Giấc ngủ qua lời khuyên của Hoa Đà

Giấc ngủ qua lời khuyên của Hoa Đà

Hoa Đà – Wikipedia tiếng Việt

    Hoa Đà vốn là một vị lương y nổi tiếng thời Đông Hán trong lịch sử Trung Hoa, được xem như thần y, cũng là một trong những ông tổ của Đông y, do đó cách trị bệnh của ông từ xưa đến nay luôn được nhiều người coi trọng.      

Từ xưa đến nay, các chuyên gia sức khỏe bao giờ cũng khuyên con người phải ăn, ngủ và làm việc điều độ, hợp lý. Nhưng đa số chúng ta lại thiếu quan tâm đến chất lượng giấc ngủ vì cho đó là hoạt động sinh lý bình thường.
Danh y Hoa Đà trong suốt quá trình chăm sóc bệnh nhân, ông đã đúc kết ra 4 lời khuyên về giấc ngủ để giữ gìn sức khỏe.

File:HuaTuo.jpg

Danh y Hoa Đà.

Ảnh: internet.

  1. Điều thứ nhất:
    ” Phải đi ngủ trước giờ Tý (từ 11 giờ đêm đến 1 giờ sáng) “

Theo quan niệm dưỡng sinh tại Thiếu Lâm tự, giấc ngủ là một phần vô cùng quan trọng trong đời người. Nếu trước giờ Tý mỗi ngày không ngủ được, thì khi đi khám bệnh, rất nhiều lão tăng y sẽ nói: “Không chữa cho bạn”. Kỳ thực không phải là không chịu chữa trị, mà là. . .  chữa không hết được.

Tại sao nói như thế?

Người mất ngủ thâm niên, bất luận là nam hay nữ thì gan đều đã trực tiếp bị tổn thương, lâu ngày sẽ tổn thương thận, dần dần tạo thành khí huyết của thân thể bị thiếu hụt, mỗi ngày khi soi gương sẽ cảm thấy sắc mặt xám xịt, không tốt.

Đến lúc đó cho dù bạn mỗi ngày dùng sản phẩm chăm sóc da, các loại chất bổ, rèn luyện thân thể, cũng không thể bù đắp lại những tổn thương do ngủ chưa đủ hoặc là giấc ngủ không tốt.

Vì vậy, dậy sớm thì không sao nhưng tuyệt đối không được ngủ trễ. Rất nhiều người tinh thần không phấn chấn, phần nhiều là do có thói quen ngủ muộn, thường dễ bị tổn thương gan, tổn thương mật, thiếu tinh lực.
Người như vậy con mắt thường không tốt, tâm trạng thường bị ức chế, thời gian vui vẻ ít đi (khí trong phổi cũng chịu ảnh hưởng, là nguyên nhân của việc nhịp thở không ổn định liên tục trong khoảng thời gian dài). Có nhiều người cho rằng buổi tối ngủ trễ, ban ngày có thể ngủ bù, thực ra là không bù lại được, nếu như ngủ không được, ngủ không đủ thì còn tồi tệ hơn nữa, khí huyết thân thể sẽ bị hao tổn hơn phân nửa.
2. Điều thứ hai:
” Khi ngủ không được suy nghĩ “

Xem như mình không có thân thể, hoặc như là người đang ở trong nước, hòa tan ngón chân cái trước, rồi đến các ngón chân khác, tiếp theo là bàn chân, bắp chân, đùi,… từng bước hòa tan, cuối cùng như không tồn tại, tự nhiên thiếp đi”.  Đây chính là trạng thái tinh thần tốt khi thiền định đi vào giấc ngủ: “Tâm ngủ trước, mắt ngủ sau”.
Nhiều lúc, nguyên nhân của mất ngủ là do lúc đi ngủ trong đầu có nhiều tạp niệm, những lúc như thế này không nên nằm trằn trọc trên giường, để tránh hao tâm tổn sức, lại khó chìm vào giấc ngủ, biện pháp tốt nhất là ngồi dậy một hồi rồi ngủ tiếp.
Trên thực tế, con người ngày nay nếu muốn đi ngủ trước 11 giờ tối, thì chuyện bình ổn cảm xúc trước khi lên giường cũng rất quan trọng, tâm trạng cần có một khoảng thời gian từ từ trầm tĩnh lại. “Tâm ngủ trước, mắt ngủ sau”, chính là đạo lý này.

nhan sac, ngu, Hoa Đà, cấm kị, Bài chọn lọc,

Tâm ngủ trước, mắt ngủ sau, là cách tốt nhất để đi vào giấc ngủ.

Ảnh minh họa

     Nếu như vẫn chưa ngủ được thì trước khi ngủ bạn có thể thử thực hiện động tác gập bụng đơn giản, rồi ngồi xếp bằng tự nhiên hoặc ngồi kiết già trên giường, hai tay xếp chồng lên nhau đặt lên trên chân, hô hấp tự nhiên, cảm giác lỗ chân lông toàn thân nở ra khép lại theo nhịp thở, nếu có ngáp chảy nước mắt thì sẽ có hiệu quả tốt nhất, đến khi muốn ngủ liền ngã xuống ngủ.
3. Điều thứ ba:
” Buổi trưa nên ngủ một chút hoặc là ngồi im thư giãn dưỡng thần ”   
  

Vào buổi trưa (từ 11 giờ sáng đến 1 giờ chiều), nếu không có đủ điều kiện để ngủ, bạn có thể ngồi im tĩnh lặng, nhắm mắt dưỡng thần 15 phút. Những Hòa thượng đều có thói quen chợp mắt vào buổi trưa bằng cách ngồi thiền tại phòng thiền.
Kỳ thực, giữa trưa chỉ cần nhắm mắt thực sự ngủ 3 phút là bằng ngủ 2 giờ, quan trọng là thời gian ngủ phải thích hợp là giữa trưa. Ban đêm nếu ngủ đúng giờ Tý thì 5 phút ngủ tương đương với 6 giờ.

Dậy sớm có lợi cho sự trao đổi chất của cơ thể con người.

Ảnh: internet

  1. Điều thứ tư:
    ” Nhất định phải dậy sớm “

Một ngày của nhà sư bắt đầu từ tiếng chuông đánh thức vào sáng sớm, cho dù vào mùa đông, cũng sẽ không thức dậy trễ hơn 6 giờ, vào 3 mùa xuân, hạ, thu thức dậy trước 5 giờ. Theo dưỡng sinh, dậy sớm có lợi cho sự trao đổi chất của cơ thể con người.
Chỗ tốt của dậy sớm là có thể loại bỏ một số chất bẩn ra khỏi cơ thể, nếu thức dậy quá muộn, đại tràng (ruột già) không được hoạt động, không thể thực hiện tốt chức năng bài tiết.

Ngoài ra, chức năng tiêu hóa của cơ thể con người hoạt động tốt nhất là vào buổi sáng từ 7 cho đến 9 giờ, là “khoảng thời gian hoàng kim” cho hấp thụ dinh dưỡng. Cho nên, rất không nên ngủ nướng, nguyên nhân gây ra tình trạng choáng váng, mỏi mệt đa phần là do tham ngủ.
Những đúc kết của Hoa Đà cũng là những điều nổi bật trong phép tắc trị bệnh của Đông y: Trị bệnh trị tận gốc, chú trọng dưỡng sinh để nâng cao đề kháng cơ thế chống ngoại tà xâm nhập. Bảo tồn được tam bảo của cơ thể Tinh-Khí-Thần là yếu tố để cơ thể hoạt bát, thần thái tươi tỉnh.

Xin gởi đến người bạn trên mạng

Xin gởi đến người bạn trên mạng

Hởi người nơi chốn xa xôi

Từ khi quen biết, xa xôi cũng gần

Đêm đêm trên mạng bâng khuâng

Chờ mong tin bạn hồi âm đôi dòng

Để tôi vững dạ yên lòng

Biết ai vẫn khỏe vẫn còn đâu đây

Để tôi còn được ngày ngày

Có người ưu ái gởi đầy e-mail

Chuyện vui chuyện lạ hằng ngày

Năm châu bốn biển gom vào một trang

Một mai người ảo biến tan

Để người trên mạng băn khoăn đợi chờ

Hay làm di chúc để hờ

Lỡ như bất trắc hãy nhờ báo tin

Hữu duyên chẳng lẽ vô tình

Một lời thăm hỏi chân tình ủi an

Biết ai gặp chuyện chẳng lành

Tôi người trước nhứt chúc lành bình an

Nếu ai đau khổ lầm than

Tôi xin chúc phúc muôn vàn hồng ân

Nếu ai hết kiếp mãn phần

Hương lòng tưởng niệm tiễn chân người 

” Tất cả đều tàn phai theo năm, tháng, chỉ có tình thương ở lại đời.”

    Đời sống không thể thiếu tình bạn – Bỡi tình bạn chính là những cung, bậc tình-cảm của con người !

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

HOA DEP

TIẾNG SÁO

 TIẾNG SÁO 

Phạm Tín An Ninh

Riêng tặng Hồ Ngọc…

(Lời thưa của tác giả:  Tác giả thành thật xin tạ lỗi, nếu bài viết đã chạm đến vết thương của một số người, mà thời gian hơn 35 năm chưa hẳn đã lành được. Viết truyện này, tác giả chỉ muốn nói lên một góc khuất trong giai đoạn lịch sử bi thương nhất của dân tộc, với lòng thương cảm và tội nghiệp cho những người đàn bà sau cuộc đổi đời nghiệt ngã, và trân trọng ngợi ca lòng vị tha, bao dung của những người chồng bất hạnh, mà Hồ Ngọc, nhân vật trong truyện, là một điễn hình.)
Tôi đến thăm Cali vào những ngày mưa, mưa tầm tã. Đài phát thanh Little Saigon, trong chương trình dự báo thời tiết, cho biết cả tiểu bang Cali đang bị ảnh hưởng một cơn bão nhiệt đới. Nằm nhà người bạn cùng đơn vị xưa ở thành phố Garden Grove, trong khu Little Saigon, cả ngày hai thằng thi nhau kể chuyện chiến trường, chuyện bạn bè, tù tội, làm cho những cơn mưa như càng dài ra thêm.

Anh bạn rủ tôi ra Hội Trường Nhật Báo Viễn Đông tham dự buổi ra mắt sách của một nhà văn nữ. Anh tỏ ra am tường về mọi thứ chuyện, bảo ở hải ngoại thời buổi này văn chương chữ nghĩa rẻ như bèo, mà nhà văn nhà thơ thì cứ mọc lên như nấm. Đúng là người Việt nam nào cũng có đầy thơ văn trong bụng. Nhưng nhà văn hôm nay là người quen, một cô bạn học cũ, sau này anh bất ngờ gặp lại khi cô đang làm phóng viên chiến trường, nên tới để cho cô ấy vui.

Chúng tôi đến trễ, may mà còn mấy chiếc ghế trống phía sau để không phải đứng. Trên sân khấu, một diễn giả, dường như cũng là một nhà văn lão thành có tiếng tăm, đang giới thiệu tác giả và tác phẩm.

Lại thêm một tác phẩm nữa về chiến tranh! Cuộc chiến chấm dứt đã hơn 30 năm, nhưng bao nhiêu nỗi oan khiên dường như vẫn còn nguyên trong lòng người tha phương, như những vết thương không bao giờ lành được.

Người MC rất khéo léo, khi muốn tạo một không khí gây nhiều cảm xúc trước khi nhân vật chính, nhà văn nữ, lên trình diện và tâm tình vài lời cùng cử tọa, nên chương trình được nối tiếp bằng tiết mục ngâm thơ. Bài thơ Ta Về của nhà thơ Tô Thùy Yên được diễn ngâm bằng giọng rất truyền cảm của nữ sĩ Bích Loan. Cá nhân tôi cũng rất thích bài thơ Ta Về này. Bài thơ hay mà tác giả lại là người bạn cùng tù mà tôi rất quý, nên lắng tai chú ý nghe.

Cả hội trường im lặng khi tiếng sáo cất lên cao vút. Anh MC vừa giới thiệu đó là tiếng sáo của Hồ Ngọc, tiếng sáo điêu luyện, nổi tiếng của miền Nam Cali. Lời giới thiệu này quả không cường điệu chút nào. Tiếng sáo trầm bổng, réo rắt, thiết tha, như vừa du hồn tôi vào một cõi hư vô nào đó. Rõ ràng tiếng sáo đã làm cho bài thơ gây cảm xúc tột cùng trong lòng người nghe, mà hầu hết đều từng mang tâm trạng của những kẻ “ta về”.

Tôi đứng lên, nhìn về hướng sân khấu. Hồ Ngọc, người cao lớn, đầu cúi xuống, các ngón tay như đang múa trên cây sáo nhỏ, tôi chỉ nhìn thấy mái tóc hoa râm bồng bềnh. Tôi thích thổi sáo từ nhỏ, khi mê tiếng sáo Nguyễn Đình Nghĩa trong chương trình Tao Đàn của Tô Kiều Ngân trên đài phát thanh Sài gòn, vào những đêm khuya thuở trước. Sau tháng 4/75, qua bao nhiêu vật đổi sao dời, dường như đây là lần đầu tiên tôi được nghe lại một tiếng sáo hay và buồn như thế. Tiết mục ngâm thơ chấm dứt, tiếng vỗ tay như muốn vỡ cả hội trường.

Tôi cúi mình đi vòng về phía sau sân khấu, tò mò nôn nóng muốn biết Hồ Ngọc và cũng muốn được bắt tay ca ngợi anh một tiếng. Vừa đúng lúc Hồ Ngọc đang cầm chai nước lọc đưa lên miệng, thì cả hai chúng tôi đều nhận ra nhau. Anh chưa kịp uống một hớp nước, kêu tên tôi và ôm chầm lấy tôi.

Hồ Ngọc, là nghệ danh của Hồ Ngọc Phú Hội, người bạn thân của tôi từ thời thơ ấu. Hai thằng ở cùng làng. Nhà ông bà nội tôi cách nhà Hội chỉ một vạc ruộng, con mương và đặc biệt là những hàng tre cao, mà buổi tối những đàn có trắng thường kéo nhau về ngủ ở đây, gây chút rộn rã cho một vùng không gian tĩnh mịch và tạo những nét chấm phá trên nền xám đen của khung trời sắp tối như một bức tranh thủy mặc.

Vào mùa đông, những buổi chiều gió mưa tầm tã, tôi thường đứng bên cửa sổ nhà ông bà nội, nhìn ra hàng tre với những cái đọt cao vút theo gió chao qua đảo lại mà thấy tội nghiệp và lo lắng cho những chú cò trên ấy.

Cha tôi và cha của Hội là hai người bạn cùng trường thời Pháp thuộc. Sau này cả hai ông đều làm thầy giáo. Cha tôi bị Việt Minh bắt đưa ra Liên Khu 5. Hai năm sau ông được thả về với cơn bệnh sốt sét, đành phải nghỉ dạy, nên gởi tôi theo học với cha của Hội, mà trong làng và cả bọn học trò chúng tôi thường gọi ông là thầy giáo Tám. Ông là một vị thầy nổi tiếng dạy giỏi, nhưng rất nghiêm khắc.

Đám học trò nhỏ của Thầy sau này vào đại học khá nhiều, và một số rất thành công trong nhiều sự nghiệp. Trong lớp hình như đứa nào cũng từng bị đánh đòn hoặc bị phạt ở lại quét sân trường, trồng cây vào những ngày thứ bảy chủ nhật, ngoại trừ tôi.

Có lần làm sai mấy bài toán tôi suýt bị tát tai, nhưng rồi Thầy kịp dừng tay lại. Có lẽ Thầy ngại làm buồn lòng cha tôi, hơn nữa lúc ấy tôi mồ côi mẹ, nên Tiếng sáo ông cũng động lòng thương. Đứa học trò bị đòn nhiều nhất lại chính là Hội, đứa con trai lớn của Thầy.

Mặc dù Hội học khá giỏi, nhất là môn toán. Thầy đánh con mình để làm gương. Lúc ấy, tôi nghĩ thầm như thế và thấy rất thương Hội và tội nghiệp cho Hội. Ngược lại với Thầy, mẹ của Hội lại là một người đàn bà phúc hậu, hiền lành và rất cưng chiều con. Những ngày nghỉ, tôi thường đến nhà Hội chơi, nhưng không dám bước vào ngôi nhà trên vì sợ gặpThầy. Bọn tôi thường chơi phía sau vườn, mẹ Hội làm vài thứ bánh mang ra cho hai đứa chúng tôi ăn.
Có lần hai thằng rủ nhau đi tìm những tổ sáo, mang về nuôi hai con sáo con, giấu nó phía sau hè. Mẹ Hội giúp tìm thức ăn và chăm sóc hai chú sáo. Hội tập cho những con sáo con biết bay và biết nói. Khi hai con sáo lớn lên, nó bay theo chúng tôi, đậu trên vai, theo bọn tôi tới trường, hót líu lo, và bập bẹ vài tiếng: chào anh! chào chị! Cả đám học trò bu quanh, thèm thuồng. Có thằng còn theo năn nỉ, cho quà chúng tôi chỉ để được sờ hay ôm con sáo. Hội còn dạy cho tôi làm bẫy phía sau bờ mương, bên hàng tre, để bắt được mấy con cuốc khi tìm theo tiếng “gọi hè” của nó.

Một lần, mang con cuốc về nhà nội, bất ngờ gặp cha tôi. Ông bảo con cuốc còn được gọi là Đỗ Quyên hay Từ Quy, theo tích xưa là hóa thân của Vua Thục Đế bên Tàu, mất nước nên đã khóc đến chảy máu mắt, chết đi hóa thành con cuốc kêu lên những tiếng khắc khoải não nùng. Nghe cha tôi kể lại chuyện xưa, Hội cảm động quá, bảo tôi đem con cuốc thả lại chỗ cũ, và từ đó không bao giờ chúng tôi bẫy những con cuốc nữa. Từ nhỏ, tôi đã phục Hội có tính nhân từ và nhiều tài, dạy cho tôi nhiều chuyện hay, mặc dù Hội nhỏ hơn tôi đến hai tuổi. Khi hết bậc tiểu học, tôi phải rời quê vào Nha Trang, vì ở đây mới có trường trung học. Nhưng chỉ vài năm sau, chúng tôi lại gặp nhau ở thành phố này. Hội ở trọ nhà một người quen trên đường Âu Cơ, khu Xóm Mới. Thỉnh thoảng vào những ngày cuối tuần, tôi đạp xe đến thăm. Có khi hai thằng rủ nhau đi “cọp” xe lửa về thăm quê và lũ bạn nhỏ ngày xưa.

Lần đầu tiên tôi gặp Hội ở nhà trọ, đúng vào lúc anh ta đang tập thổi sáo. Hội mang ra khoe tôi cây sáo trúc rất đẹp, được giữ cẩn thận trong một cái hộp bao bằng vải nhung đen, Cây sáo được ông thầy người Huế tặng cho Hội, “một cậu học trò có năng khiếu, sẽ tạo cho chiếc sáo này có một linh hồn”. Ông Thầy bảo như như thế. Mặc dù lúc ấy, tiếng sáo của Hội chưa có gì đặc sắc. Sau khi xong trung học, tôi rời Nha Trang vào Sài gòn học thêm một vài năm, rồi xếp bút nghiên vào lính.

Ra trường, được bổ sung về một đơn vị tác chiến lưu động ở Cao Nguyên. Năm tháng sống chết với đồng đội, núi rừng, nên chúng tôi không có dịp gặp nhau. Sau này, trong một lần bị thương, xuất viện được vài ngày phép trước khi ra đơn vị, tôi về thăm quê nội và ghé lại thăm cha mẹ Hội. Lúc này thầy Tám không còn dạy học nữa, mà ở nhà làm chủ, cho thuê các loại nông cơ: máy cày, máy gặt. Thầy đón tiếp niềm nở, tôi không còn thấy sợ như ngày xưa. Thầy cho biết là Hội cũng đã vào lính và đang phục vụ tận dưới Vùng IV đồng bằng sông nước.

Cả năm cũng chỉ về phép một đôi lần ngắn ngủi. Thấy mẹ Hội bồng một đứa bé gái chừng một, hai tuổi, tôi lấy làm lạ, hỏi bà, và được biết đó là đứa con đầu lòng của Hội. Khuôn mặt đứa bé trông giống ông nội như đúc. Không hiểu tại sao lúc ấy tôi không hỏi gì về vợ của Hội, và tại sao bà nội lại phải nuôi đứa cháu sơ sinh.

Rồi từ đó cho đến ngày 30/4/75, tôi cũng không gặp lại Hội. Cho mãi hơn tám năm sau, khi tôi trở về từ những trại tù, và chính quyền CS không cho tạm cư cùng với vợ con ở thị trấn Ninh Hòa (quê vợ), bắt buộc phải về “quản chế” nơi sinh quán, tôi mới gặp lại Hội. Hội bị tù ở trại A 30 trong Nam, và được thả về trước tôi một năm.

Anh ở một mình trong căn nhà tranh nhỏ, vốn là cái kho chứa vật dụng nông nghiệp hư hỏng lâu năm của cha anh, nằm ngay trên vùng đất của ngôi trường mà ngày xưa thầy Tám dạy học. Hội kiếm sống qua ngày bằng việc làm vườn trồng rau và sửa chữa xe đạp cho khách qua đường. Chúng tôi lại trở thành đôi bạn như ngày xưa. Có điều bây giờ gần như cả hai thằng phải sống bên lề xã hội. Cứ vài ngày phải đi làm thủy lợi, sửa chữa các con đường trong xã. Tối đến phải ra trình diện công an trước khi đi ngủ.

Lúc này, cha tôi đã chết trong một trại tù khác trong Nam, còn thầy Tám, cha của Hội, bị kết tội “phá hoại công cụ sản xuất” khi ông không chịu giao nạp cho chính quyền những chiếc máy nông cơ của ông, và phá tháo ra từng mảnh nhỏ, chôn giấu rải rác khắp trong vườn, nên bị cưỡng bách làm việc đo đạc cho một hợp tác xã nông nghiệp, mà tên chủ nhiệm lại chính là một thằng hoc trò rất dốt của ông ngày xưa, học đâu chỉ tới lớp nhì rồi nghỉ. Trước 75, hắn ta là lính hải thuyền đào ngũ, do tội ăn cắp chất nổ, không dám trở về đơn vị, trốn ngoài một hòn đảo nhỏ, sống bằng nghề làm rẫy và đánh cá, rồi bị móc nối theo giặc. Sau tháng 4/75, nhờ tài nịnh hót, chỉ điểm mà từ một tên du kích, hắn ta trở thành chủ nhiệm HTX có tiếng hống hách và tàn ác nhất huyện. ( Sau này lên đến chức trưởng ban thương nghiệp huyện, bị tù vì tham nhũng và đã chết sau vài năm được thả ra).

Một hôm, vợ chồng tôi đến thăm, bất ngờ gặp vợ và hai đứa con trai rất dễ thương của Hội. Hội cho biêt là vợ con sống ở Nha Trang, chỉ lâu lâu ra thăm một lần. Vợ Hội là một người đàn bà đẹp, có nét đài các, dù trải qua cảnh đời cơ cực, nhưng nhan sắc không mấy tàn phai. Thấy vợ chồng con cái đoàn tụ, hạnh phúc, tôi mừng cho Hội. Chúng tôi cùng làm thịt con gà do vợ Hội mang về, hái rau thơm trồng sẵn sau vườn, ăn một bữa cơm chung “thịnh soạn”. Chỉ hai hôm sau, vợ con Hội lại trở về thành phố. Sau khi đưa vợ con lên xe đò, Hội theo chúng tôi về nhà ông bà nội tôi, nơi tôi đang “tạm trú”.

Thấy anh không vào nhà ngay, mà đứng nhìn trời buồn bã, vợ tôi đùa: – Mới đưa người đẹp đi mà lại nhớ rồi hay sao đây? Hội cười, nhưng nét buồn vẫn còn nguyên trên mặt. Buổi trưa hôm ấy, ba chúng tôi ngồi uống trà tâm tình dưới gốc cây xoài già, nơi ngày xưa tôi và cô Út thường ngồi đọc truyện cho bà nội tôi nghe. Khi vợ tôi hỏi vì sao mà vợ Hội không ở lại với anh nhiều hơn, Hội buồn bã trả lời: – Bà phải về trông con, vì bà còn một đứa con gái nhỏ ở nhà. Nhưng nó không phải là con của tôi.

Bất ngờ nghe qua điều này, vợ chồng tôi biết đây là một câu chuyện buồn. Thấy chúng tôi trầm ngâm im lặng, Hội kể cho chúng tôi nghe về cuộc tình đẹp, nhưng trắc trở trong hôn nhân và những biến cố đau buồn của vợ chồng anh. Trước khi vào lính, nhờ trình độ Anh văn khá và lý lịch tốt, Hội được nhận vào làm thông dịch viên cho Cơ quan Mỹ phụ trách Chiến Dịch Phượng Hoàng tại một tỉnh Cao Nguyên. Với công việc này, anh có nhiều dịp gặp gỡ ông Phó ty Cảnh sát, và được ông nhờ anh, cứ ba buổi tối trong tuần, đến nhà dạy kèm cho cô con gái môn Anh văn và toán. Cô bé đang học lớp đệ ngũ. Hội cao lớn, đẹp trai, lại đàn hát hay, nhưng không phải vì thế mà chỉ mới hai tuần cô học trò nhỏ đã “ái mộ” ông thầy.

Sau này cô bé cho biết cô mê ông thầy chính vì tiếng sáo, “tiếng sáo ru hồn người ta”- lời cô bé nói. Cô bé rất xinh, có cái tên hơi kiếm hiệp “Hà Thị Triệu Minh”. Có thể ngày xưa phụ thân cô thích đọc chuyện chưởng và ái mộ nhân vật Triệu Minh? Dường như khi biết yêu thì các cô con gái “trổ mã”, lớn nhanh hơn và đẹp ra nhiều hơn.

Chỉ một năm sau, khi lên lớp đệ tứ, Triệu Minh là hoa khôi trong đám nữ sinh trong tỉnh. Những ngày nghỉ học, cô học trò Triệu Minh nói dối mẹ, đi học nhóm, làm báo tường, tập hát với các bạn cùng lớp, nhưng thực ra là hẹn hò và dung dăng dung dẻ với ông gia sư trẻ. Trong thành phố này, góc núi, bờ sông, khu vườn, khe đá nào thơ mộng đều có in dấu chân, nghe lời tình tự, chứng kiến lời thề non hẹn biển của hai người.

Và tất nhiên ở những nơi ấy cũng còn cả dư âm “tiếng sáo ru hồn người ta” nữa. Khi cuộc tình của hai người đến thời kỳ say đắm nhất, cũng là lúc ông Phó Ty được các thám tử báo cáo tình hình. Có đứa con gái cưng xinh nhất tỉnh, không thể nào ông chịu để làm người tình với một chàng lãng tử, mà lương thông dịch chỉ ba cọc ba đồng. Ông bèn nhốt cô con gái trong nhà, mỗi lần đi học đều có người hộ tống.

Ông xách súng đi tìm Hội, và bắn tiếng là sẽ không để yên, nếu Hội không chấm dứt với Triệu Minh và rời khỏi Cao Nguyên. Triệu Minh biết rõ tính khí của cha mình, nên nhờ một cô bạn thân tìm Hội, trao cho anh mảnh giấy, bảo Hội phải ra đi ngay và hẹn thề sẽ tìm gặp lại ở một nơi nào đó sau này, không ai biết.

Mọi liên lạc đều qua trung gian của cô bạn học chí thân này. Nghe lời Triệu Minh, Hội xin chấm dứt ngay hợp đồng làm việc, theo máy bay Mỹ rời khỏi Cao Nguyên và sau đó xin vào trường Thủ Đức, mà trước đây Hội tạm thời được hoãn động viên nhờ Cơ quan DAO can thiệp. Ra trường, Hội xin về phục vụ tại Tiểu Khu An Xuyên, tỉnh cực nam của đất nước và xa cách muôn trùng với Cao Nguyên. Trong suốt thời gian này, hai người vẫn liên lạc nhau, qua cô bạn trung gian.

Mỗi tuần Hội đều nhận được một lá thư ướt đẫm nước mắt của Triệu Minh. Cuối cùng, Triệu Minh giữ lời thệ ước, sau khi thi đỗ tú tài, vờ vào Sài gòn xin vào đại học, rồi trốn cha mẹ, xuống Cà Mau sống với Hội. Sau khi sinh đứa con gái đầu lòng, Triệu Minh viết thư thú tội với cha mẹ, bảo là mình đã chọn đúng người chồng xứng đáng để yêu thương và sẽ cùng nhau tự lực xây dựng hạnh phúc gia đình, không hề xin mẹ cha bất cứ điều gì, ngoài sự cảm thông và bao dung tha thứ.

Triệu Minh nghĩ là dù sao ván cũng đã đóng thuyền, hơn nữa mình cũng đã sinh cho cha mẹ một đứa cháu ngoại, chắc chắn ông bà sẽ động lòng thương và chấp nhận cuộc hôn nhân. Nhưng cô đã lầm. Ông bà xuống tận nơi, xỉ vả Hội và Triệu Minh một trận, bắt phải tìm người cho đứa bé sơ sinh và Triệu Minh theo ông bà trở lại Cao Nguyên. Triệu Minh nhanh trí, cầu cứu cô bạn thân đến nhận trách nhiệm bồng đứa con cho bà cô ruột hiếm muộn ở Sài gòn, nhưng kỳ thực là giao cho mẹ của Hội, từ quê vào đóng vai cô của người bạn quý này.
Đó là lý do vì sao cô con gái đầu lòng của Hội sống ở nhà ông bà nội từ lúc sơ sinh, cho mãi đến sau này. Con bé không muốn về với cha mẹ nữa. Cuộc tình lại một lần nữa chia ly. Triệu Minh bị bắt buộc lên xe về Cao Nguyên cùng cha mẹ. Một thời gian sau, có lẽ vì đau buồn quá, Triệu Minh trải qua một cơn bệnh thập tử nhất sinh. Gia đình phải đưa vào Sài gòn điều trị, nhưng bệnh tình ngày thêm trầm trọng, Triệu Minh ngày một tàn tạ hơn. Cô đòi được gặp Hội một lần. Lời thỉnh cầu được ba cô chấp nhận, như là ân huệ cuối cùng cho một tử tội.

Không ngờ sau khi gặp lại Hội, Triệu Minh bỗng khỏe lại. Chẳng hiểu vì động lòng trước mãnh lực của tình yêu hay là lo lắng sự sống còn của cô con gái, ông Phó Ty hứa sẽ cho làm đám cưới sau khi Triệu Minh bình phục. “Câu chuyện thật của tôi mà nghe sao giống như những chuyện tình buồn trong tiểu thuyết!”- lời Hội nói. Lần này, ông bà giữ lời hứa. Nhưng người từ chối lại là ông thầy Tám, cha của Hội. Ông vừa tự ái, vừa phẫn nộ cung cách hành xử của cha mẹ Triệu Minh. Cuối cùng, vì thương con trai mình, và lòng thủy chung của Triệu Minh, ông chấp nhận cuộc hôn nhân, nhưng cả hai ông bà đều không có mặt trong ngày đám cưới. Đại diện họ nhà trai hôm ấy lại chính là cha mẹ của cô bạn quý của Triệu Minh.

Sau đám cưới, cha của Triệu Minh dự định nhờ vào sự quen biết, xin kéo Hội về ngành Cảnh Sát và làm việc với ông. Lúc này ông không còn làm Phó ty mà đã nhận một nhiệm vụ khác và chuyển xuống làm việc ở thành phố Nha Trang. Nhưng Hội nhất quyết khước từ. Hơn nữa, nhờ có trình độ Anh văn và một số kinh nghiệm trong thời gian làm việc trong Chiến Dịch Phượng Hoàng, Hội vừa được chọn theo học một khóa tình báo ở Cây Mai. Sau khi mãn khóa được điều về một cơ quan tình báo ở Quân Đoàn IV, làm việc tại tỉnh lỵ Cần Thơ. Trong một căn nhà nhỏ thuê bên bờ sông thơ mộng, vợ chồng Hội thực sự sống những ngày hạnh phúc.

Hai đứa con trai khôi ngô lần lượt ra đời ở đó. Cuối năm 74, cha của Triệu Minh lại được chuyển ra Vùng I nhận một chức vụ mới. Ông đi trước một mình, để gia đình vẫn ở lại Nha Trang, ông sẽ thu xếp đi sau. Nhưng chỉ hơn ba tháng sau, ngày 10 tháng 3/75, Ban Mê Thuột mất vào tay giặc, các tỉnh Kontum, Pleiku, có lệnh di tản, tái phối trí chiến thuật. Rồi tướng Ngô Quang Trưởng đau đớn nhận lệnh bỏ cả Vùng 1 trong tức tưởi. Cha của Triệu Minh liên lạc vợ con cho biết ông đang tìm phương tiện di tản, bảo cả nhà chờ ông. Nhưng rồi họ không bao giờ còn gặp lại ông nữa. Ông được ghi nhận đã mất tích. Sau ngày mất nước, Hội đưa vợ và hai con từ Cần Thơ về Nha Trang, tạm sống chung với gia đình vợ. Hội vào tù khi cả nhà được tin cha Triệu Minh đã chết ở bờ biển Thuận An, do mấy anh cảnh sát cộng sự với ông cho biết, nhưng không ai biết xác thân ông bị vùi lấp ở đâu cùng với mấy ngàn người bất hạnh khác.

Khi tổ chức vươt biển cùng mấy người bạn tù, tôi có báo cho Hội biết, và vì chiếc ghe quá nhỏ, nên Hội chỉ có thể đi một mình, hay nhiều lắm là với một đứa con. Sau nhiều ngày suy nghĩ, cuối cùng Hội đã từ chối. Anh bảo là dù sao, anh cũng không thể bỏ vợ con ở lại được.

Sau gần một năm ở các trại tị nạn Singapore rồi Bataan/Phi Luật Tân, gia đình tôi được sang định cư ở Na-Uy. Khoảng hai năm sau, tôi bất ngờ nhận lá thư từ đảo Palawan, phía sau trên bì thư, ghi tên người gởi là Hà Thị Triêu Minh. Cái tên dễ nhớ. Nội dung chỉ báo là mẹ con đã vượt biển và đến được Palawan, đang chờ thanh lọc, cần sự giúp đỡ của chúng tôi trong thời gian mẹ con phải sống ở đảo.

Biết chính xác đây là vợ con Hội, tôi băn khoăn không biết vì sao Hội lại không viết thư cho tôi mà lại là vợ. Hay là vì một bất hạnh nào đó mà Hội không đến được đất liền. Trong thư không hề nghe nói tới Hội. Tôi liền ra ngân hàng gởi 300 đô la và viết lá thư ngắn, mừng mẹ con Triệu Minh đến đảo và hỏi có Hội cùng đi không, tại sao không thấy nhắc đến trong thư?

Hơn một tháng sau tôi nhận thư hồi âm. Trong gần hai trang giấy, Triệu Minh kể không biết bao nhiêu tội của Hội. Nào là ngoại tình với vợ của người ta, trở lại với cô bồ cũ, lấy tiền bạc từ mồ hôi nước mắt của vợ con để bài bạc, nhậu nhẹt say sưa cả ngày, không hề có trách nhiệm gì với mấy đứa con, nên ở lại không chịu cùng đi! Tôi khá ngạc nhiên, vì biết tính nết Hội từ thời ấu thơ cho đến hết trung học, và gần gũi Hội cả một năm sau khi hai đứa ở tù về. Cho dù nếu có buồn phiền, hay bất mãn cuộc đời đến đâu, Hội sẽ không làm như thế. Từ nhỏ, Hội là một người được sự giáo dục của cha, một vị thầy giáo nghiêm khắc. Sau này, dù trong hoàn cảnh nào, Hội vẫn luôn trọng danh dự và giữ tư cách của mình.

Tôi liên lạc với đám bạn thân còn ở Việt Nam. Tất cả đều nói về Hội với những điều ngược lại. Họ còn bảo “nếu có một người không bao giờ đi tu mà thành Phật, thì đó chính là thằng Hội”. Tôi gởi thêm cho Triệu Minh một số tiền nữa, vì nghĩ tới hai đứa con của Hội, nhưng không nhận được hồi âm. Sau này tôi được tin Hội đã sang Mỹ theo diện HO-10, nhưng không ai biết Hội ở đâu.

Mấy năm sau, vào một mùa hè, vợ chồng tôi sang Florida dự đám cưới con trai của anh bạn chí thân, cùng đơn vị lúc xưa và sau tháng 4/75 lại là bạn cùng tù. Chị vợ của anh là một trong hai cô con gái của ông bà chủ nhà ở một quận lỵ, mà trước kia, lúc còn là hai thằng lính trẻ, chúng tôi đã đóng quân trong vườn nhà. Chúng tôi thân thiết và thương mến nhau còn hơn cả anh em, nên khi được anh chị báo tin làm đám cưới cho con, nhân cơ hội này, muốn họp mặt bạn bè của hai người sau bao nhiêu năm lưu lạc, vợ chồng tôi bay sang Florida ngay. Đích thân anh chị đón chúng tôi ở phi trường.

Anh em bao nhiêu năm gặp lại nhau, chúng tôi ôm lấy nhau mà nước mắt trào ra lúc nào không biết. Về nhà, khách khứa đã khá đông. Bên phía đàn ông, hầu hết những người bạn cùng đơn vị cũ, còn cánh đàn bà, đa số là bạn học của chị vợ.

Đang giới thiệu, bắt tay hỏi chào vui vẻ, tôi nghe chị vợ nói với mấy cô bạn:

– Bây giờ, bọn mày ở nhà chơi, tao ra phi trường đón con nhỏ Triệu Minh.

Nghe hai tiếng Triệu Minh, tôi và bà xã giật mình nhìn nhau. Cái tên vừa hiếm hoi dễ nhớ, vừa còn lại trong ký ức chúng tôi, với đôi điều khó hiểu. Cả vợ chồng tôi tò mò, nôn nao chờ đợi trong hơn 30 phút. Quả nhiên, người khách đàn bà vừa bước vô nhà chính là Hà Thị Triệu Minh. Tuy bây giờ ốm hơn và nhan sắc có tàn phai. Để chắc chắn, tôi hỏi nhỏ chị bạn:

– Có phải Triệu Minh này trước có ông già làm lớn bên Cảnh sát?

– Đúng rồi, dường như nó có chồng ở Nha Trang với ông đó, nhưng thằng chồng nó bồ bịch lôi thôi quá nên nó bỏ lâu rồi!

Nghe chị nói, tôi có chút bực mình, nhưng chỉ cau mày, không nói. Chị dắt Triệu Minh đến. Cô không nhận ra chúng tôi. Sau khi được chúng tôi giới thiệu về mình, Triệu Minh nắm tay mừng rỡ, nhưng trong đôi mắt vẫn u buồn và có điều gì đó không mấy tự nhiên. Triệu Minh cám ơn chúng tôi đã gởi biếu tiền cho mẹ con cô khi còn ở đảo Palawan. Cô cho biết mẹ con đang định cư ở thành phố Salt Lake City, thuộc tiểu bang Utah, đứa con đầu vừa mới vào đại học. Chúng tôi chúc mừng cô và hỏi tin tức về Hội, Cô khựng lại giây lát rồi cúi xuống, trả lời:

– Nghĩ tình cha của mấy đứa nhỏ, em bảo lãnh anh ấy về ở với mẹ con em, nhưng cũng với cái tánh trai gái rượu chè, chẳng lo lắng gì cho con, nên em tống ra khỏi nhà. Nghe nói bây giờ đang ở đâu đó dưới Cali!

Tôi ngỏ ý xin địa chỉ hay là số điện thoại của Hội, nhưng cô ta bảo đã không còn liên lạc từ lâu lắm. Và đó cũng là lần cuối cùng chúng tôi gặp Triêu Minh.

Hôm nay, gần hai mươi năm sau, tôi bất ngờ gặp lại Hội. Không ngờ bây giờ tiếng sáo của Hội hay đến mê hồn người như vậy. Buổi ra mắt sách chưa chấm dứt, Hội bảo tôi ra xe để Hội đưa về nhà. Anh em xa cách bao nhiêu năm, giờ gặp lại sẽ có biết bao nhiêu điều để nói. Tôi dắt tay Hội đến giới thiệu với người bạn, và bảo Hội cho anh ta địa chỉ để nhờ anh đến đón tôi trước tám giờ tối, vì Hội cho biết phải đi làm ca đêm. Hội ở trong một garage thuê của một người quen ở thành phố Anaheim.

Cái garage được sửa sang lại, đủ để một cái giường nhỏ và một cái bàn. Tất cả phần còn lại, là một phòng thu âm nhỏ, với một số máy móc. Hội bảo đây là nơi thu âm tiếng sáo của Hội đệm cho những giọng ngâm, giọng ca của bạn bè văn nghệ. Đặc biệt có nhiều ca sĩ nổi danh từng ra vô cái garage chật hẹp, nghèo hèn này. Thấy trên tường có tấm ảnh của một cô gái phóng lớn. Trông đẹp và quí phái. Mới nhìn, tôi tưởng một cô ca sĩ nào đó, nên hỏi Hội. Anh cười không trả lời mà hỏi lại tôi:

– Bạn không còn nhớ là ai đó hay sao?

Thấy tôi chau mày suy nghĩ, Hội bảo:

– Là Triệu Minh đó, lúc còn con gái, trước khi tụi này làm đám cưới!

Tôi à lên một tiếng rồi cười trêu Hội:

– Coi bộ vẫn còn yêu nàng hay sao mà treo ảnh nàng trang trọng thế?

Hỏi câu ấy, tôi không ngờ vô tình chạm tới vết thương trong lòng Hội. Anh tắt mất nụ cười, buồn bã:

– Sau khi mình vào tù hơn một năm, thì Triệu Minh có con với tên thiếu tá công an VC ở Nha Trang. Cha mẹ mình biết rõ điều này. Mặc dù Minh cho biết là trong một chuyến đi buôn cà phê, cô ta bị bắt và cả một bọn công an gài bẫy để phải uống thuốc mê cho gã thiếu tá trưởng đồn cưỡng hiếp, vì hắn ta quá mê mệt trước nhan sắc của nàng. Trước hoàn cảnh này, ba mẹ mình dù rất đau lòng nhưng cũng đành phải im lặng, khóc thầm. Những tưởng đến đó cũng đủ làm cho mọi người thấm thía tận cùng đau đớn, nhưng rồi tên thiếu tá công an không từ bỏ dục vọng. Hắn ta càng mê Triệu Minh hơn. Quyết định ly hôn với bà vợ quê mùa còn ngoài Hà Nội, và chiếm đoạt Minh vĩnh viễn cho mình. Hắn ta bỏ một số tiền lớn cho Triệu Minh mở sạp buôn khá lớn ở chợ Đầm. Vừa dùng quyền lực gian manh, vùa tung tiền tham nhũng được, sau một thời gian quỳ mọp dưới chân nàng, hắn ta gần đạt được mục đích. Ba mẹ mình biết được điều này.

Mẹ mình thì hiền lành chỉ khóc, nhưng Ba mình thì đến thẳng nhà đòi bắt hai thằng cháu nội và dứt khoát từ Minh, không chấp nhận nàng là con dâu nữa. Riêng đứa con gái lớn được cha mẹ mình nuôi từ lúc mới sinh, từ chối về với mẹ mà xin được ở luôn với ông bà nội nó.

Đúng thời điểm bi đát ấy, thì mình được ra tù. Khi được ba mình kể lại mọi điều, lòng mình đau đớn lắm, nhưng dù sao cũng còn mấy đứa con chung, và nhất là trong lòng mình vẫn còn in đậm hình ảnh của Triệu Minh trong những ngày nàng sống chết để được làm vợ mình. Mình xin cha mẹ mình tha thứ cho nàng, nếu từ nay nàng dứt khoát rời bỏ tên công an vô lại.

Tranh luận thật nhiều, cuối cùng vì hai đứa cháu nội, ông đồng ý cho mình gặp lại Triệu Minh, nhưng nàng không được phép đến nhà ông. Chính vì vậy mà ông cho mình ra ở căn nhà kho, mà ngày xưa vợ chồng bạn có đến thăm.

Tôi nôn nao, ngắt lời Hội:

– Rồi sau đó Minh có dứt khoát với hắn ta không?

Hội buồn bã trả lời:

– Minh nói là không hề yêu hắn ta, ban đầu còn thù ghét hắn, nhưng dần dà từ tội nghiệp rồi đến thương hại khi thấy hắn ta quá si mê mình. Hắn bảo sẵn sàng bỏ đảng, bỏ ngành, bỏ mọi chức tước để chỉ được nàng. Hơn nữa dù sao hắn ta với nàng cũng đã có một đứa con gái. Minh thường bảo cái trợt chân ấy đã đưa cuộc đời nàng đi đến một ngã rẽ quá xa, khó mà đứng lên lại được. Hắn còn đòi được gặp mình để xin mình ký giấy ly dị, giao Minh cho hắn. Hắn bảo đảm sẽ lo cho Minh và cả mấy đứa con của mình được sung sướng.

– Rồi bạn có gặp hắn ta?

– Không! Dù cái tì vết quá lớn, nhưng mình không thể để mất Minh. Mình sẵn sàng bỏ qua hết mọi chuyện, làm khai sinh cho đứa con gái riêng của Minh là con ruột của mình, khuyên Minh nên trả tiền bạc tài sản lại cho hắn ta, và trả hắn ta về cho vợ con của hắn, đang khốn khổ ở Hà Nội. Nhưng khi Minh đến gặp hắn để nói lại điều này, hắn trở giọng hăm dọa, bảo là sẽ cho đàn em bắt mình vào tù trở lại, hay sẽ tìm cách thủ tiêu mình, làm Minh càng thêm lo sợ tai ương sẽ ụp xuống trên đầu mình.

Sau đó lòng mình luôn bất an, không tin là trong hoàn cảnh khó khăn, Triệu Minh có thể dễ dàng trút bỏ mọi sợ hãi và cám dỗ tiền bạc để về sống với mình, bây giờ chỉ còn hai bàn tay trắng, nên mình đi chạy vạy vay mượn bà con bè bạn ít tiền, hùn hạp làm đìa nuôi tôm để vợ chồng cùng làm ăn, sinh sống. Nhưng đúng vào lúc đó, thì Minh và gia đình nàng xảy ra tai họa. Bà vợ Bắc kỳ của tên thiếu tá công an từ ngoài Hà Nội vào, dẫn theo một đám xã hội đen, chuyên đâm thuê chém mướn, đến tận sạp buôn của Minh đập phá, đánh đập Minh tàn nhẫn, lột cả áo quần và cắt hết tóc. Đã vậy còn lôi về nhà mẹ Minh hành hung, và bắt buộc trong vòng một tuần, tất cả mọi người phải biến khỏi thành phố này, đi đến một nơi nào đó thật xa, không ai được biết, nếu không sẽ lãnh tai họa. Triêu Minh bán gấp nhà cửa và tất cả đồ đạc, cùng cả nhà chạy vào nhà bà dì ở Rạch Giá và tìm mối vượt biển sau đó. Hơn một tuần sau, mình dắt đứa con gái lớn vào thăm, ngôi nhà đã đổi chủ, và chẳng biết mẹ con Minh và gia đình nàng đã đi đâu.

– Như vậy tại sao sau này Triêu Minh lại đối xử tàn tệ và đi nói xấu về bạn? Tôi thắc mắc.

– Ban đầu chính mình cũng không hiểu. Dần dà mình nghĩ là Triệu Minh tìm mọi cách để làm mình phải xa lánh mẹ con Minh. Có thể từ mặc cảm tội lỗi, nhưng muốn giữ thể diện với bạn bè, và nhất là với các đứa con ngày càng khôn lớn, nên nàng đã đổ hết bao nhiêu tội lỗi lên đầu mình. Khi nàng và gia đình vượt biển đến được đảo Palawan, đúng vào thời kỳ Cao Ủy Tị Nạn LHQ đóng cửa các trại, tất cả đều phải qua thanh lọc. Mẹ con Minh và cả gia đình đều bị từ chối vì chẳng có giấy tờ gì chứng minh là vợ con của sĩ quan VNCH, lúc ấy Minh mới viết lá thư gởi về cầu cứu mình, Cha mẹ mình và tất cả bạn bè ai cũng can ngăn, nhưng mình đã âm thầm làm bản sao Giấy Ra Trại và gởi gấp cho nàng. Nhờ có tấm giấy này của mình mà cả nhà mới được đến Mỹ.

– Vậy tại sao khi bạn đi HO đến Mỹ, lại không ở với mẹ con nàng. Chính cô ta bảo là đã tống bạn ra khỏi nhà?

Hội cười hiền lành, như chẳng có điều gì phiền muộn:

– Thực ra cô ấy không hề xô đuổi mình. Lo lắng và chăm sóc mình, nhưng luôn tìm cách lẫn tránh mình. Xa lạ đến lạnh lùng. Nhiều lần mình nghe tiếng nàng khóc. Và không biết ba đứa con, hai đứa của mình và một đứa con riêng của cô ta, bị ảnh hưởng thế nào, nhìn mình như một người xa lạ. Trong nhà không bao giờ nghe được tiếng cười. Mình có cảm giác như địa ngục. Hơn ba tháng, dù với tất cả nhẫn nhịn, chiều chuộng, cuối cùng mình đành phải bất lực ra đi, với hy vọng trả lại niềm vui và không khí gia đình cho mấy mẹ con nàng. Trong ba tháng ấy, chỉ có cậu em của cô ta thường gần gũi tâm sự với mình.

Chính cậu ta đã kể lại tất cả những gì đã xảy ra. Hôm tiễn mình lên xe về đất Cali này, cậu đã trao lại cho mình một số tiền và lá thư của Triệu Minh nhờ chuyển cho mình. Lá thư chỉ là tấm giấy nhỏ, ghi vỏn vẹn một dòng: “Xin hãy tha thứ cho em, và xem như Triệu Minh đã chết từ lâu rồi, không còn trên trần gian này nữa”. Và đến nay cậu ấy là người duy nhất giữ liên lạc với mình, luôn tỏ ra kính mến mình.

– Sau này, Hội có dịp nào gặp lại Triêu Minh hay hai đứa con trai của Hội?

– Có một lần, khi thằng con trai lớn làm đám cưới, mình có nhận được thiệp báo tin và thiệp mời. Mình cũng vui mừng lắm, dù đọc trong thiệp báo tin, không thấy có tên mình, mà chỉ có tên mẹ nó. Mình vội vàng đi mua một bộ đồ veston mới, mượn trước một số lư- ơng, để bay lên mừng con, và cũng có dịp gặp lại Triệu Minh. Nhưng buổi tối trước ngày đi, thằng con lại gọi phôn (ông cậu cho nó số phôn), bảo là mình không nên lên, vì cái thư mời là do cậu nó bảo nó gởi, chứ không có ý kiến của mẹ. Nếu mình muốn đi, thì phải gọi xin phép mẹ nó. Nhưng rồi nó lại hạ giọng: “Con không có chút hy vọng gì là má sẽ OK!”. Cuối cùng đành phải bỏ chiếc vé máy bay. Mình buồn, nhưng không trách Triệu Minh. Rồi mới đây, bất ngờ lại gặp thằng em của nó. Nghe nói cũng tốt nghiệp kỹ sư hàng không và đang làm cho hãng Continental. Nó sắp cưới vợ, nên rủ con vợ tương lai đi chơi một vòng ở Las Vegas, rồi sau đó ghé lại Little Saigon mua một ít nữ trang và vật dụng dành cho ngày cưới. Nó gọi phôn hẹn gặp mình phía trước Phước Lộc Thọ. Mình mừng lắm, quên hết mọi chuyện, chỉ mong gặp lại thằng con ruột thịt, để xem bây giờ mặt mũi nó ra sao.

Tôi lái xe đến gặp nó và vị hôn thê. Cô dâu chào bắt tay tôi vui vẻ, nhưng thằng con thì nhìn tôi dửng dưng xa lạ. Tôi thoáng buồn nhưng kịp trấn tĩnh, vì nghĩ là từ lúc mới sinh ra cho đến bây giờ, nó có sống với tôi bao lâu đâu. Mời hai đứa đi ăn, nó từ chối, bảo chỉ cần uống nước. Chúng tôi ngồi tạm trong cái quán nhỏ bên trong Phước Lộc Thọ. Nó bảo là tụi nó sẽ làm đám cưới vào hai tuần tới tại Maryland. Trước khi đi cậu nó cho số phôn của tôi và dặn nó nhờ tìm gặp tôi khi ghé lại Little Saigon. Uống nước xong, nó đứng dậy móc bóp cho tôi tờ giấy 100 đô la. Con bồ của nó nói một tràng tiếng Mỹ, tôi hiểu là “tại sao lâu ngày mày gặp lại daddy của mày mà mày chỉ cho có 100!”. Nó móc bóp lấy thêm tờ 50 đưa cho tôi. Tôi ngượng ngùng, định từ chối, nhưng rồi sợ nó buồn, hơn nữa nghĩ tới đứa con gái lớn, là chị ruột của nó, đang sống thiếu thốn ở nhà ông bà nội bên Việt Nam, tôi nhét vào túi áo, nói cám ơn hai đứa. Sau đó tôi bảo nó chờ vài phút, rồi chạy đến tiệm hoa gần đó mua một bó huệ trắng. Quay lại, tôi xúc động nói với hai đứa: “nhà ba ở rất gần đây, chạy xe chỉ chừng bảy, tám phút. Ông nội con vừa mất, hôm nay là 49 ngày. Lúc con còn nhỏ, ông nội rất thương con. Bây giờ hai đứa con có mặt ở đây lại sắp làm đám cưới, ba muốn hai con ghé lại thắp cho ông nội cây nhang. Ở nơi chín suối, chắc ông vui lắm”. Con bồ nhìn nó gật đầu, nhưng tôi rất bất ngờ và hụt hẫng khi nghe nó nói: “Để lần khác, hôm nay con không có nhiểu thì giờ!”

Kể xong câu chuyện khá dài, Hội vẫn dửng dưng nhìn lên trần nhà như đang tìm kiếm một vật gì, trong lúc lòng tôi đau như dao cắt.

Để cho Hội trầm ngâm một lúc, tôi lên tiếng:

– Tôi tội nghiệp bạn, nhưng không hiểu được bạn. Tại sao trước một nỗi đau như thế mà nhìn bạn vẫn thấy bạn thản nhiên, có khi còn cười nữa, cứ như không?

Hội nắm tay tôi, xuống giọng:

– Mình đã quen rồi. Hơn nữa cả dân tộc đều tan tác bi thương qua cuộc thăng trầm quá lớn ấy, nỗi đau của mỗi một chúng ta đâu còn có nghĩa gì. Tất cả chỉ đáng thương hơn là đáng trách!

Tôi nhìn Hội, lắc đầu:

– Nhưng ít nhất, bạn cũng phải giải thích, nói lên sự thực, để mấy đứa con của bạn nó hiểu chứ. Chẳng lẽ cứ để các cháu cứ nghĩ xấu về bạn, thờ ơ, đối xử tệ bạc với cha của nó mãi như vậy hay sao?

Im lặng một lúc, Hội lên tiếng:

– Thôi, chuyện đã như vậy rồi. Vả lại dù sao mẹ chúng nó cũng đã chịu đựng bao nhiêu khổ cực đắng cay để nuôi nấng bọn nó từ thuở còn tấm bé, đến bây giờ đã thành đạt, nên người. Đó chẳng phải là điều mà những người cha bất hạnh như bọn mình mong ước hay sao? Tốt nhất là hãy để chúng nó luôn nghĩ tốt và hết lòng kính trọng, yêu thương mẹ nó!

Nhớ tới lời mấy thằng bạn còn ở quê nhà, tôi buột miệng:

– Hèn gì đám bạn bè bảo là bạn không hề đi tu mà đã đắc đạo rồi.

Hội nở một nụ cười, nhưng không trọn, rồi như mới nhớ ra điều gì, anh kể tiếp:

– Cách nay vài tháng, Triệu Minh có dắt đứa con gái riêng về Việt Nam để gặp cha ruột của nó. Nghe nói hắn ta cũng đã tìm cách móc nối tổ chức vượt biển sau ngày Minh đến đảo Palawan, nhưng bị bắt vào tù, mất hết đảng tịch và bị sa thải khỏi ngành công an. Sau đó làm nhân viên bảo vệ cho một khách sạn nào đó ngoài Hội An, Đà Nẵng, nhưng đang bị bệnh rất nặng. Ung thư phổi thời kỳ cuối.

– Như vậy Triệu Minh vẫn còn nghĩ đến hắn ta?

Trầm ngâm một lúc, Hội lên tiếng:

– Cô ta làm thế cũng phải. Dù gì cũng là tình phụ tử mà. Hơn nữa cũng vì nàng mà hắn ta mới ra nông nỗi. Sau đó cô ta có về quê mình thăm đứa con gái đầu lòng. Từ lúc mới sinh cho đến bây giờ nó vẫn ở nhà ông bà nội. Nối nghiệp ông nội: dạy học, và đã có chồng con. Nó là đứa con duy nhất hiểu rõ chuyện của mình với mẹ nó, nên thường viết thư, gọi điện thoại hỏi han an ủi mình. Mấy lần nó phản đối mẹ nó và có ý định nói hết sự thực cho hai đứa em nó biết, nhưng mẹ nó năn nỉ và chính mình cũng can ngăn. Tôi bảo nó nên hiểu và thương mẹ nó. “Vì một mình phải nuôi dạy các con lớn lên ở quê người, mẹ cần sự kính trọng và vâng lời của các em con, mà đành phải đổ hết tội lên đầu ba. Ba nghĩ làm như vậy, chắc mẹ con cũng đau lòng ghê lắm. Người cần yêu thương và an ủi, chính là mẹ của con, chứ không phải là ba”.

– Vậy mẹ nó có tâm sự gì với nó về bạn hay không? Tôi tò mò hỏi.

– Cháu có bảo là mẹ nó cũng ân hận lắm. Bà cũng nhớ tôi và mặc cảm tội lỗi quá lớn, khi ít nhiều gì cũng đã phản bội tôi mà còn phải nói với mọi người và nhất là với các con những điều xấu xa không đúng về tôi. Bà thường nhờ con gái chở bà ra nghĩa trang thắp hương trước mộ cha mẹ tôi và ngồi khóc sụt sùi. Nhiều lần bà có ý định đi tìm tôi, xin tha lỗi và trở lại với nhau, nhất là sau khi các con đã lớn và ra sống riêng, bà cô đơn một mình. Nhưng rồi bà không đủ can đảm, khi nghĩ là tất cả mọi thứ đều đã vượt quá xa giới hạn của nó rồi. Bà bảo; “Chiếc bình cổ đã vỡ tan tành, không thể nào có thể hàn gắn từ những mảnh vụn, mà một số cũng đã mất mát rơi rớt theo thời gian”. Bà có ý định về lại Viêt Nam, sau khi cô con gái út lấy chồng. Sẽ quy y, tu ở một ngôi chùa trên Cao Nguyên. Nơi mà ngày xưa, lúc gặp phong ba trắc trở trong tình yêu với mình, bà đã đến đó để cầu xin và thệ ước.

Tôi hơi bất ngờ và thoáng một chút ngậm ngùi:

– Dù sao cũng tội nghiệp! Tất cả cũng chỉ là hệ lụy từ một cuộc chiến phi lý mà đám người thắng trận lại là một lũ bất lương. Tôi nghĩ bạn nên tìm gặp nàng, nói một câu thứ tha cho nhẹ lòng. Không phải nhẹ lòng cho riêng nàng mà cho chính cả bạn nữa. Và nếu được, thì sống lại với nhau, coi như đôi bạn trong tuổi già.

Hội cúi xuống, đôi mắt dường như nhắm lại. Suy nghĩ một lúc rồi hạ giọng:

– Mình đã nhờ đứa con gái nói với nàng điều ấy. Nhưng nàng chưa muốn gặp mình, chỉ xin cám ơn và khuyên mình hãy cố quên đi tất cả. Nàng bảo: ”Đời là bể khổ. Giờ đã cuối đời thì vướng bận thêm nữa mà làm gì”. Cả đứa con gái của mình cũng đồng tình. Cháu bảo “con thấy như thế vẫn hay hơn, chứ mỗi ngày ba má nhìn thấy nhau, dễ nhớ lại chuyện xưa rồi cũng chỉ buồn khổ hơn thôi!”

Nghe Hội nhắc tới cô con gái còn ở quê nhà, tôi hỏi:

– Sao bạn không bảo lãnh gia đình cháu gái lớn sang Mỹ sống với bạn cho vui?

Hội lắc đầu:

– Vợ chồng nó không muốn. Dường như nó ngại phải chọn ở với cha hay với mẹ. Vậy cũng hay. Chứ sang đây nó thấy mình cơ cực lại buồn thêm. Còn mình, khi nào rảnh rỗi, chạy đến viện dưỡng lão săn sóc, giúp đỡ cho mấy ông bà cụ đã quá già mà chẳng có con cái chăm nom, mình cũng thấy vui.

Tôi định nói một câu để khen và an ủi, thì Hội vội xem qua đồng hồ rồi kéo tôi đứng dậy. Đúng lúc cả hai thằng đang đối diện với bức ảnh lớn của Triệu Minh treo trên vách.

Tôi hỏi lại Hội một câu đã hỏi lúc mới vào nhà:

– Nghĩa là bạn vẫn còn yêu Triệu Minh?

– Đúng, mình vẫn thiết tha yêu Triệu Minh, nhưng mà Triệu Minh ngày xưa, cái thời nàng và mình mới yêu nhau, và nhất là vì yêu mình mà dám bỏ tất cả. Cuộc tình đó đẹp quá đi chứ, phải không? Đến bây giờ, nhiều đêm mình vẫn nằm mơ thấy nàng. Chỉ những giấc mơ ấy thôi cũng đủ cho mình thấy hạnh phúc và quên hết mọi biến cố sau này.

– Bây giờ bạn đã có cô bạn gái nào, và có tính kiếm một cô vợ khác để có nhau trong tuổi già?

– Có chứ, mình đang có cô bạn, Bích Loan vừa ngâm thơ với mình chiều nay đó. Giọng ngâm của cô hay lắm. Trước kia là cô giáo ở Pleiku. Nhưng tụi mình chỉ xem như là bạn cho vui, chứ trong lòng mình không còn có tình yêu, trái tim của mình không còn biết rung động kể từ sau cuộc tình với Triệu Minh.

Bỗng nhớ tới một điều, tôi hỏi Hội:

– Và dường như nhờ tình yêu ấy mà tiếng sáo của bạn mới tuyệt vời?

Hội cười, đưa tay lên vách lựa lấy một cây sao trúc Ñaëc San Phoá Nuùi 2011 Trang 188 đưa lên miệng thổi một đoạn trong bài Love Story. Khi chấm dứt, Hội hỏi tôi:

– Bạn có còn nhớ ra cây sáo trúc này không? Tôi lắc đầu. Hội chìa cây sáo ra trước mặt tôi:

– Chính là cây sáo cũ, mà ngày mình còn đi học ở Nha Trang, ông thầy ngưởi Huế đã tặng mình, khi bảo mình là “đứa học trò có năng khiếu sẽ tạo cho chiếc sáo này có một linh hồn”.

Tôi gật đầu đắc ý, định khen Hội một lời, nhưng dường như Hội đã đọc được ý nghĩ đó, anh xua tay:

– Không, ông Thầy nói không đúng hẳn. Có thể là mình có chút năng khiếu, nhưng năng khiếu không thể tạo được linh hồn.

Thấy tôi ngớ ra chưa kịp hiểu, Hội tiếp lời:

– Chính hình ảnh của Triệu Minh, cùng với tất cả những hạnh phúc, đắng cay ấy đã làm nên linh hồn cho cây sáo!

Tôi cầm săm soi cây sáo đã khá cũ, đưa lại cho Hội rồi buột miệng:

– Không ngờ qua biết bao thăng trầm, bạn vẫn còn giữ được cây sáo…mà lại không giữ được Triệu Minh.

Vừa nói xong, biết mình lỡ lời, định nói một câu xin lỗi thì điện thoại reo. Người bạn báo đã đến chờ phía trước. Tôi đứng lên nắm tay Hội, nhắc lại một kỷ niệm xưa, lúc hai thằng còn nhỏ. Chuyện Hội đã bảo tôi đem thả con cuốc chúng tôi vừa vui mừng bẫy được, sau khi nghe cha tôi bảo con cuốc ấy là hóa thân của Vua Thục Đế, vì mất nước mà khóc đến chảy máu mắt, chết đi hóa thành chim, cất lên những tiếng kêu khắc khoải, não nùng.

Hội ôm chặt vai tôi:

– Không ngờ bây giờ bọn mình cũng là hai con quốc quốc.

Chia tay Hội, mở cửa bước ra ngoài. Đang giữa mùa hè mà sao những ngọn gió làm tôi buốt lạnh. Và dường như trời cũng vừa mới đổ thêm xuống một cơn mưa.

Phạm Tín An Ninh

Cám ơn Thiệu Vạn An đã gởi

Ðảng CSVN có Ban Chấp Hành mới với nhiều khuôn mặt cũ

 Ðảng CSVN có Ban Chấp Hành mới với nhiều khuôn mặt cũ
Nguoi-viet.com

Các đại biểu dự đại hội lần thứ 12 của Ðảng CSVN đã chọn xong 180/220 ứng cử viên vào Ban Chấp Hành Trung Ương (BCH TƯ) Ðảng CSVN khóa 12.

Tuy các diễn biến trước và trong đại hội lần này có vẻ gay cấn, nhiều kịch tính nhưng giờ chót, kết quả lựa chọn về nhân sự vẫn đúng như giới lãnh đạo Ðảng CSVN mong muốn: Ông Nguyễn Phú Trọng vẫn được chọn vào BCH TƯ Ðảng CSVN khóa 12. Những ứng viên được sắp đặt từ trước cho ba vị trí cao nhất trong lĩnh vực lập pháp và hành pháp là: Chủ tịch Quốc Hội, chủ tịch nhà nước, thủ tướng đều đã có tên trong danh sách BCH TƯ Ðảng CSVN khóa 12.

Ðảng CSVN có Ban Chấp Hành mới với nhiều khuôn mặt cũ – Việt Nam – Người Việt Online

Nguyễn Thanh Nghị, con trai ông Nguyễn Tấn Dũng. (Hình: VNN)

Chỉ có một “bất ngờ” đó là bốn nhân vật lẽ ra phải về hưu (Uông Chu Lưu – Phó chủ tịch Quốc Hội; Ðỗ Bá Tỵ – Thứ trưởng Quốc Phòng; Bùi Văn Nam – Thứ trưởng Công An, Huỳnh Phong Tranh – Tổng thanh tra Chính phủ) nhưng được đưa vào nhóm “đặc biệt để tái ứng cử,” chỉ có ba được chọn vào BCH TƯ nhiệm kỳ mới. Tổng thanh tra chính phủ bị loại.

Trong vài ngày tới, 180 thành viên của BCH TƯ Ðảng CSVN nhiệm kỳ mới sẽ chọn – bầu từ 16 đến 18 người vào Bộ Chính Trị. Những thành viên Bộ Chính Trị sẽ bầu tổng bí thư và lựa chọn người làm chủ tịch Quốc Hội, chủ tịch nhà nước, thủ tướng. Tuy chuyện chọn – bầu chưa diễn ra nhưng lần này, giới lãnh đạo Ðảng CSVN công khai xác nhận, ông Nguyễn Phú Trọng sẽ tiếp tục làm tổng bí thư đảng CSVN. Bà Nguyễn Kim Ngân (phó chủ tịch Quốc Hội) sẽ trở thành chủ tịch Quốc Hội. Ông Trần Ðại Quang (bộ trưởng Công An) sẽ trở thành chủ tịch nhà nước. Ông Nguyễn Xuân Phúc (phó thủ tướng) sẽ trở thành thủ tướng!

Nhìn chung, dù Ðảng CSVN đã có BCH TƯ mới nhưng những gương mặt lãnh đạo hệ thống chính trị tại Việt Nam thì không mới. Họ vốn đã là những trụ cột của một hệ thống chính trị nhấn Việt Nam vào sâu trong nơ nần, không còn nội lực, trở thành một trong những quốc gia chậm phát triển nhất ở Ðông Nam Á vì kinh tế suy thoái trầm trọng, xã hội hỗn loạn, nhân tâm ly tán.

Ngoài những nhân vật “chủ chốt” như vừa kể, BCH TƯ mới còn có sự góp mặt của nhiều ủy viên BCH TƯ Ðảng CSVN khóa trước vốn đang là trưởng hay phó của các Ban thuộc BCH TƯ Ðảng CSVN khóa trước, viên chức lãnh đạo Quốc Hội, bộ trưởng, thứ trưởng, bí thư tỉnh, chủ tịch tỉnh.

Những cá nhân lần đầu tiên trở thành ủy viên BCH TƯ Ðảng CSVN cũng không mới bởi đã được sắp đặt từ trước cho vai trò này. Chẳng hạn Nguyễn Thanh Nghị – con trai ông Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng Việt Nam – chỉ trong hai năm, từ một giảng viên trở thành hiệu phó Ðại Học Kiến Trúc Sài Gòn. Ba năm sau trở thành thứ trưởng Xây Dựng. Ba năm sau nữa trở thành phó bí thư tỉnh Kiên Giang, phó chủ tịch tỉnh Kiên Giang và năm ngoái được “bầu” làm bí thư tỉnh này.

Hoặc Nguyễn Xuân Anh – con trai ông Nguyễn Văn Chi, cựu chủ nhiệm Ủy Ban Kiểm Tra của BCH TƯ Ðảng CSVN. Từ một phóng viên của tờ Thanh Niên được chọn làm phó giám đốc Trung Tâm Xúc Tiến Ðầu Tư của Ðà Nẵng. Hai năm sau được chọn làm phó chủ tịch của một quận tại Ðà Nẵng. Kế đó được sắp đặt làm phó bí thư rồi bí thư của quận này rồi trở thành phó chủ tịch thành phố Ðà Nẵng, phó bí thư Thành Ủy. Cuối năm ngoái trở thành bí thư thành phố Ðà Nẵng.

Ðến nay, nhiều người vẫn còn tỏ ra tiếc rẻ khi ông Nguyễn Tấn Dũng thất bại trong cuộc chiến giành quyền chi phối hệ thống chính trị Việt Nam. Nhân vật này bị coi là vừa “thua” song con ông ta mới “thắng.” Có thể ông Dũng không thực hiện được tham vọng chi phối hệ thống chính trị Việt Nam nhưng con ông ta vẫn tiếp tục cùng các đối thủ-đồng chí của ông ta kiểm soát Việt Nam. (G.Ð)

Từ rạng rỡ hạnh phúc của Miến Điện nhìn lại Việt Nam

Từ rạng rỡ hạnh phúc của Miến Điện nhìn lại Việt Nam
Nguoi-viet.com
Trần Tiến Dũng/Người Việt

SÀI GÒN (NV) –  Từ Chủ Nhật 8 tháng 11, dư luận Việt Nam đều thấy từ các trang mạng, Facebook… tràn ngập hình ảnh, bài viết về hạnh phúc của người dân đất nước Miến Điện trong cuộc bầu cử dân chủ sau hàng thập niên sống dưới ách độc tài quân phiệt.

Người Việt Nam chia vui với người ta và buồn cho phận mình! Trong cảm xúc này, có khi cũng cần phải nhìn lại hành trình đau thương mà dân tộc Miến Điện đã vượt qua bóng tối để có ngày chào đón ánh mặt trời Dân Chủ Tự Do.

Người dân Miến Điện trước kết quả bầu cử mà phần thắng đang thuộc về dân chủ và tự do. (Hình: AP/Photo)

Bóng tối ở Miến Điện thật sự nặng nề từ cuộc đàn áp đẫm máu ngày 08-08-1988, do nhóm các tướng lĩnh trong Hội đồng quốc gia phục hồi luật pháp và trật tự (SLORC) chỉ huy quân đội thực hiện, nhằm đàn áp cuộc nổi dậy của nhân dân đòi dân chủ.

Hàng trăm sinh viên, các nhà sư và những người chống đối khác đã bị giết, hàng nghìn người bị cầm tù. Bất chấp tình hình này, bất chấp lãnh tụ của Liên minh Quốc gia vì Dân chủ (NLD) – bà Aung San Suu Kyi – đã bị giam giữ tại nhà từ tháng 7-1989, đảng NLD trong cuộc bầu cử 05-1990 do chính quyền của SLORC tiến hành, vẫn giành được 329/491 ghế trong quốc hội. SLORC đã ra lệnh hủy bỏ kết quả bầu cử này và trực tiếp chiếm quyền.

Tháng 7-1997, SLORC đổi tên thành Hội đồng quốc gia vì hoà bình và phát triển (SPDC), tháng 5-2008, thông qua hiến pháp mới theo chế độ lưỡng viện và đa đảng. Song trên thực tế, hiến pháp thừa nhận quyền lực bất khả xâm phạm của quân đội bằng việc quy định quân đội được giữ cố định 110/440 ghế của quốc hội và 56/224 ghế của nghị viện liên bang; chính quyền tiếp tục củng cố quyền lực của các tướng lĩnh, loại bỏ các đảng đối lập – trong đó có NLD, vận dụng Luật hình sự 1996 để đàn áp tiếp.

Đất nước Miến Điện ngày càng tiêu điều mọi mặt vì độc tài và tham nhũng. Trong khi đó hầu như không thể chấm dứt được chiến tranh xung đột sắc tộc và nguy cơ ly khai của một số bang. Sự lũng đoạn của Trung Quốc về kinh tế và chính trị ở mức nguy hiểm. Cái nghèo và lạc hậu càng gay gắt thêm do sự cấm vận kéo dài của phương Tây – vì các lý do đàn áp 1988, đảo chính 1990  xóa bỏ kết quả bầu cử và vì vi phạm nhân quyền, tàn sát và bỏ tù nhiều người chống đối…

Không có con đường Tự Do-Dân Chủ nào trải toàn hoa hồng, cũng như không chế độ độc tài nào chấp nhận lui vào hậu trường mà không gây cảnh máu xương tù tội cho một dân tộc quyết chí đấu tranh vì các quyền cơ bản con người.

Nói cách khác, nếu không vượt qua ngọn núi sợ hãi do các chế độ độc tài áp đặt, điều đó có nghĩa tự mình giết chết ý thức muốn sống đúng phẩm giá con người để cam chịu làm nô lệ cho nhóm thiểu số của một đảng chính trị độc tài.

Bài học vì sự thay đổi của giới tướng lĩnh từng tiếm quyền ở Miến Điện cũng không có cơ may nào thành hiện thực ở Việt Nam. Độc tài quân sự ít ra không có giáo điều để đánh tráo sự thật hoàn toàn khác hẳn với độc tài cộng sản.

Ngày 30-3-2011, tổng thống Thein Sein nhậm chức, với cam kết trung thành với hiến pháp 2008 và thực hiện: Lộ trình dân chủ 7 bước nhằm xây dựng Myanmar dân chủ và hiện đại. Bước đi đầu tiên của tổng thống Thein Sein là giải thể SPDC (thực chất là hội đồng tướng lĩnh đầy quyền lực, có tiền thân là SLORC), ban bố các biện pháp cải cách.

Dư luận tin rằng, Tổng thống Thein Sein và công đức dọn dẹp các thế lực hắc ám để rộng sân cho các đảng chính trị dân sự đối lập và thân chính quyền cùng tham gia tranh cử, điều này, mới thật sự là đòn bẩy chính yếu đưa tiến trình dân chủ Miến Điện đến đỉnh thắng lợi.

Một đại nhân như ông Thein Sein chấp nhận thất bại trong cao thượng và tôn trọng sự chọn lựa của người dân qua tuyển cử Tự Do, do chính ông và đảng của ông đồng ý, việc này hầu như không thể có ở Việt Nam, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Cuba.

Nhưng cũng thử đưa ra một viễn cảnh là trong bốn quốc gia đang sống dưới chế độ chuyên chế trên, quốc gia nào có khả năng sẽ có một cuộc tuyển cử Tự Do? Câu trả lời chỉ có thể là Trung Quốc, bởi dù sao thành trì độc tài ghê gớm và căn tính phục tùng phong kiến cố hữu của dân Hoa Lục cũng đã có điểm son đột phá hướng đến dân chủ bằng máu, đó là sự kiện Thiên An Môn.

Nhiều người Việt quan tâm bày tỏ: Liệu sau khi thắng cử, bà Aung San Suu Kyi và đảng NLD có đoàn kết được dân tộc và thay đổi được đất nước Miến Điện như kỳ vọng?

Với một chính quyền dân sự chính danh vừa được người dân Miến Điện chọn lựa, sự thay đổi để phát triển không còn là điều hứa hẹn, bởi một khi quyền chọn lựa thật sự ở trong tay người dân, điều hiển nhiên là không phải để bảo đảm cho một chính quyền cụ thể nào cả, mà tối thượng là sự bảo đảm toàn diện cho nền dân chủ đa nguyên và sự phát triển.

Biết bao thế hệ người Việt bị thể chế chuyên chế đánh tráo các giá trị dân chủ; nên dễ hiểu và thông cảm khi họ lo sợ các sự kiện ôn hòa- xáo trộn nền chính trị hiện hành sẽ không dẫn đến được bến bờ ổn định nào, thà cứ giữ phận cam chịu nhận ban phát sự ổn định chính trị từ nhóm thiểu số độc tài để mãi kéo dài căn bệnh thoái hóa trầm kha sống dở chết dở.

Từ sự kiện rạng rỡ trong hạnh phúc cả đất nước Miến Điện sau thắng lợi toàn diện của tiến trình cải cách dân chủ, nhìn lại Việt Nam, không cần phải kích hoạt hy vọng về một nền dân chủ thật sự ở Việt Nam, mà cần đối mặt với sự thật.

Không gì đủ sức mạnh để tướt đoạt trong tay một dân tộc quyền chọn lựa nền dân chủ đa nguyên mà chỉ có dân tộc đó tự từ bỏ quyền thiêng liêng của mình.

Chứng khoán Á Châu lại tuột dốc

Chứng khoán Á Châu lại tuột dốc

Bảng điện tử hiển thị các thông tin giao dịch chứng khoán tại Tokyo.

Bảng điện tử hiển thị các thông tin giao dịch chứng khoán tại Tokyo.

26.01.2016

Ngày giao dịch hôm thứ Ba rất có thể sẽ là một ngày khác nữa làm đau đầu giới đầu tư, giữa lúc các thị trường chứng khoán Á Châu gánh chịu thêm một đợt thua lỗ nặng, mà chắc chắn sẽ có tác động tới thị trường toàn cầu.

Thị trường chứng khoán Thượng Hải và Thẩm Quyến dẫn đầu, mỗi thị trường mất đi 6% vào cuối ngày giao dịch, mức thấp nhất trong vòng 14 tháng.

Tại các thị trường ở Hong Kong và Nhật Bản, giá chứng khoán hạ 2%, trong khi thị trường Đài Loan, Singapore và Thái Lan đều thua lỗ.

Giá chứng khoán sụt giảm trong ngày thứ Ba một lần nữa lại diễn ra sau những thua lỗ trên Phố Wall ngày hôm trước, khi các chỉ số Dow Jones, S&P 500 và NASDAQ đều giảm vì giá dầu một lần nữa lại hạ xuống mức dưới 30 đôla một thùng do mức cung dầu thô trên thị trường toàn cầu quá cao so với nhu cầu, và cũng vì đà phát triển chậm lại tại Trung Quốc.

Hậu quả là giá cổ phần các công ty năng lượng tuột dốc, gây quan ngại trong giới đầu tư về nguy cơ nền kinh tế toàn cầu sẽ bị trì trệ.

15 Tổ chức chính trị & XHDS đưa ra bản tuyên bố về Đại hội 12

15 Tổ chức chính trị & XHDS đưa ra bản tuyên bố về Đại hội 12

Gia Minh, PGĐ Ban Việt ngữ RFA
2016-01-26

xhds-622

Bản tuyên bố của 15 tổ chức chính trị và xã hội dân sự độc lập tại Việt Nam nhân dịp đại hội đảng cộng sản diễn ra được chính thức đưa ra vào ngày 26 tháng giêng vừa qua.

Screen capture

Bản tuyên bố của 15 tổ chức chính trị và xã hội dân sự độc lập tại Việt Nam nhân dịp đại hội đảng cộng sản diễn ra được chính thức đưa ra vào ngày 26 tháng giêng vừa qua. Những điểm đáng chú ý qua bản tuyên bố đó là gì?

Lên tiếng

Sau một thời gian lấy ý kiến, bản tuyên bố được chốt lại vào ngày 26 tháng giêng và công khai gửi đến cho người dân Việt Nam cùng chính phủ các quốc gia dân chủ, các cơ quan nhân quyền quốc tế.

Bản tuyên bố đưa ra nhận định cho rằng đại hội đảng chỉ là sinh hoạt riêng của đảng cộng sản; thế nhưng ở những quốc gia cộng sản như ở Việt Nam thì hoạt động này lại được xem như của cả nước. Đại hội ngoài việc bầu ra người đứng đầu đảng lại chọn ra ba chức vụ điều hành đất nước là thủ tướng, chủ tịch nước và chủ tịch quốc hội. Điều này bị cho là đi ngược lại xu hướng dân chủ của nhân loại.

Linh mục Phan Văn Lợi, đại diện Hội cựu tù nhân lương tâm, một trong 15 nhóm ký tên vào tuyên bố cho biết lý do phải lên tiếng:

“ Trong tuyên bố chúng tôi nói rằng: chúng tôi vạch trần ý đồ bầu cử quốc hội khóa 14 và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 vào ngày 22 tháng 5 theo kiểu đảng cử, dân bầu mang tính cưỡng bức và dối trá như từ trước.
-LM Phan Văn Lợi ”

“Chúng tôi biết Đảng Cộng sản đang họp và họ sẽ bầu người của họ làm tổng bí thư. Đó là việc của họ nhưng bên cạnh đó họ lại chọn ba chức danh: thủ tướng, chủ tịch quốc hội, chủ tịch nước. Dĩ nhiên, quốc hội sau ngày đại hội đảng sẽ hợp thức hóa; nhưng đó chỉ là hình thức thôi; còn thực chất việc quyết định 3 chức danh đó vẫn nằm trong tay đảng cộng sản. Chúng tôi thấy đó là sự lạm quyề, xâm phạm quyền lợi của người dân vì 3 chức danh đó liên hệ đến việc điều hành đất nước. Đó phải là kết quả ý muốn của toàn dân, cho nên các xã  hội dân sự thấy cần phản đối đảng cộng sản trong việc chọn 3 nhân vật quan trọng này của nền chính trị đất nước.

Trong tuyên bố chúng tôi nói rằng: chúng tôi vạch trần ý đồ bầu cử quốc hội khóa 14 và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 vào ngày 22 tháng 5 theo kiểu đảng cử, dân bầu mang tính cưỡng bức và dối trá như từ trước.”

Ngoài nhận định như vừa nêu, bản tuyên bố cho biết sắp đến những tổ chức chính trị và xã hội dân sự độc lập tại Việt nam sẽ có những việc làm cần thiết để chấm dứt trình trạng bầu cử bị cho là mang tính giả hiệu dân chủ như lâu nay.

Cách đây 5 năm, một số người dân tại Việt Nam từng công khai phản đối bầu cử quốc hội và hội đồng nhân dân như các thanh niên ở Vinh. Tuy nhiên họ đã bị bắt, đưa ra tòa và chịu án tù.

000_Hkg10249395-622

Đại Hội Đảng Cộng Sản Khóa 12 bỏ phiếu và đếm phiếu kéo dài hơn 5 giờ đồng hồ để chọn 180 ủy viên chính thức và 20 ủy viên dự khuyết cho Ban Chấp Hành Trung Ương khóa mới, tức khóa XII, ảnh chụp hôm 26/01/2016.

Một trong những người đó là cựu tù nhân lương tâm Chu Mạnh Sơn. Sau khi có tuyên bố của các tổ chức chính trị và xã hội dân sự độc lập tại Việt Nam, anh Chu Mạnh Sơn cũng cho biết lại nguyên nhân phải lên tiếng và chấp nhận tù tội như vừa qua:

“Lý do tại sao trước đây chúng tôi kêu gọi mọi người tẩy chay bầu cử quốc hội và hội đồng nhân dân 3 cấp, vì như mọi người dân Việt Nam đều biết: tất cả mọi vị trí lãnh đạo chủ chốt của đất nước Việt Nam do đảng sắp xếp bầu cử giống như câu nói của dân gian ‘khoai đã sắp vào giỏ’. Như thế người dân Việt nam cầm lá phiếu bầu cử không có giá trị. Người dân không được bầu lên những người lãnh đạo đất nước mình, không được tự do lựa chọn những người đứng ra lãnh đạo. Chính vì thế mà lá phiếu của người dân bị mang tính chất lừa bịp và mang tính chất không trung thực. Do đó, chúng tôi phản đối và kêu gọi mọi người phản đối, tẩy chay và vạch mặt việc bầu cử giả dối.”

Ý thức của người dân

Theo linh mục Phan Văn Lợi, hiện nay nhiều tầng lớp người dân tại Việt Nam thấy được tình hình thực tế và ý thức của họ về việc bầu chọn người đại diện cũng nâng cao hơn nhiều. Ông có nhận định:

“Chúng ta thấy trong mấy năm qua tiếng nói của người dân ngày càng nhiều hơn, có nhiều tầng lớp hơn, có tổ chức hơn và với nhiều hình thức hơn như viết blog, ra những kháng thư, tuyên bố đưa lên mạng với chữ ký công khai; hoặc xuống đường đến các cơ quan nhà nước để nói lên ý kiến hay sự phản kháng. Từ nông dân, công nhân và nay cả giới luật sư; sự phản kháng ngày càng rộng khắp. Nên cuộc bầu cử tới đây là dịp để người dân biểu lộ sự phản kháng một cách mạnh mẽ hơn, không thể để áp đặt một quốc hội ‘gia nô’ lên đầu cổ.”

Khả năng trấn áp & ứng phó

Hiện nay nhiều tiếng nói đối lập tại Việt Nam vẫn còn bị trấn áp. Những người lên tiếng đấu tranh như linh mục Phan Văn Lợi hay anh Chu Mạnh Sơn đều cho rằng sắp tới đây tình hình đấu tranh sẽ vẫn tiếp diễn và thậm chí có khi nặng nề hơn.

“ Bản thân tôi sẽ lên tiếng kêu gọi thế giới quan tâm đến tình trạng nhân quyền, quan tâm đến những người bất đồng chính kiến tại Việt Nam qua truyền thông.
-Chu Mạnh Sơn”

Linh mục Phan Văn Lợi xác định:

“Dĩ nhiên nhà cầm quyền cộng sản tiếp tục cuộc trấn áp của họ, và chúng tôi lo ngại vì nghe tin ông Trần Đại Quang sẽ lên làm chủ tịch nước. Ông ta sẽ giữ một chức cao hơn chức bộ trưởng công an trước đây. Khi làm bộ trưởng công an ông ta đã đàn áp rất mạnh mẽ rồi, nay lên làm chủ tịch nước có thể ông có quyền lực hơn để trấn áp.

Nhưng sự trấn áp là chuyện của họ, chúng tôi thấy sự phản kháng của toàn dân ngày càng dâng cao. Bởi vì bây giờ không chỉ có những nhà đấu tranh mà thôi mà giới nông dân, công nhân, sinh viên học sinh… Chúng tôi sẽ phản đối và cuộc phản đối sắp tới là của toàn dân. Phản đối bằng cách nào chúng tôi sẽ bàn thảo để làm sao cuộc bầu cử đó không còn như mong muốn của đảng cộng sản nữa.”

Tuy nhiên theo cựu tù nhân lương tâm Chu Mạnh Sơn thì với những tương quan thay đổi như hiện nay, một số cách thức sẽ được sử dụng nhằm giúp cho việc lên tiếng đấu  tranh được hiệu quả hơn:

“Bản thân tôi sẽ lên tiếng kêu gọi thế giới quan tâm đến tình trạng nhân quyền, quan tâm đến những người bất đồng chính kiến tại Việt Nam qua truyền thông. Và mọi người cần đoàn kết lên tiếng một cách mạnh mẽ, không phải riêng lẻ.Tất cả người dân đồng loạt lên tiếng như vậy mới có sức mạnh.”

Các nhóm xã hội dân sự độc lập và tổ chức chính trị đối kháng ngày càng xuất hiện nhiều ở Việt Nam. Họ đưa ra tôn chỉ giúp người dân đòi hỏi những quyền căn bản của họ qua đấu tranh hợp hiến, hợp pháp; dựa vào những cam kết của chính quyền với cộng đồng nhân loại.

Trộm đột nhập biệt thự cắt cổ hai người ở Tiền Giang

Trộm đột nhập biệt thự cắt cổ hai người ở Tiền Giang
Nguoi-viet.com

TIỀN GIANG (NV) Vụ án 2 người bị cắt cổ khi đang ngủ trong ngôi biệt thự kiên cố đã gây rúng động tại thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang trong những ngày qua.

Truyền thông Việt Nam dẫn tin, ngày 25 tháng 1, ông Phan Văn Trảng, phó giám đốc công an tỉnh Tiền Giang cho biết, các cơ quan chức năng khám nghiệm hiện trường vụ 2 người bị cắt cổ trong căn biệt thự của cơ sở chế biến cà phê Hữu Khánh, ở phường 2, thị xã Cai Lậy cho thấy đây có thể là vụ giết người, cướp tài sản.


Căn biệt thự nơi xảy ra vụ án mạng. (Hình: Người Lao Ðộng)

Qua việc xem lại camera tại biệt thự, vào lúc 1 giờ 45 phút sáng 24 tháng 1, một thanh niên cao khoảng 1.8 mét bịt khẩu trang, mang giày kín, găng tay trông rất chuyên nghiệp đột nhập vào phòng ông Lương Văn Ðấu (66 tuổi) và vợ là bà Nguyễn Thị Năm (62 tuổi) dùng dao đâm rồi cắt cổ cả 2 người ngay trong phòng ngủ ở lầu 2. Hiện trường cũng có dấu hiệu bị lục soát. Két sắt bị phá không thành, tủ bị cạy và có thể đã mất một lượng tiền chưa xác định.

Tin Người Lao Ðộng cho biết, sáng 24 tháng 1, một người làm công đến căn biệt thự trên để dọn dẹp như mọi ngày. Khi đến nơi, ông này thấy cổng ngoài khóa nhưng cửa biệt thự mở, liền lên lầu 2 kiểm tra thì hoảng hốt khi phát hiện cả cha và mẹ của ông ông Lương Văn Triêm, chủ cơ sở chế biến cà phê Hữu Khánh đã chết trên giường nên vội trình báo với công an địa phương.

Trong căn biệt thự trên, ngoài 2 nạn nhân còn có con trai của ông Triêm là cháu Lương Hữu Khánh (15 tuổi). Khánh ngủ ở phòng riêng, cửa khóa nên có thể nhờ vậy mà thoát chết. Ðến sáng, khi người làm công tới căn biệt thự này thì Khánh vẫn chưa dậy.

Theo mô tả của phóng viên Người Lao Ðộng, căn biệt thự này được xây trong khuôn viên rộng cả ngàn mét vuông, xung quanh có tường cao hơn 2 mét, phía trước xây cổng rất kiên cố. Hai bên biệt thự trồng nhiều cây kiểng quý giá có dấu hiệu bị xáo trộn.

Người dân ở khu vực này cho biết trong đêm xảy ra án mạng, họ không nghe thấy dấu hiệu gì lạ ở căn biệt thự. Trong khi đó, vợ chồng ông Triêm đi Sài Gòn nên thoát nạn. (Tr.N)

 

Đại hội Đảng và tính chính danh cầm quyền

Đại hội Đảng và tính chính danh cầm quyền
Võ Tấn Huân Gửi tới BBC Tiếng Việt từ Canada

• BBC

Reuters
Sau hơn 70 năm cách mạng tranh đấu giành lại quyền làm chủ của người dân, Việt Nam đang đứng trước thách thức để cụ thể hóa quyền này vào trong cuộc sống thường nhật.
Việt Nam hiện đang có gần 60 phần trăm dân số trong độ tuổi dưới 35. Đội ngũ nhân công trẻ và năng động, cùng với nguồn đầu tư nước ngoài dồi dào, là những động lực để Việt Nam phát triển và vươn xa.

Tuy nhiên, bước vào năm 2016 – hơn bảy thập niên sau cuộc cách mạng – tương lai Việt Nam do Đảng Cộng sản tự phong quyền lãnh đạo, vẫn còn nhiều bấp bênh.
Giữa lúc đại hội lần thứ 12 của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra, điểm gây nhiều chú ý nhất trong dư luận không phải là chủ trương, chính sách, hay tầm nhìn cho quốc gia mà là ai sẽ giữ chức vụ này, ghế kia.

Thiếu tính chính danh

Hơn một nghìn năm trăm đại biểu đại diện cho một thành phần thiểu số cộng sản trong xã hội chỉ đặt trọng tâm làm thế nào để tiếp tục độc quyền nhà nước và tiếm quyền của hơn 90 chục triệu dân Việt Nam.
Những phát biểu “đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta” vẫn là những câu nói sáo rỗng, cũ kỹ, không mang tính thực chất lẫn thực tế. Dù bất kỳ nhân vật cộng sản nào lên nằm quyền thì chế độ hiện hành của đất nước vẫn không chính danh.

Từ lâu nay, giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam luôn đề cao quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Điều này đồng nghĩa với việc nhân dân làm chủ đất nước là yếu tố trung tâm trong cơ chế quyền lực của quốc gia. Cụ thể nhân dân làm chủ là quyền được ứng cử, bầu cử, phúc quyết hiến pháp và các vấn đề hệ trọng khác, cũng như quyền được thay đổi chính phủ và quyền làm chủ chính đáng mảnh đất của mình.

Tuy nhiên, qua các đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như lần Đại hội 12 này và các cuộc bầu cử quốc hội suốt mấy thập niên qua, đã cho thấy rõ người dân không có quyền bầu ra các lãnh đạo quốc gia.

Đảng Cộng sản Việt Nam đã tự đặt mình lên trên nguyện vọng và quyền của nhân dân, tự chọn nhân sự cho đất nước mà không có đối lập – tương tự như việc cầm quyền mà không qua bầu cử.


AFP
Các cuộc đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ mang màu sắc của một đảng chính trị hơn là đại diện cho tương lai của đất nước.

Người dân không có tiếng nói trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước cũng như bầu chọn những người chính trực để lãnh đạo đất nước. Các cuộc bầu cử quốc hội với những kết quả gần một trăm phần trăm thì hầu như ai cũng rõ đó chỉ đậm tính phô diễn hình thức.
Thắng cuộc mà không thắng cử là vẫn chưa đủ để hợp thức hóa tính chính danh cầm quyền.
Cầm quyền không chính danh hiển nhiên không đúng với pháp lý, không phù hợp với tinh thần nhà nước pháp quyền – bất kể đó là nhà nước pháp quyền theo chủ nghĩa hay tư tưởng nào.

Về phương diện chính trị và quốc gia, việc này không thể chấp nhận nếu không muốn nói đây là tội ác đối với lương tâm lãnh đạo và đối với đồng bào của chính mình.
Hậu quả của việc nhân dân không có quyền làm chủ đã dẫn đến việc chính phủ không chính danh.

Danh xưng của chế độ chỉ là tên gọi. Tính chính danh cầm quyền mới thực chất thể hiện sự tôn trọng quyền của người dân trong một xã hội đa dạng, và thực tâm của lãnh đạo chính trực để xây dựng đất nước với một nền tảng vững chắc.
Bắt đầu từ pháp luật chuẩn mực

Quyền lực của chế độ nếu không được nhân dân chuẩn thuận trao quyền – cơ bản nhất là bản quy ước xã hội, tức bản hiến pháp dân chủ – thì dù nhà nước cộng hòa với tư tưởng hay chủ nghĩa gì thì cũng không chính danh.

Pháp luật không chuẩn mực, tùy tiện như Việt Nam hiện nay không chỉ là môi trường thuận lợi cho các phe nhóm lợi ích, tham nhũng và lũng đoạn xã hội mà trên tất cả, đó là lá chắn để phục vụ cho một đảng chính trị tiếm quyền của nhân dân và độc quyền nhà nước. Hiến pháp hiện hành chỉ là công cụ phụ vụ cho một đảng chính trị.

Nguy hại hơn hết, pháp luật không chuẩn mực tiếp tục cản trở quốc gia hướng tới xã hội công bằng và thịnh vượng. Và hơn nữa, nó để lại biết bao hậu quả tai ương cho tương lai đất nước mà các thế hệ sau phải gánh chịu.


AFP

Dù theo tư tưởng hay chủ nghĩa nào thì cũng cần điều hành xã hội bằng pháp luật, và việc này cần phải cụ thể hóa bắt đầu từ nền tảng cơ bản của hiến pháp thay vì chỉ phát biểu chung chung trong các diễn văn hình thức hoặc bên trong nội bộ của một đảng. Lãnh đạo đất nước nói quanh co, né tránh pháp luật chuẩn mực là ngụy biện, không chính trực.
Pháp luật chuẩn mực – bắt đầu từ bản hiến pháp của toàn dân – là cơ bản của pháp luật quốc gia, là đòi hỏi của xã hội công bằng, là điều kiện cho cơ chế nhà nước minh bạch, và là nhu cầu để Việt Nam phát triển toàn diện.

Nền tảng hiến pháp đặc thù với bản sắc dân tộc bao gồm nhiều thành phần trong xã hội sẽ là động lực để Việt Nam phát triển, hội nhập, tạo cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người, mở đường cho Việt Nam cất cánh và trường tồn.

Việc bầu chọn lãnh đạo của riêng một đảng chính trị nào đó là chuyện nội bộ không thể đánh đồng với việc bầu chọn lãnh đạo quốc gia và nhân sự cho đất nước. Quyền làm chủ của nhân dân đối với việc bầu chọn lãnh đạo quốc gia là yếu tố quan trọng để tạo tính chính cầm quyền.

Chấm dứt lũng đoạn quyền làm chủ của nhân dân để họ tham gia và có tiếng nói chính trị cũng sẽ giúp ổn định xã hội và ổn định chính trị để đất nước phát triển bền vững. Đây là trách nhiệm của những người cầm quyền. Đây đồng thời cũng là nguyên tắc quốc gia.
Phải chăng phối hợp từng bước chuyển đổi để đảm bảo tất cả quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân và tạo tính chính danh cầm quyền là mục tiêu để Việt Nam xây dựng sự ổn định lâu dài cho đất nước?

Bài thể hiện quan điểm và văn phong riêng của người viết, Trưởng ban Thường vụ TW của Đảng Dân chủ Việt Nam tại Canada, hưởng ứng chuyên mục ‘Viết về Đại hội Đảng CSVN lần thứ 12’ của BBC Tiếng Việt.

Mặc kệ Đại hộị đảng

Mặc kệ Đại hộị đảng

Phạm Thanh Nghiên
2016-01-26

000_Hkg10248026-622.jpg

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 12 hôm khai mạc 21/1 tại Hà Nội.

AFP

Đại hội đảng cộng sản lần thứ 12, và cái lạnh cắt da cắt thịt của miền Bắc, đặc biệt là ở vùng cao có lẽ là hai trong nhiều mối bận tâm của người Việt gần đây.

Cuộc sống vẫn không được cải thiện

Bản chất của cụm từ “đại hội đảng”, xét một cách thẳng thắn chỉ là cuộc sắp xếp nội bộ của những chóp bu cộng sản nhằm tự ý định đoạt số phận của toàn dân Việt Nam. Xin trích một đoạn viết của tác giả Tiến Văn trong chuyên mục “Nói với người cộng sản”được đọc trên đài phát thanh Đáp Lời Sông Núi hôm 17/1/2016 để minh họa cho nền chính trị thực chất tại Việt Nam suốt thời kỳ cộng sản nắm quyền.

“…để che giấu, giảm bớt sự lộ liễu cho sự tự ý tiếm quyền lãnh đạo đất nước, đảng cộng sản Việt Nam đã dùng nhiều thủ thuật khác nhau để che mắt, đánh lạc hướng nhằm tránh sự bức xúc, phẫn nộ của dư luận. Một trong những thủ thuật căn bản đó là các cuộc bầu cử Quốc hội có bản chất trá hình thường kì được tổ chức không lâu sau mỗi kì Đại hội đảng cộng sản. Các cuộc bầu cử đó gọi là trá hình vì tất cả mọi ứng cử viên đều do đảng cộng sản ấn định và tất cả các Ủy viên trung ương mới đắc cử trong Đại hội đảng sẽ chắc chắn 100% được đắc cử vào “Quốc hội”. Và 3 vị trí cao nhất đứng đầu Quốc hội, Chính phủ và Nhà nước do cái “Quốc hội” đó bầu ra cũng sẽ chắc chắn thuộc về 3 Ủy viên Bộ Chính trị của đảng cộng sản – những kẻ đã chiến thắng trong những cuộc bầu bán, tranh giật quyền lực trong kỳ Đại hội đảng diễn ra trước khi bầu “Quốc hội”.

Với thủ đoạn cơ bản đó, đảng cộng sản Việt Nam luôn tự rêu rao rằng bộ máy lãnh đạo đất nước đã được toàn dân tín nhiệm và bầu chọn với tỉ lệ số phiếu tán thành rất cao, thường xấp xỉ 100%.

Như vậy, thực chất rút lại, hệ thống lãnh đạo của Việt Nam chúng ta hoàn toàn chỉ do một nhóm người rất nhỏ xoay quanh cái gọi là Bộ Chính trị của đảng cộng sản Việt Nam tự ý quyết định.” (Hết trích).

Đã xuất hiện nhiều ý kiến, nhiều lời bình luận trên các trang mạng về đại hội 12. Có ý kiến ủng hộ Nguyễn Tấn Dũng lên làm tổng bí thư (dù không người dân VN nào được quyền bầu) với hy vọng ông này sẽ đưa đất nước thoát khỏi sự lệ thuộc vào Trung cộng. Và dự đoán (hoặc mong muốn) ông Dũng sẽ mạnh dạn giải tán đảng cộng sản như Mikhail Gorbachev từng làm ở Liên Xô hồi 1991. Nhưng đại đa số cho rằng, dù ông nào trong cái nôi cộng sản ấy lên thì vẫn thế mà thôi, dân vẫn khổ và đất nước vẫn lụn bại. Chỉ có con đường duy nhất là thay đổi thể chế mới đưa đất nước thoát khỏi diệt vong.

Cho nên, việc quan tâm hay không quan tâm đến đại hội 12 cũng không làm thay đổi, hay nói rõ hơn là cuộc sống vẫn không được cải thiện.

Trong khi những kẻ tự cho mình quyền định đoạt số phận của hơn 90 triệu đồng bào còn mải đấu đá, đóng kịch với nhau trong cái hội trường rực màu đỏ máu thì ở nhiều nơi trên vùng cao, các trẻ em vẫn cởi truồng dưới cái lạnh âm độ C.

tre-em-400

Trẻ em vùng cao. Courtesy photo.

Trẻ em, những “mầm non của đảng”, “tương lai của đất nước” theo cách gọi của người cộng sản đã, đang và có thể sẽ vẫn là nạn nhân phải chịu đựng nhiều nhất những hậu quả mang tính hệ thống. Tất nhiên, tình cảnh các em bé Việt Nam dưới thời đại Hồ Chí Minh trần truồng chịu rét, ăn cơm độn, đu dây vượt suối đi học, tiêm vacxin bị chết, thất học, bị bạo hành cả trong gia đình, trường học lẫn xã hội, là nạn nhân của tệ buôn bán trẻ em v.v … không còn là chuyện hy hữu. Nó đã trở nên phổ biến và được xã hội coi là “chuyện thường ngày ở huyện”. Chỉ có điều, báo chí không được và không muốn phản ảnh một cách trung thực và đầy đủ mà thôi. Còn các quan phụ mẫu (kiêm đầy tớ của dân) thì đương nhiên ngậm miệng ăn tiền. Thậm chí, chính bọn họ là nguyên do gây ra những tệ trạng xã hội và là thủ phạm gây tổn thất lớn nhất cho trẻ nhỏ.

Chỉ còn vài ngày nữa là kết thúc Đại hội đảng, cũng là những ngày giáp Tết. Trên ti- vi, đài báo, các phương tiện truyền thông đại chúng “lề đảng” sẽ nhan nhản những hình ảnh ông to bà lớn đi phát quà cho người nghèo. Ông bà nào khéo diễn sẽ mạo hiểm bế một đứa trẻ nghèo, mặt mũi bẩn thỉu lấm lem rồi nở một nụ cười tươi rói trong lúc nín thở (vì đứa trẻ hôi hám quá) để lấy điểm trước ống kính máy quay. Các bé được túi quà rồi nghèo vẫn hoàn nghèo, nhưng các ông bà lớn sẽ được lợi rất nhiều từ những màn diễn như thế.

Dẫu biết rằng tham nhũng là bản chất của độc tài, nhưng vẫn ước. Ước một điều không bao giờ xảy ra. Đó là: Giá chúng nó bớt tham nhũng đi thì trẻ em không còn phải cởi truồng chịu rét.

Còn bây giờ thì, mặc kệ đại hội đảng, các em vẫn cởi truồng.

 

BỆNH QUÊN

BỆNH QUÊN

Có một gia đình nghèo, thất nghiệp.  May thay lại có một chủ xưởng cưa chịu nhận cả gia đình vào làm.  Ông lo cho cơm ăn, áo mặc, chỗ ở, và có việc làm mỗi ngày.  Mọi chuyện tốt đẹp.

Nhưng ít sau, đến giờ đi làm thì:

– Người thì nói: trời hôm nay nắng quá, khi nào trời mát rồi tính.

– Kẻ thì lên tiếng: khúc cây còn tươi, nên dai, khó cưa.

– Người thì nói: lưỡi cưa không sắc, khi nào có lưỡi tốt thì làm.

– Người khác kêu ca: loại gỗ này già tuổi, gỗ cứng chắc làm sao mà cưa.

– Một người lớn tiếng: khúc gỗ hôm nay cong quá, làm sao bây giờ.

– Người thì than rằng hôm nay mình chán nản, mệt mỏi quá.

Và thế là cả gia đình nghỉ việc.

********************************************

Dân Israel trong thời nô lệ ở Ai cập rất là khổ cực, bất hạnh.  Bị hành hạ, ngược đãi và đối xử bất công.  Họ phải làm những việc nặng nhọc, dù thời tiết có mưa bão hay nắng cháy, dù người khoẻ hay yếu đều phải làm việc.  Ăn uống thì chỉ được ăn cho khỏi chết mà thôi.  Học hành, giải trí… quần áo, nhà cửa, thuốc men ư?  Bị đối xử như là súc vật thì làm gì có những thứ tốt và làm gì có quyền đòi hỏi quyền lợi.

TUONG VANG

Thế rồi, họ được Đức Chúa thương cứu họ cho khỏi cái nhục nhằn của đói khổ và công việc. Họ thoát được cảnh bất công giữa chủ và nô lệ.  Họ được Moses dẫn qua sa mạc đến vùng đất hứa, vùng đất đầy sữa và mật ong, vùng đất hứa hẹn cho cả dòng dõi họ và con cháu.

Thế nhưng, họ đâu có nhớ.  Họ kêu ca than phiền và đưa ra mọi thứ yêu sách.  Tại sao chúng tôi phải như vậy.  Nào là trời nắng, khó chịu, bực bội quá.  Rồi đến ăn bánh manna nhạt nhẽo không bổ béo gì.  Nào là muốn nước trong, nước sạch nước mát, rồi đến đòi ăn thịt chim.  Chưa hết, họ còn chê trách Thiên Chúa, bỏ rơi Ngài để thờ thần khác, thờ bò vàng.

Trình thuật của Luca cho biết đến cái thế hệ khó hiểu là: “thổi sáo vui mừng thì không nhảy múa.  Hát bài đưa đám thì không khóc than” (Lc 7, 31).  Chúa Giêsu còn dẫn chứng: Gioan tẩy giả sống đơn sơ nghiệm nhặt; sống chay tịnh, không ăn bánh, chỉ ăn châu chấu và mật ong, không uống rượu chỉ uống nước lã.  Thì họ cho là đồ ngốc đồ khùng, người bị quỷ ám.  Còn Con Người đến cũng ăn, cũng uống như ai thì lại kêu là tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi.

Đúng là con người, lưỡi không xương nhiều đường lắt léo.

Chúa Giêsu nói đến thế hệ này, để giúp cho ta thấy con người có một lịch sử không tốt lành, ít là thời gian dân Israen thoát khỏi ách nô lệ Ai cập trên con đường qua sa mạc về đất hứa, dưới hướng dẫn của Moise.  Và cũng là lời cảnh báo cho những người nghe Ngài phải đặt lại vấn đề về sự cứng lòng không nhìn nhận, không chịu nghe Ngài hướng dẫn để có thể đi qua sa mạc đời mình mà về được đất hứa thật là Nước Trời.

Vậy nguyên nhân bởi đâu?  Bởi con người bị mắc một thứ bệnh khó trị, bệnh di truyền.  Ấy là bệnh Quên.

Những người trong câu truyện trên, họ đã đưa ra đủ lý do để nghỉ việc.  Họ quên hẳn thân phận của mình rằng, nếu không được ông chủ giúp đỡ thì còn bi đát khốn khổ hơn.  Nhờ ông chủ mà gia đình họ nhìn thấy mặt trời, nhìn thấy tương lai tươi sáng và nhiều hy vọng.  Đáng lẽ họ hăng say, nhiệt tình và chịu khó làm việc để đền ơn đáp nghĩa, thì họ lại đòi hỏi, ra điều kiện với ông chủ, rồi nghỉ việc.

Những người Israel, đã được Đức Chúa cứu giúp, thoát khỏi ách thống trị áp bức của Ai cập.  Họ được trả tự do, được phục hồi nhân phẩm.  Giờ đây, mỗi người có quyền xây dựng cuộc đời mới tốt hơn trong tin yêu và hy vọng.

Đáng lẽ họ phải hết lòng biết ơn và một mực trung thành với hướng dẫn của Đức Chúa qua Moises trên con đường trở về với vùng đất phì nhiêu, vùng đất của hạnh phúc mà Người đã hứa. Thế nhưng họ lại quên.  Quên đi thân phận hẩm hiu bọt bèo của mình.  Hành trình ở sa mạc cho biết rõ con người thật mau quên của họ.  Họ dần quên Đức Chúa.  Họ bắt đầu càm ràm về thời tiết nắng cháy, về ăn không ngon, uống không ngọt, ngủ không yên.  Họ nghĩ mình là người phải được phục vụ mọi thứ tốt lành.  Họ chê trách Moses, oán hờn Đức Chúa.  Rồi bỏ Người mà theo các thần khác, đúc bò vàng để thờ.

Những người đương thời với Chúa Giêsu cũng vậy, đáng lẽ họ phải vui mừng phấn khởi hân hoan vì điều họ hy vọng về Đấng Cứu Thế đến, giờ đã thành hiện thực.  Đáng lẽ họ phải lắng nghe, chiêm ngắm và cộng tác, phải vui mừng và vỗ tay, kính trọng và biết ơn, tôn kính và thờ phượng.  Thế nhưng họ lại thờ ơ dửng dưng, hiểu lầm coi thường, chê bai trách móc, hãm hại chống đối, vu khống giết chết.  Cái nghịch lý là chính họ muốn Đấng Tốt lành đến, nhưng khi Ngài đến thì họ lại không chấp nhận, và muốn trở về với truyền thống tổ tiên.

Quên quả thật rất tai hại.  Quên sẽ đánh mất chính mình, đánh mất Thiên Chúa và là cửa đưa tới đau khổ.

Nhìn vào Ađam và Eva, nhìn vào nhân loại xưa cũng như nay, đời cũng như đạo, biết bao thứ trục trặc xảy ra cũng bởi vì quên.

Quên làm cho ta thành kẻ vô ơn bạc nghĩa.

Quên làm cho ta thành người bất hiếu bất trung.

Quên làm cho ta thành loại bạc nghĩa bất lương.

Quên làm cho ta thành kiêu căng tự phụ.

Quên làm cho ta thành căng thẳng khó tính.

Quên làm cho ta thành lo âu bất ổn.

Quên làm cho ta thành đau khổ bất hạnh.

Quên làm cho ta xao xuyến lao đao.

Quên làm cho ta xa rời ân sủng Chúa, cắt đứt liên lạc với Ngài.  Và ta sẽ bị cô lập khỏi ân sủng Chúa.  Dù ân sủng Ngài nhiều như mưa, như nắng, như không khí.

Xin Chúa cho ta biết khiêm nhường nhìn nhận sự thật về mình và về Thiên Chúa để bày tỏ lòng thành kính tri ân về mọi ân lộc Chúa đã ban cho ta.

Thanh Thanh