‘Giai cấp tiên phong’ đến đường cùng, lãnh thổ mặc ‘bạn vàng’ quản lý

‘Giai cấp tiên phong’ đến đường cùng, lãnh thổ mặc ‘bạn vàng’ quản lý

Blog RFA

JB Nguyễn Hữu Vinh

15-4-2016

“Giai cấp tiên phong” và đảng của “giai cấp tiên phong”

Vài hôm nay, báo chí nêu vấn nạn người dân nông thôn bỏ nhà ra thành phố kiếm sống. Nguyên nhân hiện tượng này, được lý giải đơn giản như trong câu nói của bà Nguyễn Thị Quá (ngụ thôn Tân Mỹ, xã Hòa Phú, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên): “Không đi thì lấy gì ăn? Vào trong ấy lê chân cả ngày còn kiếm được 50.000-100.000 đồng gửi về cho con, chứ ở đây lấy gì cho chúng học?”.

Hậu quả của hiện tượng này chưa ai thống kê được.

Trước hết, là cảnh gia đình ly tán, dẫn đến nhiều vấn đề xã hội phát sinh, trẻ em không được học hành, người già thiếu người chăm sóc. Sau đó, nông thôn dần biến thành những vùng đất hoang.

Báo chí nêu một ví dụ: “Ông Lê Duy Thắng, Chủ tịch UBND xã Thiệu Giao, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, cho hay toàn xã có khoảng 7.800 người nhưng nay chỉ còn 2.400 người ở lại địa phương gồm 900 người già, hơn 400 học sinh và các thành phần lao động khác” – Nghĩa là 2/3 số người ở xã này đã ra đi tìm đường cứu… gia đình.

Đến thành phố, những người nông dân làm đủ mọi nghề kiếm sống, hoặc hòa nhập vào tầng lớp “tiểu thương” như bán hàng rong, bán vé số, hoặc phục vụ trong các gia đình với vai trò “osin”, thậm chí nhiều thanh niên còn tham gia các hoạt động tệ nạn như nạn rải đinh, trấn lột… đủ cả.

Đa số họ đã tự chuyển từ thành phần từ “liên minh” sang thành phần “công nhân” tại các khu công nghiệp. Họ được mệnh danh là “giai cấp tiên phong và có Đảng CS là của giai cấp công nhân, trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân”.

Tại các khu công nghiệp, công nhân được các “ông chủ tư bản bóc lột” tùy thích, không ai bảo vệ họ. Họ “được” bóc lột thậm tệ về ngày công, về giờ làm và nhiều mặt đời sống tinh thần.

Công nhân công ty TNHH Bluecom Vina, cho biết: Cả tuần làm việc, nhiều anh chị em thường xuyên phải tăng ca đến tận 22h đêm nên quá sức chịu đựng. Bên cạnh đó, phía công ty có quy định rõ ràng về việc thứ bảy, công nhân không phải làm tăng ca, tuy nhiên thực tế vẫn thường xuyên phải làm thêm giờ.

Công ty có cả hàng ngàn công nhân, nhưng không tìm ra một tổ chức nào để bảo vệ họ. Vì thế, ngày 11/4/2016  gần 1.000 công nhân công ty TNHH Bluecom Vina tại KCN Tràng Duệ, An Dương, Hải Phòng đồng loạt nghỉ việc đòi thành lập công đoàn.

Hài hước hơn, là nơi có các tổ chức công đoàn hoạt động, thì các tổ chức này cũng là tổ chức của nhà nước quản lý, do đảng lãnh đạo nên hầu như không có tác dụng bảo vệ quyền lợi công nhân.

Hôm nay, 15/4/2016, bức xúc vì một ngày phải làm việc liên tục 12 tiếng đồng hồ nhưng vẫn không đủ chỉ tiêu sản lượng mà công ty đặt ra, các chế độ chính sách cho người lao động cũng không được đảm bảo, hàng ngàn công nhân công ty sản xuất giầy da KaiYang (Đài Loan, đóng trên đường Hoàng Quốc Việt, TP. Hải Phòng) đã đồng loạt bỏ việc.

“Mặc dù công nhân đã kiến nghị rất nhiều lần lên tổ chức công đoàn công ty trong 5-6 tháng nay nhưng tình trạng vẫn không được cải thiện, dẫn đến việc công nhân phải ngưng việc nhằm tạo sức ép lên công ty”. – Bài viết trên tờ Tuổi trẻ cho biết.

Xem ra, bây giờ đảng không mấy quan tâm đến “giai cấp tiên phong” của mình nữa thì phải? Có người nói rằng: Bản chất giai cấp của Đảng đã thay đổi từ lâu.

Chỉ là em mượn tí mà thôi

Còn nhớ, cựu Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết nói chuyện với Việt Kiều về tham nhũng ở VN rằng: “Ở VN của mình, không muốn tham cũng động lòng tham. Người thủ quỹ khi nào cũng giữ khư khư tiền, khi nào cũng có số dư, cho nên khi bí quá thì em mượn chút, mượn không thấy ai đòi hết, thì em mượn thêm chứ không phải VN tham nhũng nhất thế giới đâu” – Đây có lẽ là định nghĩa về tham nhũng hay nhất thế giới cần đưa vào giáo khoa cho toàn thế giới!

Hôm nay, báo chí đưa tin: Nữ kế toán Mặt trận tổ quốc “nuốt” hơn 6,1 tỉ tiền cứu trợ lũ lụt.

Chuyện ở VN tham ô tiền cứu trợ bão lụt, thiên tai thì đã quá nhiều. Từ 2002, Hà Tĩnh đã nổ ra vụ tham ô 24,4 tỷ đồng cứu trợ bão lụt ở Hương Sơn. Thế nhưng đến tận 2006 Bộ Công an mới chỉ đạo điều tra. Người dân nói rằng: Số tiền đó, nó đã ăn, thải ra và tiêu hóa lại biết bao lượt, làm sao mà điều tra. Sau 14 năm tham nhũng, 10 năm chỉ đạo của Bộ Công an, nay sự việc không thấy sủi tăm nữa.

Trước đó ở  Nghệ An cũng đã bị Mặt trận xà xẻo mất 1 tỷ trong 3 tỷ đồng tiền cứu trợ.

Xem ra, cái khoản cứu trợ nhân đạo của người dân là khoản dễ kiếm và bỏ túi nên khắp nơi nở rộ. Chắc vậy nên mới có chuyện nhà nước nhiều địa phương quy định: Muốn cứu trợ thiên tai, phải qua tổ chức nhà nước.

Tổ chức quốc tế Global Financial Integrity có một bản báo cáo: Từ năm 2004-2013, có tới 92,93 tỷ USD được chuyển phi pháp từ VN ra nước ngoài. Nghĩa là mỗi năm người Việt chuyển ra nước ngoài 200.000 tỷ đồng. Nhiều người thắc mắc là tiền ở đâu mà lắm thế?

Xin thưa, tiền từ mỗi người dân, từ tài nguyên, khoáng sản của đất nước, từ xăng dầu, đường đi, thuế má đủ loại và từ những tấm lòng nhân đạo của người dân chứ đâu.

Không chỉ tham nhũng về kinh tế, tiền của, mà những quyền cơ bản của công dân cũng đang bị trấn lột nghiêm trọng. Bản Báo cáo nhân quyền của Mỹ mới đưa ra có những nội dung như sau:

“Theo nhận xét chung của bộ ngoại giao Mỹ, trong lãnh vực nhân quyền, các vấn đề nghiêm trọng nhất tại VN bao gồm: (1) hạn chế nghiêm ngặt các quyền chính trị của công dân, «đặc biệt là quyền thay đổi chính phủ của họ thông qua các cuộc bầu cử tự do và công bằng»; (2) hạn chế quyền tự do dân sự của người dân, trong đó có quyền tự do hội họp, lập hội, và ngôn luận; (3) không bảo vệ đúng mức quyền của người dân được xét xử công bằng, bao gồm quyền được bảo vệ chống lại các hành vi giam cầm vô lý”.

Có lẽ, những thứ này cũng chỉ là “em mượn tí mà thôi” – chỉ có thời gian mượn đã gần 1 thế kỷ nay.

Lãnh thổ giao bạn vàng “quản lý”

Thường, mỗi khi cướp đất của tôn giáo, của người dân, câu cửa miệng của nhà cầm quyền là “Đất đai do nhà nước quản lý” để giải thích việc muốn lấy đất đai, tài sản của dân khi nào là… tự nhiên. Có lần, tôi đã nói với một Phó chánh Thanh tra TP Hà Nội rằng: Sinh ra nhà nước là để quản lý, điều đó không sai, ở đất nước VN này may ra có Hoàng Sa và một phần Trường Sa, nhà nước không chịu quả lý cho dân nhờ thôi” – Ông ta đánh trống lảng.

Báo Thanh niên cho biết: “Hai quan chức Mỹ cho hay đã có một loạt chuyến bay đến và đi từ đá Chữ Thập trong ngày 8 và 10/4, sử dụng các loại máy bay thường được dùng để chuyên chở các quan chức cấp cao Trung Quốc là Airbus 319 và Bombardier CRJ. Vì thế, đây rõ ràng là chuyến thăm của một quan chức thuộc hàng cấp cao đến Trường Sa”.

Thời gian qua, nhiều thông tin về biển đảo của VN đang bị Trung Cộng xâm lược, chiếm đóng, bồi đắp hiện ra sao, lại không đến từ hệ thống phát ngôn của nhà nước Việt Nam, hài hước thay lại từ Mỹ và quan chức Mỹ.

Trên báo VN hôm nay đưa tin: “Mỹ đã quyết định triển khai binh sĩ tới 5 căn cứ quân sự Philippines do ngày càng lo ngại về sự phô bày thanh thế của Trung Quốc ở Biển Đông, nơi có tranh chấp chủ quyền biển gay gắt liên quan đến nhiều nước, bao gồm Việt Nam”.

Hoặc là: “Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thăm tàu ​​sân bay ở biển Đông“

Nhưng, không thấy xuất hiện các thông tin về việc quân đội VN, cảnh sát VN thực hiện bảo vệ biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa, cũng như các động tác của nhà nước như thế nào trước hành động ăn cướp lãnh thổ của Trung Quốc.

Hình như, cho đến nay, việc lãnh hải, lãnh thổ và biển đảo đang được giao cho “bạn vàng” quản lý đã là chuyện không cần bàn cãi. Và chuyện đó không còn thuộc trách nhiệm của nhà nước VN?

Cũng qua báo chí gần đây, người ta thấy những việc về nhân quyền, tù nhân chính trị…, khi động đến nhà nước cứ như đỉa phải vôi và la làng rằng đây là “can thiệp nội bộ”. 12 năm trước, tháng 10 năm 2004, bà Tôn Nữ Thị Ninh từng nói tại buổi họp báo tại CLB Báo chí Quốc gia Hoa Kỳ vào về chuyện người chống đối chính quyền bị bắt rằng: “Trong gia đình chúng tôi có những đứa con, cháu hỗn láo, bướng bỉnh thì để chúng tôi đóng cửa lại trừng trị chúng nó, dĩ nhiên là trừng trị theo cách của chúng tôi. Các anh hàng xóm đừng có mà gõ cửa đòi xen vào chuyện riêng của gia đình chúng tôi”.

Thế nhưng, việc chủ quyền, lãnh thổ bị “bạn vàng” cướp chiếm, thì lại để “hàng xóm” không chỉ gõ cửa đòi xen vào, mà còn đưa luôn cả súng đạn, quân đội đến thì lại im lặng?

Oái oăm thay, người đến giúp đỡ, lại chính là “kẻ thù trước mắt và lâu dài” (theo quan điểm của Đảng) là Đế quốc Mỹ.

Ngẫm đến từ “bạn 16 chữ vàng, bốn tốt” giữa Việt Nam và Trung Cộng mới thấy hài hước làm sao. Thực chất, cần phải nói rõ rằng đây là “bạn vàng” của Đảng CSVN chứ không phải của nhân dân Việt Nam. Hai chủ thể đó khác nhau và chọn lựa khác nhau. Bạn vàng của Đảng thường là các nhà, các chế độ độc tài như Saddam Hussein, Gadhaphi, Hugo Chavet, Kim Dâng Un, Tập Cận Bình và cả Putin – một tên độc tài quân phiệt mới gốc Cộng sản.

Trên thế giới, người ta đã bỏ cách kết bè, kết cánh theo kiểu “đồng chí” của cộng sản. Chỉ riêng mấy nước Cộng sản còn sót lại vẫn bám theo kiểu “bạn bè đồng chí” hết sức u mê này mà coi nhẹ quyền lợi đất nước.

Mỹ, Nhật, Đức và các nước lớn, ngay cả Nga không có bạn bè, chỉ có đồng minh và quyền lợi của đất nước là trên hết. Do vậy họ đã hành động sáng suốt không hề nhầm lẫn theo kiểu ý thức cộng sản.

Mới đây, phát biểu của Bộ trưởng Ngoại giao Nga – người bạn cũ của VN – về Biển Đông như một cái tát mạnh vào những người đang hóng hớt và hy vọng hão huyền về cái gọi là truyền thống hữu nghị một thời dĩ vãng nay vẫn bám riết đầu mấy vị lãnh đạo VN. Không hiểu những cái tát đó có làm tỉnh ra mấy cái đầu kia không?

Xem ra, với tư duy này, thì chuyện “Tàu hỏa phanh gấp nhường đường cho xe máy” không chỉ xảy ra trong đời sống xã hội, mà cả trong đời sống chính trị, đối ngoại của VN.

Lượng tiền người Việt chuyển ra nước ngoài tăng đột biến

Lượng tiền người Việt chuyển ra nước ngoài tăng đột biến

Nhân viên ngân hàng đếm tiền đôla Mỹ tại trụ sở chính của Vietcombank ở Hà Nội.

Nhân viên ngân hàng đếm tiền đôla Mỹ tại trụ sở chính của Vietcombank ở Hà Nội.

14.04.2016

Một báo cáo vừa được Viện nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) công bố hôm thứ Hai cho biết lượng tiền gửi từ Việt Nam ra nước ngoài tăng đột biến, lên đến 7,3 tỷ đôla. Đây được xem là diễn biến ‘bất thường’ cần phải được theo dõi.

Theo báo cáo Kinh tế vĩ mô quý 1/2016 của VEPR, số liệu thống kê đến quý 3/2015 cho thấy những diễn biến bất thường xảy ra sau sự kiện Trung Quốc phá giá đồng Nhân dân tệ vào tháng 8/2015. Theo đó, cán cân tổng thể đang cân bằng chuyển sang thâm hụt lớn tới mức 6,6 tỷ đôla trong quý 3/2015 do cán cân tài chính đổi chiều.

Theo phân tích của chuyên gia VEPR, hai yếu tố quan trọng của cán cân tài chính là dòng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài không có biến động đáng kể, trong khi dòng vốn đầu tư khác mà chủ yếu là tiền gửi ở nước ngoài đã gia tăng đột biến lên mức 7,3 tỷ đôla.

Báo cáo của VEPR cho đây là diễn biến bất thường cần phải được tiếp tục theo dõi.

Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành của VEPR nói đây là diễn biến bất thường này một phần có thể xem như tình trạng “bẫy thanh khoản” với ngoại tệ của hệ thống ngân hàng.

Báo cáo cũng cho biết ngân sách Việt Nam tiếp tục bị thâm hụt lớn. Trong khi báo cáo của chính phủ Việt Nam trình Quốc hội cho biết ước tính thâm hụt ngân sách năm 2015 ở mức 6,34% GDP, VEPR lại đưa ra con số là 7%, lớn hơn nhiều so với mục tiêu 5% GDP mà Quốc hội Việt Nam đề ra.

Theo Vietnamnet, Thanh Niên, Báo Đất Việt.

Bác Quang

Bác Quang

tuongnangtien

tuongnangtien's picture

RFA

Năm 2006, khi chỉ mới có tin bác Triết sắp trở thành chủ tịch nước (thôi) mà dư luận – trong cũng như ngoài nước – đã râm ran tán thưởng quá xá. Ký giả  Karl D John (Asia Times) hăm hở đưa tin:

“Nguyen Minh Triet, 63, another southerner, was confirmed as president by the National Assembly on Tuesday… And there is a widespread perception he will be more active than his predecessor, particularly in implementing economic and legal reforms that pave the way for Vietnam’s accession to the World Trade Organization (WTO) this year” – Theo nhận xét chung thì ông sẽ năng nổ hơn người tiền nhiệm, đặc biệt trong lĩnh vực cải tổ kinh tế và pháp luật, làm nền cho VN gia nhập tổ chức WTO trong năm nay.”

Bác Quang – ngày nay, tiếc thay –  không có được sự chào đón nồng nhiệt tương tự. Không những thế, ông còn bị nhiều điều tiếng dèm pha hay dè bỉu:

– Lê Minh Nguyên: “Đầu tiên phải nói là ông ta sửa lại khai sinh để từ năm đúng là 1950 thành năm giả là 1956, một sự gian dối dễ chứng minh qua các văn bản hộ tịch và bằng cấp bị so le, nó nói lên tính toán tham vọng quyền lực của ông ta.”

– Trần Hồng Tâm: “Ông Trần Đại Quang, sinh năm 1956, vẫn còn dưới 65 tuổi. Nhưng có người đã chứng minh rằng ông sinh năm 1950. Ông đã sửa số 0 thành số 6 trên giấy khai sinh. Sau khi bị tố giác, ông đã sử dụng ảnh hưởng của mình tại nguyên quán làm ra một giấy khai sinh mới ‘hợp lệ’ hơn. Riêng tiêu chuẩn đầu tiên về tuổi tác ông đã để lại không ít tai tiếng.”

– Bùi Thanh Hiếu: “Không ồn ào gây chú ý, bộ trưởng công an Trần Đại Quang leo lên chức Chủ Tịch Nước một cách êm thắm không gặp phải bất kỳ sự trở ngại nào. Con đường của Trần Đại Quang tiến thân trong ngành công an cũng khá suôn sẻ… Con đường của Quang đi chỉ gặp sóng gió duy nhất một lần đó là bị các đối thủ vạch ra chuyện Quang khai gian đến 6 tuổi.

Cả ba nhân vật dẫn thượng – rõ ràng – đều là những người không đủ lượng bao dung. Họ đều để ý đến cái chi tiết rất nhỏ nhặt (“sửa số 0 thành số 6”) trên tờ giấy khai sinh của bác Quang, rồi cứ thế mà vu vạ đó là việc làm thiếu lương thiện và vô cùng tai tiếng.”

Tai tiếng (mẹ) gì! Chớ có ai biết vị chủ tịch đầu tiên của Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà – Hồ Chí Minh – tên tuổi (chính xác) ra sao đâu mà toàn dân vẫn đời đời nhớ bác Hồ vỹ đại đấy thôi. Nói gần nói xa, chả qua nói thiệt là thiên hạ chỉ vì ghanh ghét với cái chức vụ cao qúi (Chủ Tịch Nước) của bác Quang nên mới cố vạch lá tìm sâu hay bới bèo ra bọ.

Riêng ông Nguyễn Gia Kiểng lại còn đi quá xa khi cho rằng “một chủ tịch nước như ông Trần Đại Quang khác gì một vết lọ nghẹ quẹt lên mặt dân tộc Việt Nam?”

Ơ hay, sao lại thế nhỉ? Về ngoại hình, bác Quang đâu có kém cạnh gì bác Triết. Còn về diện mạo thì trông đỡ tối tăm hơn bác Sang thấy rõ, đúng không? Sao hai bác kia nhậm chức suôn sẻ, và hạ cánh an toàn mà bác Quang lại bị coi như là “một vết lọ nghẹ quẹt lên mặt dân tộc Việt Nam” – hả Giời?

Ảnh lấy từ trang: talawas

Ông Nguyễn Gia Kiểng còn nhất định cho rằng: “Trong nhà tù nhiều khi tù nhân phải trả tiền để ‘được’ còng bằng những chiếc còng không nhiễm trùng HIV. Dưới sự lãnh đạo của Trần Đại Quang công an cũng làm tiền trắng trợn hẳn hơn trước….”

“Trước” là hồi nào vậy cà? Khi HIV chưa xuất hiện thì làm sao có cái vụ (tai tiếng) trả tiền để “được” đưa chân vào những cái còng không nhiễm trùng được chớ? Ở giai đoạn này, Việt Nam còn dùng sổ gạo và tem phiếu và người dân chỉ cần vài điếu thuốc lá lẻ cũng đủ bôi trơn bộ máy (“Samit là nói ít hiểu nhiều, Ba Số Năm vừa nằm vừa ký”) nên mấy ông Bộ Trưởng Công An tiền nhiệm đỡ mang tiếng hơn ông Quang là chuyện tất nhiên.

Tương tự như ông Nguyễn Gia Kiểng, nhiều người cứ nhất định cho rằng Bộ Công An dưới thời Trần Đại Quang tệ hại hơn thời trước rất nhiều:

  • Các vụ ép cung, tra tấn, đánh người cho tới chết, xẩy ra thường xuyên trong đồn công an.
  • Chuyện chạy án, chạy tiền để được phóng thích vào những đợt ân xá là hiện tượng phổ biến.
  • Công an giả dạng côn đồ để đánh người, và vứt cứt đái hay mắm tôm vào nhà dân xẩy ra ở khắp mọi nơi.

May mắn là trong giới truyền thông vẫn còn những người sáng suốt nên những vấn nạn vừa nêu đã được nhìn nhận một cách khách quan hơn:

“Nhiều người tưởng rằng khoảng 5-6 năm gần đây mới rộ lên hiện tượng công an đánh chết dân, nhưng thật ra thì điều đó đã xảy ra hàng chục năm rồi, kể từ khi đảng Cộng sản cầm quyền. Thậm chí ngày trước công an đánh chết còn nhiều dân hơn ngày nay ấy chứ. Chẳng qua là đến bây giờ, một phần trong số những câu chuyện thương tâm ấy mới được đưa lên mặt báo và nhất là lên Facebook mà thôi. Con số 226 người chết trong thời gian bị tạm giam, tạm giữ (ba năm 2011-2014) là con số trong một báo cáo của Bộ Công an và được báo chí trích đăng; ngày trước, làm gì có chuyện Bộ Công an có những báo cáo như thế và báo chí công bố như thế.”

Ảnh lấy từ trang: donghoavangtuthuc

Tôi vô cùng tâm đắc với nhận định vô tư và chính xác (thượng dẫn) của nhà báo Đoan Trang. Chả có gì bảo đảm được rằng dưới thời Bùi Thiện Ngộ, Lê Minh Hương, Lê Hồng Anh … những vụ “tự tử” trong đồn công an hay nạn ép cung, mớm cung, chạy án … lại ít hơn bây giờ. Chả qua là mọi việc đều có thể được dấu kín như bưng nên công luận không biết đến thôi.

Trong số tất cả lời tố cáo ghi trên chỉ có điều duy nhất xác thực là vấn nạn công an thường giả dạng côn đồ để vứt cứt đái hay đổ nước hôi thối vào nhà dân chúng. Hiện tượng này quả là hoàn toàn mới lạ, và mang đậm dấu ấn của cái thời mà ông Trần Đại Quang giữ chức vụ Bộ Trưởng Công An.

Đây tuy là những hành vy bẩn thỉu và đê tiện nhưng (nói nào ngay) hoàn toàn không độc ác. Chả làm ai chết cả chết cả. Trần Đại Quang – ít nhất – cũng  chưa bao giờ bị kết án là sát nhân (hãm hiếp người tình của lãnh tụ, lấy búa đập vào đầu nạn nhân, rồi vứt xác ra đường cho xe cán) như Trần Quốc Hoàn – Bộ Trưởng Công An đầu tiên của nước VNDCCH.

Ông Trần Đại Quang cũng không hề bị tai tiếng như hai ông Phạm Hùng và Mai Chí Thọ trong những vụ thu vàng bán bãi vượt biên, đẩy vô số người dân ra khỏi nước, khiến hàng triệu thuyền nhân đã chết chìm giữa biển khơi (*). Thời ông Quang phụ trách ngành công an tuy Việt Nam cũng có không ít thuyền nhân (những thuyền nhân mới, nouveaux boat people) hay còn gọi là “người rơm” nhưng số lượng những kẻ mất mạng giữa đường hay mất mát tài sản để chung chi cho những chuyến vượt biên đều không đáng kể – nếu so sánh với những đợt di tản của đám “thuyền nhân cũ” (ancient boat people) hồi cuối thế kỷ trước.

Nguồn ảnh: facebook

Những “điểm son” kể trên, tiếc thay, đã không được công luận biết đến. Thiên hạ, nếu không chê bai hay dè bỉu thì cũng chỉ nói đến việc đăng quang của vị tân chủ tịch nước, cũng chả khác chi với chuyện tái đắc cử chức vụ TBT, với giọng điệu chán chường hay … huề vốn.

Xin đơn cử một thí dụ, đọc được trên trang FB của BBC:

“Ừ thì cơ mà ai lên làm thì đời sống Công Nhân vẫn vậy, như 20 năm qua cũng ko thay đổi đc là bao nhiêu đáng kể. Vẫn ở cái nhà trọ chật hẹp, vẫn ko biết khi nào mới mua nổi nhà để an cư lạc nghiệp, vẫn bữa cơm ăn cho có để làm, vẫn nỗi lo con cái những hôm tăng ca cả hai với chồng thì ko biết ai đón gửi ai…

Còn Nông Dân vẫn vậy vẫn tự bơi với ruộng đồng, vẫn điệp khúc được mùa mất giá, vẫn mất mùa thì do thiên tai được mùa thì do tài tình lãnh đạo của Đảng, vẫn điệp khúc hàng ngoại giết chết hàng nội, vẫn điệp khúc Trung Quốc ko thu mua thì đành đổ bỏ.

Rồi giá xăng vẫn cao ngất ngưởng so với thế giới, học phí viện phí vẫn tăng, các loại thuế phí khác vẫn tăng ko hề giảm. Vẫn nỗi lo gánh nặng tiền học cho con, vẫn nỗi lo gánh nặng lỡ xui đi viện..

Đến bệnh viện, đến chốn công quyền vẫn phải xin xỏ, chầu chực, vẫn phải bôi trơn. Vẫn tham ô, tham nhũng, cái mặt Quan vẫn vác ngược khênh kiệu hạch sách nhân dân .Vẫn thực phẩm độc hại, vẫn mọi thứ còn nguyên.

Các ông ấy chẳng ai buồn hứa với Dân khi tôi làm Cán Bộ tôi sẽ làm gì để giải quyết bớt vấn đề của nhân dân bức xúc bấy lâu nay. Các ông vẫn cứ đọc cái mớ lý thuyết suông, vẫn nói suông.. Những bài chính trị mà chúng tôi cũng thuộc…”

http://www.rfavietnam.com/node/3170

Rõ ràng toàn là những đòi hỏi quá đáng, và … quá quắt. Ngay đến bác Hồ mà còn không bảo vệ được cả vợ lẫn con, bác Tôn cũng chỉ có mỗi một việc làm là … sửa xe đạp cho nó qua ngày đoạn tháng thì bác Quang biết làm sao hơn và làm gì khác được?

Tưởng Năng Tiến

(*)Death Tolls and Casualty Statistics Vietnam – Vietnamese Boat People

  • Jacqueline Desbarats and Karl Jackson (“Vietnam 1975-1982: The Cruel Peace”, in The Washington Quarterly, Fall 1985) estimated that there had been around 65,000 executions. This number is repeated in the Sept. 1985 Dept. of State Bulletin article on Vietnam.
  • Orange County Register (29 April 2001): 1 million sent to camps and 165,000 died.
  • Northwest Asian Weekly (5 July 1996): 150,000-175,000 camp prisoners unaccounted for.
  • Estimates for the number of Boat People who died:
    • Elizabeth Becker (When the War Was Over, 1986) cites the UN High Commissioner on Refugees: 250,000 boat people died at sea; 929,600 reached asylum
    • The 20 July 1986 San Diego Union-Tribune cites the UN Refugee Commission: 200,000 to 250,000 boat people had died at sea since 1975.
    • The 3 Aug. 1979 Washington Post cites the Australian immigration minister’s estimate that 200,000 refugees had died at sea since 1975.
      • Also: “Some estimates have said that around half of those who set out do not survive.”
    • The 1991 Information Please Almanac cites unspecified “US Officials” that 100,000 boat people died fleeing Vietnam.
    • Encarta estimates that 0.5M fled, and 10-15% died, for a death toll of 50-75,000.
    • Nayan Chanda, Brother Enemy (1986): ¼M Chinese refugees in two years, 30,000 to 40,000 of whom died at sea. (These numbers also repeated by Marilyn Young, The Vietnam Wars: 1945-1990 (1991))
  • Rummel
    • Vietnamese democide: 1,040,000 (1975-87)
      • Executions: 100,000
      • Camp Deaths: 95,000
      • Forced Labor: 48,000
      • Democides in Cambodia: 460,000
      • Democides in Laos: 87,000
      • Vietnamese Boat People: 500,000 deaths (50% not blamed on the Vietnamese government)

 

Nguy cơ bầy đàn từ cơ chế bầy đàn

Nguy cơ bầy đàn từ cơ chế bầy đàn

Blog RFA

VietTuSaiGon

17-4-2016

Một thời đại bầy đàn sẽ sinh ra những thế hệ, thông qua cơ chế lãnh đạo, những lớp người mang tâm lý bầy đàn và bản năng, dục vọng sẽ lên tiếng thay thế tiếng nói của đạo đức, phẩm hạnh hay tình người. Đó là cái giá phải trả của bất kỳ cộng đồng, dân tộc nào sống dưới cơ chế bầy đàn.

Hình ảnh người ta chen chúc nhau, hú hét và đạp rào chắn để tranh chỗ dâng lễ trong ngày giỗ Tổ Hùng Vương vào Mồng Mười tháng Ba âm lịch năm nay tại Phú Thọ như một trái phá đánh thẳng vào những ai ngây ngô với niềm tin rằng người Việt Nam rồi đây sẽ tốt đẹp hơn trong chế độ xã hội chủ nghĩa đích thực. Bởi các đời Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam luôn giữ quan điểm: “Chúng ta đang trong giai đoạn quá độ lên xã hội chủ nghĩa, khi mà kinh tế chúng ta đủ mạnh, đủ bền thì chúng ta sẽ là một thiên đường xã hội chủ nghĩa…”.

Đó là một loại lý lẽ mị tính, chẳng có gì để bàn. Vấn đề cần bàn ở đây chính ở chỗ ngay cả trong lòng miền Bắc, trước năm 1975, hầu như không có kiểu xô bồ như hiện tại. Và tại miền Nam Việt Nam, trước 1975 sạch sẽ, văn minh bao nhiêu thì sau 1975, mọi thứ trở nên xô bồ, hỗn độn bấy nhiêu. Điều này cho thấy vấn đề gì? Và đâu là nguyên nhân?

Trước nhất, hình ảnh người ta chen lấn nhau để chờ ăn sushi miễn phí hay xô dẩy, giẫm đạp nhau để nhận quà, đạp nhau để tranh phết cầu may, chen chúc, hú hét, giẫm đạp lên nhau để đội lễ lên đền Hùng… Tất cả đều khái quát tính bầy đàn và man rợ mà những đám đông này có được.

Điều này có phải do nguyên nhân từ chỗ xếp hàng chầu chực miếng thiếu ăn, sợ đói khổ và sợ cắt mất phần ăn ở thời kinh tế tập trung bao cấp để lại? Phải, nhưng đó chỉ là một phần của nguyên nhân. Thời kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa kéo qua đất nước này đã ngót nghét 30 năm, kể từ 1986 đến 2016. Ba mươi năm đủ để người ta thay đổi cho hợp thời đại và hợp với phông văn hóa chung. Hơn nữa suốt 30 năm không có xếp hàng chầu chực miếng ăn, không đến nỗi đói khổ, không đến nỗi quá lo lắng về miếng ăn, cái mặc nhưng tại sao người ta vẫn cứ hành xử mông muội, bầy đàn?

Điều này bắt buộc phải coi lại chế độ cầm quyền, bởi đó là thứ qui luật đương nhiên, một chế độ cầm quyền tử tế sẽ cho ra những sách lược tử tế và có những chính sách xã hội tử tế để cuối cùng là một xã hội tử tế hình thành dưới chế độ cầm quyền đó. Ngược lại, một chế độ cầm quyền bầy đàn và mông muội sẽ sinh ra những sách lược bầy đàn, mông muội để cuối cùng là kéo theo cả một dân tộc bầy đàn, mông muội dưới bàn tay cai trị của chế độ đó.

Điều này buộc phải coi lại cơ chế cầm quyền của đảng Cộng sản Việt Nam! Tuy rằng cơ chế kinh tế đã chuyển đổi theo hướng thị trường nhưng cách hành xử, sách lược và chủ trương của đảng Cộng sản Việt Nam vẫn đậm đặc tính bầy đàn, mông muội.

Tính bầy đàn, mông muội từ Hiến Pháp và trên cả Hiến Pháp, một chuyện chỉ có trong chế độ Cộng sản. Điều 4 Hiến Pháp đã qui định đảng Cộng sản là đảng lãnh đạo duy nhất, như vậy, tính độc tài đã được pháp chế hóa, bên cạnh đó, luận cương và điều lệ đảng luôn đặt cao hơn  Hiến Pháp, điều này cho thấy tính bầy đàn của đảng Cộng sản cao hơn bao giờ hết. Bởi nếu không đặt nặng quyền lợi cũng như không coi trọng tính bảo thủ, tính bầy đàn thì người ta không thể đặt lợi ích của đảng lên trên lợi ích của dân tộc.

Một khi đã đặt lợi ích dân tộc bên dưới để đặt lợi ích của đảng Cộng sản lên cao hơn thì cơ chế lãnh đạo và cai trị của nó sẽ đậm tính bầy đàn. Tính bầy đàn nhen nhóm từ chỗ lợi ích nhóm, từ chỗ muốn yên thân hay muốn vinh thân phì gia thì phải có tính đảng, phải theo đảng và phải là đảng viên, phải nằm trong hệ thống của đảng. Điều này vô hình trung đẩy xã hội vào tâm lý bầy đàn, muốn có sức mạnh thì phải có bầy đàn, muốn tiến thân thì phải có đảng.

Cái tâm lý bầy đàn này nhen nhóm, hình thành và phát triển kể từ khi trẻ em bắt đầu tham gia Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh cho đến lúc tham gia Thanh Niên Đoàn để rồi cố gắng, nỗ lực học điều lệ đảng và để được nhắm đối tượng đảng, được kết nạp đảng. Vô hình trung, đảng trở thành bầy đàn ưu tú, bầy đàn mạnh nhất giữa những bầy đàn bị xô ra khỏi chuồng có nhiều thức ăn và (ngoại trừ những thành phần trí thức, hiểu biết và có phản biện xã hội, có tư duy độc lập, dân chủ) những thành phần không được vào đảng, không được kết nạp vào bầy đàn ưu tú, bầy đàn mạnh nhất thì sẽ tìm cách tồn tại giữa một rừng bất an vì không có chỗ chống lưng.

Và một khi sống giữa rừng bất an, phải đối mặt với hàng trăm thứ bất công, trong đó chủ yếu là bất công do bầy đàn mạnh nhất mang lại, bản năng sinh tồn của người ta phải trỗi dậy như một cơ chế đề kháng tự nhiên. Trong khi đó, tiến trình phát triển tâm lý bầy đàn trong xã hội lại là thứ cần thiết nhất của bầy đàn mạnh nhất, cụ thể ở đây là đảng Cộng sản. Bởi tính bầy đàn nổi dậy càng mạnh thì tính tĩnh lặng, sự minh triết càng mất đi tỉ lệ. Khi cả đất nước thành một đám đông hò hét thì bầy đàn mạnh nhất, hung hăng nhất sẽ dễ dàng lãnh đạo cái đám đông hò hét, hầm hố và bầy đàn còn lại.

Trong khi đó, ngược lại, với một đất nước mà giá trị suy tư, giá trị tư lự và chiêm nghiệm đã thấm nhuần trong mỗi cá thể công dân, người ta nghĩ đến phẩm hạnh và đạo đức thì chắc chắc người ta phải coi trọng giá trị con người, coi trọng tính sáng tạo và tính độc lập, coi trọng tự do… Và để có những điều đó, người ta buộc phải đấu tranh, phải tìm và phải hy sinh, thậm chí phải sẵn sàng chấp nhận mọi rủi ro trước sức mạnh bầy đàn thủ lĩnh. Và đây là điều mà nhà cầm quyền bầy đàn không bao giờ mong xảy ra, họ phải triệt tiêu bằng mọi giá.

Những động thái triệt tiêu không phải ngày một ngày hai mà được. Ngay từ đầu thống nhất hai miền bằng màu cờ Cộng sản, người Cộng sản đã thực hiện chính sách Độc Thần của họ bằng cách tôn thờ Hồ Chí Minh, ướp xác của ông và thờ phụng trong lăng trang nghiêm, dành cơ hội đi thăm lăng ông cho những thành phần ưu tú trong xã hội. Tiếp đó là đập phá đền đài, miếu mạo, đạp đổ thần linh trong nhân dân. Một khi thần linh trở thành mối đe dọa trong nhân dân, sự tôn thờ và kính ngưỡng có thể trở thành mối nguy cho tính mạng thì người ta hoặc là bỏ trốn đi nơi khác hoặc là chấp nhận mình vô thần để được yên thân.

Và trong cái sinh quyển vô thần của nhân dân, có một ông thần Hồ Chí Minh luôn ngự trị, ông trở thành thần hộ mệnh cho bất kì ai dưới triều đại Cộng sản xã hội chủ nghĩa. Và đến khi ông thần Hồ Chí Minh đã chính thức được phong thần, đã được chính mồm mép của các ông sư bà ni hay cha đạo đội nón cối xác quyết là bố tát, là thánh… Thì việc còn lại của đảng độc tài và độc thần là phải tạo ra những bộ đệm thần linh. Chính những bộ đệm thần linh này sẽ đảm bảo tính lâu dài của chủ nghĩa Độc Tài và Độc Thần. Vì sao?

Bởi hiện tại, một khi chủ nghĩa vô thần đã trở nên nhảm nhí trong nhân dân và toan tính độc thần cũng bị lung lay bởi những nhà đấu tranh dân chủ, nhân quyền, bởi những tương tác trong thế giới phẵng thời đại internet và bởi những bí mật xấu của lãnh tụ bị bạch hóa thông qua thế giới mạng, thông qua những trang mạng xã hội, hình ảnh của ông thần Hồ Chí Minh trở nên méo mó và không còn đảm bảo tính linh thiêng của nó nữa.

Lúc này, nhu cầu xây dựng một lớp đệm thần linh sẽ cao hơn bao giờ hết, tái xây dựng, phục chế và thậm chí xây mới đền đài miếu mạo, lăng tẩm, điện… Và tổ chức các hoạt động nhảy ốp đồng hay cầu cơ, các sinh hoạt tâm linh giả cầy được phép hoạt động hết công suất dưới sự bảo trợ của đảng cầm quyền. Và đương nhiên, một phần mê tín dị đoan và một phần tâm linh thuần nhiên trong nhân dân được đánh thức. Lúc đó, nhà cầm quyền nghiễm nhiên lồng ghép, đan xen hoạt động tâm linh với hoạt động chính trị.

Không cần tinh ý người ta cũng dễ dàng nhận thấy bất kì ngôi chùa quốc doanh hay đền miếu quốc doanh nào cũng có tượng Hồ Chí Minh. Trong khi đó, chùa chiền, miếu mạo, nhà thờ quốc doanh chiếm số lượng cao và hoạt động rất mạnh.

Khi người ta qùi mọp lạy khấn thần linh là lúc mọi niềm tin ký thác vào hành vi vái lạy. Và khi người ta ngước lên thấy Hồ Chí Minh đứng trên cả thần linh cũng là lúc người ta buộc phải treo niềm tin trên sợi dây huyễn hoặc của tâm hồn mình. Một thế giới bầy đàn ra đời trong một nhà nước bầy đàn và những hoạt động xã hội ngày càng bầy đàn hơn để đảm bảo cho bầy đàn lãnh đạo được yên vị. Đó là tất cả những gì chúng ta có thể nhìn thấy ngày hôm nay và đừng hỏi vì sao ngày càng đông người Việt Nam hành xử bầy đàn mà chỉ cần hỏi cơ chế lãnh đạo của  đảng Cộng sản có phải là cơ chế bầy đàn hay không là đủ!

Tổng thống Myanmar ân xá cho hơn 80 tù nhân

 Tổng thống Myanmar ân xá cho hơn 80 tù nhân

Tổng thống Myanmar Htin Kyaw cho biết ông Htin Kyaw ký lệnh này với mục tiêu “hòa giải trên cả nước” nhân khởi đầu năm mới của Phật giáo.

Tổng thống Myanmar Htin Kyaw cho biết ông Htin Kyaw ký lệnh này với mục tiêu “hòa giải trên cả nước” nhân khởi đầu năm mới của Phật giáo.

17.04.2016

Tổng thống Myanmar Htin Kyaw vừa ân xá cho 83 tù nhân được cho là đã bị giam cầm vì những lý do chính trị.

Văn phòng tổng thống loan báo lệnh ân xá hôm Chủ nhật, và cho biết ông Htin Kyaw ký lệnh này với mục tiêu “hòa giải trên cả nước” nhân khởi đầu năm mới của Phật giáo.

Tân chính phủ được bầu chọn dân chủ của Myanmar do Liên minh Dân chủ Toàn quốc của bà Aung San Suu Kyi thống lãnh bãi bỏ cáo buộc đối với mấy trăm người hoạt động dân chủ bị truy tố dưới chế độ quân nhân cầm quyền trước đó đã cai trị nước này năm thập niên cho đến khi giao lại quyền hành cho chính phủ bán dân sự vào năm 2011.

Trong phát biểu trên truyền hình toàn quốc, Tổng thống Htin Kyaw hứa sẽ trả tự do cho “các tù nhân chính trị, những người hoạt động chính trị, và các sinh viên bị truy tố liên quan đến chính trị.”

Liên minh Dân chủ Toàn quốc lên nắm quyền tại Myanmar, còn gọi là Miến Ðiện, hồi tháng trước sau khi giành thắng lợi áp đảo trong cuộc tổng tuyển cử hồi tháng 11.

Bà Aung San Suu Kyi, người bị quản thúc tại gia hai thập niên, không làm tổng thống được theo quy định của hiến pháp do quân đội đặt ra trước đó.  Nhưng bà giữ chức ngoại trưởng và chức “cố vấn nhà nước,” và cách đó cho phép bà lãnh đạo chính phủ thông qua người làm tổng thống.

Vì sao gần nửa triệu doanh nghiệp ngừng hoạt động?

Vì sao gần nửa triệu doanh nghiệp ngừng hoạt động?

Nam Nguyên, phóng viên RFA

000_Hkg10113116.jpg

Một cửa hàng quần áo bán các sản phẩm sản xuất trong nước ở trung tâm thành phố Hà Nội ngày 29 tháng 10 năm 2014.

AFP PHOTO

Your browser does not support the audio element.

Khó có nền kinh tế nào có thể cất cánh trong tình trạng doanh nghiệp chết hàng loạt, giải thể hay ngừng hoạt động. Giới chuyên gia mô tả tình trạng bất bình thường, qua sự kiện 46% doanh nghiệp ngừng hoạt động trong vòng 10 năm qua. Nam Nguyên trình bày một số khía cạnh liên quan.

Theo các số liệu chính thức của các cơ quan chuyên môn như Tổng cục Thống kê, Cục Quản lý kinh doanh, Bộ Kế hoạch Đầu tư, riêng trong năm 2015, số doanh nghiệp phải ngừng hoạt động là hơn 71.000 đơn vị, tăng hơn 22% so với năm trước. Số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động gia tăng hàng năm, đến nỗi có sự ví von là một doanh nghiệp ra đời chưa kịp tham gia thị trường, thì lại có một doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, gặp khó khăn, lâm cảnh nợ nần và phải ngừng hoạt động.

“ Việt Nam nên nghiên cứu một tổ chức giúp đỡ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, vì đây thể hiện hơn 90% tổng số doanh nghiệp.
– Chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành”

Có nhiều nguyên do để doanh nghiệp tư nhân Việt Nam phải rời sân chơi thị trường, thứ nhất là cạn vốn mà không có chỗ để vay thêm. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì giá thành cao, phẩm chất hàng hóa chưa tốt vì công nghệ lạc hậu, năng suất lao động thấp. Ngoài thuế và phí theo qui định, tất cả doanh nghiệp ở Việt Nam dù công hay tư đều phải chấp nhận những khoản chi tiêu không chính thức, không biết kê vào mục nào.

Chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành, một Việt Kiều về nước làm việc ở Hà Nội từ hơn 20 năm qua, nhận xét về nguyên nhân mà ông cho là lớn nhất khiến các doanh nghiệp tư nhân chết hàng loạt.

“Khó khăn lớn nhất là các doanh nghiệp ấy chưa có được sự hỗ trợ của nhà nước để phát triển từ nhiều mặt. Thí dụ doanh nghiệp chưa tiếp cận được nguồn vốn, nếu tiếp cận được thì lãi suất vẫn còn quá cao. Vì vậy trong thời gian tới cần có chính sách tiền tệ như thế nào để cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận được nguồn vốn với lãi suất hợp lý. Ngoài ra Việt Nam nên nghiên cứu một tổ chức giúp đỡ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, vì đây thể hiện hơn 90% tổng số doanh nghiệp. Nhà nước nói là tạo mọi điều kiện để cho doanh nghiệp phát triển, thế thì mọi điều kiện đó là cái gì…Nhà nước cần ngồi lại với các doanh nghiệp để đưa ra những quyết sách mới…”

Trò chuyện với chúng tôi, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nguyên thành viên Ban Tư vấn Kinh tế của Thủ tướng Phan Văn Khải, từng phân tích là về nguyên tắc, nguồn tín dụng trên thị trường mà các doanh nghiệp tư nhân trông chờ có thể bị giảm đi khá nhiều, vì các nhà đầu tư đi tìm lợi nhuận cao hơn và chắc chắn hơn, thông qua việc mua trái phiếu chính phủ được phát hành rất nhiều trong thời gian qua. Trong dịp đề cập tới những vấn đề bất ổn đang giăng bẫy nền kinh tế Việt Nam, chuyên gia Phạm Chi Lan từ Hà Nội nhận định:

“Về khu vực tư nhân trong nước thì rất nhiều doanh nghiệp bị ngừng hoạt động, số ngừng hoạt động cứ tiếp tục tăng lên. Nhiều doanh nghiệp lớn hơn không phải ngừng hoạt động, tình trạng hoạt động khá hơn thì lại đi bán cho các công ty khác qua các thương vụ mua lại sáp nhập… Chính sách của nhà nước vẫn thiên về hỗ trợ nhiều hơn cho khu vực đầu tư nước ngoài, thay vì khu vực tư nhân trong nước…”

000_Hkg10237188.jpg

Một cửa hàng tiện lợi Hàn Quốc ở trung tâm thành phố Hà Nội, ảnh chụp ngày 08 tháng 12 năm 2015.

Theo báo cáo thường niên Doanh nghiệp Việt Nam 2015 do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam phổ biến, tổng số doanh nghiệp đã đăng ký thành lập vào khoảng 941.000 đơn vị, tính từ khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực năm 2000. Riêng trong giai đoạn từ 2007 đến 2015 tổng số doanh nghiệp ngừng hoạt động lên tới 428.000 đơn vị tương đương 45,5% tổng số doanh nghiệp. Như vậy tính đến cuối năm 2015 Việt Nam đang có khoảng 513.000 doanh nghiệp, đại đa số là doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Bên cạnh các vấn đề thuộc về chính sách như thuế, phí và tỷ giá, doanh nghiệp còn bị ảnh hưởng bởi thủ tục hành chính nhiêu khê và bất hợp lý. Vấn đề này vô hình chung góp phần tăng thời gian và chi tiêu của doanh nghiệp. Báo chí Việt Nam thường ví von thủ tục hành chính: hành là chính, còn nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng thì từng cám cảnh, thủ tục bây giờ ác độc lắm không có tiền là không xong.

Trong xu hướng cải cách ở Việt Nam, chuyên gia Bùi Kiến Thành cho rằng việc cần làm ngay là cải cách một cách thực chất về thủ tục hành chính. Ông nói:

“Lãnh đạo nhà nước đã nói bế tắc lớn nhất của chúng ta là vấn đề thủ tục hành chính chưa được khai thông. Cho nên cải cách hành chính là vấn đề ưu tiên hàng đầu đối với việc quản lý nhà nước. Như vậy đã biết hướng đi rồi còn lại là cải cách hành chính như thế nào. Ở cấp Trung ương phải làm gì, ở cấp địa phương thực hiện ra sao, đi đến chỗ những người tiếp cận với nhân dân có thái độ như thế nào để được nhân dân ủng hộ. Việc này không chỉ thay đổi tư duy mà còn là phong cách xử lý trong quan hệ với dân, để cho nhà nước và nhân dân gần nhau hơn, có được sự hợp tác chặt chẽ giữa nhân dân và nhà nước để có thể vươn lên, việc này là ưu tiên hàng đầu…”

Được biết Chính phủ Việt Nam đã tiến hành cải cách hành chính theo nghị quyết 30 năm 2011. Cho đến nay, kế hoạch này đã đi nửa đoạn đường 2011-2020 nhưng kết quả đạt được không đáng kể. Tình trạng này đã được các đại biểu Quốc hội khóa 13 nhận xét nặng nề, trong kỳ họp cuối cùng trước khi mãn nhiệm.

Chuyên gia Bùi Kiến Thành tiếp lời:

“ Chính sách của nhà nước vẫn thiên về hỗ trợ nhiều hơn cho khu vực đầu tư nước ngoài, thay vì khu vực tư nhân trong nước.
– chuyên gia Phạm Chi Lan”

“Muốn cải cách hành chính thì cải cách thể chế như thế nào. Cái gì cần cải cách trong thể chế, cái gì cần phải đưa ra trong những qui định mới, trong việc xử lý công việc của các bộ các ngành như thế nào, tổ chức ra những cơ chế gì để ủng hộ doanh nghiệp phát triển, cơ chế gì để cho nhân dân có thể tham gia phát triển, không chỉ kinh tế mà thôi mà còn về vấn đề tự do, phát huy dân chủ, làm chủ đất nước…”

Tệ nạn tham nhũng làm suy yếu hệ thống công quyền và mất niềm tin của nhân dân. Trong các cuộc hội thảo, giới chuyên gia và cộng đồng doanh nghiệp phản ánh rất nhiều về tình trạng phải thực hiện các khoản chi không chính thức. Riêng ông Bùi Kiến Thành mô tả tham nhũng ở Việt Nam là một quốc nạn, mà đã đến lúc phải có các nỗ lực quyết liệt để giảm bớt tình trạng này. Ông nói:

“Phòng chống tham nhũng cần phải làm quyết liệt hơn các thời trước, phải có phương pháp nào để trên bảo dưới phải nghe…phải có kỷ cương phép nước như thế nào, để cho các công chức nhà nước thực sự phục vụ nhân dân chứ không phải là lãng quên trách nhiệm của mình là người phục vụ nhân dân…”

Vấn đề doanh nghiệp chết hàng loạt có xu thế gia tăng trong thời gian tới. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thông báo, tân Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đồng ý tổ chức hội nghị đối thoại với doanh nghiệp tư nhân dự kiến vào cuối tháng 4/2016 sắp tới tại Dinh Thống Nhất Saigon. Tân Thủ tướng mong muốn lắng nghe cộng đồng doanh nghiệp để tìm giải pháp phát triển, trong bối cảnh đã có tới 428.000 doanh nghiệp ngừng hoạt động vì khó khăn trong 10 năm qua.

Nào đâu có trăm năm, mà chờ mà đợi?

 “Nào đâu có trăm năm, mà chờ mà đợi?”

Nào đâu có kiếp sau, đâu có kiếp sau, mà đợi mà chờ?”

(Nhạc: Phạm Duy/Thơ: Lưu Trọng Văn – Trăm Năm Bến Cũ)

(1Gioan 3: 23-24)

           Trần Ngọc Mười Hai

Tư-tưởng này, bất chợt đến với bần-đạo sau khi nghe cô em dâu hát lên lời hát của Lưu Trọng Văn trong buổi Hát Cho Nhau Nghe hôm 5/3/2016 ở Sydney.

Tư-tưởng này, đã trở về với bần đạo cũng, sau khi nghe tin …tức từ vị chóp bu Đạo Chúa ở Rôma hôm rồi, rằng:

 “Hôm 21-1-2016, Phòng báo chí Tòa Thánh đã phổ biến thư của ĐTC Phanxicô gửi ĐHY Robert Sarah, Tổng trưởng Bộ Phụng Tự và kỷ luật bí tích, để thông báo quyết định về vấn đề này, và Sắc lệnh của Bộ Phụng tự thay đổi qui luật trong sách lễ theo cùng chiều hướng trên đây.

 Thư của Đức Giáo Hoàng gửi Hồng Y Sarah ký ngày 20-12-2014 có đoạn viết: ”Sau khi suy nghĩ chín chắn, tôi đi đến quyết định du nhập một sự thay đổi trong qui luật của Sách Lễ Roma. Vì thế, tôi qui định thay đổi qui luật theo đó những người được chọn để được rửa chân phải là đàn ông hoặc trẻ nam. Từ nay các vị mục tử của Giáo Hội có thể chọn những người tham dự nghi thức rửa chân trong số tất cả các thành phần dân Chúa. Ngoài ra, nên giải nghĩa thích đáng cho những người được chọn về ý nghĩa nghi thức rửa chân”.

 Trong Sắc Lệnh ký ngày 6-1-2016, Hồng Y Sarah và Đức TGM Tổng thư ký Arthur Roch của Bộ nhắc lại rằng cuộc cải tổ nghi thức Tuần Thánh với Sắc lệnh ”Maxima Redemptionis nostrae mysteria” (Các Mầu nhiệm quan trọng nhất của ơn cứu chuộc chúng ta, ngày 30-11-1955) cho phép cử hành nghi thức rửa chân cho 12 người đàn ông trong Thánh Lễ kỷ niệm Chúa lập phép Thánh Thể.. Khi cử hành nghi thức ấy, các GM và LM được mời gọi trở nên đồng hình dạng trong tâm hồn với Chúa Kitô, ”Đấng đã đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ” (Mt 20,28), và được tình yêu ‘đến cùng’ (Ga 13,1) thúc đẩy, hiến thân cho phần rỗi của toàn thể nhân loại.

 Sắc lệnh nhắc đến quyết định của Đức Phanxicô thay đổi qui luật đó và qui định rằng ”Các mục tử có thể chọn một nhóm như các tín hữu đại diện mỗi thành phần dân Chúa. Nhóm nhỏ ấy có thể gồm cả đàn ông lẫn phụ nữ, người trẻ, người già, người lành mạnh và bệnh nhân, giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân”.

 Do năng quyền Đức Giáo Hoàng ban, Bộ Phụng Tự và kỷ luật bí tích du nhập sự đổi mới này vào trong các sách phụng vụ và nhắc nhớ các vị mục tử về nghĩa vụ giáo huấn thích hợp cho các tín hữu được chọn (rửa chân) cũng như cho những người khác, để họ tham gia nghi thức này một cách ý thức, tích cực và nhiều thành quả”. (X. Lm G. Trần Đức Anh OP, Radio Vaticana 21.01.2016)

 Đọc tin…tức từ đấng bậc chóp bu, bần đạo bầy tôi chạnh nhớ thân phận người nữ-phụ ở Hội thánh. Chạnh lòng rồi nhớ đến nhiều lời bình về sự việc này, trong đó có lời của đấng bậc vị vọng như sau:

“Thánh tổ-phụ Giêrônimô có lần nói: “Khi một nữ-phụ ao-ước được phục-vụ Đức Kitô nhiều hơn cả và thế-gian này, thì khi ấy chị sẽ thôi không còn là phụ-nữ nữa và người ta sẽ gọi chị là nam-nhân.”

 Huyền-thoại Do-thái-giáo khi xưa ta biết được là nhờ sách Sáng Thế Ký được mở để nói rằng Kinh thánh hiểu rõ rất nhiều sự/việc. Huyền-thoại Do-thái-giáo có mục-tiêu diễn-giải điều đó là những gì. Là bảo rằng: nam-nhân là những người mà ta không còn ngờ-vực gì nữa, từng hun-đúc nên các chuyện bí-nhiệm thần-thoại như thế. Để rồi, cuối cùng ra, đã ghi-chú các sự/việc này , do bởi các nữ-phụ trong xã-hội ấy không được tiếp-cận với thứ quyền-lực để diễn-giải mọi sự về Thiên-Chúa và/hoặc cũng chẳng có khả-năng để viết lách và diễn-giải nữa.

 Thêm vào đó, phụ-nữ xưa nay vẫn bị mọi người nghĩ rằng: các chị không thích bon chen tìm hiểu và/hoặc hiểu/biết gì về mọi thứ và cả những thực-tại xảy ra cùng sự thật của các sự-kiện từng xảy ra, nữa. Thế nên, phụ-nữ nói chung không gây ảnh-hưởng nào hết cách trực-tiếp lên các trách-nhiệm này/khác về văn-hoá. Là phụ-nữ, các chị cũng chẳng có quyết-định ban đầu nào khả dĩ có thể tạo hình-hài cùng khuôn-thước về bản-chất của bất cứ sự gì. Các chị cũng không tham-gia dự-phần vào bất cứ tiến-trình tạo quyết-định về sự việc nào hết.

 Thành thử, ai trong chúng ta cũng chẳng lạ gì khi thấy các truyện-kể hoặc bài viết do nam-nhân viết hoặc tạo hình-hài ở Kinh-thánh đều tìm câu trả lời cho thắc-mắc hỏi rằng: làm sao ác-thần/sự dữ lại đi vào công-cuộc tạo-dựng rất tốt đẹp của Thiên-Chúa được. Câu trả lời vẫn có thể có từ lời tuyên-bố bảo rằng: sở dĩ có chuyện đó là do lỗi của thụ-tạo “dưới-cơ con người” do Thiên-Chúa tạo ra để thoả-mãn nhu-cầu của nam-nhân đầu đời. Và ác-thần/sự dữ ấy có tên là nữ-nhân-đầu-đời, tên Evà…”  (Xem thêm Tgm John S. Spong, The Woman as the Source of Evil trong The Sins of Scripture, HarperCollinsPublishers 2005 tr. 87-93)

Nghe các đấng bậc biện-luận với nhau như trên, bần đạo chẳng biết làm gì hơn, là: lại quay về với nhạc-bản của nghệ sĩ họ Phạm phối nhạc cho bài thơ của Lưu Trọng Văn, vẫn hát thêm:

“Trăm năm đầu lỗi hẹn hò,

Chứ cây đa bến cũ, con đò khác đưa…

Thôn-nữ CHỊ, đã qua cầu, thóc lép,

Thôn-nữ EM, như trăng tuột khỏi chồi tay,

Thôn-nữ ÚT, đã lên đòng, nào ai biết.

 Khúc tình xưa, xưa ấy đã xưa rồi,

Con chuồn chuồn không lung nhùng trong mạng nhện.

Con bướm vàng nằm xoài dưới chân anh.

Một vùng trăng cỏ non như níu áo

Ngọn tre xanh đủng đỉnh muộn màng

Á a á a a…

A á ạ à Á à à a…

(Phạm Duy/Lưu Trọng Văn – bđd)

Cũng trong đêm nhạc này, trong hai bài phổ nhạc của nghệ-sĩ Phạm-Duy, bài “Cô Hái Mơ” là bài viết đầu tay của ông và bài “Trăm Năm Bến Cũ” được viết vào cuối đời trong đó tác-giả gói-ghém tâm-sự “Ngày trở về” sau khi đọc bài thơ của Lưu-Trọng-Văn có đầu đề là “Nào Đâu Có Trăm Năm, Mà Chờ Mà Đợi”, rất đúng ý.

Vâng. Ở nhạc-bản trên, chỉ mỗi câu ngâm “Á a à à a ..” thôi, thì tôi và bạn nghe qua cũng đã hiểu. Hiểu rất nhiều, về thân-phận người nữ-phụ, xưa nay. Nói đúng hơn, nữ-phụ khi xưa thì như thế. Còn, phụ-nữ hôm nay, rày đã khác. Khác rất nhiều. Khác, hơn xưa khi người người góp mặt biểu đồng tình với người chị/người em ở thánh hội. Như, lời đấng bậc khác, từng diễn tả như sau:

“Chuyện người nữ-phụ lấy tóc lau chân Đức Giêsu… cho thấy một sự thật. Sự thật là, người nữ-phụ xử-sự theo cách hối-lỗi rất thật-tình và tha-thiết, nên chị ta có được kết quả là đạt được lòng mến tràn đầy từ Đấng có quyền thứ-tha. Ngài tha-thứ, nhưng không phô-trương uy-quyền được Cha Ngài ban. Trái lại, sự việc cải-hối và niềm tin nơi nữ-phụ ở đây đã đem lại cho chị ơn tha-thứ…

 Xã-hội hôm nay, thấy rất nhiều người làm quấy dù chỉ một lần trong đời, nhưng vẫn bị người đời tặng cho mình nhiều mũ-chụp, suốt quãng đời còn lại, của chính họ, dù họ thật tình muốn chỉnh-sửa. Thiên-Chúa không xử-sự với con người như loài người vẫn xử-sự với nhau, và cho nhau. Chúa xử-sự với con người theo tình-thế của họ ở đây, bây giờ. Quá-khứ của con người không quan-trọng đối với Chúa. Quan-trọng chăng, chỉ mỗi điều, là: nay ta sống thế nào, mà thôi. Nay, ta xử-sự ra sao với các nữ-phụ dù họ có phạm lỗi hay không. Ta có xử sự với các nữ-phụ trong tương-quan với mọi người đúng theo tinh-thần Chúa khuyên-dạy hay không mà thôi.

Trong một thế-giới mà nam-nhân hoàn-toàn khuynh-loát và làm chủ, thì nữ-phụ xưa nay vẫn bị chê-trách rất nhiều chuyện, kể từ ngày chị được tác-tạo thành con người đến hôm nay. Giả như có tên du-thủ du-thực nào đó phạm tội hãm-hiếp phụ-nữ, thì mọi người trong thế-giới nam-nhân sẽ bảo rằng: sở dĩ có chuyện này, là vì chị ta lôi-cuốn anh ấy qua cách ăn mặc rất kích-dâm hoặc lôi cuốn. Nếu có nam-nhân nào đó từng xách-nhiễu một nữ-phụ đơn-sơ/trong trắng nào đó, thì họ lại cũng bảo rằng sở dĩ có chuyện này là do chị ấy gây chuyện rồi kích-động trước, thế thôi.

 Giả như ông chồng nọ quyết ly-dị vợ mình, ắt hẳn cũng vì chị vợ nay thành loại người mà anh tự thấy mình không còn có thể chịu đựng nổi chị ấy nữa. Giả như nữ-phụ nào có khả năng chơi được trò chơi dành cho nam-nhân, thì chị ấy sẽ bị đè bẹp/vùi-dập bằng những lời xách-mé/xỉa xói nói cho hay cho tốt sẽ bảo rằng: cô ấy là thứ đàn-bà trơ-tráo không biết e-thẹn là gì, hoặc tệ hơn, lại sẽ nói: cô bé này đúng là con chó cái, thế thôi.

 Và, giả như chị phải vận-dụng mọi kỹ-năng hoặc tay nghề thực-sự mới được thế, thì thiên-hạ lại sẽ bảo là chị ta đang sử-dụng “mọi thứ của phụ-nữ” mới đạt được điều mình mong muốn có kết-quả.

 Tất cả những điều này tiếp-tục mẫu-mã dựng chuyện cho câu truyện kể về Vườn Địa Đàng, trong đó nhân-vật Evà là nguyên-nhân gây nên đổ-vỡ cho am-nhân. Chị là người hoàn-toàn trách-nhiệm trong việc đưa ác-thần/sự dữ vào với thế-giới nhân-trần. Đây là truyện kể tuyệt-vời, nhưng vẫn chỉ là: một câu truyện kể, thế thôi. Thật sự, thì: đây chỉ là truyện dụ-ngôn qua đó bậc tiên-tổ của ta khi xưa vẫn tìm cách bắt-chộp “sự thật” về sự hiện-hữu của các ngài, mà thôi.

 Và, các truyện kể ở Kinh thánh lâu nay mang tính thần-thoại mà nhiều người gọi là huyền-nhiệm hay bí-nhiệm để nói lên một sự việc gì đó mà một số người gọi là “thần-học Giao-ước” giữa Thiên-Chúa và loài người. Thần-học này, lâu nay vẫn coi nữ-giới là “kẻ cám dỗ” nam-nhân vốn dĩ là những người đáng quí đáng trọng. Theo đó, nữ-giới vẫn bị gọi là thứ “cây rái cấm-kỵ” kích thích lòng ham/muốn nơi cơ-thể của nam-nhân.

 Vì thế nên, phụ-nữ xưa nay vẫn “bị” định-nghĩa là người đồi-bại và làm sa-đoạ tính thánh-thiêng của người phàm. Các chị còn bị chê-trách coi như nguyên-nhân tạo cho nam-nhân mất đi uy-quyền của chính họ. Từ khi có truyện kể dụ-ngôn này, văn-hoá Đạo Chúa ở phương Tây bị nối-kết với khuynh-hướng xa lánh phụ-nữ, tức: diễn-tả mọi thứ thánh-thiêng theo nghĩa không giới-tính.

 Cũng từ đó, tính trinh-trong của phụ-nữ và khiết-tịnh ở nam-giới đã trở-thành phương-cách để mọi người tự thánh-hoá đời sống, theo phương-cách cao hơn. Cả đến hôn-nhân cũng bị nhiều người định-nghĩa như một châm-chước/nhượng-bộ tội-lỗi, tức: phương-án chọn-lựa dành cho những người yếu kém về nhiều thứ.

 Một trong các vị thánh từng chuyển-dịch Kinh Thánh là thánh Giêrônimô vẫn được bảo là vị thánh từng thấy khó xử trong chuyển-dịch, khi thấy rằng khiá-cạnh độc-nhất mang tính cứu-độ của hôn-nhân là ở chỗ việc này “sản-xuất ra nhiều trinh-nữ hơn nữa”. Và tuyên-bố này vẫn khiến nhiều người khó mà tin được sự việc lại có thể như thế.

 Như thế, tức bảo rằng: phụ-nữ thật sự là sự dữ/ác-thần tận cốt lõi. Đó là thông-điệp xuất tự người gửi là Hội-thánh Đức Kitô và thông-điệp này được đặc-biệt tạo-tác xuất từ dụ-ngôn truyện kể về vườn Địa Đàng có Evà là hiện-thân của sự dữ.” (Xem Lm Frank Doyle sj, Suy Niệm Lời Ngài Chúa Nhật thứ 8 Mùa thường niên năm C, nxb Tôn Giáo 2012, tr. 138)

Đó, chính là vấn-đề. Vấn-đề, là ở chỗ: ta xử-sự với các nữ-phụ có cùng kiểu, đồng quyền và theo cùng cung-cách như vẫn làm với người khác, chí ít là những người khác khác chính-kiến, khác lai-lịch hoặc khác cả giới-tính, nữa hay không mà thôi.

Và, vấn-đề còn lại đặt ra cho mọi người, là: ta đối-xử với nữ-phụ trong/ngoài Giáo-hội có theo khuôn-khổ của sự tự-do con cái Chúa, hay không? Hỏi thế, không phải để có được một trả lời ngay tức khắc cho mình và cho người. Hỏi như thế, tứ: chỉ hỏi để mà hỏi. Hỏi, để kiếm tìm một hình-thức sống sao cho vui tươi, phúc hạnh và phải lẽ.

Thế nên, để mọi người, nam cũng như nữ, được sống vui-tươi/hài hoà với nhau, tưởng cũng nên về với truyện kể nhè nhẹ trong đó có những cử chỉ cũng nhè nhẹ nhưng vui/đẹp của người nữ-phục đã biết nhưng chưa quen, vẫn vui sống, như sau:

 “Có một chàng trai bị bệnh ung thư. Chàng mới 19 tuổi, nhưng có thể chết bất kì lúc nào vì căn bệnh quái ác này.Suốt ngày, chàng trai phải nằm trong nhà, được sự chăm sóc cẩn thận đến nghiêm ngặt của bố mẹ. Do đó, chàng trai luôn mong ước được ra ngoài chơi, dù chỉ một lúc cũng được.

 Sau rất nhiều lần năn nỉ, bố mẹ cậu cũng đồng ý. Chàng trai đi dọc theo con phố- con phố nhà mình mà vô cùng mới mẻ- từ cửa hàng này sang cửa hàng khác. Khi đi qua một cưả hàng bán CD nhạc, chàng trai nhìn qua cửa kính và thấy một cô gái. Cô gái rất xinh đẹp với một nụ cười hiền lành – và chàng trai biết đó là “tình yêu từ ánh mắt đầu tiên”. Chàng trai vào cửa hàng và lại gần bàn cô gái đang ngồi. Cô gái ngẩng lên hỏi:

-Tôi có thể giúp gì được cho anh ?

 Cô gái mỉm cười, và đó là nụ cười đẹp nhất mà chàng trai từng thấy.

-Ơ…,chàng trai lúng túng.

-Tôi muốn mua một CD…

Chàng chỉ bừa một cái CD trên giá rồi trả tiền.

-Anh có cần tôi gói lại không? Cô gái hỏi, và lại mỉm cười.

Khi chàng gật đầu, cô gái đem chiếc CD vào trong.

Khi cô gái quay lại với chiếc CD đã được gói cẩn thận, chàng trai tần ngần cầm lấy và đi về.

 Từ hôm đó, ngày nào chàng trai cũng tới cửa hàng, mua một chiếc CD và cô gái bán hàng lại gói cho anh. Những chiếc Cd đó, cháng đem về nhà và cất ngay vào tủ. Anh rất ngại, không dám hỏi tên hay làm quen với cô gái. Nhưng cuối cùng, mẹ anh cũng phát hiện ra việc này và khuyên anh cứ nên làm quen với cô gái xinh đẹp kia.

 Ngày hôm sau, lấy hết can đảm, chàng trai lại đến cửa hàng bán CD, rồi khi cô gái đem chiếc CD vào trong để gói, anh đã để một mảnh giấy ghi tên và số điện thoại của mình lên bàn.

Rồi anh cầm chiếc CD đã được gói- như tất cả mọi ngày- đem về. Vài ngày sau…

Reeeeeeeeeeeeeeng!!!.

Mẹ chàng trai nhấc điện thoại:

-Alô!?

 Đầu dây bên kia là cô gái ở cưả hàng bán CD. Cô xin gặp chàng trai nhưng bà mẹ òa lên khóc:

-Cháu không biết sao ? Nó đã mất rồi…hôm qua…

Im lặng một lúc. Cô gái xin lỗi, chia buồn rồi đặt máy.

Chiều hôm ấy, bà mẹ vào phòng cậu con trai. Bà muốn sắp xếp lại quần áo cuả cậu, nên đã mở cửa tủ.

Bà sững người khi nhìn thấy hàng chồng, hàng chồng CD được gói bọc cẩn thận, chưa hề được mở. Bà mẹ rất ngạc nhiên, cầm một cái lên, mở ra xem. Bên trong lớp giấy bọc là một chiếc CD cùng với một mảnh giấy ghi: ” chào anh, anh dễ thương lắm-Jacelyn”.

 Bà mẹ mở thêm một cái nữa. Lại thêm một mảnh giấy ghi: “Chào anh, anh khoẻ không? Mình làm bạn nhé? – Jacelyn”

Một cái nữa, thêm nữa… trong mỗi cái CD là một mảnh giấy…..”

Và, lời bàn “Mao Tôn Cương” từ người kể, vẫn bảo rằng: “Trong mỗi cử chỉ đều có thể tiềm ẩn một món quà. Giá như chúng ta đừng ngần ngại mở tất cả những món quà mà cuộc sống đem lại.”

Thật ra thì, có những thứ quà không cần mở cũng biết rằng: quà ấy thật vô giá như quà tặng Thượng Đế biếu/tặng ta trong cuộc đời người. Đó là, sự hiện-diện của mọi nữ-phụ ở quanh ta. Nữ-phụ ấy, có thể là mẫu-thân, là vợ, người chị hoặc em gái, con/cháu rất nữ-giới. Quà nào cũng vui cũng quý-giá như sự sống đích-thật của mọi người.

Kể thế rồi, nay lại cũng mời bạn và tôi, ta đi vào vùng trời có lời vàng của Đức Chúa, vẫn nhủ/khuyên rất nhiều lần, như sau:

“Này là lệnh-truyền của Thiên-Chúa:

Ta phải tin vào Danh Con của Ngài,

Đức Giêsu Kitô,

Và, yêu mến nhau

như Ngài đã truyền lệnh cho ta.

Và, ai giữ lệnh-truyền của Ngài,

thì lưu lại trong Ngài

và Ngài ở trong kẻ ấy.

Và, điều này ta biết được, là:

Ngài lưu lại ở trong ta,

do tự Thần-Khí Ngài đã ban cho ta.”

(1Ga 3: 23-24)

Thần-Khi Ngài ban cho ta, ở trong ta, thì làm sao ta và người lại cứ khinh-chê, coi rẻ các nữ-phụ, trong đời. Khinh và chê, như thể họ không là người như mình. Khinh và chê, như thể người người vẫn đối-xử với các nữ-phụ như từng đối-xử với người hành-tinh xa lạ, chẳng có tình người của người cùng một hành-tinh.

Làm sao chứng-thực được rằng: Thần-khí Ngài ở trong ta, khi ta đối xử với nhau không đồng đều. Vẫn cứ tạo ranh-giới, rào cản và kỳ-thị. Kỳ-thị nam nữ rất tranh-giành. Và, đó chính là mấu chốt của mọi đối xử rất bất-công, không đồng đều, một đối-xử không phải của người hành-tinh, rất địa cầu này.

Vậy, tưởng cũng nên coi lại lề-lối sống với nhau trong hài-hoà/yêu-thương không đợi chờ gì, huống hồ là “trăm năm”.

Vâng, quyết thế rồi, tưởng cũng nên hát lên ca-từ nay trích-dẫn để có lập-trường sống kiên-định rằng:

“Nào đâu có trăm năm,

mà chờ mà đợi?”

Nào đâu có kiếp sau,

đâu có kiếp sau, mà đợi mà chờ?

Đất MẸ, đất NÀNG, con sáo sang song.

Đất MẸ, đất NÀNG, con sáo sang sông.

 Trăm năm bến cũ, có còn đó không?

Còn đó không?

Cây đa bến cũ còn lưa,

Bến cũ còn lưa

O đò năm trước đi mô không về…”

(Phạm Duy/Lưu Trọng Văn – bđd)

 Trần Ngọc Mười Hai

Và những câu hỏi

rất như thế

vẫn lảng vảng

trong đầu mình

suốt mọi ngày.

Tình nhân-thế chua cay, người lịch-duyệt,

Suy Tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ Năm Phục Sinh năm C 24/4/2016

                             Tin Mừng: (Ga 13: 31-35)

Đức Giêsu nói: “Giờ đây, Con Người được tôn-vinh, và Thiên-Chúa cũng được tôn-vinh nơi Ngài. Nếu Thiên-Chúa được tôn-vinh nơi Ngài, thì Thiên-Chúa cũng sẽ tôn-vinh Ngài nơi chính mình, và Thiên-Chúa sắp tôn vinh Người.

 Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi. Anh em sẽ tìm kiếm Thầy; nhưng như Thầy đã nói với người Do-thái:

 “Nơi tôi đi, các người không thể đến được”, bây giờ, Thầy cũng nói với anh em như vậy. Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau.”

                                      “Tình nhân-thế chua cay, người lịch-duyệt,”

“Niềm giang-hồ tan-tác lệ Giang-Châu.”

                                                                 (Dẫn từ thơ Vũ Hoàng Chương)

Mai Tá lược dịch

Tình nhân-thế, con người ra như thế. Vẫn chua cay, giang-hồ, tan-tác đầy những lệ. Tình nhà Đạo, xưa nay vẫn khác. Khác, vì có lời dạy nhân-gian nay đằm thắm.

Trình thuật hôm nay, thánh Gioan Tin Mừng lại cũng nói về thứ tình-yêu rất đặc biệt. Thứ tình trọn đầy ý-nghĩa mà Đức Chúa đã làm gương. Tình Chúa nêu gương, là tình Ngài bày tỏ không chỉ riêng tư, mà là tình người dưới thế, ta luôn có với nhau. Tình Thầy luôn yêu, là tình đượm sắc mầu thương mến, rất hy sinh. Thầy hy sinh cho tất cả. Hy sinh đến chết. Hy sinh để ta được sống. Để ta cứ yêu. Yêu như Thầy vẫn hy sinh.

Ngôn ngữ phàm trần, không thấy có cụm từ nào được người đời biết đến, nhiều bằng từ ngữ “yêu”. Yêu, là phạm trù phổ biến dễ truy cập nhất. Một đề tài nói đến cả trong mọi trường hợp, mọi địa hạt: từ nghệ thuật đến văn chương, thi tứ, tthơ nhạc, cho đến phim ảnh văn xuôi, truyện ngắn. Nhất nhất, nói về tình yêu. Tình yêu có chữ “hy sinh” ở đời, là tình ta nghe biết nhiều nhất.

Với đời thường, tình yêu là cảm xúc ướt át, diễm lệ mọi người quanh ta, hằng đeo đuổi. Đeo và đuổi cho đến khi nào không thể làm gì hơn được nữa, mới thôi. Yêu, theo nghĩa dân gian người phàm, là tình thấy đầy nơi phố chợ có thể đằm thắm lúc ban đầu. Nhưng, nhạt dần với tháng năm. Tình nào không kèm chữ “hy sinh”, chung cuộc rồi ra cũng sẽ chán, khi vừa xuất hiện đối tượng mới, tươi trẻ, hấp dẫn và tràn đầy nhựa sống hơn.

Tình đời mau chán, bởi người người chỉ chú trọng đến xác thân hoặc dục tính. Tình đời loại này, thường dẫn đến điểm thoát rất nhanh, nơi đọan cuối của đường hầm, nhiều tăm tối. Tình như thế, tuyệt nhiên là tình không mang dáng vẻ “hy sinh”, nào hết.

Tình “có hy sinh”, là mối tình được thể hiện bằng hành động, chứ không phải bằng lời. Tình đó là tình được dặn dò khuyên nhủ, như một lệnh truyền ngày Chúa chia tay giã từ. Lệnh truyền Chúa nơi tình có hy sinh vẫn được nhấn mạnh rất nhiều lần; vì Ngài vẫn thường bảo: “với dấu này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau.” (Yn 13: 35)

Làm người, ai cũng từng hơn một lần, đã biết yêu. Là môn đệ của Thầy, người người lại càng phải biết yêu thương nhau nồng nàn hơn nữa. Yêu, say đắm hơn bao giờ hết. Yêu, như Thầy vẫn thương chúng ta. Yêu thương nhau, là thứ tình thực tiễn được đánh giá qua cách thức ta đối xử với nhau. Xử sự với nhau, thật hiền hòa, thật tử tế. Ta đối xử với nhau thật kiên nhẫn, chịu đựng.

Tình ta thương nhau, là tình của những người đồ đệ theo chân Chúa. Đó là tình không kiêu sa. Cũng chẳng mượt mà, trau chuốt đánh bóng chính người mình. Tình ta thương nhau, như tình Chúa yêu ta là tình không dày đạp người khác. Dày vùi và đạp lên đó để mọi người nhìn mình cho rõ, như người hùng anh cần được yêu, phải được tôn kính. Tình ta thương nhau, là cùng vui với người vui. Cùng khóc với người đang khóc. Cùng đạt ước nguyện tạo niềm vui cho nhau. Tình ta thương nhau, là biết thương tiếc khóc than vì người khác đã mất mát, khổ đau.

Yêu thương nhau như tình Thầy yêu ta, là biết nói lên sự thật. Với lòng xót thương không bến bờ.Yêu thương nhau như Thầy yêu ta, là yêu thương đấy, vẫn yêu trong hy sinh tha thứ cho người mình thương yêu. Thương yêu rất mực tin tưởng vào người mình yêu thương. Yêu trong kiên định, cả vào những giây phút gặp nhiều khó khăn, trắc trở. Yêu, cả vào lúc thấy có khổ đau. Những lúc đang trầm mình dưới bùn đen, ở dưới thấp. Yêu như thế, mới giống tình Chúa yêu thương mọi người, không xét nét.

Tình có hy sinh là chấp nhận thua thiệt, để người kia được lợi. Yêu trong hy sinh, là biết tự kiềm chế mọi đam mê, dục vọng. Yêu rất hy sinh, là như thể đang chết dần chết mòn cho những cảm xúc vênh vang, kiêu hãnh. Yêu trong hy sinh, là chết đi cho chính mình. Chết cho con người mình. Chết, không phải về thể xác. Mà, chết cho nhu cầu xác thân, tạm bợ. Dù, nhu cầu ấy vẫn  chính đáng, vẫn rất cần.

Yêu trong hy sinh, càng không phải là yêu với mặc cảm tội lỗi. Mặc cảm thâm trầm, vì đã làm điều bất ưng và bất xứng, nay muốn tự hủy. Tự hủy, bằng tâm trạng âm thầm, khúm núm, cúi đầu sợ sệt. Yêu trong hy sinh, càng không phải là những khuyên răn, khích lệ bạn bè người thân hãy có cùng tâm trạng hủy diệt, vùi dập thân xác như mình. Nói khác đi, tình “có hy sinh”, là quà tặng Chúa ban nhưng-không gửi đến để người người chấp nhận một chọn lựa. Chấp nhận cơ hội vinh thăng cho tình yêu ta đang có, ngày càng tốt đẹp hơn.

Với dặn dò đàn con biết tỏ bày tình có hy sinh, Đức Chúa đã nêu gương để ta cũng có cử chỉ tự hạ làm người thấp hèn. Ngài tự giáng hạ vào chốn nghèo hèn, để Thiên Chúa là Cha sẽ nâng Ngài lên nơi vinh hiển. Noi gương Chúa, ta cũng tự hạ chính mình nhịn nhường mọi vinh hoa, phú quý sang qua người khác. Nhường nhau, để tạo cuộc sống mới dồi dào sức sống.

Tự hạ, nhưng không tự hủy. Tự hạ, không có nghĩa dứt bỏ phẩm giá con người rất vinh quang. Vinh quang, vì mang thân phận làm con dân Đức Chúa. Tự hạ, là tự giảm chính mình xuống mức thấp hơn người khác. Tự đặt mình ở mức thấp, để người khác được nổi bật hơn, hạnh phúc hơn mình. Thực tế, trong sống đời dân gian trầm hạ, cũng nên tìm ra phương cách hoặc động thái khả dĩ giúp ta cởi thoát những hành vi không mang đặc thù của người con yêu Đức Chúa. Cởi thoát, là tự mình không đòi ở chỗ cao, trên người khác. Hoặc, người khác phải cảm nhận công sức mình, đã bỏ ra. Cởi thoát, là không đòi cho được quyền ra lệnh người khác thực hành ý kiến của mình.

Tham dự tiệc thương yêu hôm nay, ta cầu mong Thầy Chí Thánh giúp ta yêu thương mọi người như một nhân vị, chứ không như sự vật. Cầu mong sao, ta tạo được cho mình và mọi người những tình tự “có hy sinh” đưa ta vào cuộc sống rất vui. Sống can đảm, để giải quyết mọi bất đồng trong tương quan với mọi người chung quanh.

Cầu và mong, tình của ta luôn là tình “có hy sinh” như Đức Chúa từng dạy bảo. Và cầu mong sao, trong yêu thương giao dịch, tình của ta với người, vẫn là tình hy sinh ở mức cao độ, như Thầy thương ta.

Và, cũng cầu lại cũng mong sao cho tình nhân-thế có con người vẫn luôn sống theo lời dặn-dò của Đấng Nhân-Hiền từng minh-chứng bằng cuộc sống của Ngài. Sống chung-tình, nhiều thương-mến, rất ngàn năm.

Lm Richard Leonard sj biên-soạn

Mai Tá lược dịch

MỘT BUỔI NÓI CHUYỆN LÝ THÚ CỦA CHA NGUYỄN NGỌC SƠN.

 MỘT BUỔI NÓI CHUYỆN LÝ THÚ CỦA CHA NGUYỄN NGỌC SƠN.

 Phan Sinh Trần

Hôm Chúa Nhật ngày 20 tháng ba , 2016 Nhóm Cầu Nguyện chúng tôi được nghe vị khách diễn giảng về Chúa Thánh Linh, tôi cho rằng bài chia xẻ này thuộc loại kinh điển, tiêu biểu cho  gốc cổ thụ lớn trong khu vườn Thánh Linh. Điều có vẻ nghịch lý một cách thích thú khi mà Ngài chưa từng một ngày ở trong phong trào Canh Tân Đặc Sủng Công Giáo, chưa từng tham dự các buổi tĩnh tâm Thánh Linh, nhưng lại rất uyên bác về nguyên lý của đời sống trong Chúa Thánh Thần, và hơn thế nữa, luôn sống trong sự sinh động, yêu thương, hòa hợp tuyệt diệu của Chúa Thánh Thần trong đời sống của một người con được Chúa chọn và yêu mến.

Cha bắt đầu buổi chia xẻ bằng sự khiêm nhường cầu nguyện khi Ngài chấp nhận để cho cả nhóm chúng tôi giơ tay cầu xin ơn Thánh Thần tuôn đổ ơn xuống trên Ngài và rồi Ngài cất tiếng lên chia xẻ cho chúng tôi trong ơn biện giảng hùng hồn Chúa ban.

Cha đưa ra một dụng cụ y khoa nhỏ để đo dung lượng thở cho mọi người thử, có anh thanh niên mạnh khỏe thì có thể thở được với dung lượng đo trên máy, tới 2200 ml, trong khi đó có bác cao niên ốm yếu, chỉ thở vào máy được có 770 ml… một sự so sánh rất cụ thể và minh họa về vấn đề, thiếu không khí trong lúc thở. Cha giải thích:

⦁ Não của chúng ta có 16 tỷ nơron thần kinh, cần tối thiểu 2.000 lít khí/ngày trong 10.000 lít tối thiểu của cơ thể. Chính bộ não ấy phát ra những lệnh cho tất cả các cơ quan hoạt động. Nếu chúng ta tăng cường dung tích khí thở mỗi lần lên 1.500ml hoặc 2.000ml, 2.500ml, bộ não chúng ta sẽ phát ra lệnh gấp đôi cho các bộ phận hoạt động; chúng ta sẽ học hành, làm việc hiệu quả và thông minh hơn nhiều. Thân thể chúng ta sẽ khoẻ mạnh, xinh đẹp nhờ các bộ phận hoạt động hài hoà…Chỉ cần 4 phút không có dưỡng khí là bộ não chúng ta sẽ chết, trong khi chúng ta có thể nhịn ăn được 30 ngày, nhịn uống được 3,4 ngày. Nói như thế để từ nay chúng ta chú ý đến việc thở hít khí tự nhiên hơn và tập thở để tăng cường chất lượng sống.

Sau đó, cha đề cập đến vấn đề sống đạo:

⦁ Vì sao các Bác, các Anh Chị có một đời sống Đạo rất chuyên cần, rất chăm chú đọc kinh mà vẫn thấy mình có một cái gì đó không được ổn, vẫn còn hoang mang cho tương lai cuộc đời, vẫn còn tìm đến cầu cơ, bói toán ?

Bởi vì, Tinh thần càng cần đến hơi thở Thần Khí hơn nữa, không biết tập thở Thần Khí thì linh hồn sẽ yếu rũ.

⦁ Vì sao chúng ta thực hành các việc đạo đức đều đặn đi lễ mỗi ngày mà vẫn không có được sự linh ứng của lời cầu nguyện?

⦁ Người tín hữu giáo dân Việt Nam rất tôn kính Mình Máu Thánh Chúa, 80% tín hữu giữ lễ Chúa Nhật và rước lễ trong những dịp lễ trọng, khoảng 15-20% đi lễ thường ngày. Nhưng chúng ta thấy rằng dù đi lễ và rước Mình Máu Thánh Chúa thường xuyên nhưng chúng ta lại chưa phát huy được sự sống kỳ diệu phi thường của Thiên Chúa trong con người của mình. Cuộc sống của người tín hữu chưa toát ra được niềm vui, bình an, hạnh phúc, ơn cứu độ cho mình cũng như cho người khác. Phép lạ trong đời sống người tín hữu là những gì hoạ hiếm chứ không phải là những chuyện thường ngày mà chúng ta phải thực hiện để mang lại ơn cứu độ cho những người nghèo khổ, tật bệnh, bị ma quỷ kiềm chế có mặt ở khắp nơi trên đất nước. (⦁ nguồn: hanhkhatkito.org)

Trong không khí im lặng chú ý của phòng họp, khi mà mọi người đều thấm thía về các yếu đuối, Cha tiếp tục đặt ra các vấn nạn của Ki tô hữu:

Vì sao chúng ta không có tâm tình biết ơn, không biết ơn khi ta ăn hạt cơm nóng sốt mà người nông dân đổ mồ hôi, công sức, dãi dầu mưa nắng, có khi còn phải đổ máu, hy sinh thân mình vì cày lên bom mìn sót lại từ thời chiến tranh … Còn trong gia đình mình thí sao,   Chúng ta có khi nào biết ơn người vợ đã mấy chục năm qua rửa hàng núi chén dĩa ngày qua tháng nọ dọn nhà sạch sẽ cho ta được thoải mái, … Trong đất nước thì mình ít khi nhớ ơn bao tiền nhân, chiến sĩ vô danh, đã tận tụy khai phá, đã hy sinh xương máu cho ta có được mảnh đất này để sinh sống.

Chúng ta thử đặt tình trạng mình như một người mù trong vài phút rờ rẫm, đi từ đây ra cửa thôi, sẽ thấy khổ sở thế nào, đụng chạm lủng củng ra sao, có khi còn vấp té nữa. Trong khi đó chúng ta được sáng mắt, được Chúa ban cho không khí để thở, ban cho cặp mắt để ngắm nhìn, … có bao giờ chúng ta hít sâu vào trong tâm tình biết ơn, vì Chúa ban cho mình không khí và biết bao nhiêu tạo vật, thiên nhiên mỹ miều, hữu dụng, xinh đẹp chung quanh ta.

Sau đó, Cha tóm tắt về căn nguyên của một đời sống Ki tô hữu, phong phú và tươi mát bao gồm trong hai yếu tố chính, kết hợp với Chúa Giê Su và sống trong Thần Khí của Thiên Chúa.

⦁ Một là kết hợp mật thiết với Chúa Giê Su như cành liền với cây trong cầu nguyện, đơn sơ thủ thỉ với Chúa một câu trong tâm tình yêu mến, hướng về Chúa ở mọi lúc, mọi nơi.

Cây nho, chính là Ta,các ngươi là nhánh. Ai lưu lại trong Ta và Ta trong kẻ ấy, thì nó sinh nhiều quả,vì ngoài Ta, các ngươi không thể làm gì.(Gioan 15:5)

⦁ Hai là, xin Chúa Giê Su thực hiện lời hứa “ban Thánh Thần” và xin cho bằng được ơn Chúa Thánh Thần, được tiếp nhận Thần Khí Chúa sống động trong mọi sinh hoạt của đời sống mình, cách xin được Chúa nhận lời là khi ta dám từ bỏ các quyến rũ của trần gian, ma quỉ và quyết tâm thuộc về Chúa một cách trọn vẹn, chấp nhận đi theo con đường do Chúa hoạch định.

Từ bỏ mình rất khó, từ bỏ cái tôi càng không dễ, tuy nhiên đã có nhiều người giống như ông Gia Kêu và Mát thêu, hành nghề thu thuế đã làm được, giống như cô Ma đa len na vốn sống buông thả nhưng sau, đã làm được, cũng như nhiều người khác đã làm được. Chúng ta, là Ki tô hữu có thể từ bỏ “cái Tôi” một khi ta dám chấp nhận sự dạy dỗ của Lời Chúa và kết hiệp với Chúa, được Chúa giúp sức cho.

Tập hít thở trong Thần khí Chúa:

⦁ Có lẽ chúng ta phải nhìn lại thái độ của chúng ta đối với Thần Khí, chúng ta cần phải gắn bó nhiều hơn với Chúa Thánh Thần và tập thở từng giây phút Thần Khí mà Chúa Giêsu thổi trên chúng ta khi Người hiện ra với chúng ta và nói rằng: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”.

⦁ Mỗi lần chúng ta nhớ đến Chúa Thánh Thần và cầu xin Ngài là mỗi lần chúng ta thở Thần Khí. Một ngày chúng ta dành chừng 5 phút, ngồi ở bàn làm việc hay nằm trên giường trước khi ngủ, chúng ta nói thầm với Chúa Giêsu khi chúng ta hít khí vào: “Lạy Chúa, xin ban Thần Khí cho con”. Thần khí là sức mạnh, niềm vui, tình yêu, bình an, ân sủng của Người được đưa vào trong ta để biến đổi ta. Rồi khi chúng ta thở ra bằng miệng từ từ, thân xác ta thở ra thán khí thì tinh thần cũng thở ra những uế khí, tà khí ra khỏi con người mình. Đó là: buồn phiền, chán nản, lo lắng, sợ hãi, thất vọng, ghen tương… Đang khi đẩy chúng ra khỏi tâm trí, chúng ta cũng nói thầm với Chúa Giêsu: “Lạy Chúa, xin xua đuổi tà khí ra khỏi lòng con”.

CHA SON

Đời sống được Chúa Thánh Thần dẫn dắt thì rất tuyệt vời, cho dù trong đời ta đi qua bao nhiêu truân chuyên hay thác ghềnh khó khăn. Tôi xin được trích từ trang mạng công giáo hiện đang có nhiều người đọc nhất ở Việt Nam, có tên là “hành khất  Ki Tô” để minh họa các kinh nghiệm sống động này của Cha Nguyễn ngọc Sơn:

Chúa mời gọi ta quên đi quá khứ tội lỗi của mình hay của người khác, để thông hiệp với Đức Kitô và phát huy những ân sủng lạ lùng của cuộc đời làm con Chúa Cha và cũng là người tình, là hiền thê của Đức Kitô

⦁ … Anh chị em cho phép tôi được chia sẻ một kinh nghiệm về việc Chúa Kitô chữa lành bệnh nhân để xác tín về đời sống siêu việt của con cái Chúa. Sáng Chúa Nhật hằng tuần tôi thường giúp các người bệnh từ nhiều nơi tìm đến. Hôm đó, có người con trai dẫn bà mẹ chừng 65 tuổi đến xin tôi cầu nguyện chữa lành vì bà bị đau toàn thân, nhất là ở tim gan ruột. Các bác sĩ ở Canada khám không ra bệnh sau khi xét nghiệm đủ thứ. Con cháu đưa sang Hoa Kỳ chữa cũng không khỏi nên đưa về Việt Nam. Nghe tiến trình chữa bệnh như thế nên tôi chỉ còn biết đặt tay trên đầu bà, đọc 4 kinh tôi thuộc là Kinh Xin Ơn Đức Chúa Thánh Thần, Lạy Cha, Kính Mừng, Sáng Danh, rồi tiễn bà về. Tuần sau, bà đến đưa tôi 1 vòng đeo tay bằng vàng, 1 răng nanh heo rừng cũng mạ vàng để đeo ở cổ và nói: “Thưa cha, hôm nay con đã khoẻ mạnh và hoàn toàn bình phục nên đến cảm ơn  cha và thú thực với cha về bệnh tật của con. Con là 1 bà già sống gần nhà thờ nên sáng nào cũng tản bộ đi dự lễ. Vì già yếu không nín được đường tiểu nên con thường chui vào bụi cây bên đường. Mọi khi không xảy ra chuyện gì, nhưng một hôm con thấy đôi cánh tay đen đủi ôm chân con. Con rất hoảng sợ và phát bệnh từ đó. Sau khi các bác sĩ chữa không khỏi, gia đình đưa con đến nhiều thầy pháp. Họ cho con 1 lá bùa và con đã bỏ chung với áo Đức Bà đeo ở cổ vì con là đạo gốc! Còn chiếc lắc vàng đeo tay và răng nanh đeo cổ đã được ếm bùa Lỗ Ban. Hôm nay con giao lại tất cả cho cha để làm kỷ niệm”. ( nguồn: hanhkhatkito.org)

Sự việc khiến tôi từ đó hiểu được rằng Chúa Giêsu vẫn còn tiếp tục chữa lành cho con người trong thời đại hôm nay.

⦁ Niềm vui và hạnh phúc đời ta chính là Đức Giêsu. Người sẽ chuyển thông cho chúng ta sự sống vĩnh hằng, quyền năng vô biên, hạnh phúc vô tận để ta cảm nghiệm được mình được là con cái của Thiên Chúa giống như Người. Tôi đã cảm nhận được niềm vui đó cách đây 2 tuần khi sang giảng tĩnh tâm cho cộng đồng người Việt thuộc Nhà thờ Thánh Polycarp, đường Chapman, California, Hoa Kỳ. Hôm đó có Ông Nguyễn Kỳ đến cám ơn vì Chúa đã chữa cho Ông khỏi bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Cách đây 3 tháng, bác sĩ cho biết ông bị ung thư và nói không thể sống quá 6 tháng. Bây giờ Chúa cho ông khỏi hẳn, không còn thấy triệu chứng của ung thư. (nguồn:hanhkhatkito.org)

Thiên Chúa chúng ta sống động vô cùng, giàu sang vô tận, đẹp đẽ vô song. Nếu chúng ta gắn bó với Chúa thì chúng ta cũng sẽ tốt đẹp, mạnh mẽ, giàu sang như thế

⦁ Tôi xin chia sẻ một kinh nghiệm riêng tư: Trong dịp cứu trợ đồng bào lũ lụt năm 2010, người ta yêu cầu Caritas Việt Nam hãy làm dự án xin các tổ chức nước ngoài yểm trợ. Tôi nghĩ rằng: đất nước chúng ta có nhiều người đóng góp rộng rãi và rất quảng đại… Chúng tôi cầu nguyện, và chúng tôi nhận được số thuốc trị giá khoảng 2 tỷ đồng của Công ty Rohto Mentholatum. Chị giám đốc thương mại của công ty này không có đạo, đến gặp chúng tôi và cho chúng tôi rất nhiều thuốc cần cho đồng bào lũ lụt dù chúng tôi chưa làm một đơn xin nào. Ngoài ra, bao nhiêu nhà hảo tâm khác đã góp tiền và vật dụng cho đồng bào nghèo khổ. Tôi thầm cảm tạ Chúa và cảm nhận được quyền năng vô biên của Ngài.

(nguồn: hanhkhatkito.org)

Sự kiện này nhắc nhở tôi quyền năng chữa lành kỳ diệu của Chúa Giêsu trong một số trường hợp khuyết tật vì lý do tâm linh

⦁ Tôi xin chia sẻ 1 trường hợp cụ thể. Cách đây 3 tuần một phụ nữ trung niên dẫn theo người con gái tên Hương, đang có thai hơn 7 tháng, đến xin tôi chữa cho con bà bị câm và điếc trên 2 tuần qua. Đi theo có cả người chồng, anh trai, cô và cậu của cô gái. Cô gái tỏ vẻ rất sợ hãi không muốn vào nhà nguyện, nên tôi đành tiếp tất cả trong phòng làm việc. Người mẹ cho tôi biết tình trạng của con, chạy thầy, chạy thuốc cũng đã nhiều mà bệnh không khỏi. Vì cô gái không nghe được nên tôi giải thích cho tất cả hiểu về sức khoẻ thể chất và tinh thần. Cô Hương cứ nhắm nghiền đôi mắt như ngủ.

Sau đó tôi mời mọi người có mặt vào nhà nguyện để ban bí tích Xức dầu Bệnh nhân và Xức dầu Trừ tà. Trong khi cử hành nghi thức, cô Hương không mở mắt và tỏ ra không biết gì. Nhưng cuối cùng, trước khi cho bệnh nhân rước lễ, tôi hỏi cô Hương; “Con có muốn rước Chúa không?”. Cô trả lời rõ ràng: “Con muốn”. Bà mẹ đứng bên cạnh buột miệng kêu lớn: “Con tôi nghe và nói được rồi!”..

(nguồn: hanhkhatkito.org)

CHUA

Cảm tạ Chúa, vì cho dù ở đâu, thời nào thì Thần Khí oai quyền của Thánh Phao lô, Thần Khí thiết tha,hy sinh của Thánh Tê pha nô (Stephano), Thần Khí chữa lành và an ủi ở trong Thánh An Tôn, thánh Mác ti nô xưa và Thần Khí tuôn đổ trong Cha Nguyễn ngọc Sơn hôm nay,… và rất có thể là ngay cả trong bạn và trong tôi nữa ở thời đại hôm nay, vẫn đang có một cách dồi dào từ một nguồn duy nhất.Tôi xin mượn lời chia xẻ của Ngài để kết thúc bài làm chứng này.

“Lời nói tự nhiên chỉ mang lại niềm vui bình thường, nhưng khi ta thở được Thần Khí của Chúa Giêsu thì những lời nói của chúng ta có thể soi sáng cho tâm trí mù tối của con người, vực họ dậy khỏi tình trạng tê liệt, bất động, thậm chí chết chóc, của tâm hồn. Hơn nữa, Chúa Giêsu sẵn sàng ban cả những ơn chữa bệnh thể xác cho tất cả những ai muốn làm tông đồ, làm chứng nhân cho Người. Cầu chúc anh chị em trở thành người môn đệ được Chúa Giêsu yêu mến vì được tràn đầy Thánh Thần tình yêu của Đấng Phục Sinh”

Phan Sinh Trần

Hành xác ở lễ hội đền Hùng: Lạc con, mất tài sản

Hành xác ở lễ hội đền Hùng: Lạc con, mất tài sản
Nguoi-viet.com

PHÚ THỌ (NV) – Gần 2 triệu người cùng đổ dồn về đền Hùng cùng lúc khiến nơi đây trở nên hỗn loạn, nhiều gia đình thất lạc con nhỏ, ngất xỉu vì chen lấn, mất tài sản do bị móc túi.

Dòng người chật kín đổ về lễ hội đền Hùng. (Hình: Thanh Niên)

Theo tin Thanh Niên, do Lễ hội đền Hùng năm nay diễn ra vào cuối tuần nên hơn 2 triệu người cùng lúc đỗ về núi Nghĩa Lĩnh để “làm lễ tạ ơn các vua Hùng.”

Mặc dù lực lượng an ninh ưu tiên cho gia đình có trẻ nhỏ lên phía trên trước. Tuy nhiên do biển người chen chân chật kín sân trước lối lên núi, bậc thang lên núi lại quá nhỏ, ùn tắc dẫn đến chen lấn, xô đẩy, gây nên hỗn loạn.

Nói với phóng viên Thanh Niên đang có mặt tại lễ hội đền Hùng sáng 16 tháng 4, chị Hà Mai Hoa, ở Hà Nội cho hay: Sáng sớm chị cùng gia đình đi Phú Thọ để dự lễ hội. Lúc đi thuận lợi, tuy nhiên khi cả nhà vừa đến nơi để đi bộ lên núi Nghĩa Lĩnh thì chị lạc mất con trai 5 tuổi và hiện đang nhờ cảnh sát gọi loa, nhờ giữ cháu và đưa cháu về khu nghỉ dưới chân núi.

Nhiều em nhỏ thất lạc bố mẹ phải nhờ an ninh đưa xuống chân núi chờ người nhà tới đón. (Hình: Thanh Niên)

Ông Hà Kế San, phó chủ tịch tỉnh Phú Thọ, trưởng ban tổ chức Lễ Hội Đền Hùng xác nhận, dù ban tổ chức đã tung toàn bộ lực lượng để bảo vệ khu vực diễn ra lễ hội, nhưng lượng người quá đông khiến nơi này bỗng trở nên hỗn loạn. Tình trạng móc túi, rơi đồ đã liên tục diễn ra, có những gia đình lạc mất con đã đến nhờ ban tổ chức phát loa gọi nhờ người giúp đỡ tìm kiếm.

“Nhiều người vì nóng lòng muốn lên đền Thượng sớm nên đã chen lấn, xô đẩy nhau để được lên trước. Các đám đông liên tục giằng kéo khiến các em nhỏ bị lạc khỏi bố mẹ. Thậm chí nhiều người đã bị ngất xỉu do bị xô ép, không đủ sức chen chân lên đền Thượng,” ông San nói. (Tr.N)

Sáng mắt trên lễ đài chiến thắng

Sáng mắt trên lễ đài chiến thắng

Daniel Burstein * Trần Quốc Việt (Danlambao) dịch

Poitiers, Pháp, 28 tháng Tám, 1980

Tháng Tám vừa qua vào cao điểm mùa gió mùa ở Biển Đông, một chiếc thuyền bị rò rỉ nước trôi giạt vào bờ biển Indonesia. 64 người tỵ nạn Việt Nam cả người ướt đẫm, đói, và sợ hãi cố tiến vào bờ.

Sự kiện này lẽ ra hầu như bị lãng quên trong toàn bộ lịch sử đau khổ mà thuyền nhân Việt Nam chịu đựng, ngoại trừ một điều: Trong 64 người sống sót ấy có Trương Như Tảng, nhà cách mạng Việt Nam cao cấp nhất đào thoát sang Phương Tây.

Trong suốt sáu tháng kế tiếp ở trại tỵ nạn trên đảo Anambas, lý lịch của Tảng là người thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và là bộ trưởng tư pháp trong Chính phủ Cách mạng Lâm thời vẫn còn là một bí mật mà chỉ vợ ông biết. Bí mật ấy vẫn còn giấu kín ngay cả sau khi Tảng được phép định cư ở Pháp, nơi một ủy ban người Việt lo nhà cho ông ở tại Poitiers và việc làm công nhân cho ông ở nhà máy lốp xe Michelin.

Tuy nhiên, vào tháng Sáu, Tảng đã trút bỏ vỏ bọc người tỵ nạn bình thường và thông báo lý lịch ông tại cuộc họp báo Paris.

“Là người đã dành trọn cuộc đời trưởng thành của mình cho sự nghiệp quốc gia Việt Nam,” ông tuyên bố, “tôi phải nói cho quý vị biết rằng công cuộc giải phóng ở Việt Nam đã bị phản bội.”

Để trốn thoát Tảng đã phải trải qua bao giông tố ngoài biển khơi, chạm trán với đội tuần tra an ninh Việt Nam, và thậm chí cả cuộc tấn công của hải tặc. Trải qua tất cả những khó khăn này, ông vẫn mơ về ngày ông có thể công khai nói thật ra những điều ông nghĩ ở Paris, và kêu gọi tất cả những người Việt Nam trong và ngoài nước hãy cùng nhau đấu tranh chống lại chế độ mới.

Cách đây vài tuần, trong cuộc phỏng vấn chứa đựng nhiều thông tin và chi tiết nhất từ trước đến nay, Trương Như Tảng cho phóng viên này biết sự đấu tranh có tổ chức đang bắt đầu thành hình ở Việt Nam. Đó không chỉ là kháng chiến rải rác của các lực lượng cũ, cánh hữu, thân Mỹ mà đã và đang tiếp tục từ năm 1975. Quan trọng hơn là, Tảng nói, nhiều người trước kia thuộc về “lực lượng thứ ba” và ngay cả những đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam bất đồng chính kiến đang tự tổ chức thành những ổ kháng chiến.

Thừa nhận Lê Duẩn (tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam) và những người khác trong giới lãnh đạo Hà Nội vẫn kiểm soát chặt chẽ đất nước, Tảng tóm tắt một số nhân tố đang phá hoại sự ổn định của chính quyền của họ. Ông nhắc đến sự thiếu hụt lương thực nghiêm trọng, đàn áp chính trị, mà ông nói “thậm chí còn tệ hơn thời chế độ Thiệu ở Sài Gòn,” thương vong nặng nề trên chiến trường ở Cambodia, Liên Xô không cung cấp viện trợ kinh tế đầy đủ như đã hứa, và sự rạn nứt trong giới lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt về chính sách đối ngoại thân Liên Xô và lập trường thù địch đối với Trung Quốc của Việt Nam.

“Nhân dân Việt Nam không muốn đánh Trung Quốc,” Tảng khẳng định. “Cho dù bao nhiều lần đi nữa Lê Duẩn nói với nhân dân rằng Trung Quốc chịu trách nhiệm về những vấn đề kinh tế của đất nước, nhưng nhân dân thấy rất rõ ràng Hà Nội phải chịu trách nhiệm chuyện ấy.”

Trong ánh sáng lờ mờ trong căn nhà hầu như chẳng bày biện gì ở Poitiers, ông có vẻ như chẳng màng đến cái giá riêng tư ông phải trả để được nói thẳng công khai. Khác với đa số những người tỵ nạn Việt Nam trốn thoát khỏi cảnh đói kém và đàn áp sắc tộc để có cuộc sống tốt hơn ở Phương Tây, ông đã đổi biệt thự sang trọng có người giúp việc, xe hơi riêng, khẩu phần thịt và đường cao hơn bình thường để lấy sự tồn tại nghèo nàn và bấp bênh của một công nhân di dân ở Pháp.

“Tôi không thể im lặng mãi,” ông nói về lý do ông trốn thoát. “Tôi không thể nào đứng nhìn một cách thụ động để thấy mọi thứ mà nhân dân tôi đã đấu tranh suốt 20 năm trời bị hủy diệt.”

Cách đây 20 năm Trương Như Tảng đã quay lưng lại với nền giáo dục từ Sài Gòn giàu có và học vấn đại học từ Paris của mình để gia nhập cách mạng Việt Nam. Ông là một trong 60 người Miền Nam tham gia thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam vào năm 1960.

Chẳng bao lâu sau đó bị tù vì những hoạt động cách mạng, ông thoát khỏi có lẽ cái chết dưới tay nhà cầm quyền Sài Gòn khi ông được trao đổi lấy ba tù binh Mỹ vào năm 1968. Rồi ông biến mất vào những căn cứ bưng biền của Việt Cộng.

Khi chính phủ cách mạnh lâm thời được thành lập vào năm sau, Tảng được bổ nhiệm làm bộ trưởng tư pháp. Mặc dù các đội tìm-và-diệt của Mỹ thường đến gần công sự trong rừng của Tảng trong vòng 100 mét, nhưng trong suốt thời gian chiến tranh ông tập trung thảo ra những kế hoạch để chuẩn bị cho bộ tư pháp hoạt động ở Miền Nam Việt Nam mới sau chiến thắng của Chính phủ Cách mạng Lâm thời.

Chiến thắng đến, nhưng Tảng không bao giờ có cơ hội thực hiện những kế hoạch của mình. Khi duyệt binh từ lễ đài trong buổi lễ chào mừng chiến thắng ở thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn cũ) vào tháng Năm 1975, ông bị cú sốc lớn đầu tiên: Lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam và Chính phủ Lâm thời không nhìn thấy đâu cả. Khi ông hỏi tướng Văn Tiến Dũng (bộ trưởng quốc phòng Việt Nam hiện nay) về lý do tại sao chỉ có cờ Miền Bắc Việt Nam tung bay, tướng này đã trả lời ông một cách khinh thường, “Quân đội đã được thống nhất.”

Giai đoạn kế tiếp là giai đoạn vỡ mộng đối với Tảng. Ông cố gắng tập hợp ban chuyên gia pháp lý cho bộ tư pháp, nhưng những ai mà các cán bộ cộng sản không thích đều lặng lẽ bị đưa đến các trại “cải tạo”. Những người dân thường đòi biết ông, với tư cách bộ trưởng tư pháp, làm được gì cho bạn bè và người thân của họ bị tịch thu tài sản hay cho những người bị buộc phải dọn lên các vùng kinh tế mới.

“Tôi chứng kiến một chế độ độc tài phát-xít đang được xây dựng lên,” Tảng buồn bã nói, “và mặc dù tôi đã tranh cãi, nhưng tôi chẳng thể làm được gì. Các mệnh lệnh đều xuất phát từ Hà Nội, và quân đội và công an mật luôn luôn sẵn sàng ủng hộ họ.”

Vào năm 1976 Việt Nam được thống nhất theo cách ông mô tả là “bạo lực và trả thù.” Hồ Chí Minh thường tuyên bố khi thống nhất đến quá trình thống nhất nên chậm và theo từng bước một. Nhưng vào năm 1976, vấn đề thống nhất bị áp đặt lên Miền Nam, và họ không có cơ hội phản đối điều ấy.

“Lê Duẩn ra sức củng cố quyền lực này rất nhanh chóng,” Tảng tin.“Ông ta không thể nào để Miền Nam phát triển thành nơi cuối cùng phản đối cương quyết các chính sách của ông.”

Trong số 24 thành viên của Chính phủ Lâm thời vào thời điểm hiệp định hòa bình Paris được ký vào năm 1973, chỉ có ba thành viên được trao cho những chức vụ trong chính phủ thống nhất sau năm 1976. Tảng nói ngoại trừ một vài người khác là các viên chức quân đội, còn tất cả những người còn lại của Chính phủ Lâm thời cũ đều sống trong cảnh hoàn toàn ẩn dật và trong lòng họ rất ghê tởm những gì đã diễn ra.

Nhằm cố gắng giữ ông trong đoàn thể, sau thống nhất giới lãnh đạo Hà Nội ban cho ông chức vụ nhỏ trong bộ lương thực. Ông từ chối, không muốn tiếp tục đồng lõa với chính quyền ông chống đối, ông cũng không muốn bị giám sát thường xuyên ở Hà Nội. Khi ông cuối cùng chấp nhận công việc làm giám đốc công ty cao su vào năm 1978, lý do ông làm thế là để tạo vỏ bọc nhằm tổ chức kế hoạch đào thoát.

Trong sáu tháng ở trại tỵ nạn ông có nhiều thời gian suy nghĩ về chuyện tại sao cách mạng Việt Nam không thành công. Bây giờ ông tố cáo giới lãnh đạo hiện nay đã từ bỏ định hướng về thống nhất dân tộc và phi liên kết quốc tế được Hồ Chí Minh đề ra. Từ ngữ mị dân Mác-xít, ông nói, chỉ là ngôn ngữ áp bức mới ở Việt Nam.

“Ở Việt Nam hiện nay không có chuyên chính vô sản,” ông nói. “Chỉ có điều mà chúng tôi gọi bằng tiếng Việt là ‘gia đình trị’-tức độc tài của các dòng họ. Trong trường hợp này đó là các gia đình của Lê Duẩn và Lê Đức Thọ (trưởng ban tổ chức Đảng) kiểm soát tất cả mọi thứ.”

Để chứng minh điều này là đúng, Tảng kể ra danh sách gồm các con trai, anh em, anh em vợ của Lê Duẩn và Lê Đức Thọ đang giữ những chức vụ chủ chốt từ đứng đầu công an mật tới bí thư chính ủy lực lượng không quân.

Tiếng Pháp rất giỏi của ông hay cách nói năng nhẹ nhàng của ông vẫn không có thể che giấu sự cay đắng trong giọng nói khi Tảng nói. Nhưng bất chấp những từng trải của mình, lý tưởng của ông vẫn còn nguyên vẹn. Ông nhất định không từ bỏ giấc mơ của mình về xã hội công bằng và dân chủ ở Việt Nam.

Mặc dù ông ban đầu dự định hoạt động chính trị từ từ trong lúc ông thích nghi với cuộc sống mới ở Paris, nhưng bây giờ ông thấy mình thường xuyên đến Paris để tham gia vào các nỗ lực nhằm củng cố phong trào kháng chiến Việt Nam và để hình thành cầu nối với các lực lượng kháng chiến Lào và Cambodia. Ông đã tiếp xúc với bạn học cũ vào thời trung học – hoàng thân Norodom Sihanouk, cựu quốc trưởng Cambodia – và hai người đã trao đổi những lời hứa đoàn kết.

Tảng không mất đi sự mỉa mai khi ông nói về mặt trận chung của nhân dân Việt Nam, Cambodia, và Lào chống lại những kẻ mà ông gọi là “kẻ thù chung”: giới lãnh đạo Hà Nội và những kẻ ủng hộ Liên Xô của họ. Ông ý thức rằng điều ông đang đề xuất thể hiện sự bắt đầu lại từ đầu hội nghị thượng đỉnh của nhân dân Đông Dương vào năm 1970, nơi các nhà lãnh đạo Mặt trận Giải phóng Dân tộc Miền Nam Việt Nam, Miền Bắc Việt Nam, Cambodia, và Lào đã gặp nhau ở Trung Quốc để thành lập liên minh chung chống lại Hoa Kỳ và chế độ Sài Gòn.

Trên đất Pháp ngoại quốc, Trương Như Tảng lại bắt đầu lại từ đầu, làm những gì ông đã làm cách đây 20 năm ở Sài Gòn – đặt nền tảng cho cuộc cách mạng Việt Nam.

Daniel Burstein

Nguồn:

Dịch từ báo Christian Science Monitor số ra ngày 28/8/1980. Tựa đề của người dịch. Tựa đề tiếng Anh là “A revolution who fled the revolution”.

http://www.csmonitor.com/1980/0828/082850.html

Bản tiếng Việt:

Trần Quốc Việt

danlambaovn.blogspot.com

Trở về Hòn Ngọc Viễn Đông hay xóa bỏ văn hóa?

Trở về Hòn Ngọc Viễn Đông hay xóa bỏ văn hóa?

Cát Linh, phóng viên RFA
2016-04-16

thuvienhcm-622.jpg

Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh

Courtesy thuvientphcm.gov.vn

Your browser does not support the audio element.

Khi việc đề nghị đốn hạ 300 cây cổ thụ trăm tuổi trên đường Tôn Đức Thắng chưa kịp lắng xuống thì những ngày qua, thông tin về một phần của Thư viện Khoa học thành phố sẽ bị “xẻ đất” để giao cho một doanh nghiệp tư nhân nhằm mục đích xây cao ốc tiếp tục gây hoang mang cho người dân trong nước.

Đặc biệt, dư luận có sự liên kết giữa hai sự việc với câu phát biểu của ông Đinh La Thăng về việc “mong TP Hồ Chí Minh trở về vị trí số 1 Đông Nam Á” và nhiều người tự hỏi: phải chăng xóa bỏ những di tích văn hóa lịch sử là một trong những cách trở về với tên gọi Hòn Ngọc Viễn Đông?

Xóa bỏ văn hóa đọc?

Tuy chỉ mới là dự định, và chưa có quyết định chính thức từ Sở qui hoạch kiến trúc và UBND TP, nhưng thông tin việc xây cao ốc trong khuôn viên của Thư viện Khoa học Thành phố đã gây nhiều bức xúc cho những người quan tâm đến việc bảo tồn di sản văn hóa, lịch sử của đất nước. Không những thế, các trang mạng xã hội đồng loạt lên tiếng cho rằng việc xẻ đất để xây cao ốc trong khuôn viên thư viện là một việc làm đi ngược lại với việc bảo tồn lịch sử dân tộc, và xem thường văn hóa của một đất nước.

Một tuyên ngôn trắng trợn, xóa bỏ văn hóa rồi còn gì. Chỉ có thể nói được thế thôi. Nếu quả thật bán đi để tiêu, mà sách vở thì cho, nhét vào chỗ khác thì là một việc xóa bỏ văn hóa. Ngạc nhiên và quá đau xót.
-GS Nguyễn Huệ Chi

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, nhà nghiên cứu văn học Việt Nam cổ, trung và cận đại, nguyên trưởng phòng Văn học Việt Nam cổ cận đại khi nghe thông tin này đã thốt lên rằng:

“Thế thì đau đớn quá. Nghĩa là thời buổi này người ta không cần văn hóa và khoa học nữa rồi. Một tuyên ngôn trắng trợn, xóa bỏ văn hóa rồi còn gì. Chỉ có thể nói được thế thôi. Nếu quả thật bán đi để tiêu, mà sách vở thì cho, nhét vào chỗ khác thì là một việc xóa bỏ văn hóa. Ngạc nhiên và quá đau xót.”

Trong khi giáo sư Nguyễn Huệ Chi cho rằng đó là một xóa bỏ văn hóa, thì Giáo sư Ngô Đức Thịnh, nguyên Viện trưởng viện nghiên cứu văn hóa VN bày tỏ sự lo ngại trước một văn hóa đọc đang ngày càng đi xuống của xã hội Việt Nam. Tuy chưa được nghe thông tin chính thức, nhưng giáo sư Ngô Đức Thịnh cho biết ông sẽ không đồng tình với kế hoạch này:

“Nếu việc này có thật thì tôi không đồng ý, tôi phản đối chủ trương đó. Thư viện Tổng hợp cũng không rộng rãi gì, mà bây giờ văn hóa đọc của Việt Nam đang đi xuống. Cho nên cái việc lấy thư viện để làm cao ốc, chỗ ở, hay kinh doanh thì tôi thấy không hợp lý.”

Nói thêm về điều mà ông gọi là văn hóa đọc, Giáo sư Ngô Đức Thịnh cho biết rằng “phần đông sinh viên Việt Nam ngày nay rất lười đọc.”

“Tất nhiên là bây giờ thì có internet, có đủ thứ, nhưng nói gì thì nói, một cuốn sách khi mới ra, cầm nó trong tay, có cảm giác rất thích thú, nhất là mùi thơm của giấy. Không phải là bây giờ mọi người nói internet thì có thể thay được tất cả. Không thay được hết đâu. Thế thì có thể không chủ quan lắm, tôi cho rằng văn hóa đọc của Việt Nam đang đi xuống.”

Yếu tố làm nên Hòn Ngọc Viễn Đông

Tân bí thư thành ủy Đinh La Thăng nhấn mạnh bên hành lang Quốc hội vào ngày 19 tháng 2 vừa qua, đó là ông mong muốn TPHCM phải giành lại vị trí số 1 Đông Nam Á.

cay-xanh-sg-622.jpg

Hơn 20 người dân tại Sài Gòn hôm 26/3 tập trung tại khu vực đường Tôn Đức Thắng để phản đối việc chặt một số cây cổ thụ tại đó để triển khai dự án giao thông.

Hơn một tháng sau đó, ngày 23 tháng 3, cơ quan quản lý đường sắt đô thị TPHCM ra thông báo sẽ đốn hạ 300 cây cổ thụ trên đường Tôn đức Thắng để phục vụ cho dự án giao thông gồm tuyến tàu điện ngầm, cầu Thủ Thiêm 2, nhà ga Ba Son.

Và như vừa nêu là thông tin về một dự án cao ốc 20 tầng, cao khoảng 80m sẽ được xây trong khuôn viên Thư viện KHTH TP với chức năng làm văn phòng, khách sạn.

Trao đổi với chúng tôi, Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã nói rằng, khi người Pháp xây dựng Sài Gòn, thì đã đi trước tất cả, từ Hồng Kong cho đến Singapore còn thua kém nhiều. Để có được Hòn Ngọc Viễn Đông của Đông Nam Á là Việt Nam lúc bấy giờ, họ đã xây dựng những kiến trúc cũng như quy hoạch những con đường trong đó nhiều cây xanh:

“Tôi nghĩ là kiến trúc lớn như vậy thì không phải chỉ có toà nhà, mà là cả một khuôn viên. Bất cứ một công trình nào xây thì cũng sẽ phá tổng quan của kiến trúc đó. Tôi nghĩ là ý thức của vấn đề, về văn hóa cũng như lịch sử rất kém. Phải tôn trọng tất cả những kiến trúc có giá trị vừa văn hóa vừa lịch sử. Thư viện đó mà không tôn trọng thì vấn đề học tập sẽ rất kém, không phát triển được.”

Tôi nghĩ là kiến trúc lớn như vậy thì không phải chỉ có toà nhà, mà là cả một khuôn viên. Bất cứ một công trình nào xây thì cũng sẽ phá tổng quan của kiến trúc đó. Tôi nghĩ là ý thức của vấn đề, về văn hóa cũng như lịch sử rất kém.
-TS Nguyễn Nhã

Thế nhưng, giờ đây, theo Tiến sĩ Nguyễn Nhã, nếu nói đến từ Hòn Ngọc Viễn Đông hay vị trí số 1 Đông Nam Á thì đó là cái thưở rất xưa rồi.

Nhắc đến câu nói của ông Đinh La Thăng, Giáo sư Ngô Đức Thịnh nhấn mạnh rằng muốn Sài Gòn quay trở lại là Hòn Ngọc Viễn Đông, nhưng một trong những yếu tố làm nên Hòn Ngọc Viễn Đông chính là hàng cây xanh, là thư viện. Và ông đặt câu hỏi rằng: “như thế, có phải đi đang ngược lại với lời mình nói hay không?”

Tiến sĩ Nguyễn Nhã cũng chia sẻ rằng, những vết tích còn lại ở Sài Gòn và cả Hà Nội, như hàng cây xanh, thư viện chính là những hình ảnh làm nên bản sắc riêng của hai thành phố này. Theo ông, việc không gìn giữ được những yếu tố lịch sử văn hóa đã chứng tỏ một tầm nhìn rất thấp của những người lãnh đạo đất nước.

Cho đến nay, chưa có quyết định chính thức nào được đưa ra. Một vị đại diện Hội đồng Nhân dân TP trả lời truyền thông trong nước rằng đang chờ báo cáo của UBND TP về dự tính quy hoạch xây cao ốc trên đất thư viện như vừa nêu.

Những người quan tâm đến việc bảo tồn văn hóa lịch sử của đất nước như Giáo sư Ngô Đức Thịnh, Giáo sư Nguyễn Huệ Chi và dư luận đều hy vọng rằng thế hệ sau này vẫn còn được biết đến Thư viện Khoa học Tổng hợp, một trong những biểu tượng văn hóa còn lại của Hòn Ngọc Viễn Đông trước đây.