Chuyện gì đang xảy ra ở Việt Nam?

Chuyện gì đang xảy ra ở Việt Nam?

Người Việt

Lê Phan

2-4-2016

Hồi tôi còn đi học đại học, trong ngành chính trị học có một số các nhà chuyên môn được gọi là “Kremlinologists,” tức là những người chuyên nghiên cứu không phải về điện Kremlin mà về chính trị nội bộ của Liên Xô.

Đây thực sự là một ngành nghiên cứu rất quan trọng vào thời đó, và những nhà Kremlinologist tài giỏi là những người có thể tìm thấy những mấu chốt của nội tình Liên Xô qua những chỉ dấu bên ngoài. Họ chăm chú xem chỗ đứng của các lãnh đạo vào những ngày lễ lạc, xem ai còn ai mất, để tìm hiểu ai đang là kẻ thắng người bại trong nền chính trị tối đen của Liên Bang Xô Viết thời đó.

Nhưng chế độ Liên Xô đã chết. Những chế độ tự nhận mình là Cộng Sản hay “xã hội chủ nghĩa” ngày nay chỉ là những chế độ độc tài nếu không phải của một cá nhân thì là của một nhóm nhỏ. Hơn thế, ngoại trừ Trung Cộng, mà ngày càng trở thành một chế độ độc tài chuyên chế của ông Tập Cận Bình, những chế độ Cộng Sản khác không còn quan trọng nữa và không ai để ý nghiên cứu về các chế độ này nữa.

Tôi cũng không phải là một người được huấn luyện để nghiên cứu về một chế độ độc tài như các chuyên gia Kremlinologists hồi nào, nhưng có điều như Shakespeare đã nói “Something is rotten in the state of Denmark,” có một cái gì rất xấu đang xảy ra ở Việt Nam.

Trước hết là màn bi hài kịch về cuộc tranh quyền giữa ông Nguyễn Phú Trọng và ông Nguyễn Tấn Dũng.

Cho đến đầu năm 2015, khi Hội Nghị Trung Ương 10 của Đại Hội 11 kết thúc thì người thắng thế là ông Dũng. Trung Ương 10 là lúc mà ông Trọng đã tìm cách “lật đổ” ông Dũng lần đầu, và lần đó ông Trọng đã thảm bại. Khi đưa ra màn để cho các thành viên Trung Ương Đảng “bỏ phiếu tín nhiệm” các thành viên Bộ Chính Trị và Ban Bí Thư, ông Trọng nghĩ có thể chứng minh là ông Dũng không được sự tín nhiệm của các “đồng chí” và do đó phải bị ép từ chức. Nhưng kết quả là ông Dũng đạt số phiếu tín nhiệm cao nhất (một điều mà trong lời chia tay, ông Dũng còn mỉa mai nhắc lại).

Lúc đó những thầy bàn cho rằng sở dĩ ông Dũng thắng vì ông đã “dọn đường,” mua chuộc, thả đàn em và dụ dỗ tất cả các tổng giám đốc của các công ty quốc doanh, một số các tỉnh ủy, nhất là các tỉnh ủy miền Nam, khiến cho khi bỏ phiếu những nhân vật này bỏ phiếu cho ông Dũng.

Và từ đó đã có nhiều đồn đãi là ông Dũng đang chuẩn bị để lên thay thế ông Nguyễn Phú Trọng làm tổng bí thư. Có nhiều người còn nói đến việc nếu cần ông Dũng sẽ loại bỏ đảng luôn để thành một ông Vladimir Putin thứ nhì.

Trong khi đó, trong những ngày cuối của năm 2015, lần đầu tiên trong lịch sử đảng Cộng Sản Việt Nam, cuộc tranh giành quyền lực trong đảng lộ diện. Với sự có mặt của Internet, hai phe tha hồ bôi nhọ cho nhau. Cũng trong thời gian này nhiều “đơn tố cáo” được đưa ra tấn công vào gia đình ông Dũng, nhất là sui gia của ông Dũng, bố chồng của cô Nguyễn Thanh Phượng là ông Nguyễn Bá Bang. Có những lời dèm pha nói là ông Bang không phải chỉ là một cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa mà còn là một nhân viên của CIA. Cô Phượng thì bị tố cáo là đã có quốc tịch Hoa Kỳ. Điều một nhà quan sát chỉ ra trên đài VOA là phe ông Trọng tấn công và phe ông Dũng chỉ chống đỡ.

Nhưng mọi sự vẫn chưa ngã ngũ cho đến Hội Nghị Trung Ương 13 mà mục đích chính là quyết định nhân sự cho những năm sắp tới. Hội Nghị Trung Ương này nghe đâu rất gay cấn và theo tường thuật của Ban Việt Ngữ Đài BBC thì hội nghị bế mạc hôm 21 tháng 12 vẫn còn có tranh luận gay go là ai trong số bốn ông Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Sinh Hùng có thể được tái cử tại Đại hội Đảng. Nói cách khác, một hội nghị được tổ chức để bàn về nhân sự không đồng ý nổi. Thông cáo của hội nghị nói là Trung Ương Đảng đã “giao bộ chính trị tiếp tục chuẩn bị nhân sự trường hợp đặc biệt là ủy viên Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư Trung Ương Đảng Khóa 11 quá tuổi, tái cử, để đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo chủ chốt của đảng và nhà nước, trình Hội Nghị Trung Ương 14 xem xét quyết định.”

Hội Nghị Trung Ương 14 diễn ra trong một bầu không khí còn căng thẳng hơn nữa. Blog Bà Đầm Xòe, một trong những blog thuộc phe có vẻ thân ông Dũng đã có một bài tường thuật gọi là sự thật về Hội Nghị Trung Ương 14 theo đó bảo “Nguyễn Phú Trọng thua phiếu Nguyễn Tấn Dũng trong việc đề cử tổng bí thư.” Theo blog này, mà không ai biết đúng hay không, thì cuối cùng trung ương bỏ phiếu cho ông Dũng 160 trên 173 trong khi ông Trọng chỉ có 46 trên 173. Đó là lúc theo blogger “Tổng bí thư Nguyên Phú Trọng đã yêu cầu phải thực hiện Quyết Định 244 mà theo đó, ứng viên không được Bộ Chính Trị đề cử thì buộc phải xin rút.” Và một lần nữa, “trung ương lại bỏ phiếu về việc ứng cử viên Nguyễn Tấn Dũng có được rút hay không và kết quả là 158/173 không đồng ý việc ứng cử viên Nguyễn Tấn Dũng được rút khỏi danh sách đề cử ứng viên vị trí tổng bí thư khóa 12.”

Chuyện “thâm cung bí sử” của đảng Cộng Sản thì không ai có thể kiểm chứng được, nhưng thông cáo chính thức của hội nghị viết “Với tinh thần dân chủ, trách nhiệm, thể hiện sự đoàn kết nhất trí cao, Ban Chấp Hành Trung Ương đã thảo luận kỹ, thông qua dự thảo báo cáo công tác nhân sự Ban Chấp Hành Trung Ương Khóa XII trình đại hội; thống nhất cao bằng hình thức bỏ phiếu kín đề cử nhân sự chức danh tổng bí thư Ban Chấp Hành Trung Ương Khóa XII; đề cử chức danh chủ tịch nước, thủ tướng chính phủ, chủ tịch Quốc Hội nhiệm kỳ 2016 – 2021 để Ban Chấp Hành Trung Ương Khóa XII xem xét, giới thiệu Quốc Hội khóa XIV quyết định theo quy định của pháp luật. Hoàn tất công tác chuẩn bị nhân sự trình đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của đảng xem xét, quyết định. “Nói cách khác trao việc quyết định cho đại hội đảng.”

Và đến Đại Hội Đảng 12 thì ông Trọng toàn thắng. Ông Dũng “nghỉ hưu chính sách” và ông Trọng sẽ làm tổng bí thư tạm một năm rồi sẽ bầu lại. Chuyện gì xảy ra giữa Hội Nghị Trung Ương 14 và Đại Hội Đảng thì không ai biết nhưng khi ra đại hội thì có vẻ ông Dũng đã thua.

Nhưng chưa hết, sau đại hội nhưng ông Dũng vẫn còn là thủ tướng. Và vì thế khi vào hai ngày 15 và 16 tháng 2 năm 2016, khi Tổng Thống Barack Obama mời các lãnh tụ của Hiệp Hội các Quốc Gia Đông Nam Á (Asean) đến dự hội nghị thượng đỉnh ở Sunnylands, đại diện cho Việt Nam là ông Nguyễn Tấn Dũng. Ngoài gặp gỡ chính thức, ông Obama và ông Dũng có một cuộc gặp riêng.

Trước cuộc họp, có tin đồn trong nước là ông Dũng không chịu đi bởi theo một số nhà bình luận, đi thì ông phải theo lập trường của bộ chính trị và không được quyền ăn nói gì khác cả. Nhưng sau cùng ông Dũng đã đi, và đã gặp Tổng Thống Obama.

Chưa hết, đến kỳ họp cuối cùng của Quốc Hội khóa 13, ông Trọng tung ra một màn ngoạn mục nữa, cho Quốc Hội cũ miễn nhiệm luôn các chức vụ chủ tịch nước, thủ tướng, chủ tịch quốc hội và chọn luôn các chức vụ mà chính thông cáo của đảng Cộng Sản Việt Nam về Hội Nghị Trung Ương 13 viết “đề cử chức danh chủ tịch nước, thủ tướng chính phủ, chủ tịch Quốc Hội nhiệm kỳ 2016 – 2021 để Ban Chấp Hành Trung Ương Khóa XII xem xét, giới thiệu Quốc Hội khóa XIV quyết định theo quy định của pháp luật.”

Những lời bàn tán nói là ông Trọng không muốn ông Dũng sẽ lại là người đón tiếp Tổng Thống Barack Obama khi ông dự trù đến Việt Nam vào tháng 5 tới đây, bởi lúc đó Quốc Hội Khóa 14 chưa có để bầu lên người thay thế ông Dũng.

Cuộc ẩu đả giữa ông Dũng và ông Trọng như vậy là kết thúc. Ông Dũng không hiểu vì sao “khinh địch” đến thế hay là vì lý do nào nữa mà để bị ông Trọng hạ đo ván.

Chuyện lạ ở Việt Nam tuy vậy chưa hết. Trong khi đang tiếp tục “thủ tục” để hạ ông Dũng, hôm Chủ Nhật, 27 tháng 3, Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh đã long trọng tiếp đón Bộ Trưởng Quốc Phòng Trung Cộng Thường Vạn Toàn. Cuộc gặp gỡ này thân thiện quá đến nỗi bản tin tiếng Việt của đài Tiếng Nói Hoa Kỳ viết: “Bộ trưởng Quốc Phòng Việt-Trung ‘tay bắt, mặt mừng.’ Đặc biệt hai ông còn ‘nhất trí’ rằng ‘quân đội hai nước phải kiềm chế, kiểm soát tốt tình hình, không đe dọa sử dụng vũ lực, không để xảy ra xung đột, cùng giữ gìn hòa bình, ổn định, hợp tác và lợi ích của hai nước, khu vực và thế giới.’”

Rồi ngày hôm sau, trên báo chí nhà nước, Thứ Trưởng Quốc Phòng Nguyễn Chí Vịnh nói đến “Việt-Trung xây dựng một quan hệ Quốc Phòng thực chất” và để chứng minh ông nói “Ví dụ chúng ta chủ động mời tàu Hải Quân Trung Quốc thăm các cảng Việt Nam, trong đó có cảng quốc tế Cam Ranh vừa khánh thành tháng 3 năm 2016, hưởng các dịch vụ ở đó giống như các nước khác.”

Một chuyên gia quân sự chuyên nghiên cứu về Việt Nam đã nhận xét đó là một sự chuyển hướng đặc biệt nhanh vì từ lâu nay, Hà Nội vẫn có ý muốn mở Cam Ranh để mời quốc tế nhưng trong “quốc tế” đó thường không thấy nhắc đến Trung Cộng.

Một nhà bình luận về chính trị Việt Nam thì giải thích là tốt nhất có thể nói hành động này của phe ông Trọng là lại một hình thức “đi giây” nữa của đảng Cộng Sản Việt Nam. Nhưng nếu đó là cái thế “đi giây” của ông Trọng thì cái thế đó bây giờ không hiệu nghiệm nữa.

Trong suốt thời gian của cuộc Chiến Tranh Lạnh, chính sách đó rất thành công, vì cái thế tay đôi giữa hai quốc gia muốn dành quyền độc tôn trong các chế độ Cộng Sản và cái thế tay ba với Hoa Kỳ khiến Hà Nội dễ lợi dụng. Nhưng ngày nay, cái thế đó không còn nữa.

RƯỚC LỄ VỚI NGƯỜI NGOẠI ĐẠO VÀ NGƯỜI LY DỊ

RƯỚC LỄ VỚI NGƯỜI NGOẠI ĐẠO VÀ NGƯỜI LY DỊ

Hỏi : xin cha giải đáp 2 thắc mắc sau đây;

  1. Đức Thánh Cha Phanxicô đã rửa chân cho hết mọi người, kể cả phụ  nữ và người ngoại Đao, như vậy những người không phải là Công Giáo có được rước Lễ khi họ tham dự Thánh Lễ hay không ?
  2. Những người li dị từ nay được rước lễ phải không ?

Trả lời:

  1. Việc rửa chân và rước Mình Thánh Chúa là hai việc hoàn toàn khác nhau.  Rửa chân chỉ là nghi thức nhắc lại việc Chúa Giêsu xưa đã rửa chân cho 12 Tông Đồ trong Bữa ăn sau cùng với họ, trước khi Chúa nộp mình cho những kẻ đến bắt bớ và hành hình Chúa ngày hôm sau. Đây không phải là việc cử hành một bí tích nào của Giáo hội đòi buộc tín hữu phải tham dự để được lãnh ơn cứu độ của Chúa.

Nghĩa là không có luật nào buộc phải tham dự nghi thức rửa chân cử hành trong khuôn khổ Lễ kỷ niệm Chúa lập Phép Thánh Thể và Chức linh muc ngày Thứ năm tuần thánh. Tuy nhiên, nghi thức rửa chân cũng không buộc phải làm vào ngày Thứ năm Tuần Thánh. Phụng vu trong Tuần Thánh chỉ buộc phải cử hành Lễ Chúa lập Phép Thánh Thể và Chức linh mục cùng làm phép Dầu Thánh (Chrism) trong ngày Thứ Năm Tuần Thánh mà thôi, Nhưng ở Tổng Giáo Phận Galveston-Houston, vì nhu cầu mục vụ,  Lễ này được làm ngày Thứ ba Tuần Thánh, thay vì Thứ Năm và không có nghi thức rửa chân. Việc này được tùy nghi làm ở các giáo xứ.

Việc Đức Thánh Cha Phanxicô cho rửa chân cả phụ nữ và tội phạm (năm qua tại một nhà tù ở Ý) là sáng kiến riêng của ngài. Ngài có lý do để làm như vậy, chúng ta không dám có ý kiến. Nhưng ngài cũng không buộc Giáo Hội phải làm theo gương của ngài. Nơi nào muốn làm thì tùy ý.

Nhưng không thể suy luận là Đức Thánh Cha rửa chân cho mọi người, không phân biệt nam nữ và tôn giáo, để từ đây cho phép hết mọi người được rước Mình Thánh Chúa, không phân biệt họ có Đạo và đang sạch tội trọng hay không.

Việc rước Mình Thánh Chúa trong Thánh Lễ Tạ Ơn ( Eucharist) là việc-tự bản chất- hoàn toàn khác biệt với việc rửa chân nói trên.

Rước Mình Máu Thánh Chúa Kitô là một việc đạo đức đòi hỏi phải có đức tin và sạch tội trọng. Phải có đức tin để tin rằng Chúa Kitô thực sự hiện diện trong hai chất thể là bánh và rượu nho. Có tin như vậy thì việc rước Mình , Máu Thánh Chúa mới sinh ích thiêng liêng cho người lãnh nhận. Không tin thì không có ích lợi gì cho dù là người công giáo hay người ngoại.

Phải có đức tin cũng có nghĩa là người muốn lãnh nhận phải là tín hữu Công giáo đang hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội. Như thế, các Kitô hữu thuộc các giáo phái bên ngoài Giáo hội Công Giáo như các nhánh Tin Lành và Anh giáo ( Englican) kể cả tín đồ của các tôn giáo khác như Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, Không Giáo, Hồi giáo… thì không được mời rước Mình, Máu Thánh Chúa Kitô, nếu họ vì xã giao đến tham dự Lễ với các tín hữu Công Giáo. Lý do là họ không cùng chia sẻ một niềm tin với Giáo Hội về Phép Thánh Thể nói chung và, cách riêng,  về việc Chúa Kitô thực sự hiện diện trong hai chất thể bánh và rượu nho như Giáo Hội tin không sai lầm.

Đây không phải là sự kỳ thị nào đối với các tín hữu bên ngoài Giáo Hội, mà là vì kỷ luật bí tích của Giáo hội đòi buộc người tín hữu phải cùng chung niềm tin với Giáo Hội về Phép Thánh Thể, tức là tin có sự biến đổi bản thể (substance) của chất thể hay tùy thể (accident) là bánh và rượu nho thành bản thể Chúa Kitô. Các anh em Tin Lành và tín hữu các tôn giáo khác đều không chia sẻ niềm tin này, nên họ không thể được mời lãnh nhận MÌnh Máu Chúa Kitô – nếu họ đến tham dự Thánh Lễ với người Công Giáo hay Chính Thống Giáo Đông Phương. ( Eastern Orthodox Churches)

Mặt khác, muốn lãnh nhận Mình Máu Chúa Kitô cách xứng hợp, thì ngoài yếu tố phải là ngươì Công Giáo ra, còn yếu tố quan trọng nữa là phải đang  sống trong tình trạng ơn phúc, tức là đang không có tội trọng (mortal sin), vì theo giáo lý và giáo luật thì:  “ ai đang có tội trọng thì không được làm lễ (linh mục) và rước Lễ (giáo dân). “ ( x.SGLGHCG số, 1415; giáo luật số 916).

Như vậy, không thể trao Mình Thánh Chúa cho hết mọi người, không phân biệt tôn giáo và tình trạng tâm hồn được, vì bất cứ lý do nào.

Rửa chân cho người ngoài Công Giáo thì không vi phạm giáo lý hay tín lý nào của Giáo Hội, vì đó là hành động chủ yếu mang tính chất bác ái, và phục  vụ;  giống như bố thí cho người nghèo, thăm viếng người bệnh, thăm tù nhân thì không cần phân biệt tôn giáo, nam nữ hay đẳng cấp xã hội. Ngược lại rước Mình Máu Chúa Kitô thì phải là người Công Giáo đang sống trong tình trạng ơn phúc, nghĩa là không có tội trọng trong linh hồn như nói ở trên. Hai việc này hoàn toàn khác nhau về bản chất, nên không thể loại suy việc này để làm việc kia được.

  1. Về câu hỏi thứ hai, cần phân biệt hai trường hợp đươc hay không được rước lễ của người ly dị như sau:
  2. Nếu sau khi li dị ngoài tòa dân sự, mà  không sống chung với người khác như vợ chồng thì không có gì ngăn trở  họ đi xưng tội và rước Lễ.
  3. Ngược lại, nếu sau khi li di ngoài tòa dân sự và trong khi chờ phán quyết xin tiêu hôn (annulment) nơi  Tòa hôn phối (Tribunal) của Giáo Phận , mà lại chung sống với người khác như vợ chồng, thì tạm thời không được phép xưng tội và rước lễ, vì lý do sau đây:

Bao lâu hôn phối cũ chưa được tháo gỡ theo giáo luật, thì bấy lâu vợ chồng vẫn còn bị ràng buộc với hôn phối mà hai người đã thành hôn trong Giáo Hội. Nghĩa là việc li dị ngoài tòa án dân sự không có giá trị tiêu hôn cho  hai người đã giao kết thành hôn ở nhà thờ. Do đó, bao lâu việc xin tiêu hôn (annulment) nơi tòa hôn phối của Giáo phận chưa được giải quyết thỏa đáng, thì bấy lâu hai vợ chồng vẫn bị ràng buộc với hôn phối cũ, dù hai người đã li dị ngoài tòa dân sự.

Do đó,  trong khi chờ đợi phán quyết của tòa hôn phối Giáo phận, mà tự ý sống chung với người khác như vợ chồng thì tạm thời không được xưng tội và rước Lễ. Sở dĩ thế, vì khi tự ý sống chung với người khác kể cả việc tái kết hôn với người khác ở ngoài tòa dân sự sau khi li dị, thì bị coi là phạm tội ngoại tình (adultery) vì hôn phối cũ chưa được tháo gỡ nơi Tòa hôn phối giáo phận.  Và đây mới là trở ngại cho việc xưng tội và rước lễ của người li dị. Phạm tội ngoại tình là tội trọng nên không được rước lễ theo giáo lý và giáo luật của Giáo Hội (x. giáo luật số 916, SGLGHCG số  1415).

Nói tóm lại, những người đã li dị ngoài tòa dân sự hay bỏ nhau để đi lấy người khác trong khi hôn phối cũ chưa được tiêu hôn (annulled), thì tạm thời không được xưng tội và rước lễ.

Gần đây, có dự luận cho là Giáo Hội muốn đón mời (welcome) những người li dị vào hiệp thông với Giáo Hội. Nghĩa là cho họ rước lễ như mọi người khác. Điều này không đúng, vì cho đến nay Tòa Thánh chưa hề nói gì về việc này, mà chỉ có chỉ thị mới cho các Tòa án hôn phối các giáo phận phải đơn giản hóa thủ tục xin tiêu hôn, để rút ngắn thời gian cứu xét tiêu hôn và có thể miễn hay giảm lệ phí cho các người xin tháo hôn phối. Ở Tổng Giáo Phận Galveston-Houston, thì lệ phí này đã được giảm từ 500 dollars xuống còn 100 dollars kể từ nay.

Sau hết, nếu hôn phối cũ chưa được thẩm quyền giáo phận cho tiêu hôn, thì tính bất khả phân ly (indissolubility) và thành sự (validity) của hôn phối cũ còn tồn tại và đang được cứu xét. Nên tự ý sống chung với người khác như vợ chồng,  thì đã vi phạm tính bất khả phân này, và đó là tội ngoại tình như đã nói ở trên. Phạm  tội này,  thì không thể xưng tội để xin tha được. Muốn tha thì phải từ bỏ việc sống chung bất hợp pháp nói trên, bao lâu hôn phối cũ chưa được tháo gỡ bởi thẩm quyền giáo phận.

Ước mong  những giải đáp trên thỏa mãn các câu hỏi đặt ra.

Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Suy nghĩ về tầm nhìn của chúng ta

 Suy nghĩ về tầm nhìn của chúng ta

(A Reflection on Our Vision)

Ghi nhận của Đoàn Thanh Liêm

* * *

Từ xa xưa, cha ông ta vẫn thường nói : “Người sĩ phu quân tử thì phải biết

nhìn xa trông rộng”, tức là phải cố gắng mà tìm hiểu cho rành mạch sâu sắc

hơn về tình hình chung của xã hội, của đất nước đang biến chuyển ra sao – để

rồi từ đó đề ra được một chương trình hành động sao cho thích hợp với nhu

cầu đòi hỏi của tình thế. Mà nói theo lối văn hoa, thì đó là cái “viễn kiến”.

Ngược lại, thì dân gian cũng bày tỏ sự coi thường đối những kẻ gàn dở,

ngang bướng, tự cao tự mãn – ví họ như lọai “ếch ngồi đáy giếng coi trời

bằng vung”, tức là lọai người có cái nhìn chật hẹp không làm sao mà trông

thấy hết được cái bàu trời bao la rộng mở của không gian thể lý vật chất,

cũng như của vũ trụ tâm linh tinh thần.

Là một người có duyên may được tiếp cận học hỏi với nhiều bậc thức giả

chuyên viên ở trong nước cũng như ngòai nước, tôi xin được chia sẻ với quý

bạn đọc một vài ý kiến sơ khởi mộc mạc về cái tầm nhìn của chúng ta trong

thế kỷ XXI hiện nay qua bài viết có nhan đề “ Suy nghĩ về Tầm nhìn của

chúng ta” (A Reflection on Our Vision) như được trình bày trong mấy điểm

sau đây.

 

I – Quá trình nhận thức vấn đề.

 Để bạn đọc tiện bề theo dõi câu chuyện, tôi xin tường thuật vắn tắt theo thứ

tự thời gian một số điều mình đã tai nghe mắt thấy, đại khái như sau.

 

* Trước tiên, vào năm 1960, trong thời gian tập sự tại Thư Viện Quốc Hội

Mỹ ở Washington, tôi có dịp thấy tại nơi đây có một nhóm nghiên cứu riêng

về “Space Law” (Luật Không gian). Là một chuyên viên nghiên cứu về luật

pháp (legal analyst) cho Quốc Hội Việt Nam thời Đệ nhất Cộng Hòa, tôi thật

sửng sốt trước nhóm nghiên cứu này, bởi lý do là trong giới luật gia ở Việt

Nam hồi đó không hề có một ai mà lại có thể đề cập đến vấn đề mới lạ và

rộng lớn như thế. Nhưng đối với một siêu cường như nước Mỹ, thì quả thật là

họ có khả năng và tầm nhìn rộng lớn để khởi sự công trình nghiên cứu về

lãnh vực “Luật Không Gian” như vậy. Sự kiện này đã khơi gợi cho tôi một

tầm nhìn sâu sắc rộng lớn hơn trong lãnh vực nghiên cứu luật pháp ở Việt

Nam

Vào năm 1964 – 65, Tổng thống De Gaulle cũng đã lên tiếng kêu gọi giới

thanh niên sinh viên nước Pháp là : “Chúng ta cần phải có một tầm nhìn vũ

trụ“ (vision cosmique). Vào giữa thế kỷ XX, thì nước Pháp cũng như nước

Anh không còn là một lọai cường quốc hàng đầu trên thế giới nữa. Tuy vậy,

do trình độ phát triển cao về khoa học kỹ thuật cũng như về văn hóa học

thuật, thì nước Pháp vẫn còn có một tầm ảnh hưởng đáng kể trên trường quốc

tê, vì thế mà nhà lãnh đạo De Gaulle mới phát biểu kêu gọi khuyến khích giới

thanh niên nước Pháp phải có một tầm nhìn rộng lớn bao quát như vậy.

* Cũng trong thời gian đó, thì tại nước ta, các nhà giáo dục ở miền Nam lại

đưa ra chủ trương này : “ Nền giáo dục của chúng ta phải được xây dựng theo

cả ba tiêu hướng – đó là Nhân bản, Dân tộc và Khai phóng”. Chủ trương này

rõ rệt là theo đúng với trào lưu của thế kỷ XX trên thế giới, nhất là sau cuộc

tàn sát từ 2 cuộc thế chiến 1914 – 18 và 1939 – 45, thì nhiều quốc gia đã cố

gắng tìm cách xây dựng một xã hội theo tinh thần tôn trọng phẩm giá và

quyền con người một cách triệt để hơn. Mà điển hình là sự công bố Bản

Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền do Liên Hiệp Quốc đưa ra tại Paris vào

năm 1948.

* Nhưng sau năm 1975, khi đổi tên nước ta thành “Cộng hòa Xã Hội Chủ

Nghĩa Việt Nam”, thì giới lãnh đạo cộng sản lại nêu khẩu hiệu kêu gọi tòan

thể dân tộc phải : “Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Chủ nghĩa Xã

hội ”. Vào thời gian đó, thì tôi được một anh bạn tên là anh Năm – vốn quen

biết trong giới Phật tử chuyên làm công tác xã hội từ hồi thập niên 1960 – 70

– anh Năm tâm sự với tôi đại khái như sau : “Vấn đề cần thiết cho chúng ta

lúc này, đó chính là cái tầm nhìn phải vừa đủ xa, đủ rộng để có thể từ đó mà

đề ra được một đường hướng tiến bộ thích hợp với những đòi hỏi thực tế mà

cấp bách của thời đại…”

* Vào cuối thập niên 1980, trước khi bị công an cộng sản tại Việt nam bắt

giữ, thì tôi được đọc trên báo chí nước ngòai cái khẩu hiệu được giới trẻ trên

thế giới rất tâm đắc, khẩu hiệu đó viết bằng Anh ngữ chỉ gồm vẻn vẹn có 4

chữ ngắn gọn như thế này : “Think globally – Act locally” ( Suy nghĩ tòan

cuộc – Hành động trong tầm tay).

* Và gần đây, người trong nước còn hay sử dụng từ ngữ “Đó là người vừa

có Tâm, mà lại vừa có Tầm” để đề cao một số nhân vật vừa có cả tâm hồn

nhân hậu và cả trí tuệ sắc bén. Hai tính chất Tâm và Tầm đó cũng tương tự

như nội dung ba phẩm cách “Nhân, Trí, Dũng” mà bất kỳ người Sĩ phu Quân

tử nào cũng phải có được – theo bức thang giá trị truyền thống xưa nay của

dân tộc chúng ta (Our Traditional Values System).

 

II – Những cản trở trong Tầm nhìn của người Việt ở hải ngọai.

Hiện có đến trên 4,5 triệu người Việt sinh sống tại trên 60 quốc gia và lãnh

thổ khắp thế giới. Trong số này, thì riêng tại Bắc Mỹ gồm Canada và Hoa kỳ

đã có đến 2 triệu rồi. Ở Âu châu gồm cả các nước thuộc Tây Âu và Đông Âu,

thì cũng đến con số cả 1 triệu người. Tại Úc châu và các nước thuộc Á châu,

thì cũng đến con số trên 1 triệu người.

Về mặt khách quan, thì phần lớn các nước mà người Việt chúng ta đã chọn

đến định cư sinh sống đều có nền kinh tế phát triển thịnh vượng, có trình độ

khoa học kỹ thuật cao và nhất là có chế độ chính trị dân chủ, tự do thông

thóang. Nhờ vậy, mà các thế hệ thứ hai, thứ ba là lớp con, lớp cháu của các

gia đình người Việt đã có thể dễ dàng hội nhập sâu sắc vào môi trường văn

hóa xã hội địa phương sở tại. Do đó mà trình độ hiểu biết và tầm nhìn của thế

hệ trẻ Việt nam ở hải ngọai cũng không khác biệt là bao nhiêu so với các bạn

cùng trang lứa thuộc dòng chính của quốc gia nơi cha mẹ mình đã chọn để

cho cả gia đình đến định cư lập nghiệp lâu dài.

Con số trên 500,000 sinh viên tốt nghiệp tại các đại học ngọai quốc trong

mấy chục năm gần đây là một dấu chỉ tích cực rất đáng phấn khởi cho tòan

thể dân tộc chúng ta vậy. Đó quả thật là một nguồn tài nguyên trí tuệ đồi dào

phong phú, một thứ “valuable asset” (tích sản quý giá) trong kho tàng sản

nghiệp cuả cha ông chúng ta trên quê hương đất nước Việt Nam này (Our

National Patrimony).

Có thể ví như khối trên 4 triệu người Việt nam hiện đang định cư lập nghiệp

tại khắp nơi trên thế giới thì như là một đàn cá từ nơi sông hồ chật hẹp trong

nội địa mà nay thóat ra ngòai biển cả mênh mông – thì mặc sức mà “vãy vùng

cho thỏa chí tang bồng”, thi đua nhau đem phát triển tối đa cái khả năng vốn

tiềm ẩn sâu kín trong bản thân mình từ bấy lâu – hầu gặt hái được những

thành tích to lớn như lòng mong ước ấp ủ suốt bao năm trường.

 

* Nhưng riêng đối với một số người tương đối lớn tuổi, thì cái việc hội

nhập, thích nghi với môi trường văn hóa xã hội mới lạ như thế không phải là

một việc đơn giản dễ dàng chút nào – so sánh với trường hợp của lớp con

cháu còn trẻ tuổi. Trong ý nghĩ của lớp người lớn tuổi này, hiện vẫn còn tồn

đọng những lấn cấn với những luyến tiếc về cái hào quang khi xưa của thế hệ

mình, vào cái thời mà họ còn đóng vai trò chủ động trên quê hương đất nước

Việt nam vào những thập niên 1960 – 70. Ta có thể ghi ra một số trở ngại

trong việc hội nhập này như sau :

 

1 – Lối suy nghĩ theo cái ước vọng của riêng mình (Wishful Thinking).

Vẫn có một số người không chịu tìm cách suy nghĩ tìm hiểu vấn đề theo lối

khách quan khoa học, mà lại suy nghĩ dựa theo những thành kiến có sẵn hay

theo cái ước vọng chủ quan của mình. Do vậy mà sự hiểu biết về sự việc, về

con người lại thiếu tính chất chính xác. Điển hình như chuyện một số người

vẫn tin là có chuyện vị Đại sứ Pháp ở Saigon hồi năm 1975 – tên là Jean-

Marie Mérillon – viết cuốn Hồi ký có nhan đề là “Saigon et Moi” tường thuật

về những chuyện xảy ra chung quanh ngày 30 tháng 4 năm đó. Thực ra đây là

một bài báo ngụy tạo, hòan tòan bịa đặt ra mấy chuyện vớ vẩn do một người

viết vô trách nhiệm tung ra vào năm 1987. Thế nhưng, một số bà con mình

lại coi chuyện đó là phù hợp với ước vọng của riêng mình, nên đâm ra tin đó

là điều có thật. Mặc dầu chính ông Mérillon – lúc đó là Đại sứ Pháp ở Liên

Xô vào cuối năm 1990 – đã đích thân viết thư trả lời cho Giáo sư nổi tiếng

chuyên về Sư học là Hòang Ngọc Thành rằng : “Bản thân tôi thì không hề

viết một cuốn Hồi ký nào có nhan đề là “Saigon et Moi “ như thế.”

 

2 – Lối nhận định sự việc theo cảm tính (Emotional Reasonning).

Cuộc chiến tranh Quốc Cộng ở Việt nam kéo dài từ cuối thập niên 1940 trong

bối cảnh của Chiến tranh Lạnh giữa hai khối Mỹ và Nga – gây ra bao nhiêu

thảm cảnh cho người dân chúng ta – mà đặc biệt đối với những nạn nhân của

chính sách tàn bạo của đảng cộng sản, thì mối hận thù ân óan vẫn còn rất sâu

đậm, khó mà có thể hàn gắn dẹp bỏ đi được. Vì thế mà mặc dầu qua thế kỷ

XXI, với cuộc chiến tranh lạnh trên thế giới đã chấm dứt từ trên 20 năm nay,

kể từ khi khối Xô Viết bị giải thể, thì vẫn còn nhiều người Việt ở hải ngọai

giữ nguyên cái não trạng của những năm 1950 – 60.

Do vậy, mà họ không chú trọng nhiều đến những đổi thay lớn lao trong cục

diện thế giới – để rồi từ đó mà có sự điều chỉnh lại cái phương thức hành

động khả dĩ thích hợp với tình hình thực tế hiện nay trong bối cảnh của một

thế giới đã tiến bước mạnh mẽ dứt khóat vào giai đọan tòan cầu hóa. Cái lối

nhận định sự việc theo cảm tính như thế quả thật đã trở thành một hạn chế tai

hại cho hiệu năng trong lề lối sinh họat, cũng như trong họat động của chúng

ta trong hiện tại và cả tương lai nữa vậy.

 

3 – Sự thiếu tiếp cận trao đổi với dòng chính trong xã hội sở tại.

Một phần vì do cách biệt ngôn ngữ, một phần vì lối sống quần tụ riêng giữa

các gia đình người Việt với nhau, nên hầu như nhiều người vẫn còn tự cô lập

mình, không chịu hòa nhập với cộng đồng địa phương. Điều này rõ rệt là

đang đi ngược lại với lời nhắc nhủ của cha ông chúng ta từ xa xưa qua câu

ngạn ngữ quen thuộc : “ Nhập gia tùy tục”. Tình trạng này, người Mỹ gọi là

lối sống khép kín, tự cô lập nơi các “Ghetto” – nó ngăn trở kìm hãm cái quá

trình hội nhập êm thắm giữa thế hệ người mới nhập cư vào với dòng chính

của xã hội Mỹ. Mà tình trạng đó cũng làm xa cách thêm cái khỏang cách

ngay trong nội bộ nơi các thế hệ cha mẹ với con cháu trong cùng một gia

đình (Widening Generation Gap) người Việt chúng ta đang cư ngụ làm ăn

sinh sống ở khắp nơi tại hải ngọai nữa.

 

4 – Không chịu nhìn tòan cảnh bức tranh xã hội hiện đại.

Bạn Đỗ Trọng Linh ở San Jose là một người thành công trong ngành Bảo

hiểm và Địa ốc. Nhiều lúc thảo luận trao đổi với tôi, bạn Linh hay nói thế này

: “ Cái khuyết điểm của nhiều người ở hải ngọai là không chịu nhìn cho thật

rõ ràng được cái “big picture” của xã hội quanh mình. Có thể coi đó là một

cái nhìn hời hợt, thiển cận. Vì thế mà không thể đánh giá cho xác thực được

cái môi trường văn hóa xã hội rất đa dạng phức tạp trong thế giới hiện đại –

để mà từ đó đề xuất ra được những hành động hợp lý, hợp thời với hiệu quả

cao trong công việc của cá nhân hay của tập thể mình theo đuổi được. Hậu

quả của lối nhìn thiển cận này là nhiều bà con cứ loay hoay bận rộn và bực

bội với những “ chuyện ruồi bu, vô bổ “ mà không làm sao giải quyết dứt

khóat được tình trạng bế tắc của mình – cũng như tìm ra được cái hướng đi

có tính chất khai phóng tiến bộ cho cả tập thể cộng đồng của mình… “ Tôi

hòan tòan chia sẻ cái lối phân tích vấn đề một cách thông suốt rốt ráo như thế

của anh bạn trẻ này.

 

III – Để tóm lược lại.

 Bài viết lan man đã dài rồi, tôi xin tóm tắt lại với hai điểm như sau :

* 1 – Từ gần 40 năm qua, người Việt chúng ta đã phải rời bỏ quê hương đất

nước để ra đi lập nghiệp sinh sống ở khắp các châu lục trên thế giới. Sau

những vất vả cực nhọc những năm đầu nhập cư trên xứ sở xa lạ, đa số chúng

ta đã bắt đầu xây dựng được một cuộc sống ổn định – và đặc biệt là thế hệ

thứ 2, thứ 3 là lớp con, lớp cháu trong các gia đình đều đã gặt hái được những

thành công đáng kể về nhiều mặt khoa học kỹ thuật chuyên môn, cũng như

về mặt kinh tế, xã hội văn hóa. Nói chung, thì đó là một điểm thuân lợi lớn

lao – trong cái rủi ro chật vật lúc phải trả giá nặng nề để tìm đường chạy

thóat khỏi ách độc tài cộng sản ở trong nước, chúng ta đã được nhiều quốc

gia mở rộng vòng tay đón tiếp và cưu mang các gia đình người tỵ nạn. Nhờ

sự tiếp cứu đày tình nhân đạo cao quý này, mà đa số bà con chúng ta đang

được thụ hưởng những tiện nghi thuận lợi của nếp sống văn minh trong thế

giới hiện đại. Cái ân nghĩa này, chúng ta không bao giờ mà có thể coi nhẹ hay

bỏ quên đi được.

Mặt khác, chúng ta cũng không quên được những bà con ruột thịt đang còn

phải sống dưới chế độ tham nhũng thối nát và độc tài ác nhân ác đức do

người cộng sản gây ra ở bên quê nhà. Thành ra, bất kỳ người Việt nào ở hải

ngọai cũng đều có cả hai cái nghĩa vụ phải góp phần vun đắp cho quê hương

nguyên quán của mình – cũng như cho quê hương mới hiện đang cưu mang

cho mình – như cha ông chúng ta vẫn thường nhắc nhở trong câu : “Ăn cây

nào, rào cây ấy”. Cả hai nghĩa vụ này đều nặng nề, không thể nào sao lãng bỏ

qua bất kỳ một trách nhiệm bổn phận nào được.

Lại nữa, trong thời đại của thế kỷ XXI hiện nay, thì giữa các quốc gia càng

ngày càng gắn bó liên đới với nhau khăng khít chặt chẽ hơn. Do đó, mà

người Việt hiện đang sinh sống ở hải ngọai, thì cần phải cố gắng hòa nhập

thuận thảo hơn vào với xã hội sở tại – để nhờ đó mà mở rộng được một tầm

nhìn khóang đạt rộng rãi hơn vê bối cảnh chính trị xã hội cũng như văn hóa

trên thế giới hầu đề ra được phương thức hành động thích nghi với tình thế

mới – cũng như giúp chúng ta hòan thành tốt đẹp được cả hai nhiệm vụ đối

với quê hương bản quán, cũng như đối với quê hương mới hiện đang hết sức

chăm sóc cưu mang cho mình vậy.

 

* 2 – Trong phần I ở trên, tôi đã ghi ra cái khẩu hiệu “ Think Globally – Act

Locally “ mà giới trẻ trên thế giới rất tâm đắc. Nay để kết thúc bài viết này,

tôi xin được thêm vào khẩu hiệu đó cái vế thứ 3 cũng chỉ gồm có 2 từ ngữ

nữa – như thế này : “ Love Totally “ (Hãy Yêu Thương Trọn Vẹn). Nói khác

đi, mỗi người trong chúng ta cần phải có được một trái tim thật nhân hậu – để

mà sẵn sàng hy sinh nhẫn nại trong công cuộc xây dựng trường kỳ gian khổ –

hầu đưa đất nước và dân tộc ta tới được một cuộc sống tươi đẹp, văn minh

nhân ái xứng đáng với phẩm giá cao quý của mỗi người và của tất cả mọi

người nữa.

Lọai công việc xây dựng tích cực như thế đòi hỏi phải có một đội ngũ những

người có quyết tâm cùng nhau sát cánh thật chặt chẽ ăn ý nhịp nhàng thuận

thảo với nhau – như là một thứ “perfect team” – thì mới mong đạt tới kết quả

lý tưởng tốt đẹp mong muốn được./

 

Westminster California, đầu tháng Bảy năm 2013

Đoàn Thanh Liêm

MUÔN ĐỜI LÀ CHỦ NỢ

MUÔN ĐỜI LÀ CHỦ NỢ

Dù thân đã tàn, tâm chưa phế
Chấp nhận nhục hình lúc bại, vong
Đã đành bầm dập vì thời, thế
luôn ngẩng đầu cao chẳng thẹn lòng!

Tháng 3 buông súng, tháng 4 đen
41 năm! Đã bao phen
gập mình trước biết bao nghịch cảnh
Ngã xuống! Ngoi lên, quyết không hèn!

Các Anh bây giờ đang ở đâu?

41 năm! Một nỗi sầu

Máu xương đã gửi vào Đất Mẹ

Quê Cha cũng lắm cảnh buồn đau!

Đem anh hùng luận, từ muôn thuở

người đời thẩm định lúc Phế, Hưng

Các Anh đã vẹn toàn Trung, Nghĩa
Tổ Quốc trong tim rất vô cùng!

Các Anh bây giờ đã ra sao?

Chân trời, góc biển, hay phương nào?!

Giữa cuộc trầm luân mùa quốc nạn

chấp nhận đọa đày. Thương biết bao!
 

Các Anh muôn đời là chủ nợ

cho vay trọn kiếp chẳng tính lời
Món nợ máu xương, tôi vẫn nhớ
Trả suốt cuộc đời, nợ chẳng vơi!

HUY VĂN

( quý tặng Đồng Đội và Chiến Hữu
TPB/ QLVNCH )

A! Này bé, con dế nó đậu cành tre,

Chuyện Phiếm đọc trong tuần sau Chúa Nhật 3 Phục Sinh năm C 10/4/2016

 “A! Này bé, con dế nó đậu cành tre,”

Em bắt đem về, hát xẩm mà nghe.

Đừng bắt đem về, đánh lộn làm chi.

Loài giun dế nó mang tội tình gì???”

(Phạm Duy – Bé Bắt Dế)

(Mt 28:18-19)           

            Trần Ngọc Mười Hai

Úi chu choa! Cái gì mà, “loài giun dế nó mang tội tình gì?” Thế còn loài người? Có tội có tình gì không thế?

Để trả lời câu hỏi, như em bé. Hãy cứ nghe câu hát tiếp, hạ hồi sẽ rõ:

A! Này bé, con dế nó nằm lỗ sâu,

            Đào lỗ đem vào cho ở hộp cao.

            Đừng bắt dế nghèo đánh bể đầu nhau,

Để nó phải buồn rầu.

 A! Này bé, con dế nó tội tình chi?

A! Này bé, con dế nó tội tình gì???

 A! Này bé, con dế nó ở đồng quê

Chinh chiến lan về, nó phải tản-cư.

Nó sống trên vỉa hè quanh-quẩn ngoại ô,

Làm thân sống nương ở nhờ!!!

 

A! Này bé, con dế nó cùng chị ve,

Trong mấy tháng hè nó chỉ hoà ca.

Mưa nắng thuận-hoà cho đẹp ruộng ta.

Con dế hát đẹp ngày mùa…

 A! Này bé, con dế nó ở miền quê!

A! Này bé, con dế nó ra kinh-đô…”

(Phạm Duy – bđd)

Chưa đâu, thân phận con dế bé nhỏ, còn bọt bèo hơn nữa, khi ta biết được rằng:

“A! Này bé, con dế nó ở nhà em,

Nên nó cũng thèm coi truyền-hình đêm.

Nó thấy phi-thuyền lên tận mặt trăng

Mà không thấy đâu chị Hằng!!!

 A! Này bé, con dế cúi đầu phục lăn.

Nó hát khen rằng: Con Người Giỏi Dang!

Nhưng vẫn chê rằng: thiếu hẳn tình thương

Lòng vẫn chứa đầy bạo cường…

 A! Này bé, Này bé! Mau thuộc bài đi,

A! Này bé! Cho dế nó coi Tivi!!!

(Phạm Duy – bđd)

Ấy! Ví thử ta thay thế cụm từ “em bé” và “con dế” bằng những chữ rất khác như: “linh mục”, Hội thánh”, hay sao đó, hẳn sẽ có người sẽ thêm vào đó cả triệu câu truyện kể rất dễ nể như sau này:

“Truyện rằng:

Hồi ấy, vào thời nước Nga còn thuộc khối Liên-Xô có đảng Cộng-sản do ông Stalin nắm trọn quyền-hành. Một hôm, ông Stalin quyết định ra đi thăm dân để biết sự tình về cuộc sống của tầng-lớp lao-động rày ra sao. Nên, ông ăn vận thật bình-thường như người dân ở huyện rồi ra khỏi điển Cẩm-Linh. Sau một ngày dài, ông trờ tới rạp chiếu bóng để xem dân chúng vui sống ra sao.

 Sau khi bộ phim kết-thúc, trên màn ảnh hiện ra hình-ảnh lãnh-tụ Stalin giơ tay vẫy chào từ biệt bà con lao-động và quốc ca Liên-xô trổi lên. Tất cả mọi người đều đứng dậy và hát theo, riêng chỉ có mỗi ông Stalin là không đứng.

 Khi ấy, có người đàn ông đứng ở phía sau hàng ghế của ông ghé vào tai ông Stalin rồi nói: “Đồng chí à, tôi cũng biết rằng: chúng ta đều nghĩ giống như nhau, nhưng để cho an-toàn hơn, tôi đề-nghị đồng chí cứ đứng lên là xong ngay! Và nghe thế, ông Stalin lưỡng-lự trong giây lát, rồi cũng đứng, chắc để… mình tiễn-biệt mình!” (Truyện kể về “Tiếu-Lâm Liên-xô” nhưng chắc gì đã đúng thật)

             Ấy chết, đừng vội nhận-định, bàn-luận hoặc nói năng sớm như thế mà làm gì. Hãy cứ nghe câu hát tiếp cũng rất hay như sau này:

“A! Này bé, theo dế ra tận bờ đê

Đất sét đem về ta nặn đồ chơi.

Nặn những tay người hay nặn bàn chân

Tặng cho những ai tàn tật.

 A! Này bé, theo dế ra trại định-cư

Coi những ông già phá rừng trồng hoa

Chia sớt ngọt bùi với trẻ mồ côi

Đời mới chúc người phục hồi…

 A! Này bé, Con dế xin vài hòn bi!

A! Này bé, Đem biếu những em xa quê!…

            (Phạm Duy – bđd)

Và những câu cuối của bài hát, còn đáng để bạn và tôi suy-nghĩ, bàn luận hoặc ít là cứ phiếm, rất như sau:

A! Này bé, thôi nhé dế còn phải đi

            Đi hát câu vè, trên nẻo đường xa…

            Đi tới quê mẹ, nối lại tình cha!

            Và, ca hát câu giải hoà.

 A! Này bé, có lẽ dế về miền sông,

Có lẽ lên rừng hát cùng loài công.

Hay xuống cát vàng hát cùng hàng thông,

Ở giữa cõi đời mịt mùng…

 A! Này bé, con dế đến mùa phải đi…

A! Này bé, rồi sẽ có ngày trở về…

(Phạm Duy – bđd)

Vâng. Đúng thế. Dế hay bé, rồi cũng có ngày phải đi. Vì khôn lớn, hơn loài thường. Vâng. Chính thế. Bạn đạo hay người đời, có ngày cũng vẫn ra đi. Đi mà tìm về nguồn để học hỏi những lời vàng rằng:

“Đức Giê-su đến gần, nói với các tông-đồ rằng:

“Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất.

Vậy anh em hãy đi

và làm cho muôn dân trở thành môn đệ,

làm phép rửa cho họ

nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”

            (Mt 28: 18-19)

Vâng. Lời vàng đầy ý-nghĩa như thế. Nhưng, xem ra thực-tế vẫn như thể: nhiều người còn thắc mắc chuyện này nọ, hoặc chưa am-tường ý-nghĩa của lệnh-truyền ấy có dành cho mình hay không, hoặc chỉ cho mỗi các tông-đồ thời đó, nhấc chân đi theo Đức Giêsu mà thôi.

Ngày nay, ở ngoài đời hay trong Đạo, cũng có những sự-kiện/hiện đáng để bạn và tôi, ta quan-tâm bàn luận, cũng rất nhiều.

Một trong các chuyện đáng bàn và đáng phiếm vẫn là chuyện Đạo ở đời, trong đó có ý-kiến về chuyện: ta có nên cùng với bạn-đạo Chính thống hoặc Cốp-tích Ai Cập định-vị lại ngày tháng cho lễ Phục Sinh hay không, như sau:

“Tổng Giám Mục Justin Welby của Canterbury, Anh Giáo hôm 16/1/2016 có loan-báo: Giáo-hội Anh sẽ tham-gia cuộc bàn luận diễn-tiến giữa Đức Phanxicô và lãnh-đạo Giáo hội Cốp-tích để định ngày tháng thống-nhất tổ-chức Lễ Phục Sinh cho hai Đạo…

 Ông nói: ông muốn được thấy thời-điểm tổ-chức Ngày Lễ này sao cho đơn-giản, đồng-thuận có lợi cho mọi người kể cả trường-học, bậc cha-mẹ đưa đón con em, các doanh-thương cũng như kỹ-nghệ du-lịch thay vì mỗi năm cứ phải xê-dịch ngày thánh, có năm có khi cách nhau đến 35 ngày. Riêng Giáo-hội Chính-thống Đông-phương lại tính toán ngày tháng cho lễ Phục Sinh cũng khác hẳn khi chức-sắc trong Đạo lại dùng lịch cũ của Julian.       

 TGm Welby còn xác-nhận là: các nhà lãnh-đạo Anh-giáo trên thế-giới cũng đã họp bàn và đồng-thuận tham-gia bàn-luận với các Giáo-hội khác, để định ngày thống-nhất. Nhưng ông cũng nói tiếp: thay-đổi thời-gian cho Lễ này cũng phải mất 5 đến 10 năm mới đưa vào hiện-thực được.

 Riêng Đức Phanxicô năm ngoái có thông-báo: ngài cũng muốn bàn-thảo với các nhà lãnh-đạo Giáo-hội Cốp-tích mà số đông tín-hữu của giáo-hội này sống ở Châu Phi và Trung Đông, để tìm ra ngày tháng thống-nhất cho sự-kiện này.” (x. tin trên Courier Mail của Queensland , Chúa Nhật 17/1/2016 tr. 11)   

 Ít hôm sau đó, Tuần báo Công-giáo ở Sydney là tờ The Catholic Weekly cũng loan tin giống như trên, nhưng lại kết thúc bài viết bằng giòng nhận-định bảo rằng:

“Phát-ngôn-viên Giáo-hội Chính-thống thuộc Nga có nói rằng: Thượng-Phụ Mạc-Tư-Khoa hân hoan nghênh-đón ý-kiến về việc cùng nhau cử-hành chung một ngày Lễ, bao lâu quyết-định này phù-hợp với lịch của Chính-thống-giáo.

 Theo linh-mục quản-hạt Nikolai Balashov phó giám-đốc thường-vụ Đại-kết thuộc Toà Thượng-phụ Mạc-Tư-Khoa nói ông đang chờ được nghe chi-tiết đề-nghị từ Đức Giáo Hoàng Phanxicô, khi nói rằng:

“Giả như Giáo Hội La Mã có ý-định hủy bỏ ngày lễ Phục Sinh tính theo lịch Grêgôriên được đưa ra vào phụng-vụ giờ lễ kể từ thế kỷ thứ 16 về với lịch cũ, sử dụng lúc Giáo-hội Đông và Tây Phương hợp-nhất dùng ngày tháng cố-định do Giáo-hội Chính-thống thiết-lập, thì chúng tôi hoan-nghênh ý của ngài. Thế nhưng, nếu thiết-lập một ngày nhất-định cho Phục Sinh là việc không thể chấp-nhận hoàn-toàn được.” (xem Catholic Weekly News ngày 24/1/2016 tr. 10)

             Xem thế mới biết: muốn định việc gì cho thống-nhất mà không chịu nhượng-bộ từ phía mình, dù là Giáo-phái hoặc Giáo-Hội đã thánh-hoá cách nào đi nữa, cũng là việc khá khó. Khó, thực-hiện. Khó, tạo niềm tin-tưởng vào nhau, rất thân-thương, nhịn nhường là chuyện rất đời thường.

Từ ý-tưởng ấy, đã nảy sinh nhiều ý-kiến có liên-quan đến chuyện đời/việc Đạo ở đâu đó, dù là xó-xỉnh, góc chợ hay bục cao chót vót của thánh hội.

Nói thế rồi, nay ta đi vào sự-kiện khác cũng đáng phiếm, như chuyện khác-biệt chánh-kiến cả về thần-học, lẫn thánh kinh giữa các giáo-phái/giáo-hội cùng thờ một Đức Chúa, ở nhiều nơi. Như, vấn-đề hoặc câu chuyện do đấng bậc nọ đề ra ở trong sách. Thế nhưng, trước khi đi vào thực-tế của chuyện đạo, mời bạn và tôi, ta trở lại câu hát cũng rất “dế” ở trên, mà hát rằng:

“A! Này bé, thôi nhé dế còn phải đi

            Đi hát câu vè, trên nẻo đường xa…

            Đi tới quê mẹ, nối lại tình cha!

            Và, ca hát câu giải hoà.

 A! Này bé, có lẽ dế về miền sông,

Có lẽ lên rừng hát cùng loài công.

Hay xuống cát vang hát cùng hàng thông,

Ở giữa cõi đời mịt mùng..

 A! Này bé, con dế đến mùa phải đi…

A! Này bé, rồi sẽ có ngày trở về…

(Phạm Duy – bđd)

Đi tới quê mẹ, nối lại tình cha! Và, ca hát câu giải hoà”, làm sao được như thế, khi mà nhiều đấng bậc và nhiều người không chịu lắng tai nghe đấng bậc khác, người khác có nhận-định khá sâu-sắc như sau:

“Tính-cách bộ-tộc của Thượng-đế ở đạo-đức Do-thái-giáo đang lớn mạnh. Thuyết duy-vũ-trụ đang ló rạng. Thượng-đế đây khi xưa vẫn là còn như thế cho đến khi Đức Giêsu biến-đổi thành Đức Chúa trước tiên đi vào hiện-hữu và rồi thành Đấng Thánh-hoá cho đi sự sống có thẩm-thấu bộc-lộ cho mọi người thấy được thực-chất của mọi hữu-thể.

 Đức Giêsu sai-phái tông-đồ Ngài ra đi mà đến với thế-gian (Mt 28: 16-20). Các tông-đồ được lệnh vượt lằn ranh biên-giới của nước mình, bộ-tộc mình và đặc-biệt hơn, vượt khỏi đạo-giáo của mình nữa.

 Khi các ngài, cuối cùng, không thể nào thoát khỏi mọi lằn ranh nằm bên trong nhân-loại nay trải rộng và cởi mở, các ngài được lệnh rao-giảng Tin Mừng, tức là: tình thương-yêu vô bờ bến của Thiên-Chúa với mọi người mà Chúa đã thực-hiện, một tình-thương vốn không chấp-nhận một lằn ranh cách biệt nào hết.

 Tình-thương không ranh giới sẽ yêu thương cả những người khi xưa tìm cách đóng đinh Tình-Yêu của Chúa vào thập-giá. Nó bao gồm mọi loài, mọi cây cỏ, mọi hành-tinh, mọi bộ-tộc mọi người.

 Tất cả đều được Chúa chọn. Không một ai là người ngoại-cuộc, ngoài hành-tinh. Không ai bị chia-cách khỏi Chúa. Ta sống trong Chúa. Chúa sống trong ta. Ta là nhân-chứng ở Giêrusalem, Giuđêa, Samaria và “cho đến mút cùng của trái đất” (Cv 1: 8). Tên của Đức Giêsu nay đã là Emmanuel, có nghĩa: Thiên-Chúa ở cùng chúng ta (Mt 1: 23).

 Và, khi Ngài phán: “Này, ta sẽ ở với các anh mãi.” (Mt 28: 20) tức là Ngài đã nói lên danh-xưng Emmanuel là tính-cách rất thực. Và, khi Thiên-Chúa tự-do như Thần-khí, mọi lằn ranh cách-biệt giữa quốc-gia và thể-chế, biểu-trưng bằng các ngôn-ngữ khác-biệt, thì lằn ranh ấy bị tẩy/bỏ và mọi người được ơn Thánh-thần và bắt đầu nói thứ ngôn-ngữ của tình thương-yêu (Cv 2: 1-4). Và, thần-khí ấy thông-chuyển ngang qua lịch-sử, thì lằn ranh biên-giới lại ngã đổ.

Rồi, khi Phêrô nghe tiếng Chúa trong giấc mộng bảo rằng: “Những gì Thiên-Chúa đã tẩy sạch thì ngươi không được gọi là ô-uế” (Cv 10: 9-16) Phêrô mới trổi dậy từ thị-kiến ấy và đã tẩy/rửa cho Cornêlius, người ngoài Đạo. Sử-thi của Do-thái-giáo đã phá đổ mọi rào-cản rồi đi vào với vũ-trụ trở thành anh-hùng-ca của nhân-loại.” (x. Tgm John Shelby Spong, Jesus beyond religion, the sign of Kingdom of God, The Sins of Scripture nxb HarperCollinsPublishes 2005 tr. 295-298)

Thi-sử hay anh-hùng-ca của nhân-loại nay dàn-trải khắp mọi nơi. Trong mọi người. Thiên-sử ấy gọi là tình thương-yêu. Là Đạo-lý của đạo-giáo rất Kitô. Là, gì nữa thì bạn và tôi, ta cũng nên suy-tư mà nhận–định như thế.

Suy-tư/nhận-định không theo kiểu nghe qua rồi bỏ. Nhưng là nhận-chân ra sự thật ở đời dù nhiều khác-biệt, vẫn cứ là ảnh-hình của một sự thật tình-yêu được người diễn-tả qua văn-chương/nghệ-thuật cùng âm-nhạc, cùng mọi thứ.

Trong cảm-nhận sự khác-biệt trong yêu-thương đoàn-kết cũng rất Đạo, mời bạn mời tôi, ta vào với lối diễn-tả nhè nhẹ ở truyện kể như sau:

“Sáng nào cũng thấy thằng nhỏ cầm cái lon đứng chầu chực trước quán ăn. Tôi để mắt theo dõi thì hễ thấy thực khách vừa kêu tính tiền thì thằng bé chạy vào nhìn vào những cái tô, nếu còn thức ăn dư mứa thì nó vội vã trút vào cái lon rồi chạy ra ngoài đứng ngóng tiếp.

Khi cái lon gần đầy thì nó biến mất, chập sau thấy nó lại có mặt thập thò trước quán tiếp tục. Bàn tôi ngồi thì đứa bé không bao giờ quan tâm tới, vì mỗi sáng tôi chỉ đủ tiền uống 1 ly xây chừng vì tôi cũng nghèo cải tạo mới về sáng nhịn đói ngồi uống cà phê đen như một cái thú hay một cái tật không bỏ được.

Cứ thế, mà hơn một năm tôi mới quen được và tìm hiểu chút ít về hoàn cảnh gia đình của đứa bé đáng thương.

Tôi cố tình làm quen với thằng bé nhờ hôm ấy trời mưa, thằng bé đứng nép vào trong quán. Thằng bé đứng nép vào ngày càng sâu hơn trong quán vì mưa ngày càng lớn chỉ cách tôi chừng độ nửa thước. Tôi với tay kéo nó ngồi xuống bàn và hỏi nó có thích uống cà phê không?

Thằng bé lắc đầu lia lịa và nói không uống. Tôi hỏi nó làm gì ngày nào cũng ra đây? Và hiện sống với ai? Thằng bé như đoán được rằng: tôi chỉ là người khách ghiền cà phê nặng nên hàng ngày đóng đô ở đây nên nó cũng trả lời nhanh nhẹn rằng:

– Con sống với ba má con, Ba con đi làm xa còn Má con đi phụ buôn bán ở ngoài chợ…

Tôi hỏi tiếp:

– Còn con có đi học không ?

Thằng bé nói:

– Con không có đi học… con ở nhà phụ với má nuôi heo…

Đó là lý do để nói lên sự hiện diện hằng ngày của nó nơi quán ăn nầy. Nghe thằng bé nói như thế, tôi nói với chị chủ quán ăn giúp cho nó lấy những cơm và thức ăn thừa, và cũng từ đó nó không còn đứng lúp ló ngoài cửa quán nửa. Và nhờ tánh tình hiền hậu thật thà chị chủ quán cho nó vô phụ dọn bàn đề lấy thức ăn dư mang về và cho nó ăn uống để phụ việc. Từ đó tôi và nó gần gũi nhau hơn và thân nhau lắm.

Có lần thằng bé hỏi tôi:

– Chú làm nghề gì vậy hả chú?

Tôi chỉ trả lời ngắn gọn là “Chú đang làm thinh”.

Đúng vậy mới cải tạo về mà, vợ con thì đã theo bên ngoại vượt biển hết rồi, nghe đâu đã định cư bên Úc, nay về ở với mẹ già ngày 1 buổi cà phê hai bữa cơm độn qua ngày.

Thời gian ngột ngạt chậm chạp trôi qua, may mắn vợ chồng tôi đã bắt liên lạc được với nhau. Thế là những bữa cơm không còn ăn độn khoai củ hay bo bo nữa nhưng vẫn quen cữ sáng cà phê quán gần nhà. Không biết chị chủ quán có bỏ bùa mê hay tôi ghiền chỗ ngồi mà không bữa nào vắng tôi.

Một hôm, tôi đề nghị theo thằng bé về nhà nó chơi cho biết vì nó nói ở cũng gần không xa lắm. Thấy nó do dự và tỏ vẻ sợ sệt, tôi biết ngay nó đang giấu giếm điều gì. Thương nó lắm, tôi dúi tiền cho nó hoài.

Mấy hôm sau tôi lẳng lặng đi theo nó khi nó mang cơm và thức ăn dư về nhà buổi trưa. Khi thấy nó lủi vô một cái chòi nhỏ xíu thì tôi thật sự không ngờ. Đứng dưới gốc cây Gòn cách nhà nó không xa tôi thầm nghĩ, nhà chút xíu như vậy gia đình 3 người ở thì chỗ đâu mà nuôi heo. Tôi đang đứng suy nghĩ đốt cũng hết mấy điếu thuốc thì thằng nhỏ lục tục xách lon xách nồi đi ra quán để thu dọn thức ăn buổi chiều.

Đợi thằng bé đi khuất tôi lò mò đến nơi mà hồi nãy nó vào. Đến đó mới nhìn rõ thì thật ra đâu có phải là nhà, một lõm trống được che dựng lên bằng những phế liệu đủ loại muốn chui vào phải khom mọp xuống. Nghe thấy có tiếng chân dừng lại, có tiếng đàn bà vọng ra hỏi.

Tôi trả lời là đi kiếm thằng Tuất, thì nghe giọng đàn ông cho biết nó vừa đi khỏi rồi, và hỏi tôi là ai, mời tôi vào…. Vừa khom người chui vào tôi mới thật sự không ngờ những gì hiển hiện trước mắt tôi.

Người đàn ông hốc hác cụt hai giò tuổi cũng trạc tôi nhưng trông yếu đuối, lam lũ và khắc khổ lắm, một người đàn bà bệnh hoạn xác xơ – cả hai đang ăn những thức ăn thừa mà thằng bé vừa mới đem về. Vừa bàng hoàng, vừa cảm động vừa xót xa, nước mắt tôi bất chợt tuôn rơi mặc dù tôi cố nén…

Từ đó, tôi hiểu rõ về người phế binh sức tàn lực kiệt sống bên người vợ thủy chung tần tảo nuôi chồng bao năm nay giờ mang bịnh ác tính nặng nề thật đau xót. Tôi móc hết tiền trong túi biếu tặng và cáo lui. Về đến nhà tôi vẫn mãi ám ảnh hoàn cảnh bi thương của gia đình thằng bé mà tôi bỏ cơm nguyên cả ngày luôn.

Sáng hôm sau ra uống cà phê, thằng bé gặp tôi nó lấm lét không dám nhìn tôi vì nó đã biết trưa hôm qua tôi có tới nhà nó. Nó thì tỏ vẻ sợ tôi, nhưng tôi thực sự vừa thương vừa nể phục nó nhiều lắm. Tôi kêu nó lại và nói nhỏ với nó tại sao không cho tôi biết. Tội nghiệp nó cúi đầu im lặng làm lòng tôi thêm nỗi xót xa.

Có khách kêu trả tiền, như có cơ hội né tránh tôi nó chạy đi dọn bàn và tiếp tục công việc thu dọn thức ăn. Hèn gì sau nầy nó để thức ăn dư phân loại đàng hoàng lắm.

Tội nghiệp hoàn cảnh của thằng bé mới mấy tuổi đầu mà vất vả nuôi cha mẹ theo khả năng chỉ tới đó. Cha là một phế binh cũ trước 75 cụt hai chân, mẹ thì bị bệnh gan nặng bụng phình trướng to khủng khiếp và cặp chân sưng vù lên đi đứng thật khó khăn, nước da thì vàng mét như nghệ. Thằng bé là lao động chánh trong gia đình, nó có hiếu lắm. Từ đó tôi thường cho tiền đứa bé mua bánh mì cơm gạo về nuôi cha mẹ.

Vợ tôi làm thủ tục bảo lãnh tôi sang Úc. Ngày tôi đi tôi đau xót phải để lại hai nỗi buồn đó là để mẹ và em gái lại quê nhà và không còn cơ hội giúp đỡ thằng bé nữa.

Sang Úc định cư, tôi sống tại tiểu bang Victoria mấy năm đầu tôi hết sức cơ cực vì phải vật lộn với cuộc sống mới nơi đất mới và đối với tôi tất cả đều mới mẻ và xa lạ quá. Từ ngôn ngữ đến thời tiết đã làm tôi lao đao không ít. Thỉnh thoảng tôi gởi tiền về nuôi mẹ và em gái không quên dặn em gái tôi chuyển cho thằng bé chút ít gọi là chút tình phương xa.

Mấy năm sau tôi về thăm gia đình, tôi có ghé tìm thằng bé thì nó không còn lấy thức ăn trong quán đó nữa. Tôi mới kể rõ hoàn cảnh thằng bé cho chị chủ quán biết. Chị chủ quán đôi mắt đỏ hoe trách tôi sao không cho chị biết sớm để chị tìm cách giúp gia đình nó. Tôi chỉ bào chữa rằng tại thằng bé muốn giấu không cho ai biết!

Tôi ghé vội qua nhà thằng bé thì mới hay mẹ nó đã qua đời vì căn bệnh ung thư gan. Chỉ còn chèo queo một mình ba nó ở trần nằm một góc trông hết sức thương tâm. Hỏi thăm thì mới biết nó đã xin được việc làm đi phụ hồ kiếm tiền về nuôi cha.

Chúa nhật tôi tới tìm thằng bé, chỉ mới có mấy năm mà nó đã cao lớn thành thanh niên rất đẹp trai duy chỉ đen đúa vì phơi nắng để kiếm đồng tiền. Tôi dẫn nó trở ra quán cà phê cũ, thấy nó hơi ái ngại, tôi trấn an là bà chủ quán tốt lắm tại không biết được hoàn cảnh gia đình nó.

Ra đến quán ăn chị chủ quán năn nỉ nó về làm với chị, dọn dẹp và bưng thức ăn cho khách nhẹ nhàng hơn đi phụ hồ và chị sẽ trả lương như đang lãnh bên phụ hồ, tối về thức ăn thường bán không hết chị cho đem về nhà dùng khỏi phải mua hay đi chợ. Lần đầu tiên tôi thấy nó khóc, chị chủ quán cũng khóc theo làm tôi phải đứng dậy bỏ ra ngoài để khỏi phải rơi nước mắt vì chịu không nổi.

Thằng Tuất vừa khóc vừa nói: “Sao ai cũng tốt với gia đình con hết đó, nhưng vì con đang làm phụ hồ cho anh Năm, anh ấy cũng tốt lắm giúp đỡ gia đình con nhiều lắm, sáng nào cũng mua cho ba con gói xôi hay bánh mì trước khi tụi con đi làm. Con cũng mang ơn ảnh nhiều nên con không thể nghỉ được, con xin lỗi”.

Không biết thằng Tuất nó nói thật hay nó ái ngại khi quay về chỗ mà ngày nào cũng cầm cái lon chầu chực trút đồ ăn dư về nuôi cha mẹ. Phải thông cảm nó, phải hiểu cho nó, phải cho nó có cái hiện tại và tương lai tốt hơn, đẹp hơn ngày trước. Chị chủ quán vừa gạt nước mắt vừa nói “Bất cứ lúc nào con cần đến cô thì con đừng ngại, cho cô biết nhé”…

Đời này cũng còn có những hoàn cảnh bi đát ít ai biết đến, và cũng có những đứa con xứng đáng như thằng Tuất. Ngày về lại Úc, tôi đến biếu hai cha con nó hai triệu đồng, thấy nó và ba nó mừng lắm tôi cũng vui lây. Không biết phải giúp gia đình nó như thế nào, tôi chụp hình ba nó, photo giấy tờ ba nó đem về Úc gởi cho Hội cứu trợ thương phế binh bị quên lãng trụ sở ở Sydney.

Mấy tháng sau nhận được thư ba thằng Tuất viết qua, ông quá vui mừng khi được Hội bên Úc giúp đỡ gởi tiền về, ông cho biết suốt bao nhiêu năm qua lần đầu tiên ông thấy được niềm hạnh phúc khi cuộc đời phế binh của ông còn có người nhớ đến.

Không biết ông ấy vui bao nhiêu mà chính tôi cũng hết sức vui mừng khi thực hiện một việc làm đem niềm vui đến cho những người phế binh sống hết sức đói nghèo bên quê mẹ. (Truyện kể do Sưu Tầm siêu tầm)

             Đó chỉ là một trong muôn ngàn câu truyện đời nói điều gì đó, mà thiên hạ đời thường vẫn cứ nói và cứ kể. Kể đây, có thể để nói lên lòng bác ái/yêu thương của cá-nhân hoặc tổ-chức giúp người kém may mắn.

Về các trích-dẫn ở trên về các Đạo để tìm ra một ngày lễ chung cho Phục Sinh, là vấn đề kết-hợp/đại-kết, còn là và vẫn là kết và hợp với tất cả mọi người, không phân-biệt tôn-giáo, già/trẻ, gái/trai, tức: hết mọi người. Tất tần tật.

Kết và hợp trong đại-kết hoặc nối-kết với người khác, đạo khác, tổ-chức khác vv.. còn là và sẽ là kết và hợp hoặc kết rồi hợp trong tinh-thần nhín nhường, dành ưu-tiên cho người khác, ở trên và ở trước mình. Ưu-tiên cả trong quyền-hành, tiền bạc và/hoặc chổ đứng lẫn vị-thế ở đâu đó.

Kết và hợp còn là và sẽ là sống cuộc đời rất Đạo ở nhà đạo hay ngoài đời. Sống như thế, còn có nghĩa đem Đạo vào đời người trong khiêm-tốn, cởi mở rất hết mình.

Trong tình-thần đó, mời bạn và tôi, ta lại sẽ hát mãi bài hát có con dế mèn và em bé đơn sơ, hiền hoà, chân-chất, rất như sau:

“A! Này bé, theo dế ra tận bờ đê

Đất sét đem về ta nặn đồ chơi.

Nặn những tay người hay nặn bàn chân

Tặng cho những ai tàn tật

A! Này bé, theo dế ra trại định-cư.

Coi những ông già phá rừng trồng hoa

Chia sớt ngọt bùi với trẻ mồ côi

Đời mới chúc người phục hồi…

A! Này bé, Con dế xin vài hòn bi!

A! Này bé, Đem biếu những em xa quê!…

            (Phạm Duy – bđd)

             Hát thế rồi, nay ta cứ thế mà sống tinh-thần thân-thương, chân-chất của các bé em hiền-lành ở đời.

                        Trần Ngọc Mười Hai

            Vẫn muốn sống

Như bé em

Chỉ chơi dế.

Suy Tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ Tư Phục Sinh năm C

Suy Tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ Tư Phục Sinh năm C 17/4/2016

 Tin Mừng (Ga 10: 27-30)

Khi ấy, Đức Giêsu nói với các người Do thái rằng:

“Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không AI cướp được chúng khỏi tay tôi. Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không AI cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha. Tôi và Chúa Cha là một.

Mai Tá lược dịch. 

 Thông điệp Chúa Chiên Lành hôm nay, có gốc gác rất xưa cổ, thời Cựu Ước. Đặc biệt là sách Êzêkiel, trong đó sáng ngời hình ảnh vị Chúa Chên có “tình cho đi mà chẳng có về”. “Tình cho đi” của Chúa Chiên hôm nay, là sự đỡ nâng đùm bọc, đầy lòng thương xót. Lòng xót thương hai chiều giữa chiên đàn mà Ngài chăn dắt và Vị Chủ Chăn, rất Nhân Hiền. Ở chiên, luôn có sự tự nguyện dấn bước theo chân vị chủ chăn với lòng trọn vẹn tin tưởng. Ở chủ chăn, đó là “lòng kêu gọi mãi”, dù chẳng AI nghe.

Về chăn chiên, các chủ chăn ở Palestine – Trung Đông có thói quen chăn dắt chiên đàn nơi đồng cỏ xanh tươi, bằng đôi chân bước. Chủ chăn chẳng cần đến đàn chó hoặc ngựa cỡi, để lùa chiên như ở Tô Cách Lan, hay nước Úc. Chủ chăn Do Thái, luôn ở phía trước dẫn đường cho chiên con. Và cứ thế, chiên con nghe tiếng chủ kêu gọi mà bước theo sau, rất tin tưởng. Chiên là thú đàn rất hay lo. Dễ hốt hoảng, cách vô lý. Chiên âu lo, nhớn nhác chạy hỗn độn chẳng nguyên cớ. Bất kỳ chuyện tình cờ nào xảy đến, chiên đàn cũng hốt hoảng, chạy tứ tán. Tìm chủ chăn. Và, khi tìm được chủ chăn, thì chiên con cứ răm rắp bước theo đàn, về cùng hướng. Với chiên, chỉ cần nhận Ra lời kêu gọi của chủ chăn, là đã đủ.

Là thú bầy nhút nhát, hay lăng xăng tò mò. Dễ tổn thương. Âu lo. Nên, chiên đàn luôn hãi sợ. Không khôn ngoan cũng chẳng sáng ý như thú loài, nào khác. Chiên quen nghe tiếng chủ, nên khi nghe chủ gọi, chiên không chần chừ, biết tụ tập ngay thành nhóm, thành đàn, tuân lệnh chủ. Không chậm trễ. Chủ biết tính chiên. Chiên biết tính chủ.

Dựa vào đức tính này, thánh Gioan so sánh tâm lý của vị chủ chăn với chiên bầy dễ bảo. Và, thánh sử ví Đức Kitô như Chúa Chiên Nhân Hiền luôn chăm sóc chiên con, nơi đàn bầy. Đây là biểu tượng mà Hội thánh sử dụng để nói về Ơn Gọi trong nhà Đạo: hãy có quyết tâm tham gia trở thành chủ chăn dẫn dắt đàn chiên ngoan đạo.

Lời mời gọi của Hội thánh hôm nay cũng trở nên cấp thiết, khi dữ liệu cho thấy có sự thiếu cân bằng về số lượng và vai trò của các chủ chăn, trong cộng đồng Giáo hội. Chí ít, là Giáo hội ở phương Tây. Ở nhiều nơi, Giáo hội đang bắt đầu dung nạp các ứng viên cho vai trò của chủ chăn từ các nuớc mà trước đây là cánh đồng truyền giáo, đầy những chiên. Bởi thế, cần suy tư nghiên cứu phương pháp và cấu trúc trong đào tạo chủ chăn. Nói cách khác: với Phụng vụ Chúa nhật Chúa Chiên Lành, Hội thánh trở về với Ơn Kêu Gọi làm chủ chiên, lo chăn dắt linh hồn chiên đàn, tin vào Đạo.

Bàn về Ơn Gọi làm chủ chăn trong Hội thánh, là bàn về sự quan yếu của tình thân thương mật thiết trong cộng đồng dân Chúa. Trước nhất, là sự mật thiết giữa chiên con và chủ chăn, tức Đức Kitô rao giảng, vẫn được coi như sự thân mật linh thánh giữa các thành viên cùng nhà, tức Hội thánh Chúa. Gia đình Hội thánh Chúa ở đây được hiểu theo nghĩa gia đình hợp nhất. Hợp nhất không chỉ hiểu theo hệ cấp thần quyền bên trên. Mà là, sự thân mật giữa mỗi người và mọi người. Vì, tất cả thành viên trong gia đình Hội thnh đều là chi thể có cùng một thân mình, cùng não bộ chỉ huy; và, cùng nhịp đập con tim, tạo sức sống.

Sự mật thiết thân thương giữa thành viên trong Hội thánh không là sự thân thiết mang tính chai lì, thụ động. Thụ động, như thái độ vẫn thấy nơi dân thường trong hệ cấp chính quyền, ở ngoài đời. Với thế quyền ngoài đời, người dân chỉ biết có đóng thuế. Và, thi hành luật pháp, thế là đủ. Trong đạo, thực thi luật pháp và thi hành lệnh cũng tựa như giữ các điều răn, giới luật của Hội thánh. Như thế chưa đủ. Còn phải biết dấn thân hơn nữa. Tức là đáp lại lời kêu gọi mất thiết của Hội thánh.

Hội thánh thân thương mật thiết kêu gọi con dân nhà Đạo hãy luôn nguyện và cầu. Nguyện cầu cho Ơn Gọi, trong Hội thánh. Kêu gọi mỗi thành viên tham gia trở thành thừa tác viên cho công tác mục vụ của Hội thánh. Công tác này có thể là vai trò của vị chủ chăn, như linh mục, tu sĩ hoặc nữ tu. Cũng có thể là thừa tác giáo dân trong vai trò cộng tác với các linh mục tu sĩ ấy.

Hội thánh hôm nay vẫn tiếp tục kêu gọi mọi thành viên trở nên linh mục tu sĩ lo việc tu đức trong cộng đồng dân Chúa. Nhưng gọi như thế, không có nghĩa Hội thánh lọai bỏ sự trân trọng về nhu cầu cần thiết, nơi vai trò của giáo dân trong công trình hợp tác xây dựng Nuớc Chúa. Ngày nay, có lẽ nên hiểu Ơn Gọi chăn dắt đàn chiên theo nghĩa phổ cập. Nghĩa là, mỗi người một hoàn cảnh và vị thế, tất cả thành viên đều có thể hoàn thành hợp tác với Hội thánh trong công trình chăn dắt đàn chiên con Giáo hội. Mặc dù, nhu cầu trở thành linh mục/tu sĩ, hoặc nữ tu vẫn được nhấn mạnh và coi là ưu tiên hàng đầu.

Tham gia đáp ứng Ơn Gọi chăn dắt đàn chiên còn là nhận biết lời mời gọi ấy nay gửi đến chính mình, mỗi thành viên. Không phân biệt giới tính, tuổi tác hay sắc tộc. Nhận biết lời Mời Gọi của Hội thánh, đại diện Chúa Chiên Hiền Lành, cũng phải được cân nhắc theo hoàn cảnh của mỗi thành viên và Giáo hội địa phương.

Lời mời gọi của Chúa Chiên Lành, còn là quà tặng riêng lẻ mỗi người đều có thể sử dụng để làm lợi cho người khác. Thành viên khác. Trong cộng đồng Giáo hội, tức các Kitô hữu. Điều này có nghĩa: trên thực tế, ta hãy cùng nhau thực hiện công tác chung của cộng đoàn tình thương là Giáo hội. Công tác xây dựng cộng đoàn tình thương của Đức Chúa, là Chúa Chiên Lành, vẫn đang chờ sự đáp trả của mỗi thành viên. Thành thử, cầu nguyện cho Ơn Gọi, còn có nghĩa là cầu nguyện cho ta, cho người khác, cho bạn bè người thân cùng có Ơn Gọi, chứ không chỉ mình ta. Cầu cho Ơn Gọi, là cầu cho mọi người nghe được tiếng kêu. Tiếng gọi. Của vị chủ chăn đang khẩn thiết kêu mời tất cả dân con trở thành thừa tác viên – tông đồ cho cánh đồng truyền giáo chung.

Cầu, là cầu cho mỗi người. Ở một vị thế. Ta chung lưng đấu cật, cùng nhau thực hiện sứ vụ dựng xây Cộng đoàn tình thương là chính Hội thánh thân thương, ta đang sống. Cầu, là cầu cho toàn thể cộng đoàn biết nghe tiếng gọi của Chủ chăn. Biết tính của chiên đàn, đang lắng nghe tiếng gọi của người chăn dắt.

Tham dự tiệc thánh hôm nay, ta hãy để ra nhiều khoảnh khắc mà suy tư nguyện cầu về lời gọi mời của Chúa Chiên Hiền Lành, biết ý chiên con. Nguyện cầu cho lời gọi mời của Chúa Chiên gửi đến mỗi chiên con, đem lại kết quả. Với đáp ứng của chiên con. Trong Hội thánh. Nguyện và cầu cho chiên con biết đáp lại bằng hai tiếng “Xin Vâng”. Xin vâng, theo thánh ý Chúa mà lãnh nhận bất cứ vai trị nào để phục vụ Hội thánh. Xin vâng, để nếu không làm linh mục, tu sĩ, nữ tu, ta cũng làm thừa tác viên; hoặc phó tế mở mang Nước Trời. Ở trần gian.

Lm Richard Leonard, sj biên soạn

Mai Tá lược dịch. 

‘Việt Nam – Hồ Chí Minh!’

‘Việt Nam – Hồ Chí Minh!’
Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Xin bạn đọc chớ vội dị ứng khi thấy hai tiếng Việt Nam được viết đi liền với tên Hồ Chí Minh. Đây chính là một sự gán ghép tệ hại, xấu xa nhất của lịch sử trong hơn nửa thế kỷ này.

Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt. (Hình minh họa: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Bà Nguyễn Thị Nhuận, một điều dưỡng viên hiện đang làm việc tại Nam Úc, đã kể lại một câu chuyện trên VnExpress, nghe đến nát lòng!

Bà được bệnh viện gửi đến nhà một người khuyết tật, bị bại liệt hai chân, để giúp chăm sóc thường ngày, giúp ông tắm rửa, ăn sáng, dùng máy nâng ông vào ghế tắm và đặt lại giường nằm. Vừa làm, bà vừa giải thích cho ông biết, nhân viên ngày thường đến chăm sóc ông hôm nay bị bệnh nên bà được cơ quan y tế cử đến thay thế.

Bỗng nhiên bà nghe ông hỏi, bà đến Úc lâu chưa?

Bà trả lời:

-Thưa ông, mới hai năm nay và tôi đến từ Việt Nam!

Nghe chưa dứt hai tiếng Việt Nam, ông già bỗng giận dữ quát to, một cách thô lỗ:

-Mày ra khỏi nhà tao ngay! Ra ngay!

Người điều dưỡng viên trong câu chuyện này ấp úng:

-Nhưng, ông đang trong nhà tắm…

-Không! Ra ngay, ra ngay!

Bà Nhuận nhẫn nhục để ông trên ghế tắm, khoác cái áo choàng cho ông và đi ra gọi điện báo về văn phòng. Họ bảo bà cứ yên tâm ra về, họ sẽ cử người đến làm tiếp và an ủi bà:

-Đừng coi đó là chuyện của riêng bà!

Bà Nguyễn Thị Nhuận kể lại: “Tôi cảm thấy tủi thân, trào nước mắt. Tôi mới từ Việt Nam qua với tâm trạng tuy mình còn kém tiếng Anh, nhưng người Việt Nam cũng ‘nổi tiếng anh hùng, dũng cảm, thông minh, sáng tạo…’ Bà cũng chẳng có tội tình gì với ông già, được đến để chăm sóc ông, và cũng tự đánh giá mình là người tử tế. Nhưng tại sao lại bị đối xử như vậy? Chẳng lẽ chỉ vì bà là người Việt Nam?”

Lẽ cố nhiên người điều dưỡng viên trong câu chuyện này không được bệnh nhân cao niên kia giải thích vì sao ông lại khinh miệt một người Việt đến như thế! Có thể trước đây, một người Việt Nam nào đó đã làm những điều xấu xa, hay đối với ông tồi tệ thế nào, khiến giờ đây ông ghét tất cả người Việt.

Cơ quan y tế cử bà Nguyễn Thị Nhuận đến giúp đỡ cho người đàn ông Úc cao niên kia đã an ủi bà: “Đừng coi đó là chuyện của riêng bà!”

Phải, câu chuyện này không phải là của riêng bà, một người Việt đang làm việc tại Úc mà của tất cả thanh danh của người Việt đang ở nước ngoài. Người ta cũng mường tượng ra, một người Việt Nam nào đó đã đối xử xấu xa hay làm một điều gì đó khiến cho một người Úc căm giận đến thế?

Du học ở Úc, bà Nguyễn Thị Nhuận cũng đã được bạn bè, ngay cả những người Châu Á, than phiền về lối sống vô trách nhiệm của sinh viên Việt tại đây, biết đến những thanh niên Việt Nam đang can dự vào các tội buôn bán ma túy tại nơi đã cưu mang họ, và bà cũng mới nghe tin hai người Việt bị bắt vì tội trộm cắp ở Thụy Sĩ.

Cũng như chúng ta, bà Nguyễn Thị Nhuận lâm vào hoàn cảnh này hẳn phải tức giận và xấu hổ, trăn trở tự hỏi: “Ai đã làm cho đất nước chúng ta lâm vào cảnh trái ngang này?”

Câu kết luận của bà Nguyễn Thị Nhuận là: “Có lẽ mỗi ngày tôi và các bạn nên nhìn thẳng vào tấm gương thực (chứ không phải những tấm gương nịnh mặt) để thấy những vết nhọ của mình.”

Khi mà mặt mình mang nhọ, đừng nghĩ là không ai thấy, có ra đường thì chớ vênh váo thêm nhục!

Bạn thử đứng vào vị trí một nhân viên quan thuế tại phi trường Changi, Singapore, khi cầm sổ thông hành của một cô gái Việt mới đến đây, mà không thể không liên tưởng đến chuyện tối nay, anh có thể gặp cô này trên con đường Joo Chiat Road tấp nập của Singapore. Hay một nhân viên phi trường Nhật nào đó cầm một cái sổ thông hành Việt Nam trong tay, mà không nghĩ đến bao nhiêu người Việt, kể cả các quan chức là lũ ăn cắp, buôn lậu.

Không phải không có lý do hay phát biểu hồ đồ mà Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Hà Nội Ngô Quang Kiệt đã phát biểu: “Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam, đi đâu cũng bị soi xét, chúng tôi buồn lắm chứ!” Thay vì nhìn nhận sự thật, “soi gương” thì chính quyền Hà Nội, thông qua truyền thông Việt Nam, đã bắt bẻ, đặt vấn đề về lòng yêu nước của ông, cuối cùng áp lực cho ông được về hưu sớm hơn so với kế hoạch.

Sau Tháng Tư, 1975, dân Bắc, ai đi Nam về cùng có chung một nhận xét “trẻ con trong Nam hầu như rất ít nói bậy và viết những điều tục tĩu lên tường nơi công cộng, đi đâu về nhà thì lễ phép cung kính vòng hai tay thưa gửi người bề trên. Đặc biệt, ngoài đường, xe cộ nếu có đụng chạm thì cũng không dẫn đến xô xát, chửi bới nhau như ngày nay.”

Sau năm 1975, “đất lành chim đậu,” nhiều đợt di dân mới ồ ạt từ Bắc vào Nam, tạo điều kiện cho Nam Bắc gần gũi nhau, nhưng cũng chính từ đó, thói hư tật xấu dễ lan tràn, đồng hóa hơn là học hỏi được điều tốt, và ngày nay cái tên “thành phố Hồ Chí Minh” cũng lấm lem không thua gì Hà Nội.

Sau Cách Mạng Tháng Mười, 1917 của Nga, nhà văn Maxim Gorki đã có nhận xét rằng “cuộc cách mạng đã có tác dụng tích cực lật đổ được chế độ phong kiến, nhưng với sự nắm quyền và quản lý xã hội của giai cấp vô sản ít học, nước Nga sẽ phải đối đầu với một tình trạng còn nguy hiểm hơn, đó là ‘lâm nguy văn hóa.’”

Đó là Việt Nam ngày nay. Muốn cải cách văn hóa, giáo dục, lối sống, cũng như của mọi công cuộc cải cách khác, trước hết phải cải cách chính trị, nói chung là thay đổi chính quyền. Từ đâu mà từ nửa thế kỷ nay vấn đề đạo đức – văn hóa – giáo dục của đất nước chúng ta trở nên tồi tệ như hôm nay, và hai tiếng Việt Nam trở thành một mối bận tậm, hổ thẹn của người Việt Nam, khi đi ra nước ngoài!

Tôi xin kể một câu chuyện nhỏ mới xẩy ra đây thôi.

Ba năm nay, ở Kuala Lumpur, thủ đô Malaysia, vào dịp lễ Quốc Khánh 2 Tháng Chín, tòa đại sứ CSVN đều tổ chức một buổi tiệc “buffet” và mời đại diện đại sứ quán các nước khác và người lao động Việt Nam ở Malaysia tham dự. Buổi tiệc chưa bắt đầu, trước con mắt của quan khách ngoại quốc, dân Việt Nam đã nhào vào bàn tiệc lấy thức ăn, đến mức khách tham dự không còn gì ăn, tạo ra một khung cảnh hỗn loạn vô cùng xấu hổ. Năm sau, rút kinh nghiệm, tòa đại sứ tổ chức hai nơi, một ngoài trời và một trong hội trường cho quan khách. Người Việt Nam sau khi đã ăn ở ngoài trời, lại nhào vào hội trường vơ vét thức ăn. Vừa xấu hổ và vì danh dự, đại diện tòa đại sứ Việt Nam tại đây phải chắp tay xin lỗi quan khách!

Câu chuyện đạo đức hôm nay không phải là chuyện đạo đức mà chúng ta trước kia đã có và đã nói tới, mà chính là thứ đạo đức được nhồi nặn trong chủ nghĩa Cộng Sản, thứ “đạo đức cách mạng” sản xuất từ ngay vận nước suy vi, mùa Thu 1955, khi mà dân tộc Việt Nam “vô phúc” nhập cảng nhầm cái chủ nghĩa độc hại, không khác gì thực phẩm độc hại giết người của Trung Cộng hiện nay, là chủ nghĩa Cộng Sản.

Đó cũng là từ ngày hai tiếng Việt Nam được kẹp đôi và gắn bó với cái tên Hồ Chí Minh, như bài hát của “đứa con bất hiếu” Phạm Tuyên, mà những tên ăn bả của Việt Cộng đã nhảy cỡn lên mà reo hò trong các đại hội “Việt Kiều:” “Việt Nam – Hồ Chí Minh!” “Việt Nam – Hồ Chí Minh!”

Chúng ta đã rõ! Cái tên Việt Nam chưa bao giờ nhận được sự bẽ bàng, khốn khổ, khinh miệt từ ngày nó được ghép theo cái tên Hồ Chí Minh!

Nhà văn Phạm Thành bị an ninh triệu tập

Nhà văn Phạm Thành bị an ninh triệu tập

Pham Thanh

Nhà văn Phạm Thành (áo vest xám nhạt, đứng giữa) trong vụ xử blogger Ba Sàm – Nguyễn Hữu Vinh.

Một nhà văn, nhà báo và cựu phóng viên Đài tiếng nói Việt Nam nói ông đã bị an ninh Việt Nam triệu tập “làm việc” lần thứ tư vì có thể bị ghép vào điều 258 Bộ luật hình sự.

Nhà văn Phạm Thành, chủ blog Bà Đầm Xòe cho hay giấy triệu tập của an ninh điều tra, công an Thành phố Hà Nội với ông viết ”nội dung liên quan đến tin báo của Hội nhà văn và công ty điện toán, truyền số liệu’.

Trả lời BBC Tiếng Việt từ Hà Nội hôm 03/4/2016, ông Thành cho hay ông được mời lần thứ tư để “làm việc về nội dung liên quan đến tin báo của Hội Nhà văn và công ty VNPT” về “20 bài báo ký tên Bà Đầm Xòe Phạm Thành, đó là những bài báo đăng từ năm 2012, 2013.

“Năm 2014 thì họ triệu tập tôi lên làm việc, thì từ năm 2014 đến giờ họ liên tục triệu tập.”

Ông nói với những bài báo bị thu thập, ông nghĩ mình “có khả năng” bị ghép vào vi phạm điều 258, điều 88 như Anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh hay blogger Trương Duy Nhất.

Tác phẩm khái quát giai đoạn Cộng sản Việt Nam đã mang học thuyết Marx – Lenin về với những chiêu bài làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” và “làm cho dân miền Bắc đến chỗ đau đớn khổ sở, đạo đức bị suy đồi

Nhà văn Phạm Thành

Điều 258 Bộ luật hình sự nước CHXHCN Việt Nam quy định:

“Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.”

Một phần nội dung khiến ông bị triệu tập theo ông có thể liên quan đến tiểu thuyết “ Cò hồn xã nghĩa” mà ông viết.

Ông nói với BBC:

“Tác phẩm này tôi chính thức gửi Hội nhà văn dự thi. Tôi cũng chưa xuất bản gì mà chỉ in vài bản để tặng bạn bè”. Ông nói ông đã bị “Hội Nhà văn tố cáo”.

Quyển tiểu thuyết của ông được đăng tải trên mạng từ năm 2014. Tuy nhiên, ông Thành chưa xuất bản cuốn sách tại Việt Nam.

Ông Thành mô tả tác phẩm là “khái quát giai đoạn Cộng sản Việt Nam đã mang học thuyết Marx – Lenin về với những chiêu bài làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” và “làm cho dân miền Bắc đến chỗ đau đớn khổ sở, đạo đức bị suy đồi”.

Ông Phạm Thành tự ứng cử trong kỳ bầu cử đại biểu quốc hội 2016 và nói là để “khai dân trí”

Ông cho biết quyển sách của mình mang “bóng hình các lãnh đạo” và “đậm đặc nhất là nhân vật lãnh tụ cộng sản vĩ đại nhất của Việt Nam là ông Hồ Chí Minh, là người cầm trịch để mang ánh sáng Marx – Lenin về, người cầm trịch cải cách ruộng đất…”. Ông gọi tác phẩm của mình là “bi hài kịch”.

Ông Thành cáo buộc Hội Liên hiệp Văn học, Nghệ thuật Việt Nam đã “tố cáo” ông vì tác phẩm này.

Tự ứng cử

Ông Phạm Thành là chủ một blog tên Bà Đầm Xòe, bàn luận về các vấn đề chính trị xã hội tại Việt Nam.

Trong đợt bầu cử đại biểu quốc hội 2016, ông Thành tuyên bố tự ứng cử.

Ông nhận định: “Không như một số ứng viên khác, về thủ tục địa phương không gây khó khăn gì cho tôi.”

Đây là việc làm công khai minh bạch, nên người giúp việc tôi sẽ chụp ảnh, ghi âm tất cả ý kiến cử tri. Thì họ không đồng ý việc đó. Luật không cấm những việc này. Nếu họ không đồng ý, tôi sẽ tuyên bố ngưng không tham gia tranh cử nữa

Nhà văn Phạm Thành

Nhưng ông Thành tin rằng ông cũng sẽ bị “đấu tố” – theo cách mà các ứng cử viên tự do gọi việc họ bị tấn công bằng các ý kiến tại hội nghị cử tri địa phương.

Ông Thành cho biết:

“Mặt Trận tổ quốc phường mời tôi ra hỏi có yêu cầu gì không để chuẩn bị lấy ý kiến cử tri. ”

“Tôi đề nghị có một trợ lý giúp việc tôi, những câu hỏi bà con hỏi tôi quên thì người trợ lý nhắc.

“Thứ hai, đây là việc làm công khai minh bạch, nên người giúp việc tôi sẽ chụp ảnh, ghi âm tất cả ý kiến cử tri. Thì họ không đồng ý việc đó.

“Luật không cấm những việc này. Nếu họ không đồng ý, tôi sẽ tuyên bố ngưng không tham gia tranh cử nữa,” ông Thành nói với BBC Tiếng Việt.

Thời gian ông Thành được an ninh Việt Nam triệu tập theo ông cho biết cũng nằm trong những ngày cuối cùng trước khi hết hạn lấy ý kiến cử tri ngày 12/4.

Ông Thành cho hay ông sẽ làm việc với cơ quan an ninh điều tra vào thứ Hai 4/4, trước đó, ông bị cấm xuất cảnh từ tháng 12/2015.

BBC chưa có điều kiện kiểm chứng các cáo buộc của ông Phạm Thành đối với các cơ quan, tổ chức mà ông đề cập như Hội nhà văn Việt Nam, hay Hội Liên hiệp Văn học, Nghệ thuật Việt Nam.

Hàng loạt vụ công dân Việt Nam bị bắt giữ ở ngoại quốc

Hàng loạt vụ công dân Việt Nam bị bắt giữ ở ngoại quốc
Nguoi-viet.com
VIỆT NAM – Mãi tới hôm 31 Tháng Ba, một phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao Việt Nam mới lên tiếng xác nhận về hàng loạt vụ công dân Việt Nam bị bắt giữ trong thời gian vừa qua.

Ảnh chụp 38 ngư dân Việt Nam bị Hải Quân Thái Lan bắt giữ hôm 25 Tháng Ba. (Hình: Trang Facebook của Second Naval Area Public Relations)

Vụ đầu tiên được xác nhận vì được công chúng Việt Nam quan tâm nhiều nhất là sự kiện 108 người Việt bị Trung Quốc bắt giữ.

Những người Việt này đã bị bắt giữ hồi đầu Tháng Ba, đang bị giam tại thành phố Bằng Tường. Tuy vụ bắt giữ đã xảy ra cách nay cả tháng nhưng mãi tới ngày 30 Tháng Ba, sau khi báo chí Trung Quốc đưa tin, cảnh sát Quảng Tây đã bắt một nhóm chín người tình nghi đưa 108 người Việt đến làm việc tại các nhà máy ở Quảng Đông và Phúc Kiến, công chúng Việt Nam mới biết về sự kiện đó.

Ngoài việc xác nhận tin mà báo chí Trung Quốc đã đưa là đúng. Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam nói thêm, sở dĩ Trung Quốc tạm giam 108 nạn nhân là để điều tra, tìm kiếm những kẻ chủ mưu.

Sau khi cuộc điều tra kết thúc, Trung Quốc sẽ trục xuất 108 nạn nhân bằng cách trao trả họ cho chính quyền Việt Nam. Phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao Việt Nam trấn an công chúng rằng các nạn nhân được Trung Quốc đối xử rất nhân đạo, không ai có vấn đề về sức khỏe.

Ngoài ra phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao Việt Nam còn thừa nhận mới có 25 ngư dân Việt Nam bị Malaysia bắt giữ. Vụ bắt giữ này xảy ra hôm 24 Tháng Ba. Dựa trên những thông tin do hải cảnh Malaysia cung cấp, báo chí Malaysia loan báo, có ba tàu đánh cá và 25 ngư dân Việt Nam bị bắt giữ vì “đánh bắt trái phép trong hải phận Malaysia.” Theo báo chí Malaysia, trị giá số ngư cụ mà hải cảnh Malaysia tịch thu lên tới 600,000 Mỹ kim.

Trong cuộc họp báo mới nhất về tình trạng nhiều người Việt bị bắt giữ tại ngoại quốc, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam không đả động gì đến một số vụ bắt giữ khác cũng xảy ra trong tháng vừa qua. Chẳng hạn hồi trung tuần tháng ba, trong hai ngày 10 và 11, hải cảnh Malaysia từng bắt giữ 42 ngư dân Việt Nam, tịch thu toàn bộ tàu, ngư cụ và 8 tấn hải sản trị giá khoảng 48,000 Mỹ kim. Hoặc hôm 25 Tháng Ba, Hải Quân Thái Lan bắt giữ bảy tàu đánh cá và 38 ngư dân Việt cũng vì “đánh bắt trái phép.” Vụ bắt giữ do Hải Quân Thái Lan thực hiện xảy ra tại vùng biển được cho là cách bờ biển tỉnh Nakhon Si Thammarat khoảng 30 hải lý. Cả ba tàu đánh cá lẫn 38 ngư dân vừa kể đã được chuyển giao cho cảnh sát Thái Lan, họ sẽ bị giam và sẽ bị đưa ra tòa.

Ở cuộc họp báo vừa kể, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam chỉ đề cập thêm một trường hợp công dân Việt Nam bị ngoại quốc bắt giữ là vụ 29 ngư dân Việt bị Úc bắt giữ hôm 27 Tháng Ba. Vụ này người ta cũng chỉ biết qua báo chí Úc. Theo đó, tuần duyên của Úc đã phát giác và bắt hai tàu đánh cá cùng với 29 ngư dân Việt với cáo buộc họ đã bắt trộm hải sâm tại bãi Great Barrie của Úc. Bãi Great Barrie nằm gần Lockhart River, một thị trấn ở Đông Bắc tiểu bang Queensland. Great Barrie là một công viên hải dương, nơi có đủ loại sinh vật biển cư trú. Tuy 29 ngư dân vừa kể đã được chuyển giao cho cơ quan di trú của Úc tạm giam và chắc chắn họ sẽ phải hầu tòa vừa vì xâm nhập hải phận Úc, vừa vì đánh bắt trái phép nhưng sự kiện này vẫn còn làm xôn xao dư luận Úc. Nhiều viên chức và dân chúng Úc chưa hết kinh ngạc khi ngư dân Việt Nam băng qua hàng chục ngàn cây số ở Thái Bình Dương để tìm đến Great Barrie. Ông Wayne Butcher, thị trưởng Lockhart River nói với báo giới Úc rằng, bãi Great Barrie rất gần đất liền nhưng hai tàu đánh cá của Việt Nam có thể dễ dàng xâm nhập, bắt tới ba tấn hải sâm mới bị phát giác là những hồi chuông cảnh báo cả về sơ suất trong phòng vệ biển lẫn nguy cơ thất thoát nguồn lợi tự nhiên.

Có lẽ cũng nên nhắc lại là trong vài năm gần đây, ngoài Trung Quốc, ngư dân Việt Nam còn bị Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan rượt đuổi, bắn, bắt, giam giữ, buộc nộp phạt, tịch thu phương tiện sinh nhai với cáo buộc xâm nhập và đánh bắt trái phép trong lãnh hải của những quốc gia đó! Dù đã có nhiều đợt phóng thích song người ta ước đoán vẫn còn tới hàng ngàn ngư dân Việt bị các lân bang giam giữ vì “xâm nhập và đánh bắt trái phép.” Trong đó có những người đã bị giam giữ hơn hai năm. Một trong những ngư dân bị bắt và được Thái Lan phóng thích hồi giữa tháng 12 năm ngoái, kể rằng, lúc bị bắt, thời tiết trên biển rất xấu, mưa to, gió lớn họ không xác định được đâu là biển Việt Nam, đâu là biển Thái Lan.

Đáng chú ý là chính quyền Việt Nam thường im lặng, không xác nhận đúng – sai trong tất cả các vụ bắt giữ tàu đánh cá và ngư dân vừa kể, trừ vụ cảnh sát biển Thái Lan xả súng vào sáu tàu đánh cá của Việt Nam ở vịnh Thại Lan hồi Tháng Chín năm ngoái, khiến một ngư dân chết, hai trọng thương. (G.Đ)

Ba Lan dỡ bỏ 500 di tích tượng đài thời Xô viết

Ba Lan dỡ bỏ 500 di tích tượng đài thời Xô viết

Ba Lan do bo 500 di tich tuong dai thoi Xo viet - Anh 1

Dự án dỡ bỏ tượng đài ở Ba Lan thời Xô viết sẽ được chuyển tới các chính quyền địa phương trong vài tuần tới.

Những tượng đài Liên Xô tượng trưng cho “uy quyền của hệ thống cộng sản ở Ba Lan” phải được dỡ bỏ và đưa vào bảo tàng, người đứng đầu Viện Ký ức quốc gia Ba Lan, Lukasz Kaminski tuyên bố.

Theo cổng thông tin Onet.pl., quyết định đề cập tới hơn 500 di tích được dựng ở những địa điểm công cộng “bày tỏ sự biết ơn đối với Liên Xô”.

“Công việc hiện nay là thống kê các vị trí có di tích tượng đài Xô viết. Cho đến tháng 6, chúng tôi sẽ đề xuất một chương trình giúp chính quyền địa phương thực hiện việc dỡ bỏ trước khi pháp luật phù hợp được ban hành,” ông Kaminski nói.

Sau khi dỡ bỏ, các di tích sẽ được đưa tới viện bảo tàng và trở thành “bằng chứng của thời kỳ khó khăn”.

Các di tích tượng đài đặt ở nghĩa trang những người lính Xô viết sẽ được giữ nguyên. Theo Viện Ký ức quốc gia, chính phủ Ba Lan sẽ chăm nom những di tích này.

Trước đó, Bộ Ngoại giao Nga đã kêu gọi Ba Lan “chấm dứt cuộc chiến với các tượng đài”.

Theo Sputnik

Nữ sinh Việt bỏ xác con mới sinh ở ga tàu điện ngầm Hàn Quốc

 Nữ sinh Việt bỏ xác con mới sinh ở ga tàu điện ngầm Hàn Quốc

Hình minh họa.

Hình minh họa

02.04.2016

Một nữ sinh Việt Nam đã bị bắt hôm thứ Sáu vì bỏ thi thể con mới sinh của mình tại một ga tàu điện ngầm ở Uijeongbu, tỉnh Gyeonggi, giáp với thủ đô Seoul của Hàn Quốc và bị camera giám sát ghi lại.

Nữ sinh này theo học tiếng Hàn tại một trường đại học ở Hàn Quốc. Tại thời điểm nhập học, cô đã có thai 6 tháng với bạn trai ở Việt Nam.

Người mẹ 19 tuổi nói trong lời khai với cảnh sát Uijeongbu: “Tôi nghĩ nếu tôi bỏ thi thể ở ga tàu điện ngầm, một trong nhiều người đi qua sẽ phát hiện ra đứa bé và tổ chức tang lễ cho nó”.

Nữ sinh này giấu việc mang thai vì lo ngại sẽ cản trở mối quan hệ của cô với cha mẹ và gây ra những rắc rối ở trường học tại Hàn Quốc.

Vào hôm thứ Tư, một tháng trước ngày dự kiến sinh nở, cô bất ngờ có cơn đau chuyển dạ và sinh một bé trai trong phòng tắm ký túc xá. Tuy nhiên, bé trai đã qua đời không lâu sau đó.

Người mẹ trẻ nói trong lời khai: “[Em bé] không ở trong tình trạng khỏe mạnh. Tôi đã cố gắng cho em bé ăn sữa bột nhưng em bé đã chết 3 giờ sau đó”.

Bốn tiếng rưỡi sau khi sinh, nữ sinh này đã bỏ một chiếc túi có chứa thi thể con trai mình trên cầu thang của trung tâm mua sắm ở ga tàu điện ngầm Uijeongbu. Một cô bạn gái 19 tuổi đã giúp người mẹ trẻ thực hiện những hành vi này.

Cảnh sát đã bắt giữ hai người phụ nữ này.

Các cơ quan chức năng có liên quan sẽ tiến hành khám nghiệm tử thi em bé để xác minh nguyên nhân cái chết.

Theo The Korea Herald, Ngày nay