A! Này bé, con dế nó đậu cành tre,

Chuyện Phiếm đọc trong tuần sau Chúa Nhật 3 Phục Sinh năm C 10/4/2016

 “A! Này bé, con dế nó đậu cành tre,”

Em bắt đem về, hát xẩm mà nghe.

Đừng bắt đem về, đánh lộn làm chi.

Loài giun dế nó mang tội tình gì???”

(Phạm Duy – Bé Bắt Dế)

(Mt 28:18-19)           

            Trần Ngọc Mười Hai

Úi chu choa! Cái gì mà, “loài giun dế nó mang tội tình gì?” Thế còn loài người? Có tội có tình gì không thế?

Để trả lời câu hỏi, như em bé. Hãy cứ nghe câu hát tiếp, hạ hồi sẽ rõ:

A! Này bé, con dế nó nằm lỗ sâu,

            Đào lỗ đem vào cho ở hộp cao.

            Đừng bắt dế nghèo đánh bể đầu nhau,

Để nó phải buồn rầu.

 A! Này bé, con dế nó tội tình chi?

A! Này bé, con dế nó tội tình gì???

 A! Này bé, con dế nó ở đồng quê

Chinh chiến lan về, nó phải tản-cư.

Nó sống trên vỉa hè quanh-quẩn ngoại ô,

Làm thân sống nương ở nhờ!!!

 

A! Này bé, con dế nó cùng chị ve,

Trong mấy tháng hè nó chỉ hoà ca.

Mưa nắng thuận-hoà cho đẹp ruộng ta.

Con dế hát đẹp ngày mùa…

 A! Này bé, con dế nó ở miền quê!

A! Này bé, con dế nó ra kinh-đô…”

(Phạm Duy – bđd)

Chưa đâu, thân phận con dế bé nhỏ, còn bọt bèo hơn nữa, khi ta biết được rằng:

“A! Này bé, con dế nó ở nhà em,

Nên nó cũng thèm coi truyền-hình đêm.

Nó thấy phi-thuyền lên tận mặt trăng

Mà không thấy đâu chị Hằng!!!

 A! Này bé, con dế cúi đầu phục lăn.

Nó hát khen rằng: Con Người Giỏi Dang!

Nhưng vẫn chê rằng: thiếu hẳn tình thương

Lòng vẫn chứa đầy bạo cường…

 A! Này bé, Này bé! Mau thuộc bài đi,

A! Này bé! Cho dế nó coi Tivi!!!

(Phạm Duy – bđd)

Ấy! Ví thử ta thay thế cụm từ “em bé” và “con dế” bằng những chữ rất khác như: “linh mục”, Hội thánh”, hay sao đó, hẳn sẽ có người sẽ thêm vào đó cả triệu câu truyện kể rất dễ nể như sau này:

“Truyện rằng:

Hồi ấy, vào thời nước Nga còn thuộc khối Liên-Xô có đảng Cộng-sản do ông Stalin nắm trọn quyền-hành. Một hôm, ông Stalin quyết định ra đi thăm dân để biết sự tình về cuộc sống của tầng-lớp lao-động rày ra sao. Nên, ông ăn vận thật bình-thường như người dân ở huyện rồi ra khỏi điển Cẩm-Linh. Sau một ngày dài, ông trờ tới rạp chiếu bóng để xem dân chúng vui sống ra sao.

 Sau khi bộ phim kết-thúc, trên màn ảnh hiện ra hình-ảnh lãnh-tụ Stalin giơ tay vẫy chào từ biệt bà con lao-động và quốc ca Liên-xô trổi lên. Tất cả mọi người đều đứng dậy và hát theo, riêng chỉ có mỗi ông Stalin là không đứng.

 Khi ấy, có người đàn ông đứng ở phía sau hàng ghế của ông ghé vào tai ông Stalin rồi nói: “Đồng chí à, tôi cũng biết rằng: chúng ta đều nghĩ giống như nhau, nhưng để cho an-toàn hơn, tôi đề-nghị đồng chí cứ đứng lên là xong ngay! Và nghe thế, ông Stalin lưỡng-lự trong giây lát, rồi cũng đứng, chắc để… mình tiễn-biệt mình!” (Truyện kể về “Tiếu-Lâm Liên-xô” nhưng chắc gì đã đúng thật)

             Ấy chết, đừng vội nhận-định, bàn-luận hoặc nói năng sớm như thế mà làm gì. Hãy cứ nghe câu hát tiếp cũng rất hay như sau này:

“A! Này bé, theo dế ra tận bờ đê

Đất sét đem về ta nặn đồ chơi.

Nặn những tay người hay nặn bàn chân

Tặng cho những ai tàn tật.

 A! Này bé, theo dế ra trại định-cư

Coi những ông già phá rừng trồng hoa

Chia sớt ngọt bùi với trẻ mồ côi

Đời mới chúc người phục hồi…

 A! Này bé, Con dế xin vài hòn bi!

A! Này bé, Đem biếu những em xa quê!…

            (Phạm Duy – bđd)

Và những câu cuối của bài hát, còn đáng để bạn và tôi suy-nghĩ, bàn luận hoặc ít là cứ phiếm, rất như sau:

A! Này bé, thôi nhé dế còn phải đi

            Đi hát câu vè, trên nẻo đường xa…

            Đi tới quê mẹ, nối lại tình cha!

            Và, ca hát câu giải hoà.

 A! Này bé, có lẽ dế về miền sông,

Có lẽ lên rừng hát cùng loài công.

Hay xuống cát vàng hát cùng hàng thông,

Ở giữa cõi đời mịt mùng…

 A! Này bé, con dế đến mùa phải đi…

A! Này bé, rồi sẽ có ngày trở về…

(Phạm Duy – bđd)

Vâng. Đúng thế. Dế hay bé, rồi cũng có ngày phải đi. Vì khôn lớn, hơn loài thường. Vâng. Chính thế. Bạn đạo hay người đời, có ngày cũng vẫn ra đi. Đi mà tìm về nguồn để học hỏi những lời vàng rằng:

“Đức Giê-su đến gần, nói với các tông-đồ rằng:

“Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất.

Vậy anh em hãy đi

và làm cho muôn dân trở thành môn đệ,

làm phép rửa cho họ

nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”

            (Mt 28: 18-19)

Vâng. Lời vàng đầy ý-nghĩa như thế. Nhưng, xem ra thực-tế vẫn như thể: nhiều người còn thắc mắc chuyện này nọ, hoặc chưa am-tường ý-nghĩa của lệnh-truyền ấy có dành cho mình hay không, hoặc chỉ cho mỗi các tông-đồ thời đó, nhấc chân đi theo Đức Giêsu mà thôi.

Ngày nay, ở ngoài đời hay trong Đạo, cũng có những sự-kiện/hiện đáng để bạn và tôi, ta quan-tâm bàn luận, cũng rất nhiều.

Một trong các chuyện đáng bàn và đáng phiếm vẫn là chuyện Đạo ở đời, trong đó có ý-kiến về chuyện: ta có nên cùng với bạn-đạo Chính thống hoặc Cốp-tích Ai Cập định-vị lại ngày tháng cho lễ Phục Sinh hay không, như sau:

“Tổng Giám Mục Justin Welby của Canterbury, Anh Giáo hôm 16/1/2016 có loan-báo: Giáo-hội Anh sẽ tham-gia cuộc bàn luận diễn-tiến giữa Đức Phanxicô và lãnh-đạo Giáo hội Cốp-tích để định ngày tháng thống-nhất tổ-chức Lễ Phục Sinh cho hai Đạo…

 Ông nói: ông muốn được thấy thời-điểm tổ-chức Ngày Lễ này sao cho đơn-giản, đồng-thuận có lợi cho mọi người kể cả trường-học, bậc cha-mẹ đưa đón con em, các doanh-thương cũng như kỹ-nghệ du-lịch thay vì mỗi năm cứ phải xê-dịch ngày thánh, có năm có khi cách nhau đến 35 ngày. Riêng Giáo-hội Chính-thống Đông-phương lại tính toán ngày tháng cho lễ Phục Sinh cũng khác hẳn khi chức-sắc trong Đạo lại dùng lịch cũ của Julian.       

 TGm Welby còn xác-nhận là: các nhà lãnh-đạo Anh-giáo trên thế-giới cũng đã họp bàn và đồng-thuận tham-gia bàn-luận với các Giáo-hội khác, để định ngày thống-nhất. Nhưng ông cũng nói tiếp: thay-đổi thời-gian cho Lễ này cũng phải mất 5 đến 10 năm mới đưa vào hiện-thực được.

 Riêng Đức Phanxicô năm ngoái có thông-báo: ngài cũng muốn bàn-thảo với các nhà lãnh-đạo Giáo-hội Cốp-tích mà số đông tín-hữu của giáo-hội này sống ở Châu Phi và Trung Đông, để tìm ra ngày tháng thống-nhất cho sự-kiện này.” (x. tin trên Courier Mail của Queensland , Chúa Nhật 17/1/2016 tr. 11)   

 Ít hôm sau đó, Tuần báo Công-giáo ở Sydney là tờ The Catholic Weekly cũng loan tin giống như trên, nhưng lại kết thúc bài viết bằng giòng nhận-định bảo rằng:

“Phát-ngôn-viên Giáo-hội Chính-thống thuộc Nga có nói rằng: Thượng-Phụ Mạc-Tư-Khoa hân hoan nghênh-đón ý-kiến về việc cùng nhau cử-hành chung một ngày Lễ, bao lâu quyết-định này phù-hợp với lịch của Chính-thống-giáo.

 Theo linh-mục quản-hạt Nikolai Balashov phó giám-đốc thường-vụ Đại-kết thuộc Toà Thượng-phụ Mạc-Tư-Khoa nói ông đang chờ được nghe chi-tiết đề-nghị từ Đức Giáo Hoàng Phanxicô, khi nói rằng:

“Giả như Giáo Hội La Mã có ý-định hủy bỏ ngày lễ Phục Sinh tính theo lịch Grêgôriên được đưa ra vào phụng-vụ giờ lễ kể từ thế kỷ thứ 16 về với lịch cũ, sử dụng lúc Giáo-hội Đông và Tây Phương hợp-nhất dùng ngày tháng cố-định do Giáo-hội Chính-thống thiết-lập, thì chúng tôi hoan-nghênh ý của ngài. Thế nhưng, nếu thiết-lập một ngày nhất-định cho Phục Sinh là việc không thể chấp-nhận hoàn-toàn được.” (xem Catholic Weekly News ngày 24/1/2016 tr. 10)

             Xem thế mới biết: muốn định việc gì cho thống-nhất mà không chịu nhượng-bộ từ phía mình, dù là Giáo-phái hoặc Giáo-Hội đã thánh-hoá cách nào đi nữa, cũng là việc khá khó. Khó, thực-hiện. Khó, tạo niềm tin-tưởng vào nhau, rất thân-thương, nhịn nhường là chuyện rất đời thường.

Từ ý-tưởng ấy, đã nảy sinh nhiều ý-kiến có liên-quan đến chuyện đời/việc Đạo ở đâu đó, dù là xó-xỉnh, góc chợ hay bục cao chót vót của thánh hội.

Nói thế rồi, nay ta đi vào sự-kiện khác cũng đáng phiếm, như chuyện khác-biệt chánh-kiến cả về thần-học, lẫn thánh kinh giữa các giáo-phái/giáo-hội cùng thờ một Đức Chúa, ở nhiều nơi. Như, vấn-đề hoặc câu chuyện do đấng bậc nọ đề ra ở trong sách. Thế nhưng, trước khi đi vào thực-tế của chuyện đạo, mời bạn và tôi, ta trở lại câu hát cũng rất “dế” ở trên, mà hát rằng:

“A! Này bé, thôi nhé dế còn phải đi

            Đi hát câu vè, trên nẻo đường xa…

            Đi tới quê mẹ, nối lại tình cha!

            Và, ca hát câu giải hoà.

 A! Này bé, có lẽ dế về miền sông,

Có lẽ lên rừng hát cùng loài công.

Hay xuống cát vang hát cùng hàng thông,

Ở giữa cõi đời mịt mùng..

 A! Này bé, con dế đến mùa phải đi…

A! Này bé, rồi sẽ có ngày trở về…

(Phạm Duy – bđd)

“Đi tới quê mẹ, nối lại tình cha! Và, ca hát câu giải hoà”, làm sao được như thế, khi mà nhiều đấng bậc và nhiều người không chịu lắng tai nghe đấng bậc khác, người khác có nhận-định khá sâu-sắc như sau:

“Tính-cách bộ-tộc của Thượng-đế ở đạo-đức Do-thái-giáo đang lớn mạnh. Thuyết duy-vũ-trụ đang ló rạng. Thượng-đế đây khi xưa vẫn là còn như thế cho đến khi Đức Giêsu biến-đổi thành Đức Chúa trước tiên đi vào hiện-hữu và rồi thành Đấng Thánh-hoá cho đi sự sống có thẩm-thấu bộc-lộ cho mọi người thấy được thực-chất của mọi hữu-thể.

 Đức Giêsu sai-phái tông-đồ Ngài ra đi mà đến với thế-gian (Mt 28: 16-20). Các tông-đồ được lệnh vượt lằn ranh biên-giới của nước mình, bộ-tộc mình và đặc-biệt hơn, vượt khỏi đạo-giáo của mình nữa.

 Khi các ngài, cuối cùng, không thể nào thoát khỏi mọi lằn ranh nằm bên trong nhân-loại nay trải rộng và cởi mở, các ngài được lệnh rao-giảng Tin Mừng, tức là: tình thương-yêu vô bờ bến của Thiên-Chúa với mọi người mà Chúa đã thực-hiện, một tình-thương vốn không chấp-nhận một lằn ranh cách biệt nào hết.

 Tình-thương không ranh giới sẽ yêu thương cả những người khi xưa tìm cách đóng đinh Tình-Yêu của Chúa vào thập-giá. Nó bao gồm mọi loài, mọi cây cỏ, mọi hành-tinh, mọi bộ-tộc mọi người.

 Tất cả đều được Chúa chọn. Không một ai là người ngoại-cuộc, ngoài hành-tinh. Không ai bị chia-cách khỏi Chúa. Ta sống trong Chúa. Chúa sống trong ta. Ta là nhân-chứng ở Giêrusalem, Giuđêa, Samaria và “cho đến mút cùng của trái đất” (Cv 1: 8). Tên của Đức Giêsu nay đã là Emmanuel, có nghĩa: Thiên-Chúa ở cùng chúng ta (Mt 1: 23).

 Và, khi Ngài phán: “Này, ta sẽ ở với các anh mãi.” (Mt 28: 20) tức là Ngài đã nói lên danh-xưng Emmanuel là tính-cách rất thực. Và, khi Thiên-Chúa tự-do như Thần-khí, mọi lằn ranh cách-biệt giữa quốc-gia và thể-chế, biểu-trưng bằng các ngôn-ngữ khác-biệt, thì lằn ranh ấy bị tẩy/bỏ và mọi người được ơn Thánh-thần và bắt đầu nói thứ ngôn-ngữ của tình thương-yêu (Cv 2: 1-4). Và, thần-khí ấy thông-chuyển ngang qua lịch-sử, thì lằn ranh biên-giới lại ngã đổ.

Rồi, khi Phêrô nghe tiếng Chúa trong giấc mộng bảo rằng: “Những gì Thiên-Chúa đã tẩy sạch thì ngươi không được gọi là ô-uế” (Cv 10: 9-16) Phêrô mới trổi dậy từ thị-kiến ấy và đã tẩy/rửa cho Cornêlius, người ngoài Đạo. Sử-thi của Do-thái-giáo đã phá đổ mọi rào-cản rồi đi vào với vũ-trụ trở thành anh-hùng-ca của nhân-loại.” (x. Tgm John Shelby Spong, Jesus beyond religion, the sign of Kingdom of God, The Sins of Scripture nxb HarperCollinsPublishes 2005 tr. 295-298)

Thi-sử hay anh-hùng-ca của nhân-loại nay dàn-trải khắp mọi nơi. Trong mọi người. Thiên-sử ấy gọi là tình thương-yêu. Là Đạo-lý của đạo-giáo rất Kitô. Là, gì nữa thì bạn và tôi, ta cũng nên suy-tư mà nhận–định như thế.

Suy-tư/nhận-định không theo kiểu nghe qua rồi bỏ. Nhưng là nhận-chân ra sự thật ở đời dù nhiều khác-biệt, vẫn cứ là ảnh-hình của một sự thật tình-yêu được người diễn-tả qua văn-chương/nghệ-thuật cùng âm-nhạc, cùng mọi thứ.

Trong cảm-nhận sự khác-biệt trong yêu-thương đoàn-kết cũng rất Đạo, mời bạn mời tôi, ta vào với lối diễn-tả nhè nhẹ ở truyện kể như sau:

“Sáng nào cũng thấy thằng nhỏ cầm cái lon đứng chầu chực trước quán ăn. Tôi để mắt theo dõi thì hễ thấy thực khách vừa kêu tính tiền thì thằng bé chạy vào nhìn vào những cái tô, nếu còn thức ăn dư mứa thì nó vội vã trút vào cái lon rồi chạy ra ngoài đứng ngóng tiếp.

Khi cái lon gần đầy thì nó biến mất, chập sau thấy nó lại có mặt thập thò trước quán tiếp tục. Bàn tôi ngồi thì đứa bé không bao giờ quan tâm tới, vì mỗi sáng tôi chỉ đủ tiền uống 1 ly xây chừng vì tôi cũng nghèo cải tạo mới về sáng nhịn đói ngồi uống cà phê đen như một cái thú hay một cái tật không bỏ được.

Cứ thế, mà hơn một năm tôi mới quen được và tìm hiểu chút ít về hoàn cảnh gia đình của đứa bé đáng thương.

Tôi cố tình làm quen với thằng bé nhờ hôm ấy trời mưa, thằng bé đứng nép vào trong quán. Thằng bé đứng nép vào ngày càng sâu hơn trong quán vì mưa ngày càng lớn chỉ cách tôi chừng độ nửa thước. Tôi với tay kéo nó ngồi xuống bàn và hỏi nó có thích uống cà phê không?

Thằng bé lắc đầu lia lịa và nói không uống. Tôi hỏi nó làm gì ngày nào cũng ra đây? Và hiện sống với ai? Thằng bé như đoán được rằng: tôi chỉ là người khách ghiền cà phê nặng nên hàng ngày đóng đô ở đây nên nó cũng trả lời nhanh nhẹn rằng:

– Con sống với ba má con, Ba con đi làm xa còn Má con đi phụ buôn bán ở ngoài chợ…

Tôi hỏi tiếp:

– Còn con có đi học không ?

Thằng bé nói:

– Con không có đi học… con ở nhà phụ với má nuôi heo…

Đó là lý do để nói lên sự hiện diện hằng ngày của nó nơi quán ăn nầy. Nghe thằng bé nói như thế, tôi nói với chị chủ quán ăn giúp cho nó lấy những cơm và thức ăn thừa, và cũng từ đó nó không còn đứng lúp ló ngoài cửa quán nửa. Và nhờ tánh tình hiền hậu thật thà chị chủ quán cho nó vô phụ dọn bàn đề lấy thức ăn dư mang về và cho nó ăn uống để phụ việc. Từ đó tôi và nó gần gũi nhau hơn và thân nhau lắm.

Có lần thằng bé hỏi tôi:

– Chú làm nghề gì vậy hả chú?

Tôi chỉ trả lời ngắn gọn là “Chú đang làm thinh”.

Đúng vậy mới cải tạo về mà, vợ con thì đã theo bên ngoại vượt biển hết rồi, nghe đâu đã định cư bên Úc, nay về ở với mẹ già ngày 1 buổi cà phê hai bữa cơm độn qua ngày.

Thời gian ngột ngạt chậm chạp trôi qua, may mắn vợ chồng tôi đã bắt liên lạc được với nhau. Thế là những bữa cơm không còn ăn độn khoai củ hay bo bo nữa nhưng vẫn quen cữ sáng cà phê quán gần nhà. Không biết chị chủ quán có bỏ bùa mê hay tôi ghiền chỗ ngồi mà không bữa nào vắng tôi.

Một hôm, tôi đề nghị theo thằng bé về nhà nó chơi cho biết vì nó nói ở cũng gần không xa lắm. Thấy nó do dự và tỏ vẻ sợ sệt, tôi biết ngay nó đang giấu giếm điều gì. Thương nó lắm, tôi dúi tiền cho nó hoài.

Mấy hôm sau tôi lẳng lặng đi theo nó khi nó mang cơm và thức ăn dư về nhà buổi trưa. Khi thấy nó lủi vô một cái chòi nhỏ xíu thì tôi thật sự không ngờ. Đứng dưới gốc cây Gòn cách nhà nó không xa tôi thầm nghĩ, nhà chút xíu như vậy gia đình 3 người ở thì chỗ đâu mà nuôi heo. Tôi đang đứng suy nghĩ đốt cũng hết mấy điếu thuốc thì thằng nhỏ lục tục xách lon xách nồi đi ra quán để thu dọn thức ăn buổi chiều.

Đợi thằng bé đi khuất tôi lò mò đến nơi mà hồi nãy nó vào. Đến đó mới nhìn rõ thì thật ra đâu có phải là nhà, một lõm trống được che dựng lên bằng những phế liệu đủ loại muốn chui vào phải khom mọp xuống. Nghe thấy có tiếng chân dừng lại, có tiếng đàn bà vọng ra hỏi.

Tôi trả lời là đi kiếm thằng Tuất, thì nghe giọng đàn ông cho biết nó vừa đi khỏi rồi, và hỏi tôi là ai, mời tôi vào…. Vừa khom người chui vào tôi mới thật sự không ngờ những gì hiển hiện trước mắt tôi.

Người đàn ông hốc hác cụt hai giò tuổi cũng trạc tôi nhưng trông yếu đuối, lam lũ và khắc khổ lắm, một người đàn bà bệnh hoạn xác xơ – cả hai đang ăn những thức ăn thừa mà thằng bé vừa mới đem về. Vừa bàng hoàng, vừa cảm động vừa xót xa, nước mắt tôi bất chợt tuôn rơi mặc dù tôi cố nén…

Từ đó, tôi hiểu rõ về người phế binh sức tàn lực kiệt sống bên người vợ thủy chung tần tảo nuôi chồng bao năm nay giờ mang bịnh ác tính nặng nề thật đau xót. Tôi móc hết tiền trong túi biếu tặng và cáo lui. Về đến nhà tôi vẫn mãi ám ảnh hoàn cảnh bi thương của gia đình thằng bé mà tôi bỏ cơm nguyên cả ngày luôn.

Sáng hôm sau ra uống cà phê, thằng bé gặp tôi nó lấm lét không dám nhìn tôi vì nó đã biết trưa hôm qua tôi có tới nhà nó. Nó thì tỏ vẻ sợ tôi, nhưng tôi thực sự vừa thương vừa nể phục nó nhiều lắm. Tôi kêu nó lại và nói nhỏ với nó tại sao không cho tôi biết. Tội nghiệp nó cúi đầu im lặng làm lòng tôi thêm nỗi xót xa.

Có khách kêu trả tiền, như có cơ hội né tránh tôi nó chạy đi dọn bàn và tiếp tục công việc thu dọn thức ăn. Hèn gì sau nầy nó để thức ăn dư phân loại đàng hoàng lắm.

Tội nghiệp hoàn cảnh của thằng bé mới mấy tuổi đầu mà vất vả nuôi cha mẹ theo khả năng chỉ tới đó. Cha là một phế binh cũ trước 75 cụt hai chân, mẹ thì bị bệnh gan nặng bụng phình trướng to khủng khiếp và cặp chân sưng vù lên đi đứng thật khó khăn, nước da thì vàng mét như nghệ. Thằng bé là lao động chánh trong gia đình, nó có hiếu lắm. Từ đó tôi thường cho tiền đứa bé mua bánh mì cơm gạo về nuôi cha mẹ.

Vợ tôi làm thủ tục bảo lãnh tôi sang Úc. Ngày tôi đi tôi đau xót phải để lại hai nỗi buồn đó là để mẹ và em gái lại quê nhà và không còn cơ hội giúp đỡ thằng bé nữa.

Sang Úc định cư, tôi sống tại tiểu bang Victoria mấy năm đầu tôi hết sức cơ cực vì phải vật lộn với cuộc sống mới nơi đất mới và đối với tôi tất cả đều mới mẻ và xa lạ quá. Từ ngôn ngữ đến thời tiết đã làm tôi lao đao không ít. Thỉnh thoảng tôi gởi tiền về nuôi mẹ và em gái không quên dặn em gái tôi chuyển cho thằng bé chút ít gọi là chút tình phương xa.

Mấy năm sau tôi về thăm gia đình, tôi có ghé tìm thằng bé thì nó không còn lấy thức ăn trong quán đó nữa. Tôi mới kể rõ hoàn cảnh thằng bé cho chị chủ quán biết. Chị chủ quán đôi mắt đỏ hoe trách tôi sao không cho chị biết sớm để chị tìm cách giúp gia đình nó. Tôi chỉ bào chữa rằng tại thằng bé muốn giấu không cho ai biết!

Tôi ghé vội qua nhà thằng bé thì mới hay mẹ nó đã qua đời vì căn bệnh ung thư gan. Chỉ còn chèo queo một mình ba nó ở trần nằm một góc trông hết sức thương tâm. Hỏi thăm thì mới biết nó đã xin được việc làm đi phụ hồ kiếm tiền về nuôi cha.

Chúa nhật tôi tới tìm thằng bé, chỉ mới có mấy năm mà nó đã cao lớn thành thanh niên rất đẹp trai duy chỉ đen đúa vì phơi nắng để kiếm đồng tiền. Tôi dẫn nó trở ra quán cà phê cũ, thấy nó hơi ái ngại, tôi trấn an là bà chủ quán tốt lắm tại không biết được hoàn cảnh gia đình nó.

Ra đến quán ăn chị chủ quán năn nỉ nó về làm với chị, dọn dẹp và bưng thức ăn cho khách nhẹ nhàng hơn đi phụ hồ và chị sẽ trả lương như đang lãnh bên phụ hồ, tối về thức ăn thường bán không hết chị cho đem về nhà dùng khỏi phải mua hay đi chợ. Lần đầu tiên tôi thấy nó khóc, chị chủ quán cũng khóc theo làm tôi phải đứng dậy bỏ ra ngoài để khỏi phải rơi nước mắt vì chịu không nổi.

Thằng Tuất vừa khóc vừa nói: “Sao ai cũng tốt với gia đình con hết đó, nhưng vì con đang làm phụ hồ cho anh Năm, anh ấy cũng tốt lắm giúp đỡ gia đình con nhiều lắm, sáng nào cũng mua cho ba con gói xôi hay bánh mì trước khi tụi con đi làm. Con cũng mang ơn ảnh nhiều nên con không thể nghỉ được, con xin lỗi”.

Không biết thằng Tuất nó nói thật hay nó ái ngại khi quay về chỗ mà ngày nào cũng cầm cái lon chầu chực trút đồ ăn dư về nuôi cha mẹ. Phải thông cảm nó, phải hiểu cho nó, phải cho nó có cái hiện tại và tương lai tốt hơn, đẹp hơn ngày trước. Chị chủ quán vừa gạt nước mắt vừa nói “Bất cứ lúc nào con cần đến cô thì con đừng ngại, cho cô biết nhé”…

Đời này cũng còn có những hoàn cảnh bi đát ít ai biết đến, và cũng có những đứa con xứng đáng như thằng Tuất. Ngày về lại Úc, tôi đến biếu hai cha con nó hai triệu đồng, thấy nó và ba nó mừng lắm tôi cũng vui lây. Không biết phải giúp gia đình nó như thế nào, tôi chụp hình ba nó, photo giấy tờ ba nó đem về Úc gởi cho Hội cứu trợ thương phế binh bị quên lãng trụ sở ở Sydney.

Mấy tháng sau nhận được thư ba thằng Tuất viết qua, ông quá vui mừng khi được Hội bên Úc giúp đỡ gởi tiền về, ông cho biết suốt bao nhiêu năm qua lần đầu tiên ông thấy được niềm hạnh phúc khi cuộc đời phế binh của ông còn có người nhớ đến.

Không biết ông ấy vui bao nhiêu mà chính tôi cũng hết sức vui mừng khi thực hiện một việc làm đem niềm vui đến cho những người phế binh sống hết sức đói nghèo bên quê mẹ. (Truyện kể do Sưu Tầm siêu tầm)

             Đó chỉ là một trong muôn ngàn câu truyện đời nói điều gì đó, mà thiên hạ đời thường vẫn cứ nói và cứ kể. Kể đây, có thể để nói lên lòng bác ái/yêu thương của cá-nhân hoặc tổ-chức giúp người kém may mắn.

Về các trích-dẫn ở trên về các Đạo để tìm ra một ngày lễ chung cho Phục Sinh, là vấn đề kết-hợp/đại-kết, còn là và vẫn là kết và hợp với tất cả mọi người, không phân-biệt tôn-giáo, già/trẻ, gái/trai, tức: hết mọi người. Tất tần tật.

Kết và hợp trong đại-kết hoặc nối-kết với người khác, đạo khác, tổ-chức khác vv.. còn là và sẽ là kết và hợp hoặc kết rồi hợp trong tinh-thần nhín nhường, dành ưu-tiên cho người khác, ở trên và ở trước mình. Ưu-tiên cả trong quyền-hành, tiền bạc và/hoặc chổ đứng lẫn vị-thế ở đâu đó.

Kết và hợp còn là và sẽ là sống cuộc đời rất Đạo ở nhà đạo hay ngoài đời. Sống như thế, còn có nghĩa đem Đạo vào đời người trong khiêm-tốn, cởi mở rất hết mình.

Trong tình-thần đó, mời bạn và tôi, ta lại sẽ hát mãi bài hát có con dế mèn và em bé đơn sơ, hiền hoà, chân-chất, rất như sau:

“A! Này bé, theo dế ra tận bờ đê

Đất sét đem về ta nặn đồ chơi.

Nặn những tay người hay nặn bàn chân

Tặng cho những ai tàn tật

A! Này bé, theo dế ra trại định-cư.

Coi những ông già phá rừng trồng hoa

Chia sớt ngọt bùi với trẻ mồ côi

Đời mới chúc người phục hồi…

A! Này bé, Con dế xin vài hòn bi!

A! Này bé, Đem biếu những em xa quê!…

            (Phạm Duy – bđd)

             Hát thế rồi, nay ta cứ thế mà sống tinh-thần thân-thương, chân-chất của các bé em hiền-lành ở đời.

                        Trần Ngọc Mười Hai

            Vẫn muốn sống

Như bé em

Chỉ chơi dế.

Suy Tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ Tư Phục Sinh năm C

Suy Tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ Tư Phục Sinh năm C 17/4/2016

 Tin Mừng (Ga 10: 27-30)

Khi ấy, Đức Giêsu nói với các người Do thái rằng:

“Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không AI cướp được chúng khỏi tay tôi. Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không AI cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha. Tôi và Chúa Cha là một.“

Mai Tá lược dịch. 

 Thông điệp Chúa Chiên Lành hôm nay, có gốc gác rất xưa cổ, thời Cựu Ước. Đặc biệt là sách Êzêkiel, trong đó sáng ngời hình ảnh vị Chúa Chên có “tình cho đi mà chẳng có về”. “Tình cho đi” của Chúa Chiên hôm nay, là sự đỡ nâng đùm bọc, đầy lòng thương xót. Lòng xót thương hai chiều giữa chiên đàn mà Ngài chăn dắt và Vị Chủ Chăn, rất Nhân Hiền. Ở chiên, luôn có sự tự nguyện dấn bước theo chân vị chủ chăn với lòng trọn vẹn tin tưởng. Ở chủ chăn, đó là “lòng kêu gọi mãi”, dù chẳng AI nghe.

Về chăn chiên, các chủ chăn ở Palestine – Trung Đông có thói quen chăn dắt chiên đàn nơi đồng cỏ xanh tươi, bằng đôi chân bước. Chủ chăn chẳng cần đến đàn chó hoặc ngựa cỡi, để lùa chiên như ở Tô Cách Lan, hay nước Úc. Chủ chăn Do Thái, luôn ở phía trước dẫn đường cho chiên con. Và cứ thế, chiên con nghe tiếng chủ kêu gọi mà bước theo sau, rất tin tưởng. Chiên là thú đàn rất hay lo. Dễ hốt hoảng, cách vô lý. Chiên âu lo, nhớn nhác chạy hỗn độn chẳng nguyên cớ. Bất kỳ chuyện tình cờ nào xảy đến, chiên đàn cũng hốt hoảng, chạy tứ tán. Tìm chủ chăn. Và, khi tìm được chủ chăn, thì chiên con cứ răm rắp bước theo đàn, về cùng hướng. Với chiên, chỉ cần nhận Ra lời kêu gọi của chủ chăn, là đã đủ.

Là thú bầy nhút nhát, hay lăng xăng tò mò. Dễ tổn thương. Âu lo. Nên, chiên đàn luôn hãi sợ. Không khôn ngoan cũng chẳng sáng ý như thú loài, nào khác. Chiên quen nghe tiếng chủ, nên khi nghe chủ gọi, chiên không chần chừ, biết tụ tập ngay thành nhóm, thành đàn, tuân lệnh chủ. Không chậm trễ. Chủ biết tính chiên. Chiên biết tính chủ.

Dựa vào đức tính này, thánh Gioan so sánh tâm lý của vị chủ chăn với chiên bầy dễ bảo. Và, thánh sử ví Đức Kitô như Chúa Chiên Nhân Hiền luôn chăm sóc chiên con, nơi đàn bầy. Đây là biểu tượng mà Hội thánh sử dụng để nói về Ơn Gọi trong nhà Đạo: hãy có quyết tâm tham gia trở thành chủ chăn dẫn dắt đàn chiên ngoan đạo.

Lời mời gọi của Hội thánh hôm nay cũng trở nên cấp thiết, khi dữ liệu cho thấy có sự thiếu cân bằng về số lượng và vai trò của các chủ chăn, trong cộng đồng Giáo hội. Chí ít, là Giáo hội ở phương Tây. Ở nhiều nơi, Giáo hội đang bắt đầu dung nạp các ứng viên cho vai trò của chủ chăn từ các nuớc mà trước đây là cánh đồng truyền giáo, đầy những chiên. Bởi thế, cần suy tư nghiên cứu phương pháp và cấu trúc trong đào tạo chủ chăn. Nói cách khác: với Phụng vụ Chúa nhật Chúa Chiên Lành, Hội thánh trở về với Ơn Kêu Gọi làm chủ chiên, lo chăn dắt linh hồn chiên đàn, tin vào Đạo.

Bàn về Ơn Gọi làm chủ chăn trong Hội thánh, là bàn về sự quan yếu của tình thân thương mật thiết trong cộng đồng dân Chúa. Trước nhất, là sự mật thiết giữa chiên con và chủ chăn, tức Đức Kitô rao giảng, vẫn được coi như sự thân mật linh thánh giữa các thành viên cùng nhà, tức Hội thánh Chúa. Gia đình Hội thánh Chúa ở đây được hiểu theo nghĩa gia đình hợp nhất. Hợp nhất không chỉ hiểu theo hệ cấp thần quyền bên trên. Mà là, sự thân mật giữa mỗi người và mọi người. Vì, tất cả thành viên trong gia đình Hội thnh đều là chi thể có cùng một thân mình, cùng não bộ chỉ huy; và, cùng nhịp đập con tim, tạo sức sống.

Sự mật thiết thân thương giữa thành viên trong Hội thánh không là sự thân thiết mang tính chai lì, thụ động. Thụ động, như thái độ vẫn thấy nơi dân thường trong hệ cấp chính quyền, ở ngoài đời. Với thế quyền ngoài đời, người dân chỉ biết có đóng thuế. Và, thi hành luật pháp, thế là đủ. Trong đạo, thực thi luật pháp và thi hành lệnh cũng tựa như giữ các điều răn, giới luật của Hội thánh. Như thế chưa đủ. Còn phải biết dấn thân hơn nữa. Tức là đáp lại lời kêu gọi mất thiết của Hội thánh.

Hội thánh thân thương mật thiết kêu gọi con dân nhà Đạo hãy luôn nguyện và cầu. Nguyện cầu cho Ơn Gọi, trong Hội thánh. Kêu gọi mỗi thành viên tham gia trở thành thừa tác viên cho công tác mục vụ của Hội thánh. Công tác này có thể là vai trò của vị chủ chăn, như linh mục, tu sĩ hoặc nữ tu. Cũng có thể là thừa tác giáo dân trong vai trò cộng tác với các linh mục tu sĩ ấy.

Hội thánh hôm nay vẫn tiếp tục kêu gọi mọi thành viên trở nên linh mục tu sĩ lo việc tu đức trong cộng đồng dân Chúa. Nhưng gọi như thế, không có nghĩa Hội thánh lọai bỏ sự trân trọng về nhu cầu cần thiết, nơi vai trò của giáo dân trong công trình hợp tác xây dựng Nuớc Chúa. Ngày nay, có lẽ nên hiểu Ơn Gọi chăn dắt đàn chiên theo nghĩa phổ cập. Nghĩa là, mỗi người một hoàn cảnh và vị thế, tất cả thành viên đều có thể hoàn thành hợp tác với Hội thánh trong công trình chăn dắt đàn chiên con Giáo hội. Mặc dù, nhu cầu trở thành linh mục/tu sĩ, hoặc nữ tu vẫn được nhấn mạnh và coi là ưu tiên hàng đầu.

Tham gia đáp ứng Ơn Gọi chăn dắt đàn chiên còn là nhận biết lời mời gọi ấy nay gửi đến chính mình, mỗi thành viên. Không phân biệt giới tính, tuổi tác hay sắc tộc. Nhận biết lời Mời Gọi của Hội thánh, đại diện Chúa Chiên Hiền Lành, cũng phải được cân nhắc theo hoàn cảnh của mỗi thành viên và Giáo hội địa phương.

Lời mời gọi của Chúa Chiên Lành, còn là quà tặng riêng lẻ mỗi người đều có thể sử dụng để làm lợi cho người khác. Thành viên khác. Trong cộng đồng Giáo hội, tức các Kitô hữu. Điều này có nghĩa: trên thực tế, ta hãy cùng nhau thực hiện công tác chung của cộng đoàn tình thương là Giáo hội. Công tác xây dựng cộng đoàn tình thương của Đức Chúa, là Chúa Chiên Lành, vẫn đang chờ sự đáp trả của mỗi thành viên. Thành thử, cầu nguyện cho Ơn Gọi, còn có nghĩa là cầu nguyện cho ta, cho người khác, cho bạn bè người thân cùng có Ơn Gọi, chứ không chỉ mình ta. Cầu cho Ơn Gọi, là cầu cho mọi người nghe được tiếng kêu. Tiếng gọi. Của vị chủ chăn đang khẩn thiết kêu mời tất cả dân con trở thành thừa tác viên – tông đồ cho cánh đồng truyền giáo chung.

Cầu, là cầu cho mỗi người. Ở một vị thế. Ta chung lưng đấu cật, cùng nhau thực hiện sứ vụ dựng xây Cộng đoàn tình thương là chính Hội thánh thân thương, ta đang sống. Cầu, là cầu cho toàn thể cộng đoàn biết nghe tiếng gọi của Chủ chăn. Biết tính của chiên đàn, đang lắng nghe tiếng gọi của người chăn dắt.

Tham dự tiệc thánh hôm nay, ta hãy để ra nhiều khoảnh khắc mà suy tư nguyện cầu về lời gọi mời của Chúa Chiên Hiền Lành, biết ý chiên con. Nguyện cầu cho lời gọi mời của Chúa Chiên gửi đến mỗi chiên con, đem lại kết quả. Với đáp ứng của chiên con. Trong Hội thánh. Nguyện và cầu cho chiên con biết đáp lại bằng hai tiếng “Xin Vâng”. Xin vâng, theo thánh ý Chúa mà lãnh nhận bất cứ vai trị nào để phục vụ Hội thánh. Xin vâng, để nếu không làm linh mục, tu sĩ, nữ tu, ta cũng làm thừa tác viên; hoặc phó tế mở mang Nước Trời. Ở trần gian.

Lm Richard Leonard, sj biên soạn

Mai Tá lược dịch. 

‘Việt Nam – Hồ Chí Minh!’

‘Việt Nam – Hồ Chí Minh!’
Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Xin bạn đọc chớ vội dị ứng khi thấy hai tiếng Việt Nam được viết đi liền với tên Hồ Chí Minh. Đây chính là một sự gán ghép tệ hại, xấu xa nhất của lịch sử trong hơn nửa thế kỷ này.

Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt. (Hình minh họa: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Bà Nguyễn Thị Nhuận, một điều dưỡng viên hiện đang làm việc tại Nam Úc, đã kể lại một câu chuyện trên VnExpress, nghe đến nát lòng!

Bà được bệnh viện gửi đến nhà một người khuyết tật, bị bại liệt hai chân, để giúp chăm sóc thường ngày, giúp ông tắm rửa, ăn sáng, dùng máy nâng ông vào ghế tắm và đặt lại giường nằm. Vừa làm, bà vừa giải thích cho ông biết, nhân viên ngày thường đến chăm sóc ông hôm nay bị bệnh nên bà được cơ quan y tế cử đến thay thế.

Bỗng nhiên bà nghe ông hỏi, bà đến Úc lâu chưa?

Bà trả lời:

-Thưa ông, mới hai năm nay và tôi đến từ Việt Nam!

Nghe chưa dứt hai tiếng Việt Nam, ông già bỗng giận dữ quát to, một cách thô lỗ:

-Mày ra khỏi nhà tao ngay! Ra ngay!

Người điều dưỡng viên trong câu chuyện này ấp úng:

-Nhưng, ông đang trong nhà tắm…

-Không! Ra ngay, ra ngay!

Bà Nhuận nhẫn nhục để ông trên ghế tắm, khoác cái áo choàng cho ông và đi ra gọi điện báo về văn phòng. Họ bảo bà cứ yên tâm ra về, họ sẽ cử người đến làm tiếp và an ủi bà:

-Đừng coi đó là chuyện của riêng bà!

Bà Nguyễn Thị Nhuận kể lại: “Tôi cảm thấy tủi thân, trào nước mắt. Tôi mới từ Việt Nam qua với tâm trạng tuy mình còn kém tiếng Anh, nhưng người Việt Nam cũng ‘nổi tiếng anh hùng, dũng cảm, thông minh, sáng tạo…’ Bà cũng chẳng có tội tình gì với ông già, được đến để chăm sóc ông, và cũng tự đánh giá mình là người tử tế. Nhưng tại sao lại bị đối xử như vậy? Chẳng lẽ chỉ vì bà là người Việt Nam?”

Lẽ cố nhiên người điều dưỡng viên trong câu chuyện này không được bệnh nhân cao niên kia giải thích vì sao ông lại khinh miệt một người Việt đến như thế! Có thể trước đây, một người Việt Nam nào đó đã làm những điều xấu xa, hay đối với ông tồi tệ thế nào, khiến giờ đây ông ghét tất cả người Việt.

Cơ quan y tế cử bà Nguyễn Thị Nhuận đến giúp đỡ cho người đàn ông Úc cao niên kia đã an ủi bà: “Đừng coi đó là chuyện của riêng bà!”

Phải, câu chuyện này không phải là của riêng bà, một người Việt đang làm việc tại Úc mà của tất cả thanh danh của người Việt đang ở nước ngoài. Người ta cũng mường tượng ra, một người Việt Nam nào đó đã đối xử xấu xa hay làm một điều gì đó khiến cho một người Úc căm giận đến thế?

Du học ở Úc, bà Nguyễn Thị Nhuận cũng đã được bạn bè, ngay cả những người Châu Á, than phiền về lối sống vô trách nhiệm của sinh viên Việt tại đây, biết đến những thanh niên Việt Nam đang can dự vào các tội buôn bán ma túy tại nơi đã cưu mang họ, và bà cũng mới nghe tin hai người Việt bị bắt vì tội trộm cắp ở Thụy Sĩ.

Cũng như chúng ta, bà Nguyễn Thị Nhuận lâm vào hoàn cảnh này hẳn phải tức giận và xấu hổ, trăn trở tự hỏi: “Ai đã làm cho đất nước chúng ta lâm vào cảnh trái ngang này?”

Câu kết luận của bà Nguyễn Thị Nhuận là: “Có lẽ mỗi ngày tôi và các bạn nên nhìn thẳng vào tấm gương thực (chứ không phải những tấm gương nịnh mặt) để thấy những vết nhọ của mình.”

Khi mà mặt mình mang nhọ, đừng nghĩ là không ai thấy, có ra đường thì chớ vênh váo thêm nhục!

Bạn thử đứng vào vị trí một nhân viên quan thuế tại phi trường Changi, Singapore, khi cầm sổ thông hành của một cô gái Việt mới đến đây, mà không thể không liên tưởng đến chuyện tối nay, anh có thể gặp cô này trên con đường Joo Chiat Road tấp nập của Singapore. Hay một nhân viên phi trường Nhật nào đó cầm một cái sổ thông hành Việt Nam trong tay, mà không nghĩ đến bao nhiêu người Việt, kể cả các quan chức là lũ ăn cắp, buôn lậu.

Không phải không có lý do hay phát biểu hồ đồ mà Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Hà Nội Ngô Quang Kiệt đã phát biểu: “Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam, đi đâu cũng bị soi xét, chúng tôi buồn lắm chứ!” Thay vì nhìn nhận sự thật, “soi gương” thì chính quyền Hà Nội, thông qua truyền thông Việt Nam, đã bắt bẻ, đặt vấn đề về lòng yêu nước của ông, cuối cùng áp lực cho ông được về hưu sớm hơn so với kế hoạch.

Sau Tháng Tư, 1975, dân Bắc, ai đi Nam về cùng có chung một nhận xét “trẻ con trong Nam hầu như rất ít nói bậy và viết những điều tục tĩu lên tường nơi công cộng, đi đâu về nhà thì lễ phép cung kính vòng hai tay thưa gửi người bề trên. Đặc biệt, ngoài đường, xe cộ nếu có đụng chạm thì cũng không dẫn đến xô xát, chửi bới nhau như ngày nay.”

Sau năm 1975, “đất lành chim đậu,” nhiều đợt di dân mới ồ ạt từ Bắc vào Nam, tạo điều kiện cho Nam Bắc gần gũi nhau, nhưng cũng chính từ đó, thói hư tật xấu dễ lan tràn, đồng hóa hơn là học hỏi được điều tốt, và ngày nay cái tên “thành phố Hồ Chí Minh” cũng lấm lem không thua gì Hà Nội.

Sau Cách Mạng Tháng Mười, 1917 của Nga, nhà văn Maxim Gorki đã có nhận xét rằng “cuộc cách mạng đã có tác dụng tích cực lật đổ được chế độ phong kiến, nhưng với sự nắm quyền và quản lý xã hội của giai cấp vô sản ít học, nước Nga sẽ phải đối đầu với một tình trạng còn nguy hiểm hơn, đó là ‘lâm nguy văn hóa.’”

Đó là Việt Nam ngày nay. Muốn cải cách văn hóa, giáo dục, lối sống, cũng như của mọi công cuộc cải cách khác, trước hết phải cải cách chính trị, nói chung là thay đổi chính quyền. Từ đâu mà từ nửa thế kỷ nay vấn đề đạo đức – văn hóa – giáo dục của đất nước chúng ta trở nên tồi tệ như hôm nay, và hai tiếng Việt Nam trở thành một mối bận tậm, hổ thẹn của người Việt Nam, khi đi ra nước ngoài!

Tôi xin kể một câu chuyện nhỏ mới xẩy ra đây thôi.

Ba năm nay, ở Kuala Lumpur, thủ đô Malaysia, vào dịp lễ Quốc Khánh 2 Tháng Chín, tòa đại sứ CSVN đều tổ chức một buổi tiệc “buffet” và mời đại diện đại sứ quán các nước khác và người lao động Việt Nam ở Malaysia tham dự. Buổi tiệc chưa bắt đầu, trước con mắt của quan khách ngoại quốc, dân Việt Nam đã nhào vào bàn tiệc lấy thức ăn, đến mức khách tham dự không còn gì ăn, tạo ra một khung cảnh hỗn loạn vô cùng xấu hổ. Năm sau, rút kinh nghiệm, tòa đại sứ tổ chức hai nơi, một ngoài trời và một trong hội trường cho quan khách. Người Việt Nam sau khi đã ăn ở ngoài trời, lại nhào vào hội trường vơ vét thức ăn. Vừa xấu hổ và vì danh dự, đại diện tòa đại sứ Việt Nam tại đây phải chắp tay xin lỗi quan khách!

Câu chuyện đạo đức hôm nay không phải là chuyện đạo đức mà chúng ta trước kia đã có và đã nói tới, mà chính là thứ đạo đức được nhồi nặn trong chủ nghĩa Cộng Sản, thứ “đạo đức cách mạng” sản xuất từ ngay vận nước suy vi, mùa Thu 1955, khi mà dân tộc Việt Nam “vô phúc” nhập cảng nhầm cái chủ nghĩa độc hại, không khác gì thực phẩm độc hại giết người của Trung Cộng hiện nay, là chủ nghĩa Cộng Sản.

Đó cũng là từ ngày hai tiếng Việt Nam được kẹp đôi và gắn bó với cái tên Hồ Chí Minh, như bài hát của “đứa con bất hiếu” Phạm Tuyên, mà những tên ăn bả của Việt Cộng đã nhảy cỡn lên mà reo hò trong các đại hội “Việt Kiều:” “Việt Nam – Hồ Chí Minh!” “Việt Nam – Hồ Chí Minh!”

Chúng ta đã rõ! Cái tên Việt Nam chưa bao giờ nhận được sự bẽ bàng, khốn khổ, khinh miệt từ ngày nó được ghép theo cái tên Hồ Chí Minh!

Nhà văn Phạm Thành bị an ninh triệu tập

Nhà văn Phạm Thành bị an ninh triệu tập

Pham Thanh

Nhà văn Phạm Thành (áo vest xám nhạt, đứng giữa) trong vụ xử blogger Ba Sàm – Nguyễn Hữu Vinh.

Một nhà văn, nhà báo và cựu phóng viên Đài tiếng nói Việt Nam nói ông đã bị an ninh Việt Nam triệu tập “làm việc” lần thứ tư vì có thể bị ghép vào điều 258 Bộ luật hình sự.

Nhà văn Phạm Thành, chủ blog Bà Đầm Xòe cho hay giấy triệu tập của an ninh điều tra, công an Thành phố Hà Nội với ông viết ”nội dung liên quan đến tin báo của Hội nhà văn và công ty điện toán, truyền số liệu’.

Trả lời BBC Tiếng Việt từ Hà Nội hôm 03/4/2016, ông Thành cho hay ông được mời lần thứ tư để “làm việc về nội dung liên quan đến tin báo của Hội Nhà văn và công ty VNPT” về “20 bài báo ký tên Bà Đầm Xòe Phạm Thành, đó là những bài báo đăng từ năm 2012, 2013.

“Năm 2014 thì họ triệu tập tôi lên làm việc, thì từ năm 2014 đến giờ họ liên tục triệu tập.”

Ông nói với những bài báo bị thu thập, ông nghĩ mình “có khả năng” bị ghép vào vi phạm điều 258, điều 88 như Anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh hay blogger Trương Duy Nhất.

Tác phẩm khái quát giai đoạn Cộng sản Việt Nam đã mang học thuyết Marx – Lenin về với những chiêu bài làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” và “làm cho dân miền Bắc đến chỗ đau đớn khổ sở, đạo đức bị suy đồi

Nhà văn Phạm Thành

Điều 258 Bộ luật hình sự nước CHXHCN Việt Nam quy định:

“Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.”

Một phần nội dung khiến ông bị triệu tập theo ông có thể liên quan đến tiểu thuyết “ Cò hồn xã nghĩa” mà ông viết.

Ông nói với BBC:

“Tác phẩm này tôi chính thức gửi Hội nhà văn dự thi. Tôi cũng chưa xuất bản gì mà chỉ in vài bản để tặng bạn bè”. Ông nói ông đã bị “Hội Nhà văn tố cáo”.

Quyển tiểu thuyết của ông được đăng tải trên mạng từ năm 2014. Tuy nhiên, ông Thành chưa xuất bản cuốn sách tại Việt Nam.

Ông Thành mô tả tác phẩm là “khái quát giai đoạn Cộng sản Việt Nam đã mang học thuyết Marx – Lenin về với những chiêu bài làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” và “làm cho dân miền Bắc đến chỗ đau đớn khổ sở, đạo đức bị suy đồi”.

Ông Phạm Thành tự ứng cử trong kỳ bầu cử đại biểu quốc hội 2016 và nói là để “khai dân trí”

Ông cho biết quyển sách của mình mang “bóng hình các lãnh đạo” và “đậm đặc nhất là nhân vật lãnh tụ cộng sản vĩ đại nhất của Việt Nam là ông Hồ Chí Minh, là người cầm trịch để mang ánh sáng Marx – Lenin về, người cầm trịch cải cách ruộng đất…”. Ông gọi tác phẩm của mình là “bi hài kịch”.

Ông Thành cáo buộc Hội Liên hiệp Văn học, Nghệ thuật Việt Nam đã “tố cáo” ông vì tác phẩm này.

Tự ứng cử

Ông Phạm Thành là chủ một blog tên Bà Đầm Xòe, bàn luận về các vấn đề chính trị xã hội tại Việt Nam.

Trong đợt bầu cử đại biểu quốc hội 2016, ông Thành tuyên bố tự ứng cử.

Ông nhận định: “Không như một số ứng viên khác, về thủ tục địa phương không gây khó khăn gì cho tôi.”

Đây là việc làm công khai minh bạch, nên người giúp việc tôi sẽ chụp ảnh, ghi âm tất cả ý kiến cử tri. Thì họ không đồng ý việc đó. Luật không cấm những việc này. Nếu họ không đồng ý, tôi sẽ tuyên bố ngưng không tham gia tranh cử nữa

Nhà văn Phạm Thành

Nhưng ông Thành tin rằng ông cũng sẽ bị “đấu tố” – theo cách mà các ứng cử viên tự do gọi việc họ bị tấn công bằng các ý kiến tại hội nghị cử tri địa phương.

Ông Thành cho biết:

“Mặt Trận tổ quốc phường mời tôi ra hỏi có yêu cầu gì không để chuẩn bị lấy ý kiến cử tri. ”

“Tôi đề nghị có một trợ lý giúp việc tôi, những câu hỏi bà con hỏi tôi quên thì người trợ lý nhắc.

“Thứ hai, đây là việc làm công khai minh bạch, nên người giúp việc tôi sẽ chụp ảnh, ghi âm tất cả ý kiến cử tri. Thì họ không đồng ý việc đó.

“Luật không cấm những việc này. Nếu họ không đồng ý, tôi sẽ tuyên bố ngưng không tham gia tranh cử nữa,” ông Thành nói với BBC Tiếng Việt.

Thời gian ông Thành được an ninh Việt Nam triệu tập theo ông cho biết cũng nằm trong những ngày cuối cùng trước khi hết hạn lấy ý kiến cử tri ngày 12/4.

Ông Thành cho hay ông sẽ làm việc với cơ quan an ninh điều tra vào thứ Hai 4/4, trước đó, ông bị cấm xuất cảnh từ tháng 12/2015.

BBC chưa có điều kiện kiểm chứng các cáo buộc của ông Phạm Thành đối với các cơ quan, tổ chức mà ông đề cập như Hội nhà văn Việt Nam, hay Hội Liên hiệp Văn học, Nghệ thuật Việt Nam.

Hàng loạt vụ công dân Việt Nam bị bắt giữ ở ngoại quốc

Hàng loạt vụ công dân Việt Nam bị bắt giữ ở ngoại quốc
Nguoi-viet.com
VIỆT NAM – Mãi tới hôm 31 Tháng Ba, một phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao Việt Nam mới lên tiếng xác nhận về hàng loạt vụ công dân Việt Nam bị bắt giữ trong thời gian vừa qua.

Ảnh chụp 38 ngư dân Việt Nam bị Hải Quân Thái Lan bắt giữ hôm 25 Tháng Ba. (Hình: Trang Facebook của Second Naval Area Public Relations)

Vụ đầu tiên được xác nhận vì được công chúng Việt Nam quan tâm nhiều nhất là sự kiện 108 người Việt bị Trung Quốc bắt giữ.

Những người Việt này đã bị bắt giữ hồi đầu Tháng Ba, đang bị giam tại thành phố Bằng Tường. Tuy vụ bắt giữ đã xảy ra cách nay cả tháng nhưng mãi tới ngày 30 Tháng Ba, sau khi báo chí Trung Quốc đưa tin, cảnh sát Quảng Tây đã bắt một nhóm chín người tình nghi đưa 108 người Việt đến làm việc tại các nhà máy ở Quảng Đông và Phúc Kiến, công chúng Việt Nam mới biết về sự kiện đó.

Ngoài việc xác nhận tin mà báo chí Trung Quốc đã đưa là đúng. Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam nói thêm, sở dĩ Trung Quốc tạm giam 108 nạn nhân là để điều tra, tìm kiếm những kẻ chủ mưu.

Sau khi cuộc điều tra kết thúc, Trung Quốc sẽ trục xuất 108 nạn nhân bằng cách trao trả họ cho chính quyền Việt Nam. Phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao Việt Nam trấn an công chúng rằng các nạn nhân được Trung Quốc đối xử rất nhân đạo, không ai có vấn đề về sức khỏe.

Ngoài ra phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao Việt Nam còn thừa nhận mới có 25 ngư dân Việt Nam bị Malaysia bắt giữ. Vụ bắt giữ này xảy ra hôm 24 Tháng Ba. Dựa trên những thông tin do hải cảnh Malaysia cung cấp, báo chí Malaysia loan báo, có ba tàu đánh cá và 25 ngư dân Việt Nam bị bắt giữ vì “đánh bắt trái phép trong hải phận Malaysia.” Theo báo chí Malaysia, trị giá số ngư cụ mà hải cảnh Malaysia tịch thu lên tới 600,000 Mỹ kim.

Trong cuộc họp báo mới nhất về tình trạng nhiều người Việt bị bắt giữ tại ngoại quốc, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam không đả động gì đến một số vụ bắt giữ khác cũng xảy ra trong tháng vừa qua. Chẳng hạn hồi trung tuần tháng ba, trong hai ngày 10 và 11, hải cảnh Malaysia từng bắt giữ 42 ngư dân Việt Nam, tịch thu toàn bộ tàu, ngư cụ và 8 tấn hải sản trị giá khoảng 48,000 Mỹ kim. Hoặc hôm 25 Tháng Ba, Hải Quân Thái Lan bắt giữ bảy tàu đánh cá và 38 ngư dân Việt cũng vì “đánh bắt trái phép.” Vụ bắt giữ do Hải Quân Thái Lan thực hiện xảy ra tại vùng biển được cho là cách bờ biển tỉnh Nakhon Si Thammarat khoảng 30 hải lý. Cả ba tàu đánh cá lẫn 38 ngư dân vừa kể đã được chuyển giao cho cảnh sát Thái Lan, họ sẽ bị giam và sẽ bị đưa ra tòa.

Ở cuộc họp báo vừa kể, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam chỉ đề cập thêm một trường hợp công dân Việt Nam bị ngoại quốc bắt giữ là vụ 29 ngư dân Việt bị Úc bắt giữ hôm 27 Tháng Ba. Vụ này người ta cũng chỉ biết qua báo chí Úc. Theo đó, tuần duyên của Úc đã phát giác và bắt hai tàu đánh cá cùng với 29 ngư dân Việt với cáo buộc họ đã bắt trộm hải sâm tại bãi Great Barrie của Úc. Bãi Great Barrie nằm gần Lockhart River, một thị trấn ở Đông Bắc tiểu bang Queensland. Great Barrie là một công viên hải dương, nơi có đủ loại sinh vật biển cư trú. Tuy 29 ngư dân vừa kể đã được chuyển giao cho cơ quan di trú của Úc tạm giam và chắc chắn họ sẽ phải hầu tòa vừa vì xâm nhập hải phận Úc, vừa vì đánh bắt trái phép nhưng sự kiện này vẫn còn làm xôn xao dư luận Úc. Nhiều viên chức và dân chúng Úc chưa hết kinh ngạc khi ngư dân Việt Nam băng qua hàng chục ngàn cây số ở Thái Bình Dương để tìm đến Great Barrie. Ông Wayne Butcher, thị trưởng Lockhart River nói với báo giới Úc rằng, bãi Great Barrie rất gần đất liền nhưng hai tàu đánh cá của Việt Nam có thể dễ dàng xâm nhập, bắt tới ba tấn hải sâm mới bị phát giác là những hồi chuông cảnh báo cả về sơ suất trong phòng vệ biển lẫn nguy cơ thất thoát nguồn lợi tự nhiên.

Có lẽ cũng nên nhắc lại là trong vài năm gần đây, ngoài Trung Quốc, ngư dân Việt Nam còn bị Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan rượt đuổi, bắn, bắt, giam giữ, buộc nộp phạt, tịch thu phương tiện sinh nhai với cáo buộc xâm nhập và đánh bắt trái phép trong lãnh hải của những quốc gia đó! Dù đã có nhiều đợt phóng thích song người ta ước đoán vẫn còn tới hàng ngàn ngư dân Việt bị các lân bang giam giữ vì “xâm nhập và đánh bắt trái phép.” Trong đó có những người đã bị giam giữ hơn hai năm. Một trong những ngư dân bị bắt và được Thái Lan phóng thích hồi giữa tháng 12 năm ngoái, kể rằng, lúc bị bắt, thời tiết trên biển rất xấu, mưa to, gió lớn họ không xác định được đâu là biển Việt Nam, đâu là biển Thái Lan.

Đáng chú ý là chính quyền Việt Nam thường im lặng, không xác nhận đúng – sai trong tất cả các vụ bắt giữ tàu đánh cá và ngư dân vừa kể, trừ vụ cảnh sát biển Thái Lan xả súng vào sáu tàu đánh cá của Việt Nam ở vịnh Thại Lan hồi Tháng Chín năm ngoái, khiến một ngư dân chết, hai trọng thương. (G.Đ)

Ba Lan dỡ bỏ 500 di tích tượng đài thời Xô viết

Ba Lan dỡ bỏ 500 di tích tượng đài thời Xô viết

Ba Lan do bo 500 di tich tuong dai thoi Xo viet - Anh 1

Dự án dỡ bỏ tượng đài ở Ba Lan thời Xô viết sẽ được chuyển tới các chính quyền địa phương trong vài tuần tới.

Những tượng đài Liên Xô tượng trưng cho “uy quyền của hệ thống cộng sản ở Ba Lan” phải được dỡ bỏ và đưa vào bảo tàng, người đứng đầu Viện Ký ức quốc gia Ba Lan, Lukasz Kaminski tuyên bố.

Theo cổng thông tin Onet.pl., quyết định đề cập tới hơn 500 di tích được dựng ở những địa điểm công cộng “bày tỏ sự biết ơn đối với Liên Xô”.

“Công việc hiện nay là thống kê các vị trí có di tích tượng đài Xô viết. Cho đến tháng 6, chúng tôi sẽ đề xuất một chương trình giúp chính quyền địa phương thực hiện việc dỡ bỏ trước khi pháp luật phù hợp được ban hành,” ông Kaminski nói.

Sau khi dỡ bỏ, các di tích sẽ được đưa tới viện bảo tàng và trở thành “bằng chứng của thời kỳ khó khăn”.

Các di tích tượng đài đặt ở nghĩa trang những người lính Xô viết sẽ được giữ nguyên. Theo Viện Ký ức quốc gia, chính phủ Ba Lan sẽ chăm nom những di tích này.

Trước đó, Bộ Ngoại giao Nga đã kêu gọi Ba Lan “chấm dứt cuộc chiến với các tượng đài”.

Theo Sputnik

Nữ sinh Việt bỏ xác con mới sinh ở ga tàu điện ngầm Hàn Quốc

 Nữ sinh Việt bỏ xác con mới sinh ở ga tàu điện ngầm Hàn Quốc

Hình minh họa.

Hình minh họa

02.04.2016

Một nữ sinh Việt Nam đã bị bắt hôm thứ Sáu vì bỏ thi thể con mới sinh của mình tại một ga tàu điện ngầm ở Uijeongbu, tỉnh Gyeonggi, giáp với thủ đô Seoul của Hàn Quốc và bị camera giám sát ghi lại.

Nữ sinh này theo học tiếng Hàn tại một trường đại học ở Hàn Quốc. Tại thời điểm nhập học, cô đã có thai 6 tháng với bạn trai ở Việt Nam.

Người mẹ 19 tuổi nói trong lời khai với cảnh sát Uijeongbu: “Tôi nghĩ nếu tôi bỏ thi thể ở ga tàu điện ngầm, một trong nhiều người đi qua sẽ phát hiện ra đứa bé và tổ chức tang lễ cho nó”.

Nữ sinh này giấu việc mang thai vì lo ngại sẽ cản trở mối quan hệ của cô với cha mẹ và gây ra những rắc rối ở trường học tại Hàn Quốc.

Vào hôm thứ Tư, một tháng trước ngày dự kiến sinh nở, cô bất ngờ có cơn đau chuyển dạ và sinh một bé trai trong phòng tắm ký túc xá. Tuy nhiên, bé trai đã qua đời không lâu sau đó.

Người mẹ trẻ nói trong lời khai: “[Em bé] không ở trong tình trạng khỏe mạnh. Tôi đã cố gắng cho em bé ăn sữa bột nhưng em bé đã chết 3 giờ sau đó”.

Bốn tiếng rưỡi sau khi sinh, nữ sinh này đã bỏ một chiếc túi có chứa thi thể con trai mình trên cầu thang của trung tâm mua sắm ở ga tàu điện ngầm Uijeongbu. Một cô bạn gái 19 tuổi đã giúp người mẹ trẻ thực hiện những hành vi này.

Cảnh sát đã bắt giữ hai người phụ nữ này.

Các cơ quan chức năng có liên quan sẽ tiến hành khám nghiệm tử thi em bé để xác minh nguyên nhân cái chết.

Theo The Korea Herald, Ngày nay

Tổng thống Zuma xin lỗi vì tiền sửa nhà

 Tổng thống Zuma xin lỗi vì tiền sửa nhà

AFP

Tổng thống Nam Phi Jacob Zuma xin lỗi người dân Nam Phi trong cố gắng chấm dứt bê bối kéo dài về việc dùng tiền nhà nước xây nhà cho ông.

“Việc này đã gây nhiều bức xúc và xấu hổ, và tôi xin lỗi,” ông nói trên truyền hình.

Ông tuyên bố sẽ tuân theo phán quyết của tòa rằng ông phải trả lại tiền chính phủ dùng để nâng cấp căn nhà sang trọng của ông ở nông thôn.

Phe đối lập đã đòi ông từ chức.

Trong bài nói hôm thứ Sáu trên tivi, tổng thống Nam Phi nói ông “không cố tình vi phạm hiến pháp”.

Một cơ quan chống tham nhũng hồi năm 2014 nói rằng 23 triệu đôla đã được dùng để xây nhà cho tổng thống ở tỉnh KwaZulu-Natal.

Hai đảng đối lập, EFF và DA đã đưa vụ này ra tòa.

Nhiệm kỳ tổng thống của ông Zuma bị hoen ố vì cáo buộc tham nhũng và lạm quyền.

Ông được bầu lần đầu năm 2009 và sẽ rời chức vụ năm 2019.

Đảng cầm quyền ANC vẫn ủng hộ ông Zuma.

Sau diễn văn, tổng thư ký của đảng ANC, Gwede Mantashe, gọi đòi hỏi từ chức của phe đối lập là “phản ứng quá đà”.

Quốc hội khóa 13 và Quốc hội khóa 14 và hiến pháp xã hội chủ nghĩa

Quốc hội khóa 13 và Quốc hội khóa 14 và hiến pháp xã hội chủ nghĩa

Viet-studies

Nguyễn Thị Từ Huy

31-3-2016

Quốc hội khóa 13, kỳ họp thứ 11. Nguồn: internet

Tại sao Quốc hội Việt Nam khóa 13 lại vượt quá quyền hạn của mình, vội vàng bầu bốn chức vụ chủ chốt của bộ máy quyền lực? Câu hỏi này đã lan truyền trong nhân dân từ khi thông tin về về việc này được đưa ra, và cũng đã có nhiều diễn giải.

Việc Quốc hội khóa 13 bầu chủ tịch cho Quốc hội khóa 14 và bầu các chức vụ lãnh đạo chủ chốt của nhà nước cho nhiệm kỳ của Quốc hội khóa 14 là một bằng chứng hùng hồn cho việc Hiến pháp Việt Nam chỉ là một mớ giấy lộn. Những người soạn thảo Hiến pháp và thông qua Hiến pháp (tức là Quốc hội) lại là những người coi nó không ra gì, sẵn sàng vi phạm nó, chà đạp nó bằng các quyết định và các việc làm tùy tiện của mình. Trong khi đòi người dân tôn trọng luật pháp, thì cơ quan lập pháp tự mình ngồi xổm lên pháp luật. Điều này chứng minh một nhận định của Hannah Arendt từ những năm 50 của thế kỷ trước: trong một thế chế toàn trị «tất cả đều có thể xảy ra».

Hệ lụy của những hành vi vi phạm Hiến pháp của Quốc hội là gì? Có nhiều hệ lụy, ở đây tôi chỉ nêu ra một hệ lụy, chắc sẽ còn có nhiều phân tích khác của những người khác.

Cho dù về mặt cá nhân, tôi kính trọng chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, thì lo-gic thông thường buộc tất cả người dân Việt Nam (trong đó có tôi) phải nhận ra rằng: Quốc hội 14 do bà Nguyễn Thị Kim Ngân lãnh đạo sẽ là một Quốc hội bù nhìn, số phận bù nhìn này vừa được tuyên bố một cách công khai, một Quốc hội đã bị tước hết tất cả các quyền cơ bản và quan trọng (quyền bầu chủ tịch của mình, quyền bầu các chức danh lãnh đạo của nhà nước, vốn được ghi trong Hiến pháp) ngay từ khi chưa ra đời. Và kéo theo đó, việc «toàn dân» bầu Quốc hội khóa 14 chỉ còn là một việc làm vô nghĩa, chỉ còn là một hình thức chia chác tiền ngân sách cho các đơn vị tổ chức bầu cử mà thôi.

Tuy nhiên, nếu, một ngày đẹp trời, trong tương lai, trên 50% đại biểu của Quốc hội 14 đột nhiên tìm lại lòng tự trọng của mình, đột nhiên muốn giành lại phẩm giá và quyền tự quyết cho mình, đột nhiên không muốn làm bù nhìn nữa, và họ tuyên bố rằng bà Nguyễn Thị Kim Ngân không do họ bầu ra, vì thế bà không phải là chủ tịch của họ. Bà do Quốc hội khóa 13 bầu ra, vậy bà là chủ tịch của Quốc hội khóa 13, chứ không phải là chủ tịch của Quốc hội khóa 14. Đối với Quốc hội khóa 14, bà Nguyễn Thị Kim Ngân là một lãnh đạo không chính danh và không hợp pháp. Vì thế, họ sẽ bầu lại một chủ tịch mới, một chủ tịch đích thực của họ, do họ bầu ra. Về cơ bản, Quốc hội khóa 14 hoàn toàn có quyền làm như vậy. Và các chức danh lãnh đạo do Quốc hội khóa 13 bầu ra cũng có thể rơi vào tình trạng tương tự. Cách làm của Quốc hội khóa 13 (lưu ý là chưa từng xảy ra trong lịch sử Quốc hội Việt Nam) đã tước mất tính chính danh và tính hợp pháp của các chức vụ lãnh đạo chủ chốt, khiến cho nhiệm kỳ của họ sẽ bị rơi vào một tình thế khó khăn, nếu có một lúc nào đó, Quốc hội 14 quyết định truy xét lại tính hợp pháp của họ.

Việc Quốc hội khóa 14 đòi thực hiện quyền của mình, quyền đã được hiến định, quyền của cơ quan quyền lực cao nhất của một quốc gia, là điều bình thường, và hoàn toàn có thể xảy ra, trong một đất nước pháp quyền, nơi pháp luật được tôn trọng và có giá trị thực trong sinh hoạt xã hội.

Dĩ nhiên, không thể hình dung một kịch bản như thế trong một thế chế độc tài. NHƯNG, lịch sử có những bất ngờ mà đôi khi không ai có thể dự đoán được.

Ngoài ra, nếu nhìn từ một góc độ khác, có thể thấy: hiện nay, một trong những nguyên tắc hoạt động của đảng cầm quyền ở Việt Nam là «tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách», và lãnh đạo theo nguyên lý «dân chủ tập trung». Nguyên lý và nguyên tắc này dẫn đến hệ quả tất yếu là trong hoạt động quyền lực, trên thực tế, mọi việc đều do Bộ Chính trị (BCT) quyết, kể cả hoạt động của Quốc hội. BCT là đầu não, là trung tâm quyền lực. Vì thế mới có thể xảy ra việc Quốc hội khóa 13 bầu chủ tịch cho Quốc hội khóa 14, và bầu luôn cả các chức danh lãnh đạo chủ chốt. Dĩ nhiên, nếu BCT không chỉ đạo thì sẽ không bao giờ có việc đó. Dù sao trong Quốc hội 13 cũng có những đầu óc hiểu biết, và vẫn còn có những người có liêm sỉ, nếu được tự quyết thì họ sẽ không làm một việc như vậy, và trước hết là họ không đặt ra vấn đề đó như một nhiệm vụ của họ, vì họ biết rõ việc đó vượt khỏi quyền hạn được phép của họ.

Vậy, BCT mới có 19 người, và có bốn người ở các vị trí chủ chốt: tổng bí thư, chủ tịch nước, thủ tướng, chủ tịch quốc hội. Như vậy, 4/19 là thiểu số. Nếu mai kia, một ngày đẹp trời, 15/19 thành viên của BCT muốn thay toàn bộ bốn chức danh chủ chốt này, thì với tiền lệ vừa được Quốc hội 13 tạo ra, họ sẽ thi hành ngay lập tức. Bốn vị này sẽ phải viết đơn từ nhiệm, và Quốc hội sẽ lại bầu bộ tứ mới. Đã có tiền lệ rồi mà, có việc gì là không làm được? Lúc đó, hãy hình dung điều gì có thể xảy ra.

Quốc hội 13, bằng sự phục tùng vô điều kiện của mình, bằng việc từ bỏ chức trách của mình khi thực hiện vô điều kiện các đòi hỏi của BCT, đã vừa tạo ra tiền đề cho những khủng hoảng rất có thể sẽ xảy ra về sau ở bộ phận cao nhất của cơ quan quyền lực.

Câu hỏi tự động được đặt ra là: điều gì đang xảy trong guồng máy lãnh đạo Việt Nam? Phải chăng đấy là một việc làm có tính toán phục vụ cho một mục đích dài hạn của một nhóm người nào đó hay một thế lực nào đó?

Nhưng câu hỏi cũng có thể đươc đặt ra theo kiểu khác (đúng là «mọi điều đều có thể»!):

Phải chăng, cách làm việc và các quyết định hết sức tùy tiện, vi phạm luật pháp, hiến pháp, như đang diễn ra hiện nay, là để chuẩn bị cho những rối loạn không thể tránh khỏi trong tương lai? Và những rối loạn này sẽ buộc Việt Nam phải thay đổi một cách triệt để hệ thống chính trị của mình? Phải chăng đấy là chủ ý của những người đang âm thầm chuẩn bị cho các rối loạn này, bởi vì hiện tại họ quá đơn độc, không thể trực tiếp và công khai thực hiện các cải cách mà họ mong muốn? Nếu quả thật như vậy thì chúng ta sẽ phải cảm ơn vị (hoặc một số vị) đạo diễn tài ba, khôn khéo, đang lặng lẽ chuẩn bị cho những khủng hoảng sẽ dẫn tới chuyển biến mang tính lịch sử của chính trị Việt Nam.

Tuy nhiên, những chuyển biến đó chỉ có thể xảy ra khi và chỉ khi người dân và trí thức Việt Nam hiểu được ngầm ý của các vị «đạo diễn» đó để có các hành động phối hợp nhịp nhàng với họ. Nếu Quốc hội khóa 13 vi phạm Hiến pháp nhưng Quốc hội khóa 14 và người dân đều chấp nhận, thì sẽ chẳng có gì xảy ra. Và hẳn nhiên, khi người dân Việt Nam quyết định hành động, và hành động một cách đồng bộ, mạnh mẽ, thì dù có hay không sự tồn tại của các vị «đạo diễn» kia, hệ thống chính trị buộc sẽ phải chuyển động.

Paris, 31/3/2016

Nguyễn Thị Từ Huy

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 31-3-16

Việt Nam bị tố cáo leo thang đàn áp nhân quyền

Việt Nam bị tố cáo leo thang đàn áp nhân quyền

Nguyễn Đình Ngọc - tức blogger Nguyễn Ngọc Già - bị kết án 4 năm tù giam về tội danh ‘tuyên truyền chống nhà nước’.

Nguyễn Đình Ngọc – tức blogger Nguyễn Ngọc Già – bị kết án 4 năm tù giam về tội danh ‘tuyên truyền chống nhà nước’.

Trà Mi-VOA

01.04.2016

Loạt án tù mới đây dành cho các blogger và các nhà hoạt động vì quyền đất đai đánh dấu sự leo thang của chiến dịch đàn áp nhân quyền tại Việt Nam, theo tố cáo của Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền (FIDH).

Thông cáo vừa công bố của FIDH nói ‘Làn sóng giam cầm tùy tiện các blogger và các nhà hoạt động gần đây chứng minh sự tàn nhẫn của chính phủ Việt Nam trong cách ứng phó với những bất đồng chính kiến ôn hòa. Việt Nam phải chấm dứt ngay chiến dịch gia tăng đàn áp và phóng thích tất cả các tù nhân chính trị’.

Lời kêu gọi của cơ quan đại diện cho 178 tổ chức nhân quyền trên thế giới được đưa ra sau khi Việt Nam hôm 30/3 kết án blogger Nguyễn Ngọc Già 4 năm tù giam về tội  danh ‘tuyên truyền chống nhà nước’ vì các bài viết chỉ trích chính phủ mà Hà Nội xem là ‘gây mất lòng tin nhân dân vào đảng và nhà nước’.

Cùng ngày, 3 phụ nữ khiếu kiện đất đai cũng bị tuyên án vì điều 88 Bộ Luật Hình sự với tổng cộng 10 năm tù sau khi giương cờ Việt Nam Cộng hòa và ‘biểu tình trái phép’ bên ngoài Lãnh sự quán Mỹ tại Sài Gòn hồi tháng 7/2014, hành vi bị nhà cầm quyền cho là ‘đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm an ninh quốc gia’.

Trước đó 1 tuần, Việt Nam kêu án blogger Nguyễn Hữu Vinh và trợ lý của ông Nguyễn Thị Minh Thúy lần lượt là 5 năm và 3 năm tù về tội danh ‘lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước’, theo Điều 258 Bộ Luật Hình sự, liên quan đến các bài viết mà Hà Nội gọi là ‘xuyên tạc’ đảng và nhà nước.

Giám đốc phụ trách khu vực Châu Á thuộc Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền dự đoán bức tranh nhân quyền của Việt Nam sẽ càng tối tăm hơn trong thời gian tới với chiến dịch mở màn cho dàn tân lãnh đạo trong bộ máy cầm quyền của đảng cộng sản Việt Nam.

Ông Andrea Giorgetta nói:

“Tôi không ngạc nhiên trước những gì đang diễn ra. Sau một chút tạm ngưng vì bầu bán đại hội đảng, bộ máy đàn áp của nhà nước Việt Nam đã tái khởi động với toàn công suất. Quả là một tín hiệu xấu đối với giới hoạt động bảo vệ nhân quyền trong nước khi cựu Bộ trưởng Công An sắp lên làm Chủ tịch nước. Chúng ta không trông mong gì sẽ nhìn thấy nhân quyền Việt Nam được cải thiện trong thời gian tới”.

Chưa có những áp lực bền vững buộc Việt Nam phải có những cải tổ quan trọng về mặt chính trị, luật pháp hay phóng thích tù nhân lương tâm. Thậm chí phản ứng của quốc tế hiện chưa đủ mạnh trước chiến dịch đàn áp đang diễn ra tại Việt Nam. Mọi người cần đồng thanh gióng tiếng nói quan ngại mạnh mẽ và quyết liệt hơn nữa đối với các vi phạm nhân quyền của Việt Nam.

Ông Andrea Giorgetta.

Ông Giorgetta nói mọi người mong chờ áp lực quốc tế sẽ giúp thay đổi nhân quyền Việt Nam nhưng cho tới nay chưa thấy đủ áp lực đáng kể ngoài những điều kiện đổi chác nhất định vào những thời điểm nhất định như quá trình thương lượng Hiệp định Thương mại Xuyên Thái Bình Dương (TPP) chẳng hạn.

Ông Giorgetta nói tiếp:

“Chưa có những áp lực bền vững buộc Việt Nam phải có những cải tổ quan trọng về mặt chính trị, luật pháp hay phóng thích tù nhân lương tâm. Thậm chí phản ứng của quốc tế hiện chưa đủ mạnh trước chiến dịch đàn áp đang diễn ra tại Việt Nam. Mọi người cần đồng thanh gióng tiếng nói quan ngại mạnh mẽ và quyết liệt hơn nữa đối với các vi phạm nhân quyền của Việt Nam”.

Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền kêu gọi châu Âu và đặc biệt là Hoa Kỳ, trong chuyến thăm của Tổng thống Mỹ tới Việt Nam vào tháng 5, dùng đòn bẩy kinh tế-chính trị để thúc bách Việt Nam chứng minh tôn trọng cam kết nhân quyền và biểu hiện những cải cách thực thụ.

Giám đốc khu vực Châu Á của FIDH nói:

“Chúng tôi kỳ vọng Tổng thống Barack Obama sẽ lặp lại lời kêu gọi cải thiện nhân quyền nhân chuyến thăm Việt Nam tới đây, không chỉ bằng ngôn từ mà phải bằng những hành động cụ thể gắn liền với những lời kêu gọi đó”.

FIDH nói các điều khoản trong Bộ Luật Hình sự không phù hợp với nghĩa vụ của Việt Nam theo luật pháp quốc tế cần phải bị loại bỏ, bao gồm điều 88 tuyên truyền chống nhà nước, điều 79 hoạt động nhằm lật đổ chính quyền, điều 258 lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước, hay điều 87 phá hoại đoàn kết dân tộc, những quy định thường được áp dụng trong các bản án dành cho giới hoạt động nhân quyền, những người chỉ trích chính phủ, hay bất đồng chính kiến.

Theo FIDH, Việt Nam hiện đang giam giữ khoảng 130 tù nhân chính trị, con số lớn nhất trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).

Hà Nội phủ nhận có tù nhân lương tâm tại Việt Nam và nhất mực khẳng định chỉ cầm tù những người vi phạm pháp luật.

Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền FIDH là cơ quan bảo vệ nhân quyền quốc tế đại diện cho 178 tổ chức nhân quyền từ gần 120 quốc gia.

Kể từ năm 1922 tới nay, FIDH bênh vực cho tất cả các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa như quy định trong Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền. Một thành viên trong FIDH là Ủy ban Bảo vệ Quyền làm người Việt Nam có trụ sở tại Pháp.

16 chữ vàng đánh tan “luận điệu xuyên tạc”?

16 chữ vàng đánh tan “luận điệu xuyên tạc”?

Lê Thiên

2-4-2016

Khi truyền thông CSVN báo tin Bộ trưởng Quốc phòng Trung cộng tới VN ngày 27-31/3/2016 “nhằm phản bác những luận điệu xuyên tạc sai trái về vướng mắc, bất đồng trong quan hệ Việt-Trung,” thì vào ngày 25/3/2016 chúng tôi cống hiến bạn đọc bài viết Mấy ghi nhận nhỏ về một bản tin của CSVN, phân tích cái mục tiêu hồ đồ ngang ngược của phía Trung Cộng cũng như thái độ hèn hạ đê tiện của phía CSVN đối với quan thầy của họ.

Rồi từ ngày 27 tới 31/3/2016 tất cả các báo lề đảng từ Quân Đội Nhân Dân tới Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Vietnamnet, VNExpress, Dân Trí…. đều như quên tiệt cái chuyện “phản bác những luận điệu xuyên tạc sai trái…” mà chỉ xoáy sâu vào 16 chữ vàng và 4 tốt!

16 Chữ Vàng

Cụ thể, bản tin ngày 27/03/2016 của Thông Tấn Xã CSVN (dưới nhan đề Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng tiếp Đoàn đại biểu cấp cao Bộ Quốc phòng Trung Quốc) nêu rõ “Đồng chí Thường Vạn Toàn khẳng định….thực hiện nghiêm các thỏa thuận giữa lãnh đạo cao cấp hai Đảng… theo phương châm ‘16 chữ’ và tinh thần ‘4 tốt’. Tiếp theo sau, tới lượt “Phó Tham mưu trưởng Thích Kiến Quốc khẳng định…. TQ mong cùng với VN thực hiện 16 chữ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai…” theo nguyên văn bản tin của Vietnamnet ngày 28/03//2016 – Tướng TQ: ‘Anh em xa không bằng làng giềng gần’. Vietnamnet còn lưu ý độc giả: “Ông [Thích Kiến Quốc] nhấn mạnh” lời khẳng định trên của ông ta!

Thế là các báo đảng đua nhau xoáy vào 16 chữ vàng và 4 tốt bằng hàng loạt thành ngữ, sáo ngữ và công thức lừa mị quen thuộc, như “đoàn kết, hữu nghị, hòa bình, hợp tác, ổn định, phát triển, lòng tin…”

Chẳng hạn, bản tin ngày 27/3/2016 của VNExpress (lặp lại bản tin của TTXVNCS) nêu rằng “Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc thăm Việt Nam, bàn về Biển Đông”, nhưng họ nào có hề đề cập gì tới những điều thiết thực ở Biển Đông mà phía Trung Cộng gây ra cho Việt Nam và ngư dân Việt Nam, ngang nhiên gia tăng phức tạp trên Biển Đông từng ngày cho Việt Nam?

Biển Đông

Nói là “bàn về Biển Đông”, sao không chỉ ra cụ thể những vụ Trung Cộng công khai cướp bóc, đánh đắm tàu cá của người Việt Nam, gây thương vong và cả tử vong cho ngư dân Việt Nam, thậm chí hèn hạ cướp bóc tài sản trên tàu thuyền của Việt Nam, hành xử côn đồ kiểu hải tặc độc ác? mà chỉ nói chung chung “nhất trí quân đội hai nước phải kiềm chế, kiểm soát tốt tình hình, không đe dọa sử dụng vũ lực, không để xảy ra xung đột, cùng giữ gìn hòa bình, ổn định hợp tác…” ?

Người dân Việt Nam có lạ gì miệng lưỡi quân Trung Cộng, luôn lớn tiếng tự cho mình “hết sức tự kiềm chế, kiểm soát tốt tình hình…” nhưng đồng thời lại ồ ạt chuyển vũ khí và các công cụ chiến tranh khác tới Hoàng Sa, Trường Sa, lại còn cho đó là “hành vi tự vệ”, đâu có “đe dọa sử dụng vũ lực” với ai!

“Trung Quốc-Việt Nam hợp tác bàn về Biển Đông”?

Vậy, thử hỏi có bàn hay không việc Cục Hải sự của Trung Cộng thông báo đặt giàn khoan Hải Dương 943 tại khu vực Biển Đông trong phạm vi lãnh hải Việt Nam từ ngày 25/4 đến 31/4/2016!

Có bàn hay không việc Cục Hải sự ấy của Tàu Cộng cảnh báo tàu thuyền “nước ngoài” không đi lại trong phạm vi bán kính 1 hải lý (1,85 km)?

Có bàn hay không “việc Trung Cộng liên tục tiến hành xây dựng ở Biển Đông” cũng như “việc Trung Cộng xây đường băng 3.500 m ở Hoàng Sa”?

Điều này khiến Dương Danh Dy, cựu Tổng lãnh sự CSVN tại Trung Cộng, không thể không lên tiếng với BBC ngày 28/3/2016 (qua bài TQ muốn làm dịu quan hệ với VN), cảnh báo rằng: “Các báo trong nước khi viết về quan hệ Việt – Trung thì lúc nào cũng nhấn mạnh ‘hữu nghị, hòa hảo’, nhưng sự thực có như thế đâu?”

Ông Dương Danh Dy mạnh mẽ cảnh báo: “Cứ tin Trung Quốc là chết!”

Ông Dương Danh Dy còn cho biết: “Khi có tin Bắc Kinh điều giàn khoan Hải Dương đến Biển Đông (đồng thời với sự hiện diện của Bộ Trưởng Quốc phòng TC tại VN) thì rõ là họ vẫn chơi trò ‘hai mặt.’”

Báo Giáo Dục Việt Nam ngày 28/3/2016, trong bài 7 nỗi lo lớn của dân tộc cũng đã đặt ra vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam. 7 nỗi lo lớn của dân tộc là do đại biếu QHCS Võ Thị Dung đưa ra. Theo bà Dung, nỗi lo thứ nhất và lớn nhất của dân tộc VN là nỗi lo về ngoại xâm: “Trung Quốc đã ngang nhiên xâm chiếm biển đảo của nước ta, trước đây là quần đảo Hoàng Sa, nay là một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa”. Bà Dung nói: “Đảng và Nhà nước đã có một số chủ trương đấu tranh kiên quyết!” Chúng ta có quyền không tin về điều này. Cũng vậy, chúng ta chắc chắn không ai tin vào chuyện “Đảng và Nhà nước kiên trì bằng biện pháp hòa bình”. Toàn là đánh gió! Nhưng chuyện “họ [TC] càng ngày càng lấn tới” thì là điều có thật! Và đó mới thực sự là “nỗi lo lớn cho đại sự quốc gia.”

Báo Giáo Dục Việt Nam còn đưa ra nhận xét của ông nghị Dương Trung Quốc: “Làm sao cho biển không còn gợn sóng nữa, làm sao cho chúng ta bảo vệ được chủ quyền đất nước. Trên lĩnh vực này tôi thấy Quốc hội qua ý kiến của người dân là chưa hài lòng.” Là thành viên của cái gọi là Quốc Hội dưới chính thể CS, ông Dương Trung Quốc tự đỡ đòn và đỡ đòn cho cơ chế của ông. Người dân không phải chỉ “chưa hài lòng”! Người dân căm hận và hết sức bất bình về cách ứng xử ngậm miệng ăn tiền của các đại biểu quốc hội CSVN chứ không phải chỉ là “chưa hài lòng” thôi đâu!

Trở lại chuyện “tàu lạ” đâm chìm tàu thuyền của ngư dân Việt Nam. Chuyện ấy đâu là chuyện mới xảy ra! Hai từ “tàu lạ” đã xuất hiện từ lâu, khiến người dân ai cũng rõ “lạ” mà không lạ!

Qua bài ‘Tàu lạ’ giết ngư dân…’ ngày 27-3-2016 trên Blog Anh Ba Sàm, Ts Phạm Chí Dũng lại đưa ra chuyện “tàu lạ” đánh hạ tàu cá ngư dân Việt Nam. Ông Dũng than thở: “Ngoài khơi Biển Đông, ‘tàu lạ’ vẫn ung dung tấn công và bắn giết ngư dân Việt. Trong đất liền, giới quan chức bám bờ vẫn hảo hảo chén thù chén tạc với nhau” và với cả bọn quan tướng Hán triều!

Cuối bài, Phạm Chí Dũng báo động: “Tương lai rất cận kề là hàng loạt vụ khiêu khích và có thể cả tấn công của ‘tàu lạ’ sẽ liên tiếp xảy ra. Tương lai hãi hùng không kém là còn nhiều mạng sống của ngư dân sẽ được bạn vàng tính sổ.” Rồi ông Dũng đặt ngay câu hỏi: “Ai sẽ phải chịu trách nhiệm về những cái tang ấy?” Còn ai nữa, thưa Ts Phạm Chí dũng? Nhưng rồi bọn thủ ác cũng lũ a dua vẫn bình chân như vại!

Cam Ranh trong nội vi Đường Lưỡi Bò

Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, Trung Cộng đã đánh chiếm, cướp đoạt sau khi gây đổ máu hàng trăm sinh linh vô tội! Chẳng thấy có câu nào, lời nào từ phía CSVN đấu tranh với kẻ thù. Đã vậy, người ta còn tự nhận mình “chủ động mời tàu TQ thăm cảng Cam Ranh” (theo Vietnamnet ngày 29/3/2016). Đây, nguyên văn câu nói của tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng CSVN: “Chúng ta chủ động mời tàu hải quân TQ thăm các cảng VN, trong đó có cảng Cam Ranh, hưởng các dịch vụ ở đó…”

Hoàng Sa nhìn vào Cam Ranh! Chết rồi! Trúng kế chiến lược Lưỡi Bò Đại Hán rồi! Câu hỏi Việt Nam sẽ đi về đâu giờ đã có câu trả lời!

Năm ngoái, Nga xâm lược Crimea của Ukraine. Cuộc xâm chiếm trái phép này được truyền thông CSVN và cả một ông tướng – tướng Lê Văn Cương – biện hộ, tán dương và cổ vũ mạnh mẽ khiến chúng tôi viết bài “Bài học Ukraina – Nước ta trước họa Tàu Nga”. Xin trích lại mấy đoạn liên quan tới Trung Cộng với Cam Ranh như sau đây:

“Nếu với CSVN, Trung Quốc được tôn vinh là ‘người anh em thắm thiết môi liền môi’, thì Nga cũng được tung hô là người ‘ân nhân vĩ đại’ mà Việt Nam có ‘nghĩa vụ’ phải ‘đáp đền’ và đáp đền một cách cụ thể xứng đáng: Cảng Cam Ranh…

“Câu hỏi đặt ra ở đây một lần nữa: Nếu trong nước nổ ra một biến động bất thường, như một cuộc biểu tình đòi hỏi thay đổi nhân sự chẳng hạn, thì nhà cầm quyền CSVN sẽ làm gì nếu phía Nga và Tàu viện cớ ‘bảo vệ lợi ích hợp pháp’ của người Nga, người Tàu tại VN như là một hành động “công khai và đúng luật”, dứt khoát đó “không phải là hành động ‘gây sự’” để đưa quân tới những điểm nóng?

“Ấy là chúng tôi chưa bàn tới việc Trung Cộng hay Nga Cộng đã cài sẵn tình báo, ngụy tạo một biến động nào đó để chơi trò tầm ăn dâu lấn đất trên khắp đất nước Việt Nam!” 

Phản bác những luận điệu xuyên tạc?

Trước khi Thường Vạn Toàn đến VN, người ta loan báo Toàn sang VN là “nhằm phản bác những luận điệu xuyên tạc…” Khi Toàn đặt chân lên VN thì cái mục tiêu phản bác ấy bỗng dưng không còn được truyền thông CSVN quảng bá tung hô nữa. Người dân VN tưởng đâu mục tiêu kia đã bị gạt qua một bên để hai Đảng đi sâu vào chuyện Đảng sự to lớn hơn. Nhưng không! Không thể nào “mất cảnh giác” với những “luận điệu xuyên tạc”, việc Đảng sự sẽ hỏng bét.

Vậy thì “phản bác những luận điệu xuyên tạc” bằng cách nào? Bắt bớ, hành hạ, giam tù và kêu án nhiều năm luôn là thượng sách đối với CS! Vừa đẹp lòng đàn anh vừa trấn áp được “dư luận xấu” xuyên tạc mối tình thắm thiết giữa hai đảng anh em!

Hệ quả của toan tính trên là Anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và người cộng sự, cô Nguyễn Minh Thúy trở thành vật hiến tế đầu tiên! Hai người đấu tranh cho Dân chủ – Dân quyền này bị ra tòa, ngày 23/4/2016, chỉ vài ngày trước ngày viên tướng Bộ trưởng Quốc phòng TC đến Việt Nam. Nguyễn Hữu Vinh lãnh 5 năm tù. Nguyễn Minh Thúy 3 năm!

Rồi đến Blogger Nguyễn Ngọc Già, tức cựu ký giả Nguyễn Đình Ngọc của đài truyền hình CSVN, bị đưa ra Tòa ngày 30/3/2016 và cũng chịu mức án cao: 4 năm tù về tội “đăng tin xuyên tạc, biên soạn, phát tán nhiều bài viết có nội dung chống chính quyền, xúc phạm uy tính, danh dự lãnh đạo đảng”.

Cùng ngày 30/3/2016, ba phụ nữ dân oan tranh đấu cho chủ quyền đất đai lãnh án nặng với “cáo buộc chống phá nhà nước”. Bà Ngô Thị Minh Ước 4 năm tù; bà Nguyễn Thị Trí và Nguyễn Thị Bé Hai lãnh mỗi người 3 năm tù.

Như vậy, để đón tiếp quan chức Tàu Cộng, CSVN kết án 6 người dân, gồm 3 người mỗi người án tù 4 năm, cùng với 3 người khác mỗi người chịu án 3 năm. Tổng cộng 21 năm tù cho 6 dân đen thấp cổ bé miệng Việt Nam. Đúng là 21 quả đại bác chào mừng đội quân Cộng đảng đàn anh đến VN mở rộng tay ban phát lại 16 chữ vàng và 4 tốt hữu hảo mà đám đồng chí đàn em vốn đã từng khom lưng cúi đầu đón nhận, nhưng chưa thực hiện đến nơi đến chốn, khiến Hán triều xốn xang, phải thân hành đi đến Việt Nam truyền lại bài học!

Quyền lực và trách nhiệm

Quyền lực và trách nhiệm

Khi khẳng định Đảng Cộng sản là người lãnh đạo duy nhất đất nước và dân tộc, và đưa vào điều 4 của hiến pháp nhằm hợp pháp hoá quyền lãnh đạo ấy, thì đồng thời cũng phải hiểu trách nhiệm mà mình gánh vác nặng nề như thế nào? Trách nhiệm cao nhất là giữ nguyên vẹn đất nước mà tiền nhân trải qua hàng ngàn năm vun đắp bằng máu xương và công sức to lớn của lớp lớp người đi trước ! Không tội nào lớn hơn tội để mất nước!

____

Hoàng Lại Giang

1-4-2016

Ảnh minh họa. Nguồn internet

Cho đến hôm nay vẫn còn có người qui cho Nguyễn Ánh (vua GIA LONG) bán nước! Những tư liệu mà tôi tìm được suốt 50 năm qua thì cái định đề trên không có chỗ đứng cho sự thực lịch sử. Ngược lại vua GIA LONG triều NGUYỄN và chính quyền Pháp đã để lại cho chúng ta một đất nước hoàn chỉnh từ ải Nam Quan cho tới Cà Mau, từ biển đảo Hoàng Sa đến Trường Sa với đầy đủ những tư liệu chính xác mà hôm nay người phát ngôn bộ ngoại giao ta vẫn nhắc đi nhắc lại với giặc Tàu và thế giới về chủ quyền biển đảo không thể chối cãi được!

Biến công ơn thành tội đồ đấy không phải là tính cách của những người có văn hóa. Văn hóa của người Việt là ăn quả nhớ người trồng cây! Uống nước nhớ nguồn!

Hơn 600 năm trước Nguyễn Phi Khanh bị quân Minh bắt giải sang Tàu. Hai  anh em Nguyễn Trãi đi cùng cha. Đến Ải Nam quan Nguyễn Phi Khanh dừng lại  bảo Nguyễn Trãi quay về Thăng Long nuôi chí diệt giặc mới là làm tròn đại hiếu.

Hồi còn trẻ, thế hệ  tôi đã từng đến Ải Nam Quan, thác Bản Dốc! Nhưng bây giờ thì cái gọi là Hữu Nghị Quan ấy còn đâu nữa? Thác chính của bản Giốc hùng vĩ và thơ mộng là vậy, còn đâu nữa?

Tại sao đang là của ta từ các bản đồ của  triều Nguyễn và chính quyền Pháp có đầy đủ thác chính Bản Giốc, Ải Nam Quan… lại trở thành của Tàu  trong chế độ xã hội chủ nghĩa của ta?

Dù có tính theo cách gì thì vẫn không thuyết phục được lòng dân! Ông cha chúng ta xây dựng đất nước hàng nghìn năm, không phải tự nhiên… mà vào tay con cháu đại Hán! Đấy là món nợ mà hôm nay chúng ta phải trả lời trước lịch sử.

Rồi Trường Sa, Hoàng Sa? Triều Nguyễn còn lưu lại đầy đủ (dù thực dân Pháp có chiếm đất nước ta thì họ vẫn không đánh mất một tấc đất, một hòn đảo nhỏ nào của nước ta).

Khi đất nước chia đôi theo hiệp định Giơ-ne-vơ thì Hoàng Sa thuộc chính quyền Sài Gòn. Chính quyền Sài Gòn đã giữ Hoàng Sa với trách nhiệm rất cao. Chỉ sau hiệp định Paris được kí kết, người Mỹ chấp nhận rút quân khỏi miền Nam Việt Nam thì quân Tàu mới thừa cơ cuộc nội chiến Việt Nam đang căng thẳng, dùng vũ lực đánh chiếm Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974. 74 chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hi sinh anh dũng, đấy là sự hi sinh anh dũng đáng được tôn vinh và ghi vào lịch sử dân tộc, đáng dựng bia, tạc tượng. Không làm được điều đó là đồng loã với quân cướp nước, có tội với lịch sử. Tôi không đưa ra đây những phát ngôn mang nội hàm bán nước của một số người. Việc này văn học dân gian sẽ … khắc bia vào lòng dân tộc với những thái độ dè dặt, có phần khiếp nhược của một số nhà lãnh đạo hôm nay.

Nhớ lại sau việc « chống lưng » cho bọn Ponpot đánh phá, giết hại bao dân thường của ta ở biên giới Tây Nam, năm 1979 giặc Tàu lại đem quân qua đánh chiếm 6 tỉnh biên giới phía Bắc nước ta. Bao nhiêu dân thường đã chết một cách thảm thương, bao nhiêu chiến sĩ của ta đã ngã xuống! Tội ác này: Trời không dung Đất không tha! Vậy mà sau 30 năm một tấm bia tưởng niệm cũng không có. Ai nghĩ nó sẽ phai nhạt trong lòng dân, người ấy nhầm. Ngược lại, lòng dân sẽ càng bức xúc theo năm tháng về sự xúc phạm trái với đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc Việt Nam, của nền văn hiến nghìn năm của dân tộc!

Năm 1988 bọn hải tặc Trung Quốc lại dùng sức mạnh quân sự ngang nhiên chiếm hàng loạt biển đảo của ta ở Trường Sa!

Và sau đó ai cũng biết chúng kéo giàn khoan 981 cùng hàng loạt tàu hộ tống vào thềm lục địa của nước ta để khoan thăm dò dầu khí!

Cho đến nay thì các đảo chúng chiếm được của ta đã là sân bay, cầu cảng, dàn ra đa và kho chứa đầy vũ khí đã được cấp tập chuyển ra!

Thứ trưởng bộ thông tin truyền thông Việt Nam Trương Minh Tuấn đã dẫn một đoàn ra Trường Sa. Và ông ta đã trực tiếp «chứng kiến hoạt động xâm lấn rầm rộ của Trung Quốc».

Rõ ràng đất nước ta đang từ từ rơi vào tay giặc Trung Quốc!!! Vậy mà có nhà lãnh đạo còn lo lắng về ‘mối quan hệ giữa hai nước, hai dân tộc’ xấu đi, thậm chí có nhà lãnh đạo còn khẳng định mối quan hệ giữa hai nước, hai dân tộc là mối quan hệ truyền thống, môi răng, cần phải giữ gìn. Tôi nghĩ những nhà lãnh đạo ấy cố tình né tránh một sự thật lịch sử: Âm mưu sâu xa của Trung Quốc là biến Việt Nam ta thành chư hầu, thành phiên thuộc của chúng như Nội Mông! Duy Ngô Nhĩ!!!

Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử đấu tranh kiên cường, bất khuất hàng nghìn năm, trước giặc phương Bắc. Với giặc phương Tây lịch sử chỉ ghi có 80 năm mà thôi.

Cái gọi là ý thức hệ, là đồng chí, anh em, 16 chữ, 4 tốt, đại cục, tiểu cục chỉ là cái ‘bẫy’ cho những người nhẹ dạ cả tin và ảo tưởng! Ý đồ xâm lược sâu xa của con cháu nhà đại Hán đã có từ trong huyết quản của chúng, đừng hòng có sự thay máu. Cả nhân loại hôm qua và hôm nay đã biết rất rõ tâm địa của chúng. Không lý gì những nhà lãnh đạo của ta hôm nay không biết!

Tôi rất buồn khi vị bộ trưởng Văn phòng Chính phủ ta lại tin tưởng sẽ dùng biện pháp trao đổi trên cơ sở tôn trọng công ước quốc tế thì kẻ cướp biển đảo của ta sẽ nhận ra lẽ phải. Một sự tin tưởng không thực tế, một sự ấu trĩ cố tình, nếu không muốn nói là đánh lừa công luận đang sôi sục căm hờn!

Lịch sử cho thấy, chưa bao giờ ta mạnh hơn Trung Quốc! Nhưng lịch sử cũng chứng minh chưa bao giờ ta chịu thần phục Trung Quốc!

Từ đầu thế kỷ 11, Tống Thần Tôn lên ngôi, chấp nhận lời thỉnh nguyện của tể tướng Vương An Thạch, đem quân qua đánh Việt Nam. Chúng cho xây thành đắp lũy ở châu Ung, châu Liêm, châu Khâm (Ngày nay là Quảng Đông và Quảng Tây). Lý Thường Kiệt được triều thần ủng hộ, đã chặn ngay ý đồ xâm lược của chúng trên đất của chúng. Lần thứ hai Lý Thường Kiệt đánh tan tác quân Tống trên sông Như Nguyệt! Cùng với sự thất bại của biến pháp, hai trận thua đau trước Lý Thường Kiệt, Tống triều buộc phải cho tể tướng họ Vương về vườn! Vua tôi nhà Trần ba lần đánh tan quân Nguyên Mông! Và gần đây nhất là 29 vạn quân Thanh đã tan tác, bỏ cả ấn tín tranh nhau qua cầu phao, chạy về nước! Gò Đống Đa là nấm mồ lớn nhất nước Nam vẫn còn đó, cùng năm tháng nhắc nhở người Việt về niềm tự hào dân tộc, và nhắc nhở giặc phương Bắc nỗi nhục của kẻ nuôi mộng bá quyền!

Vua Trần Nhân Tông đã từng nói, ai lơ là để mất dù là một tấc đất của tiền nhân để lại, kẻ đó phải bị chém! Thời hiện đại chúng ta đã để giặc phương Bắc cướp đi bao nhiêu đất đai, biển đảo chưa thấy ai bị chém cả? Câu hỏi giành cho hậu thế.

Đến lúc phải xóa cho được câu đã thành văn học dân gian: ‘Hèn với giặc, ác với dân’ ở thời đương đại. Câu đó xuất phát từ đâu ? Xin thưa từ thái độ mềm mỏng đến nhu nhược trước nạn xâm lăng phương Bắc bằng cách dùng cả một lực lượng công an đồ sộ đàn áp những người yêu nước biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược! Hành động ấy đồng nghĩa với việc thông đồng với giặc triệt tiêu những lực lượng yêu nước chống xâm lăng.

Không phải ngẫu nhiên mà một cháu bé mới tròn 18 tuổi đã dám lấy máu mình viết lên 2 tấm vải 2 dòng chữ bày tỏ một thái độ thiếu cương quyết của chính quyền và hành động hung hăng ngang ngược, lật lọng của kẻ cướp nước. Cháu ấy là Nguyễn Phương Uyên, con một gia đình nghèo khó ở Bình Thuận. Tôi không nghĩ cháu nông nổi! Suy nghĩ và hành động của Phương Quyên là sự cô đúc tinh thần yêu nước và căm thù giặc xâm lược, truyền thống của dân tộc được đúc kết qua hàng ngàn năm giữ nước. Đó cũng là bản lĩnh, là trí tuệ: thà chết vinh hơn sống nhục!

Cũng có nhà lãnh đạo hùng hồn trước việc Trung Quốc cướp Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam rằng: Đời ta không đòi được thì đời con cháu chúng ta sẽ đòi. Tôi nghĩ đấy là một thái độ thiếu trách nhiệm. Vì tình hữu nghị, vì ý thức hệ, vì 16 chữ, 4 tốt giả dối, lừa gạt của kẻ thù hôm nay … mà mơ hồ sẽ ngồi lại đối thoại với nhau để hy vọng đòi lại biển đảo đã để mất là một ảo tưởng nếu không nói là tránh né và dồn trách nhiệm cho con cháu! Đấy không phải là hành động của bậc cha anh mà chính là sự khiếp nhược trước kẻ thù, mới hôm qua đã hết lòng « giúp » ta « giải phóng dân tộc ».

Gần 80 năm của cuộc đời, tôi chưa nghe ai gọi giặc cướp nước mình là bạn, là đồng chí!

Không ít lần chúng ta tuyên bố: Việt Nam là tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa. Chúng ta đã đem triệu triệu sinh mạng của dân tộc giữ vững cái tiền đồn ấy để cho Liên Xô và Trung Quốc rảnh tay xây dựng đất nước họ. Thực chất chúng ta chiến đấu giành lại non sông gấm vóc ta, nhưng cũng là giữ thành trì chủ nghĩa xã hội ở Đông Nam Châu Á – Là người Việt Nam hôm nay ai không thấy ẩn sau sự giúp đỡ nhiệt tình kia mang nội hàm việc bảo vệ thành trì chính họ!

Năm 1989-1990, hệ thống chủ nghĩa xã hội ấy sụp đổ trên chính quê hương của Mác, người sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản, và Lênin, người thực hiện thành công chủ nghĩa cộng sản ở Nga, người Việt Nam vỡ nhẽ ra, cái gọi là chủ nghĩa xã hội ấy đã bị thực tiễn đào thải. Một học thuyết đã không được nhân dân chấp nhận, đấy là học thuyết ảo. Nếu còn một vài nước vẫn mang tên cái học thuyết ảo kia, thì không phải đấy là chế độ được sự đồng tình của nhân dân, mà nó được bảo vệ bởi họng súng và lưỡi lê của nhà cầm quyền nhằm giữ quyền lực cho chính mình.

Tôi nghĩ đã quá muộn, những người lãnh đạo nên đặt quyền lợi dân tộc lên trên quyền lợi của Đảng Cộng sản, của ý thức hệ mà thay đổi một cách nhìn khác, mới mẻ hơn, hợp với xu thế thời đại hơn, nhằm đòi lại cho bằng được biển đảo của tiền nhân để lại đã bị Trung Quốc chiếm và đang ồ ạt xây phi trường, biến tất cả thành sự đã rồi. Đấy là tội lỗi không thể tha thứ được, không thể biện minh được !

Thời Tam Quốc Tào Tháo còn nói bạn thù quyền biến vô lường. Thời hiện đại, nhà triết học người Anh Lord Pamaroton  nói: Không có kẻ thù vĩnh viễn, không có bạn bè muôn đời, chỉ có quyền lợi dân tộc là vĩnh viễn và muôn đời mà thôi! Hai câu nói ở hai thời đại khác nhau, nhưng cùng chung một mục đích: Quyền lợi dân tộc là trường tồn qua năm tháng.

Không ai lên án vì quyền lợi dân tộc, ta phải liên kết với dân tộc này giành lại trọn vẹn lãnh thổ mà tiền nhân đã đổ bao xương máu, nước mắt và mồ hôi để trao cho chúng ta hôm nay.

Nếu sợ mất hòa khí, đại cục, ý thức hệ mà cố tình tránh né, thậm chí nhún nhường đến mức nhu nhược, hy vọng âm mưu thâm độc đã có truyền thống của Trung Quốc sẽ mang lại kết quả thì đấy sẽ là một thứ hi vọng hão, thì đấy sẽ là hành vi phù hợp với âm mưu thâm độc của con cháu nhà đại Hán.

Qua trường kì lịch sử, không ai hiểu rõ giặc phương Bắc bằng nhân dân Việt Nam. Đừng nghĩ nhân dân Việt Nam im lặng là đồng tình với cách xử sự với giặc phương Bắc của những nhà lãnh đạo hôm nay.

Đừng nhầm sự im lặng – không muốn nói – của dân là sự đồng tình.

Cũng đừng đánh giá thấp tinh thần yêu nước và ý chí kiên cường của nhân dân Việt Nam vốn đã tôi rèn trong trường kì chống ngoại xâm hôm qua?

Phải nhìn xa hơn, đừng để: Tức nước vỡ bờ!

Khi khẳng định đảng Cộng sản là người lãnh đạo duy nhất đất nước và dân tộc, và  đưa vào điều 4 của hiến pháp nhằm hợp pháp hoá quyền lãnh đạo ấy, thì đồng thời cũng phải hiểu trách nhiệm mà mình gánh vác nặng nề như thế nào?

Trách nhiệm cao nhất là giữ nguyên vẹn đất nước mà tiền nhân trải qua hàng ngàn năm vun đắp bằng máu xương và công sức to lớn của lớp lớp người đi trước !

Không tội nào lớn hơn tội để mất nước!

Hãy nghiêm khắc nhìn lại chính mình, đừng dùng mọi phương tiện truyền thông của nhà nước ra rả:

Gia Long cõng rắn cắn gà nhà!

Bây giờ người dân có quyền hỏi:

Thời hiện đại, ai đã rước voi giày mả tổ?

Thời cận đại triều đại Gia Long đã giữ nguyên vẹn lãnh thổ mà tiền nhân để lại, hơn thế nữa, các triều đại thay nhau xác lập cương vực lãnh thổ từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau, từ Quần đảo Hoàng Sa đến Quần đảo Trường Sa… bằng giấy trắng mực đen, bằng các đội binh lính thay nhau  ra túc trực ở quần đảo Hoàng Sa gọi là: Đội  Khao lề tế lính!

Những nhà lãnh đạo đảng Cộng sản phải nghĩ đến trách nhiệm để mất đất nước và biển đảo hôm nay! Người dân Việt Nam ai cũng thấy quân xâm lược Trung Quốc lợi dụng ý thức hệ và ỷ mạnh  “gặm nhấm dần đất nước ta từ tổ con đại bàn thành tổ con chim chích” như lời vua Trần Nhân Tông  đã cảnh báo! Và vua Lê Thánh Tông trịnh trọng tuyên bố: “Nếu các người đem một thước sông, một tấc đất của Thái tổ làm mồi cho giặc thì phải tội tru di!”

Khi còn nô lệ về ý thức hệ  thì độc lập, tự do chỉ là thứ bánh vẽ, thứ mỵ dân, lừa dân, phi thực tế!

Không một người dân Việt Nam nào còn chút lòng yêu nước có thể chấp nhận một chính quyền để mất dần đất và nước vào tay kẻ thù truyền kiếp!