Trãi thảm cho cửa địa ngục, vì sao?

Trãi thảm cho cửa địa ngục, vì sao?

tuankhanh

RFA

Có phải con người Việt Nam đang sống ở dưới mức cam chịu, luật pháp Việt Nam thì quá yếu ớt hoặc ngành giáo dục hiện nay không còn đủ ý thức mình đang là gì trên đất nước này? Sự kiện trẻ em trong trường học bị công an tự tiện xông vào bắt đi, dẫn đi và tra tấn, dẫn đến thương tật hoặc tử vong đang diễn ra nhức nhối, nhưng mọi thứ cứ như bị dằn xuống, im lặng và trôi qua.

Điều thất nhân tâm mới nhất, là chuyện công an thôn ở huyện Tịnh Sơn, Quảng Ngãi đã tự ý đi vào trường THCS Tịnh Bắc, xã Tịnh Bắc để bắt em Nguyễn Tấn Tâm giữa giờ học, đem về đồn tra tấn để buộc em phải nhận tội ăn trộm. Sau đó, công an thôn – như một cách che chở lộ liễu qua việc cung cấp thông tin hạn chế từ địa phương, chỉ được cho biết tên là Danh – đã buộc mẹ em Tâm đến ký giấy xác nhận tội của em. Như mọi gia đình thôn quê ở miền trung, sợ hãi đồn công an và chốn công quyền, bà Trương Thị Thái, mẹ của em vội vã ký vào giấy vì nghe lệnh của công an là “ký vào, mới được cho về”, hơn nữa bà quá lo lắng khi thấy con mình bị bắt từ sáng, mà đến 7 giờ tối mới được công an thôn cho gọi.

Đầu năm 2016, lá thư tuyệt mệnh của học sinh Tâm gửi lại cho gia đình sau khi uống thuốc trừ sâu, chọn cái chết để đòi lại danh dự của mình, trở thành tuyên ngôn máu của hiện thực học đường mà ngành giáo dục Việt Nam phải cúi mặt, nếu còn chút lương tri.

Từ lúc nào, nhà trường ở Việt Nam trở thành cánh cổng phụ dẫn đến đồn công an một cách công khai như vậy?

Trường hợp công an đột nhập trường THCS Tịnh Bắc bắt em Tâm đi, có thể được coi là điều bất ngờ của thầy cô, ban giám hiệu nhà trường, nhưng lẽ ra em Tâm phải được nhà trường bảo lãnh đi về cho hết giờ học, thông báo hiện tượng bất thường này cho phụ huynh em Tâm để tránh điều đáng tiếc nói trên. Hoặc ít nhất nhà trường đã phải cử người đến đồn công an để làm người giám hộ cho em Tâm.

Rất nhiều người khi đọc bản tin về cái chết của học sinh Nguyễn Tấn Tâm, đã thở dài nói rằng với tình trạng cường quyền và vô pháp của công an ở các vùng nông thôn, nhà trường có biết thì cũng đành cam chịu. Bạn có tự hỏi, nếu sự sợ hãi không có bóng dáng của pháp luật đó cứ được duy trì mãi, liệu sẽ có bao nhiêu sinh mạnh trẻ nhỏ còn treo lơ lửng trong môi trường học đường?

Hãy nhìn lại biểu đồ của ngành giáo dục, liên quan đến đến vấn nạn công an ngang nhiên dẫn độ trẻ em giữa giờ học (trong đó cũng không ít vụ chính nhà trường làm “mai mối” cho những tội ác đó). Biểu đồ đó tăng dần trong hình ảnh lạm quyền của công an địa phương, cũng như coi thường luật pháp. Từ năm 2007, khi dư luận xã hội bùng lên chuyện em Huỳnh Thị Ngọc Trâm, học lớp 5 ở trường tiểu học An Hiệp, tỉnh Đồng Tháp bị chính nhà trường giao cho công an tra tấn để xét xem em có lấy trộm tiền quỹ 47.000 đồng của lớp không, khiến em trở nên hoảng loạn và bị câm trong một thời gian dài mà không hề có sự bồi thường thoả đáng nào. Ghê sợ hơn, học sinh tiểu học mới 7 tuổi như em Lại Thị Thắm ở trường tiểu học Trung Lập Thượng, Củ Chi, Tp.HCM cũng từng bị dắt giao cho công an thẩm tra, ngay trong lúc em đang ở lớp, vì nghi em trộm tiền. Chuyện vừa diễn ra vào năm 2012, là một trong những cột mốc chạy dài đến hiện tại, với vô số sự kiện bạo lực học đường bắt đầu từ người lớn, và hôm nay là cái chết của em Nguyễn Tấn Tâm.

Chẳng lẽ, đối với học đường, ngành công an không thể tiêu hoá nổi khoản 9 điều 7 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, nghiêm cấm các hành động có tính chất xúc phạm, hạ thấp danh dự, nhân phẩm hoặc dùng nhục hình đối với trẻ em tình nghi vi phạm pháp luật? Và điều luật được in rành rành công khai đó, đối với các thầy cô, vẫn không đủ là chỗ dựa để bảo vệ học trò mình thay vì cam chịu, như biến nhà trường thành cánh cổng phụ của đồn công an, trong trường hợp em Tâm?

Cách đây không lâu, Bộ Giáo dục có ra thông báo, kêu gọi phụ huynh cẩn trọng trước nạn bắt cóc trẻ em ở trước cửa trường. Chua chát thay, số liệu về bắt cóc của kẻ lạ thì rất thấp, nhưng số liệu về việc công an bắt đi công khai, nhục hình và gây thương tật cho học sinh thì rất rõ, thậm chí được ghi ở trang bách khoa điện tử. Thật ngạc nhiên, khi cần thì Bộ giáo dục có thể vận dụng mọi ngành công an địa phương trong việc để bảo đảm cho những kỳ thi “sạch” theo ý muốn của mình, nhưng gần 10 năm, kể từ sự kiện em Ngọc Trâm, Bộ Giáo dục sao không thể gửi nổi một công văn khuyến cáo các công an địa phương nên hợp tác văn minh để giữ gìn môi trường cao quý của ngành giáo dục?

Nói về chuyện giá trị riêng tư của ngành giáo dục, lại chợt nhớ câu chuyện của anh bạn định cư ở nước ngoài. Những ngày đầu ở xứ người, do không quen đường xá, anh bạn khi đưa con lên xe bus của nhà trường, liền lái xe đi theo để học thuộc đường, phòng trường hợp phải đi đón về sớm. Được 2 ngày, cảnh sát đến tận nhà kiểm tra xem có đúng là phụ huynh không, còn nếu không thì sẽ bị cấm đi theo xe bus học sinh, do bị nghi ngờ là kẻ bắt cóc. Sau khi nghe chuyện, cảnh sát còn dặn anh bạn rằng phải nhớ ghé vào trường làm một I.D tag (thẻ nhận dạng phụ huynh) thì mới có thể được phép đón con về. Viên cảnh sát cho biết thêm, ngay cả trường hợp ông được nhờ đưa học sinh về, ông phải ký vào sổ và ghi rõ họ tên, chức vụ của nhà trường.

Chuyện nhà trường ở xứ người thì vậy, còn trong trường hợp em Tâm, sau khi công an thôn thấy chuyện trở nên rắc rối từ cái chết của em, nơi này đã vội vàng tuyên bố rằng học sinh Tâm từng có tiền án trộm cắp hơn 10 vụ. Ngay cả cô phó hiệu trưởng trường THCS Tịnh Bắc, cô Nguyễn Thị Thu Hoanh nghe mà phải sửng sốt trước trò tiểu xảo này. Cô khẳng định rằng mình vẫn biết em Tâm là một học sinh ngoan. Đúng là người chết hai lần, thịt da nát tan.

Một môi trường giáo dục được tôn trọng là ước muốn không của riêng ai. Một không gian văn minh và riêng tư của nhà trường phải thuộc về pháp luật, chứ không thể thuộc vào quyền lực riêng của một bí thư hay một công an xã. Nỗi đau của các phụ huynh có con cái đối diện với vấn nạn lạm quyền vô pháp phải trở thành những bài học cho đất nước. Cái chết của học sinh Nguyễn Tấn Tâm không thể bị lãng quên vô ích, nó là tiếng kêu về một tương lai khác của học đường Việt Nam: nơi đó phải là nơi trải thảm cho đường đến tương lai, chứ không thể là đường trải thảm dành cho cửa địa ngục.

Comments

Wed, 01/20/2016 – 02:23 — anonymous

Địa ngục việt nam

Chuyện này xảy ra ở việt nam thì đâu có gì là lạ…chỉ có mới là vì thông tin bây giờ khó bưng bít thôi. Cũng như bắc hàn hay trung cộng lũ quỉ cộng sản có thể bất hoặc giết bất cứ ai chúng muốn. Trường học thì thầy giáo còn bắt học trò bán dâm, du đãng hoành hành, nộp tiền để được điểm cao….sau khi phá nát nền giáo dục việt nam, lũ quỉ đỏ gởi con của chúng đi học trường quốc tế mở ra ở sài-gòn, hà-nội…hoặc có tiền hơn thì gởi đi các nuớc phương tây để ăn học. Còn dân đen không tiền thì ở trong nước tiếp tục học đạo đức hồ chí minh…để đi làm tôi mọi hoặc osin cho các nước láng giềng. Nếu các bậc cha mẹ muốn con cháu mình tiếp tục được đảng đào tạo thì cứ việc tiếp tục cúi đầu cam chịu.

Hoài Việt

Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư kêu gọi Việt Nam đổi mới chính trị

Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư kêu gọi Việt Nam đổi mới chính trị

Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư Việt Nam Bùi Quang Vinh.

Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư Việt Nam Bùi Quang Vinh.

Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư Việt Nam nói đổi mới chính trị là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển quốc gia.

Truyền thông nhà nước dẫn phát biểu của Bộ trưởng Bùi Quang Vinh hôm nay (22/1) trước Đại hội đảng lần thứ 12 nhận xét hệ thống chính trị hợp với kinh tế kế hoạch hóa tập trung thời chiến là rào cản cho sự phát triển của Việt Nam ngày nay.

Ông Vinh nói công cuộc đổi mới trong 5 năm qua ‘chưa thực sự đem lại hiệu quả như mong muốn’ vì Việt Nam dù ‘đã tích cực đổi mới thể chế kinh tế và đạt một số kết quả nhất định, nhưng đổi mới về chính trị thì hầu như chưa làm’.

Bộ trưởng Vinh nhắc nhớ chiến lược phát triển quốc gia 2011-2020 thông qua tại Đại hội 11 cách đây 5 năm đã đề mục tiêu ‘đổi mới chính trị đồng bộ với đổi mới kinh tế’, ‘đổi mới phương thức lãnh đạo của đảng’, ‘xây dựng nhà nước pháp quyền’ và mở rộng dân chủ trong Đảng và xã hội.’

Người đứng đầu Bộ Kế hoạch Đầu tư nhấn mạnh thành tựu lớn nhất của công cuộc đổi mới là chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, cách thức hoạt động của hệ thống chính trị Việt Nam không thay đổi cho thích hợp.

Bộ trưởng Vinh nói dù pháp luật Việt Nam có khuyến khích công dân tham gia vào quản trị nhà nước nhưng từ lý thuyết đến thực tiễn vẫn còn là một khoảng cách. Một ví dụ được nêu lên là quy trình bầu cử và cơ chế để các tổ chức xã hội tham gia vào công tác quản lý nhà nước chưa bảo đảm tính đại diện  của người dân.

Ông Vinh khẳng định: “Một hệ thống chính trị phù hợp với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây, đặc biệt trong hoàn cảnh chiến tranh nay không còn phù hợp nền kinh tế thị trường, thậm chí còn là rào cản, trở ngại cho sự phát triển.” Vì vậy, vẫn theo lời ông, đổi mới chính trị đồng bộ với đổi mới kinh tế là yêu cầu hết sức cấp bách cho sự phát triển quốc gia.

Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư cũng kêu gọi đảng cộng sản Việt Nam đánh giá lại chính mình, thực hiện nghiêm túc những nghị quyết đưa ra, ‘đổi mới cơ cấu’ để hoạt động hiệu quả hơn, ‘lấy lại niềm tin trong nhân dân’.

Về đổi mới kinh tế, ông Vinh lưu ý 3 điểm chính bao gồm phát triển kinh tế đi đôi với  bền vững môi trường, công bằng xã hội và nâng cao năng lực quản lý của nhà nước.

Tuy nhiên, ông không đề nghị cách thức đổi mới chính trị cụ thể như thế nào.

Một số bình luận đăng tải trên các trang mạng xã hội chất vấn Việt Nam có thể đổi mới chính trị bằng cách nào khi mà đảng cộng sản độc quyền cai trị đất nước vẫn tự cho mình ‘ngồi trên Hiến pháp’.

Một độc giả góp ý thẳng thắn: “Khi nào Hiến pháp và pháp luật được thượng tôn, khi đó mới nói đến chuyện cải cách thể chế”.

Cũng có ý kiến cho rằng lời kêu gọi của Bộ trưởng Vinh chẳng qua là một hình thức tô bóng hình ảnh của các giới chức trong lúc diễn ra đại hội đảng 12, đánh dấu thay đổi nhân sự quan trọng trong bộ máy lãnh đạo Việt Nam cho nhiệm kỳ 5 năm tới.

Theo Người Lao Động, Vietnamnet.

 

Lê Hồng Anh: Có nhiều ‘nội gián’ trong chính quyền Việt Nam

Lê Hồng Anh: Có nhiều ‘nội gián’ trong chính quyền Việt Nam
Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV)Ðó là điều mà ông Lê Hồng Anh, thành viên thường trực của Ban Bí Thư, Ban Chấp Hành Trung Ương (BCH TƯ) Ðảng CSVN khóa 11, báo cáo với các đại biểu dự Ðại Hội Ðảng CSVN lần thứ 12.

Khi trình bày báo cáo để kiểm điểm về việc chỉ đạo của BCH TƯ Ðảng CSVN khóa 11, ông Anh cho biết, đối với việc chỉ đạo trong lĩnh vực đối ngoại, quốc phòng, an ninh, suốt nhiệm kỳ vừa qua, giới lãnh đạo Ðảng CSVN đã thực hiện đúng “Nghị quyết về chiến lược bảo vệ tổ quốc,” vẫn bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Ðảng CSVN đối với quân đội, công an.


Ông Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng đương nhiệm bước vào hội trường dự Ðại Hội Ðảng CSVN 12. Gần như chắc chắn nhân vật này sẽ phải ra đi. (Hình: VietNamNet)

Theo lời nhân vật này thì Bộ Chính Trị và Ban Bí Thư của Ðảng CSVN nhiệm kỳ vừa qua đã xây dựng và ban hành “Ðề án tổng thể về biển Ðông” và đã “xử lý những vấn đề cụ thể phát sinh trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Giữ vững độc lập, chủ quyền, sự toàn vẹn lãnh thổ. Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước.”

Ðặc biệt là “giữ được quan hệ hợp tác hữu nghị Việt-Trung.” Khi xảy ra những vụ biểu tình, bạo động tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư ngoại quốc ở một số địa phương, giới lãnh đạo Ðảng CSVN đã có những “chỉ đạo kịp thời nhanh chóng ổn định tình hình, khắc phục hậu quả, lấy lại niềm tin của giới đầu tư ngoại quốc.”

Ông Anh tiết lộ thêm là giới lãnh đạo Ðảng CSVN đã chỉ đạo các cơ quan hữu trách gia tăng các biện pháp “bảo vệ chính trị nội bộ” và đã “phát hiện, vô hiệu hóa nhiều phần tử nội gián” song lại không đề cập đến chuyện những “phần tử” này làm “nội gián” cho ai, như thế nào và từ khi nào.

Nhân vật là thường trực của Ban Bí Thư, BCH TƯ Ðảng CSVN khóa 11, báo cáo là giới lãnh đạo Ðảng CSVN đã “giải quyết có hiệu quả một số vấn đề quan trọng về quốc phòng, an ninh và đề ra đối sách xử lý phù hợp với các vụ việc phức tạp.”

Các cơ quan hữu trách đã được yêu cầu gia tăng các biện pháp kiểm tra, khắc phục sơ hở, bảo đảm an ninh, an toàn thông tin Internet. Gia tăng bảo vệ chính trị nội bộ, “chủ động đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, hoạt động thành lập tổ chức chính trị đối lập ở trong nước,” cũng như “âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc để chống phá Ðảng CSVN.”

Giới lãnh đạo Ðảng CSVN đã ban hành một số chỉ thị để “bảo đảm an ninh, trật tự trong tình hình mới.”

Cần nhắc lại rằng, tuy nhân vật là thường trực của Ban Bí Thư, BCH TƯ Ðảng CSVN khóa 11, khẳng định là đã gia tăng các biện pháp “bảo vệ chính trị nội bộ” nhưng trên thực tế, việc các băng nhóm trong Ðảng CSVN sử dụng Internet để tấn công nhau càng ngày càng quyết liệt. Việc dung đủ mọi chiêu, trò bẩn thỉu, hạ cấp nhằm bôi nhọ, hạ bệ nhau đã góp phần bạch hóa nhiều thông tin thuộc loại “bí mật quốc gia” vì liên quan đến khả năng, tư cách của các viên chức lãnh đạo Việt Nam, khiến dân chúng Việt Nam càng thêm chán ngán và bất bình.

Liên quan tới việc lựa chọn giới lãnh đạo Ðảng CSVN cho nhiệm kỳ sắp tới qua đại hội Ðảng CSVN lần này, cuộc chiến giành quyền lực giữa các băng nhóm trong Ðảng CSVN dường như đã kết thúc. Xác suất ông Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng đương nhiệm của Việt Nam phải nghỉ hưu, chứ không thể trở thành tổng bí thư kiêm chủ tịch nhà nước như nhiều người dự đoán hiện nay đã lên rất cao.

Hôm Thứ Tư, 1510 đảng viên đại diện cho 4.5 triệu đảng viên CSVN đã họp phiên trù bị, chuẩn bị cho đại hội chính thức sẽ diễn ra trong tám ngày, từ 21 đến 28 tháng này. Trong phiên họp trù bị, các đại biểu tham dự Ðại Hội 12 của Ðảng CSVN đã bỏ phiếu thông qua “Quy chế bầu cử.”

Theo đó, nếu không được BCH TƯ Ðảng CSVN khóa trước giới thiệu tái cử thì các ủy viên BCH TƯ Ðảng CSVN khóa trước sẽ không được ứng cử, đề cử hoặc nhận đề cử mà ông Dũng lại không nằm trong danh sách được giới thiệu tái cử. Có xác suất rất cao ông Nguyễn Phú Trọng sẽ tiếp tục là tổng bí thư Ðảng CSVN. Tuy nhiên vẫn không thể loại trừ trường hợp có đột biến vào giờ chót.

Ngày 21, trả lời báo chí về “Quy chế bầu cử,” viên bộ trưởng Thông Tin-Truyền Thông của chính phủ Việt Nam, đồng thời cũng là một ủy viên BCH TƯ Ðảng CSVN khóa trước, mới nhận mạnh, dẫu không được ứng cử, đề cử hoặc nhận đề cử nếu không nằm trong danh sách được giới thiệu tái cử” nhưng “quyền quyết định cao nhất vẫn thuộc về các đại biểu tham dự Ðại Hội Ðảng CSVN lần này” bởi “điều đó thể hiện dân chủ trong đảng.” (G.Ð)

Ba nữ tài tử xinh đẹp từ bỏ tất cả để trở thành nữ tu.

Ba nữ tài tử xinh đẹp từ bỏ tất cả để trở thành nữ tu

Làm sao để có một cuộc sống hạnh phúc? Điều gì khiến cuộc sống này đáng sống? Phải chăng đó là tiền tài, danh vọng, thành đạt…? Chúng ta không phủ định rằng những yếu tố kể trên không đem lại hạnh phúc cho con người nhưng nó không phải là tất cả. Và ai trong chúng ta cũng biết, cũng hay và cũng rõ, duy chỉ có Thiên Chúa, chỉ nơi Đức Ki-tô, con người ta mới có được một hạnh phúc tròn đầy và viên mãn.
Và cũng chỉ có cách hiểu như vậy thì chúng ta mới lý giải được lý do khiến ba nữ tài xinh đẹp được nói dưới đây quyết định từ bỏ tất cả để bước vào cánh cổng Tu viện. Họ bỏ lại sau lưng sự nghiệp, tiền tài, danh vọng để theo đuổi hạnh phúc trên con đường dân hiến.
1, Dolores Hart – “Nếu bạn được nghe những gì tôi đã nghe…”
Cô sinh năm 1938 và tên thật là Dolores Hicks. Cô đổi tên thành Dolores Hart khi bắt đầu sự nghiệp diễn xuất của mình từ khi còn rất trẻ. Ở tuổi 18, cô đã là một nữ diễn viên trong vai người yêu của ông hoàng Rock & Roll – Elvis Presley trong bộ phim Loving you. Cô đã nhận được nụ hôn đầu tiên của Elvis trên màn ảnh.
Dolores còn đóng nhiều vai diễn khác nữa trong 9 bộ phim trong vòng 5 năm sau đó. Cô đóng phim cùng các diễn viên nổi tiếng như Stephen Boyd, Montgomery Clift, George Hamilton và Robert Wagner.
Dolores Hart (thời trẻ) và “ông hoàng Rock & Roll” Elvis Presley từng cùng xuất hiện trong hai bộ phim được thực hiện hồi thập niên 1950-1960.
24 tuổi, cô quyết định từ bỏ tất cả để bước vào nhà dòng khi trên đà trở thành một ngôi sao Hollywood. Sau này, cô giải thích rằng, lúc đó cô được đóng vai Thánh Clara trong bộ phim Thánh Phanxico Assisi. Cô đã được gặp Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII tại Ý trong thời gian quay bộ phim. Cô giới thiệu với Ngài rằng: “Thưa Cha, con là Dolores Hart, nữ diễn viên trong vai Thánh Clara”. Ngài trả lời rằng: “Không phải như vậy. Con chính là Thánh Clara thành Assisi.”
Fan hâm mộ và bạn bè của cô đã bị sốc và thậm chí còn phát điên khi họ nghe tin này. Hart nhớ lại: “Thậm chí, người bạn thân nhất của tôi là linh mục, cha Doody, nói rằng: “Cậu thật điên rồ. Quá dại dột khi cậu quyết định như vậy.” Một người bạn của cô còn viết là thư đầy tức tối sau khi cô nhập tu và cố gắng thuyết phục cô ra khỏi nhà dòng. Và cô đã trả lời rằng: “Nếu cậu đã từng nghe thấy những gì tớ được nghe, cậu cũng sẽ làm như tớ, sẽ tới đây mà thôi!”
 
Sơ Dolores Hart hiện nay
2, Olalla Oliveros – “Thiên Chúa chẳng bao giờ lầm…”
Olalla Oliveros là một siêu mẫu nổi tiếng người Tây Ban Nha. Cô cũng là diễn viên, hoạt động trong lĩnh vực gioi trẻ trong nước và quốc tế.
Sau khi ghé tham Fatima, Portugal – một linh địa mà Mẹ Maria đã hiện ra với ba đứa trẻ năm 1917, cô đã bị đánh động. Olalla nói, trong đầu cô hiện lên hình ảnh của mình trong bộ áo dòng giống các nữ tu và một vài điều nữa mà thoạt đầu cô cho là phi lý.
Cô không thể nào bắt theo những hình ảnh đó. Và rồi cô nhận ra rằng, Chúa đang gọi mình. Chúa đang gọi cô từ bỏ cuộc sống hiện tại để trở thành một nữ tu.
“Thiên Chúa chẳng khi nào nhầm lẫn cả”, cô nói. “Ngài hỏi tôi rằng tôi có theo Ngài không và tôi chẳng thể nào chối từ”.
Hiện tại, cô đang sống trong dòng Thánh Micae, một nhà dòng bán kín.
3, Amada Rosa Pérez – “Tôi đang sống trong bình an…”
Amada Rosa Pérez là một trong những siêu mẫu thành đạt và nổi tiếng nhất ở Colombia 10 năm trước đây, trước khi cô “mất tích” khỏi công chúng. Sau 10 năm, cô quay trở lại và giải thích cho mọi người về sự vắng bóng của mình. Cô đã có một cuộc chuyển mình lớn và giờ Amada đang sinh hoạt trong Tu hội Đức Mẹ. (Tuy nhiên, cô không phải là một nữ tu mà chỉ cộng tác trong đó).
Trên đỉnh cao của sự nghiệp, cô được chẩn đoán là mắc bệnh về thính giác. Việc này đã khiến cô tự đặt một câu hỏi về cuộc sống hiện tại của mình. Cô nói: “Tôi cảm thấy tuyệt vọng, mất phương hướng và ngập chìm trong những thú vui thoáng qua… Tôi luôn băn khoăn để tìm kiếm lẽ sống nhưng cuộc đời lại chẳng trả lời giúp tôi.
Giờ đây, cô thường xuyên tham dự Thánh LỄ, đi xưng tội, đọc kinh Mân Côi và kính Lòng Thương Xót Chúa. “Trước đây, tôi luôn trong tình thế gấp gáp, vội vàng, căng thằng là dễ phiền muộn”, cô giải thích. “Thế nhưng, giờ lại khác. Tôi được sống trong bình an, thế gian kia chẳng còn đủ sức để cám dỗ tôi được nữa. Bởi, tôi luôn yên và quý trọng tựng phút giây mà Thiên Chúa ban tặng.”
Cô cũng nhận định là điều gì mới thực sự làm nên một hình tượng “người mẫu”. Cô chán ghét với một hình tượng chỉ được cái vẻ bên ngoài. Thực sự, đó là một thế giới của sự giả tạo, hình thức, dối trá, đạo đức giả và sự lừa gạt. Một xã hộ đầy dẫy những điều vô luân, bạo lực, dâm tục, ma túy, đánh hại nhau, một xã hội tôn thờ tiền tài, tình dục và lừa dối.
“Tôi muốn trở thành một người mẫu, người mà giúp cho nhân phẩm của người phụ nữ được coi trọng chứ không phải là để với mục đích thương mại”.

 

CHẲNG VỊ THÁNH NÀO KHÔNG CÓ MỘT QUÁ KHỨ, CŨNG CHẲNG TỘI NHÂN NÀO KHÔNG CÓ MỘT TƯƠNG LAI

CHẲNG VỊ THÁNH NÀO KHÔNG CÓ MỘT QUÁ KHỨ, CŨNG CHẲNG TỘI NHÂN NÀO KHÔNG CÓ MỘT TƯƠNG LAI

 Vũ Đức Anh Phương, SJ

Trong bài giảng thánh lễ sáng thứ ba, ngày 19.01, tại nhà nguyện thánh Marta, Đức Thánh Cha Phanxicô đã chia sẻ rằng: “Chẳng vị thánh nào không có một quá khứ, cũng chẳng tội nhân nào không có một tương lai.  Thiên Chúa không bao giờ dừng lại ở dáng vẻ bề ngoài mà luôn nhìn sâu vào tận tâm tư cõi lòng của con người.”

Khởi đi từ bài đọc một, kể lại việc Thiên Chúa đã tuyển chọn cậu bé Đa-vít để sau này trở thành vua của Ít-ra-en, Đức Thánh Cha chia sẻ rằng: “Ngay cả những vị thánh, trong cuộc đời của mình, cũng đã gặp phải những cám dỗ và tội lỗi, giống như cuộc đời của vua Đa-vít vậy.

Thiên Chúa đã gạt bỏ vua Sa-un vì vua có một tâm hồn đóng kín, chiều theo ý dân chúng hơn là vâng phục Thiên Chúa.  Thiên Chúa đã quyết định chọn cho dân Ngài một vị vua khác.

Thiên Chúa đã chọn Đa-vít.  Sự chọn lựa ấy nếu dựa theo tiêu chuẩn của con người sẽ chẳng thể nào hiểu được, vì Đa-vít chỉ là một đứa trẻ và lại còn là đứa con nhỏ nhất của ông Gie-sê.  Nhưng Thiên Chúa đã phán rất rõ ràng với tiên tri Sa-mu-en rằng Ngài không xét theo hình dáng bên ngoài và những tiêu chuẩn theo kiểu người phàm.  Người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Thiên Chúa thì thấy tận đáy lòng.

Chúng ta thường bị chi phối bởi dáng vẻ bề ngoài và tự cho phép chúng ta theo đuổi những dáng vẻ ấy.  Nhưng Thiên Chúa là Đấng biết sự thật và những điều kín ẩn bên trong.  Ông Gie-sê cho bảy người con trai đi qua trước mặt ông Sa-mu-en, nhưng Thiên Chúa không chọn ai trong số họ.  Sa-mu-en cảm thấy khó khăn, bối rối và nói với ông Gie-sê: “Đức Chúa không chọn những người này.  Các con ông có mặt đầy đủ chưa?”  Ông Gie-sê trả lời: Còn cháu út nữa, nó đang chăn chiên.”  Trước mắt người đời, đứa trẻ này không được tính, không đáng để quan tâm đến.

Đứa bé chẳng có gì khiến người ta phải lưu ý, nhưng Thiên Chúa đã chọn cậu và truyền cho Sa-mu-en xức dầu tấn phong cậu.  Và Thần Khí Đức Chúa ở với Đa-vít từ ngày đó trở đi.  Trọn cuộc đời của Đa-vít là cuộc đời của một người được Thiên Chúa xức dầu, được Thiên Chúa tuyển chọn.

Nhưng ngay lúc đó, Thiên Chúa có biến cậu Đa-vít thành một vị thánh không?  Câu trả lời là không.  Mặc dù vua Đa-vít là một thánh vương, điều này là sự thật, nhưng ngài chỉ trở thành thánh sau khi sống một thời gian lâu dài.  Trong cuộc sống đó, ngài cũng phạm tội, cũng vướng mắc bao lỗi lầm.

Vua Đa-vít là một vị thánh và cũng là một tội nhân.  Ngài là người có khả năng lãnh đạo con cái Ít-ra-en thống nhất đất nước, nhưng lại yếu đuối để rơi vào cám dỗ.  Không chỉ phạm tội, ngài còn là kẻ sát nhân.  Để che dấu ham muốn, dục vọng của mình (tội ngoại tình), vua Đa-vít đã mưu sát người khác.  Khi Thiên Chúa sai tiên tri Na-than đến chỉ cho vua thấy tội lỗi mà vua đã phạm – vì quả thực ngài không ý thức hết sự tàn ác, man rợ trong thủ đoạn của mình – vua Đa-vít đã ăn năn thú tội và nài xin sự tha thứ của Thiên Chúa.  Vua Đa-vít đã không lợi dụng Thiên Chúa cho những tính toán riêng tư của mình.  Khi bị truy đuổi buộc phải chạy trốn khỏi Giê-ru-sa-lem, ngài đã gởi trả lại Hòm Bia Giao Ước, vì không muốn dùng Thiên Chúa như vật thế thân cho mình.  Và sau này, khi bị xúc phạm, ngài cũng khiêm nhường thú nhận: “Tôi đáng bị như vậy.”

Vua Đa-vít cũng thật hào hiệp và trượng nghĩa.  Có thể hạ sát vua Sa-un nhiều lần, nhưng ngài đã không ra tay.  Ngài là một thánh vương và cũng là một đại tội đồ, nhưng đã ăn năn sám hối.  Tôi thực sự được đánh động khi nhìn ngắm cuộc đời của con người này.  Và cuộc đời ấy cũng khiến chúng ta phải suy nghĩ về chính cuộc sống của mình.  Tất cả chúng ta đã được Thiên Chúa tuyển chọn qua Bí Tích Thánh Tẩy, để được thuộc về Đoàn Dân Chúa, được trở nên những vị thánh.  Tất cả chúng ta đã được thánh hiến nhờ Đức Giêsu Kitô, để trở nên tinh tuyền, thánh thiện.  Khi đọc lại cuộc đời của vua Đa-vít từ khi còn là một chàng trai trẻ cho đến lúc tuổi già, chúng ta nhận thấy ngài đã làm nhiều điều tốt, nhưng cũng có những điều chẳng tốt lành gì.  Điều ấy khiến tôi xác tín rằng, trong hành trình của người Kitô hữu, cuộc hành trình mà Thiên Chúa đã mời gọi chúng ta đảm đương lấy, chẳng vị thánh nào không có một quá khứ và cũng chẳng tội nhân nào không có một tương lai.”

 Vũ Đức Anh Phương, SJ

Nguồn: R. Vatican

CHĂM LO CHO LINH HỒN MÌNH

CHĂM LO CHO LINH HỒN MÌNH

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Lợi ích gì nếu được cả thế gian mà phải đau khổ vì mất linh hồn mình?

Chúa Giêsu đã dạy chúng ta như thế, và tôi ngờ rằng chúng ta thường không nắm bắt được trọn vẹn ý nghĩa của lời này.  Chúng ta thường hiểu những lời của Chúa Giêsu như thế này: Có gì tốt khi ai đó được giàu có, danh tiếng, khoái lạc, và vinh quang rồi chết đi và xuống hỏa ngục?  Có gì tốt nơi vinh quang và khoái lạc trần gian, nếu chúng ta lỡ mất sự sống đời đời?

Đúng, lời dạy của Chúa Giêsu chắc chắn có ý như thế, nhưng có những bài học quan trọng khác nữa trong lời dạy này, chỉ cho chúng ta biết về sức khỏe và hạnh phúc ngay ở đời này.  Chúng ta đánh mất linh hồn mình như thế nào?  “Đánh mất linh hồn” ngay trong thế gian này nghĩa là gì?  Linh hồn là gì, và làm sao có thể mất linh hồn?

Do bởi linh hồn là vô hình và thiêng liêng, nên không thể họa ra được.  Chúng ta phải dùng các khái niệm mơ hồ để cố hiểu được linh hồn.  Các triết gia, từ thời Aristotle, đã có khuynh hướng định nghĩa linh hồn như một nguyên tắc đôi trong mọi đời sống.  Với họ, linh hồn vừa là nguyên tắc sự sống và năng lượng trong chúng ta, vừa là nguyên tắc của sự kết dính thấm nhập.  Về căn bản, linh hồn là hai sự: Là ngọn lửa bên trong, cho chúng ta sự sống và sinh lực, và linh hồn cũng là chất keo kết dính chúng ta lại với nhau.  Trong khi điều này có vẻ mơ hồ, nhưng không phải thế, bởi chúng ta đã được cảm nghiệm mắt thấy tai nghe về ý nghĩa của linh hồn.

Nếu có bao giờ bạn ở bên một người hấp hối, bạn biết chính xác lúc nào linh hồn rời bỏ thân xác.  Bạn biết khoảnh khắc đó, không phải bởi bạn thấy có sự gì đó thoát ra khỏi thân xác người đó, nhưng đúng hơn là một phút trước, bạn thấy một con người, đầy đấu tranh và đau đớn, có sinh lực và ngọn lửa trong mình, rồi một phút sau, thân xác đó hoàn toàn trơ ra, hoàn toàn không có sinh lực và sự sống.  Không còn sinh khí nữa.  Thân xác đó trở thành một xác chết.  Cũng vậy, dù già nua hay bệnh tật, thì cho đến trước giây phút cái chết, thân xác đó vẫn là một cấu thành hợp nhất.  Nhưng ngay giây phút cái chết, thân xác đó không còn là một cơ thể, nhưng chỉ là một loạt sinh hóa bắt đầu phân rã.  Một khi linh hồn ra đi, thì mọi sự sống và kết dính cũng ra đi.  Thân xác không còn bất kỳ sinh khí nào cũng như không còn gắn kết với nhau nữa.

Và bởi linh hồn là một nguyên tắc đôi, làm cho chúng ta hai sự, thì cũng có hai con đường song song tương ứng của việc mất linh hồn.  Chúng ta có thể khiến cho sức sống của chúng ta chết đi, hay chúng ta có thể trở nên xa cách tách rời, trong cả hai trường hợp, chúng ta đều đánh mất linh hồn mình.

Nếu thật như thế, thì điều này gợi lên một chất vấn khác về cách chúng ta làm sao để chăm lo cho linh hồn mình.  Thức ăn bổ dưỡng cho linh hồn là gì?  Ví dụ như, tôi đang xem truyền hình, điều gì tốt cho linh hồn tôi?  Một kênh tôn giáo?  Kênh thể thao?  Một bộ phim hài vô nghĩa?  Kênh về thiên nhiên?  Một talk-show đả phá tôn giáo nào đó?  Điều gì là lành mạnh cho linh hồn tôi?

Đây là một câu hỏi chính đáng, nhưng cũng là một câu hỏi gài bẫy.  Chúng ta mất linh hồn theo một cách đối lập hẳn, và do đó việc chăm lo cho linh hồn như một thuật giả kim tinh xảo, phải biết lúc nào thêm lửa lúc nào cho nguội bớt.  Xác định những gì là lành mạnh cho linh hồn tôi, dựa nhiều vào những gì tôi đang phải đấu tranh ngay lúc đó.  Tôi có đang đánh mất linh hồn, vì tôi đang mất đi sức sống, năng lượng, hi vọng, và lòng nhân từ trong đời?  Tôi có đang ngày càng cay đắng, khắc nghiệt, cằn cỗi, trở nên một con người đau đớn hay không?  Hay ngược lại, tôi có đầy sinh lực nhưng lại quá đầy, đến nỗi tôi đang rời xa, phung phí, đánh mất ý thức về bản thân mình hay không?  Tôi có đang bị tê liệt hay tan rã dần hay không?  Cả hai đều là mất linh hồn.  Trong dạng thứ nhất, linh hồn cần thêm lửa, một sự gì đó thổi bùng sinh khí trở lại.  Trong dạng sau, linh hồn đã có quá nhiều lửa, cần phải dịu bớt và thêm chất kết dính.

Sự căng thẳng này giữa nguyên tắc của sinh lực và nguyên tắc kết dính, bên trong linh hồn con người, cũng là một trong những căng thẳng điển hình giữa tự do và bảo thủ.  Nói một cách tối giản, nhưng dễ hiểu, sự thật là những người theo chủ nghĩa tự do có khuynh hướng bảo vệ và thúc đẩy cho nguyên tắc sinh lực, còn người theo chủ nghĩa bảo thủ lại có khuynh hướng bảo vệ và thúc đẩy cho nguyên tắc chung hiệp, chất keo kết dính.  Cả hai đều đúng, cả hai đều cần thiết, và cả hai đều cần phải tôn trọng bản chất của người kia, bởi linh hồn là một nguyên tắc đôi, và cả hai nguyên tắc đều cần được bảo vệ.

Sau khi chết, chúng ta có thể vào thiên đàng hay hỏa ngục.  Đây cũng là một cách nói về việc đánh mất hay cứu được linh hồn mình.  Nhưng thần học Kitô giáo dạy chúng ta rằng, thiên đàng và hỏa ngục đã có ngay lúc này.  Ngay ở đây, trong đời này, chúng ta có thể làm suy yếu hay hủy hoại sự sống Thiên Chúa ban trong chúng ta, bằng cách làm tê liệt hay tan rã sự sống đó.  Chúng ta có thể đánh mất linh hồn mình bằng việc không có đủ lửa mến hay không đủ kết dính chung hiệp.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Những Người Ở Lại

Một mặt trận hai kẻ thù

Giặc cộng bán nước, giặc tầu xâm lăng

Những Người Ở Lại

 Tạp Ghi Huy Phương

Người ta thường nói: “Chúng ta đi mang theo quê hương!” Nhưng quê hương là gì? Phải chăng đó là ngôn ngữ, thói quen trong cuộc sống, câu hò, giọng hát và miếng ăn, thức uống hàng ngày. Nhưng quê hương đâu phải chỉ có vậy, và như vậy là hết!

Bước chân lên bờ mà người ta gọi đó là mảnh đất tự do, bước chân xuống đất một phi trường nào đó mà người ta gọi là đất hứa, chẳng mấy chốc mà chúng ta đã quên hết. Mang theo quê hương nhưng chúng ta đã bỏ lại rất nhiều thứ, như người chăn chiên bỏ bầy chiên lại cho lũ sói rừng. Chúng ta bỏ lại người sống lẫn người chết, người chết đã đành, người sống thì cũng như người đã chết. Người sống hôm nay là những anh em thương binh quặt què của chúng ta, những người trong một đất nước tối đen mà mắt mình thì không còn trông thấy ánh sáng, sống đời sống lây lất trong cái thảm cảnh lê lết của những ngày tháng vô vọng còn lại.

Một người tù binh còn lành lặn, còn lại sau chiến tranh, đã mất đơn vị, không còn hàng ngũ, lạc bạn bè trên trận địa, sống giữa thù hận, kỳ thị, sống đã là một chuyện đau khổ. Chúng ta nghĩ thế nào một người thất trận, mù hai mắt, cụt hai chân, không còn hai tay, giữa rừng người thắng trận kiêu ngạo mà vô nhân tính, mà không thể chết.

Không ít người chỉ còn biết sống trong tình thương của người qua đường không quen biết, mà người qua đường cũng không cần biết con người khốn khổ đó là ai, khi chúng ta còn ngồi trong ghế nhà trường, sống hạnh phúc trong một thành phố chan hòa ánh sáng, nơi quán cà phê hay những đêm vũ trường, bên bữa cơm gia đình ấm cúng khi họ còn ba ngày lương khô, hai cấp số đạn, băng rừng lội suối.

Chúng ta có gần 100 vị tướng lãnh, những người mà “cấp bậc là xương máu của thuộc cấp,”(*) được may mắn ra đi trước khi Sài Gòn thất thủ, bỏ lại gần một triệu quân tinh nhuệ, hàng chục nghìn thương binh bị đuổi ra khỏi quân y viện, đã có ai có cái ý nghĩ kêu gọi đồng bào ở hải ngoại nghĩ ra chuyện “lon gạo thương binh.” Phải đợi đến 20 năm sau, mới có những người bạn đồng ngũ, mới ra khỏi nhà tù tập trung, thoát nạn, quần tụ nơi đây, ngồi lại với nhau, nghĩ cách kiếm đồng tiền cho bạn bè. Cho đến bây giờ, mỗi năm, cả thế giới, nhiều lắm là chúng ta mới có khoảng $2 triệu cho thương binh, trong con số $13 tỷ gửi về Việt Nam, mà đã có người kêu la bài bác, hô hào thương binh ngưng nhận tiền cứu trợ, vì đồng tiền gửi về này, giúp cho chế độ Cộng Sản vững mạnh và sống còn!

Có người còn dạy khôn các cơ quan cứu trợ thương binh ngưng gửi tiền giúp cho các thương binh, để dành năng lực ủng hộ cho một cuộc vận động không tưởng. Cũng có người dối trá với chính mình, khi khai tử đồng đội, cho rằng việc cứu trợ thương binh là một việc làm “dối trá,” vì bây giờ, sau 40 năm, làm gì còn có thương binh nữa!

Về việc đối xử với thương binh thua trận của chính phủ Cộng Sản hiện nay, thì chính phóng viên trong nước, Bùi Minh Quốc cũng đã công nhận: “Chính sách của chính quyền Việt Nam lâu nay từ sau 1975 tới nay rất tệ. Tức là họ phân biệt đối xử và họ không quan tâm tới cái quyền sống của số anh chị em thương phế binh của phía VNCH này.”

Việc cởi mở “có giới hạn” như những diễn tiến liên quan đến thương binh VNCH tại chùa Liên Trì hay Dòng Chúa Cứu Thế ở Sài Gòn trong thời gian gần đây, và chưa lúc nào danh xưng Việt Nam Cộng Hòa được nói đến nhiều như hôm qua, hôm nay sau 40 năm bị chôn vùi và lăng mạ. Nhưng những điều này cũng không thay đổi được cuộc sống đen tối của những người đã chịu khổ 40 năm qua, nhất là những anh em ở xa vùng phố thị. Điều đáng buồn hơn là ngoài các chức sắc tôn giáo, một triệu người miền Nam trong 3 triệu người Sài Gòn hôm nay, vì đang chạy theo “cơm áo gạo tiền,” hay ký ức đã xói mòn, như người mất trí, chẳng còn ai lo âu, đoái hoài đến những người anh em năm cũ.

Trước khi nói đến những gì mà những người có lòng ở hải ngoại đang cố gắng tìm con đường sống cho các thương binh, công việc cấp bách hiện nay là tăng cường sự cứu trợ, vì con số thương binh chết càng ngày càng nhiều, vì tuổi tác, bệnh tật và đói nghèo. Hãy nhìn thẳng vào sự thật, anh em thương binh cần chén cơm, viên thuốc hơn là những lời hứa hẹn hão huyền.

 Chiến dịch “Một Gia đình-Một Thương Binh” đã được Hội HO Cứu Trợ TPB phát động cách đây vài ba năm, tuy thấy đơn giản, nhưng thật khó khăn. Người có hảo tâm dễ dàng gửi đến hội một số tiền, nhưng thấy phiền phức khi phải có trách nhiệm, cưu mang lấy một gia đình, thường trực vài ba năm, lo lắng cho họ. Đồng tiền bảo trợ giờ đây ấm áp thêm những lời thăm hỏi, thấm đượm tình người.

Chiến dịch này không phải là để trút gánh nặng cho quần chúng, để các hội đoàn thiện nguyện phủi tay, đóng cửa, mà chỉ là lời kêu gọi sự quan tâm của chúng ta đối với từng hoàn cảnh riêng của mỗi một người, mà người cho kẻ nhận gặp nhau trong sự ân cần, gần gũi.

Công việc này đòi hỏi sự kiên nhẫn đầy tình người, lẽ tất nhiên là khó khăn hơn khi chúng ta gửi đến các hội thiện nguyện một số tiền, mà thường là chúng ta chẳng hề quan tâm đến người nhận là ai.

Chỉ tính riêng những gia đình những người cựu quân nhân trong tập thể cựu tù nhân chính trị, hay những quân nhân đã vượt thoát ra đi vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến, là những người đã từng chiến đấu bên cạnh anh em thương binh ngày nay, đôi khi còn là cấp chỉ huy, con số này lên đến hằng trăm nghìn. Một trăm nghìn gia đình bảo trợ cho 15,000 hồ sơ thương binh, không phải là chuyện khó khăn không làm được, nhưng cũng phải nói đây là chuyện khó khăn.

Phần lớn, có những chuyện chúng ta hay quên phải có người khác nhắc nhở, phần lớn chúng ta “có lòng” nhưng trong cuộc sống lại thường “vô tâm,” chúng ta đi nhưng thường ít khi quay đầu ngó lại.

Có những người chết cho chúng ta được sống, có những người thương tật cho chúng ta lành lặn, có những người đành ở lại để chúng ta có cơ hội ra đi.

Tạp ghi Huy Phương

Tuổi già khổ lắm, phải không?

Tuổi già khổ lắm, phải không?

 

           Image

Chưa đi , chân mỏi !  Chưa trông , mắt mờ !
Ðêm nằm chưa ngủ đã mơ
Cơm chưa ” đụng đũa ” đã no ngang rồi !
Áo quần xốc xếch lôi thôi
Nhớ quên , quên nhớ… chuyện đời nhi nhăng
Nói to cứ ngỡ nói thầm
Tay run cứ ngỡ phải cầm… ba toong .
Tính ra ba bốn đứa con
Chín mười đứa cháu , cũng không dễ gần
Bởi vì già trẻ cách phân
Chúng thăm , chúng muốn hiểu rằng chúng…. thương .
Cho nên , ngày tháng cô đơn
Tuổi già khổ lắm , phải không…. hỡi người ?

Thật tình , sướng quá đi rồi
Sao không ” nhìn xuống ” cho đời… đẹp hơn ?
Hãy thăm vài nursing home
Thăm vài khu bệnh… nhà thương , biết liền . 
Ðời người nhiều nỗi truân chuyên
Cứ gì già yếu , mà phiền , mà than !

      Trời cho sống ở trần gian
Là vui , là hưởng bình an trong lòng
Ban ngày , nhìn áng mây hồng
Nhìn con chim hót , nhìn bông hoa cười …
Ban đêm , nhin ánh sao trời
Nhìn trăng tình tứ , nhìn đời…. mê ly ! 

 Vậy thì… quẳng gánh lo đi 

Sống già ,  sống kỹ,  tội chi…. sống buồn!

Nguyễn Phú Trọng đẩy Nguyễn Tấn Dũng về vườn

Nguyễn Phú Trọng đẩy Nguyễn Tấn Dũng về vườn
Nguoi-viet.com


HÀ NỘI (NV) – Theo các nguồn tin ngoại giao và những tiết lộ từ nội bộ cấp cao của đảng CSVN, Nguyễn Phú Trọng và phe cánh, rất có thể, đã đẩy văng Nguyễn Tấn Dũng ra khỏi bộ tứ quyền lực trong đại hội 12 đang diễn ra tại Hà Nội.

Các lãnh đạo đảng CSVN cùng các đảng viên cao cấp trước ngày khai mạc đại hội 12. (Hình: AP)

Hôm Thứ Năm, 21 Tháng Giêng, 2016, đại hội đảng CSVN kỳ thứ 12 chính thức bắt đầu cuộc họp kéo dài 8 ngày với điểm chính yếu là thành lập Ban Chấp Hành Trung Ương đảng khóa mới để từ đó, đẻ ra những chức vụ chóp bu của Đảng gồm Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư, Ủy Ban Kiểm Soát Trung Ương và trên hết là “tứ trụ triều đình” gồm tổng bí thư đảng, chủ tịch nước, thủ tướng và chủ tịch quốc hội nhiệm kỳ 2016-2020.

Những gì bí mật của cuộc đấu đá tranh ghế tổng bí thư trong đảng CSVN, người ta đã thấy phần nào phơi bày trên một số trang mạng không biết là của ai. Nhưng ít nhất, người ta thấy các tài liệu, hình ảnh, bài viết kể cả thư tố cáo và lời phản bác, nhắm nhiều nhất vào ông Nguyễn Tấn Dũng đã hết 2 nhiệm kỳ thủ tướng, đang nhăm nhe cái ghế tổng bí thư.

Hiến Pháp CSVN sửa đổi năm 2013 xác định ở điều 2 rằng “Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân…” Nhân dân tuy “làm chủ” đất nước nhưng không ai có tiếng nói nào đối với cái “lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội” và cả những chức danh như chủ tịch nước, thủ tướng, chủ tịch quốc hội.

Cũng giống như những kỳ đấu đá trước đây tranh giành các ghế chóp bu trong đảng, kỳ đại hội đảng CSVN lần này không thiếu những mánh khóe hạ địch thủ bị xì ra. Guồng máy tuyên truyền của chế độ, nhiều hơn một lần, kêu rằng những thứ đó “thông tin bịa đặt, nói xấu lãnh đạo” trước đại hội đảng, nhằm “gây rối, bôi xấu nhân sự, phá hoại sự thành công của đại hội…”

Tựu trung, theo thông tấn AP, cuộc đấu đá giành ghế tổng bí thư, gay gắt nhất là giữa đương kim tổng bí thư (mới được một khóa nhưng hiện đã 71 tuổi) Nguyễn Phú Trọng, và đương kim thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (đã hết 2 nhiệm kỳ thủ tướng, hiện đã 66 tuổi). Cả hai ông này, và 8 ông bà khác, đều đã quá tuổi nghỉ hưu, trên nguyên tắc phải về vườn.

Hôm Thứ Tư, 20 tháng 1, ngày mà 1,510 “đại biểu” về Hà Nội dự đại hội đảng XII bước vào “họp trù bị” tức họp về các nguyên tắc và chương trình đại hội, thông tấn AP nói rằng, nhiều phần, ông Nguyễn Phú Trọng giữ được cái ghế tổng bí thư thêm khóa nữa.

Các trò đấu đánh trong thượng tầng đảng CSVN được nhìn thấy khi báo chí chính thống của chế độ đề cập đến trường hợp “quá tuổi nghỉ hưu” được ngồi lại. Hoặc như ông Lê Quang Vĩnh, viên chức “phó văn phòng Trung Ương đảng CSVN” giải thích thì chức vụ tổng bí thư “không có giới hạn tuổi.”

Vài tuần trước, một số nguồn tin nói gần như chắc chắn rằng ông Nguyễn Tấn Dũng sẽ nhảy từ ghế thủ tướng sau 10 năm ở đó, lên ghế tổng bí thư, một điều hiếm xảy ra, nhờ đông phe cánh. Ông ta đã từng thoát nạn sau những lần biểu quyết trong trung ương đảng những năm trước khi bị cáo buộc làm hại nền kinh tế quốc gia qua các vụ vỡ nợ của Vinashin, Vinalines năm 2012 và kỳ bỏ phiếu tín nhiệm hồi năm ngoái.

Giới bình luận quốc tế cho rằng Nguyễn Tấn Dũng có khuynh hướng cải cách, muốn nghiêng hơn về phía Tây phương, cũng từng lên tiếng đả kích (gián tiếp) Trung Quốc bá quyền bành trướng trên biển Đông. Trong khi đó, Nguyễn Phú Trọng bị coi là một kẻ bảo thủ, nghiêng hơn về phía Trung Quốc, có thể sẽ làm giới đầu tư quốc tế âu lo.

Nền kinh tế của Việt Nam vốn trông cậy phần lớn vào sản xuất và xuất cảng của giới đầu tư nước ngoài. Nếu họ bỏ chạy, Việt Nam khó tránh khỏi khốn đốn và lại càng lún sâu hơn nữa vào lòng lệ thuộc nền kinh tế Trung Quốc.

“Một số nhà đầu tư quốc tế đang khựng lại để xem diễn biến chính trị của Việt Nam ra sao. Tôi chưa bao giờ thấy có một cuộc thay đổi lãnh tụ lại chia rẽ nặng nề như tại một nước Cộng Sản.” Lời một nhà đầu tư tài chính Tây phương giấu tên nhận xét trên bản tin của hãng thông tấn Reuters.

Reuters cũng dẫn nguồn tin từ một số đảng viên cấp cao giấu tên tham dự cuộc họp Trung Ương đảng hồi đầu tuần trước, nói rằng tên ông Nguyễn Tấn Dũng không nằm trong số “tứ trụ triều đình” được Trung Ương đảng đề cử cho kỳ họp đại hội đảng lần này.

Lý do gạt ông Nguyễn Tấn Dũng ra ngoài, theo giới phân tích gia cũng như giới ngoại giao có những quan hệ với các đảng viên cấp cao được Reuters đề cập, là đòn đánh phủ đầu của phe bảo thủ vì họ sợ nếu ông ta lên làm tổng bí thư, ông ta có thể thay đổi chiều hướng của đảng CSVN bây giờ.

“Họ bằng tất cả mọi cách ngăn chặn ông ấy leo thang quyền lực.” Ông Jonathan London, giáo sư tại đại học Hongkong và là một người theo dõi sát tình hình Việt Nam nhận xét.

Tuy nhiên, điều này chưa có nghĩa là phe của Nguyễn Phú Trọng đã toàn thắng. Như Vũ Ngọc Hoàng, phó trưởng ban thường trực “Ban tuyên giáo Trung Ương” nói trên tờ Thanh Niên ngày 18 tháng 1, 2016 thì “Hội Nghị Trung Ương 14 (đầu tuần trước) thông qua danh sách đề cử nhân sự cho khóa tới chỉ là bước chuẩn bị đầy trách nhiệm của khóa tiền nhiệm đối với khóa sau. Đại hội đảng 12 sẽ quyết định cuối cùng về nhân sự khóa mới và quyết định 244 của Trung Ương không cản trở các nhân sự mới được quyền ứng cử tại đại hội.”

Chính vì vậy, ông J. London cho rằng không nên loại trừ khả năng ông Nguyễn Tấn Dũng tìm cách lật ngược tình thế.

“Dũng có nhiều hậu thuẫn ở trong đảng và ở cấp gần thượng tầng. Nếu có ai có thể mở chiến dịch lật ngược được tình thế thì có thể là ông ta,” ông London nói.

Khi trả lời phỏng vấn của tờ Thanh Niên, ông Vũ Ngọc Hoàng xác nhận, sau nhiều cuộc thảo luận của Trung Ương đảng cũng như Bộ Chính Trị CSVN, lúc đầu thì có đề nghị hai hay 3 ông trong nhóm “tứ trụ” ngồi lại, nhưng cuối cùng “Bộ Chính Trị họp thảo luận và thống nhất đề nghị với Trung Ương chọn phương án chỉ ở lại 1 trường hợp để bảo đảm tính kế thừa, ổn định và tạo điều kiện trẻ hóa cán bộ, nên không chọn phương án ở lại 2-3. Trung Ương đã thảo luận qua 2 kỳ và quyết định chọn phương án giữ lại 1 trường hợp đặc biệt để giới thiệu tổng bí thư. Tập thể Bộ Chính Trị họp, thảo luận và thống nhất rất cao, giới thiệu 1 đồng chí ở lại tham gia khóa 12…”

Dù bất cứ ai trong nhóm này ngồi lại, vẫn chỉ là trò đấu đá “rượu cũ, bình cũ” của những kẻ tham quyền cố vị, giành giật ngôi thứ đè đầu cưỡi cổ nhân dân. Trong chế độ độc tài đảng trị, người dân Việt Nam không có quyền quyết định vận mệnh chính trị của mình. (TN)

Những Mái Chèo Lơi

Những Mái Chèo Lơi

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Đàn cá sẽ chết khi dòng sông nghẽn mạch giữa hàng lớp thủy điện dàn trận từ Lan Thương về Lào, Campuchia rồi kiệt sức ở Cửu Long xa xôi.

Lan Phương – BBC

Khác với Sài Gòn và Phnom Penh, và tựa như Bangkok, Vientiane gần như vắng bóng hành khất. Trong suốt thời gian long nhong ở thủ đô Vạn Tượng, chỉ duy nhất mỗi lần tôi thấy một người khiếm thị vịn vai cô con gái nhỏ đang lần dò băng ngang qua đường Lane Xang – trước khu Chợ Sáng.

Hình ảnh này khiến tôi nhớ đến những những người mù trong quãng đời thơ ấu của mình. Họ thường ngồi ở cầu thang chợ (Đà Lạt) gẩy những tiếng đàn buồn bã, và cất tiếng những lời ca u uất, giữa  đám đông hờ hững.

Hơn năm mươi năm đã trôi qua rồi. Tôi cứ tưởng là không còn ai lê la hát xẩm trên thế gian này nữa chứ. Chúng ta đã bước vào thế kỷ XXI lâu lắm rồi mà!

Ảnh:NgyThanh

Lại có hôm, ở Phnom Penh, nằm chờ hoài mà trời vẫn không chịu sáng. Chán, tôi mở cửa khách sạn tản bộ dọc theo bờ sông. Đi mãi trời mới hừng đông. Trong ánh nắng mai yếu ớt đầu ngày, tôi ngạc nhiên khi thấy những chiếc thuyền con mong manh (cùng những mái chèo mỏng mảnh) đang lững lờ trên dòng Mê Kông bao la và trầm lặng.

Ảnh chụp năm 2015

Bất giác, tôi bật hát khẽ những lời ca (thiết tha) của Văn Phụng năm nào:

Ai qua bến Đà giang cho tôi nhắn vài câu, thương về mái tranh nghèo bên hàng cau. Chia ly đã từ lâu. Ôi mong nhớ làm sao, bao nhiêu bóng người thân mến năm nào. Tôi thương mái chèo lơi, bên manh áo tả tơi, những người lái con đò trên dòng nước.

Tôi không biết bến Đà Giang ở nơi nao, và cứ ngỡ rằng những “mái tranh nghèo bên hàng cau” chỉ là hình bóng xa xôi (thuộc Thời Trung Cổ) vẫn còn rơi rớt đâu đó – trên đất nước mình – vào hồi đầu thế kỷ trước mà thôi. Có ngờ đâu “những mái chèo lơi” vẫn lặng lẽ khua nước ngay giữa Biển Hồ, và trên vô số sông rạch của Cambodia, cho mãi đến bây giờ.

Ảnh chụp năm 2015

Điều bất ngờ hơn nữa là chủ nhân của “những manh áo tả tơi” này, phần lớn, lại không phải là dân bản xứ. Họ chính là những đồng hương khốn khổ của tôi, chứ nào có phải là ai xa lạ. Theo tường trình (“The Situation of Stateless Ethnic Vietnamese in Cambodia”) của MIRO – Minority Rights Organization – vào năm 2014 có khoảng năm phần trăm, hay 750.000 người gốc Việt đang sinh sống ở đất Miên. Đây là sắc dân thiểu số đông nhất ở đất nước này.

Hầu hết họ đều là dân ngụ cư, không khai sinh, không căn cước, không được quyền tiếp cận với bất cứ dịch vụ xã hội nào, và (tất nhiên) không có quyền sở hữu tài sản hay đất đai gì ráo trọi. Bởi vậy, phần lớn kiều bào ở Miên (theo như cách gọi rất lịch sự của Đại Sứ Quán Việt Nam ở Phnom Penh) đều sống lêu bêu – rầy đây mai đó – trên những túp lều nổi xung quanh Biển Hồ, hoặc dọc theo những nhánh sông phụ thuộc.

Họ sống làm sao?

Cũng giản dị thôi. Chỉ cần một chiếc thuyền con, cùng một mái chèo, và hai ba người miệt mài quăng chài hay thả lưới suốt ngày – bất kể nắng mưa – là có cá ăn, phần dư dôi cũng đủ để đổi lại một hai ký gạo, ít mắm muối, và vài ba xị đế.

Y tế, giáo dục, thể thao, giải trí … đều là những khái niệm mơ hồ – nếu chưa muốn nói là xa xỉ – và chả ai có bao giờ nghĩ đến. Đời sống giản dị, và giản lược, từ tay đến miệng thế thôi. Có lẽ không nơi nào trên trái đất này mà đám Việt kiều trông lam lũ và thảm thương đến vậy!

Ảnh chụp năm 2015

Cũng đã đôi lần (vào thập niên 1970) cái đám người trôi sông lạc chợ này cũng đã đàn đúm dắt díu nhau tìm về tổ quốc nhưng rồi họ nhận thức ra ngay rằng quê hương cũng không phải là nơi nương náu được nên rồi lại đành phải tiếp tục tha phương cầu thực. Ở xứ người họ bị gọi một cách khinh miệt là  Duồn: “Tụi Duồn về quê tụi bay hết đi.” Qua bên kia biên giới thì họ bị chửi … là Miên: “Đám Miên chạy qua đây làm gì?”

Tuy bị chính quyền và dân chúng của cả hai nước Việt/Miên bạc đãi nhưng bù lại họ nhận được thiên nhiên dung chấp. Sự bao dung này, tiếc thay, nay không còn nữa. Từ Bankok, vào hôm 25 tháng 12 năm 2015, thông tín viên Lan Phương (BBC) vừa buồn bã cho hay:

“Những người đàn ông giăng lưới ở Đồng Tháp không hiểu vì sao năm nay không có nước lên xứ đồng bằng.

Cá linh đi xa dần, đắt đỏ như món đặc sản không biết tìm đâu ra. Lưới cá treo ở góc nhà, quên mất đã có thời Cửu Long cá nhiều đến mức ứ đầy thủng lưới.

Người nông dân không biết diễn tả điều gì đã hủy hoại sự sung túc một thời trên đồng bằng châu thổ của mình. Dân ở Biển Hồ (Campuchia) cũng chỉ biết im lặng nhìn vào mắt lưới trống rỗng lập lờ dưới nước mùa thiếu cá về.”

Qua lại hồ Tonlé Sap, và lui tới những sông rạch dọc ngang của xứ Chùa Tháp – cả năm qua – nơi đâu tôi cũng thấy những ánh mắt lo âu cùng với những lời hỏi han (nghe) như những tiếng than dài: “Không biết tại sao mà cá mỗi năm một ít, ông à!”

Tôi im lặng, tất nhiên, dù thiệt tình thì lờ mờ có biết nguyên do – sau khi đọc được Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng do nhà Văn Nghệ xuất bản năm 2000. Tác phẩm này của Ngô Thế Vinh vừa được nxb Giấy Vụn tái bản, lần thứ ba, vào năm 2014. Xin xem qua đôi lời giới thiệu nội dung của nhà báo Ngô Nhân Dụng :

Ðầu mối tai họa này là chính sách khai thác điện lực và dẫn thủy nhập điền của chính quyền Cộng sản Trung Quốc. Sông Mekong, tại Trung Quốc mang tên là Lan Thương (Lancang, 澜沧) chảy qua Tây Tạng và các tỉnh Thanh Hải, Vân Nam, trước khi đổ xuống phía Nam. Theo tạp chí World Rivers Review của cơ quan Sông quốc tế (International Rivers, IR), thì vào năm 2014, Trung Cộng đã xây dựng bảy đập thủy điện lớn ở đầu nguồn sông Mekong thuộc nước Tàu, con sông phát nguyên từ Tây Tạng chảy xuống Biển Ðông nước ta. Họ sẽ xây thêm 21 đập ngăn nước lớn khác trong 10 năm tới. Các nước hạ nguồn cũng bắt chước xây các đập nước khác; với dự án xây 11 con đập nữa.

 Nhưng tai họa lớn nhất là nước biển lấn dần vào đất liền thì chỉ dân Việt ở đồng bằng sông Cửu Long gánh chịu. Ðập Don Sahong đang xây ở Hạ Lào, nhằm cung cấp điện cho Lào và Thái Lan sẽ ảnh hưởng lớn trên đời sống dân Campuchia và miền Nam Việt Nam.

Trong cuốn sách biên khảo viết dưới hình thức vừa tiểu thuyết vừa ký sự, Cửu Long Cạn Dòng, Biển Ðông Dậy Sóng, Bác Sĩ Ngô Thế Vinh đã mô tả hành động của chính quyền Trung Quốc: “Vào Tháng Tư năm 2001, Trung Quốc đã ký một thỏa hiệp về thủy vận trên sông Cửu Long nhưng chỉ với 3 quốc gia Miến Ðiện, Thái và Lào với kế hoạch vét lòng sông, cả dùng cốt mìn chất nổ phá tung những khối đá trên các đoạn ghềnh thác, các đảo nhỏ trên sông để khai thông mở rộng đường sông cho tàu lớn trọng tải từ 500-700 tấn có thể di chuyển từ cảng Tư Mao xuống Chiang Khong Chiang Sean Bắc Thái xuống thẳng tới Vạn Tượng. Trong khi Việt Nam và Campuchia là hai quốc gia cuối nguồn, trực tiếp chịu ảnh hưởng của kế hoạch ấy thì bị gạt ra ngoài.”

Thảo nào mà ở Phnom Penh đã có kẻ bỏ lại “những mái chèo lơi” cho sông nước, chỉ còn khoác mỗi “manh áo tả tơi” thất thểu bước lên bờ, rồi nằm dài giữa công viên phố thị.

Ảnh chụp năm 2015

Khi mà ở thượng nguồn sông Tiền, và sông Hậu ngư dân phải đi ăn xin thay vì đi chài lưới thì ai cũng có thể tiên đoán được hậu vận của hàng chục triệu người dân Việt – ở Đồng Bằng Sông Cử Long – mà không cần phải là thầy bói.

Ngày trở về – Dau Nguyen

YouTube player

Nhạc cảnh “Ngày trở về” như một lời cảm ơn xin gởi tới các anh Thương Phế Binh VNCH vì những đóng góp xương máu của các anh cho Tự Do dân tộc và những thiệt thòi bất công các anh đã gánh chịu trong bao năm qua.
Nhạc và lời: Phạm Duy. Tiếng hát: Duy Khánh. Hình ảnh: Internet. Thực hiện nhạc cảnh: Dau Nguyen.

Rùa Hồ Gươm & Người Hà Nội.

Rùa Hồ Gươm & Người Hà Nội.

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Chỉ đạo thông tin: trong không khí vui tươi, hân hoan chào đón đại hội đảng, báo chí tạm thời không đăng tin cụ ruà ở hồ gươm chết.

Tin nhắn văn bản

Sách Lam Sơn Thực Lục của Nguyễn Trãi có ghi:

“Đầu năm 1428, Lê Thái Tổ cùng quần thần bơi thuyền ra hồ Thủy Quân. Ra giữa hồ, có Rùa vàng nổi lên mặt nước, chắn trước thuyền của vua gọi to:

– Xin nhà vua hãy hoàn lại gươm thần cho Long Vương!

Lê Thái Tổ rút gươm trả, rùa vàng ngậm lấy gươm lặn xuống nước đi mất. Từ đó hồ Tả Vọng được đặt tên là hồ Hoàn Kiếm.”

Câu chuyện về Cụ Rùa ở hồ Hoàn Kiếm, tất nhiên, không chỉ ngừng ngang đó. Gần 600 năm sau – nhà báo Hải Diệp, trong chuyên đề Nhật Ký Đại Lễ Ngàn Năm Thăng Long – có ghi: “… vào ngày khai mạc Đại lễ  (1/10) cụ đã nổi vào buổi sáng… với người dân Thủ đô, vào dịp Đại lễ sự xuất hiện của cụ Rùa luôn gợi lên một cảm thức linh thiêng bên hồ Gươm huyền thoại.”

Ông Trương Duy Nhất, ngó bộ, không bằng lòng lắm với ghi nhận (vừa nêu) nên  lầu bầu phản đối:

 “Hồ bẩn, ngột ngạt, rùa phải ngóc đầu nhoi lên mặt nước để thở thì bị gán cho tích này điềm nọ, đến mức báo chí còn thổi rằng đó là cụ rùa thiêng ngoi lên để… chào mừng đại lễ nghìn năm Thăng Long- Hà Nội. Mô Phật! May mà rùa không biết nói!”

Thằng chả ăn nói báng bổ, tầm bậy tầm bạ (thấy rõ) vậy mà hoàn toàn … không trật! Đại Lễ Ngàn Năm Thăng Long đã qua nhưng “cụ rùa thiêng (vẫn cứ) ngoi lên để chào mừng” khiến cho ký giả Kỳ Duyên sốt ruột:

Về hiện tượng Cụ Rùa nổi lên trên mặt nước quá nhiều lần – không còn là bình thường, mà ở góc độ sinh học, là bất thường. Khi đó, Cụ không còn là ngắm phố phường, con cháu lại qua. Mà dường như Cụ đang ngóng con cháu hãy giúp Cụ…. nhiều người dân Hà Nội kinh hoàng nhận ra, mình Cụ Rùa đầy vết lở loét, dấu hiệu rõ ràng nhất của nước hồ nhiễm bẩn quá nặng.”

Dù chưa bao giờ nhìn thấy Cụ Rùa, và cũng chưa bao giờ có dịp đặt chân đến Hà Thành, tôi cũng “kinh hoàng” chết mẹ (luôn) vì “Chín Mươi Lăm Phần Trăm Hồ Ao Hà Nội Bị Ô Nhiễm” – theo như tường thuật ký giả Hương Thu:

Trung tâm nghiên cứu và cộng đồng môi trường (CECR) vừa công bố kết quả nghiên cứu về môi trường của 120 hồ, ao, đầm, thủy vực lớn nhỏ của 6 quận trung tâm Hà Nội.Theo đó, chỉ có 6 hồ đạt yêu cầu chất lượng ở tất cả các chỉ tiêu nghiên cứu, chiếm tỷ lệ 5%, phần lớn các ao hồ bị ô nhiễm chất hữu cơ, nồng độ oxy hòa tan dưới mức tiêu chuẩn cho phép.Hơn 80% hàng lang bờ bị ô nhiễm, và đang đứng trước nguy cơ bị lấn chiếm để xây nhà, bãi đỗ xe, trở thanh bãi tập kết phế liệu,rác thải sinh hoạt.

“Theo CECR, nguyên nhân gây ô nhiễm chính là do nước thải sinh hoạt và một phần nước thải từ gia đình hoặc cộng đồng tùy tiện thải xuống hồ. Ngoài ra, hiện tượng đổ phế thải xây dựng, đổ đất, lấn chiếm ao hồ… cũng làm giảm đáng kể diện tích ao hồ, nhiều hồ đang dần biến mất.”

Riêng mức độ ô nhiễm của hồ Linh Quang, xem ra, có vẻ (hơi) vượt chỉ tiêu –  theo lời nhà báo Hải Hà,

Gần 50 năm nay, hồ Linh Quang chưa một lần được nạo vét. Nước hồ đen đặc bốc mùi hôi thối, mực nước nơi sâu nhất cũng chỉ hơn 1 mét, còn lại toàn là bùn và rác do người dân đổ xuống để lấn chiếm. Vừa qua khi phát hiện các ca tả ở phường Văn Chương, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương đã lấy mẫu nước hồ để xét nghiệm và phát hiện phẩy khuẩn tả cũng như nhiều loại vi khuẩn gây bệnh đường ruột khác…

Cùng với sự “tôi luyện khả năng chịu đựng” sự hôi thối của ao/hồ, sức “chai lỳ” của người Tràng An (trước hệ thống sông cống dơ bẩn và tù đọng) cũng vô cùng đáng nể – theo như (nguyên văn) cách dùng từ của phóng viên Việt Hưng:

 “Sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, sông Sét, sông Lừ… và còn rất nhiều con sông nữa, trước kia mang dòng nước chảy khắp Hà Nội, cùng với hệ thống các ao hồ đã có tác dụng điều hoà, giảm bớt cái nóng oi bức của miền Bắc.

Giờ đây, với tốc độ phát triển chóng mặt của Hà Nội cả về kinh tế và dân số, các dòng sông này đổi tên thành những ‘cống nước thải’ , mang đầy rác rưởi và bốc mùi hôi thối khó chịu. Người dân sống gần ‘cống’ lâu ngày đã tôi luyện khả năng chịu đựng, chai lỳ trước mùi hôi thối và môi trường ô nhiễm. Bằng chứng là họ vẫn cứ đời này qua đời khác sống ‘mạnh khỏe’ cạnh những dòng sông chết ấy, vẫn quần áo thơm tho ngẩng cao đầu bước đường, bỏ lại sau lưng mùi tanh nồng của nước thải…”

Người dân khu Hào Nam ngồi chơi bên cái cống nồng nặc mùi rác thải. Nguồn: Dân Trí.

Với hệ thống sông hồ “tanh nồng” như thế, người Hà Nội – tất nhiên – phải dùng nước bẩn. Sự bẩn thỉu được phóng viên Châu Như Quỳnh mô tả là “hãi hùng” khi nhìn thấy ở khu vực Thanh Trì – Hà Nội – trong bát “nước sạch” vừa được xả từ vòi, nhiều con giun màu đỏ, có chiều dài khoảng từ 0,5-1,5cm bơi ngoe nguẩy, hết nổi lên lại lặn xuống.

Giun trong bát nước vừa được lấy từ vòi. Nguồn: Dân Trí

Tiến sĩ Trần Văn Nhị (Viện Khoa học & Công nghệ) cho biết:”Ngày ngày, hàng trăm nghìn người dân Hà Nội phải uống nguồn nước chứa những chất độc có khả năng gây ung thư cao mà không biết đến bao giờ mới được sử dụng nước sạch hoàn toàn.”

Để khắc phục tình trạng này, ông đưa ra một lời khuyên (vô cùng) giản dị: “Trong khi chờ đợi phép màu từ phía các nhà chức trách, mỗi hộ dân nên tìm cách tự cứu lấy mình.

Tự cứu bằng cách nào ?

Cầu Trời mưa xuống chăng?

Việt Nam vốn là nơi xuất sứ của câu thành ngữ “hiền như một ngụm nước mưa” mà, phải không?

Dạ phải nhưng đó là chuyện đã xưa rồi, hồi trào phong kiến hay trào thực dân kìa. Kịp tới khi cách mạng về thì ở xứ sở này không còn cái gì mà hiền (hay lành) được nữa, kể cả nước mưa. Ông Dương Hồng Sơn, Giám Đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Môi Trường, tuyên bố:

“Ở Việt Nam, lượng mưa axit đã chiếm 30%, có nơi tới 50% số lần mưa… gây tác hại không nhỏ đối với con người, cơ sở hạ tầng, sản xuất… Những báo cáo của mạng lưới quan trắc quốc gia cho thấy, mưa axit từ nước ngoài vào Việt Nam đang tăng lên…” (Mưa Độc Có Thể Tàn Phá Hệ Hô Hấp Của Con Người).

Nước ngoài là nước nào vậy cà?

Dân chúng Miên, Lào, Miến Điện không mấy ai có “cơ hội” được đụng chạm gì nhiều tới máy móc. Họ đâu có làm gì ra khói, ngoại trừ những lúc họ nướng khoai, sao có thể tạo ra mưa acid được, cha nội?

Vậy thì khói thải ở đâu ra? Phải có lửa ở chỗ nào đó mới được chớ, đúng không?  Không có lửa sao có khói, mấy cha? Lò dò một chập, tui tìm được xuất xứ của nguồn khói lạ (nguyên nhân gây ra “mưa axit từ nước ngoài vào nước ta”) qua một bài viết ngắn, bằng Anh Ngữ: “Transboundary sulfur pollution & Vietnam.”

Tác giả, một chuyên gia về khí quyển hiện sinh sống tại nước Úc, bày tỏ sự quan ngại rằng ở Ðông Nam Á có những quốc gia chỉ tạo ra những lượng lưu huỳnh rất nhỏ nhưng lại phải chịu nhận sự tích tụ của loại hóa chất này (rất lớn) từ những lân bang. Việt Nam và Nepal là hai “nạn nhân” điển hình, trong vùng, về tệ trạng này.

Tài liệu mà tiến sĩ Nguyễn Đức Hiệp trích dẫn (R. Arndt, G. Carmichael, J. Roorda – Seasonal source-receptor relationships in Asia, Journal of Atmospheric Environment, Vol. 32, No. 8, 1988, pp. 1937-1406) được phổ biến từ năm 1988 lận. Hơn hai mươi năm sau, ông Dương Hồng Sơn – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Môi trường thuộc Viện Khoa học Khí tượng – mới từ tốn cho công luận biết là  “hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu nào đáng giá tổng thể ảnh hưởng của mưa axit,” dù vẫn theo lời ông: “Mưa độc có thể tàn phá hệ hô hấp của con người” (VnMedia 23/12/2008).

Mà dân Việt thì rõ ràng không cần thêm “khói lạ” của ông bạn láng giềng vĩ đại. Khói nhà vốn đã có dư rồi, theo đánh giá của GS.TS.Vũ Hoan – Chủ tịch Liên hiệp các hội Khoa học Kỹ thuật Hà Nội:

Hiện nay tình trạng ô nhiễm môi trường không khí Hà Nội đang ở mức báo động đỏ. Nồng độ bụi lơ lửng ở các quận nội thành đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép 5–6 lần thậm chí có nơi trên 10 lần. Lượng khí thải độc hại như CO2, SO2, CO3, NO, CO… ngày càng gia tăng và tác động tiêu cực tới con người, môi trường.”

“Vào giờ cao điểm, nồng độ bụi tính trung bình của riêng TP Hà Nội gấp 4 lần tiêu chuẩn cho phép, nồng độ khí CO cao hơn 2,5 lần, hơi xăng cao hơn 12,1 – 2000 lần tiêu chuẩn cho phép.  Người dân sống quanh các  điểm nóng giao thông có biểu hiện triệu chứng rõ tới sức khoẻ như kích thích các hệ cơ quan mắt, mũi, họng, da và thần kinh thực vật…”

“Hà Nội phải chịu đựng âm thanh hỗn tạp của còi xe, tiếng động cơ, tiếng ồn tại các công trường xây dựng và hàng loạt tạp âm khác làm cho môi trường không khí trở nên chật chội ngột ngạt.”

Bụi mù mịt ở đường Láng – Hòa Lạc. Ảnh: Thu Huyền

Thở không khí bụi bặm và ngột ngạt khói xe, sống bên cạnh sông hồ hôi thối, dùng nước uống không đủ tiêu chuẩn vệ sinh, tiêu thụ những loại thực phẩm độc hại … (chắc) không phải là “độc quyền” của người dân Hà Nội. Tôi e rằng người dân Việt, ở rất nhiều thành phố khác nữa, cũng đang sống trong môi trường (bệnh hoạn) tương tự.

Hà Nội chỉ may mắn hơn những địa phương khác ở chỗ có một Cụ Rùa. Sự xuất hiện bất thường, đều đặn, của sinh vật này – trong thời gian qua – là một tín hiệu (không lành) về tình trạng môi sinh của cả cộng đồng.

Điều không may là “tín hiệu” này không được đánh giá đúng mức. Mọi nỗ lực của UBNDTP Hà Nội đều chỉ chăm chú vào “cá thể” của Cụ Rùa thôi, và cả nước (xem chừng) cũng đều đồng tình như thế cả.

Tại sao người dân Việt lại có thể sống vô tư như vậy? Lý do, tôi trộm nghĩ, có lẽ bởi họ thường xuyên được “ru ngủ ” bởi những “bài ca” êm dịu – đại loại như:

E là đã đến lúc phải tỉnh dậy đi thôi, muộn lắm rồi!