Tổng thống Zuma xin lỗi vì tiền sửa nhà

 Tổng thống Zuma xin lỗi vì tiền sửa nhà

AFP

Tổng thống Nam Phi Jacob Zuma xin lỗi người dân Nam Phi trong cố gắng chấm dứt bê bối kéo dài về việc dùng tiền nhà nước xây nhà cho ông.

“Việc này đã gây nhiều bức xúc và xấu hổ, và tôi xin lỗi,” ông nói trên truyền hình.

Ông tuyên bố sẽ tuân theo phán quyết của tòa rằng ông phải trả lại tiền chính phủ dùng để nâng cấp căn nhà sang trọng của ông ở nông thôn.

Phe đối lập đã đòi ông từ chức.

Trong bài nói hôm thứ Sáu trên tivi, tổng thống Nam Phi nói ông “không cố tình vi phạm hiến pháp”.

Một cơ quan chống tham nhũng hồi năm 2014 nói rằng 23 triệu đôla đã được dùng để xây nhà cho tổng thống ở tỉnh KwaZulu-Natal.

Hai đảng đối lập, EFF và DA đã đưa vụ này ra tòa.

Nhiệm kỳ tổng thống của ông Zuma bị hoen ố vì cáo buộc tham nhũng và lạm quyền.

Ông được bầu lần đầu năm 2009 và sẽ rời chức vụ năm 2019.

Đảng cầm quyền ANC vẫn ủng hộ ông Zuma.

Sau diễn văn, tổng thư ký của đảng ANC, Gwede Mantashe, gọi đòi hỏi từ chức của phe đối lập là “phản ứng quá đà”.

Quốc hội khóa 13 và Quốc hội khóa 14 và hiến pháp xã hội chủ nghĩa

Quốc hội khóa 13 và Quốc hội khóa 14 và hiến pháp xã hội chủ nghĩa

Viet-studies

Nguyễn Thị Từ Huy

31-3-2016

Quốc hội khóa 13, kỳ họp thứ 11. Nguồn: internet

Tại sao Quốc hội Việt Nam khóa 13 lại vượt quá quyền hạn của mình, vội vàng bầu bốn chức vụ chủ chốt của bộ máy quyền lực? Câu hỏi này đã lan truyền trong nhân dân từ khi thông tin về về việc này được đưa ra, và cũng đã có nhiều diễn giải.

Việc Quốc hội khóa 13 bầu chủ tịch cho Quốc hội khóa 14 và bầu các chức vụ lãnh đạo chủ chốt của nhà nước cho nhiệm kỳ của Quốc hội khóa 14 là một bằng chứng hùng hồn cho việc Hiến pháp Việt Nam chỉ là một mớ giấy lộn. Những người soạn thảo Hiến pháp và thông qua Hiến pháp (tức là Quốc hội) lại là những người coi nó không ra gì, sẵn sàng vi phạm nó, chà đạp nó bằng các quyết định và các việc làm tùy tiện của mình. Trong khi đòi người dân tôn trọng luật pháp, thì cơ quan lập pháp tự mình ngồi xổm lên pháp luật. Điều này chứng minh một nhận định của Hannah Arendt từ những năm 50 của thế kỷ trước: trong một thế chế toàn trị «tất cả đều có thể xảy ra».

Hệ lụy của những hành vi vi phạm Hiến pháp của Quốc hội là gì? Có nhiều hệ lụy, ở đây tôi chỉ nêu ra một hệ lụy, chắc sẽ còn có nhiều phân tích khác của những người khác.

Cho dù về mặt cá nhân, tôi kính trọng chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, thì lo-gic thông thường buộc tất cả người dân Việt Nam (trong đó có tôi) phải nhận ra rằng: Quốc hội 14 do bà Nguyễn Thị Kim Ngân lãnh đạo sẽ là một Quốc hội bù nhìn, số phận bù nhìn này vừa được tuyên bố một cách công khai, một Quốc hội đã bị tước hết tất cả các quyền cơ bản và quan trọng (quyền bầu chủ tịch của mình, quyền bầu các chức danh lãnh đạo của nhà nước, vốn được ghi trong Hiến pháp) ngay từ khi chưa ra đời. Và kéo theo đó, việc «toàn dân» bầu Quốc hội khóa 14 chỉ còn là một việc làm vô nghĩa, chỉ còn là một hình thức chia chác tiền ngân sách cho các đơn vị tổ chức bầu cử mà thôi.

Tuy nhiên, nếu, một ngày đẹp trời, trong tương lai, trên 50% đại biểu của Quốc hội 14 đột nhiên tìm lại lòng tự trọng của mình, đột nhiên muốn giành lại phẩm giá và quyền tự quyết cho mình, đột nhiên không muốn làm bù nhìn nữa, và họ tuyên bố rằng bà Nguyễn Thị Kim Ngân không do họ bầu ra, vì thế bà không phải là chủ tịch của họ. Bà do Quốc hội khóa 13 bầu ra, vậy bà là chủ tịch của Quốc hội khóa 13, chứ không phải là chủ tịch của Quốc hội khóa 14. Đối với Quốc hội khóa 14, bà Nguyễn Thị Kim Ngân là một lãnh đạo không chính danh và không hợp pháp. Vì thế, họ sẽ bầu lại một chủ tịch mới, một chủ tịch đích thực của họ, do họ bầu ra. Về cơ bản, Quốc hội khóa 14 hoàn toàn có quyền làm như vậy. Và các chức danh lãnh đạo do Quốc hội khóa 13 bầu ra cũng có thể rơi vào tình trạng tương tự. Cách làm của Quốc hội khóa 13 (lưu ý là chưa từng xảy ra trong lịch sử Quốc hội Việt Nam) đã tước mất tính chính danh và tính hợp pháp của các chức vụ lãnh đạo chủ chốt, khiến cho nhiệm kỳ của họ sẽ bị rơi vào một tình thế khó khăn, nếu có một lúc nào đó, Quốc hội 14 quyết định truy xét lại tính hợp pháp của họ.

Việc Quốc hội khóa 14 đòi thực hiện quyền của mình, quyền đã được hiến định, quyền của cơ quan quyền lực cao nhất của một quốc gia, là điều bình thường, và hoàn toàn có thể xảy ra, trong một đất nước pháp quyền, nơi pháp luật được tôn trọng và có giá trị thực trong sinh hoạt xã hội.

Dĩ nhiên, không thể hình dung một kịch bản như thế trong một thế chế độc tài. NHƯNG, lịch sử có những bất ngờ mà đôi khi không ai có thể dự đoán được.

Ngoài ra, nếu nhìn từ một góc độ khác, có thể thấy: hiện nay, một trong những nguyên tắc hoạt động của đảng cầm quyền ở Việt Nam là «tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách», và lãnh đạo theo nguyên lý «dân chủ tập trung». Nguyên lý và nguyên tắc này dẫn đến hệ quả tất yếu là trong hoạt động quyền lực, trên thực tế, mọi việc đều do Bộ Chính trị (BCT) quyết, kể cả hoạt động của Quốc hội. BCT là đầu não, là trung tâm quyền lực. Vì thế mới có thể xảy ra việc Quốc hội khóa 13 bầu chủ tịch cho Quốc hội khóa 14, và bầu luôn cả các chức danh lãnh đạo chủ chốt. Dĩ nhiên, nếu BCT không chỉ đạo thì sẽ không bao giờ có việc đó. Dù sao trong Quốc hội 13 cũng có những đầu óc hiểu biết, và vẫn còn có những người có liêm sỉ, nếu được tự quyết thì họ sẽ không làm một việc như vậy, và trước hết là họ không đặt ra vấn đề đó như một nhiệm vụ của họ, vì họ biết rõ việc đó vượt khỏi quyền hạn được phép của họ.

Vậy, BCT mới có 19 người, và có bốn người ở các vị trí chủ chốt: tổng bí thư, chủ tịch nước, thủ tướng, chủ tịch quốc hội. Như vậy, 4/19 là thiểu số. Nếu mai kia, một ngày đẹp trời, 15/19 thành viên của BCT muốn thay toàn bộ bốn chức danh chủ chốt này, thì với tiền lệ vừa được Quốc hội 13 tạo ra, họ sẽ thi hành ngay lập tức. Bốn vị này sẽ phải viết đơn từ nhiệm, và Quốc hội sẽ lại bầu bộ tứ mới. Đã có tiền lệ rồi mà, có việc gì là không làm được? Lúc đó, hãy hình dung điều gì có thể xảy ra.

Quốc hội 13, bằng sự phục tùng vô điều kiện của mình, bằng việc từ bỏ chức trách của mình khi thực hiện vô điều kiện các đòi hỏi của BCT, đã vừa tạo ra tiền đề cho những khủng hoảng rất có thể sẽ xảy ra về sau ở bộ phận cao nhất của cơ quan quyền lực.

Câu hỏi tự động được đặt ra là: điều gì đang xảy trong guồng máy lãnh đạo Việt Nam? Phải chăng đấy là một việc làm có tính toán phục vụ cho một mục đích dài hạn của một nhóm người nào đó hay một thế lực nào đó?

Nhưng câu hỏi cũng có thể đươc đặt ra theo kiểu khác (đúng là «mọi điều đều có thể»!):

Phải chăng, cách làm việc và các quyết định hết sức tùy tiện, vi phạm luật pháp, hiến pháp, như đang diễn ra hiện nay, là để chuẩn bị cho những rối loạn không thể tránh khỏi trong tương lai? Và những rối loạn này sẽ buộc Việt Nam phải thay đổi một cách triệt để hệ thống chính trị của mình? Phải chăng đấy là chủ ý của những người đang âm thầm chuẩn bị cho các rối loạn này, bởi vì hiện tại họ quá đơn độc, không thể trực tiếp và công khai thực hiện các cải cách mà họ mong muốn? Nếu quả thật như vậy thì chúng ta sẽ phải cảm ơn vị (hoặc một số vị) đạo diễn tài ba, khôn khéo, đang lặng lẽ chuẩn bị cho những khủng hoảng sẽ dẫn tới chuyển biến mang tính lịch sử của chính trị Việt Nam.

Tuy nhiên, những chuyển biến đó chỉ có thể xảy ra khi và chỉ khi người dân và trí thức Việt Nam hiểu được ngầm ý của các vị «đạo diễn» đó để có các hành động phối hợp nhịp nhàng với họ. Nếu Quốc hội khóa 13 vi phạm Hiến pháp nhưng Quốc hội khóa 14 và người dân đều chấp nhận, thì sẽ chẳng có gì xảy ra. Và hẳn nhiên, khi người dân Việt Nam quyết định hành động, và hành động một cách đồng bộ, mạnh mẽ, thì dù có hay không sự tồn tại của các vị «đạo diễn» kia, hệ thống chính trị buộc sẽ phải chuyển động.

Paris, 31/3/2016

Nguyễn Thị Từ Huy

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 31-3-16

Việt Nam bị tố cáo leo thang đàn áp nhân quyền

Việt Nam bị tố cáo leo thang đàn áp nhân quyền

Nguyễn Đình Ngọc - tức blogger Nguyễn Ngọc Già - bị kết án 4 năm tù giam về tội danh ‘tuyên truyền chống nhà nước’.

Nguyễn Đình Ngọc – tức blogger Nguyễn Ngọc Già – bị kết án 4 năm tù giam về tội danh ‘tuyên truyền chống nhà nước’.

Trà Mi-VOA

01.04.2016

Loạt án tù mới đây dành cho các blogger và các nhà hoạt động vì quyền đất đai đánh dấu sự leo thang của chiến dịch đàn áp nhân quyền tại Việt Nam, theo tố cáo của Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền (FIDH).

Thông cáo vừa công bố của FIDH nói ‘Làn sóng giam cầm tùy tiện các blogger và các nhà hoạt động gần đây chứng minh sự tàn nhẫn của chính phủ Việt Nam trong cách ứng phó với những bất đồng chính kiến ôn hòa. Việt Nam phải chấm dứt ngay chiến dịch gia tăng đàn áp và phóng thích tất cả các tù nhân chính trị’.

Lời kêu gọi của cơ quan đại diện cho 178 tổ chức nhân quyền trên thế giới được đưa ra sau khi Việt Nam hôm 30/3 kết án blogger Nguyễn Ngọc Già 4 năm tù giam về tội  danh ‘tuyên truyền chống nhà nước’ vì các bài viết chỉ trích chính phủ mà Hà Nội xem là ‘gây mất lòng tin nhân dân vào đảng và nhà nước’.

Cùng ngày, 3 phụ nữ khiếu kiện đất đai cũng bị tuyên án vì điều 88 Bộ Luật Hình sự với tổng cộng 10 năm tù sau khi giương cờ Việt Nam Cộng hòa và ‘biểu tình trái phép’ bên ngoài Lãnh sự quán Mỹ tại Sài Gòn hồi tháng 7/2014, hành vi bị nhà cầm quyền cho là ‘đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm an ninh quốc gia’.

Trước đó 1 tuần, Việt Nam kêu án blogger Nguyễn Hữu Vinh và trợ lý của ông Nguyễn Thị Minh Thúy lần lượt là 5 năm và 3 năm tù về tội danh ‘lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước’, theo Điều 258 Bộ Luật Hình sự, liên quan đến các bài viết mà Hà Nội gọi là ‘xuyên tạc’ đảng và nhà nước.

Giám đốc phụ trách khu vực Châu Á thuộc Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền dự đoán bức tranh nhân quyền của Việt Nam sẽ càng tối tăm hơn trong thời gian tới với chiến dịch mở màn cho dàn tân lãnh đạo trong bộ máy cầm quyền của đảng cộng sản Việt Nam.

Ông Andrea Giorgetta nói:

“Tôi không ngạc nhiên trước những gì đang diễn ra. Sau một chút tạm ngưng vì bầu bán đại hội đảng, bộ máy đàn áp của nhà nước Việt Nam đã tái khởi động với toàn công suất. Quả là một tín hiệu xấu đối với giới hoạt động bảo vệ nhân quyền trong nước khi cựu Bộ trưởng Công An sắp lên làm Chủ tịch nước. Chúng ta không trông mong gì sẽ nhìn thấy nhân quyền Việt Nam được cải thiện trong thời gian tới”.

Chưa có những áp lực bền vững buộc Việt Nam phải có những cải tổ quan trọng về mặt chính trị, luật pháp hay phóng thích tù nhân lương tâm. Thậm chí phản ứng của quốc tế hiện chưa đủ mạnh trước chiến dịch đàn áp đang diễn ra tại Việt Nam. Mọi người cần đồng thanh gióng tiếng nói quan ngại mạnh mẽ và quyết liệt hơn nữa đối với các vi phạm nhân quyền của Việt Nam.

Ông Andrea Giorgetta.

Ông Giorgetta nói mọi người mong chờ áp lực quốc tế sẽ giúp thay đổi nhân quyền Việt Nam nhưng cho tới nay chưa thấy đủ áp lực đáng kể ngoài những điều kiện đổi chác nhất định vào những thời điểm nhất định như quá trình thương lượng Hiệp định Thương mại Xuyên Thái Bình Dương (TPP) chẳng hạn.

Ông Giorgetta nói tiếp:

“Chưa có những áp lực bền vững buộc Việt Nam phải có những cải tổ quan trọng về mặt chính trị, luật pháp hay phóng thích tù nhân lương tâm. Thậm chí phản ứng của quốc tế hiện chưa đủ mạnh trước chiến dịch đàn áp đang diễn ra tại Việt Nam. Mọi người cần đồng thanh gióng tiếng nói quan ngại mạnh mẽ và quyết liệt hơn nữa đối với các vi phạm nhân quyền của Việt Nam”.

Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền kêu gọi châu Âu và đặc biệt là Hoa Kỳ, trong chuyến thăm của Tổng thống Mỹ tới Việt Nam vào tháng 5, dùng đòn bẩy kinh tế-chính trị để thúc bách Việt Nam chứng minh tôn trọng cam kết nhân quyền và biểu hiện những cải cách thực thụ.

Giám đốc khu vực Châu Á của FIDH nói:

“Chúng tôi kỳ vọng Tổng thống Barack Obama sẽ lặp lại lời kêu gọi cải thiện nhân quyền nhân chuyến thăm Việt Nam tới đây, không chỉ bằng ngôn từ mà phải bằng những hành động cụ thể gắn liền với những lời kêu gọi đó”.

FIDH nói các điều khoản trong Bộ Luật Hình sự không phù hợp với nghĩa vụ của Việt Nam theo luật pháp quốc tế cần phải bị loại bỏ, bao gồm điều 88 tuyên truyền chống nhà nước, điều 79 hoạt động nhằm lật đổ chính quyền, điều 258 lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước, hay điều 87 phá hoại đoàn kết dân tộc, những quy định thường được áp dụng trong các bản án dành cho giới hoạt động nhân quyền, những người chỉ trích chính phủ, hay bất đồng chính kiến.

Theo FIDH, Việt Nam hiện đang giam giữ khoảng 130 tù nhân chính trị, con số lớn nhất trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).

Hà Nội phủ nhận có tù nhân lương tâm tại Việt Nam và nhất mực khẳng định chỉ cầm tù những người vi phạm pháp luật.

Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền FIDH là cơ quan bảo vệ nhân quyền quốc tế đại diện cho 178 tổ chức nhân quyền từ gần 120 quốc gia.

Kể từ năm 1922 tới nay, FIDH bênh vực cho tất cả các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa như quy định trong Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền. Một thành viên trong FIDH là Ủy ban Bảo vệ Quyền làm người Việt Nam có trụ sở tại Pháp.

16 chữ vàng đánh tan “luận điệu xuyên tạc”?

16 chữ vàng đánh tan “luận điệu xuyên tạc”?

Lê Thiên

2-4-2016

Khi truyền thông CSVN báo tin Bộ trưởng Quốc phòng Trung cộng tới VN ngày 27-31/3/2016 “nhằm phản bác những luận điệu xuyên tạc sai trái về vướng mắc, bất đồng trong quan hệ Việt-Trung,” thì vào ngày 25/3/2016 chúng tôi cống hiến bạn đọc bài viết Mấy ghi nhận nhỏ về một bản tin của CSVN, phân tích cái mục tiêu hồ đồ ngang ngược của phía Trung Cộng cũng như thái độ hèn hạ đê tiện của phía CSVN đối với quan thầy của họ.

Rồi từ ngày 27 tới 31/3/2016 tất cả các báo lề đảng từ Quân Đội Nhân Dân tới Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Vietnamnet, VNExpress, Dân Trí…. đều như quên tiệt cái chuyện “phản bác những luận điệu xuyên tạc sai trái…” mà chỉ xoáy sâu vào 16 chữ vàng và 4 tốt!

16 Chữ Vàng

Cụ thể, bản tin ngày 27/03/2016 của Thông Tấn Xã CSVN (dưới nhan đề Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng tiếp Đoàn đại biểu cấp cao Bộ Quốc phòng Trung Quốc) nêu rõ “Đồng chí Thường Vạn Toàn khẳng định….thực hiện nghiêm các thỏa thuận giữa lãnh đạo cao cấp hai Đảng… theo phương châm ‘16 chữ’ và tinh thần ‘4 tốt’. Tiếp theo sau, tới lượt “Phó Tham mưu trưởng Thích Kiến Quốc khẳng định…. TQ mong cùng với VN thực hiện 16 chữ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai…” theo nguyên văn bản tin của Vietnamnet ngày 28/03//2016 – Tướng TQ: ‘Anh em xa không bằng làng giềng gần’. Vietnamnet còn lưu ý độc giả: “Ông [Thích Kiến Quốc] nhấn mạnh” lời khẳng định trên của ông ta!

Thế là các báo đảng đua nhau xoáy vào 16 chữ vàng và 4 tốt bằng hàng loạt thành ngữ, sáo ngữ và công thức lừa mị quen thuộc, như “đoàn kết, hữu nghị, hòa bình, hợp tác, ổn định, phát triển, lòng tin…”

Chẳng hạn, bản tin ngày 27/3/2016 của VNExpress (lặp lại bản tin của TTXVNCS) nêu rằng “Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc thăm Việt Nam, bàn về Biển Đông”, nhưng họ nào có hề đề cập gì tới những điều thiết thực ở Biển Đông mà phía Trung Cộng gây ra cho Việt Nam và ngư dân Việt Nam, ngang nhiên gia tăng phức tạp trên Biển Đông từng ngày cho Việt Nam?

Biển Đông

Nói là “bàn về Biển Đông”, sao không chỉ ra cụ thể những vụ Trung Cộng công khai cướp bóc, đánh đắm tàu cá của người Việt Nam, gây thương vong và cả tử vong cho ngư dân Việt Nam, thậm chí hèn hạ cướp bóc tài sản trên tàu thuyền của Việt Nam, hành xử côn đồ kiểu hải tặc độc ác? mà chỉ nói chung chung “nhất trí quân đội hai nước phải kiềm chế, kiểm soát tốt tình hình, không đe dọa sử dụng vũ lực, không để xảy ra xung đột, cùng giữ gìn hòa bình, ổn định hợp tác…” ?

Người dân Việt Nam có lạ gì miệng lưỡi quân Trung Cộng, luôn lớn tiếng tự cho mình “hết sức tự kiềm chế, kiểm soát tốt tình hình…” nhưng đồng thời lại ồ ạt chuyển vũ khí và các công cụ chiến tranh khác tới Hoàng Sa, Trường Sa, lại còn cho đó là “hành vi tự vệ”, đâu có “đe dọa sử dụng vũ lực” với ai!

“Trung Quốc-Việt Nam hợp tác bàn về Biển Đông”?

Vậy, thử hỏi có bàn hay không việc Cục Hải sự của Trung Cộng thông báo đặt giàn khoan Hải Dương 943 tại khu vực Biển Đông trong phạm vi lãnh hải Việt Nam từ ngày 25/4 đến 31/4/2016!

Có bàn hay không việc Cục Hải sự ấy của Tàu Cộng cảnh báo tàu thuyền “nước ngoài” không đi lại trong phạm vi bán kính 1 hải lý (1,85 km)?

Có bàn hay không “việc Trung Cộng liên tục tiến hành xây dựng ở Biển Đông” cũng như “việc Trung Cộng xây đường băng 3.500 m ở Hoàng Sa”?

Điều này khiến Dương Danh Dy, cựu Tổng lãnh sự CSVN tại Trung Cộng, không thể không lên tiếng với BBC ngày 28/3/2016 (qua bài TQ muốn làm dịu quan hệ với VN), cảnh báo rằng: “Các báo trong nước khi viết về quan hệ Việt – Trung thì lúc nào cũng nhấn mạnh ‘hữu nghị, hòa hảo’, nhưng sự thực có như thế đâu?”

Ông Dương Danh Dy mạnh mẽ cảnh báo: “Cứ tin Trung Quốc là chết!”

Ông Dương Danh Dy còn cho biết: “Khi có tin Bắc Kinh điều giàn khoan Hải Dương đến Biển Đông (đồng thời với sự hiện diện của Bộ Trưởng Quốc phòng TC tại VN) thì rõ là họ vẫn chơi trò ‘hai mặt.’”

Báo Giáo Dục Việt Nam ngày 28/3/2016, trong bài 7 nỗi lo lớn của dân tộc cũng đã đặt ra vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam. 7 nỗi lo lớn của dân tộc là do đại biếu QHCS Võ Thị Dung đưa ra. Theo bà Dung, nỗi lo thứ nhất và lớn nhất của dân tộc VN là nỗi lo về ngoại xâm: “Trung Quốc đã ngang nhiên xâm chiếm biển đảo của nước ta, trước đây là quần đảo Hoàng Sa, nay là một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa”. Bà Dung nói: “Đảng và Nhà nước đã có một số chủ trương đấu tranh kiên quyết!” Chúng ta có quyền không tin về điều này. Cũng vậy, chúng ta chắc chắn không ai tin vào chuyện “Đảng và Nhà nước kiên trì bằng biện pháp hòa bình”. Toàn là đánh gió! Nhưng chuyện “họ [TC] càng ngày càng lấn tới” thì là điều có thật! Và đó mới thực sự là “nỗi lo lớn cho đại sự quốc gia.”

Báo Giáo Dục Việt Nam còn đưa ra nhận xét của ông nghị Dương Trung Quốc: “Làm sao cho biển không còn gợn sóng nữa, làm sao cho chúng ta bảo vệ được chủ quyền đất nước. Trên lĩnh vực này tôi thấy Quốc hội qua ý kiến của người dân là chưa hài lòng.” Là thành viên của cái gọi là Quốc Hội dưới chính thể CS, ông Dương Trung Quốc tự đỡ đòn và đỡ đòn cho cơ chế của ông. Người dân không phải chỉ “chưa hài lòng”! Người dân căm hận và hết sức bất bình về cách ứng xử ngậm miệng ăn tiền của các đại biểu quốc hội CSVN chứ không phải chỉ là “chưa hài lòng” thôi đâu!

Trở lại chuyện “tàu lạ” đâm chìm tàu thuyền của ngư dân Việt Nam. Chuyện ấy đâu là chuyện mới xảy ra! Hai từ “tàu lạ” đã xuất hiện từ lâu, khiến người dân ai cũng rõ “lạ” mà không lạ!

Qua bài ‘Tàu lạ’ giết ngư dân…’ ngày 27-3-2016 trên Blog Anh Ba Sàm, Ts Phạm Chí Dũng lại đưa ra chuyện “tàu lạ” đánh hạ tàu cá ngư dân Việt Nam. Ông Dũng than thở: “Ngoài khơi Biển Đông, ‘tàu lạ’ vẫn ung dung tấn công và bắn giết ngư dân Việt. Trong đất liền, giới quan chức bám bờ vẫn hảo hảo chén thù chén tạc với nhau” và với cả bọn quan tướng Hán triều!

Cuối bài, Phạm Chí Dũng báo động: “Tương lai rất cận kề là hàng loạt vụ khiêu khích và có thể cả tấn công của ‘tàu lạ’ sẽ liên tiếp xảy ra. Tương lai hãi hùng không kém là còn nhiều mạng sống của ngư dân sẽ được bạn vàng tính sổ.” Rồi ông Dũng đặt ngay câu hỏi: “Ai sẽ phải chịu trách nhiệm về những cái tang ấy?” Còn ai nữa, thưa Ts Phạm Chí dũng? Nhưng rồi bọn thủ ác cũng lũ a dua vẫn bình chân như vại!

Cam Ranh trong nội vi Đường Lưỡi Bò

Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, Trung Cộng đã đánh chiếm, cướp đoạt sau khi gây đổ máu hàng trăm sinh linh vô tội! Chẳng thấy có câu nào, lời nào từ phía CSVN đấu tranh với kẻ thù. Đã vậy, người ta còn tự nhận mình “chủ động mời tàu TQ thăm cảng Cam Ranh” (theo Vietnamnet ngày 29/3/2016). Đây, nguyên văn câu nói của tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng CSVN: Chúng ta chủ động mời tàu hải quân TQ thăm các cảng VN, trong đó có cảng Cam Ranh, hưởng các dịch vụ ở đó…”

Hoàng Sa nhìn vào Cam Ranh! Chết rồi! Trúng kế chiến lược Lưỡi Bò Đại Hán rồi! Câu hỏi Việt Nam sẽ đi về đâu giờ đã có câu trả lời!

Năm ngoái, Nga xâm lược Crimea của Ukraine. Cuộc xâm chiếm trái phép này được truyền thông CSVN và cả một ông tướng – tướng Lê Văn Cương – biện hộ, tán dương và cổ vũ mạnh mẽ khiến chúng tôi viết bài “Bài học Ukraina – Nước ta trước họa Tàu Nga”. Xin trích lại mấy đoạn liên quan tới Trung Cộng với Cam Ranh như sau đây:

“Nếu với CSVN, Trung Quốc được tôn vinh là ‘người anh em thắm thiết môi liền môi’, thì Nga cũng được tung hô là người ‘ân nhân vĩ đại’ mà Việt Nam có ‘nghĩa vụ’ phải ‘đáp đền’ và đáp đền một cách cụ thể xứng đáng: Cảng Cam Ranh

“Câu hỏi đặt ra ở đây một lần nữa: Nếu trong nước nổ ra một biến động bất thường, như một cuộc biểu tình đòi hỏi thay đổi nhân sự chẳng hạn, thì nhà cầm quyền CSVN sẽ làm gì nếu phía Nga và Tàu viện cớ ‘bảo vệ lợi ích hợp pháp’ của người Nga, người Tàu tại VN như là một hành động “công khai và đúng luật”, dứt khoát đó “không phải là hành động ‘gây sự’” để đưa quân tới những điểm nóng?

“Ấy là chúng tôi chưa bàn tới việc Trung Cộng hay Nga Cộng đã cài sẵn tình báo, ngụy tạo một biến động nào đó để chơi trò tầm ăn dâu lấn đất trên khắp đất nước Việt Nam!” 

Phản bác những luận điệu xuyên tạc?

Trước khi Thường Vạn Toàn đến VN, người ta loan báo Toàn sang VN là “nhằm phản bác những luận điệu xuyên tạc… Khi Toàn đặt chân lên VN thì cái mục tiêu phản bác ấy bỗng dưng không còn được truyền thông CSVN quảng bá tung hô nữa. Người dân VN tưởng đâu mục tiêu kia đã bị gạt qua một bên để hai Đảng đi sâu vào chuyện Đảng sự to lớn hơn. Nhưng không! Không thể nào “mất cảnh giác” với những “luận điệu xuyên tạc”, việc Đảng sự sẽ hỏng bét.

Vậy thì phản bác những luận điệu xuyên tạcbằng cách nào? Bắt bớ, hành hạ, giam tù và kêu án nhiều năm luôn là thượng sách đối với CS! Vừa đẹp lòng đàn anh vừa trấn áp được “dư luận xấu” xuyên tạc mối tình thắm thiết giữa hai đảng anh em!

Hệ quả của toan tính trên là Anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và người cộng sự, cô Nguyễn Minh Thúy trở thành vật hiến tế đầu tiên! Hai người đấu tranh cho Dân chủ – Dân quyền này bị ra tòa, ngày 23/4/2016, chỉ vài ngày trước ngày viên tướng Bộ trưởng Quốc phòng TC đến Việt Nam. Nguyễn Hữu Vinh lãnh 5 năm tù. Nguyễn Minh Thúy 3 năm!

Rồi đến Blogger Nguyễn Ngọc Già, tức cựu ký giả Nguyễn Đình Ngọc của đài truyền hình CSVN, bị đưa ra Tòa ngày 30/3/2016 và cũng chịu mức án cao: 4 năm tù về tội “đăng tin xuyên tạc, biên soạn, phát tán nhiều bài viết có nội dung chống chính quyền, xúc phạm uy tính, danh dự lãnh đạo đảng”.

Cùng ngày 30/3/2016, ba phụ nữ dân oan tranh đấu cho chủ quyền đất đai lãnh án nặng với cáo buộc chống phá nhà nước”. Bà Ngô Thị Minh Ước 4 năm tù; bà Nguyễn Thị Trí và Nguyễn Thị Bé Hai lãnh mỗi người 3 năm tù.

Như vậy, để đón tiếp quan chức Tàu Cộng, CSVN kết án 6 người dân, gồm 3 người mỗi người án tù 4 năm, cùng với 3 người khác mỗi người chịu án 3 năm. Tổng cộng 21 năm tù cho 6 dân đen thấp cổ bé miệng Việt Nam. Đúng là 21 quả đại bác chào mừng đội quân Cộng đảng đàn anh đến VN mở rộng tay ban phát lại 16 chữ vàng và 4 tốt hữu hảo mà đám đồng chí đàn em vốn đã từng khom lưng cúi đầu đón nhận, nhưng chưa thực hiện đến nơi đến chốn, khiến Hán triều xốn xang, phải thân hành đi đến Việt Nam truyền lại bài học!

Quyền lực và trách nhiệm

Quyền lực và trách nhiệm

Khi khẳng định Đảng Cộng sản là người lãnh đạo duy nhất đất nước và dân tộc, và đưa vào điều 4 của hiến pháp nhằm hợp pháp hoá quyền lãnh đạo ấy, thì đồng thời cũng phải hiểu trách nhiệm mà mình gánh vác nặng nề như thế nào? Trách nhiệm cao nhất là giữ nguyên vẹn đất nước mà tiền nhân trải qua hàng ngàn năm vun đắp bằng máu xương và công sức to lớn của lớp lớp người đi trước ! Không tội nào lớn hơn tội để mất nước!

____

Hoàng Lại Giang

1-4-2016

Ảnh minh họa. Nguồn internet

Cho đến hôm nay vẫn còn có người qui cho Nguyễn Ánh (vua GIA LONG) bán nước! Những tư liệu mà tôi tìm được suốt 50 năm qua thì cái định đề trên không có chỗ đứng cho sự thực lịch sử. Ngược lại vua GIA LONG triều NGUYỄN và chính quyền Pháp đã để lại cho chúng ta một đất nước hoàn chỉnh từ ải Nam Quan cho tới Cà Mau, từ biển đảo Hoàng Sa đến Trường Sa với đầy đủ những tư liệu chính xác mà hôm nay người phát ngôn bộ ngoại giao ta vẫn nhắc đi nhắc lại với giặc Tàu và thế giới về chủ quyền biển đảo không thể chối cãi được!

Biến công ơn thành tội đồ đấy không phải là tính cách của những người có văn hóa. Văn hóa của người Việt là ăn quả nhớ người trồng câyUống nước nhớ nguồn!

Hơn 600 năm trước Nguyễn Phi Khanh bị quân Minh bắt giải sang Tàu. Hai  anh em Nguyễn Trãi đi cùng cha. Đến Ải Nam quan Nguyễn Phi Khanh dừng lại  bảo Nguyễn Trãi quay về Thăng Long nuôi chí diệt giặc mới là làm tròn đại hiếu.

Hồi còn trẻ, thế hệ  tôi đã từng đến Ải Nam Quan, thác Bản Dốc! Nhưng bây giờ thì cái gọi là Hữu Nghị Quan ấy còn đâu nữa? Thác chính của bản Giốc hùng vĩ và thơ mộng là vậy, còn đâu nữa?

Tại sao đang là của ta từ các bản đồ của  triều Nguyễn và chính quyền Pháp có đầy đủ thác chính Bản Giốc, Ải Nam Quan… lại trở thành của Tàu  trong chế độ xã hội chủ nghĩa của ta?

Dù có tính theo cách gì thì vẫn không thuyết phục được lòng dân! Ông cha chúng ta xây dựng đất nước hàng nghìn năm, không phải tự nhiên… mà vào tay con cháu đại Hán! Đấy là món nợ mà hôm nay chúng ta phải trả lời trước lịch sử.

Rồi Trường Sa, Hoàng Sa? Triều Nguyễn còn lưu lại đầy đủ (dù thực dân Pháp có chiếm đất nước ta thì họ vẫn không đánh mất một tấc đất, một hòn đảo nhỏ nào của nước ta).

Khi đất nước chia đôi theo hiệp định Giơ-ne-vơ thì Hoàng Sa thuộc chính quyền Sài Gòn. Chính quyền Sài Gòn đã giữ Hoàng Sa với trách nhiệm rất cao. Chỉ sau hiệp định Paris được kí kết, người Mỹ chấp nhận rút quân khỏi miền Nam Việt Nam thì quân Tàu mới thừa cơ cuộc nội chiến Việt Nam đang căng thẳng, dùng vũ lực đánh chiếm Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974. 74 chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hi sinh anh dũng, đấy là sự hi sinh anh dũng đáng được tôn vinh và ghi vào lịch sử dân tộc, đáng dựng bia, tạc tượng. Không làm được điều đó là đồng loã với quân cướp nước, có tội với lịch sử. Tôi không đưa ra đây những phát ngôn mang nội hàm bán nước của một số người. Việc này văn học dân gian sẽ … khắc bia vào lòng dân tộc với những thái độ dè dặt, có phần khiếp nhược của một số nhà lãnh đạo hôm nay.

Nhớ lại sau việc « chống lưng » cho bọn Ponpot đánh phá, giết hại bao dân thường của ta ở biên giới Tây Nam, năm 1979 giặc Tàu lại đem quân qua đánh chiếm 6 tỉnh biên giới phía Bắc nước ta. Bao nhiêu dân thường đã chết một cách thảm thương, bao nhiêu chiến sĩ của ta đã ngã xuống! Tội ác này: Trời không dung Đất không tha! Vậy mà sau 30 năm một tấm bia tưởng niệm cũng không có. Ai nghĩ nó sẽ phai nhạt trong lòng dân, người ấy nhầm. Ngược lại, lòng dân sẽ càng bức xúc theo năm tháng về sự xúc phạm trái với đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc Việt Nam, của nền văn hiến nghìn năm của dân tộc!

Năm 1988 bọn hải tặc Trung Quốc lại dùng sức mạnh quân sự ngang nhiên chiếm hàng loạt biển đảo của ta ở Trường Sa!

Và sau đó ai cũng biết chúng kéo giàn khoan 981 cùng hàng loạt tàu hộ tống vào thềm lục địa của nước ta để khoan thăm dò dầu khí!

Cho đến nay thì các đảo chúng chiếm được của ta đã là sân bay, cầu cảng, dàn ra đa và kho chứa đầy vũ khí đã được cấp tập chuyển ra!

Thứ trưởng bộ thông tin truyền thông Việt Nam Trương Minh Tuấn đã dẫn một đoàn ra Trường Sa. Và ông ta đã trực tiếp «chứng kiến hoạt động xâm lấn rầm rộ của Trung Quốc».

Rõ ràng đất nước ta đang từ từ rơi vào tay giặc Trung Quốc!!! Vậy mà có nhà lãnh đạo còn lo lắng về ‘mối quan hệ giữa hai nước, hai dân tộc’ xấu đi, thậm chí có nhà lãnh đạo còn khẳng định mối quan hệ giữa hai nước, hai dân tộc là mối quan hệ truyền thống, môi răng, cần phải giữ gìn. Tôi nghĩ những nhà lãnh đạo ấy cố tình né tránh một sự thật lịch sử: Âm mưu sâu xa của Trung Quốc là biến Việt Nam ta thành chư hầu, thành phiên thuộc của chúng như Nội Mông! Duy Ngô Nhĩ!!!

Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử đấu tranh kiên cường, bất khuất hàng nghìn năm, trước giặc phương Bắc. Với giặc phương Tây lịch sử chỉ ghi có 80 năm mà thôi.

Cái gọi là ý thức hệ, là đồng chí, anh em, 16 chữ, 4 tốt, đại cục, tiểu cục chỉ là cái ‘bẫy’ cho những người nhẹ dạ cả tin và ảo tưởng! Ý đồ xâm lược sâu xa của con cháu nhà đại Hán đã có từ trong huyết quản của chúng, đừng hòng có sự thay máu. Cả nhân loại hôm qua và hôm nay đã biết rất rõ tâm địa của chúng. Không lý gì những nhà lãnh đạo của ta hôm nay không biết!

Tôi rất buồn khi vị bộ trưởng Văn phòng Chính phủ ta lại tin tưởng sẽ dùng biện pháp trao đổi trên cơ sở tôn trọng công ước quốc tế thì kẻ cướp biển đảo của ta sẽ nhận ra lẽ phải. Một sự tin tưởng không thực tế, một sự ấu trĩ cố tình, nếu không muốn nói là đánh lừa công luận đang sôi sục căm hờn!

Lịch sử cho thấy, chưa bao giờ ta mạnh hơn Trung Quốc! Nhưng lịch sử cũng chứng minh chưa bao giờ ta chịu thần phục Trung Quốc!

Từ đầu thế kỷ 11, Tống Thần Tôn lên ngôi, chấp nhận lời thỉnh nguyện của tể tướng Vương An Thạch, đem quân qua đánh Việt Nam. Chúng cho xây thành đắp lũy ở châu Ung, châu Liêm, châu Khâm (Ngày nay là Quảng Đông và Quảng Tây). Lý Thường Kiệt được triều thần ủng hộ, đã chặn ngay ý đồ xâm lược của chúng trên đất của chúng. Lần thứ hai Lý Thường Kiệt đánh tan tác quân Tống trên sông Như Nguyệt! Cùng với sự thất bại của biến pháp, hai trận thua đau trước Lý Thường Kiệt, Tống triều buộc phải cho tể tướng họ Vương về vườn! Vua tôi nhà Trần ba lần đánh tan quân Nguyên Mông! Và gần đây nhất là 29 vạn quân Thanh đã tan tác, bỏ cả ấn tín tranh nhau qua cầu phao, chạy về nước! Gò Đống Đa là nấm mồ lớn nhất nước Nam vẫn còn đó, cùng năm tháng nhắc nhở người Việt về niềm tự hào dân tộc, và nhắc nhở giặc phương Bắc nỗi nhục của kẻ nuôi mộng bá quyền!

Vua Trần Nhân Tông đã từng nói, ai lơ là để mất dù là một tấc đất của tiền nhân để lại, kẻ đó phải bị chém! Thời hiện đại chúng ta đã để giặc phương Bắc cướp đi bao nhiêu đất đai, biển đảo chưa thấy ai bị chém cả? Câu hỏi giành cho hậu thế.

Đến lúc phải xóa cho được câu đã thành văn học dân gian: ‘Hèn với giặc, ác với dân’ ở thời đương đại. Câu đó xuất phát từ đâu ? Xin thưa từ thái độ mềm mỏng đến nhu nhược trước nạn xâm lăng phương Bắc bằng cách dùng cả một lực lượng công an đồ sộ đàn áp những người yêu nước biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược! Hành động ấy đồng nghĩa với việc thông đồng với giặc triệt tiêu những lực lượng yêu nước chống xâm lăng.

Không phải ngẫu nhiên mà một cháu bé mới tròn 18 tuổi đã dám lấy máu mình viết lên 2 tấm vải 2 dòng chữ bày tỏ một thái độ thiếu cương quyết của chính quyền và hành động hung hăng ngang ngược, lật lọng của kẻ cướp nước. Cháu ấy là Nguyễn Phương Uyên, con một gia đình nghèo khó ở Bình Thuận. Tôi không nghĩ cháu nông nổi! Suy nghĩ và hành động của Phương Quyên là sự cô đúc tinh thần yêu nước và căm thù giặc xâm lược, truyền thống của dân tộc được đúc kết qua hàng ngàn năm giữ nước. Đó cũng là bản lĩnh, là trí tuệ: thà chết vinh hơn sống nhục!

Cũng có nhà lãnh đạo hùng hồn trước việc Trung Quốc cướp Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam rằng: Đời ta không đòi được thì đời con cháu chúng ta sẽ đòi. Tôi nghĩ đấy là một thái độ thiếu trách nhiệm. Vì tình hữu nghị, vì ý thức hệ, vì 16 chữ, 4 tốt giả dối, lừa gạt của kẻ thù hôm nay … mà mơ hồ sẽ ngồi lại đối thoại với nhau để hy vọng đòi lại biển đảo đã để mất là một ảo tưởng nếu không nói là tránh né và dồn trách nhiệm cho con cháu! Đấy không phải là hành động của bậc cha anh mà chính là sự khiếp nhược trước kẻ thù, mới hôm qua đã hết lòng « giúp » ta « giải phóng dân tộc ».

Gần 80 năm của cuộc đời, tôi chưa nghe ai gọi giặc cướp nước mình là bạn, là đồng chí!

Không ít lần chúng ta tuyên bố: Việt Nam là tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa. Chúng ta đã đem triệu triệu sinh mạng của dân tộc giữ vững cái tiền đồn ấy để cho Liên Xô và Trung Quốc rảnh tay xây dựng đất nước họ. Thực chất chúng ta chiến đấu giành lại non sông gấm vóc ta, nhưng cũng là giữ thành trì chủ nghĩa xã hội ở Đông Nam Châu Á – Là người Việt Nam hôm nay ai không thấy ẩn sau sự giúp đỡ nhiệt tình kia mang nội hàm việc bảo vệ thành trì chính họ!

Năm 1989-1990, hệ thống chủ nghĩa xã hội ấy sụp đổ trên chính quê hương của Mác, người sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản, và Lênin, người thực hiện thành công chủ nghĩa cộng sản ở Nga, người Việt Nam vỡ nhẽ ra, cái gọi là chủ nghĩa xã hội ấy đã bị thực tiễn đào thải. Một học thuyết đã không được nhân dân chấp nhận, đấy là học thuyết ảo. Nếu còn một vài nước vẫn mang tên cái học thuyết ảo kia, thì không phải đấy là chế độ được sự đồng tình của nhân dân, mà nó được bảo vệ bởi họng súng và lưỡi lê của nhà cầm quyền nhằm giữ quyền lực cho chính mình.

Tôi nghĩ đã quá muộn, những người lãnh đạo nên đặt quyền lợi dân tộc lên trên quyền lợi của Đảng Cộng sản, của ý thức hệ mà thay đổi một cách nhìn khác, mới mẻ hơn, hợp với xu thế thời đại hơn, nhằm đòi lại cho bằng được biển đảo của tiền nhân để lại đã bị Trung Quốc chiếm và đang ồ ạt xây phi trường, biến tất cả thành sự đã rồi. Đấy là tội lỗi không thể tha thứ được, không thể biện minh được !

Thời Tam Quốc Tào Tháo còn nói bạn thù quyền biến vô lường. Thời hiện đại, nhà triết học người Anh Lord Pamaroton  nói: Không có kẻ thù vĩnh viễn, không có bạn bè muôn đời, chỉ có quyền lợi dân tộc là vĩnh viễn và muôn đời mà thôi! Hai câu nói ở hai thời đại khác nhau, nhưng cùng chung một mục đích: Quyền lợi dân tộc là trường tồn qua năm tháng.

Không ai lên án vì quyền lợi dân tộc, ta phải liên kết với dân tộc này giành lại trọn vẹn lãnh thổ mà tiền nhân đã đổ bao xương máu, nước mắt và mồ hôi để trao cho chúng ta hôm nay.

Nếu sợ mất hòa khí, đại cục, ý thức hệ mà cố tình tránh né, thậm chí nhún nhường đến mức nhu nhược, hy vọng âm mưu thâm độc đã có truyền thống của Trung Quốc sẽ mang lại kết quả thì đấy sẽ là một thứ hi vọng hão, thì đấy sẽ là hành vi phù hợp với âm mưu thâm độc của con cháu nhà đại Hán.

Qua trường kì lịch sử, không ai hiểu rõ giặc phương Bắc bằng nhân dân Việt Nam. Đừng nghĩ nhân dân Việt Nam im lặng là đồng tình với cách xử sự với giặc phương Bắc của những nhà lãnh đạo hôm nay.

Đừng nhầm sự im lặng – không muốn nói – của dân là sự đồng tình.

Cũng đừng đánh giá thấp tinh thần yêu nước và ý chí kiên cường của nhân dân Việt Nam vốn đã tôi rèn trong trường kì chống ngoại xâm hôm qua?

Phải nhìn xa hơn, đừng để: Tức nước vỡ bờ!

Khi khẳng định đảng Cộng sản là người lãnh đạo duy nhất đất nước và dân tộc, và  đưa vào điều 4 của hiến pháp nhằm hợp pháp hoá quyền lãnh đạo ấy, thì đồng thời cũng phải hiểu trách nhiệm mà mình gánh vác nặng nề như thế nào?

Trách nhiệm cao nhất là giữ nguyên vẹn đất nước mà tiền nhân trải qua hàng ngàn năm vun đắp bằng máu xương và công sức to lớn của lớp lớp người đi trước !

Không tội nào lớn hơn tội để mất nước!

Hãy nghiêm khắc nhìn lại chính mình, đừng dùng mọi phương tiện truyền thông của nhà nước ra rả:

Gia Long cõng rắn cắn gà nhà!

Bây giờ người dân có quyền hỏi:

Thời hiện đại, ai đã rước voi giày mả tổ?

Thời cận đại triều đại Gia Long đã giữ nguyên vẹn lãnh thổ mà tiền nhân để lại, hơn thế nữa, các triều đại thay nhau xác lập cương vực lãnh thổ từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau, từ Quần đảo Hoàng Sa đến Quần đảo Trường Sa… bằng giấy trắng mực đen, bằng các đội binh lính thay nhau  ra túc trực ở quần đảo Hoàng Sa gọi là: Đội  Khao lề tế lính!

Những nhà lãnh đạo đảng Cộng sản phải nghĩ đến trách nhiệm để mất đất nước và biển đảo hôm nay! Người dân Việt Nam ai cũng thấy quân xâm lược Trung Quốc lợi dụng ý thức hệ và ỷ mạnh  “gặm nhấm dần đất nước ta từ tổ con đại bàn thành tổ con chim chích như lời vua Trần Nhân Tông  đã cảnh báo! Và vua Lê Thánh Tông trịnh trọng tuyên bố:Nếu các người đem một thước sông, một tấc đất của Thái tổ làm mồi cho giặc thì phải tội tru di!”

Khi còn nô lệ về ý thức hệ  thì độc lập, tự do chỉ là thứ bánh vẽ, thứ mỵ dân, lừa dân, phi thực tế!

Không một người dân Việt Nam nào còn chút lòng yêu nước có thể chấp nhận một chính quyền để mất dần đất và nước vào tay kẻ thù truyền kiếp!

Câu chuyện của John Shirieda, S.D.B.

Câu chuyện của John Shirieda, S.D.B.

……Dòng Salesian qui tụ những Linh mục, Tu sĩ Nam Nữ sống trong Cộng đoàn theo gương Thánh Phanxico Salê. Cộng đoàn do Thánh Gioan Bosco thành lập (1815-1888). Hoạt động đặc biệt cho giới trẻ. Cha Thánh thành lập Dòng thường được mọi người gọi là Don Bosco đã chọn Thánh Phanxico Salê, một trong những Vị Thánh vĩ đại về đời sống thiêng liêng làm gương mẫu và làm quan thày cho Cộng đoàn.

Cách nay hơn 25 năm, gia đình tôi gồm có mẹ, chị, anh tôi và tôi. Mỗi buổi sáng, chúng tôi đều tụng kinh trước tượng của Đức Phật trong căn nhà nghèo nàn tồi tệ của gia đình. Việc tụng kinh này thể hiện lòng sùng kính sốt sắng của chúng tôi với Đức Phật. Thường thường mỗi buổi sáng chúng tôi còn dâng lên bàn thờ một chén gạo nữa.

Tôi không đề cập tới cha tôi ở trên và nhấn mạnh đến căn nhà ngèo nàn, tồi tệ của chúng tôi, vì sự tàn ác của chiến tranh đã đưa gia đình tôi vào cảnh túng cực khổ sở. Cha tôi là một sĩ quan trong một Trung Đoàn Bộ Binh đã tử trận tại đồng bằng Trung Hoa vào năm 1937.

Căn nhà của chúng tôi tại Kagoshima đã biến thành một đống gạch vụn sau trận dội bom kinh hoàng cuối cùng của Hoa Kỳ. Ý muốn được sống gần bà nội của chúng tôi đã khiến chúng tôi phải đi xa thành phố hơn 50 dặm đường. Nhưng ngay cả tại vùng ngoại ô này cũng toàn là hoang địa và đổ nát.

Trong suốt nhiều năm theo dõi chiến tranh với lòng ái quốc và sự lo lắng, đã có lần tôi nghĩ rằng mình sẽ phải trở thành một chiến sĩ theo chân cha tôi. Có thể tôi sẽ chỉ can đảm bằng cha tôi thôi, nhưng chắc chắn tôi sẽ may mắn hơn. Sự ngèo túng của gia đình cần sự hiện diện của tôi và niềm thất vọng của Hoàng gia Nhật khiến giấc mơ của tôi tàn lụi. Vấn đề quan trọng là làm sao có được một đời sống thích nghi với hoàn cảnh. Tôi phải bắt đầu từ mái ấm gia đình: Gỗ lạt ở Nhật đầy dẫy, làm một căn nhà để trú mưa trú nắng không phải là chuyện khó, nhưng vấn đề là đào đâu ra đinh để đóng những tấm gỗ vào với nhau?

Một đứa bạn của tôi đưa ra sáng kiến rất hay để giải quyết khó khăn này: Hắn ta đề nghị tôi ăn cắp đinh từ một ngôi nhà thờ Công Giáo gần đó đang xây cất sắp xong dưới sự trợ giúp của quân đội Hoa Kỳ.

Ý nghĩ ăn cắp làm chùn bước chân tôi, nhưng đinh hiện quá cần cho việc làm nhà. Hơn nữa, lấy cắp của cải của kẻ thù và của đạo Công Giáo đối với tôi lúc đó là việc phải làm.

Một hôm nọ, vào buổi giữa trưa, khi các công nhân xây cất nhà thờ đang nghỉ việc để ăn cơm, tôi thực hiện ý định. Tất cả mọi việc xảy ra êm thắm, cả người tôi từ trên xuống dưới, tất cả các túi đều đầy đinh.

Một cách hết sức cẩn thận, tôi trở ra bằng chính con đường tôi đã đi vào lúc trước. Nửa đường, một ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu tôi: Thử nhìn xem trong căn nhà mới cất có gì trong đó? Tò mò mạnh hơn sự sợ hãi, tôi hì hục leo lên một cửa sổ để nhìn vào bên trong.

Ngay lúc đó, một ông Cha đang đọc kinh trong nhà thờ giật mình vì tiếng động do tôi gây ra, ông ngước mắt nhìn lên và trông thấy tôi đang đứng ngoài cửa sổ.

Như một luồng điện cao thế chuyển qua thân thể, trước khi kịp nghĩ ngợi, tôi nhảy đại xuống và chạy bán sống bán chết. Tuy nhiên, không hiểu bằng cách nào, ông Cha đã xuất hiện đứng trước mặt tôi, hai tay ông giữ lấy vai tôi. Tôi muốn vùng chạy, nhưng so với khổ người Tây Phương, tôi thấp và bé quá, nhất là với sức nặng của số đinh trên người, tôi thật sự lúng túng.

Thế là tôi bị bắt quả tang đang ăn cắp. Tôi run rẩy trong tay của người chủ to lớn, một người ngoại quốc, một ông Cha Công Giáo. Thật là một xỉ nhục cho gia đình và cho dân tộc tôi.

Tưởng tượng ra chân tay tôi bị trói, bị nhốt tù trong một căn phòng nhỏ hôi hám. Tôi nghĩ tới mẹ tôi, một người mẹ luôn luôn dạy tôi “Masayuki” có nghĩa là “một người công chính”, luôn luôn dạy tôi phải thật thà. Thật là ghê gớm nếu mẹ tôi biết rằng sau bao nhiêu thì giờ và công sức đã bỏ ra để giáo dục con, kết quả là tôi trở thành một đứa ăn cắp. Tôi đã làm nhục mẹ, phản bội lại tất cả những gì mẹ đã tin tưởng nơi tôi từ thuở ấu thơ. Vì nghĩ như thế, nên trên khoảng đường ông Cha dẫn tôi trở lại chỗ để đinh, tôi năn nỉ với ông: “Cha muốn phạt hay làm gì tôi, Cha cứ làm, nhưng xin Cha một điều là đừng cho mẹ tôi biết.”

Thật không ngờ, khi dẫn tôi đến chỗ để đinh bên cạnh ngôi nhà thờ vừa cất xong, ông Cha với tay lấy thùng đinh, hốt đinh trao cho tôi nhiều đến nỗi tôi không thể nào mang nổi. Ông mỉm cười thân ái, chúc tôi vui vẻ, chào tôi và bảo tôi đi về.

Tôi ngạc nhiên đến nỗi không thốt lên được lời nào. Tưởng chừng như vừa trải qua một giấc mơ. Suốt buổi chiều hôm đó, rồi suốt cả đêm, tôi bị ám ảnh bởi khuôn mặt của ông Cha ngoại quốc, người đã dạy tôi biết thế nào là cho đi, nhất là trong hoàn cảnh hậu chiến của quốc gia Nhật, dân chúng chỉ ước ao lãnh nhận hơn là cho đi.

Ngày hôm sau tôi trở lại nhà thờ với ước muốn sẽ được gặp lại ông Cha tử tế ngày hôm trước. Gặp Cha, chẳng biết sao, tôi lại kể với Cha rằng tôi không muốn trở thành một sĩ quan trong quân đội Nhật Hoàng nữa và tôi muốn trở thành Linh mục Công giáo như Cha. Tôi không muốn cho Cha biết rằng tôi đã bị hấp dẫn bởi Kitô Giáo. Nhưng qua hành động của Cha, tôi khám phá ra Thầy Chí Thánh của đời sống con người.

Đó là lần thứ nhất tôi đến thăm ông Cha ngoại quốc, khởi sự cho những lần đến thăm sau thường xuyên hơn. Dần dà, chị tôi, anh tôi cùng đi với tôi đến thăm Cha. Niềm tin của chúng tôi vào Đức Phật dần dần chuyển hướng sang Đức Tin vào Chúa Kitô qua cách sống “nhân chứng” của người Công Giáo.

Vào Mùa Phục Sinh năm 1947, chị tôi rửa tội theo đạo. Năm sau đó, vào Ngày Lễ Đức Mẹ Lên Trời, chính bức tường đã chứng kiến cho hành động ăn cắp của tôi, lần này làm chứng cho những bước chân mạnh dạn của tôi tiến vào Thánh đường trong tiếng Thánh ca thánh thiện. Chính ông Cha đã “chộp” được tôi trong hành động ăn cắp ngày nào là Cha Chủ sự đại diện Giáo Hội đón nhận tôi và anh tôi gia nhập đoàn chiên của Chúa.

Mẹ tôi là người duy nhất còn lại trong gia đình vẫn trung thành với Đức Phật. Đã có lần mẹ tôi dọa là mẹ sẽ từ chúng tôi nếu chúng tôi theo Đạo Công Giáo. Mẹ nói: “Nếu các con theo Đạo ấy, các con không còn là con cái của mẹ nữa!”

Thời gian trôi qua với đời sống khiêm nhường, cần cù, bác ái thật thà trong Đức Tin của chúng tôi ảnh hưởng từ ông Cha ngoại quốc đã làm dịu mẹ tôi khiến mẹ tôi cũng bắt đầu tìm hiểu về Giáo Hội Công Giáo.

Chúng tôi vẫn sống chung dưới một mái gia đình. Sau khi theo đạo, chị, anh tôi và cả tôi nữa đều muốn đi theo con đường của ông Cha ngoại quốc khả kính.

Năm 1950, cả ba chúng tôi đều gia nhập Dòng Salesian.

Năm 1955, chính ông Cha ngoại quốc, người hướng dẫn chúng tôi và đã đánh thức ơn Thiên triệu trong gia đình tôi đã hy sinh mạng sống của mình cho một người anh em Nhật Bản: Người bạn Nhật của chúng tôi bị kẹt trong một phòng học đang bốc cháy. Cha đã không ngại nguy hiểm lăn mình vào cứu. Tay ôm người thiếu niên Nhật, cả hai đều tử nạn trong ngọn lửa ngút trời.

Cha đã vẫn thường nói: “Cha yêu nước Nhật lắm, ước gì Cha được hy sinh mạng sống để trở thành một nắm đất cho nước Nhật!”. Chúa đã giúp Cha thực hiện ước vọng cao vời đó.

Đời sống và cái chết của Cha Adino củng cố Ơn Thiên Triệu của tôi thật nhiều. Tôi quyết định sẽ phải trở thành “Ông Cha Ngoại quốc Adino” thứ hai

Năm 1956, tôi được phép sang Ý Đại Lợi du học và gặp lại người mẹ của Cha Adino. Người mẹ này đã trở thành người mẹ thứ hai của tôi. Tôi ở lại Ý Đại Lợi tu học và chấm dứt chương trình năm 1967.

Giờ đây mẹ của chúng tôi đang sống cô độc tại một quận lỵ hẻo lánh nơi miền Nam nước Nhật. Bà bỏ hết phần đời còn lại để truyền giáo. Anh tôi, Linh mục Anthony, cũng thuộc Dòng Salesian như tôi đang dạy học tại Miyazaki. Chị tôi, Nữ tu Lucy cũng tu Dòng Salesian đang học thêm Thần học tại Học Viện Higher Institude, tỉnh Turin, Ý Đại Lợi.

Tôi hiện đang làm Bề Trên cho Chủng Viện Salesian và dạy Thần Học Tín Lý tại Viện Đại Học Sophia, Nhật Bản. Tôi có nhiệm vụ huấn luyện các Linh mục trẻ cho nhà Dòng và cho Giáo Hội. Ước vọng của tôi là làm sao hướng dẫn các Linh mục trẻ và cả chính tôi nữa theo chân “ông Cha ngoại quốc”: Linh mục Adino Roncato.

Dòng Salesian qui tụ những Linh mục, Tu sĩ Nam Nữ sống trong Cộng đoàn theo gương Thánh Phanxico Salê. Cộng đoàn do Thánh Gioan Bosco thành lập (1815-1888). Hoạt động đặc biệt cho giới trẻ. Cha Thánh thành lập Dòng thường được mọi người gọi là Don Bosco đã chọn Thánh Phanxico Salê, một trong những Vị Thánh vĩ đại về đời sống thiêng liêng làm gương mẫu và làm quan thày cho Cộng đoàn.

Anh chị Thụ & Mai gởi

HỘI NGHỊ CỬ TRI VÀ NHỮNG THỦ ĐOẠN GÂY BẤT LỢI CHO ỨNG CỬ VIÊN ĐỘC LẬP

HỘI NGHỊ CỬ TRI VÀ NHỮNG THỦ ĐOẠN GÂY BẤT LỢI CHO ỨNG CỬ VIÊN ĐỘC LẬP

Blog RFA

Nguyễn Tường Thụy

1-4-2016

Hội nghị Hiệp thương lần thứ 2 của Hà Nội đã thông qua danh sách 87 ứng cử viên, trong đó có 48 người tự ứng cử. Trong số những người tự ứng cử có khoảng hơn 10 ứng cử viên độc lập. Vì khái niệm ứng cử viên độc lập chỉ là tương đối nên không thể đưa ra con số cụ thể. Con số tự ứng cử ở Sài Gòn cũng bằng Hà Nội nhưng số ứng cử viên độc lập ít hơn.

Hiện nay có một số ứng cử viên độc lập đã đưa ra Hội nghị cử tri để lấy ý kiến. Qua các Hội nghị cử tri này cho thấy Ban tổ chức đã dùng những thủ đoạn gây bất lợi cho ứng cử viên bằng những việc làm trái luật.

Vì vậy, với các ứng cử viên độc lập chưa đưa ra Hội nghị cử tri cần hết sức lưu tâm.

H1Ứng cử viên độc lập Hoàng Dũng. Nguồn: Facebook

Buổi lấy ý kiến cử tri đối với ứng cử viên Hoàng Dũng ở quận Phú Nhuận, Sài Gòn nổi tiếng với màn ném mắm tôm vào những người đến ủng hộ anh và được công an làm nhiệm vụ ở đấy làm ngơ. Những người ủng hộ anh không được vào đã đành mà ban đầu họ còn định ngăn cản cả vợ anh, mặc dù cô cùng có hộ khẩu tại tổ dân phố. Hoàng Dũng cho biết có người ở hội phụ nữ chồm lên hai bàn trước chỉ vào mục không tín nhiệm để hướng dẫn người khác gạch chéo vào đấy. Kết quả anh được 7% số phiếu.

H1Ứng cử viên độc lập Đỗ Anh Tuấn. Nguồn: FB Tuấn Đỗ

Về Hội nghị lấy ý kiến cử tri tại cơ quan Đỗ Anh Tuấn (Vĩnh Phúc), anh cho biết Công ty anh có 104 người nhưng chỉ mời 15 người còn mời các công ty khác 103 người. Thành phần mời chủ yếu là các đảng viên. Đa số những người đến dự anh không biết họ và họ cũng chẳng biết anh là ai. Anh chỉ được 8,6% số phiếu, chủ yếu là của người ở cơ quan anh. Sau màn lấy ý kiến cử tri ở cơ quan, Đỗ Anh Tuấn còn phải trải qua Hội nghị cử tri ở nơi cư trú. Ngày hôm qua, lúc 6 giờ chiều, anh mới nhận được giấy mời đến Hội nghị lấy ý kiến cử tri ở nơi cư trú vào lúc 1 giờ 30’ trưa hôm nay 1/4/2016, tức là anh chỉ được báo trước chưa đầy 1 ngày.

Ứng cử viên Phan Vân Bách. Nguồn: Facebook

Trường hợp Phan Vân Bách còn quái dị hơn. Phường Trung Tự, Quận Đống Đa Hà Nội tổ chức Hội nghị cử tri mà anh không hề hay biết trong khi anh là ứng cử viên Đại biểu quốc hội. Hay “tin dữ” anh vội chạy đến xin dự nhưng họ không cho anh vào. Tôi hỏi anh sao không hỏi những người đi dự xem như thế nào, cử tri “tín nhiệm” anh mấy phần trăm nhưng anh cho biết, anh có hỏi nhưng họ bí mật lắm, không ai dám nói. Anh đã gửi đơn tố cáo về việc này.

Ở Sài Gòn, ca sĩ Ngân Mai Lâm được 3 phiếu trên 82 cử tri, trong đó có 2 phiếu của cô và mẹ cô, còn 1 phiếu không biết của ai, cô gọi là “ánh sáng duy nhất trong tăm tối”.

Tuy vậy, cô không buồn. Cô cho rằng “bằng trò dàn cảnh sắp xếp, họ chặn được Mai vào lần này, nhưng sẽ thế nào sau 5 năm nữa? Mai tin rằng niềm tin của mình đại diện cho tương lai, còn họ chỉ đại diện cho một quá khứ đang lụi tàn dần. Cuối cùng để xem cái gì sẽ thắng”

Với Nguyễn Thúy Hạnh, tuy chị đã trải qua Hội nghị cử tri ở cơ quan với con số 100% ủng hộ nhưng vẫn còn một lần được “góp ý kiến” ở cơi cư trú nữa. Thông thường, màn ở tổ dân phố là cửa ải khó qua nhất vì những thủ đoạn ở đấy dễ thực hiện như truyên truyền, bôi nhọ trước, bố trí, sắp xếp thế nào để bất lợi cho ứng cử viên. Thúy Hạnh cho biết, em sẽ “chết” ở chỗ ấy anh ạ.

*

* *

Qua những trường hợp người ứng cử độc lập đã đưa ra Hội nghị cử tri cho thấy những phát biểu không ủng hộ cử tri là họ cố nói lấy được hoặc không không hiểu luật. Theo họ là cứ phải là “người của tổ chức”, phải “ủng hộ chủ trương chính sách của đảng và nhà nước”, phải “hòa mình với quần chúng”. Đây là hệ ý thức quá lỗi thời, lạc hậu.

Qua các trường hợp nêu trên có thể thấy, cách thức tổ chức hội nghị sẽ có tác động rất lớn đến kết quả lấy ý kiến. Vì vậy, những anh chị em ứng cử viên độc lập chưa đưa ra Hội nghị cử tri cần chú ý một số qui định của pháp luật để có ý kiến nếu địa phương cố tình làm trái:

– Về địa điểm tổ chức ở tổ dân phố: Điều 45 Luật bầu cử khoản 1 qui định “Hội nghị cử tri ở xã, phường, thị trấn được tổ chức tại thôn, tổ dân phố nơi người ứng cử đại biểu Quốc hội cư trú thường xuyên…”

Điều này nhằm tạo điều kiện cho cử tri thuận tiện trong việc tham gia. Như vậy nếu tổ chức ở thôn xóm khác là trái luật. Việc đưa đi nơi khác họp khiến nhiều cử tri không có điều kiện tham gia, nhưng những cử tri được bố trí thì họ sẽ không vắng mặt.

– Về thành phần tham dự: Cũng điều 45 qui định “Người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại diện cơ quan, tổ chức, đơn vị đã giới thiệu người ứng cử được mời tham dự hội nghị này”

Điều này có thể hiểu là ngoài đại diện cơ quan, tổ chức, đơn vị đã giới thiệu ứng cử viên, không được mời các cơ quan, đoàn thể hay các thành phần khác. Đề phòng trường hợp đưa cử tri ở nơi khác đến để tăng số người không ủng hộ ứng cử viên.

Ban tổ chức không thể chỉ mời một số cử tri vì làm như thế là tước quyền công dân của họ. Nếu cho rằng đó là mời đại biểu cử tri thì chưa thấy có qui định nào nói về mời đại biểu cử tri. Đại biểu cử tri nếu có, phải do dân bầu ra. Việc chỉ định là trái luật. Vì vậy phải mời hết cử tri trong tổ.

– Một số trường hợp ứng cử viên độc lập đã đưa ra Hội nghị cử tri không trường hợp nào đạt được 50% số phiếu. Tuy vậy, chưa có qui định nào nói rằng nếu không đạt được 50% thì sẽ bị loại. Kết quả của hội nghị cử tri là một trong những căn cứ để lựa chọn, lập danh sách ở Hội nghị Hiệp thương lần thứ 3 (khoản 2 điều 49 Luật bầu cử).

– Việc ứng cử viên đang công tác phải lấy ý kiến cử tri ở cả hai nơi chưa rõ thuộc quy định nào và áp dụng với thành phần nào. Nếu không có quy định này thì phải xem lại tính pháp lý của nó. Nhiều khi ý kiến cử tri ở nơi cư trú và nơi công tác rất khác nhau.

Những thủ đoạn nhằm gạt ứng cử viên độc lập có rất nhiều, tôi đã đề cập ở các bài viết trước. Ở đây chỉ nêu mấy vấn đề xung quanh Hội nghị cử tri.

MẸ NIỀM CẬY TRÔNG, CHƯA THẤY AI XIN MẸ VỀ KHÔNG

MẸ NIỀM CẬY TRÔNG,  CHƯA THẤY AI XIN MẸ VỀ KHÔNG

 Maria TRẦN THỊ HƯỜNG, Nhóm BVSS Hà Nội

Trích EPHATA 687

 “Mẹ niềm cậy trông, chưa thấy ai xin Mẹ về không”. Đó là điều chắc  chắn cho những ai biết trông cậy, tín thác nơi Mẹ Maria. Tôi và gia đình tôi là một nhân chứng cho điều này, xin được lần lượt kể lại ít là 3 câu chuyện:

Chuyện thứ nhất: Tôi lập gia đình

Tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình nền nếp đạo gốc cha truyền con nối… Khi trưởng thành tôi lập gia đình với chồng tôi giáo sư Đỗ Mạnh Môn dạy tại Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội, một gia đình cha mẹ là giáo viên theo đạo Phật. Mặc dầu khi cưới, chúng tôi đươc cha  xứ ban “phép chuẩn” ( Đạo ai người nấy giữ ), nhưng do khác đạo nên nhiều khi bản thân tôi vẫn buồn và lo lắng vì “chưa được nên một hoàn toàn trong tình yêu của Chúa”…

Thế rồi tôi chỉ biết cầu nguyện và trông cậy vào Chúa, vào lời cầu bầu của Mẹ Maria quan thầy của tôi. Hàng ngày tôi đọc kinh Hãy Nhớ: “Lạy Thánh Nữ Đồng Trinh Maria là Mẹ rất nhân từ, xin hãy nhớ xưa nay chưa từng nghe có người nào đến kêu xin cùng Đức Mẹ mà Đức Mẹ từ bỏ chẳng nhận lời…” Tôi đọc kinh này với lòng tha thiết nguyện xin Mẹ cứu giúp, chở che gia đình tôi và xin Chúa cho chồng tôi tìm được Chúa để chúng tôi hạnh phúc nên một trong Chúa.

Thế hệ chúng tôi đã lớn lên và tồn tại dưới chế độ CS Việt Nam, vì thế việc chồng tôi tìm Chúa và theo Chúa không dễ dàng như trong vòng 20 năm gần đây của thời buổi hiện tại. Các bạn có điều kiện, các cha ở các Giáo Xứ và Nhà Dòng mở các lớp Giáo Lý Hôn Nhân, Giáo Lý Tân Tòng. Còn ở thế hệ chúng tôi, không những chẳng có được các lớp Giáo Lý mà còn rất nhiều khó khăn cản trở của phía chính quyền vô thần…

Tôi đã cầu nguyện và cầu nguyện tha thiết trong suốt 40 năm cho chồng tôi tìm được Chúa. Tôi hy vọng trong tiệc cưới Cana, Mẹ đã thương nói với Chúa: “Nhà này hết rượu” và Chúa đã làm cho nước hóa thành rượu ngon. “Mẹ nguồn cậy trông, chưa thấy ai xin Mẹ về không…” Cứ thế tôi tín thác vào Mẹ Maria của tôi.

Và cuối cùng, Chúa đã thương cho chồng tôi gặp và theo Chúa một cách “tự nguyện”, lại còn hết sức sốt sắng nữa. Một buổi sáng tháng 8 năm 2010, như vậy là cách nay đã 6 năm, chồng tôi nói vớitôi:

“Bà ơi ! Tôi muốn theo Đạo Chúa để được ở cùng bà khi ra đi về với Chúa”. Tôi ngỡ ngàng hỏi nhà tôi:

“Ông là con trưởng và là trưởng tộc, ông theo Đạo Chúa thì tôi phải về quê hỏi bên họ Đỗ của ông, ít nhất cũng phải hỏi gia đình, anh chị em ông chứ.” Chồng tôi trả lời: “Chẳng phải hỏi ai cả, tôi ngần này tuổi đầu, tôi biết tôi tin vào ai chứ !”

Mừng vui và quá đỗi ngạc nhiên tôi hỏi ông: “Ông muốn mời cha nào đến giúp ông hiểu thêm về Chúa, về Đức Tin Công Giáo, trước khi ông nhận Bí Tích Thánh Tẩy không ?” Không ngần ngừ ông nói:

“Bà mời cha Bề Trên Vũ Khởi Phụng, DCCT Thái Hà, có được không ?” – “Ồ được chứ sao không ?”

Thực ra, trong thời gian trên 40 năm ông sống với tôi. Ông đã có dịp cùng tôi gặp và tiếp xúc với nhiều đấng bậc trong Hội Thánh mà trong việc Tông Đồ tôi thường gặp như: Đức Hồng Y Trịnh Văn Căn, Đức Hồng Y Phạm Đình Tụng và cha giáo Trịnh Hưng Kỷ, cha Nguyễn Văn Đạt và các cha DCCT… Không ngờ qua những cuộc trò truyện tiếp xúc với các ngài, ông đã nhận được ơn Chúa mà dần dần đã tin vào Người. Và thế là khi tôi đến ngỏ ý với cha Vũ Khởi Phụng, Bề Trên DCCT Thái Hà, Hà Nội, thì cha hiểu và vui mừng nhận lời ngay.

Sau hơn một tháng cha đến giúp chia sẻ củng cố niềm tin của ông vào Chúa, ông đã được chính ngài cử hành các Bí Tích Thánh Tẩy, Thêm Sức và Rước Chúa lần đầu tại Nhà Thờ Sainte Marie Dòng Saint Paul, phố Hai Bà Trưng, Hà Nội, với rất đông các bạn bè trí thức của ông tại trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội. Các soeurs Dòng Saint Paul, Đa Minh, Mến Thánh Giá Hà Nội và mọi người thân của gia đình chúng tôi, cả lương lẫn giáo đều đến dự Thánh Lễ rất trang trọng và thiêng thánh, trao ban các Bí Tích cho ông Đỗ Mạnh Môn, chồng tôi.

Tạ ơn Chúa, sau ba năm chính thức tin theo Chúa, chồng tôi đã được đón về bên Chúa theo

đúng nguyện vọng của ông lúc tuổi già.

 

Chuyện thứ hai: Tôi sinh con đầu long

 Tôi lập gia đình từ năm 1964, mà mãi tới năm 1968 mới sinh con đầu lòng. Ở Hà Nội thời chiến bắt đầu từ năm 1964. Sau Tết Mậu Thân năm 1968, Hà Nội đã hứng bom đạn của Mỹ thật ác liệt. Lúc bấy giờ mọi người sơ tán ra xa khỏi Hà Nội hàng trăm cây số. Cơ quan nơi tôi làm việc trực thuộc Hà Nội nên vào diện phải ở lại Hà Nôi để… “bảo vệ Thủ Đô” ! Vậy mà tôi lại được miễn trừ vì đang có bầu. Chồng tôi cũng đã sơ tán theo trường Đại Học Bách Khoa lên đến tận biên giới Na Sầm, tỉnh Cao Bằng, cách Hà Nội hơn 300 cây số. Thế là coi như gia đinh ly tán bởi

chiến tranh, không còn ai là người thân ở Hà Nội lúc bấy giờ. Tôi nhớ rất rõ: Giữa bom đạn ngày 12.4.1968, tôi chạy từ nơi đang sơ tán về nhà tại 40B phố Hòa Mã, Hà Nội, để chuẩn bị ít tã lót, áo quần cho cuộc “vượt cạn”. Về tới nhà không gặp một ai kể cả hàng xóm. Trong tiếng bom đạn xé trời, loa truyền thanh oang oang: “Máy bay Mỹ cách Hà Nội 80 cây số, 60, 50, 40 và máy bay địch đã vào Hà Nội… Mời đồng bào xuống hầm trú ẩn gấp…” Với chiếc bụng bầu lặc lè, tôi làm sao có thể xuống hầm trú ẩn khi bắt đầu thấy đau quặn, trở dạ sanh con ? ! ?

Tôi ra khỏi nhà. Khi ấy mọi người đã xuống hầm trú ẩn an toàn cả rồi mà tôi thì vẫn một mình lững thững đi trong tiếng gầm rú của máy bay B52 và tiếng pháo cao xạ rầm rầm đáp trả. Tôi tìm đến nhà hộ sinh để “vượt cạn” một mình… Có nơi tôi vừa đi qua, thì bom rơi trúng căn hầm có mấy người trú ẩn…

Lúc gian nguy, “khi gặp những sự thiếu thốn”, tôi thường chạy đến kêu cầu Mẹ Maria cứu giúp. Tôi thầm thĩ kêu xin Mẹ Maria, quan thầy của con, xin đến bên con lúc này… Và như có bàn tay vô hình nâng đỡ, tôi thấy mình như có một sức mạnh để yên tâm tiếp bước. Gần 12 giờ trưa, tôi biết mình đang trở dạ. Tôi cố lê bước đến nhà hộ sinh B chỉ cách nhà tôi có vài ba cây số mà phải mất hơn một giờ đồng hồ !

Cô y tá trực hỏi ráo hoảnh: “Có ai đi cùng không ?” Tôi trả lời: “Không !” Cô ấy tiếp tục căn vặn:

Bom đạn rầm rầm thế này mà đi đẻ một mình à ?” Rồi cô chỉ tay nói trống không: “Vào kia, phòng tay trái ! Chuẩn bị thay áo váy đi…”

Vào phòng chờ sinh, cơn đau tiếp tục dồn dập hơn, tôi mệt rũ người, và cũng quên bẵng từ sáng tới giờ hơn mười mấy giờ đồng hồ chưa ăn uống gì cả. Bụng đói miệng khát, nhưng tôi vẫn cố gắng chịu đựng vì sau khi thăm khám, bác sĩ bảo: “Con so, chưa vỡ ối, còn lâu mới sinh…”

Tôi vừa ngả lưng thì cơn đau lại tiếp tục, không thể nằm được, tôi cố ngồi dậy kéo cỗ tràng hạt đang đeo trên cổ, miệng đọc 3 Kinh Kính Mừng rồi đọc tiếp kinh Hãy Nhớ: “Mẹ ơi ! Không ai kêu cầu Mẹ mà về không… Lúc này con đang trong cơn khốn khó gian nguy… Đi biển có bầu có bạn, còn con vượt cạn một mình ! Mẹ ơi, bên cạnh con không một người thân, xin Mẹ đến bên nâng đỡ con lúc con sinh nở Mẹ nhé…”

Tôi nghiến răng chịu đựng cơn đau suốt từ 12 giờ trưa ngày 12 sang đến 1 giờ sáng hôm sau,

ngày 13.4.1968. Cơn đau của người sinh con, lại sinh con đầu lòng như tôi, thì cuộc trở dạ đau gấp nhiều lần người sinh con dạ, nghĩa là từ con thứ hai, thứ ba trở đi.

Đau quá, máu ra đầm đìa ướt cả váy. Tôi đến gặp bà bác sĩ trực đêm hôm đó xin được khám, bác sĩ hỏi: “Đau lâu chưa, đã vỡ ối chưa ?” Tôi trả lời: “Chưa ạ !” Bác sĩ tiếp tục phán: “Con so. Chưa vỡ ối.

Vào giường nằm, còn lâu mới sinh !” Người với người, cùng là phụ nữ với nhau cả, vậy mà không được lấy một câu an ủi sẻ chia. Thái độ bác sĩ và y tá XHCN là vậy đấy, lạnh lùng, vô cảm trước người bệnh !

Tôi đau đớn lê bước quay về giường… Qua ba lần xin bác sĩ và hộ lý thăm khám thì cả ba lần họ đều lạnh lùng trả lời như trên. Tôi đã kiệt sức vì đau và đói. Với cỗ tràng hạt trong tay, tôi nằm phó linh hồn chờ chết và xin Chúa cho con được chết lành trong tay Chúa và Mẹ Maria quan thầy của tôi. Máu ra đầm đìa cả váy áo và tấm drap giường như nhuộm đỏ. Tôi thiếp đi, có lẽ vào khoảng 11 giờ trưa…

Tôi đang lịm đi chờ chết thì rất may, có một bà bác sĩ từ bên Bệnh Viện Phụ Sản Trung Ương xuống kiểm tra những ca sinh khó của bệnh viện tuyến dưới. Tôi còn nhớ rõ bác sĩ tên Nguyệt. Tôi vừa chợt tỉnh thì lại thiêm thiếp đi, thế nhưng tai vẫn loáng thoáng nghe bà bác sĩ đến bên hỏi chị nằm giường cạnh tôi: Còn chị nào chưa khám không ? Có lẽ chị ấy đã chỉ vào tôi và nói với bác sĩ: “Chị này con so đến từ trưa hôm qua, băng huyết mà chưa sinh được…” Bác sĩ Nguyệt quay sang nhìn thấy tôi “sắp chết” môi khô da tái, bà gọi hộ lý, y tá đến bế tôi đặt lên bàn khám, bà âu yếm an ủi và lấy nước cho tôi uống… Những lời nói, những cử chỉ âu yếm của bác sĩ Nguyệt như một sức mạnh làm cho tôi hồi tỉnh lại. Tôi thầm tạ ơn Chúa thương tôi, qua lời cầu bầu của Mẹ Maria, đã đến cứu tôi qua bàn tay của bác sĩ Nguyệt đây rồi.

Trên bàn sanh, tôi nghe các hộ lý, y tá quây chung quanh bác sĩ Nguyệt nói: “Con so lại chưa vỡ ối ?” Bác sĩ Nguyệt bảo: “Chưa vỡ ối thì bấm ối cho sanh, chứ để con người ta chết ngạt trong bụng sao ? Các chị đâu, bấm ối xong, mang máy hút ra…” Trước đó, vì là con so nên bác sĩ Nguyệt hướng dẫn tôi cách “vượt cạn”… Tôi đã làm theo hướng dẫn ấy nhưng khi cháu sinh ra, do ở quá lâu trong tử cung và vòng nhau cuốn cổ, cháu đã ngạt thở và tím đen, không khóc nổi… Bác sĩ liền cầm chân cháu giốc ngược đầu xuống, phát nhẹ vào mông cháu, và cuối cùng cháu đã cất tiếng khóc chào đời đúng vào 12 giờ trưa 13.4.1968, sau đúng một ngày thập tử nhất sinh…

 

Chuyện thứ ba: Tôi gặp tai nạn

  Chuyện này xảy ra đã gần 50 năm, tôi vẫn còn nhớ “như in”, không bao giờ có thể quên

được… Tai nạn khủng khiếp xảy ra với tôi trong khi bom đạn và máy bay gầm thét trên bầu trời Hà Nội giữa buổi chiến tranh kinh hoàng. Dạo ấy phương tiện của mọi người dân tThủ

đô Hà Nội ra đường là xe đạp chứ không có xe máy hay ôtô như hiện nay. Ngoài ra cơ giới chỉ có xe UAZ 469 của Liên Sô viện trợ cho bộ đội hay xe Volga dành cho cán bộ lãnh đạo lưu thông trên đường phố mà thôi. Gia đình vợ chồng tôi cũng không ngoại lệ, cọc cạch chiếc xe đạp quanh năm.  Hôm ấy là Chúa Nhật, chồng tôi chở tôi bế cậu con trai đầu lòng mới 6, 7 tháng tuổi từ nhà Nội bên quận Hai Bà Trưng lên thăm nhà Ngoại bên quận Hoàn Kiếm, đoạn đường chỉ khoảng 3, 4 cây số. Trong  chiến tranh thì Hà Nội là mục tiêu của máy bay B 52 Mỹ ném bom xuống, bên này thì tên lửa, pháo cao xạ của bộ đội, của tự vệ thành Hà Nội bắn trả lên. Bom rơi đạn lạc chết người là chuyện thường ngày… Trên  đường đi bằng xe đạp đến thăm mẹ tôi, nếu dừng xe xuống hầm theo loa báo động thì ít nhất cũng cả chục lần… Của đáng tội, trong chiến tranh người Hà Nội nghe tiếng loa báo động giục giã tại các ngã 4 đường phố mãi rồi cũng “quen” nên xe đạp của gia đình chúng tôi cứ tiếp tục đi bất chấp mọi sự… Xe đang ngon trớn xuyên qua lưới bom đạn thì tôi nghe một tiếng rầm ! Tôi cứ ngỡ bom nổ ngay bên cạnh, nhưng không phải ! Ấy lại là xe UAZ của quân đội nghe báo động nên hốt hoảng lạc tay lái đâm trực diện vào xe đạp của vợ chồng tôi đang phóng nhanh trên phố Nguyễn Du. Cú đâm quá mạnh đến nỗi xe đạp và chồng tôi bắn lên vỉa hè. Cháu bé tôi bế trên tay bắn ra khỏi vòng tay của tôi, còn tôi thì ngã sấp mặt xuống đường, toàn thân tôi nằm sát đất, xe UAZ lao ngang qua và tôi lọt hoàn toàn dưới gầm xe !

Môt tai nạn thật kinh khủng xảy ra với tôi ! Vậy mà sao tôi vẫn tỉnh, tôi còn nghe tiếng phanh kít

của xe UAZ trên mặt đường nhựa. Khoảnh khắc ấy, lạ thay, tôi vẫn kịp nghĩ đến Mẹ Maria thánh quan  thầy của tôi, và tôi buột miệng kêu tên “Giêsu, Maria, Giuse” để phó linh hồn mình trong tay ba Đấng. Và rồi tôi nghe rõ tiếng mọi người và tiếng chồng tôi kêu cứu. Người ta cho xe lùi lại để có thể kéo xác tôi ra khỏi gầm xe, ai cũng tưởng tôi đã chết dí… Không ngờ, gầm xe chỉ xé nát quần áo tôi từ cổ xuống. Một ngón tay út bên phải bị bánh ô tô đè lên, tôi không nhấc được tay ra. Tôi lấy tay trái quờ vào đầu thấy đầu và tai chảy máu… Thế nhưng tôi vẫn tỉnh.

Bạn đã thấy một tai nạn kinh khủng nào mà người bị nạn nằm sấp hoàn toàn dưới gầm xe mà vẫn sống sót không ? Trong trường hợp tai nạn tương tự, nếu nạn nhân nằm lọt trong gầm xe thì đáng lẽ lái xe bình tĩnh tắt máy xe rối yêu cầu mọi người giúp đẩy xe, đề phòng lạc xe còn nổ máy có thể đè chết luôn nạn nhân bị thương, hoặc nếu đã chết thì có thể chết lần thứ hai ! Nhưng không, lái xe hôm ấy lại cuống lên trong tiếng kêu cứu của nhiều người, cứ nổ máy mà lùi xe… Nằm dưới gầm xe, khi nghe tiếng máy xe UAZ nổ ì ì cài số lui, tôi lạnh toát cả người và tiếp tục phó linh hồn tôi trong tay ba Đấng !

Không thể tưởng tượng được, như một phép lạ xe lùi về phía sau và tôi đã thoát khỏi gầm xe an toàn, thật sự tỉnh táo trước sự ngạc nhiên của mọi người chứng kiến tai nạn “có một không hai” ấy…

Máu từ đầu và tai bên phải tiếp tục chảy, nhưng tôi vẫn tỉnh… Và xe cấp cứu đến…

Về phần ông nhà tôi, khi người và xe đạp bắn tung lên vỉa hè, ông đã lồm cồm bò dậy không hề hấn gì, còn chú bé con sơ sinh rời khỏi vòng tay của tôi bắn ngược về phía sau thì được một người đi đường chạy đến bế lên. Khi xe cấp cứu đến nơi, người ấy trao cháu cho chồng tôi khi cháu đang còn khóc… Và cuối cùng, tôi còn kịp an tâm nhìn thấy ông nhà tôi bế con ngồi ngay bên cạnh băng ca của tôi trong xe cấp cứu, tôi cũng nhận biết có một bác sĩ đang sơ cứu cầm máu trên đầu và tai cho tôi… Xe cấp cứu bình an đến được Bệnh Viện Phủ Doãn, nay là Bệnh Viện Việt Đức nằm trên phố Phủ Doãn Hà Nội.

Cấp cứu đấy… nhưng do chiến tranh nên ưu tiên những nạn nhân bị bom đạn được chăm sóc trước và tai nạn xe như tôi thì phải xếp hàng chờ. Tôi lịm đi trong cơn đau đớn toàn thân, tôi nhớ miệng tôi vẫn không ngừng thầm thĩ lời cầu xin Mẹ Maria của tôi…

Hình như khoảng một giờ sau thì tôi tỉnh lại, đến lượt vào phòng cấp cứu, bác sĩ cho y tá tiêm giảm đau và khám lâm sàng… Họ rửa vết thương trên đầu và mấy ngón tay phải của tôi và cho siêu âm đầu ngay. Kết quả: không ảnh hưởng sọ não, chỉ chảy máu phần da bên ngoài. Bác sĩ chỉ đinh khâu 7 mũi trên đầu, băng bó đầu và mấy ngón tay. Chẳng biết y tá có quên tiêm thuốc giảm đau cho tôi khi khâu hay không mà tôi đau đớn quá chừng…

Khi thấy quần áo tôi bị gầm xe UAZ xé rách, bác sĩ lật lưng lên xem thì thấy một vết xước chạy dài từ cổ tới phần eo lưng, rất may, không có đụng chạm gì đến cột sống ! Đang giữa chiến tranh nên sau khi vết thương được lo liệu tạm ổn, bác sĩ kê đơn thuốc rồi tôi xuất viện cho về nhà, hẹn vài ngày sau khám lại và cắt chỉ trên đầu.

Về vụ tai nạn, không biết Công An có lập biên bản không, nhưng sau khi tôi ở viện về được hai hôm thì anh bộ đội lái xe đến nhà thăm và xin lỗi, anh nhận sai về phía mình, anh vừa nhận được bằng công nhận lái xe an toàn trong 15 năm của tiểu đoàn… Anh xin gia đình tôi không kiện cáo, nhưng tôi giải thích cho anh: có một bàn tay vô hình của Chúa Giêsu và Mẹ Maria đã cứu giúp gia đình tôi và cũng là cứu giúp chính anh khỏi một tai nạn thảm khốc có thể chết đến ba mạng người !

Đó là một phép lạ ! Và thật bất ngờ, anh cho biết anh cũng là người Công Giáo và chưa từng thấy một tai nạn nào mà người bị nạn nằm sấp gọn gàng dưới gầm xe mà vẫn còn sống sót, hơn thế nữa, chính anh còn vô ý nổ máy cho xe lùi lại mà không cán ngang qua người tôi. Vâng, anh lính lái xe cũng tin đó là phép lạ. Cuối câu chuyện, anh đã cùng tôi đọc ba kinh kính mừng tạ ơn Chúa và Mẹ Maria…

Vậy đó, suốt đời tôi, tôi đã hoàn toàn tín thác và trông cậy vào Lòng Thương Xót của Chúa qua Mẹ Maria. Đúng là “Có Mẹ sợ chi, có mẹ lo gì”…

Maria TRẦN THỊ HƯỜNG, Nhóm BVSS Hà Nội

GẶP CHÚA TRÊN ĐƯỜNG

 GẶP CHÚA TRÊN ĐƯỜNG

Các bạn trẻ thân mến,

Không biết có điều gì thay đổi về vẻ bề ngoài của Chúa Giêsu hay không, nhưng rất nhiều người, dù có một tương quan gắn bó rất chặt chẽ với Ngài cũng không thể nhận ra Ngài sau khi Ngài sống lại từ cõi chết.  Đầu tiên là bà Maria Madalena.

EMAU

Buổi sáng ngày đầu tuần, bà cùng một số phụ nữ khác kéo nhau ra mộ, dự định là sẽ dùng dầu thơm để xức xác Chúa, nhưng không thấy xác Chúa đâu.  Bà đứng bên ngoài mà khóc, vì ngỡ là người ta đã nhẫn tâm mang xác Chúa đi giấu ở đâu rồi.  Thầy Giêsu hiện ra đứng sau lưng gọi tên bà, bà cứ ngỡ là người làm vườn.  Mãi đến khi Chúa Giêsu gọi bà bằng cái tên thân thương, bà mới thật sự nhận ra đó chính là Chúa.

Hai môn đệ Emmaus cũng vậy.  Họ đang lê bước về quê nhà sau một thời gian rong ruổi theo Chúa. Cái chết của Thầy dường như là một cú sốc rất lớn với họ.  Họ liên hồi bàn thảo với nhau những chuyện liên quan đến Ngài.  Chúa Giêsu bước tới, giả vờ hỏi han.  Họ chẳng hề nhận ra, còn trách “người khách lạ” sao vô tâm với những chuyện động trời vừa xảy ra ở Giêrusalem trong những ngày vừa rồi.  Thấy họ vẫn còn mê muội chưa hiểu chuyện gì, Chúa Giêsu lên tiếng dạy dỗ họ, giải thích cho họ hiểu ý nghĩa của Thánh Kinh và những lời tiên tri nói về Đấng Mesia.  Lòng họ như bừng cháy, nhưng vẫn chưa nhận ra.  Cho đến khi Chúa Giêsu được họ mời vào nhà và làm những cử chỉ hệt như trước kia là bẻ bánh trao cho mọi người, họ mới nhận ra người đã đồng hành với mình từ chiều đến giờ là Thầy Giêsu chí thánh.

Tại bờ hồ Tiberia cũng vậy.  Suốt một đêm cực nhọc đánh cá, các tông đồ, dù là những tay ngư phủ cừ khôi một thời, chẳng bắt được con cá nào.  Khi ngày vừa lên, họ mỏi mệt chèo chiếc thuyền vào bờ trong tâm trạng của những người thất bại.  Bỗng đâu xuất hiện trên bãi biển một người đàn ông lạ mặt, hỏi han các ông về thành tích lao nhọc của đêm qua.  Họ thật thà trả lời là mình tay trắng mà không hề nhận ra người hỏi đó là ai.  Nghe theo lời chỉ dẫn của người này, họ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền như một hy vọng cuối cùng, vớt vát được chút đỉnh.  Quả nhiên, mẻ cá thu được mới kinh khủng làm sao.  Mọi người tất bật lo kéo lưới để thu lượm cá bắt được, thì chỉ có một người trong số đó nhận ra chính Thầy là người đang đứng trên bãi biển kia.

Các bạn trẻ thân mến,

Nhận ra Chúa hiện diện bên chúng ta là điều không dễ tí nào.  Ngay cả các môn đệ, những người đã từng sống chung với Chúa một khoảng thời gian dài cũng không ngay lập tức nhận ra Ngài khi Ngài hiện đến, huống gì những con người xa lạ như chúng ta.

Chúa Giêsu đã phục sinh, và chắc là sau khi phục sinh, Ngài vẫn là Ngài, nhưng cũng có gì đó khác trước.  Cuộc sống với biết bao khó khăn che khuất đôi mắt của ta bằng những giọt lệ buồn như Madalena, những tranh luận như hai môn đệ Emmaus, hay những chán chường, thất vọng như các tông đồ, khiến ta không còn nhìn thấy Chúa hiện diện ngay bên chúng ta.  Những tư tưởng buồn lại nối tiếp tư tưởng buồn.  Hễ cứ gặp một chuyện không vui là ta tiếp tục suy diễn ra những hoàn cảnh khác tệ hại hơn, khiến cho tâm trí ta chỉ toàn những hố sâu của u buồn và chán nản.  Chúa ở ngay đó, nhưng có mấy khi ta nhận ra Ngài.

Maria Madalena đã được Chúa gọi đích danh mình bằng giọng nói thân quen ngày nào.  Nhờ thế mà bà như bừng tỉnh và được giải thoát khỏi những giọt nước mắt tang thương.  Các môn đệ Emmaus thấy nơi Chúa những lời giáo huấn tuyệt diệu thiêu đốt tâm tư và cử chỉ bẻ bánh mà Ngài vẫn hay làm.  Còn các tông đồ thì nhận ra Ngài qua phép lạ mẻ cá.  Ngày đầu tiên khi Giêsu kêu gọi Phêrô, Ngài cũng thực hiện một phép lạ tương tư như vậy.  Làm từ không ra có, hóa ít ra nhiều, chỉ có thể là Thầy Chí Thánh của mình mà thôi.  Chúa sẽ để lại những dấu chỉ để người ta nhận ra Ngài.  Hai người yêu thương nhau luôn có những ký ức về nhau mà chỉ cần nhìn hay nhớ đến ký ức ấy, là trọn vẹn hình ảnh của người kia sẽ được nhận ra.

Đối với chúng ta, có lẽ Chúa cũng để lại muôn vàn dấu ấn như thế để ta có thể nhận ra Ngài.  Hình ảnh về Ngài là hình ảnh của những người nghèo đang cần hơi ấm, cần chút cơm.  Hình ảnh về Ngài là hình ảnh của những người đi tha hương cầu thực, của những ông già bà lão bơ vơ, hình ảnh của những em bé ngây thơ thiếu thốn tình cảm, nơi những bệnh nhân hay những người bị gạt ra bên lề cuộc sống.  Người ta sẽ nhận thấy Chúa trong ta khi ta cũng biết gọi tên người khác bằng một giọng ấm áp yêu thương, khi ta biết dùng những lời dịu ngọt để vỗ về những con tim khô cứng, biết sống một cuộc đời sẻ chia, nâng đỡ, biết an ủi người khác và làm gia tăng những niềm vui nho nhỏ của mọi người.

Các bạn thân mến, giữa các bạn và Chúa Giêsu có dấu hiệu gì của riêng nhau không để khi bạn nhìn vào đó, bạn có thể gặp được Chúa Giêsu?  Có một ký ức nào về Chúa Giêsu hằn in trong trái tim bạn không?  Chúa Giêsu vẫn đang ở đó, chờ đợi bạn đến gặp Ngài.

Pr. Lê Hoàng Nam, S.J.

langthangchieutim gởi

Cái Lon, Chiếc Nón & Nùi Giẻ Rách

Cái Lon, Chiếc Nón & Nùi Giẻ Rách

tuongnangtien

Bây giờ, trừ cái labtop, tôi rất ít để ý đến những vật dụng khác quanh mình. Sau tháng 4 năm 1975 – có lúc – tôi cũng không bận tâm đến bất cứ một thứ gì, ngoài cái lon Guigoz.

Tôi bắt đầu làm quen với nó vào mùa mưa năm 1975, trong trại cải tạo. Chịu đói là bài học đầu tiên mà chúng tôi được học, và đây cũng là bài học kéo dài suốt khóa.

Ở vào hoàn cảnh này mà vớ được mấy củ khoai đào sót, một con ếch chậm chân, một nắm rau rừng cấu vội, hay một vốc gạo thừa – vét được sau những lần tạp dịch dọn kho – mà có sẵn cái lon Guigoz bên mình thì tiện lắm. Cất dấu tang vật rất dễ, và chỉ cần rất ít nhiên liệu trong việc nấu nướng.

Hằng đêm chúng tôi đều được nghe giảng dậy về một cuộc sống mới không giai cấp, không còn cảnh người bóc lột người, mọi sản phẩm đều là của chung, làm việc theo khả năng và hưởng thụ theo nhu cầu… Chúng tôi cũng được động viên cứ yên tâm học tập, không phải bận tâm gì về thân nhân hay gia quyến. Cả nước đang đi từ giai đoạn ăn no mặc ấm, sang ăn sang mặc đẹp. Còn cả thế giới thì đang chuẩn bị bước vào thế giới đại đồng.

Chúng tôi tiếp thu tốt, thảo luận tốt, viết thu hoạch tốt, nhất trí rất cao về tất cả mọi vấn đề. Sau đó – sau giờ học tập – mọi người lại lục đục mang tất cả những thứ “cải thiện” được trong ngày, bỏ vào lon Guigoz, lúi húi tìm một góc riêng đun nấu, để “sột sệt” cho đỡ đói.

Cái lon Guigoz đối với chúng tôi (những kẻ thuộc bên thua cuộc) không chỉ là một vật dụng thiết thân mà còn trở thành một kỷ vật, với những kỷ niệm rất buồn. Điều tôi không ngờ là nó cũng rất thân thiết, và cũng là một kỷ vật buồn (không kém) đối với những người thuộc bên thắng cuộc:

Nhớ thằng bạn cùng đơn vị xưa kia kể lại, bà mẹ của cậu ta cứ nắc nỏm ao ước tìm đâu ra một chiếc hộp sắt để đựng kim chỉ khâu hay đựng thuốc cảm cúm, nhức đầu… Tìm đâu ra vài chiếc bình, chiếc chai thật đẹp để tích lạc, đựng vừng phòng ngày mưa gió, lụt lội. Vừa khô ráo, vừa tiện lợi, bày biện chỗ nào cũng sáng cả một góc nhà. Bà mẹ tơ tưởng vậy thôi, chứ đang thời bom rơi đạn nổ, mọi người chỉ sống nhờ vào mấy chiếc tem đậu phụ, tem thịt, vào những viên gạch xếp hàng giữ chỗ thay người trước một xe bán  rau,  trước cửa hàng bán nước mắm mậu dịch…, bới đâu ra chiếc hộp, chiếc chai bà ưng ý?

Ấy vậy mà hôm tiễn thằng bạn tôi vào chiến trường, không hiểu bằng cách nào, bà mẹ đã tìm được chiếc vỏ hộp sữa Guigoz đặt vào một bên túi cóc của cậu con trai. Nhờ cái vỏ hộp sữa ấy – chống được ẩm mốc, mưa nắng – cái ba lô lính của thằng bạn tôi thực sự trở thành một cái chạn di động. Không gặp thì chớ, hễ gặp nhau y như rằng nó sẵn sàng khoản đãi tôi đủ thứ “cao lương mỹ vị”: thịt nai sấy khô, mắm ruốc cá, thịt cheo sào gừng, sả… Tất cả chứa trong chiếc hộp sữa Guigoz đó!

Bạn tôi hy sinh ở Bàu Bàng cuối năm 1969. Nhận được giấy báo tử người con trai đâu đó chín tháng hay một năm, bà mẹ ngã bệnh qua đời. Mãi hơn hai mươi năm sau, những đội viên Hội Chữ thập Đỏ phường Mã Mây mới tìm ra nơi chôn cất thằng bạn tôi. Họ kể lại, di vật của người hy sinh đã ẩm mục, rã rữa hết, chỉ còn tìm được chiếc vỏ hộp sữa Guigoz. Hôm đưa hài cốt bạn tôi về với bà mẹ cậu ta ở một khu phố cổ Hà Nội, người ta đã đặt chiếc vỏ hộp sữa bên cạnh bó hài cốt bạn tôi trước bàn thờ bà mẹ. Đủ lệ bộ ngay ngắn, họ mới thắp hương báo với bà con trai bà đã về. (“Nỗi Buồn Lâu Qua” – Tô Hoàng).

Ngày trở về của chiếc nón cối thì ồn ào, và hoành tráng hơn nhiều:

Ảnh: AP

Năm 1968, người lính trẻ Hoa Kỳ là John Wast, khi lục soát trận địa tìm vũ khí, tài liệu, bất chợt trông thấy một chiếc nón cối có vết đạn, vẽ hình con chim bồ câu. Anh ta buộc chiếc nón vô ba-lô, và khi hồi hương vào năm tháng sau đó, anh ta mang theo làm kỷ niệm chiến tranh và đặt trên cái giá sách trong phòng.

Có một cựu chiến binh làm công tác từ thiện đến gặp anh lính cũ và hỏi anh ta có muốn trả lại chiếc nón về nơi cũ chăng, bởi vì năm tháng qua đi, cũng chẳng còn khơi lại những đau thương nhức nhối nữa. Một phái đoàn có tên là “Đoàn phát triển kinh phí thiện nguyện tại Việt Nam” tìm ra gia đình anh bộ đội Bùi Đức Hùng, bị tử thương, nhưng hài cốt không bao giờ được thu hồi.

Vào ngày Thứ Ba, bốn cựu chiến binh Hoa Kỳ mang hoàn trả chiếc nón cối cho gia đình anh Hùng qua một nghi lễ tại một ngôi làng cách Hà Nội 70 cây số; với nghĩa cử đề cao nhu cầu hòa bình và hòa giải.

Ông Bùi Đức Dục, 52 tuổi, là cháu của liệt sĩ Hùng phát biểu, “Đây thật là giây phút thiêng liêng đối với gia quyến chúng tôi.”

Ông Dục bật khóc khi chiến nón cối được mang đặt lên bàn thờ gia tộc, trước sự chiêm bái của những cựu chiến binh Hoa Kỳ, khoảng 100 dân làng và viên chức xã có mặt. Trong căn phòng cũng đặt một bức tượng ông Hồ Chí Minh, người đã lãnh đạo cuộc chiến tranh thắng lợi.

Ảnh: AP

Ông Dục ngỏ lời “Chúng tôi coi chiếc mũ này như chính một phần thân thể chú tôi, và sẽ bảo tồn nó để nhắc nhở cho thế hệ tiếp nối của gia tộc chúng tôi.”

Hơn ba triệu người Việt Nam đã chết trong chiến tranh qua thời gian Hoa Kỳ phải hành động để ngăn chặn làn sóng Cộng Sản tại Đông Nam Á. Ông Wast, nay đã 67 tuổi, là người dân vùng Toledo, bang Ohio, chưa từng du lịch Việt Nam. Lời nói của ông ta đã ghi và phát lại qua buổi lễ cho biết rằng liệt sĩ Hùng đã chiến đấu thành thạo và ngoan cường… (“46 years on, Vietnamese helmet returned.” Tran Van Minh. AP. Trans Y.Y).

Trường hợp của ông Nguyễn Chánh Nhường thì hơi khác, theo bản tin (“Sau 40 năm, liệt sỹ trở về thành hộ nghèo”) của báo Lao Động, số ra ngày 1 tháng 2 năm 2015:

Một sự kiện hy hữu vừa diễn ra tại xã Quỳnh Lâm, huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An) khi ông Nguyễn Chánh Nhường, đã có giấy báo tử và được công nhận Liệt sỹ tròn 40 năm bỗng trở về trước sự ngỡ ngàng của người thân và bà con xóm giềng. Ông Nhường hiện trí nhớ suy giảm, sức khỏe yếu được chính quyền địa phương xếp vào diện hộ nghèo.

Vào ngày 10.4.2014, gia đình ông Nguyễn Chánh An, xóm 19 xã Quỳnh Lâm hết sức ngỡ ngàng khi thấy một người đàn ông ăn mặc rách rưới, dáng vẻ tiều tụy, khắc khổ xuất hiện trước cửa nhà. Sau phút định thần, gia đình ông An bàng hoàng nhận ra đây là ông Nguyễn Chánh Nhường, người anh em ruột của gia đình, đi bộ đội và được báo tử, truy điệu Liệt sỹ vào năm 1974, vừa tròn 40 năm.

Ông Nguyễn Chánh Nhường sinh năm 1949, quê quán xã Quỳnh Lâm, lớn lên theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, ông xung phong lên đường nhập ngũ. Sau một thời gian bặt tin tức, vào năm 1974, cả gia đình ông chết lặng khi nhận được giấy báo tử của đơn vị gửi về, thông báo ông đã hi sinh ngày 6.4.1973. Địa phương và các tổ chức đoàn thể đến thăm hỏi, động viên gia đình và tổ chức lễ truy điệu. Gia đình ông được phát bằng Tổ quốc ghi công số DE 145, được lưu giữ trang trọng tại nhà ông anh cả Nguyễn Chánh Nghiệm…

“Liệt sỹ” Nguyễn Chánh Nhường trở về sau 40 năm báo tử. Ảnh và chú thích: Lao Động

Bà Bùi Thị Hường, Phó Chủ tịch UBND xã Quỳnh Lâm cho biết: “Sau khi nghe tin có ông Nhường trở về, chúng tôi đã thành lập đoàn xác minh thông tin. Kết quả cho thấy người trở về chính là ông Nguyễn Chánh Nhường, đã được công nhận Liệt sỹ cách đây 40 năm. Ông Nhường không có giấy tờ gì, trí nhớ cũng không còn minh mẫn, ngay cả nói cũng không mạch lạc…

Bà Hường nói:“Chúng tôi chưa thăm, tặng quà ông Nhường, nhưng đã có kế hoạch tặng quà và đề xuất UBND huyện tặng quà cho ông trong dịp Tết Nguyên đán Ất Mùi. Đây là một trường hợp hết sức hi hữu, mong rằng các cơ quan chức năng sẽ xem xét giải quyết chế độ phù hợp cho một người đã từng đi bộ đội, tham gia chiến đấu và được công nhận là Liệt sỹ.”

Ông Nhường trở về ngày 18 tháng 3 năm 2014, gần một năm sau (hôm 1 tháng 2 năm 2015) bà Phó Chủ Tịch UBND xã Quỳnh Lâm tuy vẫn chưa đến thăm nhưng đã có “kế hoạch” và “đề xuất UBND huyện tặng quà” rồi. Chả biết “đề xuất” này có được chấp thuận hay không nhưng (“tiếng chào cao hơn mâm cỗ”) thế cũng qúi hoá lắm rồi.

Nếu ông Nguyễn Chánh Nhường đi luôn, và chỉ có cái lon Guigoz hay chiếc nón cối trở về (thôi) thì việc tiếp đón – chắc chắn – sẽ long trọng và đình đám hơn nhiều. Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi. Đã đi chinh chiến mà còn (ráng) trở về làm chi nữa, cho nó thêm rách việc!

‘ Người tự ứng cử như cá nằm trên thớt’

‘ Người tự ứng cử như cá nằm trên thớt’

Vo An Don

Một số người tự ứng cử Đại biểu Quốc hội ở Việt Nam phê phán giai đoạn lấy ý kiến của cử tri về người ứng cử tại nơi sinh sống, làm việc.

Luật sư Võ An Đôn viết trên Facebook của ông, gọi những gì ông trải qua trong buổi lấy ý kiến hôm 01/04 ở nơi ông cư trú là buổi ‘đấu tố’.

“Tham dự hội nghị có hơn 100 người, phần lớn là công an, người nhà công an, cán bộ các đoàn thể chính quyền địa phương, người lạ mặt ở địa phương khác, dân chúng trong thôn chỉ vài người được mời đến dự.”

“…Họ đem chuyện gia đình, chuyện tôi không tham dự các cuộc họp của thôn, chuyện tôi viết bài trên Facebook ra mạc xác tôi; họ cho rằng tôi không đủ điều kiện làm đại biểu quốc hội, vì tôi có tư tưởng phản động; họ khuyên mọi người không bầu tôi.

“Điều đáng buồn là chính lãnh đạo Đoàn luật sư được mời đến dự lại đấu tố tôi, cho rằng tôi vừa bị Sở tư pháp phạt tiền vì không lập sổ tài chính nhưng không khai báo và tôi có tư tưởng không đảm bảo để bầu vào quốc hội,” ông Võ An Đôn viết.

Luật sư Đôn chỉ nhận được 29 phiếu ủng hộ trên tổng số 86 phiếu trong buổi tiếp xúc cử tri. Đến ngày 02/4 ông Đôn còn có buổi lấy phiếu tại Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên

‘Cá nằm trên thớt’

Ca sỹ Mai Khôi trả lời BBC Tiếng Việt hôm 01/04 sau buổi lấy ý kiến cử tri ở tổ dân phố tại thành phố Cam Ranh rằng, những người tự ứng cử “hoàn toàn như cá nằm trên thớt, và họ muốn mình vào được vòng nào là có sự sắp xếp của họ và mình cứ thế theo thôi.”

Mai Khôi kể lại về buổi hội nghị cử tri hôm 31/03: “Gọi là lấy ý kiến cử tri nhưng không được vận động trước, thứ hai là không được trình bày chương trình hành động của mình, không được phát biểu ý kiến gì ngoài việc phát biểu cảm ơn mọi người trong tổ dân phố của mình.

“Khôi thấy buổi lấy ý kiến đó như là hình thức, thiếu nội dung vì người ta không biết mình là ai, đang làm gì thì làm sao người ta cho ý kiến chính xác được. Ở đây chỉ là sự cảm tính.”

Trước buổi hội nghị với cử tri, Mai Khôi cho biết ‘một lãnh đạo’ đã tới tận nhà dặn dò cô một số điều không nên nói, mà cô kể lại rằng người này nói rất khéo léo, trong lời dặn dò có nhiều ‘ẩn ý’.

Khi được hỏi liệu cô có cho rằng mình sẽ qua được vòng hiệp thương để tiếp xúc cử tri, Mai Khôi nói xác suất có lẽ rất thấp.

“Đến nước này thì mình thấy rõ là họ đã có con đường, có sắp xếp của họ rồi, mình thấy rõ là chắc không có cơ hội đi tiếp.”

‘Không ghi âm, ghi hình’

Lam Ngan Mai

Đoạn tin trên Facebook kể lại chi tiết buổi lấy ý kiến cử tri của ca sỹ Lâm Ngân Mai

Ca sỹ Lâm Ngân Mai ở thành phố Hồ Chí Minh cũng tường thuật chi tiết về buổi lấy ý kiến cử tri về cô tại tổ dân phố Gò Vấp hôm 31/03 trên Facebook cá nhân.

Cô kể lại bị yêu cầu bỏ lại túi xách bên ngoài, và khi vào bên trong hội trường thì không được ghi âm, ghi hình cuộc họp do đã có “ban tổ chức làm việc đó”.

Cũng tương tự như ca sỹ Mai Khôi, Lâm Ngân Mai được yêu cầu không trình bày chương trình hành động của mình.

Lâm Ngân Mai viết, có sáu người lên phát biểu ý kiến về cô, trong đó nhắc trình độ lớp 9/12 của cô là “mơ mộng không đủ tiêu chuẩn làm Đại biểu Quốc hội, vì ngay cả ông [tổ trưởng dân phố] tự nhận mình lớp 10 đi xin việc làm còn khó, tổ trưởng nói thế”.

Ca sỹ này cũng nêu một người “không tên” đã liệt kê lại hàng loạt phát biểu của cô trên mạng xã hội như Facebook và YouTube, và kết luận, “nếu bầu Mai thì chắc Mai sẽ xây Vạn lý Trường Thành bằng thuế dân”.

Tường thuật trên Facebook của cô có đoạn tả lại việc nhiều người cho rằng cô đã ngụy tạo chữ ký của những người ủng hộ.

Ca sỹ Lâm Ngân Mai đăng tải đoạn video thu âm buổi tiếp xúc cử tri lên kênh YouTube của cô. Trên kênh này cũng có video cô tự giới thiệu chỉ học tới lớp 9 do gia đình hoàn cảnh khó khăn.

Vì sao người Công giáo có tỉ lệ ly hôn thấp?

 Vì sao người Công giáo có tỉ lệ ly hôn thấp?

Dongchuacuuthe.com

Xuất phát từ niềm tin tôn giáo, người Công giáo coi việc ly hôn là chuyện cấm kỵ. Vì thế, tỉ lệ ly hôn ở người công giáo không cao. Tuy nhiên, bên cạnh niềm tin và sự giàng buộc tôn giáo, trước khi kết hôn, các bạn trẻ công giáo đều cho biết, họ được trang bị khá đầy đủ những kiến thức để hòa hợp trong quá trình chung sống.

ChaKha

Linh mục Giuse Ngô Văn Kha. Ảnh: J.B Nguyễn Hữu Vinh

Cha Giuse Ngô Văn Kha – một linh mục của giáo xứ Thái Hà (Hà Nội) cho biết: Trước khi bước vào cuộc hôn nhân, các cặp đôi phải tham gia lớp học tiền hôn nhân. Đây là lớp học bắt buộc của người công giáo và thông thường sẽ kéo dài từ 3 – 6 tháng.

Ở lớp học này, bên cạnh những kiến thức về tôn giáo, các cặp đôi sẽ được học các kiến thức chuyên môn.

“Về kiến thức chuyên môn, chúng tôi có mời các cộng tác viên, đó là các nhà tâm lý học. Họ nói về tâm lý nam nữ, tâm lý vợ chồng, sự khác biệt giữa nam và nữ giữa các thời kỳ mà họ sống.

Ví dụ, phụ nữ khi chưa kết hôn, tâm lý của họ khác, khi kết hôn họ khác và khi có con họ lại khác nữa. Vì thế, nam giới, hay cụ thể là người chồng cần phải hiểu để có sự cảm thông chia sẻ với người phụ nữ của mình.

Bên cạnh đó là về sức khỏe sinh sản. Đối với người công giáo, nạo phá thai là điều tối kỵ. Do đó, tại lớp học này, chúng tôi có mời chuyên viên về sức khỏe sinh sản tới để chỉ cho các bạn các kiến thức khoa học để các bạn hiểu về mình; hiểu về cơ thể mình, hiểu về chu kỳ, hiểu về những ham muốn nhục dục; hiểu về những nguyên lý tác động, kích thích người nam, người nữ; hiểu về tất cả những điều trong cơ thể của mình để tìm cách phòng tránh thai khi chưa có ý định có con.

Hay nói tóm lại, đó là những kiến thức cần hiểu để sống tiết độ trong đời sống hôn nhân gia đình” – vị linh mục nói

traonhancuoi

nh có tính chất minh họa

Ngoài ra, vị linh mục này còn cho biết, tại lớp học tiền hôn nhân, những kiến thức về kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, những bài học về sự xung đột, xung khắc cũng được đề cập đến.

“Chúng tôi luôn nói cho các bạn biết rằng, cuộc sống hôn nhân không phải màu hồng. Sau khi kết hôn, các bạn sẽ gặp phải rất nhiều những khó khăn phức tạp. Đó là những khó khăn mà nếu lường trước được hết, chắc chắn nhiều bạn sẽ không dám kết hôn.

Những bất đồng về lối sống, quan niệm sống khi sống chung trong một gia đình có tam tứ đại đồng đường cũng sẽ dẫn đến rất nhiều mâu thuẫn. Thậm chí, 2 bạn có lấy nhau và ra ở riêng ngay thì những xung khắc xung đột vẫn sẽ xảy ra. Lý do là vì, con người ta độc lập về ý thức, độc lập về tư duy… Chúng ta khác biệt nhau hoàn toàn nên mâu thuẫn khi sống chung là chuyện tất yếu” – cha Kha nói.

Tuy nhiên, sau khi chỉ ra những khó khăn, ở lớp học tiền hôn nhân, các linh mục cũng sẽ chỉ cho các bạn trẻ khái niệm thế nào là yêu, thế nào là sống chung trong một đời sống mà người ta phải sống vì nhau, sống với nhau. Sống để cùng nhau đạt được mục đích mà mục đích ở xã hội này đó là tạo lập cho mình một gia đình êm ấm, vợ chồng đề huề, con cái thành đạt giỏi giang.

Hơn nữa, theo cha Kha, một lý do khiến cho các cuộc hôn nhân bên công giáo luôn bền vững đó là, ngay cả khi đã kết hôn, nếu xảy ra mâu thuẫn, tất cả mọi người vẫn luôn có sự trợ giúp từ các linh mục. Các linh mục sẽ luôn lắng nghe để tư vấn, giải đáp và giảng hòa. Vì thế, dù có làm sai đi chăng nữa thì cuối cùng họ cũng sẽ biết nhìn nhận lại những hành vi sai trái của mình và tìm đường quay trở về.

“Thêm vào đó, tôi vẫn thường khuyên các bạn trẻ, mỗi ngày hãy dành ra một chút thời gian để cầu nguyện. Trước khi cầu nguyện hãy dành một ít phút để soi xét lại những hành động đúng sai mà trong ngày mình đã làm đối với bản thân, với gia đình và với những mối tương quan khác.

Trong bầu không khí đó, nếu có những mâu thuẫn xảy ra, thì đây chính là lúc dễ dàng nhất để người ta có thể nói với nhau, giảng hòa…

Có lẽ vì những lý do đã nêu trên mà ở bên tôi, tỉ lệ ly hôn thường thấp hơn so với mặt bằng chung của xã hội ” – vị linh mục nói

Minh Anh

Nguồn: Vietnamnet