Ăn cơm Australia, thờ ma China

Ăn cơm Australia, thờ ma China

GS Nguyễn Văn Tuấn

Sáng hôm qua có chuyện phải đi chợ, và thấy hai cảnh hay hay, nên ghi lại cái note. Cảnh thứ nhất là trái vải của VN đã có mặt ở Sydney (với cái giá hơi đắt, 16 đôla/kí). Cảnh thứ hai là thấy một nhóm activists (nhà hoạt động) vận động người Úc lên tiếng ngăn chận chính sách mà họ cho là thù hận với Tàu. Thấy cách họ làm làm tôi phải nhại câu nói nổi tiếng trước 1975 và đặt tên cho họ là “Ăn cơm Australia, thờ ma china”.

Ở Úc, cũng như trong các xã hội dân chủ khác ở phương Tây, có rất nhiều nhóm đấu tranh cho rất nhiều vấn đề họ quan tâm. Có những nhóm đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội, có nhóm đấu tranh để được quyền mua súng, có nhóm mời gọi người ta theo đạo, có nhóm đấu tranh đòi giảm học phí, v.v. Nói chung là rất phong phú, thật sự là một xã hội tự do và dân chủ, ai cũng có tiếng nói (còn nói có ai nghe hay không là chuyện khác). Phương thức làm việc của họ cũng đơn giản. Họ thường xuất hiện trong các trung tâm shopping, thường là kê một cái bàn, và một đống tờ rơi để phát cho người qua đường. Có khi họ cũng có những thảo luận bỏ túi với người quan tâm.

Nhưng sáng qua tôi thấy có một nhóm … lạ. Lạ là vì họ đấu tranh cho Tàu. Nói là “nhóm”, nhưng trong thực tế chỉ có 3 người, tất cả đều là da trắng tóc vàng, chứ không phải tóc đen da vàng. Trong khi chờ đèn xanh qua đường, tôi nghe loáng thoáng họ hỏi một người là “Bạn có quan tâm đến tình hình Chính phủ Úc càng ngày càng tỏ thái độ thù địch với Tàu?” Anh chàng kia nói “Không”. Anh chàng tuyên truyền nhấn mạnh “Bạn không quan tâm? Nó có ảnh hưởng trực tiếp đến tất cả chúng ta và sự tồn tại của Úc”. Anh chàng kia trả lời tỉnh queo: “Không, tôi không quan tâm, và tôi nói cho anh biết nhé: tôi không thích China, OK.”

Thấy không chiêu dụ được anh kia, anh ta quay sang tôi, và cũng hỏi câu đó: Bạn có quan tâm. Tôi thấy chắc phải tiêu ra vài phút với anh chàng này, tôi tạm gọi là anh chàng China. Chàng China hỏi tôi là có biết Chính phủ Úc đang có chính sách thù địch với Tàu, tôi trả lời là biết. Chàng China hỏi tôi vậy chứ biết, thì phải làm gì. Tôi nói rằng tôi hoàn toàn ủng hộ Chính phủ Úc trong nỗ lực ngăn chận sự bành trướng của Tàu.

Anh chàng China có vẻ khựng lại và nói rằng đó là một chính sách nguy hiểm vì sẽ đẩy Úc đối đầu với Tàu, không tốt cho kinh tế Úc. Tôi trả lời rằng Úc và Tàu đã làm ăn mấy mươi năm nay, trong thời gian đó có lúc “up”, có lúc “down”, nhưng chưa bao giờ kinh tế Úc bị đe doạ như bây giờ. Đe doạ là vì Tàu đang mua mỏ, mua nhà, và mua đất của Úc, để rồi mai mốt con cháu chúng ta khó có khả năng mua được một căn nhà để ở. Tôi hỏi anh China rằng anh có muốn thấy cái viễn cảnh anh hay con cháu anh phải đạp xích lô cho mấy người Tàu cộng ngay trên đất Úc này không?

Anh ta nói rằng Chính phủ Úc không bán mỏ cho Tàu là một sai lầm vì kinh tế Úc cần Tàu, ngay cả Mĩ còn chơi với Tàu mà Úc dám chống Tàu là tự sát. Tôi không đồng ý, vì mối quan hệ Mĩ – Tàu không đơn giản như anh ta nghĩ. Còn Tàu là một nước chauvin, nó đang bành trướng, nó đang thực hiện cái gọi là “giấc mơ China” của Tập Cận Bình, và nếu giấc mơ đó thành hiện thực thì đó là thảm hoạ cho thế giới vì một chế độ fascist mới sẽ xuất hiện, và vì thế phải ngăn chận Tàu.

Anh China hỏi tôi là bằng chứng Tàu bành trướng ở đâu? Tôi vỗ vai anh China và nói anh thử đọc tình hình Biển Đông nhé, Tàu nó đang muốn nuốt hết vùng biển Đông Nam Á, nó đang xây thành phố nhân tạo trên đảo mà nó ăn cướp từ Việt Nam, nó đang ăn cướp ngư dân Việt Nam, Phi Luật Tân. Tôi nói thêm rằng anh China làm nghề tuyên truyền này mà không biết đến những việc Tàu nó làm ở Biển Đông thì tốt nhất là anh China nên đi đọc thêm. Thấy tôi nói một mạch, có đầu có đuôi, và có vẻ am hiểu tình hình, nên anh chàng China khựng lại vì thấy rõ ràng là khó tuyên truyền với tôi, nên tỏ vẻ lảng đi …

Nhưng tôi không tha. Tôi hỏi lớn anh chàng China đang làm cho ai, ai đứng đằng sau việc làm của anh. Tôi nói rằng tôi không nói anh là người của Tàu cộng, nhưng anh China đang làm lợi cho Tàu cộng. Tôi hỏi anh rằng anh đang ăn lương hay trợ cấp của ai? Của Úc phải không? Tôi bắt đầu nóng máu, tôi đưa mắt nhìn quanh (lúc này đã có đông người chú ý), rồi nói lớn: tôi đây này, và các bạn đang đứng chung quanh tôi đây, chúng tôi đã và đang đóng thuế để nuôi những người như anh, để rồi các anh quay lại chống lại chúng tôi, các anh thấy như thế là hợp lí không?

Anh chàng China nói lại: Nhưng anh không phải là người Úc. Làm tôi nóng mặt hơn và nói: Anh định nghĩa thế nào là người Úc? Là người định cư ở đây hơn 1000 năm trước? Nếu thế thì tôi và anh đều không phải là người Úc. Nếu định nghĩa là quốc tịch Úc, thì tôi là người Úc đây. Nhưng câu hỏi của anh lạc đề, vì câu hỏi đáng lẽ phải là tôi và anh đã và đang làm gì đem lại lợi ích cho đất nước này. Tôi đem lại lợi ích cho Úc, còn anh thì chống Úc và tôi xem đó là một việc làm thiếu suy nghĩ. Chào anh, tôi phải đi chợ cái đã. Ngạc nhiên là khi tôi hết câu đó, thấy vài người vỗ tay đồng tình. Một buổi sáng mát dạ.

Chế độ tự do dân chủ như Úc có cái hay là nó cho mọi người có quyền tự do ngôn luận và có quyền phát biểu ý kiến đi ngược lại chính quyền. Nhưng cũng chính cái thể chế này đang nuôi ong tay áo, và tôi chợt nhận ra câu “Ăn cơm Australia, thờ ma china” quá thích hợp cho những kẻ như anh chàng China đó. Buồn một điều là mình phải đóng thuế nuôi anh chàng vô dụng đó. Tôi chợt tự hỏi ở VN mình có bao nhiêu người đang ăn cơm Việt Nam mà thờ ma Tàu. Con số chắc là nhiều, nhưng khác với Úc là những kẻ này có thể đã chui sâu và leo cao trong hệ thống công quyền VN nên chúng rất nguy hiểm.

Chuyện về một cô gái

Chuyện về một cô gái

 

Tôi vẫn thường lân la đến các trụ sở Tòa án cấp huyện, cấp tỉnh, chỉ để xem lịch xét xử trong tuần, trong tháng. Mục đích của tôi là tìm một vài để tài để viết cho một tờ báo tỉnh lẻ. Một lần, tôi trông thấy một thanh niên. Nhìn sơ qua là biết anh đã bị viêm màng não từ thuở nhỏ. Cặp mắt anh vô hồn, miệng mấp máy những câu vô nghĩa và tay chân cứ động đậy vô thức. Anh ngồi trên chiếc xe lăn, do một người đàn bà có đôi mắt ti hí đẩy đi. Hỏi người thư ký phiên tòa mới biết. Anh là người Đài Loan, đến Tòa để tham dự phiên xét xử vụ ly hôn giữa anh và vợ, một cô gái Việt Nam.

Tôi thắc mắc:

– Luật pháp Việt Nam đâu cho phép người tâm thần kết hôn. Hơn nữa, đây là một vụ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, phải do Chủ tịch UBND tỉnh ký giấy kết hôn mới hợp pháp. Vậy mà tại sao…

Bà thư ký phiên tòa lườm tôi một cái sắc lẻm để ngắt ngang câu hỏi, rồi buông ra một câu nói rất lạnh lùng.

– Chuyện đó là do cấp trên quyết, ông là nhà báo nên giữ mồm giữ miệng.

Tôi chợt nhớ tới câu nói của ông Thường vụ Tỉnh ủy, phụ trách Ban Tuyên Giáo: “Không phải sự thật nào cũng viết báo”. Nên tôi biết phải làm gì để không làm cho “bầu trời chính trị ở Việt Nam không trở nên xám xịt”. Nhưng tôi vẫn tò mò vì sao họ phải ly hôn, nên bước vào phòng xử án để dự khán.

Cô vợ tên là Mai (tôi đã đổi tên thật của cô ta, để tôn trọng vong hồn của một người đã khuất). Số phận Mai giống như nàng Kiều của thời đại năm 2000. Nhà nghèo, Mai phải đi lấy một người chồng nước ngoài, để cho gia đình được đổi đời. Cho dù biết rất rõ, người chồng tương lai đang sống như một người điên dại và hoàn toàn bất lực về sinh lý. Vai trò của Mai ở xứ người không khác gì một bảo mẫu chăm sóc người bệnh tâm thần.

Tôi nhìn Mai đang đứng gần người chồng cứ lắc lư cái đầu, hai bàn tay cà kheo của anh ta hết giơ tên trời, rồi lại chỉ xuống đất. Hai con ngươi trong đôi mắt vô thần mắt hết lác (lé) ra ngoài, sau đó chụm vào gần nhau một cách tài tình đến mức người bình thường không thể nào bắt chước được. Trong khi đó, Mai – một cô gái có thân hình nhỏ nhắn, một gương mặt trái xoan, nước da bánh mật. Đó là vẻ đẹp “hương đồng gió nội” của các cô gái vùng sông nước Miền Tây Nam bộ.

Hồi nhỏ, tôi vẫn thường hay nghe mẹ tôi hát ru cho em tôi ngủ:

Ầu ơ… má ơi đừng gả con xa.
Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu?!

Còn đối với cụ Nguyễn Du trong câu chuyện Đoạn Trường Tân Thanh, ngay từ những câu dạo đầu cũng phải thốt lên.

Lạ gì bỉ sắc tư phong
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.

Nét đẹp của Mai không qua nổi cặp mắt tinh đời của cha chồng. Ông biết rằng đứa con tật nguyền của mình không thể nào thực hiện chức năng của người chồng. Vì thế, ông lén lút vào phòng con dâu để không hoài của. Còn Mai phải âm thầm chịu đựng để cứu cái gia đình túng thiếu ở quê nhà xa tít.
Một hôm, người mẹ chồng của Mai bất ngờ vào phòng con trai và tận mắt chứng kiến cái cảnh cha chồng nàng dâu trên giường trong tư thế không một mảnh vải che thân. Bà đã nổi điên.

Phiên tòa xử vụ ly hôn lần đó là theo kế hoạch của bà mẹ chồng. Một là để cắt đứt mối quan hệ loạn luân của cha chồng nàng dâu, hai là đuổi cổ con đĩ về Việt Nam mà không phải phân chia tài sản.

* * *Như thường lệ, tôi vẫn lân la đến các trụ sở Tòa án để săn tin. Được biết tại xã X, một xã giáp biên với Canpuchia sắp đưa ra xét xử một vụ án “Lây truyền HIV cho người khác” theo Điều 117 của Bộ Luật hình sự.

Đến nơi, tôi tá hỏa vì người đứng trước vành móng ngựa lại là Mai.

Sau khi ly dị chồng, cô không dám về nhà vì sợ tai tiếng. Cô đành phải lên vùng biên giới để hành nghề bán bia ôm, kiêm luôn nghề bán dâm. Người mua dâm thường là những người bên kia biên giới. Nghề này đôi khi cũng túng thiếu, nên thỉnh thoảng Mai về tỉnh, vào bệnh viện để bán máu.

Một ngày kia, sau khi xét nghiệm máu, người ta đã thông báo cho Mai biết: Cô đã bị nhiễm HIV. Chán đời, cô sử dụng cái vốn trời cho của mình một cách hợt, buông thả: Một chầu nhậu cũng cho, một bát phở cũng cho, thậm chí cho không chỉ vì ông ấy có chức có quyền ở địa phương.

Tại phiên tòa, trong phần thẩm vấn, vị Hội thẩm nhân dân đặt ra một câu hỏi hết sức ngu ngốc:

– Tại sao bị cáo biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn có tình lây nhiễm cho người khác, trong đó có cả đảng viên, cán bộ xã ấp?

Thế là Mai bị tuyên án 5 năm tù. Có lẽ cô cũng không buồn vì án này vẫn còn nhẹ so với án tử đang treo lơ lửng trên đầu cô bởi triệu chứng căn bệnh SIDA ngày càng rõ dần.

* * *Mấy năm sau.

Tôi về Bạc Liêu và được mấy anh bạn đồng nghiệp thết đãi ở Nhà hàng công tử Bạc Liêu.

Một đám ma buồn ngang qua. Mấy ông bạn nhanh nhảu, chứng tỏ thạo tin.

– Chết vì SIDA đó! Hồi trước gia đình, giòng họ bà này giàu lắm, địa chủ mà! Cháu ba đời của công tử Bạc Liêu. Sau giải phóng, ông già của bà này là trung úy lính Sài Gòn, phải đi học tập cải tạo, rồi chết trong rừng. Mấy chục mẫu ruộng bị nhà nước tịch thu trong đợt cải tạo nông nghiệp ở Miền Nam. Thành ra, đang giàu trở thành nghèo rớt mùng tơi. Nghe lời thiên hạ! Bả lấy một thằng khùng ở Đài Loan để có ba ngàn đô cứu cái gia cảnh đang lâm vô cảnh bần cùng.

Tôi chợt bán tín, bán nghi lao ra xem cái cảnh đưa đám ma. Di ảnh người chết rõ ràng là Mai.

Tôi lặng người một lát. Sau đó tôi quay vô đám nhậu và uống nhiều đến mức mấy thằng bạn đồng nghiệp phải bái sư.

* * *

Tổng Biên tập mời tôi lên phòng ông và trả lại bản thảo. Mắt ông đo đỏ, ươn ướt:

– Bài này không đăng được, anh hiểu rồi đó!

Tôi vác bản thảo về nhà để lên bàn, rồi thắp một nén hương. Đợi cho nhang tàn, tôi đốt bản thảo và lầm thầm mấy câu:

– Mai ơi! Đây chỉ là một chút lòng thành với em. Ở suối vàng, mong em thảnh thơi. Mai mốt có đầu thai, em nên chọn những gia đình có công với cách mạng để mà sinh ra. Còn anh, chỉ làm bổn phận của một người cầm bút.

Một thời gian sau, tôi trả Thẻ nhà báo, trả thẻ hội viên Hội nhà báo để cho lòng được thanh thản./-

TRẦN ĐẶNG

CÓ NHỮNG LÚC TA CẦN IM LẶNG

CÓ NHỮNG LÚC TA CẦN IM LẶNG

1. Khi người khác buồn phiền, đau khổ

Biết vui với người vui, buồn với người buồn. Đó là động thái của người có giáo dưỡng, tri thức, biết điều, biết cư xử và thấu cảm. Không gì vô duyên hơn khi người khác khóc mà mình lại cười – hoặc ngược lại.

2. Khi người khác suy tư, lao động trí óc
Văn hào W. Goethe xác định: “Tài năng được nuôi dưỡng trong cô tịch”. Thấy người khác trầm tư mặc tưởng, đừng phá “khoảng riêng” của họ. Sự im lặng lúc đó thực sự cần thiết và có ý nghĩa.

3. Khi người khác không hiểu mình
Khi chưa được hiểu, chúng ta cần cởi mở và hòa đồng để người khác có thể hiểu mình hơn – dù không thể hiểu hết. Nhưng nếu bạn cảm thấy người ta thực sự không thể hiểu hoặc không muốn hiểu thì tốt nhất là im lặng. Nếu không, những gì bạn nói có thể gây “dị ứng” hoặc hiềm thù.

4. Khi người khác nói về vấn đề mình không am hiểu

Người khôn ngoan chỉ nói những điều mình biết rõ và hoàn toàn im lặng đối với những gì mình không biết hoặc mơ hồ. Nhà bác học A. Edison nói: “Điều chúng ta biết chỉ là một giọt nước, điều chúng ta không biết là cả đại dương”. Còn hiền triết Socrates thừa nhận: “Tôi không biết gì cả, đó là điều tôi biết rõ nhất”. Chỉ là người bình thường, chúng ta càng cần khiêm nhường mà biết im lặng.

5. Khi người khác khoe khoang, lý sự

Thùng rỗng kêu to. Càng hiểu biết người ta càng ít nói, thâm trầm và cảm thông. Trong 4 phép toán, phép trừ là… “dễ” nhất, nhưng lại đầy ý nghĩa. Chỉ vì ngu dốt nên mới độc đoán, khắt khe hoặc cố chấp. Khoe khoang và lý sự là “đặc điểm” của đầu óc nông cạn, thiển cận. Dốt thì hay nói chữ để cố che lấp khiếm khuyết của mình.

6. Khi người khác không cần mình góp ý kiến

Đừng bao giờ “xía” vào chuyện của người khác hoặc tò mò chuyện của họ. Vả lại, nói nhiều thì sai nhiều. Cibbon nói: “Đàm luận khiến người ta hiểu biết, nhưng im lặng là trường học của sự khôn ngoan”. Im lặng còn là yêu thương, tha thứ, và là cuộc sống.
“Im lặng, lắng nghe, ghi nhớ, hành động và khôn ngoan là 5 cung bậc khác nhau của trí tuệ”. Có thể coi đây là ngũ-cung-sống của cuộc đời. Tóm lại, im lặng là một nghệ thuật kỳ diệu và là cách thể hiện văn hoá cao cấp.

Anh chị Thụ Mai gởi

S.T –

Tượng Chúa Giê su vô gia cư lần đầu tiên xuất hiện trước công chúng bên ngoài nhà thờ Detroit

Tượng Chúa Giê su vô gia cư lần đầu tiên xuất hiện trước công chúng bên ngoài nhà thờ Detroit

Một bức tượng Chúa Giêsu vô gia cư đang ngủ trên ghế đá công viên đã được công bố trước nhà thờ Detroit phục vụ như là sự sưởi ấm cho người vô gia cư.

Tác phẩm điêu khắc bằng đồng này đã được công bố sau Đại Lễ Thánh Phê rô và Phao lô, Tông đồ, hôm Chúa Nhật, 28 tháng 6, tại nhà thờ Dòng Tên Giáo hội Công giáo ở trung tâm thành phố Detroit. Tác phẩm điêu khắc cho thấy một người đàn ông với kích cỡ như người thật nằm trên ghế đá công viên. Hai bàn chân nhô ra khỏi một tấm chăn có mang dấu đinh.

The Detroit Free Press cho biết nghệ nhân Timothy Schmalz đã tạo tác phẩm điêu khắc này. Những bản sao cũng được đặt tại Grand Haven, Michigan; Phoenix; Washington; Chicago; và Charleston, West Virginia.

Tu sỹ Gary Wright là giám quản giáo xứ của Detroit, nói rằng các giáo đoàn hy vọng việc đặt bức tượng này sẽ có “một sự kiện quan trọng cho thành phố.”

Jos. Tú Nạc, NMS

Màu Tím Tình Yêu -Nguyễn Ánh 9 -Hương Giang -JN & Phượng Hồng Phượng Tím -Anh Bằng- Hương Lan -NNS & Hoa Tím Người Xưa -Thanh Sơn -Như Quỳnh -JN

Màu Tím Tình Yêu -Nguyễn Ánh 9 -Hương Giang -JN

httpv://www.youtube.com/watch?v=9dJuc8-sGm0&list=PLA58A132ED3FF1056&feature=em-share_video_in_list_user

Phượng Hồng Phượng Tím -Anh Bằng- Hương Lan -NNS

httpv://www.youtube.com/watch?v=E7VpeoRyfMc&index=16&list=PLA58A132ED3FF1056

Hoa Tím Người Xưa -Thanh Sơn -Như Quỳnh -JN

httpv://www.youtube.com/watch?v=MOaZ1N9-cKc&list=PLA58A132ED3FF1056&index=5

ĐỪNG ĐỂ LỠ CƠ HỘI GẶP CHÚA

ĐỪNG ĐỂ LỠ CƠ HỘI GẶP CHÚA

LM Giuse Nguyễn Hữu An

Đức Giêsu trở về thăm quê nhà.  Ngày Sabat, ngày lễ nghỉ hàng tuần, dân làng đến hội đường nghe đọc sách thánh và hát thánh ca từ 9 giờ đến 12 giờ trưa.

Đức Giêsu và các môn đệ cùng tiến vào hội đường cầu nguyện.  Đọc sách luật và thánh vịnh xong, Đức Giêsu đăng đàn giảng thuyết như một giáo dân tham dự vào chức tư tế.  Vẻ uy nghi trang trọng của Ngài khác thường.  Gương mặt Ngài luôn tỏa ra nét dịu hiền, mến yêu, đầy thiện cảm.  Giọng điệu tự nhiên của Ngài càng hấp dẫn dân chúng hơn.  Ý tứ Ngài trình bày đơn sơ trong sáng hợp với tâm trí mọi người.  Họ cảm thấy thấm thía sự kỳ diệu của nước Thiên Chúa.  Họ cảm nhận lòng nhân ái Chúa Cha trên trời.  Họ cảm phục về tình yêu cứu độ của Thiên Chúa.  Đức Giêsu đòi hỏi mọi người phải sống thương yêu nhau như anh em ruột thịt.  Họ ngạc nhiên thì thầm với nhau: “Bởi đâu ông ta được như thế?  Sao ông ta được khôn ngoan như vậy?  Ông ta làm được nhiều phép lạ như thế nghĩa là gì?”

Họ chẳng biết sự khôn ngoan và quyền phép của Đức Giêsu bởi đâu?  Họ tìm về nguồn gốc chỉ thấy: “Mẹ ông là bà Maria, anh em họ hàng là Giacôbê, Giosê, Giuđa và Simon.”  Tất cả bà con lối xóm đều coi ông như bạn bè từ gần 30 năm nay ở Nagiarét này, một thôn ấp nhỏ bé chỉ có độ 150 gia đình nghèo nàn, tối tăm, mấy ai quan tâm đâu.  Ông lại là anh thợ mộc, con nhà lao động, làm thuê làm mướn, lang thang từ nhà này sang nhà khác, đóng bàn sửa ghế, ráp giường ghép tủ, đục đẽo cầy bừa, thành phần địa vị thấp kém trong xã hội.  Có bao giờ thấy ông nói năng, làm được gì hay lạ đâu?  Ông bỏ quê nhà đi lang thang mấy tháng, nay trở về, sao thay đổi nhanh như thế!  Một quá khứ và hiện tại như thế đã khiến họ vấp phạm.  Họ không tin Ngài là một Ngôn Sứ, lại càng không thể tin Ngài là Mêsia, và chắc chắn họ chẳng bao giờ dám nghĩ rằng mình là người đồng hương với Ngôi Hai Con Thiên Chúa.

Còn Đức Giêsu, ai đã huấn luyện Ngài?  Ai đã ban quyền phép làm những việc kỳ diệu như thế?  Thân nhân bảo Ngài “mất trí.”  Kinh sư chụp mũ Ngài “nhờ tướng quỷ mà trừ quỷ.”  Dân chúng chỉ biết ngạc nhiên: chưa từng thấy ai ăn nói, hành động có uy quyền lạ lùng như vậy.  Môn đệ đi theo sát Ngài cũng chỉ biết hỏi: “Ngài là ai mà bão biển phải tuân lệnh.”  Chẳng thấy ai huấn luyện Ngài, chẳng thấy Ngài học tập kinh sư nào.  Chỉ thấy Ngài vào nơi thanh vắng, ngước mắt lên trời cầu nguyện.  Trong âm thầm Ngài cầu nguyện cùng Chúa Cha trên trời.  Đó chính là bí quyết làm cho Ngài khôn ngoan và đầy quyền phép để trừ hàng ngàn quỷ dữ, chữa hàng trăm bệnh nhân mà loài người phải bó tay, cho kẻ chết sống lại, bắt cuồng phong lặng yên…

Dân làng biết Ngài khôn ngoan.  Kinh sư thấy Ngài trừ quỷ.  Môn đệ được Ngài cứu khỏi chết giữa biển cuồng phong.  Nhưng họ chẳng biết Ngài là Con Một Thiên Chúa, chẳng biết Ngài là Ngôi Hai Thiên Chúa; vì thương yêu loài người, đã xuống thế làm người sống với họ như anh em, như bạn bè, để cứu họ khỏi chết đời đời.

Dân làng Nazarét quá biết về gốc gác, gia cảnh, biết rõ ràng lý lịch của Đức Giêsu.  Với đầu óc thủ cựu, lại nặng thành kiến nên họ không thể nhận ra thiên tính nơi con người của Ngài.  Đức Giêsu trở thành nạn nhân của “chủ nghĩa lý lịch.”  Mc. Kenzie nói: Người có tình yêu nhìn bằng viễn vọng kính, còn người định kiến hẹp hòi nhìn bằng kính hiển vi.”

Còn Đức Giêsu thì luôn âm thầm, kiên nhẫn, nhỏ nhẹ nói với họ bằng câu ngạn ngữ: “Không ai là tiên tri cho xứ sở mình.”  Một câu chuyện quen thuộc nhưng đáng buồn “Ngôn sứ không được quê hương mình chấp nhận.”  Đức Giêsu thật ngạc nhiên vì thấy họ không tin.  Ngài rất muốn giúp đỡ họ nhưng cũng đành phải bó tay.  Họ chỉ biết nhìn Ngài theo lối nhìn bên ngoài đầy thành kiến, chẳng thấy được những điều sâu lắng bên trong, những cái tinh thần cao thượng, những mầu nhiệm thiêng liêng chân thật.

Chuyện ngày xưa cũng như chuyện ngày nay.  Rất nhiều khi chúng ta phán đoán giá trị lời nói của một người dựa trên bằng cấp, sự giàu có, uy tín của họ, nhiều hơn là dựa vào sự hợp lý, tính chính xác của câu nói ấy.  Hễ ai có chức có quyền, có địa vị, có của cải, có học vấn mà nói thì chúng ta cho rằng họ nói đúng.  Còn ai nghèo nàn, rách rưới, thấp cổ bé miệng, ít học mà nói thì ta cho rằng họ nói sai hoặc chẳng có giá trị gì.  Chính vì tâm lý sai lạc này mà các ngôn sứ giả thường được người đời ưu đãi, còn ngôn sứ thật thì thường bị bạc đãi (x. Lc 6, 23.26).  Lối hành xử như vậy là coi trọng của cải, tiền bạc, chức quyền, địa vị chứ không phải là người coi trọng chân lý, công lý và tình thương.  Thực ra, một điều sai trái, dù kẻ nói ra có quyền thế, học vấn hay giàu sang tới đâu thì cũng vẫn là sai trái.  Còn một điều đúng, thì dù người nói ra một đứa trẻ, một người nghèo thì cũng vẫn là đúng.  Lời nói sai đâu thể biến thành đúng, hay lời nói đúng đâu thể biến thành sai vì thế giá hay trình độ học vấn của người nói ra câu nói đó.

Đức Giêsu buồn nhưng không cay cú, không tức giận.  Ngài quyết định đem ánh sáng và quà tặng thần linh đi đến nơi khác.  Những người ở làng quê Nagiarét đã để lỡ cơ hội đón tiếp Đấng Cứu Thế.  Con Thiên Chúa làm một thường dân đến sống giữa họ mà họ không biết.  Họ chỉ biết đó là con ông thợ mộc Giuse.  Họ chỉ biết gia đình Ngài rất nghèo, chẳng có danh giá gì trong làng.  Họ coi thường Ngài.  Họ không tin Ngài.  Họ hất hủi Ngài.  Họ đã để lỡ cơ hội nghìn năm một thuở.  Đức Giêsu không làm một phép lạ nào ở đó.  Ngài bỏ Nagiarét đi đến các làng chung quanh.  Và Ngài sẽ chẳng bao giờ trở lại Nagiarét nữa.  Đó là cơ hội cuối cùng cho họ.

Hằng ngày chúng ta cũng đã bỏ lỡ biết bao nhiêu cơ hội như thế.  Ta đã bỏ lỡ không tiếp đón Chúa đến thăm khi ta bịt mắt không nhìn thấy những cảnh khổ chung quanh; khi ta bưng tai không nghe những tiếng kêu than khóc lóc; khi ta làm ngơ trước những cảnh ngộ nghiệt ngã, khi ta ngoảnh mặt quay lưng trước những nạn nhân của thiên tai hoạn nạn.  Nhất là ta bỏ lỡ không nghe thấy tiếng Chúa cảnh báo để ăn năn sám hối.  Chúa đã nhắc nhở ta nhiều lần nhiều cách: qua các vị bề trên; qua các tai nạn; qua lời khuyên của những người thân; qua lời phê phán của những người thù ghét ta.  Hôm nay, Chúa còn tiếp tục nhắc nhở.  Nếu ta không nghe, biết đâu hôm nay sẽ là lần cuối cùng.  Chúa sẽ không bao giờ nhắc nhở nữa.  Chúa sẽ bỏ ta mà đi như đã bỏ làng Nagiarét và không bao giờ trở lại.  Như thế thì thật nguy hiểm cho linh hồn ta.  Để nhận biết Chúa, ta phải rèn luyện cho mình một đức tin mạnh mẽ.  Ánh mắt đức tin giống như ngọn đèn soi chiếu vào đêm đen giúp ta nhận ra Chúa trong anh em, trong những biến cố Chúa gửi đến.

Để đón tiếp Chúa, ta phải rèn luyện cho mình một trái tim luôn luôn rộng mở yêu thương.  Một trái tim yêu thương sẽ rất bén nhạy để nghe được tiếng nói của Chúa, dù tiếng nói ấy chỉ thì thầm trong sâu thẳm lòng mình; hiểu được những dấu chỉ của Chúa, dù những dấu chỉ ấy chỉ mơ hồ thoáng qua; nhận được khuôn mặt của Chúa, dù khuôn mặt ấy đã bị biến dạng qua những đau thương của cuộc đời.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con tỉnh thức để nhận ra và đón nhận Chúa mỗi lần Chúa đến với con.

Lạy Chúa Giêsu, xin mở con mắt đức tin cho mọi người được thấy những sự khôn ngoan, quyền phép lạ lùng của Thiên Chúa đang âm thầm hoạt động trong Giáo Hội, trong thế giới và cả trong vũ trụ, mà con mắt phàm trần không thể thấy được, để họ biết ca ngợi Chúa muôn đời. Amen.

LM Giuse Nguyễn Hữu An

Người Việt Nam làm “đệm thịt“ bảo vệ Trung Quốc?

Người Việt Nam làm “đệm thịt“ bảo vệ Trung Quốc?

Võ Thị Hảo

RFA

* TQ đã sẵn sàng đưa VN ra trận?

Đến nay, theo nhận  định của nhiều chuyên gia có uy tín, chiến tranh Trung – Mỹ có nhiều khả năng xẩy ra trên biển Đông.

Cuộc xung đột trong khu vực này xuất phát từ việc TQ chiếm cứ và xây dựng các đảo trên quần đảo Trường Sa của VN để mở rộng thêm căn cứ không quân, hải quân về phía Nam, tiến tới giành quyền kiểm soát tất cả các vùng nước của biển Đông, nhằm hạn chế tự do hàng hải và hàng không của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Mỹ.

Đương nhiên là Mỹ và khối đồng minh sẽ không chấp nhận sự ngang ngược đó. Nếu TQ không lùi bước, chiến tranh sẽ xẩy ra.

Phạm vi tàn hại của cuộc chiến sẽ rộng lớn, nhưng là điểm chốt của chiến địa, tổn thất trước hết là VN. Không chỉ trên biển, ngay trên đất liền VN, TQ cũng đã khéo léo chiếm dụng những vùng hiểm yếu có thể sử dụng làm căn cứ địa cho chiến tranh biển Đông. Những đường cao tốc nối từ TQ tới VN ngoài nhiệm vụ cho một cuộc chiến tranh kinh tế triệt hạ VN, cướp công ăn việc làm của người VN, còn một chức năng vô cùng quan trọng là để chuyển quân, lương thực vũ khí để chỉ trong vài giờ đã có thể san phẳng VN và tiến ra biển Đông đọ sức với phe Mỹ.

* Địa ngục trần gian

Chiến tranh của thế kỷ 21 khác xưa. Đã kết thúc từ lâu cái thời VN có thể tự hào dùng hầm chông, lối đánh du kích, súng bắn tỉa và hầm bí mật để đánh giặc.

Chiến tranh Trung – Mỹ sẽ là cuộc đối đầu giữa hai cường quốc quân sự với những vũ khí siêu tối tân với khả năng hủy diệt rộng lớn. Và cũng không loại trừ chiến tranh hạt nhân.

Phó Viện trưởng về nghiên cứu toàn cầu của Viện Công nghệ Hoàng gia Melbuorne(Úc) khẳng định: Mỹ và TQ đang chực chờ xông vào một cuộc chiến, bất kể giữa hai nước đang tồn tại một sợ dây quan hệ kinh tế không thể tách rời. Biển Đông trở thành ngòi nổ chiến sự.

Theo báo cáo của Viện nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm, hiện nhiều nước đang gấp rút nâng cấp kho vũ khí hạt nhân.

“Nói trắng ra, một cuộc chiến Mỹ – Trung sẽ là địa ngục trần gian. Nhiều khả năng thế chiến thứ 3 sẽ bắt đầu trong thời gian tới đây. Sẽ có hàng triệu, thậm chí hàng tỉ người chết bởi vũ khí hạt nhân. Những người may mắn sống sót sẽ phải đối mặt với tình trạng nền kinh tế toàn cầu sụp đổ. Đó là tất cả những gì mà thế giới sẽ phải chứng kiến khi giữa hai cường quốc của thế giới xẩy ra xung đột vũ trang“(theo nguoivietaz.com.us).

Mọi người đều biết rằng, nếu VN đứng về phía TQ, giống một nước chư hầu cong tấm lưng còng bọc lấy đất TQ trước biển Đông như hiện nay, thì sẽ không tránh khỏi số phận phải làm „chiếc đệm thịt“ đầu tiên trên chiến trường và tan nát trước khi Mỹ tiến đánh Trung quốc lục địa.

Do vị trí địa chính trị, sự lựa chọn của VN hiện nay có thể gớp phần cùng thế giới ngăn chặn thảm họa đó hoặc nhập khẩu thảm họa đó vào VN nếu cuộc chiến tranh  Trung – Mỹ xẩy ra.

  • VN với truyền thống nhập khẩu chiến tranh

Với sự tham lam và thiển cận của nhà cầm quyền VN, họ đã tạo điều kiện tốt chưa từng có để TQ dễ dàng chiếm cứ VN trên mọi mặt và sử dụng người VN đi đánh nhau với Mỹ để bảo vệ TQ khi cần.

VN lựa chọn lệ thuộc TQ và thực hiện mọi mệnh lệnh của TQ là tự sát  nếu chiến tranh Trung – Mỹ xẩy ra.

Nhập khẩu chiến tranh vào nước của mình và hớn hở đi chết cho kẻ khác trong khi giết dân mình, đó là năng khiếu của nhiều thế hệ cầm quyền VN.

Trong cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn miền Nam miền Bắc, bên Nam đánh nhau với sự viện trợ và vũ khí của Mỹ, bên Bắc đánh nhau để thực hiện  nhiêm vụ „tiền đồn cho phe xã hội chủ nghĩa“ với vũ khí và lương thực của Nga và TQ. Nga và TQ không hề hấn gì, VN chỉ còn lại hoang tàn và hàng triệu người chết.

Nếu nhà cầm quyền VN tiếp tục tăm tối như vậy, lịch sử đớn đau sẽ lặp lại. Khi chiến tranh Trung- Mỹ xẩy ra, dân VN sẽ có được một hân hạnh cũ: làm cái „đệm thịt người“ đi chết cho quyền lợi của TQ, để TQ được yên ổn xây dựng chủ nghĩa xã hội.  Người TQ sẽ giẫm lên những xác chết của người VN mà tiến ra biển Đông. Người VN sẽ lại bị ép buộc mà chết hoặc ngu muội mà chết hoặc bị lừa đảo mà chết nhưng vẫn tự hào rằng chúng ta sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ thành trì của đất nước và chủ nghĩa xã hội.

Nghe thế tưởng như chuyện đùa, nhưng không đùa một chút nào, nếu chúng ta nghe phát biểu của các vị lãnh đạo cao cấp VN và xem hành xử của họ.

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đến năm 2009 còn tuyên bố: „Việt Nam Cu ba như là trời đất sinh ra. Một anh ở phía Đông, một anh ở phía Tây. Chúng ta thay nhau canh giữ hòa bình cho thế giới. Cu ba thức thì VN ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ“( phát biểu trong chuyến thăm Cuba năm 2009).

Nay thì Cuba đã ngủ theo Mỹ, bỏ nhiệm vụ cùng VN thức canh hòa bình thế giới. Vậy còn VN lẻ loi thì thức canh hòa bình cho TQ vậy! Việc đó đã có Đảng CS VN trước sau kiên định lập trường lo liệu chu toàn.

Một dải đất sạch bóng người VN sau chiến tranh Trung – Mỹ là điều người TQ thấy vô cùng quyến rũ. Đặc biệt là cái chết ấy lại do chiến tranh  và do Mỹ chịu trách nhiệm..

Xuất khẩu chiến tranh ra ngoài lục địa Trung hoa để thực hiện những mưu đồ khác là điều mà nhà cầm quyền TQ khôn ngoan chí ít cũng đã làm cho dân của họ. Còn VN thì lại chỉ có khả năng nhập khẩu chiến tranh về tàn hại đồng bào của mình.

  • Thời cơ cứu nước và chặn chiến tranh

Để bảo vệ mạng sống, người dân VN cần tỉnh táo chống lại khuynh hướng „nhập khẩu chiến tranh“. Đấu tranh bảo vệ đất nước bằng cách chống lại việc bán nước cho TQ của một số kẻ cầm quyền tham lam và đớn hèn chính là cách để ngăn chặn hữu hiệu.

Vì sao Hồng kông – một thành phố nhỏ, dù đã bị trao trả cho TQ nhưng chính quyền nơi này đã không chấp nhận sự áp đặt chính trị của TQ, TQ dù hận tận xương tủy vẫn không dám giở trò đàn áp?

Vì sao Đài loan cũng là lãnh thổ đã bị trao trả cho TQ nhưng Đài loan vẫn ngang nhiên thách thức TQ mỗi khi TQ định làm điều gì đó ảnh hưởng đến sự độc lập và quyền lợi đảo này?

Vì sao Hàn quốc sống ngay bên cạnh Triều tiên hung hãn luôn muốn triệt phá Hàn quốc bằng chiến tranh hạt nhân nhưng Hàn quốc vẫn phát triển lớn mạnh?

Vì sao nước Nhật yên ổn  có một nền chính trị tiên tiến, ổn định và văn minh,  mức sống cao gấp khoảng 30 lần so với người VN?

Là vì họ đã không nhập khẩu chiến tranh, đã kiên quyết nói không với  cộng sản và chủ nghĩa xã hội. Họ không cần đầu tư nhiều tiền vào quân sự vì được bảo vệ bởi những lực lượng quân sự đứng đầu thế giới như Mỹ và khối NATO. Khối này chưa bao giờ phản bội họ.

Người VN hoàn toàn có thể làm được một việc lớn là ngăn chiến tranh Trung – Mỹ xẩy ra.

Thời cơ cứu nước càng đến gần với VN khi vào ngày 24/6/2015, Thượng viện Mỹ đã chính thức thông qua Dự luật HR1314 trong đó có  Dự luật trao quyền đàm phán thương mại cho Tổng thống Mỹ và Dự luật hỗ trợ tổn thất cho những người Mỹ bị ảnh hưởng bởi các hiệp định tự do thương mại quốc tế.

Không nghi ngờ gì nữa, nước Mỹ đã rất linh hoạt trong việc giao cho Tổng thống Obama một đặc cách để quyết định đẩy nhanh đàm phán Thỏa thuận quan hệ đối tác  thương mại T-Tip và đầu tư Xuyên Đại Tây Dương cũng như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)và đặc biệt phục vụ cho quyền lợi của Mỹ ở biển Đông trong đó có liên quan đến việc liên kết chặt chẽ với VN.

VN cần phải nắm lấy bàn tay mà tổng thống Mỹ đưa ra để trở  thành đồng minh thực sự của Mỹ và khối NATO. Đây là khoảnh khắc mà Mỹ mở rộng vòng tay hơn bao giờ hết, bởi chính quyền lợi của Mỹ ở biển Đông. Lúc đó Mỹ và khối NATO sẽ tự động bảo vệ VN theo hiệp định tương hỗ quân sự.

Trong tình thế đó,  TQ bị buộc phải thay đổi cách hành xử, từ bỏ ảo vọng chiếm VN và  và độc chiếm biển Đông. Chỉ có như thế, chiến tranh mới không xẩy ra.

Như thế, người VN mới thoát được ách nô lệ ngàn năm của TQ và  ách nô lệ cộng sản.Và trước hết, gần nhất, là thoát được cuộc chiến tranh mà người VN không nhũng chịu mất nước về tay TQ mà còn phải chết cho TQ. Cuộc chiến đó không đưa VN trở về thời kỳ đồ đá vì ngay cả đá cũng nát và chỉ còn tro xương của người VN cọ vào nhau trong gió của những cánh đồng chết.

VTH

Tiếng khóc ngày mở mắt chào đời!

Tiếng khóc ngày mở mắt chào đời!

Khi khó khăn đau khổ, con người ta thường ứa trào nước mắt và nấc lên tiếng khóc. Do vậy tôi vẫn xem tiếng khóc là dấu chỉ của một cuộc sống lầm than, một số phận hẩm hiu. Khi vừa mới lọt lòng mẹ, em bé òa khóc. Tôi không hiểu nổi tại sao dấu chỉ đầu tiên của một cuộc sống mới vào đời lại là tiếng khóc mà không là tiếng cười. Đời người là hẩm hiu đen tối từ cội nguồn rồi sao!
Qua gặp gỡ và trải nghiệm, tôi nhận ra điều ngược đời khá thú vị nhưng rất thật, đó là con người cũng khóc khi họ đứng trước một niềm vui quá lớn lao không thể diễn tả bằng lời, khóc chứ không phải cười. Tôi hiểu hơn về tiếng khóc chào đời của trẻ thơ, hiểu hơn về đời sống được tặng ban cho con người.
Mỗi khi kỉ niệm ngày sinh, chắc nhiều người cũng nhớ lại tiếng khóc chào đời của mình. Tiếng khóc ấy không còn là dấu chỉ của kiếp sống lầm than. Thay vào đó, nó là sự diễn tả một niềm vui khôn tả, một tâm tình tri ân thay cho lời tạ ơn bởi món quà quá lớn lao đã được trao ban cho tôi.

Thay lời tạ ơn:

Cất lên tiếng khóc chào đời
Thay bao nguyện ước cùng lời tạ ơn!
Tạ ơn mẹ: sinh con ra
Mời ngày chín tháng bao la biển tình
Cho con nên dáng nên hình
Sẻ chia sự sống, thân mình cho con.
Tạ ơn cha: tấm lòng son
Chở che nâng đỡ cho con vào đời
Cho con tình mến diệu vời
Yêu thương gửi gắm tận nơi cung lòng.
Tạ ơn Thiên Chúa quan phòng
Cho con sinh đến ở trong gia đình
Bao la chất chứa ân tình
Tin-yêu nguyện sống cho vinh danh Ngài.

Vinh Sơn Phạm Văn Đoàn, S.J.

Thịnh Vượng Và Nghịch Cảnh

Thịnh Vượng Và Nghịch Cảnh

Một nhà buôn nói rằng: “Chắc là Chúa bất mãn với cuộc sống của tôi hay sao mà công việc làm ăn của tôi không khá được”.

Câu nói của nhà buôn này phản ánh quan niệm chung của những người thường liên kết thịnh vượng với cuộc sống đạo đức, và nghịch cảnh với đời sống vô đạo. Có đúng như thế không?

đông hành với Chúa, đi cùng Chúa

Một trong những câu truyện nghịch cảnh xưa nhất được ghi lại trong Thánh Kinh cũng xoay quanh các vấn đề này. Ðó là câu truyện thánh Gióp. Gióp là một người được Chúa kể là thánh thiện nhất trên mặt đất trong lúc ấy, và cũng là người rất giàu có. Theo quan niệm của thời nay thì phải kể Gióp là bậc tỉ phú, vì tài sản của ông nhiều vô kể. Dường như tay ông chạm tới đâu thì nơi đó cũng biến thành vàng cả. Như mọi người thường nghĩ, Gióp cũng cho rằng mình thịnh vượng là nhờ sống thánh thiện.

Nhưng một ngày kia tai họa bỗng xảy ra bất ngờ. Chỉ trong mấy tiếng đồng hồ toàn bộ sản nghiệp của Gióp tan ra mây khói. Những đàn súc vật đông đảo bị cướp đi hết, con trai, con gái đều bị giết chết, ánh sáng của cuộc đời bỗng nhiên tối sầm lại, và Gióp sống cũng như chết. Lúc đầu Gióp cực kỳ khốn khổ đến nỗi rủa cả ngày mình sinh ra đời, và ước ao được chết đi khi còn trong lòng mẹ. Cay đắng vô cùng, Gióp đã than: “Ðiều ta sợ hơn cả đã đến với ta” (Gióp 3,25).

* * *

Thực sự, thành công vật chất không chứng tỏ là do đời sống thánh thiện, và nghịch cảnh cũng không phải là dấu hiệu của sự trừng phạt. Chúa cho ông Gióp thấy rằng thời gian khó khăn mà ông gặp chính là giai đoạn thử nghiệm. Vào đúng thời điểm, Chúa lại phục hồi thịnh vượng cho ông.

Những gì ta có hay không có không chứng tỏ là ta đang sống đẹp lòng Chúa hay sai ý Chúa. Của cải vật chất có thể phản ảnh tài tháo vát buôn bán của bạn, nhưng không phải là những thứ đánh giá đời sống của bạn.

Phần thưởng của cuộc đời thánh thiện chính là một lương tâm trong sáng và một tấm lòng tinh sạch. Vì lúc ấy bạn sẽ sòng phẳng với mọi người, và bạn biết yêu mến những giá trị bền bỉ hơn vật chất trước mắt. Bạn có thể nghèo hay giàu. Nhưng nếu Chúa vẫn làm chủ cuộc đời bạn thì lúc nào bạn cũng được thỏa lòng.

Giọt Nước Mắt Cuối Cùng
(118 Câu Chuyện Suy Tư Và Cầu Nguyện

Ðôi Hàng Tâm Tư Cho Một Ðời Kitô Hữu)

Dị ứng với chữ nghĩa!

Dị ứng với chữ nghĩa!

Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Tôi đồng ý với nhiều người đã cho rằng không có ngôn ngữ Việt Cộng, ngôn ngữ miền Nam mà chỉ có ngôn ngữ Việt Nam và ngôn ngữ phát triển và đa dạng hóa theo thời gian. Nhưng là một người sinh ra và lớn lên, sống ở miền Nam ít nhất là nửa thế kỷ, tôi cảm thấy hụt hẫng và cảm thấy dị ứng với thứ ngôn ngữ hôm nay, nói rõ là thứ ngôn ngữ phát sinh ra từ sau ngày đại họa, khi mà Việt Cộng cai trị toàn bộ đất nước miền Nam.

Người dân Việt Nam hiện nay dùng chữ “siêu” để thay cho chữ “rất
nhiều” hay “rất cao” như bảng quảng cáo này. (Hình: Getty Images)

Không phải dị ứng với chữ nghĩa, mà tôi còn dị ứng với giọng nói của Hà Nội bây giờ, nó khác xa với Hà Nội thanh lịch của bốn mươi năm về trước. Làm sao tôi quên được giọng nói của đài phát thanh Hà Nội, “thủ đô của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” mà mỗi tối, tôi vẫn thường phải nghe cái giọng the thé của cô xướng ngôn viên qua chiếc loa rè treo ở cái chòi gác đầu trại, những đêm rét buốt ở trong những trại tù Hoàng Liên Sơn. Giọng nói đó còn theo đuổi, ám ảnh tôi cho đến ngày hôm nay.

Từ ngày bị anh em “ngoài ta” thống trị, ngoài những tiếng “ngụy ngôn” xảo trá như cách mạng, giải phóng, học tập cải tạo, ngụy quân, ngụy quyền… chúng ta thấy cả một rừng chữ nghĩa đảo lộn trong một xã hội điên đảo. Dân Sài Gòn đã nhìn tận mắt loại chữ nghĩa quái đản, sản phẩm của chế độ mới như “xưởng đẻ,” “cửa hàng thịt phụ nữ,” “nhà đái nam, nhà đái nữ…”

Cũng không phải vì lý do chính trị mà tôi ghét nó, hoặc có định kiến, kiểu “ghét ai ghét cả tông nhân họ hàng,” nhưng tôi ghét cái thứ ngôn ngữ tùy tiện, vô nghĩa và lai căng hay bắt chước Tàu một cách hoàn toàn vô ý thức và thiếu khôn ngoan.

Trước khi đi quá xa, và để cho độc giả khỏi quên, tôi xin nói ngay vào lối nói kiểu Tàu của người trong nước bây giờ. Chúng ta vẫn nghe những tiếng lạ tai từ khi nón cối dép râu “tiến về Sài Gòn,” thứ ngôn ngữ đặc sệt Tàu, mà chúng ta chưa hề nghe, chưa biết dùng nhưng cuối cùng cũng phải dùng, phải nghe nếu không sợ bị lạc đường. Đó là những tiếng hộ khẩu, hộ lý, hải quan, xuất khẩu, trợ lý, thủ trưởng, đăng ký, đường cao tốc, vô tư, bức xúc, bảo vệ, cơ địa, xử lý, khẩn trương, triều cường, giải phóng mặt bằng, quân hàm, sư trưởng… khác xa những gì mà chúng ta đã dùng thời trước.

Cái thì quá Hán, nhưng có cái thì quá nôm na. Thủy Quân Lục Chiến thì gọi là “Lính Thủy Đánh Bộ,” Bạch Ốc là “Nhà Trắng,” trực thăng là “máy bay lên thẳng,” tài xế thì gọi là “lái xe,” đại tiện hay tiểu tiện thì gọi là “ỉa, đái”… có khi nửa nôm nửa hán như “cán bộ gái,” có khi thô bỉ như “giường cứng- giường mềm,” có lúc ngớ ngẩn và vô nghĩa như “làm gái!”

Nếu chữ nghiêm trang, nghiêm chỉnh của chúng ta để nói về một thái độ, một nhân dáng thì vì sao trong nước lại dùng chữ nghiêm túc (nghĩa của nó là đứng yên – toàn thể túc lập!) Nếu chữ “liên lạc” của chúng ta dùng trong nghĩa trao đổi, thông tin thì cũng với nghĩa đó, họ dùng chữ “liên hệ,” như trong nghĩa nó có nghĩa trói buộc với nhau như gia tộc, con cái, họ hàng. Vì chúng ta đâu cần phải “liên hệ” qua điện thoại với một công ty khi chỉ cần mua một món hàng.

Có những địa hạt, việc dùng chữ nghĩa quá tùy tiện và ngu dốt, một cách “nói chữ” như chữ “xử lý” bị lợi dụng một cách nặng nề và không cần thiết như nói “xử lý cá xong” thì đến “xử lý” rau. Thay vì nói đơn giản “một con bọ xít” thì họ nói “một cá thể bọ xít,” thay vì nói “đi dạy học tại trường X.” thì người ta nói “nhận công tác giảng dạy…”

Nói chung là người ta thích dùng “đại ngôn” cho nó oai, ra điều chữ nghĩa, như ông bà ta có câu: “dốt thì hay nói chữ,” quảng cáo cho mấy cái bồn rửa nhà cầu, người ta cũng dùng đến tiếng “hoành tráng.”

Ba chữ “dòng, luồng và chùm” bị lạm dụng và gán ép một cách ngây ngô như: – “Dòng kem dưỡng da;” – “Luồng tư duy, luồng thông tin , luồng văn hóa , khám bệnh ngoài luồng;” – “Chùm ảnh, chùm thơ…”

Trong nước bây giờ thích nói chữ, Tây hay Tàu hơn là thuần Việt: Ảnh “nude” hơn là ảnh khỏa thân , “VIP” hơn là nhân vật quan trọng , “logic” là lý luận, “tuổi teen” hơn là tuổi thiếu niên, “ô tô” thay vì xe hơi, “nội y” thay vì áo quần lót , “sở hữu” hơn là có , “khẩn trương” thay vì nhanh lên.

Nếu vì trời sương mù mà trên xa lộ nhiều chiếc xe hơi đụng nhau dây chuyền (xe nọ đụng đít xe kia) thì vì sao họ dùng chữ “đụng liên hoàn,” cho ra Tàu, trong khi chữ liên hoàn còn có nghĩa “trở lại” như thơ liên hoàn là bài thơ mà câu cuối lặp lại câu đầu tiên. Cái xe đầu tiên bị đụng không thể nào đụng lại cái xe cuối cùng trên đường!

Trong khi chúng ta dùng chữ máy thu thanh (radio) thì Cộng Sản dùng chữ “đài,” chữ này chỉ có thể dùng để chỉ nơi phát thanh, như đài phát thanh Hà Nội. Cũng với lối nói tắt này, đôi khi vô nghĩa, nhưng theo thói quen ở trong nước, người ta vẫn hiểu, như vừa “xuất viện” là mới ở bệnh viện (nhà thương) ra, “nhập viện” là vào nhà thương. Nếu nói “điện” thì phải hiểu nghĩa là điện thoại. Thu phí là thu lệ phí!

Cộng Sản lấy tên Hồ Chí Minh đặt thay cho Sài Gòn có nhiều điều bất tiện và bất kính, vì người ta không thể nói: “Tôi đi… Hồ Chí Minh,” hay “Hồ Chí Minh bây giờ nạn cướp bóc tràn lan” mà phải dùng nguyên câu “thành phố Hồ Chí Minh.” Vì cái tên quá dài, nên bây giờ người Cần Thơ đi Sài Gòn thì chỉ cần nói là “lên thành phố!” là người ta đã hiểu.

Cỡ lớn láo như Phùng Quang Thanh, lên tới đại tướng mà còn mở miệng nói, “Không phong tướng, anh em tâm tư!” thì “chị em ta” cũng có thể nói, “Chị làm em cũng tâm trạng theo chị!” hay “con ấy… cực kỳ!” Danh từ, động từ, tĩnh từ, trạng từ… cứ loạn cả lên, toàn là những thứ “lộng ngôn” và “loạn ngôn” một cách rất “bất quy tắc!”

Thời trước đi học, mà viết, làm luận văn, nói lối này thì chắc chắn là bị thầy, cô giáo sổ…toẹt! Và thời nay nếu bỏ nước ra đi khá lâu, về thăm lại quê hương nên có một người đi theo để thông dịch.

Nói chuyện chữ nghĩa thời nay, thì phải viết thành một cuốn từ điển dày nghìn trang. Tôi không có tham vọng làm một cuộc nghiên cứu hay thống kê mà chỉ ghi.. tạp một vài chuyện mua vui. Nhưng chúng ta cũng nên cẩn thận, đừng ngộ nhận, khi có những tiếng ít nghe, ít dùng, nghe chưa quen tai đã vội chụp nón cối cho nó. Có lần tôi dùng tiếng “xiển dương” trong một bài viết, đã bị một ông bạn già khiển trách “sao lại dùng chữ Việt Cộng?”

Điều đau lòng tôi muốn trình bày với độc giả hôm nay là chúng ta lệ thuộc Tàu cả nghìn năm mà còn giữ được tiếng nói, chữ viết và bản sắc dân tộc. Trong nước nô lệ Cộng Sản mới bốn mươi năm mà dễ chừng ngôn ngữ đã có những sự thay đổi, nhất là ảnh hưởng không ít với những người đã đi ra nước ngoài, đã từng là nạn nhận của Cộng Sản. Tôi đã gặp những người tù chính trị đã ở trong nhà tù tập trung năm, mười năm mà vẫn dùng những danh từ “đi học tập- cải tạo” hay “trước giải phóng- sau giải phóng” một cách không suy nghĩ, thì trách gì vợ con họ, lấy lý do vì ở với Cộng Sản một thời gian dài, nên bị “đồng hóa!”

Một chuyện khác là các cơ quan truyền thông ở hải ngoại, vẫn cho mình là có lập trường chống Cộng nhưng vẫn dùng nguyên bản những tin tức, chương trình trong nước mà không chịu bỏ thời giờ sửa đổi lại theo cách nói và cách viết truyền thống của người Việt tại miền Nam trước 1975 và kể cả tại miền Bắc trước năm 1954.

Có khi vì thiếu vốn, lười biếng hay thỏa hiệp, truyền thông hải ngoại đem luôn cả chương trình làm sẵn, các cuốn phim của các nhà sản xuất hay đài truyền hình Việt Nam chiếu trong chương trình hằng ngày. Do vậy, tuy trên đài truyền hình không có cờ đỏ sao vàng, có chân dung lãnh tụ cộng sản, nhưng ngôn ngữ, hình ảnh, và chương trình từ giải trí đến thời trang, thi hoa hậu, đố vui, thực chất là những đài truyền hình Cộng Sản được soạn ra công phu để dành làm quà cho hải ngoại.

Người ta đã nói đến chuyện con ếch được luộc chín từ từ trong nước lạnh, hay chiến thuật vết dầu loang. Dần đà, chúng ta sẽ nghe quen tai, nhìn quen mắt và bị “luộc” lúc nào không hay.

Và những con người vốn chân chất, thật thà, tin người, chỉ thấy cái lợi trước mắt và cho cá nhân mình, không cảnh giác sẽ còn thua… nữa!

Người Sài Gòn sống như dân du cư du canh

Người Sài Gòn sống như dân du cư du canh

Nguoi-viet.com

Trần Tiến Dũng/Người Việt

SÀI GÒN (NV) – Ở Sài Gòn lúc này, chỉ cần dừng xe máy ở các giao lộ là sẽ được nhân viên các công ty bất động sản phát cho một xấp giấy quảng cáo mua bán nhà.

Nhìn lên cột điện, thậm chí nhìn vào vách các bô rác chung cư cũng thấy xanh xanh đỏ đỏ những áp phích quảng cáo bán nhà, bán đất nền… đủ cỡ, nhưng than ôi hàng triệu người Sài Gòn chỉ biết ngó cho vui mắt vậy thôi chớ giấc mơ mua được một căn nhà dạng nhà xã hội trả góp cũng là chuyện viển vông, thế nên chuyện họ sống du canh du cư như đồng bào các dân tộc thiểu số ở giữa lòng một đô thị hào nhoáng như là một kiếp nạn.

Từng cột đèn Sài Gòn đều dán quảng cáo bán nhà nhưng hàng triệu người
du cư không bao giờ với tới. (Hình: Trần Tiến Dũng)

Một giảng viên đại học Bách Khoa Sài Gòn ghé nhà thầy cũ mình để mời thầy dự tiệc mừng nhà mới của anh. Người giảng viên gốc Cà Mau, có con trai học lớp ba này kể, “Phải làm dân du cư ở Sài Gòn hơn 20 năm mới có chỗ định cư đó thầy.”

Không hề quá đáng khi cho rằng ở Sài Gòn trong hàng chục năm qua, hàng triệu người dân từ các địa phương đến nhập cư ở trọ nhà tập thể, mướn nhà và họ thường xuyên thay đổi chỗ ở vì giá thuê nhà hay vì nhu cầu công việc đã hình thành nên số lượng người du cư khổng lồ.

Có một nhà thơ, cũng là dân du cư lâu năm ở Sài Gòn ví von rằng, “Giống như đồng bào dân tộc thời xưa, dân ở trọ như bọn tôi chuyện du cư hết chỗ này đến chỗ kia thì coi các tòa cao ốc là núi, các con đường là sông, còn các hẻm phố chằng chịt như những cánh rừng khó tìm lối ra.”

Trả lời trên bản tin kinh tế, vị chủ tịch hiệp hội bất động sản thành phố Hồ Chí Minh cho biết, các dự án đầu tư nhà ở xã hội chỉ chiếm không tới 30% trong tổng số các dự án. Lý do đưa ra là lợi nhuận thu được khi đầu tư nhà ở xã hội rất thấp.

Từ ngày 1 tháng 7, 2015, chế độ Hà Nội áp dụng luật cho phép Việt kiều và người Ngoại Quốc mua nhà, điều này khiến các tư sản đỏ bất động sản hứng thú và một lần nữa chuyện nhà cho người Sài Gòn thu nhập thấp cùng hàng triệu người đang sống du cư cũng hoàn toàn vô vọng về chuyện định cư.

Cô L, một giáo viên ở trường trung cấp dạy nghề, có mức lương khoản sáu triệu một tháng nói, “Từ lúc còn là sinh viên đến lúc đi làm, tôi đã thay đổi nhà trọ năm lần. Giá nhà từ năm trăm ngàn nay lên một triệu rưỡi, tôi chuyển chỗ ở không chỉ vì giá nhà mà còn vì đường ngập, an ninh, hàng xóm không hợp… Nói chung tôi biết chắc mình không thể quay về quê nhưng càng không chắc là mình có ngày được định cư ở Sài Gòn.”

Với những ai có mức thu nhập trung bình thấp như cô L, thì hy vọng sau mười, hai mươi năm nữa mua được một căn chung cư trả góp dưới 40 mét vuông ở Sài Gòn để chấm dứt đời du cư là khó có thể.

Các xóm nhà ven kênh rạch ở quận 8, quận 7… là nhà trọ “lý tưởng” của
người ngoài mới bắt đầu vào thành phố. (Hình: Trần Tiến Dũng)

Hỏi chuyện hai vợ chồng người Thanh Hóa làm nghề bán cháo lòng dạo ở quận 12, rằng họ có nghĩ ngày nào sắm được nhà để làm nghề không. Anh chồng có ba con đang gởi cho nhà nội ở quê này nói, “Mơ làm gì, cứ nhà mướn cho nhẹ đầu mà để dành tiền gởi về quê cất nhà, mai kia hết sức làm thì còn có chỗ mà về.” Hai tiếng “mai kia” từ miệng một người chỉ chừng ba lăm tuổi đã chỉ ra một cuộc đời, một gia đình ly hương sống du cư dai dẳng vằn vặt.

Thật không thể xác định độ tuổi của dòng người khổng lồ đang sống du cư hiện nay, bé sơ sinh có, người già tuổi gần đất xa trời có. Chưa thời đại nào mà toàn cảnh và thực trạng người tứ xứ du cư ở Sài Gòn lại đa dạng và phức tạp như hiện nay. Nào là cộng đồng du cư được biết theo nguyên quán như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thanh Hóa, Phú thọ, Cà Mau… hay cộng đồng du cư theo ngành nghề như hủ tiếu gõ, bánh tráng, ve chai, thợ mộc, thợ xây… thậm chí có cả những nhóm du cư “ làm ăn” với các nghề tệ nạn xã hội.

Từ lúc chế độ mở cửa kinh tế, hàng chục năm qua nguồn nhân lực phổ thông và trí thức du cư này đã là nhân tố chính làm thay đổi toàn diện chất lượng và diện mạo các đô thị lớn, nhưng phần lớn nguồn nhân lực quan trọng đó vẫn không thể đặt chân về chính căn nhà mình sở hữu sau một ngày làm việc.

Việc hàng triệu người không sở hữu được căn nhà ở đô thị nơi mình kiếm sống, sống du cư kéo dài có khi cả đời người hoặc nhiều thế hệ gia đình. Trừ một số ít người nhập cư có tài năng, ý chí, nguồn vốn, đã có ngôi nhà để yên ổn mà mơ ước một tương lai thành đạt, thử hỏi hàng triệu người không thể mong gì được an cư kia, họ làm cách nào để yên tâm nâng cao nghề nghiệp, tri thức và chất lượng sống của họ. Những hiện tượng tiêu cực xã hội như sử dụng bạo lực bất thường, sa đà trong bia rượu, số đề, lối sống thụ động buông xuôi… việc họ bị tướt đi quyền được an cư rõ ràng cho thấy bộ mặt u tối của thực trạng mất nhân quyền ở các đô thị lớn Việt Nam hiện nay.

Tôi bảo tôi mãi mà tôi không nghe không nghe

“Tôi bảo tôi mãi mà tôi không nghe không nghe
Nhất quyết yêu người, cả người thực thà gian dối
Tôi bảo tôi mãi mà tôi không nghe không nghe
Cứ cố yêu người dù rằng người đang lừa người.”

(Phạm Duy – Tôi Bảo Tôi Mãi Mà Tôi Không Nghe)

Trần Ngọc Mười Hai

(Êphêso 1: 16-18)

Có thật không đấy? Cái gì mà lại “cứ bảo mãi không nghe không nghe”, là sao thế? Bảo ai? Bảo gì thế? Nếu chỉ bảo, có mỗi mình tôi thôi, thì có thể là như thế, thật cũng đúng thôi. Thế nhưng, bảo gì thì không bảo, sao lại cứ bảo và ban những lời rằng:

“Tôi bảo tôi mãi mà tôi không nghe không nghe
Mới chớm yêu đời lại buồn vì đời mau hết
Tôi bảo tôi mãi mà tôi không nghe không nghe
Mới biết ái tình là ngờ mình yêu còn ít.

Tôi bảo tôi mãi mà tôi không nghe không nghe
Quyến luyến bạn bè để rồi về nhà mong nhớ
Tôi bảo tôi mãi mà tôi không nghe không nghe
Cứ thích la cà để rồi chợt thương người nhà.

À thì ra, tác-giả lại đã tự mình bảo mình mãi, mà mình nào muốn nghe theo, nên mới than và vãn rất nhiều lời, rằng:

“Đời sinh tôi ra tôi ra như thế!
Đời sinh tôi ra tôi ra như thế!
Thương tôi thương tôi cho sống say mê.
Không thương không thương xin giết tôi đi !

Đời sinh tôi ra tôi ra như thế !
Đời sinh tôi ra tôi ra như thế!
Thương tôi thương tôi cho sống say mê.
Không thương không thương xin giết tôi đi!

(Phạm Duy – bđd)

Ấy! Đâu dễ như thế. Giết người và giết tôi không được, nên chàng lại hát vẫn một lời, rằng:

“Tôi bảo tôi mãi mà tôi không nghe không nghe!

Cứ nói những lời mọi người hằng ngày không nói.

Tôi bảo tôi mãi mà tôi không nghe không nghe!

Cứ chối không làm đàn cừu làm con vẹt nữa.

Tôi bảo tôi mãi mà tôi không nghe không nghe!

Cứ hát những lời buồn rầu mà người ta giấu.

Tôi bảo tôi mãi mà tôi không nghe không nghe!

Cứ hát vui đùa chọc cười người quên nụ cười.

(Phạm Duy – bđd)

À thì ra. Nghệ sĩ già nhà mình, lại cứ viết hoài và viết mãi những lời lẽ rất ý-nhị thuộc mọi thời, mới như thế. Có như thế, “chàng trai già đất Việt” mình mới ngán ngẫm cuộc đời, bèn thêm mãi lời ca rất nên nghe, rằng:

“Đời sinh tôi ra tôi ra như thế!

Đời sinh tôi ra tôi ra như thế!

Thương tôi thương tôi cho sống say mê.

Không thương không thương xin giết tôi đi!

Tôi bảo tôi mãi mà tôi không nghe không nghe

“Đứng giữa hận thù chỉ ngờ mình là Horace

Tôi bảo tôi mãi mà tôi không nghe không nghe

Chiến đấu quân thù mà tìm chưa ra thù ghét

Tôi bảo tôi mãi mà tôi không nghe không nghe…”

(Phạm Duy – bđd)

À thì ra, do bởi ông viết những lời như: “Đời sinh tôi ra tôi ra như thế”, chứ không phải “Trời sinh tôi ra tôi ra như thế”, nên mới thế vậy. Và, giả như người dặn dò và phán bảo, lại là thánh-nhân hiền-lành thời buổi trước, hẳn sẽ khác. Khác ở điểm, là: thánh-nhân hiền-lành chỉ nói và bảo như sau:

“Bởi vậy, cả tôi nữa, từ khi được nghe nói về lòng tin của anh em

vào Đức Giêsu, và về lòng mến của anh em đối với toàn thể dân thánh,

tôi không ngừng tạ ơn Thiên Chúa vì anh em,

khi nhắc tới anh em trong những lời cầu nguyện của tôi.

Tôi cầu xin Chúa Cha vinh hiển là Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô,

Chúa chúng ta, ban cho anh em thần khí khôn ngoan

để mặc khải cho anh em nhận biết Người.

Xin Người soi lòng mở trí cho anh em thấy rõ,

đâu là niềm hy vọng anh em đã nhận được,

nhờ ơn Ngài kêu gọi,

đâu là gia nghiệp vinh quang phong phú

anh em được chia sẻ cùng dân thánh.”

(Êphêsô 1: 16-18)

Và, những lời bảo ban/dặn dò từ đấng bậc cỡ chóp bu của Hội thánh vào hôm đó, thì sao? Sao lại có những lời như thể bảo:

“Từ buổi họp Thượng Đỉnh vào độ tháng 10 năm 2014 đến giờ, Đức Phanxicô đã cắt bỏ một cách thê-thảm những lời tuyến bố công-khai của ngài về việc ngài hỗ-trợ cho một đổi-thay diễn biến ở Giáo hội Công-giáo trong việc xử thế với các gia-đình nào bị rối rắm.” Đây là nhận-định của Sandro Magister, một Quan-sát-viên khá nổi cộm về các diễn-biến xảy ra ở Vaticăng, ông từng viết nhiều bài cho tờ L’Espresso.

Tác-giả Sandro Magister nhấn mạnh rằng: mặc dù Đức Giáo Hoàng từng đưa nhiều chỉ-dẫn nói là ngài ủng-hộ đề-nghị của Hồng Y Kasper vào độ trước ngày Hội Thượng Đỉnh diễn ra ở Rôma. Tứ lúc ấy đến nay, ngài thôi không nói về đề tài này nữa. Tác-giả Sandro Magister còn ghi chú thêm, là: Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã tiếp-tục nói thẳng thừng về nhiều vấn-đề khác trước công-chúng. Nhưng, ông còn tiết-lộ thêm rằng: “ từ dạo cuối năm 2014 đến nay, vẫn chưa có đến một dịp thuận nào để ngài đưa ra dù một yểm-trợ nhẹ-nhàng nhất đối với mô-hình mới do các nhà canh-tân đưa ra.” (xem Bản tin trên tờ The Catholic Weekly ngày 17/5/2015 tr. 3 có đầu đề là: ‘Soft pedal’ on troubled marriage’)

Và một tin khác cũng trên tờ Tuần báo này, lạ đã ghi rằng:

“Một giám-mục người Anh hôm rồi, lại đã hoan-nghênh/cổ võ cho bản tuyên-ngôn của chừng 500 linh-mục ở nước này hối-thúc Thượng Hội Đồng Rôma năm nay hãy cho biết lập-trường của Giáo-hội khẳng-định về giáo-huấn của Giáo hội về hôn-nhân.

Giám mục Mark Davis thuộc giáo-phận Shresbury đã cảm kích các linh-mục từng ký vào bản tuyên-ngôn nói trên ngõ hầu “kiếm tìm một đường lối vui vẻ chưa từng có vào độ trước hầu can-dự vào cuộc bàn-thảo đi dần vào ngày hội của Giáo-quyền Rôma, tháng 10 năm 2015 này. Giám mục Shresbury còn nói thêm, là: các linh-mục đã nhận ra rằng phải luôn có lòng quả cảm rất siêu-nhiên ghê lắm mới có thể đứng trụ về chân-lý của Giáo hội, ở thời buổi có nhiều khủng-hoảng và lẫn lộn hôm nay.

Ý-kiến của Giám mục Davis lại khác hẳn tuyên-bố của Hồng y Vincent Nichols từng khiển-trách các linh-mục nhà mình về việc công-bố cho báo-chí/truyền-thông về một tuyên-ngôn công-khai như thế. Giám mục này cho rằng: cuộc bàn cãi về các vấn-đề này, lâu nay không được nhà báo tường thuật theo cung-cách tốt đẹp nhất.

Ở Hoa kỳ, có đến gần 1000 linh-mục nay từng ký một tuyên-ngôn tương-tự hầu kêu gọi Thượng Hội Đồng Giám mục ở Rôma nên có một thông-báo rõ ràng ngõ hầu làm dịu bớt sự lẫn lộn/ngộ nhận về giáo-huấn của Hội-thánh.” (xem The Catholic Weekly ngày 17/5/20215 tr. 3 có đầu đề là ‘Bishop applauds priest’ call for synod statement’)

Để cho vui cả làng Đạo lẫn đời, nay có bạn bè/người thân vừa gửi cho bần-đạo một truyện kể nghe như chuyện thường ngày ở huyện dân-gian có người bệnh/người lành cứ là thăm viếng nhau một vài lúc, lại cứ hỏi han rồi xin xỏ những chuyện rất khó, như sau:

“Có cô hoa hậu nọ đến bệnh-viện thăm thương binh ở quân y-viện. Đến bên giường một chiến-sĩ, cô ta hỏi:

-Nhiệm-vụ của anh là gì?

-Giao-liên.

-Vậy thì cho em hôn lên ‘đôi hài vạn dặm của anh’. Nàng nói rồi hôn lấy hôn để lên đôi bàn chân của anh lính.

-Còn anh?

-Sĩ-quan tham-mưu.

-Ôi… Cho em hôn lên ‘bổ tổng tham-mưu’ của anh đi!

Hôn lên trán chàng sĩ-quan xong, qua giường kế tiếp, cô hoa-hậu dạn-dĩ nựng yêu:

-Nào, chàng trai dũng-cảm, hãy nói cho em biết binh-chủng của anh đí?

-Cậu lính trẻ hoảng-hốt co đầu gối lên bụng, mặt đỏ bừng đáp:

-Em.. em xin chị …đừng .. Em ở bên Pháo-binh!?!” (Trích truyện kể ở trên mạng, gửi đã lâu).

Truyện kể chỉ có thế. Không nói nhiều. Cũng chẳng diễn chẳng tả được bao nhiêu. Nhưng mọi người cũng đều hiểu ý-nghĩa tóm gọn trong đó. Nhưng có những chuyện về: việc bảo ban trong gia-đình, lại thấy một số nhân-sĩ cũng như đấng-bậc-thày-dạy lại vẫn minh-định và/hoặc chú-giải các đoạn thánh-kinh có liên-quan đến tình-tự gia-đình nhiều khó-khăn/xung khắc, được kể ở trình-thuật mà người đọc mới nghe qua, đã thấy khó.

Nhưng, nếu hiểu đúng ý người viết cũng như tìm-hiểu tình-trạng các gia-đình ở Địa Trung Hải, người đọc sẽ thấy đôi điều ghi ở trình-thuật Tin Mừng này/khác có những câu thật cũng khó nghe, nếu ta không được diễn-nghĩa, cho đúng. Đó, là đoạn viết từ Tin Mừng Gốc, còn gọi là Tin Mừng “Quelle” ở trình-thuật Luca đoạn 12 câu 51-53 đại ý bảo:

“Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà-bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ. Vì từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba chống lại hai, hai chống lại ba. Họ sẽ chia rẽ nhau: cha chống lại con trai, con trai chống lại cha; mẹ chống lại con gái, con gái chống lại mẹ; mẹ chồng chống lại nàng dâu, nàng dâu chống lại mẹ chồng.”

Còn nhớ ý-chính trình-thuật này, khi trước cũng được đấng bậc giải-đáp thắc-mắc trên tờ The Catholic Weekly ở Sydney được trích đăng trên Chuyện Phiếm Đạo Đời có nhan đề Ià ”Ngày nào anh yêu em” NXb Hội Nhà Văn năm 2013, tr. 131-132, như sau:

“Nếu đưa đoạn này ra khỏi bối cảnh lời lẽ của Kinh thánh, ắt là ta sẽ nghĩ rằng Chúa Giêsu đến Ngài chỉ đem đến những bất bình cùng cãi tranh thôi; và như thế,ta cũng sẽ thôi không còn theo chân Chúa nữa.Thế nhưng, như một bạn đồng nghiệp rất khoa bảng chuyên chú giải Thánh Kinh của bổn báo đã từng nói: “Nếu ta lấy bất cứ câu Kinh thánh nào đem ra khỏi bối cảnh Lời Chúa, ắt hẳn còn lại chỉ là những chương đoạn ngớ ngẩn, chẳng nghĩa lý!” Và, đây là một trong những cái-gọi-là vớ vẩn, vẩn vơ ấy.

Bởi thế nên, ta hãy đưa bản văn/câu nói ấy vào với bối cảnh của toàn bộ Sách Tân Ước, mới được. Làm thế, ta sẽ hiểu được rằng Đức Giêsu thực sự đến với trần gian con người là để mang cho họ sự bình an và hiệp nhất…

Trước hết, nên nhớ rằng chính Đức Giêsu là dấu tích của sự “mâu thuẫn, rẽ chia”. Khi Ngài có mặt ở đền thánh Giêrusalem, cụ già Simêon đã tiên đoán về Ngài rằng: “Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Israel ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu cho người đời chống báng” (Lc 2: 34)

Nhằm rao giảng sự thật cần nắm vững, Chúa đã gặp biết bao nhiêu là chống đối rất đáng kể trong suốt cuộc đời Ngài và cuối cùng Ngài cũng bị dẫn đến cái chết do chính bàn tay của những người không sẵn sàng chấp nhận giáo huấn của Ngài được.

Đồ đệ theo chân Ngài cũng thế, các vị đều đã gặp nhiều chống đối. Thánh Phaolô liệt kê một loạt những nỗi khổ mà thánh nhân phải chịu khi rao giảng Tin Mừng (2Cr 11: 12-28). Và chính Hội thánh của Chúa cũng bị bách hại trước nhất là từ những người Do thái, rồi sau đó từ đế quốc La Mã suốt 250 năm.

Thế nhưng, tại sao Chúa lại nói về sự rẽ chia ngay trong gia đình? Là bởi vì, cũng thế, điều này thường là kết quả khi thành viên trong gia đình tin vào Lời Chúa, trong khi đó người kia lại không. Chắc hẳn nhiều người trong chúng ta đều biết đến chuyện hễ có ai hồi hướng trở về với niềm tin nơi Đạo Chúa, thường thì người ấy dễ bị thành viên khác trong gia đình hoặc toàn bộ gia đình mình khích bác, cấm cửa không cho về lại với gia đình.

Tin Mừng theo thánh Mátthêu, có nhiều đoạn Chúa cũng ám chỉ chuyện này. Sau khi nói về mẹ chồng sẽ chống lại nàng dâu, Ngài còn bảo: “Kẻ thù của mình chính là người nhà.” (Mt 10: 36) Chúa còn trích dẫn lời của tiên tri Micah, khi ông nói: “Quả thật, con trai khinh thường cha, con gái đứng lên chống lại mẹ, nàng dâu chống mẹ chồng, người trong nhà lại hoá ra thù địch.” (Mc 7: 6)

Và từ đó, Ngài nói tiếp: “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy.” (Mt 10: 37)

Thế thì, nếu có ai khám phá ra sự thật ở Tin Mừng rồi đến mà thực thi Lời dạy của Chúa, hẳn nhiên là người đó yêu Chúa hơn gia đình mình và họ sẽ nghe theo tiếng gọi của Chúa, dù cho có phải gặp nhiều chống đối rẽ chia, từ phía gia đình.

Hiển nhiên là, Chúa đâu nào đã mang sự chia rẽ đến với ai bao giờ. Ngài chỉ muốn nói: Ngài biết là đôi lúc những người theo chân Ngài sẽ gặp phải chống đối. Sẽ có sự rẽ chia, và ly cách.

Điều Chúa mang đến, Ngài đã nói rõ điều đó, chính là sự bình an và hiệp nhất: bình an trong tâm hồn cho tất cả những ai theo chân Ngài. Hiệp nhất, tất cả mọi dân con đồ đệ của Ngài.”

Và đây, một cách giaỉ-thích cũng như tầm nhìn về vấn-đề này từ tác-giả John Dominic Crossan, bậc thày thần-học ở Đại học đường De Paul, Chicago Hoa Kỳ từng giải-thích rằng:

“Thông thường thì, mỗi khi các nhà chú-giải trích-dẫn mấy câu này, lại hay bảo: gia-đình, rồi cũng sẽ chia rẽ nhau như tình-trạng của một số người tin-yêu Đức Giêsu, còn người khác lại vẫn khước-từ không tin vào Ngài, chút nào hết.  Theo tôi, vấn-đề đây không liên-quan đến niềm tin của ai hết, mà chỉ nói về quyền uy/sức mạnh của gia-đình, thôi.

Cũng nên để ý đến điều được nói ở dụ-ngôn, về sự phân-cách giữa các thế-hệ. Đức Giêsu vẽ lên hình ảnh tiêu-biểu, về gia-đình ở Địa Trung Hải có 5 thành-viên, là: cha mẹ, con gái còn son sẻ, con trai đã có gia đình và vợ anh, tất cả đều chung sống trong cùng một mái nhà. Đức Giêsu nói: Ngài sẽ chia-cách những người như thế, khiến họ sẽ phải sống cách riêng-rẽ. Ngài công-kích, là về sự sắp xếp sức mạnh/quyền-uy của gia-đình có bậc mẹ cha đầy uy-lực ở bên trên con trai, con gái và dâu con của họ.

Thật ra thì, truyện này lại giúp ta hiểu được các truyện kể và lời Đức Giêsu nói  cốt dạy-dỗ mọi người về cuộc sống gia-đình. Gia-đình, là xã-hội thu nhỏ. Là, khung-cảnh ở trong đó ta học được khuôn-mẫu tình thương, ghen ghét, việc giúp-giùm đùm bọc và cả cung-cách người người cứ xách-nhiễu nhau. Không phải là, gia-đình nào cũng có cảnh sống chung rất ấm-cúng và dung-dưỡng nhau theo kiểu của Norman Rockwell ở trời Tây. Bởi lẽ, đời sống gia-đình dính-líu vào với uy-lực/quyền-bính, nên cũng dính-dự vào cả chuyện lạm-dụng quyền-lực nữa. Và, đó là quan-điểm/lập-trường mà Đức Giêsu muốn đả-phá, công-kích.

Nhóm/hội lý-tưởng của Ngài, trái-nghịch hẳn mọi sắp-xếp xã-hội thông-thường của nhân-loại. Nhóm/hội Ngài thiết-lập, lại mở rộng nên ai cũng có thể tiếp-cận được với nhau dưới trướng của Ngài. Nơi Vương Quốc Nước Trời, không có chuyện lạm-dụng quyền-lực. Tất cả, được chào đón rất vui vẻ. Mọi người đều ngang bằng đồng đều, giống nhau và ngang hàng nhau theo ý-định và mục-đích do Chúa định-đoạt.

Trong xã-hội dân-chủ vào thế-kỷ đương-đại, ta cũng không hề bị rút ra khỏi khuôn-mẫu của thế-giới đầy quyền-năng của Đức Giêsu. Ta cũng biết thế nào là lạm-dụng quyền-uy thế-lực trong đời sống gia-đình. Thành-ngữ “bạo-lực trong gia-đình” ta từng nghe đi nghe lại nhiều lần hơn các thế-hệ trước.

Nay, ta còn biết: lạm-dụng lớn/nhỏ thường nấp ở dưới mặt ngoài nhìn sơ qua thấy êm ả. Thành thử, dù ở thế-kỷ thứ nhất hoặc thứ 20, 21 này, thì việc Đức Giêsu công-kích về gia-đình vẫn có đôi điều để nói, là: không cơ-cấu gia-đình nào, lại trở-thành tuyệt-đối hết. Mọi cấu-trúc hiện-tỏ cho con người là để ta dung-dưỡng/chấp-nhận nhau, mà sống sót.

Đời sống gia-đình, cũng tựa hồ cuộc sống nhân-loại, đều nằm trong phạm-vi ở Vương Quốc Nước Trời, do Chúa định-vị. Đời sống gia-đình, giống mọi hình-thức khác có  liên-đới/kết-hợp với con người. Nó hiện-hữu vì mục-đích công-bằng và tình-thương, mà thôi.” (x. John Dominic Crossan, Who is Jesus, nsb Westminster John Knox Press 1996 tr. 47-48)

Như ở trên, Đức Giêsu từng hô-hào về Vương Quốc Nước Trời, tức xã-hội mà mọi người nam cũng như nữ, nghèo và giàu cũng đồng-đều/như nhau, thì chắc chắn sẽ gây chia-cách mọi người trong cùng gia-đình/xã-hội ấy, mà thôi.

Thành thử ra, có hát hoặc có nói với nhau những lời như: “Tôi bảo tôi mãi mà tôi không nghe không nghe”. Vì không nghe, nên mới không hiểu. Thành thử, tưởng cũng nên trở về với Lời Vàng thánh, khi xưa bậc thánh-hiền từng căn-dặn, rằng:

“Bởi thế, một khi đã cởi bỏ sự gian dối,

mỗi người trong anh em hãy nói sự thật với người thân cận,

vì chúng ta là phần thân thể của nhau.

Anh em nổi nóng ư?

Đừng phạm tội: chớ để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn.

Đừng để ma quỷ thừa cơ lợi dụng!…

…Anh em đừng bao giờ thốt ra những lời độc địa,

nhưng nếu cần, hãy nói những lời tốt đẹp,

để xây dựng và làm ích cho người nghe.”

Anh em chớ làm phiền lòng Thánh Thần của Thiên Chúa,

vì chính Người là dấu ấn ghi trên anh em, để chờ ngày cứu chuộc.

Đừng bao giờ chua cay gắt gỏng, nóng nảy giận hờn, hay la lối thoá mạ,

và hãy loại trừ mọi hành vi gian ác.

Trái lại, phải đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau,

như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô.”

(Êphêsô 4: 25-32)

Những lời dặn dò trên đây, tưởng cũng quá đủ để tôi và bạn, hoặc những vị có quyền trong Giáo-triều Rôma, hãy nhớ mà tạo lấy cho riêng mình như lời để đời mà sống cho vui, cho hạnh phúc, suốt đời.

Để làm dịu bớt tình-hình mang tính cách “chuyện phiếm” cả đạo lẫn đời, tưởng cũng nên đi vào vùng trời đầy truyện kể cũng như lời nhắn nhủ đời, như sau:

“-Đến một lúc, chúng ta bỗng thông hiểu tất cả mọi quy luật của đất trời rằng không có gì là trường tồn bất biến, ngược lại chính nhờ sự biến đổi ấy mà chúng ta có những điều mới mẻ tinh khôi.

ến một lúc, mọi giông tố mịt mùng không che nổi sự bừng sáng của con tim và mọi khổ đau buồn tủi không đánh gục được niềm lạc quan tiềm ẩn trong một tinh thần.

Chúng ta sống quá lâu trong thành kiến và định kiến hẹp hòi cùng với lòng kiêu mạn đứng chen chân trong một ngôi nhà bản ngã; đến một lúc, chúng ta cần phải bước ra khỏi cửa để được ngắm nhìn toàn bộ sự mênh mông và bát ngát của đất trời.

Đến một lúc, chúng ta cảm nhận được niềm vui khi tấm lòng rộng mở và trái tim thắp sáng lên niềm tin yêu cuộc sống.

Đến một lúc, chúng ta nhìn lại và cười nhạo vào những trò hề do chính mình tạo ra và chúng ta trở nên lặng lẽ để thấy rõ sự cần thiết của tĩnh tại tâm hồn.

Chúng ta chợt nhận thấy quy luật sâu xa của cuộc sống hạnh phúc không chỉ là đón nhận mà còn phải là sự cho đi.

ến một lúc, cảm thấy ngập tràn hạnh phúc không phải vì chúng ta vớt lên được cái gì đó từ dòng nước mà chính là quăng bỏ bớt cho dòng nước cuốn trôi.
ến một lúc, chúng ta hiểu được sự thật của niềm vui không phải là ở đỉnh vinh quang hay ngọn núi ngập hoa vàng mà chính là từng bước chân thảnh thơi và được ngắm hoa cỏ dại trên đường.

Chúng ta chợt nhận ra rằng hạnh phúc không phải ở đâu xa mà chính là sự mãn nguyện trong từng phút giây hiện tại.

Khi đã trải qua bao nhiêu buồn vui thương ghét, bao hi vọng chán chường, bao thành công thất bại, đến một lúc chúng ta chợt nhận thấy rằng tất cả mọi sự đời đến và đi, có rồi không dường như chỉ là một tuồng ảo hóa.

Chúng ta cảm thấy mọi lý luận, ngôn từ đều thừa thãi, thay vào đó chỉ cần một nụ cười, một ánh mắt hoặc một tình thương nồng ấm dẫu chỉ là của người khách qua đường cũng đủ làm cho ta ấm lòng và tươi vui hơn trong cuộc sống.

ến một lúc, chúng ta thấy tuổi trẻ của mình chỉ toàn là ước mơ cùng với nỗ lực vào tương lai hun hút, và đến lúc già đi thì luôn hồi ức tiếc thương một dĩ vãng đã xa rồi. Trong một đời người ngắn ngủi chúng ta đã đánh lỡ đi bao sự sống nhiệm mầu trong thực tại giản đơn.

tiếc thương một dĩ vãng đã xa rồi. Trong một đời người ngắn ngủi chúng ta đã đánh lỡ đi bao sự sống nhiệm mầu trong thực tại giản đơn.

Đến một lúc, chúng ta hiểu ra rằng duy chỉ có tình thương, chứ không phải có bất cứ thứ gì khác  giúp con người thiết lập được trật tự mới và hòa bình cho nhân loại.

Mọi dòng sông đều chảy ra biển cả, mọi con đường chân lý đều hướng về nẻo đạo vô biên và mọi yêu thương chung cuộc đều đạt đến chân phúc.

Đến một lúc, chúng ta cần phải dọn đất trồng hoa trên mảnh vườn của mình còn hơn mỏi mòn chờ đợi ai đó mang hương sắc đến dâng cho.

Tất cả mọi hành động của ta chỉ là những đợt sóng lăn tăn trên mặt biển nhưng trong lòng đại dương sâu thẳm vẫn còn đó sự lặng lẽ bình yên.

Đến một lúc, chúng ta cảm thấy những việc làm thường nhật phải là niềm vui cho sự sống hàng ngày không phải là sự bắt buộc hay là một quán tính khô khan, máy móc của đời mình.

Hiểu ra rằng bản ngã ích kỷ thường khiến mình nhìn thấy lỗi lầm, sự xấu xa của người khác hơn là chính bản thân mình. Chúng ta thường che đậy và bảo vệ mình khỏi tổn thương nhưng vô tình điều ấy là tự ôm chất độc và giết chết bản thân mình.

Đến một lúc, chúng ta cảm thấy sự tha thứ, bao dung là món quà tặng vô giá và cầ thiết mà con người có thể trao tặng cho nhau không bao giờ cạn.

Khi chúng ta thấy mình tham vọng quá lớn trong khi đời người thật ngắn ngủi, đó là lúc mình hiểu ra hành trang cho lộ trình vạn dặm không phải là những gì có thể nắm bắt bên ngoài mà đó là yếu tố tâm linh bất diệt bên trong.

Đến một lúc, chúng ta hiểu con đường tâm linh thì tuyệt đối đơn độc, không ai có thể đi theo dẫu đó là người thân yêu nhất.

Chúng ta cảm nhận những khoảnh khắc tĩnh lặng nhỏ bé của tâm hồn còn quý giá hơn cả những tài sản được cất chứa chung quanh là lúc chúng ta định lượng được giá trị chân thật của một kiếp người.

Chúng ta hiểu rằng cần phải thánh hóa đời sống hơn là chạy đi tìm thiên đường ở chốn xa xăm. Đến một lúc, chúng ta cảm thấy không sợ hãi địa ngục hoặc một thế lực tối cao, nhưng bằng trí tuệ tuyệt vời, chúng ta thấy rằng vạn pháp vốn là không và số phận tùy thuộc vào khả năng giác ngộ của chính mình.

Chúng ta cảm thấy nhẹ nhàng, thanh thản trước những mất mát, đau thương vì dòng nước thanh lương có thể cuốn trôi đi bao hệ lụy và có thể đưa chúng ta bến bờ rạng rỡ của ngày mai.”

Và, lời cuối của bần đạo bầy tôi đây, là: lúc ấy đã đến rồi đó bạn, tôi ạ. Vậy thì, ta hãy mạnh dạn mà hướng thẳng về phía trước để rồi sẽ sống vui, sống mạnh, sống vững vàng, không sợ gì ngăn trở hoặc điều gì sẽ xảy ra rất trái ý ta, trái ý mọi người. Ở đời.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn một lòng một dạ

ra như thế.