BÀ MẸ QUÊ & Quê Nghèo – Phạm Duy & Ai Nhớ Chăng Ai -Hương Lan

httpv://www.youtube.com/watch?v=GdxQdMA3cAY&index=7&list=PLNBxCTIUVE71dMcwQPJYS5x4fPqngZndd

BÀ MẸ QUÊ -Phạm Duy -Hương Lan

httpv://www.youtube.com/watch?v=6sB1TYOG2sk&list=PLNBxCTIUVE71dMcwQPJYS5x4fPqngZndd&index=55

Quê Nghèo -Phạm Duy -Hương Lan

httpv://www.youtube.com/watch?v=8GO5Rb62zFs&index=2&list=PLNBxCTIUVE71dMcwQPJYS5x4fPqngZndd

Ai Nhớ Chăng Ai -Hương Lan

Con người sống không có tín ngưỡng tựa như lạc lối trong sương mù

Con người sống không có tín ngưỡng tựa như lạc lối trong sương mù

Đọc & Suy ngẫm

Chính Tâm

Con người, bất kể là ai cuối cùng rồi cũng phải đối mặt với cái chết. Có người sợ hãi tột cùng, có người lại thảnh thơi đối mặt, vậy điều gì quyết định tâm thái của sinh mệnh tại thời điểm quyết định này?

vô thần, tín ngưỡng, niềm tin, Bài chọn lọc,

“Không có tín ngưỡng, lấy gì để cứu vớt linh hồn chính mình và người khác đây”. Ảnh: Internet

Người ta sống trên đời, với một số vấn đề nhất định thì có thể nói mạnh miệng, riêng chỉ khi đối mặt với tử vong thì lại không nói được gì. Dù là nông dân hay trí thức, giàu có hay nghèo hèn, đều sẽ phải một lần đối mặt với vấn đề này. Tại mỗi nền văn hóa khác nhau lại có cách tiếp cận khác nhau.

Với tư cách bác sĩ ngoại khoa, tôi đã rất nhiều lần cùng người thân của bệnh nhân ung thư giấu kín đi bệnh tình của họ, để tránh bản thân người bệnh sau khi biết rõ mắc bệnh nan y tinh thần sẽ sụp đổ.

Đôi khi chúng tôi cũng thử cho người bệnh biết rõ tình trạng của mình, để cho người đó chuẩn bị tinh thần, nhưng kết quả đại đa số người biết được sự thật, tinh thần suy sụp, vốn dĩ có thể sống được nửa năm, lại chỉ sống được một tháng.

Rất nhiều cán bộ lãnh đạo ngày thường hô lớn chủ nghĩa vô thần, tập hợp quần chúng lại để phát biểu, ba hoa khoác lác, nhưng khi mạng sống sắp mất đi lại lo sợ cuống cuồng, chạy vạy khắp nơi mong tìm “phương thuốc” để kéo dài thọ mạng.

Thế nhưng tại phương Tây, nếu không cho người bệnh biết về tình trạng của họ, thì đó là hành vi lừa gạt, hoàn toàn trái pháp luật. Bản thân người bệnh phải biết rõ bệnh tình của chính mình, nhất là bệnh nan y, họ cần biết rõ mình còn sống được bao lâu, như vậy họ có thể làm thêm một vài việc muốn làm lúc cuối đời, tự mình sắp xếp tốt thời gian quý giá còn lại.

Người phương Tây đại đa số là tín đồ Cơ Đốc giáo, họ đối với cái chết tương đối bình tĩnh, tin tưởng sau khi chết linh hồn đi đến Thiên đường hoặc còn có kiếp sau, đối mặt với tử vong cũng không phải sợ hãi.

Họ cũng thường nói: “Bạn chưa thấy qua Thiên đường, bạn có thể cho rằng Thiên đường không tồn tại, nhưng mà bạn cũng chưa từng chết, vậy làm sao bạn dám chắc người chết sẽ không có linh hồn đi tới Thiên đường hay Địa ngục đây?”

Tuyệt đại đa số người trong nước chúng tôi (Trung Quốc) không dám đối mặt với ung thư, chớ nói chi là đối mặt với cái chết, trong cuộc sống  tại điểm cuối của sinh mệnh hầu như ở trong sợ hãi và mờ mịt trôi qua. Cho dù có lời nói dối thiện ý của bác sĩ và người thân, nhưng đối mặt với tình trạng thân thể của mình ngày càng sa sút thì sự sợ hãi của họ càng ngày càng tăng lên.

Cùng là cái chết ấy, có người trong sợ hãi, mờ mịt mà chết đi, có người lại trong ao ước đến Thiên đường cùng mong tưởng tốt đẹp của kiếp sau mà rời khỏi dương gian.

Nhìn thấy người bệnh trong nước sợ hãi trước khi chết, lại thấy nhóm tín đồ Cơ Đốc kia bình tĩnh chờ đợi thời điểm rời khỏi nhân gian, tôi hiểu rõ: “Thì ra thống khổ lớn nhất của bệnh nhân Trung Quốc không phải trên thể xác, mà là ở tâm hồn”.

Khi nghe thấy ai đó có theo tín ngưỡng, đa số nói: “Cái gì đều không tin, chỉ tin tưởng khoa học”. Còn có người nói: “Tín ngưỡng có thể làm gì? Có thể tạo ra cơm ăn sao?”

Thế nhưng mà, với tư cách bác sĩ, tôi chân thành hỏi mọi người một vấn đề: “Không có tín ngưỡng, bạn có thể bình tĩnh đối mặt với tử vong hay không? Không có tín ngưỡng, bạn lấy cái gì để cứu vớt linh hồn chính mình và người khác đây?”

Sinh tử không phải nói huênh hoang, người Trung Quốc hiện nay, tôi tự đáy lòng nói rằng: “Chúng ta cần tín ngưỡng, cần tín ngưỡng cao thượng đúng đắn”.

Tác giả: Lisa

Iris, dịch từ Kannewyork

Bị đánh bom nguyên tử, vì sao người Nhật lại cúi đầu kính trọng tướng Mỹ?

 Đọc & Suy ngẫm

http://tinhhoa.net/doc-truyen/

 MacArthur, vị danh tướng của Mỹ, là người chỉ huy quân đội tiến đánh Nhật Bản trong thế chiến thứ II. 

Tuy nhiên, khi ông rời khỏi đất nước này, người dân không hề căm ghét mà ngược lại đều tỏ lòng biết ơn bởi những việc làm của ông.

kính trÍng, dan chu, chi¿n tranh,

Chân dung Thống tướng Douglas MacArthur. Ảnh: Internet
Năm 1942 tướng MacArthur dẫn đại quân tấn công Nhật Bản, từ Melbourne xa xôi đánh thẳng đến Tokyo, hai tay nhuộm máu người Nhật Bản. Vì thế vô số người Nhật đều hận ông thấu xương.Chiều ngày 30/8/1945, tướng quân MacArthur ra khỏi máy bay và đặt chân lên đất Nhật, cho dù ông không mặc quân phục và không mang theo vũ khí gì, cũng không có người tổ chức duyệt binh, nhưng thời khắc đó với 70 triệu người Nhật Bản là thời khắc kinh hoàng mà họ không thể quên, trong tâm trí mọi người chỉ còn nghĩ được hai chữ “mất nước”.
Nhưng tướng MacArthur mang  đến hòa bình, chính nghĩa, khoan dung và dân chủ
Nền kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh rơi vào suy sụp, đến bữa trưa của Nghị viên Quốc hội cũng phải ăn cơm trộn khoai lang, cái đói bao phủ khắp nơi. Lúc này tướng MacArthur gây áp lực khiến chính phủ Mỹ phải hỗ trợ Nhật Bản, thế là 3,5 triệu tấn lương thực và 2 tỷ Mỹ kim tức tốc được gửi đến Nhật. Ông không chỉ giữ lại chính quyền Nhật Bản mà còn đặc xá cho Thiên hoàng, thậm chí còn quan tâm đến số phận của từng người lính bình thường của Nhật Bản, giúp họ tìm con đường sống.

kính trÍng, dan chu, chi¿n tranh,

Tướng MacArthur tiếp nhận quân Nhật đầu hàng (Ảnh: Internet)
Theo sau ông, 400 nghìn lính Mỹ đã dùng thiện ý và tinh thần hy sinh để chinh phục người Nhật Bản. Khi đó các con hẻm trong thành phố của Nhật rất chật hẹp, một người Nhật bình thường và một người lính Mỹ to lớn nếu gặp nhau cũng khó để đi qua, vì thế thường thì người lính Mỹ sẽ nép vào một bên cho người Nhật đi trước. Người Nhật không thể không băn khoăn tự hỏi, nếu mình là kẻ chiến thắng thì có làm được như thế không?
Sau khi tướng MacArthur đến Nhật Bản, ông lập tức ra lệnh thả tội phạm chính trị, trong đó có rất nhiều Đảng viên Cộng sản, bị chính phủ Nhật bắt giam trong thời gian dài.
Ngày 25/8/1945, quân chiếm đóng của Mỹ cho phép phụ nữ Nhật thiết lập tổ chức của mình; tháng 9 cho công bố Dự luật về vai trò trong bầu cử của phụ nữ Nhật Bản; đây là lần đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản, phụ nữ được quyền bầu cử và ứng cử.
Lúc này tại Tokyo có cô kỹ nữ được chọn làm Nghị viên thành phố, nhiều thị dân cảm thấy khó chấp nhận. Nhưng tướng MacArthur nói, mọi người chọn cô ấy để cô ấy phục vụ mọi người, đừng vì cô ấy là kỹ nữ mà kỳ thị bỏ qua. Khi đó mọi người chợt hiểu người được chọn trong bầu cử dân chủ phải là người thay mặt để vì mình làm việc, thế là sau khi hiểu ý nghĩa vấn đề họ đã quyết định chọn bầu cô kỹ nữ kia. Kết quả sau khi trở thành Nghị viên, cô đã không phụ lòng mọi người, làm được rất nhiều việc có ý nghĩa.

kính trÍng, dan chu, chi¿n tranh,  

Cột khói hình nấm khổng lồ bốc lên khi Mỹ thả bom nguyên tử xuống Nhật Bản. Ảnh: Askman.com
Vào ngày 11/10/1945, tướng MacArthur tuyên bố bỏ lệnh cấm báo chí, Nhật Bản được tự do thông tin và tự do ngôn luận. Ngày 22/12/1945, ban hành “Luật Công hội”, giai cấp công nhân thực sự có tổ chức của mình. Ngày 1/9/1947, ban hành “Luật lao động”, quy định tiêu chuẩn tiền lương thấp nhất và thời gian làm việc nhiều nhất.http://tinhhoa.net/
Ngày 3/2/1946, tướng MacArthur chỉ thị cho Tổng bộ Liên minh khởi thảo Hiến pháp Nhật Bản. Chính phủ Mỹ truyền đạt nguyên tắc chế định Hiến pháp cho tướng MacArthur là: Chính phủ Nhật Bản phải do toàn thể cử tri trao quyền và phải chịu trách nhiệm trước toàn thể cử tri. Ngày 3/5, quân liên minh giao ra Bản dự thảo Hiến pháp. Ngày 7/10, Quốc hội Nhật Bản thông qua Hiến pháp. Ngày 3/11, Thiên hoàng cho ban hành Tân Hiến pháp.
Đây là Hiến pháp do kẻ chiếm lĩnh chiếu theo giá trị quan phương Tây áp đặt cho kẻ bị chiếm lĩnh, nhưng lại là bản Hiến pháp đem lại phúc lợi cho nhân dân quốc gia bị chiếm lĩnh. Bản Hiến pháp nhấn mạnh quyền lợi công dân cơ bản của người Nhật Bản, xem những quyền lợi này là “quyền lợi trời cho mà không ai có quyền tước đoạt”. Những quyền này bao gồm: quyền bầu cử, lập hội và tự do xuất bản; không có sự tham gia của luật sư thì không được định tội; bảo đảm quyền cư trú an toàn cho dân, cấm kiểm tra và tước đoạt vô cớ.
Ngày 21/10/1946, Quốc hội đã thông qua “Luật Cải cách ruộng đất”. Chính phủ Nhật Bản mua lại đất đai dư thừa của giới địa chủ, sau đó bán đất lại cho nông dân không có ruộng. Với những nông dân không có tiền mua đất, chính phủ cho vay thế chấp. Tất cả diễn ra không đổ một giọt máu, một mạng người, những người nông dân ai nấy đều có được một phần đất cho mình.
Ngày 31/3/1947, ban hành “Luật Giáo dục”. Theo đó mục tiêu hàng đầu của giáo dục là “tôn trọng sự tôn nghiêm của cá nhân, bồi dưỡng cho mọi người có lòng nhiệt huyết vì chân lý và hòa bình”. Trường học của Nhật Bản không còn nằm trong kiểm soát của chính phủ mà là do Ủy ban Giáo dục do dân chúng bầu ra quản lý. Việc chọn lựa nhà giáo, sách học và bố trí chương trình hoàn toàn do người dân tự chủ quyết định.
Năm 1952, quân chiếm đóng Mỹ trả chính quyền về cho chính phủ Nhật Bản. Sau 7 năm chiếm đóng, người Mỹ cải cách triệt để con đường phát triển của Nhật Bản, chủ quyền quốc gia từ trong tay kẻ chuyên chế trao lại cho người dân Nhật Bản, những tiền đề tiến bộ đầu tiên này giúp người Nhật bước vào con đường thênh thang.

kính trÍng, dan chu, chi¿n tranh,  

Quang cảnh sau khi xảy ra vụ ném bom nguyên tử, hầu như mọi thứ đều bị thổi bay. Ước tính 90% nhà cửa ở Hiroshima bị hủy diệt hoặc hư hại. (Ảnh: Internet)
Hơn 10 năm sau, Nhật Bản trở thành cường quốc kinh tế thứ hai thế giới, quốc gia phồn vinh, nhân dân giàu có, xã hội ổn định. Có thể nói thêm một câu, quân chiếm đóng của Mỹ không chi một đồng tiền thuế nào của người dân Nhật Bản, chi phí của họ là lấy từ tiền thuế của người Mỹ.
Người Nhật tổ chức buổi lễ long trọng đưa tiễn tướng quân MacArthur
Trong thời gian chiếm đóng Nhật Bản, rất nhiều người Nhật đã viết thư gửi cho tướng MacArthur yêu cầu biếu tặng đất đai của họ. Nhiều phụ nữ can đảm viết thư đề nghị được hiến thân cho tướng MacArthur, nhiều người còn viết “xin hãy cho tôi được sinh con cho ngài.”
Sáng ngày 16/4/1951, Tổng thống Harry Truman phế bỏ chức Tư lệnh quân chiếm đóng và buộc tướng MacArthur phải về nước, sự kiện này chỉ thông báo cho một số quan chức cấp cao người Nhật biết. Nhưng khi ông ngồi lên ô tô thì mới phát hiện, từ nơi dinh phủ ông ở đến Sân bay Atsugi có hàng triệu người Nhật Bản đứng hai bên đường đưa tiễn. Đoàn xe hộ tống đi qua những hàng nước mắt cùng tiếng hô vang dậy của người dân Nhật Bản: Đại nguyên soái!
Người dân Tokyo đứng chật kín hai bên đường, ai nấy rơi nước mắt, họ như hoàn toàn quên chuyện tướng MacArthur là kẻ chiếm đóng đã đánh bại quân đội quốc gia mình. Thiên hoàng đích thân đến sứ quán đưa tiễn MacArthur, tướng MacArthur cũng xúc động rơi nước mắt, nắm chặt hai tay của Thiên hoàng Hirohito.
Khi đưa tiễn, Thủ tướng Yoshida của Nhật nói: “Tướng quân MacArthur đã cứu chúng tôi ra khỏi nỗi sợ hãi, lo lắng và hỗn loạn của thất bại để đưa chúng tôi vào con đường mới do ông xây dựng, chính Ngài đã gieo trồng hạt giống dân chủ trên đất nước chúng tôi để chúng tôi bước trên con đường hòa bình, tình cảm ly biệt mà nhân dân chúng tôi dành cho Ngài không lời nào có thể diễn tả được.”
Uy lực quả bom nguyên tử của Mỹ tàn phá thành phố và nền kinh tế của Nhật Bản, nhưng về phương diện tinh thần, nước Mỹ đã hoàn toàn chinh phục được người Nhật Bản.
Theo Daikynguyenvnhttp://tinhhoa.net/chuyen-la-bon-phuong/

 

Tại sao du học sinh không về nước?

Tại sao du học sinh không về nước?
Nguoi-viet.com

 

Ngô Nhân Dụng

Nếu chỉ nhìn vào con số tiền bạc tự động chảy vào Việt Nam mà không cần bán gì hết thì ai cũng mừng. Tổng số tiền ngoại quốc đổ vào trong nước trong năm 2015 sẽ lên đến 13, 14 tỷ Mỹ kim. Tính trung bình mỗi người Việt Nam ở nước ngoài gửi về nước gần 3000 đô la; mỗi người dân trong nước được hơn 150 đô la!

Trong mấy chục năm nay tiền từ người Việt ở nước ngoài chảy vào trong nước, nhưng trong cùng thời gian đó, nước Việt Nam đã mất một thứ còn quý hơn nữa, là con người, đặc biệt là những người có khả năng. Ngay sau khi chế độ Cộng Sản được đem vào miền Nam, những đợt vượt biển, ra đi tìm tự do đã là một cuộc “xuất não” lớn. Nhưng đáng lo cho đất nước hơn nữa là đến nay những du học sinh Việt Nam ra nước ngoài phần lớn đã chọn không trở về. Mỗi người chọn “ở lại” là nước Việt mất một người.

Báo mạng trong nước đang nói rất nhiều về trường hợp anh Ðỗ Lâm Hoàng, một sinh viên du học tại Úc đã chọn ở lại sau khi tốt nghiệp. Tâm sự của anh Hoàng có thể coi là tiêu biểu cho hầu hết các du sinh Việt Nam đang học ở Mỹ, ở Châu Âu, CANADa hay ở Úc, vân vân, đã hoặc đang phân vân muốn “chọn ở lại.”

Ðỗ Lâm Hoàng được chú ý vì anh đã chiếm giải nhất trong cuộc thi tài Olympia. Anh được thưởng 35 ngàn Mỹ kim, rồi sau 10 tháng được học bổng của một đại học Australia, nước Úc, trị giá trăm ngàn Mỹ kim nữa. Những năm sống trong môi trường đại học nước Úc, anh dần dần học được nhiều điều mới trong cách sống: “…tôi được dạy rằng, trong công việc muốn gì thì nói thẳng ra và đối xử bình đẳng với nhau trong công việc. Chúng tôi được đào tạo để đối diện và chịu trách nhiệm,…”

Sau khi tốt nghiệp Ðỗ Lâm Hoàng về Việt Nam 3 tháng. Anh cho biết bạn bè đã mách cho anh các cơ hội làm việc tốt, nhưng thiếu nhất là tính “minh bạch.” Ai cũng dặn dò anh một câu: “Em về Việt Nam làm, có nhiều cái khác biệt so với nước ngoài. Khác biệt lớn nhất là: trong giao tiếp, có những cái em biết đôi khi em cũng không nên nói, nếu có biết cũng lập lờ làm như mình không biết… không nên thể hiện sự hiểu biết của mình.” Làm việc ở Việt Nam phải “che giấu con người thật và hy sinh một số tự do cá nhân, một thứ rất quan trọng trong yếu tố con người.” Còn làm việc ở Úc “môi trường làm việc minh bạch, không đòi hỏi bôi trơn này nọ nên chúng tôi luôn được là chính mình.”

Trong thời gian làm việc tập sự tại Sở Giáo Dục của bang Victoria, người chỉ huy anh trao cho trách nhiệm làm một “chuyên viên mạng không dây, wireless.” Ông ta dặn dò, “có cần gì cần hỗ trợ thì cứ nói thẳng ra.” Không khí làm việc thẳng thắn, minh bạch. Có lần anh hỏi người chỉ huy tại sao ông ấy có thể giao công việc quan trọng cho một sinh viên thực tập như mình? Ông ta nói: “Tôi thấy anh hiểu biết rất sâu vấn đề này. Tôi tin tưởng anh có trách nhiệm nên tôi rất tự tin khi giao công việc này cho anh.”

Hoàng hỏi tiếp: “Như ở nước tôi, sếp quyết định hết mọi thứ. Vậy tại sao ở đây ông không quyết định mọi thứ mà ông để cho tôi quyết định?” Ông ấy trả lời: “Nếu có chuyện đó cũng lạ thật. Tôi muốn nói cho anh biết người quản lý không phải là người biết tất cả mọi thứ. Mà người quản lý phải là người biết trong tay họ có những nhân viên như thế nào và họ phải biết sử dụng nhân viên của họ.” Hoàng công nhận: “Sau buổi đối thoại đó, tôi nghĩ rằng, chọn con đường ở lại có thể sẽ tốt hơn cho tôi.”

Các du học sinh ở lại có thể vì lý do kinh tế. Nhưng Ðỗ Lâm Hoàng đã nêu ra những lý do sâu xa hơn: “Nếu về mà trái ngành nghề, làm việc không có lợi cho cộng đồng, về để mà vinh thân phì gia mặc kệ cộng đồng thì thà đừng về còn hơn.”

Nói “Làm việc không đúng nghề của mình” Hoàng đã nhắc nhớ đến trường hợp một giáo sư Ðại Học Kỹ Thuật-Công Nghệ ở Cần Thơ gần đây. Ông Doãn Minh Ðăng đã đưa lên Facebook những điều bất công ông phải chịu trong nhà trường, và sau đó ông bị “xử lý kỷ luật.” Thay vì tiếp tục giảng dạy và nghiên cứu, nhà khoa học này được đưa qua làm một công việc hành chánh không cần một hiểu biết khoa học, kỹ thuật nào cả!

Ðỗ Lâm Hoàng cũng nói rõ các trở ngại khác nếu về làm việc trong nước, mà vụ Giáo Sư Doãn Minh Ðăng là tiêu biểu: Không được tự do suy nghĩ. Mất tự do phát biểu. Không được sống con người thật của mình. Phải chịu luồn cúi những kẻ không hiểu biết, thiếu đạo đức, chỉ thăng tiến trong xã hội nhờ bè đảng, cái bè đảng lớn nhất chính là đảng Cộng Sản!

Phải sống trong một môi trường bất minh và không bình đẳng như vậy, người sinh viên tính trở về sẽ suy nghĩ: “Chúng tôi về là để cống hiến, để làm việc chứ không phải về nắm bắt cơ hội, để trở thành kẻ cơ hội.” Chắc phần lớn các du học sinh Việt Nam cũng đang nghĩ như thế. Họ chọn “ở lại” đóng góp cho quốc gia nơi họ du học, vì biết rằng nếu trở về cũng không có cơ hội đóng góp gì cho đất nước, vì phải sống trong một xã hội vẫn còn di sản của chế độ “hồng hơn chuyên.”

Cho nên, nước Việt Nam đang bị mất rất nhiều tài năng. Những tài năng đó, đời xưa ông Thân Nhân Trung (1419-1499), sống vào đời Lê Thánh Tông đã gọi là “nguyên khí của quốc gia.” Thân Nhân Trung viết một câu nổi tiếng: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia.” Sau khi khẳng định điều đó, ông nói tiếp: “Bởi thế các đức Thánh Ðế, Minh Vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên.”
Thân Nhân Trung là một nhà Nho, môn đồ Khổng Giáo, cho nên đã quen biết với quy tắc “cử hiền tài.” Chữ “Hiền” trong văn chương đời xưa cũng có nghĩa là người có khả năng, chứ không phải chỉ nói đến tính hạnh tốt. Trong Lễ Ký, Khổng Tử mô tả một xã hội “đại đồng,” khi “đạo lớn được thi hành,” ông viết: “Ðạo lớn được thi hành, thiên hạ đều là chung, tuyển chọn người hiền có tài năng, nói điều tín nghĩa hòa mục, cho nên người ta không chỉ thương yêu cha mẹ mình, không chỉ lo cho con cái mình,…” (Ðại đạo chi hành dã, thiên hạ vi công, tuyển hiền dữ năng, giảng tín tu mục, cố nhân bất độc thân kỳ thân, bất độc tử kỳ tử,…)

“Cử hiền dữ năng,” nói theo lối Tây phương bây giờ, gọi là “meritocracy,” có thể tạm dịch là “chế độ cử hiền tài.” Chế độ này có thể được áp dụng trong việc quản trị một quốc gia cũng như trong các công ty kinh doanh, các tổ chức bất vụ lợi, khi cả xã hội dùng quy tắc “cử hiền tài” để chọn người nắm quyền hành trên những người khác. Theo quy tắc “cử hiền tài” thì phải chọn những người có khả năng thay vì chọn những người thân thuộc, cùng bè đảng, cùng thuộc một “giai cấp ưu đãi,” là các đảng viên đảng cầm quyền. Cử hiền tài thì trong công việc chung, dù là việc nước hay việc của xí nghiệp, của cơ quan, “người ta không chỉ thương yêu cha mẹ mình, không chỉ lo cho con cái mình” (nhân bất độc thân kỳ thân, bất độc tử kỳ tử). Chắc chắc chắn không ai chỉ “lo cho các đồng đảng của mình!” Chế độ “cử hiền tài” là căn bản cho một xã hội sống với “cơ hội đồng đều,” khi mọi công dân được “bình đẳng trong cơ hội.”

Lý do chính khiến các du học sinh Việt Nam không trở về nước là vì sẽ không được sống xứng đáng với nhân phẩm của mình, mà một phần quan trọng trong nhân phẩm là quyền sống, suy nghĩ và phát biểu tự do, luôn luôn được “là chính mình” như Ðỗ Lâm Hoàng xác nhận. Lý do quan trọng khác khiến nhiều người không muốn về nước là vì họ biết khi trở về sẽ lại phải sống trong một xã hội không có “bình đẳng trong cơ hội.”

Nhiều sinh viên có thể chọn trở về vì biết họ “có gốc lớn,” nhờ xã hội bất bình đẳng mà họ sẽ được ưu đãi. Nếu những sinh viên đó chỉ cần sống “vinh thân phì gia mặc kệ cộng đồng,” thì con đường trở về là hợp lý. Nhưng với tuổi trẻ người ta còn giữ được nhiều lý tưởng, nhiều người “có gốc lớn” cũng không muốn sử dụng uy thế, tiền bạc của cha mẹ mình để tiến lên trong xã hội, họ cũng nghĩ rằng chỉ khi nào mình thăng tiến nhờ tài năng thì mới xứng đáng.

Trong một chế độ độc đảng, độc quyền, xã hội không thể có “bình đẳng trong cơ hội.” Chế độ độc tài đảng trị đang gây ra cơn “xuất não” làm hao mòn nguyên khí dân tộc Việt Nam. Ðảng Cộng Sản có thể đang vỗ bụng tự khen là họ đã thu vào được 14 tỷ Mỹ kim kiều hối. Nhưng nước Việt Nam vẫn tiếp tục mất, dòng nguyên khí của quốc gia vẫn tiếp tục chảy ra nước ngoài!

Chỉ khi nào dân Việt được sống tự do dân chủ thì mới chấm dứt được tai họa mất nguyên khí này.

HẠNH PHÚC ?

HẠNH PHÚC ?

 Trích EPHATA 671

 Kho tàng ngụ ngôn Ấn Độ kể rằng:

Cụ già kia có cô cháu ngoại 12 tuổi với khuôn mặt thật xinh xắn, đôn hậu; nhưng rủi thay, cô bé bị mù từ thuở mới sinh. Bởi thế, ngày ngày cô thầm khóc vì tủi thân và nét mặt bao giờ cũng trầm buồn. Cho đến một hôm, cụ già gọi cô lại và bảo:

“Cháu ơi, trên đời này người ta khổ vì mê, người ta bất hạnh vì lầm. Vì mê, nên người ta

so; vì lầm, nên người ta sánh. Phần cháu, cháu không mê, cũng không lầm; cháu không so, cũng không sánh nên thật hạnh phúc.”

Cô bé xem ra không hiểu, nên ngoại em nói tiếp:

“Người ta so sánh cái này với cái kia, người này với người nọ. Chính cái hơn thua làm

cho người ta đau khổ, chính cái đua đòi làm cho người ta u mê, để rồi họ miên man chạy theo danh, hụt hơi tìm theo lợi, rong ruổi theo cái phù hoa, bất chấp phải xâu xé, không ngại phải dẫm đạp… Thế mà đang khi đó, mấy ai nhớ rằng, tất cả mọi sự đang qua đi, tất cả mọi sự đang tan chảy; có cái tan nhanh như bọt nước, có cái tan chậm như địa cầu. Mỗi người quên rằng, chính thân xác họ đang tan, cuộc đời họ cũng đang chảy. Sống thêm một ngày là một ngày bước tới gần bên huyệt mộ của mình”.

Nghe xong lời giải thích, cô cháu lặng người, những giọt lệ từ đôi mắt mù loà lăn dài trên đôi má; nhưng cũng từ đó, khuôn mặt cô bắt đầu rạng rỡ. Cô cảm nhận mình đang thật hạnh phúc…

KHUYẾT DANH

MƯỜI BỐN MỐI

MƯỜI BỐN MỐI

 Lm. VĨNH SANG, DCCT,

Trích EPHATA 671

Với Tông Sắc “Dung mạo lòng thương xót” ( Misericordiae Vultus ), Đức Thánh Cha Phanxicô đã tuyên bố mở Năm Thánh ngoại thường về Lòng Thương Xót của Chúa. Vẫn với phong cách bình dị, đơn giản và đầy nhiệt huyết, Tông Sắc của vị Giáo Hoàng cho người nghèo chuyển tải đến chúng ta những gợi ý đầy cảm xúc về Lòng Thương Xót của Thiên Chúa xuyên qua các câu chuyện trong Tin Mừng, đặc biệt là các dụ ngôn.

Như kết cấu chúng ta thường thấy trong các văn kiện, phần đầu mang tính Thần Học Tín Lý như

để minh định nền tảng của văn kiện, nhưng với Tông Sắc này, Đức Thánh Cha nhanh chóng đi qua phần đầu để trực tiếp dẫn chúng ta vào một không gian tràn ngập tình yêu thương của Thiên Chúa. Từ Dung Mạo Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, hình ảnh Đức Giêsu được trưng dẫn là một lời ngỏ độc đáo của Thiên Chúa dành cho nhân loại, Lời thành xác phàm và sống cụ thể Lòng Thương Xót vô bờ bến bằng chính thân phận con người, giữa loài người và cho loài người chúng ta.

Nắm bắt được nền tảng Lòng Thương Xót của Thiên Chúa thể hiện cụ thể nơi Đức Giêsu, Đức

Thánh Cha nhanh chóng dẫn chúng ta vào sứ vụ sống Lòng Thương Xót của Chúa giữa nhân loại hôm nay. Thật sự bất ngờ khi Đức Thánh Cha đề nghị chúng ta sống theo kính Mười Bốn Mối.

 Thương người có mười bốn mối:

Thương xác bẩy mối:

  1. Thứ nhất: cho kẻ đói ăn.
  2. Thứ hai: cho kẻ khát uống.
  3. Thứ ba: cho kẻ rách rưới ăn mặc.
  4. Thứ bốn: viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc.
  5. Thứ năm: cho khách đỗ nhà.
  6. Thứ sáu: chuộc kẻ làm tôi.
  7. Thứ bảy: chôn xác kẻ chết.

 Thương linh hồn bẩy mối:

  1. Thứ nhất: lấy lời lành mà khuyên người.
  2. Thứ hai: mở dạy kẻ mê muội.
  3. Thứ ba: yên ủi kẻ âu lo.
  4. Thứ bốn: răn bảo kẻ có tội.
  5. Thứ năm: tha kẻ dể ta.
  6. Thứ sáu: nhịn kẻ mất lòng ta.
  7. Thứ bảy: cầu cho kẻ sống và kẻ chết.

Cảm giác đầu tiên là cứ ngỡ câu kinh tiếng kệ này đã lùi vào quá khứ, cái thủơ các bà các ông

và đám trẻ con nhôi nhai cắp nách chiếc chiếu rách đến Nhà Thờ phủi đất cát tìm một chỗ để trải chiếu, cái quá khứ không còn tìm đâu ra những tiếng kinh vần điệu nhịp nhàng trên môi miệng các bà các cô không cần biết chữ, nhắm mắt mà vẫn đọc được kinh. Thậm chí bài kinh này gần như đã trôi theo năm tháng và được xếp xó ở một góc khuất nào đó trong nền văn minh của nhân loại mà bụi thời gian đã gần như phủ lấp đi. Bây giờ người ta chạy theo những tư tưởng thần học, những khám phá thần học mới, những suy tư và tìm kiếm những quy chuẩn luân lý mới. Đức Thánh Cha đơn sơ nhắc chúng ta sống cụ thể lời kinh cũ mèm của Hội Thánh nhưng đã từng làm nến tảng cho Luân Lý Kitô Giáo.

Đức Thánh Cha khuyên chúng ta đọc, nhắc chúng ta sống và bảo chúng ta phổ biến tinh thần

này. Chắc chắn chúng ta phải thực hiện, và khi thực hiện chúng ta sẽ phải đối đầu với một đại dịch vô cảm và nhẫn tâm của thời đại hôm nay, đối đầu ngay trong chính tâm hồn chúng ta.

Kẻ đói, kẻ khát, kẻ rách rưới ngay trước mắt chúng ta, lâu nay chúng ta không nhìn thấy, bây giờ phải thấy. Kẻ liệt, kẻ tù rạc, kẻ lỡ đường, kẻ chết vùi dập đang réo gọi chúng ta, lâu nay chúng ta bưng tai bịt mắt. Rồi có ngượng miệng không, khi chúng ta không dám đứng bên cạnh người nghèo, người bị áp bức, người đau khổ, người chịu nhiều thiệt thòi giữa xã hội hôm nay ? Có dám ngửng cao đầu hay không khi chúng ta phản bội lại những ai đã từng hy sinh cho chúng ta được an bình nay họ phải sống trong tàn tạ thiếu thốn ? Có còn được phép trốn tránh nữa không ? Có còn có thể đổ thừa là đi với người nghèo là làm chính trị theo nghĩa xấu nữa hay không ? Có thấy không cái mình đang hưởng thụ dư thừa là cái ăn cắp của người nghèo ? Có thấy rằng được hưởng Lòng Thương Xót vô biên của Thiên Chúa là một ân huệ lớn lao mà chúng ta không thể trả lễ chỉ bằng những giờ kinh nghêu ngao giữa trưa mà coi đó là đủ.

Đức Thánh Cha bảo chúng ta phải sống cụ thể !

 Lm. VĨNH SANG, DCCT,

12.12.2015

Hãy sống trong hạnh phúc dù cuộc đời không như mơ

Hãy sống trong hạnh phúc dù cuộc đời không như mơ 

Nữ nhà văn Mỹ Hellen Keller đã từng nói: “Tôi đã khóc vì không có giày để đi cho đến khi tôi nhìn thấy một người không có chân để mang giày”.

Nếu bạn hỏng xe dọc đường, phải cuốc bộ vài dặm mới tìm ra được người giúp đỡ – Hãy nghĩ tới những ai liệt cả đôi chân, luôn khao khát được bước đi như bạn.

Đó là lúc khó khăn của bạn, đôi chân của bạn có thể đưa bạn đến bất cứ nơi đâu, đó là hạnh phúc và may mắn khi bạn sinh ra trên đời được có quyền đứng trên đôi chân của mình để đi. Khi không may đôi chân phải nặng nề hơn trên con đường đang bước thì hãy chớ vội nản lòng, khó chịu bởi đằng kia có rất rất nhiều người đang khao khát được bước và được đi như bạn dù chỉ một bước chân.        

Nếu bạn cảm thấy đời mình bị mất mát và băn khoăn về ý nghĩa kiếp người – Xin bạn hãy biết ơn cuộc sống vì có nhiều người đã không được sống hết tuổi trẻ của mình để có những trải nghiệm như bạn. Đừng bao giờ nghĩ rằng mình kém may mắn trong cuộc đời này, hãy biết trân trọng từng phút giây khi được sinh ra trên cuộc đời này.         

Nếu bạn cảm thấy mình là nạn nhân của những ai hay cay nghiệt, dốt nát, nhỏ nhen, nghi kỵ – Hãy nhớ rằng việc đời có khi còn tệ hại hơn thế rất nhiều. Sống là động nhưng lòng không dao động.

Mỗi sớm mai thức dậy việc đầu tiên mà ta phải làm là hãy nở một nụ cười thật tươi để trả lại cho cuộc sống đã cho ta được sinh ra trên cuộc đời này, có được một đôi chân vững chãi để bước đi, có được một đôi tay lành lặn để ôm ấp những người mà ta yêu thương, có được một đôi mắt sáng để nhìn ngắm thế giới xung quanh, có được niềm tin và nghị lực trong mỗi chặng đường đời để cảm thấy mình hạnh phúc dù ở trong hoàn cảnh nào.

Hãy biết nâng niu và trân trọng từng phút giây mà bạn đang có để biết yêu thương được đong đầy như thế nào trong cuộc đời mình.

Anh chị Thụ & Mai gởi

CHÚA VỊ CỨU TINH SẼ ĐẾN CỨU ĐỘ CHÚNG TA

CHÚA VỊ CỨU TINH SẼ ĐẾN CỨU ĐỘ CHÚNG TA

(CN III Mùa Vọng)

  Tuyết Mai

Thật phải khi Thiên Chúa vị Cứu Tinh của chúng ta đến trần gian, tất cả mọi chỗ mọi nơi trên địa cầu phải nhảy mừng, hân hoan và ca hát không ngừng. Để chào đón một Thiên Chúa vô cùng toàn năng, thống trị toàn cõi địa cầu, sẽ giáng trần mặc xác loài người như chúng ta và để cứu độ chúng ta. Thưa Ngài sẽ cứu độ chúng ta như thế nào?.

Ngài sẽ làm cho Israel được vinh quang của xứ Liban, huy hoàng của Carmel và Saron. Ngài sẽ mở mắt cho người mù được nhìn thấy; mở tai cho người điếc được nghe; người què được nhảy nhót; người được Chúa cứu chuộc, sẽ trở về và đến Sion với lời khen ngợi; và trên đầu họ mang hoan hỉ triền miên, họ sẽ được vui mừng khoái trá, họ sẽ không còn đau buồn rên siết nữa.

Thế thì còn gì bằng mà toàn cõi địa cầu không phủ phục dưới bàn thờ Thiên Chúa mà cảm tạ Người. Vì Thiên Chúa đã dõi mắt trông chừng chúng ta.  Vì Thiên Chúa Người có đang lắng nghe tiếng chúng ta khẩn cầu với lòng thành khẩn, thông cảm cho sự yếu đuối mỏng dòn của con người chúng ta.  Thiên Chúa Người thương yêu chúng ta, muốn được hiểu chúng ta tường tận hơn nên không gì bằng đã cho người Con duy nhất của mình xuống trần, mặc xác phàm để cảm thông và hiểu thế nào để trở thành một con người thật sự như chúng ta, chỉ trừ tội lỗi.

Vâng, một Hài Nhi phải xuống trần học cách làm con người.  Ngài phải được sinh ra thật bình thường như một con trẻ, có hình hài, có đầy đủ đầu mình và tứ chi. Cũng phải có cha mẹ là người trần gian nhưng cả hai rất khiết trinh vì đã dâng hiến trọn cuộc đời cho Thiên Chúa. Thế cho nên hai người đã được Thiên Chúa Cha tuyển chọn trong vô số những người thanh niên và thanh nữ để xứng đáng làm dưỡng phụ và dưỡng mẫu của Chúa Con Giêsu trên thế gian này.

Quả Ngài là một Thiên Chúa thật siêu phàm vì Ngài đã hy sinh chính mình cho nhân loại. Hy sinh đến nỗi Chúa đã chọn chỗ sinh ra đời của mình ở một nơi tận cùng nhất, bần hèn nhất, hôi hám nhất của trần gian. Một hang bò lừa ư?. Nằm trong máng cỏ trên được lót rơm ư?. Quần áo của một một thiên tử con Vua Trên Trời lại chỉ là tấm vải quấn người thôi ư!?. Sao Chúa lại làm thế?.

Chúa đã có ý dạy chúng con điều gì?. Có phải Chúa dạy chúng ta một bài học rất đơn giản là con người khi sinh ra trên trần gian này cũng không khác nào khi nằm xuống?. Là một sự tuần hoàn của nguyên thủy được trở về với nguyên thủy?. Con người khi được sinh ra trong trần truồng thì khi Chúa gọi ra đi cũng thật trần truồng.

Vâng, một thiên tử con Vua Trời lại phải học cách để làm người. Để được như vậy Ngài phải được sinh ra là một hài nhi chứ. Ngài cũng phải được bú mớm từ dòng sữa tươi mát và rất lành thánh của người Mẹ là Đức Maria khiết trinh của chúng ta.

Ngài phải được lớn lên trong sự giáo dục của cha mẹ thánh. Ngài cũng phải tập cách suy nghĩ của con người. Ngài học cảm nhận được cái nóng, lạnh, đói, đau, khổ và cái cảnh nghèo thiếu thốn ra sao. Ngài cũng phải sống chung với tất cả con người nghèo mà Ngài cho là bạn rất thân thiết của Ngài, ngày qua ngày như chúng ta đây vậy. Rất phải khi Thiên Chúa Cha đã nghĩ ra cách hoàn hảo nhất để dạy dỗ con người, sửa phạt con người là đem chính thân xác của con mình làm gương sáng cho nhân loại tội lỗi noi theo.

Khi nói đến gương sáng chúng ta tất cả không thể phủ nhận rằng gương sáng ngời của gia đình Thánh Gia. Một người cha trần thế rất thánh thiện, công thẳng, hiền hòa, bác ái và rất nhân hậu. Ngài là người ít nói nhưng làm nhiều. Hòa khí trong gia đình Ngài đã sống thật hòa thuận. Đúng lắm với thứ bậc làm cha và làm chồng của mình.

Luôn thương yêu, nhường nhịn người bạn đời của mình và biết thông cảm. Còn nói về Đức Mẹ thánh thiện của chúng ta thì không khỏi cảm phục và yêu kính Mẹ. Mẹ can đảm để Xin Vâng với thiên chức được làm Mẹ Chúa Trời trong tương lai vì lợi ích của nhân loại tuy dù Mẹ hiểu rằng những cái khổ trước mặt mà Mẹ phải chịu đựng.

Thiên Chúa Cha Người thương Mẹ đến độ Người đã chọn Mẹ và tác tạo Mẹ cách riêng để Mẹ không vướng tội tổ tông truyền vì Mẹ là Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội cơ mà. Mẹ rất xứng đáng làm Mẹ Chúa Trời. Mẹ xứng đáng làm Mẹ của Hội Thánh và Mẹ rất tuyệt vời để làm Mẹ của nhân loại.

Trong mùa đông lạnh giá này phúc thay cho toàn thể nhân loại chúng ta được Con Chúa Giáng Trần. Ngài giáng Ân Phúc cho chúng ta để trẻ con không cha không mẹ bị bỏ rơi có nơi trú ngụ và được no ấm.   Để các em lạc loài sống đầu đường xó chợ khắp nơi tìm nguồn an ủi nơi hang Bêlem.   Để những người cô đơn chưa đôi chưa cặp biết chờ đợi ý Chúa.   Để gia đình những ai đang xào xáo bất hòa biết nhịn nhục, chịu đựng, và yêu thương nhau hơn.  Để người bệnh tật được giảm đau và biết sống trông cậy vào Chúa.   Để người già cả biết sống trong chờ đợi trong an bình và để toàn cõi địa cầu biết Đấng Toàn Năng Con Thiên Chúa đang dần đến với chúng ta.

Lạy Chúa, Ngài xuống trần mà chẳng có ý định đem theo mình một thứ gì từ trời cả.  Ngôi báu cũng không, danh vọng tiền tài cũng không, tất cả mọi thứ Ngài để lại ở trên Trời.   Ngài chỉ đem theo duy nhất trái tim tràn đầy yêu thương là món quà trân quý nhất của Ngài ban tặng cho nhân loại chúng con mà thôi. Do đó chúng con xin được học nơi Ngài từ cách sống đơn sơ chân chất và thật thà. Đem chính thân xác mình và tình yêu Thiên Chúa đến cùng khắp anh chị em nơi bốn phương trời và hoan hỉ loan báo cho cùng khắp thiên hạ là Con một Thiên Chúa sắp Giáng Sinh. Amen.

 Tuyết Mai

Y Tá của Chúa

11 tháng 12, 2015

Đừng trách móc bất kỳ ai

 Đừng trách móc bất kỳ ai

 Người Tốt sẽ cho bạn Hạnh Phúc…

Người Xấu cho bạn Kinh Nghiệm…

Người Tồi Tệ nhất cho bạn Bài Học…

Và… người Tuyệt Vời Nhất sẽ cho bạn Kỷ Niệm.

Đừng hứa khi đang… vui !

Đừng trả lời khi đang… nóng giận

Đừng quyết đinh khi đang… buồn !

Đừng cười khi người khác… không vui !

Cái gì mua được bằng tiền, cái đó rẻ.

Ba năm học nói, một đời học cách lắng nghe

Chặng đường ngàn dặm luôn bắt đầu bằng 1 bước đi.

Đừng a tòng ghen ghét ai đó, khi mà họ chẳng có lỗi gì với ta

Tuy trong rừng có nhiều cây đại thọ cả ngàn năm, nhưng người sống thọ đến 100 tuổi không nhiều. Bạn thọ lắm cũng chỉ sống đến 100 tuổi (tỉ lệ 1 trên 100.000 người).

Nếu bạn sống đến 70 tuổi, bạn sẽ còn 30 năm. Nếu bạn thọ 80 tuổi, bạn chỉ còn 20 năm. Vì lẽ bạn không còn bao nhiêu năm để sống và bạn không thể mang theo các đồ vật bạn có, bạn đừng có tiết kiệm quá mức (trên 50t mừng từng năm, qua 60t mong hàng tháng, tới 70t đếm mỗi tuần, đến 80t đợi vài ngày, được 90t …ngơ ngác một mình với giờ phút dài thăm thẳm !)

Bạn nên tiêu những món cần tiêu, thưởng thức những gì nên thưởng thức, tặng cho thiên hạ những gì bạn có thể cho, nhưng đừng để lại tất cả cho con cháu. Bạn chẳng hề muốn chúng trở nên những kẻ ăn bám.

Đừng lo lắng về những gì sẽ xảy ra sau khi bạn ra đi, vì khi bạn đã trở về với cát bụi, bạn sẽ chẳng bị ảnh hưởng bởi lời khen hay tiếng chê bai nữa đâu

Đừng lo lăng nhiều qúa về con cái vì con cái có phần số của chúng và chúng sẽ tự tìm cách sống riêng. Đừng trở thành kẻ nô lệ của chúng.

Đừng mong chờ nhiều ở con cái. Con biết lo cho cha mẹ, dù có lòng vẫn quá bận rộn vì công ăn việc làm và các ràng buộc khác nên không thể giúp gì bạn

Các con vô tình thì có thể sẽ tranh dành của cải của bạn ngay khi bạn còn sống, và còn muốn bạn chóng chết để chúng có thể thừa hưởng các bất động sản của bạn

Các con của bạn cho rằng chuyện chúng thừa hưởng tài sản của bạn là chuyện dĩ nhiên nhưng bạn không thể đòi dự phần vào tiền bạc của chúng

Với những người thuộc lứa tuổi 60 như bạn, đừng đánh đổi sức khoẻ với tài lực nữa. Bởi vì tiền bạc có thể không mua được sức khoẻ. Khi nào thì bạn thôi làm tiền? và có bao nhiêu tiền là đủ (tiền muôn, tiền triệu hay mấy chục triệu)

Dù bạn có cả ngàn mẫu ruộng tốt, bạn cũng chỉ ăn khoảng 3 lon gạo mỗi ngày; dù bạn có cả ngàn dinh thự, bạn cũng chỉ cần một chỗ rộng 8 mét vuông để ngủ nghỉ ban đêm.

Vậy chừng nào bạn có đủ thức ăn và có đủ tiền tiêu là tốt rồi.

Nên bạn hãy sống cho vui vẻ. Mỗi gia đình đều có chuyện buồn phiền riêng.

Đừng so sánh với người khác về danh vọng và địa vị trong xã hội và con ai thành đạt hơn, nhưng bạn hãy so sánh về hạnh phúc, sức khỏe và tuổi thọ…

 Đừng lo nghĩ về những chuyện mà bạn không thể thay đổi vì chẳng được gì, mà lại còn làm hại cho sức khỏe bạn…

Bạn phải tạo ra sự an lạc và tìm được niềm hạnh phúc của chính mình. Miễn là bạn phấn chấn, nghĩ toàn chuyện vui và làm những việc bạn muốn mỗi ngày một cách thích thú thì bạn thật đã sống hạnh phúc từng ngày.Một ngày qua là một ngày bạn mất đi, nhưng một ngày trôi qua trong hạnh phúc là một ngày bạn “được”.

Khi bạn vui thì bệnh tật sẽ lành; khi bạn hạnh phúc thì bệnh sẽ chóng hết. Khi bạn vui và hạnh phúc thì bệnh sẽ chẳng đến bao giờ.

Với tính khí vui vẻ, với thể thao thể dục thích đáng, thừơng xuyên ra ánh sáng mặt trời, thay đổi thực phẩm đa dạng, uống một thuốc bổ vừa phải, hy vọng rằng bạn sẽ sống thêm 20 hay 30 năm tràn trề sức khỏe.

Và nhất là biết trân qúy những điều tốt đẹp quanh mình và còn BẠN BÈ .nữa.. họ đều làm cho bạn cảm thấy trẻ trung và có người cần đến mình… không có họ chắc chắn bạn sẽ cảm thấy lạc lõng, bơ vơ.!!

Xin chúc bạn mọi điều tốt đẹp nhất.

 Anh chị Thụ Mai gởi

NGƯỜI NỮ CHIẾN THẮNG CON RẮN

NGƯỜI NỮ CHIẾN THẮNG CON RẮN

Sự tích Lễ mừng Đức Bà Guadalupe ngày 12/12

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

Trong chuyến viếng thăm mục vụ Mêhicô lần thứ hai, Đức Chân Phúc Giáo Hoàng Gioan Phaolô II (1978-2005) nâng thổ dân Juan Diego (1474-1548) lên hàng Á Thánh vào Chúa Nhật 6-5-1990.  Hôm ấy, Đức Thánh Cha âu yếm gọi tân chân phước là “người tâm phúc của Đức Bà dịu hiền Tepeyac.”  (Thổ dân Juan Diego được Đức Mẹ Maria (Đức Bà Guadalupe) hiện ra 5 lần vào năm 1531).

NGUOI NU CHIEN THANG

12 năm sau, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II sang thủ đô Mêhicô lần thứ năm và chủ sự lễ tôn phong hiển thánh cho chân phước thổ dân Juan Diego vào ngày 31-7-2002.

Xin lược thuật 5 lần Đức Nữ Trinh Rất Thánh Maria hiện ra cùng thổ dân Juan Diego trên đồi Tepeyac.  Lần đầu vào sáng thứ bảy 9-12-1531 và lần cuối vào chiều thứ ba 12-12-1531.  Trong lần hiện ra sau cùng, Đức Mẹ Maria tỏ lộ danh thánh là “Đức Bà Guadalupe.”  “Guadalupe” trong tiếng thổ dân có nghĩa “Người Nữ Chiến Thắng con rắn.”

Các cuộc hiện ra được thổ dân Antonio Valeriano (1520-1605) kể lại tỉ mỉ.  Thổ dân Antonio Valeriano sống đồng thời với thổ dân Juan Diego.  Vào năm 1531, thổ dân Juan Diego 57 tuổi và thuộc về nhóm thổ dân thiểu số rất ít người.  Trước đó 7 năm, ông Juan Diego lãnh bí tích Rửa Tội cùng với người vợ hiền là bà Maria Lucia.  Bà Maria Lucia qua đời năm 1529.

LẦN HIỆN RA THỨ NHẤT

Hôm đó là sáng thứ bảy 9-12-1531, ông Juan Diego đến nhà thờ Thánh Giá ở Tlatelolco để tham dự buổi học giáo lý.  Khi đến gần đồi Tepeyac, ông nghe tiếng líu lo êm ái, tiếng ríu rít nhẹ nhàng, với các cung trầm bổng tuyệt vời của muôn ngàn chim sẻ, như tiếng nhạc réo rắt vọng xuống từ trời cao.  Thổ dân Juan Diego vô cùng bỡ ngỡ.  Ông dồn dập tự hỏi: “Liệu mình có xứng đáng với những gì đang nghe không?  Hay mình đang mơ?  Mình đã tỉnh hẳn chưa?  Mình đang ở nơi nào đây?  Có lẽ mình đang ở địa đàng, nơi cõi trần hạnh phúc mà các bậc tiên tổ đã nói tới chăng?  Hay là mình đã vào thiên đàng rồi?”  Còn đang đảo mắt nhìn chung quanh, bỗng tiếng hót im bặt và ông nghe một tiếng nói xa xôi, vọng xuống từ trên cao và gọi rõ tên ông:
– Juan Diego, Juan Diego bé nhỏ!

Juan Diego không hề cảm thấy sợ hãi, trái lại, ông sung sướng tiến nhanh về hướng đồi cao.  Khi leo lên tới đỉnh, Juan Diego trông thấy một Bà đang đứng đó.  Bà ra hiệu mời Juan Diego tiến lại gần Bà.  Khi đến trước mặt Bà, Juan Diego vô cùng bỡ ngỡ và kinh ngạc trước vẻ đẹp siêu thoát của Bà.  Áo Bà long lanh các tia sáng mặt trời.  Tảng đá nơi Bà đặt chân như toàn bằng đá quí và mặt đất chung quanh Bà tỏa sáng như cầu vòng.

Thổ dân Juan Diego kính cẩn quì xuống và cảm động lắng nghe lời Bà nói cách êm ái dịu dàng:
– Hỡi Juan bé nhỏ, người con nhỏ bé nhất trong các con Mẹ, con đang đi đâu đấy?
Juan Diego trả lời:
– Thưa Bà, con phải đến Nhà Bà ở Messico-Tlatelolco để tiếp tục học về các mầu nhiệm của Thiên Chúa do các linh mục dạy.  Các linh mục là các thừa tác viên thánh của Chúa chúng ta.

Bà Đẹp liền bày tỏ cùng Juan Diego ước muốn của Bà:
– Con hãy cẩn trọng ghi khắc nơi lòng con rằng con là người bé mọn nhất trong các con của Mẹ, và Mẹ chính là Đức Nữ Trinh Rất Thánh Maria, Mẹ Thiên Chúa thật, Đấng là suối nguồn sự sống, là Đấng Tạo Dựng muôn loài.  Ngài là Chủ Tể trên trời và dưới đất.  Mẹ hết sức mong ước người ta xây cất nơi đây một đền thánh, hầu Mẹ có thể minh chứng và trao ban cho mọi người tình thương của Mẹ, lòng cảm thông, sự trợ giúp và che chở của Mẹ.  Bởi vì, Mẹ là Mẹ Từ Bi của các con, Mẹ của riêng con, cũng như của toàn dân sống trên phần đất này và của tất cả những ai thành khẩn kêu cầu cùng Mẹ với trọn lòng tin tưởng.  Mẹ nghe rõ tiếng kêu than ai oán của họ.  Mẹ muốn trao ban cho mọi người phương thuốc chữa trị các nỗi đau đớn, các khó khăn cùng các sầu khổ buồn phiền.  Và để có thể thực hiện các nguyện ước khoan nhân của Mẹ, con hãy đi tới tòa Giám Mục Mêhicô và thưa với Đức Giám Mục rằng, chính Mẹ sai con tới và Mẹ ước ao người ta xây cho Mẹ một đền thánh trên ngọn đồi này.  Con hãy kể lại tỉ mỉ cho Đức Giám Mục tất cả những gì con thấy và nghe.  Con hãy tin chắc rằng, Mẹ sẽ nhớ ơn con, Mẹ sẽ ban thưởng cho con.  Mẹ sẽ làm cho con được hạnh phúc và con, con sẽ xứng đáng với phần thưởng, dành cho các cố gắng và các nhọc mệt con hy sinh để chu toàn sứ mệnh Mẹ trao phó.  Đấy nhé, con đã nghe rõ mệnh lệnh của Mẹ, hỡi con Mẹ, đứa con nhỏ bé nhất trong tất cả các con Mẹ.  Bây giờ con hãy đi và dùng trọn sức lực để thi hành công tác.

Thổ dân Juan Diego kính cẩn cúi mình nói:
– Thưa Bà, con sẽ đi ngay và thực hiện lệnh Bà truyền.  Giờ đây đứa đầy tớ khiêm hạ của Bà xin được phép lui gót.

Ông Juan Diego mau mắn xuống khỏi đồi và trực chỉ thành phố Mêhicô.  Vào thành, ông đi thẳng đến tòa Giám Mục.  Vị Giám Mục sở tại lúc bấy giờ là Đức Cha Juan de Zumárraga thuộc dòng Anh Em hèn mọn thánh Phanxicô.  Juan Diego xin gặp Đức Cha và thưa với ngài về sứ điệp của Bà Đẹp Thiên Quốc.  Nhưng Đức Cha không tin lời ông nói.  Juan Diego buồn bã ra về, lòng thất vọng vì nhiệm vụ giao phó không hoàn thành.

LẦN HIỆN RA THỨ HAI

Cùng ngày thứ bảy 9-12-1531, thổ dân Juan Diego quay trở lại đồi Tepeyac.  Khi lên tới đỉnh đồi, Juan Diego trông thấy Bà Đẹp Thiên Quốc đang đứng chờ mình.  Ông quỳ sụp xuống và nói:
– Thưa Bà, con đã mang sứ điệp của Bà đến cho Đức Giám Mục.  Ngài ưu ái lắng nghe con nói, nhưng ngài không tin lời con.  Có lẽ ngài nghĩ là con bịa chuyện.  Vì vậy, con tha thiết xin Bà, xin Bà hãy trao phó nhiệm vụ này cho một người khác quan trọng hơn.  Có thế, Đức Giám Mục mới tin.  Bởi vì con chỉ là người chót bét, một sợi dây mỏng manh, một chiếc thang bằng gỗ, một cái đuôi, một mảnh giấy.  Con thuộc về một nhóm dân cùng đinh, nghèo khổ, vậy mà Bà lại sai con đến một nơi quá cao xa đối với con, đến một chỗ mà con không bao giờ dám đặt chân tới.  Xin Bà tha thứ cho con, nếu con làm phật ý Bà, nếu con làm Bà nổi giận.  Hỡi Bà là Bà Chủ của con!

Đức Trinh Nữ Rất Thánh Maria trả lời:
– Hỡi người con bé nhỏ nhất của Mẹ, hãy lắng nghe lời Mẹ nói đây.  Mẹ biết rõ là có nhiều tôi tớ khác của Mẹ có thể thi hành mệnh lệnh Mẹ truyền.  Tuy nhiên, Mẹ rất cần đến sự giúp đỡ của con.  Vậy thì, Mẹ truyền cho con trở lại tòa Giám Mục một lần nữa.  Ngày mai, con đến tòa Giám Mục và thưa với Đức Cha rằng con đến nhân danh Mẹ và xin ngài xây cất một đền thờ theo ý hướng của Mẹ.  Con lập lại với ngài lần nữa rằng chính Mẹ là Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, chính Mẹ đã đích thân sai con đến với ngài.

Thổ dân Juan Diego khiêm tốn thưa:
– Thưa Bà, con không hề muốn làm phiền lòng Bà, con sẽ trung tín thi hành nhiệm vụ Bà trao phó.  Con không quản ngại đường xa cũng không lưu ý việc Đức Giám Mục không tin lời con nói.  Ngày mai, con sẽ mang đến cho Bà câu trả lời của Đức Giám Mục.  Bây giờ xin Bà cho phép con ra đi. Trong khi chờ đợi, xin Bà nghỉ ngơi!

Sáng hôm sau, Chúa Nhật 10-12-1531, thổ dân Juan Diego rời nhà thật sớm đi tới Tlatelolco để tham dự các buổi cử hành phụng vụ.  Trong lòng, ông cương quyết tìm mọi cách gặp cho bằng được Đức Giám Mục.  Thánh Lễ kết thúc, thổ dân Juan Diego phải nài nỉ mãi người ta mới cho ông được hầu chuyện với vị Giám Mục.  Ông quì gối trước mặt Đức Giám Mục, vừa khóc ông vừa lập lại lệnh truyền của Bà Đẹp Thiên Quốc.  Ông khẩn khoản xin Đức Giám Mục tin lời ông.  Ông tha thiết xin ngài chấp thuận thi hành ước nguyện của Đức Nữ Trinh Vô Nhiễm.

Với mục đích kiểm chứng thực hư, Đức Cha Juan de Zumárraga đặt ra không biết bao nhiêu câu hỏi. Thổ dân Juan Diego kiên nhẫn trả lời rõ ràng từng câu một, thật chính xác.  Sau khi tỉ mỉ tra vấn, Đức Giám Mục truyền cho ông Juan Diego phải xin Bà Đẹp Thiên Quốc tỏ lộ một “dấu chỉ.”  Mặt khác, ngài còn cẩn thận sai vài người giúp việc nơi tòa Giám Mục hãy đi theo ông Juan Diego xa xa, và theo dõi mọi hành động của ông.  Thế nhưng, khi đến chân đồi Tepeyac thì những người này không còn trông thấy bóng dáng thổ dân Juan Diego đâu nữa.

LẦN HIỆN RA THỨ BA

Cùng ngày Chúa Nhật 10-12-1531, thổ dân Juan Diego lên đồi trình bày với Đức Mẹ về câu trả lời của Đức Giám Mục.  Nghe xong, Đức Mẹ liền nói:
– Hỡi con bé nhỏ của Mẹ, con đã thi hành tốt đẹp lệnh truyền của Mẹ.  Được rồi. Ngày mai con hãy trở lại đây để đón nhận “dấu chỉ” mà vị Giám Mục xin.  Như thế, ngài sẽ tin lời Mẹ, sẽ không hoài nghi cũng không còn ngờ vực con nữa.  Phần con, con luôn ghi nhớ rằng Mẹ sẽ trả công bội hậu cho con vì tất cả khó nhọc con dành để phục vụ Mẹ.  Giờ đây con hãy chạy nhanh về đi.  Ngày mai Mẹ đợi con cũng nơi ngọn đồi này!

Ngày hôm sau, thứ hai 11-12-1531, thổ dân Juan Diego không đến nơi hẹn với Đức Trinh Nữ.  Lý do vì chiều Chúa Nhật hôm trước, khi về đến nhà, ông Juan Diego trông thấy người chú Juan Bernardino lâm bệnh nặng.  Ông Juan Diego vội vã chạy đi tìm thầy thuốc đến chữa bệnh cho chú.  Thầy thuốc đến ngay.  Nhưng cơn bệnh đã đến hồi trầm trọng, vô phương cứu chữa.  Biết thế, ông chú liền xin Juan Diego đi mời linh mục đến, để ông được lãnh nhận các phép Bí Tích sau cùng và dọn mình chết lành.

LẦN HIỆN RA THỨ TƯ VÀ THỨ NĂM

Sáng tinh sương ngày thứ ba 12-12-1531, ông Juan Diego nhanh nhẹn đi đến Tlatecolco để mời linh mục cho chú.  Ông cẩn thận chọn một con đường khác, đi vòng quanh ngọn đồi về hướng đông, để có thể vào ngay thành phố Mêhicô, và khỏi bị Bà Đẹp Thiên Quốc giữ lại nói chuyện!  Tuy nhiên, ông Juan Diego rất đỗi ngạc nhiên khi trông thấy Bà Đẹp từ trên đồi đi xuống.  Khi đến gần, Bà hỏi ông Juan Diego:
– Có chuyện gì xảy ra vậy con?  Con đang đi đâu đó?

Thổ dân Juan Diego cảm thấy vừa sợ hãi vừa xấu hổ thẹn thùng.  Ông nghiêng mình thưa:
– Con hy vọng Bà hài lòng!  Sáng nay Bà có cảm thấy dễ chịu không? Sức khoẻ Bà như thế nào?  Con biết Bà sẽ phật ý.  Nhưng xin Bà hiểu cho rằng, chú con bị bệnh nặng vì bị lây bệnh dịch hạch.  Con đi mời linh mục đến giải tội cho chú con.  Xin Bà thứ lỗi cho con.  Xin Bà vui lòng chờ đợi con.  Con không đánh lừa Bà đâu.  Ngày mai con sẽ đến đây thật sớm để gặp Bà!

Sau khi lặng lẽ nghe ông Juan Diego bào chữa một hơi dài, Đức Nữ Trinh Rất Thánh Maria nhân từ dịu dàng trả lời:
– Con hãy lắng nghe và hiểu cho kỹ, hỡi đứa con bé nhỏ nhất của Mẹ.  Con đừng xao xuyến trong lòng.  Con đừng lo lắng về bệnh tình của chú con cũng như về bất cứ điều gì không may sẽ xảy ra.  Mẹ đang có mặt nơi đây, không như là Người Mẹ của con sao?  Con không tìm thấy an nghỉ dưới bóng rợp mát của Mẹ sao?  Mẹ không phải là sức khỏe của con sao?  Con không được Mẹ ấp ủ sao?  Hãy nói cho Mẹ biết con đang cần gì?  Con chớ nên âu lo và buồn phiền, ngay cả bệnh tình trầm trọng của chú con.  Bởi vì chú con chưa chết bây giờ đâu.  Con hãy tin tưởng vững chắc rằng, ngay chính lúc này đây, chú con sẽ được khỏi bệnh!

Lắng nghe những lời nói dịu dàng của Đức Trinh Nữ Rất Thánh Maria, thổ dân Juan Diego cảm thấy lòng tràn ngập niềm an ủi.  Ông mau mắn leo lên đồi cao, theo lệnh truyền của Bà Đẹp Thiên Quốc. Ông hái những đóa hồng Tây-Ban-Nha nở tươi, thơm phức, tuyệt đẹp, ngoại lệ, vì lúc bấy giờ là tháng 12.  Thổ dân Juan Diego nhanh nhẹn hái hết và bỏ vào chiếc áo choàng, đan bằng sợi cây xương rồng.  Giờ đây ông trở thành vị sứ giả đáng tin cậy.  Ông hăng hái trở lại con đường tiến thẳng vào thành phố Mêhicô.

Ông Juan Diego vào tòa Giám Mục, quì gối trước mặt Đức Cha Juan de Zumárraga.  Thổ dân Juan Diego lập lại sứ điệp của Đức Mẹ Maria rồi từ từ mở chiếc áo choàng, mà cho đến lúc ấy, ông vẫn còn giữ chặt trước ngực.  Vừa khi những đóa hồng tươi rơi xuống đất, tức khắc, xuất hiện trên chiếc áo choàng hình ảnh thật đẹp của Đức Nữ Trinh Rất Thánh Maria, Mẹ Thiên Chúa.

Vị Giám Mục cùng tất cả những người hiện diện liền sấp mình xuống đất, tôn kính hình ảnh lạ được Đức Mẹ Maria in trên áo choàng.  Vị Giám Mục thật ân hận vì không tin ngay lời thổ dân Juan Diego nói.  Ngài muốn giữ chiếc áo choàng lạ nơi nhà nguyện riêng của ngài ở tòa Giám Mục.  Ngày hôm sau, Đức Giám Mục cùng với một đoàn người đông đảo, đi hành hương kính viếng nơi Đức Mẹ đã hiện ra trên đồi Tepeyac.

Về phần thổ dân Juan Diego, ngoài hồng phúc được tận mắt trông thấy Đức Mẹ Maria, ông còn cảm thấy thật sung sướng vì chứng kiến phép lạ đầu tiên thực hiện theo lời hứa của Đức Mẹ.  Đó là cuộc khỏi bệnh lạ lùng của người chú Juan Bernardino.  Chính với người chú này – ông Juan Bernardino – mà trong lần hiện ra thứ năm, cũng là lần sau cùng, Đức Mẹ tỏ lộ danh thánh:
–  Đức Bà Guadalupe.

“Guadalupe” trong tiếng thổ dân có nghĩa ”Người Nữ Chiến Thắng con rắn.”

Chiếc áo choàng với hình Đức Mẹ Maria được rước từ nhà nguyện riêng của Đức Giám Mục ra Nhà Thờ Chính Tòa và được trưng bày cho các tín hữu đến kính viếng.  Hơn 2 tuần sau, ngày 26-12-1531, chiếc áo choàng lạ lại được rước tới nhà nguyện nhỏ đầu tiên do chính các thổ dân xây cất dâng kính Đức Bà Guadalupe trên đồi Tepeyac.

Trong vòng 17 năm trời, tức cho đến ngày nhắm mắt từ trần vào năm 1548, thổ dân Juan Diego sống cạnh đền thánh tí hon này, làm người canh giữ đền thánh.  Nhưng nhất là, ông trở thành người đầy tớ đơn sơ khiêm hạ, trở thành vị chứng nhân và tông đồ nhiệt thành của Đức Bà Guadalupe.

Cuộc hiện ra của Đức Bà Guadalupe với thổ dân Juan Diego đã ghi dấu ấn sâu đậm nơi cuộc sống người dân Mêhicô.  Đức Bà Guadalupe trở thành biểu tượng sức mạnh của kẻ bé nhỏ, yếu đuối và là niềm hy vọng của tất cả những ai đang lo âu sầu khổ.

Hình ảnh Đức Mẹ Maria in trên áo choàng vẫn còn trông thấy rõ ràng mãi cho đến ngày nay, sau 480 năm.  Chiếc áo choàng hiện được tôn kính nơi đền thánh trên đồi Tepeyac.  Đền thánh mang tên Đức Bà Guadalupe.

Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ Guadalupe là Trung Tâm Thánh Mẫu lớn nhất thế giới.  Mỗi năm có khoảng 20 triệu tín hữu đến hành hương.

Đức Mẹ Guadalupe được tuyên xưng bổn mạng nước Mêhicô vào năm 1737, bổn mạng toàn Mỹ Châu vào năm 1910 và bổn mạng nước Phi-Luật-Tân vào năm 1935.

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

(CSD 1009, ”Contesto Storia e Significato della Apparizione Guadalupe”, 13-7-2002)

Đạo vào Đời

Đạo vào Đời

 Cha Gioan Tauler, một vị linh mục đạo đức vẫn luôn cầu xin để được gặp một người chỉ dẫn cho ngài thiên đàng ở đâu. Một ngày kia, có tiếng lương tâm giục ngài ra trước cửa nhà thờ để gặp vị quân sư đó. Nhìn trước nhìn sau, cha chẳng thấy ai, ngoại trừ một người ăn mày, quần áo rách rưới, mặt mũi bẩn thỉu, hôi thối. Cha đến gần chào người hành khất:

– Chào ông, chúc ông may mắn.
Người ăn mày thản nhiên trả lời:
– Chào cha, tôi có bị rủi ro bao giờ đâu.
– Vậy thì xin Thiên Chúa ban cho ông mọi điều sung sướng.
– Ồ, thưa cha, đời tôi chưa bao giờ thấy khổ cả.
Cha Tauler rất ngạc nhiên về cách nói năng của người này. Cha hỏi tiếp:
– Nếu Chúa bắt ông xuống hỏa ngục, ông có buồn khổ không?
Người hành khất trả lời không cần suy nghĩ:
– Nếu Chúa làm như vậy thì tôi sẽ ôm ghì lấy Chúa và đưa Chúa xuống hỏa ngục luôn. Tôi thà ở hỏa ngục với Chúa còn hơn ở Thiên Đàng mà không có Ngài.
Vị linh mục càng ngạc nhiên hơn nữa. Cha hạch hỏi:
– Này ông, ông có thể cho tôi biết ông từ đâu tới đây?
– Thưa Cha, tôi từ Thiên Chúa mà đến.
– Nhưng ông tìm thấy Thiên Chúa ở đâu?
– Ở ngay khúc quẹo, chỗ mà tôi từ bỏ mọi của cải vật chất trên đời này.
Tới đây, Cha Tauler không thể chờ đợi thêm được nữa. Ngài hỏi nhanh:
– Thế thì, ông là ai?
Người ăn mày nói một cách trịnh trọng:
– Tôi là Vua.
Cha Tauler quỳ xuống trước mặt người ăn mày:
– Tâu Đức Vua, Ngài có thể cho con biết vương quốc ngài ở đâu không?
– Vương quốc của Ta ở ngay trong tâm hồn Ta. 

Bạn thân mến, 
Nhiều lúc trên đời, chúng ta đã mất thời giờ viển vông đi tìm bình an, hạnh phúc ở những nơi không bao giờ có.
Hàng ngày chúng ta lái xe đi làm trên cùng một con đường, vào cùng một giờ khắc trong ngày, vậy mà sao có hôm một chiếc xe chớp đèn xin đi trước thì ta mỉm cười, giảm tốc độ lại và còn đưa tay lên mời họ qua. Trái lại, có ngày gặp trường hợp tương tự, ta lại cáu kỉnh chửi thề mà không cho xe nào qua mặt? Tại sao con cái ta nô đùa trong nhà mà có lúc chúng ta cảm thấy êm đềm, hạnh phúc; nhưng có lúc ta lại cảm thấy ồn ào, khó chịu, nên la rầy và bắt chúng phải ở yên?
Bình an, hạnh phúc khi mà con người biết quên mình hy sinh cho hạnh phúc người khác, chia sẻ với người khác”. Thì ra sự bình an, vui vẻ, hạnh phúc không phải do ngoại cảnh tạo ra, mà lại ở ngay trong chính TÂM ta. Khi lòng ta an vui thì ngoại cảnh cũng đẹp đẽ. Khi lòng ta bất ổn thì ngoại cảnh chỉ tạo nên sầu muộn.
Cảnh giới Thiên Đàng hay Địa ngục từ trong TÂM ta vậy !

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Công ty ở Houston thưởng tiền Noel mỗi nhân viên $100,000

Công ty ở Houston thưởng tiền Noel mỗi nhân viên $100,000
Nguoi-viet.com

HOUSTON, Texas (NV) – Hôm Thứ Năm, tin từ tạp chí trên mạng The Root cho hay, một công ty tại Houston mới vừa làm cho giấc mơ Mùa Giáng Sinh của nhân viên trở thành hiện thực sau khi mọi người, dù giữ chức vụ nào và làm công việc gì, vẫn nhận được $100,000 tiền thưởng dịp Noel.


Một nhân viên công ty Hilcorp vui mừng khi biết được tiền thưởng. (Hình: thefederalistpapers.org)

Tất cả 1,380 nhân viên công ty Hilcorp, một trong số các hãng thăm dò và sản xuất dầu khí lớn tại Hoa Kỳ, đã nhận được món tiền thưởng hậu hĩnh đó, coi như là lời cảm tạ của ban giám đốc công ty đối với thành tích làm việc xuất sắc của họ.

Nhân viên tiếp đón khách hàng Amanda Thompson nói với đài KTVU rằng đây quả thật là món quà đáng giá, và cô tin rằng bản thân mình cũng như các nhân viên khác của công ty chẳng ai mà lại không ra sức làm việc hết mình, 100% mỗi ngày.

Kể cũng chẳng có gì lạ khi Hilcorp vừa mới được tạp chí Fortune vinh danh là một trong số 100 Công Ty Tốt Nhất Cho Công Nhân, năm nay là năm thứ ba liên tiếp.

Cô Thompson kể rằng, hồi năm 2010, tất cả nhân viên công ty đều được quyền chọn phần thưởng là một chiếc xe hơi trị giá $50,000 hoặc là $35,000 tiền mặt vì công ty đã đạt chỉ tiêu sản xuất cho 5 năm qua. (V.P.)