
Nhạc & Lời: Phạm Trung
Trình bày: Diệu Hiền
Hòa âm: Minh Châu

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)

Nhạc & Lời: Phạm Trung
Trình bày: Diệu Hiền
Hòa âm: Minh Châu
Câu chuyện Nhân Quyền tại Washington Giữa Mùa Lễ Hội Hoa Anh Đào năm 2013.
Ghi nhận của Đoàn Thanh Liêm
* * *
Sau một tuần lễ ở thành phố Baltimore tiểu bang Maryland, tôi đã trở lại
Washington vào hai ngày 10 và 11 tháng Tư – để tham dự vào công cuộc
vận động Nhân quyền cho Việt nam tại Quốc Hội Mỹ và tại Ủy Ban Tự
Do Tôn Giáo. Cuộc vận động thật quy mô này do tổ chức BPSOS (Boat
People SOS) với nhân vật chủ chốt là Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng phát
động và dự trù kéo dài trong hai năm 2013 – 2014.
Trời nắng đẹp, lại vào đúng lúc Hoa Anh Đào nở rộ, nên trên khắp các
nẻo đường thành phố chỗ nào cũng thấy các đòan khách thập phương tấp
nập lui tới ngắm cảnh, chụp hình – nét mặt người nào cũng vui tươi phấn
khởi. Nhân viên phụ trách cho biết Lễ Hội Mùa Hoa Anh Đào (The
National Cherry Blossom Festival) kéo dài từ giữa tháng Ba đến tháng
Tư có thể thu hút đến con số hàng triệu du khách đến thăm viếng thành
phố Washington lịch sử này.
So với mọi năm, thì vào giữa tháng Ba năm 2013 này trời trở lạnh bất
thường – nên hoa Anh Đào nở muộn. Vì thế mà phần đông các chị em
nữ sinh Trưng Vương từ xa về tham dự Đại Hội Tòan Cầu được tổ chức
trong ba ngày 22, 23 và 24 tháng Ba – đã không được ngắm hoa như
lòng ước ao mong muốn. Trong khi tôi, thì nhân cái vụ vận động Nhân
quyền nói trên lại được dịp thưởng ngọan cả một rừng hoa tưng bừng nở
rộ – tô điểm thêm khởi sắc cho khung cảnh vốn đã xinh tươi hài hòa êm
dịu của vùng thủ đô nước Mỹ. Xin mời bạn đọc cùng đi ngắm cảnh và
theo dõi chuyện vận động Nhân quyền tại Washington vào mùa Xuân
năm 2013 này.
I – Tại khu vực Tidal Basin và công viên trước Điện Capitol.
Vào ngày thứ Năm 11/4 lúc 6 giờ sáng, anh Nguyễn Quốc Khải đã chở
tôi đến khu vực Tidal Basin (Đầm Thủy Triều) nơi sát với Đài Tưởng
niệm Tổng thống Jefferson (Jefferson Memorial). Trời còn mờ tối, ấy thế
mà đã có rất nhiều xe đậu dọc theo bờ sông Potomac và bà con lũ lượt
kéo nhau đi với máy ảnh các lọai để chuẩn bị chụp phong cảnh cả một
rừng cây Anh Đào đang ở độ nở mãn khai – tập trung nhiều nhất trong
chu vi dài đến ba bốn dặm của cái Đầm ăn thông với con sông Potomac
là ranh giới giữa Washington với tiểu bang Virginia.
Tôi đã lững thửng thả bộ suốt 3 tiếng đồng hồ xung quanh Tidal Basin
này, luôn tiện còn ghé thăm Đài Tưởng niệm Tổng thống Franklin
Delano Roosevelt (FDR) cùng với Đệ Nhất Phu nhân Eleanor và Đài
Tưởng niệm Mục sư Martin Luther King. Các lời phát biểu lịch sử của
cả hai vị danh nhân này được khắc họa thật rõ nét trên các bức tường
quanh Đài Tưởng niệm – quả thật người Mỹ đã rất lấy làm tự hào và tỏ
lòng kính trọng đối với những nhân vật xuất chúng như vậy ngay trong
những năm vào giữa thế kỷ XX gần đây thôi.
Các người bạn ưa thích nghệ thuật chụp ảnh như chị Như Lan bà xã của
anh Chánh án Nguyễn Văn Thành hay anh Nguyễn Quốc Khải, thì cho
biết là phải tranh thủ mà chụp ảnh trước lúc mặt trời lên cao – như vậy
mới có thể có hình ảnh đẹp được. Dọc lối đi theo chu vi của Đầm, tôi
thấy các nhiếp ảnh gia tài tử bố trí la liệt những máy hình gắn chặt trên
chân đỡ máy để chụp liên tục nhiều tấm ảnh dưới những tàng cây chi
chít những hoa màu trắng tinh hay màu phớt hồng. Có người còn chụp
riêng một vài cánh hoa lẻ loi mọc từ trong thân cây nữa, có lẽ họ cho là
mấy cánh hoa hiếm hoi đó mới thật là độc đáo chăng?
Bữa hôm trước là cỡ 8 giờ sáng ngày thứ Tư 10/4, lúc vừa từ nhà ga
Union Station đi tới khu công viên ở hướng Bắc của Điện Capitol trụ sở
Quốc Hội – tôi đã thật ngây ngất trước những cụm cây Anh Đào đang rộ
nở những chùm hoa dày đặc với cánh mỏng như tơ lụa và màu hồng lạt.
Từng cụm cây xen kẽ với những cây thông xanh ngắt và cả với những
cây sồi, cây phong vẫn còn khẳng khiu trụi lá – cảnh tượng trái nghịch
đó lại càng làm tăng vẻ cao quý của lọai hoa được du nhập mãi từ nước
Nhật vào nơi đây đã trên một thế kỷ nay. Tính chất đa dạng sinh học thật
là rõ nét nơi vùng thủ đô này.
Sau không bao lâu, tôi lại gặp các anh Đỗ Như Điện, Hùynh Hữu Thuận
cũng mới từ thành phố San Diego California đến để tham dự cuộc Họp
Báo ngòai trời ngay dưới bậc thềm của Trụ sở Hạ Nghị Viện phía góc
đường Independence và First street khu Đông Nam của Capitol. Vì chưa
đến giờ khai mạc cuộc Họp báo, chúng tôi đã tranh thủ chụp một số hình
kỷ niệm nơi công viên kỳ thú này.
Anh Điện mang theo một số ấn bản tiếng Anh của “ Báo cáo về Tình
hình Nhân quyền tại Việt nam trong năm 2012” – mà Mạng Lưới Nhân
Quyền VN cho phổ biến vào ngày 11 tháng Tư trong một cuộc Họp Báo
ở California. Tài liệu này đã được trao tận tay cho một số Dân biểu và
giới báo chí truyền thông
II – Hai ngày Hội Họp liên miên.
Phái đòan do Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng tổ chức mời gọi gồm đến vài
chục người thuộc giới Tôn giáo như Phật giáo, Công giáo, Tin Lành,
thuộc Sắc tộc Thiểu số như Hmong, Montagnard và Đại diện của Mạng
Lưới Nhân Quyền v.v… Phải nói ngay rằng trong hai ngày 10 và 11
tháng Tư này, phái đòan đã phải làm việc rất căng thẳng theo sự sắp xếp
thật sít sao của Ban Tổ chức với các văn phòng và cơ quan tiếp đón.
1 – Chỉ riêng trong một ngày 10/4 thôi, thì bà con trong phái đòan đi vận
động đã phải tham dự liền liền ba cuộc sinh họat như sau :
– Thứ nhất là cuộc Họp Báo ngòai trời trong công viên sát bậc thềm của
trụ sở Hạ Nghị Viện đã khai mạc vào đúng 10.45 AM. Dân biểu Chris
Smith là người chủ trì đã phát biểu khởi đầu và lần lượt giới thiệu với
giới truyền thông báo các diễn giả Việt nam là Cựu Dân biểu Cao Quang
Ánh, Hòa Thượng Thích Giác Đẳng, Hòa Thượng Thích Viên Lý, Mục
sư Nguyễn Minh Thắng, Kỹ sư Đỗ Như Điện, Tiến sĩ Nguyễn Đình
Thắng – để trình bày về tình trạng vi phạm Nhân quyền ở Việt nam hiện
nay. Trong vòng chưa đày một giờ, các diễn giả này đã thu hút được sự
chú ý của các ký giả đại diện những cơ sở truyền thông lớn ở Mỹ và chi
tiết của cuộc Họp Báo đã được phổ biến rộng rãi ngay vào buổi chiều tối
ngày hôm 10/4 đó.
– Tiếp theo là cuộc Trao đổi với các chuyên viên là Phụ tá của Tiểu ban
Nhân quyền thuộc Ủy ban Ngọai vụ diễn ra tại Tòa nhà Rayburn của Hạ
Nghị Viện. Buổi Sinh họat này kéo dài từ 12.00 đến 13.00 Giờ – để phía
đại biểu Việt nam thông báo chi tiết hơn về tình trạng vi phạm Nhân
quyền ở Việt nam – nhằm giúp cho việc chuẩn bị cho buổi Điều trần mở
rộng cho công chúng (Public Hearing) sẽ diễn ra tại phòng họp của Ủy
ban Ngọai vụ vào ngày hôm sau 11/4. Các chuyên viên của Quốc Hội
đều tỏ ra thông hiểu rành rẽ về tình hình chính trị xã hội ở Việt nam, nên
cuộc trao đổi đã diễn ra trong bàu không khí rất cởi mở thông cảm về cả
hai phía Việt và Mỹ.
– Phái đòan cùng nhau xuống ăn trưa tại Phòng ăn dưới tầng hầm của
Rayburn Building – ai nấy chọn đồ ăn và thanh tóan theo lối self-service
Và đến 3.00 PM, phái đòan lại di chuyển đến trụ sở của Ủy Ban Tự Do
Tôn Giáo (USCIRF = US Commission on International Religious
Freedom) để trao đổi với giới lãnh đạo của cơ quan này. Chủ tịch
USCIRF là Bà Katrina Lantos Swett và Tiến sĩ Scott Flipse là Phó Giám
Đốc đã trao đổi thảo luận với phái đòan trong hai giờ liền và các đại biểu
đã có dịp trình bày cặn kẽ hơn về khía cạnh đàn áp các tu sĩ, tín đồ cũng
như hạn chế sinh họat tôn giáo ở Việt nam. Lãnh đạo USCIRF đã tỏ ra
rất thông cảm với tình trạng khó khăn ngặt nghèo của các tổ chức tôn
giáo dưới chế độ độc tài khắc nghiệt của chính quyền cộng sản ở Việt
nam từ nhiều năm nay. Nhân tiện, cũng xin ghi là Bà Katrina chính là ái
nữ của Cố Dân biểu nổi danh Tom Lantos (1928 – 2008).
2 – Phiên Điều trần trước Tiểu Ban Nhân Quyền vào ngày 11/4.
Đây mới là buổi Điều trần có quy mô nhất trong lọat sinh họat của hai
ngày vận động này tại Quốc Hội Mỹ. Dân biểu Chris Smith, Chủ tịch
Tiểu ban Nhân quyền một lần nữa đã chủ trì phiên họp được diễn ra tại
văn phòng của Ủy ban Ngọai vụ – với sự tham dự của 6 Dân biểu trong
đó có cả Dân biểu Ed Royce Chủ tịch Ủy ban Ngọai vụ vốn là một nhân
vật quen thuộc của cộng đồng người Việt tại miền Nam California. Các
Dân biểu được vị chủ tọa mời phát biểu trước, rồi mới đến phần Điều
trần của đại diện phái đòan Việt nam.
Nói chung, các Dân biểu đều xác nhận tình trạng vi phạm Nhân quyền
do chính quyền Hanoi gây ra. Đặc biệt Nữ Dân biểu Karen Bass đại diện
đơn vị 37 California còn nhắc đến các báo cáo đáng tin cậy của các tổ
chức Amnesty International, Human Rights Watch và của Mạng Lưới
Nhân Quyền Việt nam đều ghi nhận rõ ràng các vi phạm này.
Tiếp theo là đến phần trình bày của phái đòan Việt nam với các đại diện
là Cựu Dân biểu Cao Quang Ánh, Giáo sư Võ Văn Ái, Tiến sĩ Nguyễn
Đình Thắng và đặc biệt là hai nhân chứng Danh Hui (về nạn Buôn
Người tại nước Nga) và Trần Thanh Tiến (về sự đàn áp tại giáo xứ Cồn
Dầu). Hai nhân chứng này phát biểu bằng tiếng Việt và được Tiến sĩ
Thắng dịch ra Anh ngữ rất chính xác. Cả hai người đều đưa ra được
những chứng từ cụ thể về sự đối xử tàn ác rất thương tâm đối với các
nạn nhân – đo đó mà có sức thuyết phục cao độ đối với cử tọa.
Hai bức ảnh phóng lớn về cảnh Linh mục Lý bị bịt miệng trước Tòa án
và về nạn nhân Nguyễn Thành Năm bị tra tấn đến chết ở Cồn Dầu – đã
được đưa ra để minh họa cho sự chà đạp nhân quyền ở Việt nam hiện
nay.
Người phát biểu cuối cùng trong buổi Điều trần này là ông John Sifton
đặc trách văn phòng Đông Nam Á của Human Rights Watch – ông
Sifton cũng xác nhận có sự vi phạm trầm trọng về nhân quyền ở Việt
nam trong những năm gần đây – chứng từ này có giá trị bổ túc rất vững
vàng cho lời trình bày của các nhân chứng Việt nam.
III – Để tóm lược lại.
Đang là Mùa Xuân, khí hậu tại Washington thật mát mẻ dịu dàng với
nắng nhẹ chan hòa và hoa Anh đào đang độ nở mãn khai. Khắp công
viên trước điện Capitol lúc nào cũng tấp nập các nhóm du khách viếng
thăm – mà cũng còn là cử tri từ các địa phương đến thăm vị đại diện dân
cử của mình. Trước cửa các văn phòng của Hạ Nghị Viện, luôn luôn có
nhiều người như chúng tôi xếp hàng để được vào gặp gỡ thăm viếng hay
hội họp với các Dân biểu. Quang cảnh thật là sinh động phấn khích.
* Nói chung, cuộc vận động Nhân quyền của phái đòan Việt nam trong
hai ngày 10 – 11 tháng Tư năm 2013 tại Quốc Hội Mỹ đã gây được một
ấn tượng tốt nơi các vị Dân biểu. Và điều đáng ghi nhất là phát biểu của
vị Chủ tọa phiên Điều trần chính là Dân biểu Chris Smith, người có
thâm niên kỳ cựu – đại diện đơn vị 4 tiểu bang New Jersey liên tục từ
năm 1980 . Ông Chris Smith đã nói dứt khóat không úp mở rằng : “Cần
phải đặt Việt nam vào lại danh sách CPC” (đó là danh sách các quốc gia
cần quan tâm đặc biệt vì sự vi phạm trầm trọng về Nhân quyền =
Countries of Particular Concern).
* Tuy đây mới chỉ là bước đầu trong tiến trình vận động kéo dài suốt hai
năm 2013 – 2014, việc làm của phái đòan VN lần này đã tỏ ra được sự
chú ý thuận lợi của giới dân cử cũng như giới truyền thông báo chí.
Trong thành phần phái đòan kỳ này, thì giới am hiểu tình hình sinh họat
tại Quốc Hội Mỹ đã có sự ghi nhận rằng : Cựu Dân biểu Cao Quang Ánh
cùng với Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng rõ ràng là hai nhân vật đã gây
được sự tin tưởng và mối thiện cảm đáng kể nơi một số Dân biểu – đặc
biệt là với Dân biểu Chris Smith vốn từ lâu đã từng được coi như là một
“người bạn tốt” của lớp người tỵ nạn chính trị Việt nam tại Hoa Kỳ.
* Với cái đà tiến triển trong công cuộc vận động rộng rãi như thế, chúng
ta có quyền tin tưởng được nơi sự thắng lợi tất yếu của chính nghĩa Tự
do, Dân chủ và Nhân quyền của tòan thể nhân dân Việt nam chúng ta
trong tương lai không bao xa nữa vậy./
Baltimore Maryland ngày 14 tháng Tư 2013
Đoàn Thanh Liêm
Ngày Quốc Tế Đồng Hành Cùng Dân Oan Việt Nam Tại Nam California
Garden Grove/ Tâm Nguyên-
Ngày “Đồng Hành Cùng Dân Oan Việt Nam” được tổ chức vào lúc 6.30 Pm-9.30 Pm ngày thứ Bảy 27-2-2016 tại Thư Viện Việt Nam, thuộc thành phố Garden Grove, với lời chia sẻ của Ban Tổ Chức: “Ngày Quốc Tế Đồng Hành Cùng Dân Oan” được tổ chức để chúng ta cùng chia sẻ nỗi đau và đồng hành với dân oan trên toàn quốc đòi bạo quyền Cộng sản phải trả lại đất đai tài sản của đồng bào dân oan, phải trả lại quyền Sở hữu Đất đai cho người dân. Được tổ chức để công luận toàn thế giới biết đến và hiểu rõ hơn về thảm cảnh của đồng bào dân oan, nỗi đau oan nghiệt của người dân bị cường quyền đỏ, tư sản đỏ cướp đoạt đất đai ruộng vườn đang chịu cảnh màn trời chiếu đất trên quê hương khốn khó của chúng ta.
BAN TỔ CHỨC GỒM:- Phong Trào Diên Hồng Thời Đại: GS Nguyễn Thanh Liêm – Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam: Phạm Trần Anh- Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam: TS Nguyễn Bá Tùng- Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do: Điếu Cày Nguyễn Văn Hải- Khối 8406: Vũ Hoàng Hải- Liên Ủy Ban Chống Cộng và Tay Sai: Phan Kỳ Nhơn- Phong Trào Dân Chủ Cho Việt Nam: GS Nguyễn Bảo- Cộng Đồng Việt Nam Nam Cali: KS Trương Ngãi Vinh- Ban Tù Ca Xuân Điềm- CLB Tình Nghệ Sĩ…
Sau nghi thức chào cờ Việt Mỹ & phút mặc niệm do CLBTNS, BTCXĐ & Ban Tổ Chức thực hiện. MC : Bích Ty, TS Nguyễn Bá Tùng, MLNQ thay mặt BTC lên chào mừng & cám ơn quan khách tham dự “…Hôm nay, ngày 27-2, dân oan trên ba miền đất nước VN đang xuống đường để đòi lại đất đai và ruộng vườn bị bạo quyền cộng sản cưỡng chiếm; và cũng chính hôm nay đồng bào hải ngoại trên toàn thế giới tập họp ở 20 tụ điểm khác nhau để bày tõ tình liên đới với dân oan trong nước qua logo “Je suis Dân Oan” mà trong nước và các nơi cùng sử dụng. Cái biểu tượng đó vượt qua biên giới ngôn ngữ để nói lên cho thế giới thấy sự hiệp nhất và liên đới của người Việt khắp nơi. Buổi sinh hoạt hôm nay không mang tính cách diễn thuyết, mà là chứng từ của những dân oan như Lê Thị Kim Thu đang có mặt và Cấn Thị Thêu từ Việt Nam qua slide show chiếu ra từ trong nước ….”
Tiếp theo chị Lê Thị kim Thu, một dân oan, một chứng nhân đã sang Mỹ chia sẻ những gì mà chị, gia đình và một số người dân oan mà chị đã tận mắt chứng kiến đã bị chế độ cộng sản đánh đập và tước đoạt qua slide show. Cá nhân của chị phải chịu cảnh lao tù khi đấu tranh đòi lại nhà và đất bị cộng sản cường hào cướp đoạt…
Nối tiếp, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải lên giới thiệu về Ngày Quốc Tế Đồng Hành Cùng Dân Oan Việt Nam 27-2-16…
Sau đó CT CĐ, Trương Ngãi Vinh lên chia sẻ cảm tưởng NQTĐH/Dân Oan VN…
Cuối cùng, ông Phạm Trần Anh thay mặt Ban Tổ Chức và các Hội Đoàn đọc những lời nhận định và lên án chế độ cộng sản Việt Nam với chính sách đàn áp và cướp đoạt sở hữu của người dân, biến họ trở thành những người dân oan, những nạn nhân bất hạnh của chế độ cộng sản “ác với dân, hèn với giặc”….Trả tự do cho các tù nhân lương tâm VN. Thực hiện những công ước quốc tế đã ký kết…
Xen kẻ chương trình là các bản nhạc tranh đấu hùng mạnh “ Dân Oan Tiến Về SG/Xuân Điềm-Việt Nam Ơi & Vì Sao/CLBTNS- Kết thúc CT nhạc là những ngọn đuốc thắp sáng thể hiện niềm tin đấu tranh cho dân chủ, tự do, nhân quyền cho Việt Nam đã được các anh chị em trong Ban Hợp Ca Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ cùng Ban Tổ Chức và quan khách tham dự giơ cao qua bản nhạc “Thắp Sáng Việt Nam”.
“Đốt nến lên! Đốt nến lên thắp sáng Việt Nam tiến theo nhân quyền. Một nắm tay, muôn vạn nắm tay, vượt như giông bão quét quân đê hèn!” …Rồi “ Quê Hương Ngạo Nghễ “ như một lời khẳng định cho một VN sống trong tự do, nhân quyền…vang lên tiển đưa quan khách ra về…
BÍCH-VÂN-THIÊN
Lang Thang Chiều Tím
“Bích-Vân-Thiên” là một trong những tiểu thuyết của nữ văn sĩ Quỳnh Dao. Chuyện kể về mối tình tay ba giữa hai người phụ nữ Bích, Vân và một người chồng chung tên Thiên. Vì người vợ không thể sinh con nối dõi tông đường cho chồng, nên nàng đành chấp nhận người em kết nghĩa như người vợ lẽ cho chồng. Dù là tự nguyện, nhưng những ích kỷ ghen tương của kiếp nhân sinh đã khiến họ nhận ra rằng, cả ba không thể cùng hạnh phúc chung dưới một mái nhà. Một người chấp nhận ra đi để hai người ở lại hạnh phúc hơn.
Những tưởng chuyện tình thơ mộng sầu muộn chỉ có trong tiểu thuyết, qua sự tưởng tượng phong phú của nhà văn. Nhưng đâu ai biết rằng cuộc sống muôn màu sắc cũng đang dệt nên một chuyện tình tay ba đẹp lãng mạn như một bài thơ, trắc trở với những cảnh đời éo le, với phần kết vẫn còn dang dở. “Bích-Vân-Thiên” của đời thực là một chuyện tình tay ba giữa Thu Bích, người con gái vô tư hồn nhiên, duyên dáng như viên ngọc xanh biếc giữa đời, và một Đình Vân thư sinh trắng trẻo nho nhã với cặp kiếng cận, như một áng mây lững lờ quyện lấy viên ngọc bích trong trời thu. Hiện diện giữa họ là một Thiên Chúa vô hình lúc ẩn, lúc hiện, lúc hiền hòa yêu thương, lúc thinh thặng đến lạnh lùng.
Được sinh ra và lớn lên trong một gia đình sùng tín đạo Phật có lòng thờ kính ông bà tổ tiên, Vân đến với Bích khi chẳng biết Thiên Chúa là ai. Đúng rồi, Thiên là Trời, là Đấng tạo dựng nên muôn loài muôn vật, dạy cho con người những điều hay lẽ phải. Thiên Chúa của Đạo Công Giáo cũng là Ông Trời thân thiện gần gũi của dân tộc Việt Nam đấy mà, người quen cả chứ có phải ai xa lạ đâu. Nhưng ngược với sự suy nghĩ đơn giản của Vân, người con gái mà anh đem lòng yêu mến ở đảo, trước biến cố 30 tháng Tư năm 1975 là một đệ tử đã từng được nuôi dưỡng bởi câu kinh ê a mỗi sáng chiều trong nhà dòng các Sơ. Nàng mong muốn vợ chồng sẽ cùng chia sẻ và đồng hành bên nhau trong đời sống tự nhiên cũng như trong đời sống thiêng liêng.
Bản chất vốn dĩ hiền lành và chân thật, mang trong tâm hồn phần nào vẻ đẹp của Đấng Chân Thiện Mỹ, Vân tự ý tìm hiểu Thiên Chúa của Bích là ai. Khởi đầu Vân cảm thấy khó hiểu, chuyện một Thiên Chúa từ bỏ vương quyền cao sang để sinh ra làm người trong máng cỏ nghèo nàn, rồi lại lang thang bồng bế nhau đi tị nạn xứ người. Cũng là kiếp tị nạn cả thôi, nghe sao đồng cảm quá, giống như cảnh đời của Vân-Bích đang vất vưởng ở đảo chờ ngày định cư. Lạ thay, càng tìm hiểu anh lại càng thấy mến thương một Thiên Chúa với tình yêu bao la dành cho con người hay phản bội chóng quên, một Thiên Chúa mặc lấy xác phàm để rồi cuối cùng bị chết thảm thương nhục nhã trên cây thập giá.
Sau những tháng ngày học hỏi tìm hiểu về Đạo Thiên Chúa, năm 1984 Vân cúi đầu nhận lãnh Bí Tích Rửa Tội trong nỗi ưu phiền của người cha già ở phương xa, mà sau này khi đại gia đình được đoàn tụ, ông thường hay trách cứ: “Anh con theo Đạo để lấy vợ thì ba không buồn, nhưng con theo Đạo thì ba rất buồn vì con quá sùng tín. Con là một đứa con bất hiếu, bỏ ông bà cha mẹ mà theo Đạo vợ.” Trái tim Vân tan nát, anh chỉ biết cúi đầu im lặng mỗi khi nghe lời phiền trách của người cha yêu dấu. Cha Vân đâu ngờ rằng đứa con trai này chịu phép rửa tội bằng con tim thổn thức của tuổi trẻ đi tìm chân lý, bằng nỗi khát khao nhiệt tình của người vừa tìm ra được lẽ sống đời mình, chứ không phải rửa tội chỉ để lấy vợ, như người đời thường nói: “Con quỳ lạy Chúa trên cao, con lấy được vợ con thôi nhà thờ.”
Từ đó Thiên Chúa luôn luôn hiện diện giữa Bích-Vân trong mọi biến cố buồn vui, thăng trầm của cuộc sống. Cuộc tình nhẹ nhàng êm đềm như một bài thơ qua dòng thời gian lững lờ trôi. Mối tình tay ba “Bích-Vân-Thiên” được triển nở khi Bích-Vân chính thức nên một trong Thiên Chúa qua bí tích Hôn Phối vào tháng 12 năm 1985. Hạnh phúc gia đình thêm viên mãn với sự góp mặt của hai thiên thần nhỏ, một trai một gái. Hơn 30 năm trôi dạt xứ người, phồn hoa phú quý nơi xứ sở giàu có văn minh chỉ làm Vân tăng thêm lời tạ ơn. Đức tin của Vân ngày càng lớn dần theo thời gian cùng với tình yêu anh dành cho cả hai, Thiên Chúa và Bích. Không chỉ giữ riêng đức tin cho mình, với tình yêu mãnh liệt mà anh cảm nhận được từ Thiên Chúa, anh mạnh dạn chia sẻ đức tin đó cho người cha và anh em trong gia đình mình. Gương sống và hạt giống đức tin đã sinh hoa kết trái nơi người em gái mà lần này với sự đồng thuận của người cha: “Con đã quyết định theo Đạo Công Giáo thì theo cho đến nơi đến chốn.” Người anh kế và cậu em trai cũng một lòng tin kính Chúa mặc dầu chưa chính thức vào Đạo, nhưng bản thân họ đã tự nhận mình là Kitô hữu. Vân không chỉ ngừng lại nơi đây, anh tích cực chia sẻ đức tin đó cho những người nghèo khó bệnh tật, cho những người già yếu trong viện dưỡng lão, cho ban Giáo Lý Dự Tòng, ban Tĩnh Tâm Linh Thao, phong trào Cursillo, cho các sinh hoạt mục vụ khác của giáo xứ, và là cánh chim đầu đàn cho phong trào Canh Tân Đặc Sủng ở Thung Lũng Hoa Vàng. Với cây đàn guitar, với giọng hát sôi nổi trầm ấm, với những lời nguyện chân thành bộc phát từ trái tim cháy bỏng, đức tin mạnh mẽ của anh đã sưởi ấm bao cõi lòng băng giá vì vắng bóng niềm tin. Trong bất cứ sinh hoạt mục vụ nào, Bích-Vân cùng sát cánh, chia sẻ và hổ trợ cho nhau như hai người bạn thiêng liêng tâm đầu ý hợp.
Ấp ủ trong tim lời mời gọi thầm thì nhưng tha thiết yêu thương của Thiên Chúa, Bích-Vân mơ ước dành trọn cuộc đời còn lại để ra đi phục vụ tha nhân. Nhưng cuộc đời không như là mơ, dẫu giấc mơ đó thật là cao quý! Làm chứng cho đức tin của mình bằng cuộc sống tông đồ nhiệt thành hình như chưa đủ. Thiên Chúa muốn đức tin của Bích-Vân và gia đình phải được thử thách tôi luyện, chứng nhân của Ngài phải đổ máu trong một bi kịch oan nghiệt trớ trêu. Trong một buổi sáng định mệnh ngày 3 tháng 3 năm 2011, khi bệnh tình trở nặng vì những ảnh hưởng nguy hại của các thuốc an thần, anh cần phải được khẩn cấp nhập viện. Tổng đài 911 đã nhận được thông báo để cấp cứu… Xe cứu thương và xe cảnh sát đã tới. Nhưng than ôi, trong khoảnh khắc tích tắc, một viên đạn oan nghiệt từ một người cảnh sát không quen biết, không thù oán đã kết thúc cuộc đời anh. Anh ra đi đột ngột không hiểu tại sao mình lại bị giết ngay trong chính ngôi nhà của mình, nơi vừa được một vị linh mục làm phép nhà cách đó ba hôm, nơi mà hai vợ chồng mơ ước sẽ làm nhà tĩnh tâm, là nơi hội họp cầu nguyện cho anh chị em… Cuối cùng anh đã trở về bên Giêsu, Đấng mà anh được rước vào lòng mỗi ngày qua bí tích Thánh Thể. Anh đã vĩnh viễn trở về với Đấng Tạo Hóa, Đấng Chân Thiện Mỹ, Đấng mà suốt cả cuộc đời anh khát khao tìm kiếm, và cũng chính vì Ngài mà anh mang tội bất hiếu.
Từ khi bị bịnh, anh đã chuẩn bị sẵn sàng để ra đi, cho dù là cách nào, vào bất cứ lúc nào. Nhưng thực tế cái chết tức tưởi oan ức của anh đã gây đau khổ, khó chấp nhận cho những người thân còn ở lại. Đức tin của người vợ, hai con đang chập chững bước vào đời, hai bên cha mẹ già, anh em đạo cũ, đạo mới, chưa theo đạo bị thử thách dữ dội. Trong giây phút mà sự dữ lên ngôi, thần chết tưởng như chiến thắng, cái ác cười ngạo nghễ trên sự thiện, người ta khó lòng mà giải thích được tại sao một người đạo đức, sống tốt lành thánh thiện như anh lại có một cái kết thúc bi thảm như vậy. Người đời sẽ chẳng bao giờ giải thích được, trừ phi họ nhìn lên cây thập giá, nơi Chúa Giêsu Kitô chịu chết treo ô nhục trên đồi Canvê. Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh bi ai trùm kín một màu tang tóc buồn bã, không phải là đích đến của những Kitô hữu. Đàng sau ngày Thứ Sáu Tuần Thánh là ngày Chúa Nhật Phục Sinh chiến thắng khải hoàn. Nhưng trong cơn sầu khổ tuyệt vọng, lệ nhòa mi mắt thì bóng dáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh xa vời mờ nhạt quá.
Giữa những tiếng xì xầm của thế gian, tiếng cười đắc chí đắc thắng của thần dữ, người thiếu phụ gục xuống trước nỗi mất mát quá tang thương này. Chị rút vào thanh vắng một thời gian dài, xa lánh phần lớn bạn bè người thân quen. Chị tránh những ánh mắt thương hại tội nghiệp, né những câu hỏi han tò mò, ngại ngùng khi phải nghe những lời an ủi nhiệt tình nhưng vô duyên lạc điệu: “Thôi đừng khóc, đừng buồn nữa, hãy chấp nhận thánh giá Chúa gởi đến, như thế Chúa và anh mới vui.” Không, Bích không muốn che dấu nỗi buồn vô tận của mình. Bích càng bối rối hơn khi nghe người ta đổ tội cho Thiên Chúa. Vô lý quá, làm sao mà một “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16), lại có thể gởi những sự dữ đến cho con cái của mình được. Sự dữ đâu đến từ Thiên Chúa! Ngài tôn trọng sự tự do chọn lựa của người cảnh sát vô cảm kia, cũng như Ngài đã từng tôn trọng sự tự do lựa chọn của Bích-Vân vậy.
Trong bóng tối cô đơn trước cây thánh giá, với cõi lòng tan nát, Bích muốn để những tiếng rên xiết quằn quại trong cõi lòng của mình được tự do òa vỡ. Chị kiệt sức gục đầu lên vai Chúa để mặc cho dòng nước mắt thỏa sức tuôn rơi. Chúa không bảo chị thôi đừng khóc, bớt buồn, mà chị lờ mờ thấy Chúa lau nước mắt cho mình, cùng buồn, cùng khóc với mình. Chị để mặc cho Chúa vuốt ve, an ủi trái tim đang gào thét lên nỗi thương nhớ. Chúa xót xa băng bó vết thương tâm hồn bê bết máu, xoa dịu nỗi buồn gặm nhấm tâm can. Trong cõi một mình vắng lặng, Bích cố gắng tìm lại Lời Chúa, Ý Chúa, và hình ảnh Thiên Chúa ngày xưa của mình đang ở đâu trong biến cố này. Bích cũng đang tập làm quen dần với cảnh đời mất chồng nơi xứ lạ.
Hơn hai năm sau, khi cơn đau vẫn chưa nguôi trong trái tim mới chớm lành của người goá phụ, Bích lại tiếp tục nhận được thất bại khác. Chị đã thua trong vụ kiện người cảnh sát bắn chồng chị. Bích kiện không phải vì tiền, vì chẳng có đồng tiền nào có thể đánh đổi được sinh mạng của anh. Kiện để chân lý được sáng tỏ, để tránh cho người dân thấp cổ bé miệng sau này khỏi lâm vào hoàn cảnh oan ức như anh. Kiện để những người cầm súng đại diện cho pháp luật ở một xứ sở tự do phải ý thức hơn về những gì họ đã làm, đang làm và sẽ làm. Nhưng thương thay, tiếng nói yếu ớt của một sắc dân tị nạn thiểu số, tại một nơi mà đa phần là da trắng, tiếng bào chữa của một văn phòng luật sư bé nhỏ, làm sao có thể thắng được với một tập đoàn luật sư hùng hậu của thành phố, của quận hạt. Chân lý một lần nữa lại đứng về phía kẻ mạnh. Thần dữ lại một lần nữa vỗ tay cười hả hê, khoái trá chờ ngày người vợ và hai con đang tuổi nổi loạn từ bỏ đức tin, trút cơn giận lên Thiên Chúa chẳng chút nhân từ. Chuyện tình ba người “Bích-Vân-Thiên” chắc rằng sẽ tan rã từ đây….
Dù không còn cảm giác với tình yêu ngọt ngào của Thiên Chúa, nhưng Bích cũng ráng đến nhà thờ mỗi ngày theo thói quen, đến nhóm cầu nguyện hàng tuần dù không cảm nhận được gì. Sự thinh lặng của Ngài trong những giây phút cầu nguyện, trong các khóa tĩnh tâm dài ngày càng làm cho chị thêm khó hiểu. Mỗi lần nhìn lên cây thánh giá, Bích không bao giờ dám hỏi Chúa tại sao những sự dữ lại xảy đến với gia đình mình. Người Con Một của Ngài cũng có tội tình gì đâu sao phải chết treo trên thập giá? Nhìn vào quan tòa xét xử Giêsu trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, nhìn vào đôi tay Người Con Một Thiên Chúa đang bị trói chặt lại trước những tiếng la hét đòi xử tử, như chân lý và tình yêu bị trói buộc trước sự dữ, chị không muốn tiếp tục vụ kiện nữa. Chúa Giêsu có thắng đâu trước quan tòa ngày hôm ấy! Ngài đã thua thảm bại trước một tên tướng cướp giết người khét tiếng, đã thất bại chua cay trước những vị kinh sư Pharisêu đại diện cho tôn giáo của dân tộc mình. Cũng như viên đạn bắn anh không phải xuất phát từ một tên cướp, mà là từ một nòng súng của người thi hành pháp luật dành cho một người dân vô tội. Cay đắng quá! Trò mà làm sao hơn được thầy! Chén đắng đã hai lần nhấp thử, chị phần nào cảm nhận được nỗi thống khổ tột cùng của Chúa Giêsu trong vườn Gethsemane. Cũng như Giêsu ngày xưa, Bích xuôi tay chấp nhận mình thua để khép lại vụ kiện, chị không muốn kháng án lên toà trên, không muốn vết thương lòng lại bị khơi ra khuấy động lên, chị muốn sự bình an sâu thẳm trong tâm hồn, thấm thía mầu nhiệm thập giá… Từng ngày, từng ngày, trong tâm hồn chị vẫn vang lên lời nguyện xin tha thiết: “Chúa ơi, xin cứu con! Chúa cho phép sự việc xảy ra như thế này thì sinh ích gì cho con? Con xin tạ ơn Chúa mặc dù giờ này con chưa hiểu, nhưng con tin vào Ý Muốn Tốt Lành của Chúa vì Chúa đã nói mọi đau khổ đều sinh ích cho những ai yêu mến Chúa.”
Qua những tháng ngày đau khổ đến tê dại không còn cảm giác, qua những lúc ngã lên gục xuống, thầm khóc đến không còn nước mắt, qua những cay đắng khi nhận được tin thất bại của vụ kiện, người goá phụ từ từ cảm nhận được những nâng đỡ ủi an kín đáo của Người Cha Nhân Từ đang ẩn mặt đâu đó trong lúc này. Gia đình, bạn bè, cộng đoàn Đức Tin, các Bí tích, Lời Chúa, Thánh Vịnh, và những bài Thánh Ca đong đầy yêu thương là những điểm tựa nương của Bích trong lúc sầu khổ lao đao: “Lạy Chúa, khi con nói: “Này chân con lảo đảo”, tình thương Ngài đã đỡ nâng con” (TV 94, 18), “Người chữa trị bao cõi lòng tan vỡ, những vết thương, băng bó cho lành” (TV 147, 3), “Sự thật, chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta… Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành” (Is 53:4-5). Bích không trách Thiên Chúa đã cất anh về sớm, trong cõi lòng sâu thẳm chị chỉ biết dâng lời tạ ơn Chúa đã ban cho chị một người chồng tốt lành, một người cha gương mẫu cho các con, một người bạn thiêng liêng thánh thiện đã cùng đồng hành với chị trong suốt hai mươi lăm năm hôn phối, mà anh chị vừa long trọng lập lại lời thề hứa ba tháng trước ngày anh đi về cõi vĩnh hằng. Bích tạ ơn cho những gì đã có, chứ không trách móc về những gì đã mất. Chị biết, anh vui khi được ở bên chị và anh cũng hạnh phúc khi được xum vầy cùng Thiên Chúa, Đấng mà anh hằng khát khao được diện kiến. Chị tin rằng hình ảnh của chị và hai con luôn ở trong tim anh, và anh sẽ tiếp tục cầu khẩn cùng Thiên Chúa cho ba mẹ con.
Thời gian thấm thoát thoi đưa, thế mà đã năm năm trôi qua kể từ ngày Vân về với Thiên Chúa. Trên bia mộ đá nơi anh an nghỉ, có hình của cả ba “Bích-Vân-Thiên”, với một bên còn trống để dành chỗ cho Bích, với lời ca Hallelujah của ngày Chúa Nhật Phục Sinh khải hoàn trong vinh quang. Thiên Chúa chưa bao giờ vắng bóng trong cuộc tình của Bích-Vân. Trong những tháng năm đầu, trên mộ Vân không lúc nào thiếu vắng hoa tươi do Bích mang lại. Bạn bè kẻ khen người chê trước hành động lãng mạn không thiết thực đó, lãng phí cả thời gian và tiền bạc. Nhưng Bích có cần gì đâu, chị làm theo tiếng nói con tim. Sự chết không chia rẽ được tình yêu của anh chị. Mỗi lần viếng nghĩa trang nơi anh an nghỉ, chị cảm nhận được tình yêu ba người “Bích-Vân-Thiên” quyện lẫn vào nhau trong gió, trong mây để chỉ còn là một. Chẳng còn thế giới vô hình hay hữu hình nữa, cũng chẳng còn ranh giới sự sống hay sự chết. Bích đến không để khóc than, chị đến để trái tim chị được sưởi ấm, đến để cảm nhận tình yêu chung thủy của ba người được thăng hoa. Bó hoa tươi trên mộ anh là ngôn ngữ tình yêu nói thay cho con tim chị. Anh yêu nhạc, chị thích hoa, cả hai cùng say mê vẻ đẹp chân thiện mỹ, Bích-Vân đang cùng hát lên bản Tình Ca Tạ Ơn bên Thiên Chúa – Hallelujah!
Năm năm với biết bao ân sủng tuôn đổ từ trời cao đủ để làm sống dậy tin yêu hy vọng trong Bích. Tình yêu Thiên Chúa mạnh hơn sự mất mát và thất bại đã làm tươi mới lại con người Bích, chị trở lại với con người hồn nhiên yêu đời như những ngày trước có anh đi bên cạnh. Nụ cười rạng rỡ lại trở về trên khuôn mặt nhân hậu duyên dáng của chị. Không những thế, chị được mời gọi để làm chứng cho những mảnh đời bất hạnh, những tâm tư giận hờn Thiên Chúa vì những khổ đau bịnh tật, hay những mất mát chia lìa đớn đau, những con chiên tự tách mình ra khỏi đàn vì mải mê oán than…. Chị đến để mang câu trả lời cho những câu hỏi không lối đáp, tại sao Thiên Chúa lại để sự này xảy đến với tôi, với gia đình tôi? Tại sao Ngài không nhận lời? Tại sao Ngài không ngăn cản sự dữ xảy ra? Tại sao Ngài không cất đi căn bịnh hiểm nghèo cho tôi, cho người thân của tôi? Tại sao và tại sao? Chị đến không để nói, để thuyết phục hay hùng biện, chị chỉ nhẹ nhàng kể về câu chuyện tình của đời chị… và Thiên Chúa sẽ làm việc với những tâm hồn tan nát đó.
Tác phẩm “Bích-Vân-Thiên” của nữ văn sĩ Quỳnh Dao được khép lại khi trang sách cuối cùng được lật qua. Trong đầu người đọc chỉ còn lưu lại thoang thoáng vài nét về một cốt chuyện hay, một tình yêu lai láng sầu muộn chỉ có trên tiểu thuyết. Còn “Bích-Vân-Thiên” trong đời thường, không chỉ là tên của ba người trong một cuộc tình ghép lại, mà còn là tựa đề của cuốn sách mang niềm hy vọng – cuốn sách chứng nhân đức tin – đang được tiếp tục lật từng trang mỗi ngày. Ba nhân vật chính “Bích-Vân-Thiên” vẫn luôn nắm tay cùng đồng hành với nhau. Đình Vân đã đi xong quãng đường của mình. Chặng đường của Thu Bích vẫn còn dài đăng đẳng trước mắt nhưng Bích không đi lẻ loi một mình. “Vân-Thiên” vẫn luôn cùng đồng hành với Bích và chờ ngày đoàn tụ để đóng lại cuốn sách chứng nhân đức tin “Bích-Vân-Thiên”.
Nguyện xin Thiên Chúa Tình Yêu chúc lành cho thiên tình sử tay ba “Bích-Vân-Thiên” được đẹp mãi đến trang sách cuối cùng. Mong rằng trong ngày sau hết cả ba sẽ được tái ngộ để cùng nhau kết hợp nên một mối tình tuy ba nhưng chỉ là một.
Lang Thang Chiều Tím
Kỷ niệm năm năm ngày giỗ anh Phêrô Lê Đình Vân, 03/03/2011 – 03/03/2016
10 sự thật của xã hội hiện đại
Thời đại thông tin số có thể mang lại tác động tiêu cực tới cuộc sống và xã hội loài người. Dưới đây là 10 hình vẽ cho thấy những thay đổi tiêu cực của xã hội chúng ta.
Rõ ràng chúng ta đang sống trong thời đại kỹ thuật số, và việc quay trở lại xã hội trước đây là điều không thể.
Một trong số những ảnh hưởng lớn nhất tới xã hội ngày nay một cách tiêu cực cũng như tích cực chính là truyền thông xã hội.
Truyền thông xã hội vốn được thiết kế để cho phép con người chia sẻ những điều thú vị trong cuộc sống của họ với bạn bè, nhưng giờ đây mọi chuyện không chỉ đơn giản như vậy.
Truyền thông xã hội giờ đây là con đường vận chuyển thông tin toàn cầu. Nhiều khi chúng ta biết về những sự kiện đang diễn ra thông qua Twitter hay Facebook trước khi biết về nó qua các nguồn tin chính thống.
Chúng ta cũng bắt đầu dựa vào các thiết bị công nghệ trong hầu hết mọi việc. Ngày nay con người dường như không thể đi bất kỳ đâu hay làm bất kỳ điều gì mà không mang theo điện thoại thông minh, máy tính bảng,máy tính xách tay…
Họ cần có một mối liên lạc thường trực với nhau thông qua các thiết bị điện tử. Tuy nhiên, kết nối quá nhiều với truyền thông xã hội và các thiết bị có liên quan cũng có mặt tiêu cực của nó.
Chúng ta có thể trở nên phụ thuộc quá mức, hoặc trở nên thờ ơ với những gì chúng ta đang làm với cuộc sống của chúng ta.
Thời đại thông tin số có thể mang lại tác động tiêu cực tới cuộc sống và xã hội loài người. Dưới đây là 10 hình vẽ cho thấy những thay đổi tiêu cực của xã hội chúng ta.
1. Facebook đang ngấu nghiến thời gian của bạn
![]()
Mỗi ngày bạn dành bao nhiêu thời gian trên Facebook hoặc các trang mạng xã hội khác? Điều này có đang ảnh hưởng tới hiệu quả công việc của bạn không? Bạn có thấy mình lãng phí thời gian tới mức bạn không hề nhận ra nó đã trôi nhanh thế nào không? Nếu bạn trả lời “có,” tôi tin chắc rằng bạn không phải là người duy nhất.
2. Chúng ta trở thành những kẻ ‘nghiện Like’
![]()
Nói tới Facebook, khi bạn đăng tải một thứ gì đó, bạn có làm vậy chỉ để xem sẽ có bao nhiêu bạn bè ấn ‘Thích’ không? Đối với một số người, những cái ‘Thích’ trên Facebook cũng như một loại chất gây nghiện họ cần bơm vào mạch máu của mình.
3. Các thiết bị điện tử còn quan trọng hơn mạng sống

Lựa chọn giữa việc điện thoại hết pin và mạng sống của bạn, bạn sẽ chọn thứ gì? Trong trường hợp này, người đàn ông trong hình vẽ đã chọn chiếc điện thoại thay vì thiết bị hỗ trợ sống của chính anh ta. Xã hội loài người cần đưa ra những lựa chọn đúng đắn hơn.
4. Các thiết bị đang hủy hoại sự thân mật
Bạn và những người thân yêu đã bao giờ dành thời gian bên nhau chỉ để mỗi người cầm một chiếc điện thoại nhắn tin, đăng tweet, Facebook hay lướt web thay vì giao tiếp với nhau chưa? Xã hội phải chăng đã tới mức chúng ta không thể dành thời gian cho nhau mà không cầm trên tay chiếc điện thoại?
5. Các gia đình không còn dành thời gian quây quần bên nhau

Đây là một bà mẹ đang nướng bánh quy cho cả gia đình. Nhưng những đưa con thì đang làm gì kia? Chúng không cùng làm bánh với mẹ, mà đứa con nào cũng đang dán mắt vào thiết bị của mình. Trước đây, các bậc cha mẹ dùng TV để trông con; giờ đây máy tính bảng, điện thoại, laptop hoặc trò chơi điện tử đang đảm nhận công việc đó.
6. Chúng ta thà quay video một ai đó còn hơn giúp đỡ họ
![]()
Một người đàn ông da màu đang đuối nước và giơ tay ra cầu xin sự giúp đỡ. Một kẻ đang chĩa súng, còn kẻ còn lại thì chĩa chiếc iPhone về phía người đàn ông- cả hai đều không có ý định giúp đỡ người bị nạn.
7. Xã hội đang lãng phí thời gian
![]()
Thời gian là tiền bạc. Khi chúng ta tiêu phí thời gian trên các phương tiện truyền thông xã hội, chúng ta đang đánh mất thứ quý giá nhất chúng ta có: thời gian.
8. Dù đã có công nghệ, chúng ta vẫn muốn thứ thuộc về người khác

“Đứng núi này trông núi nọ” là một câu tục ngữ đã có từ lâu đời. Dù đã có những gì ta có, nhưng ngay cả những người giàu vẫn cần tình yêu, gia đình, … để được hạnh phúc.
9. Chiêu giật gân vẫn câu kéo được khách
![]()
Với lượng thông tin tràn đầy như hiện nay, truyền thông vẫn luôn tìm kiếm yếu tố giật gân. Người phụ nữ này rõ ràng đang muốn nói lên điều gì đó quan trọng, nhưng liệu giới truyền thông có còn quan tâm tới cô nữa hay không nếu cô không còn trong tình trạng bán khỏa thân nữa?
10. Cuối cùng, chúng ta vẫn đang tàn phá trái đất
![]()
Dù đã có nhiều tiến bộ về công nghệ, song con người vẫn đang tàn phá trái đất tới mức chúng ta gần như đang chĩa súng vào “Mẹ Thiên nhiên”. Với những thành phố ngày càng lớn và mức độ ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng, đến khi nào những gì chúng ta làm sẽ khiến chính chúng ta sụp đổ?
Blogger Đoan Trang
Gửi cho BBC từ Hà Nội
28-2-2016
Bà Đặng Bích Phượng, một trong các ứng cử viên tự do ở Hà Nội, thuật lại khó khăn “trời ơi đất hỡi” mà bà gặp phải khi làm hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa 14 này.
Câu chuyện rất đơn giản: việc đầu tiên của quá trình ứng cử là bà phải làm hồ sơ, gồm đơn ứng cử, sơ yếu lý lịch, tiểu sử tóm tắt, bản kê khai tài sản và thu nhập. Sau đó, bà phải đi xin dấu xác nhận lý lịch tại ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã, phường nơi bà đăng ký hộ khẩu thường trú.
Ngày 22/2/2016, UBND phường Thành Công đã xác nhận lý lịch cho bà Phượng. Tuy nhiên, ba hôm sau, khi bà Phượng đến nộp hồ sơ ứng cử, thì được cán bộ tiếp dân yêu cầu khai lại một số mục khai chưa đúng theo mẫu. Ví dụ, phải ghi trình độ văn hóa 10/10 phổ thông (bà Phượng chỉ khai 10/10 – thiếu chữ “phổ thông”).
Sau khi khai lại đầy đủ, bà Phượng đến UBND phường Thành Công để xin xác nhận lại lý lịch. Nhưng lần này thì đến lượt Chủ tịch UBND phường Thành Công, ông Nguyễn Huy Toản, nói chưa thể xác nhận lý lịch cho bà, lấy lý do bà khai “chưa trung thực” phần kỷ luật.
“Kỷ luật” vì biểu tình
Bà Đặng Bích Phượng đã không khai trong hồ sơ là bà từng một lần bị bắt giam 5 ngày ở Hỏa Lò (từ ngày 21 đến 25/8/2011) vì đi biểu tình chống Trung Quốc nhân sự kiện Trung Quốc cắt cáp dầu khí của Việt Nam, nhưng bị công an quy vào tội “gây rối trật tự công cộng”.
Lần khác, bà bị UBND phường Dịch Vọng ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường trong thời hạn 6 tháng (từ ngày 12/9/2012 đến ngày 12/3/2013) cũng vì nhiều lần bị bắt khi tham gia biểu tình chống Trung Quốc.
Tuy nhiên, tạm chưa bàn tới tính hợp pháp của các quyết định tạm giữ và áp dụng biện pháp giáo dục, thì những hình thức xử lý công dân nói trên chỉ là xử lý vi phạm hành chính và chỉ có giá trị 1 năm là hết hiệu lực, không cần ghi vào lý lịch.
Thêm nữa, chính phần hướng dẫn khai hồ sơ cũng nêu rõ:
“Trường hợp bị kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính trong thời gian 01 năm tính đến ngày làm hồ sơ ứng cử thì ghi rõ tên cơ quan ra quyết định kỷ luật, thời gian bị kỷ luật, lý do bị kỷ luật, hình thức kỷ luật”, “Nếu không có hoặc đã bị xử lý nhưng không thuộc các trường hợp kể trên thì ghi “Không bị kỷ luật, không có án tích””.
Do bà Đặng Bích Phượng bị xử lý vi phạm hành chính đã cách đây đến 4-5 năm, nên bà ghi “không bị kỷ luật, không có án tích” trong hồ sơ, đúng như hướng dẫn.
Điều bà không ngờ là ghi chính xác như hướng dẫn thì lại bị từ chối xác nhận hồ sơ.
Đá đi, đá lại
Bà Đặng Bích Phượng bèn quay lại nơi tiếp nhận hồ sơ ứng cử để đề nghị hướng dẫn lại. Tại đây, bà Phượng được ông Lưu Tiến Minh, cán bộ tiếp nhận hồ sơ, giải thích đúng như ghi chú trên mẫu hồ sơ:
“Nếu bác có bị kỷ luật hành chính cách đây vượt quá một năm, mà bác vẫn khai vào đây, thì tôi phải nói là bác khai không đúng”.
Có nghĩa là, nếu bà Phượng ghi hai lần bị xử lý vi phạm của mình vào hồ sơ, thì chính khi đó, hồ sơ mới trở thành không hợp lệ (vì ghi sai yêu cầu).
Như vậy là bà Phượng bị kẹt giữa UBND phường Thành Công và Ủy ban Bầu cử Thành phố Hà Nội. Không khai thì UBND phường Thành Công không chịu xác minh lý lịch. Mà khai thì Ủy ban Bầu cử Thành phố Hà Nội lại cho là hồ sơ không hợp lệ. Vậy phải ghi như thế nào bây giờ?
Đó là chưa kể, đúng ra trách nhiệm của UBND phường chỉ là xác nhận chữ ký và hộ khẩu thường trú.
Còn tất cả các phần khác trong lý lịch, cá nhân người khai phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Bà Phượng có hộ khẩu thường trú tại phường Thành Công, nhưng bà sống tạm cư tại phường Dịch Vọng từ cách đây 8 năm.
Thời gian đi biểu tình phản đối Trung Quốc cắt cáp tàu dầu khí trong vùng biển của Việt Nam, bà bị công an quận Hoàn Kiếm bắt giữ, và UBND phường Dịch Vọng ra quyết định “giáo dục” bà tại địa phương.
Điều này hoàn toàn không nằm trong phạm vi quản lý của UBND phường Thành Công.
Phối hợp gây khó khăn?
Tuy nhiên, một nguồn tin cho bà Phượng hay, cơ quan an ninh đã cung cấp hồ sơ của bà cho UBND phường Thành Công, để gây khó dễ.
Bà Phượng cố gắng giải thích với chính quyền phường sở tại:
“Nếu các hình thức kỷ luật diễn ra trong vòng 1 năm tính đến ngày làm hồ sơ, thì tôi mới phải kê khai.
“Nếu không nằm trong khung đó mà vẫn khai thì bên Ủy ban Bầu cử sẽ coi hồ sơ là không hợp lệ”.
Tuy nhiên, UBND phường vẫn dứt khoát bắt bà phải kê khai vụ bị bắt tạm giữ năm 2011 và bị ép giáo dục cải tạo năm 2013.
Cũng nguồn tin nọ cho biết, UBND phường đang bị “bên an ninh” nhắc nhở lưu ý về trường hợp bà Phượng.
Bà Phượng và những cử tri đi cùng thực sự ngạc nhiên và bức xúc trước việc an ninh can thiệp thông qua UBND phường và nhất là lại cứ cố ép bà phải khai hồ sơ không hợp lệ.
Phải chăng cơ quan an ninh đang gây khó khăn cho phường Thành Công, hay là họ đang phối hợp với phường gây khó khăn cho ứng cử viên tự do?
Bà Phượng quyết định sẽ làm đơn yêu cầu UBND phường xác nhận lý lịch cho bà và trả lời bằng văn bản, để bà còn kịp hoàn thành bộ hồ sơ ứng cử ĐBQH khóa 14.
‘Cho xin một bộ’
Cũng trong những ngày vừa qua, công an khu vực ở một số nơi trên địa bàn Hà Nội đã đến “tiếp xúc, tìm hiểu thông tin” ở vài ứng cử viên tự do khác, chẳng hạn hỏi họ đã làm hồ sơ chưa, bao giờ xong thì cho xin một bộ…
Cuộc bầu cử Quốc hội khóa 14 (nhiệm kỳ 2016-2021) sẽ diễn ra vào ngày 22/5 tới.
Đây là lần đầu tiên, bầu cử Quốc hội có một số lượng đông đảo ứng cử viên tự do (15-20 người trên cả nước, nhất là Hà Nội), và phần lớn đều tích cực sử dụng mạng xã hội Facebook để vận động tranh cử.
Bà Đặng Bích Phượng, sinh năm 1960, là một trong số rất ít gương mặt nữ ứng cử độc lập.
Chương trình hành động của bà xoay quanh vấn đề đất đai và sửa đổi luật đất đai theo hướng bảo đảm các quyền căn bản của người nông dân, như quyền có thông tin, quyền được tham vấn, hỏi ý kiến, và quyền được thương lượng, đàm phán theo giá thị trường.
Ngân hàng thế giới không cho Việt Nam vay tiếp?
Kết quả đáng thất vọng dành cho giới lãnh đạo Việt Nam vừa hiển lộ. Ngày 23/2/2016, Chủ tịch Nhóm Ngân hàng Thế giới (WB) Jim Yong Kim công du Việt Nam và đã được đến 3/4 trong “tứ trụ” tiếp đón trọng thể, từ Tổng bí thư Trọng, Chủ tịch nước Sang, và Thủ tướng Dũng. Tuy nhiên khác với những lần làm việc với Ngân nhàng thế giới trước đây thường gắn liền với một khoản cho vay tức thời hoặc cam kết cho vay, đã không hiện ra bất cứ một khoản cho vay mới nào từ phía Ngân hàng thế giới vào lần này.

Chủ tịch Nhóm Ngân hàng Thế giới, ông Jim Young Kim. Hình Internet
Mặc dù một số tờ báo nhà nước vẫn tuyên giáo về “Ngân hàng Thế giới sẽ tiếp tục hỗ trợ, ưu đãi lãi suất cho Việt Nam”, thậm chí còn giật tít “Ngân hàng thế giới cam kết cho Việt Nam vay tiền”, nhưng nếu để ý sẽ nhận ra “Chủ tịch Jim Yong Kim nhấn mạnh, để góp phần giúp Việt Nam thực hiện thành công những mục tiêu phát triển tiếp theo, WB cam kết sẽ tìm những nguồn lực khác mang tính ưu đãi để Việt Nam giải quyết những vấn đề trong phát triển kinh tế-xã hội” (bài “Công bố Báo cáo “Việt Nam 2035 – Hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ: Phù hợp với định hướng phát triển của Việt Nam trong 20 năm tới”, báo Quân Đội Nhân Dân; chữ đậm để nhấn mạnh).
Câu hỏi đặt ra là tại sao vào lần này, Ngân hàng thế giới lại tỏ ra “keo” đến thế?
Cần trở lại vài ẩn ý trong thời gian gần đây.
Ngày 5/12/2015, tại Diễn Đàn Đối Tác Phát Triển tổ chức ở Hà Nội về “kế hoạch 5 năm tới của Chính Phủ Việt Nam.”, bà Victoria Kwa Kwa – Giám đốc quốc gia ngân hàng thế giới tại Việt Nam – đã nêu ra một câu hỏi rất hóc búa dành cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: “Việt Nam sẽ lấy nguồn ở đâu để tài trợ cho chương trình phát triển đầy tham vọng trong 5 năm tới?”.
Và chính Ngân hàng thế giới, vào tháng 12/2015, đã đưa ra một trong những thuyết minh giá trị nhất đối với kế hoạch “tăng trưởng kinh tế cao hơn” của phía chính phủ: Dừng vốn vay ưu đãi cho Việt Nam.
Quyết định đột ngột trên của ngân hàng thế giới xuất hiện hầu như cùng thời điểm với Diễn Đàn Đối Tác Phát Triển.
Lý do được Ngân hàng thế giới đưa ra: Giai đoạn 2011-2015 là thời kỳ Việt Nam bước vào nước có thu nhập trung bình, vì vậy chính sách của Ngân hàng thế giới cũng như nhiều nhà tài trợ khác đối với Việt Nam có sự thay đổi. Việt Nam sẽ phải đẩy nhanh tốc độ trả nợ đối với hơn 90% các khoản vay hiện hành (tương đương 9.5 tỷ USD) và các khoản vay mới thuộc IDA 17.
Ngân hàng thế giới là một trong những chủ nợ lớn nhất của chính phủ Việt Nam: Chiếm gần 30% nợ vay song phương.
Nhưng vẫn chưa hết.
Tháng 12/2015, Ngân hàng thế giới đã làm nên một hành động chưa từng có: Yêu cầu chính phủ Việt Nam sớm ban hành Luật Lập Hội.
Yêu cầu trên lại xếp hàng đầu trong bản khuyến nghị 7 điểm của Ngân hàng thế giới đối với chính phủ Việt Nam.
“Cần thiết phải soạn thảo và thực hiện một bộ luật có hiệu lực mạnh về hội và hiệp hội. Chính điều đó sẽ giúp thực hiện chương trình nghị sự của chính phủ” – bà Kwa Kwa “gợi ý.”
Quá khó để có những khoản vay mới, trong khi ngay trước mắt của Nhà nước Việt Nam chỉ là trả nợ, trả nợ và trả nợ!
Nếu đến cuối năm 2016 mà không thể bán được trái phiếu, cũng như chưa bán được một đồng nợ xấu nào cho các đối tác nước ngoài, nhiều khả năng ngân sách Việt Nam sẽ chính thức vỡ nợ.
Không còn cách nào khác, giới lãnh đạo Việt Nam hậu đại hội 12 phải cải cách thể chế, kể cả cải cách chính trị.
Lê Dung / SBTN
Tác giả: Robert Beckhusen
Dịch giả: Phạm Ðức Duy
25-2-2016
Hoa Kỳ không còn có thể dựa vào các căn cứ không quân của mình tại Thái Bình Dương để tránh khỏi các cuộc tấn công tên lửa trong một cuộc chiến tranh với TC. Trái lại, một bài báo đăng vào năm ngoái 2015 của cơ quan RAND đã lưu ý rằng trong trường hợp xấu nhất, “nếu phòng thủ thiếu kín đáo, các cuộc tấn công lớn hơn, chính xác và kéo dài có thể sẽ đưa đến những tàn phá, thiệt hại lớn về máy bay và đóng cửa các phi trường trong một thời gian dài”.
Căn cứ không quân Hoa Kỳ Kadena ở Okinawa tại Nhật, tương đối gần đại lục, sẽ bị ảnh hưởng nặng nhất. Vào tháng 9 năm 2015, TC cũng đã công khai tiết lộ loại tên lửa đạn đạo mới DF-26, từ đại lục có thể tấn công căn cứ không quân Hoa Kỳ Andersen ở Guam, cách xa 3.000 dặm. Andersen và Kadena là hai căn cứ lớn nhất và quan trọng nhất của quân đội Hoa Kỳ ở nước ngoài.
Tinian, hòn đảo nhỏ gần đảo Guam đang từ từ trở thành một trong những căn cứ dự bị của Không quân Mỹ. Ngày 10 tháng 2 vừa qua, Tinian đã được chọn như một sân bay chuyển hướng “trong trường hợp căn cứ không quân Andersen ở Guam, hoặc các căn cứ khác ở vùng tây Thái Bình Dương bị hạn chế hoặc phong tỏa.”
Trong ngân sách dành cho năm 2017, Ngũ Giác Ðài đã yêu cầu 9 triệu đô la để mua 17,5 mẫu đất “trong việc hỗ trợ các hoạt động chuyển hướng và các đề nghị tập luyện quân sự”, báo Saipan Tribune đưa tin. Trong thời bình, Không quân Mỹ ước lượng sân bay Tinian sau khi được mở rộng sẽ chứa “lên đến 12 máy bay tiếp nhiên liệu và một đội ngũ nhân viên hỗ trợ cho các hoạt động chuyển hướng”.
Tinian hiện giờ là một nơi buồn tẻ.
Trong Thế chiến II, Sư đoàn 2 và 4 Marine của Mỹ đã chiếm hòn đảo, và sau này các phi cơ B-29 Superfortress Enola Gay và Bockscar đã cất cánh từ sân bay North Field tại Tinian và thả hai trái bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasakị Từng là một kho vũ khí trong thời chiến, hiện nay hầu hết các đường băng tại North Field bị bỏ hoang, không được sử dụng. West Field, một căn cứ không quân khác trên đảo lúc trước, hiện chỉ là một sân bay quốc tế nhỏ, ít được biết đến.
Lúc đầu Hoa Kỳ muốn dùng Saipan làm phi trường quân đội. Cách Tinian không xa, Saipan có dân số 15 lần hơn Tinian, một phi trường lớn hơn và một bến cảng. Nhưng đề xuất này đã gặp phải sự phản đối của các nhà hoạt động địa phương do các hiệu ứng về “san hô, nước sạch, giao thông vận tải địa phương và các yếu tố kinh tế xã hội đối với cộng đồng xung quanh,” báo Stars and Stripes đã đề cập.
Phe chống đối lập thậm chí bao gồm cả giới ủng hộ việc kinh doanh trong đó có cả Phòng Thương mại của Saipan. Họ lo ngại rằng phi trường rỉ sét Tinian sẽ bị bỏ rơi trong lần chi tiêu lớn của Ngũ Gia’c Ðài kỳ này. Phi trường Saipan hiện cũng đang quá tải, và dân địa phương không hài lòng về triển vọng của hàng trăm phi công bay đến cho các khóa diễn tập quân sự kéo dài tới tám tuần mỗi năm.
Có thể nói đây là một sự lập lại quá khứ. Lúc trước Hoa Kỳ đã phân tán các căn cứ không quân ở những mức độ khác nhau và ở nhiều nơi trên thế giới trong thời chiến tranh lạnh. Nhưng từ khi mối đe dọa của một cuộc tấn công tên lửa từ phía Liên Xô không còn nữa và lúc ngân sách quốc phòng sau Persian Gulf War bị cắt giảm nhiều trong thập niên ‘90, Hoa Kỳ đã chuyển sang xu hướng dùng những căn cứ rất lớn (mega-base) hoạt động theo quy mô kinh tế.
Tuy nhiên trong thời chiến mô thức phân tán các căn cứ quân sự có xác suất tồn tại nhiều hơn, Alan Vick của RAND đã nghiên cứu và kết luận trong năm 2015:
“Phân chia những phi cơ trên nhiều căn cứ khác nhau tạo ra khả năng phòng hờ, dư bị trong lãnh vực điều hành trên mặt đất và các cơ sở. Điều này giúp tăng cường sự an toàn cơ bản của các chuyến bay bằng cách cung cấp nhiều chỗ đáp hơn cho những trường hợp cần chuyển hướng khẩn cấp hoặc lúc thời tiết xấu. Nó còn làm tăng số lượng các sân bay mà địch phải theo dõi và có thể gây khó khăn hơn cho kẻ thù lúc nhắm mục tiêu (một phần vì số lượng di chuyển giữa các căn cứ của các lực lượng bạn gia tăng).”
“Ít nhất, so với mô thức tập trung, phân tán (vì làm tăng tỷ lệ đường băng và máy bay) buộc phía địch phải sử dụng nhiều năng lực đáng kể hơn để tấn công những đường băng. Mô thức phân tán cũng làm tăng chi phí xây dựng và điều hành các phi cơ trên nhiều căn cứ chính. Để giảm thiểu những chi phí này, mô thức phân tán có xu hướng dùng những căn cứ nhỏ, khiêm tốn hơn, đôi khi, có thể chỉ là những đường băng.”
Việt Nam đề nghị Campuchia giúp đào tạo lực lượng gìn giữ hòa bình

Binh sĩ Việt Nam trong cuộc diễu binh mừng Quốc khánh 2/9 tại Hà Nội.
29.02.2016
Việt Nam chính thức đề nghị Campuchia giúp đỡ đào tạo Lực lượng gìn giữ hòa bình để chuẩn bị cho công tác huấn luyện bổ sung do Liên Hiệp quốc dành cho Việt Nam.
Đại tá Lưu Đình Hiến, Phó giám đốc Trung tâm Gìn giữ hòa bình Việt Nam, đã đưa ra đề nghị kể trên trong cuộc gặp với Quốc vụ khanh Quốc phòng Campuchia, Tướng Chay Sangyun, hôm 24/2.
Theo ông Hiến, Việt Nam đang có kế hoạch cử một đơn vị công binh và quân y tham gia khóa huấn luyện của Liên Hiệp quốc. Tuy nhiên, Quân đội Việt Nam thiếu kinh nghiệm về một số quy trình của LHQ.
“Là nước láng giềng, Việt Nam đề nghị Campuchia giúp đỡ huấn luyện quân đội của mình”, Đại tá Hiến nói.
Quân đội Hoàng gia Campuchia đã phái hơn 3.000 binh sĩ ra nước ngoài để phục vụ cho Lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp quốc từ năm 2006.
Với những kinh nghiệm tích lũy được từ 10 năm nay và có mối quan hệ gần gũi, Campuchia rõ ràng là đối tác thích hợp của Việt Nam trong lĩnh vực này.
Về phía Campuchia, ông Chay Sangyun nói rằng “Quân đội Việt Nam đã giúp đỡ các lực lượng vũ trang Campuchia rất nhiều trong quá khứ, không chỉ về tinh thần mà còn cả mặt vật chất và xây dựng nguồn nhân lực”. Do vậy, hai bộ quốc phòng hai nước luôn sẵn sàng hỗ trợ lẫn nhau bất cứ khi nào.
Việt Nam và Mỹ cũng đã có những hợp tác để xây dựng lực lượng gìn giữ hòa bình của Việt Nam. Mới đây nhất, chiều 28/1, Trung tâm Gìn giữ hòa bình Việt Nam phối hợp với Văn phòng hợp tác quốc phòng Đại sứ quán Hoa Kỳ (ODC) đã tổ chức lễ bế mạc Khóa I tiếng Anh cho Lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Bệnh viện Quân y 354.
Khóa học do đội ngũ giáo viên người Mỹ giảng dạy, đặc biệt chú trọng rèn các kỹ năng nghe và nói. Ngoài ra, theo thỏa thuận song phương, trước đó trong năm 2015 Mỹ đã trợ giúp Việt Nam thành lập và xây dựng Trung tâm gìn giữ hòa bình Việt Nam. Trung tâm này sẽ giúp Việt Nam tăng cường huấn luyện, quản lý nguồn lực và hợp tác với Mỹ và các đối tác khác để đảm bảo thế giới có nhân viên gìn giữ hòa bình luôn sẵn sàng nhận nhiệm vụ khi được huy động.
Theo Khmertimeskh.com, Soha.vn

Nguyễn Bá Chổi (Danlambao) –Tại sao Dân oan đến thế là cùng! Dân nước người ta, ngay cả dân Việt Nam mình thời Thực dân Phong Kiến nói chung, thời “Mỹ Ngụy kìm kẹp cực kỳ, bóc lột hoành tráng” nói riêng, dân oan không phải là không có, nhưng còn được mở miệng kêu oan, thậm chí kêu lên tòa án, được tòa xử đúng theo luật pháp, chẳng hạn như vụ Nọc Nạn năm 1928 (1). Tức là dân oan còn có lối thoát, nếu không được giải oan, thì nỗi oan cũng ngừng lại ở mức đó. Phải đợi cho đến thời đại Hồ Chí Minh, dân Việt Nam mới… oan đến thế là cùng!….
*
Nếu Đạo Phật và Đạo Chúa dạy rằng, lấy oán báo oán, oán chồng chất, thì trong “Đạo Bác” đang hành dân trong nước Việt Nam, Dân oan kêu oan, chỉ chuốc thêm oan.
Như ai cũng đã biết, “đức tính” của oán và oan: chữ chỉ khác nhau một cái dấu sắc, ý thì cùng là “của nợ” cả, song “tinh thần” mỗi thứ “của nợ” lại khác nhau xa: một bên nên quên đi, một đàng phải đòi lại.
Đã bị oán rồi, nay lại lấy oán đi báo oán, tuy có được “đã nư” chốc lát nhưng hậu quả là chuốc thêm oán vận mãi vào thân, nên người ta có thể bỏ qua việc báo oán. Trái lại, khi bị oan, mấy ai trên đời này mà chẳng kêu oan, nhất là nỗi oan mất nhà mất đất, mất tự do, mất quyền làm người, mất đủ thứ, kể cả mất mạng trong đồn Côn an.
Xưa nay, trong cõi người ta, không ai thoát được khỏi tay “Tứ trụ”: Sinh, Lão, Bịnh, Tử. Nhưng từ sau ngày Việt Nam bị “Đạo Bác” nó hành, người dân nước này bị thêm một “trụ” nữa là Oan, thành “Ngũ trụ”: Sinh, Lão, Bệnh, Tử và Oan!
Nói dân Việt Nam bị “Ngũ trụ” như trên, thế nào cũng bị Dư luận viên “bức xúc”, phản bác ngay, rằng dân oan chứ cán bộ đảng viên đâu có bị oan. Đúng là trình độ hiểu biết về lịch sử Đảng của DLV quá kém cỏi: người tuổi tác cỡ ông bà cố tổ nội ngoại của DLV mà cũng phải gọi cậu Cu Côn bằng Bác thì không oan là cái gì; chẳng những thế, chính bản thân cha già DT cũng bị oan khi bị đám nhi đồng cỡ cháu của DLV gọi phạm thượng là “Bác Hồ”, thay vì “Cụ cố ”, “Cụ tổ”, “Cụ tỷ”… Hồ.
Trở lại chủ đề “Dân Oan đến thế là cùng”. Sở dĩ tác giả có được cái tựa “nghe quen quen” như trên, cũng là vì nhập tâm lời bác Cả Lú oánh giá kết quả Đại họa Đảng thành công rực rỡ vừa rồi, là “…Dân chủ đến thế là cùng”. Xin gửi nơi đây một phát cảm ơn bác Lú gợi hứng thú… Dân Oan đến thế là cùng!
Tại sao Dân oan đến thế là cùng! Dân nước người ta, ngay cả dân Việt Nam mình thời Thực dân Phong Kiến nói chung, thời “Mỹ Ngụy kìm kẹp cực kỳ, bóc lột hoành tráng” nói riêng, dân oan không phải là không có, nhưng còn được mở miệng kêu oan, thậm chí kêu lên tòa án, được tòa xử đúng theo luật pháp, chẳng hạn như vụ Nọc Nạn năm 1928 (1). Tức là dân oan còn có lối thoát, nếu không được giải oan, thì nỗi oan cũng ngừng lại ở mức đó.
Phải đợi cho đến thời đại Hồ Chí Minh, dân Việt Nam mới… oan đến thế là cùng! Vì oan mà không được mở miệng kêu oan. Nếu ai can đảm mở miệng kêu oan hoặc chống lại bọn cướp trắng ngang xương tài sản mình là bị tòa án XHCN buộc tội “chống nhân viên nhà nước thi hành công vụ”. hoặc khi bị bắt oan vào đồn Côn an, không chịu nhận tội vu oan là bị CA“cho” chết oan luôn tại chỗ, còn bị bồi thêm một lần oan nữa là chết vì tự vận hoặc đột tử do bệnh nan y.
Mà nào đâu phải dân oan chỉ lác đác đây đó dăm ba người lẻ tẻ, dân oan nổi lên đầy dẫy ba miền đất nước. Hình ảnh mới nhất là Ngày 27 Tháng 2 vừa qua, dân oan cả nước xuống đường kêu oan, nhưng họ đã bị nhà nước tự cho là “của dân do dân vì dân” CSVN đã đối xử với đồng bào mình như thế nào, báo đài đã nói viết đầy dẫy trên mạng lưới toàn cầu…xin được phép miễn kể ra đây .
Thật là không dân nào bằng dân Việt trong “Thời đại Hồ Chí Minh”, Đảng quang vinh muôn năm là nhờ… Dân Oan đến thế là cùng!
Ghi chú:
(1) https://tiengnoidanchu.wordpress.com/2012/02/21/t%E1%BB%AB-v
Nhớ đến Bà Ngô Đình Nhu
Luật sư Trương Phú Thứ
Bà Ngô Đình Nhu
Mùa Phục Sinh lại đến. Chúa sống lại trong niềm hoan lạc của con cái Chúa và vì Chúa sống lại cũng để cho chúng con được sống lại trong vinh quang. Buổi sáng lễ Phục Sinh năm 2011, Bà Ngô Đình Nhu đã trút hơi thở cuối cùng tại một bệnh viện ở La Mã trong khi mọi người đang rộn ràng mừng lễ Chúa Phục Sinh. Bà đã chết đi trong ánh sáng của Chúa Phục Sinh. Bà đã âm thầm và lặng lẽ trên đường đi về Nhà Cha như mỗi buổi sáng bà lủi thủi đơn côi đi dâng thánh lễ bắt đầu cho một ngày mới. Bà đã sống lại trong niềm tin yêu vô cùng nơi Thiên Chúa là nơi bà đã ngày đêm cậy trông và nương tựa trong những tháng ngày đau khổ nơi trần gian.
.Rất nhiều người đặt câu hỏi rằng trước khi lìa trần bà Ngô Đình Nhu có trăng trối qua tiếng nói hay bút tích không. Câu trả lời là có và đây là lời trăng trối ngắn gọn được bà viết bằng tiếng Pháp:
.“Tôi Trần Lệ Xuân, Dân biểu lập Hiến Pháp, Dân biểu quốc Hội, Chủ tịch Phong trào Phụ Nữ Liên Đới, Vâng lệnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm,với sự đồng ý của chồng tôi, ông cố vấn Ngô Đình Nhu, rời Viêt Nam sang các nước Tây Phuơng tranh đấu cho sự thật và độc lập của đất nước tôi, trong lúc tôi rời đất nước các thế lực Tây Phương đã dùng nhóm phản loạn, phản bội lại chính quyền Dân Chủ và Độc Lập Việt Nam Cộng Hoà, đã sát hại Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Gia tộc của Tổng Thống và chồng tôi, sứ mệnh của tôi càng trở nên khó khăn hơn, khi con gái của tôi Ngô Đình Lệ Thủy bị sát hại vì muốn nói lên tiếng nói sự thật, sứ mệnh của tôi chưa hoàn tất, tôi vẫn là con dân Việt Nam Cộng Hoà, vẫn là Sứ Giả của nước Việt đến hơi thở cuối cùng với Sự Vụ Lệnh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm… “
.Bà Ngô Đình Nhu được Tổng Thống Ngô Đình Diệm trao phó một sứ vụ vô cùng khó khăn và nặng nề. Thân nhi nữ cô độc gánh vác sứ vụ đội đá vá trời chống đỡ lại những mưu mô và kế hoạch thâm độc của Hoa Kỳ và các tổ chức quốc tế được sự thông đồng của Mỹ để triệt hạ chính thể Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà. Bà đã vẫy vùng trong một vũng lầy của những gian manh xảo quyệt của các hệ thống truyền thông quốc tế và ác tâm của một đường lối vô nhân đạo mà chánh quyền Hoa Kỳ đương thời chỉ với một mục đích phục vụ quyền lợi của một nhóm tư bản đứng sau toà Bạch Cung đã tàn nhẫn xuống tay đưa cả dân tộc Việt Nam vào vòng điêu linh thống khổ. Tổng Thống Ngô Đình Diệm là người đặt quyền lợi và danh dự quốc gia hơn cả mạng sống mình đã bị thảm sát vô cùng dã man. Bà Ngô Đình Nhu cũng bị tắt tiếng sau cái chết đau thương của vị nguyên thủ quốc gia.
.Bà Nhu được giao phó nhiệm vụ “tranh đấu cho sự thật và độc lập của đất nước”. Bà lên đường với một sự vụ lệnh của Tổng thống và bà đã vô cùng dũng mãnh quyết liệt chống chọi với bọn truyền thông gian manh quốc tế và những xảo quyệt của chính quyền Hoa Kỳ. Mùa Thu năm 1963 cả thế giới đã kinh ngạc nghe và nhìn bà Nhu mạt sát và lên án những người được gọi là bạn, là đồng minh Hoa Kỳ ngay tại một địa điểm chỉ cách Toà Bạch Cung mấy con đường. Nhiều người cho đó là một hành vi thiếu khôn ngoan nhưng có ai thấu hiểu đó chỉ là những tiếng kêu tuyệt vọng của một người lương thiện trước khi bị bọn gian manh thổ phỉ hành quyết!
.Đọc những dòng chữ trăng trối của bà Nhu thì không ai có thể phủ nhận được tâm huyết của bà với non sông đất nước. Năm trên giường bệnh trong giờ phút lâm chung nhưng bà không nghĩ đến những oan cừu khổ nạn mà bà và cả gia đình bà phải thống khổ chịu đựng. Bà không thù oán những người đã cầm súng bắn vào chồng bà bởi vì bà nói “đó là một bọn ngu dốt” không đáng đếm xỉa đến. Nhưng hơi thở cuối cùng của bà vẫn trông về quê hương yêu dấu mà bà đã can đảm dự phần trong công trình xây dựng một quốc gia thanh bình thịnh vượng,toàn dân sống trong tự do no ấm. Bà tiếc nuối vì sứ mạng đã bị trù dập và không hoàn thành nhiệm vụ được giao phó. Bà vẫn tự gánh vác trọng trách đó cho đến hơi thở cuối cùng trong đơn côi lặng lẽ cho dù đó chỉ là những ước vọng của những giây phút tàn hơi. Một “lãnh tụ chánh trị” khoe đã gặp bà Nhu và nghe than thở “thời của tôi đã hết rồi”. Đây cũng chỉ là một tưởng tượng nghèo nàn của vị “lãnh tụ” này mà thôi. Bởi vì những giây phút cuối đời thì bà Nhu khẳng định: vẫn là Sứ Giả của nước Việt đến hơi thở cuôi cùng với Sự Vụ Lệnh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm…
.Bài viết này đến tay độc gỉả nhân ngày giỗ thứ năm bà Ngô Đình Nhu. Từ sau ngày Đệ Nhất VNCH sụp đổ, bà Nhu sống đơn độc nơi đất khách quê người gần như hoàn toàn cách biệt với những sinh hoạt chộn rộn của một con người. Người yêu kẻ ghét với những lời khen tiếng chê đã không lọt qua bức tường căn phòng nhỏ hẹp của một người muốn rũ bỏ tất cả những oan cừu trần gian. Bà sống khổ hạnh như một nữ tu ngong ngóng trông chờ giây phút “đoàn tụ” với ông chồng mà bà hết lòng yêu thương và kính phục.
.Gần đây có một quyển sách viết về bà Nhu bằng tiếng Anh với tựa đề FINDING THE DRAGON LADY của tác giả Monique Demery và vừa được dịch sang tiếng Việt Nam với một loại chữ nghĩa văn thể rất kệch cỡm : MADAM NHU TRẦN LỆ XUÂN QUYỀN LỰC BÀ RỒNG. Tác giả Demery đã có một thời gian “học tập” ở Hà Nội, nói tiếng Việt thành thạo giọng đặc Hà Nội. Tôi có xem qua quyển sách này, không có gì gọi là tư liệu hay lịch sử. Từ đầu đến cuối chỉ là những sao chép vụng về chẳng có một giá trị nào dù rất nhỏ nhoi. Vào Google đánh chữ Bà Ngô Đình Nhu thì có đến gần 4 triệu tài liệu và bài viết nói về bà Nhu được đăng tải rải rác trên nhiều mạng lưới vi tính từ nhiều quan điểm khác nhau đã được bà Demery vơ vét làm của riêng mình rồi nặn óc sáng chế ra một cái tựa sách nghe ra cũng độc mồm độc miệng. Bà Demery viết và đọc tiếng Việt Nam thành thạo nên đa số những cái gọi là “tài liệu hiếm qúy” trong quyển sách này đã từ lâu xuất hiện trên các mạng lưới vi tính Việt ngữ. Tựa đề của cuốn sách trong bản dịch tiếng Việt với mấy chữ QUYỀN LỰC BÀ RỒNG có thể làm người đọc hình dung ra hình ảnh của một “bà rồng” mặt sắt đen xì dữ tợn hung ác nhưng trong cả cuốn sách chỉ toàn là những nhai đi nhai lại nhàm chán trên các mạng lưới vi tính Việt ngữ chứ chẳng thấy “bà rồng” đâu.
Tác giả Demery sẽ biện minh như thế nào khi gán ghép cho “bà rồng” một giai thoại như sau:
When her brother-in-law, President Ngo Dinh Diem, had once questioned the modesty of Madame Nhu’s slim-fitting tunics, referring to their décolletage, she is said to have silenced him with a withering reply: “It’s not your neck that sticks out, it’s mine. So shut up” (P.18)
Một dịch giả dễ tính có thể chuyển dịch những dòng chữ này một cách giản lược như sau:
Tổng Thống Ngô Đình Diệm tỏ vẻ không được hài lòng vì cái áo dài hở cổ của bà Nhu. Nhưng bà em dâu đã xấc xược trả lời ông anh chồng: “Cái cổ tôi hở ra chứ không phải cổ của ông. Vậy thì ông câm mồm đi.”
Đọc những dòng chữ bặm trợn này thì ai cũng có thể lượng giá được khả năng viết lách của tác giả và giá trị của quyển sách.
Đã rất lâu tôi có xem một phim tài liệu của hai nhà nữ nhân chủng học người Mỹ làm công việc khám phá một bộ lạc gần như tuyệt chủng ở trong rừng rậm Phi châu và chưa hề có bất cứ một tiếp xúc dưới bất cứ hình thức nào với thế giới bên ngoài. Hai nhà nữ nhân chủng học này đã lặn lội trong những điều kiện vô cùng gian khổ và đã đến được nơi muốn đến. Hai cô gái xinh đẹp này đã sống với hai người đàn ông hiếm hoi còn lại của bộ tộc này như vợ chồng trong thời gian một năm. Họ học tiếng nói cũng như ăn uống sinh hoạt như một thành viên của bộ tộc và như là những người vợ của hai người đàn ông còn lại của bộ tộc trước ngày bị hoàn toàn diệt chủng. Hai cô gái trở về Mỹ đã cống hiến cho thế giới một tài liệu phong phú và những thước phim chân thực sống động vô cùng qúy giá. Họ đã tự mang cả thân mình ra để làm một công việc mà họ say mê và bằng mọi cách phải đạt đến mục tiêu tuy rằng phương cách làm việc của họ không đáng được khuyến khích và đề cao.
.Tác giả Demery cũng chỉ nghe và biết đến bà Nhu qua báo chí và những bài viết trên các mạng lươí vi tính mà thôi. Trong cuốn sách, bà Demery xác nhận có hẹn gặp bà Nhu hai lần nhưng cả hai lần bà Nhu đều thất hẹn. Mặc dù bà Nhu sống đời ẩn dật tự giam hãm mình trong một căn phòng nhỏ nhưng bà Nhu cũng có những chọn lựa và suy tính trong các giao tiếp rất hiếm hoi. Bà Demery hẹn gặp bà Nhu ở nhà thờ Saint Leon là nơi bà Nhu đi lễ hàng ngày. Thế nhưng đến ngày giờ hẹn thì bà Nhu lại không đến. Lần sau thì bà Nhu hẹn gặp tại nhà, bà Demery đến đúng hẹn nhưng bà Nhu lại không mở cửa. Bà Nhu cũng chẳng mặn mà gì với những gặp gỡ này và cố tình hủy bỏ cuộc hẹn.
Vậy thì ngoài những sao chép trên các mạng lưới vi tính và chưa một lần được gặp bà Nhu thì bà Demery lấy gì và biết gì để viết về cả một cuộc đời cay đắng nghiệt ngã của bà Nhu.
.Rất nhiều người có chung một quan điểm là nếu bà Nhu có mặt tại dinh Gia Long vào ngày 1 tháng 11 năm 1963 thì cục diện của vụ phản loạn chắc chắn đã không xẩy ra như vậy. Là thân nữ nhi nhưng bà Nhu lại có một dũng chí và rất quyết liệt trong những tình huống dầu sôi lửa bỏng. Thưở sinh thời, Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ nhiều lần tiếc nuối nói nếu như bà Nhu không đi ra nước ngoài thì chắc là vụ phản loạn đã bị dẹp tắt ngay từ những tiếng súng lạch cạch của mấy chú tân binh quân dịch từ trung tâm huấn luyện Quang Trung. Ông Duệ nói rằng bà Nhu rất kính trọng và phải nói là rất sợ ông anh chồng Tổng Thống nhưng lúc cần phải lên tiếng thì bà cũng rất mạnh bạo. Nhiều người truyền miệng câu chuyện bà Nhu bị Tổng Thống Ngô Đình Diệm giận dữ ném cái gạt tàn thuốc lá vào người thì đó cũng chỉ là một bịa đặt nhảm nhí. Nghị sĩ Lê Châu Lộc nguyên là tùy viên của Tổng Thống Diệm xác nhận là bà Nhu cũng như tất cả những người khác muốn gặp Tổng Thống thì đều phải đi qua một lịch trình xếp đặt của Chánh văn phòng Phủ Tổng Thống. Rất ít khi bà Nhu xin gặp Tổng Thống và những lần diện kiến ngắn ngủi dăm ba phút đó thì bà Nhu ăn mặc rất chỉnh tề, cánh cửa văn phòng Tổng Thống mở rộng và bên ngoài là các sĩ quan tùy viên và nhân viên văn phòng. Nếu bà Nhu là một loại đàn bà đanh quánh hỗn láo thì chắc hẳn là thiên hạ sẽ được nghe và nhìn thấy những hoạt cảnh ồn ào chợ búa trong những ngày tháng nơi xứ lạ quê người.
.Tổng Thống Diệm đặc biệt qúy mến bà Nhu vì đã mạnh bạo hoàn thành bộ luật gia đình và nhất là bà Nhu đã sinh ra hai người con trai để nối tiếp dòng họ Ngô Đình. Ông Ngô Đình Luyện có hai đời vợ nhưng cũng chỉ có một binh đội đến mười cô con gái, mãi đến người con út mới được một mống con trai. Con trai lớn của bà Nhu là Ngô Đình Trác lấy vợ người Ý và bây giờ cũng có cháu gọi là ông nội rồi. Người con trai nhỏ là Ngô Đình Quỳnh làm việc ở nước Bỉ và không lập gia đình cũng đã trên sáu mươi tuổi. Từ sau năm 1963, ông Ngô Đình Trác sống ở Roma và chưa một lần đi ra khỏi nước Ý. Câu chuyện đồn thổi “bà Nhu cho ông Trác sang Mỹ để xin lỗi” người này người kia cũng chỉ là một bịa đặt láo khoét mà thôi.
.Các tài liệu về vụ phản loạn 1 tháng 11 năm 1963 do Hoa Kỳ điều động đã được hoàn toàn giải mã. Đám quân nhân và các tổ chức liên hệ chỉ thi hành những mệnh lệnh từ một bọn kiêu binh tác oai tác quái lợi dụng sự nhu nhược của một ông tổng thống tồi tệ nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Bà Nhu biết và hiểu rõ phương cách điều hành của các cơ chế chánh trị Mỹ. Tất cả đều bị sai khiến bởi các thế lực đứng sau toà Bạch Cung. Nói một cách rõ ràng là những thế lực đó được điều hành và nhận chỉ thị từ những nhóm Do Thái có thực lực nắm giữ huyết mạch chánh trị và tài chánh của nước Mỹ. Cũng chính những thế lực này, qua bàn tay của Henry Kissinger đã dâng hiến nước Việt Nam Cộng Hoà cho khối cộng sản quốc tế..
Khi nói về cái chết thảm thương của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn thì bà Nhu cũng chỉ nhỏ nhẹ nói “ Tổng thống của nó mà nó còn giết thì tổng thống của mình nó coi ra gì”. Chữ “nó” đây bà Nhu cố ý nói về các thế lực Do Thái trong chính trường Hoa Kỳ. Tổng Thống Kennedy đã bị bắn chết trước mắt hàng triệu dân Mỹ mà cho đến nay hơn một nửa thế kỷ sau vẫn không một cá nhân hay tổ chức nào dám phanh phui ra tên tuổi của đứa đã cầm súng bắn vào đầu Tổng Thống Kennedy. Những thế lực này mạnh đến nỗi ngay khi ông Obama được đảng Dân Chủ đề cử cũng đã vội vàng bay sang Do Thái “trình diện”. Trong suốt gần hai nhiệm kỳ tổng thống, ông Obama chưa hề có một lời nói hay hành động nào làm mích lòng Do Thái. Đôi khi cũng có tiếng bấc tiếng chì nhưng đó chỉ là những trình diễn có xếp đặt mà thôi. Bà Nhu rất căm thù những nhóm quyền lực Do Thái đứng sau toà Bạch Ốc. Cũng chính bọn này đã mua chuộc được hầu như tất cả giới truyền thông quốc tế để cùng toa rập với nhau triệt hạ Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà rồi sau đó dâng hiến cho cộng sản quốc tế. Khi nói về cái chết của cô trưởng nữ Ngô Đình Lệ Thủy, bà Nhu vẫn có những câu hỏi về vai trò của tổ chức tình báo Do Thái trong tai nạn giao thông thảm khốc này.
Ai cũng biết là từ ngày tủi nhục vất vưởng nơi quê người, bà Nhu sống rất nghèo khổ, nhiều năm sống trong cơ hàn.
Trong một bài viết, tôi có đề cập đến nhà bà Nhu là một đơn vị gia cư trong một chung cư bề thế ở thủ đô Paris. Địa chỉ của chung cư đó là số 24 Rue du Suffrene, Paris 15. Tôi viết một cách lập lững rằng một tỷ phú người Ý vì thương cảm nên đã cho bà Nhu một số tiền kếch xù để mua một lúc hai đơn vị gia cư, một để ở và cái khác cho thuê lấy tiền sinh sống. Sự thật không phải như vậy. Vị tỷ phú này có lòng từ tâm và rất thương cảm hoàn cảnh của bà Nhu. Tuy nhiên vị tỷ phú này biết sử dụng và đầu tư đồng tiền một cách rất khôn ngoan bên cạnh lòng nhân ái cứu giúp người hoạn nạn. Bà Nhu được vị tỷ phú này nhờ mua một lúc hai đơn vị gia cư của một chung cư ở vị trí rất đẹp ở thủ đô Paris bởi vì bà Nhu vẫn còn những liên lạc với một số chính khách Pháp và có thể nhờ cậy các vị này trong việc thương thảo mua bán. Bà Nhu đã nhờ một vị cựu bộ trưởng thời chính phủ De Gaulle giúp mua hai đơn vị gia cư. Không ai biết những cam kết và hợp đồng giữa bà Nhu và vị tỷ phú người Ý như thế nào nhưng ai cũng biết là lúc còn sống thì bà Nhu sinh sống ở một đơn vị và cái khác cho một nhà ngoại giao Nhật Bản thuê mướn để có tiền chi tiêu. Chỉ một thời gian ngắn sau khi bà Nhu từ trần thì các con của vị tỷ phú này đã tiến hành thủ tục pháp lý lấy lại hai đơn vị gia cư này. Việc chuyển giao đã tiến hành một cách âm thầm và êm đẹp. Tất nhiên trị giá của hai đơn vị gia cư này đã cao hơn nhiều lần lúc mua.
Trong một lần tôi đang nói chuyện với bà Nhu thì chuông điện thoại reo, bà Nhu đứng lên cầm ống điện thoại nhờ người gọi lấy dùm cái chụp đèn ở ngoài tiệm về. Bà Nhu nói với tôi là rất thích cái chụp đèn bằng vải này nhưng vì quá cũ nên có chỗ bị rách. Bà nhờ người mang ra tiệm sửa lại nhưng tiền công sửa quá đắt, đến cả gần một trăm euros nên thôi không sửa nữa. Nếu bà Nhu có mười bẩy tỷ Mỹ kim như một vài “sử liệu” tiết lộ thì đâu có phải tính toán đắn đo gì với số tiền công sửa cái chụp đèn này.
Sau ngày phản loạn 1-11-1963, để lấy điểm với một vài phe nhóm và bọn tay sai nằm vùng của cộng sản Bắc Việt thì những người nắm quyền đương thời cũng trình diễn ra những cái gọi là “ủy ban điều tra tội ác và tài sản nhà Ngô”. Cuối cùng thì những ủy ban này với bao nhiêu hận thù và điêu ngoa gian dối sau khi vắt cạn kiệt ác tâm cũng đã chế tạo ra được hai cái “sử liệu” rất “hoành tráng” để đưa vào “chính sử”. Thứ nhất là “bà Nhu có mười bẩy tỷ Mỹ kim, hai thương xá ở Paris và một đồn điền ở Ba Tây”. Thứ nhì là “Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã tàn sát ba trăm ngàn Phật tử ở miền Trung”. Các “sử gia chân chính” đã xác nhận như vậy thì chắc hẳn phải là “chính sử”.!!!

.Chung cư 24 Rue du Suffren Paris 15
Nói và viết về bà Ngô Đình Nhu thì toàn là những chuyện buồn phiền đau khổ. Vậy xin kể một chuyện vui vui. Một thanh niên người Ý bảnh trai con nhà gia thế cùng cha mẹ thưa chuyện với bà Nhu xin cưới cô con gái út Ngô Đình Lệ Quyên, tiến sĩ Luật Khoa Roma. Trong lúc vui vẻ chuyện trò thì bà Nhu nói với chàng rể tương lai rằng mỗi tuần lễ bà chỉ ăn hai hay ba lần thôi,nếu anh có thể ăn uống được như vậy thì tôi sẽ gả út cưng cho. Anh chàng này vẫn có lòng kính phục bà mẹ vợ tương lai nên xin hai tháng để thử thách. Sau hai tháng nhịn ăn nhịn uống, rồi cũng quen dần. Bởi vậy anh chàng gầy đét như con mắm khô, chỉ thấy da bọc xương. Cho đến bây giờ, mặc dầu cô vợ yêu qúy đã chết vì một tai nạn xe cộ nhưng anh này vẫn giữ thói quen ăn uống như vậy.
.Con người ta ai rồi cũng sẽ trở về cát bụi. Nhớ bà Ngô Đình Nhu với hình ảnh của một người phụ nữ xinh đẹp, tài giỏi, đức hạnh và hết lòng vì quê hương đất nước. Nguyện cầu hương hồn bà an vui nơi cõi Hằng Sống…
25/02/2016
Luật sư Trương Phú Thứ
nguồn : Uông Đại Bằng
ĐTGM Ngô Quang Kiệt
Mùa Chay là mùa sám hối. Sám hối là đổi mới tâm hồn. Muốn đổi mới tâm hồn, phải đổi mới cách nhìn về con người và cuộc đời, về bản thân và tha nhân. Hôm nay, Chúa Giêsu dạy ta những cách nhìn thời cuộc và biến cố theo tinh thần của Người.
Thông thường, trước một biến cố, ta dễ có cái nhìn chính trị. Hôm nay, người ta thuật lại việc Philatô giết những người Do Thái trong Đền Thờ. Thời ấy, đế quốc Rôma đang thống trị nước Do Thái. Philatô là viên tổng trấn của Rôma. Tường thuật biến cố đau thương này, người ta mong Chúa Giêsu có cái nhìn chính trị, dấn thân vào chính trị. Người ta mong Chúa Giêsu kết án Philatô. Không bàn chính trị, không làm chính trị, cho dù sau này Chúa Giêsu vẫn bị kết án vì một tội chính trị. Không kết án Philatô, dù sau này chính Người bị viên tổng trấn này kết án.
Trước mọi biến cố, Chúa Giêsu muốn ta có một cái nhìn tôn giáo, vượt lên trên lĩnh vực chính trị. Từ một câu hỏi thuộc bình diện chính trị, Chúa Giêsu đã đưa ra một giải đáp thuộc bình diện tôn giáo. Từ một biến cố gây xôn xao dư luận, Chúa Giêsu mời gọi ta hãy ăn năn sám hối. Từ cái chết của thể xác, Chúa Giêsu hướng suy nghĩ ta tới cái chết của linh hồn: “Các ông tưởng mấy người Galilê đó bị như vậy là vì họ tội lỗi hơn những người Galilê khác sao? Tôi nói cho các ông biết, không phải thế đâu; nhưng nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy”.
Đối với người khác, ta dễ có cái nhìn kết án. Khi gặp một người mù từ thuở mới sinh, người ta hỏi Chúa Giêsu: “Đây là do tội nó hay tội của cha mẹ nó?”. Gặp người phụ nữ phạm tội ngoại tình, người ta muốn kết án chị. Nga có thói quen cho rằng thành công là một ân huệ Chúa thưởng cho người đạo đức, còn tai hoạ là hình phạt Chúa dành cho kẻ tội lỗi. Hôm nay, chứng kiến những nạn nhân bị thiệt mạng, những người tường thuật đều nghĩ rằng những nạn nhân ấy chết vì họ tội lỗi, còn tôi vô sự, điều đó chứng tỏ tôi vô tội. Chúa Giêsu lên tiếng cảnh báo họ: Các ông cũng là kẻ tội lỗi. Nếu các ông không ăn năn hối cải, các ông sẽ chết thảm khốc hơn những nạn nhân kia nữa. Chúa Giêsu dạy ta có cái nhìn bao dung. Nếu có phải xét đoán, hãy xét mình trước khi xét người. Nếu có phải lên án, hãy lên án chính bản thân mình trước khi lên án người khác: “Hãy lấy cái đà ra khỏi mắt ngươi trước, rồi ngươi sẽ thấy rõ để lấy cái rác ra khỏi mắt anh em”. “Ai trong các ông vô tội hãy ném đá chị này trước đi”.
Sau cùng, ta thường có cái nhìn ảo tưởng. Ta xây dựng những chương trình to lớn, những tham vọng đổi mới xã hội. Chúa Giêsu dạy ta hãy có cái nhìn thực tế: Đừng ảo tưởng với những chương trình to tát, lấp biển vá trời. Hãy bắt đầu bằng những việc nhỏ bé. Đừng có ảo tưởng đổi mới xã hội, cải tạo thế giới. Trước hết, hãy đổi mới chính mình, cải tạo bản thân mình. Tục ngữ Trung quốc có câu: Nếu mỗi người trông hoa trước cửa nhà mình, cả thế giới sẽ biến thành một vườn hoa đẹp. Đổi mới chính mình đó là góp phần vào đổi mới thế giới.
Với những bài học ấy, Chúa Giêsu hướng ánh mắt ta lên cao, vượt thoát lĩnh vực tự nhiên để vươn tới lĩnh vực siêu nhiên. Với những bài học ấy, Chúa Giêsu hướng cái nhìn của ta xuyên qua những lớp bì phủ bên ngoài để soi chiếu vào chiều sâu nội tâm. Với những bài học ấy, Chúa Giêsu hướng cái nhìn của ta ra khỏi những ảo tưởng, đối diện với thực tế bản thân để trước mỗi biến cố ta tự xét và đổi mới chính mình.
Lạy Chúa, xin đổi mới trái tim con. Amen.
KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG