Báo Hoa ngữ ở Los Angeles trả $7.8 triệu dàn xếp vụ kiện tập thể

Báo Hoa ngữ ở Los Angeles trả $7.8 triệu dàn xếp vụ kiện tập thể
Nguoi-viet.com

LOS ANGELES, California (AP) Tờ báo Hoa Ngữ Chinese Daily News (CDN) sẽ trả số tiền $7.8 triệu để dàn xếp vụ kiện kéo dài đã một thập niên nay về tố giác cho rằng họ không trả tiền lương làm việc thêm giờ của hơn 200 nhân viên, theo một thông cáo đưa ra hôm Thứ Sáu.


Tòa soạn nhật báo Chinese Daily News ở Los Angeles. (Hình: Google Map)

Ðơn kiện có từ năm 2004 này nói rằng tờ báo Hoa ngữ có số phát hành cao nhất nước Mỹ này buộc các ký giả, nhân viên thương mại, sản xuất và ngay cả tài xế xe giao hàng phải làm việc nhiều giờ, sáu ngày một tuần mà không trả tiền làm việc thêm giờ, không cho giờ ăn hay giờ nghỉ. Ðơn kiện cũng cho hay tòa báo không trả tiền nghỉ phép của nhân viên.

Tờ China Daily News có số phát hành vào khoảng 120,000 và đặt trụ sở ở Monterey Park, một khu ngoại ô của Los Angeles, nơi có đông đảo người gốc Á Châu sinh sống, đặc biệt là người gốc Ðài Loan vốn kéo đến nơi này trong thập niên 1980.

Tờ báo cũng là một trong mấy tờ nhật báo và tuần báo phục vụ cộng đồng Á Châu khắp vùng San Gabriel Valley, gồm cả cư dân từ Trung Quốc, Ðài Loan và Việt Nam.

Ðơn kiện tập thể này được sự theo dõi chăm chú của người Hoa sống ở trong và ngoài nước Mỹ.

Ðơn kiện này lên tới Tối Cao Pháp Viện, vốn gửi trả lại cho tòa kháng án năm 2011.

Cả hai bên đạt được thỏa thuận dàn xếp hồi năm ngoái. Tuy nhiên, thỏa thuận này chỉ mới được một thẩm phán chấp thuận hồi tháng qua và còn chờ thẩm phán này quyết định việc chia tiền cho những người đi kiện.

Số tiền $7.8 triệu này gồm cả tiền lời và tiền phạt việc vi phạm luật lao động.

Các chi phiếu trả tiền sẽ được gửi ra tuần tới, theo Luật Sư Randay Renick, đại diện người đi kiện.

Các nhân viên của tờ báo sẽ nhận từ $10,000 đến $100,000 tùy theo việc làm, thời gian làm việc và tổng số thời gian làm việc thêm giờ, theo ông Renick. Ông cũng cho hay số tiền được trả trung bình là $19,000.

Tòa báo không nhận là đã làm điều gì sai trái trong vụ này. Tờ CDN do công ty United Daily News Group of Taiwan làm chủ, vốn cũng ấn hành hơn một chục tờ báo khắp thế giới. (V.Giang)

 

Lý Chánh Trung có là trí thức cánh tả?

Lý Chánh Trung có là trí thức cánh tả?

Bùi Văn Phú Gửi cho BBC từ Hoa Kỳ

BBC

Giới trí thức thời Việt Nam Cộng hòa ai cũng nghe biết đến giáo sư Lý Chánh Trung qua những bài viết gây sôi nổi về tinh thần dân tộc, lòng yêu nước và về tinh thần tôn giáo nhập thế.

Qua những tập sách, cùng hàng trăm bài báo, ông đưa ra lý luận triết học, những cái nhìn từ đường phố, qua đó phản ánh quan điểm của ông là chống lại sự can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam, là mơ ước một xã công bằng, không còn cảnh người giầu bóc lột người nghèo.

Trong sinh hoạt của giới trí thức thời đó, giáo sư Trung không chỉ ngồi trong tháp ngà hay quanh quẩn ở sân trường, nơi giảng đường đại học để nói những điều lý thuyết mà ông đã dấn thân, xuống đường cùng với những nhà đối lập, những lãnh đạo tôn giáo, với thanh niên, sinh viên vì mục tiêu độc lập, tự chủ của đất nước. Ông tham dự ngày Ký giả Ăn mày dưới đường phố Sài Gòn, ông đến chùa Quảng Hương dự lễ ra mắt của Mặt trận Nhân dân Cứu đói.

Sinh hoạt của các phong trào, mặt trận này sau ngày 30/4/1975 đã được nhiều lãnh đạo thành đoàn xác nhận là những bình phong hoạt động của cộng sản.

Qua tác phẩm “Tìm về dân tộc”, xuất bản lần đầu năm 1967, khi tình hình chính trị miền Nam đầy rối ren và lính chiến đấu Mỹ đã được đưa vào Việt Nam, ông lên tiếng cảnh báo về một đất nước đang rơi vào hoàn cảnh bị đô hộ bởi người Mỹ, sau nhiều năm bị đô hộ bởi thực dân Pháp, cho dù ông đã được theo học ở các “trường dòng”, tức trường công giáo, từ Taberd ở Sài Gòn, Thiên An ở Huế và ông đã theo đạo công giáo năm 20 tuổi. Năm 1950 ông đi du học Bỉ, tại trường Đại học Công giáo Louvain và tốt nghiệp cử nhân ban tâm lý học và cử nhân chính trị học.

Năm 1956 ông về nước, làm việc tại Bộ Giáo dục với chức công cán ủy viên rồi lên đến đổng lý văn phòng của bộ này. Ông cũng dạy triết tại các đại học ở Sài Gòn, Huế, Đà Lạt.

Ông chủ trương một đất nước hoàn toàn độc lập, không chấp nhận có trường Tây trên lãnh thổ miền Nam, vì cho rằng như thế sẽ đào tạo ra một lớp người việt vong bản, mất gốc ngay trên quê hương. Ông kêu gọi phụ huynh cho con em theo học trường Việt cho dù số học sinh quá đông, đến 60 trong mỗi lớp, và trường sở phương tiện giáo dục còn thiếu thốn.

Rồi những năm sau đó ông lại chê hệ thống giáo dục của miền Nam khi ông viết trên báo Điện Tín ngày 1/3/1972:

“Ngay trong một môi trường tương đối thuận lợi như VĐH Đà Lạt, tôi thấy công cuộc giáo dục chẳng đi tới đâu hết cả, ngoài cái việc cấp phát hằng năm một mớ văn bằng. Những văn bằng mỗi năm thêm mất giá! Chẳng những mất giá vì trình độ sút giảm mà còn mất giá vì văn chương chữ nghĩa ngày nay đã rẻ hơn bèo, vì bực thang giá trị đã hoàn toàn đảo lộn, vì chiến tranh đã bít nghẽn mọi tương lai”. [“Đối diện với chiến tranh” tr. 165. Lý Chánh Trung, Nxb Trẻ 2000]

Từ những cái nhìn về triết học, tôn giáo, và trên quan điểm dân tộc giáo sư Lý Chánh Trung đã tham gia vào chính trị, vào các phong trào tranh đấu.

Trước Tết năm 1968, ông cùng 65 giáo chức đại học ký tên vào một thư ngỏ với mục đích kêu gọi ngưng bắn giết trên quê hương: “Để có không khí thích hợp cho những cuộc đối thoại cởi mở giữa những phe tham chiến và nhất là để cứu hàng ngàn người tiếp tục đổ máu trong khi những người có trách nhiệm đang đi tìm sáng kiến giải quyết xung đột, chúng tôi thiết tha kêu gọi các phe tham chiến hãy kéo dài vô hạn định thời gian hưu chiến nhân dịp Tết Nguyên đán và tìm phương thức tiến ngay đến hòa bình thực sự”. [Báo Sống Mới ngày 24/1/1968, in lại trong “Đối diện với chiến tranh” tr. 22]

Một tuần sau khi lời kêu gọi được đưa ra, bộ đội cộng sản Bắc Việt mở những cuộc tấn công vào các tỉnh thành miền Nam ngay trong những ngày đầu năm âm lịch. Đó là Tổng Tấn công Tết Mậu Thân đã đi vào lịch sử của cuộc chiến tranh tàn khốc trên quê hương.

Lời kêu gọi đó của những người trí thức, vì thực sự muốn hòa bình hay việc làm này đã được một ai trong lãnh đạo thành đoàn cộng sản chỉ đạo, để che đậy cho chiến dịch tấn công quân sự đang được khai triển? Nghi vấn đó cũng đã được nhiều người đặt ra cho giáo sư Lý Chánh Trung: Ông chỉ là người trí thức công giáo cánh tả, thuộc Thành phần thứ Ba hay ông được cộng sản móc nối để hoạt động nội thành?

Trong quá khứ ông đã phát biểu rằng ông không là đồng chí với người cộng sản mà chỉ đồng hành với họ. Ông được cho là đứng chung với những nhóm tranh đấu cho một miền Nam không lệ thuộc ngoại bang, không cộng sản.

Nhưng nhìn lại các phong trào tranh đấu chống chính quyền ở miền Nam, sau ngày 30/4/1975 nhiều cán bộ nội thành đưa ra những bằng chứng cho thấy nhiều tổ chức cánh tả và Thành phần thứ Ba đã được điều phối bởi cộng sản.

Những nhân vật chính trị như Ngô Công Đức, Nguyễn Văn Binh, Hồ Ngọc Nhuận, Dương Văn Ba, Lý Quý Chung; tôn giáo như Phan Khắc Từ, Trương Bá Cần, Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín và thành phần sinh viên học sinh như Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Hiếu Đằng, Dương Văn Đầy, Lê Văn Nuôi, Nguyễn Công Khế, Ngô Kha, chưa kể đến những người đã quyết định vào bưng theo cộng sản như Trương Như Tảng, Lê Văn Hảo, Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường v.v…

Sau ngày 30/4/1975 giáo sư Lý Chánh Trung đã bị nhiều sinh viên một thời xem ông là thần tượng phản đối vì thái độ ủng hộ chính quyền mới của ông trước vấn đề sinh viên không được học hành mà bị bắt buộc phải đi nghe nhà nước tuyên truyền chính trị, về vấn đề học tập cải tạo kéo dài đối với quân cán chính miền Nam.

Trong khi đó ông tham gia Mặt trận Tổ quốc, là ủy viên ban chấp hành trung ương, làm phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh và được đưa vào Quốc hội các khoá VI, VII và VIII.

Ông chỉ bị thất sủng và sau đó bị loại ra khỏi các chức vụ nhà nước sau khi ông phát biểu năm 1988 về việc bầu Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, tức thủ tướng, mà chỉ có một ứng cử viên. Ý của ông là không muốn bầu cử độc diễn vì trước đây ở Sài Gòn ông đã chống lại ông Nguyễn Văn Thiệu ra tranh cử chỉ có một mình vào năm 1971.

Khoảng thời gian đó là lúc có chính sách đổi mới về kinh tế và cởi trói về văn nghệ nên ông còn mời nhà văn Dương Thu Hương đến nói chuyện về những tác phẩm của bà.

Giáo sư Trung cũng được chú ý đến nhiều khi viết bài trên báo đưa ra nhận định là môn học chính trị về triết thuyết Mác-Lê không còn hợp thời đại vì thày thì không muốn dạy và trò cũng không còn muốn học.

Sau khi các chế độ cộng sản ở Đông Âu sụp đổ và Liên bang Xô-viết tan rã thì ở Việt Nam mọi thứ lại bị xiết lại, với cá nhân ông, cũng như trong sinh hoạt của giới trí thức, văn học.

Nhưng trong 40 năm sống với cộng sản, ông dường như im lặng trước một xã hội vẫn đầy bất công, nền giáo dục xuống cấp.

Giới trí thức miền Nam cũ mong đợi ông sẽ có những thái độ với nhà cầm quyền cộng sản trước những bế tắc của xã hội do bởi chính sách độc tài chuyên chính dựa trên chủ thuyết Mác-Lê, như một số nhân vật đã lên tiếng là Tướng Trần Độ, nhà toán học Trần Xuân Bách, linh mục Chân Tín, giáo sư Nguyễn Ngọc Lan, luật sư Đoàn Thanh Liêm, giáo sư Đoàn Viết Hoạt, luật sư Lê Hiếu Đằng v.v… Nhưng ông đã không lên tiếng.

Kể từ đầu thập niên 1990 ông hầu như im lặng trước những vấn đề của thời cuộc.

Đến năm 2000, 50 bài viết của ông từ thời Việt Nam Cộng hòa được cho phép in lại trong tập “Đối diện với chiến tranh”. Đó là những bài chọn ra từ 300 bài viết đã được đăng trên các báo ở miền Nam trước năm 1975.

Nhiều người trách thái độ xu thời theo cộng sản của ông. Theo hồi ký của Võ Long Triều, một người từng là bạn của giáo sư Trung, thì đó là vì thái độ ham danh lợi của ông.

Dưới thời Việt Nam Cộng hòa giáo sư Lý Chánh Trung năng nổ xuống đường, có dăm bảy tác phẩm được xuất bản và rất nhiều những bài chính luận, nhận định về sự đồi trụy văn hóa, bất công xã hội, về nguy cơ bị nô lệ ngoại bang đã được đăng trên các báo và tạp chí.

Nhưng trong 40 năm sống với cộng sản, ông dường như im lặng trước một xã hội vẫn đầy bất công, nền giáo dục xuống cấp, hòa hợp hòa giải dân tộc không có, quyền tự quyết không được tôn trọng là những điều trước đây ông luôn quan tâm và lên tiếng.

Giáo sư Lý Chánh Trung sinh ngày 23/12/1928 tại Trà Vinh, mất ngày 13/3/2016 tại Sài Gòn, hưởng thọ 89 tuổi.

Các tác phẩm của ông: Cách mạng và đạo đức (1960), Ba năm xáo trộn (1967), Tìm về dân tộc (1967), Tìm hiểu nước Mỹ (1969), Những ngày buồn nôn (1972), Tôn giáo và Dân tộc (1973) và Đối diện với chiến tranh (2000).

Tác giả là một nhà báo tự do hiện sống tại vùng Vịnh San Francisco, California.

NGƯỜI CHA CỦA ĐỨC GIÊSU

NGƯỜI CHA CỦA ĐỨC GIÊSU

Trần Duy Nhiên

Nếu bạn hỏi mười người xem, ngoài Ðức Mẹ, vị thánh lớn nhất đối với họ là ai, thì có sáu đến bảy người sẽ nói rằng đó là thánh Giuse.

GIUSE

Nhưng nếu đề nghị họ kể bạn nghe những điều thánh Giuse đã làm, thì rất ít người có thể nói một cái gì mới lạ: họ sẽ bảo rằng thánh Giuse là cha nuôi của Chúa Giêsu, hoặc kể vài chuyện truyền kỳ về ngài mà ta không biết đúng sai đến độ nào: ví dụ như câu chuyện chàng thanh niên Giuse được chọn làm hôn phu của cô Maria vì cây gậy của chàng trổ hoa…

Ta hãy trở lại Kinh Thánh để xem các tác giả viết gì về thánh Giuse.

Thánh Mat-thêu giới thiệu như sau: “Bà Maria, thân mẫu của Ðức Giêsu, đính hôn với ông Giuse, nhưng trước khi chung sống thì đã có thai bởi phép Chúa Thánh Thần.  Ông Giuse, vốn là người công chính, không muốn tố cáo bà công khai, nên định bỏ bà kín đáo.  Ông tính làm như vậy thì có sứ thần của Chúa đến báo mộng rằng: “Này Giuse, đừng sợ rước Maria về…” Thức giấc, ông Giuse vâng theo sứ thần Chúa dạy, rước vợ mình về nhà.” (Mt 1, 18-24)

Bạn thuộc đoạn văn trên nằm lòng đến độ tôi rất ngại ngùng khi phải chép lại.  Mọi chuyện đã rõ:  Thánh Giuse có do dự đấy, nhưng thiên sứ đã đến sắp xếp mọi việc và đâu lại vào đấy, đúng với “chương-trình-mầu-nhiệm-của-Thiên-Chúa”

Mọi chuyện có thực sự xảy ra dễ dàng như thế không?

Tôi không chắc đâu.

Hình ảnh thánh Giuse luôn luôn là một cụ già râu tóc uy nghi, một người cha nhân lành và không biết thế nào là đam mê của tuổi trẻ.

Xin bạn nhớ cho: Cô Maria lúc ấy là một thiếu nữ vào độ tuổi 15-17, thế thì chàng hôn phu không thể là một ông già.  Chàng Giuse lúc bấy giờ là một chàng trai đầy sức sống ở lứa tuổi đôi mươi.  Chàng và Maria yêu nhau thắm thiết.  Cặp tình nhân đẹp tuyệt vời, nhất là ở nét đẹp tâm hồn.  Giuse thật hạnh phúc và bình an: Một người như Maria thì không thể có gì bất trắc xảy ra khiến cho cuộc sống gia đình tương lai họ bị đe dọa.

Thế mà đùng một cái: Người hôn thê thánh thiện của chàng lại mang thai!  Giuse có giàu óc tưởng tượng đến đâu cũng không thể hình dung nổi một tiếng sét giữa trưa hè chói chang như thế!

Thế nhưng, sự việc đã hiển nhiên như vậy đó.  Dù vậy, tự thâm sâu, tình yêu của Giuse vẫn trỗi vượt.  Ông không hề quay lại bản thân để cảm thấy mình bị lừa dối, bị xúc phạm, mà chỉ hướng về người yêu để tiếp tục tin rằng người hôn thê mình trong sạch vẹn tuyền.  Ông không hề tra hỏi dằn xé Maria một lời.  Ông im lặng ôm lấy nỗi đau và âm thầm trả Maria về với bí mật của cô.

Bạn sẽ bảo rằng tình yêu này đã được tưởng thưởng, bởi vì sau đó, sứ thần đã đến trình bày mọi sự.  Bạn có đi quá xa thực tế chăng?

Kinh Thánh ghi rõ: “Sứ thần đến báo mộng…”  Bạn thử sống lại hoàn cảnh của Giuse lúc ấy xem.  Bạn có một người hôn thê, bỗng nàng có mang, bạn nằm mộng thấy thiên thần bảo rằng hôn thê mình chưa bao giờ liên hệ với một thanh niên nào và bào thai trong lòng là do phép lạ Thiên Chúa.  Khi thức giấc, bạn có tin không?  Tôi thì dứt khoát không.

Thế mà Giuse đã làm gì nào?  “Thức giấc, Giuse vâng theo sứ thần, rước vợ mình về nhà.”  Ðơn giản chỉ có thế.  Ðơn giản đến độ vô lý.

Vâng, thế đấy.  Giuse vâng phục thánh ý Chúa một cách chóng vánh, quyết liệt và dứt khoát đến độ vô lý.  Ông chỉ cần một dấu hiệu cỏn con là đọc được thánh ý Chúa và thực thi ngay lập tức:  Đó là lý do mà ông được gọi là “người công chính.”

Còn bạn và tôi thì sao?

Chúng ta có tự coi mình là công chính chăng?  Chúng ta có sẵn sàng đón nhận thánh ý Chúa qua một dấu hiệu thật nhỏ và tuân theo mà không bàn cãi chăng?  Hay chúng ta chờ đợi những phép lạ nhãn tiền và sau đó, lý luận, mặc cả trước khi hành động?

Người công chính” Giuse suốt đời là một người luôn thức tỉnh trước thánh ý Chúa, thức tỉnh ngay cả trong giấc ngủ.  Bằng chứng?  Bằng chứng là mỗi lần Chúa tỏ ý, là mỗi lần ông nằm mộng.

Ngoài lần nằm mộng ở Nazaret, thì ít nhất còn ba lần khác:

– Ở Bêlem: Sứ thần đến với ông Giuse báo mộng rằng: Hãy chỗi dậy, đem Hài nhi trốn sang Ai-cập… (Mt 2, 3)

– Ở Ai-cập: Sứ thần hiện ra báo mộng cho ông Giuse ở bên Ai-cập, bảo rằng: Hãy chỗi dậy, đem Hài nhi về Israel… (Mt 2, 19)

– Ở Giuđê: Khi biết Akêlao thay Hêrôđê thì ông sợ, thế là theo như lời Thiên Chúa báo mộng, ông lánh sang vùng Galilê (Mt 2, 23)

Sở dĩ Giuse xác tín rằng các giấc mộng của mình đúng là thánh ý Chúa, ấy là vì cứ mỗi lần nằm mộng, là mỗi lần ông phải quyết định ngược lại với mọi toan tính của mình.

Khi ông dự định âm thầm rời bỏ Maria thì Thiên Chúa bảo ông ở lại với hôn thê mình.

Ngược lại, khi ba vị đạo sĩ đến xác nhận vương quyền của Hài nhi và hẳn là người cha nuôi nghĩ rằng mình sẽ có thể thoải mái ở lại Bêlem cho đến khi con mạnh mẹ khỏe, thì chính lúc đó Chúa lại bảo ông chỗi dậy đi ngay, giữa đêm khuya, không hành trang, không tiền bạc; không phải về quê nhà, mà sang Ai-cập để sống kiếp lưu đày.  Ông nghĩ gì khi trước mặt là đường dài vạn dặm, mà vợ yếu con sơ?  Ông nghĩ gì khi ngày mai, ở xứ lạ quê người, tương lai ông cũng tối đen như trời khuya hôm ấy?

Thánh Kinh nói rất gọn: “Giuse chỗi dậy, đem Hài nhi và Mẹ trốn sang Ai-cập ngay giữa đêm khuya” (Mt 2, 13).  Lại thật đơn giản.  Ðơn giản đến độ vô lý.

Sau những ngày đầu khó khăn ở Ai-cập, giờ đây, Giuse hẳn đã sắp xếp ổn định cuộc sống gia đình.  Thế nhưng, một lần nữa, Chúa lại bảo ông phải bỏ tất cả mà ra đi.  Ông nghĩ gì khi nhìn lại cơ ngơi mà ông đã xây dựng từ hai bàn tay trắng?  Ông nghĩ gì khi nhìn về cái quê hương đã muốn giết hại con mình, rồi giờ này ông lại phải trở về mà không biết sẽ cư ngụ nơi đâu?  Nhưng Giuse vẫn là Giuse. “Giuse chỗi dậy đem Hài nhi và Mẹ về đất Israel” (Mt 2, 21).  Cũng lại đơn giản đến độ vô lý.

Tất cả những truân chuyên mà Giuse gánh chịu, rốt cuộc để làm gì?  Phải chăng vì lợi ích bản thân?  Tuyệt nhiên là không.  Tất cả là để bảo vệ Hài nhi, mà có lần trong mộng, ai đó đã bảo rằng Hài nhi ấy sẽ là vị cứu tinh dân tộc.  Giuse không bao giờ đặt lại vấn đề.  Không bao giờ ông cho rằng con trẻ gây cho ông quá nhiều rắc rối.  Ông chỉ một mực canh giữ con trẻ, người con do Thánh Thần, trong mọi toan tính hằng ngày.

Bạn và tôi có sẵn sàng trả giá để cho Chúa Giêsu luôn mãi sống trong mình chăng?  Hay nhiều khi quá mệt mỏi, ta chỉ muốn yên thân lo toan chuyện của mình và bỏ mặc dung mạo Chúa Giêsu ra thế nào thì ra?

Giuse đã trả mọi giá để giữ gìn Giêsu, nhưng đôi khi sức người cũng có hạn.  Trong chuyến đi Giêrusalem, năm con trẻ 12 tuổi, ông đã để Giêsu vuột khỏi tầm tay.  Ba ngày ròng, ông kiếm tìm.  Ba ngày ròng, ông bà “đau khổ tìm con”.  Và khi tìm thấy thì ông được gì?  Một gáo nước lạnh tạt vào mặt: “Sao lại phải tìm con? Cha mẹ không biết là con phải ở trong nhà của Cha con sao?” (Lc 2, 49).

Cậu bé ấy khi ra đời, chỉ là một hài nhi nằm gọn trong máng cỏ.  Mười hai năm trời chịu kham chịu khổ để cho cậu khôn lớn thế này.  Mười hai năm trời yêu thương để thêm da thêm thịt cho cậu thành một thiếu niên nặng cân như thế.  Mà tình thương thì có nặng gì cho cam, phải tốn bao nhiêu tình thương, cậu mới được như ngày hôm nay…!  Thế mà gặp một câu trả lời…!  Ông không hiểu gì cả, nhưng ông vẫn đón nhận lặng thinh.

Và đấy cũng là chiều kích bất ngờ của thánh Giuse.  Trong suốt bốn cuốn Tin Mừng, không thấy ghi lại một câu nói nào của thánh Giuse.  Ðức Maria được xem là mẫu mực của sự thinh lặng nguyện cầu, Người luôn ghi nhận và suy niệm trong lòng, thế nhưng cũng có 6 lần, Người lên tiếng.  (2 lần ngày truyền tin, 1 lần trước Ysave, 1 lần khi tìm lại trẻ Giêsu, 2 lần trong tiệc cưới Cana).  Còn thánh Giuse thì tuyệt đối không hề nói một lời.  Ngay cả lần tìm lại con ở đền thờ, thì cũng chính người mẹ lên tiếng: “Sao con lại làm như thế, cha con và mẹ đã đau khổ tìm con” (Lc 2, 48)

Trong xã hội Do Thái lúc bấy giờ, phụ nữ là hạng người không đáng kể.  Phúc âm thánh Mat-thêu ghi lại hai lần Chúa làm phép lạ hoá bánh ra nhiều, lần đầu để nuôi 5000 người, không kể đàn bà và trẻ con, lần thứ hai 4000 người, không kể đàn bà và trẻ con (x. Mt 14, 21; 15, 38).  Giuse biết mình là chủ gia đình, nhưng người lên tiếng, vẫn là Maria.

Giuse sống cuộc sống càng ngày càng mờ để cho Ðức Giêsu càng ngày càng sáng.  Ông sống mờ nhạt đến độ những người trong thị trấn Nazaret không buồn nhớ đến tên ông, mà chỉ gọi là “ông thợ mộc.”

Theo thánh Mat-thêu và Mac-cô, khi Ðức Giêsu trở về Nazaret sau những ngày rao giảng, người đồng hương bàn tán: “Ông ấy không phải là con ông thợ mộc và bà Maria sao?” (Mt 13, 55; Mc 6, 3).  Sau này, khi viết lại Phúc âm, thánh Luca hẳn đã thấy cái chua chát đó nên đã sửa lại: “Ông ấy không phải là con ông Giuse sao?” (Lc 4, 23).

Dù sao đi nữa, sự âm thầm của Giuse quả là một đặc trưng của thánh nhân.  Âm thầm đến độ mà khi Ðức Giêsu bắt đầu lên tiếng trong đời sống công khai, thì Giuse không còn được nhắc đến mảy may; thậm chí thánh nhân chết lúc nào, thế nào, ở đâu thì cũng chẳng ai nói đến.  Trong cuộc đời công khai của Chúa thì thánh Giuse, người cha của Ðức Giêsu, có vẻ như bị xem nhẹ hơn cả bà gia của Phêrô hay đứa con gái của Zairô.

Nhưng chính điều đó đã biến thánh Giuse thành một vị đại thánh, bởi vì ngài đã đem cuộc đời mình biến thành một Lời Chúa sống động.

Gioan Tẩy giả đã khiêm tốn rao giảng: “Chúa phải lớn lên và tôi phải nhỏ lại.”  Thánh Giuse đã sống điều đó mà không nói một lời.

Tiếng “xin vâng” của Ðức Mẹ ở Nazaret và tiếng “xin vâng” của Chúa Giêsu ở Getsêmani đã được hòa âm trong trọn cuộc đời thánh Giuse.

Và Thánh Giuse sẽ mãi mãi là tấm gương cho bạn và tôi.

Tấm gương của một con người luôn luôn thao thức lắng nghe tiếng Chúa, và khi nghe được thì đáp lại không chần chừ, dù cho phải trả giá.

Tấm gương của một con người luôn luôn làm đủ mọi cách để gìn giữ Chúa với mình, và nếu chẳng may lạc nhau thì đi tìm Chúa không ngơi nghỉ cho đến khi gặp lại.

Tấm gương của một người “công chính,” chỉ làm có mỗi một điều là trình bày Chúa Giêsu cho mọi người, rồi âm thầm xóa mình đi khi Chúa bắt đầu lên tiếng với các linh hồn.

Trần Duy Nhiên

Việt Nam sai khi ‘nhờ cậy’ Trung Quốc cứu hạn

Việt Nam sai khi ‘nhờ cậy’ Trung Quốc cứu hạn
Nguoi-viet.com

CẦN THƠ (NV)Ðó là nhận định của ông Lê Anh Tuấn, phó giám đốc Viện Nghiên Cứu Biến Ðổi Khí Hậu thuộc Ðại Học Cần Thơ. Nhận định này được trình bày trên tờ Thơi báo Kinh tế Sài Gòn.

Ðồng bằng sông Cửu Long đang đối diện với một đợt hạn hán chưa từng có. Do trời nóng nhiều ngày, ít mưa, lưu lượng nước giảm từ 30% đến 60% và do Trung Quốc trữ nước để vận hành các công trình thủy điện ở thượng nguồn sông Mekong, tại đồng bằng sông Cửu Long đang có hàng trăm ngàn hecta lúa và các loại cây khác chết khô, hàng triệu người khốn khổ do thiếu nước ăn uống.


Ông Thạch Thanh (42 tuổi) ở vùng bị mặn xâm nhập nặng thuộc huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng, bần thần bên ruộng lúc khô cằn, nứt toác. (Hình: VNExpress)

Hôm 15 tháng 3, 2016, Trung Quốc đã bắt đầu xả nước từ đập thủy điện Cảnh Hồng, tọa lạc tại tỉnh Vân Nam để hỗ trợ Việt Nam chống hạn. Trong khi Việt Nam đề nghị để giúp ngăn mặn, giảm thiệt hại do hạn hán, Trung Quốc nên xả nước nhiều đợt từ nay đến trung tuần tháng 8, mỗi đợt khoảng bảy ngày, lưu lượng xả phải vào khoảng 2.300 khối mỗi giây thì Bộ Ngoại Giao Trung Quốc thông báo, việc xả nước chỉ kéo dài cho đến ngày 10 tháng 4.

Theo các viên chức Việt Nam thì phải mất khoảng nửa tháng, nước từ đập thủy điện Cảnh Hồng mới về tới đồng bằng sông Cửu Long.

Tuy việc Trung Quốc xả nước không như Việt Nam mong muốn nhưng một số viên chức Việt Nam hy vọng, nhờ vậy, nước mặn sẽ bị chặn lại, không lấn sâu hơn vào đất liền và các địa phương sẽ có nước để tổ chức tích trữ.

Trong bài viết có tựa là “Hạn, mặn ở đồng bằng sông Cửu Long: Có nên trông chờ vào thủy điện Trung Quốc?,” ông Tuấn không xem việc Trung Quốc xả nước, hỗ trợ Việt Nam chống hạn là đáng “phấn khởi.”

Ông nhấn mạnh, Trung Quốc không cho biết sẽ xả bao nhiêu nước và phương thức xả (liên tục hay gián đoạn trong khoảng thời gian từ nay đến 10 tháng 4. Ông Tuấn bảo rằng, điều đó chẳng có gì lạ vì xưa nay, tin tức và số liệu về thủy văn từ phía Trung Quốc lúc nào cũng rời rạc và mơ hồ như vậy.

Ông Tuấn cho biết, mỗi năm, đoạn thượng nguồn sông Mekong chảy trên đất Trung Quốc đóng góp khoảng 21% lượng nước cho khu vực trung lưu và hạ lưu của con sông này. Ðập của nhà máy thủy điện Cảnh Hồng (Jinghon) là nơi gần Lào nhất. Bên trên Cảnh Hồng còn năm đập nước khác trong chuỗi 14 đập nước mà Trung Quốc dự tính xây dựng tại thượng lưu sông Mekong. Dung tích hữu dụng của hồ chứa nước thuộc nhà máy thủy điện Cảnh Hồng là 249 triệu mét khối nước. Nếu Trung Quốc chỉ dùng hồ chứa nước thuộc nhà máy thủy điện Cảnh Hồng để giúp Việt Nam chống hạn theo đề nghị của Việt Nam thì chỉ sau 30 tiếng, hồ chứa nước của nhà máy thủy điện Cảnh Hồng sẽ cạn.


Bản đồ phác họa tình trạng hạn hán và nước mặn xâm nhập đồng bằng sông Cửu Long. (Ðồ họa: zing.vn)

Cũng vì vậy, hy vọng nước từ nhà máy thủy điện Cảnh Hồng sẽ giúp ngăn mặn, tích trữ để chống hạn bị ông Tuấn xem là hão huyền. Ông Tuấn cho rằng, có nhiều lý do khiến đề nghị Trung Quốc xả nước giúp Việt Nam ngăn mạn và giảm thiệt hại bởi hạn hán là thiếu khôn ngoan. Với đặc điểm như đã kể của nhà máy thủy điện Cảnh Hồng, Trung Quốc sẽ chỉ xả cầm chừng, rửa được tiếng nhơ (vô trách nhiệm trong sử dụng tài nguyên, hủy diệt môi trường và nguồn sống của hàng trăm triệu người), mua được tiếng tốt (có trách nhiệm với các quốc gia ở khu vực hạ lưu sông Mekong) mà vẫn duy trì được hoạt động của nhà máy thủy điện Cảnh Hồng.

Ngoài ra do khoảng cách từ nhà máy thủy điện Cảnh Hồng đến đồng bằng sông Cửu Long lên tới 4,000 cây số, địa hình của Lào, Thái Lan, Cambodia lại có nhiều nhánh, vùng trũng nên theo ông Tuấn lượng nước thật sự về tới đồng bằng sông Cửu Long sẽ chẳng còn được bao nhiêu.

Chưa kể khi về tới đồng bằng sông Cửu Long, lượng nước mà nhà máy thủy điện Cảnh Hồng xả ra sẽ không cứu cho hàng trăm ngàn hecta lúa và cây trồng khác đã chết khô sống lại.

Giữa tháng 4, thời điểm nhà máy thủy điện Cảnh Hồng ngưng xả nước là thời điểm toàn khu vực không có mưa, hạn hán sẽ nghiêm trọng hơn. Quyết định của Trung Quốc: Xả nước giúp Việt Nam chống hạn chẳng đem lại lợi ích nào thật sự tích cực cho Việt Nam.

Phó giám đốc Viện Nghiên Cứu Biến Ðổi Khí Hậu thuộc Ðại Học Cần Thơ nhắc lại kinh nghiệm của nhiều quốc gia khác, đó là khi đối diện với hạn hán nghiêm trọng, người ta chấp nhận thiệt hại, không tìm mọi cách để chuyển nước từ nơi khác đến để cứu hạn vì điều đó vô nghĩa do tốn kém quá mức, hiệu quả kinh tế rất thấp. Bên cạnh đó, các quốc gia này đều tích lũy nguồn lực để hỗ trợ thích đáng những người bị thiệt hại do hạn hán nói riêng và thiên tai nói chung.

Ông Tuấn cho rằng, đợt hạn hán và nước mặn xâm nhập lần này là một cơ hội để xem lại tính hiệu quả của hàng loạt chính sách mà chính quyền Việt Nam đã thực hiện trong quá khứ, bất chấp các khuyến cáo từ giới chuyên gia: Ngọt hóa vùng ven biển. Thoát lũ ra biển Tây. Xây dựng hệ thống đê bao, phá bỏ hai hồ chứa nước tự nhiên lớn nhất ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long là Ðồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên để tăng diện tích trồng lúa.

Theo ông Tuấn, dẫu hậu quả của đợt hạn hán và nước mặn xâm nhập lần này rất nghiêm trọng nhưng nó sẽ trở thành tích cực nếu xem lại toàn bộ định hướng phát triển kinh tế-xã hội ở đồng bằng sông Cửu Long. (G.Ð)

Sầm Sơn & Đồ Sơn

Sầm Sơn & Đồ Sơn

tuongnangtien

RFA

“Một người đến Sầm Sơn trước và sau khi đọc Trống Mái sẽ … nhìn Sầm Sơn khác đi. Bởi quyến vọng biển, núi, mây, nước trong tác phẩm có khả năng thúc đẩy, chuyển biến, có khả năng thay đổi con người, mời gọi viễn du, invitation au voyage, nói theo Bachelard. Và nói theo ngôn ngữ hàng ngày, Trống Mái có khả năng sáng tạo lại môi sinh, tìm về một thế giới nguyên thủy, ở đó có sự thăng hoa của con người đến bầu trời tự do sáng tạo.”

Tôi chưa bao giờ có cơ hội được đặt chân đến Thanh Hoá, và cũng chưa đọc tác phẩm Trống Mái nên không khỏi cảm thấy xấu hổ (lẫn ngạc nhiên) khi xem đoạn văn thượng dẫn của nhà phê bình văn học Thụy Khuê.

Tôi xấu hổ vì vốn kiến thức cùng vốn sống nghèo nàn/hạn hẹp của mình, và ngạc nhiên về khả năng (“thay đổi con người, mời gọi viễn du, invitation au voyage”) của thiên nhiên, qua ngòi bút Khái Hưng.

Nếu nhà văn của chúng ta đừng bị thủ tiêu vào năm 1947, và vẫn sống cho đến hôm nay – chắc chắn – ông cũng kinh ngạc (không ít) khi biết ra rằng Sầm Sơn còn có khả năng “khêu gợi lòng tham” nữa. Bãi biển này, trong những ngày qua, đã làm xôn xao dư luận.

Bãi biển Sầm Sơn. Ảnh: Tuấn Minh

Xin ghi lại đây là vài nhận định – ở trong cũng như ngoài nước, và của cả hai lề – để rộng đường dư luận.

  • Bùi Thanh Hiếu: “Cướp lớn ở Sầm Sơn… Liên tiếp những ngày đầu tháng 3 năm 2016, các ngư dân thuộc thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá đã biểu tình để phản đối dự án khu ăn chơi nghỉ dưỡng của tập đoàn FLC triển khai ở bờ biển Sầm Sơn.”
  • Thạch Lựu: “Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập được, ngày 03/3/2016 cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thanh Hoá đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự ‘gây rối trật tự công cộng’ và đang tiến hành điều tra, củng cố chứng cứ về hành vi phạm tội của một số đối tượng để xử lý nghiêm trước pháp luật.”
  • Văn Thị Hương: “tôi thử hỏi, 100 triệu các đồng chí bồi thường cho mỗi hộ dân, họ làm gì khi nguồn thực phẩm chính của họ bị mất, đất đai ruộng vườn không còn, khu công nghiệp không có, giá đất tăng vọt, lạm phát tăng, tệ tham nhũng chưa hết?”
  • Hoàng Anh – Văn Hùng:  “Điều bức xúc của người dân Sầm Sơn… Sau khi nhường hết đất cho Cty CP Tập đoàn FLC xây dựng các đại dự án sân golf, resort, khách sạn nghỉ dưỡng…, hàng nghìn người dân ở các xã Quảng Cư, phường Trung Sơn, Trường Sơn, Bắc Sơn… thuộc thị xã Sầm Sơn (tỉnh Thanh Hóa) chỉ còn sinh kế cuối cùng là bám biển mưu sinh. Vậy mà cũng chẳng yên…

Theo quan sát của phóng viên, hàng trăm người dân các xã Quảng Cư, phường Trung Sơn, Trường Sơn và Bắc Sơn đã tập trung trước cổng UBND tỉnh Thanh Hóa. Họ mang theo mỳ tôm, bánh mỳ, nước uống và cả chăn chiếu để chờ đợi gặp lãnh đạo tỉnh. Tuyến đường chính trước cổng UBND tỉnh phải lập hàng rào, hàng chục công an, cảnh sát được huy động để giữ trật tự. Người dân kiên trì chờ đợi.

Chúng tôi sẽ sống bằng gì nếu mất bãi biển”?

Ảnh: Tuấn Minh

Nỗi băn khoăn về sinh kế của người dân Sầm Sơn, trong những ngày tháng tới, khiến tôi chợt nhớ đến Đồ Sơn và sự “phồn thịnh” ở nơi đây nhờ vào dịch vụ bán dâm:

“Bãi biển Đồ Sơn nằm trong những bãi biển du lịch nổi tiếng. Nhưng nói không ngoa chút nào, nếu thiếu và yếu cái dịch vụ đi kèm thì Đồ Sơn chẳng thu hút được mấy khách. Từ lâu, những cô gái chân dài tứ xứ đã đổ về đây cư ngụ, mưu sinh bằng cái thứ mà ông trời ban phát. Hễ nói đi Đồ Sơn là nhiều người lại nháy mắt nhìn nhau bí hiểm. Bởi đến đây, ngoài mục đích là tắm biển thì cái thú vui duy nhất được khách du lịch quan tâm tới đó là…chơi gái…

Ở Đồ Sơn người ta gọi cái nghề bán miền xuôi, nuôi miền ngược này là ngành công nghiệp không khói hay còn nói hay ho là nghề làm giàu không khó. Xây một cái nhà nghỉ, nuôi mấy ả cave, chăn thêm mấy đứa bảo kê là ngồi một chỗ đếm tiền. Tiền vào như nước, mỗi ngày vài chục triệu đồng dễ ợt. Trong khi nền kinh tế suy thoái chưa có hồi kết nhưng những tụ điểm mây mưa, thác loạn như thế này thì vẫn ăn nên làm ra.” (Biên Thùy – “Những Cuộc Mua Vui Nhớp Nháp Ở Đồ Sơn”).

Số lần “nhớp nháp” của khách mua vui đều được ghi chép cẩn thận trong nhật ký của người bán. Xin xem qua đôi dòng của ký giả Anh Đào viết về một cuốn Nhật Ký Đồ Sơn:

Nguồn ảnh: báo Lao Động

“Đó là nhật ký ‘làm việc’ của một cô gái mại dâm gần như kín các dấu ‘X’. Sở dĩ phải ghi chép là để cuối tháng, cuối tuần, cuối ngày ‘đọ sổ’ với chủ mà thanh toán tiền, giống hệt với một dạng ‘chấm công’. Đây là một đoạn trong bài viết: ‘Những ký hiệu dấu sao ‘*’ trong vòng tròn, đó là ‘đi qua đêm’ và được tính bằng 3 ‘cuốc’ đi nhanh. ..Dấu ‘X’ có gạch dưới là những lần đi một lần, tính với chủ là 1, nhưng em cho khách làm 2, được bo khá. Còn cái dấu ‘X’ nằm trong ô vuông thì em không nói gì cả, nhất định không chịu nói ra. Như vậy, đây là một dạng ‘văn vật’ có hồn. Có ngày em đánh dấu 16 ‘nhát’, nói chung số ngày có trên 10 ‘nhát’ hơi nhiều. Ngày nhiều nhất là có tới đánh 21 cái dấu X’, lại có 3 gạch chân’. Nhưng 21 lần/ngày vẫn chưa phải là kỷ lục. Cũng chính cô gái này kể lại: Ở Đồ Sơn có đứa dịp 30/4, đã ‘đi khách’ tính với chủ là 50 lần.”

Số “nhát” hay số lần “nhớp nháp” được tính đủ và chia đều, theo như tường thuật của nhà báo Biên Thùy: “Một cô cave ở Đồ Sơn kể rằng, đằng sau những cô gái bán dâm, đằng sau những đêm mua vui dài dằng dặc là cuộc sống sung túc, đủ đầy của tầng tầng, lớp lớp những tú ông, tú bà. 250 nghìn đồng tàu nhanh ấy cũng phải chia năm, xẻ bảy ra thì mới yên thân, chứ đâu phải làm 10 đồng hưởng cả 10 đồng.

Lại nói đến cái tầng tầng, lớp lớp tú ông, tú bà ở thiên đường này cho rõ. Có những tú ông phơi mặt ngay cổng nhà nghỉ, đứng đón khách tận cửa phòng. Nhưng có cái loại tú ông, tú bà cao cấp hơn, chẳng cần đón khách, chẳng cần phơi mặt ra làm gì cũng có tiền. Những ‘tú ông cao cấp’ như thế chỉ đạo bằng những cú điện thoại, bằng một thứ văn bản không có dấu. Và, ngày ngày vẫn nghiễm nhiên hưởng lợi từ thân xác của gái bán dâm. Thế mới tài!”

Loại “tú ông cao cấp” này càng ngày càng xuất hiện nhiều ở Việt Nam, riêng Thanh Hoá – tất nhiên – cũng không ít. Cứ theo cách nói nước đôi của ông Bí Thư Tỉnh Ủy Thanh Hoá (“bà con nào đồng ý di dời thì nhận tiền bồi thường trước ngày 15.4… bà con nào chưa đồng ý thì cứ làm bình thường như lâu nay…”) trong cuộc đối thoại với dân – vào ngày 7 tháng 3 vừa qua – và theo chủ trương, đường lối, chính sách chung của Nhà Nước hiện nay thì sớm muộn gì Sầm Sơn cũng trở thành Đồ Sơn thôi.

Việt Nam tụt hậu, trách nhiệm không nhỏ thuộc về những nhà “khoa học” và “trí thức”

Việt Nam tụt hậu, trách nhiệm không nhỏ thuộc về những nhà “khoa học” và “trí thức”

FB Trương Nhân Tuấn

18-3-2016

Nếu có tầm nhìn thì VN đã không mỗi ngày một tụt hậu như hôm nay. Trách nhiệm là do lãnh đạo, nhưng một phần không nhỏ là do những nhà “khoa học” và “trí thức”.

Một thí dụ đơn giản, Hà Nội, Sài Gòn… cũng như nhiều tỉnh thành khác. Khoảng mười năm trở lại đây, hễ mùa mưa đến là ngập lụt. “Hà Nội mùa này nước cũng như sông”. Sài Gòn cũng vậy, không kém.

Nguyên nhân do trời hay do người? Và đâu là “giải pháp”?

Cả chục năm rồi, mưa xuống là lụt, người dân dài cổ chờ “giải pháp”.

Người ta cần giải pháp chớ không cần nghe “lý thuyết”.

Người nông dân đồng bằng sông Cửu Long hiện nay đang khóc ròng, lớp khóc vì mất mùa, ruộng lúa cháy khô. Lớp khóc vì tiền tỉ nuôi con hàu, con tôm, con cua… tiêu tan thành mây khói. Mà một phần lớn dân nghèo khác khóc đến chảy máu mắt, vì giá nước ngọt trở nên đắt đỏ.

Người dân cần “giải pháp” chớ không cần nghe “khoa học gia” dạy bảo phải trồng cây gì, nuôi con gì.

Ý kiến của những “khoa học gia” VN, trên “lý thuyết” đều rất hay. Vấn đề là “trái mùa”.

Chuyện nhiễm mặn, chuyện trái đất hâm nóng và thay đổi thời tiết, chuyện các nước xây dựng đập ở thượng nguồn sông Cửu Long, cũng như chuyện lụt lội mùa mưa ở Hà Nội, Sài Gòn… người ta đã biết trước hàng chục năm rồi. Người ta cần giải pháp. Người ta mỏi cổ chờ mà giải pháp không thấy.

Hôm qua tôi đã viết, nếu có tâm và có tầm, thì trước tiên người ta đào tạo “vốn con người”. Đài Loan, Đại Hàn là hai nước có điểm tương đồng với VN, sau độc lập, kinh tế đặt nền tảng lên nông nghiệp. Hai nước này “hiện đại hóa, công nghiệp hóa” đất nước thành công, từ thập niên 70, 80. Đóng góp của nông nghiệp cho GDP từ 40%, chiếm 70% dân số, xuống còn khoảng 3% và không tới 10% dân số. Còn Việt Nam, bốn thế hệ đã qua là bốn đời nông dân tiếp bước. Dân số sống về nông nghiệp, đặc biệt ở miền nam (lục tỉnh), vẫn không thay đổi với thời gian, lên trên 80%.

Nếu có “tầm”, lý ra VN đã phải kiểm soát các đập nước ở thượng nguồn. Bởi vì VN không thể ngăn cấm các nước khác xây đập. Vì vậy, để không bị lệ thuộc, VN phải “kiểm soát” được các đập, bằng cách “đầu tư” xây dựng. VN không “nắm” được, vì thế sinh mạng ĐBSCL nằm trong tay các nước thượng nguồn.

Và nếu có tâm và có tầm, hạ tầng cơ sở (hệ thống điện, nước, đường xá, cầu cống, trường ốc…) lý ra cũng phải được xây dựng từ lâu. “Hệ thống nước uống” của nông dân vẫn là những lu nước bên hè (như trăm năm trước). Đường xá nhiều nơi vẫn là chèo xuồng… Nếu hệ thống giếng nước ngọt (miễn phí) dưới thời (chó đẻ) Mỹ, Diệm, Thiệu, Kỳ… được tiếp tục xây dựng thì dân đâu đến đỗi khóc ra máu mắt như hôm nay ?

Hạn hán khắp nơi, bây giờ khoa học gia bày ra chuyện nuôi tôm nuôi cua, thật là trái khoáy.

Những năm trước, khi má tôi còn khỏe, năm nào cận tết cũng cho xe chở về quê (Bạc Liệu) vài chục tấn gạo để “cứu đói”. Mĩa mai, đây là xứ của “công tử Bạc Liêu”, ruộng cò bay thẳng cánh.

Khu vực quê ngoại của tôi, từ khi nước nhiễm mặn, dân người ta cũng bỏ ruộng, đào mương nuôi tôm. Một hai mùa đầu bà con trúng đậm. Nhưng sang các mùa sau, tôm chết như rạ. Thay nước, đổ thuốc… đủ cách, mà cách nào dân cũng chết. (Tôm nhiễm thuốc trụ sinh bán không nước nào mua, cũng chết). Bơm nước rửa ruộng, thì ngay nước ngọt rửa ruộng cũng đã nhiễm mặn. Lúa trồng không được. Rốt cục trồng cây gì, nuôi con gì dân cũng chết. Người dân bỏ xứ đi các nơi ở đợ.

Năm nào cũng vậy, hiếm khi nhìn thấy người dân quê ở đây một nụ cười. Bây giờ nghe nói hạn hán ghê lắm, không có nước ngọt để uống.

Má tôi càng già trí nhớ càng mông lung. Không nhớ tới làng quê không chừng lại khỏe!

Và bây giờ không chỉ riêng quê ngoại của tôi chết vì nhiễm mặn, vì hạn hán. Các vùng khác, trước kia toàn là dân “phú hộ”, nay cũng bắt đầu than trời!

Kế hoạch thì phải tính trước 10 năm, 20 năm. Không cần ai dạy, lũ đến, người dân cũng biết mình phải “trồng cây gì, nuôi con gì”.

Mà bây giờ người dân cần nước ngọt.

CHẲNG VỊ THÁNH NÀO KHÔNG CÓ MỘT QUÁ KHỨ, CŨNG CHẲNG TỘI NHÂN NÀO KHÔNG CÓ MỘT TƯƠNG LAI

CHẲNG VỊ THÁNH NÀO KHÔNG CÓ MỘT QUÁ KHỨ, CŨNG CHẲNG TỘI NHÂN NÀO KHÔNG CÓ MỘT TƯƠNG LAI

Vũ Đức Anh Phương, SJTHANH 1

Trong bài giảng thánh lễ sáng thứ ba, ngày 19.01, tại nhà nguyện thánh Marta, Đức Thánh Cha Phanxicô đã chia sẻ rằng: “Chẳng vị thánh nào không có một quá khứ, cũng chẳng tội nhân nào không có một tương lai.  Thiên Chúa không bao giờ dừng lại ở dáng vẻ bề ngoài mà luôn nhìn sâu vào tận tâm tư cõi lòng của con người.”

Khởi đi từ bài đọc một, kể lại việc Thiên Chúa đã tuyển chọn cậu bé Đa-vít để sau này trở thành vua của Ít-ra-en, Đức Thánh Cha chia sẻ rằng: “Ngay cả những vị thánh, trong cuộc đời của mình, cũng đã gặp phải những cám dỗ và tội lỗi, giống như cuộc đời của vua Đa-vít vậy.

Thiên Chúa đã gạt bỏ vua Sa-un vì vua có một tâm hồn đóng kín, chiều theo ý dân chúng hơn là vâng phục Thiên Chúa.  Thiên Chúa đã quyết định chọn cho dân Ngài một vị vua khác.
Thiên Chúa đã chọn Đa-vít.  Sự chọn lựa ấy nếu dựa theo tiêu chuẩn của con người sẽ chẳng thể nào hiểu được, vì Đa-vít chỉ là một đứa trẻ và lại còn là đứa con nhỏ nhất của ông Gie-sê.

Nhưng Thiên Chúa đã phán rất rõ ràng với tiên tri Sa-mu-en rằng Ngài không xét theo hình dáng bên ngoài và những tiêu chuẩn theo kiểu người phàm.  Người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Thiên Chúa thì thấy tận đáy lòng.

Chúng ta thường bị chi phối bởi dáng vẻ bề ngoài và tự cho phép chúng ta theo đuổi những dáng vẻ ấy.  Nhưng Thiên Chúa là Đấng biết sự thật và những điều kín ẩn bên trong.  Ông Gie-sê cho bảy người con trai đi qua trước mặt ông Sa-mu-en, nhưng Thiên Chúa không chọn ai trong số họ.  Sa-mu-en cảm thấy khó khăn, bối rối và nói với ông Gie-sê: “Đức Chúa không chọn những người này.  Các con ông có mặt đầy đủ chưa?”  Ông Gie-sê trả lời: Còn cháu út nữa, nó đang chăn chiên.”  Trước mắt người đời, đứa trẻ này không được tính, không đáng để quan tâm đến.

Đứa bé chẳng có gì khiến người ta phải lưu ý, nhưng Thiên Chúa đã chọn cậu và truyền cho Sa-mu-en xức dầu tấn phong cậu.  Và Thần Khí Đức Chúa ở với Đa-vít từ ngày đó trở đi.  Trọn cuộc đời của Đa-vít là cuộc đời của một người được Thiên Chúa xức dầu, được Thiên Chúa tuyển chọn.

Nhưng ngay lúc đó, Thiên Chúa có biến cậu Đa-vít thành một vị thánh không?  Câu trả lời là không.  Mặc dù vua Đa-vít là một thánh vương, điều này là sự thật, nhưng ngài chỉ trở thành thánh sau khi sống một thời gian lâu dài.  Trong cuộc sống đó, ngài cũng phạm tội, cũng vướng mắc bao lỗi lầm.
Vua Đa-vít là một vị thánh và cũng là một tội nhân.  Ngài là người có khả năng lãnh đạo con cái Ít-ra-en thống nhất đất nước, nhưng lại yếu đuối để rơi vào cám dỗ.  Không chỉ phạm tội, ngài còn là kẻ sát nhân.  Để che dấu ham muốn, dục vọng của mình (tội ngoại tình), vua Đa-vít đã mưu sát người khác.  Khi Thiên Chúa sai tiên tri Na-than đến chỉ cho vua thấy tội lỗi mà vua đã phạm – vì quả thực ngài không ý thức hết sự tàn ác, man rợ trong thủ đoạn của mình – vua Đa-vít đã ăn năn thú tội và nài xin sự tha thứ của Thiên Chúa.  Vua Đa-vít đã không lợi dụng Thiên Chúa cho những tính toán riêng tư của mình.  Khi bị truy đuổi buộc phải chạy trốn khỏi Giê-ru-sa-lem, ngài đã gởi trả lại Hòm Bia Giao Ước, vì không muốn dùng Thiên Chúa như vật thế thân cho mình.  Và sau này, khi bị xúc phạm, ngài cũng khiêm nhường thú nhận: “Tôi đáng bị như vậy.”

Vua Đa-vít cũng thật hào hiệp và trượng nghĩa.  Có thể hạ sát vua Sa-un nhiều lần, nhưng ngài đã không ra tay.  Ngài là một thánh vương và cũng là một đại tội đồ, nhưng đã ăn năn sám hối.  Tôi thực sự được đánh động khi nhìn ngắm cuộc đời của con người này.  Và cuộc đời ấy cũng khiến chúng ta phải suy nghĩ về chính cuộc sống của mình.  Tất cả chúng ta đã được Thiên Chúa tuyển chọn qua Bí Tích Thánh Tẩy, để được thuộc về Đoàn Dân Chúa, được trở nên những vị thánh.  Tất cả chúng ta đã được thánh hiến nhờ Đức Giêsu Kitô, để trở nên tinh tuyền, thánh thiện.  Khi đọc lại cuộc đời của vua Đa-vít từ khi còn là một chàng trai trẻ cho đến lúc tuổi già, chúng ta nhận thấy ngài đã làm nhiều điều tốt, nhưng cũng có những điều chẳng tốt lành gì.  Điều ấy khiến tôi xác tín rằng, trong hành trình của người Kitô hữu, cuộc hành trình mà Thiên Chúa đã mời gọi chúng ta đảm đương lấy, chẳng vị thánh nào không có một quá khứ và cũng chẳng tội nhân nào không có một tương lai.

Vũ Đức Anh Phương, SJ

Nguồn: R. Vatican

5 câu chuyện ý nghĩa về cuộc sống.

5 câu chuyện ý nghĩa về cuộc sống.

Mỗi chúng ta có thể có những cảm nhận khác nhau và tự tìm thấy bài học cho riêng mình. Hãy cùng đọc và chia sẻ suy nghĩ của riêng bạn. 

Tôi là ai?

Tôi sinh ra trong một căn nhà gỗ nhỏ. Cha mẹ tôi là những nông dân thất học và mù chữ của vùng nông trại ở Kentucky, nước Mỹ.

Khi tôi 7 tuổi, gia đình tôi bị buộc phải rời khỏi căn nhà mà chúng tôi gắn bó. Kể từ đó, tôi phải làm việc cật lực để phụ giúp gia đình.

Ở tuổi lên 9, mẹ tôi qua đời.

Ở lứa tuổi 20, tôi rời vùng rừng núi hẻo lánh để tìm đường tiến vào thế giới văn minh, giống như một gã trai kỳ dị, không bạn bè, không học thức, không một xu dính túi.

22 tuổi, tôi mất việc ở vị trí một nhân viên bán hàng. Tôi muốn theo học ngành luật, nhưng học vấn của tôi lại không đủ điều kiện vào trường.

23 tuổi, tôi chấp nhận nợ nần để cùng với đối tác mua chịu một cửa hàng tạp hóa nhỏ.

26 tuổi, đối tác qua đời, để lại tôi với món nợ chồng chất mà có lẽ phải cần rất rất nhiều năm sau tôi mới có thể trả hết được.

28 tuổi, sau 4 năm kiên trì theo đuổi một cô gái, tôi ngỏ lời cầu hôn nhưng bị khước từ.

37 tuổi, phải đến lần thứ ba nỗ lực, tôi mới được bầu vào Quốc hội Mỹ. Nhưng lại sớm thất bại cho cuộc tái bầu cử 2 năm sau đó.

41 tuổi, đứa con trai 4 tuổi của tôi qua đời.

45 tuổi, tôi lại chạy đua vào Thượng viện nhưng bất thành.

47 tuổi, tôi thất bại cho vị trí ứng cử viên phó tổng thống.

51 tuổi, tôi đắc cử trong cuộc bầu chọn Tổng thống Hoa Kỳ.

Và tôi là ai? Tên tôi là Abraham Lincoln.

TT ABRAHAM LINCOLN
Câu chuyện ý nghĩa giúp bạn thay đổi cách nhìn về cuộc sống: Tôi là ai? (Ảnh: Library of Congress / Wikipedia)

Lời khuyên?

Dưới đây là một câu chuyện ý nghĩa khác với câu hỏi mở đầu: Nếu là bạn, bạn có đồng ý nạo thai trong những trường hợp này?

 

  1. Một nhà thuyết giáo sống cùng với vợ con trong một căn nhà rất, rất, rất nghèo. Họ đã có với nhau 14 mặt con, rồi một ngày người vợ phát hiện bà đang mang thai đứa con thứ 15. Họ có nên bỏ đứa con này không khi mà gia cảnh đã quá bần cùng và túng thiếu?
  1. Cha thì ốm nặng, còn mẹ lại mắc bệnh lao. Họ đã sinh hạ 4 người con: Đứa đầu tiên mù lòa, đứa thứ hai đã chết, đứa thứ ba bị điếc, và đứa cuối cùng mắc bệnh lao. Giờ đây, người mẹ lại mang trong mình một hài nhi bé nhỏ. Bà có nên bỏ đứa con này không?
  1. Người đàn ông da trắng cưỡng hiếp một bé gái da đen 13 tuổi, khiến cô bé mang thai. Cô có nên để đứa bé chào đời hay không?
  1. Một thiếu nữ mang thai từ khi còn rất trẻ. Cô chưa từng kết hôn, và vị hôn phu của cô cũng không phải là cha đứa trẻ này. Cô có nên giữ lại đứa bé hay không?

Nếu bạn đồng ý để họ nạo thai, vậy trong trường hợp đầu tiên, bạn đã để mất John Wesley, một trong những nhà thuyết giáo, mục sư, và nhà thần học vĩ đại nhất của thế kỷ 19;

Trong trường hợp thứ hai, bạn vừa mới bỏ lỡ Beethoven, nhà soạn nhạc cổ điển tài ba trong lịch sử;

Trong trường hợp thứ ba, bạn đã đánh mất Ethel Waters, ca sĩ gốc Phi hát nhạc blues, jazz và phúc âm được người Mỹ yêu mến;

Còn trong trường hợp thứ tư, thế giới sẽ mất đi một bậc thánh nhân – Chúa Jesus.

CHUA GIE SU
Câu chuyện ý nghĩa giúp bạn thay đổi cách nhìn về cuộc sống: Lời khuyên? (Ảnh minh họa: Pixabay)

Câu chuyện quả táo

Một em bé đáng yêu đang cầm hai quả táo trong tay. Mẹ em bước vào phòng và mỉm cười hỏi cô con gái nhỏ: “Con yêu, con có thể cho mẹ một quả táo được không?”

Em bé ngước nhìn mẹ trong một vài giây, rồi sau đó lại nhìn xuống từng quả táo trên hai tay mình. Bất chợt, em cắn một miếng trên quả táo ở tay phải, rồi lại cắn thêm một miếng trên quả táo bên tay trái.

Nụ cười trên gương mặt bà mẹ bỗng trở nên gượng gạo. Bà cố gắng không để lộ nỗi thất vọng của mình.

Sau đó, cô gái nhỏ giơ lên một trong hai quả táo vừa bị cắn lúc nãy và rạng rỡ nói: “Quả táo này dành cho mẹ nhé, nó ngọt hơn đấy ạ!”

EM BE VA QUA TAO
Câu chuyện ý nghĩa giúp bạn thay đổi cách nhìn về cuộc sống: Câu chuyện quả táo (Ảnh minh họa: Pixabay)

Vở kịch đêm Giáng sinh

Wally là một đứa trẻ vụng về và nhút nhát trong câu lạc bộ những đứa trẻ ở nhà thờ. Mỗi khi Giáng sinh đến gần, nhà thờ lại tổ chức một buổi tiệc với vở kịch do chính các em nhỏ tham gia. Giáo viên đã phân vai cho những em nhỏ ưu tú, nhưng còn Wally, cậu bé nên đảm nhận vị trí nào?

Sau một hồi cân nhắc, người giáo viên quyết định trao cho Wally vai diễn ông chủ nhà trọ. Đây là một vai diễn quan trọng, nhưng yêu cầu lại vô cùng đơn giản: Wally chỉ cần đứng lắc đầu và lặp đi lặp lại lời thoại này: “Xin lỗi, nhưng chúng tôi đã hết phòng rồi”. Gương mặt Wally trở nên rạng rỡ khi cậu bé được phân vai. Cậu bé hồi hộp đếm từng ngày chờ đợi buổi biểu diễn chính thức bắt đầu.

VO KICH DEM GIANG SINH
Câu chuyện ý nghĩa giúp bạn thay đổi cách nhìn về cuộc sống: Vở kịch đêm giáng sinh (Ảnh minh họa: Pixabay)

Cuối cùng, ngày ấy cũng đến. Vở kịch được tiến hành đúng như kế hoạch: Mary và Joseph tới thăm thành phố Bethlehem và ghé vào quán trọ của Wally. Joseph gõ cửa: “Xin hỏi, chúng tôi có thể đặt phòng tại đây không?” Wally lắc đầu trả lời rằng: “Xin lỗi, thưa ngài, nhưng chúng tôi đã hết phòng rồi”.

Theo đúng kịch bản, Joseph và Mary sẽ chào tạm biệt trước khi quay về từ nhà trọ của Wally. Nhưng Joseph là một cậu bé tự tin và đặc biệt lém lỉnh. Joseph quyết định tăng thêm phần kịch tính cho vở kịch.

“Thưa ngài”, Joseph nói với ông chủ nhà trọ, “vợ tôi đang mang bầu và chúng tôi cần có phòng để nghỉ lại qua đêm. Ngài có thể vui lòng tìm cho chúng tôi một căn phòng nào đó không?” Khuôn mặt Wally bỗng sững lại – điều này không có trong kịch bản, cậu phải làm sao đây? Wally ngập ngừng một chút trước khi lặp lại dòng hội thoại: “Xin lỗi, nhưng chúng tôi đã hết phòng rồi”.

“Nhưng thưa ngài”, Joseph lại nói, “chúng tôi đã phải đi một chặng đường rất dài và giờ đây chúng tôi không còn nơi nào khác để đi nữa. Vợ tôi cũng mệt lắm rồi… Chúng tôi không còn lựa chọn nào khác, nhất định phải có một căn phòng…” Wally cúi gầm mặt xuống, lắc đầu, và trả lời: “Nhưng chúng tôi không còn phòng nữa”.

Tỏ ra thất vọng, Joseph và Mary quay gót ra về. Còn Wally, cậu bé như đã nhập tâm vào vai diễn của mình, cảm thấy vô cùng xấu hổ và buồn bã. Một giọt nước mắt lăn dài trên má. Rồi cậu gọi to lên: “Đợi đã, xin hai người quay lại. Các bạn có thể sử dụng phòng của tôi!”

Chiếc giường bên cửa sổ

Có hai bệnh nhân nặng được xếp chung một phòng trong bệnh viện. Người đàn ông ở chiếc giường kê sát cửa sổ được phép ngồi dậy khoảng 1 tiếng đồng hồ mỗi ngày. Người đàn ông còn lại ở chiếc giường kế bên, và phải nằm cả ngày bất động trên giường.

NHIN QUA CUA SO
Câu chuyện ý nghĩa giúp bạn thay đổi cách nhìn về cuộc sống: Chiếc giường bên cửa sổ (Ảnh minh họa: Internet)

 

Họ nhanh chóng làm bạn và vui vẻ chuyện trò với nhau. Họ kể cho nhau nghe về cuộc sống của mình, về gia đình, vợ, và những đứa con bé nhỏ của họ ở nơi quê nhà, về công việc và những tháng ngày phục vụ trong quân ngũ, hay về những kỷ niệm ngọt ngào khi họ còn độ tuổi thanh xuân.

Mỗi buổi chiều, người đàn ông bên cửa sổ lại ngồi dậy. Ông nhìn ra phía bầu trời cao xanh vời vợi, nơi cuộc sống vẫn hối hả tiếp diễn qua khung cửa nhỏ. Rồi ông say sưa kể cho bạn mình những gì ông nhìn thấy.

Đối với cả hai, đây là khoảng thời gian đẹp nhất trong ngày để tạm quên đi 4 bức tường trống trải và ảm đạm của bệnh viện. Qua ô cửa sổ, họ lại thả hồn mình vào cuộc sống tươi đẹp. Bầu trời như rộng mở, cả thế giới cũng như ùa vào để sưởi ấm căn phòng lạnh lẽo. Khung cửa sổ nhìn xuống một công viên xanh mát với chiếc hồ có những con thiên nga lướt mình trên mặt nước. Trên bờ, hai đứa trẻ đang nô đùa và cùng nhau xây một lâu đài cát. Dưới gốc cây gần đó là chiếc ghế đá, nơi hẹn hò của các cặp tình nhân. Xa xa là những hàng cây rậm rạp và đường chân trời trải dài ngút tầm mắt.

Mỗi khi nghe anh bạn cùng phòng miêu tả, người đàn ông trên chiếc giường kế bên lại khép mắt lại để tưởng tượng về một bức tranh cuộc sống rộn ràng.

Một ngày nọ, khi y tá mang nước sinh hoạt đến như thường lệ, họ bỗng phát hiện người đàn ông trên chiếc giường gần cửa sổ đã qua đời. Ông ra đi trong một giấc ngủ yên bình. Y tá cùng các nhân viên bệnh viện vội vàng đưa thi thể của ông ra ngoài. Giờ đây, chỉ còn lại một bệnh nhân duy nhất trong phòng. Ông ngỏ ý muốn được chuyển đến chiếc giường kê gần cửa sổ.

Nằm bên cạnh ô cửa, nơi chất chứa cả hy vọng và một giấc mơ đẹp về thế giới bên ngoài, ông nhẹ nhàng và chậm dãi, gắng gượng sức mình để ngước nhìn ra bầu trời bên kia khung cửa.

Biết bao ấp ủ, biết bao đợi chờ, biết bao trông ngóng được hòa mình vào cuộc sống thực tại ngoài kia…

Nhưng thật bất ngờ, tất cả những gì ông có thể thấy chỉ là một bức tường trống trơn.

Quá sững sờ, ông hỏi lại người y tá, rằng những gì ông đang thấy khác quá xa với những điều mà người bạn cùng phòng trước kia vẫn kể lại cho ông. Đến lúc này, y tá mới tiết lộ rằng người bệnh nhân vừa mới qua đời ấy vốn bị mù lòa… Nghe xong, người đàn ông thấy lòng mình trĩu nặng…

Cuộc sống là vậy, cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay thì điều duy nhất còn lại là những gì bạn đã cho đi, đã cống hiến, đã đem đến hạnh phúc và hy vọng cho mọi người xung quanh. Đó là món quà diệu kỳ và ý nghĩa nhất mà tiền bạc hay vật chất cũng không thể nào mua được.

(Tác giả vô danh)

Hồng Liên sưu tầm và biên dịch

Để Thấy Mình Hạnh Phúc

Để Thy Mình Hạnh Phúc

 Dưới đây nhắc bạn nhớ lại những viên ngọc quý mà bạn đã có, chỉ cần lấy ra dùng là sẽ có hạnh phúc.

 Sau đây là 7 điều quán chiếu hạnh phúc:

1/ Ta đang còn sống

2/ Ta có sức khỏe
3/ Ta có đủ sáu căn
4/ Ta có tự do
5/ Ta có tiện nghi vật chất
6/ Ta có tình thương
7/ Ta có sự hiểu biết

 1/ Ta đang còn sống
     

Trên đời này quý nhất là sự sống. 

 Tất cả sinh vật từ côn trùng, sâu bọ, thú vật cho đến con người, loài nào cũng tham sống sợ chết. 

 Giả sử bây giờ phải lựa chọn giữa trúng số độc đắc mà chết và sạt nghiệp mà sống thì bạn sẽ lựa cái nào ? 

 Ở đời ai cũng lo đi tìm tiền của, nhưng thật ra tiền của chỉ để bảo đảm sự sống an toàn, tiện nghi. 

 Có nhiều người giàu sang sẵn sàng chi hết tiền của để cứu lấy mạng sống.

 Như thế đủ thấy sự sống quý hơn tiền bạc, quý hơn gấp trăm ngàn, triệu ngàn lần. 

 Ngay cả một tỷ đô la cũng không mua nổi mạng sống khi bị bệnh ung thư hay sida (aids). Vậy mà sáng nay mở mắt thức dậy còn sống, bạn có thấy mình hạnh phúc không?

 Mỗi khi cảm thấy khổ đau, chán nản hay tuyệt vọng thì hãy nhớ lại ta đang còn sống đây. Còn sống thì còn tất cả.

 2/ Ta có sức khỏe

   Sự sống quý nhất trên đời, sức khỏe quý nhất trong sự sống. 

 Có sức khỏe không có nghĩa là phải khỏe như lực sĩ thế vận hội mà chỉ cần không đau nhức, bệnh hoạn, không có bệnh trầm kha, nan y, v.v…

 Ở đời mấy ai tránh khỏi bệnh tật, không bệnh này thì bệnh nọ. 

 Bệnh nặng như ung thư hay sida phải có thuốc giảm đau như morphine mới chịu nổi, nếu không thì đau đớn rên siết như bị hành hình ở địa ngục, bệnh nhẹ như cảm cúm, sổ mũi, nhức đầu cũng làm cho ta mệt mỏi, khó thở, đau nhức. 

 Mỗi khi khỏe mạnh, không bệnh hoạn thì ta hãy mừng rỡ ý thức đó là một hạnh phúc

 Có nhiều tiền mà bệnh hoạn liên miên, ăn không được, ngủ không yên, hết nằm nhà thương này đến nhà thương nọ, có tiền như vậy đâu có sướng !

 Mỗi khi cảm thấy khổ đau, chán nản hay tuyệt vọng thì hãy nhớ lại ta đang còn sức khỏe đây. 

 Còn sức khỏe thì còn làm được tất cả.

 3/ Ta có đủ sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý)

 Có nguời đầy đủ sức khỏe nhưng lại bị mù, điếc, hoặc câm, què, tàn tật, v.v… 

 Những người này dù có tiền, có sức cũng đâu sung sướng gì ! 

 Bạn có thể tưởng tượng nếu bây giờ bị mù thì bạn sẽ ra sao ? 

 Chỉ cần nhắm mắt lại trong năm, mười phút đi tới đi lui trong nhà mình xem. 

 Bạn có hiểu được nỗi khổ của người mù không ? Vậy mà bạn đang còn đôi mắt sáng thấy được trời xanh, mây trắng, tai nghe được chim hót, nhạc hay, mũi ngửi được mùi cơm thơm, miệng nói năng được với người thương, thân không què quặt, tâm không điên loạn

 Như vậy còn đòi hỏi gì hơn? 

 Chỉ cần mất đi một căn thôi đời bạn sẽ mất đi rất nhiều ý nghĩa.

 Dù ở trong cảnh khổ nào đi nữa, nhớ lại mình còn nguyên vẹn sáu căn cũng đủ an ủi và xóa tan đi mọi niềm đau.

 4/ Ta có tự do

  Tự do ở đây là không bị tù đày chứ không có nghĩa chính trị hay tôn giáo. 

 Hiện tại bạn có đang ở tù không? 

 Có đang bị trói buộc, xiềng xích không ? 

 Có ai cấm bạn đi đứng nói năng, ăn uống không? 

 Có ai đánh đập theo dõi kiểm soát bạn không ? 

 Bạn có biết đời sống trong tù ra sao không? Dù đó là tù ở Pháp, ở Mỹ? 

 Có thể bạn nghĩ tù ở các xứ văn minh giàu có thì sướng hơn ở xứ nghèo chăng? 

 Ở Mỹ nhân viên cai tù không hành hạ tù nhân nhưng chính những người tù đánh đập, áp bức, hiếp dâm lẫn nhau rất dã man.

 Ngay bây giờ nhìn lại, bạn có thấy mình được tự do đi đứng nói năng không ? 

 Nhớ ai thì lên xe rồ máy đi thăm, thèm ăn món gì thì ra chợ mua hoặc đi nhà hàng, v.v… 

 Có biết bao người đang bị tù đày khổ sở, trong đầu chỉ ao ước được tự do như bạn là họ sung sướng lắm. 

 Vậy mà đang sống tự do bạn có cảm thấy hạnh phúc không? 

 Nếu không thì bạn hãy ý thức và nhớ lại đi, đừng để khi mất tự do rồi mới mơ ước thì quá muộn.

 5/ Ta có tiện nghi vật chất.

 Tiện nghi vật chất không hẳn là nhà cao cửa rộng, xe hơi, ti vi, tủ lạnh, máy giặt, máy rửa chén, v.v… 

 Tiện nghi ở đây là những thứ căn bản mà phần đông chúng ta đều có, đó là cơm ăn, áo mặc, chỗ ở che mưa nắng, không phải đi ăn xin, ngủ đầu đường xó chợ. 

 Nhiều người ở Việt Nam vẫn tưởng rằng sống ở Pháp hay Mỹ chắc sướng lắm vì đầy đủ tiện nghi, họ đâu biết là ở đâu cũng có kẻ giàu người nghèo. 

 Ngay tại Paris, thủ đô ánh sáng, hàng ngày vẫn có nhiều người ăn xin vô gia cư, tiếng pháp gọi là SDF (sans domicile fixe), ngửa tay đi xin tiền trong xe điện ngầm (métro), tối đến họ chui vào những gầm cầu thang để ngủ.; như ở Mỹ cũng có Homeless vậy.

 Nhìn lên chẳng bằng ai, nhưng nhìn xuống thì ta vẫn còn may mắn hơn nhiều người

 Hãy nhìn lại hoàn cảnh của mình, bạn có đói đến nỗi thiếu ăn không ? 

 Có nghèo đến nỗi không còn mảnh vải che thân ? 

 Nếu chưa đến nỗi như vậy thì bạn hãy xem mình đầy đủ. 

 Khi tâm biết đủ (tri túc) thì bao nhiêu cũng đủ, khi tâm tham muốn đòi hỏi thì bao nhiêu cũng không đủ. 

 Người biết đủ là người giàu có hạnh phúc vì không thấy thiếu thốn, người tham lam keo kiệt dù có nhiều tiền vẫn là người nghèo vì không bao giờ thấy đủ.

 6/ Ta có tình thương

 Nhiều người khổ sở vì cảm thấy cô đơn, không có ai thương mình hết. 

 Không ai thương mình bởi vì mình đâu có thương ai. 

 Khi trong lòng ta tràn đầy tình thương thì tự nhiên nó tỏa ra và mọi người sẽ tìm đến. 

 Giống như mùa xuân hoa nở thơm ngát thì tự động ong bướm bay tới xung quanh

 Ai cũng có một trái tim, tiếng Hán là tâm, bản chất của tâm (tim) là thương yêu. 

 Ta có dư tình thương cho chính mình và cho kẻ khác. 

 Chỉ cần nhớ lại mình có trái tim thương yêu và đem ra xử dụng

 Hiện tại bạn có ai là người thân thương không? 

 Có cha mẹ, anh em, vợ con, bạn bè không? 

 Có ai đang thương và lo lắng cho bạn không? 

 Có tình thương, biết thương và được thương là một hạnh phúc lớn nhất trên cõi đời này.

 7/ Ta có sự hiểu biết

 Hiểu biết ở đây là hiểu biết đạo lý chứ không phải kiến thức bằng cấp. 

 3 điều Thương Ghét

 1) Ða số người thường suốt ngày sống trong sự thương ghét. Người nào vừa ý, hợp ý mình thì thương, kẻ nào trái ý mình thì ghét.

 2) Khi bắt đầu biết đạo thì tập tánh bình đẳng, không thương người này ghét người kia.

 3) Sau khi hiểu đạo thì chỉ còn tình thương. Thấy ai cũng là bà con thân thuộc của mình từ nhiều đời, và thấy ai cũng đáng thương hết. 

 Anh chị Thụ & Mai gởi

CHO VÀ NHẬN

CHO VÀ NHẬN

Một hôm, một sinh viên trẻ có dịp  dạo chơi cùng giáo sư của mình. Vị giáo sư này vẫn thường được các sinh viên gọi thân mật là “người bạn của sinh viên” vì sự thân thiện và tốt bụng của ông đối với họ.
Trên đường đi, hai người chợt thấy một đôi giày cũ nằm ở giữa đường. Họ cho rằng đó là đôi giày của một nông dân nghèo làm việc ở cánh đồng gần bên, và  người ấy đang chuẩn bị kết thúc ngày làm việc của mình.
Anh sinh viên quay sang nói với vị giáo sư: “Chúng ta hãy thử trêu chọc người nông dân xem sao. Em sẽ giấu đôi giày của ông ta rồi thầy và em cùng trốn vào sau những bụi cây kia để xem thái độ ông ta ra sao khi thấy bị mất giày.”
Vị giáo sư ngăn lại: “Này, anh bạn trẻ, chúng ta đừng bao giờ đem những người nghèo ra mà trêu chọc để mua vui cho bản thân. Nhưng em là một sinh viên khá giả, em có thể tìm cho mình một niềm vui lớn hơn nhiều nhờ vào người nông dân này đấy. Em hãv đặt một đồng tiền vào trong mỗi chiếc giày và chờ xem phản ứng ông ta ra sao.”
Người sinh viên làm như lời vị giáo sư chỉ dẫn, sau đó cả hai cùng trốn vào sau bụi cây gần đó.
Chẳng mấy chốc người nông dân đã xong việc và băng qua cánh đồng đến nơi đặt giày và áo khoác của mình. Vừa mặc áo khoác vừa xỏ chân vào một chiếc giày, bác nông dân bỗng thì cảm thấy có vật gì cứng cứng bên trong. Ông ta rút chân ra, cầm gìầy lên xem thì đó là một đồng tiền.

Sự kinh ngạc bàng hoàng hiện rõ trên gương mặt ông. Ông ta chăm chú nhìn đồng tiền, lật hai mặt đồng tiền qua lại và ngắm nhìn thật kỹ. Rồi ông nhìn khắp xung quanh nhưng chẳng thấy ai. Lúc bấy giờ ông bỏ đồng tiền vào túi, và tiếp tục xỏ chân vào chiếc giày kia. Sự ngạc nhiên của ông dường như được nhân lên gấp bội, khi ông tìm thấy đồng tiền thứ hai bên trong chiếc giày. Với cảm xúc tràn ngập trong lòng, người nông dân quì xuống, ngước mặt lên trời và đọc to lời cảm tạ chân thành của mình. Ông bày tỏ sự cảm tạ đối với bàn tay vô hình nhưng hào phóng đã đem lại một món quà đúng lúc cứu giúp gia đình ông khỏi cảnh túng quẫn người vợ bệnh tật không ai chăm sóc và đàn con đang thiếu ăn.
Anh sinh viên lặng người đi vì xúc động, nước mắt giàn giụa. Vị giáo sư lên tiếng: “Bây giờ em có cảm thấy vui hơn lúc trước nếu như em đem ông ta ra làm trò đùa không?” Người thanh niên trả lời: “Giáo sư đã dạy cho em một bài học mà em sẽ không bao giờ quên. Đến bây giờ em mới hiểu được ý nghĩa thật sự của câu nói mà trước đây em không hiểu: “Cho đi là hạnh phúc hơn nhận về”.

CẢM ƠN CUỘC SỐNG

CHO VA NHAN*Nếu bạn thấy đêm nay khó ngủ – Cứ nghĩ đến những kẻ không nhà chẳng nệm ấm chăn êm.

*Nếu bạn gặp một ngày tồi tệ nơi làm việc – Hãy nghĩ đến những người đã mấy tháng nay không tìm được việc làm.

*Nếu bạn chán nản vì mối quan hệ xấu đi – Hãy nghĩ tới những kẻ không bao giờ biết hương vị của thương yêu và được người yêu thương lại.

*Nếu bạn buồn phiền vì thêm một cuối tuần vô vị trôi qua – Hãy nghĩ tới những người phụ nữ quẫn bách, quần quật cả ngày, suốt tuần không nghĩ, chỉ mong kiếm được chút tiền còm nuôi mấy miệng ăn.

*Nếu bạn hỏng xe dọc đường, phải cuốc bộ vài dặm vài mới tìm ra được người giúp đở – Hãy nghĩ tới những ai liệt cả đôi chân, luôn khao khát được bước đi như bạn.

CHO NHAN 1
*Nếu bạn cảm thây đời mình bị mất mát và băn khoăn về ý nghĩa kiếp người – Xin bạn hãy biết ơn cuộc sống vì có nhiều người đã không được sống hết tuổi trẻ của mình để có những trải nghiệm như bạn.
*Nếu bạn cảm thấy mình là nạn nhân của những ai hay cay nghiệt, dốt nát, nhỏ nhen, nghi kỵ – Hãy nhớ rằng việc đời có khi còn tệ hại hơn thế rất nhiều.

S.T.