Thịt chế biến có thể gây ung thư

Thịt chế biến có thể gây ung thư

Theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO, tiêu thụ thịt chế biến như jambon, xúc xích, thịt muối, và hot dog có thể gây ung thư.

26.10.2015

Tiêu thụ thịt chế biến như jambon, xúc xích, thịt muối, và hot dog có thể gây ung thư, theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới.

WHO cũng cho biết thêm rằng các loại thịt đỏ cũng có thể gây ra ung thư.

Báo cáo của Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế thuộc WHO đã đánh giá hơn 800 công trình nghiên cứu từ nhiều châu lục về mối tương quan giữa thịt và ung thư.

Các chuyên gia phát hiện rằng tiêu thụ 50gr thịt chế biến mỗi ngày sẽ làm tăng khả năng có thể bị ung thư ruột kết và ung thư trực tràng lên 18%. Cho nên, cơ quan này đã liệt kê đây là ‘chất gây ung thư cho con người’, cùng loại với các tác nhân gây ung thư như chất amiang và hút thuốc lá.

Thịt chế biến có thể bao gồm xúc xích, hot dog, paté, thịt sấy khô như khô bò hay thịt phơi khô của Nam Phi.

Thịt chế biến là thịt qua quá trình xử lý bằng nhiều cách như ướp muối, sấy, lên men, xông khói hoặc bất kỳ quá trình nào làm gia tăng hương vị hoặc cải thiện tính bảo quản.

Thịt đỏ được WHO phân loại ‘có thể gây ung thư cho con người’.

Cuộc đánh giá cho thấy có ‘bằng chứng mạnh mẽ hỗ trợ một hiệu ứng gây ung thư’ khi tiêu thụ thịt đỏ, chủ yếu  là ung thư đại tràng, nhưng ngoài ra còn có ung thư tuyến tụy và tuyến tiền liệt.

Giám đốc Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế thuộc WHO, ông Christopher Wild, nói ‘Những phát hiện này càng hỗ trợ thêm các khuyến nghị y tế công cộng hiện nay trong việc giảm ăn thịt’.

Bác bỏ báo cáo của WHO, Viện Thịt Bắc Mỹ nói hàng chục nghiên cứu cho thấy không có mối liên quan nào giữa bệnh ung thư với các loại thịt và rằng các cuộc nghiên cứu khác cho thấy những lợi ích của việc ăn thịt đối với một chế độ ăn uống lành mạnh.

Chủ tịch kiêm giám đốc điều hành của Viện, ông Barry Carpenter, nói ‘Bằng chứng khoa học cho thấy ung thư là một căn bệnh phức tạp không phải do các loại thực phẩm đơn lẻ gây ra và rằng một chế độ ăn uống cân bằng và  lối sống lành mạnh là hết sức cần thiết để có sức khỏe tốt.’

Giáo sư TQ: Đàn ông nghèo nên cho đàn ông ế ‘dùng chung vợ’

Giáo sư TQ: Đàn ông nghèo nên cho đàn ông ế ‘dùng chung vợ’

VOA

Trong những năm gần đây, hàng ngàn cô dâu được đưa vào Trung Quốc mỗi năm từ các nước láng giềng, như Thái Lan, Campuchia, Lào, Việt Nam, Miến Điện và Bắc Triều Tiên để thỏa mãn nhu cầu của những nông dân ế vợ.

Trong những năm gần đây, hàng ngàn cô dâu được đưa vào Trung Quốc mỗi năm từ các nước láng giềng, như Thái Lan, Campuchia, Lào, Việt Nam, Miến Điện và Bắc Triều Tiên để thỏa mãn nhu cầu của những nông dân ế vợ.

26.10.2015

Một vị giáo sư kinh tế học ở Trung Quốc mới đây đã gây một vụ tranh luận lớn trên mạng sau khi ông đề nghị những người chồng nghèo nên để cho những người đàn ông ế vợ “dùng chung” vợ của mình. Thông tín viên Saibal Dasgupta của đài VOA tường thuật từ Bắc Kinh.

Ông Tạ Tác Thi, giáo sư kinh tế của Đại học Kinh tế Tài chánh Chiết Giang, cho rằng việc dùng chung vợ có thể là một giải pháp cho tình trạng mất cân bằng giới tính nghiêm trọng ở Trung Quốc.

Các dữ liệu thống kê cho thấy sự mất cân bằng này làm cho khoảng 30 triệu đàn ông Trung Quốc bị ế vợ.

Giáo sư Tạ nói với đài VOA “Nếu chúng ta cứ bám lấy nguyên tắc đạo đức một vợ một chồng, chúng ta làm cho 30 triệu người đàn ông phải sống một cuộc sống khôn khổ, không vợ không con.”

Xúc phạm, vô đạo đức

Hàng vạn người dùng internet đã bày tỏ sự chống đối kịch liệt đối với đề nghị đó, và một số người cho rằng ý tưởng đó xúc phạm phẩm giá phụ nữ và vô đạo đức.

Ông Dư Bảo Vũ, một nhà giáo ở Bắc Kinh, nói “Ông giáo sư này xem phụ nữ như một món hàng hoặc một tài sản mà người chồng có thể chia sẻ hoặc mang đi cho thuê. Tôi ngạc nhiên vì sự táo tợn của ông ấy khi công khai nói ra những điều như vậy.”

Một số người sử dụng trang mạng xã hội Weibo nói rằng nếu giáo sư Tạ Tác Thi nghĩ rằng ý tưởng đó là “một mô hình kinh tế khả thi” thì ông nên đi đầu bằng cách mang vợ ông cho người khác “dùng chung”. Một số người khác đe dọa sẽ thực hiện những hành động kịch liệt hơn, như không theo học tại những trường mà ông Tạ dạy. Một số người cho biết họ muốn ném đất vào nhà ông tạ cho hả giận.

Giáo sư Tạ Tác Thi nêu ra rằng những người đàn ông ế vợ phần lớn là những người có thu nhập thấp. Ông nói qua việc lấy chung một người vợ những người này có thể giải quyết vấn đề ế vợ và giảm bớt chi phí sinh hoạt gia đình.

Một người sử dụng Weibo nói “Hại nhiều hơn lợi. Có những cái giá phải trả cho việc giao dịch và vấn đề pháp lý vì đa phu là bất hợp pháp. Còn có những vấn đề khác nữa, như vấn đề ứng phó với gia tộc của hai ông chồng và vấn đề thừa kế tài sản.”

Mất cân bằng giới tính

Chính sách một con áp dụng trong nhiều thập niên qua cộng với văn hoá trọng nam khinh nữ ở Trung Quốc đã làm cho nhiều gia đình quyết định phá thai khi biết được thai nhi đó là thai nhi nữ.

Chính sách một con áp dụng trong nhiều thập niên qua cộng với văn hoá trọng nam khinh nữ ở Trung Quốc đã làm cho nhiều gia đình quyết định phá thai khi biết được thai nhi đó là thai nhi nữ.

Chính sách một con áp dụng trong nhiều thập niên qua cộng với văn hoá trọng nam khinh nữ ở Trung Quốc đã làm cho nhiều gia đình quyết định phá thai khi biết được thai nhi đó là thai nhi nữ. Tệ nạn này tạo ra tình trạng nữ thiếu nam thừa và khiến cho nhiều đàn ông Trung Quốc kiếm không ra vợ.

Trong những năm gần đây, hàng ngàn cô dâu được đưa vào Trung Quốc mỗi năm từ các nước láng giềng, như Thái Lan, Campuchia, Lào, Việt Nam, Miến Điện và Bắc Triều Tiên để thỏa mãn nhu cầu của những nông dân ế vợ.

Giáo sư Tạ Tác Thi cho rằng nhập khẩu cô dâu không giải quyết được vấn đề. Ông nói “Nhập khẩu cô dâu từ các nước láng giềng chỉ chuyển mâu thuẫn ra bên ngoài mà không giải quyết được vấn đề.”

Ông không nao núng trước sự phẫn nộ mà nhiều người cảm thấy đối với ông. Ông nói “Những người chửi bới tôi họ không hiểu được luận điểm tinh tế về đạo đức khi tôi nói tới số phận của 30 triệu người đàn ông ế vợ.”

Giáo sư Tạ cho biết bài viết của ông đã được chia sẻ với các đồng nghiệp trong giới học thuật. Ông nói rằng hầu hết những nhà kinh tế học thuộc trường phái tự do tán đồng quan điểm của ông, nhưng những học giả thuộc các ngành khác thì chống đối. Ông chưa nhận được phản ứng nào từ phía chính phủ hay Đảng Cộng Sản Trung Quốc.

Đa phumột vợ một chồng

Ông nói “Luật lệ phải được sửa đổi để cho những người đàn ông đàn bà muốn theo chế độ đa phu được quyền làm như vậy. Trong thâm tâm, tôi không thích chế độ đa phu, nhưng một vợ một chồng là vô đạo đức nếu chúng ta nghĩ tới số phận của 30 triệu đàn ông côi cút.”

Giáo sư Tạ cho biết chế độ đa phu được áp dụng ở Trung Quốc trong quá khứ; và hiện nay, mặc dù chính phủ không muốn thừa nhận, nhưng chế độ này vẫn được áp dụng tại một số khu vực thôn quê, hẻo lánh.

LÊN ÐƯỜNG

LÊN ÐƯỜNG

 LM Nguyễn Tầm Thường, S.J

Ðường là để đi. Ðường là để đi nghĩa là đường sẽ dẫn đến nơi nào đó. Bản tính của đường là để đi, nên đường không bao giờ là nơi cư trú, mà là để dẫn đến nơi cư trú. Như vậy, kẻ dùng đường làm nơi cư trú thì chẳng bao giờ đến nơi cư trú của mình. Tôi phải xác định với lòng tôi: cuộc sống hôm nay là đường đến một quê hương khác? Nếu cuộc sống hôm nay không phải là cùng đích, mà tôi lại chọn làm nơi cư trú, tức là tôi chẳng lên đường để đến nơi tôi phải đến. Lối đi hôm nay của tôi có là đáp trả tiếng gọi của Chúa? Nếu không, mà tôi chẳng lên đường theo tiếng gọi là tôi đang làm ngơ, đang cố quên đường về.

LEN DUONG

Phải rẽ lối khai quang mới thành đường đi. Sở dĩ có người rẽ lối khai quang để làm đường đi vì họ muốn đến một nơi nào đó. Nghĩa là họ muốn tìm kiếm. Như thế, trước hết, trái tim họ phải là nơi ôm ấp những ước mơ kiếm tìm. Cõi lòng họ phải là nơi ôm ấp những ước mơ kiếm tìm. Cõi lòng họ phải mở rộng cho một chân trời bước tới. Sẽ không có đường đối với kẻ không muốn tìm kiếm. Và ước mơ lên đường mà không lên đường thì cũng không thành đường đi.

– Có ai không cần tìm kiếm vì đã dư thừa?

– Có ai không cần lên đường vì đã gặp gỡ?

Ước mơ hạnh phúc là dấu hiệu hạnh phúc đang vắng mặt. Nguyện cầu cho hết phân ly là nói một cách khác họ đang khao khát được xum họp. Khổ tâm khi thấy người thương mến của mình gặp bất hạnh nghĩa là kẻ đó đang thiếu thốn, và mình cũng chẳng đủ quyền năng cho họ hạnh phúc. Khi tôi lo âu là lúc tôi có vấn đề. Ai trong cuộc sống mà lại chẳng có lúc âu lo? Tất cả đấy là những dấu hiệu giới hạn của con người, những thiếu thốn mà con người đang đi tìm.

Và như thế, ai cũng cần phải lên đường, ai cũng phải tiếp tục tìm kiếm. Ðời là cõi rộng mênh mông. Sống là đi. Mục đích là gặp điều tôi mong mỏi.

Nhưng đi về chốn nào? Trong cõi rộng mênh mông ấy, đâu là đường?

Chắc chắn không thể là tôi. Vì tôi có thể ban tặng cho mình được những gì tôi thiếu thốn thì tôi đã chẳng còn bao giờ ước mơ nữa. Nếu tôi không thể đến một nơi nào đó để lấy được những gì tôi mong mỏi, như vậy, cũng có nghĩa là tôi không thể tự làm đường đi cho mình được. Chắc chắn cũng không thể là người chung quanh tôi vì họ cũng thiếu thốn như tôi.

Vậy, ai có thể giúp tôi đạt được những điều thiếu thốn đó?

“Ta là Ðường, là Sự Thật, và là Sự Sống” (Ga 14, 6). Ðường của cuộc đời tôi đi là Chúa. Những gì tôi thiếu thốn và lo âu đều liên quan đến hạnh phúc của tôi. Khi Chúa nói Chúa là sự sống, có nghĩa Chúa là hạnh phúc tôi đang túng thiếu. Khi Chúa nói Chúa là đường, có nghĩa là để dẫn tôi tới hạnh phúc đó.

Kinh nghiệm cho thấy hạnh phúc có thể thỏa mãn những thao thức sâu kín nhất trong tâm hồn tôi không hệ tại sự giàu có, người yêu, những gì trong phạm vi trần thế. Nếu vậy thì phương cách để đạt được hạnh phúc có thể thỏa mãn tâm hồn tôi cũng không thể đến được từ trần gian. Hạnh phúc ấy thuộc về phạm vi siêu nhiên, vượt tầm sáng tạo của nhân loại. Cho nên, con đường dẫn tới hạnh phúc đó cũng phải là siêu nhiên, không thể là sản phẩm của con người. Trong ý nghĩa này, Chúa là cùng đích và cũng là phương tiện dẫn tới cùng đích. Chúa là hạnh phúc và cũng là đường dẫn tới hạnh phúc.

** *

Lạy Cha, Cha đã tỏ cho con biết Cha là đường của con. Ðường đã có rồi. Sự thật và sự sống đã có rồi. Nhưng con cần Cha dọn cỏ, mở lối cho con. Cỏ tối tăm và cỏ nguội lạnh là những giây leo rừng chằng chịt che kín lối. Và con đã không thấy đường. Cha là sự thật, nên không có loại cỏ tối tăm nào có thể che kín. Cha là sự sống nên không loại gai nào có thể làm nghẽn lối. Giây gai làm nghẽn lối, cỏ dại che kín đường không mọc ở đường đi, nhưng mọc trong chính trái tim con. “Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy” (Mc 10, 51). Cha đã mở mắt và người mù đã thấy đường đi. Một lần nữa, hành động của người mù cũng lại khởi đầu bằng ước mơ: ước mơ được sáng mắt. Ðiều ấy cũng hàm nghĩa là anh ta luôn luôn muốn tìm kiếm ánh sáng. Nếu anh ta không muốn lên đường. Nếu anh ta chọn thế giới mù làm quê hương. Nếu anh ta cư trú trong thế giới bóng đêm ấy và chẳng muốn bước tới nữa thì chắc chắn anh sẽ chẳng bao giờ thấy mặt trời. Ðời anh sẽ tẻ nhạt biết bao. Ðời con cũng vậy. Con phải lên đường. Ngày nào con cũng có lầm lỗi. Ngày nào cũng có bóng đen của ghen tương, bóng đen của thèm muốn bất chính, bóng đen của lo âu thiếu tin tưởng. Ngày nào con cũng có mù lòa. Vì thế, con cần Cha mở mắt cho con hàng ngày. Và, con phải lên đường mỗi sớm mai.

* * *

Mơ ước lên đường thì bao giờ cũng đẹp. Nhưng để thực hiện lên đường lại không dễ. Những hạnh phúc đẹp chỉ dành cho những tâm hồn dám lên đường tìm kiếm. Muốn nhìn vũ trụ mênh mông phải giã từ mặt đất, cất cánh theo chim trời. Nếu con sâu cứ lặng lẽ sống dưới mặt đất với loài trùng, thì nó chẳng có lý do để oán trách sao cuộc đời chung quanh chỉ là mùi ẩm của đất, mùi mốc của cỏ. Nó phải hóa thân thành cánh bướm. Và, lúc đó người ta sẽ ngước mắt nhìn theo. Tất cả vũ trụ là của nó. “Trong tà ác tôi đã sinh ra, và đã là tội lỗi từ khi mới là thai nhi trong lòng mẹ” (Tv 51, 7). Ðó là hình ảnh tôi sinh ra trong thân phận sâu. Sinh ra trong thân phận sâu, nhưng lại không để làm sâu, mà được kêu gọi hóa thân làm bướm. “Ta đã chọn các ngươi từ giữa thế gian” (Ga 15, 19; 17, 16).

* * *

Lên đường nào cũng có giã từ, vì thế mới có ngần ngại. Càng gắn bó, lúc cách xa càng luyến nhớ. Sâu đậm bao nhiêu, lúc giã biệt sẽ nuối tiếc bấy nhiêu. Những rung cảm bất chính đã ở trong dòng máu của tôi. Bây giờ tôi phải từ bỏ. Những liên hệ không ngay lành, nhưng cho tôi thú vui trần thế. Bây giờ tôi phải cắt đứt. Lười biếng là một thứ quyến rũ như bếp lửa trong chiều đông, nó giữ chân tôi lại. Bởi, lên đường là mở cửa đi ra, ngoài kia có gió lạnh làm tôi ngại ngùng. Muốn được người ngưỡng mộ, tôi tạo ra khuôn mặt đẹp mà tâm hồn tôi không có. Bây giờ, lên đường, nghĩa là tôi phải sống thật với tôi. Trở về chấp nhận khuôn mặt nghèo nàn của mình là điều tôi không muốn. Ðể người biết khuôn mặt thật của mình là điều tôi không dám. Bước tới để thay đổi tâm hồn là một giá tôi phải trả. Là một lên đường đòi nhiều can đảm.

Những biến cố thay đổi cuộc sống của một tâm hồn trong Phúc Âm đều là những biến cố lên đường. Chúa đã dùng những hình ảnh lên đường cụ thể, lên đường bằng đôi chân bước trên cát bụi để diễn tả cuộc lên đường nội tâm. “Ði dọc theo bờ biển Galilêa, Ngài thấy Simon và Anrê dang quăng chài dưới biển. Ðức Yêsu nói với họ: Hãy theo Ta, Ta sẽ cho các ngươi là ngư phủ bắt người. Tức khắc, họ đã bỏ chài lưới mà theo Ngài. Ði xa một ít, Ngài thấy Yacôbê và Yoan em ông, cả hai đang vá lưới dưới đò. Ngài gọi họ. Và họ đã bỏ cha họ và những người làm công mà theo Ngài” (Mc 1, 16-20). Phúc Âm thuật lại, sau khi theo Chúa rồi, nhiều lần Phêrô vẫn còn thả lưới. Như vậy, đáng lẽ Chúa phải bảo Phêrô mang lưới theo kẻo mai mốt lại tốn tiền mua lưới khác. Nhiều lần Chúa phải dùng thuyền mà đi. Sao Chúa không dặn Phêrô giữ lấy thuyền vì mai mốt cả Thầy trò vẫn còn cần tới.

Họ đã bỏ lại tất cả.

Họ đã bỏ lại tất cả, phải chăng lưới mà Yacôbê đang vá lưới của những toan tính thiếu niềm tin vào Chúa, là mạng nhện đam mê gắn liền với tâm hồn tôi như áo tôi mặc. Tôi chẳng muốn bỏ. Mỗi mũi kim vá là một lần tôi níu kéo, bám theo . Phải chăng thuyền của Phêrô là những nét xấu như một thứ quê hương tôi đang sống ở trong. Tôi đang an phận với quê hương ấy?

Lạy Cha, Simon và Anrê, Yacôbê và Yoan đã lên đường. Khi nghe Cha gọi, họ đã tức khắc bỏ chài lưới mà lên đường. Không lưỡng lự. Dứt khoát. Hình ảnh của những cuộc lên đường đẹp quá. Lên đường của những kẻ muốn tung cánh trong tự do bát ngát như thập giá không chịu khuất phục sự chết. Lên đường của những bàn chân không biết mỏi khắp cánh đồng Galilêa. Lên đường không phân vân như mặt trời bình thản đẩy bóng tối lại đàng sau.

  • * *

Lạy Cha, nếu không lên đường, chắc hẳn Phêrô chẳng gặp Cha, đã không được Cha huấn luyện và tâm hồn Phêrô đã nghèo nàn lắm. Trong cuộc sống của con, Cha đã gọi. Con cũng đã lên đường, nhưng con không can đảm như Anrê, như Yacôbê. Lưới đời của con dầy mắt, những mắt lưới mà con nghĩ là sẽ bắt được nhiều cá: cá bằng cấp, cá danh vọng, cá sắc đẹp, cá giàu có, cá tình yêu. Mỗi lần bắt hụt vì lưới bị rách là con lại cặm cụi ngồi vá. Có bao giờ con đã quá chú ý cúi mặt vá lưới đến nỗi Cha đi qua, Cha gọi mà con chẳng nghe gì?

LM Nguyễn Tầm Thường, S.J

Tin Mừng (Mt 5:12a)

Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa.

Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.

“Không-gian ngoảnh mặt làm ngơ,”

 “Không-gian ngoảnh mặt làm ngơ,”

            Giọt mưa xuân cũng vô tình trêu ai”.

(Dẫn từ thơ Vũ Hoàng Chương)

Mai Tá lược dịch

Ngoảnh mặt làm ngơ, và vô tình trêu ai, còn là tâm-trạng của người nghèo hèn ở trình-thuật.

Trình thuật hôm nay, kể về hai người đàn bà nghèo, góa bụa. Làm thân góa bụa hồi đầu thế kỷ, các bà vốn rất nghèo. Nghèo tiền nghèo của, nghè cả chức phận, lẫn công danh. Ở xã hội Do Thái thuở trước, mồ côi, góa bụa, nghèo nàn, cả ba đều bị liệt vào giai cấp cùng đinh, mạt rệp. Vị thế của họ vẫn cứ hèn và mạt đến độ không ngóc đầu thoát khỏi kiếp vong mạng, nơi bùn đen. Kiếp người của họ luôn trái ngang, gặp cảnh chê bai, miệt thị.

Lối hành xử đầy khinh chê mà các bà gặp phải, hiện diện cả trong giới linh thiêng nhà Đạo, nữa. Trình-thuật kể rằng: Đức Kitô xếp loại các thủ-lĩnh, kinh-sư thời Ngài vào cùng một hạng với những người, ta cần dè-chừng. Dè-chừng, không chỉ vì họ luôn tìm ra phương-cách khai-thác, bóc-lột giai-cấp cùng đinh mạt rệp, mà thôi. Dè-chừng, còn vì các thái-độ khinh-chê, miệt-thị và bóc-lột vẫn hủy-hoại tình người. Thứ tình cần đến cơn mưa yêu thương, lắng đọng.

Với Đức Kitô, thái độ “xúng xính”, “bóc lột” là lối hành-xử giả-hình, không chấp-nhận được và cần đổi-thay. Với Tin Mừng Nhất Lãm, cả ba thánh-sử thỉnh thỏang vẫn kể lại hành-vi kiêu-căng, ngạo mạn của các đấng kinh sư nhà Đạo, lúc bấy giờ. Nghĩa là, hành vi của những người này trái ngược hẳn lối xử-sự của đám nghèo hèn/cùng đinh, như các bà góa. Hành-vi yêu-thương luôn giùm giúp những ai đang cần. Kinh nghiệm chính bản thân mình, Đức Giêsu đã triền-miên chịu-đựng mọi khổ-đau vì người đời. Ngài vẫn không thể chấp-nhận nổi phong-cách “làm bộ đọc kinh nhiều giờ” của đám Kinh sư, Biệt phái.

Là môn-đồ Đức Chúa, dù ở cương-vị nào, chắc hẳn ta cũng không chấp-nhận nổi thái-độ trịch-thượng, dễ gây xa cách ấy. Thật ra, tạo cho mình có được của cải, quyền-bính này khác, tự nó không có gì xấu xa.

Vấn-đề đặt ra, là: khi tiếp-nhận quà tặng từ Trên, dù quà đó có là quyền-thế hay của cải/tiền bạc, ta vẫn có thể sống đúng tư-cách của người công-chính, được như thường. Hệt như phương-châm: hãy nói tôi nghe bạn sử-dụng quà tặng như thế nào, tôi sẽ cho biết bạn là ai. Ở đây nữa, quyền-bính và của cải/tiền bạc vẫn là “bát cơm đong dầy”, ta phải luôn cầu Trời mới mong có.

Trớ trêu thay, mọi quyền-uy con người tạo được, dù ở chính-trường, nơi nhà Đạo hoặc trong gia-đình, ngoài xã-hội, cộng thêm sự giàu sang từ đó có được, vẫn là những thứ hấp-dẫn, khó chối-từ. Càng có nhiều uy-quyền, người người càng tạo nhiều của cải. Càng có nhiều của cải, người người những tưởng: mọi sự đều thuộc về mình.

Không ai có quyền gỡ bỏ hoặc rút đi. Và, một khi có nhiều quyền-hành và tiền của, người ta sẽ dễ trở nên kiêu-căng, thích bóc-lột người khác, những nghèo và hèn hơn mình. Lúc ấy, họ sẽ quên đi lời nhắc nhở dặn dò, rằng: tất cả đều là quà tặng, từ Trên. Và, khi đã quên lời nhắc-nhở từ Trên, người ta có khuynh-hướng quên luôn cả Đấng đã nhắc nhở mình. Để cho mình mọi uy quyền và của cải ấy.

Trình thuật hôm nay, thánh Mác-cô ghi lại lời nhắc nhở ngợi khen phong-thái của người cùng đinh/nghèo hèn, như bà góa. Đức Chúa khen ngợi các bà thuộc giai cấp thấp hèn không phải vì các bà vốn người đốn mạt, nghèo hèn.

Điều mà Đức Kitô ngợi khen, chính là phong-cách độ-lượng, thương-yêu giùm-giúp của các bà, những người chị, người em đang sống cuộc đời nghèo/hèn, tận-tuyệt. Nghèo hèn tận tuyệt, là: biết mình cũng chẳng là gì, chẳng hơn ai. Nhưng, vẫn biết người, biết mình. Luôn khiêm tốn. Vẫn thân thương. Thân-thương trong thái-độ nhớ đến người khác. Nhớ đến những người còn nghèo/hèn tận-tuyệt, hơn mình.

Biết người biết mình, là: lâu nay tuy bị bóc-lột đến cùng cực, rất túng thiếu, nhưng vẫn lẳng-lặng yêu-thương, đùm bọc. Không hợm hĩnh, khoe khoang. Có biết mình và biết người như thế, mới nói được rằng: kẻ cao sang, quyền quý dù biết nhiều học rộng, vẫn cần học và hỏi nhiều nơi người nghèo hèn. Học và hỏi, không phải kiến thức khoa bảng, nở rộ. Học và hỏi về phong cách nhẹ khi thương yêu đùm bọc, cả vào lúc quyên góp.

Nơi cuộc sống Đạo-đời, vẫn là chuyện thường nếu lâu nay các đấng bậc cao-sang quyền-quý vẫn cứ dạy và dỗ đám dân nghèo, thấp hèn. Điều khác lạ nơi Tìn Mừng hôm nay, chính là bài học này: hãy để cho lớp người cùng đinh/thấp hèn có cơ-hội minh-chứng dỗ-dạy các đấng bậc quyền-quý, rất cao sang. Các đấng đang ngự-trị nơi: chính trường, nhà Đạo. Hoặc, tại khắp chốn như: xã hội, gia đình.

Và, đó là điểm sáng Tin Vui rất an bình mà trình thuật thánh Mác-cô muốn gửi đến người đọc. Nơi dân-gian trần-thế, có vài truyện kể cũng mang dáng dấp an vui Tin Mừng, ta vẫn nghe. Như truyện kể hôm nào, về đối chất thần-học giữa vị Hồng y nhà Đạo và tín đồ nghèo Do Thái giáo.

Nhiều năm về trước, giới nhà Đạo ở La Mã có quyết-định: người Do thái phải rời bỏ thủ-đô này, không được sống gần người nhà Đạo. Cộng đồng bạn tỏ ra bất-bình trước quyết-định gay-gắt ấy. Thấy thế, Đấng bậc nhà Đạo bèn giải hoà, bằng đề-nghị: nếu cộng-đồng bạn toàn-thắng cuộc thi-đấu kiến-thức thần-học, họ được ở lại.

Phía nhà Đạo, vị được cử lên thi đấu lại là Hồng y chủ quản; giáo hội bạn, chỉ đề cử tín-đồ nghèo hèn, tên Môsê. Sợ mình không thể đối nhanh đáp lẹ, kẻ hèn Môsê đề-nghị cuộc thi diễn ra trong im lặng. Chỉ giơ tay, ra dấu. Hai bên đồng ý, nhập cuộc.

Bắt đầu, Vị Hồng y đưa tay lên cao, giơ 3 ngón. Tín đồ Môsê chỉ giơ một ngón, rất gọn. Hồng y nhà ta dùng tay vẽ vòng cầu, trên đỉnh đầu. Còn, Môsê lấy tay chỉ xuống đất chỗ mình ngồi, không chậm trễ. Hồng y bèn đem bánh miến rượu nho, một lượng nhỏ, cung-kính lĩnh nhận.  Trong khi đó, tín đồ Môsê lại mang trái táo xanh, dự tính ăn. Cuối cùng, vị Hồng y đứng dậy, vội nói: “Tôi xin thua. Người này quá tốt lành, anh ta thắng”.

Thế là, cộng đồng người Do thái được quyền ở lại. Vài giờ sau, các đồng-nhiệm đến hỏi vị Hồng y:  sao, lại như thế? Vị Hồng y đáp: trước hết, tôi giơ tay 3 ngón ý nói Đức Chúa Trời có Ba ngôi, thì anh ta chỉ giơ ra có một, ý muốn nhắc nhở tôi: Đạo của chúng ta đều chỉ tin một Chúa. Thế rồi, tôi ra dấu đánh vòng trên đỉnh đầu, ý muốn bảo: Đức Chúa đang hiện-diện quanh ta, thì anh chàng lại chỉ tay xuống đất, ý rằng: đúng đấy thưa ngài, Đức Chúa đang có mặt ở đây, ngay lúc này.

Cuối cùng, tôi đem rượu cùng bánh có ý nhắc: sùng kính Thánh Thể Cha, là việc rất phải. Phần anh, anh lại lấy táo xanh đem ra nhắc tôi: về tội nguyên tổ, ta cần đề cao. Tóm lại, anh ấy có giải-đáp rất nhanh về mọi vấn-đề.

Cùng lúc, bạn bè trong cộng-đồng Do thái rất thân, bèn quây quần bên người thấp-hèn Môsê, mà hỏi: này anh bạn già thấp kém như thế mà sao anh thắng được đấng bậc đạo-mạo bên ấy. Anh thưa: có gì đâu. Lúc đầu, ỗng bảo tôi: cộng đồng mình có 3 ngày để dời đi nơi khác. Tôi thưa ngay: không một người nào trong bọn tôi, sẽ ra đi. Rồi ông thêm: trọn thành này sẽ sạch bóng người Do thái, là các anh đấy. Tôi bèn cho biết: không đâu, bọn tôi đóng trụ trên đất này, chẳng đi đâu cả. Cuối cùng, có người hỏi: Môsê, thế rồi sao? Môsê nói: tôi cũng chẳng biết nữa. Tự nhiên thấy ỗng lấy đồ trưa ra ăn, tôi cũng lấy táo xanh của mình ra, đánh chén thế thôi.

Qua truyện kể, phong-cách hành-xử giải-quyết vấn-đề giữa vị chóp bu nhà Đạo và đạo-hữu thấp hèn Môsê, rất khác-biệt. Khác-biệt, không có nghĩa lọai bỏ, tru diệt lẫn nhau. Khác biệt, là cần thắc-mắc, cần học-hỏi do đâu. Khác-biệt, không phải để so-sánh, phân-tranh ngôi vị. Vì, so sánh phân tranh không là giải đáp tốt, ở nhiều trường-hợp.

Thông thường và thích đáng hơn, vẫn là thái-độ biết học và hỏi. Biết áp-dụng lối xử-sự, phương-cách sống của người khác. Chí ít, của người nghèo hèn, tận tuyệt. Phương cách sống và lối xử sự ấy, không nhất thiết phải như đấng bậc phú quý, ở trn cao. Cách hành động và đối xử thích hợp, vẫn có thể và vẫn nên như cách thế của kẻ nghèo hèn, tận tuyệt.

Tham dự tiệc thánh hôm nay, ta cầu mong cho cộng-đoàn thân thương của ta có được phong-cách hành-xử, rất thư-thái xứng-hợp. Thư-thái, như dân thường ở huyện, chốn dân-gian. Những kẻ thấp hèn luôn mong chờ mưa xuống. Mưa hồng-ân. Mưa cứu-độ vẫn đi kèm theo mỗi quà tặng thông-thường, ta nhận-lĩnh. Một khi có được phong-cách nhẹ-nhàng thoải-mái như kẻ nghèo hèn, cùng đinh, ta sẽ thư-thái ngâm lại lời thơ trên, mà rằng:

“Không-gian ngoảnh mặt làm ngơ,

Giọt mưa xuân cũng vô tình trêu ai.

Mưa đầy tóc gió đầy vai,

Sầu treo bốn hướng trôi dài tâm-tư.” (Vũ Hoàng Chương – Bơ Vơ)

Sầu treo bốn hướng/bơ vơ, là tình-trạng người nghèo-khó ở mọi thời vẫn cần mọi người giùm giúp đỡ đần. Và, đỡ đần/giùm giúp, lại là thực-chất lòng đạo không chỉ người Công giáo, hoặc Do thái mới có. Mà là, lòng mọi người ở đời vẫn luôn đùm bọc giùm giúp, hết mọi người.

Lm Richard Leonard sj biên soạn  

Mai Tá lược dịch

Tin Mừng (Mt 5: 1-12a)

Một hôm, thấy đám đông, Đức Giêsu lên núi. Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên.

Người mở miệng dạy họ rằng:

“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.

Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.

Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.

Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.

Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.

Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.

Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.

Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.

Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa.

Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.

Trả lại anh, câu yêu mà anh đã tặng,

“Trả lại anh, câu yêu mà anh đã tặng,”

Trả lại anh, nhớ nhung mặn nồng cay đắng.

Trả lại anh thư xanh, màu xanh ái ân.

Dĩ vãng buồn, giống nghĩa trang.

Cô đơn, như mộ không tên.”

(Đức Quỳnh – Trả Lại anh)

(1 Phêrô 5: 1-4) 

Trần Ngọc Mười Hai

Anh hay em, mà lại hát câu ca này, rõ ràng như thể bảo: thôi “anh đường anh, tôi đường tôi; tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi!, cho rồi.” Bởi, có hát những câu hay ho/đẹp đẽ như thế, nay đâu còn hợp thời-trang, tình-tự được nữa đâu, cơ chứ!

Không tin ư? Mời bạn/mời tôi, ta nghe tiếp đôi ba ca-từ đến “phát khiếp” như sau:

“Trả lại anh câu yêu em, tình yêu bất diệt.

Trả lại anh với câu xây nhà bên suối.

Trả lại anh hoa khô cài bên bướm xanh.

Đây trang nhật ký đôi ta.

Đang ghi sao đành dở dang.

Khi em yêu anh còn cô gái thơ ngây.

Nay em xin anh trả em lúc ban đầu.

Yêu anh em đâu ngờ duyên kiếp ba sinh.

Van anh quên đi như khi ta chưa hề quen.”

(Đức Quỳnh – bđd)

Quả là, rất đúng. Hôm nay đây, ở thời buổi này, lại vẫn có những sự thể, thật dễ nói câu “van anh quên đi khi ta chưa hề quen”. Bởi, có quen nhau cho lắm, rồi cũng thấy rối-rắm như trang-huống đang xảy ra ở nhà Đạo.

Trang-huống hôm nay, lại đã có những lời/lẽ rất thương đau như tin tức được loan-truyền trên báo/đài truyền-thông, như sau:

“Đức Tổng Giám-mục Charles Chaput cảnh-giác việc phân-cấp cho các Hộ-đồng Giám-mục có được một số quyền-về kỷ-luật bí-tích, đã phát-biểu:

Giáo-hội là ‘Công-giáo’ còn gọi là ‘phổ quát’. Đúng là chúng ta cần tôn-trọng sự khác-biệt về tính-cách văn-hoá giữa các tín-hữu. Nhưng, ta đang sống sống trong thời-đại có nhiều đổi-thay trên qui-mô toàn-cầu có những rối-loạn và bất-ổn. Nhu-cầu cấp-thiết của ta là sự đoàn-kết. Và nguy-hiểm lớn nhất của ta là sự phân-cấp.

Hỡi anh em,

Ta cần phải rất thận-trọng về việc phân-cấp các vấn-đề về kỷ-luật và tín-điều quan-trong cho phép các Hội-đồng Giám-mục ở các quốc-gia và khu-vực, đặc-biệt khí có áp-lực buộc ta theo chiều-hướng đó kèm một tinh-thần tự khẳng-định và đề-kháng…

500 năm trước, ở vào thời-điểm giống hệt hôm nay, Erasmus của Rotterdam đã viết rằng: sự hiệp-nhất của Hội-thánh là đặc-trưng quan-trọng vào bậc nhất. Ta có thể tranh-luận về những gì Erasmus tin-tưởng thực-sự; và, những gì ông nói trong bài viết của ông. Nhưng, ta không thể tranh-luận về những hậu-quả xảy đến khi sự hiệp-nhất cần-thiết của Giáo-hội bị bỏ qua. Trong những ngày sắp tới đây, xin chúng ta nhớ rằng: tầm quan-trọng của sụ hiệp-nhất và những gì nó đòi hỏi nơi ta, và những gì mất đoàn-kết trong các chuyện nghiêm-trọng như thế có thể mang lại. ” (X. www.Tâmlinhvaodoi.net, Tóm-lược diễn-tiến Thượng Hội-đồng Giám-Mục về Gia-đình, 17/10/15)

Thật ra thì, Thượng Hội Đồng Giám Mục 2015 diễn-tiến cũng không tệ. Chỉ mỗi điều, là: các nghị-phụ nhà mình, nay có quyền phát-biểu/tỏ-bày ý-kiến tư-riêng của các phe/nhóm khác nhau trong Hội-thánh thế giới. Không chia rẽ hoặc phân-biệt mà chỉ mỗi khác nhau về chánh-kiến/lập-trường. Và, khi đã đi vào hiện-thực, thì phe/nhóm nào cũng sẻ-san đường-lối cũng rất chung, thôi.

Đó là điều, mà nhiều đấng bậc lâu nay vẫn tỏ-bày ý-kiến về các khó-khăn của Giáo hội khi tiếp-cận các vấn-đề nhức-nhối về người Đồng-tính luyến-ái.

Giám mục Geoffrey Robinson từng viết nguyên cuốn sách để bàn về vấn-đề này, vào lúc trước khi Thượng Hội Đồng Rôma  khai mạc hồi tháng 10/2015 mà Chuyện Phiếm Đạo Đời đã trích-dịch nhiều qua các bài phiếm lai rai, đây đó. Nay, lại xin tiếp tục triển-khai thêm một số lý-chứng từng tạo khó-khăn cho Giáo-hội khi cần thay-đổi giáo-huấn mình vẫn dạy.

Để bà con có thể bàn-bạc chuyện gay-go theo chiều-hướng nhẹ-nhàng, xin mạo muội, đề-nghị bạn và tôi, ta nghe câu chuyện tiếu-lâm chay ở dưới, khi kể về những cái khó trong chung sống:

Lão vốn mang tiếng cả khu chung cư là sợ vợ và đang di căn sang giai đoạn cuối là khiếp vợ, thế mà tối nay thấy tiếng lão quát vợ rung chuyển các tầng. Kính trọng quá đi. Đàn ông là phải thế chứ.

Nhà cháu chạy sang đứng ngoài cửa.

-Choang!Choang! (Tiếng bát vỡ kinh quá)

-Bụp! (Một cú đá chéo góc).

– Im mồm, tôi bảo cô im đi cơ mà…Im để cho tôi nói, cô đã làm nhơ cái mặt tôi ở khu chung cư này rồi, ai cũng bảo là: tôi sợ vợ, ngay cả lão Vinh kia hễ gặp tôi là nói kháy, là đá đểu rằng tôi sợ vợ. Bây giờ thì đừng hòng. Hôm nay tôi phải dạy cô một lần cho biết.
– Choang! Rắc! Ùm! (tiếng bát vỡ, và cả tiếng ly/cốc, chân bàn gãy, nghe kinh khủng quá)
– Tôi đi ra khỏi nhà là cô la, về muộn một tí thì cô chửi, gặp phụ nữ thì cô cho là tôi đã cặp bồ, cái ví của tôi cô xẻo hết từng đồng tiền lẻ, cái máy điện thoại của tôi mang về, là cô kẹp chặt trong nách, cô một vừa hai phải thôi, nhớ rõ chưa? Nhớ chưa? Há miệng ra mà vâng trước mặt tôi ngay, há ngay ra!

– Bốp. Bốp. Bốp. (Rõ ràng có tiếng đánh từ bàn tay phải của lão đập vào má trái người vợ).

– Cô ngó lên tầng 15 mà xem, cái lão dê già ấy đấy, ai không biết là lão sát gái, vợ lão cũng biết mà có dám hó hé gì, đâu? Tôi nói thế có đúng không? Thế mà, mới thấy tôi búng vào má em nào một phát, vỗ lưng, vuốt tóc một cái thì cô lồng lộn lên là thế nào? Cô chửi tôi cứ như đảng và nhà nước chửi bọn phản động, thế nghĩa là thế nào? Từ giờ trở đi, chừa ngay cái thói bắt nạt chồng nghe chưa, chồng thay cha thay mẹ, hễ nói một câu là vợ phải dạ một câu, nghe chưa?

Viu…viu…viu…(Ôi giời đá gió đây, gọi là song phi đấy!

– Cô đưa con dao cho tôi, đưa đây! Tôi sẽ chặt ngón tay của cô để cô luôn nhớ rằng, cô là vợ, tức là ở dưới cơ chồng, cô hiểu chưa, đưa dao đây!

Nhà cháu hoảng quá, phải cứu cô ấy chứ, nhà cháu xô cửa lao vào trong. Lão hàng xóm đằng đằng sát khí đứng giữa phòng, bát chén, cốc ly vỡ tung tóe cứ như trung tâm thủ đô Kiev. Nhà cháu ôm ghì lấy lão:

-Ấy… Bình tĩnh đã… Ai lại đánh mắng vợ con như thế hả giời?…

-Nhưng em không thể chịu được, điên lắm rồi, phải dạy vợ cho ra dạy bác ạ.

-Thế cô ấy đâu, cô ấy đâu?

-Cô ấy về quê hôm qua rồi bác ạ.” (trích truyện kể của Nguyễn Quang Vinh)
Kể truyện tiếu-lâm chay như thế, chỉ để nói lên điều này, là: trong đời người, vấn-đề nào cũng có mặt phải/mặt trái của nó, hết. Việc gì đề ra, cũng có người thuận, có người chống lại ý-tưởng của người khác, có khi cả ý-tưởng của chính mình vừa nói xong cũng chống hết.

Để chuyện phiếm hôm nay thêm phần đa-dạng, xin bạn và tôi, ta nghe thêm đôi điều về một nhân-vật lỗi lạc ở trời Tây nuớc Nga, đó là nhà văn Leon Tolstoy cũng có ý-kiến rất “thực” về nền thần-học Hội-thánh rất chung, như sau:

“Cuối thời mình, đặc-biệt là vào lúc ông viết truyện giả-tưởng nổi tiếng hồi thập niên 1860 và 1870, lúc ấy ông cho xuất-bản cuốn “Chiến-tranh và Hoà-bình” cũng như cuốn “Anna Karina”, tác-giả Leon Tolstoy đã bị rung-động bởi cơn khủng-hoảng cá-thể và về tinh-thần, đến độ ông đã phải dừng lại không viết tiểu-thuyết nữa. Khi ấy, tưởng chừng như ông đang rơi vào nỗi rã-rờituyệt-vọng, đến khủng-hoảng, cứ bận-tâm nhiều với chuyện chết choc và tự vẫn. Và khi ấy, ông lại đã trải-nghiệm một hiện-hữu rất đơn-huầnvề một niềm tin vô-vọng, cứ nghĩ mình chỉ là mớ bòng bong, hỗn-tạp, sống không mục-đích. Và khi ấy, ông thấy cuộc đời con người đích-thị là ác-thần/sự dữ, rất không sai. Trong nỗi hốn-cùng sâu lắng về hiện-sinh, Leon Tolstoy đã nhớ về Đạo Chúa mà ông từng sống vào thời thơ-ấu. Và rồi, ông tìm lại được một vài hy-vọng nhỏ trong liên-tưởng đến tín-hữu chân-phương, giản-dị mà ông đã cùng sống cũng như lớn lên với họ, trong quá-khứ.

Ông nhìn thấy nơi tín-hữu bình-dị ở quê nhà, một gương sáng sống đời người đích-thực, đầy đặn. Và, nỗi nhớ này đã khích-lệ ông khởi-đầu suy-tư/học-hỏi sâu-sắc về giáo-huấn trong Đạo mà ông gặp được ở Tin Mừng. Khủng-hoảng về linh-đạo và hệ-quả nó dẫn đến được ông ghi lại từng chi-tiết trong các tác-phẩm không giả-tưởng chút nào, được ông dùng để làm lực đẩy cho các bài viết cùng các sách về cuộc sống tâm-linh cụ-thể, như: Một lời xưng thú: Những gì tôi tin” và “Vương Quốc Nước Trời, ở bên trong con người quí vị.” (x. Leon Tolstoy, The Life of Jesus The Gospel in Brief, Harper Perennial 2011, Foreword, tr. Vii)

Sau đến, là ý-kiến của Gm Geoffrey Robinson khi ông nói đến khó-khăn trong giải-quyết vấn-nạn/đòi hỏi phải có thay-đổi trong chính-sách đối xử và suy-tư về người đồng tính luyến-ái, lý thừ như sau:

“Lý-do khác khiến ta cần đổi thay giáo-huấn Hội-thánh Công-giáo, là vì giáo-huấn ấy chỉ là những tuyên-ngôn mang tính khẳng-định từ trên hơn là chú-trọng vào bàn-luận, thương-thảo.

Yếu-tố hiệp-thông và cộng-sinh, là khía-cạnh thiết-yếu làm nền cho hôn-nhân giữa hai người, miễn là họ theo-đuổi những điều sau đây:

– chúng phải là yếu-tố thiết-yếu cho từng cuộc hôn-nhân riêng-rẽ, không cần biết hoàn-cảnh của mỗi cặp có ra thế nào đi nữa, phải thế chứ?

– chúng phải là những yếu-tố thiết-yếu cho mỗi động-tác xác-thịt chứ? Động-tác thực-hiện dựa trên căn-bản nào?

Như, trường-hợp cặp hôn-nhân đặc-biệt nọ được các chuyên-gia y-tế khuyên can đừng nên có con, nếu không trẻ bé sẽ phải bị bệnh nghiêm-trọng và tật nguyền bảm-sinh/di-truyền, nên họ đi đến quyết-định nuôi con nuôi hơn là có con do mình sinh. Làm thế, họ có chống lại ý Chúa không? Có cặp khác nghĩ rằng mình đã có khá nhiều con rồi, nên không có khả-năng tài-chánh và tâm-lý để có thêm con nữa sợ rằng sẽ nặng gánh gia-đình. Dựa trên căn-bản nào ta khẳng-định rằng họ làm thế là chống lại ý Chúa, đây?

Rất nhiều trường-hợp khó-khăn khi nhiều người vẫn tuyên-bố là họ biết ý của Chúa, nữa. Vậy thì, nếu ta khẳng-định rằng đó là ý của Chúa và cũng là trật-tự thiên-nhiên, vậy thì cả hai khía-cạnh hiệp-thông và cộng-sinh đều nhất-thiết phải có mặt trong mỗi động-tác ăn-nằm xác thịt như một hành-xử được chứng-thực hoặc là khẳng-định chân-phương, giản-dị chứ? Nếu đó là hành-động được chứng-tực, thì đâu là chứng-cớ? Thế, tại sao tài-liệu của Giáo-hội lại không đưa chứng-cứ nào như thế? (*6) Phải chăng bất kỳ chứng-cứ  nào cũng phải bao gồm kinh-nghiệm từng-trải của hàng triệu người trong cố-gắng phối-hợp dục-tình, thương-yêu và việc cộng-tác sản-sinh cuộc sống mới trong bầu khí hỗn-độn của dục-tính con nguời và tính phức-tạp nơi sự sống con người chứ? Phải chăng lý-tưởng bao giờ cũng lẫn lộn với thực-tại?

Nếu giáo-huấn của Hội-thánh chỉ là khẳng-định từ trên ban xuống, thì có chăng lý-do hỏi rằng tại sao ta lại không được phép áp-dụng nguyên-tắc hợp lý cứ luôn bảo: những gì dễ khẳng-định cũng dễ dành bị bác-bỏ, không? Nếu chuyện ấy không hơn gì một khẳng-định, thì việc  thực-sự quan-trọng là: ai là khẳng-định hoặc làm sao mà việc ấy lại được khẳng-định ras61t thường như thế? Đâu là lý-sự có lợi cho sự việc khẳng-định rằng việc ấy sẽ thuyết-phục được một lương-tâm cởi mở và lương-thiên, đây? (Xem thêm Gm Geoffrey Robinson, The 2015 Synod: The Crucial Questions: Divorce and Homosexuality, ARF 2015, tr.15-16)

Nói cho cùng, có bàn-thảo nhiều về vấn-đề sống cùng và sống với những người đồng-tính luyến-ái và/hoặc chuyệnvợ-chồng đã ly-dị rồi tái-giá, có được hiệp-thông rước lễ hay không vẫn là luật lệ có từ một khẳng-định từ trên phán xuống.

Nói cho cùng, thì có đụng chuyện trong chung sống hoặc phải giải-quyết những nố khó-khăn trong sống đời thực-tế hôn-nhân, luyến ái, mới thấy rằng: chuyện đời thật không dễ. Không dễ hiểu, cũng chẳng dễ cảm-thông nếu mình không ở cùng một hoàn-cảnh, với người trong cuộc hoặc bị-động.

Nói cho cùng kỳ lý, thì: tất cả chỉ để bạn và tôi, ta có cơ-hội đểm phiếm ba điều bốn chuyện, không phải của do mình hoặc thiết-thân với chính mình, gia-đình mình.

Nói cho cùng và chon gay, chi bằng ta cứ vào vườn hoa Lời Chúa có những Tin Mừng để đời như tác-giả người Nga ở trên từng trải-nghiệm.

Nói cho cùng, cũng nên nhìn về quá-khứ trong đó mình từng được nghe nhiều và học nhiều, những điều do bậc thánh-hiền vẫn từng bảo:

“Cùng các bậc kỳ mục trong anh em,

tôi xin có mấy lời khuyên nhủ,

vì tôi cũng thuộc hàng kỳ mục,

lại là chứng-nhân những đau khổ của Đức Kitô

và được dự phần vinh quang sắp tỏ hiện trong tương lai.

Anh em hãy chăn dắt đoàn chiên mà Thiên Chúa đã giao phó cho anh em:

lo lắng cho họ không phải vì miễn cưỡng,

nhưng hoàn toàn tự nguyện như Thiên Chúa muốn,

không phải vì ham hố lợi lộc thấp hèn,

nhưng vì lòng nhiệt thành tận tuỵ.

Đừng lấy quyền mà thống-trị những người Thiên Chúa đã giao phó cho anh em,

nhưng hãy nêu gương sáng cho đoàn chiên.

Như thế, khi Vị Mục Tử tối cao xuất hiện,

anh em sẽ được lãnh triều thiên vinh hiển không bao giờ hư nát.”

(1 Phêrô 5: 1-4)

Nói theo nhà Đạo, thì như thế. Như thế, tức làm sao để các bậc kỳ-mục/thủ-lãnh cũng như dân-gian dưới trướng được sống đời thoải-mái trong yêu thương. Chứ không chỉ câu-nệ luật lệ, mà thôi. Dù luật ấy có là giáo-luật. Dù điều ấy có là giáo-huấn rất “khẳng-định” từ trên phán xuống.

Nói theo kiểu người ngoài luồng, ngoài đời là nói bằng cung-giọng/điệu hát có lời ca rất âm-thầm, nhè nhẹ đầy chất thương yêu như người thường ở huyện, vẫn cứ hát những câu như:

“Trả lại anh câu thơ người em tóc thề

Trả lại anh khóc thương cho phận con gái

Trả lại anh tương tư mà anh đã trao

Bên nhau tình nhớ với thương

Xem như cơn mộng mà thôi

Coi nhau như bạn mà thôi.”

(Đức Quỳnh – bđd)

Hát thế rồi, ta lại tìm đến những truyện kể do bạn-bè/người thân những sưu-tầm để ta viết phiếm. Viết cho đời thêm phấn-chấn. Nghe kể, cho đời mình được nhiều tiếng cười vẫn quẩn quanh đâu đó, những muốn vui, như sau:

“Cô sinh viên nọ, bận tâm về chuyện bồ-bịch và gia-đình, nên đã biên thư hỏi ý mẹ như sau:

-Kính thưa mẹ, mọi việc đang diễn ra tốt đẹp ở trường. Con đã gặp một anh sinh-viên tuyệt-vời nhất từ trước tới nay. Anh ấy học năm thứ ba. Anh ấy chơi bong đá, đang học để chuẩn-bị ra trường làm bác-sĩ, đạt hạng xuất-sắc, dáng người cao ráo, đẹp trai. Con đã hẹn đi chơi với anh ấy 8 bận  rồi và đã mặc 8 chiếc áo đầm mà con có. Giờ, thì con cần thêm một chiếc áo nữa, để cho buổi hẹn sắp tới, bởi vì anh ấy đã mời con đi xem hát với anh ấy. Mẹ có vui lòng gửi cho con 25 đôla, để con mua một chiếc áo mới được không, hả mẹ?

Bà mẹ trả lời:

-Đâu cần phải mua áo mới làm chi cho rắc rối thế con. Hãy tìm một bạn trai mới và làm lại từ đầu, thế thôi!” (truyện kể trên mạng, không ghi tên tác-giả)

Truyện kể ở trên mạng, có thể cũng là chuyện đời người rất kinh-nghiệm. Kinh-nghiệm của người mẹ ở trên chưa chắc đã là “giáo-huấn” ở đời, như một khẳng-định từ trên xuống. Cũng có thể, chỉ là chuyện thời xưa thích-hợp cho thế-hệ già nua, tuổi tác, rất khô-cứng. Chí ít, là chuyện luật và lệ ở nhà Đạo, dành cho người đi Đạo, sống đời thực-tế rất lâụt-lệ, mà thôi.

Nói thì nói thế, chứ cũng tùy bạn tùy tôi, ta đứng từ góc độ nào mà nhìn đời, rồi xử-thế.

Nói thì nói thế, nay xin bạn và tôi, ta cứ hiên-ngang bước vào giòng đời dù đổi-thay hay vẫn thế, cũng cứ mặc. Cứ hát lên, câu ca/điệu nhạc dù buồn phiền hay phấn khởi, vẫn cứ hát cho đời lên hương. Để rồi, ta sẽ cùng sống với mọi người, suốt những ngày còn lại trong cõi đời đầy đổi thay, như thế này:

“Trả lại anh câu yêu em, tình yêu bất diệt.

Trả lại anh với câu xây nhà bên suối.

Trả lại anh hoa khô cài bên bướm xanh.

Đây trang nhật ký đôi ta.

Đang ghi sao đành dở dang.

Khi em yêu anh còn cô gái thơ ngây.

Nay em xin anh trả em lúc ban đầu.

Yêu anh em đâu ngờ duyên kiếp ba sinh.

Van anh quên đi như khi ta chưa hề quen.”

(Đức Quỳnh – bđd)

Trần Ngọc Mười Hai

Cũng đã trải-nghiệm những ngày buồn

Có câu ca, bài hát rất không vui

Như mọi ngày.

Tam giác nghi vấn

Tam giác nghi vấn

TRẦM THIÊN THU

Con người luôn thắc mắc về chính mình, về nguồn gốc và về đích đến – tức là thắc mắc về quá khứ, hiện tại và tương lai. Đó là một tam-giác-nghi-vấn khiến con người lao tâm khổ tứ và tốn công hao của. Các chuyên ngành – từ khoa học tới y học, từ vật lý học tới thiên văn học, từ nhân chủng học tới khảo cổ học,… – vẫn không ngừng nỗ lực tìm kiếm từ xưa tới nay, thế nhưng con người vẫn không thể tìm ra đáp án nào thỏa mãn nhất. Không thấy đạo nào nhắc đến nguồn gốc của con người, chỉ nói đến giáo lý của đạo hoặc học thuyết, nhưng Kitô giáo mạch lạc “hai năm rõ mười”.

Con người là ai?

Ngày xưa, trong chương trình giáo dục tiểu học có ngụ ngôn “Con trâu, Con cọp và Con người” thế này:

Ngày xửa ngày xưa, khi dắt trâu ra ruộng, người ta thường lấy dây buộc vào sừng trâu mà kéo đi. Một hôm, có con chim đậu ở bụi cây, thấy người nông dân dẫn trâu đi như vậy, bèn hỏi: “Sao ông không thọc lỗ ở mũi trâu mà dắt đi?”. Người kia bèn buộc con trâu vào gốc cây, đâm thủng mũi trâu, xỏ dây và dắt đi. Sau đó có nhiều người bắt chước theo. Một hôm, sau buổi cày, khi người chủ nghỉ ngơi, còn trâu đang gặm cỏ, thì có một con cọp đến hỏi trâu: “Này trâu, sao mày to xác như vậy mà lại để cho một thằng người bé nhỏ xỏ mũi kéo, đánh đập, mà mày cứ chịu lép vế sao?”. Trâu trả lời cọp: “Tuy bé nhỏ nhưng con người có trí khôn to lớn”.

Vừa lúc ấy, người đi cày trở lại, cọp bèn hỏi: “Nghe trâu nói là người tuy bé nhỏ nhưng có trí khôn. Vậy trí khôn đâu, cho tôi xem với”. Người đi cày đáp: “Trí khôn tôi để ở nhà”. Cọp bảo: “Hãy về nhà lấy trí khôn cho tôi xem”. Người nông dân trả lời: “Được chứ! Nhưng e rằng trong lúc tôi vắng mặt thì ông cọp ăn mất trâu của tôi. Vậy, cọp có bằng lòng cho tôi trói lại đã, rồi tôi về nhà lấy trí khôn cho mà xem được không?”. Cọp bằng lòng ngay.

Người đi cày lấy dây thừng cột cọp thật kỹ vào gốc cây, rồi ông lấy một chiếc gậy to vừa đánh vào đầu cọp vừa nói to: “Trí khôn của tao đây này”. Trâu thấy vậy, cười ngả nghiêng, híp mắt vào nên đập hàm vào đất, gãy cả hàm răng trên. Do đó, loài trâu sau này không còn hàm răng trên nữa. Còn loài cọp thì bị rằn rện, lông có những vết sọc đen trên mình là dấu tích bị loài người đánh.

Giết một con vật thì không có tội, nhưng giết một con người thì tội tày trời. Giết một con vật mà có tội chỉ vì con vật đó thuộc loại quý hiếm, nhưng tội giết động vật quý hiếm cũng chỉ là khinh tội, không như tội giết con người. Thậm chí chỉ đối xử tệ với con người cũng là trọng tội, vì con người là động vật cao cấp nhất, mỗi người đều có trọn vẹn một nhân vị, một nhân phẩm và đầy đủ nhân quyền.

Dù chỉ là động vật, sống theo bản năng, không biết lý luận, nhưng con chó bị dồn vào góc tường thì nó cũng chống trả bằng cách cắn lại ngay cả chủ của nó. Những người làm xiếc có khi cũng “sinh nghề tử nghiệp” vì chính con vật mà mình đã thuần hóa. Nói chung, loài vật không biết phân biệt điều thiện hay điều ác. Ngược lại, con người biết phân biệt và biết suy nghĩ, có người phản ứng mạnh nhưng có người lại nhịn nhục – như tục ngữ nói: “Một sự nhịn chín sự lành”. Thế mới là con người.

Con người đến từ đâu?

Người ta cho rằng con người tiến hóa từ loài khỉ. Nói như vậy nghĩa là con người xuất xứ từ loài khỉ, và như vậy khỉ là tổ tiên của con người. Nói vậy thì bạn sẽ tự ái và nói: “Khỉ làm sao có thể là tổ tiên của tôi?”. Đúng vậy, nhưng khi bạn công nhận con người tiến hóa từ loài khỉ – dù gián tiếp hay trực tiếp, nghĩa là bạn đã chấp nhận “khỉ là tổ tiên của mình”.

Có 3 loài chính: Thực vật, Động vật và Con người. Thực vật có sinh hồn, tức là chỉ sống mà không có cảm giác; động vật có giác hồn, tức là sống và có cảm giác, chỉ sống theo bản năng sinh tồn; con người có linh hồn, tức là không chỉ sống và có cảm giác mà còn có trí khôn, biết sáng tạo, biết phân biệt thiện và ác.

Loài này không thể là loài kia – dù là động vật: Con vật không thể là con người, và tất nhiên con người không thể là con vật. Con nòng nọc biến hóa thành con nhái, con ếch, dù hai con khác nhau nhưng vẫn là “loài tương cận”. Cũng vậy, con ngài biến thành bướm, nhưng chúng vẫn chỉ là loài động vật có giác hồn. Con chó có hình dáng giống con bò, con trâu, nhưng mãi mãi là loài chó; con cọp có dáng giống con beo nhưng không bao giờ là con beo. Con tinh tinh nhìn giống con vượn nhưng khỉ không thể là vượn. Sáo có thể bắt chước âm gần giống tiếng người, cà cưỡng cũng có khả năng đó, nhưng sáo là sáo và cà cưỡng là cà cưỡng. Những loài gần giống nhau nhưng không cùng “họ hàng thân thuộc” mà chỉ là “những con tương cận”.

Kitô giáo tin rằng Thiên Chúa dựng nên con người, có nam có nữ, theo hình ảnh của Ngài (St 1,26-27), Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người (đàn ông), rồi thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật (St 2,7). Rồi Ngài thấy con người ở một mình không tốt (St 2,18) nên Ngài lấy xương sườn của người đàn ông để tạo nên phụ nữ (St 2,21-22).

Chắc chắn rằng loài khỉ không thểkhông bao giờ là tổ tiên của loài người. Và chắc chắn bất kỳ ai cũng không hề muốn chấp nhận loài khỉ là tổ tiên của mình! Con người phải xuất xứ từ một Đấng Tạo Hóa quyền năng và vô thủy vô chung, đó là Ông Trời, đó là Thiên Chúa.

Con người đi về đâu?

Khởi đầu cuộc đời bằng tiếng khóc, kết thúc cuộc đời bằng giọt nước mắt. Sinh ra trắng tay, chết cũng trắng tay. Được tạo nên từ bụi đất thì sẽ trở về với bụi đất, nơi mình xuất phát. Đó là điều chắc chắn!

Nhưng đó là theo nhãn quan trần thế. Chó chết thì hết chuyện. Con người chết không hết chuyện. Cọp chết còn để da huống chi con người. Chó chết không ai xây mộ, lập bàn thờ hoặc thắp nhang trước di ảnh… chó. Nhưng con người chết, dù là ai, cũng được tổ chức đám tang trang trọng, được lập mộ, được lập bàn thờ và được thắp nhang trước di ảnh, thậm chí còn được cầu khấn xin phù hộ. Ngay cả những người không có niềm tin tôn giáo cũng lâm râm khấn vái với người quá cố. Lạ thật!

Từ 1 tới 8-11, khi lãnh ân xá để cầu cho các linh hồn nơi luyện hình, chúng ta đọc Kinh Tin Kính: “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại và sự sống đời sau”. Đó là đích đến của mỗi người, nghĩa là hưởng Tôn Nhan Thiên Chúa đời đời trên Thiên quốc. Nếu không được làm công dân Nước Trời là chúng ta phụ tình Chúa, là uổng phí Ơn Cứu Độ, vì chính Đức Kitô đã chết vì chúng ta ngay khi chúng ta còn là tội nhân kia mà. Lòng Chúa Thương Xót ngoài sức tưởng tượng của con người. Mừng lễ chư thánh là mừng Giáo Hội Khải hoàn, cầu cho các linh hồn là chia sẻ yêu thương và là nhiệm vụ của chúng ta đối với Giáo Hội Đau khổ, đồng thời chúng ta cũng cầu cho chính mình là những thành phần của Giáo Hội Chiến đấu. Đó là Giáo Hội hiệp thông với 4 đặc tính: uy nhất, Thánh thiện, Công giáo và Tông truyền.

Với con người bình thường thì “đau đầu” vì tam-giác-nghi-vấn kia, nhưng với người có niềm tin vào Thiên Chúa thì đó là một hành trình thú vị và đầy ý nghĩa vậy. Bởi vì Thiên Chúa đã khuyến khích: “Đừng sợ! Ta là Đầu và là Cuối. Ta là Đấng Hằng Sống, Ta đã chết, và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời; Ta giữ chìa khoá của Tử thần và Âm phủ” (Kh 1,17-18).

TRẦM THIÊN THU

Hai thiếu nữ đâm chết thanh niên vì va quẹt xe

Hai thiếu nữ đâm chết thanh niên vì va quẹt xe
Nguoi-viet.com

SÀI GÒN (NV) – Va chạm xe trên đường dẫn đến cự cãi, bất ngờ thiếu nữ rút dao đâm chết thanh niên giữa vòng xoay đông đúc ở ngay trung tâm thành phố Sài Gòn. Vụ án gây chấn động dư luận.

Hiện trường xảy vụ án mạng va quẹt xe dẫn đến giết người. (Hình: Tiền Phong)

Truyền thông Việt Nam loan tin, tối 24 Tháng Mười, một vụ án mạng đã xảy ra sau vụ va quẹt xe tại vòng xoay Dân Chủ, quận 3. Nạn nhân là anh Võ Thanh Quang (24 tuổi), quê ở Kon Tum.

Theo tin tờ Thanh Niên, vào khoảng 19 giờ 30, anh Quang lái xe máy đi trên đường Cách Mạng Tháng Tám hướng từ trung tâm thành phố về quận Tân Bình, khi đến vòng xoay Dân Chủ thì xảy ra va chạm với xe máy của hai thiếu nữ trẻ (chưa rõ danh tính) khiến cả hai xe cùng ngã xuống đường.

Sau đó, hai bên dắt xe vào bên lề đường nói chuyện thì xảy ra mâu thuẫn. Trong lúc cự cãi, một trong hai cô gái đã rút dao đâm anh Quang. Gây án xong, hai thiếu nữ lên xe tháo chạy để lại nạn nhân nằm giữa vòng xoay. Người đi đường vội đưa nạn nhân vào bệnh viện cấp cứu nhưng không kịp.

“Sống tại giao lộ này mấy chục năm qua, không ngày nào tôi không chứng kiến các vụ va chạm xe máy. Bị nặng phải nhập viện cũng có, cự cãi nhau cũng có… nhưng rồi mọi việc đều êm đẹp. Ai ngờ đâu lại xảy ra án mạng mà người gây án lại là 2 thiếu nữ còn khá trẻ,” bà Mai (60 tuổi), một người buôn bán tại góc đường Cách Mạng Tháng Tám – ngay vòng xoay Dân Chủ, nói.

Còn anh Nam, một người sửa xe gần trường trung học cơ sở Lê Lợi, cũng gần đó, cho biết: “Thấy họ đứng nói qua nói lại ai cũng nghĩ như bao vụ va chạm thông thường nên ít ai quan tâm. Vậy mà chỉ trong tích tắc 2 cô gái dùng dao đâm chết thanh niên này rồi nhanh như cắt phóng xe tháo chạy, khiến không ai có thể nhìn kịp biển số xe hay nhận dạng,” anh Nam kể lại.

Nói với tờ Tiền Phong, một cán bộ điều tra công an quận 3 cho biết, hiện công an quận đang phối hợp cùng các đơn vị nghiệp vụ thành phố để điều tra, truy xét hung thủ gây án nên chưa thể cung cấp thông tin. Song, bước đầu không loại trừ khả năng giữa nạn nhân và 2 hung thủ có quen biết, xảy ra mâu thuẫn trước đó chứ không hẳn là va chạm giao thông dẫn đến án mạng.

Tin cho hay, nạn nhân là một thanh niên khá hiền lành, sống hòa đồng, hàng ngày dạy nhạc cho một số trung tâm và chơi đàn, đi hát cho một số nhóm nhạc tại các điểm ca nhạc ở Sài Gòn. Anh Quang đang trên đường đi gặp bạn bè để “rửa” xe mới vừa mua mấy ngày trước khi bị đâm chết. (Tr.N)

 

Mỹ tuần tra Biển Đông: Việt Nam và Đông Nam Á cần tích cực ủng hộ

Mỹ tuần tra Biển Đông: Việt Nam và Đông Nam Á cần tích cực ủng hộ

Trọng Nghĩa

RFI

Mỹ tuần tra Biển Đông: Việt Nam và Đông Nam Á cần tích cực ủng hộ

Hàng không mẫu hạm Mỹ USS Ronald Reagan (CVN 76) quá cảnh Biển Đông.@wikimedia/ U.S. Navy photo

Biển Đông phải chăng sắp sửa dậy sóng ? Đây là câu hỏi mà rất nhiều nhà quan sát đang đặt ra vào lúc khẩu chiến Mỹ-Trung đang càng lúc càng gay gắt sau khi Washington liên tiếp nhắc lại quyết tâm tiến hành các cuộc tuần tra vì quyền tự do lưu thông trên biển tại vùng Trường Sa, sát các hòn đảo nhân tạo mà Bắc Kinh vừa bồi đắp trên nền các bãi đá mà Trung Quốc đã chiếm từ tay Việt Nam và Philippines trước đây.

Lời khẳng định quyết tâm gần đây nhất của Mỹ đến từ Đô đốc Đô đốc Scott Swift, Tư lệnh Hạm đội Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương. Trả lời phỏng vấn của hãng tin Mỹ AP hôm 22/10/2015, Đô đốc Swift khẳng định rằng Hải quân Mỹ đã sẵn sàng, chỉ còn chờ lệnh « giới hoạch định chính sách » – tức là Nhà Trắng – mà thôi.

Tuyên bố của Đô đốc Swift nằm trong một chuỗi những lời khẳng định theo cùng một chiều hướng của các nhân vật cao cấp trong quân đội cũng như chính quyền Mỹ, từ Bộ Quốc phòng đến Bộ Ngoại giao.

Trong một cuộc họp báo ngày 19/10 chẳng hạn, ông Mark Toner, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ đã không ngần ngại tái khẳng định ý định tuần tra Biển Đông của Mỹ để thể hiện lập trường chống lại « các yêu sách chủ quyền trên biển quá đáng ».

Trước những tín hiệu dồn dập đó, Trung Quốc đã có những phản ứng rất gay gắt, và như thông lệ, đã bật đèn xanh cho báo chí lớn tiếng đe dọa Mỹ và các nước chống lại tham vọng bành trướng ngày càng lộ rõ của Bắc Kinh.

Giới chức ngoại giao Trung Quốc chẳng hạn, đã xác định rằng Bắc Kinh « sẽ không cho phép bất kỳ nước nào vi phạm không phận và lãnh hải của Trung Quốc trên Biển Đông nhân danh việc bảo vệ quyền tự do hàng hải và hàng không ».

Giọng điệu ngoại giao nói trên đã trái ngược hẳn với những lời đe dọa trên báo chí Trung Quốc. Tân Hoa Xã ngày 21/10, đã cho rằng Mỹ sẽ phạm phải một « sai lầm nghiêm trọng » nếu cho tàu tuần tra gần các hòn đảo mà Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền, vì Trung Quốc « không còn lựa chọn nào khác ngoài việc tăng cường khả năng phòng vệ ».

Hoàn Cầu Thời báo, nổi tiếng với lời lẽ dao to búa lớn, thì nói thẳng thừng là nếu Mỹ xâm phạm « các lợi ích cốt lõi » của Trung Quốc, thì Quân đội Trung Quốc sẽ « dùng vũ lực ngăn chặn ».

Khẩu chiến bùng lên giữa Washington và Bắc Kinh đã khiến nhiều chuyên gia phân tích lo ngại về khả năng sự cố nảy sinh. Theo một số chuyên gia về an ninh, được hãng tin Anh Reuters hôm 24/10 trích dẫn, thì Hải quân Trung Quốc chẳng hạn có thể cho tàu ra cản trở hoặc bao vây tàu Mỹ, làm tăng nguy cơ xung đột.

Tuy nhiên, hầu hết các chuyên gia đều thấy rằng, Mỹ chắc chắn sẽ xúc tiến việc cho tàu Hải quân tiến vào khu vực bên trong vùng 12 hải lý của các đảo nhân tạo Trung Quốc ở Trường Sa, vấn đề là lúc nào và bao lâu mà thôi.

Một câu hỏi quan trọng không kém là có nước nào đồng ý cùng tuần tra với Mỹ hay không, vì sẽ là một nghịch lý nếu Hoa Kỳ, nước không có tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông lại năng nổ trong việc bảo vệ quyền tự do qua lại, đa số các nước Đông Nam Á bị Bắc Kinh chèn ép qua hành động bồi đắp đảo, xây căn cứ có thể dùng vào mục tiêu quân sự, lại có phần im hơi lặng tiếng.

Đối với Giáo sư Ngô Vĩnh Long, trường Đại học Maine (Hoa Kỳ), vào lúc mà ý đồ nuốt trọn Biển Đông của Trung Quốc đã bộc lộ rõ rệt, với tuyên bố công khai của ông Tập Cận Bình nhân chuyến công du Hoa Kỳ vào tháng 9 vừa qua, và với các hành động cụ thể của Bắc Kinh tại Trường Sa hiện nay, đã đến lúc các nước nạn nhân của chính sách bành trướng của Trung Quốc, đứng đầu là Việt Nam không còn nhân nhượng được nữa, mà phải tích cực hơn trong việc hậu thuẫn cho các hoạt động của Mỹ.

Động đất mạnh làm rung chuyển Afghanistan, Pakistan, Ấn Độ

Động đất mạnh làm rung chuyển Afghanistan, Pakistan, Ấn Độ

Nhân viên cứu hộ khiêng người bị thương trong trận động đất đến bệnh viện Lady Reading ở Peshawar, Pakistan, ngày 26/10/2015.

Nhân viên cứu hộ khiêng người bị thương trong trận động đất đến bệnh viện Lady Reading ở Peshawar, Pakistan, ngày 26/10/2015.

26.10.2015

Một trận động đất mạnh xảy ra ở miền bắc Afghanistan hôm nay, làm rung chuyển thủ đô Kabul mà chấn động địa chất cảm nhận được ở tận Pakistan và Ấn Độ.

Tại Afghanistan, cơ quan y tế tỉnh xác nhận ít nhất 6 người đã thiệt mạng và gần 70 người bị thương ở tỉnh Nangarhar. Tại tỉnh Kunduz, giám đốc giáo dục cho VOA biết rằng 12 học sinh thiệt mạng tại thị trấn Takhar trong lúc 35 người khác bị thương.

Tại Pakistan, ít nhất 40 người đã thiệt mạng và hơn 300 người khác bị thương, chủ yếu là ở tỉnh Khyber Pakhtunkhaw giáp biên giới Afghanistan.

Cơ quan Khảo sát Địa chất Mỹ cho biết cơn động đất mạnh 7,5 độ Richter có độ sâu 196 km với tâm điểm tại khu vực cách Feyzabad 82 cây số về hướng Đông Nam trong một vùng hẻo lánh của Afghanistan ở dãy núi Hindu Kush.

Tâm chấn của trận động đất cách Feyzabad 82 cây số về hướng Đông Nam trong một vùng hẻo lánh của Afghanistan ở dãy núi Hindu Kush.

Người đứng đầu quân đội Pakistan, Tướng Raheel Sharif, đã chỉ huy cho các tư lệnh huy động lực lượng và trực thăng phân phối thiết bị cứu hộ tới khu vực ngay lập tức.

Bác sĩ Muhammad Sadiq, trưởng khoa cấp cứu tại một bệnh viện ở Thung lũng Swat của Pakistan cho hãng thông tấn Pháp biết có hơn 100 người bị thương trong trận động đất và rằng ‘nhiều người vẫn còn nằm bên dưới đống đổ nát.’

Tin nói các cao ốc ở thủ đô New Delhi (Ấn Độ) bị lắc lư khiến các nhân viên văn phòng tháo chạy ra đường.

Trận động đất này xảy ra gần đúng nửa năm sau trận động đất tàn phá Nepal giết chết hàng ngàn người và phá hủy hàng trăm hàng ngàn nhà cửa.

Việt Nam kiệt quệ về tài chính

Việt Nam kiệt quệ về tài chính
Nguoi-viet.com

Ông Bùi Quang Vinh, bộ trưởng Kế Hoạch-Đầu Tư của chính quyền Việt Nam, đã tạt một gáo nước lạnh vào báo cáo mà chính phủ Việt Nam vừa trình bày trước Quốc Hội.

Chính phủ Việt Nam muốn phát hành lượng trái phiếu trị giá ba tỷ Mỹ kim trên
thị trường quốc tế để “tái cơ cấu các khoản nợ trong nước.” (Hình: TBKTSG)

Trong khi chính phủ Việt Nam báo cáo với Quốc Hội rằng, mức thu cho ngân sách sẽ cao hơn dự kiến khoảng 61,000 tỷ đồng thì ông Vinh khẳng định, con số đó chỉ để… nghe cho vui. Số thu trên thực tế thấp hơn nhiều so với mức dự thu và lý do khiến mức thu cho ngân sách tăng chỉ là “nghiệp vụ.”

Ông Vinh giải thích cặn kẽ những “yếu tố nghiệp vụ” khiến nguồn thu “tăng.” Đó là mức giải ngân các khoản vay để phát triển tăng, tiền bán đất tăng và tính luôn tiền… xổ số kiến thiết. Trước đây, những khoản này không được tính như những nguồn thu cho ngân sách nhưng nay thì cộng hết và nhờ vậy khiến mức thu cho ngân sách… cao hơn dự kiến.

Đáng lưu ý là ông Vinh cảnh báo, trong khi số thu tuyệt đối (số thực) của ngân sách là 255,750 tỷ thì các địa phương đã giữ lại 131,200 tỷ đồng, thực thu của chính quyền trung ương chỉ còn 154,000 tỷ đồng, trừ đi các khoản phải chi hiện chỉ còn 45,000 tỷ đồng để phân bổ. Ông Vinh nhấn mạnh, nếu phải trả nợ thì gần như không còn tiền để làm gì cả.

Theo tường thuật của báo chí Việt Nam, ông Nguyễn Sinh Hùng, chủ tịch Quốc Hội, “tỏ ra bất ngờ” sau khi nghe ý kiến của ông Vinh. Ông Hùng nhận xét, ngân sách như thế thì làm sao đạt được mục tiêu “phát triển bền vững” cho giai đoạn 2016-2020! Đã vậy khi vay lại vay ngắn hạn, “chưa vay đã trả” thì lấy gì để “cân đối!”

Cũng theo tường thuật của báo chí Việt Nam thì ông Bùi Đức Thụ, thành viên Ủy Ban Tài Chính-Ngân Sách của Quốc Hội, tiết lộ, ngân sách cạn kiệt nhưng bội chi vẫn tăng, tạo áp lực lớn lên chuyện nợ nần. Tỷ trọng bội chi có giảm nhưng số tuyệt đối đã tăng từ 226,000 tỷ đồng/năm lên 254,000 tỷ đồng/năm. Năm 2015 Việt Nam chỉ trả nợ được 150,000 tỷ đồng nhưng lại vay 311,000 tỷ đồng. Tính ra khối lượng vay lớn gấp đôi khối lượng trả. Theo ông Thụ, năm tới, tình trạng vừa kể sẽ tái diễn.

Có lẽ cần nhắc lại rằng, hồi cuối năm 2013, ông Vinh từng cảnh báo với Quốc Hội rằng, “kinh tế Việt Nam sắp tới giai đoạn đào củ mài để ăn.” Khi ấy, ông Vinh từng nhấn mạnh “vỡ nợ là do xây dựng cơ bản tràn lan.” Lãnh đạo chính quyền các địa phương mạnh tay phê duyệt các dự án hạ tầng, khuyến dụ các doanh nghiệp bỏ vốn, mượn vốn để thực hiện những dự án đó, cuối cùng chính quyền trung ương không có khả năng hoàn trả. Hàng loạt doanh nghiệp là chủ đầu tư, hàng loạt ngân hàng cho vay rơi vào tình trạng phá sản, chính quyền vừa không thu được thuế, vừa “giật gấu vá vai” để trả nợ.

Thực trạng đó là lý do nhiều năm nay, chi cho đầu tư phát triển giảm chưa từng thấy trong lịch sử, nhiều công trình dở dang, trong khi không đầu tư cho phát triển thì không thể phát triển và chính quyền Việt Nam đang loanh quanh trong vòng luẩn quẩn do chính mình tạo ra.

Cách nay vài tháng, sau khi khảo sát về phân cấp tài khóa tại Việt Nam, Ngân Hàng Thế Giới (WB) cho biết, kế hoạch chi tiêu của chính quyền địa phương không đáng tin cậy vì có sự chênh lệch lớn giữa dự chi và thực chi. Đặc biệt là những khoản thực chi cho đầu tư hạ tầng thường cao hơn 50% so với dự chi. Vượt xa hướng dẫn rằng, mọi thứ chỉ có thể xem là tốt nếu mức độ chênh lệch giữa dự chi và thực chi không nên quá 5%.

WB nhận định, tình trạng vừa kể là do phía hành pháp được phép thay đổi dự chi, không cần phía lập pháp – đại diện cho dân chúng xem xét và phê duyệt. Tình trạng này diễn ra ngay cả ở cấp cao nhất. Năm 2013, Quốc Hội từng ấn định, bội chi không được vượt quá 5.3% GDP nhưng đến hết năm 2013, chính phủ vẫn để cho bội chi lên tới 6.6% GDP.

Trước đây, Dự Luật Ngân Sách Nhà Nước từng có một điều nhằm xác định trách nhiệm của những người phê duyệt, cho phép sử dụng ngân sách sai nguyên tắc. Tuy nhiên gần đây, khi Quốc Hội bỏ phiếu thông qua dự luật này, điều vừa kể đã bị gạt bỏ. Theo tiết lộ của một viên chức lãnh đạo Quốc Hội thì sở dĩ cơ quan này phải gạt bỏ điều vừa kể bởi có rất nhiều viên chức trong hệ thống chính quyền phản đối, với lý do, cho phép truy cứu trách nhiệm những người phê duyệt, cho phép sử dụng ngân sách sai nguyên tắc là một kiểu “trói” họ!

Hồi Tháng Mười Một năm ngoái, e ngại trước tình trạng nợ nần tăng vọt, ngân sách liên tục bội chi, Quốc Hội đã ban hành một nghị quyết, yêu cầu, từ 2015, chính phủ không được phát hành trái phiếu có kỳ hạn dưới năm năm và phải giảm mức vay đảo nợ (vay nợ mới để trả nợ cũ).

Tuy nhiên hồi giữa tháng này, bộ trưởng Tài Chính Việt Nam cảnh cáo, từ đầu năm đến nay, việc bán trái phiếu kỳ hạn năm năm hết sức khó khăn. Đến nay, tổng giá trị trái phiếu đã bán được chỉ mới khoảng 51% kế hoạch của cả năm. Nếu không “đa dạng hóa kỳ hạn” (thực chất là cho phép tiếp tục bán trái phiếu ngắn hạn) thì sẽ không kiếm đủ tiền để chi tiêu và thực hiện các mục tiêu do chính Quốc Hội Việt Nam đề ra.

Mặt khác, dẫu Luật Quản Lý Nợ Công không cho phép phát hành trái phiếu quốc tế để lấy tiền trả các khoản vay trong nước nhưng vì tình thế như vừa kể, gần như chắc chắn tại kỳ họp lần này, Quốc Hội vừa nới lỏng cơ chế cho phép vay vốn bằng trái phiếu (phát hành lượng trái phiếu trị giá $3 tỷ trên thị trường quốc tế vào năm 2017 để “tái cơ cấu các khoản nợ”), vừa cho phép bán trái phiếu ngắn hạn. (G.Đ.)