HỒI KÝ MỘT BẠN TÙ CỦA CHA GB. NGUYỄN VĂN VÀNG, DCCT

HỒI KÝ MỘT BẠN TÙ CỦA CHA GB. NGUYỄN VĂN VÀNG, DCCT

 VŨ ÁNH,

 Trich EPHATA 685

 Ngày 29.4.1984, tôi được chuyển sang xà lim số 6 trại A-20 ở chung với Linh Mục Nguyễn Văn Vàng, linh hồn của một vụ nổi dậy do ngài và người em chủ trương năm 1976. Tôi hoàn toàn không hiểu lý do của việc chuyển xà lim cá nhân này. Ðây cũng là ngày mà tôi đánh dấu 3

năm bị cùm hai chân và có giai đoạn cả hai tay trong xà lim số 5. Phải nói là tôi bị gông thì đúng hơn. Nếu quý vị được nhìn thấy những tội phạm của thời phong kiến bị gông như thế nào thì chúng tôi bị gông như thế nấy. Chỉ có khác là nhà tù CS không gông cổ mà thôi. ( Ảnh cha Vàng đang hướng dẫn về thuật hùng biện trước biến cố 30 tháng 4 ).

LM NGUYEN V VANG

Linh Mục Vàng, một nhà giảng đạo lỗi lạc của Dòng Chúa Cứu Thế, sau khi bị lên án chung thân khổ sai sau vụ và em ruột ngài là Linh Mục Hiệu bị xử tử, đã bị đưa lưu đầy tại trại A-20 Xuân Phước. Khi tôi đã nằm cùm trong biệt giam trong phòng số 5 được hai năm thì một hôm

Linh Mục Nguyễn Văn Vàng lúc ấy từ trại lao động bị đưa vào xà lim số 6, bên cạnh xà lim tôi bị giam. Khi còn ở ngoài trại lao động, ngài là đối tượng theo dõi của đám an ninh trại giam, nhất cử nhất động đều không qua mắt được một giàn ăng ten dầy đặc vây quanh vị Tu Sĩ Công Giáo này. Bọn an ninh trại nói thẳng ra rằng nếu chúng bắt gặp bất cứ tù nhân nào liên hệ với Linh Mục Nguyễn Văn Vàng, sẽ cùm ngay.

Tôi là một Phật tử, nhưng mối liên hệ với Cha Vàng khá thân thiết và chúng tôi thường đàm đạo

với nhau vào mỗi ngày sau giờ cơm chiều trước khi điểm số để vào buồng giam, không chấp lệnh của trại. Có lẽ đây là lý do bọn an ninh trại đưa tôi đi “nghỉ mát” trước và hai năm sau họ đưa Cha Vàng và một vài anh em nữa vào những chiếc hộp nhỏ ở ngay sau nhà bếp của trại A. Trại tập trung A-20 ở Xuân Phước thường được chúng tôi gọi là trại trừng giới ( danh từ có từ thời Pháp thuộc để chỉ những trại có quy chế trừng trị tù nhân khắt khe ). Cục Quản Lý Trại Giam của CS thì gọi những loại trại này là Trại Kiên Giam. Tại sao chính quyền CS gọi những trại được đánh mã số bằng chữ A và tiếp theo là một hàng con số ? Thật ra thì rất ít người được biết lý do tại sao lại gọi A-20 là một trại kiên giam nếu không có dịp bị gọi đi thẩm cung nhiều lần trước khi được “gởi” vào những chiếc “hộp” ở Xuân Phước.

Sau biến chuyển đánh dấu bằng việc Trung Quốc tấn công 6 tỉnh sát biên giới Việt Trung năm 1979, Cục Trại Giam được lệnh thực hiện một kế hoạch gọi là “Phương Án 4”, nghĩa là thực hiện một kế hoạch tuyển lựa tất cả những thành phần cứng đầu “không thể cải tạo được nữa” để đưa vào những trại A và trại Z. Kế hoạch này là tác phẩm của một viên Ðại Tá về sau này trở thành một tướng lãnh công an tên là Hoàng Thanh ( có lẽ là bí danh ). Hoàng Thanh đã thẩm cung chúng tôi và rất nhiều tù nhân khác mấy tháng trước khi tôi bị chuyển trại về A-20. Lần sau cùng là vào mùa Thu 1979, khi thẩm cung tôi lần chót, ông ta cười cười nham hiểm nhưng nói huỵch toẹt: “Tôi biết chắc chắn là khi chuyển về trại mới, các anh không còn ngày ra. Cho nên tôi khuyên các anh là tốt nhất nên ngoan ngoãn để hưởng khoan hồng của nhà nước, nói chung là được mang vợ con các anh lên lập nghiệp ở đây cho gần. Khu vực trai giam sau này sẽ trở thành một đập nước và một thị trấn. Chúng tôi muốn thiết lập một trong những tiểu Siberia. Bây giờ, tôi thấy không còn cần phải giấu giiếm gì các anh nữa” rại A-20 lúc đầu ( 1979 ) có tới 4 trại được đánh số A, B, C, D, ở cách nhau trên dưới 5 cây số.

TRAI GIAM CS

Trại A được xây hoàn toàn bằng bê tông cốt sắt tường, bệ nằm, vườn rau ao cá dưới những rặng dừa xanh tốt. Nhưng bên trong những dãy nhà gạch, mái ngói đỏ au đó là những phương thức câu thúc thân thể và tinh thần không khác các trại giam ở Siberia dưới thời Stalin mà phần lớn người đọc sách ở Miền Nam Việt trước 1975 đều biết qua cuốn “Quần Ðảo Gulag” của văn hào Solzhenitsin. Tôi sẽ có dịp nói đến chuyện này trong một bài viết khác. Bây giờ tôi quay lại chủ đề của bài viết này. Những người xây dựng trại Xuân Phước là ai ? Cái oái oăm của lịch sử mà chúng tôi gặp phải chính là ở chỗ: Trại tù này lại do chính bàn tay của những người từng được di tản tới Guam trước ngày 30.4.1975, sau đó lại biểu tình đòi trở về lại Việt Nam bằng tầu Việt Nam Thương Tín, tạo dựng lên. Lúc chúng tôi được chuyển trại về đây thì có một số vẫn chưa được trả tự do. Chạy nạn CS tới Guam, rồi vì những lý do riêng biệt hầu hết là vì gia đình còn kẹt lại, trong cơn hoang mang và đau khổ tột độ, tình cảm che lấp lý trí và bị kích động, họ đòi quay trở về với lý do xây dựng lại quê hương sau chiến tranh. Nhưng người CS thừa hiểu, những người tị nạn này quay trở về chỉ vì có người còn vợ con, có người còn mẹ già không có người săn sóc, có người hoảng loạn bỏ lại vợ mới cưới, người tình đằng sau. ( Cảnh tàu Việt Nam Thương Tín trở về cập bến ). Cho nên, CS mở một cuộc đón tiếp để quay phim chụp hình và sau đó đẩy tất cả đàn ông vào khu rừng Xuân Phước và bị buộc phải xây dựng nhà tù này để chính quyền CS giam giữ chính những đồng đội của mình. Tôi đã có rất nhiều dịp tiếp xúc với họ, nên hiểu được tấm lòng của họ và thấy họ đáng thương quý hơn là đáng trách. Một sĩ quan xưng là quản gia cho tướng Nguyễn Cao Kỳ tâm sự với tôi: “Cậu tính coi, lúc đó vì hoang mang đi gấp không kịp lôi vợ con và bà mẹ già theo. Ðến Guam, cứ nghĩ đến họ, làm sao nuốt nổi miếng cơm chứ. Tôi biết nhiều người không thể thông cảm được lý do tôi trở về, trong đó có thể có cả vợ con tôi nữa, nhưng đành chịu vậy. Cho nên dù bị đẩy vào hoàn cảnh khốn nạn như thế này, tôi vẫn thấy lương tâm yên ổn hơn”. Tôi không có ý định nói chi tiết về vụ này mà muốn trở lại cái đêm Noel trong xà lim số 6. Xà lim là tiếng dịch theo âm Việt Nam của “cellule” ( tiếng Pháp ), xuất hiện trong văn chương và báo chí từ thời Pháp thuộc. Thực ra nếu tra tự điển tiếng Anh Việt hay Pháp Việt, chữ cell hay cellule đều có nghĩa là “tế bào”. Trong các trại tù của những quốc gia theo chủ nghĩa tư bản cũng như chủ nghĩa CS, hoặc các quốc gia dân chủ tự do, những “tế bào” vẫn được hiểu là những phòng biệt giam cá nhân để trừng phạt những tù nhân nguy hiểm. Những phòng biệt giam cá nhân này thường được xây dựng theo một tiêu chuẩn giống nhau: Không gian nhỏ hẹp của chúng phải đáp ứng được nhu cầu trừng phạt cả thể xác lẫn tinh thần người tù. Riêng tại các trại cải tạo do người CS dựng lên, những phòng biệt giam cá nhân được gọi bằng một nhóm từ “nhà kỷ luật”.

TRAI GIAM

Trại A ở A-20 Xuân Phước có một dãy 10 phòng biệt giam cá nhân, mỗi phòng như vậy giống như một cái hộp với bề rộng 3 thước, dài 3 thước, cao 6 thước, xây dựng bằng vật liệu bê tông cốt sắt, kín mít chỉ có một lỗ tò vò nhỏ ở cánh cửa trước để cho vệ binh kiểm soát tù nhân ở bên trong. Ở phía trong mỗi xà lim cá nhân, có hai bệ nằm song song, cách nhau bằng một khoảng hẹp chừng nửa thước. Người tù nằm trên bệ quay mặt ra phía cửa hai chân bị cùm chặt bằng một cùm sắt, có nhiều trường hợp bị cùm cả hai chân hai tay.

Nhưng cùm như thế nào ? Có phải là cùm bằng còng số 8 như ta thấy cảnh sát Mỹ còng tay

phạm nhân để giải giao về sở cảnh sát không ? Thưa không phải như vậy ! Làm gì chúng tôi lại được ưu đãi đó. Loại còng trong những xà lim mà tôi trải qua suốt 5 năm liên tiếp tại A-20 trong rừng Xuân Phước là “cùm Omega”. Tại sao lại gọi loại cùm này bằng cái tên của một hiệu đồng hồ rất nổi tiếng là đồng hồ Omega ? Hai cái vòng sắt để khóa hai chân người có hình thù giống y chang logo của đồng hồ Omega. Khi bị còng trong xà lim, người tù cải tạo bị đẩy ngồi lên bệ nằm, duỗi thẳng hai chân. Viên cán bộ an ninh trại giam sai một trật tự lấy ra một lô vòng sắt hình ký hiệu omega ra và ướm thử vào cổ chân người tù. Nếu đám an ninh trại giam không có ý định trừng phạt nặng tù nhân cải tạo thì họ ra lệnh cho trật tự lấy hai vòng omega vừa vặn với cổ chân người tù cải tạo. Ngược lại nếu họ muốn trừng phạt nặng và muốn làm nhiễm độc thối chân người tù, họ tra vào cổ chân tù cải tạo hai vòng omega nhỏ hơn vòng cổ chân rồi đóng mạnh xuống. Khi cổ chân người tù lọt vào được chiếc vòng omega, nó đã làm trầy trụa một phần hay nhiều phần cổ chân người tù. Sau đó, họ tra vào bên dưới một cây sắt dài qua bốn lỗ tròn ở hai vòng omega, một đầu cây sắt ăn sâu vào mặt tường trong, đầu phía ngoài của thanh sắt được xỏ qua một chốt được gắn thật sâu xuống cạnh bên ngoài của bệ nằm. Một cây sắt khác ngắn hơn, một đầu được uốn tròn, đầu kia của cây sắt này được đánh dẹp và khoan một lỗ nhỏ. Khi hai thanh sắt này được khóa chặt với nhau thì một đầu của cây sắt dọc sẽ xuyên qua một lỗ nhỏ tường phía trước, thò ra ngoài một đoạn. Chỉ việc tra một cái khóa vào đầu phía ngoài ấy của thanh sắt dọc là tất cả hệ thống trên sẽ tạo thành một cái cùm thật chặt khó lòng một người tù nào có thể mở khóa, vì mấu chốt để tháo cùm là ổ khóa bên ngoài. Phải mở được ổ khóa bên ngoài thì mới mở được cùm.

NHA TU

Có bốn mức cùm dành cho một tù cải tạo khi họ bị biệt giam ở trại Xuân Phước: mức độ 1: Cùm một chân phải, mức độ 2: Cùm một chân trái, mức độ 3: Cùm hai chân, mức độ 4: Cùm hai chân hai tay. Tôi đã trải qua mức độ 4 trong 8 tháng liên tiếp, sau đó giảm xuống mức độ 3, rồi lại tăng lên mức độ 4 trước khi giảm xuống mức độ 3, 2 rồi 1. Khi còn bị cùm mức độ 4, ngoài hai bữa ăn và ban đêm, tôi được tháo cùm 2 tay, thời gian còn lại lúc nào tôi cũng phải ngồi cong như con tôm luộc vì kiểu cùm độc ác này. Sở dĩ tôi được giảm xuống mức độ 3 rồi trở lại mức độ 4 chỉ vì một sự kiện: Sự can thiệp của Hội Ân Xá Quốc Tế để thả tôi ra. Khi hai thành viên của Hội này là bà Frederick Fuchs ( người Bỉ ) và ông Pierre Carreaux ( cựu chiến binh người Pháp ) từ Belgique bay qua Bangkok với một danh sách 14 ký giả, phóng viên bị trả thù bởi chế độ mới tại Việt Nam và đòi đến Hà Nội để được gặp mặt những người này. Chỉ có bà Fuchs là được vào Hà Nội, nhưng bà chỉ được nhận hồ sơ can thiệp và được phép thăm bà mẹ tôi tại Sàigòn chứ không được đến trại A-20 gặp mặt tôi. Khi bà Fuchs đòi chiếu khán ở Bangkok để vào Hà Nội trùng vào thời điểm tôi được tháo cùm hai tay và thời gian bà Fuchs rời Hà Nội trùng thời gian tôi bị trở lại mức cùm số 4. Trước khi tôi được tháo cùm hưởng ân huệ ở mức độ 2, thì một phái đoàn do Hoàng Thanh hướng dẫn từ Hà Nội vào “thăm” A-20. Ông ta lôi một lô những người tù cải tạo đang nằm trong biệt giam tại trại A cũng như B ở A-20 ra thẩm cung. Tôi được một trong những thẩm vấn viên cho xem bản sao những lá thư can thiệp đòi thả tôi, và 13 ký giả khác trong đó có kèm theo cả những lá thư của bằng hữu và đồng nghiệp với tôi ở Pháp, trong đó có thư của ông Trần Văn Ngô tức ký giả Từ Nguyên, một cựu phóng viên của Việt Tấn Xã thuộc lớp đàn anh chúng tôi. Sau đó anh ta nói thẳng với tôi: “Bọn mày thấy đấy, mấy thằng Tây này kể cả mấy thằng ký giả Việt gian chạy trốn tổ quốc không thể đánh tháo chúng mày được. Khôn hồn thì chịu cải tạo để không bị chết trong cùm. Suốt đời chúng mày sẽ không ra khỏi cái thung lũng này được đâu. Ân Xá Quốc Tế hả, còn khuya bọn nó mới làm gì được chúng tao”.

Tôi không trách gì việc can thiệp này mà lại còn vui là đằng khác, bởi vì nó củng cố cho tôi một niềm tin và thấy được tấm lòng hào sảng của bạn bè đồng nghiệp ra được nước ngoài. Tôi thành thật tri ân họ.

Những ngày tiếp theo, tôi bị nâng cùm ở mức độ 4 và bị cắt khẩu phần ăn xuống chỉ còn bằng một nửa so với các anh em bên ngoài, nghĩa là chỉ còn mỗi bữa ăn 150 grams. Nếu tính chi ly ra thì 150 grams thực phẩm mỗi ngày gồm khoảng 5 lát khoai mì khô luộc và một muỗng cơm, tất cả chan đẫm nước muối và được phát cho nửa ca nước một ngày. Ăn mặn và uống nước ít, người rất dễ bị phù sẽ ảnh hưởng tới thận. Trong tù mà bị thận thì kể như tàn đời. Cho nên ăn lúc đó trở thành ít quan trọng hơn dù lúc đó chúng tôi đã là lũ ma đói. Cái khát triền miên đã che đi cái đói. Nếu tôi muốn ăn được khẩu phần dành cho người đang bị trừng phạt phải dùng ít nhất nửa phần nước để rửa bớt cái mặn của nước muối được chan vào cơm và khoai mì. Tôi không dám hy sinh những muỗng nước quý như vàng lúc đó để rửa phần khoai. Tôi nghĩ chỉ có cách nhịn, nhưng càng đói lả đi thì mồ hôi ra như tắm, một tình trạng hết sức nguy hiểm. Cha Vàng thấy tôi lả đi, ngài đập cửa báo cáo nhưng đám cán bộ của nhà kỷ luật im lặng, coi như không có chuyện gì xảy ra.

Buổi trưa hôm đó, Cha Vàng nẩy ra một ý kiến. Ngài nói: “Anh không thể tránh ăn mãi như thế.

Nếu Chúa che chở cho mình, phù cũng không chết. Bố tự trách không nghĩ ra việc hy sinh nửa ca nước của bố cho anh. Khoai mì ít ngấm nước muối hơn. Bố sẽ hy sinh nửa phần nước để anh rửa khoai mì cho bớt mặn”. Tôi khước từ: “Bố ( trong tù chúng tôi đều gọi tất cả các Tu Sĩ của các đạo giáo là bố hết ) lớn tuổi sức chịu đựng yếu rồi, nhịn khát như con không được đâu”. Ông cười: “Sao biết không được đã thử đâu mà biết không được”. Tôi chọc ngài cho bớt căng thẳng: “Thế bố đã thử chưa mà khi đi giảng đạo có lúc bố nói về hạnh phúc lứa đôi”. Cả hai chúng tôi đều cười vang. Cha Vàng nói: “Ê này, để bố nói cho anh nghe chuyện này. Bố dù là Linh Mục thì cũng là người, con tim cũng rung động như mọi người khác, nhiều lúc bố cũng muốn thử. Những lúc như thế mình phải tranh đấu với chính bản thân mình ghê lắm để đừng vượt rào đi ăn tình. Ðiều này cũng cần can đảm mới làm được. Tín đồ kính trọng người tu hành là kính trọng sự can đảm ấy, kính trọng sự vượt qua để phụng sự, chứ nếu giống như thường tình thì nói gì nữa”.

Vâng thưa quý vị, giải pháp của Cha Vàng đã khiến cho một tuần, hai tuần, ba tuần qua đi nhanh và vô hiệu hóa được sự trừng phạt. Vào tuần lễ thứ tư của cuộc trừng phạt, như một phép lạ, viên cán bộ phát cơm nhà kỷ luật không phải là tên trực trại như thường lệ mà là một anh chàng lạ hoắc. Tù nhân mang cơm cho nhà kỷ luật cũng không phải là Hùng đen mà là Tuấn “sún” ở đội tù hình sự. Thông thường, khi vào phát khẩu phần cho nhà kỷ luật, viên cán bộ trực trại thường mở xà lim có tù nhân “bị gởi” ( tù nhân bị ăn chế độ trừng phạt ) trước. Nhưng lần này thấy các xà lim được lần lượt mở từ 1 cho đến 9 ( số hên ? ) Xà lim 10 không có “khách”.

Ðến xà lim số 6, Cha Vàng đưa hai chiếc bát nhựa và hai ca đựng nước ra trong khi viên cán bộ đích thân mở khóa tay cho tôi. Viên cán bộ này mặc đồ CA không lon lá gì cả nên không biết cấp bậc anh ta. Phát khoai xong, thấy Tuấn “sún” múc một vá nước muối, viên cán bộ nói ngay: “Ít muối thôi, chan đẫm vào, làm sao người ta ăn được”. Ðến phần nước, khi thấy Tuấn “sún” múc đầy cả hai ca, tôi hiểu rằng hôm đó tên cán bộ trực trại có việc gì đó không mở trại kỷ luật được, nên nhờ bạn thay thế. Vì làm thế nên anh chàng này không còn nhớ hoặc không thèm nhớ là trong trại có tù nhân phải ăn khẩu phần dành cho chế độ trừng phạt.

Phát xà lim số 9 xong, lại thấy có tiếng chìa khóa mở cửa xà lim số 6 của tôi. Tôi đinh ninh rằng họ quay lại để lấy bớt phần nước nên tôi vội vàng cầm ca nước uống hết. Nhưng không, Tuấn “sún” xách thùng nước đứng ở cửa phòng hỏi: “Có gì đựng thêm nước không”. Tôi nói: “Có” và đưa ca nước ra. Tuấn “sún” đổ đầy hai ca nước, rồi lại hỏi: “Còn đồ đựng nước khác không ?” Cả hai chúng tôi lắc đầu. Viên cán bộ xen vào: “Ðổ vào thau cơm cho họ, chiều hay mai lấy ra”.

Hình phạt dành cho tôi chấm dứt vào đầu tháng 11. Tôi đoán hết lý do này đến lý do khác khiến chúng chấm dứt sự trừng phạt đối với tôi. Nhưng Cha Vàng nhận định: “Nếu cần phải giết chúng ta, chúng đã tùng xẻo mình ngay từ lúc đầu. Ðoán làm gì cho mệt…” Cuối tháng 11, cả hai chúng tôi đều được mở cùm cho ra đi tắm, lần đầu tiên sau 3 năm biệt giam. Khi được mở cùm, tôi đứng lên không nổi vì hai chân dường như cứng lại. Cha Vàng cũng nằm trong tình trạng ấy, nhưng ngài mới bị biệt giam hơn một năm nên còn lết được. Chúng tôi bám lấy nhau theo hướng dẫn của trật tự đi ra ngoài giếng được đào bên cạnh một ao cá ngay sau nhà kỷ luật. Thời tiết tháng 11 ở vùng tiền sơn Tuy Hòa đã lạnh lắm rồi.

Tôi còn có được một cái áo lạnh tự may bằng cách phá một chiếc chăn len của một bạn tù cho từ

năm 1980. Khi được cho chiếc chăn len này, tôi nghĩ ngay đến chuyện may thành chiếc áo giống như áo trấn thủ. Trò may vá trong các trại tù cũng là một thú tiêu khiển và giết thời giờ. Chúng tôi dùng những cọng sắt để làm kim và chỉ thì bằng những sợi rút ra từ những chiếc áo hay quần may bằng bao cát . Chính ở những trò may vá này, chúng tôi học được một bài học: Cùng thì tắc biến. Trước những trò đàn áp, những mưu chước thô bạo quản thúc con người trong các nhà tù CS, vẫn có rất nhiều người vượt qua được cơn khốn khó do bản năng sống còn của họ rất mạnh. Cứ thử nghĩ một người nếu ăn bất cứ con vật gì mà họ bắt được kể cả rít núi, cỏ kiểng, ăn sống cả loại khoai mì H-34 có nhiều chất độc trên đất Hoa Kỳ này, thì chỉ có nước vào nhà thương sớm. Nhưng thời gian dưới các nhà tù CS bệnh không có thuốc, ăn bậy bạ mà các tù nhân cải tạo ít bị hề hấn gì. Tôi nghĩ một cách chủ quan rằng chỉ có phép lạ hay bản năng tự tồn của người khi bị đẩy vào cùng quẫn mạnh, mới giúp cho một người tù sống được và có ngày trở về.

Một số bạn tù của tôi sau này hay nói đến chuyện sống vì tinh thần, lúc đầu tôi chỉ coi là chuyện

vui, nhưng ngẫm nghĩ lại thấy cũng có phần chí lý. Khi một người tù chấp nhận phần xấu nhất về mình, sẽ bất chấp những đòn thù. Vì một người biết chấp nhận phần xấu nhất về mình trong hoàn cảnh lưu đầy, sẽ chẳng còn gì phải suy nghĩ về hiện tại lẫn tương lai, ngày về. Lúc đó nếu VC có bắn mình một viên vào ngực, có lẽ điều đó được coi là ân huệ hơn là kéo dài cuộc sống của những người tù theo cách nửa sống, nửa chết như thế. Cho nên, người CS có thể tính được nhiều trò đàn áp, hành hạ con người, nhưng không tính được điều liên quan đến bản năng và tinh thần của con người đã thử đâu mà biết không được”. Tôi chọc ngài cho bớt căng thẳng: “Thế bố đã thử chưa mà khi đi giảng đạo có lúc bố nói về hạnh phúc lứa đôi”. Cả hai chúng tôi đều cười vang. Cha Vàng nói: “Ê này, để bố nói cho anh nghe chuyện này. Bố dù là Linh Mục thì cũng là người, con tim cũng rung động như mọi người khác, nhiều lúc bố cũng muốn thử. Những lúc như thế mình phải tranh đấu với chính bản thân mình ghê lắm để đừng vượt rào đi ăn tình. Ðiều này cũng cần can đảm mới làm được. Tín đồ kính trọng người tu hành là kính trọng sự can đảm ấy, kính trọng sự vượt qua để phụng sự, chứ nếu giống như thường tình thì nói gì nữa”.

Vâng thưa quý vị, giải pháp của Cha Vàng đã khiến cho một tuần, hai tuần, ba tuần qua đi nhanh

và vô hiệu hóa được sự trừng phạt. Vào tuần lễ thứ tư của cuộc trừng phạt, như một phép lạ, viên cán bộ phát cơm nhà kỷ luật không phải là tên trực trại như thường lệ mà là một anh chàng lạ hoắc. Tù nhân mang cơm cho nhà kỷ luật cũng không phải là Hùng đen mà là Tuấn “sún” ở đội tù hình sự. Thông thường, khi vào phát khẩu phần cho nhà kỷ luật, viên cán bộ trực trại thường mở xà lim có tù nhân “bị gởi” ( tù nhân bị ăn chế độ trừng phạt ) trước. Nhưng lần này thấy các xà lim được lần lượt mở từ 1 cho đến 9 ( số hên ? ) Xà lim 10 không có “khách”. Ðến xà lim số 6, Cha Vàng đưa hai chiếc bát nhựa và hai ca đựng nước ra trong khi viên cán bộ đích thân mở khóa tay cho tôi. Viên cán bộ này mặc đồ CA không lon lá gì cả nên không biết cấp bậc anh ta. Phát khoai xong, thấy Tuấn “sún” múc một vá nước muối, viên cán bộ nói ngay: “Ít muối

thôi, chan đẫm vào, làm sao người ta ăn được”. Ðến phần nước, khi thấy Tuấn “sún” múc đầy cả hai ca, tôi hiểu rằng hôm đó tên cán bộ trực trại có việc gì đó không mở trại kỷ luật được, nên nhờ bạn thay thế. Vì làm thế nên anh chàng này không còn nhớ hoặc không thèm nhớ là trong trại có tù nhân phải ăn khẩu phần dành cho chế độ trừng phạt.

Phát xà lim số 9 xong, lại thấy có tiếng chìa khóa mở cửa xà lim số 6 của tôi. Tôi đinh ninh rằng họ quay lại để lấy bớt phần nước nên tôi vội vàng cầm ca nước uống hết. Nhưng không, Tuấn “sún” xách thùng nước đứng ở cửa phòng hỏi: “Có gì đựng thêm nước không”. Tôi nói: “Có” và đưa ca nước ra. Tuấn “sún” đổ đầy hai ca nước, rồi lại hỏi: “Còn đồ đựng nước khác không ?” Cả hai chúng tôi lắc đầu. Viên cán bộ xen vào: “Ðổ vào thau cơm cho họ, chiều hay mai lấy ra”.

Hình phạt dành cho tôi chấm dứt vào đầu tháng 11. Tôi đoán hết lý do này đến lý do khác khiến

chúng chấm dứt sự trừng phạt đối với tôi. Nhưng Cha Vàng nhận định: “Nếu cần phải giết chúng ta, chúng đã tùng xẻo mình ngay từ lúc đầu. Ðoán làm gì cho mệt…” Cuối tháng 11, cả hai chúng tôi đều được mở cùm cho ra đi tắm, lần đầu tiên sau 3 năm biệt giam. Khi được mở cùm, tôi đứng lên không nổi vì hai chân dường như cứng lại. Cha Vàng cũng nằm trong tình trạng ấy, nhưng ngài mới bị biệt giam hơn một năm nên còn lết được. Chúng tôi bám lấy nhau theo hướng dẫn của trật tự đi ra ngoài giếng được đào bên cạnh một ao cá ngay sau nhà kỷ luật. Thời tiết tháng 11 ở vùng tiền sơn Tuy Hòa đã lạnh lắm rồi.

Tôi còn có được một cái áo lạnh tự may bằng cách phá một chiếc chăn len của một bạn tù cho từ

năm 1980. Khi được cho chiếc chăn len này, tôi nghĩ ngay đến chuyện may thành chiếc áo giống như áo trấn thủ. Trò may vá trong các trại tù cũng là một thú tiêu khiển và giết thời giờ. Chúng tôi dùng những cọng sắt để làm kim và chỉ thì bằng những sợi rút ra từ những chiếc áo hay quần may bằng bao cát. Chính ở những trò may vá này, chúng tôi học được một bài học: Cùng thì tắc biến. Trước những trò đàn áp, những mưu chước thô bạo quản thúc con người trong các nhà tù CS, vẫn có rất nhiều người vượt qua được cơn khốn khó do bản năng sống còn của họ rất mạnh. Cứ thử nghĩ một người nếu ăn bất cứ con vật gì mà họ bắt được kể cả rít núi, cỏ kiểng, ăn sống cả loại khoai mì H-34 có nhiều chất độc trên đất Hoa Kỳ này, thì chỉ có nước vào nhà thương sớm. Nhưng thời gian dưới các nhà tù CS bệnh không có thuốc, ăn bậy bạ mà các tù nhân cải tạo ít bị hề hấn gì. Tôi nghĩ một cách chủ quan rằng chỉ có phép lạ hay bản năng tự tồn của người khi bị đẩy vào cùng quẫn mạnh, mới giúp cho một người tù sống được và có ngày trở về.

Một số bạn tù của tôi sau này hay nói đến chuyện sống vì tinh thần, lúc đầu tôi chỉ coi là chuyện

vui, nhưng ngẫm nghĩ lại thấy cũng có phần chí lý. Khi một người tù chấp nhận phần xấu nhất về mình, sẽ bất chấp những đòn thù. Vì một người biết chấp nhận phần xấu nhất về mình trong hoàn cảnh lưu đầy, sẽ chẳng còn gì phải suy nghĩ về hiện tại lẫn tương lai, ngày về. Lúc đó nếu VC có bắn mình một viên vào ngực, có lẽ điều đó được coi là ân huệ hơn là kéo dài cuộc sống của những người tù theo cách nửa sống, nửa chết như thế. Cho nên, người CS có thể tính được nhiều trò đàn áp, hành hạ con người, nhưng không tính được điều liên quan đến bản năng và tinh thần của con người . Khi chúng tôi ra đến bờ giếng là muốn trở lại ngay xà lim. Còn tắm táp gì trong điều kiện thời tiết này. Thấy Cha Vàng run lên bần bật vì gió lạnh. Ngài lại chỉ mặc một chiếc áo len mỏng bên trong bộ đồ tù, nên tôi cởi chiếc áo trấn thủ và nói: “Bố đưa chiếc áo len cho con, bố mặc chiếc áo của con vào ngay. Bố phong phanh thế, cảm lạnh bây giờ. Bố nhớ rằng ở đây không có thuốc, mặc chiếc áo này của con đi, bố đưa áo len cho con”. Ông nhất định không chịu, nhưng cuối cùng tôi vẫn lột chiếc áo len của Cha Vàng ra và mặc chiếc áo trấn thủ mang bằng chăn len hai lớp của tôi cho ngài, còn tôi mặc chiếc áo len của ngài. Dĩ nhiên chúng tôi chẳng tắm táp gì được cả, ngồi núp vào bức tường che giếng nước để tránh gió. Cha Vàng ít run rẩy hơn. Ngài đứng dậy và vung tay cử động. Tôi làm theo ngài. Tôi có cảm tưởng cứ mỗi lần vung tay cử động theo kiểu Dịch Cân Kinh thì chúng tôi choáng váng có thể chúi về trước, nhưng đồng thời cũng cảm thấy bớt lạnh. Viên cán bộ trực trại dặn chúng tôi: “Các anh tắm thì

tắm, không muốn thì thôi. Nếu không thì ngồi đây phơi nắng ( ở Xuân Phước, mùa Ðông thường không thấy mặt trời ). Cấm không được liên hệ với ai”. Nói xong, anh ta bỏ đi.

Nói thì nói vậy, nhưng các anh em trong nhà bếp đều là anh em sĩ quan cải tạo, nên cũng tìm cách tiếp tế cho chúng tôi vài miếng cơm cháy, mấy tán đường. LS., một người Việt gốc hoa, một tỷ phú, vua máy cày trước 30.4.1975, bị đẩy lên trại này sau khi lãnh cái án 20 năm tù sau đợt đánh tư sản mại bản lần thứ nhất, đang được cắt cử coi vườn rau cải. Ông ta từ vườn rau đi khơi khơi, không lén lút gì, đến thẳng chỗ chúng tôi, đưa một gói bánh trong đó có ít bánh biscuit lạt và ít đường tán, và thiết thực hơn là khoảng 10 viên thuốc B1. LS. nói: “Ngộ

biếu, bánh đường ăn hết ở ngoài này đi, đừng mang vào chúng nó sẽ tịch thu. Thuốc B1 cần cho các nị lắm á. Cứ ăn từ từ, đừng có lo, nhà nước… no hết”. Xong ông ta bỏ đi. Nhóm người Việt gốc Hoa sống trong trại rất đầy đủ, nhưng đối với chúng tôi, lúc nào họ cũng cư xử đàng hoàng. Những tin tức từ bên ngoài được đem vào trại của họ khá chính xác. A-20 là trại trừng giới nhưng quà thăm nuôi hàng tháng của họ chất đầy chỗ nằm. Mỗi lần thăm gặp, họ ở với gia đình cả ngày ở ngoài nhà thăm nuôi cũng được, nếu họ muốn. Nhưng ít khi nào họ hành động như vậy. Môi trường ở A-20 là môi trường tế nhị. Những doanh nhân này đầu óc rất thực tế: Có tiền mua tiên cũng được huống chi đám cán bộ trại giam vốn cũng đói rách. Cái giá của việc khơi khơi đến tiếp tế cho chúng tôi ít ra cũng phải trả bằng 6 tháng biệt giam, nếu bị bắt gặp. Nhưng 6 tháng biệt giam chỉ tương đương với 2 cặp lạp xưởng. Ông là người tù duy nhất ở trong trại có thể trả cái giá ấy bằng lạp xưởng hay nửa bao thuốc lá ba số 5 thay vì vào biệt giam. biết chắc rằng buổi tối hôm ấy, tên trật tự ( bị án chung thân vì tội cướp có súng ) sẽ xuống gọi LS. ra cửa sổ buồng giam và xin hai cặp lạp xưởng cho cán bộ nấu xôi. Cho nên, LS. đi đâu một lúc rồi ông ta trở lại với cái điếu cày, diêm và nói: “Thuốc lào này say lắm, cẩn thận. Ðừng mang diêm vào biệt giam”. Hút xong thuốc lào, chờ cơn “phê” nhạt dần, tôi chợt nẩy ra ý kiến: “Bố ơi mình giấu 2 bi ( tiếng long của hai điếu ) để đêm Noel hút”. Tôi quấn nhúm thuốc còn lại cho thật nhỏ vào bao nhựa đựng 10 viên B1 và nhét vào gấu quần. Cái gấu quần là chỗ hôi thối của những người tù 3 năm không được tắm, chắc không có ai muốn sờ đến nên có thể an toàn. Biệt giam là nơi cấm hết mọi thứ kể cả thuốc hút nên chúng tôi phải hành động như vậy. Và quả thật, trước khi mang chúng tôi vào lại xà lim, trật tự Hùng đen chỉ khám sơ sơ. Tôi và Cha Vàng đã thắng. Nhưng vào đến xà lim, sau khi xỏ chân vào cùm, nghĩ lại tôi mới thấy thất vọng: lửa ở đâu mà hút. Thảo luận mãi, Cha Vàng đưa ý kiến, lấy lửa bằng phương pháp của thời kỳ đồ đá. Tôi lại chọc vị Tu Sĩ Công Giáo rất hùng biện này: “Bố con mình đang ở thời kỳ đất sét mà bố nghĩ đến phương pháp của thời kỳ đồ đá”. Cha Vàng cười: “Mày chỉ tầm xàm. Ðứng đắn đấy. Ðêm Noel mình sẽ hút thuốc lào, bố có cách rồi”. Sau đó cha Vàng giảng giải cho tôi cách lấy lửa “thời kỳ đồ đá”. Vị Tu Sĩ nói như giảng đạo: “Này nhé, con có biết rằng nền văn minh ngày nay đến từ việc phát minh ra lửa. Lửa chế ngự đời sống con người khi họ thoát ra thời kỳ ăn lông ở lỗ… Con người thời kỳ đồ đá đã biết dùng đá chọi vào nhau cho đến khi xẹt lửa. Những tia lửa đó rớt xuống đám lá khô dễ bắt lửa và họ thổi cháy thành ngọn lửa”. Cha Vàng nói: “Chỉ cần một thanh vỏ tre và áo mục”. Tôi hỏi Cha Vàng: “Áo mục thì có sẵn, nhưng thanh vỏ tre ?” Cha Vàng cười: “Bố giao nhiệm vụ cho mày nếu bị kêu đi thẩm cung, thế nào trước Noel chúng cũng gọi chúng ta ra tra vấn và khám xà lim, một biện pháp an ninh trước những ngày lễ trọng…”

Do kinh nghiệm, Cha Vàng nói đúng. Năm ngày trước Noel, trời có nắng, những tia nắng hiếm

hoi xuyên qua cửa tò vò vào phòng giam. Ngài vội lấy chiếc áo tù bằng vải thô vá chằng vá đụp, xé hai mảnh nhỏ. Ngài nói: “Ðây là cái áo bố đã giặt rất sạch trước khi vào đây, để làm con cúi lấy lửa khi cần. Xé nó ra phơi cho thật khô. Cuộn lại cho chặt thành một cuộn bằng ngón tay cái. Dùng móng tay đánh tơi một đầu, đánh thật tơi cho đến khi sợi vải ở đầu con cúi xuất hiện một lớp bông. Dùng miếng vỏ tre thật mỏng luồn nó vào cái khe hẹp để gắn quai dép lốp rồi kéo cho đến khi thanh tre nóng bỏng. Hơi nóng của bột tre dính trên mặt bông của con cúi, lửa sẽ ngún và thổi nhè nhẹ vết lửa sẽ loang ra, chỉ cần thổi nhẹ là lửa sẽ bật lên”.

Nghe Cha Vàng nói tôi tưởng là ngài nói chuyện thần thoại. Nhưng do vẫn nghĩ đến phép lạ, nên

tôi nghe theo lời ngài. Tôi nghĩ đây là một trò vui và cũng là dịp tự thử thách mình. Ðúng như dự đoán, trước Noel 1984 ba ngày, lần lượt chúng tôi bị kêu ra ngoài thẩm cung và xà lim bị khám xét rất kỹ. Nhưng họ vẫn không phát giác ra được mấy điếu thuốc lào và thuốc B1 tôi giấu trong lai quần. Có lẽ do người hôi thối quá, nên anh cán bộ nào cũng sợ mó vào quần áo tôi. Chỉ còn thanh tre mỏng. Tôi nghĩ ra một kế nên báo cáo cán bộ cho xin một thanh tre mỏng mang vào xà lim để làm đồ cạo lưỡi. Viên cán bộ hỏi tôi: “Lưỡi anh làm sao ?” Tôi nói: “Ðóng bợn ba năm rồi không được cạo, nên xin cán bộ”. Anh ta không nghi ngờ gì cả nên gật đầu: “Nhưng tre ở đâu ra ?” Tôi nói ngay: “Ở nhà bếp chắc có”. Anh cán bộ gọi trật tự Hùng đen: “Xuống nhà bếp bảo họ cho tôi một vỏ tre cạo lưỡi cho anh này”. Tôi lại gặp may lần nữa. Mấy anh em nhà bếp tưởng làm cây cạo lưỡi cho cán bộ nên họ làm rất kỹ và tôi có một thanh cạo lưỡi bằng vỏ tre khô dài khoảng 2 gang tay. Sau khi trở lại xà lim, tôi bắt đầu thực tập ngay. Tháo một quai dép lốp ra, tôi luồn thanh tre vào và dùng hai tay kéo cưa. Thấy nóng thật, tôi ra sức kéo mạnh. Cha Vàng vội can: “Kéo từ từ, thở ra hít vào đều, ít ra cũng một tiếng đồng hồ”. Tôi lại chọc cha Vàng: “Bố ơi, mình đang ở thời kỳ đồ đất mà kéo như thế này, chắc phải ăn 5 phần khoai mì may ra mới bù

lại được. Ðồ đất dễ vỡ lắm !” Vị Linh Mục cười hiền lành: “Thôi dừng có nói nữa, anh nói nhiều xì hơi còn sức đâu mà kéo”. Trong khi tôi đánh vật với chiếc dép và thanh tre, thì Cha Vàng

móc trong tay nải lấy hai miếng vải đã phơi khô ra và làm thành một con cúi. Ông chà một đầu con cúi xuống sàn rồi lấy móng tay út lúc đó đã dài như móng tay của mấy bà người Tàu bó chân, khẩy khẩy cả tiếng đồng hồ vào những thớ vải lúc đó đã hơi bung ra.

Ðến khi thấy mệt, mồ hôi ra như tắm, tôi nói với Cha Vàng: “Con chịu thua rồi bố ơi, mệt quá”.

Cha Vàng khuyến khích: “Ðừng ngừng, tiếp tục để bố thử coi”. Tôi tiếp tục kéo. Bột tre đã văng ra có thể nhìn thấy trên sàn. Khi cha Vàng lựa thế đưa cúi vào thì tôi gia tăng tốc độ. Cha Vàng reo lên: “Hơi ngún rồi, tại chưa bén than vì anh kéo chưa đủ đô”. Quả thật tôi cũng thấy một chút khói bốc lên. Ngày hôm sau, chúng tôi lại thử, một cuộc chạy đua tiếp sức của hai người. Ðể con cúi vải xuống sàn, tôi và Cha Vàng thay phiên nhau kéo, từ 9 giờ sáng cho đến hơn 11 giờ thì “phép lạ” đã đến. Ðầu con cúi bắt đầu ngún và có khói, có nghĩa là bột tre nóng quá độ đã khiến cho lớp bông nhẹ trên con cúi bén lửa. Một lát sau khi thấy xuất hiện những đốm hồng, cha Vàng thổi nhẹ nhẹ, vết lửa lan ra, trang sử của mấy ngàn năm trước được lật lại. Cha Vàng tiếp tục thổi nhẹ để nuôi dưỡng ngọn lửa. Và khi đã ngủi thấy mùi khét của vải, ngài thổi hơi mạnh. Ngọn than hồng lan rộng ra hơn và cuối cùng chỉ cần một hơi nhẹ, ngọn lửa bùng lên. Vị Tu Sĩ nhìn con cúi vải có than hồng giống như một điếu thuốc lá mới được đốt lên, rồi cười vang: “Mình thắng”. Ngài lục trong tay nải một miếng giấy châm vào cúi vải, ngọn lửa lan sang đóm giấy. Xong, cha nắm chặt tay tôi giơ lên cao như một võ sĩ được trọng tài nắm tay giơ

cao sau khi đấm địch thủ đo ván. Chúng tôi ngồi nghỉ một lát, sau đó cha Vàng nói: “Chúng ta đã học xong bài học lúc bố đã ngoài 50, còn con đã 33 tuổi. Nhưng tự bố, bố thấy chúng ta xứng đáng với bài học ấy. Ðó là kiên trì đạt mục tiêu trong hoàn cảnh khó khăn nhất”. Ðúng vào tối 24.12.1984, trước khi Cha Vàng cử hành Thánh Lễ nửa đêm trong xà lim số 6, chúng tôi đã hút mỗi người một điếu thuốc lào. Hút bằng một miếng giấy cuộn tròn như loa kèn và ngậm nước. Hút như thế, miệng mình chính là cái điếu, và cũng có tiếng kêu, cũng chếnh choáng say như khi hút bằng điếu cày. Chỉ có điều khác với hút thuốc lào bằng điếu cày: Sau khi hút phải

nhổ nước đi. Trong hoàn cảnh tôi và Cha Vàng lúc đó thì hơi tiếc vì chúng tôi thiếu nước uống kinh niên.

Kể từ ngày sống cùng một xà lim với cha Nguyễn Văn Vàng, tôi học được nhiều điều. Trong suốt thời gian này, ngài giảng cho tôi bộ Tân Ước. Dù tôi là một Phật Tử, nhưng nghe một nhà truyền đạo Công Giáo chuyên môn giảng kinh, nên bộ Tân Ước đã củng cố những lập luận sau này của tôi rất nhiều. Quan trọng hơn hết, đó chính là kỷ niệm với một Tu Sĩ mà tôi kính trọng.

Tháng 4 năm 1985, Cha Vàng lâm bệnh vào lúc sức khỏe của ngài đã quá yếu. Có lẽ ngài đã kiệt sức, sốt cao rồi đi vào hôn mê. Tôi đập cửa kêu cấp cứu suốt ngày, nhưng lúc tên trực trại chịu mở cửa để cho một y sĩ vào khám bệnh, thì mọi việc có vẻ quá muộn. Hai viên trụ sinh không đủ khả năng làm Cha Vàng tỉnh lại. Vào đúng lúc cả hai chúng tôi đều cảm nhận được Mùa Giáng Sinh đã trở lại thung lũng Xuân Phước qua tiếng chuông của một Nhà Thờ dường như ở cách chúng tôi xa lắm vọng về trong đêm lạnh giá và u tịch. Linh Mục Nguyễn Văn Vàng qua đời ngay trong xà lim số 6.

 Trước đó, dù yếu và bệnh, ngài đã bàn với tôi là làm sao có được Bánh Thánh lúc ngài làm Lễ nửa đêm dịp Noel 1985 mà con chiên duy nhất trước ngài lúc đó lại là một Phật Tử như tôi. Nhưng mơ ước của ngài không thành, kể cả việc lớn trước đó là lập lực lượng võ trang để mong lật ngược lại tình thế của một đất nước vừa chìm đắm trong luồng sóng đỏ. Nhưng dù ngài đã mất đi, trong suy nghĩ của tôi cho đến bây giờ, Linh Mục Nguyễn Văn Vàng vẫn là một ngọn lửa, âm thầm cháy như con cúi vải ngày nào bỗng bùng lên soi sáng cái không gian tăm tối

của tất cả những xà lim đang hiện diện trên đất nước Việt Nam.

VŨ ÁNH,

5.12.2010

OAN KHIÊN

OAN KHIÊN

Lm. Vĩnh Sang, DCCT,

 Trích EPHATA 685

 Trong tuần thứ năm Mùa Chay, Hội Thánh cho chúng ta nghe chuyện bà Susanna trong sách Đanien ( Sách Đanien chương 13 ), câu chuyện thật kỳ thú vì đan xen nhiều tình tiết thú vị. Câu chuyện này được trình bày làm nền để câu chuyện về người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình trong Tin Mừng được nổi bật lên ( Ga 8, 1 – 11 ).

Bà Susanna là nạn nhân của hai người đàn ông, họ là thầm phán kỳ lão trong dân, họ là người có chức có quyền, do lòng dục vọng bất chính, không thỏa mãn được lòng tà, họ bày mưu kiếm cớ để vu oan và kết tội bà, kết cục bà bị lôi ra “tòa án nhân dân”, với những lời buộc tội của hai tên thủ ác mưu thâm, bà bị oan ức nhưng không làm sao minh oan được. Thân phận là người đàn bà, loại người không có quyền tự bào chữa, kẻ tố cáo và kết án lại là kẻ có quyền, có thừa thế lực và lòng tham. Chắc chắn bà phải chết. Bản án tử hình đã được tuyên, đây là loại “án bỏ túi”.

Trong cơn tuyệt vọng, Kinh Thánh ghi lại thái độ phản ứng của bà: Bấy giờ bà Susanna kêu lớn

tiếng rằng: “Lạy Chúa hằng hữu, Ðấng thấu biết mọi bí ẩn và mọi sự trước khi xảy ra, Chúa biết họ làm chứng gian hại con; và đây con phải chết, dù con không làm điều gì mà họ ác ý vu khống cho con”.

 Điều kỳ diệu là, để gỡ thế bí và cứu sống bà, Thiên Chúa lại sử dụng một đứa trẻ, không phải là

một người có quyền thế, không phải là một kẻ có chức tước hoặc lão niên, nhưng là một đứa trẻ.

Đanien đã mạnh dạn đứng ra giữa hội đồng, không khiếp sợ uy lực của kẻ ác, Đanien lớn tiếng bày tỏ sự thât về lòng dạ của kẻ thủ ác, Đanien nói về bản chất của sự việc: “Hỡi lão già độc ác, các tội xưa kia ông đã phạm, giờ đây lại tái phạm, ông đã xét xử bất công, đã lên án kẻ vô tội và tha cho người có tội, mặc dầu có lời Chúa phán: “Ngươi chớ giết kẻ vô tội và người công chính”.

Kết thúc vụ án, kẻ ác phải bị chết, người oan được giải oan, mọi người vui mừng vì nhận ra

quyền năng của Thiên Chúa: “Chiếu theo luật Môsê, họ lên án xử tử hai ông, và ngày hôm đó máu người vô tội khỏi đổ oan”.

Lịch sử con người cứ tiếp diễn như một vòng tròn, Kinh Thánh ghi lại những kinh nghiệm của con người về tội lỗi của mình và sức mạnh của quyền năng Thiên Chúa. Đọc Kinh Thánh giữa cuộc sống hôm nay, chúng ta không khỏi ngao ngán vì có quá nhiều những vụ án oan sai liên tục diễn ra trên đất nước chúng ta, có quá nhiều vụ kết án người vô tội và tha bổng cho kẻ có tội.

Có những vụ án đã được phanh phui, kẻ bị oan đã được giải oan, nhưng kẻ gây ra án oan vẫn nhởn nhơ thăng quan tiến chức.Có những vụ án mà gia đình, cha mẹ của tù nhân kéo lê thân già đi khắp nơi kêu oan cho con, bao nhiêu năm tháng sống vật vã ngoài đường ngoài chợ, đến hết cửa cơ quan này rồi lại cổng cơ quan khác, mùa đông rét mướt hoặc mùa hè nòng nực, râu tóc bạc phơ theo năm tháng và dấu thời gian hằn trên gương mặt khắc khổ, con vẫn ở tù, án vẫn cứ trả đi trả về không kết luận, tuổi xuân qua đi chôn vùi cả tương lai cuộc đời. Có những vụ án kẻ oan chết một cách uất ức, gia đình nạn nhân sống trong tủi nhục không lối gỡ, đành ngậm hờn về chốn vĩnh hằng. Ba năm qua, hơn 200 người chết trong đồn CA là những án gì ?

Là người Kitô hữu, qua câu chuyện bà Susanna, Kinh Thánh khuyên chúng ta tin tưởng vào

Chúa, hãy nhìn lên Chúa và kêu cầu Ngài. Chúa nghe tiếng kẻ oan khiên và ra tay cứu vớt. Chúa có cách của Chúa, lắm khi chúng ta không hiểu nổi, Chúa cứu bà Susanna bằng cách sử dụng một đứa trẻ con. Chúa cứu cả thế giới này bằng một trẻ thơ vấn tả đặt nằm trong máng cỏ nơi một hàng bò lừa. Con rắn hiện thân của sự gian tà và độc ác, nó vẫn là thứ gian tà và độc ác không thay đổi, nhưng nếu người Do Thái biết nhìn lên nó theo lời dạy của Chúa, biết nhìn vào sự ác bằng một tâm hồn lắng nghe tiếng Chúa, tin tưởng và yêu mến Chúa thì sẽ thoát chết. Có sự ác nào hơn sự ác con người giết chết Con Thiên Chúa, con người bêu Con Thiên Chúa lên, con người đâm thâu Con Thiên Chúa, nhưng ngay khi ấy, nếu con người biết nhìn lên Đấng bị đâm thâu thì sẽ được cứu. Lời khuyên chân chính vẫn là tin tưởng, kêu cầu và phó thác cho Chúa khi chúng ta “đi qua lũng âm u”.Tuy nhiên, Kinh Thánh không chỉ trình bày cho chúng ta hướng sống như trên, Kinh Thánh còn kể cho chúng ta nghe về sự can đảm và dám nói sự thật của trẻ Đanien. Đanien bất chấp quyền lực thế gian, bất chấp vai vế, chức vụ thế gian, bất chấp sự sợ hãi về hậu quả của việc nói lên sự thật và bất chấp những nguy hiểm có thể đến với mình, những rắc rồi đến với những người thân của mình. Đanien mạnh dạn nói lên sự thật, lên án bất công, minh oan cho người vô tội. Chúa không làm phép lạ bằng cách hô biến, nhưng Chúa cần có người cộng tác với Chúa để bày tỏ quyền năng và tình thương.

Có ai làm Đanien hôm nay không ?

Lm. Vĩnh Sang, DCCT,

tuần 5 Mùa Sám Hối 2016

Ba bí mật dẫn đến hạnh phúc

Ba bí mật dẫn đến hạnh phúc

NEW YORK CITY, New York – Đối với con người có lẽ hạnh phúc là điều quan trọng nhất trong cuộc sống. Nhưng như thế nào là hạnh phúc?

Cuộc nghiên cứu về sự phát triển của con người ở trường đại học Harvard là một trong những cuộc nghiên cứu được tiến hành trong thời gian lâu nhất trong lịch sử, để đi tìm câu trả lời cho câu hỏi “Làm sao để hạnh phúc?”. Bác sĩ tâm lý Robert Waldinger, giám đốc đứng đầu của cuộc nghiên cứu cho biết, kết quả đã chỉ ra ba bí quyết để đem đến hạnh phúc cho con người.

Cuộc nghiên cứu được tiến hành với sự tham gia của hai nhóm sinh viên nam trong suốt 75 năm, bắt đầu từ năm 1938.

– Nhóm thứ nhất bao gồm 268 sinh viên năm thứ hai của trường đại học Harvard, đứng đầu là giáo sư George Vaillant.

– Nhóm thứ hai bao gồm 456 thanh niên 12 đến 16 tuổi sinh sống ở thành phố Boston, đứng đầu là giáo sư Sheldon Glueck.

Cuộc nghiên cứu khảo sát về cuộc sống của nhóm người tham gia (trong đó bao gồm cuộc sống hôn nhân, sự hài lòng về công việc, và các hoạt động xã hội khác) mỗi hai năm và theo dõi sức khỏe, thể chất của họ (bao gồm chụp X-quang, xét nghiệm máu, nước tiểu và siêu âm tim) mỗi năm năm.

HANH PHUC

Và điều mà các nhà nghiên cứu nhận ra rằng chính mối quan hệ tốt đẹp giúp con người trở nên vui vẻ hơn và khỏe mạnh hơn. Điều này chính là chìa khóa của hạnh phúc. Vậy ba bí mật của hạnh phúc là gì?

  1. Mối quan hệ thân thiết và gần gũi

    Đàn ông trong cả hai nhóm nghiên cứu nếu gần gũi với gia đình, bạn bè và cộng đồng có xu hướng hạnh phúc và khỏe mạnh hơn so với những người ít hoặc không tương tác. Người ta nhận ra rằng cô đơn làm con người cảm thấy ít hạnh phúc hơn, có thể chất và tinh thần tồi tệ hơn.

Ngoài ra trong bảng đánh giá của tạp chí tâm lý xã hội Compass vào năm 2014, sự cô đơn có thể ảnh hưởng đến chức năng tâm thần giấc ngủ và làm tăng nguy cơ về bệnh tật.

  1. Hạnh phúc là dựa vào chất lượng của mối quan hệ chứ không phải là nhiều mối quan hệ xung quanh

    Các cặp vợ chồng kết hôn cho biết, nếu như họ liên tục tranh luận với nhau và ít gần gũi nhau thì họ cảm thấy ít hạnh phúc hơn. Tuy nhiên, chất lượng của mối quan hệ phụ thuộc phần nào vào tuổi tác. Cuộc nghiên cứu công bố trên tạp chí Psychology and Aging cho biết chất lượng của một mối quan hệ thật sự quan trọng hơn nhiều so với những người có quá nhiều mối quan hệ nhưng không thật sự gắn bó.

  2. Hôn nhân bền vững

    Gần gũi với những người thân không chỉ tốt cho sức khỏe mà còn giúp cho tinh thần thêm thoải mái. Cuộc nghiên cứu cho thấy, so với những người từng ly hôn, thì những người vẫn giữ được hôn nhân bền vững có khả năng trí nhớ tốt hơn khi về già.

Với ba yếu tố trên, chúng ta có thể thấy rằng, một mối quan hệ đúng nghĩa và hỗ trợ lẫn nhau giúp cho sức khỏe luôn khỏe mạnh. Và điều này dẫn đến hạnh phúc của mỗi con người.

Xã hội chúng ta thường nhấn mạnh vào sự giàu có và sự nghiệp để đánh giá sự hạnh phúc. Nhưng theo giáo sư Waldinger, sau 75 năm, cuộc nghiên cứu đã chỉ ra rằng những người hạnh phúc chính là những người có mối quan hệ tốt đẹp và gần gũi với gia đình, bạn bè, và cộng đồng. (N.A)

S.T.

Tư lệnh Mỹ nói mất đường vào Biển Đông là điều nghiêm trọng

Tư lệnh Mỹ nói mất đường vào Biển Đông là điều nghiêm trọng

Đô đốc Scott H. Swift - Chỉ huy Bộ Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Mỹ.

Đô đốc Scott H. Swift – Chỉ huy Bộ Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Mỹ.

17.03.2016

Chỉ huy Bộ Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Mỹ, Đô đốc Scott H. Swift, hôm 16/3 nói nếu Mỹ để mất đường vào các vùng biển quốc tế mà Trung Quốc đòi chủ quyền ở Biển Đông, điều đó sẽ có các tác động sâu xa hơn nhiều, không chỉ về mặt quân sự. Ông Swift nêu ra ý kiến trên tại một hội nghị an ninh hàng hải Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương ở Canberra, thủ đô Australia.

Tuy nhiên Đô đốc Swift cũng cho rằng việc bị mất quyền tiếp cận đường biển theo như tiên liệu như thế sẽ không bao giờ xảy ra với Mỹ.

Nhận xét về tình hình Biển Đông, nơi có tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam, Trung Quốc, Philippines và một số bên khác, và sự kiện Trung Quốc ngày càng hung hăng, lấn át, ông Swift nhận xét “Có cảm nhận rõ ràng rằng thái độ ‘kẻ mạnh có quyền đặt ra luật lệ’ đang quay trở lại khu vực” sau 70 năm có an ninh và ổn định kể từ Chiến tranh Thế giới lần thứ hai.

Hải quân Mỹ đã làm Trung Quốc tức giận khi đưa tàu vào sát các đảo nhân tạo mà Bắc Kinh xây dựng ở Biển Đông. Mỹ không đòi chủ quyền ở vùng biển song nói rằng họ có lợi ích đối với việc bảo đảm tự do hàng hải và hàng không ở đó, cũng như muốn tranh chấp chủ quyền được giải quyết một cách hòa bình.

Chỉ huy Bộ Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương nói việc các tàu hải quân Mỹ thực hiện các hoạt động vì tự do hàng hải ở vùng biển tranh chấp “không phải là một vấn đề hải quân” mà đó là một vấn đề có tác động đến kinh tế toàn cầu và luật pháp quốc tế.

Ông Swift cũng nói tuy Mỹ đang gia tăng hiện diện ở khu vực trong khuôn khổ chiến lược xoay trục, song không cần phải có thêm các cơ sở hải quân của Mỹ ở các nước như Australia.

Theo SCMP, The Star.

Giảm án nhưng vẫn còn đó bất công

Giảm án nhưng vẫn còn đó bất công

Mặc Lâm, biện tập viên RFA
2016-03-17

nguyen-thi-tam-622.jpg

Bà Nguyễn Thị Tâm tại phiên xử phúc thẩm ở Bình Phước hôm 16/3/2016.

Courtesy DLB

Your browser does not support the audio element.

Sau khi em Nguyễn Mai Trung Tuấn bị xử y án trong phiên phúc thẩm của tòa án Tỉnh Long An về “tội cố ý gây thương tích” do chống lại công an khi cưỡng chế đất của gia đình, thì một vụ án khác tại tòa phúc thẩm tỉnh Bình Phước xử hai vợ chồng ông bà Ngô Văn Huynh và Nguyễn Thị Tâm cũng với tội danh “cố ý gây thương tích” nhưng có giảm nhẹ cho hai vợ chồng ông này.

Áp lực của dư luận?

Ngày 16 tháng 3 vừa qua phiên tòa phúc thẩm của tòa án tỉnh Bình Phước đã tuyên án trong vụ án cố ý gây thương tích cho hai bị cáo là dân oan Nguyễn Thị Tâm và chồng là ông Ngô Văn Huynh. Bà Tâm được trả tự do tại tòa với bản án 3 năm tù giam so với ngày bà bị giam giữ là 2 năm 6 tháng 17 ngày thì bà ra tù sớm hơn thời hạn. Riêng ông Ngô Văn Huynh được giảm án còn 3 năm tù giam thay vì 5 năm rưỡi như bản án sơ thẩm trước đây.

Bản án của tôi trước đây tòa sơ thẩm nó xử tôi 4 năm tôi mới kháng án lên phúc thẩm thì ngày hôm qua nó xét xử tuyên án tôi là 3 năm còn bà Tâm thì đã ở như vậy là 2 năm 6 tháng 17 ngày và nó trả tự do cho bà Tâm tại tòa.
-Ông Ngô Văn Huynh

Ông Ngô Văn Huynh là chồng bà Nguyễn Thị Tâm cho biết:

“Bản án của tôi trước đây tòa sơ thẩm nó xử tôi 4 năm tôi mới kháng án lên phúc thẩm thì ngày hôm qua nó xét xử tuyên án tôi là 3 năm còn bà Tâm thì đã ở như vậy là 2 năm 6 tháng 17 ngày và nó trả tự do cho bà Tâm tại tòa.”

Theo luật sư Nguyễn Khả Thành, một trong ba luật sư bảo vệ quyền lợi của ông bà Ngô Văn Huynh thì “Tội cố ý gây thương tích” với khung hình phạt lên đến từ 5 tới 15 năm tù nên tòa giảm án cho vợ chồng ông Huynh bà Tâm là một sự lắng nghe và do áp lực của dư luận. LS Thành cho biết:

“Theo tôi thì giữa bản án đầu tiên thì ông Huynh là người chồng cũng 5 năm rưỡi tù bà vợ cũng vậy 5 năm rưỡi tù so với bản án hiện nay bà vợ được thả ngay tại tòa ông chồng thì mức án chỉ còn 3 năm. Theo tôi thấy thì Hội đồng xét xử đã biết lắng nghe dư luận, lắng nghe những gì mà luật sư trình bày tại phiên tòa, đưa ra những điều không hợp lý trong vụ này. Mặc dù trên mặt giấy tờ nhận định người ta vẫn nói là hoàn toàn họ đúng nhưng với mức án giảm như vậy thì tôi nghĩ rằng chắc chắn cũng có tác động phần nào khi mình đưa ra các bất hợp lý trong vụ án. Với khung hình phạt khởi tố như vậy, khung 3 điều 104 Bộ luật hình sự thì nó có mức án từ 5 đến 15 năm tù, nhưng bây giờ ông chồng còn 3 năm thì chúng tôi nghĩ họ cũng có một sự lắng nghe nào đó khi luật sư đưa ra những vấn đề không hợp lý.”

nguyen-thi-tam-400.jpg

Bà Nguyễn Thị Tâm (phải) và Ông Ngô Văn Huynh (giữa) sau phiên xử phúc thẩm ở Bình Phước hôm 16/3/2016. Photo courtesy of DLB.

Tuy nhiên ông Ngô Văn Huynh, hiện được tòa cho tại ngoại để chữa bệnh, lại cảm thấy không công bằng dù cho bản án đã được giảm xuống cho ông. Ông cho rằng mức giám định y khoa của bên bị hại không chính xác và nhất là hồ sơ y khoa của ông do bị bên bị hại tấn công gây ra lại không được tòa nhìn nhận:

“Tôi không biết bây giờ phải kêu oan như thế nào, phải đi tới đâu rồi phải làm thế nào để trắng án vì thương tích tôi gây ra không tới mức như vậy (43%). Tôi yêu cầu giám định pháp y của phân viện pháp y quốc gia để phân tích vết thương do tôi gây ra và vết thương do bị tai nạn gây nên cho bị hại cũng gần với vết thương gây ra mà đổ trút cho tôi hết bây giờ tôi không có cách nào để mà gỡ rối kể cả 3 luật sư của tôi đã đưa ra những bằng chứng cụ thể nhưng hội đồng xét xử đều bác bỏ hết cuối cùng tôi phải lãnh án 3 năm.”

Ép cung?

Theo ông Huynh kể lại thì miếng đất của gia đình ông bị Cục Thi hành án cưỡng chế giao cho ông Nguyễn Bá Tuyên sau đó ông Tuyên đã lấn đất nhà ông Huynh và chuyện ẩu đã xảy ra khi bà Tâm vợ ông Huynh lượm hạt điều trên phần đất của nhà mình nhưng bị ông Tuyên cho là xâm phạm đất của ông ta. Khi xô xát xảy ra thì hai bên đều có thương tích nhưng do ông Tuyên có thế lực nên cả hai vợ chồng ông Huynh đều bị bắt giam và giấy giám định y khoa chứng nhận ông Tuyên bị thương tật 43%. Vấn đề thế lực được dư luận cho biết đó là anh ruột của ông Nguyễn Bá Tuyên là Nguyễn Bá Hưng, đương kim bí thư xã Đường 10 nơi hai gia đình ông Huynh và ông Tuyên sinh sống.

Giấy giám định y khoa trong trường hợp vợ chồng ông Ngô Văn Huynh tương tự như trong phiên tòa của em Nguyễn Mai Trung Tuấn tại Long An. Số phần trăm vượt mức thông thường có thể nhìn thấy bằng mắt đã làm cho vụ án trở nên mất công bằng nhất là giám định thương tật bao gồm luôn cả những vết thương khác không gây ra trong lúc ấu đả. Ông Huynh cho rằng không tính tới thương tích của gia đình ông là bất công, ông nói:

Thương tích của ba cha con tôi thì tòa không công nhận. Thương tích trong giấy chứng y của tôi do bệnh viện đa khoa huyện Bù Đăng tôi đã nạp vào tòa do bị hại gây ra nhưng tòa không công nhận nhưng với bị hại thì tòa lại công nhận giám định pháp y của Bình Phước là 43%.
-Ông Ngô Văn Huynh

“Thương tích của ba cha con tôi thì tòa không công nhận. Thương tích trong giấy chứng y của tôi do bệnh viện đa khoa huyện Bù Đăng tôi đã nạp vào tòa do bị hại gây ra nhưng tòa không công nhận nhưng với bị hại thì tòa lại công nhận giám định pháp y của Bình Phước là 43%.”

Bên cạnh đó sau khi phiên tòa kết thúc bà Nguyễn Thị Tâm tuy được tự do nhưng vẫn lên tiếng tố cáo đại úy Nguyễn Đình Khuyên là cán bộ điều tra thuộc công an huyện Bù Đăng, trong khi điều tra bà ông Khuyên đã dùng súng đánh đập và bức cung bà. Ông Khuyên còn đập vào cạnh tai bà khiến bà bị điếc một bên tai tới nay vẫn chưa hồi phục. Bà Tâm nói với chúng tôi như sau:

“Ngày 12 tháng 11 năm 2013 ông Nguyễn Đình Khuyên kêu tôi lên điều tra tuy chưa điều tra tôi ngày nào hết mà ổng lấy tờ giấy có kết luận điều tra sẵn, hỏi cung sẵn rồi bắt tôi ký cái kết luận điều tra đó thì tôi không chịu. Ông Khuyên mới nói bà không chịu thì đưa cho tôi tờ giấy viết vào đó và ký vào là không đi khiếu nại tố cáo thì tôi mới thả hai vợ chồng ông bà ra.

Tôi không chịu thì nó bắt đầu ép cung nó đánh tôi rồi bắt tôi quỳ xuống nó dùng dùi cui đánh tôi 28 cái dùi cui. Nó bấm huyệt tay tôi nó xốc tôi lên nó quay rồi nó bấm lổ tai tôi giờ tai tôi bị điếc không nghe được. Tôi thở không nổi hai giò tôi nó quýnh vào nhau. Khi bình thường thì thôi khi trở trời mưa gió thì nó nhức nó xuội luôn đi không được. Ông Khuyên hăm tôi là bà ở trong trại bà chết với tôi, bà ở huyện thì có tay chân tôi còn bà lên tỉnh thì có anh em tôi hết, bà đi đâu cũng không thoát. Tôi cho bà chết trong trại không cho bà sống bà không ra khỏi tay tôi đâu.”

Bản án tuy được dư luận cho rằng đã có tiến bộ so với vụ án của em Nguyễn Mai Trung Tuấn nhưng chính người trong cuộc là hai vợ chồng ông bà Ngô Văn Huynh và Nguyễn Thị Tâm cho là không công bằng với họ cũng khiến dư luận quan tâm hơn về sự công chính, khách quan của các phiên tòa liên quan đến người dân oan vì mất đất đã trở nên bạo động.

Người tự ứng cử tiếp tục ‘vượt rào’ ở Việt Nam

Người tự ứng cử tiếp tục ‘vượt rào’ ở Việt Nam

Tiến sĩ Nguyễn Quang A trước tòa thị chính của một thành phố ở Trung Quốc với chiếc áo No-U phản đối đường lưỡi bò của Trung Quốc ở Biển Đông. Ông là một trong những ứng viên đầu tiên tự ứng cử vào Quốc hội Việt Nam khóa tới.

Tiến sĩ Nguyễn Quang A trước tòa thị chính của một thành phố ở Trung Quốc với chiếc áo No-U phản đối đường lưỡi bò của Trung Quốc ở Biển Đông. Ông là một trong những ứng viên đầu tiên tự ứng cử vào Quốc hội Việt Nam khóa tới.

VOA Tiếng Việt

17.03.2016

Gần 50 người tự ứng cử vào Quốc hội Việt Nam ở Hà Nội vượt qua “trở ngại” là vòng hiệp thương thứ hai, sau khi xuất hiện cáo buộc rằng “có tổ chức phản động” đứng sau một số người.

Truyền thông trong nước đưa tin, Ủy ban Mặt trận tổ quốc thủ đô của Việt Nam hôm 17/3 đã tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ hai để lập danh sách sơ bộ người ứng cử đại biểu quốc hội và gửi lấy ý kiến cử tri nơi cư trú.

Hàng chục người tự ứng cử trên địa bàn, trong đó có tiến sỹ Nguyễn Xuân Diện, nằm trong danh sách gần 100 người đã được thông qua.

Ông Diện cho VOA Việt Ngữ biết:

“Sáng hôm nay, 17/3, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc của thành phố Hà Nội đã tổ chức hội nghị hiệp thương vòng hai để rà soát danh sách đó, và 100% các đại biểu dự hội nghị hiệp thương vòng 2 hôm nay đã biểu quyết và tán thành cả 87 người ứng cử vào đại biểu quốc hội khóa 14, trong đó có 39 người do các cơ quan đoàn thể giới thiệu, và 48 người, người ta tự ứng cử. Như vậy, có thể nói, đến 13 giờ chiều hôm nay, có thể khẳng định rằng trong 48 người tự ứng cử này thì không có một người nào được các thế lực thù địch, hay các tổ chức phản động, tài trợ cả. Nếu có như vậy thì người ta sẽ bị gạt trong danh sách ngay sáng hôm nay”.

Một ngày trước đó, nhiều tờ báo trong nước dẫn nguồn tin giấu tên trong “tiểu ban an ninh Hội đồng bầu cử Quốc gia cho rằng có tổ chức phản động cung cấp tài chính để vận động bầu cử cho một số người”.

Có thể khẳng định rằng trong 48 người tự ứng cử này thì không có một người nào được các thế lực thù địch, hay các tổ chức phản động, tài trợ cả. Nếu có như vậy thì người ta sẽ bị gạt trong danh sách ngay sáng hôm nay.

Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện.

Cáo buộc này, theo tiến sỹ Diện, ngay lập tức đã “gây bức xúc” trong “giới nhân sỹ trí thức, bản thân cá nhân, gia đình, bạn bè” [của những người tự ứng cử], và “họ đã nhanh chóng gửi đơn thư để yêu cầu Hội đồng Bầu cử Quốc gia làm rõ về vấn đề này”.

Trước đó, truyền thông trong nước đưa tin, trong một cuộc tiếp xúc cử tri cũng tại Hà Nội, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nói rằng “không để lọt vào cơ quan lãnh đạo cao nhất của đảng, nhà nước những phần tử thế này thế khác”.

Sau những tuyên bố như vậy, hôm nay, tin cho hay, nhiều ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc đã bày tỏ quan điểm, trong đó có Thiếu tướng Lê Mã Lương. Báo điện tử VnExpress dẫn lời ông Lương nói rằng ông nghĩ “không nên chỉ nói như thế, nếu được hãy cung cấp rõ ràng, cụ thể vì nói như vậy sẽ làm phương hại đến tất cả những người tự ứng cử”.

Tiến sỹ Nguyễn Quang A, một người tự ứng cử khác, nói với VOA Việt Ngữ rằng việc các ứng viên tự đề cử được thông qua là một tín hiệu “tích cực”.

Ông nói thêm:

“Những người tham gia hội nghị hiệp thương lần thứ hai này, mấy hôm trước, họ còn nói loại người này, loại người kia, và họ cũng đưa những tin để lót đường cho việc loại này, nhưng mà sáng hôm nay, các vị tham gia hiệp thương đó đã thông qua mà không loại người nào cả. Trong bối cảnh hiện nay, theo quy định hiện hành, tôi nghĩ đấy là một dấu hiệu tốt”.

Sáng hôm nay, các vị tham gia hiệp thương đó đã thông qua mà không loại người nào cả. Trong bối cảnh hiện nay, theo quy định hiện hành, tôi nghĩ đấy là một dấu hiệu tốt.

Tiến sĩ Nguyễn Quang A.

Truyền thông Việt Nam đưa tin, hôm nay, 100% đại biểu có mặt tại hội nghị Hiệp thương lần thứ hai bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa 14 đồng ý thông qua danh sách 197 ứng viên đại biểu Quốc hội khối trung ương, trong đó có 19 uỷ viên Bộ Chính trị.

Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Nguyễn Thiện Nhân cho biết, sau hội nghị lần thứ nhất ngày 23/2, Thường vụ Quốc hội đã phân bổ khoảng 35 đại biểu là người ngoài Đảng ở địa phương, và đây là con số tối thiểu dự kiến.

Ông Nhân cho biết biết thêm rằng sẽ có “những người ngoài Đảng tự ứng cử, và nếu đủ tiêu chuẩn sẽ được bổ sung ở các hội nghị hiệp thương tiếp theo”.

Chính quyền chưa công bố con số ứng viên tự ứng cử, nhưng theo các nguồn tin, có gần 100 người tự ứng cử trên toàn quốc.

BÀI HỌC TỪ BỤI TRO

BÀI HỌC TỪ BỤI TRO

Hoa và Rác

      Người giúp việc vừa lau chùi bàn ghế trong phòng khách vừa ngắm nghía bình hoa hồng tươi đẹp đang được trân trọng đặt trên mặt bàn bóng láng.
Thấy người giúp việc chăm chú nhìn mình với ánh mắt cảm phục, hoa hồng tỏ ra kiêu hãnh và nói:

– Anh xem trên đời nầy có hoa nào vừa đẹp, vừa sang, vừa thơm ngát như tôi không?

Người giúp việc đáp:
– Sớm muộn gì thì mầy cũng chỉ là rác!

Hoa hồng cảm thấy bị xúc phạm nặng nề trước lời nói đó, nên tỏ ra gay gắt:

– Ta xinh đẹp thế nầy, ta đang toả hương thơm ngát thế nầy, ai cũng quý mến ta; ta được tôn vinh trong phòng khách sang trọng thế nầy, vậy mà nhà ngươi dám xỉ nhục ta, dám gọi ta là rác ư!

Nhà ngươi xúc phạm ta quá đáng.

Người giúp việc bồi thêm:
– Mầy sẽ là bụi tro!

Hoa hồng tức tối đáp lại :
– Nhà ngươi là kẻ ăn nói ngang ngược! Nhà ngươi có biết trong Ngày Tình Yêu, tất cả các đôi nam nữ trên thế giới đều chọn ta để đem tặng cho những người bạn tình yêu quý nhất đời của họ hay không? Nhà người có biết là trong ngày đó, ta được các hoàng tử, các công chúa, những chàng công tử tài hoa, các cô thiếu nữ cao sang đài các… nâng niu ta trên tay, ôm ấp ta vào lòng, quý trọng ta đến thế nào không? Thế mà nhà ngươi dám cho rằng ta là bụi tro ư! Thật không có lời nào xúc phạm đến phẩm giá của ta như những lời ngươi vừa nói.

Người giúp việc bồi tiếp :
– Mầy sẽ là phân bón!

Hoa hồng tỏ ra phẫn nộ :
– Ôi ! Trời ơi là Trời ! Có ai ăn nói hỗn hào như ngươi không! Ta là Hoa Hồng, là Nữ Hoàng của các loài hoa. Nhà ngươi xúc phạm đến ta là xúc phạm đến các chủng loại hoa hồng nói riêng, đồng thời xúc phạm cả mọi loài hoa trên đời, vì ta là Hoa Hồng, là Nữ Hoàng của các loài hoa.

Hoa Hồng giận quá! Cơn giận bốc lên ngùn ngụt khiến hoa hồng ngất đi một hồi lâu mới tỉnh.

Thế là từ lúc đó, cơn giận sôi sục trong lòng đoá hoa hồng khiến nó không ăn, không ngủ, không một phút giây bình an… Và thế là nó héo đi nhanh chóng.

Qua ngày hôm sau, chủ nhà thấy hoa hồng đã héo, vứt nó ra hố rác. Thế là hoa hồng kiêu sa, đẹp lộng lẫy, toả hương thơm ngát làm đắm đuối lòng người, bây giờ trở nên rác, đúng như lời người giúp việc đã nói về nó.

Bởi vì rác hoa hồng nằm chung với các thứ rác khác nên bốc mùi hôi, do đó chủ nhà bảo người giúp việc đốt rác đi. Thế là hoa hồng bây giờ trở thành tro! Đúng như lời người giúp việc đã nói về nó.

Mấy ngày sau, chủ nhà lại sai người giúp việc hốt tro trong hố rác trộn chung với các thứ phân chuồng để đem đi bón ruộng. Thế là hoa hồng bây giờ đã trở thành phân bón! Đúng như lời người giúp việc đã nói về nó, mới ngày hôm kia.

Ôi, kiếp hoa hồng là thế, hôm nay là hoa đẹp lộng lẫy kiêu sa toả hương thơm ngát, ngự trị trong phòng khách xa hoa sang trọng, mai sẽ là rác thối, là tro bụi và cuối cùng là phân bón!

Xin ngẫm lại mà xem. Thân xác chúng ta rồi cũng như thế thôi. Dù hôm nay chúng ta rất xinh đẹp được nhiều người mê say quyến luyến; dù hôm nay chúng ta giàu có sang trọng được mọi người kính nể; dù hôm nay chúng ta thông minh, tài trí được người ta tôn trọng… thì mai đây thân xác chúng ta cũng chỉ là rác, là tro bụi và là phân bón thôi.

Nghi thức xức tro trong ngày thứ Tư Lễ Tro nầy nhắc nhở ta luôn nhớ rằng mai đây chúng ta chỉ là bụi tro.

Ý tưởng nầy được thánh vịnh hôm nay nhắc lại : “Hỡi người! Hãy nhớ mình là bụi tro. Mai sau người sẽ trở về bụi tro.”

Bài học bụi tro

Khi biết thân phận mình rồi chỉ là tro bụi, tôi rút được nhiều bài học hay:
Tôi sẽ không tự cao tự đại, không kiêu căng, vì phận mình là tro bụi, là thứ thấp hèn mà tự nâng mình lên, tự cho mình là lớn lao cao cả hơn người khác là chuyện nực cười.

Tôi sẽ không khinh dể, không xem thường người khác, vì mình là tro bụi thì có đáng xá gì mà dám khinh dể người ta!

Tôi sẽ không chê bai, phê phán, chỉ trích người khác vì mình là tro bụi mà dám lên mặt chê bai khích bác người khác thì thật phi lý và điên rồ.

Và khi bị người ta xem thường, khinh dể, tôi sẽ không hờn, không giận và vui lòng chịu đựng vì mai đây mình chỉ là bụi tro; vô số bụi tro vẫn thường bị chà đạp hằng ngày dưới chân con người cũng là chuyện bình thường thôi !

Hơn hết, một khi biết mai đây mình chỉ là bụi tro, tôi sẽ không dại dội đầu tư tất cả thời giờ, công sức, tài năng, trí tuệ… của tôi để chăm lo cho thân xác nầy, để rồi rốt cuộc, thân xác nầy trở thành bụi tro.

Trái lại, tôi phải dành nhiều thời giờ hơn, nhiều công sức hơn, nhiều tiền bạc hơn… để đầu tư cho đời sống thiêng liêng của tôi, nhờ đó, một khi thân xác nầy trở về với bụi tro thì linh hồn tôi sẽ được chiếm hữu sự sống hạnh phúc vĩnh cửu trên quê trời.

S.T.

Sáng Tạo của “Đỉnh cao trí tuệ loài người”

Sáng Tạo của “Đỉnh cao trí tuệ loài người”

Đường 12 làn của Dubai mất 4 triệu USD/km, dùng 50 năm còn đường Việt Nam mất 20 triệu USD/km, dùng 2 năm

 Tác giả: Theo CafeBiz/TTV

CAU DUBAI

“Một con đường đẹp như mơ của Dubai với 12 làn xe có chi phí xây đường là 4 triệu USD/km, dùng trong 50 năm. Còn ở Việt Nam, chi phí xây đường trung bình là hơn 20 triệu USD/km, dùng trong 2 năm, thử hỏi làm sao phát triển được”.

Nói về cơ hội và thách thức của hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) tới Việt Nam, ông Nguyễn Quang Khai, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Các tiểu vương quốc Ả-rập thống nhất (UAE) đã kể lại một câu chuyện đón đoàn đại biểu Việt Nam trước khi kết thúc nhiệm kỳ Đại sứ vào năm 2011.

Ông Khai đã giới thiệu với đoàn đại biểu do nguyên Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc làm trưởng đoàn 2 địa điểm.

Thứ nhất, con đường xuyên Emirates – một đại lộ với 12 làn xe (mỗi bên 6 làn) đẹp như mơ, không hạn chế tốc độ, chi phí xây dựng tiêu tốn 4 triệu USD cho 1 km đường.

Vậy mà ở Việt Nam, chi phí xây đường trung bình gấp 5 lần con số trên, tới 20 triệu USD/km.

“Tuổi thọ đường của Dubai là 50 năm, còn đường Việt Nam chạy xe 2 năm đã hỏng. Như vậy làm sao Việt Nam phát triển được?”, nguyên Đại sứ Khai đặt câu hỏi.

Điểm thứ 2 ông Khai đưa đoàn đến là Bộ Ngoại giao của UAE – một khu vực gồm 6 villas, rất thưa người. Bộ trưởng của họ cởi mở và sẵn sàng tiếp khách.

“Trong khi đó, Bộ của mình to ra sao? Có bao nhiêu người?”, ông Khai tiếp tục đặt dấu hỏi.

“TPP không phải cây gậy thần. Dubai không có TPP, không có FTA… và họ là thành phố số 1 thế giới. Ngoài mức thuế hải quan 5%, doanh nghiệp không phải chịu một loại thuế gì”.

“Doanh nghiệp muốn vào Dubai, visa tự do. Doanh nghiệp muốn vào Việt Nam thì sao? Phải xin visa hết 7 ngày, thì ai vào?”

Dubai là một mẫu hình rất nhiều điều đáng học, TS. Võ Trí Thành – nguyên Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) nhận định.

Ông Thành cho rằng, Việt Nam cần tự thân vận động, phải tự tin, học hỏi và kết nối để tận dụng được cơ hội và vượt qua những thách thức do TPP mang lại.

Văn hóa… nhang khói

Văn hóa… nhang khói
Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Tôi ra tù năm 1982. Bảy năm qua các trại cải tạo, tôi hiểu được những người Cộng Sản nhiều hơn ngày trước. Sau khi ra tù, về lại Sài Gòn, tôi lại hiểu được những người Cộng Sản hơn những ngày còn trong nhà tù. Cán bộ coi tù dù có chức phận đi nữa thì số phận cũng không hơn gì thằng tù, cũng thâm sơn cùng cốc, cũng bữa sắn bữa ngô, thằng tù phải lên rừng xuống rẫy giữa mùa Đông giá rét, hay trời Hè nóng nực, thì thằng cai tù cũng phải vác súng đi theo. Gia tài cai tù thì áo quần mỗi năm cũng chỉ hai bộ, đôi dép râu vừa mang trong chân vừa để chà lưng lúc tắm, cũng có thể để gối đầu lúc ngủ, thêm một cái bàn chải đánh răng, một cái chén ăn cơm với đôi đũa mang theo. Sang hơn thì có cái ca nhôm uống nước, nhưng không thì cơm rồi, rót nước vào chén cũng xong.

(Hình minh họa: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Cán bộ cấp cao còn có cái “xắc cốt” đeo kè kè bên mình.

Năm 2002, tỉnh Quảng Trị lắp đặt hệ thống thoát nước tại cổ thành Quảng Trị đã phát hiện ra một chiếc hầm chữ A, trong hầm còn nguyên năm bộ hài cốt của lính miền Bắc trong tư thế đang ngồi, trong đó có bộ hài cốt của một sĩ quan, Thượng Úy Lê Binh Chủng, chỉ huy phó chính trị của một tiểu đoàn. Duy nhất bên bộ hài cốt này có chiếc “xắc cốt” da Liên Xô. Trong “xắc cốt” người ta tìm thấy: Một quyển nhật ký một nửa ghi chép công việc, một nửa viết cho cho gia đình, một quyển điều lệ đảng, một quyển 10 điều chính sách của mặt trận GPMN, một chiếc lược làm bằng nhôm, và một cái bút máy Trường Sơn có khắc dòng chữ tặng. Trong cuốn nhật ký còn kẹp những lá thư của người vợ từ quê nhà miền Bắc gửi cho chồng.

Gia tài của một binh sĩ hay một sĩ quan chỉ có ngần ấy.

Lúc không có gì trong tay, đến cả một đồng bạc lẻ, người ta dễ nói chuyện lý tưởng hay hy sinh. Năm người lính Bắc Việt trong chiếc hầm này không chết vì súng đạn mà vì chết đói và hầm bị gạch đá lấp kín, vì lý tưởng “chết là chết cho Liên Xô-Trung Quốc!”Năm 1982, tức là năm năm sau khi “giải phóng,” cán bộ Cộng Sản vào Nam không còn nghèo nữa, họ có thể vơ vét một ít chiến lợi phẩm là “tàn dư” hay “phồn vinh giả tạo” của miền Nam đem về Bắc đắp đổi, hay được ở lại miền Nam là “chuột sa” vào “hũ nếp” Mỹ Ngụy.

Nhà tôi ở Quận 10, Sài Gòn, gần đường Minh Mạng, là nơi chuyên bán đồ mộc. Tôi không chú ý đến chuyện cán bộ miền Bắc mua sắm, bàn ghế, tủ, giường… vì bây giờ họ có nhà cửa, cơ ngơi, sắm đồ đạc là chuyện thường tình. Điều tôi chú ý là cán bộ (giờ đó hầu hết còn mặc đồ bộ đội) đã chở trên xe gắn máy hay những chiếc xích lô những chiếc tran thờ còn mới mua từ những tiệm mộc đem về nhà.

Đó là những tran thờ Thần Tài, Ông Địa, dấu hiệu của chuyện bảo vệ tư hữu, tức là của cải mình có từ vợ con, nhà cửa, tiền của đến chức vụ, quyền lực.

Khi con người chỉ có một cái chén và một đôi đũa, ăn xong, tự rửa lấy và đeo bên mình thì không hề sợ mất và cũng chẳng nhờ con người hay ông Thần, ông Thánh nào giữ giùm.

Bây giờ cướp được chính quyền rồi thì cán bộ có chức phận, có nhà cửa, có tiền bạc. Thực tế là phải nuôi con chó giữ nhà để đêm hôm canh chừng trộm đạo, chức sắc lớn thì có nhân viên bảo vệ, nhà cửa thời đại này chắc chắn phải gắn máy quay phim. Chưa đủ, phải nhờ thêm đến Thần Linh, tức là Ông Địa, ông Thần Tài để giữ của, giữ chức vụ, tức là giữ ghế cho bền. Bàn thờ Ông Địa, ông Thần Tài thì phải nhang khói suốt năm, khi điếu thuốc lá, khi nải chuối, đối với cấp trên cũng vậy phải nhớ “nhang khói” đừng quên. Cấp trên thì không cần chuối, cũng chẳng cần gà, cũng chẳng cần điếu thuốc 555 như thời bao cấp. Bây giờ cái mặt “bác Hồ” cũng chẳng còn giá trị gì nữa mà phải là chân dung quý vị tổng thống Mỹ.

Thói quen là văn hóa, văn hóa hối lộ đã tràn qua địa hạt tín ngưỡng hay mê tín, dân tình trong đó tất nhiên có cán bộ nhét tiền vào tay Phật, đầu rùa, bỏ tiền vào ngai vua, bỏ lên bài vị, tượng La Hán, Kim Cương bị “ép” cầm tiền lễ ở tay, bị nhét dưới râu, thậm chí nhét tiền vào thạch nhũ khi thăm động. Hối lộ để cầu xin may mắn, tiền của vào nhiều, thăng quan tiến chức, giữ yên ổn cho gia đình và bản thân mình.

Ngày xưa, nghe lời dụ dỗ của đảng, thanh niên miền Bắc “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước,” trên đầu nón cối, dưới đất dép râu, không biết cầu xin, van vái ai, cuộc đời cũng chẳng biết đến nhang khói là gì. Ngày nay khi đã có chính quyền trong tay, với thế giặc phương Bắc, chỉ biết có một điều cư xử là cúi lạy. Khi người dân cúi lạy xin tha mạng trước bạo lực, thì chính phủ phải lấy đó làm nhục, vì chính phủ là đại diện của dân, chính phủ không che chở được cho dân, thì dân lạy vái cũng như chính phủ lạy vái.

Cả nước ngày này không có gì gọi là dũng khí, ngay cả báo chí Việt Nam cũng đã than thở đất nước đã đến hồi “mạt vận.” Thay vì ngẩng cao đầu, đứng thẳng lưng, thì cả biển người lại sống bằng quỳ lạy dập đầu và đi xin xỏ Thần Thánh ban phát sự giàu có, vinh hiển, công danh sự nghiệp.

Ở miền Bắc Việt Nam rộ lên cái gọi là lễ hội văn hóa, tôn giáo, với cảnh chen chúc giẫm đạp nhau nơi đền chùa, dâng đội mâm cao cỗ đầy, sì sụp lạy lục, lâm râm khấn vái, đốt vàng mã cho thần thánh, để xin xỏ, năn nỉ xuýt xoa, rồi giành giật nhau, đánh nhau u đầu chẩy máu để lấy hay cướp lộc mang về.

Xin một cái ấn đền Trần, là được may mắn thăng quan tiến chức. Chính ông Nguyễn Thiện Nhân, khi còn làm phó thủ tướng kiêm bộ trưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, đã “đích thân” đóng ấn để phát cho du khách thì còn ra cái sĩ diện quốc gia gì nữa!

Ba triệu thanh niên miền Bắc với “cái chén ăn cơm và đôi đũa giắt lưng” đã nằm xuống cho ba triệu đảng viên Cộng Sản hôm nay chỉ biết lạy lục kẻ thù và nhang khói Thần Thánh.

Trong bức di thư của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh chết tại cổ thành Quảng Trị, để lại, có viết cho vợ:

-“Thôi nhé em đừng buồn, khi được sống trong hòa bình hãy nhớ tới anh!”

Theo tôi nghĩ, chỉ tiếc thương cho những cái chết trở thành vô nghĩa như của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh. Máu xương của hàng triệu người đó, không phải hy sinh để chúng ta có một đất nước như ngày hôm nay!

CÔ ĐƠN VÀ THẤT VỌNG

CÔ ĐƠN VÀ THẤT VỌNG

R. Veritas

Một người đàn ông sau những ngày đắm chìm trong sự cô đơn và thất vọng đã quyết định thắt cổ tự tử. Sau khi đã thắt dây thòng lọng quanh cổ và cột dây vô một cành cây. Ông nhảy vội từ cành cây xuống và nói:

– Tạm biệt thế giới tàn ác, buồn thảm và xấu xa này.

Tuy nhiên sợi dây bị đứt và ông té xuống đất mà vẫn sống như thường. Bực quá, ông về nhà lấy khẩu súng lục và bắn xuyên qua trán, nhưng cò súng gẫy và súng cũng chẳng nổ được. Người đàn ông vẫn khăng khăng không chịu thôi. Ông chạy xuống bếp và lấy con dao chặt cánh tay mình, nhưng ông rất ngạc nhiên vì dao cùn quá nên da ông cũng không đứt. Quá giận dữ, ông quyết định đi mua thuốc độc. Ông chạy ào ra đường và dừng lại một lúc bên vệ đường. Tên qủy từ đầu đến giờ vẫn theo đuổi người đàn ông sung sướng lắm và thì thầm thúc giục ông:

– Sao lâu thế? Lẹ lên! Hãy mua thuốc độc và uống đi! Ta sắp sửa lấy được mạng của ngươi rồi.

Người đàn ông lập tức trả lời tên quỷ:

– Sao mày ngu thế? Mày đui à? Hàng loạt xe nối tiếp nhau đang chạy như bay, tao băng qua bây giờ thì chết làm sao?

***

Sống trên cõi đời, thế nào cũng có lúc ta cảm thấy cô đơn. Sự cô đơn rất dễ làm cho chúng ta buông thả và có thái độ tiêu cực. Thường thì sự cô đơn sẽ dẫn đến một tâm trạng buồn tủi. Hơn nữa, nếu ta cứ để mặc cho nỗi buồn cuốn ta đi thì sức mạnh của nó sẽ tăng lên cấp số nhân và tàn phá tâm hồn ta đến tan nát, nó rút hết nhuệ khí của ta và làm cho ta trở nên kiệt quệ.

Cô đơn trong nỗi đau sẽ dẫn ta đến sự cô độc. Chính nỗi buồn và sự cô đơn đã đưa người đàn ông trong câu chuyện trên đây đi đến quyết định đầy tiêu cực là tìm đến cái chết bằng bất cứ giá nào. Chỉ có cách duy nhất giúp ta thoát khỏi những nỗi cô đơn và những hệ quả tiêu cực là chúng ta hãy dừng lại để suy nghĩ về những giá trị của con người và của cuộc sống.

Như chúng ta quan sát thấy trong câu chuyện vui trên, chỉ một chút dừng lại bên vệ đường cũng đủ làm cho người đàn ông trên nhận ra rằng dù sao cuộc sống vẫn còn đáng sống, cuộc sống tự nó vẫn có giá trị. Hơn nữa, là người Kitô, chúng ta còn có mẫu gương của Chúa để chiến thắng và thách thức sự cô đơn. Người biết đi vào trong thinh lặng để trở về với Thiên Chúa Cha, để lắng nghe, để xác nhận sứ mạng được Chúa Cha trao phó là chu toàn thánh ý Chúa Cha, Đấng đã sai Người vào trần gian:

“Lạy Cha, xn hãy cất lấy chén này khỏi con, nhưng xin đừng theo ý riêng con mà vâng theo ý Cha mà thôi”.

Chúa Giêsu luôn hướng về Cha, vì Người biết rằng trong mọi hoàn cảnh, mọi thăng trầm và mọi đảo điên của cuộc sống chỉ có ý của Thiên Chúa Cha mới giải thoát Người. Nhất cử nhất động của Chúa Giêsu đều nhằm thực hiện thánh ý Chúa Cha. Vậy, bằng hết khả năng của mình, chúng ta hãy sống cho trọn vẹn những giá trị cao đẹp của con người với ý thức rõ ràng về sứ mạng lãnh nhận từ Chúa, với quyết tâm thực hiện thánh ý Chúa trong mọi sự.

Chắc hẳn có những lúc chúng ta cảm thấy cô đơn, cảm thấy đơn thương độc mã, cảm thấy bất lực, mỏng dòn, khi đó ta cần biết mình phải nương tựa vào Chúa, Đấng đã sống đến tột cùng của sự cô đơn và những yếu đuối, nhưng đã toàn thắng và luôn sẵn sàng nâng đỡ ủi an chúng ta.

***

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã sống và chia sẻ với chúng con trong nỗi cô đơn tột cùng của con người, trong bản tính nhân loại. Xin ban ơn trợ lực để chúng con luôn biết hướng lên Ngài, tìm ra con đường Ngài muốn chúng con đi, vì chúng con biết rằng chỉ có Chúa là Đấng giải thoát chúng con khỏi những thăng trầm của cuộc sống, nhờ đó, chúng con sẽ vững vàng bước đi trong hành trình đức tin.

R. Veritas

Xin cho con có được những gì con muốn, để những gì con có đều là của Chúa

CO DON

 

NGẪM NGHĨ VỀ MỘT MÙA CHAY NỮA

NGẪM NGHĨ VỀ MỘT MÙA CHAY NỮA

Thiên Ân

Khi nói đến Mùa Chay, người ta thường hay đề cập đến những từ như ăn chay, giữ chay, hoán cải, trở về, cầu nguyện, sám hối, bố thí, chia sẻ bác ái cho người nghèo kèm theo.  Nhưng tất cả những điều đó chỉ là những phương thế để dẫn đến một mục đích tối hậu là “đói khát Thiên Chúa.”

Là người giáo dân, khi nghe cụm từ “đói khát Thiên Chúa,” tôi thấy thật lạ tai!  Tôi thầm nghĩ chỉ có các tu sĩ, linh mục và những ai muốn làm… thánh sống, mới có khát khao ấy, chứ còn mình – với tâm hồn lạnh tanh, làm sao có tâm trạng đó được!

MUA CHAY

Tuy nhiên, sau một thời gian ngẫm nghĩ cặn kẽ, với nhiều Mùa Chay tiếp nối, nhờ ơn Chúa, tôi chợt khám phá ra, khao khát Thiên Chúa phải trở nên mẫu số chung và là lẽ sống của mọi Kitô hữu.  Câu chuyện sau đây đã giúp tôi tỉnh ngộ:

Thuở xưa, vua Salomon nổi tiếng thông minh, đã đưa ra một câu đố cho quan cận thần: Tìm đâu ra một chiếc vòng mà khi nhìn nó, người hạnh phúc hóa ra u buồn; người đau khổ nhìn nó thì lại thấy niềm vui?

Nghe vua nói thế, quan sa sầm nét mặt, vì biết đó là một bài toán khó có lời giải đáp vẹn toàn.  Quan lên đường chu du khắp năm châu bốn bể mong tìm ra chiếc vòng kỳ diệu.  Lang thang từ các làng mạc đến chốn thị thành nhiều tháng ngày, cực nhọc trăm bề, mà vẫn vô vọng, chưa tìm ra lời giải đáp nào cho nhà vua, khi kì hạn đã gần hết.

Bỗng một hôm, khi đến một làng, ông gặp một ông lão ngồi bán đồ linh tinh ở ven làng.  Ông lão ngồi bán nhưng như không bán, ông cứ đưa mắt nhìn xa xôi, rồi nhắm mắt trầm tư trong tư thế thiền!

Quan ghé vào tai ông lão hỏi nhỏ:

– Ông ơi!  Ông có bán chiếc vòng nào, khi nhìn nó, người vui hóa buồn; người buồn hóa vui không ông?

Lão ông không nói gì, lẳng lặng mở chiếc túi vải đeo bên mình ra và lấy một chiếc vòng bên trên có hàng chữ: “điều đó rồi cũng qua đi,” rồi trao cho ông quan.

Thì ra là như vậy, tất cả mọi sự ở trên đời này rồi cũng trôi qua.  Dẫu là sướng vui hay vất vả, đau khổ, tất cả rồi cũng sẽ tan bay.  Chỉ có Thiên Chúa mới chính là suối nguồn hạnh phúc chân chính và vĩnh cửu.

Bằng cách này hay cách khác, hành động của mọi người đều nhằm mưu cầu hạnh phúc đời này và cả đời sau, như niềm tin đa số tín hữu.  Mùa Chay cho ta cơ hội để tái định hướng hạnh phúc mà mình đang tìm kiếm.  Đây là mùa sống chậm, để sống đậm chiều kích tâm linh, nâng cao chất lượng nội tâm.  Mùa Chay cũng là thời gian phục hồi, bồi dưỡng tâm hồn.  Là lúc “thuận tiện,” là “giờ cứu độ” để ta chuẩn bị tâm hồn đón mừng lễ Chúa Phục Sinh và kết hiệp với Chúa Kitô Phục sinh.

Hành trình hoán cải và canh tân trong Mùa Chay gồm các bước sau:

–       Ý thức tội lỗi xúc phạm đến Thiên Chúa

–       Hối hận tội mình đã phạm: ray rứt, đau buồn (nhưng không mặc cảm tội lỗi)

–       Gặp gỡ Thiên Chúa trong nội tâm

–       Quyết tâm thú nhận tội – đón nhận Bí tích Hòa giải

–       Thực sự sửa đổi đời sống (thường ta hay quên bước này)

Thế nên, tâm trạng đói khát Thiên Chúa không thể chỉ là tâm trạng của riêng giới nào, mà phải là tâm trạng của con cái Chúa, thái độ của những ai muốn đi theo làm môn đệ của Đức Giêsu Kitô.

Lạy Chúa,
Bước vào Mùa Chay thánh này, con mang theo gì?
Nếu không phải là những hành lý nặng nề của con,
Với tâm tư nặng trĩu những lo toan, gánh bổn phận hàng ngày
Cơn mê bã lợi thú, danh vọng phù hoa đang bủa vây
Chúa ơi!  Chúng giăng bẫy rình rập con tứ phía
và kiềm hãm con tiến bước đến bên lòng Chúa khoan nhân.

Con vẫn biết: chúng chỉ là phù vân và sẽ qua đi
Nhưng thú-lợi-danh mạnh mẽ lôi kéo con từng giờ
Và vẻ bề ngoài của chúng thật hấp dẫn, êm ái!
Trong quá khứ, con đã không đủ sức để vượt thắng chúng.
Con đã sa lưới kẻ thù, vấp ngã thê thảm, té đau từ trên cao.

Chúa ơi!  Chẳng lẽ Mùa Chay này cũng sẽ trôi qua vô vị
và con lại tiếp tục ra đi với hai bàn tay lấm lem?

Tâm hồn con đang tan nát, rã rời,
như kẻ dở sống, dở chết,
khi kẻ nội thù như sư tử đang rình rập, chờ dịp cấu xé con.

Giờ đây, con chỉ có thể trông mong Chúa xót thương
Và cậy dựa vào quyền năng của Chúa.
Con không dựa dẫm vào người đời,
vì họ không thể giúp con tránh xa tội.

Chúa ơi!  Xin cứu giúp con người đầy yếu đuối của con.
Xin ban ơn hoán cải, để con cương quyết dứt bỏ tội lỗi,
Can đảm khước từ bóng tối
Và vui sống như con cái của sự sáng
Xin đừng để cho bất cứ điều gì chiếm hữu lòng con,
ngoại trừ một mình Chúa.
Hãy cho con không ngừng đói khát Chúa,
Hạnh phúc đích thực và trường tồn của đời con!

Thiên Ân