Raymond Aron và Tôi

 Raymond Aron và Tôi

Tác giả : Đoàn Thanh Liêm

Doan Thanh Liem

I — Tóm lược : Thân thế và Sự nghiêp.
(Raymond Aron : 1905 – 1983)

Raymond Aron sinh năm 1905 tại Pháp, ông là con của vị luật sư gốc Do Thái. (Xin viết tắt cho gọn : RA). Ông là người đương thời và cũng là bạn đồng môn với Jean – Paul Sartre, khi cùng theo học tại Trường Cao Đẳng Sư Phạm (Ecole Normale Superieure) ở Paris. Cả hai vị này, mỗi người mỗi vẻ, đều để lại một sự nghiệp đồ sộ, làm vinh dự cho nước Pháp vào nửa sau của thế kỷ 20. Ngay sau khi tốt nghiệp Trường Cao Đẳng Sư Phạm, RA đã được sang bên nước Đức nghiên  cứu thêm về Triết học, Xã hội học, và trở về dậy học tại một trường trung học ở miệt tỉnh. Ông  đậu bằng Thạc sĩ, rồi Tiến sĩ một cách dễ dàng, và được các bạn đồng môn đánh giá là có trí  thông minh vượt trội, ngang ngửa với Jean-Paul Sartre.

RAYMOND ARON 1

Vừa mới bắt đầu lên dậy bậc Đại học, thì chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945) xảy ra. Và
sau khi nước Pháp bại trận năm 1940, thì RA phải lưu vong sang nước Anh. Tại đây RA đã nhận  làm chủ biên cho Tập san “La France Libre” (Nước Pháp Tự Do) do Chánh Phủ lưu vong của  Tướng De Gaulle chủ trương. Hết chiến tranh, RA tham gia vô ngành báo chí và viết cho báo Le  Figaro là một tờ báo vào loại hàng đầu của Pháp với lập trường “thiên hữu”. Từ giữa thập niên 1970, thì ông sang viết cho tuần báo Express. Đồng thời ông cũng dậy ở Đại học Sorbonne, Học viện Chính trị (Sciences Po.), nhưng vẫn tham gia viết báo. Có thể nói RA vừa là nhà giáo, mà cũng vừa là nhà báo.

RA không những dậy học ở Pháp, mà ông còn được mời đi dậy ở Đức, ở Mỹ và tại nhiều nước
khác nữa. Ông còn được mời đến dậy ở Collège de France (Học viện Pháp quốc) là cơ sở giáo
dục bậc cao nhất của nước Pháp.Về sự nghiệp viết báo, thì ông đã có nhiều công trình biên khảo  được đăng trên những tập san chuyên môn hàng đầu của thế giới, kể cả trong bách khoa toàn thư Enclycopedia Britannica. RA còn là tác giả của trên 40 cuốn sách, mà phần đông đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, kể cả tiếng Anh, và được rất đông người đọc mến chưộng.

Khác với Sartre là người có lập trường thiên về phía cộng sản, RA phân tích mổ xẻ rành mạch
những khuyết điểm, sai lầm tai hại của phe cộng sản, nhất là tại Liên Xô.Vào thập niên 1950-60, phần đông giới trí thức ở Pháp thiên vị về phía công sản, do vậy mà RA bị coi là ở phe thiểu số. Dầu vậy, ông vẫn kiên định trong lập trường chống độc tài cộng sản, và không bao giờ tỏ ra có sự chao đảo như một số nhà trí thức khác ở Âu châu thời sau chiến tranh. Cũng vì thế, mà Raymond Aron đã không được bầu vào trong Hàn Lâm Viện của Pháp, danh dự mà ông rất xứng đáng được trao tặng.

Những phân tích, nghiên cứu của ông rất nghiêm túc, chính xác theo tinh thần khách quan của giới hàn lâm khoa học. Điều này đã được thực tế xã hội chứng minh rành rành, sau khi chế độ cộng sản sụp đổ ở Đông Âu và ở chính Liên Xô vào cuối thập niên 1980, nơi mà xưa kia phe cộng sản vẫn tung hô là “thiên đường của chủ nghĩa xã hội”. Chỉ tiếc là đến lúc đó, thì Aron đã ra người thiên cổ mất rồi (ông qua đời năm 1983)

• Cuốn sách “L’opium des intellectuals” (Nha phiến của giời trí thức) xuất bản năm 1955 lúc ông vừa 50 tuổi, được coi là một công trình biên soạn thời danh, gây chấn động khắp thế giới, cùng lúc với 2 cuốn khác là cuốn “Giai cấp mới” của Milovan Djilas người Nam Tư và cuốn “Doctor Zhivago” của văn hào Nga mà được giải thưởng Nobel về Văn chương là Boris Pasternak. Khác với văn hào Andre’ Malraux là người chỉ biết xưng tụng tôn vinh De Gaulle, mà cũng khác với Jean Paul Sartre là người luôn thiên về phe cộng sản, Aron thật sự nghiêm túc trong sự phân tích khoa học về các vấn đề chính trị xã hội có tầm mức ảnh hưởng toàn cầu. Là nhà báo, ông có cơ hội tiếp cận thường xuyên với tình hình thực tế khắp nơi trên thế giới, và trao đổi với các đồng nghiệp trong ngành truyền thông, cũng như gặp gỡ tiếp súc với giới lãnh đạo chính trị tại nhiều nước. Mà cũng vì là nhà giáo, Aron cũng rất thận trọng, khúc chiết mạch lạc trong cách trình bày lý luận của mình nơi các bài giảng cho sinh viên tại Sorbonne, cũng như cho sinh viên tại Mỹ, tại Đức v.v… Chính Henry Kissinger, một bậc kỳ tài của Đại học Harvard, mà còn phải tôn Raymond Aron là sư phụ của mình, như được ghi trong Lời Giới thiệu cuốn Hồi ký RA, bản dịch sang tiếng Anh xuất bản năm 1990.

Raymond aron 2

Raymond Aron rất chững chạc trong lối phát biểu, cũng như trong lối viết. Ông không bao giờ
dùng những lời “đao to búa lớn” như Sartre là người sử dụng những từ ngữ miệt thị vô trách
nhiệm đối với giới tư bản trưởng giả, như là chữ “cochons, salauds” (đồ con heo, đồ đểu giả)
nhằm mỵ dân, lôi cuốn giới trẻ người non dạ. Hoặc đưa ra những khẩu hiệu như: “l’enfer, c’est
les autres” (người khác là địa ngục đối với ta) v.v…Về đời sống gia đình riêng tư, Aron cũng rất mực thước, phải chăng, vợ chồng con cái thuận hòa êm thắm. Khác hẳn với Sartre vốn là người  thường tự cho mình được quyền ở ngoài vòng cương tỏa của luân lý xã hội, tha hồ tung hoành vối lối sống phóng túng, bất cần đời, coi thường cái khuôn khổ luân thường lễ giáo xưa nay của xã hội.

Về cuối đời của ông, học giới tại nước Pháp đã thành lập một trung tâm nghiên cứu lấy tên ông là: “Centre de Recherches Politiques Raymond Aron – CRPRA” đặt tại Trường Cao Đẳng Khoa Học Xã Hội (Ecole des Hautes Etudes des Sciences Sociales – EHESS ). Trung Tâm được khởi sự từ năm 1982, đúng một năm trước khi RA qua đời vào năm 1983, và sau này được hoàn chỉnhnhằm khuếch trương công cuộc nghiên cứu thâm sâu về khoa học xã hội, đặc biệt dành cho giới sinh viên bậc cao học và tiến sĩ. Mỗi năm lại có việc Trao Giải Thưởng Raymond Aron cho các công trình nghiên cứu xuất sắc về các đề tài đã được RA khai mở. Cho đến nay, vào tháng 12/2007, thì đã có tới 38,120 vị ân nhân đóng góp cho Trung tâm CRPRA này

Gần đây học giới ở Pháp đã phục hồi lề lối nghiên cứu khoa học xã hội theo “truyền thống
Raymond Aron”, đó là tách việc nghiên cứu khoa học xã hội ra khỏi sự chi phối của “ý thức hệ” như các trí thức phe tả thường lấn áp trong thời kỳ sau chiến tranh thứ hai, với cao điểm của cuộc chiến tranh lạnh giữa hai khối cộng sản và tư bản. Và đây chính là sự đóng góp vĩ đại của RA trong lãnh vực học thuật và tư tưởng hiện đại trên thế giới ngày nay.

Có thể nói RA đã góp phần rất đáng kể trong việc phát triển ngành xã hội học chính trị (political sociology) nối tiếp truyền thống của những Alexis de Tocqueville, Max Weber, Joseph Schumpeter v.v…Và RA cũng giống như Karl Popper là những người đều chủ trương sự cải thiện xã hội bằng phương thức bất bạo động, kiên nhẫn và khiêm tốn, chứ không bằng lối cưỡng bức sắt máu như của cộng sản. Cái khẩu hiệu “Piecemeal Social Engineering” của Karl Popper hiện nay đang được người môn đệ nổi danh từ London School of Economics, là George Soros khai triển và ứng dụng qua chủ trương của cơ quan “Open Society Institute” (OSI) với trụ sở chính đặt tại New York, để góp phần phục hồi Xã hội Dân sự tại các nước Đông Âu và Nga kể từ ngày chế độ cộng sản sụp đổ gần 20 năm nay.

II — Raymond Aron và Việt Nam … và Tôi.

Là một nhà báo thượng thặng, ông chú trọng đến chuyện chiến tranh Việt nam ngay từ hồi cuối thập niên 1940. RA có kể lại chuyến viếng thăm VN vào năm 1953, nhưng coi như không có mấy tiếp xúc với chính quyền Bảo Đại trong dịp này. Mãi đến năm 1968, RA mới chú ý đến tài liệu của cựu Đại sứ Phạm Duy Khiêm, người bạn cùng học chung ở Cao Đẳng Sư Phạm hồi 40 năm trước. Bản thông báo của Đại sứ Khiêm về cuộc thảm sát ở cố đô Huế hồi Tết Mậu Thân 1968 rõ ràng là có sức thuyết phục đối với giới trí thức ngay thẳng, lương thiện như Aron, sự kiện mà tác giả đã ghi lại khá chi tiết trong cuốn hồi ký với tựa đề nguyên văn là : “Cinquante ans de reflexion politique” (Năm mươi năm suy ngẫm chính trị). Nói chung, thì lập trường của RA đối với cuộc chiến tranh VN trong suốt 30 năm là “thiên hẳn về phía Mỹ và Tây Âu”, chứ không có thiên vị về phe cộng sản như Bertrand Russell, Jean-Paul Sartre v.v…

ARON-Raymond_NB

Tư tưởng của RA được giới trí thức miền Nam VN theo dõi, tán thưởng. Cụ thể như Luật sư
Trần Văn Tuyên, học giả Nguyễn Hiến Lê, các giáo sư Vũ Quốc Thông, Nguyễn Văn Bông,
Nguyễn Ngoc Huy …, các nhà báo Hà Thượng Nhân, Phan Lạc Phúc, Đỗ Ngọc Yến, Đỗ Quý
Toàn v.v…Phần đông học giới ở VN hồi trước 1975 đều tỏ ra rất khâm phục cái lối lý luận sắc
bén, khúc chiết, vô tư và thẳng thắn của vị giáo sư khả kính và khả ái này. Đã có một vài bản
dịch sách của RA, nhưng hầu hết giới trí thức của ta thời ấy đều đọc trực tiếp từ nguyên tác bằng tiếng Pháp. Sinh viên các ngành thuộc khoa học xã hội ở miền Nam hồi trước 1975 phần đông cũng đều được học tập về môn xã hội học chính trị, mà RA là một giáo sư tiêu biểu cho sự chính xác, trung thực và sắc xảo.

Bản thân tôi, thì bắt đầu “mê Raymond Aron” từ năm 65-66, lúc đang say sưa với công tác xã hội trong khuôn khổ Chương trình Phát triển Quận 8 Saigon. Cuốn “18 lecons sur la societe industrielle” là tài liệu của khóa giảng tại Sorbonne và tiếp theo là cuốn “Lutte des classes” và cuốn “Democratie et Totalitarisme” đã làm tôi say mê theo dõi cái môn phân tích xã hội học về phương diện chính trị của vị “đại sư” này.

Rồi sau 1975, với nhiều thời gian rảnh rỗi, tôi lại hay ra chợ sách phía sau rạp Đại Nam để tìm kiếm thêm sách đọc về loại này. Nhờ vậy mà tích lũy thêm được một số kiến thức vững vàng hơn, mà thời trước vì bận rộn với chuyện làm ăn, tôi đã không có dịp trau dồi, học tập để bắt kịp với sự tiến bộ của ngành khoa học xã hội này.

bertrand russellBertrand Russell

Tôi có dịp thường xuyên trao đổi với cụ Nguyễn Hiến Lê, và được cụ cho đọc thêm nhiều cuốn sách chỉ có trong tủ sách riêng của cụ.Vào năm 1979-80, cụ có cho tôi cuốn sách “Les
désillusions du progres” do RA viết năm 1969. Đây là bản Pháp văn của mục phân tích về “tình hình xã hội đương thời” tác giả đóng góp cho Encyclopedia Britannica. Cụ đã đọc rất kỹ và ghi chú bằng bút chì trên lề nhiều trang sách. Tôi thật cảm động vì lời đề tặng của cụ cho tôi như sau : “ Xin tặng ông Đoàn Thanh Liêm. Xin ông giữ làm kỷ niệm – NHL”.

A/ — “ Nước Pháp là Nước Pháp, không có tĩnh từ”

Năm 1981, lần đầu tiên Đảng Xã Hội Pháp có đại diện là Francois Mitterand được bầu làm
Tổng Thống. Lúc đó RA đã già yếu rồi, nhưng ông cũng đóng góp một bài báo gây chấn động với nguyên văn tựa đề như sau : “La France, c’est la France ou la Republique Francaise; sans adjectifs” ( Nước Pháp là nước Pháp hay Cộng Hòa Pháp quốc, chứ không cần thêm một tĩnh từ nào khác). Tư tưởng này đã nung nấu trong tôi suốt bao nhiêu năm, vì kể từ năm 1976, đảng cộng sản đã tự ý ngang nhiên đổi tên nước Việt nam thành “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa VN” (Socialist Republic of VN – SRV). Tức là người cộng sản đã gắn cái chủ nghĩa xã hội của họ vàodanh tánh của nước Việt nam đã có từ ngàn đời do cha ông chúng ta xây dựng tạo thành và truyền lại cho thế hệ chúng ta ngày nay. Đó là điều không thể chấp nhận được.

Jean Paul Sartre

Tuy nhiên vào thời đó, chế độ cộng sản còn quá hung hãn, bạo ngược. Với lại hoàn cảnh chiến tranh với Trung quốc, tại Cambodia; cho nên anh em trí thức chúng tôi cũng chưa thể làm cái gì cụ thể nhằm góp phần chấn chỉnh lại tính thế được. Mà phải đợi đến sau 1986 với phong trào “Đổi mới” từ Liên Xô lan tới Đông Âu và dĩ nhiên cũng bắt đầu ảnh hưởng tới Việt nam, thì chúng tôi mới bắt đầu thảo luận trao đổi với nhau về những chuyện căn bản của đất nước, của dân tộc. Và với sự sụp đổ của cộng sản tại Đông Âu cuối năm 1989, cùng với sự rệu rã của hệ thống Xô Viết tại chính nước Nga, thì vào đầu năm 1990, tôi đã soạn thảo một văn bản “Năm điểm thỏa thuận căn bản” chỉ ngắn gọn trong nửa trang giấy, nhằm góp phần vào việc làm “guideline cho việc soạn thảo một bản Hiến pháp mới cho nước Việt Nam sau này”. Xin ghi lại điểm 1 trong văn bản này như sau :

“Điểm 1 : Quốc gia Việt nam không công nhận một tôn giáo nào làm quốc giáo.
Quốc gia cũng không áp đặt một chủ thuyết nào làm giáo điều chính thức của dân tộc.
Nhằm tôn trọng và bảo vệ tự do tín ngưỡng, Nhà nước không can thiệp vào chuyện nội bộ của các tổ chức tôn giáo”.

Cũng vì bản văn 5 điểm này, mà công an đã theo dõi và bắt giữ tôi, khi tôi mới từ Saigon bay ra Đà nẵng vào ngày 23/4/1990. Rồi họ đưa tôi ra xét xử trong phiên tòa ngày 14/5/1992 tại tòa án Saigon, với bản án 12 năm tù về tội “Tuyên truyền chống chủ nghĩa xã hội”, y hệt như các vụ xử linh mục Nguyễn Văn Lý, các luật sư Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài gần đây vậy.

B/ — Tranh chấp chủng tộc, chứ không phải tranh đấu giai cấp.

Tôi vẫn còn nhớ lối biện luận của RA, là: Hầu hết các tranh chấp trên thế giới ngày nay đều
phát sinh từ chuyện “tranh chấp chủng tộc” (lutte des races) chứ không phải là “tranh đấu giai cấp” (lutte des classes) như người cộng sản thường chủ trương. RA nêu ra trường hợp tranh chấp đẫm máu ở Bắc Ái nhĩ lan, căng thẳng ở Québec, Canada v.v…, thì đều là tranh chấp chủng tộc lồng trong sự khác biệt tôn giáo, chứ không hề có sự đấu tranh giai cấp tại các nơi như thế này. Điều này lại càng sáng tỏ hơn trong trường hợp của Bosnia, Kosovo sau khi chế độ cộng sản sụp đổ ở Nam tư vào đầu thập niên 1990..

Đó là lý do tại sao tôi viết “Điểm 2” trong “Bản văn 5 điểm” ghi trên .

“Điểm 2 : Dân tộc Việt nam gồm nhiều sắc tộc có truyền thống lịch sử và văn hóa khác nhau

Như vậy nền tảng của xã hội VN phải được đặt trên cơ sở đa chủng tộc, đa văn hóa”.
Tại phiên tòa, chánh án Lê Thúc Anh gọi tôi: “Anh là thứ cáo già chính trị”, vì chủ trương “đa
nguyên, đa đảng” mà khôn khéo ngụy trang trong điểm này. Cũng như Đại tá Quang Minh trong lúc điều tra, thì lại gọi tôi là thứ “assassin de genie” – ông nói nguyên văn tiếng Pháp như vậy – (Kẻ sát nhân ngoại hạng). Nói chung là người cộng sản vẫn còn rất “dị ứng” (allergic) với loại suy nghĩ rất bình thường trong bất kể xã hội dân chủ, tự do nào.

(Ghi chú : Toàn văn Bản “Năm điểm thỏa thuận căn bản ” sẽ được ghi nơi “Phần Phụ lục” kèm theo bài viết này.)

III — Đôi lời tâm tình .

Bài viết này được chuẩn bị vào cuối năm 2007. Năm hết, Tết đến, tác giả xin được ghi ra ít lời tâm tình sau đây :

Năm 2008 là năm kỷ niệm 25 năm ngày qua đời của Raymond Aron. Nhân dịp này, tôi xin được bày tỏ lòng ngưỡng mộ và biết ơn đối với vị giáo sư và tác giả khả kính là người đã soi sáng, hướng dẫn rất nhiều cho kẻ hậu sinh, cả về phương pháp luận (methodology), cả về nội dung những khám phá tìm kiếm của ông trong lãnh vực khoa học xã hội hiện đại. Đọc RA, tôi thấy toát ra một tinh thần nhân bản cao độ, một tác phong cao quý của bậc mô phạm, và nhất là sự kiên trì nhẫn nại hiếm có nơi lớp người trí thức thường bị lôi cuốn vào cuộc chiến tranh ý thức hệ tại Âu châu thời kỳ sau thế chiến thứ hai.Có thể nói RA là một thứ sĩ phu quân tử ở phương Tây.

Tiếp theo, người viết cũng xin bày tỏ niềm thương tiếc và quý mến đặc biệt đối với Luật sư Trần Văn Tuyên, Học giả Nguyễn Hiến Lê là những vị đã chỉ dẫn cho tôi trong các vấn đề chính trị xã hội mà Raymond Aron đã nêu lên. Tác giả cũng không thể nào quên được nhà báo Đỗ Ngọc Yến, là người đã tặng cho tôi khá nhiều sách báo, trong đó có cuốn Hồi ký Raymond Aron, bản dịch tiếng Anh – mà nhờ đó tôi đã có thể đào sâu được nhiều chi tiết chính xác cho bài viết này.

Sau cùng tác giả còn muốn ghi nhận cái công lao của Anh Vũ Ngọc Trân là thân phụ của nhạc sĩ Trường Kỳ vì đã chuyển cho cuốn Hồi Ký RA nguyên tác tiếng Pháp vào đầu năm 1990 ở
Saigon. Lúc đó tôi đã say sưa đọc cuốn sách này. Nhưng chưa kịp trả lại anh Trân, thì tôi bị công an bắt giữ. Và khi ở trong tù, tôi đã ân hận vì không kịp trả cuốn sách cho anh Trân. Nay anh lại vừa mới ra đi vài năm gần đây tại Saigon. Nhưng chắc anh cũng thông cảm cho hoàn cảnh bất khả kháng của tôi, khiến làm thất lạc mất cuốn sách quý này.Chuyện này có vài chi tiết lý thú khác nữa, người viết xin được kể lại đày đủ hơn trong một dịp khác, bởi lẽ bài này hiện đã quá dài rồi.

Westminster California, cuối tháng 12, năm 2007.

Đoàn Thanh Liêm
* * *
PHỤ LỤC

• Năm Điểm Thỏa Thuận Căn Bản .
Điểm 1 :
Quốc gia Việt nam không công nhận một tôn giáo nào làm quốc giáo.
Quốc gia cũng không áp đặt một chủ thuyết nào làm giáo điều chính thức của dân tộc.
Nhằm tôn trọng và bảo vệ tự do tín ngưỡng, Nhà nước không can thiệp vào chuyện nội bộ của
các tổ chức tôn giáo.

Điểm 2 :
Dân tộc Việt nam gồm nhiều sắc tộc có truyền thống văn hóa và lịch sử khác nhau.
Như vậy, nền tảng của xã hội VN phải được đặt trên cơ sở đa chủng tộc, đa văn hóa.

Điểm 3 :
Phát huy truyền thống nhân bản và nhân ái của dân tộc, hệ thống chính trị và luật pháp VN sẽ
được xây dựng trên những nguyên tắc đã được ghi trong Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.

Điểm 4 :
Về phương diện kinh tế, vai trò của Nhà nước là làm trọng tài để bảo vệ công bằng xã hội và trật
tự xã hội.
Như vậy, Nhà nước không thể vừa làm trọng tài, vừa làm một bên đương sự trong các hoạt động
kinh doanh làm ăn được (không thể vừa thổi còi, vừa đá banh).
Hệ quả là hệ thống quốc doanh hiện nay sẽ được giảm tới mức tối thiểu.

Điểm 5 :
Thể hiện tinh thần hòa giải hòa hợp dân tộc, quốc gia sẽ ban hành lệnh khoan hồng đại xá đối với
mọi vi phạm do cá nhân, hay do tập thể gây ra.
Nghiêm cấm mọi sự tùy tiện báo ân, báo oán.
Mọi khiếu nại đòi bồi thường thiệt hại sẽ được xử lý theo đúng thủ tục luật pháp.

Làm tại Saigon, Tháng Hai năm 1990

Đoàn Thanh Liêm

Phải chăng đây là phép lạ của ĐGH Phanxicô với em bé Gianna ở Philadelphia

nguồn :Vietcatholic.net

Nguyễn Long Thao

ĐGH hôn em bé Gianna Masciantonio

Philadelphia –24/11/2015 Cơ quan truyền thông quốc tế như CNN.com, hệ thống truyền hình ABC, tờ New York Post, và nhiều báo chí và đài truyền hình địa phương ở Hoa Kỳ đã đồng loạt đưa tin ung bướu trong đầu một em bé được Đức Giáo Hoàng Phanxicô ôm hôn đã nhỏ teo lại

Cha mẹ của em bé cho các cơ quan truyền thông biết là con của họ tên Gianna Masciantonio, một tuổi, có ung bướu trong não khi mới sinh ra.

Vào tháng 9 vừa qua, khi Đức Giáo Hoàng Phanxicô đến Philadelphia dự Đại Hội Gia Đình Thế Giới và trên con đường Ngài đi chào đón khách hành hương, thì một nhân viên an ninh đã bế em bé Gianna Masciantonio đến để Đức Giáo Hoàng ôm hôn em bé.

Theo cha mẹ em nói với các cơ quan truyền thông thì sau giây phút ngắn ngủi con của họ được gần gũi Đức Thánh Cha, thì ung bướu trong não em Gianna Masciantonio đã nhỏ teo lại. Họ cho các cơ quan truyền thông xem hình ảnh MRI (Magnetic resonance imaging) chụp não bộ của em vào tháng 8 và hình MRI chụp vào tháng 11.

Hai hình MRI chụp tháng 8 và tháng 11 2015

So sánh hai tấm hình đó, ai cũng thấy ung bướu trong đầu em Gianna Masciantonio đã nhỏ teo lại. Em đã vui vẻ hơn trước nhiều.

Các bác sĩ y khoa không đưa ra lời giải thích nào về hiện tượng ung bướu trong đầu em Gianna Masciantonio teo nhỏ lại. Tuy nhiên gia đình thì tin rằng đó là phép lạ.

PHỎNG VẤN Đức Cha MICAE HOÀNG ĐỨC OANH

PHỎNG VẤN Đức Cha MICAE HOÀNG ĐỨC OANH

Ban mục vụ TTXH Kontum

11/28/2015

Ngày 27/11/2015 vừa qua, Ban Mục Vụ Truyền Thông Xã Hội Giáo phận Kontum có dịp gặp Đức Cha Micae Hoàng Đức Oanh, Giám mục Giáo Phận Kontum, đã được Đức Thánh Cha Phanxicô chập thuận đơn xin nghỉ hưu theo Giáo luật 104,1 từ ngày 07.10.2015.

Sau 12 năm coi sóc Giáo phận Kontum, Đức Cha đã chia sẻ những tâm tư, ước nguyện cũng như những trăn trở và thao thức của mình.

PV: Con xin kính chào Đức Cha! Lời đầu tiên con xin cảm ơn Đức Cha đã dành thời gian cho ban mục vụ truyền thông xã hội của Giáo phận để chia sẻ những tâm tư, tình cảm cũng như những trăn trở, thao thức của Đức Cha trong vai trò Giám mục Giáo phận trong thời gian qua.

PV: Trước hết, Đức Cha có thể chia sẻ cho chúng con những kỉ niệm sâu sắc nhất của Đức Cha trong thời gian làm Giám mục của mình?

Đức Cha: Xin chào cha và anh chị em.

Kỷ niệm thì nhiều. Với tôi, giờ phút này, tôi nhớ tới những người, những sự việc đã xảy ra ở nhiều nơi trong Giáo phận, nhất là ở những vùng sống “3 không” – không nơi thờ phượng, không linh mục, không sinh hoạt tôn giáo bình thường.

PV: Chúng con được biết, Đức Cha là một trong những người rất có hồn tông đồ, hay đúng hơn là lửa tông đồ, vậy trong những năm qua Đức Cha đã quan tâm, ưu tiên đến hoạt động Tông đồ trong Giáo phận như thế nào và điều gì làm cho Đức Cha thật sự hài lòng?

Đức Cha: Tôi đã chọn bậc thang giá trị đời mục vụ và truyền giáo theo thứ tự ưu tiên như sau :

1- Trước nhất là : Đào tạo nhân sự, đặc biệt giới trẻ, từ đó có ơn gọi linh mục tu sĩ thừa sai.

2- Thứ đến : góp phần nâng cao mực sống người dân.

3- Thứ ba là : Xây dựng cơ sở như nhà cửa, nơi thờ tự….

PV: Xin Đức Cha có thể chia sẻ một vài kinh nghiệm Tông đồ của mình cho chúng con.

Đức Cha: Nói về kinh nghiệm sống, tôi nghĩ tới 2 điều :

1- Nghĩ ngay tới Chúa Giêsu 3 Đ : Sinh ngoài đồng, sống ngoài đường, chết ngoài đồi! Tôi cố noi theo Ngài bằng cách đến thăm được càng nhiều anh chị em khắp mọi miền càng tốt! Với tôi : “Đường là nhà, xe là giường, máy bay là khách sạn”. Đến với dân để học làm người với dân : đó là khởi điểm của sứ vụ loan báo Tin Mừng.

2- “Chúa là chủ lích sử”. Ngay cả trên thập giá, Ngài cũng tha thứ và từ nấm mồ, Ngài đã phục sinh. “Chúa luôn viết chữ thẳng trên đường cong!”.

PV: Kết thúc thời gian coi sóc Giáo Phận Kontum trong vai trò Giám mục, bên cạnh những tâm tình về những điều Đức Cha vừa chia sẻ, vậy đâu là những trăn trở, thao thức của Đức Cha về công tác mục vụ của Giáo phận và cần phải quan tâm, ưu tiên hơn nữa?

Đức Cha: Điều tôi ưu tiên quan tâm hiện nay là : Làm sao đem Tin Mừng yêu thương và sự thật đến cho mọi người, cách riêng cho giới trẻ trong xã hội hôm nay? Cho tôi hỏi nhỏ : Anh chị em có thể ngồi viết lách hoặc dễ dàng đọc sách hay suy gẫm giữa nơi ồn áo náo nhiệt không? Tâm trạng tôi lúc này cũng thế!

Này nhé Đất Nước : Nhờ phương diện truyền thông hiện đại, nhiều sự kiện tiếp diễn làm cho những người thiết tha với đồng bào quê hương Việt Nam, KHÔNG THỂ vô cảm. Mật ước Thành Đô, với tôi, vẫn là một thắc mắc và một bận tâm : Nó có thật không? Nhà hữu trách tới nay không một ai lên tiếng? Những người bị ghép cho danh hiệu “phản quốc, bán nước”, không một ai cải chính!? Với những ai tha thiết tới tiền đồ Đất Nước không thể dửng dưng! Nếu đúng như mạng Internet nói, thì quả là khủng khiếp và nguy to! Nếu đúng thì thời điểm 2020 nó lù lù xấn tới nơi rồi! “Người phương bắc đang hiện diện như da beo” khắp nơi trên Đất Việt – từ hàng hoá cho chí con người – phải chăng là những dấu đáng nghi ngại?! Nghĩ đến đó làm sao an tâm chỉ lo cho việc đạo, việc riêng….!!! Mất Nước, mọi chuyện khác hoá ra “nhỏ”và rồi ở với ai, với kiếp nô lệ mới!? Mất nước là mất tất cả! Tôi có bi quan quá không?

Trong bối cảnh đó, tôi nghĩ và tự hỏi : Lớp trẻ – tương lai của Giáo Hội và Xã Hội – đang được hấp thụ một nền giáo dục nào? Một nền giáo dục quá nặng tính vật chất, công khai chống Trời (Thiên Chúa) chống Đất (môi trường sinh thái), một nền giáo dục coi nhẹ lịch sử và nặng tính chính trị phe phái, báo trước một tương lai đen tối cho mọi người cũng như cho tiền đồ Đất Nước. Các anh chị có nghĩ vậy không?

PV: Chúng con ghi nhận tất cả những tâm tình và thao thức của Đức Cha cũng như bao tâm tư của những người mang trong mình ý thức hệ, đều quan tâm, trăn trở với các thế hệ trẻ. Thưa Đức Cha, trải qua một thời gian khá dài trong vai trò Giám mục chánh tòa Giáo Phận Kontum, chắc hẳn Đức Cha có nhiều kinh nghiệm trong việc coi sóc Giáo phận, vậy Đức Cha có muốn chia sẻ một vài điều đối với vị Tân Giám mục, người sẽ kế nhiệm Đức Cha trong thời gian tới?

Đức Cha: Chúa Thánh Thần sẽ nói với Ngài. Khẩu hiệu Giám Mục của Ngài “Caritas in Veritate : Lòng Mến Trong Sự Thật” đã nói quá rõ con đường phục vụ Ngài đã chọn. Chính khẩu hiệu giới thiệu Ngài sẽ là một người mục tử khôn ngoan và hiền lành như lòng Chúa mong muốn vậy! (x. Mt 11, 29)!

PV: Một lần nữa chúng con rất cảm ơn về những chia sẻ thân tình và cởi mở của Đức Cha vừa rồi. Cầu xin Thiên Chúa ban nhiều ơn lành trên Đức Cha. Xin Đức Cha tiếp tục cầu nguyện để Giáo phận chúng ta ngày càng đón nhận nhiều hồng ân Thiên Chúa và mỗi Kitô hữu luôn cảm nghiệm sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời sống của mình./.

BAN MỤC VỤ TTXH

Giáo Phận Kontum thực hiện

Vấn nạn công dân bị chết ở nơi tạm giam, tạm giữ

Vấn nạn công dân bị chết ở nơi tạm giam, tạm giữ

Cái chết oan khuất của ông Trịnh Xuân Tùng trong tình trạng lạm quyền, sử dụng bạo lực thô bạo phổ biến của công an Việt Nam khi làm nhiệm vụ đã làm dư luận trong và ngoài nước phẫn nộ. Ảnh băng rôn của gia đình treo trước tòa.

Cái chết oan khuất của ông Trịnh Xuân Tùng trong tình trạng lạm quyền, sử dụng bạo lực thô bạo phổ biến của công an Việt Nam khi làm nhiệm vụ đã làm dư luận trong và ngoài nước phẫn nộ. Ảnh băng rôn của gia đình treo trước tòa.

Danlambao
 

Vấn nạn công dân bị chết bất thường tại nơi tạm giam, tạm giữ vẫn diễn ra thường xuyên tại Việt Nam.Đâu là nguyên nhân của tình trạng này.

Theo thống kê của bộ công an, trong ba năm (từ 2011- 2014) có khoảng 226 người bị chết bất minh tại nơi bị tạm giam, tạm giữ. Lý do của những cái chết bất minh thường được ngành công an giải thích rằng, nạn nhân chết do tử tự, chết do tập thể dục quá sức… Nhưng những nguyên nhân này không thuyết phục được thân nhân của nạn nhân và dư luận.

Nguyên nhân

Luật sư Nguyễn Văn Đài – người từng là nạn nhân của việc dùng nhục hình, bức cung, mớm cung ở nơi giam, tạm giữ cho rằng, trước đây người dân Việt Nam thường rất sợ hãi khi bị cơ quan an ninh mời, triệu tập đến nơi tạm giam, tạm giữ để hỏi cung. Và khi bị cơ quan an ninh điều tra, thẩm vấn họ thường ngoan ngoãn nghe theo, thậm chí có người còn trả lời theo kiểu ‘mớm cung’ của điều tra viên.

Tuy nhiên khoảng 4 năm lại đây, dưới sự tác động của các trang truyền thông, mạng xã hội, nên trình độ dân trí được nâng cao hơn trước. Do đó, khi bị đưa đến nơi tạm giam, tạm giữ người dân không làm những gì mà các điều tra viên mong muốn. Bởi người dân biết rằng họ không có nghĩa vụ phải khai báo, và yêu cầu điều tra viên đưa ra bằng chứng để kết tội. Điều này làm cho điều tra viên rất tức giận, vì họ đã quen với phong cách làm việc của họ, khi họ thẩm vấn bất kỳ người nào thì người đó phải ngoan ngoan trả lời câu hỏi của họ.

Chính sự tức giận của các điều tra viên đã gây nên cái chết của những người bị tạm giữ, tạm giam, Luật sư Nguyễn Văn Đài nói thêm:

“Họ (các điều tra viên) có những hành động bạo lực để đánh những người bị tạm giam, tạm giữ. Không may trong số viên đó đã đánh vào chỗ hiểm dẫn đến những nạn nhân bị trọng thương và qua đời”.

Chị Trịnh Kim Tiến – con gái của một nạn nhân bị điều tra viên đánh chết trong đồn công an cho rằng, nguyên nhân của những cái chết oan uổng ở nơi tạm giam, tạm giữ là do những điều tra viên muốn giải quyết nhanh sự việc để thăng chức, thói quen suy đoán có tội, bệnh thành tích, và tâm lý khinh thường pháp luật.

Chị Trịnh Kim Tiến nói thêm về nguyên nhân:

Vụ chết người mới nhất trong lúc bị công an Việt Nam tạm giam đã gây ra phẫn uất trong dư luận mấy ngày qua.Nạn nhân Đỗ Đăng Dư (17 tuổi) qua đời với nhiều vết bầm tím trên cơ thể trong khi bị tạm giam ngày 10 tháng 10, 2015
Vụ chết người mới nhất trong lúc bị công an Việt Nam tạm giam đã gây ra phẫn uất trong dư luận mấy ngày qua.Nạn nhân Đỗ Đăng Dư (17 tuổi) qua đời với nhiều vết bầm tím trên cơ thể trong khi bị tạm giam ngày 10 tháng 10, 2015

“Chưa kể đến những sự việc mà họ (điều tra viên) liên quan, họ bị mua chuộc trong đó để gây ra những thương tích và tang thương cho nạn nhân. Và hiện tại công an nắm quá nhiều quyền lực, khi nắm nhiều quyền lực sẽ dẫn đến việc lạm dụng quyền lực”.

Linh mục An Tôn Lê Ngọc Thanh – thuộc dòng Chúa Cứu Thế, một người hoạt động năng nổ trong việc bảo vệ ‘nhân quyền’ cho những công dân Việt Nam cho rằng, nguyên nhân đầu tiên là việc bắt giam người không đúng trình tự pháp luật của cơ quan an ninh điều tra. Vì cơ quan an ninh điều tra luôn tự ý bắt người trái pháp luật, trong khi dân chúng lại không biết pháp luật, nên cơ quan điều tra thỏa thích làm sai mà không sợ dân kiện tụng. Và khi bắt người rồi, cơ quan điều tra lại phải chứng minh rằng mình bắt đúng. Do đó họ sẽ ‘mớm cung’ rồi dùng nhục hình để ép cung nạn nhân.

Linh mục An Tôn Lê Ngọc Thanh nói thêm:

“Nguyên nhân thứ hai là công an có quyền giữ người độc lập quá lâu, và không có cơ quan nào khác giám sát. Từ khi bắt, quyết định khởi tố vụ án cho đến được đưa ra tòa, chỉ có một mình công an vừa giám sát, vừa điều tra, vừa quản lý, và công an làm những gì đối với những người bị tạm giam thì hoàn toàn không ai biết họ có được an toàn hay không? Chính vì vậy, họ có thể dùng các biện pháp nhục hình tra tấn, để mong có được kết quả, thậm chí là kết quả có được từ việc ép cung sau khi sử dụng nhục hình ”.

Cũng theo Linh mục An Tôn Lê Ngọc Thanh, ngoài hai nguyên nhân chính ở trên, việc hệ thống pháp luật Việt Nam (trước đây) chưa công nhận quyền ‘im lặng’ của công dân cũng làm cho tình trạng công dân bị chết ở nơi tạm giam, tạm giữ gia tăng. Và bởi vì Việt Nam vừa mới công nhận quyền ‘im lặng’ cách đây mấy ngày, cho nên vẫn chưa áp dụng được vào thực tế.

Giải pháp

Trước vấn nạn công dân bị chết bất minh ở nơi tạm giam, tạm giữ. Việc tìm giải pháp để hạn chế vấn nạn này đang được rất nhiều người quan tâm. Chị Trịnh Kim Tiến góp ý về việc điều tra với mong muốn không còn ai phải chịu đựng cảnh người thân bị chết bất minh trong đồn công an, chị nói:

Bố nạn nhân đau đớn trước cái chết của con trai, em Tu Ngọc Thạch, 14 tuổi, học sinh lớp 9 Trường trung học phổ thông Lương Thế Vinh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà, đã bị công an đánh chết
Bố nạn nhân đau đớn trước cái chết của con trai, em Tu Ngọc Thạch, 14 tuổi, học sinh lớp 9 Trường trung học phổ thông Lương Thế Vinh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà, đã bị công an đánh chết

“Điều tra là việc cần thời gian, không thể gấp gáp được, và việc điều tra cần tỉ mỉ, không phải anh cứ tra tấn cho người ta người ta và ép người ta nhận tội là có thể quy kết tội cho người ta được.”

Luật sư Nguyễn Văn Đài đề xuất những giải pháp để giảm tối thiểu vấn nạn công dân bị chết bất minh trong đồn công an, ông nói:

“Thứ nhất, khi một người khi bị tạm giữ, tạm giam thì người thi hành lệnh bắt phải nói rõ cho người bị bắt rằng, anh có quyền im lặng cho đến khi có luật sư. Phải nói rõ cho họ biết họ có quyền gì trước cơ quan điều tra.

Thứ hai, trong quá trình chờ đợi, điều tra viên không được phép tiến hành cuộc thẩm vấn nào cho đến khi có mặt luật sư của họ. Trong tất cả những cuộc hỏi cung, thẩm vấn đều phải có mặt của luật sư.

Thứ ba, trong quá trình thẩm phải được quay phim, thâu âm để đảm bảo tính khách quan.

Thứ tư, khi một người bị đưa đi thẩm vấn, phải đảm bảo có giấy cam kết ký về tình trạng sức khỏe trước khi bàn giao người cho điều tra viên. Và khi trở về thì phải có biên bản hay kiểm tra sức khỏe xem người đó có vấn đề gì hay không?”

Cũng theo Luật sư Nguyễn Văn Đài, đối với những trường hợp chưa nằm trong khung luật tạm giam, tạm giữ, khi nạn nhân ở đồn công an thì rất khó có cơ chế nào bảo vệ họ, bởi chỉ vài giờ làm việc với điều tra viên thì nạn nhân đã tử vong.

Trong những ngày qua, phía chính quyền Việt Nam đã thay đổi rất nhiều luật để hạn chế vấn nạn này như, công nhận quyền ‘im lặng’ của công dân, cho thâu hình và thâu âm khi thẩm vấn, hay việc tách nơi tạm giam, tạm giữ ra khỏi cơ quan điều tra nhưng vẫn thuộc sự quản lý của bộ công an.

Tuy nhiên, theo Linh mục An Tôn Lê Ngọc Thanh, những động thái của chính quyền là chưa đủ, và không cải thiện được được tình trạng bi đát trong các trại tạm giam, tạm giữ. Đặc biệt trong những vụ án bị chính quyền gọi là ‘vi phạm an ninh quốc gia’, thì ngành công an làm việc theo chỉ đạo của đảng và chính phủ. Với những vụ án như vậy, công an có thể xóa sạch những bản thâu của camera, rồi dùng nhục hình để bức cung… để điều tra theo hướng có lợi cho họ, do bộ công an vẫn một mình quản lý tất cả, nên việc này là quá dễ dàng.

Linh mục An Tôn Lê Ngọc Thanh nói tiếp:

“Giải pháp tốt khi tạm giam, tạm giữ là phải giao cho một bộ phận khác, hiện nay bộ phận tương đối có thể là bộ lao động thương binh xã hội, còn nếu không thì giao cho một tổ chức dân sự độc lập quản lý.”

Cuối cùng, Linh mục An Tôn Lê Ngọc Thanh nhấn mạnh rằng, pháp luật phải vì con người, để bảo vệ con người… Tuy nhiên tại Việt Nam, hệ thống giám sát và điều hành pháp luật hiện nay đang có vấn đề. Điều này khiến cho nhiều người dân đang rất hoang mang và lo lắng mỗi khi bị cơ quan điều tra mời lên làm việc. Và điều này đã trực tiếp tạo nên tình trạng rất nguy hiểm cho công dân Việt Nam trên khắp cả nước.

Anh vất áo choàng, đứng phắt dậy

Anh vất áo choàng, đứng phắt dậy

danchuahiepthong

Chỉ trong niềm tin vào Chúa, người ta mới tìm được niềm vui và ơn giải thoát thực sự…

Bà Jo Scaggs, giáo sĩ thuộc một giáo phái Tin lành, được mời đến dự lễ Giáng sinh được tổ chức ngoài trời tại Grace Camp, một trung tâm điều trị bệnh cùi ở Nigeria. Đó là lần đầu tiên bà thấy được một số rất đông người cùi. Nhìn đâu cũng thấy người cùi, rất nhiều người bị bệnh cùi gặm nhấm và hủy hoại thân thể, nhưng khuôn mặt ai cũng bày tỏ niềm vui, mắt họ sáng lên khi hát thánh ca.

Đến phần công bố Lời Chúa, một người cùi không còn ngón tay nào lên đọc Sách Thánh. Ông phải lật các trang sách bằng một cái que buộc vào cổ tay. Sau bài giảng, vị mục sư mời mọi người chia sẻ về các ân phúc Chúa ban cho mình. Người không còn ngón tay đứng lên nói rằng: “Tôi muốn cảm tạ Chúa vì Ngài đã cho tôi bị cùi”.

Trước sự ngạc nhiên của bà Jo Scaggs, anh giải thích thêm: “Nếu tôi không bị cùi, có thể tôi đã không bao giờ biết Chúa Giêsu, không bao giờ cảm nghiệm được tình yêu của Chúa dành cho tôi sâu xa đến thế. Còn thực tế là bây giờ tôi đang bị bệnh cùi, có thể tôi sẽ không bao giờ được chữa lành, nhưng tôi lại cảm nghiệm được tình yêu của Chúa luôn đổ tràn trên tôi qua biết bao người đang săn sóc cho tôi…”

Bước vào cuộc đời, ai cũng phải đối diện với nhiều đau khổ từ thân xác đến tâm hồn. Đau khổ dường như không buông tha cho ai, cả người tin vào Chúa: “Lạy Chúa, Ngài quên con mãi tới bao giờ? Tới bao giờ còn ngoảnh mặt làm ngơ? Tới bao giờ hồn con vẫn còn lo lắng và lòng con ủ rũ đêm ngày? Tới bao giờ kẻ thù con thắng mãi” (Tv 12,2-3)?

Nhưng chỉ trong niềm tin vào Chúa, người ta mới tìm được niềm vui và ơn giải thoát thực sự, “Vì Đức Chúa phán thế này: Reo vui lên mừng Gia-cóp, hãy hoan hô dân đứng đầu chư dân! Nào loan tin, ca ngợi và công bố: “Đức Chúa đã cứu dân Người, số còn sót lại của Ít-ra-en!” Này Ta sẽ đưa chúng từ đất Bắc trở về, quy tụ chúng lại từ tận cùng cõi đất. Trong chúng, có kẻ đui, người què, kẻ mang thai, người ở cữ: tất cả cùng nhau trở về, cả một đại hội đông đảo” (Gr 31,7-8).

Tin Mừng Đấng Cứu Thế đem đến cho nhân loại chỉ đơn giản là rao giảng tình yêu muôn đời Thiên Chúa đã dành cho họ: “Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở, nên Ta vẫn dành cho ngươi lòng xót thương” (Gr 31,3). Tình yêu đó nối kết nhân loại với Thiên Chúa trong mối tình thân mật của một người cha dành cho con mình: “Ta sẽ an ủi và dẫn đưa chúng, dẫn đưa tới dòng nước, qua con đường thẳng băng, trên đó chúng không còn vấp ngã. Vì đối với Ít-ra-en, Ta là một người Cha, còn đối với Ta, Ép-ra-im chính là con trưởng” (Gr 31,9).

Vâng, Ngôi Lời đã làm người, sống giữa nhân loại, để “chúng ta có một vị Thượng Tế siêu phàm đã băng qua các tầng trời, là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa. (…) Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội. Bởi thế, ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần” (Dt 4,14-16).

Tin Mừng cho nhân loại là được mạnh dạn đến gần Chúa, vì chính Người đã gọi, đã đến với sự cùng cực của mỗi người: “Người ta gọi anh mù và bảo: “ Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy” (Mc 10,49).

Vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giêsu là dấu chỉ của một niềm tin mạnh mẽ. Niềm tin của anh đã cứu anh, anh nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi.

Đó là niềm tin đem ơn cứu độ đến cho nhân loại hôm nay, niềm tin đó làm cho mỗi người nhìn thấy và phân định được điều thực sự có giá trị trong dòng đời để vất bỏ ngay, vất bỏ dứt khoát và mạnh mẽ những gì thế gian coi trọng để đi theo Đức Kitô trên con đường Người đi.

Dọc miền sông Rhine, một trong những con sông dài và quan trọng nhất Âu châu, truyện xưa kể lại chuyện một thanh niên đói lử, quần áo mong manh, cực nhọc, suốt ngày làm việc trên những con đường lổn nhổn, gồ ghề. Đêm đó, mắt anh nhìn thấy cánh cửa sáng ngời của toà lâu đài gần đó, tai anh lắng nghe âm thanh lễ hội với những dòng nhạc từ đó phát ra như cảnh thiên đàng đối với cuộc đời lao khổ của anh.

Anh bỏ nhà ra đi từ khi còn trẻ, và từ nhiều năm đã không còn nghe biết gì về nhà của mình nên không biết rằng lâu đài lộng lẫy đó là của cha anh mà anh là người thừa kế.

Anh đánh liều đến hỏi xin cho được trú qua đêm. Ở cổng, anh gặp lão giúp việc. Lão nhận ra anh ngay và dẫn anh vào buổi liên hoan. Tại đó, anh được mặc áo người thừa kế với một di sản lớn lao. Cuộc đời anh thay đổi, bóng tối khép lại sau lưng!

Còn lớn lao hơn thế là gia sản quí báu và hạnh phúc vĩnh cửu của tôi. Không có niềm tin, tôi không thấy gì cả.

Sao tôi không vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giêsu để được nhìn thấy?

Lm. HK

“Đại bác” Tập Cận Bình và họng pháo chĩa vào tàu Việt Nam

“Đại bác” Tập Cận Bình và họng pháo chĩa vào tàu Việt Nam

TTT/ Soha News

Hải Võ

29-11-2015

H1

Hôm 13/11, tàu tiếp tế Hải Đăng 05 của Việt Nam đã bị tàu chiến số 995 của Trung Quốc vây ép và chĩa súng khi đi qua khu vực đá Xu Bi, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Trung Quốc bị cộng đồng quốc tế công kích chưa từng thấy

Thuyền trưởng tàu Hải Đăng 05 Trần Văn Nga cho biết, khoảng 9h30 sáng 13/11, khi tàu tiếp tế này đi ngang qua bãi đá Xu Bi (bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép-PV) khoảng 12 hải lý thì Trung Quốc điều một tàu nhỏ ra đuổi.

Đến khoảng 11h cùng ngày, hai tàu hải cảnh số hiệu 2305 và 35115 của Trung Quốc xuất hiện và tổ chức vây ép từ mũi và đuôi tàu Việt Nam.

Trao đổi với chúng tôi, chuyên gia Kiều Tỉnh – nguyên Trưởng phân xã TTXVN tại Bắc Kinh và Hồng Kông – chỉ ra, vụ việc diễn ra trong thời điểm chỉ 1 tuần sau chuyến thăm Việt Nam, Singapore của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (5-7/11) và trước thềm các hội nghị cấp cao ở Đông Nam Á từ 18/11.

Ông Kiều Tỉnh phân tích: “Vừa rời Việt Nam ngày 6/11 thì ngày 7/11 ông Tập Cận Bình tuyên bố ở Singapore rằng ‘các đảo ở Biển Đông là lãnh thổ của Trung Quốc từ thời cổ đại, và chính phủ Trung Quốc phải nhận trách nhiệm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và các lợi ích hàng hải hợp pháp’.

Sau đó, từ 12 đến 14/11 thì Trung Quốc cho hàng trăm tàu cá ra vây 5 tàu cá Việt Nam, phá nát hơn 40 tấm lưới ở vùng biển Vịnh Bắc Bộ. Vụ tàu Trung Quốc vây ép và chĩa súng vào tàu tiếp tế Việt Nam cũng xảy ra trong thời gian này.

Trung Quốc ngụy biện đây là vùng biển ‘mập mờ, không rõ’ nên khó tránh va chạm đáng tiếc. Nhưng thực tế, đây là hành động có ý đồ, có hệ thống và vẫn diễn ra thường xuyên, tuân theo chiến lược chung của Bắc Kinh tại biển Đông.”

Trước đó, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Trường – Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Phát triển Quan hệ Quốc tế (CSSD) – cho rằng tuyên bố trên của ông Tập “là luận điểm quan trọng nhất mà Trung Quốc sử dụng”.

Theo ông Trường, bối cảnh cộng đồng quốc tế chống lại sự bành trướng của Trung Quốc trong khu vực đã khiến đích thân người đứng đầu nhà nước Trung Quốc phải nhiều lần nhắc lại luận điệu vô căn cứ này trong thời gian qua.

“Trung Quốc đã phải dùng đến ‘đại bác’ (Tập Cận Bình-PV) để củng cố những lập luận sai trái của mình trước đây,” Tiến sĩ Trường đánh giá về phát ngôn của ông Tập tại Singapore hôm 7/11.

Quan trọng hơn, chuyên gia Kiều Tỉnh nhận định trong bối cảnh quốc tế thời gian qua, nhất là trước Hội nghị thượng đỉnh APEC (18-19/11) tại Philippines, Bắc Kinh đã phải tìm cách thỏa thuận để vấn đề biển Đông không lên bàn nghị sự.

“Nước chủ nhà APEC Philippines thỏa thuận với Trung Quốc không nêu vấn đề biển Đông trong chương trình nghị sự, nhưng rất nhiều nước đều nêu vấn đề này. Điều này khiến ông Tập Cận Bình bị cô lập và khó chịu.

Ngoài ra, khi đoàn Việt Nam sang tham dự hội nghị APEC tại Manila, ta và Philippines đã ký văn kiện nâng tầm quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện.”

Ông nói thêm: “Còn hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) diễn ra sau đó tại Malaysia mà Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đi dự được truyền thông quốc tế bình luận là thắng lợi lớn của ASEAN.

Lý do bởi lần đầu tiên trong khuôn khổ hội nghị này, Trung Quốc đã bị tất cả các lãnh đạo châu Á-Thái Bình Dương công kích về vấn đề biển Đông.

Trong đó, Bắc Kinh bị chỉ trích về việc không tuân thủ luật pháp quốc tế, làm ảnh hưởng đến tự do hàng hải trên biển Đông.”

Tham gia các hội nghị cấp cao khu vực này, Mỹ và đồng minh thân cận đều tuyên bố “mạnh tay” hỗ trợ các nước Đông Nam Á.

Nhà Trắng cho biết Mỹ sẽ hỗ trợ 119 triệu USD để giúp ASEAN tăng cường an ninh trên biển trong năm tài chính 2015 và thêm 140 triệu USD trong 12 tháng tới. Mỹ cũng tái khởi động hoạt động tuần tra trên biển Đông.

H1

Bắc Kinh “ngôn hành bất nhất” chẳng có gì lạ

Trong bối cảnh Bắc Kinh bị cô lập bởi cộng đồng quốc tế châu Á-Thái Bình Dương về vấn đề biển Đông mà “đại bác” Tập Cận Bình đã phải “mở loa”, sự kết hợp của quân đội nước này bằng các “họng pháo thật” uy hiếp, đe dọa sai trái tàu thuyền láng giềng trên biển Đông không khó giải thích.

Ông Kiều Tỉnh đánh giá trong bối cảnh như vậy, có thể lý giải được động cơ hành động ngang ngược, phi pháp những ngày qua của Trung Quốc, bên cạnh ý đồ lớn của Bắc Kinh.

Ông cho biết: “Trước sự cô lập của cộng đồng quốc tế, tuyên bố mạnh miệng của Thứ trưởng ngoại giao Trung Quốc Lưu Chấn Dân tại EAS bao biện cho các hành động trái phép trên biển Đông cũng chỉ để có lệ và ‘nhai lại’ luận điệu cũ.”

“Chính quyền Trung Quốc có quyền và khả năng giành lại những quần đảo, rạn san hô bị các nước láng giềng chiếm đóng trái phép. Nhưng chúng tôi không làm như vậy. Chúng tôi đã kiềm chế rất nhiều vì mục đích duy trì hòa bình và ổn định ở biển Đông,” Lưu Chấn Dân lớn tiếng tại EAS.

“Phản ứng này không có gì đặc biệt hay mới mẻ, chủ yếu nhằm phát đi thông điệp thách thức rằng ‘Trung Quốc làm gì thì vẫn sẽ tiếp tục làm’,” ông Kiều Tỉnh nhận xét.

Bên cạnh đó, theo chuyên gia Kiều Tỉnh, một vấn đề nữa cũng khiến Bắc Kinh bất mãn trong thời gian qua là việc đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) đã bị “tụt hậu” trước Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Trường cũng cho rằng việc Trung Quốc hành động trái với những tuyên bố hữu hảo với Việt Nam như vụ chĩa súng vào tàu tiếp tế hôm 13/11 không còn là điều lạ lẫm.

Theo ông Trường: “Trước sau gì Trung Quốc cũng gây hấn và tìm cách chiếm những con đường biển giao thông, tiếp tế của ta. Điều này đã nằm trong ý đồ của Bắc Kinh và họ sẽ tiếp tục nếu không có sức ép từ cộng đồng quốc tế để ngăn chặn.”

Ông Kiều Tỉnh bổ sung: “Từ trước đến nay Trung Quốc vẫn hành động kiểu ‘ngôn hành bất nhất’ như vậy và chính truyền thông của họ cũng quan ngại về điều này.

Trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, ngày 15/10/2011, hai bên đã thỏa thuận 6 điểm về Biển Đông thì tới tháng 6/2012, Trung Quốc đã bất chấp thỏa thuận, tiến hành thăm dò dầu khí trên thềm lục địa của Việt Nam.

Cũng như vậy, hai bên đã thỏa thuận 3 biện pháp tăng cường hợp tác trên biển khi ông Lý Khắc Cường thăm Việt Nam tháng 10/2013, nhưng chưa được bao lâu thì tháng 5/2014, Trung Quốc đưa giàn khoan Hải dương 981 vào tác nghiệp trái phép ngay trong thềm lục địa của Việt Nam.”

Bầu cử ở Myanmar và những bài học cho Việt nam

Bầu cử ở Myanmar và những bài học cho Việt nam

Trước nhiều chỉ dấu cho thấy, chính quyền Hà nội đang có một số động thái sẽ nới rộng và đưa nền chính trị Việt nam xích gần lại các giá trị tiến bộ của thế giới hơn. Điều đó cho thấy, việc cải cách chính trị ở Myanmar, đưa đất nước này thoát ra khỏi chế độ độc tài quân sự để bước sang một nền chính trị đa nguyên, theo những tiêu chí của văn minh nhân loại là một bài học có giá trị rất lớn cho sự thay đổi tất yếu tại Việt nam trong thời gian tới.

Cụ thể, theo RFA cho biết, Luật sư Vũ Đức Khanh, hiện sống và làm việc ở Canada nói rằng ông nhận được điện thoại từ một lãnh đạo rất cao cấp của Đảng CSVN, đề nghị cho biết ý kiến về tiến trình dân chủ tại Miến Điện sau khi đảng đối lập thắng lớn. Không chỉ thế Luật sư Vũ Đức Khanh còn cho biết thêm là cuối buổi nói chuyện, vị lãnh đạo Việt Nam nói với ông rằng, ông hy vọng một ngày không xa luật sư Vũ Đức Khanh có thể ra tranh cử tại Việt Nam.

Ủy ban Bầu cử quốc gia của Myanmar đã chính thức công bố kết quả cuộc bầu cử mang tính lịch sử ngày 8/11/2015, đây là một cuộc bầu cử Quốc hội được đánh giá rằng tự do, dân chủ nhất trong lịch sử chính trị của Myanmar. Theo đó, đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD) của bà Aung San Suu Kyi đã giành thắng lợi với 393 ghế trên tổng số 491 ghế, trong lúc đảng cầm quyền Liên minh Đoàn kết Phát triển (USDP) chỉ chiếm được 40 ghế. Theo dự kiến, việc chuyển giao quyền lực ở Myanmar sẽ hoàn tất vào tháng 4/2016, kể từ đó chính phủ mới của bà Aung San Suu Kyi sẽ chính thức nắm quyền lãnh đạo đất nước. Và người ta hy vọng lịch sử Myanmar sẽ bước sang một chương mới, kỷ nguyên của tự do, dan chủ và phát triển. Tuy nhiên trước mắt đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD) của bà Aung San Suu Kyi còn những thách thức không nhỏ.

Sửa đổi Hiến pháp 2008 không dễ

Mục tiêu của NLD cũng như các đảng phái khác, cũng như của các nhóm sắc tộc tuyên bố trong thời gian vận động bầu cử là, họ sẽ tiến hành sửa đổi Hiến pháp Myanmar năm 2008, mà họ cho rằng chưa thực sự mang tính chất dân chủ. Như việc quy định để không cho phép bà Aung San Suu Kyi giữ chức vụ Tổng thống, hay quy định về quyền của các nhóm sắc tộc ở các vùng hiện đang thuộc quyền kiểm soát của họ v.v… là những nội dung cần được sửa đổi. Nếu căn cứ vào nội dung thỏa thuận ngưng bắn giữa chính quyền Myanmar và các các nhóm sắc tộc, có ghi rõ việc ngừng bắn dựa trên nền tảng một Hiến pháp Myanmar trong đó có các cam kết tôn trọng quyền tự trị (ban hành một số luật trong vùng của mình) ở một mức độ nhất định của các nhóm sắc tộc. Thì đây cũng là một lối thoát, có thể buộc phe quân đội ủng hộ cho việc sửa đổi Hiến pháp Myanmar năm 2008.

Theo các nhà phân tích chính trị Myanmar đều thấy rằng, việc sửa đổi Hiến pháp Myanmar năm 2008 là một việc hết sức khó khăn. Vì theo quy định, Hiến pháp Myanmar chỉ được sửa đổi khi có sự đồng thuận của trên 75% tổng số dân biểu, trong lúc theo quy định số ghế của quân đội trong cơ quan lập pháp đã là 25% . Trong lúc số ghế trong Quốc hội của đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD) của bà Aung San Suu Kyi cũng chưa đạt đến mức 75%.

Do vậy, việc bà Aung San Suu Kyi sẽ nắm chức vụ Tổng thống Myanmar là một điều hầu như không thể và cũng hết sức khó khăn nếu như chính phủ mới không tiến hành được việc sửa đổi Hiến pháp Myanmar năm 2008. Tuy nhiên, việc sửa đổi Hiến pháp Myanmar năm 2008 còn là mong muốn của các nhóm sắc tộc ở Myanmar hiện nay, do đó nếu đảng NLD của bà Aung San Suu Kyi biết liên kết với các nhóm sắc tộc và giành được sự đồng thuận của quân đội, thì việc này vẫn có thể xảy ra.

NLD phải làm gì để tồn tại?

Đến nay, việc xác định ai sẽ là Tổng thống mới của Myanmar vẫn chưa có câu trả lời. Chỉ biết rằng gần đây, bà Aung San Suu Kyi đã tuyên bố rõ ràng rằng, nếu Đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ giành thắng lợi và nắm quyền lãnh đạo nhà nước thì bà sẽ nắm vai trò người lãnh đạo tối cao, trên cả Tổng thống Myanmar. Nhiều nguồn tin cho rằng, bà Aung San Suu Kyi sẽ nắm giữ chức Chủ tịch Quốc hội Myanmar theo thỏa thuận với các lãnh đạo Hội đồng An ninh Quốc gia.

Việc sửa đổi Hiến pháp Myanmar năm 2008 chắc chắn phải nhận được sự đồng tình của phe quân đội thì mới có thể tiến hành được. Do vậy, một gánh nặng được đặt lên vai của bà Aung San Suu Kyi là phải xử sự thế nào để giành được sự đồng thuận từ phe quân đội.

Tuy nhiên, việc thành lập chính phủ của đảng NLD sẽ không dễ dàng và thuận buồm xuôi gió, khi mà phe quân đội Myanmar vẫn nắm vai trò chủ đạo theo quy định của Hiến pháp Myanmar năm 2008. Theo đó, số ghế của quân đội trong cơ quan lập pháp là 25% theo quy định; cũng như các vị trị Bộ trưởng các bộ quan trọng như Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ và Bộ An ninh Biên giới phải do các tướng lĩnh Quân đội nắm giữ; hay cơ quan tối cao là Hội đồng An ninh Quốc gia Myanmar sẽ có 11 thành viên, trong đó 6 nhân vật là tướng lĩnh quân đội được chỉ định và 5 vị trí còn là do dân cử. Điều đó cho thấy quân đội Myanmar vẫn giữ một vai trò quan trọng trong chính trường của Myanmar. Nghĩa là con tàu Myanmar do đảng NLD của bà Aung San Suu Kyi lãnh đạo là người cầm lái sẽ gặp không ít sóng gió từ phe quân đội, một khi chính sách của NLD tỏ ra trái ý và có nguy cơ mang lại những bất lợi cho họ. Kể cả đánh đắm “con thuyền” này.

Tiến trình dân chủ hóa ở Myanmar hiện nay khó có thể đảo ngược, vì kết quả bầu cử vừa qua ở Myanmar đã cho thấy đã số cử tri Myanmar đã nói không với sự nắm quyền của quân đội và họ đã dồn toàn bộ sự ủng hộ cho đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD) của bà Aung San Suu Kyi. Tuy vậy, việc cử tri Myanmar dồn toàn bộ sự ủng hộ cho đảng NLD, hoàn toàn không phải vì tất cả đều ủng hộ đảng của bà Aung San Suu Kyi, mà vì họ đã chán ghét chính quyền độc tài quân nhân Myanmar đã cai trị trong hơn 50 năm qua ở đất nước này nhưng không còn lựa chọn nào tốt hơn.

Gác lại quá khứ, nhìn về tương lai là nhiệm vụ của đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD) của bà Aung San Suu Kyi sau khi nhận chuyển giao quyền lực. Điều đó cho thấy, chính phủ mới của bà Aung San Suu Kyi sẽ không thể có các chính sách nhằm “trả thù” chính quyền quân sự về những việc làm trong quá khứ. Mà quan trọng nhất là đảng NLD phải khôn khéo, biết dựa vào ảnh hưởng của phe quân đội để tiến hành các cải cách và quan trọng nhất là phải kéo dài thời gian cầm quyền của mình.

Bài học cho Việt nam

Kết quả bầu cử vừa qua ở Myanmar là kết quả mà phe quân sự không thể ngờ tới, vì trước ngày bầu cử họ vẫn công bố các kết quả điều tra xã hội học, mà theo đó cho thấy họ (đảng USDP) đã nhận được sự ủng hộ của dân chúng tới 60%, thậm chí có nơi là 80%. Lúc ấy, dư luận cho rằng vài tháng trước bầu cử đảng đảng cầm quyền Liên minh Đoàn kết Phát triển (USDP) đã lợi dụng danh nghĩa của chính quyền, để tiến hành các chính sách an sinh xã hội như: cho dân chúng vay một khoản tín dụng, thậm chi là chia tiền. Tuy vậy kết quả cuối cùng thì họ vẫn thất bại.

Kết quả này càng làm cho người ta hy vọng rằng, tiến trình dân chủ hóa ở Myanmar sẽ thu được những kết quả đáng khích lệ, tạo cơ sở cho sự chuyển mình của đất nước Myanmar sau hơn 50 năm được cai trị bởi tập đoàn quân sự. Dù rằng, sự so sánh giữa phong trào đấu tranh dân chủ ở Việt nam với Myanmar còn quá khập khiễng, vì sự khác nhau cơ bản về đẳng cấp và bài bản. Trong bài viết này, xin sẽ bỏ qua việc phân tích các nhược điểm cũng như sự tồn tại của lực lượng đấu tranh cho dân chủ ở VN, để đưa ra 03 bài học sau:

1. Sự thay đổi nhận thức của lãnh đạo

Đây là vấn đề quan trọng và mang ý nghĩa quyết định nhất, nếu không có sự thay đổi về nhận thức của ban lãnh đạo đương quyền thì tiến trình dân chủ hóa sẽ khó có thể xảy ra vì nó sẽ gặp phải muôn vàn các trở ngại từ phía chính quyền. Tuy vậy, sự thay đổi nhận thức của lãnh đạo cũng phải xuất phát trên nền tảng đòi hỏi cải cách chính trị của người dân. Như lời của ông Thein Sein, Thủ tướng Manmar nói với báo giới rằng “Đơn giản là chúng tôi chỉ đáp ứng mong muốn cải cách của người dân. Do vậy tương lai của (đất nước) chúng tôi phụ thuộc vào người dân và nguyện ước của họ”

Bài học các cuộc biểu tình phản đối sự quản lý kinh tế yếu kém và sự áp bức chính trị xảy ra vào năm 1988, mà đỉnh cao là việc quân đội Myanmar đã nổ súng vào những người biểu tình ngày 8 tháng 8 năm 1988. Máu đã đổ và biết bao nhiêu người đã ngã xuống, song cuộc biểu tình năm 1988 đã đẩy đất nước Myanmar tới bờ vực của một cuộc cách mạng. Để đối phó, các tướng lĩnh Manmar đã tiến hành một cuộc đảo chính nhằm để xoa dịu dân chúng. Và sau đó Myanmar quay trở lại quốc hiệu Liên bang Myanmar –  Union of Myanmar. Tuy vậy, cuộc cách mạng 2008 cũng đã dọn đường cho cuộc bầu cử Quốc hội Nhân dân năm 1990 với kết quả Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ – NLD của bà Aung San Suu Kyi lãnh đạo, thắng hơn 60% số phiếu và 80% ghế trong quốc hội trong cuộc bầu cử 1990. Đây là một cuộc bầu cử đầu tiên được tổ chức trong 30 năm dưới sự cầm quyền của chính phủ quân sự. Và tuy rằng kết quả của cuộc bẩu cử này sau đó đã bị chính quyền bác bỏ. Nhưng đã cho thấy rằng đòi hỏi cải cách chính trị của đông đảo người dân là yếu tố hết sức quan trọng. Điều này ở Việt nam mới ở mức nhen nhóm.

Như vây cho thấy, sự thay đổi nhận thức của lãnh đạo các chính quyền độc tài chỉ xuất hiện khi họ phải đối mặt với sức ép, cũng như sự thách thức của dư luận xã hội và sức ép của các tổ chức chính trị đối lập ở một mức độ cao, buộc họ phải chấp nhận sự thay đổi các chính sách về hệ thống chính trị. Đây là điều hiện còn thiếu ở Việt nam.

2. Chuyển đổi trong trật tự trên tinh thần xây dựng

Lịch sử chính trị thế giới trong những năm gần đây cho thấy, đa số các cuộc cách mạng nhằm chuyển đổi thể chế chính trị từ độc tài sang dân chủ luôn bị ảnh hưởng của bạo lực và xung đột vũ trang, không chỉ từ phía nhà cầm quyền mà còn xảy ra giữa các lực lượng làm cách mạng với nhau. Từ đó diễn ra tình trạng nội chiến và xung đột kéo dài không có hồi kết. Đây là nguy cơ trầm trọng và là sự thất bại, khi người ta đánh đổi sự độc tài bằng một cuộc nội chiến.

Ở Myanmar đã tiến hành chuyển đổi thành công trong trật tự và hòa bình, cho dù hiện nay ở Myanmar vẫn tồn tại tới 23 nhóm vũ trang của các sắc tộc ít người, đang hoạt động ở vùng rừng núi, cũng như việc Myanmar đã chịu sự nắm quyền của tập đoàn độc tài quân sự trong thời gian hơn 50 năm. Song các giá trị về dân chủ và khát vọng của người dân về một nền chính trị tiến bộ vẫn không hề bị dập tắt, bất chấp sự đàn áp không thương tiếc của nhà cầm quyền quân sự.

Bên cạnh cuộc đấu tranh vũ trang của các lực lượng phiến quân thì cuộc đấu tranh bất bạo động vẫn tồn tại, phát triển và giành được các kết quả ngoạn mục. Đó là cuộc đấu tranh không khoan nhượng, dựa trên nền tảng hòa hợp để xây dựng và phát triển của phong trào đấu tranh dân chủ ở Myanmar. Có những lúc một số đông sinh viên Myanmar, bị đàn áp đã không lựa chọn con đường định cư ở quốc gia thứ 3, mà họ lựa chọn tỵ nan tại Thái lan để tiếp tục tranh đấu với hy vọng cho sự chuyển biến chính trị cho Myanmar.

Đây có lẽ là điều khác hoàn toàn với phong trào tranh đấu cho dân chủ ở Việt nam, khi mà đến lúc này nhiều người chưa thấy ở họ một chủ trương cụ thể: đấu tranh để buộc nhà cầm quyền chuyển đổi hay đấu tranh để lật đổ chế độ hiện tại?

3. Hóa giải mối quan hệ với Trung quốc

Các nhà phân tích chính trị quốc tế đề có một nhận xét chung rằng, sự thay đổi chính trị ở Myanmar sẽ khó xảy ra, nếu ảnh hưởng và sự ủng hộ từ Trung Quốc vẫn tồn tại. Tuy vậy ban lãnh đạo của chính quyền quân sự Myanmar đã chuyển đổi chính sách đối ngoại, từ chính sách đóng cửa và dựa hẳn vào Trung quốc sang chính sách quan hệ hữu nghị với tất cả các nước trên thế giới đặc biệt với các nước láng giềng, khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm lược nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi. Đặc biệt là cở mở hơn với phương Tây, tuy nhiên mối quan hệ với Trung quốc vẫn được họ xử lý một cách khéo léo và hài hòa.

Chủ trương của chính quyền Hà nội đến nay đối với Trung quốc hiện nay cũng đã rõ ràng hơn, cho dù chỉ là ở mức khiêm tốn, song cũng cho thấy sự thao túng của Trung quốc vào nền chính trị Việt nam cũng chỉ ở mức độ, mà không có tình trạng làm mưa làm gió như trước đây. Đặc biệt là thái độ cứng rắn và cương quyết hơn của ông Nguyễn Tấn Dũng, người được đồn đoán rằng sẽ nắm chức vụ cao nhất của Đảng CSVN trong năm 2016. Đây cũng là một tiền đề cần thiết cho sự chuyển đổi chính trị ở Việt nam nếu có trong tương lai.

Kết

Hiện nay ở Việt nam cho dù chưa có một khảo sát xã hội học nào khẳng định tỷ lệ % người dân ủng hộ Đảng CSVN là bao nhiêu? Song có ý kiến  cho rằng sự ủng hộ đó ít nhất sẽ trên 50 %. Tuy vậy, sự chần chừ trong việc cải cách chính trị của ban lãnh đạo Việt nam cho thấy, nhận xét đó ít có khả năng thuyết phục. Vì nếu như sự ủng hộ của dân chúng cho Đrng CSVN ở mức như vậy thì lý do nào khiến họ không dám cải cách chính trị? Hay là họ biết rằng sự ủng hộ của dân chúng ở Việt nam cũng sẽ theo như kết quả bầu cử ở Myanmar vừa qua?

Dù sao đi chăng nữa, tiến trình dân chủ hóa ở Việt nam là con đường tất yếu và đúng đắn. Nhất là trong lúc nền kinh tế Việt nam đang chao đảo bởi nợ nần, do sự hoạt động kém hiệu quả của các doang nghiệp nhà nước và sự quản lý yếu kém. Trong lúc xã hội bát nháo, các quan chức nhà nước ngày một lộng hành trong việc bắt nạt dân, cũng do hậu quả của một hệ thống luật pháp không nghiêm minh, công lý không được tôn trọng thì việc cải cách chính trị để chuyển đổi từ nền chính trị độc tài một đảng sang đa nguyên dân chủ là việc làm hết sức cần thiết. Nó cũng là giải pháp nhằm tháo ngòi nổ cho quả “bom”, khi mà mọi áp lực xã hội và sự bất mãn của dân chúng ngày càng tăng cao.

Đổi mới thể chế chính trị, xóa bỏ độc tài chuyên chế theo mô hình nhà nước XHCN của chủ nghĩa Marx – Lenin để tiến tới một nền chính trị dân chủ, tự do như hầu hết các quốc gia trên thế giới đã theo đuổi và đạt được những thành tựu to lớn. Nền chính trị dân chủ thực chất là sự tôn trọng và coi quyền lực nhà nước phải thuộc về nhân dân, và phải do nhân dân quyết định và lựa chọn. Trong nhiều chục năm trở lại đây, Đảng CSVN đã đưa đất nước đi từ hết sai lầm này đến sai lầm khác. Và đến nay Việt nam đã chính thức tụt hâu với thế giới và khu vực, kể cả Lào, Campuchia… cũng đã vượt chúng ta. Do vậy, Đảng CSVN không còn bất kể lý do gì để bám chặt vào quyền lực một cách độc tôn như hiện nay.

Ngày 28/11/2015

© Kami

Bảo vệ Quyền Trẻ em: kết án nặng hơn người lớn

Bảo vệ Quyền Trẻ em: kết án nặng hơn người lớn

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-11-27

Em Nguyễn Mai Trung Tuấn 15 tuổi bị một tòa án huyện ở Long An hôm 24/11/2015 kết án sơ thẩm 4 năm 6 tháng tù- Người tù dân oan trẻ tuổi nhất Việt Nam

Danlambao

Khác với sự thương cảm và phẫn nộ của mạng xã hội, báo chí thuộc hệ thống chính thức đưa tin khá đơn giản về vụ thiếu niên Nguyễn Mai Trung Tuấn 15 tuổi bị một tòa án huyện ở Long An hôm 24/11/2015 kết án sơ thẩm 4 năm 6 tháng tù vì tạt a xít chống cán bộ cưỡng chế đất. Bố mẹ em Tuấn dù cũng đang ngồi tù sẽ phải thay em bồi thường 42 triệu 600 ngàn đồng cho ông  Nguyễn Văn Thủy Trưởng công an xã bị phỏng.

Phán quyết quá nặng cho thiếu niên

Các báo Pháp Luật Thành phố Online, Người Lao Động Online khi đưa tin vụ xử án hiếm có này, đã bỏ qua các chi tiết quan trọng mà Luật sư Nguyễn Văn Miếng thuộc Đoàn Luật sư TP.HCM trình bày trước tòa để bảo vệ em Nguyễn Mai Trung Tuấn.

Nhận định về vấn đề thực thi công lý mà giới luật gia cho rằng rất thiếu sót trong vụ xử em Nguyễn Mai Trung Tuấn, LS Trần Thu Nam hiện sống và làm việc ở Hà Nội cho rằng, trẻ em vị thành niên mà đưa ra một án nặng như thế sẽ có nhiều tác động đến tâm lý của trẻ em, tác động đến dư luận xã hội, đề ra một vấn đề là tại sao một đứa trẻ như thế lại phải chịu một mức án rất là cao…nguyên nhân lý do làm sao mà một đứa trẻ thực hiện hành vi, có phạm tội hay không phạm tội thì phải chứng minh.

Tuy không trực tiếp tham gia hồ sơ vụ án của em Tuấn nhưng LS Trần Thu Nam qua trao đổi với  LS Nguyễn Văn Miếng người bào chữa cho em Tuấn, ghi nhận rằng trong quá trình bào chữa cho em Tuấn đã có nhiều vấn đề, như đề nghị triệu tập người giám định đến phiên tòa nhưng không được đáp ứng. cũng như một số thủ tục khác không được đầy đủ. Cho nên việc ra một phán quyết với một đưa trẻ như thế thì cần phải xem xét. LS Trần Thu Nam nhấn mạnh:

“ Việt Nam tham gia Công ước về quyền của trẻ em, thế thì việc bảo vệ ở đây đã được đặt ra hay chưa mà tại sao lại đưa ra một phán quyết nặng như vậy. Có nhất thiết phải phán quyết nặng đến thế không vì nó làm ảnh hưởng tới tương lai của đứa trẻ, ảnh hưởng tới tự do cũng như học tập

LS Trần Thu Nam”

“ Việt Nam tham gia Công ước về quyền của trẻ em, thế thì việc bảo vệ ở đây đã được đặt ra hay chưa mà tại sao lại đưa ra một phán quyết nặng như vậy. Có nhất thiết phải phán quyết nặng đến thế không vì nó làm ảnh hưởng tới tương lai của đứa trẻ, ảnh hưởng tới tự do cũng như học tập, tất cả những vấn đề đó chúng ta cần phải cân nhắc cho kỹ .”

Đây là lần đầu tiên một trẻ vị thành niên ở Việt Nam bị kết án nặng hơn cha mẹ mình 1 năm, khi gia đình này chống đối đoàn cưỡng chế đất bằng bom xăng và a xít vào ngày 14/4/2015. Bản án ngày 24/11 dành cho em Tuấn là án sơ thẩm khi em ra tòa một mình về tội cố ý gây thương tích. Ngày 25/11/2015 Tòa án Tỉnh Long An xử chung thẩm đã y án bà Mai Thị Kim Hương mẹ em Tuấn bị 3 năm 6 tháng tù và ông Nguyễn Trung Can bị 3 năm tù. Hai ông bà ở trong số 12 người đã bị bắt và ra tòa sơ thẩm ngày 15 và 16/9/2015 vừa qua. Lúc đầu em Nguyễn Mai Trung Tuấn được nhà ngoại bảo lãnh cho về nhà. Tuy vậy Tuấn sau này đã bị bắt ở Bình Thuận theo lệnh truy nã và ra tòa Thạnh Hóa Long An hôm 24/11/2015.

Đền bù đất đai theo kiểu ăn cướp

Câu chuyện của em Nguyễn Mai Trung Tuấn và 12 người khác trong vụ chống đối cưỡng chế đất xảy ra ngày 14/4/2015 ở Thị trấn Thạnh Hóa Long An là câu chuyện chung của hàng chục ngàn dân oan mất đất ở Việt Nam. TS Phạm Chí Dũng, Chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập một tổ chức xã hội dân sự nằm ngoài sự kiểm soát của Chính phủ, nhận định:

Gia đình dân oan Mai Thị Kim Hương – Nguyễn Trung Can cùng hai con là Nguyễn Mai Trung Tuấn, Nguyễn Mai Thảo Vy bên căn lều tạm bợ

Gia đình dân oan Mai Thị Kim Hương – Nguyễn Trung Can cùng hai con là Nguyễn Mai Trung Tuấn, Nguyễn Mai Thảo Vy bên căn lều tạm bợ

“ Gốc của vấn đề nằm ở Hiến pháp, quyền sở hữu đất đai là thuộc toàn dân có nghĩa là thuộc nhà nước mà không có quyền sở hữu tư nhân về đất đai. Một khi thuộc về toàn dân thuộc về nhà nước cũng có nghĩa thuộc về những tập đoàn những nhóm lợi ích hiện nay. Những nhóm lợi ích kinh tế lại móc xích với nhóm lợi ích chính trị và hai bên cùng ra chính sách để đền bù với giá rẻ mạt và sau đó bán ra thị trường với giá cao ngất có thể lên tới hàng chục lần hàng trăm lần. Tình hình Việt Nam cũng như ở Trung Quốc là đền bù đất đai rẻ mạt và gần như là cướp đất không của người dân.”

Báo chí chính thức cho biết vụ chống cưỡng chế ở Thạnh Hóa Long An là chống lại dự án giải tỏa đất để làm đê bao chống lũ. Gia đình em Nguyễn Mai Trung Tuấn, từng giải thích là chống cưỡng chế vì tiền đền bù quá thấp chỉ 300.000 đồng/m2 trong khi chính quyền bán đất tái định cư ở khu vực liền kề với giá 25 triệu/m2. TS Phạm Chí Dũng nhận định về trường hợp này:

“ Theo tôi biết thì đối với bất kỳ loại đất nào và sử dụng cho mục đích gì thì nguyên tắc cũng phải là ngang giá thị trường khi đền bù. Chứ không thể lạm dụng lợi dụng chuyện các công trình công ích mà có thể đền bù thấp được. Cho nên việc này tôi cho là chính quyền địa phương ở Long An, cũng giống như chính quyền nhiều địa phương khác lợi dụng chính sách làm dự án công ích để đền bù với giá rất thấp. Nhưng mà cũng có rất nhiều trường hợp là những dự án công ích sau khi bị đền bù với giá thấp thì bị xẻ ra một phần làm công ích thôi. Có thể 60%-70% làm công ích trong khi đó sử dụng diện tích còn lại 30% tới 40% làm đất kinh doanh mà đất kinh doanh bán không hề rẻ một chút nào, có thể ngay ngày hôm sau người ta đến mua với giá cao hơn gấp 10 lần hoặc 20 lần như vậy. Thành thử ở đây là một sự lạm dụng và lợi dụng.”

“ Những nhóm lợi ích kinh tế lại móc xích với nhóm lợi ích chính trị và hai bên cùng ra chính sách để đền bù với giá rẻ mạt và sau đó bán ra thị trường với giá cao ngất có thể lên tới hàng chục lần hàng trăm lần. Tình hình Việt Nam cũng như ở Trung Quốc là đền bù đất đai rẻ mạt và gần như là cướp đất không của người dân

TS Phạm Chí Dũng”

Trở lại tình tiết vụ cưỡng chế ngày 14/4/2015, Pháp Luật Thành Phố Online dẫn hồ sơ cáo trạng mô tả là vào ngày 14/4/2015 khi đoàn cưỡng chế tiến vào khu vực ba gia đình bị cưỡng chế gồm các hộ Nguyễn Trung Can, Nguyễn Thị Nhanh và Nguyễn Trung Tài ở thị trấn Thạnh Hóa Long An thì bị các gia đình này phản kháng chống đối, hất a xít vào cán bộ. Các báo cũng nói tới việc ném bom xăng nhưng không có một chi tiết nào mô tả việc này. Em Nguyễn Mai Trung Tuấn bị cáo buộc đã hất ca a xít làm bị thương ông Nguyễn Văn Thủy trưởng công an xã, tỷ lệ thương tích giám định là 35%.

Ngay sau khi tòa án huyện Thạnh Hóa tỉnh Long An tuyên án sơ thẩm thiếu niên Nguyễn Mai Trung Tuấn 4 năm 6 tháng tù, em Nguyễn Mai Thảo Vy em gái của Tuấn đã phát biểu với Đài ACTD:

“ Cháu thấy bản án bất công đối với anh cháu, tại vì hành vi của anh cháu là hành vi bảo vệ gia đình, tự vệ. Khi cưỡng chế có hai chiếc xe tải chở từ 100 đến 200 cảnh sát cơ động đến ập vào nhà. Họ uy hiếp, đánh đập gia đình rất dã man. Anh Hai thấy họ bắt mẹ và đập đầu xuống đường nên anh Hai, với tư cách người con phải cứu mẹ. Hành động mà anh Hai tạt acid ông công an là để cứu mẹ thôi.”

Theo thông tin ghi nhận, nếu gia đình em Nguyễn Mai Trung Tuấn quyết định ủy nhiệm luật sư kháng cáo trong hạn định 15 ngày kể từ ngày 24/11/2015, thì có hy vọng những lập luận của luật sư bào chữa được tòa trên tức Tòa án Nhân dân Tỉnh Long An lưu ý. Trong trường hợp này em Tuấn là người chưa thành niên. Thông thường chỉ chịu một nửa án phạt người lớn.

Trên các mạng xã hội, giới luật gia cũng đề cập tới vấn đề, nếu tòa xác định hành vi hất ca a xít của em Tuấn là không cố ý thì em không chịu trách nhiệm hình sự. Ngoài ra nếu tỷ lệ thương tích của Trưởng công an xã Nguyễn Văn Thủy được giám định là 30% thay vì 35% thì Tuấn cũng thoát tội. Trong phiên xử sơ thẩm ngày 24/11/2015, Tòa đã bác yêu cầu của LS Nguyễn Văn Miếng xin triệu tập hai nhân viên giám định pháp y liên quan tới bản giám định.

Tuổi già ham học

Tuổi già ham học

+ ĐGM. GBt. Bùi Tuần

1. Tôi không còn trẻ, không còn khỏe. Có nghĩa là tôi đã già, đã yếu. Già yếu mà vẫn ham học.

2. Lãnh vực mà tôi ham học nhất, là những gì giúp tôi cứu mình và cứu người, theo bước chân Chúa Giêsu là Đấng cứu thế.

3. Ham học là học mà cảm thấy vui, học mà cảm thấy khao khát học thêm, học mà cảm thấy mình được yêu thương, được nên người, được có khả năng phục vụ nhiều hơn, học mà cảm thấy các bài học là rất nhiều và rất phong phú, trong đó có những bài học không thể thiếu.

4. Hôm nay, tôi xin chia sẻ đôi chút về một bài học đang dạy tôi rất nhiều trong tuổi già về việc cứu mình và cứu người, theo Chúa Giêsu. Bài học đó là những cách đối phó trước thực tế đầy thử thách.

Thử thách, mà tôi nói đến ở đây không chỉ là những đớn đau, mà là tất cả những gì làm cho tôi muốn đóng cửa lòng mình lại, khiến tôi không nhìn thấy ý nghĩa đời mình, không dám dấn thân vào hướng đi về Nước Trời.

5. Hiểu thử thách là như vậy, tôi thú nhận là tôi đang chịu rất nhiều thử thách như:

Thích hưởng thụ, Thích giải trí một cách tự do thoải mái, Thích phô trương, Thích đạo đức bề ngoài, Thích an phận, Thích long trọng, Thích giàu sang, Thích quyền lực, Thích tự đắc, tự phụ, tự mãn… Đó là những thử thách, mà tôi gọi là những thử thách ngọt ngào, dễ chịu.

6. Bên cạnh loại đó, luôn có một loại thử thách khác, mà tôi gọi là những thử thách cay đắng, khó chịu như: Bệnh tật, cô đơn,chán nản, tối tăm,bực bội, nhọc nhằn, mệt mỏi, thất vọng, túng thiếu, bị bắt bớ, bị bội bạc, bị khinh chê, bị hiểu lầm… Tuổi già không miễn trừ cho tôi những thử thách thuộc hai loại nói trên.

7. Thêm vào đó, còn có những cám dỗ do ma quỷ chủ trương với rất nhiều thủ đoạn và mưu lược. Chúa dùng những thử thách đó, để huấn luyện và thanh luyện tôi.

8. Tôi nhận ra được ý Chúa nhờ cầu nguyện. Cầu nguyện là cách thứ nhất tôi thực hiện để đối phó với những thử thách. Có những ngày tôi như chìm sâu trong đau đớn. Có những đêm tôi trằn trọc như bị hành hạ bởi những ác thần. Những trường hợp như vậy, tôi không nhìn vào thử thách, càng không đối thoại với ác thần, nhưng tôi cầu nguyện. Tôi đến với Chúa trong thân phận hèn hạ yếu đuối, tôi tin cậy nơi Chúa. Dần dần, tâm hồn tôi được bình an. Đức tin bắt đầu cứu tôi. Rồi từ đó, lòng tôi được mở ra. Tình yêu Chúa tràn vào. Tôi nhìn rõ ý nghĩa đời tôi. Tôi quyết tâm dấn thân về hướng Nước Trời. Tôi được đổi mới. Tôi hạnh phúc được trở thành con Chúa.

9. Thử thách qua đi. Rồi thử thách lại tới. Ngoài việc cầu nguyện, Chúa dạy tôi hãy học thêm bằng tiếp xúc. Tiếp xúc là cách thứ hai tôi thực hiện để đối phó với thử thách. Tôi tiếp xúc với Kinh Thánh, với gương các Thánh, với thần học và triết học.

Riêng Chúa Giêsu, Người dạy là phải qua Thánh Giá mới tới được Phục Sinh.

Riêng Đức Mẹ, Mẹ dạy tôi hãy đứng bên Mẹ dưới chân cây Thánh Giá, lúc Chúa Giêsu bị đóng đinh treo trên đó.

Hàng ngày, Chúa vẫn gửi đến cho tôi những chứng nhân sống động về cuộc chiến đấu với những thử thách. Tất cả các chứng nhân đó đều được học sự khôn ngoan từ Thánh Giá, và nhận được sức mạnh từ Thánh Giá Chúa.

10. Tới đây, tôi xin nói lên một nhận xét của tôi về tình hình đạo đức hiện nay. Đó là phần đông con người thời nay không muốn nói tới Thánh Giá, không muốn coi Thánh Giá là yếu tố cần thiết cho việc cứu rỗi.
Thiết tưởng, não trạng như thế chính là một thử thách lớn cho Hội Thánh hôm nay. Chối bỏ Thánh Giá là chối bỏ sự cần thiết phải từ bỏ. Mà từ bỏ là một đòi hỏi quan trọng của Phúc Âm. Tiếp xúc với các Thánh, tôi thấy không vị thánh nào đã có thể nên thánh, mà không qua từ bỏ.

11. Cách thứ ba tôi thực hiện để đối phó với những thử thách là lao động tinh thần, tức là suy tư. Suy tư là việc tinh thần nhìn xem, việc nhìn xem này được thực hiện nhờ thấy những tương quan. Đối tượng nào, dù nhỏ bé đến đâu, cũng nằm trong những tương quan trập trùng. Thấy được những tương quan của một đối tượng, là việc rất vất vả.

Thời sự, thời thế cho tôi rất nhiều đề tài để suy tư. Đề tài nào cũng chỉ hiện ra như một hiện tượng. Thoáng nhìn tôi chỉ thấy cái vỏ bề ngoài. Suy tư tôi phải đi qua nhiều lớp, nhiều ngăn, nhiều ngóc ngách, mới mong khám phá được những điều ẩn tàng giấu ẩn. Chính vì phải tập trung như thế, mà suy tư nhiều khi giúp tôi quên đi được những cám dỗ, những thử thách. Hơn nữa, suy tư cũng giúp tôi rất nhiều trong việc hiểu những người bị thử thách, để cảm thông với họ. Suy tư nhiều, suy tư sâu, suy tư rộng, tất cả suy tư như thế giúp tôi biết thận trọng hơn, dè dặt hơn trong mọi thử thách đang xảy ra cho Hội Thánh, cho Đất nước, cho đồng bào hiện nay.

12. Bắt đầu là tôi dè dặt với chính mình. Càng cầu nguyện, càng tiếp xúc, càng suy tư, tôi càng khám phá thấy sự thực này: Tôi rất yếu đuối, có rất nhiều giới hạn. Tôi cần được cộng đoàn nâng đỡ. Tôi cần được Chúa cứu.

Năm nay, tôi gần 90 tuổi. Tuổi già có những thử thách riêng của tuổi già, mà tuổi trẻ không hiểu. Mỗi cá nhân lại có những thử thách riêng, mà những người khác không hiểu.

13. Tôi đang sống tuổi già với nhiều thử thách, trong tâm tình cảm tạ. Bởi vì Chúa cho tôi nhiều cách để rút ra được những lợi ích từ những thử thách.

14. Nhưng với kinh nghiệm bản thân, tôi không thể không lo cho Hội Thánh của tôi, Đất nước của tôi, đồng bào của tôi. Đâu cũng có những đốm sáng, nhưng đâu cũng có những góc tối, có nơi góc tối lại nhiều và tối một cách đáng sợ. Nhìn thấy như vậy, tôi không thể tự hào, khi tự hào chỉ là một khẩu hiệu vô trách nhiệm.

Khi thấy đạo đức xuống, tội ác tăng, tôi có nhận xét là nhiều người đang mất khả năng suy nghĩ, mất khả năng phân định, mất khả năng chọn lựa. Có nghĩa là đang đánh mất tính người. Đó là một thử thách rất lớn.

Cuộc đời là một chuyến đi đầy thử thách.

Xin Chúa thương đến chúng con.

+ ĐGM. GBt. Bùi Tuần

Tờ Giấy Bạc 20 Đô

Tờ Giấy Bạc 20 Đô

Nguyễn Duy An

Bài đọc suy gẫm:  Tờ Giấy Bạc 20 Đô tức “Tìm Lại Ân Nhân” của tác giả Nguyễn Duy An. Nhân mùa lễ Thank’s Giving đang tới, blog Mười Sáu thân chúc quý độc giả, gặt hái được trọn vẹn ý nghĩa của mùa lễ Tạ Ơn. Hình ảnh chỉ có tính minh họa.

Bà đại sứ Dougan gởi lời nhắn trong điện thoại muốn gặp tôi tại quán cà phê Caribou ở góc đường L & 17 vào lúc 3 giờ chiều Thứ Sáu sau Lễ Tạ Ơn, để kiểm chứng một vài chi tiết về một vị ân nhân tôi đang tìm kiếm từ hơn 20 năm nay vì bà ấy đã tìm được một vài manh mối.

Tôi quen bà đại sứ Dougan từ cuối năm 2006, lúc bà ấy chuẩn bị thực hiện chương trình “Next Gen Awards” cho giới trẻ ở Việt Nam vào năm 2007, và qua sự quen biết với ban lãnh đạo của National Geographic, bà ấy đã mời tôi làm thành viên trong ban cố vấn của chương trình. “Cuộc thi NextGen [Next Generation] được tổ chức hàng năm nhằm khuyến khích, dẫn dắt, trao thưởng cho thế hệ trẻ tài năng có ý tưởng sáng tạo và những đề án thực tiễn trong việc sử dụng hiệu quả điện thoại di động nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống trong cộng đồng và hơn thế nữa…”

Bà đại sứ Dougan chỉ muốn tôi gọi bà là Diana, nhưng vì trong văn bản chính thức người ta vẫn giới thiệu bà là “The Honorable Diana Lady Dougan” nên lúc nào tôi cũng gọi bà là Ambassador Diana hoặc Ambassador Dougan cho phải phép. Tôi gọi thế vì bà đã nhận được tước vị “the permanent rank of Ambassador” và tôi cũng không biết cái chức đó trong tiếng Việt là gì nên “tạm dịch” là đại sứ mặc dầu bà đã về hưu và cũng chưa bao giờ làm đại sứ chính thức của Hoa Kỳ tại bất cứ quốc gia nào trên thế giới.

Sau khi làm việc chung với nhau một thời gian, tôi biết bà ta quen rất nhiều nhân viên kỳ cựu đã từng làm trong ngành Ngoại Giao nên chính thức nhờ bà ấy tìm lại một vị ân nhân đã cho tôi 20 Dollars trên chuyến bay từ Tokyo tới Seattle vào ngày 1 tháng 8 năm 1984.

Mặc dầu tôi đã ra sức tìm kiếm từ bao nhiêu năm nay, kể cả việc liên hệ với một vài người quen biết đang làm việc ở Bộ Ngoại Giao, nhắn tin trên internet và bulletin của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ nhưng vì tôi chỉ có một vài chi tiết rất mơ hồ về vị ân nhân của mình nên cuộc tìm kiếm đã không mang lại kết quả gì. Ngoài những chi tiết ở trên, tôi chỉ biết vị ân nhân ấy tên là Barbara (tôi đã quá khù khờ nên không hỏi tên họ) và năm 1984 bà Barbara đang làm việc trong văn phòng một tòa đại sứ nào đó của Hoa Kỳ ở Á Châu! Khi nghe tôi kể về câu chuyện hy hữu đã xẩy ra cho tôi trong ngày đầu tiên đặt chân tới Mỹ và những cố gắng của tôi để tìm lại vị ân nhân đó, bà đại sứ Dougan đã thốt lên “đúng là mò kim đáy biển” nhưng cũng hứa sẽ cố gắng hết sức và hy vọng sẽ tìm được vì “lòng thành” của tôi.

***

Logo Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, UNHCR (United Nations High Commission for Refugees – Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc).

Ngày đó… Tôi được bầu làm trưởng đoàn hướng dẫn gần 200 người tỵ nạn Việt Nam từ Galang và Hong Kong đáp chuyến bay của hãng Northwest Airlines rời Tokyo sang Seattle bắt đầu cuộc sống mới trên đất Mỹ. Tôi được chọn vì “đồng bào” biết tôi đã từng làm thông dịch viên cho văn phòng Cao Uỷ ở trại tỵ nạn Galang, Indonesia.

Tất cả chúng tôi được lên máy bay trước những hành khách bình thường, và ngồi gần hết phía cuối máy bay, nhưng cho tới khi máy bay chuẩn bị cất cánh, bà con ta vẫn cãi nhau chí chóe vì chỗ ngồi lộn xộn, kẻ thích gần cửa sổ, người khác lại muốn gần lối đi hay dăm ba người bạn muốn được ngồi bên nhau… Nhân viên phi hành đoàn, sau nhiều lần cố gắng vẫn không ổn định được tình hình, đã nhờ tôi dùng hệ thống âm thanh trên máy bay nói tiếng Việt giúp họ giải quyết vấn đề. Tôi cầm máy nói vài lời xin lỗi hành khách trên máy bay bằng tiếng Anh, rồi nói lớn bằng tiếng Việt:

– Tôi xin tất cả mọi người ngồi xuống ghế, cài dây an toàn. Ai không muốn ngồi tại chỗ của mình, xin bước lên đây, tôi sẽ dẫn ra đi chuyến sau. Chúng ta không thể đánh mất danh dự của người Việt Nam chỉ vì một chỗ ngồi trên máy bay.

Như một phép lạ, cả mấy trăm người đều im bặt, chỉ còn nghe tiếng lách cách cài dây an toàn… Tất cả hành khách trên máy bay và phi hành đoàn đều trố mắt ngạc nhiên nhìn tôi. Tôi nói cám ơn rồi trở về chỗ ngồi. Trớ trêu thay, chỗ ngồi của tôi đã bị chiếm mất! Mấy cô chiêu đãi viên cũng đi lên đi xuống, nhìn trước ngó sau nhưng không tìm thấy ghế trống nào ở phần dành cho người tỵ nạn nên đành dẫn tôi lên ngồi một ghế trống ở phía trên, bên cạnh một phụ nữ trung niên với một gương mặt rất phúc hậu… Sau khi tôi cài dây an toàn, bà ta vừa bắt tay tôi vừa nói:

– Tôi là Barbara. Anh bạn trẻ tên gì?

– Tôi là Nguyễn Duy-An.

Bà ta lặp lại tên tôi vài lần rồi hỏi tôi xem bà ấy phát âm có đúng không. Tôi thành thật nói không. Bà ấy cười lớn:

– Tiếng Việt Nam khó đọc quá. Tôi chịu thua. Thôi, cứ gọi là “anh bạn trẻ” nhé.

– Tuỳ bà.

– Cám ơn. Mà này, anh bạn trẻ đang làm việc cho Cao Uỷ Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc, phải không?

– Dạ không. Tôi chỉ là một người tỵ nạn đang trên đường đi định cư tại Mỹ.

– Thế hả? Tôi thấy trên áo anh có in phù hiệu Liên Hiệp Quốc và mấy chữ UNHCR (United Nations High Commissioner for Refugees).

– Đây chỉ là món quà của Cao Uỷ cho những người làm việc thiện nguyện trong trại tỵ nạn thôi.

– Mà này, anh bạn trẻ… Lúc nãy anh nói gì mà tất cả đều im lặng tuân theo vậy? Mấy người tiếp viên hàng không sắp xếp cả tiếng đồng hồ không xong, còn anh chỉ nói một câu thì mọi việc đều êm. Anh bạn trẻ giỏi quá.

– Tôi có tài giỏi gì đâu. Tôi chỉ nhắc cho họ đừng làm mất danh dự dân tộc của mình vì tranh dành chỗ ngồi trên máy bay.

Trên: Phi cơ chở người tị nạn cộng sản Việt Nam vừa hạ cánh tại phi trường Canberra, Australia.  Dưới:  Người tị nạn rời khỏi Phillipines để đi định cư tại đệ tam quốc gia và 1 chuyến bay đặc biệt chở người tị nạn từ đảo Wake.

Chúng tôi còn nói nhiều chuyện trong suốt chuyến bay dài qua đêm, và tôi được biết bà Barbara là nhân viên ngoại giao làm việc ở Á Châu đang trên đường về Mỹ nghỉ hè. Vừa tới Seattle, trước khi xuống máy bay, bà Barbara trao cho tôi một tờ giấy 20 Dollars, nói nhỏ:

– Cứ cầm lấy, đừng ngại nhé anh bạn trẻ. Đường về Miền Đông còn dài, biết đâu anh cần một ít để mua đồ ăn thức uống trong lúc chờ đổi chuyến bay.

Tôi chưa kịp nói lời cám ơn thì bà ấy đã bước vội ra phía trước như sợ tôi sẽ từ chối.

Tôi theo đoàn người tỵ nạn đi ra theo lối dành riêng để xếp hàng làm thủ tục giấy tờ định cư. Tôi là trưởng đoàn nên phải đứng ở cửa giúp “điểm danh” và “nhận diện” từng người vì có nhiều người trùng tên, trùng họ và danh sách đánh máy lại không có dấu tiếng Việt.

Mặc dầu máy bay đáp xuống phi trường Seattle lúc 10 giờ sáng nhưng mãi tới quá trưa tôi mới bước ra khỏi văn phòng của sở thuế vụ và di trú vì tôi là người cuối cùng trong đoàn.

Tôi bị trễ chuyến bay về Pittsburgh!

Nhân viên hãng United Airlines bảo tôi ngồi chờ họ sắp xếp cho đi chuyến sau. Tôi đến ngồi ở dãy ghế gần mấy cái máy bán thuốc lá, bánh kẹo, nước uống… ngắm ông đi qua bà đi lại. Tôi đói lắm vì lúc đó đã hơn 3 giờ chiều. Tôi để ý thấy người ta bỏ tiền vào máy, kéo một cái nhẹ để mua nước, kẹo sô-cô-la và có khi còn được thối lại mấy đồng tiền cắc. Tôi chờ lúc vắng người, rụt rè bỏ tờ giấy 20 Dollars bà Barbara cho sáng nay để mua thử mấy thỏi kẹo sô-cô-la nhưng máy không nhận. Tôi mua thử loong nước Coca-Cola cũng không được. Tôi vừa đẩy tiền vào, máy lại đẩy ra.

Vừa đói vừa khát, tôi ngồi “chửi thầm” con mẹ Mỹ già chơi đểu mình, giả ân giả nghĩa cho mình đồng bạc giả! Tôi chờ tới lúc có một cụ già tới mua thuốc lá, dò giẫm lại gần chìa tờ giấy 20 Dollars hỏi:

– Nhờ ông xem đây có phải là tiền “thật” hay không?

– Thật chứ. Sao cậu hỏi ngớ ngẩn thế?

– Tôi bỏ vào máy mua kẹo không được, mua nước nó cũng không nhận.

Cụ ấy cười lớn rồi giải thích:

– Cái máy này chỉ nhận tiền cắc hay giấy $1 hoặc $5 thôi. Để tôi giúp cho. Lần đầu tới Mỹ hả? Cậu cần gì?

– Tôi là người tỵ nạn Việt Nam hôm nay đi định cư ở Pittsburgh. Tôi tới đây từ sáng nhưng bị trễ chuyến bay. Tôi chỉ muốn mua ít kẹo Sô-co-la và lon nước Coca-Cola cho đỡ đói.

Ông cụ chẳng nói gì, bỏ tiền vào máy mua 3 thỏi kẹo Sô-cô-la và một lon nước trao cho tôi. Tôi đưa tiền ông ta không chịu lấy, chỉ cười cười bảo tôi:

– Có mấy chục xu thôi, đừng bận tâm. Nếu còn chờ lâu, cậu đi ra phía ngoài kia mua bánh mì mà ăn. Tôi phải chạy cho kịp chuyến bay. Chúc cậu may mắn.

Ông cụ đi rồi tôi mới hối hận đã trách oan bà Barbara. Chính lúc đó, tôi nhận ra giá trị đích thực của tấm lòng của bà ấy khi trao tờ giấy 20 Dollars cho một người xa lạ, và tôi cũng thấu hiểu ý nghĩa của câu nói “một miếng khi đói bằng một gói khi no!”

***

Đã bao nhiêu năm qua rồi, tôi vẫn miệt mài tìm kiếm vị ân nhân SỐ MỘT của tôi trên đường đi định cư tại Mỹ. Với tôi bây giờ, tờ giấy bạc 20 Dollars của bà Barbara đáng giá gấp trăm gấp ngàn lần giá trị đích thực của nó trên thị trường tài chánh. Tôi đã an cư lạc nghiệp nơi vùng đất mới và chỉ ước mơ được một lần kính cẩn nói lời cám ơn tới bà Barbara. Chính bà đã dạy cho tôi biết chia sẻ những gì mình có với những người kém may mắn dù quen biết hay không. Đó cũng chính là tâm tình của tôi mỗi lần mừng Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving).

Tôi hy vọng mùa Lễ Tạ Ơn năm nay bà đại sứ Dougan sẽ giúp tôi tìm lại được vị ân nhân tên là Barbara, một người đã từng làm việc trong văn phòng một tòa đại sứ nào đó của Hoa Kỳ ở Á Châu năm 1984. Tôi cầu xin được một lần mời bà đến thăm gia đình và nói cho bà biết rằng tất cả những gì tôi có được hôm nay cũng không giá trị bằng tờ giấy bạc 20 Dollars bà ấy đã cho tôi trên chuyến bay đưa tôi đến định cư nơi vùng đất mới Hoa Kỳ.

Nguyễn Duy An

CHIA SẺ CỦA NGƯỜI SỐNG SÓT TRONG ĐÊM 13.11.2015 Ở PARIS

CHIA SẺ CỦA NGƯỜI SỐNG SÓT TRONG ĐÊM 13.11.2015 Ở PARIS

ISABEL BOWDER

Trích EPHATA 669

Isabel Bowdery, cô gái người Nam Phi, sinh viên mới tốt nghiệp, 22 tuổi, đã đến xem buổi biểu diễn nhạc rock ở nhà hát Bataclan vào thời điểm các tay súng xông vào tấn công. Chính quyền Paris xác nhận 89 người thiệt mạng tại hiện trường xả súng ở nhà hát Bataclan. Đây là điểm tấn công có thương vong cao nhất trong đêm Paris bị khủng bố ngày 13.11.2015. Bài viết của Isabel Bowdery đã được chia sẻ hơn 400.000 lần trên Facebook và được rất nhiều người quan tâm.

Hàng chục người bị bắn chết trước mặt

“…Bạn không hình dung nổi chuyện này sẽ xảy ra với mình. Đó là một đêm nhạc rock cuối tuần. Không khí thật tưng bừng, ai nấy đều nhảy múa, vui cười rộn rã. Ngay cả khi những gã kia (khủng bố) đi vào lối cửa trước, bắt đầu bắn giết, chúng tôi vẫn còn ngây thơ nghĩ đó là một phần của tiết mục. Đó chính xác là một vụ thảm sát. Hàng chục người bị bắn ngã ngay trước mặt tôi. Máu chảy tràn sàn nhà. Tiếng nức nở từ những người đàn ông ôm chặt thi thể còn ấm nóng của bạn gái mình như chọc thủng bầu không khí của nhà hát.

Chỉ trong một thoáng, bao dự định bỗng nát tan, bao gia đình bỗng bị nhấn chìm trong đau khổ.

Tôi nằm giả chết suốt một tiếng đồng hồ, cô độc và hoảng loạn, giữa những người không còn thấy người thương yêu của mình động cựa gì nữa. Tôi nín thở, ráng không cử động, không khóc, không cho lũ khốn kia thấy nỗi sợ hãi mà chúng muốn gieo rắc.

Tôi đã may mắn thoát chết một cách diệu kỳ. Nhưng rất nhiều người khác thì không. Những

người vô tội ấy cũng ở đây đêm nay đơn giản chỉ vì họ muốn có một buổi cuối tuần vui vẻ. Thế giới thật tàn nhẫn. Và những tội ác thế này diễn ra là minh chứng mạnh mẽ cho sự tồi bại của loài người. Hình ảnh của những kẻ khủng bố kia vây quanh như một lũ kền kền rồi sẽ ám ảnh tôi suốt cuộc đời còn lại. Cách chúng vẫn lăm lăm nhắm vào những người đã bị bắn gục, không gợn chút áy náy cho mạng sống con người. Tôi cảm giác như tất cả chuyện này đều không thực. Tôi mỏi mòn nằm đợi khoảnh khắc ai đó đứng lên nói không phải đâu, đây chỉ là một cơn ác mộng.

Những người hùng thầm lặng Việc sống sót trong thảm hoạ này cho tôi cơ hội để nhắc đến những người hùng thầm lặng. Nhắc đến một người đàn ông đã dỗ dành tôi, liều mạng để che chắn cho tôi khi tôi đang nức nở.

Nhắc đến một cặp đôi nọ, trong phút sinh ly tử biệt vẫn nói những lời yêu, để tôi vững tin cái THIỆN sẽ mãi còn. Nhắc đến những cảnh sát đã cứu thoát hàng trăm con tin.

Nhắc đến một người xa lạ đã nâng tôi đứng lên khỏi vệ đường, an ủi tôi suốt 45 phút khi tôi nghĩ người mình yêu đã chết. Nhắc đến một người đàn ông bị thương mà tôi tưởng đó là người yêu mình; khi tôi nhận ra mình lầm, anh vẫn ôm chặt lấy tôi và bảo mọi thứ sẽ ổn, sẽ ổn, dù chính anh cũng đang cô độc và hoảng loạn.

Nhắc đến người phụ nữ nọ đã mở cửa nhà cho những người sống sót vào trú ngụ. Nhắc đến

người bạn cho tôi ở tạm và chạy ra ngoài mua quần áo mới, để tôi không phải mặc một chiếc áo vấy máu.

Nhắc đến tất cả các bạn – những người đã gửi tin nhắn ủi an động viên. Các bạn làm tôi tin thế giới này còn cơ hội để tốt lên, để chuyện kinh khủng thế này không bao giờ xảy ra nữa.

Hãy ngủ yên ! Nhưng trên hết, những lời này tôi xin dành cho hơn 89 người bị giết trong nhà hát, những người đã không đủ may mắn để còn được thức dậy hôm nay. Xin dành cho nỗi đau mà gia đình, người thân họ đang phải gánh chịu. Tôi hiểu không gì có thể xoa dịu được nỗi đau này.

Tôi có cơ duyên được kề vai cùng họ trong những giây phút cuối đời. Giây phút đó, khi nghĩ mình sắp chết, tôi cam đoan những ý nghĩ sau cuối không phải về lũ súc vật đã gây ra thảm hoạ này, mà là về những người mình thương yêu.

Khi nằm trên vũng máu của những người xa lạ, chờ viên đạn định mệnh bay đến kết thúc 22 năm ngắn ngủi đời mình, tôi nhớ lại từng gương mặt thân thương và thì thầm nhắc đi nhắc lại “I love you”.

Tôi nhìn lại những phút giây đáng nhớ của đời mình, ước sao những người thân thương biết tôi yêu họ dường nào, và ước họ hiểu rằng dù bất cứ điều gì xảy ra với tôi, tôi cũng mong họ đừng đánh mất niềm tin vào tính THIỆN ở con người.

Đêm qua, cuộc sống của nhiều người đã thay đổi mãi mãi. Và có một điều hoàn toàn phụ thuộc

vào chúng ta: Chúng ta có đủ can đảm để sống tốt hơn, sống tử tế hơn, để viết tiếp một tương lai mà những người đã khuất mơ về nhưng không bao giờ có cơ hội được sống trọn vẹn ?

Hãy ngủ yên. Chúng tôi không bao giờ quên các bạn”.

ISABEL BOWDER

“LUNG LINH, LUNG LINH, HAI TIẾNG GIA ĐÌNH…”

“LUNG LINH, LUNG LINH, HAI TIẾNG GIA ĐÌNH…”

 Lm. VĨNH SANG, DCCT,

Trích EPHATA 669

 Giáo Hội Việt Nam cử hành lễ kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam vào ngày 24 tháng 11

hàng năm, sở dĩ ngày 24 tháng 11 được chọn vì đó là ngày thành lập hàng Giáo Phẩm Việt Nam, tuy nhiên những ngày này trùng vào những ngày cuối cùng của Năm Phụng Vụ nên việc

kính nhớ các Thánh Tử Đạo Việt Nam mang sắc thái Việt Nam một cách đặc biệt.

Người Việt Nam trong những ngày cuối năm là những ngày lo thu vén, tổng kết những

công việc cả năm để chuẩn bị mừng năm mới. Trong các việc không bao giờ được bỏ qua đó

là kính nhớ ông bà tổ tiên, những người cuối năm người ta sẽ ra mộ thắp những nén nhang

tưởng nhớ ông bà cha mẹ, dọn dẹp mộ phần sạch sẽ gọn ghẽ như sẽ dọn nhà cửa đón mừng năm mới, dọn bàn thờ tổ tiên, thay hoa, bày biện them hoa trái, xin lễ cầu nguyện cho ông bà, thậm chí còn tổ chức họp mặt gia đình để làm giỗ kỵ, chưa kể ngày mồng hai Tết sẽ là ngày đặc biệt cho việc thiêng liêng này.

Các Thánh Tử Đạo Việt Nam được xem là tổ tiên của các Kitô hữu Việt Nam, chính các ngài đã làm khai sinh ra Giáo Hội Việt Nam bằng chính những giọt máu đào làm chứng cho Đức Tin của các ngài. Những ngày cuối Năm Phụng Vụ là cơ hội tốt để chúng ta tưởng nhớ, cầu nguyện, tạ ơn Chúa và vinh danh các ngài.

Khi chúng ta kính nhớ ông bà tổ tiên, chúng ta không chỉ thực hành một hành vi thiêng liêng,

nhưng còn thi hành một công việc mang tính xã hội và giáo dục. Ngày kính nhớ ông bà là ngày con cháu quy tụ, hội họp và chia sẻ với nhau, ngày kính nhớ ông bà tổ tiên cũng là ngày chúng ta nhắc nhau về công ơn và gương lành của các vị, từ đó chúng ta soi rọi đời sống của từng thành viên trong gia đình cũng như toàn gia đình và điều chỉnh cách sống sao cho xứng đáng với công ơn và gương sáng của các vị để lại.

Ngày lễ các Thánh Tử Đạo Việt Nam không nằm ngoài những suy tư và sinh hoạt như một ngày kính nhớ tổ tiên của người Việt, nhưng còn hơn thế nữa vì được Lời Chúa chiếu sáng và dẫn đường cho chúng ta điều chỉnh cuộc sống của chúng ta. Bài đọc 1 trích trong sách Macabê quyển thứ hai ( 2Mcb 7, 1.20-23.27b-29 ) kể lại câu chuyện một bà mẹ và 7 người con trai chịu chết vì đạo trong cùng một ngày.

Sách Macabê chỉ cho chúng ta nghe câu chuyện nhưng không nói rõ bà mẹ tên gì và những con trai của bà tên gì, phải chăng Kinh Thánh muốn đưa ra cho chúng ta một chứng tá điển hình của một cuộc làm chứng, mà gia đình là nền tảng của Đức Tin và sự hy sinh.

Trước hết chúng ta thấy thật là khủng khiếp khi trong môt gia đình, tai họa ấp đến trong vòng

một ngày cho cả mẹ và 7 con trai, chắc chắn họ phải dựa vào sức mạnh thần linh để chấp nhận và sẵn sàng chết một cách can đảm, sức con người không thể vượt qua. Vì thế ơn chịu chết vì đạo là một ơn mà chúng ta phải khẩn cầu, nếu không có ơn chịu chết vì đạo, con người mỏng dòn của chúng ta không thể đảm đương.

Từ suy nghĩ này có lẽ chúng ta cần có cái nhìn cảm thông hơn cho sợ nhát hèn của những con

người khi đứng trước thử thách đã không thể bước qua. Cuộc tàn sát đạo ở Việt Nam trải dài ba thế kỷ danh sách của Giáo Hội có bao nhiêu Kitô hữu nhưng chỉ có hơn 300.000 người chịu chết và chỉ có 117 vị được tuyên phong !

Đó là con số nhỏ, rất nhỏ so với dân số Công Giáo, vì không phải ai cũng được gọi, và khi gọi rồi không phải ai cũng được chọn. Con số nhỏ bé này trong Kinh Thánh đã từng được nhắc đi nhắc lại với danh xưng “số sót của Israel”. Đã là số nhỏ thì chắc chắn là không đươc ủng hộ rồi, thậm chí còn bị bỏ rơi và kết án nữa, càng làm cho thêm giống Thầy Chí Thánh.

Trong chuyến công du đang thực hiện ở Phi Châu, Đức Thánh Cha có nói với các Linh Mục rằng

đừng đi tìm công danh, giàu sang, phú quý. Chọn Chúa sẽ mất tất cả, có chấp nhận đánh đổi không ?

Điều khác chúng ta dễ nhận ra đó là vai trò của người mẹ trong câu chuyện xưa của sách

Macabê. Là phụ nữ, đứng trước mất mát lớn lao như vậy bà đã không hoảng loạn, đã không xử sự theo cảm tính, nhưng rất bình tĩnh, bản lĩnh và khôn ngoan trong ngôn ngữ của mình để dẫn cuộc chịu chết vì đạo của cả gia đình mình đến nơi đến chốn.

Một chi tiết thú vị trong câu chuyện đó là bà dùng tiếng mẹ đẻ mà nói chuyện với các con của

mình. Đức Tin của Thiên Chúa ban cho mọi dân tộc, không cho riêng một dân tộc nào, Thiên Chúa làm người để Đức Tin Ngài ban nẩy nở sinh hoa kết trái trong từng dân tộc. “Ngôn ngữ” của dân tộc là phương thức tuyệt hảo mà Thiên Chúa dùng để ngỏ với từng người, từng dân tộc, Thiên Chúa cũng muốn lắng nghe từng dân tộc cất lời ngợi ca Ngài bằng chính ngôn ngữ của dân tộc ấy. “Ngàn dân ơi nào hát lên ca tụng Thiên Chúa. Muôn dân tộc tiến vào chầu…” Vay mượn và say mê ngôn ngữ ngoại lai trong phụng tự có làm cho Thiên Chúa hài lòng chăng ?

Một điều nữa chúng ta nhận ra đó là mối tương quan trong cuộc tử đạo này. Chính người mẹ đã

ươm trồng Đức Tin cho con mình, “chín tháng cưu mang, ba năm bú mớm”, giờ đây bà nâng đỡ Đức Tin ấy và mạnh mẽ củng cố Đức Tin ấy bằng những lời lẽ mang đầy tính tình cảm gia đình thân thương.

Trong thư của Thánh Phaolô, chúng ta nhận ra đầy dấu vết Đức Tin ban đầu được loan truyền từ

“kênh” gia đình, Thánh Phaolô nhắc gia đình này gởi lời thăm gia đình kia… Giáo Hội Việt Nam chúng ta cũng bắt đầu từ những gia đình đón tiếp, giúp đỡ và che chở các Thừa Sai như vậy. Và lịch sử Giáo Hội Việt Nam đã được viết tiếp, âm thầm nhưng bền bỉ, cũng bằng những hạt mầm được ươm từ mảnh đất gia đình. Có thể nói: từ đơn vị gia đình nhỏ bé mà dần dần hình thành Giáo Điểm, rồi từ Giáo Điểm mà vun đắp nên Giáo Xứ, Giáo Phận, Giáo Hội…

Chúng tôi có lần đã được nghe một Linh Mục trẻ bộc bạch tâm sự rằng: rất sẵn sàng, rất khao

khát, rất hứng khởi khi có dịp được dâng Lễ Cưới và Lễ Tang, đặc biệt là những nố chuẩn hôn nhân khác đạo, bởi chính trong những dịp Lễ mang tính gia đình như thế, ngoài chiều kích dọc hướng lên Thiên Chúa, thì chiều kích ngang được tràn ra cho phần đông quần chúng rất ít khi hoặc chưa bao giờ bước qua ngưỡng cửa Nhà Thờ. Linh Mục qua bài giảng Tin Mừng có thể gây được ý thức rất thấm thía xúc động cho người trong đạo là đương nhiên, mà còn cho cả những anh chị em vô thần hoặc khác đạo có mặt trong những Lễ như thế. Và sau đó, từ khởi điểm ấy, những thành viên Công Giáo, có thể rất ít,

rất yếu trong các gia đình ấy sẽ làm tiếp nhiệm vụ lan tỏa Tin Mừng cho chính những người thân không phải là Công Giáo của mình…

Ngày hôm nay, khái niệm “tử đạo” còn được mở ra thành… “sinh đạo”. Chết cho đạo, cho Tin

Mừng của Chúa Giêsu là một ơn lớn lao. Thế nhưng, để “sinh đạo”, sống cho đạo, cũng là một

cách “tử đạo”, chết cho đạo từng ngày, từng tháng, từng năm, trong từng chọn lựa, từng quyết định, từng xác quyết theo sát Tin Mừng giữa một xã hội đang bị duy vật hóa, vô thần hóa của chúng ta hiện tại, thiết nghĩ, lại là một ơn lâu dài, bền bỉ và luôn luôn, vì lằn ranh giữa Tin Mừng và Sự Dữ bây giờ quá mong manh, sảy một ly đi một dặm ngay. Và trách nhiệm để gìn giữ cho “sinh đạo” ấy xin đừng dồn hết cho Nhà Thờ, cho các cha, các dì phước, nhưng chính là của gia đình, từ gia đình.

Gia đình còn giữ được Lửa Tin Mừng thì Giáo Hội sẽ còn có thể tiếp tục tiến bước, chậm nhưng

chắc. Xin các Thánh đã chết vì đạo ngày xưa cầu bầu cùng Chúa những ơn cần thiết cho chúng con là những… Thánh đang sống cho đạo hôm nay. Amen.

 Lm. VĨNH SANG, DCCT,

24.11.2015

( Tựa đề lấy theo một câu trong bài hát của Phương Thảo – Ngọc Lễ )