Lenin và chính sách “Tuyên truyền Tượng đài”

Lenin và chính sách “Tuyên truyền Tượng đài”

Trần Trung Đạo (Danlambao) – Trong thời gian qua, hầu hết bài viết dù phê bình việc dựng tượng đài Hồ Chí Minh ở Sơn La đều nhấn mạnh đến những yếu tố như tốn kém tiền bạc, nuôi sống tham nhũng, làm cho dân tình thêm đói khổ v.v… Những phê bình đó không sai nhưng chỉ là những tác hại về vật chất, các tác hại tinh thần do những tượng đài CS gây ra còn sâu xa và nguy hiểm hơn nhiều.

Tượng đài CS một vấn nạn của các nước cựu CS

Khi người dân giành lại được quyền tự do, tượng đài cũng là nơi họ trút hết những hờn căm, phẫn uất đã bị dồn nén, chịu đựng bao nhiêu năm. Để bày tỏ thái độ dứt khoát với quá khứ, phản ứng cụ thể nhất của phong trào dân chủ cũng là giật sập tượng đài. Chỉ trong tháng 11, 1990, tại Ukraine và các quốc gia vùng Baltic, 70 tượng đài Lenin bị giật đổ. Để ngăn chận làn sóng giật sập tượng Lenin, tháng 10, 1990 Mikhail Gorbachev, lúc đó còn là Tổng Bí Thư CS Liên Xô, ra sắc lịnh ngăn cấm việc phá hủy tượng Lenin. Nhưng đã quá trễ, phong trào giật đổ tượng đài các lãnh đạo CS đã lan rộng không chỉ các quốc gia Trung Á thuộc Liên Xô mà ngay cả tại quê hương Nga của y.

Từ cuối năm 1989, hàng ngàn tượng đài các lãnh đạo CS tại 15 nước thuộc Liên Xô cũ, các quốc gia Đông Âu, Mông Cổ, Ghana, Ethiopia, Afghanistan đã bị giật sập, đập phá hay hủy hoại. Tuy nhiên, số lượng tượng đài các lãnh tụ CS cũng còn lại khá nhiều bởi vì kéo đổ hết là một việc khó khăn, đơn giản vì chúng quá nhiều, quá tốn kém và trong nhiều trường hợp dân chúng chẳng còn quan tâm đến những khối xi măng vô tri không làm ai sợ hãi nữa.

Hành động kéo đổ tượng Lenin tại thành phố Kharkiv, Ukraine vào tháng Chín năm ngoái, do đó, không phải là mới lạ. Tượng đài Lenin ở Kharkiv cũng không phải là tượng đầu tiên mà là tượng thứ 390 bị kéo xuống chỉ trong vòng 2 năm 2013 và 2014. Trước đây, Ukraine đã từng là một trong vài nước đầu tiên phá đổ tượng đài Lenin vào đầu thập niên 1990. Việc kéo đổ tượng Lenin ở Ukranie lần này chỉ là cách để chứng tỏ là thái độ dứt khoát đối với Nga.

Số lượng tượng đài Lenin tại Nga còn lại nhiều nhưng không có nghĩa người dân Nga xem Lenin như là biểu tượng của ngước Nga. Dân chúng Nga yêu dân chủ kết án Lenin như một tội đồ dân tộc vì đã (1) xây dựng một chính quyền khủng bố có hệ thống để cai trị Nga suốt 74 năm; (2) tàn phá Đế Quốc Nga và giết sạch gia đình hoàng gia Tsar Hoàng; (3) ký hiệp ước bán nước Brest-Litovsk sang nhượng đất đai của Nga cho Đức và các cường quốc Trung Âu; (4) gây ra cuộc nội chiến Nga sau khi cướp chính quyền 1917 dẫn đến cái chết của 15 triệu dân Nga vô tội; (5) tịch thu tài sản dân chúng, tàn phá nhà thờ, tu viện; (6) ký hàng loạt mật lịnh ám sát nhiều trăm ngàn người dân vô tội, nông dân có đất dai, tu sĩ và tín đồ Thiên Chúa Giáo.

Nguồn gốc của chính sách “Tuyên truyền Tượng đài”

Gần như quốc gia nào cũng có xây một số tượng đài để tưởng niệm các danh nhân, các anh hùng dân tộc của quốc gia họ như George Washington, Abraham Lincoln của Mỹ, Simon Bolivar, Manuel Carlos Piar của Venezuela, Trần Hưng Đạo, Quang Trung của Việt Nam v.v… nhưng chỉ có dưới các chế độ CS, tượng đài các lãnh đạo CS được sử dụng như một phương tiện tuyên truyền gây tác hại vô cùng độc hại, nhất là đối với các thế hệ trẻ.

Sắc lịnh “Tuyên truyền Tượng đài” do Lenin đề xướng có một tên khá dài “Về việc dời các Tượng đài được Dựng lên để Vinh danh Tsars Hoàng và Quan chức và việc Phát triển Đề án Tượng đài Tưởng nhớ đến Cách mạng Xã hội chủ nghĩa Nga” (On Removing Monuments Erected in Honor of Tsars and Their Servants and Developing a Project for Monuments Dedicated to the Russian Socialist Revolution) được công bố ngày 12 tháng Tư, 1918.

Chỉ trong vòng một tháng, các tượng đài vua chúa Nga bị kéo sập hay bị dời đi. Thời đó Lenin còn sống nên tượng đài được dựng lên đầu tiên là tượng đài Karl Marx do điêu khắc gia E. V. Revde đúc và đặt tại Penza. Hội đồng Ủy Viên Nhân Dân ngày 30 tháng Bảy, 1918 chấp thuận một danh sách đảng viên CS gồm 69 tên được xây tượng đài tưởng niệm. Lễ khai mạc mỗi tượng đài được tổ chức trọng thể. Sau khi Lenin chết, bộ máy tuyên truyền đảng CS tập trung vào việc biến Lenin thành bất tử qua việc đúc hàng ngàn tượng Lenin đủ kiểu và đặt tại khắp nơi.

Để gia tăng sản xuất tường đài Nhà Máy Điêu Khắc Tượng Đài được chính thức khai mạc tại Leningrad năm 1922 để đúc tượng các “anh hùng lao động”, “anh hùng Sô Viết”, các lãnh đạo CS. Có nhiều năm nhà máy sản xuất đến 5000 tượng đài CS. Trả lời phỏng vấn của báo Christian Science Monitor tháng 11, 1990, điêu khắc gia Albert Charkin, tác giả của nhiều mẫu tượng Lenin cho biết những hình ảnh Lenin đơn giản, khiêm cung, thân mật, gần gũi chỉ là những hình ảnh giả tạo.

Người đời nguyền rủa Stalin nhiều hơn Lenin nhưng quên rằng tất cả tội ác của Stalin đều phát sinh từ nền móng của cơ chế toàn trị do Lenin dựng lên, trong đó có cơ quan mật vụ Cheka khủng khiếp do hung thần Felix Dzerzhinsky lãnh đạo. Chỉ trong vòng một tháng từ tháng Chín đến tháng Mười, 1918, ước lượng đã có 10 ngàn đến 15 ngàn người bị cơ quan Cheka thủ tiêu. Danh từ “Khủng bố Đỏ” xuất hiện trong giai đoạn này.

Tượng đài các lãnh đạo CS tại 5 nước CS

Tại Bắc Hàn, toàn quốc có khoảng 34.000 tượng đài Kim Nhật Thành. Một tượng đài cho mỗi 3.5 kilomet và cứ 750 người dân có một tượng đài họ Kim. Không giống như một số tượng Lenin làm bằng đá, tượng cha con họ Kim đúc bằng đồng rất tốn kém. Tháng Bảy vừa qua, hai bức tượng đồng của cha con họ Kim được khánh thành một cách trọng thể tại tỉnh Pyongan. Để củng cố đặc điểm kế nghiệp, Kim Jong Un sẽ lần lượt cho thay thế tượng ông nội y đứng một mình bằng tượng của ông nội và cha y đứng cạnh nhau.

Tại Trung Cộng, theo BBC, nhiếp ảnh gia Cheng Wenjun đã đi khắp Trung Hoa lục địa để chụp hình các tượng đài Mao Trạch Đông và ông ta ghi nhận khoảng 2000 tượng đài. Điều đáng lưu ý, một phần ba số tượng đài nằm trong khu vực các trường đại học. Nhân dịp kỷ niệm 120 năm sinh nhật của Mao, lãnh đạo Trung Cộng cho đúc một tượng Mao ngồi gác chân trên ghế bằng vàng và cẩm thạch, cao chỉ 80 cm, nặng 50 kilograms nhưng có giá thành lên đến 16 triệu đô la.

Tại Lào, tượng lãnh tụ CS Kaysone Phomvihane cũng có mặt trên nhiều công viên, cơ quan nhà nước. Năm 2004, Bắc Hàn đúc tặng Lào 200 tượng Kaysone Phomvihane bằng đồng để đặt tại các cơ quan đảng và nhà nước Lào.

Tại Cuba, mặc dù Fidel Castro chưa chết, tượng đài của y cùng với Che Guevara cũng đã được dựng nhiều nơi trên quốc gia hải đảo này.

Tại Việt Nam, theo số liệu của Bộ Văn Hóa-Thanh Niên & Du Lịch, Việt Nam hiện có 134 tượng đài Hồ Chí Minh, trong đó gồm 103 tượng đặt tại các trụ sở cơ quan, 31 tượng được dựng tại các quảng trường. Theo kế hoạch từ nay đến 2030 sẽ xây thêm 58 tượng họ Hồ, nâng tổng số lên 192 tượng.

Tượng đài CS không phải là biểu tượng văn hóa của một dân tộc

Để bênh vực việc xây tượng đài Hồ Chí Minh, ông Đào Ngọc Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội Quy hoạch và phát triển đô thị Việt nam, phát biểu: “Tôi cho rằng, không nên đặt vấn đề xây dựng những tượng như thế đắt hay rẻ. Trước khi phán xét phải nhìn nhận tổng thể giá trị văn hóa. Tượng đài sẽ là động lực cho sự phát triển, nên không thể nói vì còn nhiều người đói thì phải mua cơm trước. Đôi khi văn hóa cũng phải đi trước.” Ông Đào Ngọc Nghiêm không hiểu văn hóa là gì mà nói sảng, tượng đài Hồ Chí Minh không có liên hệ gì đến văn hóa Việt Nam.

Văn hóa được định nghĩa khác nhau ít nhiều tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu nhưng tựu chung là đời sống vật chất và tinh thần đặc thù của một dân tộc. Trong tuyên bố về các dạng văn hóa thế giới vào ngày 2 tháng 11, 2001, UNESCO định nghĩa văn hóa là “tập hợp của các đặc điểm tình cảm, trí thức, vật chất, tinh thần riêng biệt của một xã hội hay một nhóm xã hội trong đó bao gồm cách sống, hệ thống các giá trị, truyền thống và niềm tin”.

Tạm gác qua chuyện đói no, chỉ bàn về văn hóa thôi thì tượng đài Hồ Chí Minh không phải là biểu tượng văn hóa hay một phần của văn hóa dân tộc Việt Nam vì hai lý do chính:

1. Tượng đài CS không mang tính văn hóa đặc thù

Với định nghĩa của UNESCO, các tượng đài CS, trong trường hợp này là tượng đài Hồ Chí Minh, không phải là biểu tượng văn hóa đặc thù của một dân tộc mà chỉ là sản phẩm tuyên truyền phát xuất từ một nguồn gốc CS do Lenin đề ra vào ngày 12 tháng Tư, 1918 tại Nga và đã đước áp dụng giống nhau một cách chính xác tại hầu hết các quốc gia CS.

Lấy hình tượng các lãnh tụ CS hôn nhi đồng làm một thí dụ. Để che giấu tội ác, bộ máy tuyên truyền Liên Xô giới thiệu một Stalin hiền từ yêu nhi đồng. Ngay sau đó, Hồ Chí Minh ở Việt Nam cũng yêu nhi đồng, Mao Trạch Đông ở Trung Cộng yêu nhi đồng, Todor Zhivkov ở Bulgary yêu nhi đồng. Kim Nhật Thành ở Bắc Hàn yêu nhi đồng. Lãnh tụ khác nhưng cách thức, nội dung và mục đích đều giống hệt nhau.

2. Tượng đài CS không tồn tại với thời gian và truyền thống dân tộc

Như lịch sử thế giới cận đại chứng minh và người viết đã phân tích ở trên, tượng đài các lãnh đạo CS được dựng lên vì mục đích tuyên truyền nên phải bị phá hủy sau khi cơ chế chính trị tồn tại nhờ tuyên truyền và khủng bố sụp đổ. Như hai tác giả W. Logan và K Reeves viết trong tác phẩm biên khảo Những nơi đau nhức và nhục nhã, đương đầu với một “gia tài nan giải” (Places of pain and shame: dealing with “difficult heritage”), chế độ CS sụp đổ để lại những tượng đài như một gia tài không ai muốn nhận.

Chính sách “Tuyên truyền Tượng đài” dù đã chấm dứt trên quê hương của tác giả nó tròn một phần tư thế kỷ nhưng chất độc tư tưởng vẫn còn gieo rắc lên các thế hệ Việt Nam cho đến hôm nay. Tiền bạc của cải dù thiếu thốn bao nhiêu cũng có ngày làm lại được, tương tự, các phương tiện khoa học kỹ thuật dù tiên tiến bao nhiêu cũng có thể học được nhưng giá trị văn hóa dân tộc rất khó phục hưng. Cuộc tranh đấu để chống lại các tư tưởng CS ngoại lai, vong bản, vì thế, là một cuộc đấu tranh đầy khó khăn, đòi hỏi nhiều hy sinh, kiên nhẫn và phải bắt đầu ngay hôm nay chứ không phải đợi đến khi chế độ CS sụp đổ.

Trần Trung Đạo

danlambaovn.blogspot.com

Cô Nhi Viện và Viện Dưỡng Lão

Cô Nhi Viện và Viện Dưỡng Lão

Từ xưa đến nay, tôi chưa bao giờ có ý tìm lại cha mẹ. Tôi hiểu rằng những đứa con lai, nhất là lai Mỹ đen như tôi, là những đứa con ngoài ý muốn; hầu như ít khi biết thực sự cha của đứa trẻ là ai.

Tôi bị Mẹ của tôi bỏ sau khi sinh ra mới có 48 giờ ở tại nhà thương. Tôi lớn lên trong cô nhi viện và trốn ra khỏi cô nhi viện năm 13 tuổi, ra giang hồ bữa đói bữa lạnh; sau cùng ghép hộ làm con một gia đình có 4 em 2 trai 2 gái để ra đi sang Mỹ theo diện Con Lai.

Tôi đến Mỹ năm 20 tuổi và đi làm ngay góp phần nuôi 4 đứa em đi học. Sau 18 năm các em 2 đứa là bác sĩ, 2 đứa là kỹ sư; Tôi bị ba má nuôi đuổi ra khỏi nhà vì gia đình sợ mang tiếng với suôi gia nhà trai nhà gái của 4 đứa em tôi. Tôi chưa được đến trường ngày nào trên đất Mỹ.

Mới 40 tuổi mà mắt đã mờ! Tôi đến gặp Bác sĩ gia đình, xin giấy giới thiệu gặp Bác sĩ chuyên khoa để có đốt hay mổ gì thì họ đưa đi hay chữa cho khỏi mất công.

20 năm rồi trên đất Mỹ; nhưng tiếng Mỹ của tôi chưa đầy lá mít, nên tôi nhờ cô thư ký ở văn phòng bác sĩ gia đình tìm Clinic nào có người nói được tiếng Việt. May sao có clinic lớn mà chỉ đợi có 2 tuần; nhưng lại phải là giờ cuối cùng sắp đóng cửa!

Tôi đến sớm trước giờ hẹn nửa tiếng, đưa giấy giới thiệu cho một bà Mỹ gìa rồi ngồi ở phòng đợi chờ tới phiên. Tôi nhìn quanh coi có ai là Việt Nam mình không, nhưng chẵng thấy ai. Bệnh nhân lần lần được gọi vào phòng khám rồi ra về gần hết vì sắp đến giờ đóng cửa. Sau cùng thì tôi cũng được gọi tên do một cô gái có nét Việt Nam mà từ nảy giờ tôi chưa hề thấy. Cô ta nói tiếng Anh với tôi từ lúc gọi tên đến lúc bảo ngồi ghế nhìn đọc. Tôi không hiểu rõ hết được nên hỏi cô có nói được tiếng Việt Nam không? Cô ta tỏ ra ngạc nhiên.

– Anh không phải là người Mỹ sao?

– Tôi là người Việt Nam.

– Nhưng Anh đâu có nét nào giống người Việt đâu?

Như biết mình lỡ lời, cô ta nói thêm tiếng “Sorry “.

– Chị không phải Sorry, nhiều người nói như thế mà! Tại tôi giống Mỹ Đen. Chị quê ở đâu ở Việt Nam?

– Ba tôi người Mỹ Tho, Mẹ ở Bình Dương nhưng tôi sinh ra ở Miền Trung, Nha Trang. Anh tôi và tôi đều sinh ở Nha Trang vì cha là Hải Quân phục vụ ở Quân Trường Nha Trang.

– Tôi cũng sinh ở Nha Trang; nhưng rất tiếc là không biết cha mẹ của Tôi là ai?

– Anh sinh năm mấy? Cô ta vừa hỏi nhưng nhớ lại hình như câu hỏi có hơi thừa. Hồ sơ bệnh của tôi đang để trên bàn nên cô ta nhìn và ngạc nhiên nói:

– Ngày tháng năm sinh của anh giống y như của tôi! Có phải anh sinh ở nhà Bảo sinh Quân đội Nha Trang hay không?

– Đúng rồi, sau cô biết vậy?

– Ba má tôi có kể cho tôi nghe và tôi còn nhớ. Tôi sinh ra lúc 12 giờ rrưa thì khoảng 8 giờ tối có một bà nữa sinh một bé trai. Sáng hôm sau, khi cha tôi vào thăm, mẹ tôi nói là bà mẹ sinh tối hôm qua muốn cho con của bà. Ba tôi nói, vậy mình xin, sẵn nuôi luôn có gì mướn thêm người giúp việc có sau đâu. Mẹ tôi nói Mỹ đen đó. Cha tôi nghe vậy, có đến nhìn thằng bé, rồi trở lại bảo nó cũng không đen lắm, trông rất dễ thương. Nhưng mẹ tôi không đồng ý, nói sợ người ta đàm tiếu. Cha tôi bảo: Anh bất cần thiên hạ. Chỉ cần em chịu là anh xin ngay. Nhưng cuối cùng mẹ tôi không chịu và nói mình đã có một trai một gái đủ rồi.

Thấy tôi chú ý nghe câu chuyện, cô ta nói thêm:

– Nếu anh là Mỹ trắng, có lẽ mẹ tôi đồng ý nuôi anh, và anh đã là em của tôi.

Sau phần làm thủ tục, tôi phải vào gặp bác sĩ chuyên khoa, khi xong thì cô ta đã về rồi.

Tôi về nhà mà vẫn bị ám ảnh vì câu chuyện do cô y sĩ nhãn khoa kể lại.

Ba của cô ta là người thế nào? Sau ông ta lại có ý tưởng xin tôi để nuôi? Phải tìm gặp ông ta mới được, tôi tự nhủ.

Ít ngày sau, tôi trở lại tìm gặp cô nha sĩ khám bệnh cho tôi hôm trước và xin được gặp Ba của cô ta. Cô ta bằng lòng ngay, viết cho tôi địa chỉ. Nhìn địa chỉ tôi hơi ngạc nhiên với 3 chữ “Viện Dưỡng lão”. Cô ta như đoán biết nên nói:

– Ba của tôi mới được đưa vào Viện Dưỡng Lão hôm tháng rồi.

Ngay Chủ nhật tuần đó, tôi vào Viện Dưỡng Lão xin gặp cái ông đã từng muốn nhận tôi làm con. Nếu tôi là con của ông ta, chắc tôi cũng sẽ như ba đứa con của ông đều tốt nghiệp Đại học cả, vì dù sao những kẻ có lòng tốt không để Tôi thất học.

Tôi chọn cái ghế nhìn được suốt dãy hành lang từ phòng khách đến phòng ăn để dễ nhìn người qua lại bên trong. Một Ông chừng 65 là cùng mặc dù người tôi muốn gặp nay đã 71. Ông ta đi còn nhanh nhẹn lưng không khòm tay chân nhịp đi đúng là người lính nhiều năm trong quân ngũ năm xưa; chẳng có vẻ gì là một cụ già đến độ phải vào Viện Dưỡng lão để chờ chết!

Hình như được con gái báo trước nên ông ta đi thẳng đến đưa tay bắt tay tôi và từ giới thiệu:

– Chú tên là Hùng, cứ gọi tên và gọi Chú cho bớt già hơn là gọiCụ hay Bác.

Ông ta còn lanh lẹ, tiếng nói còn uy nghi rành rọt không có chút gì run rẩy hay khàn giọng của người già.

Ông ta hỏitTôi dành bao nhiêu thì giờ để gặp ông ta. Tôi nói cả ngày hôm nay cũng được. Ông ta hỏi tôi có uống cà phê và hút thuốc được không. Tôi nói được cả hai.

Ông ta đến nói với người quản lý xin được tiếp tôi ở phòng riêng để mời người bạn trẽ ly cà phe; rồi ông bảo tôi đi theo ông ta.

Theo ông ta về phòng riêng, tôi đi từ ngạc nhiên nầy đến ngạc nhiên khác.

Căn phòng có mùi dầu thơm chứ không khai và hôi như thiên hạ thường nói về nơi người già sống. Cái bàn Computer có cả máy in TV DVD player và Multimedia player với mấy chồng CD và DVD ca nhạc. Ông ta bắt đầu nấu nước pha cà phê phin; vừa làm vừa giải thích đây là cà phê Ý pha với cà phê Ban Mê Thuộc cho có đủ vị đắng và thơm.

Xong hai ly cà phê, ông bảo tôi “Đi, mình ra vườn. Ra bằng cửa này.” Cửa hông từ trong phòng riêng của ông mở thẳng ra vườn. Ông nói, áp phe lắm mới được phòng nầy ăn thông ra vườn để trốn ra ngồi hút thuốc.

Khu vườn thoáng mát, vắng vẻ. Ông lấy ra bao thuốc Vogue mời tôi một điếu. Đây là loại thuốc điếu nhỏ chỉ bằng phân nửa điếu thuốc thường nhưng dài hơn và nặng hơn. Ông đốt thuốc cho Ông và đưa quẹt gaz cho tôi để tự tôi đốt lấy. Hớp xong hớp cà phê ông hỏi:

– Vừa không Cháu?

– Dạ ngon và thơm lắm, Chú.

– Nào giờ thì cháu muốn biết gì cứ hỏi. Chú nhớ được gì sẽ nói nấy.

– Cháu không có mục đích tìm cha hay mẹ, vì có muốn chắc cũng không bao giờ tìm được mà tìm để làm gì! Chú biết được nhớ được gì cháu cũng muốn biết hết.

– Con trai lớn của chú và con gái đều sinh ở bảo sinh viện Quân đội thành phố Nha Trang. Con gái của chú sinh lúc 12 giờ trưa. Chú bận nên 2 giờ chiều mới vào thăm sau đó đi làm và chiều vào thăm vợ von đến gần 7 giờ thì về. Sáng hôm sau chú vào thăm vợ con sớm trước khi đi làm thì phòng bên có thêm một sản phụ mới. Vợ chú nói bà ta mới sinh lúc 9 tối, nhưng không muốn nuôi nên cho con.

Chú bước sang đứng cửa phòng bên nhìn vào hơi tối nhưng cũng thấy mặt được cháu bình thường như bao trẻ khác nhưng đẹp hơn con gái chú nhiều; vì khi mới sinh con bé của chú trán nhăn ba lằn, giống y như chú, mũi gãy trán cao gần như giồ. Chú trở lại nói với vợ là mình có thể xin đứa bé. Nếu nuôi luôn 2 đứa chú sẽ mướn thêm người giúp việc. Nhưng vợ chú nói “con Mỹ đen đó. Anh không sợ nhưng Em sợ miệng đời. Chú nói, không lẽ sinh đôi mà một đưa con Việt nam còn đứa kia là con Mỹ hay sau mà sợ. Vọ chú nói thôi, nếu trắng nếu trắng em mới nuôi. Chú Sorry với cháu. Tại chú cháu mình không có cái duyên làm cha con với nhau!

Thấy tôi chăm chú nghe nhưng không nói gì, ông kể tiếp:

– Chiều hôm đó Chú vào thăm thì thấy Má của cháu đi lại nhanh nhẹn chứ không nằm liệt như vợ của chú. Mẹ của cháu là người cao lớn, đẹp, coi mạnh khỏe và lanh lợi hơn vợ của chú. Nghe nói mẹ cháu ở đâu ngoài Chu Lai hay Qui Nhơn gì đó vào Nha Trang sinh; Chồng bà ta là Trung Úy Biệt Kích đi hành quân vùng Một ít khi về thăm. Có lẽ Má của cháu làm sở Mỹ có quan hệ trong sở, nên khi có bầu không biết là con của chồng mình hay với ai nên cứ sinh rồi mới tính. Nếu là con Việt thì đem về nuôi mà là con lai thì cho luôn. Sáng hôm sau, khi chú vào thăm thì vợ chú cho biết người đàn bà đó đã bỏ con và rời nhà thương lúc nửa đêm; nên nhà thương giao cháu cho Ban Xã hội của Quân Đội lo. Hầu hết là đem vào Viện Mồ Côi. Chú chỉ biết bao nhiêu đó. Cháu còn muốn biết đìều gì thì cho biết, nếu chú có thể giải thích thì chú sẽ nói cho Cháu biết.

Tôi nói với ông:

– Chú đã nói ra tất cả những gì cháu thắc mắc. Bấy lâu cháu thắc mắc “Tại sau không muốn sinh con mà không phá thai; sinh ra để bỏ thì sinh làm gi?” nay chú nói cùng môt lúc sống với chồng mà còn phải sống với Mỹ thì làm sao biết con của ai nên cứ phải sinh ra rồi mới tính thì có lẽ là cách giải thích hợp nhứt cho trường hợp của cháu. Cháu hận mẹ hận cha mặc dù cháu không biết họ là ai; Từ thời thập niên 60 đến 1975 không biết đã có bao nhiêu trẻ mồ côi như cháu. Cháu hận bà mẹ, hận đàn bà nên đến nay mà cháu vẫn chưa lập gia đình!

Ông ta mồi thêm điếu thuốc và để gói thuốc cạnh tôi ra dấu mời. Tôi xoa tay từ chối trong im lặng. Ông ta đột nhiên cười khá lớn rồi ngó vào mắt tôi hỏi:

– Cháu có biết Viện Dưỡng Lão để làm gì không?

– Thì để cho người già sống.

– Ừ! Cả miền Nam Việt Nam trước 75 chú chỉ biết có một Viện Dưỡng lão ở Thị Nghè gần Xa Lộ Biên Hoà; nhưng cũng chỉ có mấy chục người, gồm những người không nhà, không con cháu không thân nhân mà người ta gọi là tứ cố vô thân. Tại Việt Nam trước đây, hầu hết người già sống nhờ vào con cháu nuôi vì bởi cha mẹ còn trẻ làm nuôi con cháu đến khi gìa thì nuôi lại coi như trã hiếu hay trả công. Xứ tư bản này, mỗi tiểu bang có mấy chục Viện Dưỡng lão. Gìa thì dù có con hay không con, có nhà hay không nhà giàu sang cũng như nghèo cũng đều phải vào Viện Dưỡng lão, bởi lý do con cháu ai cũng bận đi làm, không chăm sóc được.

Ông thở khói rồi tiêp:

– Chú có ba người con, ba cháu nội thì còn quá nhỏ không tính; nhưng cả đời, chưa bao giờ chú để các con của Chú đói lạnh. Sau 75 khổ sở thế nào Con của Chú vẫn không bị ăn độn. Sau đó chú đi vượt biên để được sống tự do và Vợ Con của Chú sang đây bằng máy bay do Chú bảo lãnh.

Ngày xưa chú còn trẻ sinh con bận bịu tại sau chú không gởi vào Viện Mồ Côi để được rảnh đi làm và hữơng thụ cái tuổi hoa mộng của Chú. Bận rộn đi làm lắm khi đói khổ vẫn không bỏ các Con ; nhưng Cháu có biết tại sau Chú còn mạnh khỏe đáng lý chưa đến độ vào đây; thế mà chú lại ở đây! Chú cũng còn là con người biết đủ hỷ nộ aí ố lạc, 71 tuổi là già nhưng Chú chưa mất trí còn tự mình chăm sóc được nhưng Chú bị tai biến mạch máu; Tim ngừng đập nên xe cứu thương đưa vào bệnh viện. Từ bệnh viện có thể đưa trực tiếp người già vào viện dưỡng lão ít có xét hồ sơ hay phỏng vấn phiền toái coi thực sự gìa lú lẫn hay chưa như trường hợp ở nhà muốn gởi vào Viện Dưỡng lão.

Người già nào hay nói ra người trẻ cũng lắm khi quên tắt lửa lò bếp hay quên chìa khóa hay quên bóp; nhưng gìa mà bị tố là có lắm cái quên như thế thì bị kết tội là “lú lẫn.” Chú bị đưa thẳng vào Viện Dưỡng lão trong trường hợp nầy cho dễ hơn nếu sau nầy chú về nhà thì khó có được sự dễ dàng để vào đây nên các con của chú tố chú lú lẫn để bỏ luôn chú vào đây một cách dễ dàng sớm hơn dự định của Chú.

Có con nhưng chúng bận rộn đi làm chúng có đời sống riêng nên không chăm sóc cho cha mẹ già được. Cháu thấy lý do nầy hợp lý chứ?

Nghe ông hỏi, tôi không biết trả lời ra sao. Ông tiếp tục châm thuốc, tiếp tục nói, vẫn với giọng tỉnh queo:

– Tuổi trẻ chú bận vừa đời lính lại khi VC chiếm Miền Nam thì cơ cực lầm than dễ gì đủ ăn no lòng; sao chú khờ dại không bỏ con mà chạy lấy thân để vui cuộc đời Việt Kiều đôc thân. Tại sao phải thí mạng vượt biên rồi còn bảo lãnh con, nuôi con cho nên người để rồi các con cũng có thời tuổi trẻ bận như mình. Chúng bỏ mình nhưng ngày xưa mình lại không biết bỏ chúng. Cháu biết tại sao không? Là tại mình ngu.

Ông ta cười lớn nhưng sao cái cười quá chua chát:

– Cháu về bỏ hết, quên hết đi cái đời mồ côi của cháu đi mà vui sống. Vì cháu nên người ta mới lập “Viện Mồ Côi.” Và cũng vì có chú nên người ta mới lập “Viện Dưỡng lão.”

Lời an ủi của người từng có ý định làm cha nuôi của tôi làm tôi thấy mềm lòng. Nhìn ông, người cha bị con cái thành đạt bỏ vô viện dưỡng lão, tôi thật cũng muốn nói điều gì đó an ủi ông, nhưng không biết phải nói ra sao.

Trần Thiện Phi Hùng

CẢM NGHIỆM ƠN CHÚA

CẢM NGHIỆM ƠN CHÚA

ĐTGM Ngô Quang Kiệt

Nếu có ai hỏi: Làm thế nào để tiến bộ trên đường đạo đức, thay đổi nếp sống cũ, biết dấn thân mến Chúa yêu người hơn?  Tôi xin thưa: điều quan trọng nhất khởi đầu cho một nếp sống mới là: cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa trong đời mình.  Khi đã nhận biết mình được Thiên Chúa yêu thương, ta sẽ không thể làm điều gì khác hơn là mong muốn đáp lại tình yêu ấy.

Tình yêu kêu gọi tình yêu.  Tình yêu đáp trả tình yêu.  Chúa Thánh Thần, nguồn tình yêu của Thiên Chúa, sẽ giúp ta nhận biết tình yêu Thiên Chúa và soi sáng thúc giục ta đáp lại tình yêu ấy.

Sau khi Đức Mẹ ngoan ngoãn nói lên lời “xin vâng”, Chúa Thánh Thần xuống tràn đầy tâm hồn Đức Mẹ.  Đức Mẹ mở rộng tâm hồn đón nhận và để mặc Người hướng dẫn cuộc đời mình.  Từ đây, cuộc đời Đức Mẹ hoàn toàn biến đổi.  Đức Mẹ trở nên một dụng cụ ngoan ngoãn trong tay Chúa Thánh Thần, hiến dâng trọn vẹn tâm hồn và thân xác để đáp lại tình yêu vô biên của Thiên Chúa.

Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy những tác động của Chúa Thánh Thần trên Đức Mẹ.

Tác động thứ nhất: sự vội vã.

Vội vã đây không phải là sự vội vàng hấp tấp.  Cũng không phải là nôn nóng lo âu.  Sự vội vã ở đây có nghĩa là sự nhiệt tình hăng hái.  Cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa trong tâm hồn, Đức Mẹ mau mắn, tha thiết muốn đáp trả.  Nếp sống của cô thôn nữ Maria đã thay đổi.  Từ một thôn nữ dịu dàng, sống êm đềm trong cuộc đời bình dị, Đức Mẹ giờ đây trở nên linh hoạt, nhanh nhẹn, hăng hái đền đáp lại Tình Chúa Yêu Thương.  Từ một thôn nữ vui với công việc nội trợ, khép mình trong làng xóm, Đức Mẹ đã mở cửa ra đi.  Sự mở cửa ra đi làm ta nhớ tới tác động của Chúa Thánh Thần trên các Tông đồ.

Tác động thứ hai: tâm tình tạ ơn.

Cảm nghiệm được tình Chúa thương yêu, lòng Đức Mẹ tràn đầy niềm cảm mến biết ơn.  Niềm tri ân cảm tạ đầy ứ trong lòng chỉ chờ dịp tuôn ra thành lời.  Cảm nghiệm về ơn lành vô biên của Thiên Chúa cũng là cảm nghiệm về sự thấp hèn bất xứng của mình.  Hai cảm nghiệm song song đó càng nâng cao, càng đào sâu niềm tri ân cảm tạ.  Cảm nghiệm ấy đã biến đổi Đức Mẹ, từ một cô gái kín đáo, âm thầm trở nên một thi sĩ, một ca sĩ lớn tiếng ca tụng Tình Yêu Thiên Chúa đối với kẻ nghèo hèn.  Chúa Thánh Thần đã biến Đức Mẹ thành ngòi bút thi sĩ như lời Thánh vịnh: Tim tôi dâng ý thơ tuyệt diệu.  Dệt bài ca dâng tiến Đức Vua.  Lưỡi tôi tựa bút rung vạn điệu.  Trong tay những thi nhân anh tài.  Khi nghe bà Isave chào, Đức Mẹ đã ứng khẩu tán tụng Chúa bằng bài kinh ca ngợi tuyệt diệu.

Tác động thứ ba: thái độ chia sẻ.

Tình yêu Thiên Chúa bao la đã đổ vào tâm hồn Đức Mẹ tràn đầy niềm vui.  Niềm vui thánh thiện và lớn lao đã thúc đẩy Đức Mẹ mau mắn lên đường đi thăm bà Isave.  Đức Mẹ không đến để khoe khoang, nhưng để chia sẻ.  Nhờ Đức Mẹ đến mà bà Isave và thánh Gioan Baotixita được chúc phúc.  Đức Mẹ cũng đến để chúc mừng bà chị họ đã được Chúa đoái thương.  Tâm hồn được Chúa chiếm hữu đã khiến Đức Mẹ trở nên quảng đại và hiệp thông, sẵn sàng chia vui sẻ buồn với những người chung quanh.

Tác động thứ bốn: dấn thân phục vụ.

Niềm tri ân cảm tạ, niềm vui thánh thiện thực sự sẽ không dừng lại ở những bài ca trên môi miệng. Cảm nghiệm về Tình Yêu Thiên Chúa trong trái tim sẽ mau chóng biến thành hành động.  Sự đền đáp tình yêu sẽ thúc đẩy người được yêu dấn thân phục vụ trong những việc làm cụ thể.  Chính vì thế Đức Mẹ đã không ngần ngại ở lại phục vụ bà chị họ trong ba tháng.

Mừng lễ Đức Mẹ lên Trời một cách có ý nghĩa nhất, đó là ta hãy noi gương Đức Mẹ: xin Chúa Thánh Thần đến tràn ngập tâm hồn ta như Người đã đến trong lòng Đức Mẹ, giúp ta cảm nghiệm được những ơn lành Chúa ban và giúp ta mau mắn đáp lại tình yêu thương đó.

Xin Đức Mẹ giúp chúng con biết ngoan ngoãn vâng theo ơn Chúa Thánh Thần soi sáng: để vội và ra đi, để hân hoan tạ ơn, để quảng đại chia sẻ và để dấn thân phục vụ anh em. Amen.

ĐTGM Ngô Quang Kiệt

Xây dựng và sụp đổ

Xây dựng và sụp đổ

Nguyễn Đình Cống

Từ xưa đến nay việc xây dựng công trình hoành tráng có thể làm cho chủ đầu tư phát triển rực rỡ hoặc sụp đổ. Để đạt được sự phát triển thì phải có đủ cả hai điều kiện quan trọng là cơ sở kinh tế vững chắc và lòng người phấn khởi. Thiếu một trong hai, đặc biệt là thiếu cả hai, mà cứ cố xây dựng công trình hoành tráng vì duy ý chí, vì để lợi dụng một việc nào đó thì có nhiều khả năng bị sụp đổ. Không chỉ sụp đổ công trình mà sụp đổ cả sự nghiệp đến mức nước mất, nhà tan. Xin kể vài thí dụ: Nhà Tần ở Trung Quốc, sau khi thống nhất đất nước, tưởng sẽ thống trị thiên hạ lâu dài, không ngờ bị sụp đổ chỉ sau vài chục năm. Một trong những nguyên nhân làm thiên hạ chán ghét, chống lại là do nhà vua ra sức bóc lột và đàn áp nhân dân để xây cung A Phòng, một công trình hết sức hoành tráng. Vua Suryavarman xây dựng đền đài Angkor từ thế kỷ 12, làm cho đất nước Campuchia suy kiệt đến mức kinh thành bị bỏ hoang phế mấy trăm năm, nhân dân lầm than, đói khổ. Các vua Chămpa quá mê say xây dựng cung điện, nhân dân bị huy động kiệt quệ cả lực lượng và tài sản, dẫn đến sự mất nước Chiêm Thành.

Trong lịch sử Việt Nam, các đời Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê đều xây dựng cung điện một cách vừa phải. Sự khai quật Hoàng thành Thăng Long phát hiện ra di chỉ đời sau chồng lên di chỉ đời trước. Điều đó chứng tỏ: 1- Công trình đời trước chẳng có gì đáng giá để lại cho đời sau. 2- Đời sau không tiếp nhận và phát huy được công trình đời trước mà phá hủy gần hết để xây chồng lên (tôi biết nhiều người rất tự hào về di tích Hoàng thành nhưng không biết tự hào vì nỗi gì).

Vào thời Lê – Trịnh, vua Lê Tương Dực muốn xây Cửu Trùng Đài, một công trình hoành tráng, định để lại di tích cho hậu thế. Cửu Trùng Đài do kiến trúc sư Vũ Như Tô thiết kế và chỉ đạo thi công. Việc xây dựng đó đã vắt kiệt sức dân, hàng chục vạn người phải lao dịch trong đói rách, hàng ngàn người bị bỏ mạng vì tai nạn, ốm đau, bị đánh đập. Công trình đang thi công nửa chừng (theo giá bây giờ thì có lẽ đã tiêu tốn hàng ngàn tỷ) thì bị Trịnh Duy Sản chỉ huy binh lính và nhân dân phá bỏ (chính những người đang xây dựng đã quay lại đập phá), giết chết Lê Tương Dực. Vũ Như Tô cũng bị chém chết trong vụ này. Việc này gây ra hai luồng ý kiến trái ngược nhau, người hoan hô, kẻ tiếc nuối. Sau này nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã than thở “Cửu Trùng Đài không thành nên mừng hay nên tiếc. Tháp người Hời nguyên là giống Angkor…” (người Hời là người Chiêm Thành cổ). Tháp người Hời vốn giống với Angkor về kiến trúc. Angkor làm dân Campuchia kiệt quệ trong lịch sử (và hiện tại mang lại lợi trong du lịch), còn tháp người Hời mang lại sự sụp đổ của đế chế, sự mất nước của Chiêm Thành.

Gần đây Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam lại đang say sưa xây dựng nhiều công trình hoành tráng, không giống Cửu Trùng Đài, không giống Angkor, mà là các nhà bảo tàng, các tượng đài, các văn miếu. Nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, Hà Nội xây nhà bảo tàng hết trên 2300 tỷ (giá năm 2010, quy ra giá năm 2015 có thể gần 3000 tỷ). Một ngôi nhà mà giá thành phần xây dựng tính trên mỗi mét vuông sàn là đắt nhất thế giới. Tôi ước tính công trình này bị thất thoát và lãng phí gần 50%. Xây xong rồi, nó không những biến thành “Chùa Bà Đanh mới” mà còn tốn thêm nhiều tiền để duy tu và bảo vệ. Các công trình hoành tráng giá hàng trăm, hàng ngàn tỷ được xây dựng vội vàng với chất lượng thấp rất dễ dàng mang lại món lợi to lớn cho nhiều quan chức là người có quyền trong việc đề xuất và xét duyệt dự án và mang lại sự sụp đổ cho bản thân công trình, cho những người thực sự bỏ tiền ra để xây dựng, đó là những người dân đóng thuế. Xét cho cùng thì nhân dân mới là chủ đầu tư thật sự. Lợi ích từ rút ruột dự án thì quan chức hưởng còn sự sụp đổ thì nhân dân chịu.

Trong “LỜI TUYÊN BỐ CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ CÔNG DÂN VỀ NHỮNG DỰ ÁN TƯỢNG ĐÀI TRĂM TỶ, NGÀN TỶ” đã chỉ ra sự xây dựng những công trình hoành tráng này thiếu cả hai điều kiện quan trọng là lòng dân và cơ sở kinh tế, vì vậy sự sụp đổ một cái gì đấy là điều khó tránh.

Ngoài việc tham gia ký tên và vận động bạn bè ký tên vào LỜI TUYÊN BỐ nói trên, tôi viết bài này mong thức tỉnh thêm những người lãnh đạo, có chức quyền ở các địa phương và trung ương, chớ vì món lợi được chia chác vài phần trăm đến vài chục phần trăm giá cuả dự án mà bán rẻ lương tâm cho quỷ dữ, để lại tội ác và tiếng xấu nhiều đời.

N. Đ. C.

Từ Bún Mắng đến Cháo Chửi

Từ Bún Mắng đến Cháo Chửi

Nguoi-viet.com

Ngô Nhân Dụng

Một ông khách thấy cửa hàng quảng cáo bán con chim nói được nhiều thứ tiếng, bèn thử hỏi chim bằng tiếng Pháp: “Comment allez-vous? Con chim vui vẻ đáp: “Ça va bien, merci.” Hỏi tiếp bằng tiếng Tây Ban Nha: “Como estas?” Trả lời ngay: “Muy bien!” Chuyển sang tiếng Anh: “How are you?” Chim nghiêng đầu lễ độ: “I’m fine, thank you!” Thích quá, ông khách nói tiếng Việt: “Khoẻ không?” Con chim gắt: “Đ.M. Hỏi gì hỏi mãi, sốt cả ruột!” Ông khách gật đầu khen: Nói thế mới là tiếng Việt.

Văn hào Dostoyevsky từng viết rằng một chữ trong tiếng Nga có thể diễn tả tất cả các tình tự của con người, ông xin lỗi không viết chữ đó ra, nhưng người Nga ai cũng đoán được.* Trong tiếng Việt cũng như  lúc mừng rỡ bất ngờ. Quý vị cũng đoán được tiếng nào rồi. Đó là một “bộ phận hữu cơ” của tiếng Việt chúng ta, tuy không cần dùng mỗi ngày nhưng không thể thiếu được. Bởi vì nhiều lúc không dùng thì không có tiếng nào khác tương xứng!

Gần đây, ông Lê Hồng Sơn mới ra chỉ thị cấm dân Hà Nội không được văng tục, chửi rủa, mắng mỏ nhau nơi công cộng. Nghĩa là không ai được nói năng một cách tự nhiên, vô tư thoải mãi nữa! Ông phó chủ tịch thành phố ra lệnh Sở Văn Hóa, Thông Tin, Du Lịch, Sở Giáo Dục và Đào Tạo, cùng với tất cả các quận, huyện, thị xã dưới quyền ông, phải “kiểm tra, xem xét, có biện pháp xử lý nhằm hạn chế cao” những hành vi mà ông gọi là “thiếu văn hóa.” Khi nghe tin lệnh trên được ban hành, bà Thảo, chủ nhân quán “bún mắng” ở Hà Nội nói: “Việc kiểm tra, xử lý thế nào tôi không biết! Chắc tôi sẽ không thay đổi!”

Muốn bà Thảo thay đổi, chắc ông Lê Hồng Sơn phải làm theo lối đồng chí Vladimir Putin, cựu sĩ quan công an KGB đang làm tổng thống nước Nga: Phạt tiền! Tháng Năm năm 2015 ông Putin đã ban luật cấm không được văng tục,  chửi thề trên báo, đài, phim ảnh, trong các sách in. Ai chửi mắng ngoài phố nếu bắt được sẽ phải nộp 2,500 đồng rúp tiền phạt (tương đương hơn 70 Mỹ kim). Các công ty phạm luật sẽ bị phạt 50 ngàn rúp. Các cuốn sách có lời lẽ thô tục sẽ phải để trong bao niêm kín, ai muốn nghe chửi bới phải bỏ tiền mua mới được mở bao lấy sách ra coi. Dân Nga cảm ơn ông Putin nhân đạo hơn các đồng chí cộng sản thời xưa. Thời Stalin, chỉ cần bị tình nghi viết những lời cấm kỵ thôi một tác giả cũng được bỏ vào bao niêm kín, không mở ra được. Đầu tháng Tám, luật Putin bắt đầu áp dụng cho các bloggers, chắc ông Lê Hồng Sơn sẽ theo gót.

Ông Lê Hồng Sơn phải ra lệnh “kiểm tra, xem xét, xử lý” chắc vì dân ngoài phố chửi  mắng hồ hởi quá. Có một quán “bún mắng” tại phố Ngô Sĩ Liên, một  quán “cháo chửi” tại  phố Lý Quốc  Sư. Những quán đó rất đông khách, dù  các bà chủ luôn mắng mỏ. Một bà đón khách như thế này: “Ăn bún gì? Tìm chỗ mà ngồi đi!” Hoặc, “Ăn xong rồi thì biến!” Một bà khác quở khách như con cháu trong nhà: “Nói gì mà nói lắm thế! Không ăn thì biến!” Hoặc là: “Hết cháo rồi! Đi đi!” Đó là những tiếng mắng mỏ được các bloggers thuật trên mạng, chắc chắn đã được sàng lọc cho nhẹ bớt 50%, thuật ngữ hàng chợ đã “chích ngừa” cả rồi. Muốn đạt được các danh hiệu “cháo chửi” và “bún mắng” thì chắc ngôn ngữ các cụ dùng phải đổ thêm rất nhiều mắm muối, ớt, tiêu, hành, tỏi hơn.

Văng tục, chửi thề đã thành nếp sống từ 70 năm qua, từ ngày dân Hà Nội được đảng “lãnh đạo.” Dạo một vòng 36 phố phường là được nghe liên tấu khúc các tiếng mắng, tiếng chửi, mới và cũ, phong kiến thực dân đến xã hội chủ nghĩa. Không riêng trên đường phố, trong trường học cũng vậy. Người Hà Nội vẫn kể một câu chuyện có ông thanh tra yêu cầu thầy giáo cấm học trò không được văng tục trong lớp. Thầy trả lời: “Vẫn cấm đấy chứ, nhưng cấm đ… được!” Sở Giáo Dục & Đào Tạo thành phố Hà Nội có thể sẽ báo cáo lên ông Lê Hồng Sơn rằng họ muốn “kiểm tra, xem xét, xử lý” nhưng cấm… không được!

Những luật lệ của ông Putin hay của ông Lê Hồng Sơn chắc sẽ không có hiệu quả. Cứ coi thí dụ, các thành phố Sài Gòn và Hà Nội đều nghiêm cấm phóng uế nơi công cộng, cấm xả rác ngoài đường, bao năm nay có cấm được ai không? Đảng vẫn hô hào chống tham nhũng, chống hối lộ, đi tới đâu chưa?

Văng tục là một hiện tượng bình thường trong tất cả các xã hội. Hai nhà tâm lý học Timothy Jay và Kristin Janschewitz cho biết trong tiếng Anh có mươi tiếng chửi thề rất thông dụng. Mỗi ngày một người Anh cứ nói 20 tiếng thì một tiếng nằm trong danh sách đó. Một cuộc nghiên cứu ở Anh quốc cho biết chỉ có 10% người lớn không bao giờ chửi thề. Số người thú nhận họ chửi thề thường xuyên là 90% đàn ông và 83% phụ nữ. Chửi thề, văng tục là một “phương pháp thư dãn tinh thần.” Chửi xong rồi, người ta bớt giận, bớt uất ức, quay sang chuyện khác. Mấy nhà nghiên cứu đã ghi chép 10,000 lần nghe các tiếng chửi thề, người lớn cũng như trẻ con, và họ công nhận một điều: Chửi xong, người ta trở thành hiền lành hơn, không tính chuyện đánh lộn nữa!

Nhưng tại sao người ta cần chửi thề, cần mắng mỏ? Một nhà nhân học, Ashley Montague viết cuốn Nghiên cứu Hiện tượng Chửi Thề, The Anatomy of Swearing, in năm 1967, nhận xét rằng những tiếng chửi mắng, dù không nhắm vào ai hết, đều phát lên vì những bực bội, uất ức đối với xã hội chung quanh. Văng tục là để giải tỏa một tâm trạng bất bình vẫn bị che giấu, bị kiềm chế, đè nén trong lòng.

Những lãnh tụ cộng sản đều thuộc dòng họ Nghiêm Văn Túc, cho nên không nhìn ra, hoặc không chấp nhận lối giải thích đó. Leon Trotsky, người sáng lập Hồng quân Liên xô, năm 1923 viết rằng chửi thề là phi nhân bản, là di sản của chế độ nô lệ, không thể chấp nhận dưới chế độ xã hội chủ nghĩa đỉnh cao tiến bộ loài người! Nhưng sau năm 1975 những đồng bào miền Bắc vào Nam ai cũng thấy một điều: Trẻ em miền Nam không văng tục, chửi bới thản nhiên, vô tư và năng nổ như trẻ em miền Bắc! Nếu Trotsky sống lại, ông sẽ phải công nhận rằng một chế độ nô lệ hóa con người thì tất nhiên cũng khiến người ta phải chửi thề, văng tục nhiều hơn, thường xuyên hơn. Văng tục là một cách “phản đối bất bạo động” khi đứng trước cường quyền. Nhất là khi chế độ cường quyền đó lại cố giữ cái mặt nạ đạo đức giả! Trong các ngôn ngữ Tây Âu, những tiếng văng tục nặng nề nhất đều nhắm xúc phạm các vị thần thánh.

Các quán “bún mắng” “cháo chửi” ở Hà Nội là một hiện tượng bình thường. Nó có vai trò “trị liệu,” giảm bớt những nỗi tức bưc trong lòng nói ra không được. Ở nước Mỹ thiếu hẳn loại quán ăn mắng chửi, cho nên ti vi họ phải bầy ra. Trong chương trình Seinfeld nổi tiếng kéo dài hàng chục năm vẫn ăn khách, người ta đã phải bày ra một quán “súp mắng.” Chủ quán cứ mắng khách hàng như tát nước vào mặt, có khi chỉ tay vào một người đang xếp hàng, quát: “Biến đi!” Người bị đuổi phải nhờ bạn bè xếp hàng mua “cháo” cho mình ăn! Họ gọi nó là “Quán Nazi!”

Ông Lê Hồng Sơn không thể cấm, mà chắc lệnh cấm của ông cũng không làm cho các quán Bún Mắng, Cháo Chửi ngưng hoạt động! Bởi vì “phàm vật bất bình tắc minh,” người dân biết giải tỏa những nỗi uất ức bằng  cách nào khác ngoài cách chửi thề?

Chú thích: *Nhiều người giải thích chữ Nga mà Dostoyevsky nhắc tới đọc là “khuy!”

Cậu bé lớp 8 đòi làm thay việc của Bộ trưởng Giáo dục

Cậu bé lớp 8 đòi làm thay việc của Bộ trưởng Giáo dục


Em Vũ Thạch Tường Minh phát biểu trong buổi hội thảo ra mắt sách Văn và Tiếng Việt lớp 6 của nhóm Cánh Buồm tại Hà Nội hôm 12/8. (Ảnh chụp từ clip trên youTube).

Em Vũ Thạch Tường Minh phát biểu trong buổi hội thảo ra mắt sách Văn và Tiếng Việt lớp 6 của nhóm Cánh Buồm tại Hà Nội hôm 12/8. (Ảnh chụp từ clip trên youTube).

Khánh An-VOA

14.08.2015

Phát biểu của một cậu bé lớp 8 trong buổi hội thảo ra mắt sách Văn và Tiếng Việt lớp 6 của nhóm  tại Hà Nội hôm qua (12/8) đã được lan truyền nhanh chóng trên mạng xã hội. Nhiều người gọi cậu bé là ‘Bộ trưởng Giáo dục tương lai’ của Việt Nam. Cậu bé đã nói gì? Tại sao có nhiều người tỏ ra đồng tình với nhận định của cậu bé đến thế? Khánh An tìm hiểu thêm chi tiết.

Nhấp vào để nghe phần âm thanh

Đoạn ghi âm được đăng tải lên mạng Youtube về buổi hội thảo ra mắt sách Văn và Tiếng việt lớp 6 của nhóm Cánh Buồm hôm 12/8, trong phần đặt câu hỏi, một học sinh đã đứng lên phát biểu như sau:

“Một điều mà con muốn nói với chính phủ Việt Nam, hay cụ thể hơn là Bộ Giáo dục, theo con, các vị bộ trưởng, thứ trưởng giáo dục không phải là nên áp dụng cả bộ sách này, mà là áp dụng cái lối giáo dục của bộ sách này vào giáo dục Việt Nam, bởi vì bây giờ giáo dục Việt Nam con thấy là, con không có tính từ nào khác nên con phải dùng tính từ này, là giáo dục Việt Nam bây giờ con thấy là quá ‘thối nát’ rồi. Mà suốt bao năm qua các vị cải đi, cải lại, cải tiến, cải lùi mà nó vẫn không thay đổi được kết quả gì cả. Nên bây giờ con muốn các vị bộ trưởng, thứ trưởng hãy thay đổi đường lối giáo dục của Việt Nam, có thể theo đường lối của Cánh Buồm cũng được, các vị có thể thay cả bộ sách giáo khoa cũng được. Các vị có thể nói là mất thời gian, nhưng con thấy là thời gian các vị cải tiến, cải lùi còn mất thời gian hơn. Giáo dục Việt Nam không cần cải cách gì nữa, giáo dục Việt Nam cần được cách mạng. Đó mới là điều các vị trong Bộ Giáo dục nên làm. Còn nếu bây giờ các vị không làm thì đến khi nào con thành Bộ trưởng Bộ Giáo dục con sẽ làm”.

Giáo dục Việt Nam không cần cải cách gì nữa, giáo dục Việt Nam cần được cách mạng. Đó mới là điều các vị trong Bộ Giáo dục nên làm. Còn nếu bây giờ các vị không làm thì đến khi nào con thành Bộ trưởng Bộ Giáo dục con sẽ làm.

Em Vũ Thạch Tường Minh, học sinh trường chuyên Amsterdam, nói.

Nhà giáo Phạm Toàn, người lập ra nhóm Cánh Buồm, một nhóm gồm nhiều nhà khoa học hoạt động độc lập đang làm công việc soạn thảo lại các bộ sách giáo khoa mới nhằm góp phần cách tân giáo dục theo phương pháp hiện đại, gọi phát biểu của em Vũ Thạch Tường Minh, học sinh trường chuyên Amsterdam, là một dạng “trưng cầu dân ý”.

“Những ý kiến của cậu bé bột phát một cách hồn nhiên, tức là một thứ ‘trưng cầu dân ý’ bột phát đấy. Xưa nay người ta vẫn nghĩ những đứa bé học ở những trường chuyên, lớp chọn như thế thì không có ý kiến gì về việc học nữa vì nó thỏa mãn rồi. Thế mà cậu bé này không thỏa mãn. Thứ hai nữa là cậu bé này đã nhìn ra không phải chỉ cho nó, rất nhiều trường chuyên lớp chọn khi học sinh vào đấy là tự thỏa mãn cuộc đời mình, cậu bé này vẫn nhìn ra xã hội nữa, phải nhìn ra xã hội thì mới thấy được ý nghĩa của bộ sách mà nhóm Cánh Buồm làm. Khi nào người ta hồn nhiên và không bị điều khiển bởi một động lực ngoài ý nghĩa giáo dục, ngoài sự học của con người, thì người ta đồng ý với nhóm Cánh Buồm. Nếu người ta nghĩ đến những thứ khác như uy tín, danh giá, tiền, quyền lợi…, thì người ta sẽ tự ái”.

Suy nghĩ của cậu bé không những được tán dương trong buổi hội thảo mà còn được chia sẻ rất nhiều trên mạng xã hội. Nhiều người nhận xét cậu bé có nhận thức chững chạc hơn rất nhiều người lớn, thậm chí có người đề nghị cho cậu làm thay công việc của Bộ Giáo Dục để con em họ được nhờ.

Nhà giáo Phạm Toàn và các em học sinh.

Nhà giáo Phạm Toàn và các em học sinh.

Nhà giáo Phạm Toàn cho rằng cậu bé đã nói thay nguyện vọng của nhiều người.

“Nguyện vọng của người dân là người ta muốn có một nền học vấn khác, nhưng đấy không phải là tất cả số đông người dân. Số đông người dân vẫn đang chịu sự ép dàn mỏng ra của ý thức hệ, của thói quen của nhà cầm quyền và thỏa mãn với bất kỳ cái gì của nhà nước đề ra”.

Nhà giáo Phạm Toàn nhận xét thái độ của đại đa số người dân Việt Nam vẫn là tìm cách thích nghi với hoàn cảnh hơn là thay đổi nó, một số người khác thậm chí còn tìm cách kiếm lợi trên những hoàn cảnh đó. Ông nói:

“Quan trọng nhất là những người hiểu biết, những nhà sư phạm phải tìm con đường càng ngày càng phải đúng hơn cả. Nếu cứ cắm cúi làm theo cách cũ thì sẽ làm tan hoang cả một tâm hồn dân tộc”.

Bây giờ giáo dục Việt Nam con thấy là, con không có tính từ nào khác nên con phải dùng tính từ này, là giáo dục Việt Nam bây giờ con thấy là quá ‘thối nát’ rồi. Mà suốt bao năm qua các vị cải đi, cải lại, cải tiến, cải lùi mà nó vẫn không thay đổi được kết quả gì cả. Nên bây giờ con muốn các vị bộ trưởng, thứ trưởng hãy thay đổi đường lối giáo dục của Việt Nam

Cậu bé lớp 8, Vũ Thạch Tường Minh, phát biểu.

Thực trạng của nền giáo dục Việt Nam lâu nay vẫn bị xã hội lên án vì những bất cập, lạc hậu, giáo điều và thiếu thực tế. Rất nhiều sáng kiến, cải cách đã được đưa ra những không cải thiện được tình trạng này nên nhiều người dân Việt Nam đã gọi đùa những “cải tiến” là “cải lùi”.

Chỉ riêng trong các bộ sách giáo khoa hiện hành thôi, đã có rất nhiều lỗi nghiêm trọng bị người dân phát hiện ra trong thời gian qua. Theo báo Đời sống & Pháp luật, chỉ tính riêng trong năm 2013 đã có 5 trường hợp sách giáo khoa, sách tham khảo bị phát hiện có in cờ Trung Quốc với “đường lưỡi bò 9 đoạn”.

Soạn lại bộ sách giáo khoa đúng đắn, nghiêm chỉnh cho các cấp bậc là mục tiêu chính của nhóm Cánh Buồm. Nhà giáo Phạm Toàn cho biết các thành viên của nhóm gặp nhau ở tâm huyết, lý tưởng dành cho nền giáo dục nước nhà, chứ không theo một tổ chức nào. Mọi người đều có công việc riêng để kiếm sống và việc soạn sách chỉ là tình nguyện.

Những nỗ lực của nhóm Cánh Buồm đôi khi cũng gặp phải sự phản kháng từ phía cơ quan chức năng, nhưng có một trường tiểu học đã chấp nhận áp dụng thực nghiệm bộ sách. Chỉ trong một năm, số lượng học sinh lớp 1 xin vào trường đã tăng lên gấp đôi, mặc dù học phí của trường này khá cao so với mặt bằng chung. Nhà giáo Phạm Toàn cho biết nhóm không có ý định ‘chạy chọt’ hay ‘vận động’ cho việc sử dụng sách rộng rãi, mà nhóm dành quyền lựa chọn đó cho chính người dân Việt Nam.

Thực trạng của nền giáo dục Việt Nam lâu nay vẫn bị xã hội lên án vì những bất cập, lạc hậu, giáo điều và thiếu thực tế. Rất nhiều sáng kiến, cải cách đã được đưa ra những không cải thiện được tình trạng này nên nhiều người dân Việt Nam đã gọi đùa những ‘cải tiến’ là ‘cải lùi’.

Nhà giáo Phạm Toàn nhận xét.

“Chúng tôi chỉ cần làm đúng đã, chúng tôi không cầu cạnh để thắng lợi vì chạy vạy, lobby này khác thì có thể có lợi nhưng về lâu về dài thì không có lợi. Chúng tôi cứ để thế này cho xã hội chọn lọc. Nếu Bộ Giáo dục chưa thừa nhận thì họ cũng phải cảnh giác khi họ làm những sản phẩm mới. Họ phải làm thế nào để họ không thua. Chứ còn [chúng tôi] không lobby, dứt khoát không lobby!”.

Với hơn 10 năm làm việc nghiêm túc, nhóm đã hoàn thành bộ Sách giáo khoa tiểu học và cho ra mắt bộ sách này hôm 12/8. Bộ sách có sự tham gia của nhiều soạn giả nổi tiếng và được thông qua một ban duyệt bản thảo gồm nhiều nhà nghiên cứu, giáo sư, tiến sĩ. Nhóm đang bắt tay thực hiện bộ sách dành cho lớp 6 trở lên, ngoài hai cuốn Tiếng Việt và Văn lớp 6 còn có hai cuốn Tự học Tiếng Việt và Tự học Văn. Đặc điểm của sách giáo khoa của nhóm Cánh Buồm là có thể sử dụng sách trong lớp học với giáo viên hoặc dành cho học sinh tự học.

httpv://www.youtube.com/watch?v=Jwq9TBYXIYc

“Bộ trưởng Giáo dục tương lai” bức xúc

Tri thiên Mệnh

Tri thiên Mệnh

Sức mạnh của trẻ thơ là tiếng khóc. Sức mạnh của đàn bà là phẩn nộ. Sức mạnh của người ăn trộm là vũ khí. Sức mạnh của vua chúa là quyền uy. Sức mạnh của kẻ ngu là áp đảo. Sức mạnh của bậc hiền trí là cảm hóa. Sức mạnh của người đa văn là thẩm sát. Sức mạnh của sa môn là nhẫn nhục .”

Bởi chúng ta không thể thay đổi được thế giới xung quanh, nên chúng ta đành phải sửa đổi chính mình, đối diện với tất cả bằng lòng từ bi và tâm trí huệ

“Ra đời hai tay trắng. Lìa đời trắng hai tay. Sao mãi nhặt cho đầy. Túi đời như mây bay.”

Thành thật đối diện với mâu thuẫn và khuyết điểm trong tâm mình, đừng lừa dối chính mình”.

“Sự khác biệt giữa con người là do mức tiến hóa khác nhau qua các kiếp sống. Có khi nào ta thù ghét một kẻ kém ta đâu? Suy luận rằng: “vạn vật đồng nhất”, ta sẵn sàng tha thứ cho kẻ khác, vì họ không hiểu biết, không ý thức hành động của mình, vả lại họ và ta nào có khác nhau đâu. Khi ta hiểu rằng: “nhất bổn tám vạn thù”, ta nhìn vạn vật như chính mình, từ loài người qua loài thú, thảo mộc, kim thạch, và ý thức rằng mọi vật đều có sự sống, đều có Thượng đế ngự ở trong, ta sẽ cởi bỏ thành kiến, mở rộng lòng thương đến muôn loài”.

Là con Phật, nếu không nói được những gì Phật nói, hãy im lặng như chánh pháp, đừng nói những lời ác, xuyên tạc, bịa đặt, vu khống, làm tổn hại kẻ khác, nếu không làm được những gì Phật làm, hãy im lặng và lắng nghe, quán sát, học hỏi những thiện tri thức, đừng vọng động làm những điều thương tổn đến tha nhân”.

Ác khẩu, mãi mãi đừng để nó thốt ra từ miệng chúng ta, cho dù người ta có xấu bao nhiêu, có ác bao nhiêu. Anh càng nguyền rủa họ, tâm anh càng bị nhiễm ô, anh hãy nghĩ, họ chính là thiện tri thức của anh”.

“Người mà trong tâm chứa đầy cách nghĩ và cách nhìn của mình thì sẽ không bao giờ nghe được tiếng lòng người khác”.

“Khi trong tay anh nắm chặt một vật gì mà không buông xuống, thì anh chỉ có mỗi thứ ấy, nếu anh chịu buông xuống, thì anh mới có cơ hội chọn lựa những thứ khác. Nếu một người luôn khư khư với quan niệm của mình, không chịu buông xuống thì trí huệ chỉ có thể đạt đến ở một mức độ nào đó mà thôi.”

Đức Đạt Lai Lạt Ma

Một phần ba doanh nghiệp ở Việt Nam hối lộ khi trả thuế

Một phần ba doanh nghiệp ở Việt Nam hối lộ khi trả thuế

Kết quả khảo sát cho thấy 40% doanh nghiệp tin rằng họ sẽ bị làm khó dễ nếu không hối lộ, hay còn gọi là 'trả chi phí không chính thức' cho cán bộ thuế.

Kết quả khảo sát cho thấy 40% doanh nghiệp tin rằng họ sẽ bị làm khó dễ nếu không hối lộ, hay còn gọi là ‘trả chi phí không chính thức’ cho cán bộ thuế.

13.08.2015

Kết quả khảo sát do Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI) thực hiện cho thấy 32% trong số 2.542 doanh nghiệp có đăng ký cho biết họ đã hối lộ cho nhân viên thuế vụ.

Bản tin của tờ Channel News Asia ở Singapore trích dẫn kết quả cuộc khảo sát đầu tiên thuộc loại này của VCCI cho biết 40% doanh nghiệp tin rằng họ sẽ bị làm khó dễ nếu không hối lộ, hay còn gọi là “trả chi phí không chính thức” cho cán bộ thuế.

Tại cuộc họp báo hôm thứ ba tại Hà Nội, ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Pháp chế của VCCI nói “Đa số doanh nghiệp cho biết phiền hà lớn nhất mà họ gặp phải là các biểu mẫu hay thay đổi.

Thứ hai là cán bộ thuế yêu cầu doanh nghiệp cung cấp các thông tin, giấy tờ không cần thiết.

Riêng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cho biết thời gian giải quyết thủ tục thuế quá dài, không được cán bộ thuế hướng dẫn đầy đủ, tận tình thủ tục thuế.”

“Cần xây dựng con người chứ không phải tượng đài”

“Cần xây dựng con người chứ không phải tượng đài”

Hoà Ái, phóng viên RFA
2015-08-12

08122015-need-to-build-real-idol-no-statue.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

32 mẫu phác thảo tượng đài Hồ Chí Minh được trưng bày từ năm 2013 tại UBND TPHCM

32 mẫu phác thảo tượng đài Hồ Chí Minh được trưng bày từ năm 2013 tại UBND TPHCM

Báo NLD

Trong xu thế khắp các tỉnh, thành cả nước VN, chính quyền địa phương đua nhau xây tượng đài và mới đấy nhất dự án tượng đài Bác Hồ 1400 tỷ ở tỉnh Sơn La vừa được thông qua gây nên làn sóng phản đối mạnh mẽ trong công chúng. Tìm hiểu về góc độ văn hóa, liệu rằng việc xây dựng tượng đài trong bối cảnh hiện tại có còn phù hợp?

Hòa Ái có cuộc trao đổi ngắn với Giáo sư Trần Ngọc Thêm, Giám đốc Trung tâm Văn hóa Lý luận và Ứng dụng thuộc Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP. HCM, xoay quanh vấn đề vừa nêu. Mời quý thính gải cùng nghe.

Hòa Ái: Xin chào Giáo sư Trần Ngọc Thêm. Thưa Giáo sư, trước hết, câu hỏi của Hòa Ái về nét văn hóa đúc tượng, xây tượng đài của người Việt bắt đầu xuất hiện từ khi nào trong lịch sử VN?

Giáo sư Trần Ngọc Thêm: Nền văn hóa VN, theo như cách định danh và phân loại của tôi thì thuộc loại nền văn hóa âm tính. Khu vực ĐNA là khu vực trồng lúa nước nên văn hóa rất âm tính, thiên về tinh thần hơn thiên về vật chất, thiên về văn hóa nghe, nói hơn là văn hóa nhìn. Vì vậy, trong lịch sử VN văn chương rất phát triển còn hội họa thì ngược lại. Đối với phương Tây thì hội họa, tượng đài, kiến trúc rất phát triển. Ở VN thì tượng đài rất gần đây thôi, đặc biệt từ khi người Pháp đến thì mới bắt đầu có xây dựng một số tượng đài chổ này, chổ kia, chổ khác. Thời kỳ xã hội chủ nghĩa thì ảnh hưởng theo Liên Xô cũng có thêm một số tượng đài nữa. Và trong giai đoạn cuối, giai đoạn sau của thời kỳ đổi mới thì việc xây dựng tượng đài bắt đầu ồ ạt. Văn hóa VN có một đặc điểm khác, tức là tính cộng đồng, rất hay theo nhau, thấy chổ này làm điều gì hay thì chổ khác làm theo. Trong lịch sử VN có rất nhiều những phong trào như vậy. Giai đoạn hiện nay khi phong trào phần nhiều phát triển tới mức độ cao thì lại chuyển sang làm hỏng, tiêu cực.

” Việc đồng thời xây dựng kinh tế thì xây dựng văn hóa, xây dựng cái này cái khác là cần thiết. Tất nhiên tượng đài cũng cần nhưng có mức độ thôi, nghĩa là quy hoạch như thế nào chứ không phải xây dựng tràn lan. Hiện nay có vẻ như tràn lan rồi. Số lượng quá nhiều

Giáo sư Trần Ngọc Thêm”

Hòa Ái: Theo như nhận xét của Giáo sư là do phong trào xây tượng đài hiện đang phát triển với mức độ cao đã gây ra chiều hướng tiêu cực. Có phải vì tính chất tiêu cực ngày mỗi một trầm trọng hơn đến nỗi cả đề án xây dựng tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Sơn La và thêm 14 tượng đài nữa ở các địa phương khác cho đến năm 2030 cũng bị dư luận trong nước phản đối?

Giáo sư Trần Ngọc Thêm: Tượng đài chỉ đơn thuần là một hình tượng thôi. Và đối với đại đa số người VN thì Bác Hồ là một hình tượng như vậy. Chúng ta có thể nhớ lại ở ngay miền Nam trong hoàn cảnh còn đang chiến tranh ở những vùng của chính quyền VNCH quản lý, trong những vùng của người Mỹ thì sau khi Bác Hồ mất nhiều nơi người ta tự giác, tự nguyện làm những đề thờ Bác Hồ và người ta hy sinh xương máu để bảo vệ những đền thờ này. Đây là một ví dụ để cho thấy thôi. Như vậy, hiện nay trong số các tượng đài thì hình tượng Bác Hồ có không phải là ít. Vả lại xây dựng tượng đài không nhất thiết quy mô phải thật to, phải cao bao nhiêu mét, nặng bao nhiêu tấn…thì mới là tượng đài. Tượng đài có thể to, có thể nhỏ nhưng căn bản phải phù hợp với không gian, phải có hình tượng độc đáo, hình tượng đẹp với mức kinh phí hạn chế hơn nhưng vẫn có thể đạt được hiệu quả.

Tượng đài Hồ Chí Minh được làm bằng hợp kim đồng có chiều cao là 7,2 m được đặt trước mặt UBND TPHCM.

Tượng đài Hồ Chí Minh được làm bằng hợp kim đồng có chiều cao là 7,2 m được đặt trước mặt UBND TPHCM (Kiến Thức)

Hòa Ái: Nhiều ý kiến của dân chúng cho rằng VN đang trong bối cảnh gánh nặng nợ công, nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn, đời sống an sinh xã hội của người dân còn ở mức thấp…Cho nên Nhà nước không cần thiết xây dựng dựng các tượng đài như hiện nay. Xét về góc độ văn hóa, ý kiến của Giáo sư như thế nào?

Giáo sư Trần Ngọc Thêm: Tôi nghĩ không hẳn hoàn toàn như vậy. Là thế này, cùng với việc xây dựng kinh tế thì văn hóa cũng phải được phát triển và văn hóa có nhiều khía cạnh. Văn hóa là nền tảng, mục tiêu của kinh tế. Bởi vì làm kinh tế cuối cùng để nâng hạnh phúc đời sống cho con người. Thế thì đời sống tinh thần cũng được xây dựng chứ không phải cứ còn khó khăn thì cứ tập trung lo xong kinh tế, mọi thứ khác cứ để đó thì không phải. Cho nên việc đồng thời xây dựng kinh tế thì xây dựng văn hóa, xây dựng cái này cái khác là cần thiết. Tất nhiên tượng đài cũng cần nhưng có mức độ thôi, nghĩa là quy hoạch như thế nào chứ không phải xây dựng tràn lan. Hiện nay có vẻ như tràn lan rồi. Số lượng quá nhiều. Hơn nữa vì không có văn hóa xây dựng tượng đài cho nên cũng không có kinh nghiệm về mọi mặt, từ thiết kế ý tưởng, xây dựng biểu tượng cho đến kỷ thuật…Cho nên trong thời gian qua, nhiều tượng đài sau khi xây xong bộc lộ rất nhiều khiếm khuyết. Vì vậy, tôi cho rằng cần phải hạn chế, cần phải có chừng mực hơn, có kế hoạch hơn chứ như hiện nay là quá nhiều và như vậy không phải là tốt. Và tôi cho rằng sự phản ứng của dân chúng là có lý.

” Trong xây dựng văn hóa thì tôi cho rằng đầu tiên phải xây dựng con người chứ không phải tượng đài

Giáo sư Trần Ngọc Thêm”

Hòa Ái: Hòa Ái cũng ghi nhận nguyện vọng của phần lớn dân chúng mong rằng Chính phủ phải quan tâm nhiều hơn nữa và tập trung cải thiện đời sống an dân thì hiển nhiên trong lòng họ sẽ luôn sừng sững những tượng đài các vị lãnh đạo vì nước thương dân chứ không cần phải có những tượng đài hoành tráng như hiện nay. Giáo sư nghĩ sao về quan điểm này?

Giáo sư Trần Ngọc Thêm: Điều đó thì đúng bởi vì mọi thứ tượng đài nào cũng không vững chắc cho bằng tượng đài trong lòng của người dân. Khi người dân có niềm tin, người ta yêu quý thì đã là có tượng đài rồi.

Hòa Ái: Giáo sư có chia sẻ rằng song song với việc xây dựng kinh tế thì cũng phải phát triển văn hóa. Trong giai đoạn hiện tại theo Giáo sư, VN cần chú trọng phát triển văn hóa như thế nào?

Giáo sư Trần Ngọc Thêm: Trong xây dựng văn hóa thì tôi cho rằng đầu tiên phải xây dựng con người chứ không phải tượng đài. Con người hiện nay có rất nhiều những mặt xấu của văn hóa truyền thống trong môi trường mới là môi trường đô thị, môi trường công nghiệp trong hòan cảnh toàn cầu hóa, kinh tế thị trường như thế này, có nhiều thói hư tật xấu bộc lộ ra. Cần phải tập trung vào xây dựng điều đó, phải có những con người hoàn thiện để đáp ứng những yêu cầu của giai đoạn toàn cầu hóa, hiện đại hóa, công nghiệp hóa và đô thị hóa thì mới có thể làm tất cả mọi việc khác được.

Hòa Ái: Chân thành cảm ơn thời gian của Giáo sư dành cho đài ACTD.

Cô bé 14 tuổi đi tìm công lý cho ba mẹ và anh trai

Cô bé 14 tuổi đi tìm công lý cho ba mẹ và anh trai

Sự việc liên quan tới gia đình em Nguyễn Mai Thảo Vy (ngoài cùng bên trái) rộ lên hồi tháng Tư vừa qua trong vụ phản kháng cưỡng chế đất đai ở huyện Thạnh Hóa, Long An.

Sự việc liên quan tới gia đình em Nguyễn Mai Thảo Vy (ngoài cùng bên trái) rộ lên hồi tháng Tư vừa qua trong vụ phản kháng cưỡng chế đất đai ở huyện Thạnh Hóa, Long An.

 

VOA Tiếng Việt

12.08.2015

Một bé gái mất nhà, có cả cha mẹ và anh trai rơi vào vòng lao lý vì chống lại lực lượng thu hồi đất mà em cho là bất công, nói em chỉ mong trở lại cuộc sống bình thường và đang làm tất cả những gì có thể để gia đình được đoàn tụ.

Sự việc liên quan tới gia đình em Nguyễn Mai Thảo Vy rộ lên hồi tháng Tư vừa qua trong vụ phản kháng cưỡng chế đất đai ở huyện Thạnh Hóa, Long An.

Hơn một chục người bị bắt, trong đó có ba mẹ của em Vy, và 4 tháng sau, mới đây, ngày 6/8, anh trai của em là Nguyễn Mai Trung Tuấn, 15 tuổi, đã bị bắt theo “lệnh truy nã”.

Vy kể với VOA Việt Ngữ: “Con cảm thấy mình giống như là bước vào con đường cùng không có lối thoát. Con tưởng cuộc đời con chấm hết rồi. Không còn cha mẹ, không còn nhà cửa. Tinh thần của con rất là suy sụp”.

Vy cho biết đã tận mắt xem “thông báo về việc bắt người đang bị truy nã” đối với anh trai mình, do công an Huyện Thạnh Hóa – tỉnh Long An ban hành, nhưng em nói trước đó, gia đình “không nhận được lệnh truy nã nào”.

Theo thông báo trên, học sinh Nguyễn Mai Trung Tuấn bị bắt “vì đã có hành vi cố ý gây thương tích, phạm vào điều 104 Bộ Luật hình sự”.

Trên mạng xã hội nhiều người lên tiếng phản đối việc truy tố và bắt giam một người dưới tuổi vị thành niên như em Tuấn.

Tuy nhiên, theo luật sư Lê Thị Công Nhân, việc bắt giữ và truy tố đối với những người ít tuổi thì luật Việt Nam có quy định tương đối rõ ràng.

Bà nói: “Luật Việt Nam quy định trường hợp ít tuổi nhất mà bị bắt giữ theo luật hình sự là 14 tuổi, là tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng chỉ đối với các tội nằm trong các nhóm rất nghiêm trọng cho tới đặc biệt nghiêm trọng. Nhưng mức độ nguy hiểm và mức độ nghiêm trọng của tội không phải là yếu tố duy nhất để cơ quan thẩm quyền người ta ra quyết định bắt giữ mà người ta còn dựa vào các yếu tố khác như nhân thân của các nghi can; thái độ, tâm tính của nghi can đó; nơi ở của nghi can, nghi can ở với gia đình có nhân thân tốt hay là nghi can ở trong môi trường cũng có khả năng nguy hiểm, tiếp tục phạm tội nào đó và có thể bỏ trốn. Họ xét nhiều khía cạnh như vậy. Nếu mà nhân viên công vụ người ta làm việc khách quan, người ta phải xem xét rất là kỹ những yếu tố đó để đưa ra một quyết định bắt giữ nghi can tuổi vị thành niên”.

Em Tuấn là con trai đầu của bà Mai Thị Kim Hương và ông Nguyễn Trung Can ở tỉnh Long An.

Kháng cự

Hồi giữa tháng Tư vừa qua, cặp vợ chồng này cùng với khoảng 10 người thuộc hai hộ dân khác đã bị bắt sau khi sử dụng acid và bom xăng để kháng cự lực lượng cưỡng chế đất.

Tranh chấp bùng lên vì dự án giải phóng mặt bằng để xây dựng bờ kè ở thị trấn Thạnh Hóa. Em Nguyễn Mai Thảo Vy  cho biết chính quyền “có đền bù nhưng không phù hợp với cá giá mà cha mẹ con mua”.

Em Nguyễn Mai Trung Tuấn phản đối việc bắt giữ cha mẹ.

Em Nguyễn Mai Trung Tuấn phản đối việc bắt giữ cha mẹ.

Trong thông báo về việc “bắt người đang bị truy nã”, công an huyện Thạnh Hóa không nói rõ “hành vi cố ý gây thương tích” của em Tuấn là gì. VOA tiếng Việt không thể liên hệ phỏng vấn với công an huyện Thạnh Hóa.

Luật sư Lê Thị Công Nhân nói về tội này: “Tội cố ý gây thương tích là một tội tương đối là phức tạp bởi vì nó liên quan tới việc giám định tỷ lệ thương tật của bị hại, của nạn nhân. Nó chia ra làm nhiều mức độ. Nhưng tỷ lệ thương tật đó nó chỉ là một phần để đi tới quyết định là hành vi phạm tội có phải là nghiêm trọng hay không bởi vì nó liên quan tới hành vi phạm tội được thực hiện như thế nào, với một thái độ cố ý đến cùng, với một sự tổ chức, với một sự xảo quyệt, với một sự tàn độc, hoặc với một động cơ đê tiện… Nó có rất nhiều yếu tố, chứ không phải chỉ cố ý gây thương tích thì cứ mặc định nó là tội rất nghiêm trọng”.

Điều 104 Bộ luật hình sự có 4 khung hình phạt từ 6 tháng tù giam tới 20 năm tù hoặc tù chung thân. Tin cho hay, cha mẹ của em Tuấn cũng bị truy tố về tội “cố ý gây thương tích”, nhưng không rõ là theo điều nào.

Giờ con chỉ mong muốn nho nhỏ thôi là nhà cầm quyền cộng sản thả cha mẹ con và anh hai con ra rồi trả tất cả nhà lại cho gia đình con sống bình thường.

Em Nguyễn Mai Thảo Vy nói.

Dù giờ phải sống nương nhờ vào người dì, em Vy nói rằng còn nhiều người ở khắp Việt Nam “còn tội hơn gia đình con gấp trăm lần” vì “bị mất đất, mất nhà và bị cướp quyền làm người”.

Em nói tiếp: “Giờ con chỉ mong muốn nho nhỏ thôi là nhà cầm quyền cộng sản thả cha mẹ con và anh hai con ra rồi trả tất cả nhà lại cho gia đình con sống bình thường. Con chỉ mong luật pháp của Việt Nam đừng có làm trái luật mà quốc tế quy định. Nó đừng có xâm phạm nhân quyền nữa. Hàng ngày con lên Facebook con tố cáo tội ác mà Đảng Cộng sản đã cướp của gia đình con để cho Đảng Cộng sản Việt Nam mau sám hối”.

Thu hồi đất đai ở Việt Nam đã gây ra nhiều vụ đối đầu nghiêm trọng giữa người dân và lực lượng cưỡng chế.

Trước vụ liên quan tới gia đình em Vy và Tuấn, gia đình nông dân Đoàn Văn Vươn ở Hải Phòng dùng mìn tự thế và súng để chống lại lực lượng cưỡng chế năm 2012.

Vụ việc khiến nhiều người bị thương cũng như đẩy nhiều thành viên trong gia đình người nông dân này vào cảnh tù tội.

Một sợi dây thừng thả xuống giếng thấu tỏ nhân tính 3 con người

Một sợi dây thừng thả xuống giếng thấu tỏ nhân tính 3 con người

Ba người bạn thân rơi xuống giếng, sợi dây thừng được thả xuống nhưng chỉ có thể cứu sống một người, câu chuyện này khiến bạn nhìn thấu nhân tính, quả thật là hoạn nạn mới hiểu lòng nhau.


Ba người bạn thân rơi xuống giếng, trong lúc thập tử nhất sinh………..

May thay lúc này có một sợi dây thừng ném xuống, họ cùng lúc nắm chặt sợi dây thừng mà từ từ leo lên.

Leo đến một nửa vách giếng, bên trên có người nói:

Sợi dây này chỉ có thể chịu được trọng lượng của 2 người mà thôi, nếu không dây sẽ bị đứt ngay”.

Ba người ngơ ngác nhìn nhau. Một lát sau, một người trong đó buông tay ra, anh rơi xuống để hy vọng sống sót cho 2 người bạn kia.

Hai người bạn còn lại vừa khóc vừa tiếp tục leo lên trên.

Khi leo đến cự ly chỉ còn một phần ba miệng giếng, bên trên lại có người nói: “Sợi dây thừng bây giờ chỉ có thể chịu được trọng lượng của 1 người thôi, nếu không dây sẽ bị đứt ngay”.

Hai người nắm chặt sợ dây, sững sờ nhìn nhau, cách sự sống chỉ còn có mấy bước, ai cũng không muốn buông tay.

Qua một lúc khá lâu, một người trong đó quả quyết duỗi chân ra, đạp người kia rơi xuống…..

Một câu chuyện tuy là đơn giản, nhưng những người khác nhau sẽ có cảm ngộ nhân sinh khác nhau.

Nhà triết học nói:

Người thứ nhất tuy đã chết rồi nhưng anh sống mãi.

Người thứ ba tuy vẫn còn sống nhưng chẳng khác gì đã chết rồi.

Người tu Đạo nói:

Buông tay tức là có được.

Người thứ nhất buông bỏ sợi dây (sinh tử), sinh mệnh được thăng hoa.

Người thứ ba nắm chặt sợi dây nhưng cuối cùng linh hồn lại bị đọa lạc.

Dân gian lại phán rằng:

Người thứ nhất sẽ được lên thiên đàng.

Người thứ hai thì vào trong nấm mồ.

Người thứ ba thì bị đánh xuống địa ngục.

Đọc xong, phải chăng bạn đang suy nghĩ, nếu đổi lại là bản thân cũng rơi vào trường hợp đó, thì bạn sẽ lựa chọn thế nào? Cũng khó thay…….

Tiểu Thiện, dịch từ cmoney.tw