà Giáo-hội gán-ghép vào đó. Để minh-hoạ phương-án rất riêng-tây này, bạn hiền Ivakin của ông nhớ đến lời lẽ ông từng bảo: “Việc Đức Kitô sống lại đã có ý-nghĩa gì đối với tôi không? Nếu Ngài sống lại thật, thì Thiên-Chúa sẽ chúc phúc Ngài. Vấn-đề quan-trọng với tôi, là: Tôi sẽ làm gì đây? Tôi phải sống thế nào chứ?”

 Dự-án do ông tạo cho chính mình, thật ra là đường-hướng triển-khải tâm-linh của chính ông. Điều đó, xem ra đã củng-cố kết-tinh với một thắng-lợi ông cảm nhận được khi tìm cách phiên-dịch 10 câu đầu trong Tin Mừng của tác-giả Gioan, qua đó ông thấy gần-gũi thiết-thân với câu nói ở “Lời Tựa” khi tác-giả viết: “Lúc Khởi-đầu đã có Lời” và câu tiếp theo lại nhấn mạnh rằng: “Mọi sự đã nhờ Ngài mà thành sự và không có Ngài thì không gì thành sự. Điều đã thành sự nơi Ngài là Sự Sống và sự Sống là sự Sáng cho nhân-loại.”(Ga 1: 1, 3-4)

 Và, tác-giả Leon Tolstoy thấy việc ông sử-dụng “kiến-thức về sự sống” là do “Lời”, được xác-chứng theo triết-lý và khởi-đầu này, đã làm cho dự-án của ông nên tiêu-biểu. Ông đã quảng-diễn ngôn-ngữ ấy, gột bỏ đi một số ngôn-từ khỏi những điều mà Giáo-hội ta xưa nay hàm-ẩn, cốt để bộc-lộ một bản văn thích-hợp với sự-thật linh-đạo cho sâu-sắc hơn và ông thấy mình phát-hiện được điều này trong quá-trình học-hỏi Tin Mừng, cho riêng mình.

 Đặc-biệt hơn, ông lại diễn-ý các truyện kể Kinh thánh nói về việc Đức Giêsu từng làm nhiều sự lạ lùng. Với tác-giả Leon Tolstoy, việc nhân rộng cá và bánh trở-thành bài học sẻ-san mọi thứ cho cộng-đoàn; bởi những người theo chân Đức Giêsu đều học được cung-cách “cho đi” thức ăn, của cải và tiền bạc mình kiếm được.

 Và, truyện kể về người mù được sáng mắt, là ẩn-dụ nhẹ trong đó việc tái-tạo thị-kiến phải hiểu như một thứ “soi sáng tâm-linh”. Và, việc Đức Giêsu chịu cám dỗ thời mới sớm ở hoang-địa mang ý-nghĩa đối-thoại với chính Ngài, kiểu Socrates…” (X. Leon Tolstoy, The Life of Jesus: The Gospel in Brief, Harper Perennial 2011 tr. viii-ix)

 Tìm gặp sự thật ở dụ-ngôn/truyện kể hoặc nơi lời nói cũng như hành-xử của Đức Giêsu, là tìm và gặp bài học vô giá được tác-giả Leon Tolstoy khẳng-định khi ông nói về ẩn-dụ hoặc các sự lạ theo nghĩa bóng chứ không theo nghĩa đen tuyền, u-ám. Thế nên, từ đó ta có quyết-tâm sống Đạo ở đời. Tìm và gặp tư-tưởng làm nền, nơi thi-ca/văn-nghệ mà nghệ-sĩ xưa từng sáng-tác:

“Một đời chờ mong nhau em ơi.

Tìm nhau cuối trời, gặp nhau giữa đời.

Này em! Hỡi em người yêu dấu.

Môi hồng tươi thắm biết đâu!

“Dành tặng mình anh.”

 Có nhiều khi lòng quạnh vắng tựa mùa Đông.
Nhưng ngờ đâu một mùa Xuân đang triền tới.
Hồn chới với tình ngỡ đã chia phôi.
Chợt bỗng ngát lên ngôi

và đường đời bước chung đôi.”

(Tuấn Khanh – bđd)

 Cuối cùng thì, “Đường đời bước chung đôi” còn là ý/lời ở mọi nơi, mọi thời, người người đều muốn sống. Diễn-tả ý-tưởng này bằng thơ-văn/nhận-định và cuộc chuyện trò giữa thày/trò còn như câu truyện kể nhè nhẹ ở bên dưới:

“Truyện rằng:

Một bữa nọ, hai thầy trò cao tăng ngồi nói chuyện với nhau:

Đệ tử: Thưa thầy, đạo Phật khuyên người ta buông bỏ mọi thứ đúng không?

Sư phụ: Không đúng!

Đệ tử: Rõ ràng có câu “buông bỏ tất cả” đấy thôi?

Sư phụ: “Buông bỏ tất cả” để làm gì?

Đệ tử: Đúng thế, đệ tử cũng thấy rất nghi ngờ! Đệ tử thấy Phật giáo luôn nhìn vấn đề tiêu cực. Nhiều người hỏi đệ tử: “Nếu mọi sự đều buông bỏ thì lấy đâu ra tiền? Quần áo? Mọi người đều không làm việc thì thế giới này sao có thể tồn tại?”

Sư phụ: Mọi sự buông bỏ thì dẫn đến sụp đổ, cái gì cũng không buông bỏ thì cũng dẫn đến sụp đổ.

Đệ tử: Như vậy phải làm thế nào?

Sư phụ: Thay thế và hoán đổi!

Đệ tử: Nhờ thầy chỉ rõ cho con!

Sư phụ: Con có thể kêu một người ăn mày cam tâm cho con số tiền đang nắm chặt trong tay họ không?

Đệ tử: Không thể được.

Sư phụ: Con có thể dùng hòn sỏi đổi lấy số tiền trong tay người ăn mày không?

Đệ tử: Con nghĩ không được.

Sư phụ: Tại sao?

Đệ tử: Vì tiền đáng giá hơn.

Sư phụ: Vậy nếu dùng vàng để đổi thì sao?

Đệ tử: Vậy thì được.

Sư phụ: Tại sao?

Đệ tử: Vì vàng đáng giá hơn.

Sư phụ: Vì thế, cách buông bỏ đơn giản nhất chính là hoán đổi. Nguyên nhân khiến người ta không buông bỏ là vì không giành được thứ tốt hơn. Dùng thức ăn chay thay cho thức ăn mặn, con sẽ buông bỏ được con dao mổ; dùng bố thí thay cho giành giật, con sẽ buông bỏ được lòng tham; dùng tín ngưỡng thay cho hư vô, con sẽ buông bỏ được nỗi trống rỗng; dùng trí tuệ thay cho ngu dốt, con sẽ buông bỏ được cố chấp; dùng chính niệm thay cho tạp niệm, con sẽ buông bỏ được ngông cuồng; dùng nhẫn nại thay cho báo thù, con sẽ buông bỏ được giận dữ; dùng yêu thương thay cho tham lam, con sẽ buông bỏ được đau tim. Tu hành không phải là buông bỏ, mà là để hiểu lẽ hoán đổi.” (Theo SecretChina Tinh Vệ biên dịch)

             Theo dõi truyện kể nhẹ đầy nhận-thức sâu-xa rồi, tưởng cũng nên ghi thêm đôi lời khuyên-răn vàng ngọc từ bậc thánh-hiền, sau đây:

“Hãy chuyên-cần đọc Sách Thánh

trong các buổi họp,

chuyên-cần khuyên-nhủ và dạy dỗ.

Đừng thờ ơ với đặc-sủng đang có nơi anh,

đặc-sủng Thiên Chúa đã ban cho anh

nhờ lời ngôn sứ,

khi hàng kỳ mục đặt tay trên anh.

Anh hãy tha thiết với những điều đó,

chuyên chú vào đó,

để mọi người nhận thấy những tiến bộ của anh.

Anh hãy thận trọng trong cách ăn, nết ở

và trong lời giảng dạy.

Hãy kiên trì trong việc đó.

Vì làm như vậy,

anh sẽ cứu được chính mình,

lại còn cứu được những người nghe anh giảng dạy.”

            (1 Timôthê 5: 13-16)

Tiếp-cận Lời Vàng đều-đặn, bạn và tôi cũng sẽ gặp toàn chuyện vui, trong đời. Rồi từ đó, sống Đạo cách đích-thực qua ẩn-dụ ghi ở Kinh Sách. Dù, mặt ngoài cuộc đời, người người đều đã và đang tiếp-cận với thực-tế ngang qua mọi chuyện.

Chuyện gì thì chuyện, dù tốt/xấu, hay ho hoặc đáng chán, cũng là thực-tế đời người có buồn/vui lẫn lộn.

Kể gì thì kể, tưởng cũng nên kể thêm một truyện kể ngăn ngắn để kết thúc buổi luận/phiếm đường dài “hôm nay” bằng đôi giòng kể ngắn như sau:

“Có một người nông dân muốn mua đất, ông ta nghe nói một người ở vùng khác có đất muốn bán, liền quyết định đến đó hỏi thăm. Người bán đất nói với ông ta rằng: “Chỉ cần giao một nghìn lạng bạc, ta sẽ cho ông thời gian một ngày, bắt đầu tính từ lúc mặt trời mọc, đến khi mặt trời lặn xuống núi, ông có thể dùng bước chân khoanh tròn được bao nhiêu đất, thì số đất đó sẽ chính là của ông, nhưng nếu ông không trở về nơi khởi điểm, thì ngay cả một tấc đất ông cũng sẽ không có được”.

 Người nông dân đó nghĩ thầm: “Nếu như hôm nay ta vất vả một chút, đi nhiều đường hơn một chút, thì chẳng phải có thể đi được vòng rất lớn, theo đó sẽ có được một mảnh đất rất lớn hay sao? Làm ăn như vậy quả thật là rất có lợi!”. Thế là ông ta liền ký kết giao ước cùng người chủ đất đó.

 Mặt trời vừa mới nhô lên, ông ta liền cất bước thật dài đi nhanh về phía trước; đến giữa trưa, bước chân của ông vẫn không dừng lại giây phút nào, cứ mãi đi về phía trước, trong lòng nghĩ: “Hãy ráng chịu đựng một hôm nay, sau này sẽ có thể hưởng thụ hồi báo của vất vả hôm nay mang đến rồi”.

 Ông ta cứ thế tiếp tục đi về phía trước, đến khi mặt trời sắp lặn rồi mới chịu quay trở về, trong lòng vô cùng lo lắng, bởi vì nếu như không về kịp thì một tấc đất cũng chẳng có. Thế là ông ta vội vàng trở về theo đường tắt. Tuy nhiên, mặt trời sắp xuống núi, ông ta đành phải liều mạng mà chạy, cuối cùng chỉ còn thiếu vài bước thì đến vạch khởi điểm, nhưng sức lực đã cạn kiệt, ông ngã nhào xuống nơi đó.”

Và,người kể lại có thêm lời bàn, rất nhận-định, rằng:

 “Dục vọng của con người và ranh giới với hiện thực mãi mãi cũng không cách nào vượt qua được, bởi lòng tham là vô đáy. Con người mãi mãi không biết thỏa mãn, đây chính là khuyết điểm lớn nhất trong nhân cách.

Kể và bàn như thế rồi, nay mời bạn và tôi, ta cứ hướng về phía trước hăng say hát nhạc Việt mình, dù đôi lúc thấy nó cũng lạ nhưng vẫn hát. Hát lên rằng:

“Mỗi lần em về là gió lộng đường đi,
Anh nhìn em bồi hồi trông theo tà áo.
Nhẹ gót thắm vào mãi đáy tim tôi.
Từ đó nhớ khôn nguôi và chiều chiều thấy đơn côi.

 Lúc gặp em lòng định nói rồi lại thôi,

Nhưng hồn tôi tựa trời giông đang nổi gió.

Tình nghệ sĩ là thắm cánh môi tươi,

Là gió cuốn mây trôi là thì thầm nói “yêu em”.

(Tuấn Khanh – Từ Đó Khôn Nguôi)

 Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn nghĩ rằng

Tiếng hát hay nhất đời

Là nói tiếng “Yêu Em”

Dù Em đây có là nhà Đạo

Hay trường đời. 

Miễn tội, em đừng bỏ phế Vua

 “Miễn tội, em đừng bỏ phế Vua”

(Dẫn từ thơ Hà Huyền Chi)

Mai Tá lược dịch

Đức Piô XI thiết lập lễ Kitô Vua, khởi đầu năm thánh 1925. Đại lễ bắt nguồn gần nửa thế kỷ trước, hồi thập niên 1880, khi mà nhiều Giám mục ở Châu Âu lo âu thấy rõ phong trào tục-hoá nhà Đạo đã nổi lên. May thay, trào lưu phàm tục này đã không lập lại vào các thế kỷ về sau.

Ưu tư lo lắng của các giám mục thời bấy giờ, là: sao ta lại để cho quyền hành trần thế ngày một lấn lướt, tạo thế “hơn hẳn”, chống trả thần quyền, đến như thế? Đặc biệt hơn, các Giám mục ở Pháp và Ý đã ý thức được tầm quan trọng cần thờ kính Đức Giêsu Kitô Vua-Cha của vũ trụ. Và, lòng sùng kính Đức Kitô-Vua từ đó phát triển mạnh, mãi đến hôm nay.

Năm 1922, Đại Hội Thánh Thể ở Rôma, có 69 vị Hồng-y Giáo-chủ đã thỉnh cầu Đức Giáo Hoàng hãy cho phép thiết lập đại lễ mừng kính Vua Cha Cao Cả, cho mọi người. Suốt ba năm, đền Vatican tràn ngập những thỉnh nguyện thư, cùng đòi hỏi Giáo hội phải làm việc gì để mừng kính Đức Kitô Vua. Vua trần gian. Vũ trụ. Loài người. Và chung cuộc, thì lễ Đức Kitô Vua đã thành hình và tiếp tục đến ngày hôm nay.

Với Tân Ước, dù Chúa nói đến Vương Quốc Nước Trời, dù Ngài có được tung hô vạn tuế như Vị Vua Cao Cả, Đức Giêsu vẫn quả quyết: Vương quyền của Ngài hoàn toàn khác biệt vương triều của vua chúa trần gian như César, Hêrôđê, hoặc cả đến Đavít, và các Vua Do-thái nữa. Với tín hữu tiên khởi, người người thấm nhuần, ghi tạc tình Vua Tình Yêu chẳng bao giờ thiếu.

Trước năm 324, có rất ít tác phẩm nghệ thuật cũng như văn-bản sử-liệu trình bày Đức Giê-su như vị Vua Cha Cao Cả. Năm đó, hoàng đế Constantine vừa tham gia cộng đoàn dự tòng, đã biến Đạo Chúa thành Đạo uy phong lẫm liệt cho Đế quốc ông trị vì, để tỏ bày lòng yêu thương đức Vua, như một người Cha.

Cũng từ đó, nghệ thuật trong nhà Đạo đã xuất tác các tượng hình, ảnh mẫu diễn tả Đức Giê-su mặc long bào phẩm phục của Vua Chúa, tay cầm quả cầu, tượng trưng cho Vua Trái Đất. Vua Hoàn Cầu.

Thế đứng của Đức Kitô-Vua trông uy nghi, tráng lệ. Và, Đức Maria, Mẹ Ngài cũng trở thành Nữ Vương Thiên Đàng, đầy tình yêu thương của Mẫu Hậu. Điều này cũng dễ hiểu. Chí ít, là vào thời mà con dân Đạo Chúa bị triền miên bách hại, trong nhiều tháng. Từ đó, Đạo Chúa tôn kính Đức Kitô-Vua đã trở thành sức mạnh uy phong, tồn tại cùng với nhân gian, ở trần thế.

Có thể coi đây là thành công lớn của thần quyền, có dân gian. Tuy nhiên, dân gian phàm trần vẫn cần đề cập nhiều đến không gian thần thánh, cao cả hơn. Chốn không gian biểu lộ tính chân phương đích thực của Đức Kitô, Vua Vũ Trụ. Vua oai phong. Hiền từ. Nhân hậu.

Từng thế kỷ và thế kỷ, trôi qua. Cả đế quốc hùng mạnh của Constantine, cũng không tồn tại. Nhưng, các đặc trưng/đặc thù thời vua chúa nơi nhà Đạo, vẫn ở lại mãi với ngôn ngữ và phong cách của Giáo hội, rất hôm nay. Cần thí dụ, ta có thể dẫn chứng khi nói về nơi ăn chốn ở của các vị Giáo hoàng, các Giám mục mà ta có thói quen đặt cho cái tên như “dinh”, như “toà”. Và, phẩm phục đại lễ của các ngài, vẫn mang dáng dấp áo mũ/cân đai rất long trọng. Đắt tiền.

Vấn đề còn lại, là: các tài sản và báu vật lịch sử ấy, đã phần nào đối chọi và mâu thuẫn với điều mà Đức Chúa nói về Ngài. Về phong cách của vị Vua Cha vẫn trị vì cả và thế gian. Nói cho cùng, tính chất vua quan, lãnh chúa của Ngài, đã được ghi vào khuôn khổ của trình thuật Thương khó. Rất thống khổ.

Phúc âm thánh Gio-an hôm nay, được rút từ văn bản nổi tiếng của Tân Ước, trong đó có quả quyết của Chúa về tính Vua-Cha, đối với thần dân, ở cõi thế: “Ngài tự nói điều ấy. Chính ngài nói Tôi là Vua. Tôi đã sinh ra và đến thế gian là để làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng Tôi”.

Với thế giới hôm nay, số vua quan nữ hoàng dám nói điều đó với dân đen/quần thần, quả rất ít. Tệ hơn, chẳng vua quan nào yêu dân đến độ sẵn sàng hy sinh cho họ. Chết cho họ. Ngược giòng lịch sử, ta hiểu rằng: khi sự thật về tình yêu Vua-Cha hy sinh như thế, đều mang sắc màu của một Thương Khó. Và, đây mới là sự thật về tính chất vua chúa/quan quyền mà trần gian không thể thấy.

Vua quan/lãnh chúa ở trần gian, bao giờ cũng thấy khó có thể hy sinh, cho một ai. Càng khó hơn, khi họ phải thương yêu thần dân của mình đến độ hy sinh mạng sống của riêng mình, cho dân đen. Nhưng với Đức Kitô, qua tư cách Vua-Cha của mình, Ngài giàu lòng thương mến. Chẳng gây thương tổn, cũng chẳng làm hại bất cứ người nào trong dân mình. Là Vua-Cha vũ trụ, Ngài không đầu hàng thoái thác trước thương đau. Nhưng, vẫn rao truyền tình thương, bất chấp khó khăn. Ngài khuyên răn, bảo vệ thần dân của Ngài. Vẫn luôn mãi.

Là Vua Tình Yêu, luôn chấp nhận những thương cùng khó, Đức Kitô-Vua chẳng bao giờ bỏ mặc dân con chốn điêu tàn lẻ loi, đầy chết chóc. Vua Kitô vẫn bộc lộ lòng thủy chung rất mực của Vua Tình yêu. Vẫn một mực thương yêu trung thành với dân Ngài, cho đến chết. Và, lại là cái chết nhục nhã như tên trộm. Thua kém cả dân đen, hèn hạ.

Theo gương Ngài, ta chớ để quyền uy, sức mạnh của trần thế uy hiếp, dẫn dụ. Chớ nên để mắt mình mờ loà trước mọi hào nhoáng chóng qua, của tiền tài vật chất, khó chối từ. Theo gương Ngài, ta chớ dại mà dấn thân đeo đuổi những mồi chài lợi lộc cùng quyền uy của vua quan/thủ lĩnh nơi gian trần, đang lôi cuốn.

Trái lại, hãy ngước mắt lên mà hướng thượng. Hướng về Đức Kitô, vị Vua-Cha nhân hiền hằng thương yêu dân của mình, hơn mọi hoàng gia/lãnh chúa, chốn nợ đời. Bởi, chỉ mình Đức Kitô-Vua mới dám nói về Sự thật, với lòng thương yêu, trìu mến. Ngài không chỉ nói bằng lời, mà còn nói bằng việc chấp nhận bỏ mình để chứng minh cho sự thật Tình yêu, Ngài phú ban.

Đó là Sự thật rất khách quan. Sự thật, đến với mọi người, nơi trần thế. Sự thật, gửi đến với thần dân, Hội thánh. Sự thật về lòng thương yêu không bến bờ. Yêu thương mọi người. Yêu cả dân đen yếu hèn, hạ cấp. Yêu đến độ bỏ thân mình vì người mình yêu mến. Bỏ áo mão cân đai tài sản, triều đình. Bỏ, để chung sống vực dậy thần dân yếu hèn, đối tượng của tình Vua-Cha.

Trong tinh-thần cảm nghiệm về ý-nghĩa của Vua/Cha, ta ngâm lại lời thơ Vua, rằng:

“Miễn tội, em đừng bỏ phế Vua,

Trẫm muốn tru-di đám ngoại thần.

Cô, dì tỷ, muội chẳng can-ngăn,

Nơi nào em tối niêm phong hết,

Cho hả lòng đây nhớ ái-tình. Hà Huyền Chi- Bỏ Phế Vua)

 Không bỏ phế, nhưng vẫn tôn-trọng và phò Vua Kitô, chủ-tể vũ-trụ. Không bỏ phế, nhưng vẫn tuân-thủ lời khuyên dạy Ngài, chỉ-thị để sống với mọi vua/quan lãnh chúa hết người. Ở đời.

Lm Richard Leonard sj biên soạn   

Mai Tá lược dịch

Tin Mừng (Ga 18: 33b-37)

Khi ấy, quan Philatô nói với Đức Giêsu rằng: “Ông có phải là vua dân Do-thái không?” Đức Giê-su đáp: “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi?” Ông Philatô trả lời:”Tôi là người Do-thái sao?Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì?” Đức Giêsu trả lời:“Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do-thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này.” Ông Phi-la-tô liền hỏi:“Vậy ông là vua sao?” Đức Giêsu đáp: “Chính ngài nói rằng tôi là vua.Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật.Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi.”

Cô dâu Việt được rao bán trên mạng của TQ với giá 1.500 USD

Cô dâu Việt được rao bán trên mạng của TQ với giá 1.500 USD

Quảng cáo rao bán cô dâu Việt trên mạng Taobao trong ngày Độc thân ở Trung Quốc (Ảnh chụp từ trang scmp).

Quảng cáo rao bán cô dâu Việt trên mạng Taobao trong ngày Độc thân ở Trung Quốc (Ảnh chụp từ trang scmp).

13.11.2015

Các cô dâu Việt Nam đã được rao bán với giá 9.998 tệ/người (khoảng 1.500 USD) trên trang Taobao, một trang mạng mua bán trực tuyến được xem như ‘eBay’ của Trung Quốc, vào lễ hội mua sắm trong ngày Độc thân hôm thứ Tư.

“Cô dâu Việt trong ngày mua sắm Song thập nhất (ngày 11/11)”, SCMP trích một đăng tải vào lúc 4 giờ chiều hôm thứ Tư, tức ngày Độc thân – một ngày mua sắm trực tuyết cực lớn vào mỗi 11/11 hằng năm, được công ty e-commerce khổng lồ Alibaba đưa ra từ 7 năm trước.

“Chỉ với 9.998 tệ, có thể mang một người vợ xinh đẹp về nhà”.

Kèm với lời quảng cáo trên là bức ảnh nữ diễn viên Trung Quốc nổi tiếng Chương Tử Di và khoản ‘hàng dự trữ’ là 98 người sẵn sàng được gửi đi từ tỉnh Vân Nam đến bất cứ nơi đâu ở Trung Quốc.

Theo hồ sơ về người bán trên trang Taobao cho biết người bán là Cửa hàng Quà tặng Wang Xiao Xi, hiện đã bán được 2.568 món hàng trong vòng 30 ngày qua, chủ yếu là tất với giá 1,6 tệ/đôi.

SCMP cho biết đoạn đăng bán cô dâu Việt đã không còn truy cập được vào lúc 4:30 cùng ngày.

Đây không phải là lần đầu tiên cô dâu Việt bị rao báo trên mạng. Trước đây đã từng xuất hiện các trang web rao bán cô dâu Việt ở Trung Quốc dẫn đến vụ phát hiện đường dây buôn người liên quan đến hàng trăm cô gái Việt, trong đó có 28 cô được giải cứu hồi cuối năm ngoái.

Chính sách một con ở Trung Quốc trong một thời gian dài đã làm mất cân bằng giới tính ở nước này, khiến nhiều người đàn ông Trung Quốc không có cơ hội lấy vợ trong nước mà phải sang các nước láng giềng để ‘mua’ vợ. Việt Nam trở thành một trong những thị trường cung cấp cô dâu qua các đường dây môi giới hôn nhân, buôn lậu người.

Số liệu của Bộ Công an Việt Nam cho biết đã có gần 6.000 phụ nữ Việt bị bán ra nước ngoài trong những năm gần đây, phần lớn là bán sang Trung Quốc.

Nguồn: SCMP, China Watch.

Vài bệnh mãn tính của trí thức Việt

Vài bệnh mãn tính của trí thức Việt


Nguyễn Quang Dy

Ngày nay, các bác sỹ thường khuyên chúng ta phải kiểm tra sức khỏe định kỳ nếu không muốn bị đột tử (vì tim mạch) hay mắc các bệnh nan y (như ung thư). Trong “thế giới phẳng”, Tom Friedman cũng khuyên các doanh nghiệp phải kiểm tra sức khỏe thường xuyên, nếu muốn tồn tại và phát triển. Không biết giới trí thức Việt có kiểm tra sức khỏe và khám bệnh thường xuyên không, và có thừa nhận bệnh tật của mình không?

Có lẽ việc này cần hơn là “định nghĩa lại trí thức”. Tại sao phải định nghĩa lại? Chẳng lẽ lâu nay chúng ta không biết trí thức là gì, là ai, và làm gì. Đã qua rồi cái thời ông Mao điên rồ và xảo quyệt nói bậy: “trí thức không giá trị bằng cục phân”, hay cái thời mấy ông Việt Minh ngây ngô và cuồng tín, bắt chước ông Mao: “Trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”. Họ không hiểu vùi dập trí thức là đồng nghĩa với tự sát quốc gia.

Tuy đã qua rồi, nhưng hệ quả của nó vẫn còn, bởi căn nguyên là cực đoan và cuồng tín chưa chết, vẫn còn lẩn khuất trong chính chúng ta. Nếu chịu khó quan sát, ta có thể nhận diện một số căn bệnh mãn tính điển hình của giới trí thức và văn nghệ sĩ Việt. Họ là thành phần ưu tú của quốc gia, làm đầu tàu thúc đẩy tiến bộ xã hội, nên cần quan tâm và khám bệnh, cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen (mấy ông này uống và hút dữ lắm!).

Những nhận xét dưới đây có thể đúng, có thể sai, có thể bổ sung, có thể tranh luận, nhưng là cần thiết. Đừng vội phủ định hay khẳng định ngay.

Hay định kiến và chia rẽ

Người ta hay nói (nửa đùa nửa thật) rằng một người Việt thì không thua kém một người nước khác, nhưng ba người Việt thì chắc thua kém một người nước khác. Bởi vì ba người Việt thường không hợp sức mà còn chia rẽ, tự phân hóa và vô hiệu hóa nhau. Không hiểu vì sao tính cá thể của người Việt rất cao, nhưng tính cộng đồng rất thấp. Đây là một nghịch lý mang bản sắc Việt Nam (không giống người Trung Hoa). Cũng chưa thấy tài liệu nghiên cứu nào phân tích xem đây là do tính bản địa, hay là do ảnh hưởng của văn hóa Pháp (xin lỗi mấy ông tây nhé!) Chỉ biết rằng người Việt có tiếng là hay định kiến và chia rẽ, hay cãi nhau không ai chịu ai. Càng trí thức, càng hay cố chấp và chia rẽ khỏe. Chưa thể lý giải ngay được, nhưng có thể do cực đoan và bảo thủ. Làm việc nhóm rất khó, không phát huy được nội lực và không kết nối được năng lượng (synergy). Rất khó đồng thuận để có tiếng nói chung. Có lẽ vì biết như vậy nên cụ Hồ mới nhấn mạnh đoàn kết “như con ngươi của mắt mình”, nghĩa là không đoàn kết thì mù luôn. Hy vọng Việt Nam không phải là một “thung lũng mù”!

Gần đây, đáng mừng là đã xuất hiện một số hội đoàn độc lập theo hướng dân chủ hóa và cởi mở hơn, như xã hội công dân. Nhưng đáng buồn là các hội đoàn mới này cũng khó phát triển nhanh và mạnh được. Không phải chỉ vì số lượng ít, nguồn lực thiếu thốn, bị chính quyền ngăn cản, mà bản thân nội bộ cố chấp và chia rẽ, rất khó đồng thuận để có tiếng nói chung. Nghe nói vừa mới hình thành đã cãi nhau rồi. Chưa cần bên ngoài phá, bên trong đã tự phân hóa rồi. Có lẽ cũng vì vậy mà hòa hợp và hòa giải dân tọc mới khó thế. Khi nói đến dân trí, người ta thường hiểu theo nghĩa cộng đồng chứ không phải từng cá thể. Nếu cứ định kiến và chia rẽ như vậy thì làm sao có thể nâng cao dân trí, làm sao có thể “thoát Trung”?

Không chịu lắng nghe

Theo nguyên lý truyền thông, lắng nghe quan trọng hơn cả nói, để thu lượm và sàng lọc thông tin cần thiết. Phải bình tâm mới lắng nghe được người khác, để hiểu được cả những điều người khác không nói ra. Điều này càng quan trọng trong thời đại bùng nổ truyền thông kỹ thuật số. Muốn lắng nghe phải khiêm tốn, chân thành, nhạy cảm. Người ta nói xã hội càng “high-tech” thì con người càng phải “high-touch”. Ta thường làm ngược lại. Gần đây, Việt Nam được xếp vào nhóm nước vô cảm nhất thế giới (trong khi chưa “high-tech”). Đa số người Việt, nhất là giới trí thức, chỉ thích nói cho người khác nghe, mà không chịu lắng nghe người khác nói. Một số người còn hay “xoa đầu” và dạy bảo người khác (nhất là đối với lớp trẻ). Họ thường vô cảm, không hiểu được người khác muốn gì, nghĩ gì. Thế hệ già không hiểu thế hệ trẻ. Bắc – Nam, trong – ngoài, không hiểu được nhau. Thói quen không chịu lắng nghe có thể do thái độ ngạo mạn, coi thường người khác, luôn cho mình là đúng, ai không giống mình là sai.

Trong bộ máy công quyền trước đây, người ta quen độc quyền thông tin theo cấp bậc. Có một thời, chỉ có lãnh đạo mới được đọc “bản tin tham khảo” (lấy từ các hãng thông tấn nước ngoài). Thời ấy đã qua rồi, nhưng hệ quả của nó vẫn còn, vì hệ tư tưởng cũ chưa thay đổi. Một khi trong đầu đã chứa định kiến gì, thì người ta hay cố chấp, luôn phủ định hoặc khẳng định, mà không cần lắng nghe để tìm hiểu sự thật. Không chịu lắng nghe và chia sẻ thông tin thường dẫn đến định kiến và chia rẽ. Điều đáng nói là không phải chỉ có những người cộng sản (cuồng tín) mà cả những người chống cộng (cực đoan) đều mắc phải căn bệnh mãn tính này. Trí thức mà định kiến và cực đoan thì còn nguy hiểm hơn cả người khác.

Học giả nhiều hơn học thật

Chưa thấy ở đâu người ta coi trọng bằng cấp và học hàm học vị một cách cực đoan như ở Việt Nam. Giới thiệu ông trí thức nào mà thiếu cái tít “GSTS” là toi. Trong khi đó dân chúng gọi GSTS là “gà sống thiến sót” (xin lỗi không phải tôi nói!). Vì vậy, nhu cầu “học giả” và làm “bằng giả” trở thành một thị trường ngầm phát đạt, như một khối u mãn tính, làm mấy đời bộ trưởng giáo dục đành chào thua. Điều đáng nói là nó không chỉ phổ biến trong nhà trường mà còn trong giới công chức và trí thức. Một quốc gia có trên 90 triệu dân (một nguồn tài nguyên quý mà chắc nhiều nước thèm muốn) nhưng chất lượng nguồn nhân lực đang khủng hoảng đến mức báo động. Chúng ta không lo giới trí thức Việt nhỏ bé, nhưng rất lo chất lượng dân trí còn thấp, bị phân hóa và vô hiệu hóa quá nhiều và quá lâu. Vì vậy, trí thức thật thì ít, trí thức giả thì nhiều. Giới trí thức Việt giống như một bức tranh “mosaic” nhiều màu sắc khó tả, rất đặc thù chẳng giống ai, mang đậm “bản sắc” Việt Nam.

Nguồn gốc trí thức Việt đại khái có mấy thế hệ. Thế hệ những người “học tây” thời trước (cả Bắc lẫn Nam) là trí thức thật, nhưng vừa quá ít vừa “quá date” (passé rồi), nếu chưa chết hoặc không nhanh chân ra nước ngoài thì cũng đã bị vô hiệu hóa bởi thời thế hoặc thời gian. Thế hệ “thiếu sinh quân” (thời chống Pháp) được chọn đi học Trung Quốc/Liên Xô, đa số đã trở thành quan chức, một số khác có tài đã trở thành trí thức thật, nhưng nay đã về hưu. Thế hệ “học Đông Âu” (thời chiến tranh với Mỹ), tuy đông nhưng bị phân hóa, đa số thực dụng buôn bán kinh doanh giàu lên nhanh như “tướng soái”, một số trở thành tư bản đỏ (đang lũng đoạn thị trường), nhưng vẫn giữ cái mũ phó tiến sĩ hoặc tiến sĩ dổm, một số khác có tài theo đuổi khoa học nghệ thuật, thường bị vô hiệu hóa, hoặc phải nhập quốc tịch nước khác. Thế hệ đi học các nước “phương tây” (sau chiến tranh) ngày càng đông và đa dạng, đa số kinh doanh, một số làm công chức, một số khác làm cho nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài. Trí thức người Việt sống ở nước ngoài là một nguồn nhân lực quan trọng, có nhiều nhân tài, có lòng ái quốc, có thể đóng góp nhiều hơn cho đất nước và làm cầu nối với thế giới, nhưng chưa được thực sự trân trọng.

Im lặng trùm chăn

Trong bối cảnh xã hội chuyển đổi, đầy biến động và rủi ro, giới trí thức thường là đội ngũ tiên phong dẫn dắt xã hội đổi mới và phát triển. Nhưng đáng tiếc, giới trí thức văn nghệ sĩ Việt đã bị “thui chột” sau những kinh nghiệm đau buồn như “cải cách ruộng đất” và “nhân văn gia phẩm”, nên đa số thường “trùm chăn”, không dám lên tiếng, vì sợ. Đây là cái sợ tiềm tàng đã đi vào tiềm thức ít nhất hai thế hệ, nên muốn thoát khỏi nó phải cam đảm để phản tỉnh. Đến nay, hệ thống kiểm soát và kiểm duyệt (văn hóa tư tưởng) về cơ bản vẫn chưa thay đổi, với hồ sơ nhân quyền đang là vấn nạn trong quan hệ với Mỹ và phương Tây (giống như vấn đề MIA trước đây). Trong bối cảnh đó, giới trí thức văn nghệ sĩ “trùm chăn” là dễ hiểu. Quá trình phản tỉnh để thoát khỏi nỗi sợ không đơn giản, tùy thuộc vào hoàn cảnh mỗi người. Có những người đến cuối đời mới dám lên tiếng nói ra sự thật (như tác giả “Đèn Cù”).

Bên cạnh đa số im lặng trùm chăn (silent majority), có một thiểu số lớn tiếng (vocal minority). Những người đã định cư ở nước ngoài thường “dũng cảm” hơn và “lớn tiếng” hơn những người trong nước. Một số quá khích và nôn nóng muốn thay đổi ngay. Một số khác trong lòng còn nặng hận thù và cố chấp, chỉ thích chửi nhưng không đề ra được giải pháp. Ai cũng muốn thay đổi, nhưng nếu không có giải pháp khả thi, thì thành viển vông. Vì vậy, cần tránh cả khuynh hướng “trùm chăn” lẫn “quá khích”. Nếu bình tâm nhìn kỹ thì quá trình dân chủ hóa trên thế giới tuy đa dạng và phức tạp, nhưng có quy luật, cần thời gian. Qua kinh nghiệm nhiều nước đã chuyển đổi (trong 40 năm qua) người ta thấy cách tốt nhất là đấu tranh ôn hòa, thông qua “Bất tuân Dân sự”. Phong trào dân chủ gần đây tại Hong Kong là một ví dụ, khác nhiều so với thời Thiên An Môn. Trong thời đại toàn cầu hóa và truyền thông kỹ thuật số, muốn đấu tranh hiệu quả phải có dân trí cao, ứng dụng công nghệ cao, dùng “sức mạnh mềm” đối phó với “sức mạnh cứng”, biết kết nối quốc tế để vận dụng sức mạnh toàn cầu (global synergy).

Hội nhập quốc tế chậm

Trong thời đại toàn cầu hóa, giới trí thức đáng lẽ phải hội nhập quốc tế nhanh hơn những nhóm người khác, để dẫn dắt họ trong quá trình đổi mới và phát triển. Đáng tiếc, giới trí thức Viêt hội nhập quốc tế hơi chậm so với các nước khác đang chuyển đổi. Có nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, chính sách kiểm soát và kiểm duyệt chặt chẽ với các quy định lạc hậu, không khuyến khích và tạo điều kiện cho giao lưu, hội nhập quốc tế. Thứ hai, bị đóng cửa quá lâu nên giới trí thức bị “nội địa hóa” quá nhiều, một số mang tâm lý bài ngoại, không quen hội nhập. Thứ ba, hàng rào ngôn ngữ và văn hóa cũng làm cho việc giao lưu, hội nhập của trí thức với thế giới bên ngoài khó khăn. Tuy nhiên, thế hệ trí thức trẻ học tại các nước Phương Tây sau này ngày càng đông, riêng học tại Mỹ đến nay là 16.500 người (sau 20 năm). Họ không bị hàng rào ngôn ngữ và văn hóa cản trở, giao lưu và hội nhập dễ dàng. Đây là một nguồn nhân lực và một lớp trí thức mới quan trọng, nhưng chưa được coi trọng đúng mức.

Trong thời đại toàn cầu hóa và truyền thông kỹ thuật số, liên kết và giao lưu quốc tế vô cùng quan trọng, giúp cho những người trí thức mở rộng tầm nhìn, không kỳ thị dân tộc, ngăn ngừa xu hướng dân tộc cực đoan và bạo lực giữa các quốc gia. Theo kinh nghiệm phát triển của nhiều nước, chỉ khi nào giới trí thức trưởng thành như một thế lực mạnh trong xã hội, và nhân tài được trọng dụng như tài sản quốc gia, thì đất nước đó mới thực sự phát triển. Nhưng trước hết, giới trí thức Việt cần chữa trị các bệnh mãn tính nói trên.

NQD. 7/7/2015

Những chuyện ngược đời trong nền giáo dục Mỹ

Những chuyện ngược đời trong nền giáo dục Mỹ


Một người Việt Nam lần đầu tiên tìm hiểu nền giáo dục Mỹ chắc chắn ngỡ ngàng và cảm thấy có nhiều chuyện ngược đời. Dưới đây tôi xin kể năm trong số đó.

1.

Chuyện ngược đời đầu tiên là trẻ em Mỹ không cần trường. “Không cần” theo nghĩa đen, chứ không phải một cách nói ví von hoa mỹ về một thực tế khác cũng ngược đời nếu so với giáo dục Việt Nam: nhà trường chỉ là một thành phần, cho dù là một thành phần quan trọng, trong một phức hợp xã hội có nhiệm vụ giáo dục những công dân Mỹ tương lai. Nhà trường không và cũng không thể thay thế được gia đình, cộng đồng sinh hoạt, các đoàn thể, các tổ chức tôn giáo, văn học nghệ thuật, viện bảo tàng, lễ hội, các phương tiện thông tin đại chúng, các hoạt động thể thao…”Không cần” ở đây có nghĩa là trẻ em Mỹ có thể học ở nhà, theo chế độ homeschooling (học tại gia).

Chế độ “Học tại nhà” (Home schooling) cho phép cha mẹ tự giáo dục con cái thay vì cho chúng đến trường mà không yêu cầu phải có chứng chỉ gì đặc biệt. Nhiều người Mỹ cho rằng đó là cách để trẻ em có thể phát huy tính tự lập, chủ động trong cả 365 ngày chứ không chỉ tiếp nhận kiến thức một cách thụ động trong những lúc đến trường. Đó là một nguyên lý giáo dục khác hẳn, dựa trên quan điểm là mọi bậc cha mẹ đều có thể giúp đỡ con cái học tại nhà. Nhiều gia đình không hề sử dụng các tài liệu hướng dẫn hay chương trình giảng dạy chính thức, mà căn cứ và thiên hướng và phong cách cá nhân của trẻ em để áp dụng các phương pháp và nội dung cụ thể. Ngay cả trong trường hợp có sử dụng các tài liệu hướng dẫn, thời gian học tập hàng ngày cũng không kéo dài quá vài tiếng đồng hồ, thời gian còn lại dùng để du lịch, biểu diễn, tham quan, đọc sách, tiến hành các dự án nghiên cứu hay tham gia hoạt động từ thiện. Hiện nay có khoảng 1 triệu gia đình ở Mỹ áp dụng và theo thống kê đang tăng lên khoảng 15% mỗi năm.

2.

Chuyện ngược đời thứ hai là nếu đến trường, trẻ em Mỹ cũng không theo một chương trình thống nhất. Ở Mỹ, chương trình học của các trường phổ thông không chỉ khác nhau tuỳ theo các bang mà còn khác nhau tuỳ theo từng vùng, từng quận, thậm chí tuỳ theo từng trường. Rất nhiều người không biết rằng rất nhiều học sinh Mỹ không hề biết gì về thuyết Darwin. Ở một số địa phương, đặc biệt là tại các bang ở miền Nam, do ảnh hưởng mạnh mẽ của Thiên Chúa Giáo, giảng dạy thuyết Darwin thậm chí còn bị coi là phi pháp.

Vì không học theo một giáo trình thống nhất, trình độ của học sinh khi tốt nghiệp trung học rất khác nhau. Chính vì lẽ đó, ở năm thứ nhất, các trường đại học Mỹ thường có 3 môn bắt buộc là Học nghĩ, Học nói và Học viết. Trong số 18 sinh viên lớp Học viết (English 101) do tôi phụ trách, có những sinh viên hiểu biết rất rộng và sâu, nhưng cũng có sinh viên thậm chí viết tiếng Anh còn sai chính tả và ngữ pháp. Tuy vậy, họ có một điểm chung là rất tự tin. Đó là kết quả của một triết lý giáo dục mang tính dân chủ. Việc chấm điểm, chẳng hạn. Nếu ở ta chấm điểm là biện pháp nhằm xếp loại học sinh và đánh giá giáo viên, điều cuối cùng dẫn giáo viên đến tình trạng chạy theo thành tích và rất nhiều học sinh đến tâm lý tự ti. Không tự ti sao được khi một đứa trẻ từ lớp 1 đến lớp 12 luôn luôn đội sổ, và điều đó được công bố cho tất cả bạn bè cùng lớp. Ở Mỹ, việc chấm điểm là vấn đề tế nhị, thường là giữ kín. Nó là cơ sở để học sinh tự biết mình và để giáo viên điều chỉnh phương pháp giáo dục với từng học sinh. Nhà trường Mỹ luôn cố gắng để học sinh không cảm thấy thua chị kém em. Ngay cả thi tốt nghiệp phổ thông cũng không có vai trò quan trọng như ở Việt Nam hay ở Châu Âu. Có thể nói, nhà trường ở Mỹ là nhà trường không nhằm mục đích thi cử.

3.

Chuyện ngược đời thứ ba là các trường phổ thông của Mỹ không có sách giáo khoa chung trong cả nước. Việc lựa chọn các loại sách để dạy trong nhà trường thuộc thẩm quyền của cơ quan chuyên trách địa phương và nhà trường, nhưng vai trò cá nhân của giáo viên và ý kiến của phụ huynh cũng rất quan trọng. Chẳng hạn, cuối tháng 9 năm 2003, khi tôi vừa đến Normal, cuốn sách nổi tiếng của nhà văn Hoa Kỳ đoạt giải Nobel John Steinbeck, “Of Mice and Men” (Hoàng Ngọc Khôi và Nguyễn Phúc Bửu dịch là “Của chuột và người”), cùng hai tác phẩm kinh điển khác là “The Adventures of Huckleberry Finn” (Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn) của Mark Twain và “To Kill a Mockingbird” (Giết chết một con chim Mocking) của Harper Lee, bị cha mẹ học sinh các trường trung học phản đối và đòi đưa ra khỏi chương trình văn học. Hai trường trung học Normal Comunity High School và Normal West High School phải thành lập một chuyên ban, bao gồm hiệu trưởng, một chuyên gia thông tin đại chúng và một giáo viên, để nghiên cứu và trả lời phụ huynh học sinh. Bà Tripp, phụ huynh học sinh và là tác giả một trong hai lá thư khiếu nại, phê phán cuốn sách của John Steinbeck là chứa đựng thái độ kỳ thị chủng tộc, ngôn ngữ thô tục và báng bổ, “không thể hiện các giá trị truyền thống”, “gây phản cảm” đối với con gái bà. Đây không phải là trường hợp cá biệt. Năm 1992, khi một nhóm độc giả ở bang Ohio chỉ ra 108 chỗ tục tĩu, 12 chỗ chứa đựng thái độ kỳ thị chủng tộc và 45 đoạn báng bổ Chúa, cuốn sách này đã bị buộc đưa ra khỏi chương trình của một trường phổ thông địa phương. Ngay sau đó, 150 nhà giáo, sinh viên và phụ huynh học sinh đã tổ chức một cuộc hội thảo ca ngợi giá trị của cuốn sách, cuối cùng nó được đưa trở lại chương trình. Mùa hè năm 2003, Hội đồng giáo dục quận Coffee County (Bang Georgia) cũng phải tiến hành thẩm định vấn đề “ngôn ngữ dung tục” của cuốn sách “Of Mice and Men” khi có khiếu nại của một số phụ huynh học sinh. Đầu năm 2003, Hội đồng nhà trường quận George County ở Lucedale (Bang Mississippi) đã nhất trí loại “Of Mice and Men” cùng hai cuốn sách khác ra khỏi chương trình.

4.

Chuyện ngược đời thứ tư là coi nhà trường như doanh nghiệp. Nếu như ở Việt Nam, cho đến nay thương mại hoá giáo dục vẫn gây tranh cãi và bị nhiều người coi là tồi tệ, thì ở Mỹ nó đang tồn tại như một cái gì đó hết sức tự nhiên.

Khác với Việt Nam, các trường đại học Mỹ nói chung không có thi đầu vào. Quan điểm của họ rất đơn giản: học tập là quyền chính đáng của mọi người, mặc dù xuất phát điểm có thể khác nhau. Nhờ vậy, tất cả những ai có chí đều có thể có cơ hội, ngược lại quốc gia cũng không bỏ phí nhân tài. Vào thập kỷ 1960, số học sinh Mỹ tốt nghiệp phổ thông học tiếp lên đại học chiếm tỷ lệ 60%. Hiện nay, tỷ lệ này có giảm đi, nhưng vẫn đứng đầu thế giới. Nhưng muốn học, phải trả tiền. Khi anh bỏ tiền để mua kiến thức, anh sẽ có ý thức về việc học tập hơn. Còn nếu anh trả tiền mà không học, tức không nhận kiến thức, thì đó cũng là quyền của anh.

Nói vậy, nhưng việc đăng ký học cũng không phải hoàn toàn chỉ có chuyện tiền nong. Một số trường nổi tiếng khá kén chọn sinh viên. Một số bang cũng ưu tiên nhận sinh viên từ bang mình. Còn đối với sinh viên nước ngoài, điểm thi tiếng Anh (TOEFL) đặc biệt quan trọng. Trường Đại học Y khoa là một ngoại lệ. Muốn vào trường, sinh viên phải có bằng tốt nghiệp đại học thuộc một số ngành như sinh hoá, sinh vật…Chương trình kéo dài 4 năm nữa, sau đó phải thực tập từ 2 đến 4 năm. Như vậy, để hành nghề chữa bệnh, cần phải học và thực tập từ 10 – 12 năm!

Việc học tập ở Mỹ rất tốn kém. Mức chi tiêu tối thiểu của một sinh viên ở các trường công, vào khoảng 10 ngàn USD/năm, còn ở các trường tư khoảng 35 ngàn USD. Vì thế, trừ một số người được nhận học bổng hoặc gia đình giàu có, sinh viên Mỹ hầu hết vừa học vừa làm, một số làm việc ngay tại trường.

5.

Chuyện ngược đời thứ năm là bất chấp những chuyện ngược đời vừa kể giáo dục Mỹ vẫn có chất lượng cao nhất thế giới. Bằng chứng là họ kinh doanh giỏi nhất, nghiên cứu khoa học giỏi nhất, đóng phim giỏi nhất, chơi đàn giỏi nhất, hát hay nhất, chơi thể thao giỏi nhất, và ngay cả trong văn học cũng là một trong những nước có nhiều nhà văn đoạt giải Nobel nhất.

Vậy phải chăng chính chúng ta mới là ngược đời?

Ngô Tự Lập (theo báo Diễn Đàn Doanh Nghiệp)

Cám Ơn Hạnh Phúc – Cám Ơn Khổ Đau

Cám Ơn Hạnh Phúc – Cám Ơn Khổ Đau

Tác giả: Nguyễn Bích Thủy
Bài số 3662-18–30152vb3110315

Tác giả đã nhận giải Đặc Biệt Viết Về Nước Mỹ 2014. Cô sinh năm 1962, tốt nghiệp Đại Học Mỹ Thuật năm 1988 khoa Đồ Họa tại Việt Nam, từng làm công việc thiết kế sáng tạo trong ngành quảng cáo. Cô đến Mỹ tháng 4 năm 2000, hiện là cư dân Waxahachie, Texas, đang làm việc trong phân xưởng in một nhà máy tại địa phương. Bài viết của cô là chuyện 40 năm sau tháng Tư 1975.

* * *

Chúng ta là những người lữ hành đang đi tìm hạnh phúc ròng rã suốt cả một kiếp người cho bản thân mình, gia đình mình hay cho cộng đồng mình. Cái hạnh phúc mà chúng ta đi tìm lúc được lúc mất, lúc ẩn, lúc hiện khiến đôi khi làm ta chao đảo vì nó quá mong manh và mơ hồ. Lắm lúc ta cảm thấy mệt mỏi vì cố rượt đuổi theo nó, tưởng đã sở hữu được trong tầm tay nhưng rồi bỗng một ngày nó lặng lẽ bỏ ta đi để lại một nổi đau ê chề cả thân xác lẫn tâm hồn.

* Hạnh Phúc

Theo tài liệu cho biết hạnh phúc là trạng thái cảm xúc khi con người được thỏa mãn một nhu cầu nào đó mang tính nhân bản, chịu tác dụng của lý trí và chỉ có ở con người.

Cảm nhận về hạnh phúc ở mỗi độ tuổi, mỗi giới tính cũng thay đổi theo thời gian. Lúc còn nằm trong nôi hạnh phúc của bé thơ là được bú một bầu sữa đầy, được ôm ấp vỗ về. Ở tuổi đến trường hạnh phúc của các cô cậu học sinh là vào cuối tuần không phải làm homework, được cha mẹ cho đi chơi, gặp bạn bè vui đùa thỏa thích. Đến tuổi biết yêu hạnh phúc của các chàng trai, cô gái là tìm được một người như-trong-mộng. Khi đã lập gia đình hạnh phúc của những người trưởng thành đã thôi bay bỗng, nó bình dị như mỗi buổi chiều vợ chồng, con cái quây quần bên mâm cơm quên hết những nhọc nhằn, tất tả ở bên ngoài. Rồi đến tuổi gần đất xa trời hạnh phúc của những bậc làm ông, làm bà là được sống bên cạnh con cháu cho đến ngày “cưỡi hạc, quy tiên”!

Nhưng lại có những quan niệm cho rằng hạnh phúc là hy sinh, là cho đi không cần nhận về (nếu cần nhận về là đã có toan tính); hạnh phúc là biết bằng lòng với cái mình đang có; hạnh phúc là được sống một cách an nhiên tự tại giữa cuộc đời nhiều va vấp. Còn theo Dan Harris, người sản xuất chương trình “Nightline” và “Good Morning America” trên đài ABC cho biết Thiền là chiếc chìa khóa giúp ông cảm thấy sống hạnh phúc hơn. Một nền minh triết của con người đã khuyên nếu muốn hạnh phúc, hãy tập sống vô ngã để thấy được tánh giác của chơn tâm của mình.

Thế thì hạnh phúc của con người thật muôn màu, muôn vẻ. Nhưng muốn đạt những điều này đôi khi không dễ chút nào. Lại có lắm lúc người ta thường không đi tìm hạnh phúc dưới chân mình mà cứ ngó trên chín tầng mây. Nhiều khi họ không thấy hạnh phúc trong hiện tại mà cứ đau đáu nhớ về hạnh phúc của một thuở nào đã xa! Đó là tất cả tâm trạng của một anh bạn đồng nghiệp người Mỹ của tôi, có lần anh cho biết:

– Lúc còn nhỏ vào những dịp nghỉ hè bọn tôi thường được cha mẹ cho đến nhà của ông bà ở cạnh bờ biển thuộc vùng Atlantic City – New Jersey. Đây là dịp mấy anh chị em họ chúng tôi tha hồ vui chơi với nhau bằng thích! Có thể nói, cho đến bây giờ đó là những ngày tháng tuyệt vời nhất của đời tôi.

Giọng nói của anh như thầm tiếc nuối cả một thời quá khứ mà nơi đó anh đã có biết bao kỷ niệm đẹp. Anh cũng kể rằng sau khi vừa tốt nghiệp Trung Học, anh đã từ giã cha mẹ leo lên tàu lửa làm một chuyến xuôi Nam để thỏa mộng “tang bồng hồ hải”. Anh đã từng đi qua nhiều tiểu bang của nước Mỹ, cuối cùng đã đến đây và phải lòng một nàng thuộc xứ “cao bồi Texas”. Để rồi cho mãi đến hôm nay anh vẫn chưa một lần nào có dịp trở về thăm lại vùng biển tuổi thơ của mình!

Anh đã cưới vợ rồi ly dị do người vợ trước mắc chứng vô sinh! Anh kết hôn lần nữa với một nàng người Mễ kém anh gần 20 tuổi và cô đã cho ra đời ba mụm con. Tuy nhiên, anh cũng không hề cảm thấy hạnh phúc bên người vợ trẻ bởi những chông chênh về tuổi tác, ngôn ngữ và văn hóa. Thêm vào đó, anh luôn mặc cảm có lỗi với vợ cũ khi biết rằng cô đã không chịu “đi bước nữa” để toàn tâm toàn ý lo cho đứa con mà lúc trước họ đã xin ở cô nhi viện. Giờ đây con gái nuôi của hai người đã học thành tài, mẹ con cô có một cuộc sống rất ổn định còn anh thì vẫn cứ lao đao lận đận với một mái gia đình không bao giờ như ý! Có thể anh vẫn còn yêu vợ cũ của mình nhưng anh không mặt mũi nào để quay lại. Nhất là nếu ly dị lần nữa anh sẽ phải trả tiền trợ cấp cho ba đứa con chắc “te tua” lắm!!! Hiểu được tâm trạng của anh, tôi liền bảo:

– James! Cuộc sống của anh cũng quá tuyệt mà. Bây giờ anh không cảm thấy quý nó nhưng biết đâu khi đã 70 hay 80 anh sẽ thấy rằng đây mới chính là thời gian đẹp nhất đời mình. Bởi vì hiện nay anh vẫn còn sức khỏe, vẫn còn đầy đủ một mái gia đình khi con cái vẫn còn ở cạnh.

Anh chỉ nhìn tôi cười buồn:

– Thì cứ hy vọng là vậy!

Ôi có biết bao kẻ như James trên cuộc đời này? Họ sống với vợ (hay chồng) của mình một cách miễn cưỡng, hời hợt nên chỉ cần một chút va chạm nhỏ xẩy ra là có thể đưa đến nhiều xung đột lớn. Nhưng họ vẫn không tài nào “dứt ra” được chỉ vì “đã lỡ” đứng tên chung với nhau cái nhà, cái xe và đàn con! Họ cứ phải đi song đôi với nhau nhưng mỗi người nhìn về một hướng, chả ai buồn nói với ai lời nào như đã hết tình, hết nghĩa với nhau rồi. Họ nghĩ giờ chỉ còn sống vì bổn phận và trách nhiệm để chu toàn cho một mái gia đình!!! Chỉ thế thôi.

Rồi cũng đến một ngày có một người sẽ “đi trước”. Kẻ ở lại giờ mới thấm mùi cô độc. Chẳng còn ai nữa để nghe càm ràm, chẳng còn ai nữa làm cho mình tức tối, bực bội. Một mình. Vâng! Chỉ còn lại một mình mình, đi suốt quãng đời còn lại cũng… một mình! Ôi cái người đã đi bên mình mấy chục năm trời ròng rã, giờ mình mới biết thương, biết quý thì đã quá muộn màn. Nên mới có những câu thơ thành bài hát xiết bao ân tình:

Có tốt với tôi thì tốt với tôi bây giờ
Đừng đợi ngày mai đến lúc tôi xa người
Đừng đợi ngày mai đến khi tôi phải ra đi
Ôi muộn làm sao nói lời tạ ơn …

Nếu có yêu tôi thì hãy yêu tôi bây giờ
Đừng đợi ngày mai đến lúc tôi qua đời
Đừng đợi ngày mai đến khi tôi thành mây khói
Cát bụi làm sao mà biết lụy người…
(Thơ Ngô Tịnh Yên, Trần Duy Đức phổ nhạc)

Người ta thường sống bằng kỷ niệm vì có lẽ kỷ niệm bao giờ cũng đẹp. Tôi cũng là một người đã từng sống với hoài niệm để nhớ về những tháng ngày cũ khi còn có đầy đủ một mái gia đình. Có lẻ không riêng gì tôi mà bất cứ ai mới bước chân đến Mỹ đều mang một tâm trạng na ná như nhau. Cái cảm giác thân xác ở bên này mà tâm hồn cứ để ở bên kia, ban ngày ở Mỹ nhưng ban đêm thì cứ mơ về Sàigòn với bao mộng mị, thật vô cùng khổ sở! Phải khó khăn lắm người ta mới có thể tạm quên được quá khứ của mình để làm-lại-từ-đầu tại vùng đất mới. Tôi biết có khá nhiều người đã không thể nào bước qua được chính mình nên họ cứ phải bay đi, bay về giữa hai bờ đại dương xa thăm thẳm để níu kéo quá khứ và vẫy vùng trong hiện tại!

Hạnh phúc luôn đòi hỏi sự nỗ lực và cố gắng liên tục! Một trong những triết lý sống của người Ấn Độ là “Những gì đã qua, cho qua”. Nội dung như sau:

Khi điều gì đó trong cuộc sống của chúng ta kết thúc, thì có nghĩa là nó đã giúp ích xong cho sự tiến hoá của chúng ta. Đó là lý do tại sao, để làm phong phú thêm trải nghiệm của mình, tốt hơn hết là chúng ta hãy buông bỏ và tiếp tục cuộc hành trình.

Người ta thường ước mơ về hạnh phúc với nhà cao cửa rộng, vợ đẹp con xinh, tiền tài danh vọng, địa vị xã hội đủ đầy. Nhưng thật ra những điều đó hoàn toàn không có giá trị vĩnh hằng và không có gì bảo đảm sẽ tuyệt đối. Chẳng có ai trên đời này mong cầu đau khổ! Nhưng nếu đường đời cứ suôn sẻ, êm đềm không chông gai thử thách thì làm sao rèn cho con người có được tính chịu thương, chịu khó và đức nhẫn nại, hy sinh. Chỉ có đi qua khổ đau người ta mới biết thương yêu những người cùng khổ. Chỉ có đã từng sống trong cảnh đàn áp, bất công thì người ta mới biết hết giá trị của sự tự do, dân chủ. Chỉ khi đã đối diện với chiến tranh, loạn lạc thì người ta mới hiểu hết ý nghĩa của hai chữ hoà bình…

* Và Khổ Đau

Dường như không phải chỉ có người nghèo mới khổ mà “người giàu cũng khóc”! Cái khổ không từ một ai! Từ hàng đế vương cho đến hạng cùng đinh thì mỗi người đều mang một nổi khổ khác nhau, không ai giống ai. Biển khổ thật mênh mông bất tận!

Con người phải đối diện với muôn vàn cái khổ trên cõi đời này. Khổ vì nghèo. Khổ vì bệnh tật. Khổ vì dốt nát. Khổ vì chồng (vợ) con. Khổ vì không con. Khổ vì đông con. Khổ vì thiên tai, đói kém, mất mùa. Khổ vì bị áp bức, bóc lột. Khổ vì đắm chìm trong dục lạc, cờ bạc, rượu chè. Khổ vì côi cút không cha, không mẹ, không anh em. Khổ vì nồi da xáo thịt. Khổ vì nước mất nhà tan. Khổ vì bom rơi đạn lạc. Khổ vì gia đình không hạnh phúc, con cái hư hỏng. Khổ vì tuổi già bệnh tật, neo đơn, nghèo túng… Lại thêm có cái khổ vì yêu mà phải chia lìa. Khổ vì ghét mà phải sống chung. Khổ vì mong cầu mà chẳng được. Khổ vì hy vọng bất thành. Khổ vì tán gia bại sản. Khổ vì nợ nần chồng chất. Có lắm người khổ vì quên, do bệnh lú lẫn của tuổi già nhưng lại cũng có người khổ vì nhớ! Mà càng già người ta càng nhớ nhiều, nhớ dai. Thế nên đã khổ càng thêm khổ!!!

Có những nổi khổ vì quên
Có những nổi đau vì nhớ
Có những điều cố quên vẫn nhớ
Có những điều cố nhớ lại quên
Khổ đau chất chồng bởi nhớ và quên (nbt)

Ôi! Còn biết bao nhiêu cái khổ khác trên đời này nữa, nên mới có câu: Hữu thân hữu khổ! Ngẫm chẳng sai chút nào! Với muôn vàn đau khổ vây quanh con người phải làm thế nào để hết khổ? Chính sự có mặt của Tôn giáo đã gian rộng đôi tay để cứu khổ cho muôn loài. Có khá nhiều tôn giáo đang hiện diện trên thế giới này và mỗi tôn giáo thường chiếm lĩnh một vùng lãnh thổ riêng biệt trên bình diện toàn cầu. Theo thống kê có bốn tôn giáo lớn trên hành tinh theo thứ tự sau:

– Kitô giáo: 2.1 tỷ người

– Hồi giáo: 1.5 tỷ người

– Ấn Độ giáo: 900 triệu

– Phật giáo: 376 triệu người

Vậy thì tôn giáo nào là tốt nhất. Kitô giáo ư? Hay Hồi giáo? Đức Đạt Lai Lạt Ma có lần đã phát biểu:

– Tất cả cái gì làm anh biết thương cảm hơn, biết theo lẽ phải hơn, biết từ bỏ hơn, dịu dàng hơn, nhân hậu hơn, có trách nhiệm hơn, có đạo đức hơn. Tôn giáo nào biến anh thành như vậy là tôn giáo tốt nhất.

Đời sống tâm linh là điều gần như không thể thiếu được cho con người. Có lẽ chính vì thế mà ở Mỹ nhà thờ cũng nhiều ngang như trường học?! Tại một đất nước giàu có bậc nhất hành tinh này tưởng như giá trị của con người chỉ được đong đo bằng vật chất; nhưng thật ra cuộc sống càng văn minh, càng tự do thì người ta càng cần có một đức tin mạnh mẻ để nương tựa và quay về.

Tôi từng biết có rất nhiều vị Bác Sĩ đã giã từ thiên chức của mình để dấng thân vào con đường phục vụ nhân sinh qua chiếc áo thụng của các vị Linh Mục hay chiếc áo cà sa của những Nhà Sư… Thoạt đầu, tôi rất ngạc nhiên và tự hỏi tại sao họ lại từ bỏ sở học của mình trong khi có biết bao con bệnh đang ngày đêm cần đến bàn tay chăm sóc của họ? Phải đến khi đã hiểu Đạo và hiểu Đời tôi mới biết rằng một người Thầy thuốc có thể chữa được thân bệnh nhưng họ không thể nào chữa lành được tâm bệnh cho con người! Mà trong khi đó có rất nhiều những nổi đau của thân bắt đầu từ tâm. Nếu biết cách chữa cho tâm được yên ổn, bình an thì ắt thân sẽ khỏe và người ta sẽ biết cách sống tốt hơn. Người Bác sĩ có thể trị được bệnh cho tha nhân nhưng đứng trước cái khổ của chính mình đôi khi họ cũng phải đành…. bó tay!

Hơn thế nữa làm thầy thuốc có thể chữa được một số người nhất định trong một phạm vi nhất định nhưng lời nói của một đấng chăn chiên hay của một vị lãnh đạo tinh thần có thể cứu vớt hàng triệu triệu sinh linh ra khỏi vực thẳm của khổ đau! Trong một dịp hết sức tình cờ, cô bạn đồng nghiệp đã có lần hỏi tôi:

– Tôn giáo của you là gì?

Tôi hơi bị bất ngờ. Có lẻ cô ta tò mò vì thấy tôi là dân Châu Á hiếm hoi đang làm trong hãng hay chắc cô nghĩ tôi từ một nước Cộng Sản đến nên theo “vô thần giáo” chắc? Tôi cười và cho cô biết tôn giáo mà mình đang theo đuổi. Ngay lập tức cô liền hỏi tiếp, lần này thì có vẻ hốc búa hơn:

– Thế tôn giáo của you khuyên tin về điều gì?

Suy nghĩ giây lát tôi bèn trả lời thật chậm rãi:

– Tin vào chính mình!!!

Tôi đọc được cả một sự ngạc nhiên gần như sửng sốt từ người đối diện, không đợi cô phải hỏi tiếp, tôi đã giải thích cho rõ thêm:

– Tôn giáo của tôi dạy rằng nếu tôi làm một điều gì tốt tôi sẽ nhận được những điều tốt lành và ngược lại nếu như tôi làm điều gì không tốt tôi sẽ gặt lấy hậu quả khôn lường. Chính tôi sẽ là người tạo nên hạnh phúc và khổ đau cho chính cuộc đời tôi mà không phải bất kỳ ai khác.

Một thoáng nghi ngờ hiện trên gương mặt cô. Tôi lại phải nói cặn kẽ hơn:

– Nếu tôi làm một điều gì đó tốt cho bản thân hay cho cộng đồng, tôi sẽ cảm thấy hạnh phúc và ngược lại nếu như đi cướp của, giết người thì tôi sẽ bị luật pháp trừng phạt. Không ai có thể ngồi tù thay cho tôi cả. Chính tôi là kẻ duy nhất có trách nhiệm với mọi hành vi của mình. Do đó tôi phải biết sống tốt và làm đúng!

Gương mặt của cô đã có phần giãn ra đôi chút. Tôi thêm vào ngay:

– You có định hỏi tôi làm thế nào để biết mình sống tốt và làm đúng không??! Xin trả lời luôn rằng gia đình, trường học và xã hội sẽ dạy chúng ta những điều đó nhưng đặc biệt hơn hết chính tôn giáo sẽ giúp cho chúng ta biết cách sống hướng thượng và thoát khổ!

Lần này cô đã cười thật tươi như đồng ý với tôi. Thật vậy! Tôn giáo chính là ngọn đuốc soi đường và những người hướng dẫn tâm linh đã trao ngọn đuốc đó vào tay chúng ta. Bổn phận của mỗi người chúng ta là cầm lấy nó và phải biết vận dụng trí tuệ sáng suốt của mình để tìm một quang đạo mà bước ra bể trầm luân này.

*

Trong cái khoảnh khắc không đầu không cuối của thời gian, con người đã lần lượt đến rồi đi trong cuộc đời này một cách hết sức chóng vánh. Mới thấy đó rồi mất đó!

Tôi cũng là một con người bình thường với những hạnh phúc và khổ đau rất bình thường đang có mặt hơn năm mươi năm qua trên cuộc đời. Tôi rồi cũng sẽ ra đi như biết bao nhiêu người đã giã từ cõi tạm này. Cũng sẽ chẳng còn ai nhớ đến tôi, một người đã từng gắn bó với thế gian; đã trải qua đủ hết những hỉ, nộ, ái, ố, tham, sân, si để rồi ra đi với hai bàn tay trắng cùng những nghiệp lành dữ khác nhau. Tuyệt nhiên, không ai biết tôi sẽ đi về đâu. Tôi cũng chẳng biết mình sẽ trôi lăn vào chốn nào. Nhưng! Dù sẽ về bất cứ nơi đâu thì tôi vẫn thật mong rằng vào những giây phút cuối cùng của cuộc đời mình tôi sẽ nở một nụ cười thật toại nguyện để cám ơn những hạnh phúc, cám ơn cả những khổ đau đã giúp tôi vững vàng bước qua kiếp nhân sinh này.

Nguyễn Bích Thủy

Hiệu trưởng đuổi học Nguyễn Phương Uyên bị cảnh cáo.

Hiệu trưởng đuổi học Nguyễn Phương Uyên bị cảnh cáo.

NGUYỄN TƯỜNG THỤY

RFA

Xin nói ngay để bạn đọc khỏi hiểu nhầm, ông ta bị cảnh cáo không phải vì đuổi học Nguyễn Phương Uyên mà vì gian lận. Chứ nếu vì đuổi học cháu Uyên mà bị kỷ luật thì phúc đức cho đất nước này quá.

Ông ta tên Đặng Vũ Ngoạn, Hiệu trưởng trường đại học Công nghiệp thực phẩm ở Sài Gòn.

Tin các báo cho biết: ông Đặng Vũ Ngoạn bị Bộ Công thương ra kỷ luật cảnh cáo, đề nghị thu hồi bằng khen và Huân chương Lao động hạng ba.

Sự việc không hay này đối với Đặng Vũ Ngoạn cũng là do tính gian lận của ông mà ra.

Đầu đuôi như sau: Trước khi về làm hiệu trưởng trường ĐH CNTP vào năm 2008 thì ông Ngoạn này làm giám đốc Trung tâm Nghiên cứu vật liệu mới thuộc Trường ĐH Bách khoa TP.HCM. Từ năm 2008 đến 2011, liên tục trong ba năm, ông ta đạt chiến sĩ thi đua cấp cơ sở, tuy trước đó, hai năm cuối ở ĐH Bách khoa, ông không hề đạt danh hiệu này. Thế nhưng, ông ta lại cả gan khai là đạt chiến sĩ thi đua năm năm liền. Thế mới liều.

Chưa hết, đợi thêm hai năm nữa, ông lại khai bảy năm liên tục chiến sĩ thi đua tại thời điểm đề nghị khen thưởng Huân chương Lao động hạng ba năm 2013 (tính thành tích từ năm 2006 đến 2013).

Tưởng thật – đồng nghĩa với việc bị ông Ngoạn lừa, Thủ tướng mới ký tặng bằng khen và Chủ tịch nước mới ký tặng Huân chương Lao động hạng ba cho ông.

Ông này còn nổi tiếng về chuyện gian lận, nhập nhèm tiền nong mà nhiều tờ báo đã nói tới. Trang Việt Nam Thời Báo phải kêu lên Ăn gì mà tạp thế, hiệu trưởng ơi! Vì vậy, có người tự động đổi tên ông thành Đặng Vũ… Ngoạm.

Ấy vậy mà cũng được bầu làm chiến sĩ thi đua mấy năm liền thì lạ thật. Có lẽ, cái chức hiệu trưởng làm cho cấp dưới nể hoặc sợ nên người ta phải bầu cho ông ta, chứ trước đó, ông đâu có được.

Nay việc gian lận của ông Hiệu trưởng Đặng Vũ Ngoạn bị lôi ra ánh sáng. Những gì nhờ gian lận mà có thì người ta tước bớt đi. Nếu không có thành tích đuổi học sinh viên Nguyễn Phương Uyên để tỏ lòng trung thành với chế độ thì có lẽ người ta phải tước thêm nữa. Tuy không phải là mất tất cả những gì nhờ gian lận mà có nhưng như thế cũng đủ cho thiên hạ hình dung phần nào nhân cách của vị phó giáo sư tiến sĩ này.

12/11/2015

NTT

Dân tộc Miến Ðiện đáng kính phục

Dân tộc Miến Ðiện đáng kính phục
Nguoi-viet.com

Ngô Nhân Dụng

Người Việt Nam phải ngả mũ tỏ lòng kính phục dân tộc Miến Ðiện. Cuộc bỏ phiếu ngày Chủ Nhật vừa qua là một bước lớn trên tiến trình dân chủ hóa. Cả nước Myanmar đáng ca ngợi, từ những người dân nghèo nàn, ít học ở thôn quê cho tới các nhà tranh đấu vận động dân chủ; và cả đến đảng cầm quyền mới bị thất cử. Cả ba, chính quyền, đối lập và dân Miến cùng chung một bước vững chắc trên đường xóa bỏ chế độ độc tài lạc hậu đã kéo dài hơn nửa thế kỷ, qua một cuộc bỏ phiếu trong sạch và tự do, hiếm đạt được ở những nước mới bắt đầu thí nghiệm “luật chơi dân chủ” lần đầu.

Phóng viên báo Washington Post phỏng vấn một ngư dân, ông Sein Kyaw Thee, 45 tuổi. Mỗi ngày ông Thee bán cá được số tiền tương đương với 15 đô la Mỹ. Ông nói ông bỏ phiếu cho đảng NLD vì ông kính trọng bà Suu Kyi. Ông hy vọng bà sẽ đem Miến Ðiện tới tương lai phồn thịnh.

Phóng viên hãng thông tấn Al Jazeera của Qatar, một nước Á Rập, thuật lời ông Kyi Win, một thường dân ở thủ đô Rangoon khi nghe tuyên bố đảng của bà Aung San Suu Kyi thắng 70% số ghế trong Quốc Hội: “Chúng tôi đã chờ suốt 50 năm nay! Kết quả này vượt trên cả điều tôi mong đợi!” Ông Kyi Win, 70 tuổi, đã chờ đợi gì? Ông không chỉ chờ ngày bà Suu Kyi chiến thắng. Năm mươi năm trước thì bà Suu Kyi chưa hoạt động chính trị. Ông Kyi Win và những người dân Miến cùng tuổi đã chờ 50 năm, kể từ năm 1962 khi các tướng lãnh cướp chính quyền rồi công bố một thứ chủ nghĩa xã hội bắt dân chúng phải theo, tới ngày hôm nay được sống tự do dân chủ!

Nhà báo cũng phỏng vấn bà Daw Khin Myo Sett, bà đi bỏ phiếu lần đầu tiên. Trong cuộc bỏ phiếu tự do sau cùng mà đảng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ (NLD) do bà Suu Kyi lãnh đạo toàn thắng trước đây 25 năm thì cô mới 14, chưa đến tuổi được đi bầu. Nhóm quân nhân cầm quyền đã xóa bỏ kết quả cuộc bầu cử, bà Suu Kyi bị quản thúc, và từ đó đảng NLD tẩy chay không tham dự bầu cử, cho tới năm 2011. Cử tri Khin Myo Sett năm nay 39 tuổi, mong mỏi điều gì khi đi bỏ phiếu lần đầu? Bà nói: “Tôi hy vọng chính quyền mới sẽ cải thiện giáo dục và hệ thống y tế để cho cuộc sống của con cháu tôi tốt đẹp hơn thế hệ tôi.”

Ðó là niềm ước vọng của 30 triệu người dân Myanmar khi họ dùng lá phiếu hòa bình lật đổ chế độ độc tài trong ngày Chủ Nhật vừa qua! Mà đó cũng là ước vọng của mọi phụ nữ ở khắp Á Châu, đặc biệt ở Việt Nam: cải thiện giáo dục và y tế, vì thế hệ tương lai!

Hơn hai phần ba dân Myanmar sống ở thôn quê, kiếm ăn bằng vườn ruộng và sông hồ, nhiều nơi lợi tức dưới hai đô la một ngày. Phần lớn họ không biết chữ, thua xa nông dân và ngư dân Việt Nam. Phòng bỏ phiếu phải niêm yết những bảng chỉ dẫn bằng hình ảnh cho cử tri biết cách thi hành quyền công dân. Nhưng 80% các cử tri đã đi bày tỏ ý kiến của họ qua lá phiếu, trừ hơn một triệu người thiểu số Rohingya theo Hồi Giáo bị coi không phải là công dân. So với dân Việt Nam, các cử tri Miến Ðiện không phải là những người hiểu biết về chính trị nhiều lắm, họ cũng chưa có kinh nghiệm sống dân chủ bao giờ. Nhưng rõ ràng họ biết một điều: Phải thay đổi chính trị thì đất nước mới tiến bộ! Phải chấm dứt một chế độ tham nhũng bất công và bất lực, chế độ độc tài đã kìm hãm dân trong cảnh nghèo nàn, lạc hậu hơn nửa thế kỷ.

Dân Myanmar may mắn vì những người cầm quyền còn theo luân lý cổ truyền, các tướng lãnh cai trị chuyên chế với các chính sách ngu dốt nhưng vẫn biết tôn trọng các quy tắc đạo lý do tổ tiên để lại chứ không thờ phụng một chủ nghĩa ngoại lai hủy diệt tôn giáo và gia đình. Các ông tướng trong đảng cầm quyền đã nghĩ lại, biết đặt lợi ích của dân tộc lên trên quyền lợi đảng phái và cá nhân. Cho nên năm 2011, các tướng lãnh đã quyết định thay đổi hệ thống chính trị, dù biết họ sẽ mất những quyền hành, lợi lộc mà họ đã từng hưởng. Tổng Thống Thein Sein và bà Suu Kyi tin tưởng và hợp tác với nhau cùng hướng dẫn nước Myanmar trên đường dân chủ hóa.

Chính quyền và quân đội sẵn sàng tôn trọng kết quả cuộc bỏ phiếu vừa qua. Kết quả bầu cử công bố trên màn ảnh truyền hình cho toàn dân coi. Ngay tại thủ đô Naypyidaw do các ông tướng mới lập ra đảng NLD cũng thắng thế mặc dù đa số dân ở đó là gia đình các công chức và quân đội, thân chính quyền. Kết quả bất ngờ này chứng tỏ công việc bỏ phiếu và kiểm phiếu hoàn toàn trong sạch. Cả tờ báo của đảng cầm quyền cũng viết bài ca ngợi, gọi cuộc bỏ phiếu vừa qua là “Rạng đông mở đầu một thời kỳ lịch sử mới!” Ông Shwe Mann, chủ tịch đảng Liên Minh Ðoàn Kết và Phát Triển, USDP, đang nắm quyền, cũng là chủ tịch Quốc Hội đương nhiệm, gọi điện thoại chúc mừng đối thủ U Than Nyunt thuộc đảng NLD để chấp nhận thất cử. Gần đây ông còn có nhiều hy vọng sẽ lên làm tổng thống, nếu thỏa hiệp được với đảng NLD.

Bà Aung San Suu Kyi và đảng NLD chiến thắng, Nhưng cuộc tranh đấu cho tự do dân chủ của họ, và của dân tộc Myanmar, chưa chấm dứt. Trong những ngày sắp tới, Liên Minh NLD và bà Suu Kyi sẽ tiếp tục đấu tranh, nhưng phải chấp nhận “giao đấu theo luật chơi,” mặc dù luật chơi chưa hoàn toàn dân chủ như họ mong muốn. Ðây cũng là một hiện tượng tự nhiên, vì thực ra dân chủ tự do là một cuộc vận động liên tục không biết bao giờ chấm dứt, vì xã hội loài người thay đổi và không một chế độ dân chủ nào có thể coi là đã hoàn hảo.

Một vết đen trong cuộc bỏ phiếu vừa qua là 1,300,000 người không được coi là công dân, vì họ thuộc sắc dân Rohingya và theo Hồi Giáo, đã từ bán đảo Ấn Ðộ chạy qua sống ở Miến Ðiện. Ðảng NLD cũng chưa dám lên tiếng bênh vực cho những người Rohingya bởi vì không dám chống lại đầu óc kỳ thị của những người không hiểu biết. Ðây là một điểm khiến dư luận quốc tế chỉ trích người dân Miến và đảng NLD cũng như bà Suu Ky. Nhưng họ đành phải chịu, không thể làm gì hơn được, vì cần phải nhiều thời gian mới có thể thay đổi dân trí.

Các đại biểu Quốc Hội thuộc đảng NLD và bà Suu Kyi còn phải làm việc trong khuôn khổ một bản Hiến Pháp do chế độ quân phiệt soạn ra. Chỉ có một cách xóa bỏ óc kỳ thị nhanh chóng là ghi thêm một tu chính án vào Hiến Pháp, xác định quyền bình đẳng giữa các chủng tộc, tôn giáo; đồng thời Quốc Hội phải làm lại luật về quyền nhập tịch của các di dân. Cả hai điều này sẽ còn bị trở ngại vì dù thắng 70% số phiếu, đảng NLD chưa nắm được toàn quyền hành động.

Trước hết, trong cuộc bỏ phiếu ở Quốc Hội vào Tháng Ba năm tới đảng NLD không thể bầu bà Aung San Suu Kyi lên làm tổng thống. Vì bản Hiến Pháp hiện hành cấm những người có vợ, hay chồng, và con quốc tịch nước khác được ứng cử tổng thống. Bọn quân phiệt trước đây đã ghi điều này vào Hiến Pháp chỉ cố để ngăn cản bà Suu Kyi, vì chồng con bà đều quốc tịch Anh. Ðảng NLD cũng không thể bỏ phiếu thay đổi Hiến Pháp, vì muốn tu chính Hiến Pháp cần hội đủ hơn 75% số đại biểu trong Quốc Hội. Hiến Pháp hiện hành lại dành sẵn 25% số ghế cho quân đội, nghĩa là do các tướng lãnh chọn. Do đó, nếu khối đại biểu quân nhân đó không chịu thì không thể nào sửa Hiến Pháp.

Do đó, đảng NLD phải đưa ra mọt ứng cử viên tổng thống khác bà Suu Kyi. Trong năm qua họ đã điều đình với phe quân nhân tìm một người được họ chấp nhận để bầu làm tổng thống, có thể là ông Thein Sein, hoặc ông Shwe Mann, nếu phe quân nhân đồng ý sẽ tu chính Hiến Pháp. Cuối cùng họ không đồng ý. Ðảng LND cũng có thể đưa ra một tướng lãnh khác, như cựu tổng tư lệnh, Tướng Tin Oo, một người vẫn ủng hộ bà Suu Kyi; nhưng ông Tin Oo đã 88 tuổi.

Dù sang năm ai sẽ lên làm tổng thống thì cũng không thay đổi được bản Hiến Pháp, trong đó các chức vụ bộ trưởng quốc phòng, nội an và an ninh biên giới phải do ông tướng tổng tư lệnh chọn! Muốn sửa đổi điều này, cũng cần trên 75% số phiếu trong Quốc Hội!

Bà Suu Kyi và đảng NLD cũng sẽ phải làm việc trong khuôn khổ chật hẹp của bản Hiến Pháp; chờ đến ngày có cơ hội thay đổi Hiến Pháp. Dù chiếm đa số, đảng NLD cũng còn phải hợp tác với các đảng chính trị nhỏ, tổng cộng gần 90 đảng, rất nhiều đảng chỉ đại diện cho các nhóm thiểu số ở địa phương.

Tóm lại, dù thắng lớn trong cuộc bầu cử ngày Chủ Nhật, Aung San Suu Kyi sẽ còn phải hoạt động trong khuôn khổ một Hiến Pháp do chế độ cũ soạn ra.
Bà sẽ phải tôn trọng Hiến Pháp đó cho tới khi có thể thay đổi. Ðảng NLD quyết định tham dự cuộc bầu cử vừa qua cho thấy họ và bà Suu Kyi tin tưởng hai điều. Thứ nhất, cuộc bỏ phiếu sẽ diễn ra trong sạch, thẳng thắn, phe quân nhân không tìm cách gian lận. Thứ hai, dân chúng Miến Ðiện muốn thay đổi chế độ. Cả hai đều diễn ra như họ mong đợi.

Bây giờ, đảng NLD phải đóng vai trò mới, trở thành một đảng cầm quyền, dù quyền hành còn bị hạn chế. Họ không thể dành hết thời giờ cho việc tranh đấu đòi sửa Hiến Pháp. Dân bầu họ vào Quốc Hội để lo cho cả 30 triệu người, chứ không phải chỉ lo cho một số chính trị gia. Khi chấp nhận tham gia tranh cử, họ cũng chấp nhận các luật chơi, theo đúng luật chơi, chờ tới ngày có thể sửa luật chơi cho tiến bộ hơn. Dân chủ hóa là một con đường rất dài, tiến từng bước một, được một bước rồi lại tính thêm tiến thêm các bước khác.

Trong mấy năm tới đảng NLD sẽ phải chứng tỏ khả năng cai trị. Phải đưa ra những đạo luật thay đổi cuộc sống của người dân, cải thiện giáo dục, y tế, phát triển kinh tế, bảo vệ công bằng xã hội. Cầm quyền là một thử thách lớn, còn khó hơn khi đóng vai đối lập tranh đấu cho dân chủ tự do. Tranh đấu nhằm cổ động nâng Dân Khí lên cao. Qua những cuộc bầu cử vừa qua, dân tộc Miến Ðiện cho thấy Dân Khí đã rất cao. Dân tộc đang phục sinh. Bây giờ có quyền bính trong tay, đảng NLD còn phải lo nâng cao Dân Trí và phục vụ Dân Sinh nữa. Người Việt Nam nhìn tấm gương Miến Ðiện để tính sao cho dân tộc mình có thể cùng tiến bước được như họ.

Từ cái chết của em Đỗ Đăng Dư và hai luật sư bị đánh: Hành xử của Công an Hà Nội nói lên điều gì? – Phần I

Từ cái chết của em Đỗ Đăng Dư và hai luật sư bị đánh: Hành xử của Công an Hà Nội nói lên điều gì? – Phần I

RFA

Một cái chết oan khuất và sự lúng túng của Công an Hà Nội

Có lẽ, cái chết của Đỗ Đăng Dư, một trẻ vị thành niên 17 tuổi do bị đánh chết sẽ không ồn ào và không tạo nên nhiều hệ quả như thời gian vừa qua, nếu cái chết của em không phải ở trong đồn Công an.

Câu chuyện bắt nguồn từ việc em này đã trộm số tiền 1,8 triệu đồng bị bắt và đã trả lại. Nhưng em vẫn bị Công an Chương Mỹ bắt đi giam cầm và kết quả là cái chết khuất tất trong nơi tạm giam. Vụ bắt bớ này, theo các luật sư, thì Công an đã vi phạm nguyên tắc tố tụng hình sự khi bắt giữ trẻ em vị thành niên mà không đúng với các quy định pháp luật.

Điều cần nói ở đây, không chỉ là việc bắt bớ có nhiều vấn đề khuất tất mà sau khi em bị đánh trọng thương, cũng như sau khi đưa em đến bệnh viện và chết, nhiều động tác của Công an Hà Nội cũng như hệ thống báo chí, truyền thông không kịp thời nắm bắt, điều tra… đã bộc lộ những điều không thể không nghi ngờ.

Việc giam giữ trẻ vị thành niên một thời gian dài trong trại, mà bà mẹ chỉ nghĩ rằng em bị giữ mấy ngày rồi sẽ về, không hề biết con mình được đối xử thế nào, cũng như sau khi bị đánh trọng thương đưa đến bệnh viện, vẫn bị canh giữ bằng công an các loại. Người nhà cũng bị hạn chế không được vào chăm sóc cho em những ngày cuối đời. Điều này không chỉ nói lên việc vi phạm pháp luật về tố tụng, mà còn nói lên tình người và đạo đức thông thường của lực lượng công an như thế nào trước một mạng người. (Hình: Đỗ Đăng Dư chết sau khi vào nơi tạm giữ)

Không chỉ vậy, khi mạng xã hội đưa tin liên tục và làm nóng các diễn đàn trong và ngoài nước, các báo chí trong nước im bặt. Chỉ đến khi, tờ báo của ngành công an đưa bản tin, như bản kết tội người đã chết, thì các báo chí khác mới đua nhau… chép lại.

Cái lý do đưa ra từ phía công an là em bị dánh bởi một phạm nhân vị thành niên đã khó đứng vững trước nghi ngờ của dư luận xã hội. Bởi trong mấy ngày khi dư luận nóng lên đến mức độ căng thẳng, phía công an gần như im hơi lặng tiếng, chỉ lo canh giác người nhà và những người quan tâm. Và, ngay cả nếu em Dư có bị đánh chết bởi phạm nhân trong trại tạm giam, thì vẫn là trách nhiệm của ngành Công an về cái chết này.

Vì sao dư luận bức xúc?

Sở dĩ cái chết của em được chú ý nhiều trên mạng xã hội và sau đó là trên các phương tiện truyền thông nhà nước, bởi những vụ chết trong đồn Công an Việt Nam ngày càng nhiều và ngày càng có lắm khuất tất. Bởi theo giải thích của ngành công an thì đã có rất nhiều người “đến đồn công an để tự tử” (!). (Hình: Một người “tự tử bằng treo cổ” ở tư thế ngồi trên mặt đất)

Thậm chí, báo chí còn phải kêu lên rằng: “Dễ như treo cổ trong đồn Công an”. Ở đó, người ta thống kê mấy vụ nổi bật như “ Ngày 20.12, anh H. có dấu hiệu sử dụng ma túy bị công an phường Tân Đông Hiệp, thị xã Dĩ An bắt về trụ sở. Sáng hôm sau, cán bộ phát hiện anh H. treo cổ bằng thắt lưng của mình.

Ngày 15.2.2012, các cơ quan chức năng tỉnh Bình Dương cũng ra kết luận về cái chết của anh Nguyễn Công Nhựt, một thủ kho tại công ty Kumho đóng trên địa bàn tỉnh. Theo đó, cái chết của anh Nhựt là do treo cổ tự tử chết trong trụ sở công an.

Ngày 14.9.2012, tại trụ sở công an thị xã Long Khánh, người ta phát hiện anh Hồ Long Giang, 27 tuổi, chết ở tư thế treo cổ. Trước đó, lúc 16 giờ 30 cùng ngày anh Giang còn ăn cơm bình thường, nhưng đến hai giờ đồng hồ sau thì treo cổ tự tử…”

và “Việc Tư bị bắt không ai trong nhà hay biết. Cho đến khoảng 9 giờ sáng hôm sau, công an xã đến báo tin thì gia đình tôi mới biết. Tại trụ sở công an xã, tôi thấy Tư chết trong tư thế quỳ gối dưới sàn nhà, hai tay co cụm lại trước ngực, treo cổ lên cửa sổ bằng một cái mền” – ông Ba nói.” (Hình minh họa: Ông Hoàng Văn Nghi bị tra tấn đến chết trong đồn Công an Đak Nông, nhưng được coi là tự tử)

Nhiều người đang yêu đời, khỏe mạnh bị đưa về đồn, chỉ vài ngày sau được chết một cách bí ẩn, bởi nhiều lý do, mà nhiều khi lý do được đưa ra như một sự chọc tức thiên hạ.

Rất nhiều vụ việc được công an giải thích rằng nạn nhân treo cổ, với thi thể bầm tím và đủ các loại vết thương…

Đây là chuyện lạ hiếm có trên đời. Bởi theo lệ thường và tại các nước văn minh, thì đồn công an là nơi bảo vệ người dân khi có nguy hiểm, nếu họ có bất cứ một vấn đề gì ảnh hưởng đến tính mạng, thì lẽ thường, đồn công an là nơi họ cần tìm đến để bảo vệ họ. Hà cớ gì họ phải vào đồn công an để tự tử, thậm chí có người được thả về nhưng không về mà ở lại đó để tự tử? Rồi cảnh những công dân tự tử treo cổ ở tư thế ngồi trong đồn công an được đưa ra giải thích cho cái chết của công dân, đã trở thành chuyện hài hước chỉ có Việt Nam.

Những sự bất thường đó, được lặp đi lặp lại khắp nơi và trở thành một đề tài để người dân chú ý.

Và hầu hết, những vụ dân chết trong đồn công an với bất cứ lý do gì, thì các cơ quan công quyền, công an… hầu hết đều vô tội và nguyên nhân cái chết đều do nạn nhân.

Thực chất, không cần nói thì người dân ai cũng hiểu, hiện tượng ép cung, tra tấn trong đồn công an không phải là chuyện lạ ở Việt Nam, dù đã rất nhiều tiếng nói, nhiều vụ án đã được đưa ra, nhưng tình hình không có gì thay đổi mấy. Và dù Việt Nam đã ký vào công ước chống tra tấn đi nữa, thì vấn đề vẫn cứ như cũ mà thôi.

Mới đây, một công dân đã tự tử sau khi từ đồn công an về nhà và để lại một bức thư cho vợ để tố cáo việc ép cung. Điều này nói lên mức độ sử dụng bạo lực và nhục hình để nhằm khai thác thông tin và ép tội phạm nhân đến mức độ nào.

Liệu có thể chấm dứt trình trạng ép cung và dùng nhục hình?

Hậu quả của việc ép cung, nhục hình và tra tấn là hàng loạt án oan, tù oan đang chiếm một tỷ lệ rất lớn trong số các vụ án ở Việt Nam, theo con số được báo chí cho biết là hơn 10% – một tỷ lệ khủng khiếp.

Theo báo cáo của Bộ Công an, nhu cầu cho biết số chỗ tạm giữ cần 43.000 chỗ theo quy hoạch; chỗ tạm giam là 46.000. Tổng cộng là có gần 100.000 công dân được đưa vào hệ thống tạm giam, tạm giữ. Vậy con số tù nhân chính thức sẽ là con số không hề nhỏ. Do đó có thể thấy rằng với tỷ lệ hơn 10%, thì có hàng chục ngàn công dân vô tội vẫn tiếp tục chịu án oan, án sai và thậm chí bỏ mạng.

Mới đây, để phụ họa cho tội ác đưa người lương thiện vào tù, một ông thầy chùa quốc doanh là Thượng Tọa Thích Thanh Quyết đã dùng cả nhà Phật và lịch sử để chứng minh việc oan sai, việc chết một số người là bình thường, là công an vẫn cứ giỏi. Thế nhưng, với những người bình thường, việc tước đoạt quyền tự do, quyền sống của hàng chục ngàn người một cách vô lý bởi chính cơ chế độc tài là điều không ai chấp nhận được, chứ chưa nói đến một người tu hành không được phép sát sinh.

Đề cập tình trạng bức cung, nhục hình với người bị tạm giữ, tạm giam, đại biểu Trương Trọng Nghĩa cho rằng số lượng và mức độ nghiêm trọng đang gia tăng, “vượt khỏi vòng kiểm soát”.

Để chấm dứt trình trạng ép cung, tra tấn, dùng nhục hình, các nền tư pháp thế giới đã buộc phải tuân theo nguyên tắc của một nhà nước Tam quyền phân lập – Nghĩa là Tòa án tuyên án công dân hoàn toàn căn cứ luật pháp và tranh tụng trên cơ sở pháp luật mà không chịu “sự lãnh đạo sáng suốt” nào làm áp lực, chỉ đạo án.

Thế nhưng, ở Việt Nam, tư duy “lãnh đạo sáng suốt và toàn diện” không thế chấp nhận điều này. Nguyễn Phú Trọng coi rằng đó là “suy thoái”, chỉ vì sự cai trị độc tài.

Tuy nhiên, đã có nhiều tiếng nói đòi hỏi chấm dứt hiện tượng trái lương tâm, đạo đức làm người, luật pháp quốc tế trong việc ép cung, tra tấn và nhục hình. (Hình: Thích Thanh Quyết: “Thời nhà Lê, vua Lê còn xử oan cho Nguyễn Trãi, một công thần của mình trong vụ án Lệ Chi Viên. Nhà Phật chúng tôi, có nghìn mắt, nghìn tay nhưng vẫn có câu chuyện xử oan cho Thị Kính đến khi chết”)

Mới đây, trước những hiện tượng dùng nhục hình, bức cung, tra tấn các nghi can, phạm nhân, nhiều đại biểu Quốc hội đã đề nghị tách cơ quan giam giữ ra khỏi Bộ Công an, đưa về Bộ tư pháp. Nhưng có lẽ còn lâu điều này mới thực hiện được vì nhiều lý do. Bởi như vậy thì công an điều tra đâu có quyền hành xử hoàn toàn tự do đối với công dân khi rơi vào tay họ? Ngoài ra, hệ thống nhà tù cũng là nguồn thu vô cùng lớn đối với ngành này từ việc giam giữ tù nhân và kinh doanh trên mạng sống của họ.

Theo thông lệ và luật lệ quốc tế, việc các nghi can được quyền có luật sư bào chữa ngay từ đầu vụ án. Điều này đã bị hạn chế ở Việt Nam bằng chính cái quy định “phải được cơ quan điều tra cho phép”. Mà cơ quan điều tra cho phép sự có mặt của luật sư khi hỏi cung, thì làm sao có thể khai thác nghi can, làm sao có thể dùng nhục hình, ép cung và mớm cung, tra tấn tù nhân “bằng biện pháp nghiệp vụ”?

Khi Quốc hội bàn về “quyền im lặng” của công dân, đã là một phép thử của hệ thống công an điều tra của Việt Nam. Đó là quyền của công dân được im lặng trước quá trình điều tra buộc tội mình mà không cần chứng minh mình vô tội. Điều này, chính các nhân vật của ngành công an đã phản ứng dữ dội nhất.

Tại sao lại thế?

Chỉ vì, nếu để cho bị cáo quyền im lặng, thì “cản trở quá trình điều tra” – Nghĩa là việc buộc nghi can phải khai bằng cách nào đó là việc đương nhiên. Nếu không có điều này, thì việc điều tra “bị cản trở”(!). Chính tư duy này là nền móng cho việc cơ quan điều tra ép cung, tra tấn, dùng nhục hình với công dân

Vì vậy, nếu vẫn cứ duy trì mô hình nửa dơi, nửa chuột là “Nhà nước pháp quyền XHCN” kiểu này, thì xin thưa rằng, việc chống nhục hình, tra tấn là một việc hết sức khó khăn cho ngành công an hiện nay, dù ngành công an đã được ông Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Đình Quyền cho rằng, “cơ quan điều tra Việt Nam là một trong những cơ quan giỏi nhất thế giới, phá án rất nhanh”.

Hà Nội, ngày 12/11/2015

·       J.B Nguyễn Hữu Vinh

Nhạc sĩ Anh Bằng qua đời, thọ 90 tuổi

Nhạc sĩ Anh Bằng qua đời, thọ 90 tuổi
Nguoi-viet.com

Đức Tuấn/Người Việt
ORANGE, CALIFORNIA (NV) – Nhạc sĩ Anh Bằng qua đời lúc 9 giờ tối, ngày Thứ Năm, 12 tháng 11, 2015, tại tư gia ở Orange Hill, Orange, California, thọ 90 tuổi. Theo tin của người cháu ruột, là ông Trần Thăng.

Nhạc sĩ Anh Bằng. (Hình: Trung Tâm Asia cung cấp)
Nhạc sĩ Anh Bằng sinh năm 1925, tại Thanh Hóa. Trong 60 năm sinh hoạt văn nghệ, nhạc sĩ Anh Bằng để lại một di sản âm nhạc đồ sộ, gồm trên 600 ca khúc, trong đó có khoảng 200 tác phẩm được chính thức trình làng. Trong số này, có những ca khúc nổi tiếng, như “Nỗi Lòng Người Đi,” “Đêm Nguyện Cầu,” “Nửa Đêm Biên Giới,” “Anh Còn Nợ Em,” “Anh Còn Yêu Em”…
Tám năm trước, trước chuyến đi lưu diễn Úc Châu, bác sĩ khám phá ông bị ung thư gan. Sau đó căn bệnh được chữa trị và tạm ngừng. Vài tháng trở lại đây, bệnh tái phát, nhưng chuyển sang loại ung thư khác.
Đầu tháng 11, khi bệnh trở nặng, ông vào bệnh viện cấp cứu. Lúc ấy, các bác sĩ cho biết thời gian còn lại của ông không còn bao lâu nữa.
Nhạc sĩ Anh Bằng ra đi để lại rất nhiều đau buồn cho giới ca sĩ, nghệ sĩ, báo chí, truyền thông, và số đông khán giả, những người yêu thích, ngưỡng mộ dòng nhạc của ông.
Nhật Báo Người Việt sẽ cập nhật và gửi đến độc giả tin tức liên quan đến tang lễ nhạc sĩ Anh Bằng.

Hà Nội: Bắt cóc luật sư để phá áp lực đòi khởi tố người đánh luật sư

Hà Nội: Bắt cóc luật sư để phá áp lực đòi khởi tố người đánh luật sư
Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – Một luật sư dự trù cầm đầu đoàn luật sư đến gặp Viện Kiểm Sát, giám đốc công an Hà Nội và cũng là “đại biểu Quốc Hội” đã bị một nhóm người “lôi đi như chó, lợn.”

Luật Sư Trần Vũ Hải công bố trên trang facebook, “Ðơn tố cáo bắt giữ người trái pháp luật và xâm phạm nhân phẩm, thân thể, danh dự của công dân,” cáo buộc một nhóm người mặc thường phục nhưng tự nhận là công an dùng sức mạnh đám đông cưỡng bách ông đến trụ sở công an phường Xuân La, quận Tây Hồ, Hà Nội.


Luật Sư Trần Vũ Hải ra khỏi đồn công an phường Phương La trong sự hậu thuẫn của các người dân oan khiếu kiện tại Hà Nội. (Hình: Facebook)

 

Vụ việc xảy ra, như ông kể trong đơn tố cáo, lúc 8 giờ kém 15 phút sáng Thứ Năm, 12 tháng 11, 2015, ông ra khỏi nhà ở chung cư Ciputra chuẩn bị đi làm. Ông bị một nhóm người lạ mặt mặc thường phục và cũng không xưng danh tính chặn lại. Ông đã vội vàng thông báo cho vợ con và cho một số luật sư đồng nghiệp biết sự việc.

Nhóm người lạ mặt dùng vũ lực lôi ông lên một chiếc xe chở về trụ sở công an phường nói trên. Trong đơn tố cáo, ông Trần Vũ Hải liệt kê ra nhiều việc vi phạm pháp luật, xúc phạm thân thể, nhân phẩm và danh dự công dân của đám công an CSVN cả từ lúc bắt ông bất hợp pháp đến khi giữ ông ở trụ sở công an.

“Tại công an phường Xuân La, tôi yêu cầu lập biên bản bắt giữ tôi trái pháp luật, nhưng họ không làm gì cả. Trong lúc ngồi ở Xuân La, họ bao vây tôi, không cho tôi ra khỏi phòng, thực sự họ đang giữ trái pháp luật tôi tại công an phường Xuân La.” Luật Sư Trần Vũ Hải viết trong đơn tố cáo.

Theo ông kể, sáng ngày Thứ Năm, ông dự trù cùng với hai luật sư Trần Thu Nam và Lê Văn Luân và nhiều luật sư khác đến Viện Kiểm Sát, văn phòng Tướng Nguyễn Ðức Chung, giám đốc công an thành phố Hà Nội lại cũng là “đại biểu Quốc Hội” để gửi đơn trực tiếp yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với những kẻ đã hành hung hai luật sư Trần Thu Năm và Lê Văn Luân vào ngày 3 tháng 11, 2015 vừa qua.

Tin tức về việc làm của Luật Sư Trần Vũ Hải và các đồng nghiệp được phổ biến rộng rãi trên các trang facebook đã dẫn tới việc ngang nhiên bắt giữ ông. Từ chuyện nhận làm trưởng nhóm luật sư đứng ra bảo vệ quyền pháp lý cho hai luật sư (Nam và Luân) bị hành hung, ông Trần Vũ Hải cũng trở thành nạn nhân của một chế độ mà guồng máy công an nằm ở bên trên pháp luật.


Dân oan kiên nhẫn biểu tình đòi thả Luật Sư Trần Vũ Hải. (Hình: Facebook)

“Tôi đánh giá việc cố tình bắt giữ trái pháp luật tôi trong sáng nay và cả ngày hôm nay nhằm ngăn trở tôi thực hiện vụ luật sư cho các đồng nghiệp bị hành hung và thực hiện quyền công dân gặp giám đốc công an để yêu cầu cung cấp thông tin và yêu cầu trách nhiệm giải quyết những sự việc trên” (tức khởi tố vụ án hành hung hai luật sư).

Luật Sư Trần Vũ Hải, trong đơn tố cáo, đòi hỏi không những phải khởi tố hình sự vụ hành hung hai luật sư Nam và Luân mà cả vụ “bắt giữ người trái pháp luật” mà ông là nạn nhân.

Luật Sư Trần Vũ Hải yêu cầu “cung cấp cho tôi và các luật sư của tôi những văn bản mà những người nhân danh công an đã sử dụng để bắt giữ trái pháp luật tôi. Tôi khẳng định không có căn cứ pháp lý nào để bắt giữ tôi trong ngày hôm nay.”

Vì công an phường Xuân La không lập biên bản bắt giữ ông nên ông đã viết đơn tố cáo. Dù vậy, chúng có được những kẻ có trách nhiệm làm đúng bổn phận của các cơ quan “bảo vệ pháp luật” hay không lại là chuyện khó lòng xảy ra.

Khi xảy ra vụ bắt giữ Luật Sư Trần Vũ Hải, hàng trăm dân oan và những người đấu tranh dân chủ hóa Việt Nam đã tập trung bên ngoài trụ sở công an phường Xuân La với các biểu ngữ phản đối bắt người trái pháp luật. Tham tán Ðại Sứ Quán Ðức nghe tin cũng tới nơi vì lo lắng cho ông.

Theo blog Tễu, tại đồn công an Xuân La, Luật Sư Trần Vũ Hải tuyên bố 3 điều: “Cực lực phản đối việc bắt giữ trái pháp luật của công an Hà Nội. Sẽ tuyệt thực bắt đầu từ trưa nay. Nếu uất ức cao độ, sẽ tự vẫn để phản đối nhà cầm quyền Hà Nội.” (TN)