Thêm một tỷ phú Trung Quốc đột nhiên ‘mất tích’

Thêm một tỷ phú Trung Quốc đột nhiên ‘mất tích’
Nguoi-viet.com

BẮC KINH, Trung Quốc (AFP) – Chủ tịch một trong những công ty sản xuất y phục nổi tiếng nhất Trung Quốc, Metersbonwe, đã bất ngờ mất tích, theo công ty, khiến giới truyền thông quốc gia này hôm Thứ Sáu nghi ngờ rằng ông có thể bị bắt để điều tra trong chiến dịch bài trừ tham nhũng.

Một cửa hàng bán sản phẩm của Metersbonwe, do ông Zhou Chengjiang làm chủ tịch công ty, ở Taunggyi, Miến Điện. (Hình minh họa: Metersbonwe Facebook)

Giới chức Metersbonwe không liên lạc được với ông Zhou Chengjiang, người giàu hàng thứ 62 tại Trung Quốc, theo một bảng sắp hạng hồi năm ngoái của tạp chí Hurun, cũng như thư ký hội đồng quản trị công ty này, theo một bản thông cáo gửi đến cơ quan điều hành thị trường chứng khoán Thẩm Quyến.

Việc trao đổi chứng khoán công ty này sẽ tạm ngưng, theo công ty hôm Thứ Sáu “để bảo vệ quyền lợi của người đầu tư.”

Tờ báo địa phương Qianjiang Evening News cho hay ông Zhou có thể đã bị bắt giam trong cuộc điều tra về cung cấp tin tức nội bộ cho người bên ngoài lũng đoạn cổ phiếu.

Loan báo này được đưa ra chỉ ít tuần sau khi ông Guo Guangchag, người mệnh danh là “Warren Buffett Trung Quốc” biến mất trong bốn ngày cùng ông Fosun, chủ tịch một công ty tư nhân lớn nhất Trung Quốc Club Med.

Ông Fosun cho hay ông đã cộng tác với giới chức điều tra một vụ tham nhũng mà ông bị tố cáo là có liên hệ.

Giới hữu trách Trung Quốc đang nhắm đến khu vực tài chánh trong chiến dịch bài trừ tham nhũng trên toàn quốc.

Hurun ước tính tài sản của ông Zhou vào khoảng $4.1 tỷ.

Từng là một thợ may nghèo, ông đã đưa Metersbonswe, có trụ sở đặt tại Thượng Hải, trở thành một thương hiệu quần áo nổi tiếng Trung Quốc, với gần 5,000 chi nhánh trên toàn quốc. (V.Giang)

PHÉP RỬA CỦA CHÚA GIÊSU

PHÉP RỬA CỦA CHÚA GIÊSU

(CN Thường Niên, Năm C)

Tuyết Mai

Ai cũng biết rằng Chúa Giêsu của chúng ta Ngài đâu cần Phép Rửa nhưng vì Ngài được sinh ra trong Thế Gian, mặc xác phàm nên Ngài cũng phải chịu Phép Rửa như bao người và để làm gương cho muôn người.

Người đời chúng ta thường khi nghe nói đến danh từ “rửa” thì liền nghĩ đến ngay đến sự rửa ráy cho sạch những gì dơ bẩn bám trên thân thể, quần áo, vật dụng, nhà cửa, v.v… thưa có phải? Và có phải người thường của chúng ta ai cũng thích, cũng chuộng sự sạch sẽ thơm tho nhất là vấn đề cá nhân vì ngay cả chính chúng ta cũng không chịu nổi cái mùi hôi của chính mình hay không?.

Đấy là chúng ta nói về vấn đề thân xác rất dơ bẩn và hay chết của chúng ta, sẽ đến một ngày nào đó thật bất ngờ thì nó cũng sẽ bị ra thối tha và rữa tan vào lòng đất lạnh nhưng điều đáng nói ở đây là Linh Hồn chúng ta nó sẽ sống muôn đời chẳng bao giờ chết được và tùy vào Linh Hồn ấy có luôn giữ được sạch trong hay để cho quá dơ bẩn?.

Mà nói đến một Linh Hồn sạch sẽ và một Linh Hồn dơ bẩn là như thế nào, thiết nghĩ ai trong chúng ta cũng hiểu được điều đó cả … Ấy là khi chúng ta còn sống trên cõi đời tạm bợ này đối với một Linh Hồn sạch sẽ thì nó luôn có sự yêu thương, khiêm nhường, tôn trọng người, bác ái, hy sinh và tha thứ cho nhau vô điều kiện.

Còn ngược lại những Linh Hồn luôn sống trong tham lam, kiêu ngạo, ganh tị, khinh rẻ và bạc đãi người anh em, thù ghét và gieo họa cho người thì Linh Hồn ấy hẳn rất dơ bẩn.   Như viên ngọc quý Chúa ban chúng ta lại coi thường và vứt nó vào xó nhà.   Lâu ngày chầy tháng, nó bị bụi trần chúng đóng bám đến độ nó trở thành một cục đá rất xấu xí và rất nặng nề không thể nào chùi rửa được nữa.

Ai trong chúng ta cũng đều nhận được Phép Rửa từ ở tuổi sơ sinh cho đến ở tuổi gần mãn đời cũng được Thiên Chúa yêu thương đồng đều nhưng mỗi Linh Hồn thì không đồng đều nhau là do tự ý chúng ta đã chọn cách sống tốt lành hay xấu xa tội lỗi trong suốt thời gian chúng ta còn sống trên cõi đời rất vô thường này.

Nên Phép Rửa của Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta hằng năm là cố gắng sống đẹp lòng Chúa qua thanh tẩy cuộc đời và tâm hồn của mình bằng cách tìm đến Tòa Giải Tội để hòa giải cùng với Chúa ít là một năm một lần.   Giảm bớt sự sống kiêu ngạo, tham lam, gian dối, lừa lọc, và hãm hại người.   Mà tăng lòng sốt mến yêu kính Chúa hơn, yêu tha nhân hơn qua mọi việc chúng ta làm cách hy sinh để bảo đảm linh hồn của chúng ta sau khi lìa trần thì <Nó> sẽ được đích thân Thiên Chúa đón nhận và đem về Nơi có sự sống hạnh phúc muôn đời trên Thiên Đàng.

Nơi có Thiên Chúa Cha, Chúa Con, Chúa Thánh Thần, Đức Mẹ Maria, cùng toàn thể các đạo binh, các thánh và tất cả anh chị em trên Trời.   Amen.

Y Tá của Chúa,

Tuyết Mai

8 tháng 1, 2016

Thánh Thiện

Thánh Thin

Quên mình, sống trọn vẹn cho người khác
đó chính là định nghĩa đích thực của sự thánh thiện.
 

PHO THAC

Linh mục Anthony De Melo có kể câu chuyện sau: Có một linh sư Ấn giáo nổi tiếng thánh thiện, ông đã mở được nhiều trung tâm cầu nguyện và qui tụ được nhiều đệ tử. Ngày kia, có một người tìm thầy học đạo tình cờ đến trước cửa trung tâm. Con người khao khát chân lý từ bao năm nay cảm thấy như được giác ngộ khi gặp gỡ vị linh sư. Vị linh sư nói với anh:

– Trước khi nhận ngươi làm đệ tử, ta thấy cần phải thử thách ngươi về sự vâng lời. Đằng trước trung tâm có một dòng sông dày đặc cá sấu, ta muốn ngươi phải lội qua dòng sông ấy.

Không một chút do dự, người thanh niên để nguyên quần áo quăng mình xuống dòng sông. Vừa lội qua dòng sông anh vừa hô lớn “Tung hô quyền năng kỳ diệu của thầy tôi”. Như có sự hổ trợ của nhiều người và của chính vị linh sư, người thanh niên đã bơi qua dòng sông và trở về an toàn. Sự kiện này càng làm cho vị linh sư thấy mình là người thánh thiện.

Lập tức, ông cho tập trung các đệ tử trong nhà lại và trịnh trọng bước xuống dòng sông, vừa công khai bơi lội vừa hô lớn: “Tung hô quyền năng của ta, tung hô quyền năng của ta”. Thế nhưng, ông vừa dứt lời thì đàn cá sấu ào tới cắn xé ông nát ra từng mảnh.

Thánh thiện chính là quên mình, quên mình đến độ không được phép ý thức về sự thánh thiện của mình. Thiên Chúa ban cho ta sự thánh thiện là để cho người khác hưởng dùng. Bao lâu sự thánh thiện đem lại lợi ích cho kẻ khác thì bấy lâu người đó còn thánh thiện. Trái lại, kể từ giây phút một người thánh thiện giữ riêng ân huệ cho mình, thì người đó đánh mất sự thánh thiện, đồng thời đánh mất chính bản thân mình.

Thật ra, thánh thiện không là một đặc ân cho một số người ngọai hạng. Đó là ơn gọi của mỗi người Kitô. Người Kitô không thể không là người thánh thiện, vì chính thánh thiện là tên gọi của Chúa Kitô: “Ngài là Đấng Thánh”. Ngài là Đấng Thánh”, bởi vì hơn ai hết Ngài là Đấng quên mình. Thánh Phaolô đã nói đến sự thánh thiện của Chúa Kitô bằng công thức: “Ngài đã tự hạ vâng phục cho đến chết và chết trên thập giá”.

Đó cũng là lý tưởng của người Kitô. Chúa Giêsu đã từng nói: “Ai tìm cách giữ mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình thì sẽ bảo tồn được mạng sống”. (Lc 17,33).

Quên mình, sống trọn vẹn cho người khác, đó chính là định nghĩa đích thực của sự thánh thiện.***

Lạy Chúa, xin cho chúng con chỉ biết có một con đường thánh thiện, đó là phó thác cho Chúa, và sống trọn vẹn cho tha nhân. Xin giúp con luôn tiến bước trên con đường phục vụ, quên mình. Xin cho con không tìm vui hưởng một niềm vui nào khác hơn là mỗi ngày biết quên mình để sống cho tha nhân nhiều hơn. Amen.

 Anh chị Thụ & Mai gởi

Qua Thái Lan ăn cắp, 5 du khách Việt bị bắt

Qua Thái Lan ăn cắp, 5 du khách Việt bị bắt
Nguoi-viet.com
HÀ NỘI (NV) – Cảnh sát Thái Lan cho biết đã bắt giữ 5 người Việt Nam đang du lịch ở Chiang Mai vì tội ăn cắp cùng tang vật là tiền mặt, điện thoại di động và túi xách…

5 nghi can người Việt Nam bị cảnh sát Thái Lan bắt giữ vì trộm đồ. (Hình: Báo The Nation)

Ngày 4 tháng 1, 2016, báo điện tử Vietnamnet dẫn nguồn từ tờ The Nation của Thái Lan trích lời ông Montri Sambunnanont, cảnh sát trưởng tỉnh Chiang Mai cho biết sự việc xảy ra hôm 2 tháng 1.

Theo ông Montri Sambunnanont, nhóm người Việt trộm cắp này gồm 4 đàn ông tuổi từ 18-24 và một phụ nữ 23 tuổi, tất cả đều là du khách Việt Nam.

Tang vật thu được là 3,530 baht (khoảng 2.2 triệu đồng) tiền mặt và 9 điện thoại di động mà nhóm người này đã trộm từ một cửa hàng túi xách tại khu vực quán bar Night Bazaar và cửa hàng kinh doanh vỏ chăn gối tại Cổng Tha Phae, Chiang Mai.

Trước đó, băng nhóm này cũng từng thực hiện hai vụ trộm cắp tương tự tại tỉnh Chiang Mai.

Cảnh sát Thái Lan truy tìm băng nhóm theo lời kể của các nạn nhân bị hại và phát hiện 3 nghi phạm tại khu vực Pratu. Khi cảnh sát yêu cầu các nghi phạm dừng lại để kiểm tra thì họ hoảng hốt bỏ chạy. Hiện cảnh sát vẫn đang tiếp tục tìm kiếm một nghi phạm người Việt khác được cho là tòng phạm với nhóm tội phạm này.

Còn nhớ, hồi tháng 3, 2014, tờ Sankei Shimbun của Nhật Bản cũng đã loan tin, một phi công của Vietnam Airlines bị tình nghi buôn lậu hàng mỹ phẩm, quần áo ăn cắp và còn tìm cách buôn lậu ra khỏi nước Nhật.

Trước đó nữa thì giám đốc một công ty tên tuổi ở Sài Gòn bị phát hiện lấy trộm đồ trong một siêu thị tại Nhật lan truyền nhanh trên mạng xã hội khiến nhiều người cũng cảm thấy xấu hổ.

Không chỉ tình trạng người Việt Nam ăn cắp đồ tại Nhật Bản đang có xu hướng gia tăng, mà ở các nước lân cận như Thái Lan, Đài Loan… cũng đều có biển cảnh báo về thói trộm cắp vặt của một số người Việt Nam. (Tr.N)

NHỮNG MẢNH ĐỜI TAN NÁT VÌ CHIẾN TRANH (I)

NHỮNG MẢNH ĐỜI TAN NÁT VÌ CHIẾN TRANH (I)

 GNsP‬Cô Sương Quỳnh trước đây từng là nhà báo trong nhiều năm của “Bên Thắng Cuộc”. Sau những năm phục vụ cô nhận ra báo chí của Đảng Cộng Sản chỉ nhằm phục vụ và củng cố cho Đảng nên cô rút lui và hiện nay là thành viên của CLB Lê Hiếu Đằng. CLB bộ này quy tụ những nhân sĩ trí thức đấu tranh cho Dân Chủ và chống Trung Quốc xâm lược. Trong những năm gần đây cô bén duyên với DCCT qua những thánh lễ cầu nguyện cho CLHB do DCCT Sài gòn tổ chức. Cô đã xin học Đạo Công Giáo vào đầu năm 2014 và được Rửa Tội vào Đêm Vọng Phục Sinh 2015 tại DCCT Sài Gòn. Chúng tôi xin giới thiệu đến quý đọc giả loạt bài phóng sự của cô về chương trình Tri Ân TPB – VNCH do phòng CLHB thuộc DCCT Sài Gòn tổ chức.

Sau cuộc chiến “huynh đệ tương tàn” những mảnh đời này bị đẩy ra sống bên rìa xã hội: bị kỳ thị, khinh rẻ, vạ vật kiếm sống qua ngày. Cũng là xương, là máu, là thịt đổ xuống vì Đất Nước, nhưng bị gọi là “nguỵ quân” nên họ đã phải lang bạt, lê lết, lưu đày trên ngay trên Đất Nước của chính mình. Họ là ai? Họ là những người thua cuộc và thảm hơn nữa họ đã bị chiến tranh cướp đi những phần cơ thể để giờ họ có một tên gọi là THƯƠNG PHẾ BINH VNCH.

buổi họp mặt Tri Ân TPB -VNCH sáng 31.12.2015 tại DCCT Sài Gòn

Ông Nguyễn Văn Hùng sinh năm 1949, cựu binh nhất- Đại đội 51, sư đoàn Nhảy Dù. Ông bị thương đúng trận cuối cùng ngày 29-4-1975. Ông kể rằng: Do không muốn đi đánh trận, gia đình ông đã chạy tiền khai tuổi ông sinh năm 1956, do đó đến năm 72 ông mới đi lính. Ông làm nhiệm vụ nghe điện đàm và truyền tin qua cái điện đàm BC25. Cả đại đội ông hơn 300 người bị đánh dồn từ Khánh Dương về Nha Trang. Trên đường bị chết rất nhiều nên khi về đến Nha Trang chỉ còn hơn 30 người. Từ Nha Trang các ông được máy bay đưa về Đồng nai để chốt giữ nhà máy nước Đồng Nai.

Ông Nguyễn Văn Hùng

Lúc 2 giờ sáng ngày 29-4-1975, một trận giao tranh ác liệt giữa quân Giải Phóng và đại đội gần 30 người của ông ngay trên cầu Đồng Nai. Lúc đó đại đội trưởng là ông Huỳnh Hữu Sanh chỉ huy. Đêm đó một người đồng đội bị thương, ông Hùng đã chạy ra cứu, ôm người bạn về thì bị một loạt đạn bắn , ông bị đạn trúng tay làm rơi luôn đồng đội, còn người lính kia cũng bị thương vào đầu và chết ngay lập tức. Sáng hôm sau là ngày 30-4-1975, đại đội ông còn 5 người và ông Sanh đại đội trưởng. Do ông nhặt được cái đài Philip 10 băng của quân Giải Phóng, đến trưa 30-4 ông nghe qua radio lệnh của ông Dương Văn Minh kêu gọi binh lính bỏ súng, quy hàng. Ông Sanh, ông và những người còn lại quăng súng, cởi quần áo vào nhà dân xin quần áo thường phục mặc vô, rồi tìm đường về nhà. Ông phải dưỡng thương 2 tháng mới lành. Do bị thương nên ông bị đi học tập cải tạo 3 ngày. Khi học xong 3 ngày , người bên quân Giải Phóng hỏi: Ông có hiểu gì không? ông trả lời: Tôi không hiểu gì cả, họ bắt ở lại học tiếp 3 ngày nữa. Những ngày đầu sau khi được cho về, ông đi ăn xin, rồi bà con người qua đường thương mua cho chiếc xe lăn và góp tiền có chút vốn, ông đi bán vé số. Sau mấy năm ông lấy được vợ và có hai con, ông sống nhờ bên nhà vợ. Hiện hai con ông đi làm công nhân nên cũng không đủ tiền phụng dưỡng cha mẹ, do đó ông vẫn đi bán vé số kèm xin ăn để sống qua ngày.

Ông Hùng đón nhận chuỗi hạt Mân Côi

Những năm gần đây, được biết Dòng Chúa Cứu Thế (DCCT) luôn tổ chức khám chữa bệnh và có những ngày Tri Ân TPB VNCH, ông về để được cảm nhận như một con người. Khi cô Tình nguyện viên (TNV) đưa ông chuỗi hạt Mân Côi và nói với ông rằng: Chú hàng ngày đọc kinh nhé. Ông quay lại tôi rưng rưng nước mắt: Nếu không tin vào Thiên Chúa, tin vào ơn lành của Mẹ Maria chắc ông không có nghị lực để vượt qua mọi thử thách, đau khổ trong hơn 40 mươi năm qua.

Teresa Avila Sương Quỳnh

Xin xem thêm:

NHỮNG MẢNH ĐỜI TAN NÁT VÌ CHIẾN TRANH (II)

 NHỮNG MẢNH ĐỜI TAN NÁT VÌ CHIẾN TRANH (III)

NHỮNG MẢNH ĐỜI TAN NÁT VÌ CHIẾN TRANH (IV)

NHỮNG MẢNH ĐỜI TAN NÁT VÌ CHIẾN TRANH (V)

NHỮNG MẢNH ĐỜI TAN NÁT VÌ CHIẾN TRANH (VI)

Tuệ Sỹ – “Đạo Pháp Tộc Chủ Nghĩa Xã Hội”, Biến Thái Của Phật Giáo Việt Nam Hiện Tại

Tuệ Sỹ – “Đạo Pháp Tộc Chủ Nghĩa Xã Hội”, Biến Thái Của Phật Giáo Việt Nam Hiện Tại

By Uyên Nguyên  ( 1 )

Lời Dẫn: Bài tham luận này được viết đã lâu. Nguyên đề là “Văn minh tiểu phẩm,” chỉ là bài tham luận có tính chuyên đề. Bỗng nhiên nó mang tính thời sự. Ban đầu người viết không có ý định phổ biến rộng rãi, mà chỉ giới hạn trong một số thức giả đọc để suy ngẩm về quá khứ và tương lai.

Tuy nhiên, nay nó được cho phổ biến, vì trong mấy tuần vừa qua, Nhà Nước đã vận dụng bộ máy tuyên truyền khổng lồ và độc quyền, từ diễn đàn Quốc hội, cho đến các cuộc họp một số phường quận; từ Hội đồng chứng minh, Giáo hội trung ương, cho đến các ban Đại diện Phật giáo quận; bằng các phương tiện phát thanh, truyền hình, báo chí; mục đích là xác định lại lập trường “trước sau như một” của Đảng CSVN đối với Phật giáo, và cũng xác định sự hiện hữu duy nhất của Phật giáo qua đại diện hợp pháp là Giáo hội Phật giáo Việt nam, mà thực chất là một tổ chức chính trị của Đảng, thực hiện đúng sách lược tôn giáo theo chỉ thị của Lenin: “đảng phải thông qua tôn giáo để tập hợp quần chúng.” Chính điều đó xác định rõ nhiệm vụ lịch sử của Giáo hội Phật giáo Việt nam như là công cụ bảo vệ Đảng, đúng như lời Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh trước đây đã tuyên bố: Phật giáo Việt nam là chỗ dựa cho người Cộng sản Việt nam làm cách mạng.

Những tuyên truyền và tuyên bố như trên chỉ được nghe và nhìn từ một phía. Vì vậy tôi cho phổ biến lại bài này; không xem đây là chân lý lịch sử, nhưng là sự thực được nhìn theo chủ quan của một cá nhân. Dù sao, nhìn sự việc từ một khía cạnh khác sẽ cho thấy rõ thêm vấn đề. Chân lý cuối cùng tùy thuộc người đọc; tùy thuộc trình độ tư duy, thành kiến xã hội, hay quyền lợi vật chất.

Trước khi giới thiệu bản văn, nhân tiện tôi ghi thêm một vài sự kiện có tính lịch sử gần nhất, để người đọc có thêm cảm hứng suy luận.

Tôi nói sự kiện lich sử gần nhất, là muốn nói ngay đến sự xuất hiện của Pháp sư Thích Trí Độ lần đầu tiên tại miền Nam sau ngày Cộng sản chiến thắng. Trên lễ đài chiến thắng, gồm các lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, hàng cao nhất. Pháp sư thay mặt Phật giáo miền Bắc, mà trên cương vị người chiến thắng, là chính thức đại diện toàn thể Phật giáo Việt nam. Đó là vị Pháp sư, mà miền Nam gọi là Đại lão Hòa thượng; Ngài bận chiếc áo sơ-mi cụt tay như các cán bộ cao cấp khác của Đảng và Nhà Nước. Sự thực như vậy rất rõ: Phật giáo không tồn tại nữa ở Miền Bắc, mà chỉ tồn tại như một bộ phận của Đảng và lãnh đạo Phật giáo chỉ là cán bộ của Đảng và Nhà Nước.

Ở miền Nam, theo báo cáo của Trần Tư, tài liệu của Bộ Nội vụ phổ biến năm 1996, bấy giờ chỉ có “khoảng 2.5 triệu tín đồ.” Nhưng do nhu cầu lịch sử, nói theo lý luận của Đảng, nghĩa là chưa xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội nên tôn giáo như thuốc phiện ru ngủ vẫn còn có nhiệm vụ lịch sử của nó; do nhu cầu lịch sử nên Đảng thừa nhận tồn tại tín ngưỡng Phật giáo. Tín ngưỡng, chứ không phải tôn giáo. Bởi vì, tin và thờ bình vôi, cây đa, ông Táo, ông Địa, là tín ngưỡng, chứ không phải tôn giáo. Đảng tôn trọng tự do tín ngưỡng, nhưng chỉ cho phép tin một số hiện tượng. Ngoài ra là mê tín, hoặc duy tâm mang tính phản động thì triệt để bài trừ.

Năm 1980, tôi được anh Võ Đình Cương mời họp thảo luận về văn hoá Phật giáo tại tòa soạn Giác ngộ, tại đó, đại diện Mặt trận Thành phố HCM đến dự, và đề nghị (thực chất là ra lệnh): nhiệm vụ văn hóa Phật giáo là bài trừ mê tín; do đó phải xét lại trong Phật giáo những gì không thuần túy thì phải dẹp bỏ. Thí dụ, Quan Âm, Địa Tạng có thuần túy Phật giáo hay không? Tôi phản ứng: đó là đức tin tồn tại ít nhất hơn 2 nghìn năm, trên một phạm vi châu Á rộng lớn; do đó không ai có quyền xét để dẹp bỏ. Tin hay không, đó là quyền tự do cá nhân. Nhưng dẹp bỏ thì không ai có quyền.

Ngay sau 1975, nhiều tượng Phật lộ thiên bị giựt sập. Gây chấn động lớn nhất là giựt tượng Quan Âm tại Pleiku. Viện hóa đạo đã có những phản ứng quyết liệt, và đích thân Hòa thượng Đôn Hậu mang tài liệu phản đối ấy ra báo cáo Thủ Tướng Phạm Văn Đồng. Hòa thượng kể lại cho tôi nghe, sau khi chuyển hồ sơ vi phạm chính sách tôn giáo lên Thủ tướng; hôm sau Hòa thượng được một Đại tá bên Bộ Nộ vụ gọi sang làm việc. Sau khi nghe Đại tá lên lớp chính trị, Hòa thượng nói: “Bởi vì Thủ tướng có nhờ tôi sau khi vào Nam trở ra Bắc, báo cáo Thủ tướng biết tình hình Phật giáo trong đó. Vì vậy tôi báo cáo những vi phạm để Chính phủ có thể kịp thời sửa chữa, ngăn chận cán bộ cấp dưới không để vi phạm. Nếu Thủ tướng không muốn nghe thì thôi. Còn việc lên lớp chính trị như thế này, đối với tôi (Hòa thượng) thì xưa quá rồi.” Dù sao, phản ứng ấy cũng làm chùn tay những đảng viên cuồng tín Mác xít, và tự kiêu về chiến thắng với khẩu hiệu nhan nhản các đường phố lúc bấy giờ: “Chủ nghĩa Mác Lê-nin bách chiến bách thắng muôn năm!” Nghĩa là, không thể tự do hoành hành như trong những năm sau 1954 trên đất Bắc.

Ở đây, chúng ta phải đặt câu hỏi: sau 1975, nếu không có Phật giáo miền Nam, cùng với thái độ cương quyết của các vị lãnh đạo Giáo hội Thống nhất, Phật giáo Việt nam sẽ thoi thóp đến lúc nào rồi đứt hơi luôn, với đà tự kiêu chiến thắng 1975 và với ảo tưởng về thành trì xã hội chủ nghĩa bách chiến bách thắng của Liên-xô?

Năm 1982 là cột mốc lớn cho Phật giáo Việt nam, với lời tuyên bố của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh. Đảng không dại gì mà dựa lưng vào chỗ mình chưa nắm chắc. Do đó, bằng mọi giá phải cải tạo Phật giáo miền Nam, giống như cải tạo xã hội chủ nghĩa theo phương thức tịch thu tư liệu sản xuất và đưa các chủ tư bản đi lao động cải tạo. Đảng biết chắc, tuy gặp phải chống đối quyết liệt của lãnh đạo Phật giáo, nhưng với bạo lực chuyên chính trong tay, sẽ phải cải tạo thành công. Trước hết, sự bức tử đối với Thượng tọa Tâm Hoàn, Chánh Đại diện GHPGVNTN tỉnh Bình định, năm 1975, gây kinh sợ không ít cho những ai cưỡng lại ý chí của Đảng. Kinh hoàng nhất là cái chết của Thượng Tọa Thiện Minh năm 1978, trong trại giam K4, Bộ Nội vụ. Đó là thời gian tôi được giam cùng trại với Hòa thượng Thiện Minh, nhưng hoàn toàn cách ly. Chỉ biết rõ, khi nghe tiếng Hòa thượng trả lời thẩm vấn ở phòng hỏi cung kế cận. Tất cả điều đó củng cố cho tuyên bố của ông Mai Chí Thọ, bấy giờ là Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố HCM, nói thẳng với Hòa thượng Trí Thủ, bấy giờ là Viện trượng Viện hóa đạo: “Các thầy chỉ có hai con đường, theo hoặc chống. Các thầy theo, chúng tôi tạo điều kiện cho sinh hoạt. Các thầy chống, chúng tôi còn đủ xe tăng thiết giáp đó.” Hòa thượng trả lời: Không theo cũng không chống. Nhưng, đối với Đảng, không có con đường thứ ba.

Ý chí của đảng là một chuyện. Nhưng những người Phật giáo cũng nên tự đặt câu hỏi: Ban Liên lạc Công giáo Yêu nước cũng hoạt động rất tích cực, nhưng không đưa được Hội đồng Giám mục vào trong Mặt trận Tổ quốc. Trong khi, rất nhanh chóng, Phật giáo trở thành một bộ phận của đảng Cộng sản Việt nam. Tại sao?

Từ ngày thành lập đến nay, Giáo hội thành thành viên Mặt trận đó đã làm những gì? Làm nhiều lắm, vì chùa chiền đồ sộ thêm lên. Như lời Hòa thượng Thanh Tứ phát biểu mới đây trong buổi lễ khai giảng của trường Phật học Trung cấp tỉnh Bình định. Hòa thượng nói: “Phật giáo thời Lý rất thạnh. Nhưng không bằng nay. Vì nay cơ sở của ta to lớn hơn.” Ấy là, theo như lời Hòa thượng nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong bài phát biểu: nhờ chính sách của Đảng. Đó là sự thực không thể chối cãi. Nhưng cần nói cho rõ thêm, Việt nam chúng ta bây giờ tiến bộ hơn thời Hồng Bàng gấp vạn lần. Thời Lý, nước Việt nam chỉ từ Thanh hóa trở ra Bắc, chỉ hơn 1/3 lãnh thổ hiện nay. Như vậy thì cơ sở hiện nay nhất định phải to lên rồi. Nhưng cái to hơn ấy của lịch sử bốn nghìn năm văn hiến lại chưa bằng một phần nhỏ của Thái lan chỉ hơn 8 thế kỷ định cư. Và cũng nhờ chính sách của Đảng, nếu chính sách đó trước sau như một, nghĩa là như Phật giáo miền Bắc trước 1975, thì không biết ngày nay các Hòa thượng khi xuất hiện trước công chúng sẽ khoác tăng bào, hay cũng chỉ bận áo sơ mi cán bộ như Pháp sư Trí Độ trước đây? Trên toàn miền Bắc, cho đến 1975, có trên dưới 300 “ông sư, bà vải.” Đến 1996, theo báo cáo Bộ Nội vụ của Trần Tư, “Hiện nay Phật giáo ở miền Bắc có khoảng 3000 tăng ni, tín đồ phần đông là ông già (bà già là chủ yếu–nguyên văn). Số cao tăng tiêu biểu hầu hết đã già yếu không còn khả năng hoạt động. Số tăng ni trẻ trình độ văn hoá cũng như lý luận về Phật giáo thấp, không đủ sức làm nhiệm vụ tranh thủ Phật giáo miền Nam và hoạt động quốc tế.” Giáo hội Phật giáo Việt nam phục vụ cho cái gì, theo báo cáo đó đã quá rõ.

Ngoài cơ sở “to lớn hơn thời Lý” ra, còn thêm được những gì để vượt hơn Phật giáo miền nam trước 1975? Nói về báo và tạp chí, được mấy phần trăm? Chỉ một tờ Giác ngộ duy nhất cho cả nước. Cũng là tờ báo hoằng pháp. Nhưng cũng thường xuyên ca ngợi vinh quang của Đảng, và giúp Nhà nước phổ biến kế hoạch sinh đẻ, tuyên truyền đường lối của Đảng chống NATO. Những lời Phật dạy cao siêu cũng chỉ đủ thêm vài chấm đỏ cho vinh quang của đảng và đường lối sáng suốt của đảng trên chính trường quốc tế.

Ngoài tờ Giác ngộ ra, với ba cơ sở giáo dục cao cấp, tương đương đại học, nhưng đã có công trình gì đáng kể?

Vậy thì, qua hơn 20 năm hoạt động, trong tư cách là một bộ phận của đảng, Giáo hội PGVN đã làm thêm được gì cho văn hóa Phật giáo VN so với những gì Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) đã làm trước 1975? Trong khi cả khu vực, và kể luôn cả nước Việt nam đều tiến bộ, theo chừng mực nào đó, mà Phật giáo Việt nam chưa lấy lại được thế đứng của nó trong lòng văn hóa dân tộc như trước đó, vậy thì đảng hỗ trợ PGVN tiến theo hướng nào?

Bề ngoài, cũng còn có mặt đáng nói khác, đó là giáo dục. Trước hết, bao nhiêu cơ sở Trung học Bồ đề, và các Viện Đại học: một Vạn Hạnh, và một Phương Nam, của Phật giáo miền Nam, nay biến đi đâu mất? Nói là biến, vì hầu hết các tăng ni sinh, kể cả những vị đang học tại các trường cao cấp Phật học, không biết các cơ sở giáo dục này là cái gì, dạy những gì trong đó. Chính vì vậy mà họ chỉ biết Phật giáo Việt nam tiến bộ vì chùa to Phật lớn.

Các tăng ni sinh này được đào tạo để làm gì? Không thấy họ được đưa về các địa phương để giảng pháp cho Phật tử. Cũng không có cơ sở văn hóa nào để họ phục vụ. Hầu hết, học xong, trở về chùa, làm nghề thầy cúng hoặc thầy bói. Tất nhiên cũng có nhiều thầy cô vẫn tìm cách mở các khóa học Phật pháp, nhưng cũng chỉ giới hạn trong một số tỉnh thành lớn, nhất là Thành phố HCM. Ngay như Huế, được xem là kinh đô của Phật giáo miền nam, hầu như các thầy chỉ đi cúng và đăng đàn chẩn tế, hoặc lập đàn chay phá cửa địa ngục cho cô hồn đi chơi, chẳng có buổi giảng kinh nào đáng kể. Còn cái trường gọi là cao cấp Phật học, hay Học viện Phật giáo Hồng đức, sau khi Hòa thượng Thiện Siêu tịch rồi, không còn thầy cô nào đủ sức dịch cho xuôi một trang luận Câu-xá, thì lấy chữ đâu mà giảng dạy kinh luận cho tăng ni sinh trình độ cao đẳng, đại học?

Nhìn chung, Phật giáo chỉ đang phục vụ nhiều nhất cho người giàu. Còn quần chúng tại các vùng sâu xa, vì họ thiếu phước, kiếp trước ít tu, nên nay chẳng mấy khi được nghe các thầy cô thuyết pháp. Còn lập đàn chẩn tế và phá cửa địa ngục cho ông bà cha mẹ siêu thăng, đốt vàng mã thật nhiều cho ông bà có tiền tiêu và có xe hơi nhà lầu, dưới âm phủ, thì họ không đủ tiền.

Tóm lại, nếu nói Phật giáo Việt nam hiện tại chẳng có tiến bộ gì thì không đúng. Vì cơ sở chúng ta hiện nay đồ sộ hơn trước, kể cả miền Nam trước 1975 chứ không cần so sánh xa xôi lùi cho đến đời Lý như Hòa thượng Thích Thanh Tứ. Ngoài việc xây dựng chùa to Phật lớn, Phật giáo hiện tại đã đóng góp gì cho gia tài văn hóa, tư tưởng của dân tộc, ngoài sứ mệnh được giao phó là rao truyền chính sách sáng suốt của Đảng quang vinh? Còn chuyện tìm một vị trí của Phật giáo Việt nam, dù chỉ khiêm tốn thôi, trong thế giới hiện đại, là điều mộng tưởng xa vời.

Gần đây, các trường Phật học tại Saigon sợ tăng ni sinh nghe thêm những nguồn thông tin không phù hợp với sự tuyên truyền một chiều vừa độc quyền vừa độc đoán của Nhà nước, nên vừa cảnh cáo, vừa khuyên răn: hãy quên đi quá khứ mà lo chăm học cho hiện tại. Quên đi quá khứ hận thù, để sống trong tình cảm dân tộc bao dung, đó là điều cần phải học. Nhưng quên đi những thành tựu quá khứ gần nhất, chỉ cách đây chưa đầy 30 năm, để rồi so sánh sự tiến bộ của ta ngày nay với thời đại Hồng Bàng, hay với thời Lý như Hòa thượng Thanh Tứ, thế thì bản chất của nền giáo dục Phật học ấy là gì? Có phải các thầy muốn dạy tăng ni sinh quên đi những hy sinh gian khổ của Thầy Tổ đã tạo ra di sản ngày nay, do vậy họ sẽ nhận thức dễ dàng rằng những gì chúng ta đang thừa hưởng ngày nay là nhờ công ơn Đảng và Nhà nước?

Lời hăm của các thầy có giá trị “hàn mặc di luân” của những nhà giáo dục. Chính vì thế tôi cho phổ biến bài tham luận này, mà trước đó tôi cho là ý kiến cá nhân nên giới hạn người đọc. Bây giờ tôi vẫn xem đây chỉ là quan điểm cá nhân. Nhưng tôi cho phổ biến để các thầy có cơ sở kiểm chứng những thành tựu mà Nhà nước đã giúp Phật giáo Việt nam. Tất nhiên, tôi nhận mọi trách nhiệm trước pháp luật, và trên hết, trước lương tâm của một con người còn tin tưởng giá trị làm người.

Già lam 10-11- 2003.
Tuệ Sỹ

Hội nghị 14 và tuổi của Tứ trụ

Hội nghị 14 và tuổi của Tứ trụ

Lê Quỳnh BBCVietnamese.com, London

Bốn chính khách trong nhóm ‘Tứ trụ’ khóa 11 (ảnh chụp tháng 10/2015)

Hội nghị 14 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ khai mạc thứ Hai 11/1, với trọng tâm bàn về việc tái cử của các Ủy viên Bộ Chính trị quá tuổi.

Theo quy định của Đảng Cộng sản, Ủy viên Bộ Chính trị tái cử nói chung không quá tuổi 65.

Bốn người giữ các chức danh lãnh đạo cao nhất – thường được gọi là ‘Tứ trụ’ – đều đã qua ngưỡng tuổi này.

Trước đó, Hội nghị Trung ương 13, bế mạc hôm 21/12, vẫn tranh luận những ai trong số bốn ông – Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Sinh Hùng – có thể được tái cử tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 12.

Thông báo của Hội nghị 13 cho biết Trung ương Đảng “giao Bộ Chính trị tiếp tục chuẩn bị nhân sự trường hợp đặc biệt là Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI quá tuổi, tái cử, để đảm nhiệm chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước, trình Hội nghị Trung ương 14 xem xét, quyết định”.

Kể từ đó, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản đã có ít nhất bốn lần họp về chủ đề nhân sự.

16 chính khách quyền lực nhất trong Đảng vẫn còn họp đến hết thứ Sáu 8/1 để chuẩn bị các văn bản trình ra Hội nghị 14.

Đề cử Tổng Bí thư?

Những ngày qua, trên mạng internet “tràn ngập” các tài liệu thật giả, cùng những bình luận về khả năng “đi hay ở” của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Hai ông vẫn là ứng viên hàng đầu cho chức vụ Tổng Bí thư Đảng khóa 12.

Việc ai được Hội nghị 14 đề cử làm ứng viên chức Tổng Bí thư sẽ tác động đến nhân sự cho ba chức còn lại trong ‘Tứ trụ’ – Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội.

Theo phán đoán cá nhân, bốn người có thể nằm trong danh sách giới thiệu của Bộ Chính trị cho chức danh Tổng Bí thư:

  • Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang
  • Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị
  • Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng
  • Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

Reuters Bốn nhân vật trong ‘Tứ trụ’ được bầu tại Đại hội Đảng năm 2011

Nếu phương án này diễn ra, điều này có nghĩa là các đại biểu dự Hội nghị 14 sẽ phải biểu quyết về số lượng ủy viên Bộ Chính trị quá 65 tuổi được tái cử.

Ông Phạm Quang Nghị (sinh năm 1949), Nguyễn Tấn Dũng (1949) và Nguyễn Phú Trọng (1944) đều thuộc nhóm nhân sự quá tuổi.

Hệ quả Hội nghị 13

Thông báo của Hội nghị 13 xác nhận danh sách ứng cử Ủy viên chính thức và dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã được nhất trí thông qua để trình ra Đại hội Đảng toàn quốc.

Trung ương Đảng khóa 11 cũng nhất trí thông qua danh sách ứng cử Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa 12. Đây là những người trong độ tuổi theo quy định của Đảng.

Còn lại, những người dự Hội nghị 13 đã viết phiếu đề xuất tái cử với những trường hợp quá tuổi trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

HOANG DINH NAM AFP Getty Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang là một trong những ứng viên được dư luận nhắc đến cho ‘Tứ trụ’ khóa 12

Cần lưu ý danh sách viết phiếu này chỉ là một trong ba danh sách dự kiến sẽ được đưa ra thảo luận tại Hội nghị 14 sắp khai mạc.

Hai danh sách còn lại gồm một của Tiểu ban Nhân sự Đại hội 12 mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là trưởng ban, và một là danh sách ghi nhận ý kiến của Bộ Chính trị.

Có thể đoán ba danh sách này sẽ có độ vênh, dẫn tới tiếp tục thảo luận trước khi Trung ương Đảng biểu quyết.

Các thảo luận trong Bộ Chính trị không phải là kết luận chung cuộc để Trung ương Đảng tuân thủ.

Tại hội nghị 14, Ban Chấp hành Trung ương Đảng sẽ xem xét đề xuất của Bộ Chính trị về chức danh Tổng Bí thư và ba chức danh cao cấp còn lại.

Nếu không nhất trí đề xuất của Bộ Chính trị, Trung ương Đảng sẽ có thể đề xuất thêm ứng cử viên.

Quy trình đặt quyền lực vào lá phiếu của các ủy viên Trung ương là yếu tố khó đoán trước kết quả của Hội nghị 14.

Có thể một, hai trong ‘Tứ trụ’ hiện nay sẽ đủ phiếu để được giới thiệu tái cử.

Hoặc cũng có thể không ai đủ phiếu, dẫn đến cả bốn người cùng nghỉ.

Và nếu Hội nghị 14 không thể thống nhất về các trường hợp quá tuổi?

Lúc đó, sẽ chỉ còn một cuộc họp cuối cùng để Đảng quyết định, đó là đại hội trù bị diễn ra một ngày trước khi chính thức khai mạc Đại hội Đảng toàn quốc.

Vấn đề tuổi tác và cuộc đua nhắm đến các chức vụ cao nhất cho thấy một đặc điểm quan trọng trong Đảng Cộng sản Việt Nam: các quy định, điều lệ là đối tượng của mặc cả quyền lực, phe phái và có thể bị xê dịch tùy tương quan lực lượng. Điều này hẳn sẽ không mất đi sau Đại hội Đảng.

HỎA NGỤC

Hoả ngục khủng khiếp làm sao???

Trầm luân vĩnh viễn…. tự… vào…không…. ra

…………..

Giờ đây thống hối tội qua

Sống sao xứng đáng con CHA trên Trời

Mai sau hưởng phúc cao vời

   Vì nay mến CHÚA, yêu người không thôi .

Thập điều giữ trọn chẳng rời

Lời CHÚA ghi khắc, tâm thời vui liên

Bình minh…Thánh lễ trước tiên

Sau viếng Thánh Thể tiếp liền …bên CHA

Tu thân, tích đức…. trổ hoa

Đơn sơ, phó thác, hiền hoà, yêu thương

Thứ tha, từ bỏ, khiêm nhường

Nguyện cầu, kiên nhẫn, thiện lương hơn người

Thanh tẩy, Thánh hóa CHÚA ơi!

Cho con cảm tạ muôn đời Hồng Ân.

hnkimnga

 

HỎA NGỤC

Lm. Đoàn Quang, CMC

1- Lời Kinh Thánh:

*”Chúa Giêsu thường nói đến “hoả ngục” (Gehenna), đến “lửa không bao giờ tắt” ( xem Mt 5,22.29;13, 42.50; Mc 9,43-48), dành cho những ai, cho đến lúc chết, vẫn từ chối tin và trở lại, và đó là nơi cả hồn lẫn xác có thể bị hư  mất” ( xem Mt 10,28).

*Chúa Giêsu đã dùng những lời nghiêm khắc, rằng “Ngài sẽ sai các thiên thần tới để lượm tất cả những kẻ làm điều gian ác  (…), và quẳng chúng vào lò lửa bừng bừng”  (Mt 13,4142).

*Ngài sẽ tuyên án: “Hỡi những kẻ vô phúc, hãy đi khỏi mặt Ta vào nơi lửa muôn đời”  (Mt 25,41).

*Mt 5,29  Nếu mắt phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy móc mà ném đi; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân bị ném vào hoả ngục.

*Mt 5,30  Nếu tay phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy chặt mà ném đi; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân phải sa hoả ngục.

*Mc 9,45 Nếu chân anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi;

thà cụt một chân mà được vào cõi sống

còn hơn là có đủ hai chân mà bị ném vào hoả ngục.

*Mc 9,48 nơi giòi bọ không hề chết và lửa không hề tắt.

*Mt 16,26  Vì nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình?

2- Giáo lý Giáo hội Công giáo:

“Chết trong tội trọng mà không sám hối và không đón nhận tình thương đầy từ bi của Thiên Chúa, thì sẽ mãi mãi lìa xa Chúa do sự tự do lựa chọn của mình. Danh từ “Hoả ngục” được dùng để chỉ tình trạng ly khai mãi mãi khỏi mối hiệp thông với Thiên Chúa và với các thánh trên trời. (số 1033)

“Giáo huấn của Giáo Hội khẳng định có địa ngục và tính vĩnh viễn của địa ngục. Linh hồn của những người chết trong tình trạng mang tội trọng, sẽ lập tức phải xuống hoả ngục, “lửa vĩnh viễn” ( xem DS 76; 409; 411; 801; 858; 1002; 1351; 1575; SPF 12). Hình phạt chính của hoả ngục là bị muôn đời xa cách Thiên Chúa, chỉ nơi Ngài, con người mới có thể có sự sống và hạnh phúc: đó là những mục tiêu của con người khi được tạo thành và con người hằng khát vọng. (số 1035)

“Những khẳng định của Thánh Kinh và những giáo huấn của Giáo Hội về hoả ngục là  một lời kêu gọi tới trách nhiệm của con người trong việc sử dụng tự do của mình, hướng về số phận muôn đời của mình. Đó cũng là  lời kêu gọi khẩn thiết hãy hối cải: “Các người hãy vào qua cửa hẹp. Vì rộng rãi thênh thang là đường đưa tới hư mất, và nhiều người đi con đường này. Còn cửa hẹp và đường hẹp thì dẫn tới sự sống, nhưng ít người tìm ra nó  (Mt 7,1314):

Không biết ngày giờ nào, chúng ta phải luôn tỉnh thức như lời khuyến cáo của Chúa, để khi chấm dứt dòng đời độc nhất của cuộc sống trần gian, chúng ta đáng được nhận vào dự tiệc cưới với Ngài và được kể vào số những người được Thiên Chúa chúc phúc, thay vì bị gạt ra do lệnh của Thiên Chúa để xuống chỗ lửa muôn đời, như những đầy tớ xấu nết và lười biếng, đó là chốn tối tăm bên ngoài, nơi có những tiếng khóc lóc và nghiến răng  ( LG 48). (số 1036)

“Thiên Chúa không tiền định cho một người nào phải xuống hoả ngục  (xem DS 397; 1567); điều này cần phải có một sự chủ ý xoay lưng lại với Thiên Chúa (một tội trọng) và cố chấp ở trong tình trạng này tới cùng.

Trong phụng vụ Thánh Thể và trong các lời cầu nguyện hằng ngày của các tín hữu, Giáo Hội khẩn xin lòng từ bi của Thiên Chúa, Đấng muốn “không một ai phải diệt vong, nhưng muốn mọi người đi tới sám hối”  (2 Pr 3,9):

Đây là lễ vật mà chúng con, những đày tớ Cha và tất cả gia đình Cha dâng lên Cha: xin Cha nhận lễ vật này theo lòng nhân hậu của Cha. Cúi xin Cha bảo đảm cho đời sống chúng con được bình an! Xin cứu vớt chúng con khỏi bị án phạt, và xin nhận chúng con vào số các kẻ được chọn của Cha ( MR, Lễ quy Rôma 88).(số 1037).

3- Lời Các Thánh

(1001 Danh Ngôn Các Thánh, Y Phan, CMC)

  1. Ôi, có phải vì Chúa yêu con mà Chúa đã dựng

nên Hỏa ngục không, đề ép con bám lấy Chúa.

Thánh Augustinô

  1. Tất cả mọi đau đớn khốn khổ ở thế gian này chỉ

là hình ảnh mờ nhạt của án phạt Hỏa ngục mà thôi.

Thánh Gioan Kim Khẩu

  1. Trong Hỏa ngục, kẻ tội lỗi dầu có chịu gấp đôi

tất cả những hình phạt khác nhưng vẫn còn nhẹ nếu so

với hình phạt không được thấy Mặt Chúa.

Thánh Brunô

  1. Nếu những kẻ trong Hỏa ngục được diện kiến

Nhan Thánh Chúa, thì Hỏa ngục không còn là Hỏa ngục

nữa, mà sẽ trở thành thiên đàng ngay lập tức.

Thánh Augustinô

  1. Linh hồn người ta vừa ra khỏi xác sẽ nhận ra

ngay Chúa là Đấng Tạo Thành, nên nó nong nả đến trình

diện trước mặt Chúa. Khi ấy, khốn thay cho những linh

hồn nào đang mang trọng tội. Nó sẽ nhận lấy án phạt là

lời quở trách của Chúa, mà vào chốn Hỏa ngục đời đời.

Thánh Antôniô

  1. Hình phạt của các tội nhân trong Hỏa ngục rất

kinh khủng, rất nhiều và rất gay gắt, lại không hề được

một chút an ủi và nỗi đau khổ càng cứ tăng mãi cho

đến đời đời.

Thánh Rôbertô Bellarminô

  1. Ôi, nếu kẻ có tội biết Hỏa ngục là gì như chúng

tôi đã được xem thấy, hẳn họ không còn dám phạm tội

nữa kẻo phải sa xuống chốn khốn nạn ấy.

Chân phước Giaxinta

*Thánh nữ Faustina, người được THIÊN CHÚA cho thiên thần dẫn đi xem hỏa ngục, đã nói:

“Các linh hồn phải vào hỏa ngục, hầu hết là những kẻ không tin có hỏa ngục”.

Trong sách Nhật Ký Lòng Thương xót Chúa, số 741, Thánh nữ viết: Hôm nay, tôi được một thiên thần dẫn xuống các hang hốc trong hỏa ngục. Đó là nơi cực hình ghê rợn; rộng toang hoác và rùng rợn biết bao! Tôi đã thấy các thứ khổ hình: khổ hình thứ nhất tạo nên hỏa ngục chính là việc mất Thiên Chúa; khổ hình thứ hai là lương tâm cắn rứt triền miên; khổ hình thứ ba là thảm cảnh ấy không bao giờ thay đổi; khổ hình thứ bốn là lửa nung xuyên thấu nhưng không hủy diệt linh hồn – đây là một cực hình kinh khủng, một thứ lửa hoàn toàn thiêng liêng, do cơn nghĩa nộ của Thiên Chúa đốt lên; khổ hình thứ năm là cảnh tăm tối triền miên và mùi ngột ngạt hãi hùng, và mặc dù giữa tối tăm, nhưng ma quỉ và các kẻ dữ lại nhìn thấy nhau và mọi thứ độc dữ của kẻ khác cũng như của chính mình; khổ hình thứ sáu là cứ phải ở chung với Satan; khổ hình thứ bảy là nỗi tuyệt vọng cùng cực; căm hận Thiên Chúa, những lời tà độc, nguyền rủa và lộng ngôn.

Mọi kẻ bị trầm luân đều phải chịu những cực hình trên, nhưng chưa phải là hết. Còn có những hình khổ đặc biệt dành riêng cho từng linh hồn. Đây là những hình khổ về giác quan. Từng linh hồn phải chịu những hình khổ kinh khủng không sao tả được, liên quan đến cách họ đã phạm tội. Có những hang hốc và hố sâu cực hình, ở đó hình thức đau khổ này khác với hình thức đau khổ kia.

Đáng lẽ tôi đã chết ngay lập tức khi vừa thấy những cực hình ấy nếu như quyền toàn năng Thiên Chúa không nâng đỡ tôi. Các tội nhân biết họ sẽ bị gia hình mãi mãi muôn kiếp, tại những giác quan họ đã dùng để phạm tội.

Tôi viết điều này theo lệnh truyền của Thiên Chúa để không còn linh hồn nào có thể viện cớ rằng hỏa ngục không hiện hữu, hoặc chưa có ai đã từng vào trong ấy, và do đó, không ai có thể tả ra như thế nào.

          Tôi, nữ tu Faustina, theo lệnh của Thiên Chúa, đã xuống vực thẳm hỏa ngục để có thể nói cho các linh hồn biết về hỏa ngục và chứng minh sự hiện hữu của nó. Tôi không thể nói về hỏa ngục hiện giờ; nhưng tôi đã nhận được lệnh truyền từ nơi Chúa để ghi lại về hỏa ngục. Các ma quỉ hết sức căm hận, nhưng chúng phải lụy phục tôi theo lệnh truyền của Thiên Chúa. Những điều tôi đã viết ra chỉ là một bóng mờ nhạt nhòa so với những gì tôi đã nhìn thấy.

Nhưng tôi xin lưu ý một điều: hầu hết các linh hồn trong hỏa ngục là những linh hồn đã không tin có hỏa ngục.

Khi tôi đến đó, tôi hầu như không thể trở lại bình thường sau khi thấy cảnh hãi hùng. Trong đó, các linh hồn chịu đau khổ kinh khủng biết bao! Vì vậy, tôi càng cầu nguyện tha thiết xin cho các tội nhân hoán cải. Tôi không ngừng khẩn nài Lòng Thương Xót Chúa cho họ. Lạy Chúa Giêsu của con, con thà chịu khổ cực khốn khó cho đến tận thế giữa những đau khổ ghê rợn nhất còn hơn là xúc phạm đến Chúa, dù chỉ một tội nhỏ mọn nhất”.

*Trong sách Tiếng Gọi Tình yêu kể về Sơ Josepha Menendez, nữ tu Dòng Thánh Tâm Chúa, đã được đưa xuống Hỏa ngục. Sơ đã tả lại theo lệnh Bề trên rằng” không lời lẽ nào tả hết được cảnh kinh hoàng, mùi hôi thối, khổ sở muôn đời”.

Một linh hồn thú nhận: Khổ cực nhất của chúng tôi là “không còn khả năng yêu thương, nếu còn yêu thương thì không còn hỏa ngục. Chỉ có hận thù, giận ghét, ganh tị, tuyệt vọng. Trễ quá rồi. Muôn đời đền tội, mãi mãi trong ngục tù. Chúng tôi khát mong cho các linh hồn bị hư mất.

Quỉ có cách cám dỗ, gây chiến ngày đêm: – kích thích dục vọng, – kích thích kiêu ngạo, – làm cho thờ ơ phần rỗi, – không để cho bình an. Quỉ tướng nói: “Đừng để chúng bình an một giây phút nào”.

Đứa trẻ 15 tuổi phải sa hỏa ngục, nó nguyền rủa cha mẹ, vì đã không dạy nó đường lành, dạy tránh hỏa ngục. Nó đã đọc sách báo xấu, phạm tội xác thịt…

Có tu sĩ nguyền rủa mình vì đã coi thường ơn gọi tu trì.

Có giáo dân nguyền rủa mình vì đã xưng tội chẳng nên…chẳng ăn năn dốc lòng chừa…

*Sơ Josepha còn viết: Bệnh hoạn là ơn trọng đại Chúa ban để tẩy luyện linh hồn.

4- Lời quỉ thú nhận:

*Một linh mục ? trong lúc trừ quỷ đã hỏi quỷ: “Mày ở trong hỏa ngục bao lâu rồi?” Thằng quỷ trong thân xác người bị quỷ ám, đập tay xuống bàn, nổi giận la lớn: “Lúc nào cũng là lúc bắt đầu”.

5- Chứng tích:

  1. Ông Gaston de Segur, nhà trí thức đạo đức Công Giáo người Nga, , đã viết cuốn sách nói về Hỏa Ngục. Ông viết chuyện xảy ra tại Moscou vào năm 1812: Cậu tôi, Rostopchine, lúc ấy là thống đốc quân sự tại Moscou. Cậu thân với tướng Orloff, một người tài giỏi, nhưng lại khô đạo.

Một buổi tối, Orloff và Victor nói chuyện về tôn giáo và Hỏa Ngục. Orloff khiêu khích trước:

– “Không rõ bên kia nấm mồ, có cái gì khác hiện hữu không?”. Tướng Victor đáp liền:

– “Được rồi. Nếu quả thực có cái gì đó, thì một người trong hai ta, ai chết trước, sẽ hiện về báo cho người kia biết. Anh đồng ý không?”. Tử tước Orloff gật đầu “Đồng ý”. Rồi ông giơ tay bắt tay bạn, như cử chỉ giao kèo: phải trung tín giữ lời đã hứa.

Sau đó một tháng, tướng Victor ra trận chiến với quân của Napoléon nước Pháp, vừa tuyên chiến với nước Nga. 3 tuần sau, vào sáng sớm tinh sương, tướng Victor đi  do thám địa điểm của địch. Bỗng ông bị một viên đạn bắn xuyên bụng. Ông gục ngã và chết ngay tại chỗ. Chính lúc đó, linh hồn ông ra trước tòa Chúa.

Orloff đang ở Moscou, không hay biết gì về thảm họa xảy đến cho bạn mình. Vậy mà, cùng ngay buổi sáng hôm ấy, mặc dầu đã thức giấc, nhưng tử tước Orloff vẫn còn nằm rán lại trong giường. Bỗng chốc, ông trông thấy chiếc màn che giường động đậy, rồi, chỉ cách đó hai bước, xuất hiện rõ ràng gương mặt tái mét của người quá cố. Tướng Victor, một tay đặt trên ngực, dõng dạc tuyên bố: “Quả thật có Hỏa Ngục và tôi đang bị trầm luân trong ấy!”.

Nói xong, người quá cố biến mất. Tử tước Orloff nhảy ra khỏi giường, mình mặc nguyên bộ đồ ngủ, chân mang dép ngủ, đầu tóc bù xù, đôi mắt thất thần, gương mặt nhợt nhạt. Ông đâm đầu chạy một mạch đến nhà cậu tôi, kể lại cho cậu nghe câu chuyện vừa xảy ra.

10 ngày sau, quân lực Nga hoàng gởi điện cho cậu tôi, báo tin tướng Victor đã tử nạn, vào đúng y buổi sáng mà Orloff đã trông thấy ông hiện về.

2- Câu chuyện thứ hai được ghi trong sử liệu của thánh Francesco De Gieronimo (1642-1716), một linh mục dòng Tên, sinh tại Taranto, nhưng hoạt động tông đồ và qua đời tại Napoli, miền Nam nước Ý.

Ngài thường giảng các tuần đại phúc. Mục đích của thánh nhân là mời gọi mọi người hồi tâm thống hối, trở về cùng Thiên Chúa và sống ngay chính.

Một hôm, thánh Gieronimo giảng trước đám đông, kéo đến nghe ngài nơi quảng trường thành phố Napoli. Gần đó, trong căn nhà có cửa sổ nhìn xuống quảng trường, có một phụ nữ trắc nết sinh sống. Với chủ đích quấy phá và lấn át tiếng nói của vị thánh, bà cất tiếng la hét ầm ĩ và múa máy lung tung. Mọi lời khuyến cáo bà im đi, đều vô hiệu. Thánh Geronimo đành bỏ dở buổi giảng thuyết hôm ấy.

Ngày hôm sau, thánh nhân trở lại chỗ cũ. Ngạc nhiên vì thấy cửa sổ phòng bà kia đóng kín mít, thánh nhân hỏi lý do tại sao. Người ta cho ngài biết, bà ta đã bất ngờ qua đời trong đêm. Thánh nhân liền nói: “Chúng ta hãy đi xem bà”. Một số đông đi theo ngài và trông thấy xác bà còn nằm sóng soài dưới đất .. Như được linh hứng, thánh nhân cất tiếng hỏi:

– “Hỡi Catarina, nhân danh Chúa, hãy nói cho mọi người đang có mặt đây biết, bà đang ở đâu”. Tức khắc, đôi mắt người quá cố hé mở, đôi môi động đậy. Rồi bằng một giọng khàn khàn, khủng khiếp, bà trả lời:

– “Ở trong Hỏa Ngục .. Tôi bị trầm luân trong Hỏa Ngục đời đời kiếp kiếp!”.

Mọi người hiện diện toát mồ hôi lạnh, dựng tóc gáy!. Lúc xuống cầu thang, thánh Geronimo lẩm nhẩm lập lại:

– “Trong Hỏa Ngục mãi mãi .. Ôi Thiên Chúa công minh, đáng sợ biết là chừng nào!”.

Đa số những người chứng kiến cảnh tượng hãi hùng đó, không muốn trở về nhà, trước khi xét mình kỹ lưỡng, thành tâm thống hối và sốt sắng lãnh nhận bí tích Giải Tội.

(Dom Giuseppe Tomaselli, ”Y A-T-IL UN ENFER?”, Tequi, 1965, trang 24-28).

KẺ SA HỎA NGỤC, KHÔNG TẠI NHIỀU TỘI, NHƯNG TẠI KHÔNG ĂN NĂN, KHÔNG TIN CẬY VÀO LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA GIÊSU.

(Trích sách Jesus Appeals to The World, Alba House xb)

*Ngày 15-12-1935, Chúa Giêsu dạy Sơ Consolata Betrone viết những điều này cho các linh hồn :

“Consolata , điều rất thường xảy ra là các linh hồn tốt lành, đạo đức  và cả những linh hồn đã tận hiến cho Cha cũng thường làm khổ Trái Tim Cha tới cùng  vì những câu nói hờ hững như:  “Ai biết tôi có được rỗi linh hồn hay không?

Hãy mớ sách Phúc âm ra và đọc những lời hứa này. Cha hứa cho chiên Cha: “Cha sẽ cho chúng được sống đời đời. Chúng sẽ không bị hư mất đời đời. Không ai có thể giựt chúng khỏi tay Cha” (Ga 10, 28).

Consolata con có hiểu không? Không ai có thể cướp các linh hồn khỏi tay Cha.  Đọc thêm nữa:

“Những ai Cha Cha đã ban cho Cha thì quí hơn tất cả, và không ai có thể giựt chúng khỏi tay Cha Cha “(Ga 10, 29).

Consolata con có hiểu không? Không ai có thể cướp các linh hồn khỏi tay Cha.

Trong cõi đời đời, chúng không hư mất…vì Cha ban cho chúng sự sống đời đời. Cha nói những lời này cho ai? Cho tất cả các con chiên, cho tất cả các linh hồn. (1 Tm 2, 4: Chúa muốn mọi người được cứu rỗi và nhận biết chân lí).

Vậy tại sao còn có lời nhục mạ:   “Ai biết tôi có được rỗi linh hồn hay không?

Cha đã ban lời bảo đảm trong Phúc âm  rằng “Không ai có thể cướp các linh hồn khỏi tay Cha, và rằng “Cha ban cho chúng sự sống đời đời. Vì vậy các linh hồn không thể hư mất. Hãy tin Cha đi, Consolata.

Các linh hồn phải sa Hỏa ngục chỉ là những linh hồn thực sự muốn vào đó mà thôi (into hell go only those who really wish to go there). Vì Không ai có thể cướp các linh hồn khỏi tay Cha.

Vì có tự do, linh hồn có thể chạy thoát khỏi Cha, có thể phản bội Cha, có thể từ chối Cha, bằng ý muốn riêng của mình, để chạy đến với Satan.

Ôi, thay vì đả thương Trái Tim Cha bằng những bất tín, con có thể nói thêm ít tư tưởng về Thiên đàng đang chờ con.

Cha đã không dựng nên con để vào Hỏa ngục , nhưng dựng nên con để hưởng Thiên đàng, không là bạn với quỉ dữ, nhưng là an hưởng với Cha đời đời trong Tình yêu.

Consolata , con thấy đó:  Các linh hồn phải sa Hỏa ngục chỉ là những linh hồn thực sự muốn vào đó mà thôi.

Điên khùng chừng nào sự sợ hãi bị luận phạt.

Sau khi đổ hết Máu mình ra để cứu chuộc các linh hồn, sau khi bao bọc các linh hồn bằng hết ơn này tới ơn khác trong suốt cuộc sống của các con, thử hỏi Cha có cho phép Satan, kẻ thù xấu xa nhất của Cha, cướp giựt các linh hồn khỏi tay Cha vào phút cuối cùng cuộc đời nó không, ngay vào lúc Cha sắp lượm kết quả của công ơn Cứu chuộc, và do đó, vào lúc linh hồn này sắp được hưởng Tình yêu Cha muôn đời? Cha có thể làm như thế sao? Khi trong Phúc âm Cha đã hứa ban cho linh hồn sự sống đời đời và “không ai có thể giựt chúng khỏi tay Cha”.

Consolata, làm sao có thể tin rằng sự quái gở ấy sẽ xảy ra được? 

Con biết đó, hình phạt cuối cùng chỉ có thể tìm thấy nơi những linh hồn cố ý muốn đi vào Hỏa ngục , và đó là tại gan lì cố chấp từ chối lòng Thiên Chúa, vì không bao giờ Cha từ chối ban ơn tha thứ cho bất cứ linh hồn nào (anyone).

Cha ban ơn thông cảm vô cùng cho mọi người, vì Máu Cha đổ ra cho mọi người, cho mọi người.

Không, không phải vì vô số tội mà linh hồn bị kết án, vì Cha ban ơn tha thứ cho mọi kẻ có lòng ăn năn, nhưng bởi vì sự gan lì, cố chấp không muốn được tha thứ, nó muốn bị hư mất.

Trên thập giá, tên trộm Dismas, chỉ với một cử chỉ đức tin vào Cha, mà nhiều, nhiều tội lỗi của hắn, trong chốc lát đã được xóa bỏ, và quả thực, ngay hôm được tha thứ đó, hắn được vào Nước Thiên đàng và nên một vị Thánh.  Đó là sự chiến thắng của lòng Thương xót và lòng Tin cậy vào Cha .

Consolata, không đâu, Cha Cha đã ban cho Cha các linh hồn thì cao trọng hơn, quyền thế hơn tất cá các quỉ dữ. Không ai có thể cướp giựt chúng khỏi tay Cha Cha.

Ô, Consolata, hãy trông cậy nơi Cha, hãy tin tưởng nơi Cha.  Con phải tin tưởng mù quáng rằng: Cha sẽ hoàn tất những lời hứa trọng đại Cha đã hứa với con.  Cha nhân lành, nhân lành và Thương xót vô biên, vô lượng. ” Cha không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năn hối cải và được sống” (Ez 33,11).

*“Hãy tôn vinh Thiên Chúa với lòng trông cậy của con, hãy thề hứa với Cha rằng:  nếu con luôn luôn tin cậy, thì dù linh hồn con có gặp bất cứ tình cảnh nào, Thiên đàng sẽ được mở ra cho con.

Được lời lãi cả thế gian mà thiệt mất linh hồn nào có lợi gì? Lấy gì đổi lại cho cân bằng? (Mt 16,26)

Lm. Đoàn Quang, CMC

Anh chi Thu & Mai goi

BÊN HỒ

 BÊN HỒ

Song Như.

Lung linh sợi nắng sân vườn
Tô son điểm phấn thêm hường đoá hoa
Mây che bóng đổ nhạt nhoà
Gió lay nhè nhẹ loà xoà áo bay
Cỏ xanh nắm lấy bàn tay
Len vào tâm tưởng thoáng say tấc lòng
Nghe như trỗi nhạc bềnh bồng
Nghe như tình khúc mênh mông lối vào
Sơn ca ríu rít trên cao
Thi nhân tỉnh mộng nôn nao gọi mời
Về đây dạo bước rong chơi
Nhìn mây ngắm nước nhìn đời để yêu…

Liverpool.7-1-2016
Song Như.

BIEN HO

MẸ THIÊN CHÚA MẸ NHÂN LOẠI

MẸ THIÊN CHÚA MẸ NHÂN LOẠI

Tuyết Mai

Chúng ta con cái dưới trần cộng lại cũng không sao tả hết sự thánh thiện, tốt lành và sáng ngời của Mẹ Maria nhất là tình yêu thương Mẹ dành cho con cái của Mẹ thì luôn bao la diệu vợi.

Thiên Chúa tác tạo ra Mẹ cách riêng rất đặc biệt là Mẹ vô nhiễm nguyên tội, tuyệt hảo cùng tuyệt vời rất xứng đáng để làm Mẹ Thiên Chúa nên Người rất yêu thương, trân quý, chìu chuộng và rất nâng niu có nghĩa không gì Mẹ khẩn cầu mà Thiên Chúa làm ngơ cho được.   Cũng do đó mà Mẹ Maria của chúng ta Mẹ rất nhọc lòng và đau khổ với đàn con hư hỏng tội lỗi của Mẹ.

Chớ thì con cái của Mẹ dưới trần có phải đang chém giết lẫn nhau đấy không?.   Chớ thì bao nhiêu thai nhi hằng năm cứ bị cha mẹ chúng giết chết mà ngay cả một tiếng khóc chào đời cũng không được nghe thấy đấy không?.   Rồi thì con người dần làm cho trái đất ngày một biến dạng, xấu đi vì thải ra vô số độc tố mà con người ngày càng bị nhiễm nhiều chứng bệnh lạ mà khoa học chưa kịp tìm ra được loại thuốc để trị liệu hay hủy diệt được những vi khuẩn ung thư rất mới mẻ này.

Nhưng dẫu sao thì ai ai cũng chỉ có một đời để sống và để chết, cái quan trọng là Linh Hồn sống đời của chúng ta kìa mới là đáng kể như ngay hiện nay có ai tưởng tượng được con số Linh Hồn hiện đang bị giam cầm nơi Luyện Ngục là bao nhiêu mà không là nhiều nhiều lắm, thưa có phải?.

Hầu hết người Kitô hữu chúng ta đều hiểu được rằng không gì quan trọng và thiết yếu cho bằng là có được sự sống ở đời sau và là đến được một thế giới mới nơi không còn có Sinh, bệnh, lão, tử và càng không có những thân xác có giòi bọ hay vi khuẩn làm cho ta chết nữa được.

Ôi sung sướng là nhường bao khi tất cả chúng ta đều có được người Mẹ luôn luôn bảo bọc con cái của mình.   Do đó mà chúng ta rất cần tôn sùng và siêng năng chạy đến cùng Mẹ liên, để được Mẹ yêu thương gìn giữ xác hồn cho đến giờ lâm tử.   Nhưng cái khổ trong nhiều người chúng ta là hiện đang cố gắng để tích góp mà quên sống cuộc sống ngay lành.

Mà người thích tích góp của cải thì lại đi ngược với đường lối dạy dỗ của Thiên Chúa vì người khổ công tích góp của cải thường sống xa Chúa xa Mẹ, dị ứng với Giới Răn sống yêu thương của Thiên Chúa mà chúng quỷ dữ xui khiến cho chúng ta chọn cách sống ấy và chúng đã thành công!?.

Chúng ta là những con người vô cùng may mắn vì có được Mẹ Maria là Mẹ rất yêu dấu của chúng ta và vì Mẹ luôn làm phép lạ để nhắc nhở con cái Mẹ là Mẹ luôn có mặt và luôn ở gần bên nhất là những con cái siêng năng đọc kinh Mân Côi.   Càng đọc nhiều thì Mẹ càng biết con cái Mẹ hiện đang ở đâu, được Mẹ nối kết và đem chúng ta đến gần bên Thiên Chúa hơn.   Amen.

Y Tá của Chúa,

Tuyết Mai