Đừng quá lo sợ, quân đội Trung Quốc chỉ là con cọp giấy!

Đừng quá lo sợ, quân đội Trung Quốc chỉ là con cọp giấy!

The National Interest

Tác giả: Paul Dibb

Người dịch: Huỳnh Phan

H1Trung Quốc lớn nhưng yếu, bị cai trị bởi một đảng thiếu vững mạnh, không thể chịu đựng nổi bất kỳ thảm họa nào về kinh tế hay ngoại giao, chưa nói tới chiến tranh với Mỹ.

Hiện đang trở nên phổ biến việc làm ầm ĩ mối đe dọa quân sự từ Trung Quốc và hạ thấp khả năng quân sự của Mỹ. Phần lớn bình luận này nhắc tôi nhớ tới các báo cáo vào giữa thập niên 1980, rằng Liên Xô cũ đã đang trên đà qua mặt Mỹ về sức mạnh quân sự. Điều này không có ý cho rằng Trung Quốc đang trong giai đoạn cuối cùng của sự tan rã như Liên Xô, nhưng muốn khẳng định rằng Quân đội Trung Quốc (PLA) để lộ ra toàn bộ tính dễ vở và tính chuyên nghiệp quân sự mỏng như giấy của một quân đội vốn chưa hề tiến hành một cuộc chiến tranh hiện đại và có thiết bị quân sự được ca tụng, chưa hể kiểm nghiệm trong chiến đấu.

Với nền kinh tế đang chậm lại, và với những căng thẳng kinh tế và xã hội có tính cấu trúc càng trở nên xấu đi, thay vì tốt hơn, Trung Quốc lớn nhưng yếu, cai trị bởi một đảng thiếu vững mạnh, không thể kham nổi bất kỳ thảm họa nào về kinh tế hay ngoại giao, chưa kể tới chiến tranh với Mỹ. Trung Quốc với nền kinh tế của các chuỗi cung ứng toàn cầu và thương mại tự do quốc tế là phụ thuộc lẫn nhau trên cơ bản. Chiến tranh đối với Trung Quốc sẽ là một thảm họa kinh tế và xã hội.

Hơn nữa, Bắc Kinh có rất ít bạn bè hùng mạnh hay có ảnh hưởng trong khu vực và phải chịu sự cô lập chiến lược vốn đang ngày càng trở nên tồi tệ hơn khi họ càng tung sức mạnh ra xung quanh.

Bắc Kinh chẳng có chút kinh nghiệm gì về chiến tranh hiện đại. Kinh nghiệm cuối cùng về xung đột vũ trang là vào năm 1979, khi họ thất bại thảm hại trong việc dạy cho Việt Nam cái gọi là một ‘bài học’. Ẩu đả biên giới với Ấn Độ và Liên Xô trong thập niên 1960 và việc đưa đội quân nông dân tham gia vào cuộc chiến Triều Tiên trong thập niên 1950, khó có thể xếp vào loại chiến tranh hiện đại.

Sức mạnh của Quân đội Trung Quốc (PLA) chủ yếu giữ cho Đảng Cộng sản tiếp tục cầm quyền, đó là điều mà họ tuyên thệ trung thành, chứ không phải để bảo vệ đất nước Trung Quốc. Sĩ quan PLA vẫn còn lãng phí quá nhiều thời gian vào việc học tập giáo điều cộng sản không thích đáng, hơn là dành ưu tiên cho luyện tập quân sự. Rồi còn có vấn đề tham nhũng ở cấp cao nhất của PLA và việc mua quan bán chức nữa.

Đúng là trong nhiều thập kỷ qua, PLA đã thực hiện một số bước tiến ấn tượng về mặt công nghệ. Nhưng mặc dù Chủ tịch Tập Cận Bình tuyên bố rằng Trung Quốc phải trở thành một cường quốc biển hùng mạnh, vị thế địa lý đã chống lại điều đó. Lần cuối cùng một cường quốc lục địa lớn thật sự biến nó thành một cường quốc hải quân vào lúc nào? Chắc chắn không phải Liên Xô, Pháp hoặc Đức.

Các nhà bình luận ở Úc liên tục lặp đi lặp lại các khẳng định về khả năng A2AD (chống truy cập và từ chối khu vực) của Trung Quốc. Và rõ ràng là hoạt động ở vùng gần với Trung Quốc đang trở nên nguy hiểm hơn, đặc biệt trong điều kiện với kiểu khối lượng quân sự mà Trung Quốc có thể tích lũy gần nhà. Nhưng chúng ta có thực sự nghĩ rằng người Mỹ ngồi yên, không làm gì cả về mặt công nghệ trong các lĩnh vực như xe siêu thanh, railgun (súng điện tử), tàng hình, máy bay không người lái và tấn công mạng không?

Trong các lĩnh vực chính của công nghệ quân sự, Trung Quốc vẫn đi sau Mỹ cả 20 năm. Khả năng chiến tranh chống tàu ngầm của họ chưa đáng kể và nhiều tàu ngầm của họ còn rất ồn. Trung Quốc thiếu công nghệ lực đẩy và hãm thanh cần thiết để đóng bất cứ thứ gì có thể sánh gần với tàu ngầm hạt nhân của Mỹ hay của Nga. Theo các nguồn tin của Mỹ, ngay cả tàu ngầm hạt nhân tên lửa đạn đạo mới nhất, lớp Kim (Jin-class) của Trung Quốc cũng ồn hơn tàu ngầm hạt nhân tên lửa đạn đạo Delta III của Liên Xô thập niên 1970. Và tàu ngầm hạt nhân loại 95 sắp ra, sẽ còn ồn hơn tàu Akula vỏ titan của Liên Xô vào cuối thập niên 1980.

Khả năng phòng không của Trung Quốc có những khiếm khuyết so với bất kỳ kẻ thù nào có công nghệ tiên tiến. Hơn nữa, Trung Quốc vẫn lệ thuộc rất lớn vào Nga cho việc học lóm kỹ thuật quân sự và nguồn cung cấp các động cơ phản lực quân sự hiệu suất cao mà họ chưa làm chủ được 30 năm qua.

Bắc Kinh đã có những bước tiến quan trọng với công nghệ tên lửa đạn đạo, nhưng tên lửa DF-21 chưa từng phá hủy một mục tiêu di động trên biển ở tốc độ chiến đấu. Hơn nữa, nó dựa chủ yếu vào các vệ tinh tình báo và radar tầm xa-ngoài chân trời trong việc xác định mục tiêu. Những thứ đó là những mục tiêu mềm và dễ bị tổn thất trong các cuộc tấn công quân sự phủ đầu của Mỹ.

Theo Lầu Năm Góc, trong mọi trường hợp chưa rõ liệu Trung Quốc có khả năng thu thập thông tin chính xác mục tiêu và chuyển nó tới các bệ phóng kịp thời cho các cuộc tấn công các mục tiêu ở xa trên biển hay không.

Còn về khả năng ICBM (tên lửa đạn đạo liên lục địa) của Trung Quốc, chẳng hạn như DF-5B với nhiều đầu đạn có mục tiêu riêng (MIRV), điều này khó là một bước đột phá công nghệ hạt nhân. Năm 1974, với tư cách Trưởng Ban đánh giá quốc gia (National Assessment Staff), tôi đã được CIA báo cáo vắn tắt về MIRV trên ICBM SS-18 của Liên Xô. Đó là tiến bộ công nghệ đáng chú ý cách đây 40 năm.

Một số sĩ quan quân đội và các học giả Trung Quốc đang bắt đầu khoe khoang về khả năng chiến tranh hạt nhân của Trung Quốc. Dù có thể có khả năng đánh trả trong chiến tranh hạt nhân ở một mức độ nào đó, Trung Quốc là một trong những cường quốc lớn dễ bị xâm phạm nhất đối với chiến tranh hạt nhân tổng lực do mật độ và phân bố dân số dọc theo bờ biển phía Đông. Có dân số đông 1,4 tỷ người không có nghĩa là Trung Quốc sẽ sống sót sau một cuộc tấn công hạt nhân. Theo quan điểm của tôi, Mỹ cần giữ một sức mạnh tấn công hạt nhân lớn gồm vài ngàn đầu đạn hạt nhân chiến lược cả hoạt động lẫn dự trữ tích cực.

Tất cả điều này là để lập luận rằng chúng ta cần phải đặt khả năng quân sự đang trỗi dậy của Trung Quốc trong một phân tích so sánh có xét đoán nào đó, với khả năng của Mỹ và trong bối cảnh lịch sử. Chúng ta cần nhớ rằng, Hoa Kỳ là đất nước sáng tạo nhất trên thế giới và không đứng yên khi đối mặt với những tiến bộ quân sự của Trung Quốc mà phần lớn còn có những khiếm khuyết trầm trọng.

Bài này được đăng tải lần đầu trên The Strategist của ASPI tại đây

Con trai Nguyễn Tấn Dũng làm bí thư tỉnh ủy Kiên Giang

Con trai Nguyễn Tấn Dũng làm bí thư tỉnh ủy Kiên Giang
Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV)Con trai lớn của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa được bầu làm bí thư tỉnh ủy tỉnh Kiên Giang, trong khi người con trai thứ nhì được bầu làm tỉnh ủy viên tỉnh Bình Ðịnh.

Ngoài ra, còn có một số người khác là con của các cán bộ cao cấp đảng CSVN cũng được bầu vào một số vị trí quan trọng.


Ông Nguyễn Thanh Nghị vừa được bầu làm bí thư tỉnh ủy Kiên Giang. (Hình: nguyenthanhnghi.net)

Theo truyền thông Việt Nam, tại Hội Nghị Ban Chấp Hành Ðảng Bộ Tỉnh Kiên Giang khóa 10 lần thứ nhất diễn ra ngày 16 Tháng Mười, ông Nguyễn Thanh Nghị, 39 tuổi, được bầu làm làm bí thư tỉnh ủy nhiệm kỳ 2015-2020.”

Như vậy, con trai ông Nguyễn Tấn Dũng hiện là người trẻ tuổi nhất làm bí thư tỉnh ủy một tỉnh ở Việt Nam.

Cũng vào ngày này, một người con trai khác của ông Dũng là ông Nguyễn Minh Triết, 27 tuổi, “là người trẻ tuổi nhất được bầu vào Ban Chấp Hành Ðảng Bộ Tỉnh Bình Ðịnh nhiệm kỳ 2015-2020 trong số 55 người trúng cử cho nhiệm kỳ mới.”

Trong khi đó, đại hội đảng bộ CSVN thành phố Ðà Nẵng “vừa bầu ông Nguyễn Xuân Anh, phó bí thư thường trực thành ủy, giữ chức bí thư thành ủy, thay ông Trần Thọ.”

Như vậy, ông Nguyễn Xuân Anh, cũng 39 tuổi, hiện là bí thư thành ủy trẻ nhất nước.

Ông là con trai lớn của ông Nguyễn Văn Chi, cựu ủy viên Bộ Chính Trị.

Cũng tại Ðà Nẵng, ông Nguyễn Bá Cảnh, 32 tuổi, con trai Nguyễn Bá Thanh, cựu bí thư thành ủy, đã chết vì ung thư hồi Tháng Hai, được bầu vào Ban Chấp Hành Ðảng Bộ thành phố Ðà Nẵng, trong số 52 người trúng cử nhiệm kỳ 2015-2020.

Ở cương vị bí thư thành ủy và tỉnh ủy, hai ông Nguyễn Xuân Anh và Nguyễn Thanh Nghị gần như chắc chắn sẽ được vào Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng CSVN, qua đại hội toàn quốc sắp diễn ra vào đầu năm tới.

Ông Nguyễn Thanh Nghị hiện là ủy viên dự khuyết Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng CSVN.

Trước đó, ông là thứ trưởng Bộ Xây Dựng trước khi làm phó bí thư tỉnh ủy Kiên Giang.

Ông có bằng tiến sĩ khoa học kỹ thuật xây dựng của Ðại Học George Washington ở Mỹ, và bằng cao cấp lý luận chính trị.

Khác với người em gái và chị gái đi theo đường kinh doanh, hai ông Nguyễn Thanh Nghị và Nguyễn Minh Triết tiến thân theo đường chính trị nối nghiệp cha.

Việc “cơ cấu” thân nhân bà con hoặc mua chức tước, mà Việt Nam gọi là “chạy chức,” thỉnh thoảng được thấy hé lộ trên báo chí ở trong nước. Người ta chỉ biết đến chuyện có những thứ như thế vậy khi bị truyền thông lôi ra “rọi đèn.”

Hồi tháng trước, dư luận rộ lên với tin, tại huyện Mỹ Đức, huyện ngoại thành của Hà Nội, có chuyện  “10 trong 13 phòng ban có trưởng, phó phòng là anh em, họ hàng với Bí Thư Huyện Ủy Lê Văn Sang.” Khi bị nói một người làm huyện ủy thì cả họ được nhờ và ông Sang nói rằng tất cả mọi vụ bổ nhiệm đều “đúng quy trình,” “đúng pháp luật.”

Cuối năm 2012, dư luận trong nước nóng lên khi một số báo loan tin “chạy công chức ở thành phố Hà Nội” tốn khoảng 100 triệu đồng, theo lời tố cáo của ông Trần Trọng Dực, chủ nhiệm Ủy Ban Kiểm Tra Thành Ủy, tại phiên thảo luận của HĐND thành phố sáng 7 Tháng Mười Hai, về “tổng biên chế hành chính, sự nghiệp năm 2013.”

Sau các cuộc thanh tra, kiểm tra thì người ta không thấy gì cả rồi mọi chuyện chìm vào quên lãng. (TN)

GIẢI THÍCH -TẢN MẠN BA TÀU

GIẢI THÍCH -TẢN MẠN BA TÀU

Người Tàu, Ba Tàu, Các Chú, Khách Trú và Chệt hoặc Chệc. Gia Định Báo (số 5, năm thứ 6, phát hành ngày 16/2/1870) giải thích:
“…An-nam ta kêu là Tàu, người bên Tàu, là vì khách thường đi tàu qua đây, lại dùng tàu chở đồ hàng hóa qua đây buôn bán; nên kêu là Tàu, hàng Tàu, đồ Tàu v.v… Từ Ba-Tàu có cách giải thích như sau: Ba có nghĩa là ba vùng đất mà chúa Nguyễn cho phép người Hoa làm ăn và sinh sống: vùng Cù Lao Phố (Đồng Nai), Sài Gòn-Chợ Lớn, Hà Tiên, từ Tàu bắt nguồn từ phương tiện đi lại của người Hoa khi sang An Nam, nhưng dần từ Ba Tàu lại mang nghĩa miệt thị, gây ảnh hưởng xấu…”.
“…Kêu Các-chú là bởi người Minh-Hương mà ra; mẹ An-Nam cha Khách nên nhìn người Tàu là anh em, bằng không thì cũng là người đồng châu với cha mình, nên mới kêu là Các-chú nghĩa là anh em với cha mình. Sau lần lần người ta bắt chước mà kêu bậy theo làm vậy…”.
“…Còn kêu là Chệc là tại tiếng Triều Châu kêu tâng Chệc nghĩa là chú. Người bên Tàu hay giữ phép, cũng như An-Nam ta, thấy người ta tuổi đáng cậu, cô, chú, bác thì kêu tâng là chú là cậu vân vân. Người An-Nam ta nghe vậy vịn theo mà kêu các ảnh là Chệc …”
Cách giải thích thuật ngữ nói trên của Gia Định Báo từ thế kỷ thứ 19 được coi là tạm ổn vì đây là một trong những tài liệu xưa có xuất xứ từ miền Nam. Theo Lê Ngọc Trụ trong Tầm nguyên Tự điển Việt Nam, chệc hay chệt là tiếng Tiều gọi chữ thúc, nghĩa là “em trai của cha”. Người bình dân gọi Chệc để chỉ chung người Hoa. Người Quảng Đông cho là gọi như thế có ý miệt thị, người Triều Châu trái lại, chấp nhận vì họ được tôn là chú. Ở miền Nam, “các chú” Quảng làm ăn buôn bán khá hơn “các chú chệc” người Tiều lam lũ trong nghề làm rẫy, tằn tiện nên không biết có phải vì vậy mới có câu:
Quảng Đông ăn cá bỏ đầu
Tiều Châu lượm lấy đem về kho tiêu!
Người Tiều lại chê dân Quảng không biết ăn cá. Họ nói món cháo cá Tiều khi ăn có vị ngọt đặc biệt nhờ chỉ rửa sạch bên ngoài, giữ lại nguyên si vảy, đầu và cả ruột! Dân Tiều ở miền Nam “chuyên trị” những món cá chim hấp, bò viên, tôm viên, ruột heo nấu cải chua… và nhất là món hủ tíu Tiều Châu. Người ta còn dùng các từ như Khựa, Xẩm, Chú Ba… để chỉ người Tàu, cũng với hàm ý miệt thị, coi thường. Tuy nhiên, có sự phân biệt rõ ràng trong cách gọi: phụ nữ Tàu được gọi là thím xẩm còn nam giới thì lại là chú ba.
Năm 1956, chính phủ Ngô Đình Diệm của nền Đệ nhất Cộng hòa (1955-1963) đã có một quyết định khá táo bạo, buộc tất cả Hoa kiều phải nhập quốc tịch Việt Nam, nếu không sẽ bị trục xuất. Thương nghiệp tại miền Nam sau thời Pháp thuộc phần lớn nằm trong quyền kiểm soát của Hoa kiều. Vì vậy, chính phủ cố tạo sức mạnh cho doanh nhân Việt bằng cách hạn chế quyền lợi của người Hoa. Đạo luật 53 cấm ngoại kiều (nhắm vào Hoa kiều) tham gia 11 nghề liên quan đến thóc gạo, điền địa, buôn bán thịt cá, than đá, dầu lửa, thu mua sắt vụn… được Chính phủ Ngô Đình Diệm ban hành vào tháng 9/1956. Đạo luật này đã làm xáo trộn kinh tế trong nước nhưng đã có tác động mạnh đến nền công thương nghiệp của người Việt vào thời kỳ đó. Đa số người Hoa đã nhập tịch Việt, tính đến năm 1961, trong số 1 triệu Hoa kiều ở miền Nam chỉ còn khoảng 2.000 người giữ lại Hoa tịch.
Người Tàu kiểm soát gần như toàn bộ các vị trí kinh tế quan trọng, và đặc biệt nắm chắc 3 lĩnh vực quan trọng: sản xuất, phân phối và tín dụng. Đến cuối năm 1974, họ kiểm soát hơn 80% các cơ sở sản xuất của các ngành công nghiệp thực phẩm, dệt may, hóa chất, luyện kim, điện… và gần như đạt được độc quyền thương mại: 100% bán buôn, hơn 50% bán lẻ, và 90% xuất nhập khẩu. Hoa kiều ở miền Nam gần như hoàn toàn kiểm soát giá cả thị trường. Cũng vì thế, ở Sài Gòn có câu mỉa mai: “Sống phá rối thị trường, chết chật đường chật xá” để ám chỉ người Tàu khi còn sống lũng đoạn nền kinh tế và đến lúc chết lại tổ chức những đám ma một cách rình rang. Cũng như người Tàu ở Hồng Kông và Macao, người Tàu ở miền Nam đa số nói tiếng Quảng Đông (Cantonese) chứ không nói tiếng Quan Thoại(Mandarin) mà ngày nay gọi là tiếng Phổ Thông. Cũng vì thế, ngôn ngữ Sài Gòn xưa vay mượn từ tiếng Quảng Đông được khoảng 71 triệu người Hoa trên khắp thế giới xử dụng.
Người Sài Gòn thường ví những người “ăn nói không đâu vào đâu” là “nói hoảng, nói tiều” thực ra là “nói tiếng Quảng Đông, nói tiếng Triều Châu”. Điều này cho thấy tiếng Quảng Đông xuất hiện rất nhiều trong ngôn ngữ miền Nam trước năm 1975, kế đến mới là tiếng Triều Châu. Trên thực tế, người Tàu có đến 5 nhóm Hoa kiều, được gọi là Ngũ Bang tại miền Nam: Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam và Khách Gia (người Hẹ). Trong lĩnh vực ăn uống của Sài Gòn xưa, ảnh hưởng của người Tàu gốc Quảng Đông rất đậm nét. Người ta thường nói về 4 cái thú: “Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật Bản, đi xe Huê Kỳ”. Bên Tàu lại ví von: “Thực tại Quảng Châu, Y tại Hàng Châu, Thú tại Tô Châu, Tử tại Liễu Châu” (Cơm ngon ăn tại Quảng Châu, Áo đẹp may vải Hàng Châu, Vợ xinh cưới ở Tô Châu, Hòm chết chôn không bao giờ mục ở Liễu Châu ). Quảng Châu chính là thủ phủ của tỉnh Quảng Đông.
Kết hợp ý nghĩa của hai câu nói Việt-Trung ở trên ta có thể kết luận: ăn uống theo người Tàu gốc Quảng Đông là hết xảy hay số dzách (số một), những từ ngữ đã quá phổ biến trong xã hội miền Nam. Về sau, vào thời chiến tranh Việt Nam, “số dzách” được cải biên theo kiểu Mỹ thành “nâm-bờ oăn” (number one)! Hành trình của ngôn ngữ xem ra rất thú vị. Nói cho công bằng, bên cạnh số đông các tửu lầu, cao lâu của người Tàu gốc Quảng Đông, ở Sài Gòn Chợ lớn cũng có lai rai một số tiệm Tàu khác như tiệm Hủ tíu Triều Châu ở đối diện Chợ Lớn Mới, Cơm Gà Hải Nam ở Chợ An Đông hay đường Tôn Thọ Tường.
Theo Bình-nguyên Lộc (1), thời tiền chiến trước 1945, các phổ ky trong tiệm Tàu còn có kiểu kêu vào bếp những món ăn thực khách gọi y như người ta gọi “lô-tô” (bingo), dĩ nhiên bằng tiếng Quảng Đông:
– Bàn số 3, bên Đông, bà lùn, cà phê ít sữa nhiều!
– Bàn số 4, bên Đông, hủ tíu không giá.
– Bàn số 1, bên Tây, thêm bánh bao ngọt thằng nhỏ.
– Bàn số 2, bên Tây, ông già râu, cà phê đen ly lớn, xíu mại to.
Chủ tiệm thường biết rõ tính nết và sở thích ăn uống của mỗi khách quen, nên họ thường đặt cho mỗi người một cái tên thuộc loại… “hỗn danh”. Khi khách ăn xong lại quầy trả tiền thì phổ ky rao những câu hóm hỉnh bằng tiếng Quảng Đông, chẳng hạn như:
– Ông đầu hói mang khăn rằn, một đồng hai cắc
– Bà hai mập, ba đồng sáu cắc
– Ông chủ ốm nón nỉ, tám đồng tư, hai bánh bao mang về
Nổi tiếng tại Sài Gòn xưa có các nhà hàng Đồng Khánh, Arc-en-ciel (sau này đổi tên là Thiên Hồng), Soái Kình Lâm, Bát Đạt, Á Đông, Đại La Thiên, Triều Châu… Tại đây còn phục vụ loại “ăn chơi” theo cung cách nhất dạ đế vương. Quả thật người viết bài này chưa bao giờ được “làm vua một đêm” nên đoán trong những bữa tiệc như thế phải có mỹ nữ hầu tửu, thực đơn chắc chắn phải có nhiều món huyền thoại danh bất hư truyền về cái chất bổ dương khích dục đi đôi với các thứ rượu quí như whisky, cognac và Mao Đài tửu (Mao Đài hoàn toàn không có liên quan gì đến Mao Xếnh Xáng dù ông có dùng rượu này để tiếp đãi các nguyên thủ quốc gia).
Cơm Tàu thường được để trong những cái thố nhỏ nên được gọi là cơm thố, chỉ là cơm trắng dùng chung với các món ăn nhưng không nấu bằng nồi mà chỉ hấp cách thủy để cho chín gạo. Thông thường một người ăn chừng một hoặc hai thố là no. Có người lại ca tụng ăn cơm thố chỉ cần chan chút hắc xì dầu (nước tương đen) pha với dấm Tiều thêm chút ớt là đã thấy ngon rồi. Nghĩ lại cũng đúng nhưng nếu ăn kiểu này thì những tiệm nổi tiếng như Siu Siu bên hông chợ An Đông hay Siu Siu ở đầu hẻm Nguyễn Duy Dương (hình như ở số nhà 61) chắc đã dẹp tiệm từ lâu rồi! Hình dưới đây là những thố cơm chụp tại Quán Chuyên Ký trong khu Chợ Cũ đường Tôn Thất Đạm. (Những thố cơm ngày xưa nhỏ hơn nhiều, ngày nay tiệm dùng những cái thố quá lớn, không lẽ bao tử của thực khách ngày nay lớn hơn ngày xưa?). Cơm chiên Dương Châu cũng là món ăn du nhập từ Quảng Đông. Nhiều người rất khoái cơm chiên nhưng ít người biết từ khởi thủy đây chỉ là món tổng hợp các thức ăn dư thừa được chế biến lại. Này nhé, cơm vốn là “cơm nguội” nấu dư từ hôm trước, các phụ gia khác như jambon, trứng tráng, đậu Hòa lan, hành lá…còn dư được xắt lát rồi trộn với cơm mà chiên lên!
Cũng thuộc loại thức ăn dư thừa có món tài páo (bánh bao). Bạn không tin ư? Nhân bánh bao là thịt vụn được xào lên, trộn với lạp xưởng và trứng (sau này được thay bằng trứng cút kể từ khi dịch cút lan truyền khắp Sài Gòn, nhà nhà nuôi cút, người người ăn trứng cút). Vỏ bánh bao được làm bằng bột mì, sau khi hấp chín bột nở phình ra trông thật hấp dẫn. Có người bảo cơm chiên Dương Châu và bánh bao thể hiện tính tằn tiện và tiết kiệm của người Tàu, không bỏ phí thức ăn thừa! Nói cho vui vậy thôi chứ từ cơm chiên, bánh bao đến các loại sơn hào hải vị như bào ngư, vi cá, yến sào… đều đòi hỏi cách chế biến, đó là nghệ thuật nấu ăn. Các tiệm “cà phê hủ tiếu” của Tàu lan rộng ra nhiều nơi chứ không riêng gì trong Chợ Lớn. Khắp Sài Gòn, Gia Định rồi xuống đến Lục Tỉnh đi đâu cũng thấy những xe mì, xe hủ tiếu, chỉ nhìn cách trang trí cũng có thể biết được chủ nhân là người Tàu. Họ có kiểu cách riêng biệt với những chiếc xe bằng gỗ, thiết kế một cách cầu kỳ. Phần trên xe là những tấm kính tráng thủy có vẽ hình các nhân vật như Quan Công, Lưu Bị, Trương Phi, Triệu Tử Long… trong truyện Tam Quốc.

Ăn điểm tâm thì có mì, hủ tíu, bánh bao, há cảo, xíu mại…Khách thường gọi một ly xây chừng, đó là một ly cà phê đen nhỏ hay tài phế (cà phê đen lớn). Cà phê ngày xưa còn có tên “cá phé vớ (dzớ)”, pha bằng chiếc vợt vải nên còn được gọi là “cà phê vợt” tựa như chiếc vớ (bít tất). Cà phê đựng trong “dzớ” phải được đun nóng trong siêu nên còn có tên là “cà phê kho”, có điều “kho” nước đầu thì có mùi cà phê nhưng những nước sau có vị như… thuốc bắc. Sang hơn thì gọi phé nại (cà phê sữa) hoặc bạt sửu (nhiều sữa nhưng ít cà phê) với sữa đặc có đường hiệu Ông Thọ (2) hoặc Con Chim (3). Có người lại dùng bánh tiêu hoặc dầu-cha-quẩy (người miền Bắc gọi là quẩy) nhúng vào cà phê để ăn thay cho các món điểm tâm đắt tiền.
Người bình dân còn có lối uống cà phê trên đĩa. Mỗi tách cà phê thường được để trên một chiếc đĩa nhỏ, khách “sành điệu” đổ cà phê ra đĩa, đốt điếu thuốc Melia chờ cà phê nguội rồi cầm đĩa lên… húp. Nhà văn Bình-nguyên Lộc trong Hồn Ma Cũ mô tả cách uống cà phê của người xưa: “…Người cha đứa bé rót cà phê ra dĩa cho mau nguội, rồi nâng dĩa lên mà uống”. Đây là cách uống của một số người Sài Gòn vào những thập niên 50-60, đa số họ là những người lớn tuổi, “hoài cổ” nên vẫn duy trì cách uống đặc trưng của Sài Gòn xưa. Vào một quán nước bình dân trong Chợ Lớn ta có thể gọi một ly suỵt xủi và người phục vụ đem ra một ly đá chanh mát lạnh. Có người gọi nước đá chanh là “bất hiếu tử” vì dám cả gan “đánh cha” nhưng nói lái lại là… đá chanh! Tại các tiệm “cà phê hủ tiếu” luôn luôn có bình trà để khách có thể nhâm nhi nhậm xà (uống trà) trước khi gọi phổ ky đến để thảy xu (tính tiền). (Nhậm xà còn có nghĩa là tiền hối lộ, tiền trà nước). Người sành điệu còn “xổ” một tràng “broken Cantonese”: “Hầm bà làng kỵ tố?” (Hết thảy bao nhiêu tiền?).
Những từ ngữ vay mượn của người Tàu dùng lâu hóa quen nên có nhiều người không ngờ mình đã xử dụng ngôn ngữ ngoại lai. Chẳng hạn như ta thường lì xì cho con cháu vào dịp Tết hoặc lì xì cho thầy chú (cảnh sát) để tránh phiền nhiễu, cũng là một hình thức hối lộ. Lạp xưởng là một món ăn có nguồn gốc từ bên Tàu, tiếng Quảng Châu là lạp trường: ngày lễ Tất niên và ruột heo khô. Cũng vì thế vào dịp giáp Tết các cửa hàng nổi tiếng như Đồng Khánh, Đông Hưng Viên trưng bày la liệt các loại lạp xưởng, nào là lạp xưởng mai quế lộ, lạp xưởng khô, lạp xưởng tươi…
Chế biến lạp xưởng là nghề của các Chú Ba trong Chợ Lớn. Lạp xưởng được làm từ thịt heo nạc và mỡ, xay nhuyễn, trộn với rượu, đường rồi nhồi vào ruột heo khô để chín bằng cách lên men tự nhiên. Lạp xưởng màu hồng hoặc nâu sậm vì chắc hẳn có thêm chút bột màu. Lạp xưởng ở Sóc Trăng thuộc miền Lục tỉnh cũng rất nổi tiếng cùng với món bánh pía, một món đặc biệt của người Tiều gốc từ Triều Châu. Đôi khi bánh pía còn được gọi là bánh lột da, thực chất có nguồn gốc từ bánh trung thu theo kiểu Tô Châu nhưng khác với loại bánh trung thu mà ta thường thấy. Đây là loại bánh có nhiều lớp mỏng và nhân bánh có trộn thịt mỡ.
Bánh pía do một số người Minh Hương di cư sang Việt Nam từ thế kỷ 17 mang theo. Trước đây, việc làm bánh pía hoàn toàn mang tính thủ công và phục vụ cho nhu cầu của từng gia đình. Bánh pía ngày trước cũng khá đơn giản, vỏ ngoài làm bằng bột mì có nhiều lớp da mỏng bao lấy phần nhân, lớp da ngoài dày thường để in chữ, nhân làm bằng đậu xanh và mỡ heo chứ không có lòng đỏ trứng muối và các loại thành phần khác như ngày nay. Do thị hiếu của người tiêu dùng mà các lò bánh mới thêm các thành phần hương liệu khác như sầu riêng, khoai môn, lòng đỏ trứng muối… Tại Sóc Trăng hiện có gần 50 lò chuyên sản xuất bánh pía. Tuy nhiên, số lò bánh và cửa hàng buôn bán tập trung đông nhất tại thị tứ Vũng Thơm (xã Phú Tâm, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng) nơi được xem là khởi thủy của làng nghề bánh pía.
Vịt quay Bắc Kinh và vịt quay Tứ Xuyên là những món “đặc sản” nổi tiếng của Tàu. Đặc trưng của món vịt quay là da vịt mỏng, giòn, màu vàng sậm. Tại miền Nam, vịt quay và thịt heo quay cũng được người Quảng Đông đưa vào danh sách ẩm thực. Bí quyết gia truyền của các món này là ướpngũ vị hương rồi quay sao cho da giòn tan trong khi phần thịt vừa mềm lại vừa thơm. Vịt quay hoặc heo quay theo đúng kiểu Tàu là phải ăn với bánh bao chay (không nhân) nhưng người Việt cũng chế thêm món bánh hỏi thịt quay ăn với các loại rau, chấm nước mắm cho hợp với khẩu vị. Ngày xưa, trong Chợ Lớn, nổi tiếng về heo quay, vịt quay có khu vực đường Tôn Thọ Tường, ở Sài Gòn thì khu Chợ Cũ có vài tiệm heo quay của người Tàu. Chuyện kể có một ông cà lăm đi mua thịt quay, khi ông lắp bắp: “Bán… cho tôi… 20 đồng… thịt quay…” thì Chú Ba với tay nghề chặt thịt cũng vừa chặt xong đúng 20 đồng!
Hết “ăn” giờ lại sang đến “chơi” trong ngôn ngữ vay mượn của người Tàu. Chuyện cờ bạc trong ngôn từ của người Sài Gòn xưa đã xuất hiện không ít những từ ngữ từ tiếng Tàu. Tài Xỉu (phiên âm từ tiếng Tàu có nghĩa là Đại – Tiểu) là trò chơi dân gian có từ rất lâu. Chỉ cần 1 cái đĩa, 1 cái bát và 3 hạt xí ngầu cũng có thể lập sòng tài xỉu nên còn có tên là sóc đĩa. Hột xí ngầu có sáu mặt, mỗi mặt có từ một đến sáu chấm, tương đương từ một đến sáu điểm. Khi ráp sòng, người ta để cả ba hột lên chiếc đĩa sứ, chụp bát lên trên rồi lắc. Tổng số điểm của ba hột từ mười trở xuống gọi là xỉu, trên con số mười là tài. Sau khi chủ sòng lắc đĩa, người chơi đoán hoặc tài hoặc xỉu mà đặt cược. Chuyện thắng thua trong tài xỉu tùy thuộc vào tay nghề của người xóc đĩa, còn được gọi là hồ lỳ. Xác suất chủ sòng là từ 60 đến 70% thắng nhưng vì lỡ mang kiếp đỏ đen nên con bạc vẫn bị thu hút vào sòng xóc đĩa.
Các loại bài và hình thức chơi bài cũng có xuất xứ từ tiếng Tàu. Binh xập xám (13 cây) có những thuật ngữ như mậu binh (không cần binh cũng thắng), cù lủ (full house) là 3 con bài cùng số và một cặp đôi, ví dụ như 3 con chín + 2 con K (lớn nhất là cù lủ ách (ace), nhỏ nhất dĩ nhiên là cù lủ hai), thùng (flush) là 5 con cùng nước (suit) mà không theo trật tự liền nhau, ngược lại là sảnh (straight) là 5 con theo trật tự liền nhau nhưng không cùng nước. Kho từ vựng trong xập xám còn có xám chi (3 con cùng loại – three of a kind), thú (two) hay thú phé (two separate pairs) là 2 cặp và 1 con bất kì nào khác. “Thứ nhất tứ quý (4 con bài cùng số) thứ nhì đồng hoa (cùng một nước như cơ, rô, chuồn, bích)” là một trong số cả rừng từ ngữ của dân binh xập xám.
Ở phần trên đã bàn về hai khía cạnh “ăn” và “chơi”, còn một khía cạnh đóng vai trò không kém phần quan trọng là “làm” của người Tàu. Nghề nghiệp được xếp thấp nhất của người Tàu là nghề lạc xoong hay nói theo tiếng Việt là mua ve chai, người miền Bắc gọi là đồng nát. Chú Hỏa (1845-1901), người Phúc Kiến, xuất thân từ nghề này nhưng về sau lại là một trong 4 người giàu nhất Sài Gòn xưa: “Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Hỏa”. Bốn triệu phú ngày xưa gồm các ông Huyện Sỹ (Lê Phát Đạt), Tổng đốc Phương (Đỗ Hữu Phương), Bá hộ Xường (Lý Tường Quan) và Chú Hỏa (Hui Bon Hoa hay Hứa Bổn Hòa). (Xem Triệu phú Sài Gòn xưa)
Một số người Tàu hành nghề bán chạp phô với các mặt hàng thuộc loại tả pín lù nhưng sẵn sàng đáp ứng được mọi nhu cầu hàng ngày của người lao động trong xóm. Tiệm chạp phô chỉ có mục đích lượm bạc cắc từ cây kim, sợi chỉ đến cục xà bong Cô Ba, quả trứng, thẻ đường. Người Tàu kiên trì trong công việc bán tạp hóa, ông chủ ung dung đếm tiền mỗi tối và ẩn dưới tiệm chạp phô là cả một gia tài được tích lũy. Người ta chỉ phát hiện điều này khi có phong trào vượt biên. Tính rẻ “3 cây một người” thế mà cả gia đình chủ tiệm chạp phô vẫn thừa sức vượt biển để tìm đến bến bờ tự do.
Cao cấp hơn là những xì thẩu, những người thành công trong kinh doanh mà ngày nay ta gọi là „đại gia“. Điển hình cho giai cấp xì thẩu là Trần Thành, bang trưởng Triều Châu, với hãng bột ngọt Vị Hương Tố rồi các mặt hàng mì gói Hai Con Tôm, nước tương, tàu vị yểu đã chinh phục thị trường miền Nam từ thập niên 60 để trở thành “ông vua không ngai trong vương quốc Chợ Lớn”. Xì thẩu Lý Long Thân làm chủ 11 ngành sản xuất và dịch vụ, 23 hãng xưởng lớn: hãng dệt Vinatexco, Vimytex, hãng nhuộm Vinatefinco, hãng cán sắt Vicasa, hãng dầu ăn Nakyco, hãng bánh ngọt Lubico, Ngân Hàng Nam Việt, Ngân Hàng Trung Nam, khách sạn Arc en Ciel, hãng tàu Rạng Đông…
Xì thẩu Lâm Huê Hồ được nhiều người gọi là “chủ nợ của các ông chủ”. Ông là người giữ nhiều tiền mặt nhất miền Nam, số tiền ông có tay bằng vốn của nhiều ngân hàng tư nhân cỡ nhỏ như Nam Đô, Trung Việt gộp lại. Lâm Huê Hồ còn nổi tiếng là vua phế liệu, chuyên thầu quân cụ và võ khí phế thải rồi bán lại cho những doanh nhân trong ngành luyện cán sắt hay bán lại cho Nhật Bản. Người Sài Gòn thường nói: “Trần Thành, Lý Long Thân chỉ có Tiếng nhưng Lâm Huê Hồ lại có Miếng”.
Xì thẩu Vương Đạo Nghĩa, chủ hãng kem Hynos, là một người có óc làm ăn cấp tiến. Ông là người có rất nhiều sáng kiến để quảng cáo sản phẩm trên các cửa hàng ăn uống, chợ búa, hệ thống truyền thanh và truyền hình. Ông cũng là người đầu tiên biết vận dụng phim võ hiệp và tình báo kiểu Hồng Kông vào quảng cáo. Người dân miền Nam không thể quên hình ảnh tài tử Vương Vũ giải thoát các xe hàng do đoàn bảo tiêu hộ tống thoát khỏi quân cướp: mở thùng ra chỉ toàn kem đánh răng Hynos! Có rất nhiều xì thẩu được Sài Gòn xưa phong tặng danh hiệu Vua. Trương Vĩ Nhiên, “vua ciné”, là chủ hãng phim Viễn Đông và gần 20 rạp ciné tại Sài Gòn – Chợ Lớn: Eden, Đại Nam, Opéra, Oscar, Lệ Thanh, Hoàng Cung, Đại Quang, Palace, Thủ Đô…; Lý Hoa, “vua xăng dầu”, là đại diện độc quyền các hãng Esso, Caltex, Shell phân phối nhiên liệu cho thị trường nội địa; Đào Mậu, “vua ngân hàng”, Tổng giám đốc Trung Hoa Ngân Hàng (một trong hai ngân hàng châu Á lớn nhất tại Sài Gòn cùng với Thượng Hải Ngân Hàng).

Ảnh của Kimtrong Lam.
Ảnh của Kimtrong Lam.

TRUYỀN GIÁO BẰNG CÁCH SỐNG

TRUYỀN GIÁO BẰNG CÁCH SỐNG

  LM Jos Tạ Duy Tuyền

Cách chung con người ngày hôm nay thường nóng vội, hấp tấp, làm đại.  Nghịch lý ở chỗ thích hoành tránh nhưng lại đòi phải nhanh, phải gọn.  Họ chỉ thích làm những chuyện lớn mà bỏ qua chuyện nhỏ.  Họ luôn xem việc nhỏ là tầm thường mà quên rằng việc lớn là do tích tiểu thành đại.  Không kiên nhẫn trong việc nhỏ thế nên, họ cũng bỏ lỡ cơ hội làm những chuyện lớn lao.

Điển hình là xã hội hôm nay không có những công trình thế kỷ mà chỉ có những kiến thiết hợp thời, model nhưng mau qua.  Về sự học dường như học sinh không thể ngồi yên để thuộc một câu thơ hay một bài lịch sử mà chỉ học trên net, trên Iphone…

Người ta kể rằng: Thời Đông hán có một thiếu niên tên Trần Phiên.  Hắn cho mình bất phàm nên chỉ làm chuyện lớn mà thôi.  Một hôm người bạn tới thăm thấy nhà hắn bẩn thỉu liền nói:  Nho tử sao không quét nhà để tiếp đón khách?

Trần Phiên trả lời: Đại trượng phu xử thế.  Nên quét thiên hạ sao lo một nhà?

Người bạn đáp lại: Một nhà không quét, sao có thể quét thiên hạ.

Trần Phiên ngộ ra không nói được lời nào.

Xem ra muốn xây dựng giang sơn thì phải xây dựng từ gia đình mình.  Muốn làm những điều cống hiến cho đời thì phải rèn luyện mình thành người tốt.  Phải khởi đi từ việc nhỏ mới mong làm chuyện đại sự to tát hơn.  Muốn canh tân xã hội phải có một kế sách lâu dài và phải khởi đi từ những việc nhỏ nhất mới mong thành đại sự.

Phải chăng Giáo hội hôm nay cũng bị cuốn vào trào lưu thích hoành tráng, rầm rộ?  Thích phô trương đánh trống hơn là sống đạo mến yêu?   Các lễ nghi, lễ hội thật nhiều nhưng điều đó không quan trọng bằng việc ra đi đến với người nghèo, người già yếu, bệnh tật…?

Giáo hội luôn nói mình có sứ mạng truyền giáo và mời gọi các tín hữu tham gia vào công cuộc truyền giáo, nhưng xem ra chẳng có kết quả, bởi vì ai cũng muốn làm việc lớn nhưng những việc bình thường là canh tân đời sống bản thân, là sống công bình bác ái, là phục vụ yêu thương khởi đi từ gia đình lại bị xem thường.

Thực vậy, làm sao có thể truyền giáo khi chưa tề gia để mang lại cho gia đạo êm ấm thuận hòa?

Làm sao có thể truyền giáo khi bản thân còn nhiều tính hư nết xấu, đôi khi còn trở thành gương mù gương xấu cho tha nhân?

Truyền giáo không phải là một lễ hội để đánh trống khua chiêng.  Truyền giáo là đem đạo vào đời qua muôn nẻo đường trần thế.  Thế nên, truyền giáo đòi hỏi từng người phải biết sống trở thành nhân chứng cho Chúa, phải mang tin mừng thẩm thấu vào trong trái tim và trao tặng cho anh em, cho bạn bè.  Truyền giáo phải như chút muối làm cho thế gian nồng thắm tin mừng.  Truyền giáo phải như chút men làm cho Tin mừng hòa vào thế gian.

Trong bài hát “Một chút” thôi của Đức Cha Giuse Vũ Duy Thống dường như cũng nói những điều thật đơn giản ấy.

Một chút những viên đá nhỏ hợƿ thành ngọn núi lớn

Một chút những bước chân đi xɑ về muôn lối

Một chút những ƿhút ủi ɑn dịu xoɑ ngàn nỗi sầu

Ϲhỉ một chút ƙhởi đầu tương lɑi sẽ đẹƿ màu

ĐK – Một chút trong đời chỉ một chút chút xíu thôi

Ɲhiều chút chút bé nhỏ mà làm cho đời thêm mới

Một chút trong đời trở thành một chút thật tuуệt vời.

Ϲhắt chiu từng chút ấу cho đời nàу thêm sáng tươi.

Hôm nay ngày khánh nhật truyền giáo, ước gì chúng ta hãy từng chút một chắt chiu những việc làm tốt để sáng danh Chúa, có như vậy chúng ta mới gom thành một làn sóng yêu thương mang tin mừng lan tỏa khắp nơi.  Xin Chúa giúp chúng ta biết truyền giáo khởi đi từ việc nhỏ nhất trong đời thường bằng việc nêu gương sáng cho tha nhân trong bổn phận và trong việc bác ái dấn thân xây dựng thế giới ngày một tốt đẹp hơn.

LM Jos Tạ Duy Tuyền

Giới nhà giàu đang tháo chạy khỏi Trung Quốc như thế nào?

Giới nhà giàu đang tháo chạy khỏi Trung Quốc như thế nào?

Làn sóng di dân này cũng giống như lời tuyên bố của người Trung Quốc: “Chúng tôi muốn tất cả các bạn biết rằng chúng tôi đã đánh dấu tên mình cho hầu như mọi thứ trên thế giới”.

Giới nhà giàu đang tháo chạy khỏi Trung Quốc như thế nào?
ảnh minh họa

Trong năm qua, thống kê cho thấy số triệu phú Trung Quốc đã đạt mức tối đa trong tổng Visa loại EB-5 được cấp theo diện Chương trình Đầu tư Nhập Cảnh của Hoa Kỳ.

Và theo những thống kê gần đây cho thấy 90% visa tạm trú của Úc được cấp cho công dân Trung Quốc. (Significant Investor: Visa tạm trú 4 năm cho những người sẵn sàng đầu tư 5 triệu AUD vào Úc). Trên toàn thế giới, chương trình nhập cảnh đầu tư của các quốc gia phương Tây đang bị quá tải do lượng người Trung Quốc mong muốn nhập cư quá đông.

Từ năm 1990, Trung Quốc đã từ nước có số dân xuất cảnh nhiều thứ 7 trên thế giới trở thành nước nhiều thứ 4, với số dân xuất cảnh tăng hơn 125%. Rất đông người Trung Quốc đang xuất cảnh sang các nước khác, đặc biệt là người giàu.

Ngày càng nhiều đại gia Trung Quốc muốn di dân

Phần trăm người giàu đã xuất cảnh

Số người siêu giàu Trung Quốc (trung bình tài sản 16 triệu USD) nhập cảnh vào Mỹ chiếm 33% tổng số người siêu giàu ở Trung Quốc. Số triệu phú muốn di dân hoặc đang lên kế hoạch di dân trong vòng 5 năm tới chiếm 64%.

Một khảo sát gần đây từ Barclays cho thấy có hơn 47% đại gia Trung Quốc muốn di dân. Trong khi tỷ lệ bình quân theo khảo sát chiếm 29% trên toàn thế giới.

Cùng với việc càng nhiều công dân Trung Quốc trở nên giàu có, số lượng người muốn xuất cảnh cũng gia tăng. Vậy những quốc gia nào mà đại gia Trung Quốc muốn đến?

Bắc Mỹ, nơi giới thượng lưu Trung Quốc hướng đến

Theo báo cáo của Hurun – Sách trắng Về Đầu Tư Nhập Cảnh 2014 (2014 Immigrant Investor White Paper), Hoa Kỳ và Canada là những lựa chọn đầu tiên của những giới thượng lưu Trung Quốc đang lên kế hoạch xuất cảnh.

Thống kê những quốc gia hàng đầu mà người giàu Trung Quốc chọn khi di dân.

Bởi vì phần đông đại gia Trung Quốc tích lũy của cải tại chính quốc gia của mình, cho nên, từ quan điểm của một doanh nhân, sẽ tiện hơn cho họ khi sống gần Trung Quốc. Vậy để nhận được visa nhập cảnh từ một quốc gia khác thì phải đáp ứng những yêu cầu gì?

Những yêu cầu cần thiết để nhận Visa di dân theo hình thức Nhà đầu tư

Những loại di dân bao gồm nhập cảnh theo diện đầu tư, diện tay nghề, diện du học, và diện nhập cảnh phi pháp (không giấy tờ). Đa phần người Trung Quốc giàu có đều nhập cảnh thông qua việc đầu tư.

Yêu cầu Đầu tư là điều kiện tối thiểu để di dân.

Yêu cầu cấp quốc tịch cho nhà đầu tư của một số quốc gia

Hoa Kỳ: Visa Đầu tư nhập cảnh EB-5

Vốn đầu tư tối thiểu 500.000 USD vào các doanh nghiệp Hoa Kỳ. Trực tiếp hoặc gián tiếp tạo việc làm cho 10 người và thời gian đầu tư ít nhất 5 năm. Sau khi nhận quyền cư trú hợp pháp, phải tiếp tục định cư tại Hoa Kỳ trong 5 năm.

Canada: Chương trình Nhập cư dành cho Nhà đầu tư – IIP (hủy bỏ năm 2014)

Sở hữu tài sản cá nhân tối thiểu 1,6 triệu CAD và đang là nhân viên quản lý cấp cao hoặc chủ doanh nghiệp trong ít nhất 2 năm, tính trong mốc thời gian 5 năm gần đây. Hoặc phải đầu tư 800.000 CAD vào một ngân hàng theo chỉ thị của Chính phủ Canada và sẽ được hoàn trả đầy đủ sau 5 năm, không lãi suất.

Australia: Visa đầu tư và Đổi mới kinh doanh (tạm thời)

Phải đầu tư 5 triệu AUD vào trái phiếu chính phủ hoặc trái phiếu liên bang; đầu tư vào các Quỹ đầu tư được Ban Kiểm soát đầu tư nước ngoài của Úc quản lý, bao gồm đầu tư vào cơ sở hạ tầng cơ bản, bất động sản… Dân nhập cảnh bằng Visa tạm trú có thể nộp đơn xin làm công dân chính thức sau khi sinh sống tại Úc được 2 năm trong vòng 5 năm gần nhất.

Vương Quốc Anh: Visa bậc 1 (Nhà đầu tư)

Đầu tư 2 triệu bảng Anh vào trái phiếu Kho bạc theo chỉ định và được hoàn trả 100 bảng Anh lãi suất sau 5 năm. Có thể trở thành dân tạm trú sau 5 năm và nộp đơn xin làm công dân chính thức sau 6 năm. Người nộp đơn phải sinh sống tại Anh 9 tháng trong thời gian 1 năm gần nhất trước khi được xét cấp quyền công dân.

New Zealand: Visa doanh nhân

Phải đầu tư 1,5 tỷ NZD vào những quỹ được chỉ định trong khoảng thời gian 4 năm. Phải sinh sống tại New Zealand 4 năm trong 5 năm gần nhất và phải vượt qua bài kiểm tra quyền công dân.

Singapore: Chương trình Nhà đầu tư toàn cầu – GIP

Đầu tư tối thiểu 2,5 triệu SGD vào một chủ thể kinh doanh mới hoặc mở rộng chiến dịch kinh doanh đã có sẵn hoặc đầu tư vào một quỹ GIP thuộc Nhà nước Singapore dùng để đầu tư vào những công ty ở Singapore. Công dân tạm trú trên 21 tuổi đã sống ít nhất 2 năm trong 6 năm gần nhất tại Singapore có thể nộp đơn cấp quyền công dân chính thức của Singapore.

Hàn Quốc: Visa đầu tư Công ty (D-8)

Đầu tư hơn 500 triệu won vào bất động sản. Sau 5 năm, nếu những người này không bị loại hồ sơ xét duyệt nhập cảnh vì nhiều lý do khác nhau, họ và vợ/ chồng cùng con cái sẽ được cấp quyền công dân tạm thời.

Đối với những đại gia Trung Quốc, những người có thể dễ dàng thu được hàng chục triệu USD, thì ngưỡng đầu tư được nhập cảnh không hề cao. Và đó là chưa kể ngưỡng đầu vào của nhiều quốc gia, bao gồm cả Hoa Kỳ, đã giảm một cách đáng kể.

Trước tình cảnh vươn lên của giới thượng lưu Trung Quốc, những chương trình đầu tư nhập cảnh thuộc nhiều quốc gia có ngưỡng thấp đang thu hút ngày càng nhiều đại gia Trung Quốc tham gia vào cơn sốt nhập cư này. Theo số liệu thống kê của chính phủ được CNN biên soạn:

Tổng số dân Trung Quốc được nhận Visa đầu tư nhập cảnh của Mỹ từ năm 2004 đến năm 2014 (Mỹ chỉ cấp 10.000 visa mỗi năm cho diện di dân đầu tư cấp theo diện EB-5)

Trong năm 2014 số lượng đơn xin nhập cảnh cho các chương trình đầu tư nhập cảnh Hoa Kỳ đạt mức cao nhất mọi thời đại, với 85% số người nộp đơn là công dân Trung Quốc. Đây là lần đầu tiên các hạn ngạch hàng năm đạt mức tối đa, do đó chính phủ Mỹ tạm ngừng xem xét những hồ sơ nhập cảnh.

Một trường hợp tương tự đã phát sinh tại Canada. Trong vòng vài năm qua, số lượng người Trung Quốc xin nhập cảnh đã bùng bổ, vào tháng Hai năm 2014, chính phủ Canada đã tuyên bố tạm dừng Chương trình Đầu tư Nhập Cảnh (IIP) này kể từ năm 1986, thời điểm chương trình được triển khai.

Trước khi loại bỏ Chương trình IIP, Canada công cố đang có 65.000 hồ sơ đợi duyệt, trong đó có 70% là hồ sơ của người Trung Quốc.

Di dân bằng việc đầu tư đang làm cạn kiệt của cải Trung Quốc

Tài sản thu về: Tính tới năm 2012, công dân đã di dân gửi về Trung Quốc 66 tỷ USD, tương đương 4.000 tỷ Nhân dân tệ (RMB). Tài sản thất thoát: Năm 2011, những người Trung Quốc có tài sản có thể đầu tư hơn 6 triệu RMB lên đến 33.000 tỷ RMB, trong đó 2.800 tỷ RMB đã chuyển ra nước ngoài.

Số tiền mà người giàu đầu tư ra hải ngoại vượt xa số của cải họ mang về cho Trung Quốc. Vậy chính xác họ đang đầu tư vào điều gì?

Những nhà đầu tư Trung Quốc đang điên đảo vì bất động sản nước ngoài.

Bên cạnh việc được cấp Visa thông qua hình thức mua trái phiếu, nhiều người giới thượng lưu Trung Quốc đang đặc biệt “say mê” đầu tư vào bất động sản, và đang điên cuồng mua đất ở nước ngoài. Dân Trung Quốc trở thành người mua chính trong lĩnh vực bất động sản nước ngoài .

Khoảng giữa tháng Tư năm 2013 và tháng Ba năm 2014, người Trung Quốc đã chi hơn 221 tỷ USD cho bất động sản Hoa Kỳ, chiếm 24% tổng số giao dịch bất động sản nhà đất của quốc gia này.

Theo “Báo cáo thường niên 2014 về tình trạng Di cư Quốc tế của Trung Quốc”, công dân nước này là những nhà đầu tư nước ngoài đổ vốn lớn vào bất động sản của thành phố Vancouver, Brisbane, và London.

Việc mua nhà đất được người Trung Quốc thực hiện lên đến 20-40% trong tổng số giá trị giao dịch của bất động sản địa phương. Nhưng giao dịch này như lời tuyên bố: “Chúng tôi muốn tất cả các bạn biết rằng chúng tôi đã đánh dấu tên mình cho hầu như mọi thứ trên thế giới”.

CÁI GIÁ CỦA SỰ TRUNG THỰC

                                            CÁI GIÁ CỦA SỰ TRUNG THỰC          TRUNG THUC

 

 

 

 

 

 

 

 

Đây là câu chuyện xảy ra vào buổi trưa tháng 8/2010 tại thành phố New York, Hoa Kỳ. Harris và một đồng nghiệp trong công ty quảng cáo cùng đi ăn trưa tại nhà hàng. Cả hai đã gặp một người ăn xin khiến họ không thể nào quên…

Khi hai người đang đứng bên cạnh đường thì một người ăn xin tiến về phía của Harris. Người ăn xin ấp úng nói: “Tên tôi là Valentine, tôi đã thất nghiệp 3 năm rồi, và chỉ dựa vào ăn xin sống qua ngày. Tôi nói ra hoàn cảnh thật của mình mong cô có nguyện ý giúp đỡ. Cô có thể cho tôi một ít tiền lẻ để mua chút đồ ăn và nước uống không?”

Sau khi nói xong, Valentine đưa ánh mắt nhìn Harris như đang đợi câu trả lời.

Nhìn Valentine, Harris đã động lòng trắc ẩn. Cô mỉm cười nói với Valentine: “Không vấn đề gì, tôi hoàn toàn nguyện ý giúp cậu”. Nói rồi Harris đưa tay vào túi để lấy tiền cho Valentine, nhưng tiếc là cô không còn chút tiền mặt nào, mà chỉ có một thẻ tín dụng. Cô thấy băn khoăn, cầm thẻ tín dụng mà không biết phải làm sao.

Nhìn thấy Harris đang tỏ vẻ ái ngại, Valentine nhỏ giọng nói: “Nếu như quý cô tin tưởng, có thể đưa thẻ tín dụng cho tôi mượn.” Harris vốn có tấm lòng lương thiện nên cô không một chút nghi ngờ đã đưa thẻ cho Valentine.

Cầm thẻ tín dụng xong, Valentine chưa vội rời đi mà còn nói với Harris: “Ngoài việc mua đồ ăn, tôi còn có thể mua thêm ít nước không?”

Harris không suy nghĩ gì thêm, cô nói: “Hoàn toàn có thể, nếu như cậu còn cần mua thứ gì thì cứ mua đi nhé!”

Valentine cầm thẻ tín dụng rồi rời đi. Harris và bạn cùng nhau bước vào nhà hàng. Ngồi xuống không lâu, cô bắt đầu thấy hối hận. Harris có vẻ buồn buồn rồi nói chuyện với bạn: “Thẻ tín dụng của mình không có mật mã, trong thẻ có tới 100.000 USD, cậu kia chắc sẽ cầm mà bỏ trốn, phần lớn là không trả lại cho mình rồi.”

Người bạn lại nói thêm vào: “Bạn quá dễ tin tưởng người xa lạ. Bạn thật quá lương thiện lại ngây thơ nữa!”

Harris giờ nghĩ lại, cô không còn tâm trạng để ăn cơm nữa. Đợi bạn ăn xong rồi hai người rời khỏi nhà hàng.

Điều ngạc nhiên mà họ không ngờ tới là Valentine đã đợi ở bên ngoài từ lâu. Anh dùng hai tay đưa thẻ tín dụng và chi phiếu thanh toán cho Harris. Rồi anh nói: “Tôi đã tiêu hết 25 USD để mua một ít đồ dùng rửa mặt, hai bình nước. Quý cô có thể kiểm tra đối chiếu ngay bây giờ.”

Nhìn người ăn xin biết giữ chữ tín, Harris cùng với bạn của mình đã vô cùng kinh ngạc và cảm động. Cô không thể làm chủ được mà nắm tay Valentine rồi liên tục nói: “Cảm ơn cậu, cảm ơn cậu!”

Valentine làm bộ mặt khó hiểu về tình huống này: “Cô giúp tôi, tôi phải cảm ơn cô mới đúng chứ. Tại sao cô lại phải cảm ơn tôi?”

Sau đó Harris đã đem câu chuyện này kể cho một tòa soạn báo ở New York. Sự thành thật của Valentine khiến tòa soạn cảm động, giúp tờ báo hướng con người đến với chuẩn mực đạo đức cao hơn. Bài viết do đó cũng được nhiều người đón nhận. Nhiều độc giả đã gửi thư đến tòa soạn nguyện ý giúp đỡ Valentine.

Một thương nhân ở bang Texas sau khi xem báo, ông đã gửi cho Valentine hơn 6000 USD kèm theo lời khen tặng về sự thành thật.

Điều làm cho Valentine vui mừng hơn nữa đó là chỉ vài ngày sau anh đã nhận được cuộc điện thoại từ hãng hàng không Wisconsin Airlines. Hãng mời anh về làm nhân viên phục vụ, đồng thời thông báo rằng anh có thể ký hợp đồng đi làm ngay.

Trong một khoảng thời gian ngắn Valentine đã nhận được niềm vui quá lớn.

Anh chia sẻ: “Từ nhỏ mẹ của tôi đã dạy rằng: làm người nhất định phải thành thật và giữ chữ tín, dù cho có nghèo hèn phải lưu lạc đầu đường cũng không được vứt bỏ chữ tín…”

Valentine giờ đã hiểu: làm một người thành thật nhất định sẽ nhận được phúc báo!

– SƯU TẦM –

Bộ Ngoại Giao Mỹ: Việt Nam vẫn chưa có tự do tôn giáo

Bộ Ngoại Giao Mỹ: Việt Nam vẫn chưa có tự do tôn giáo
Nguoi-viet.com

WASHINGTON (NV) Ðó là nhận định tổng quát của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ trong báo cáo thường niên về tự do tôn giáo trên thế giới.

Theo báo cáo này, chế độ Hà Nội vẫn hạn chế hoạt động của các nhóm tôn giáo không đăng ký, đặc biệt là những nhóm tôn giáo mà chính quyền Việt Nam cho là có liên quan đến chính trị.


Ông Kpuih Bơp bị bí thư xã Ayun, huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai đánh trọng thương vì “lợi dụng tôn giáo gây ảnh hưởng chính trị.” Hành vi bị cáo buộc “lợi dụng tôn giáo gây ảnh hưởng chính trị” là phát mền cho trẻ mồ côi. (Hình: website chuacuuthe.com)

Ngay sau đó, ông Lê Hải Bình, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam, lập tức lên tiếng phản bác rằng, báo cáo vừa kể là “không khách quan” vì trích dẫn những thông tin sai lạc về Việt Nam. Nhân vật này cho rằng, chính quyền Việt Nam đã và đang thực thi nhiều chính sách, cũng như biện pháp cụ thể để bảo đảm rằng dân chúng có thể thụ hưởng đầy đủ các quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng.

Trong thực tế, chẳng riêng Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ có nhận định như vừa kể. Hồi tháng 5 vừa qua, Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam từng đề nghị chính quyền Việt Nam viết lại dự luật về tín ngưỡng, tôn giáo, sau khi chính quyền Việt Nam đề nghị lãnh đạo và tín đồ các tôn giáo tại Việt Nam “góp ý” cho dự luật này.

Cần lưu ý rằng, chính quyền Việt Nam chỉ dành hai tuần cho lãnh đạo và tín đồ các tôn giáo tại Việt Nam “góp ý” về dự luật tín ngưỡng, tôn giáo.

Trước đó, trong nhiều cuộc đối thoại với Liên Hiệp Quốc, đại diện chính quyền nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế về nhân quyền tại Việt Nam, các viên chức đại diện chính quyền Việt Nam nhiều lần nhấn mạnh, việc soạn thảo dự luật tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những bằng chứng rõ ràng nhất cho thấy Việt Nam đang cố gắng cải thiện tình trạng nhân quyền và càng ngày càng tôn trọng tự do tôn giáo.

Tuy nhiên thư góp ý của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam, gửi chủ tịch Quốc Hội Việt Nam và trưởng Ban Tôn Giáo Chính Phủ cho thấy, nội dung dự luật tín ngưỡng, tôn giáo mà chính quyền Việt Nam từng “quảng cáo” là một… nỗ lực đáng ngại.

Theo Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam, dự luật tín ngưỡng, tôn giáo đã “đi ngược lại với quyền tự do về tín ngưỡng và tôn giáo, gây lo ngại nhiều hơn là đem lại sự bình an cho mọi người.”

Trong phần nhận định chung về dự luật này, Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam nhận định, dự luật bao gồm “những điều luật chỉ nhằm mang lại quyền lợi cho giới cầm quyền mà quên đi quyền lợi của người dân.” Thiếu sót quan trọng nhất của dự luật là không công nhận tổ chức tôn giáo là một “pháp nhân,” điều đó đồng nghĩa với việc không xác nhận tổ chức tôn giáo có quyền “tồn tại hợp pháp trước pháp luật Việt Nam.”

Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam phân tích 14 điểm bất hợp lý, không khả thi, mâu thuẫn với cả Hiến chương Liên Hiệp Quốc lẫn Hiến Pháp của Việt Nam thể hiện ở nhiều chương, nhiều điều trong dự luật.

Do dự luật tín ngưỡng, tôn giáo trái ngược với cả Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền lẫn Hiến pháp mới của Việt Nam, thậm chí còn có sự thụt lùi so với Pháp Lệnh Tín Ngưỡng, Tôn Giáo năm 2004 bởi “tạo ra quá nhiều thủ tục rườm rà, nhiều cơ chế khắt khe, ràng buộc, khiến các sinh hoạt tôn giáo bị cản trở,” Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam khẳng định rằng, Công Giáo Việt Nam “không đồng ý với dự luật tín ngưỡng, tôn giáo.” Ðồng thời đề nghị “soạn lại một dự luật khác phù hợp với xu thế tự do, dân chủ và mang tầm vóc của xã hội tiến bộ.”

Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam khuyến cáo, dự luật được viết lại cần phải được tham khảo ý kiến của các tổ chức tôn giáo và đặc biệt là chính quyền Việt Nam phải “công nhận tư cách pháp nhân của các tổ chức tôn giáo” để những pháp nhân này được bảo vệ bằng luật pháp.

Hôm 14 tháng 10, khi báo cáo về tự do tôn giáo thường niên được công bố, ông David Saperstein, đại sứ đặc trách về tự do tôn giáo của Hoa Kỳ, nhấn mạnh, trong những lần đến Việt Nam, ông tận mắt chứng kiến các nhóm tôn giáo bị buộc phải thực hiện nhiều thủ tục nhiêu khê và tùy tiện để được hoạt động hợp pháp. (G.Ð)

 

Ðức Mẹ làm Gương việc Cầu Nguyện!

Ðc M làm Gương vic Cu Nguyn!

 Ðời Ðức Mẹ là đời cầu nguyện liên lỉ. Lúc thức lúc ngủ, khi vui khi buồn, không lúc nào Ðức Mẹ thôi hướng lòng trí về Thiên Chúa.

CAU NGUYEN

Hồi lên 3 tuổi, Người dâng mình trong đền thờ cho dễ đọc kinh cầu nguyện đêm ngày. Khi Sứ thần truyền tin cũng là lúc Ðức Mẹ đang cầu nguyện. Lúc Chúa Giêsu sống lại đến yên ủi Ðức Mẹ thì cũng là lúc Người đang cầu nguyện. Lại khi Chúa …

Thánh Thần hiện xuống thì Ðức Mẹ cũng đang cùng các tông đồ cầu nguyện nữa.

Thánh Augustinô nói: “Cầu nguyện là chìa khóa mở cửa thiên đàng”. Thánh Anphongso Ligoriô lại quả quyết: “Ai cầu nguyện, sẽ được rỗi linh hồn, ai không cầu nguyện, thì dễ mất linh hồn.” Bà thánh Têrêsa mẹ nói: “Ai không cầu nguyện thì tự mình đi xuống hỏa ngục, không cần ma quỉ nào đẩy nó vào”. Vậy, ta muốn cứu linh hồn mình thì phải noi gương Ðức Mẹ mà cầu nguyện. Cầu nguyện liên, cầu nguyện sốt sắng và theo ý ngay lành.

Buổi sáng ta hãy cầu nguyện, vì lời nguyện lúc này như là của nuôi linh hồn mạnh sức chiến đấu cùng ma quỉ và lập công. Buổi tối, trước khi ngủ ta hãy ép mình đọc kinh để cảm tạ Chúa đã ban ơn giúp sức ta làm việc cả ngày và cũng để xin Người gìn giữ hồn xác ta ban đêm nữa.

Lại mỗi khi gặp khốn khó như: Lúc đau yếu, khi bị ma quỉ cám dỗ khuấy khất, ta hãy đem lòng lên cùng Chúa và Ðức Mẹ. Cầu xin Người thêm sức cho ta được dùng mọi dịp để lập công.

Ôi! Biết bao người giáo hữu ngày đêm bê tha tội lỗi, mê tham của cải, công việc thế tục, lòng trí ra khô khan nguội lạnh không mấy khi nhớ đến Chúa. Ta hãy xét xem đã bao lần ta quên lãng việc đọc kinh cầu nguyện?. Ta hãy thực tình ăn năn và xin Chúa thứ tha.

Lạy Ðức Mẹ, xin Ðức Mẹ giúp chúng con noi gương Mẹ mà siêng năng đọc kinh lần hạt, để đời chúng con được tươi đẹp hơn mà sau này những kinh ấy sẽ kết thành triều thiên cho chúng con trên thiên đàng.

Thánh Tích
Hãy luôn chạy đến cùng Đức Mẹ

Hãy luôn chạy đến cùng Đức Mẹ, đó là câu tóm kết tất cả khoa thần học của Thánh Anphongsô, vị tiến sĩ Hội thánh, đó là trung tâm học thuyết tu đức của thánh nhân vậy.
Khi người đến tuổi già, không còn đủ trí nhớ để nhớ mình đã lần hạt Mân côi chưa, người vẫn hỏi thầy dòng coi bệnh:

– Hôm nay tôi đã lần hạt chưa thầy?

Một hôm thầy ấy nói với người:
– Thưa cha, bao nhiêu tràng hạt cha đã đọc dư ra hôm nay, con xin cha nhường tất cả cho con.

Đấng thánh liền tỏ vẻ mặt nghiêm trang và nói:
– Thầy đừng đùa, thầy không biết rằng phần rỗi đời đời của tôi là nhờ ở tràng hạt Mân côi ư?”

Đó là sự thật tỏ rõ như ban ngày: “Nếu ta luôn luôn chạy đến cùng Đức Mẹ, chắc chắn thế nào ta cũng rỗi linh hồn và nên thánh”.

KinhChaoMe DayOnPhuc

Bài thơ “Tuổi Trẻ” và Tướng Quân Mc Arthur.

Bài  thơ “Tuổi  Trẻ”  và Tướng  Quân Mc Arthur.

Đòan Thanh Liêm  

Vào dịp cuối năm 1956, lúc tôi còn theo học tại trường luật Saigon, thì anh bạn cùng quê là Vũ Năng Phương có gửi cho tôi một tấm thiệp Noel trong đó có ghi tòan văn bản dịch của bài thơ “Tuổi Trẻ” (Youth) của Samuel Ullman. Lời lẽ thật là sâu sắc, đày tinh thần lạc quan và rất ngắn gọn. Bài thơ đã có ảnh hưởng lớn lao đối với tôi từ trên 50 năm nay. Nhưng mãi đến gần đây, nhờ tìm kiếm trên internet, tôi mới có được nguyên tác bản văn bằng tiếng Anh mà tác giả Samuel Ullman viết vào năm 1918 lúc ông đã 78 tuổi. Tòan văn theo nguyên tác và bản dịch sẽ được ghi nơi Phần Phụ Lục kèm theo bài viết này.

Xin trích một vài đọan tiêu biểu như sau : “Không một ai lại già cỗi đi vì những năm tháng trôi qua. Chúng ta già nua bởi vì ruồng bỏ lý tưởng của mình”.” “ Năm tháng có thể làm nhăn nhúm làn da, nhưng sự từ bỏ tinh thần hăng say phấn khởi, thì mới làm tâm hồn chúng ta thêm héo hắt.  

Nhưng điều quan trọng hơn cả là thông qua Tướng Douglas Mc Arthur, mà cả nước Nhật đã lấy lại được cái hào khí sinh động khiến giúp cho việc tái thiết và phục hồi quốc gia sau cuộc bại trận được mau lẹ tốt đẹp ít ai có thể ngờ được. Chi tiết câu chuyện này như sau : Tướng Mc Arthur rất tâm đắc với bài thơ “Youth” này, nên ông đã cho trưng bày bản văn ngay tại văn phòng của ông tại Tokyo, lúc ông làm Tư lệnh Lực lượng Đồng Minh đặc trách công việc giải giới và phục hồi nước Nhật sau chiến tranh. Rồi vào năm 1946, tờ tạp chí Reader’s Digest ấn bản tiếng Nhật đã phổ biến tòan văn bản dịch ra Nhật ngữ của bài thơ bất hủ này.

Nhiều thành phần công chúng tại Nhật đã hân hoan đón nhận cái tín hiệu đày lạc quan, tích cực và năng động được gói ghém trong “bài thơ không vần này”. Và từ đó mà họ đã hăng say dấn thân vào công cuộc tái thiết quốc gia, khiến cho chỉ sau vài chục năm từ vị trí của một nước thảm bại vì thua trận, và bị tàn phá nặng nề, nước Nhật đã lấy lại vị thế của một cường quốc về mặt kinh tế, chính trị cũng như văn hóa như ta thấy ngày nay. Nhiều người Nhật đã tìm hiểu cặn kẽ hơn về tác giả bài thơ “Youth” này, bằng cách đến tại thành phố Birmingham thuộc tiểu bang Alabama, miền Nam nước Mỹ và thúc đảy cả dân chúng Mỹ tại địa phương để cùng hợp tác thiết lập Viện Bảo Tàng Samuel Ullman (Museum), bằng cách gây quỹ để mua lại căn nhà xưa của tác giả và biến nhà đó thành cơ sở của Viện Bảo Tàng do Đại học Alabama tại Birmingham quản lý (UAB = University of Alabama Birmingham).
Kết cục là chính người Nhật lại đã thán phục cái tinh thần lạc quan năng động của Samuel Ullman như được ký thác trong bài thơ bất hủ này, và họ đã gây ra được cả một phong trào quần chúng tự phát đi tìm hiểu về thân thế sự nghiệp của tác giả, hơn cả chính người Mỹ ở Alabama bởi cái tâm lý “Bụt nhà không thiêng”, nên đã ít chú ý đến con người xuất chúng như thế từ chính quê hương bản quán của mình.

Tiểu sử của tác giả Samuel Ullman (1840 – 1924) có thể ghi vắn tắt như sau : Ông sinh tại nước Đức năm 1840, khi lên 10 tuổi thì theo gia đình qua lập nghiệp tại miền Nam nước Mỹ. Ông gia nhập quân đội Miền Nam (Confederate Army) trong cuộc nội chiến 1860-65. Sau khi miền Nam thất trận, thì giải ngũ về lo chuyện kinh doanh nhỏ. Sau này ông làm việc trong ngành quản lý giáo dục và hết sức hỗ trợ cho các trẻ em da màu (người Mỹ gốc Phi châu) có cơ hội được đi học. Ông cũng dành nhiều sự dễ dãi cho giới phụ nữ được tham gia các sinh họat văn hóa xã hội trong cộng đồng người Do Thái tại miền Nam. Lập trường cấp tiến như vậy đã gây cho ông nhiều sự phiền phức, vì vào thời đó tại miền Nam nước Mỹ nạn kỳ thị chủng tộc vẫn còn rất ngặt nghèo, tàn bạo. Một con người với đầu óc tiến bộ như vậy, nên vào tuổi 78 ông đã sáng tác được bài thơ mà Tướng Mc Arthur (1880 – 1964) đã đưa sang phổ biến tại Nhật bản sau thế chiến 2, khiến gây được một chấn động mạnh mẽ trong tâm lý người Nhật, cũng như trong giới quân nhân Mỹ phục vụ tại Nhật hồi sau chiến tranh.

Quả thật, sức mạnh của tư tưởng nhân bản tích cực và lạc quan phát xuất từ bài thơ này đã tạo ra được sự hưởng ứng mãnh liệt của quần chúng khắp nơi, đặc biệt là tại nước Nhật, ngay cả gần 100 năm sau khi tác giả đã qua đời. Người viết xin trân trọng giới thiệu với các bạn đọc Việt nam câu chuyện về bài thơ “Youth” thời danh này.

Nhân tiện cũng xin ghi lời biết ơn và tưởng nhớ sâu sắc đến với anh bạn Vũ Năng Phương, tức nhà biên khảo Vũ Lục Thủy là người đầu tiên đã cho tôi được biết đến bài thơ này như đã ghi ở đầu bài viết này. Anh đã sớm từ giã cõi đời năm 2001 tại San Diego lúc chưa đày tuổi 70./

California, Tháng Năm 2009
Phụ Lục                                                         

Tuổi   trẻ

Nguyên tác : Youth by Samuel Ullman (1918)

(Bản dịch của Đòan Thanh Liêm – 2009)

Tuổi trẻ không phải là khoảnh khắc thời gian của cuộc đời; đó là một trạng thái của tâm trí; đó không phải là chuyện của những cặp má hồng, của làn môi đỏ mọng và của cặp đầu gối mềm dẻo; đó là chuyện của ý chí, phẩm chất của óc tưởng tượng, sức mạnh của cảm xúc; đó là sự tươi mát của nguồn suối nhân sinh.

Tuổi trẻ mang ý nghĩa là sự thắng vượt của lòng can đảm trên sự rụt rè của ham mê, thích phiêu lưu mạo hiểm hơn là ưa chuộng sự dễ dãi. Điều này thường có nơi người trên 60 tuổi, hơn là trong cơ thể của người ở tuổi 20. Không một ai lại già cỗi đi vì những năm tháng trôi qua. Chúng ta già nua bởi vì ruồng bỏ lý tưởng của mình.

Năm tháng có thể làm nhăn nhúm làn da, nhưng sự từ bỏ tinh thần hăng say phấn khởi thì mới làm tâm hồn chúng ta thêm héo hắt. Sự buồn phiền, sợ hãi, sự ngờ vực chính bản thân mình bẻ nát vụn tâm hồn và biến tinh thần trở về lại cát bụi.

Dù ở tuổi 60 hay 16, trong con tim mỗi người đều có sự quyến rũ của sự kỳ diệu, sự đam mê háo hức như con trẻ với cái điều sắp xảy đến, và niềm vui của trò chơi cuộc sống. Trong sâu thẳm của tâm hồn bạn cũng như của tôi, thì đều có một trạm vô tuyến; bao lâu mà cái trạm đó còn tiếp nhận tín hiệu của cái đẹp, niềm hy vọng, sự nô nức, lòng can đảm và năng lượng của con người và của Vô biên, thì lúc đó bạn còn trẻ mãi.

Khi mà giây ăng ten cụp xuống, và tinh thần của bạn bị bao phủ bởi lớp tuyết hòai nghi yếm thế, thì dù bạn mới có 20 tuổi, bạn đã già nua cằn cỗi rồi. Nhưng nếu giây ăng ten đó vẫn mở bật lên để đón bắt những đợt sóng của lạc quan, thì có hy vọng là bạn có thể chết trẻ vào tuổi 80./

Ghi  chú  :  Tác giả Samuel Ullman mất vào năm 1924 lúc ông được 84 tuổi. Rõ rệt là ông vẫn còn tươi trẻ khi lìa đời, đúng như đọan sau cùng của bài thơ bất hủ, mà ông viết vào năm 1918 lúc ” mới có 78 tuổi “./

YOUTH

Samuel Ullman

 Youth is not a time of life; it is a state of mind; it is not a matter of rosy cheeks, red lips and supple knees; it is a matter of the will, a quality of the imagination, a vigor of the emotions; it is the freshness of the deep springs of life.

Youth means a temperamental predominance of courage over timidity of the appetite, for adventure over the love of ease.  This often exists in a man of sixty more than a body of twenty.  Nobody grows old merely by a number of years.  We grow old by deserting our ideals.

Years may wrinkle the skin, but to give up enthusiasm wrinkles the soul.  Worry, fear, self-distrust bows the heart and turns the spirit back to dust.

Whether sixty or sixteen, there is in every human being’s heart the lure of wonder, the unfailing child-like appetite of what’s next, and the joy of the game of living.  In the center of your heart and my heart there is a wireless station; so long as it receives messages of beauty, hope, cheer, courage and power from men and from the Infinite, so long are you young.

When the aerials are down, and your spirit is covered with snows of cynicism and the ice of pessimism, then you are grown old, even at twenty, but as long as your aerials are up, to catch the waves of optimism, there is hope you may die young at eighty.

NỤ HÔN LUẬT SƯ

NỤ HÔN LUẬT SƯ
Tiến sĩ Luật khoa Đào Quang Huy, học trò Giáo sư – Tiến sĩ – Luật sư Nguyễn Mạnh Tường ở trường Bưởi kể lại một về một phiên tòa diễn ra ở làng Xuân Thọ, huyện Đông Quan, tỉnh Thái Bình, vào thời kỳ 1947-1949.
Vụ án như sau:Một thanh niên nông dân đi làm đồng về, thấy anh Đại đội trưởng đóng tại nhà, đang ôm ấp vợ mình. Sẵn cái cuốc trên tay, anh ta phang một cái, Đại đội trưởng chết ngay.
Phiên tòa mở ra với ý định xử thật nghiêm tội giết người và làm mờ nhạt các tình tiết khác để giữ uy tín cho bộ đội. Chủ tọa là Luật sư Lê Văn Chất. Luật sư Nguyễn Mạnh Tường được chỉ định bào chữa. Ông chỉ có ít phút gặp thân chủ của mình.
Diễn biến phiên tòa đúng như chủ định: Anh nông dân chịu án tử hình và được phép nói lời cuối cùng. Anh nhìn Chánh tòa, nhìn Luật sư, ngập ngừng nói: “Xin phép được ôm hôn bà Chánh tòa một lần trước khi chết”. Bị bất ngờ, Chánh tòa không kịp trấn tĩnh, đập bàn quát mắng anh nông dân rằng tội lỗi đến thế mà còn dám hỗn láo, nói liều.
Ls Nguyễn Mạnh Tường nói: “Thưa ông Chánh tòa, ông là người có học thức, suy nghĩ chín chắn, mà trước một câu nói không đâu của người sắp chết, còn nổi giận ghê gớm như thế. Phương chi, anh nông dân nghèo ít học kia, trông thấy người đàn ông khác trong buồng vợ mình thì sự giận dữ đến mức hành động thiếu suy nghĩ là điều có thể hiểu được”.
Kết quả cuối cùng, anh nông dân được giảm án, thực chất là tha bổng vì hồi ấy Thái Bình đâu có trại giam. Luật sư Lê Văn Chất, có người vợ trẻ, đẹp và ông này rất ghen. Biết thóp này Ls Tường chỉ dùng một mẹo nhỏ nhưng bị cáo đã được cứu mạng.
Dân gian gọi vụ án đó là vụ “nụ hôn Nguyễn Mạnh Tường”.
Hôm nay Ngày Luật sư Việt Nam, ôn lại chuyện này để chúc mừng các Luật sư, mong các Luật sư có thêm nhiều “nụ hôn” như thế nữa để bảo vệ công lý, mang lại bình yên cho cuộc sống bộn bề hôm nay.
Nguyễn Văn Đài