ĐÔI MÔI CƯỜI.

Kimtrong Lam
ĐÔI MÔI CƯỜI.

Đôi môi cười biết bao nguồn hạnh phúc
Ngầm chở chuyên cuộc sống thật bình an
Đến với nhau lời lẽ luôn dịu dàng
Đừng trù ếm xin ban cho lời chúc…

Đôi môi cười vẫn luôn là mạch sống
Bởi trời ban riêng cho mỗi con người
Nhận lúc mới sinh nhưng tại mình lười
Bỏ quên mất nụ cười không manh động…

Đôi môi cười chúng ta luôn trải rộng
Phát từ tim chất chứa cũng từ tim
Nên khởi động cùng nhau khỏi bị dìm
Đời vất vả…nụ cười luôn mơ mộng…

Đôi môi cười gởi đến mọi người thân
Cùng chung hưởng ấm êm và hạnh phúc
Để mỗi ngày yêu thương thêm thuần thục
Chân lý đó không xa…lại rất gần…

Liverpool.27-8-2016
Song Như.

 DOI MOI CUOI

THÁNH MONICA

THÁNH MONICA

THANH MONICA

Hoàn cảnh cuộc đời Thánh Monica đã có thể biến ngài thành một người vợ hay mè nheo, một nàng dâu nhiều cay đắng, và một người mẹ tuyệt vọng, tuy nhiên ngài đã không chịu thua bất cứ cám dỗ nào.  Mặc dù ngài là một Kitô Hữu, cha mẹ ngài đã gả cho một người ngoại giáo, ông Patricius, là người sống trong cùng tỉnh Tagaste ở Bắc Phi Châu.  Patricius là người tốt nhưng ông vô cùng nóng nẩy và phóng túng.  Ngoài ra Thánh Monica còn phải chịu đựng bà mẹ chồng hay gắt gỏng.  Ông Patricius thường rầy la vợ vì bà hay thương người.  Nhưng sự cầu nguyện và gương mẫu đời sống của Thánh Monica sau cùng đã chinh phục được người chồng cũng như mẹ chồng, ngài đã đưa họ trở về với đức tin Kitô Giáo.  Ông Patricius chết năm 371, sau khi rửa tội được một năm để lại người vợ goá và ba con nhỏ.

Người con cả, Augustine Hippo, nổi tiếng nhất (sau này là thánh).  Vào lúc cha chết, Augustine mới 17 tuổi và là sinh viên trường hùng biện ở Carthage.  Thánh Monica thật đau buồn khi thấy con mình đi theo tà thuyết Manikê và sống cuộc đời phóng đãng.  Có những lúc Thánh Monica không cho con được ăn ngủ ở trong nhà.  Và rồi một đêm kia, ngài được thị kiến và được đảm bảo là Augustine sẽ trở về với đức tin.  Từ đó trở đi ngài sống gần với con hơn để ăn chay và cầu nguyện cho con.  Quả vậy, ngài ở gần đến nỗi Augustine cũng phải bực mình.

Khi 29 tuổi, Augustine quyết định đi Rôma để dạy về hùng biện.  Một tối kia, Augustine nói với mẹ là anh ra bến tầu để từ giã bạn bè.  Nhưng, anh lại lên tầu đi Rôma.  Thánh Monica thật đau lòng khi biết mình bị lừa, nhưng ngài nhất định đi theo.  Vừa đến Rôma thì ngài lại biết là Augustine đã đi Milan.  Mặc dù việc di chuyển khó khăn, Thánh Monica vẫn nhất định bám sát.

Ở đây, Augustine bị ảnh hưởng bởi một giám mục, Ðức Ambrôsiô, là vị linh hướng sau này của Thánh Monica.  Augustine chấp nhận mọi lời khuyên của đức giám mục, và tập được đức khiêm tốn đến độ ngài có thể từ bỏ được nhiều tật xấu.  Thánh Monica trở thành người lãnh đạo của nhóm phụ nữ đạo đức ở Milan cũng như khi ở Tagaste.

Ngài tiếp tục cầu nguyện cho Augustine trong những năm anh theo học với đức giám mục.  Vào Phục Sinh năm 387, Ðức Ambrôsiô rửa tội cho Augustine và một vài người bạn của anh.  Không lâu sau đó, cả nhóm đi Phi Châu.  Lúc ấy, Thánh Monica biết cuộc đời ngài sắp chấm dứt, ngài nói với Augustine, “Con ơi, không có gì trên trần gian này làm mẹ vui lòng cả.  Mẹ không biết có gì còn phải thi hành và tại sao mẹ lại ở đây, vì mọi hy vọng của mẹ ở trần gian này đều đã được hoàn tất.”  Sau đó không lâu ngài bị bệnh và chịu đau đớn trong chín ngày trước khi từ trần.

Tất cả những gì chúng ta biết về Thánh Monica là trong tác phẩm Tự Thú của Thánh Augustine.

Thánh Monica rất được mộ mến, nên nhiều người đã nhận tên Thánh Monica.  Giáo Hội tôn vinh ngài là bổn mạng của các bà mẹ, cách riêng các bà mẹ Công Giáo.  Nhiều đoàn thể hay thành phố lấy tên Ngài như thành phố Santa Monica, Los Angeles để kỷ niệm lần đầu tiên các nhà truyền giáo đến đây đúng ngày Lễ kính Thánh Monica 27/8.

Nhờ có được một Người Mẹ Tuyệt Vời, sau này Augustinô trở thành nhà giảng thuyết hùng biện, học giả uyên bác, một Thánh Giám Mục được phong là Tiến sĩ Hội Thánh.

Trong xã hội ngày nay, mọi thứ đều sẵn sàng, từ mì ăn liền, cà phê uống liền, đến việc tiêu xài liền (instant-credit) khiến chúng ta không còn kiên nhẫn.  Tương tự như thế, chúng ta cũng muốn lời cầu xin của chúng ta được đáp trả ngay lập tức.  Thánh Monica là gương mẫu của sự kiên nhẫn.  Những năm trường cầu nguyện, cộng với đức tính kiên cường và kỷ luật, sau cùng đã đưa đến sự trở lại của người chồng nóng nẩy, người mẹ chồng ưa gắt gỏng, và người con thông minh nhưng bướng bỉnh, là Augustine.

***************************** *********

Lạy Chúa, giữa những nghịch cảnh của cuộc sống gia đình, xin Chúa cho chúng con là những bà mẹ Công Giáo luôn biết siêng năng cầu nguyện.  Ngay cả đôi khi lời cầu nguyện của chúng con xem ra chưa được chấp nhận ngay, xin cho chúng con không sờn lòng nản chí nhưng biết phó thác vào ơn quan phòng của Chúa.  Xin cho chúng con hiểu rằng không phải những lời nói xuông của chúng con nhưng chính là những chứng tá yêu thương của chúng con trong những hy sinh hàng ngày mới đem lại ơn hoán cải cho những người xung quanh chúng con.  Amen!

Sưu tầm

From: Langthangchieutim

Lý do ngập lụt ở Sài gòn

Lý do ngập lụt ở Sài gòn

NGAP LUT 2

Trước năm 1975, tất cả những người có tú tài 1( học hết lớp 11) trở lên đa số đều đi tù vì nếu đi lính thì là sĩ quan. Còn những người học khá một chút làm các chức vụ chỉ huy, chánh sở, giám đốc , phó giám đốc v.v…Sau khi đi tù về họ đã đi định cư ở Mỹ theo diện HO. Còn các doanh nhân, kỹ sư, giáo sư, chủ hảng v.v… họ bị đánh tư sản, nhà máy bị tịch thu (hảng kem Perlon, Hynos, các nhà máy xay lúa, hảng Bia, hảng xà bông CôBa, hảng thuốc lá, hảng sản xuất xe La Dalat, và nhiều hảng xưởng khác bị tịch thu.v.v… sản xuất bị đình trệ. Một cuộc di cư vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại sau ngày 30-04-1975 , mọi người đều tìm cách rời khỏi việt nam ,người miền Bắc cũng như miền nam đều bỏ hết nhà cửa, xuống ghe nhỏ vượt biển hay qua Campuchia vô rừng để vượt biên sang Mã Lai, Thái Lan, Indonesia mong thoát khỏi chế độ hà khắc cộng sản, dầu có chết trên đường vượt biên họ cũng đi. Tại sao vậy? Những người tài của đất nước (nguyên khí quốc gia) đều bỏ nước ra đi. Rồi ngay ngày hôm nay, 2016 , những du học sinh đi học ở Pháp, Đức, Mỹ, Úc v.v…tỉ lệ trở về nước làm việc là bao nhiêu phần trăm (mấy ông đang cầm quyền có tài liệu) theo ước đoán của tôi các sinh viên này ở lại quốc gia sở tại sau khi học thành tài ít nhất trên 80%, 90%. Tại sao kỳ vậy? Tại sao nhân tài (nguyên khí quốc gia) cứ chạy khỏi chế độ cộng sản vậy. Đó là cuộc bỏ phiếu bằng chân. Không phải là dân thường bỏ đi mà ngay con các quan lớn, Thủ tướng, phó thủ tướng, thứ trưởng cũng tìm cách ở lại Mỹ, Úc, Pháp, Đức, Anh  v.v…chứ ít ai tìm cách ở lại xứ ” thiên đường xã hội chủ nghĩa Trung cộng”. Tại sao vậy? Các ông quan lớn nên gác tay trên trán suy nghĩ đi, bây giờ mới thấy mưa ở Hà nội, Sài gòn là ngập vì các ông dùng “hồng hơn chuyên” Các ông nói hư thì sửa nhưng bây giờ cái hư nhỏ nhất là ngập lụt khi mưa có lẽ không bao giờ sửa được. Ở Mỹ người ta vẽ hoạ đồ, phải làm cống thật lớn trước, để thoát nước, làm hồ lớn để chứa nước khi bị ngập, còn các ông làm đường không cần làm cống, hồ giữ nước thì đấp nền lên cất nhà, bây giờ làm sao mà giải quyết. Vậy mà cứ xưng mình là Đỉnh cao trí tuệ loài người.? Chuyên ngập lụt này thiệt hại biết bao nhiêu tiền của nhân dân vì các xe cộ bị ngập máy coi như là xe phế thải rồi. Chưa kể đồ đạc trong nhà bị ngập lụt cũng tính thành tiền chứ. Thống kê thử xem tài sản của nhân dân bị thiệt hại là bao nhiêu sau mỗi trận mưa lớn?

NGAP LUT 1

‘Bún bò Huế’

‘Bún bò Huế’

Nguoi-viet.com

Một tô bún bò Huế. (Hình: Wikipedia.org)

Một tô bún bò Huế. (Hình: Wikipedia.org)

Tạp ghi Huy Phương

“… Cha mạ ơi! Tụi hắn đem bán cả biển, rừng, đất đai của tổ tiên chưa đủ lòng tham, chỉ còn một món ăn quê hương nghèo khó nghìn đời của mạ tui, tụi hắn còn giành giật cho là tài sản của mình, đăng ký với Cục Sở Hữu Trí Tuệ Ba Đình, ban hành quy chế quản lý và sử dụng, để từ ni, ai bán bún bò Huế thì phải xin phép lũ hắn, mấy thằng ‘cán ngố’ Thừa Thiên-Huế! Răng mà tham lam, độc ác tận mạng rứa Trời! Mả cha cái đồ vô hậu!”

Nếu mạ tôi còn sống, bà sẽ chửi cách Huế như vậy, sau khi nghe tin Ủy Ban Nhân Dân Thừa Thiên-Huế “cưỡng chế” món bún bò Huế đã có tự nghìn xưa. Hơn nữa đối với những người này, những người vô liêm sỉ, phải dùng loa phường, loa khóm mà chửi ra rả suốt ngày như kiểu “chửi mất gà” may ra mới đã nư!

Đối với người Việt Nam, bún bò Huế không phổ biến bằng món phở. Phở là của cả một miền, miền Bắc, không phải của Hà Nội, Hải Phòng hay Hải Dương. Thời còn Tây, người ta đã nói tới phở Bắc rồi, dưới cái tên Tây là “Soup Tonkinoise” để phân biệt những gì của Annam (Trung Kỳ) và Cochinchine (Nam Kỳ). Nhất là sau ngày miền Bắc di cư, chạy nạn Cộng Sản, thì phở Bắc tràn lan trong Nam, đuổi cả món mì, hủ tiếu chạy có cờ. Ngày nay, đã mất chữ “Bắc” rồi, nói đến phở là nói đến Việt Nam hay người Việt, khách ngoại quốc ai ăn rồi cũng muốn trở lại.

Nói chung, bún bò Huế không phát triển phổ biến bằng phở, chẳng qua vì khó nấu và cũng khó ăn, vì bún bò không những cay mà còn đậm mùi sả, mùi ruốc. Bằng chứng là sau này, khi Tổng Thống Mỹ Bill Clinton thăm Việt Nam, người ta mời ông đi ăn phở chưa chẳng ai dám mời ông ăn thử một tô bún bò.

Bún bò là món đặc trưng của thành phố Huế, nơi có sông Hương, núi Ngự, và cầu Trường Tiền, thành ra không ai gọi là bún bò Thừa Thiên. Vượt qua đèo Hải Vân thì đã có món mì Quảng thống trị, đi vô nữa rồi mới có nem Ninh Hòa…

Ngày trước, ở Huế có bún bò CLB Thể Thao, bún bò Nhà Hát Lớn, bún bò Nam Giao, Đà Nẵng có bún bò Tổng Liên Đoàn Lao Động, Pleiku có bún bò Nhà Xác (vì nó nằm trong bệnh viện), Đà Lạt có bún bò Cây Số 4… Không nóng, không cay không phải là bún bò. Tô bún bò nguyên lai không có huyết, không có chả, cũng không ăn với rau, với giá hay với bắp chuối. Những thứ đó ăn kèm theo thì con chi là mùi vị bún bò.

Bún bò Huế còn có một cái tên gọi nữa là “bún bò giò heo.” Nói chữ “bún bò giò heo” thì người ta bỏ chữ Huế đi theo. Cũng nên hiểu “giò” đây là chân hay cẳng, chứ không phải “giò” là “chả” theo cách nói của người Bắc! Người ăn có quyền lựa chọn loại giò: giò khoanh (phần trên có thịt, có xương, có da), giò móng (phần dưới có móng,) gió búp (chỉ có thịt và da).

Cái quê mùa của cách ăn bún bò ngon là chỉ dùng một đôi đũa mà không có muỗng, nghĩa là vừa ăn vừa húp sùm sụp, thỉnh thoảng lại cắn trái ớt nghe cái bụp. Khi một o bán bún bò dừng gánh, múc cho bạn một tô bún, cầm trên tay, không có một cái bàn để tô bún xuống thì làm sao mà dùng muỗng. Cũng là món ăn dùng bún, tôi nghĩ tô bún riêu cua ở quán đầu làng, bên cạnh gốc cây đa của miền Bắc cũng không ai dùng muỗng.

Bây giờ người ta cho lối húp là quê mùa, mất lịch sự nhưng ăn bún, ăn phở mà không húp là mất ngon!

Người Việt Nam có lối ăn canh là phải húp sùm sụp, “Đầu tôm nấu với ruột bầu, chồng chan vợ húp, gật đầu khen ngon!” Người Nam ăn bánh bèo, bánh khọt là phải “húp nước mắm,” thì người Trung ăn bún bò mà dùng muỗng là tô bún mất ngon, phải húp.

Ở đâu cũng có quán bún bò, có tiệm bún bò, nhưng chỉ ở Huế ngày xưa, mới có một “trung đội bún bò gánh” từ An Cựu, mỗi buổi sáng tỏa lên thành phố Huế. Mấy o gánh bún bò phải đi chân đất để vừa đi vừa chạy, nhưng luôn luôn mặc áo dài, đó là đặc tính truyền thống của xứ Huế dù là buôn thúng bán bưng, như những o bán rao bánh bèo, bánh ướt, bánh bột lọc, bán bắp nấu hay những o bán đậu hũ… Một đầu gánh là thúng bún, gia vị, chén bát và cả một cái chậu đựng nước rửa tô (Huế gọi là đọi). Một đầu là nồi bún đang nóng, đặt trên mấy cục gạch có mấy thanh củi đang cháy. Một đầu gióng còn giắt một cái đòn (ghế nhỏ) để người bán hàng có thể ngồi mà múc bún cho khách ăn.

Bún bò gánh được coi là bún bò bình dân, giá rẻ. Ngày xưa còn nhỏ, đã nhiều lần tôi được ăn bún bò gánh chứ chưa bao giờ được bước chân vô tiệm bún bò.

Trong hồi tưởng, những tô bún bò gánh của những ngày xa xưa ấy, sao mà ngon đến thế, mà năm thì mười họa mới được ăn một lần. Tô bún bò gánh quá khiêm nhường, miệng tô thì to mà đít tô thì nhỏ, húp mấy miếng là đã hết. Miếng thịt cắt nhỏ, cái móng heo còn xẻ đôi, thèm thuồng thật nhưng làm gì có được tô thứ hai.

Lớn lên rồi, đi tứ phương, vẫn không thấy tô bún bò nào ngon bằng tô bún bò gánh của o Năm, mụ Ba… trong ngõ ngách dĩ vãng ngày xửa ngày xưa. Có người nói đó là cảm giác không thật, chẳng qua vì ngày xưa đói, nghèo mà thèm ăn, nên cái gì cũng ngon, cũng thơm, đậm đà khua rộn ràng con mắt đói nhìn, lỗ mũi thở sâu và cái lưỡi hít hà.

Có thật vậy không? Xin hãy cho tôi lại những ngày tháng cũ.

Bây giờ không ai còn cho tôi một chút riêng tư, vạt đất sau hè là của nhà nước, ngọn rau, củ sắn là thuộc hợp tác xã, miếng thịt, con cá là đồ quốc doanh. Người ta cưỡng chế cả đất đai, ruộng vườn, ao hồ sông rạch, gọi là cướp ngày có dùi cui, súng đạn. Bây giờ trong văn phòng có máy lạnh, vô công rồi nghề, họp hành cho lắm, mới nẩy ra cái sáng kiến “ích quốc lợi dân,” nghìn năm chưa ai nghĩ ra, là lấy cái món ăn của ông cha làm vật sở hữu của phe đảng mình.

Chỉ là một món ăn dân dã, mà họ tiếm đoạt, coi như đây là một sở hữu trí tuệ, mà họ làm chủ, ai dùng thì phải làm đơn xin phép, như đã từng có những lá đơn xin đi ở tù, xin tạm vắng, xin tạm trú.

Tờ giấy làm ra từ thớ thịt của gỗ rừng, nhưng lá rừng không ghi hết tội ác của họ.

Đây chỉ mới là bún bò Huế, món trí tuệ sở hữu của Ủy Ban Nhân Dân Thừa Thiên-Huế, rồi đây còn bánh canh Nam Phổ, bánh bèo Nam Giao… cho các huyện ủy địa phương mấy nơi này.

“Mạ ơi! Còn một món cơm Âm Phủ, thôi thí cô hồn cho họ luôn cho hợp tình, hợp lẽ, mạ hí!”

Những đứa trẻ nghèo mơ ước gì?

 Những đứa trẻ nghèo mơ ước gì?

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2016-08-25

IMG_3581.JPG

Lớp Học Tình Thương Bà Mười. Cô Phượng (áo trắng), bà Mười (tóc bạc đứng giữa) cùng các em học sinh và các nhà bảo trợ.

Hình cô Phượng cung cấp

Những đứa trẻ nghèo mơ ước gì?

06:33/11:05

Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Những mảnh đời côi cút, khó khăn

Chỉ còn khoảng 10 ngày nữa thì  các trường học trong nước tiến hành lễ tựu trường cho học sinh các cấp vào niên học 2016-2017.

Suốt những ngày hè, trong lúc trường phổ thông, hay trường công lập, tạm ngưng hoạt động thì những lớp học miễn phí dành cho trẻ nghèo, trẻ cơ nhỡ hay trẻ nhập cư vẫn đều đặn mở cửa đón các em đến những lớp ban ngày hay buổi tối.

Mục Đời Sống Người Việt Khắp Nơi đã giới thiệu hai nơi tiêu biểu  là Lớp Tình Thương Hòa Hảo ở phường Tân Thới Hòa, quận Tân Phú, và Lớp Học Tình Thương Bà Mười ở phường Tân Thuận Tây, quận 7, thành phố Sài Gòn. Thành quả học tập của các em ra sao?

Đầu tiên là những học sinh đủ mọi lứa  tuổi của Lớp Học Tình Thương Hòa Hảo:

Con tên Bùi Thị Tuyết Nhi, 16 tuổi, con mới biết viết và đọc sơ sơ. Tại  vì nhà con khó khăn, mẹ con đi làm xa còn bố con thì mất, con phụ bán cơm với dì, con mới tới lớp thầy hùng được 3 tháng, giờ con đang học Lớp Một.

Học Lớp thầy Hùng con rất thích, con ráng học tiếng Việt với Toán. Lớp thầy Hùng cũng có mấy đưa giống con, cũng khó khăn tới giờ mới vô Lớp Một, 8 tuổi, 9 tuổi, 10 tuổi có.

Đã cố gắng học tức là phải có một mơ ước nào đó, dù rằng rất nhỏ nhoi mà không kém phần thực tế, đó là tâm sự của Tuyết Nhi:

Con cũng nghĩ vậy, con có nghĩ con sẽ đi làm nghề tóc để có một cái nghề. Con mơ ước có tiền để chữa bệnh nhức lưng cho mẹ con.

Em Nguyễn Thị Như Ý, 11 tuổi:  Em tên Nguyễn Thị Như Ý,  học Lớp 2. Tại cha mẹ mất không có tiền đi học, cha bị nhồi máu cơ tim, mẹ bị ung thư  gan, em ở với mợ của em.

Em Nguyễn Thanh Thúy: Con tên Nguyễn Thanh Thúy, năm nay con 13 tuổi. Ba con đi lấy vợ, mẹ con đi lấy chồng bỏ con rồi, con ở với ông bà ngoại.

Trước đó Thanh Thúy học tại trường Hiệp Tân là trường của nhà nước, khi cả ba lẫn mẹ bỏ rơi em thì em đến xin học ở Lớp Tình Thương của ông Đoàn Minh Hùng:

Con nghỉ ở trường Hiệp Tân tại không có tiền đóng học phí, con đi bán vé số ở quận 7. Nếu  còn học ở Hiệp Tân thì  bây giờ con học tới  Lớp 8, tại con nghỉ ở trướng lâu quá nên học ở Lớp Tình Thương là con học Lớp 3 .

Ở chỗ ông là đang cho tụi con đi học nghề làm tóc, ông có  dự định sẽ mở mộttiệm uốn tóc cho tụi con làm trên này.

Em Ông Thị Hoan: Con tên Ông Thị Hoan, 16 tuổi, ba mẹ không có tiền cho con đi học, nhà con nghèo lắm. Con đi làm keo, là  làm mấy cái chai đó, ở  công ty Tân Văn Sanh. Con ước mơ lớn lên làm thấy cô giáo  để dạy các em không có tiền đi học, giúp mấy đứa  em không  biết chữ.

Em Hồ Anh Thư, 16 tuổi:

Con nghỉ ở trường Hiệp Tân tại không có tiền đóng học phí, con đi bán vé số ở quận 7. Nếu  còn học ở Hiệp Tân thì  bây giờ con học tới  Lớp 8, tại con nghỉ ở trướng lâu quá nên học ở Lớp Tình Thương là con học Lớp 3 .
– Em Nguyễn Thanh Thúy

Quê em ở Gò Công, ở dưới Gò Công em mới học xong Lớp 2 mà không có  tiền đóng học phí rồi ba mẹ cho em nghỉ. Em theo bà nội lên đây học, vừa học vừa làm, em làm đèn hào quang để đằng sau tượng Phật đó cô.

Mơ ước tương lai của Hồ Anh Thư thật gần gũi như chính hoàn cảnh khó khăn của em lúc này:

Học xong Lớp 4 rồi lên Lớp 5 thì em vẫn học ở chỗ này. Lớn lên em muốn học làm thầy giáo để giúp ông dạy học sinh.

Nói về Lớp Tình Thương của mình, ông Đoàn Minh Hùng, người sáng lập mà  học sinh thường gọi là ông hay thầy, chia sẻ:

Ở đây mình chủ yếu là xóa mù chữ, cho tụi nó biết làm toán cộng trừ nhân chia cơ bản hoặc là mình củng cố chính tả cho nó. Nó vững về vấn đề tiếng Việt để sau này các cháu tự tin bước vào đời.

Ban ngày thì nó đi làm công việc mưu sinh, tụi nó lớn thì tuyển ra một số để mình hướng nghiệp cho nó. Con gái thì học làm tóc hoặc nấu ăn, con trai thì cho nó đi làm thợ máy. Hay là nó muốn học đại khái như thợ sửa xe Honda hoặc làm điện nhà, điện công nghiệp.

Tại ở đây tụi trẻ toàn bộ là dân nhập cư, sở dĩ nó học tại đây là do bản thân nó hoặc gia đình của nó có công ăn việc làm ở khu vực này. Còn một thời  gian sau, có thể là bất ngờ tụi nó chuyển đi nơi khác, qua quận khác hay bồng bế nhau về quê do gia đình bị thất nghiệp hoặc bản thân nó sống không nỗi ở khu vực này thành  ra phải chuyển đi. Trường hợp đó hầu như là đều hết trơn.

Vừa rồi là các học sinh của Lớp Học Tình Thương Hòa Hảo ở phường Tân Thới Hòa, quận Tân Phú.

Những giấc mơ nhỏ bé

Tại Lớp Học Tình Thương Bà Mười, phường Tân Thuận Tây,  quận 7,  nơi có một số em sau khi học xong Lớp 5 thì được chuyển vào Lớp 6 ở trường ngoài tức là trường công lập. Đây là thành quả cao nhất là Lớp Tình Thương Bà Mười  mang lại cho các em.

Năm nay Lớp Tình Thương Bà Mười có 3 học sinh đã xong Lớp 5 và được chuyển thẳng vào Lớp 6  trường công. Lê Ngọc Giàu là một trong 3 em đó:

Từ Lớp 1 tới Lớp 5 em học tại trường Tình Thương Bà Mười. Năm  nay em lên Lớp 6 trường Trần Quốc Tuấn, em  thấy vui và sẽ cố gắng  học giỏi, mai mốt em lớn em sẽ làm thợ sửa điện tử, sửa máy vi tình.

Ông Lê Văn Lợi, cha của em Lê Ngọc Giàu, từ Đồng Tháp lên Sài Gòn làm nghề phụ hồ, nói rằng con được vào học trường công thì vừa mừng mà vừa lo:

Cũng rất cám ơn trường Tình Thương Bà  Mười chuyển cho bé vô trường Phù Đổng trước, rồi mới có  danh sách chuyển qua trường Trần Quốc Tuấn được.

Học xong Lớp 4 rồi lên Lớp 5 thì em vẫn học ở chỗ này. Lớn lên em muốn học làm thầy giáo để giúp ông dạy học sinh.
– Em Hồ Anh Thư

Qua trường Trần Quốc Tuấn là trả tiền học phí thì cũng ráng dành dụm đóng chứ đâu cho  bé nghĩ học được. Cũng ráng lo cho cháu ăn học lên lớp lớn hơn, ước mơ như  vậy thôi.

Không chỉ học hành xuất sắc từ Lớp 3,  Nguyễn Thị Như Ý còn là một học sinh rất lễ phép của Lớp Học Tình Thương Bà Mườ. Ước muốn cho tương lai của em là được làm hướng dẫn viên du lịch:

Dạ  thưa em 12 tuổi, năm nay em lên Lớp 6 trường Nguyễn Hiền là trường của nhà nước. Em học Lớp Tình Thương Bà Mười  từ năm 2013. Ở đó mặc dù không được như mấy trường công nhưng mà vui lắm, thầy cô tận tình giúp đỡ em nhiều lắm. Học ở đó thì ba mẹ em không cần đóng cái gì hết.

Khi lên Lớp 5 thì em được cô Phượng giúp em chuyển qua trường Phù Đổng là trường của nhà nước, sau đó em được chuyển qua trường Nguyễn Hiền.

Em  vui khi được chuyển lên Cấp 2 trường của nhà nước, ba mẹ em là công nhân, cũng thấy vui vì em được vô trường công lập mà cũng  lo lắm tại mỗi đầu năm vô học thì đóng nhiều tiền lắm. Bước vô một ngôi trường mới thì áp lực nhiều lắm, bài vở khó và nhiều hơn là năm Cấp 1.

Bà Vui, mẹ của Như Ý, cho biết nhà có 3 con gái nhưng hai em lớn phải nghỉ học vì gia đình túng thiếu, cho nên khi con gái thứ ba học được lên Cấp 2 trường nhà nước thì dù khổ cức cách mấy bà cũng có thể chịu đựng được:

Quê chị ở miệt thứ An Biên, Kiên Giang. Hồi đó ở dưới quê nó nghĩ học, theo chị lên trên này rồi nó nghĩ luôn. Bây giờ có phương tiện con mình vô trường lớn học như bao đưa trẻ khác chị mừng quá. Thầy cô mấy trường lớn sao thì mình không biết tại chưa vô, chứ ở trường tình thương dạy chu đáo lắm.

Nghe nói vô trường lớn đóng nhiều tiền mà có lẽ cũng ráng cố gắng làm tăng ca thêm để kiếm tiền cho bé nó được học như người ta, hay là bớt xài nhịn xài đặng đóng tiền học cho con chứ sao giờ.

Ở đây mình chủ yếu là xóa mù chữ, cho tụi nó biết làm toán cộng trừ nhân chia cơ bản hoặc là mình củng cố chính tả cho nó. Nó vững về vấn đề tiếng Việt để sau này các cháu tự tin bước vào đời.
– Ông Đoàn Minh Hùng

Em Nguyễn Thanh Cẩm Tú, mồ côi cả cha lẫn mẹ, đang học Lớp 4 từ Lớp Học Tình Thương Bà Mười, không biết rồi hết  Lớp 5 ở đây thì có được chuyển qua Lớp 6 trường công lập Cấp 2 nào đó hay không, là nỗi ưu tư của bà nội đang chạy xe ôm để nuôi em:

Cô tên Võ  Ngọc Điệp, em nó đang học Lớp 4 của Lớp Tình Thương Bà Mười. Nói chung học lớp bà Mười không có đóng cái gì hết trơn. Nghèo là một lẽ nhưng mà tại cháu chưa có hộ khẩu, chưa được nhập  hộ khẩu vì vậy mà không vô được trường nhà nước học được.

Cô chạy xe ôm ngoài chợ Bến Thanh, trạm xe buýt Bến Thành, chạy 7 năm nay rồi. Coi như đủ ăn qua ngày , đâu có khá nổi nghề xe ôm, hơn nữa nữ chạy đâu có đông khách được như nam, bến đó có một mình cô là nữ.

Ước nguyện của cô là muốn nó học hết lớp tình thương của bà Mười, vì ở đó chỉ có dạy tới Lớp 5, nhưng trường hợp em nó bây giờ chưa vô hộ khẩu thành ra cũng đang lo không biết qua năm sau học hết Lớp 5 không biết làm sao học tiếp đây, cô đang rầu  vì vấn  đề đó.

Cô Phượng của Lớp Tình Thương Bà Mười có nói sẽ đưa nó vô trường nhà nước học, nhưng mà nó không có hộ khẩu, để coi cô Phượng sắp xếp làm sao. Cô tính  cho  cháu học tiếp được thì học, còn đối đế mà không học tiếp được thì khoảng 14 hay 15 tuổi là cô chuyển cho cháu đi học nghề.

Đối với Nguyễn Thanh Cẩm Tú,  niềm vui duy nhất của em  là học và học thật giỏi để hy vọng được các thầy cô trong Lớp Học Tình Thương Bà Mười giúp em được cứu xét cho chuyển vào trường công:

Bây giờ em đang học Lớp 4, tới khi em học Lớp 5 mà qua thì em mong ước là em được  học trường nhà nước giống như mấy anh chị. Tại em khác với mọi người, em thì mồ côi còn mọi người có cha mẹ. Nhiều năm nay em muốn vô học trường nhà nước nhưng mà không được. Em sợ em mồ côi và không có hộ khẩu thì sợ bạn bè cười.  Em muốn học giỏi để lớn lên làm cảnh sát. Em thấy nội em lớn tuổi mà còn chạy xe ôm để nuôi em, em sẽ ráng học để cho nội vui.

Thanh Trúc mạn phép mượn câu nói của một nhà báo trong nước, rằng thầy cô trong những lớp học miễn phí tại những xóm nghèo  là những người đi gieo con chữ thầm lặng trên cánh đồng tuổi nhỏ cằn cỗi, để những hạt mầm tri thức nẫy nở lớn mạnh từ những tấm lòng ân cần thương khó như thế.

Liên lạc góp ý với Thanh Trúc : nguyent@rfa.org

San Jose: Bắt hơn 20 thành viên băng đảng gốc Việt, tịch thu súng, tiền và ma túy

 San Jose: Bắt hơn 20 thành viên băng đảng gốc Việt, tịch thu súng, tiền và ma túy

Nguoi-viet.com

San Jose

Cảnh sát đưa ra hình ảnh trong buổi họp báo về vụ bắt giữ các băng đảng gốc Việt. (Hình: Facebook Nghị viên San Jose Tâm Nguyễn)

Linh Nguyễn- Triệu Phong/Người Việt

SAN JOSE, Bắc California (NV) – Một cuộc bố ráp nhắm đến tổ chức tội ác của người gốc Việt ở San Jose trên một vùng trải dài từ Bay Area xuống đến Deep South, kết quả là 23 người bị bắt, trong đó có 1 cảnh sát viên San Jose, và tịch thu một khối lượng ma túy, vũ khí, máy đánh bạc và một con cá sấu. Hiện có 6 nghi can khác còn đang lẩn trốn.

* Chiến dịch bố ráp hàng loạt

Sở cảnh sát San Jose (SJPD) dành ra sáu tháng trời để điều tra, nhắm vào đường dây cờ bạc, tống tiền và buôn lậu ma túy tổ chức tại các quán cà phê nằm rải rác trên khắp thành phố.

Cảnh Sát Trưởng Eddie Garcia cùng các giới chức của FBI và DEA trình bày chi tiết về cuộc hành quân tại một cuộc họp báo hôm Thứ Tư, một ngày sau khi loan báo gây sốc về việc cảnh sát viên Derrick Antonio bị bắt vì cộng tác với băng đảng.

Cuộc hành quân mang tên “Operation: Gang of Thrones” bắt đầu từ hồi Tháng Ba, tại San Jose, Santa Clara, Milpitas, Fremont, Anheim, và một địa điểm không được tiết lộ ở Louisiana, với sự phối hợp của nhà chức trách địa phương lẫn giới chức liên bang.

Ông Garcia ngợi khen hoạt động của nhiều cơ quan liên hệ và sự thành công của cuộc điều tra trong hoàn cảnh thiếu thốn nhân lực.

NghiCan

Danh sách các nghi can bị bắt và đang lẩn trốn sau vụ bố ráp. (Hình: Facebook Tâm Nguyễn)

Cảnh sát loan báo, 23 người bị bắt và bị tống giam với các tội danh từ tống tiền đến làm băng hoại xã hội, buôn lậu ma túy, tấn công, sở hữu vũ khí bất hợp pháp và âm mưu. Hai trong số họ bị cảnh sát Orange County bắt ở Anaheim. Sáu nghi can khác hiện còn lẩn trốn và đang bị truy tìm về tội âm mưu, đồng lõa, liên quan đến cờ bạc và ma túy.

Ngoài ra, cảnh sát tin rằng băng đảng có liên hệ đến ít nhất hai vụ giết người.

Cảnh sát viên Antonio, 34 tuổi, với 9 năm thâm niên, bị cáo buộc tội tiết lộ thông tin của cảnh sát cho băng đảng người Việt. Ông này bị bắt với năm tội vào hệ thống máy điện toán của cảnh sát trái phép và một tội toa rập với hoạt động tội phạm của băng đảng.

Ông Antonio bị bắt hôm Thứ Ba và được tự do sau khi đóng tiền tại ngoại.

Kết quả cuộc hành quân, cảnh sát tịch thu được năm khẩu súng, 69 máy đánh bạc, hơn $200,000 tiền mặt, áo giáp, đồ nữ trang, cellphone, máy điện toán, hồ sơ tài chánh, 4,000 viên thuốc lắc, 300 viên Xanax, 200 viên Molly, hơn 600 lbs cần sa, nhiều xe cộ, một khối lượng chất steroid bất hợp pháp, một con cá sấu dài khoảng bốn foot.

* Nghị viên gốc Việt: ‘Chỉ biết là xấu hổ lắm’

Trả lời phỏng vấn của báo Người Việt qua điện thoại, Nghị viên Tâm Nguyễn, khu vực 7, Hội Đồng Thành Phố San Jose, cho biết: ‘Nhân viên công lực hoàn tất việc bố ráp quy mô gồm năm cơ quan, như Cảnh Sát Liên Bang (FBI), Cơ Quan Bài Trừ Ma Túy Liên Bang (DEA), Văn Phòng Biện Lý (DA), và Sở Cảnh Sát San Jose. Sau khi bắt được 23 nghi can, trong tổng số 29 người, Cảnh Sát Trưởng Eddie Garcia báo cáo cho Thị trưởng Sam Liccardo và các nghị viên, trong đó có tôi, và đồng viện gốc Việt, Nghị viên Mạnh Nguyễn, để chuẩn bị cho cuộc họp báo vào hôm sau.”

Tam-Nguyen

Nghị viên gốc Việt Tâm Nguyễn trả lời phóng viên đài truytruyền thông về vụ bắt giữ các nghi can. (Hình: Facebook Tâm Nguyễn)

“San Jose có những dấu hiệu từ hai năm trước cho thấy có những hoạt động của băng đảng nên khi nghe tin này, tôi nghĩ là cư dân sẽ thở dài nhẹ nhõm, vì ít ra những phần tử xấu đã bị bắt. Tuy nhiên, tôi không biết phải trả lời sao ngay lúc đó, khi những người bị bắt là gốc Việt. Chỉ biết là xấu hổ lắm.”

“Kết quả này tuy vậy, giúp xây dựng niềm tin của cảnh sát. Họ có lệnh lục soát 34 địa điểm khác nhau và bắt được đa số nghi can. Cảnh sát trong cuộc họp báo, ngoài các tang vật bị tịch thu, viên cảnh sát gốc Hispanic làm nội gián, tiếp tay với băng đảng, được chú ý rất nhiều.”

“Có 12 quán cà phê nằm trong khu vực 7 mà chủ nhân là gốc Việt, bị dính líu trong vụ này. Thành quả của nhân viên công lực khiến cư dân tin tưởng rằng họ được bảo vệ, ngược lại cảnh sát cũng có thêm niềm tin của cư dân khi họ thi hành phận sự.”

Vụ bắt giữ các thành viên băng đảng gốc Việt gây sự chú ý đặc biệt của giới truyền thông. (Hình: Facebook Nghị viên San Jose Tâm Nguyễn)

Trong khi đó Nghị viên Mạnh Nguyễn, thuộc khu vực 4, cho hay: “Tình trạng băng đảng Việt Nam ở San Jose đã có từ lâu, tính đến hôm nay, qua báo chí, tôi thấy có sự cải thiện rất nhiều. So sánh với tội ác trong các cộng đồng khác, cộng đồng Việt có ít tội ác hơn.”

“Qua vụ bố ráp này, chúng ta phải cám ơn các cơ quan công lực đã làm nhiệm vụ của họ rất tốt. Họ thi hành luật pháp một cách nghiêm minh. Bằng chứng là họ bắt cả một cảnh sát viên phạm tội. Họ mang lại uy tín để người dân có thể đặt niềm tin vào hệ thống công quyền.”

“Qua danh sách các nghi can, tôi thấy khoảng 70% thuộc lứa tuổi 20. Điều này cho thấy chúng ta cần có những chương trình ngăn ngừa tuổi trẻ phạm tội.”

“Cảnh sát cũng cho biết, trong khi một cảnh sát tiếp tay nhận tiền của băng đảng, một cảnh sát viên khác đã từ chối và tố cáo để bắt giữ những nghi can.’

Ông Mạnh Nguyễn cũng không quên kêu gọi cộng đồng Việt Nam nên hợp tác với nhân viên công lực để chống tội phạm và đem lại sự an toàn cho tất cả các cư dân.

Chiều buông trên giòng sông Cửu Long

Chiều buông trên giòng sông Cửu Long
Như một cơn ước mong, ơi chiều.
Về đâu ơi hàng cây gỗ rong,
Nghiêng mình trên sóng sông yêu kiều.
(Phạm Duy – Chiều Về Trên Sông)

(1 Côrinthô 1: 17-18)

 Trần Ngọc Mười Hai

Chiều về đâu không về, sao cứ về trên sông, đến như thế? Nhất thứ là sông Cửu Long những chín con rồng có “ước mong”, có “gỗ rong” “nghiêng mình trên sóng sông (rất) yêu-kiều”.

Buồn đâu không buồn, sao lại “bỗng dưng theo đò ngang quá giang thương chiều” một nỗi buồn, tựa hồ như ca-từ còn hát tiếp ở bên dưới:

“Buồn tôi không vì sao bỗng dưng
Theo đò ngang quá giang thương chiều
Bởi vì thương nhiều nên nhớ (ơ) tình yêu
Bởi vì đời còn nhiều khi là mơ

Bởi vì đời còn nhiều khi thành thơ
Có khi vui lững lờ
Có khi tuôn sầu u
Bởi vì chiều buồn chiều về giòng sông
Bởi vì tình đời nào chỉ thù oán
Hãy cất tiếng ca cho đời thêm (ý) buồn
Hãy cất tiếng ca cho lòng thôi khô héo
Chiều buông trên giòng sông cuốn mau
Thương đời thương lẫn nhau trong chiều.”

(Phạm Duy – bđd)

Vâng. Chiều buồn rất ư là như thế. Thế, có nghĩa: nếu cứ “giang” theo lời ca tiếng hát của nghệ-sĩ, văn-học, thì chắc người đọc và người nghe sẽ cứ thế mà hát mãi những câu ca “bọt bèo”, “mến yêu” như người hát cứ ca hoài ca mãi đến như sau:

 “Về đây bọt bèo muôn khắp nơi.
Vui buồn cho có đôi không nhiều.
Ngày mai sông về quê mến yêu.
Cho trùng dương cũng theo hương chiều.
Bể sầu không nhiều nhưng cũng (ư) đủ yêu..
(Phạm Duy – bđd)

Vâng. Hôm nay, nhờ nghe đi nghe lại bài “Chiều Về Trên Sông” của nhạc sĩ họ Phạm tên Duy mà bầy tôi đây bèn nảy ra ý-định viết về những chuyện buồn xóm nhỏ đọc ở đâu đó, như một cảm-nghiệm ta truyền cho nhau, như sau:

“Truyện là truyện kể về ông bố dượng như thế này:

Ông ấy đã hơn 50 tuổi, lấy mẹ tôi cũng vì muốn tìm người bầu bạn lúc tuổi già. Ông không có điểm gì nội trội ngoài khả năng nấu ăn và tấm lòng chân thật, nhưng khi tiếp xúc với ông, tôi mới thật sự hiểu ra hai chữ “người nhà”.

Sau khi bố tôi mất được ba năm, ông ấy đã đến nhà tôi. So với người cha của tôi, ông ấy tầm thường đến nỗi chẳng có ưu điểm gì đáng để nói đến. Nhưng mà, người mẹ ngoài 50 tuổi cần có một người bầu bạn, mà yêu cầu của người già đã ngoài 50 tuổi đối với một nửa kia rất nhiều khi chỉ cần phẩm cách tốt là được rồi.

Về mặt này ông ấy có đủ điều kiện, bởi ông là người tốt nổi tiếng gần xa, là người thật thà chất phác. Cái hôm gặp gỡ lần đầu tiên với mẹ tôi, ông rất bối rối. Bởi vì ông biết rất rõ rằng mọi phương diện của mình đều không có ưu thế: nhà thì chật hẹp, tiền lương thì ít, chẳng qua chỉ là một công nhân phổ thông nghỉ hưu, hơn nữa nhà của cậu con trai vừa mới kết hôn cũng cần đến sự giúp đỡ của ông.

Nói thật lòng, mẹ tôi cũng chỉ là vì nể mặt người mai mối nên mới quyết định đến gặp ông ấy. Và cuối cùng mẹ đã sinh ra thiện cảm đối với ông bởi tài nghệ nấu nướng của ông.

Sau khi gặp mặt, ông ấy nói: “Bà Lý này, tôi biết điều kiện của bà rất tốt, không thiếu gì cả, thật tôi không có gì đáng để gửi tặng bà. Nhưng dù thế nào, chúng ta cũng hãy thử quen nhau xem sao, chiều nay bà hãy ở lại nhà tôi dùng bữa cơm đạm bạc nhé!”.

Tấm lòng chân thành của ông khiến mẹ tôi không nỡ từ chối, và bà đã ở lại. Ông không để bà động đến một tay, đã làm một bát canh với bốn loại rau, đặc biệt là món bí ngô nấu thịt, mẹ tôi đã ăn ngon đến không nỡ đặt đũa xuống.

Trước khi đi, ông đã nói với mẹ tôi rằng: “Sau này nếu như muốn ăn nữa, thì hãy đến đây. Nhà tôi tuy không khá giả lắm, nhưng chiêu đãi món bí ngô thì không tốn công phí sức chút nào”. Về sau, mẹ tôi lần lượt gặp mấy người lão niên khác nữa, nhưng mà, tuy điều kiện của mỗi người đều tốt hơn ông ấy, nhưng cuối cùng mẹ tôi vẫn chọn ông.

Lý do thật ra cũng được xem là ích kỷ, bà ấy đã phục vụ và chăm sóc ba tôi hơn nửa đời người rồi, lần này bà muốn một lần làm đối tượng được người ta chăm sóc lại. Cứ như vậy, ông ấy và mẹ tôi đã đến với nhau… Người ngoài hay là người nhà?

Hôm đó, ông ấy, mẹ tôi, thêm tôi nữa, còn có gia đình ba người của con trai ông cùng dùng một bữa cơm với nhau. Tôi đặc biệt sắp xếp bữa cơm này trong một khách sạn năm sao sang trọng, trên bề mặt thì thấy là vì để bày tỏ sự coi trọng đối với ông, thật ra là muốn thông qua đó mà thể hiện vai vế của mình.

Khi rời khỏi khách sạn, ông nhẹ nhàng nói với tôi: “Từ nay chúng ta đã là người nhà với nhau rồi, là hai bố con đấy! Sau này nếu con muốn mời bố ăn cơm thì chỉ việc đi đến những quán ăn bên đường là được rồi, ở đó bố sẽ ăn được thoải mái hơn, lòng không bị đau và cũng không thấy tiếc tiền”.

Chính biểu lộ tình cảm chân thành của ông đã làm tổn thương cái tâm hư vinh giả dối của tôi, khiến tôi cảm thấy đấu trí với một người thật thà, giống như một người lớn lấy kẹo để dụ dỗ một đứa con nít vậy, thật là vô sỉ chẳng còn gì để nói nữa.

Ông ấy đã chăm lo cho mẹ tôi rất tốt, bà ấy mỗi lần gặp tôi đều bảo cần phải giảm cân, đó là một giọng điệu hạnh phúc. Ông ấy nấu ăn thật sự rất ngon. Một lần nọ, khi cùng ăn cơm với mọi người, tôi không nhịn được nói với vợ rằng: “Lần sau khi chú Đường làm cơm, em hãy ở bên cạnh mà học hỏi một chút”.Trong sắc mặt của vợ vốn không hề có phần muốn học, trái lại còn có mấy phần tức giận.

Ông vội vàng đứng ra giải vây, ông nói: “Một đời này của bố đều không làm được gì tốt cả, chỉ có chút tài nghệ làm được mấy món ăn, các con đều là những người làm chuyện đại sự, tuyệt đối đừng có học theo ta, nếu như muốn ăn, thì hãy đến đây, đến bất cứ lúc nào cũng được. Làm cơm này, sợ nhất là cơm mình làm không có người ăn”.

Hôm đó khi chúng tôi đi về, ông ấy đã gói rất nhiều đồ do chính tay ông làm bảo chúng tôi mang về, vừa cầm lấy tay tôi vừa nói: “Đừng có khen cơm của bố nấu ngon nữa, nói thật lòng, hễ có người nói đến ưu điểm này thì bố thấy ngại lắm. Một người đàn ông chỉ biết nấu ăn, còn những phương diện khác thì lại không làm được trò trống gì cả, đây đâu thể nói là ưu điểm được”.

Trên đường về nhà, tôi đã kể lại cho vợ nghe những lời này của ông. Cô ấy nói: “Người như ông ta, trời sinh là số phải phục vụ người ta, trời sinh chính là bằng lòng cúi đầu đến sát mặt đất. Mẹ chúng ta có phúc khí, già rồi còn làm một hoàng thái hậu”.

Tôi vừa lái xe, vừa dùng mắt liếc nhìn vợ, cảm nhận sự khinh thường của vợ đối với ông ấy, trong lòng lại không biện giải gì cho ông. Rốt cuộc, ông trước sau vẫn là một người ngoài mà. Xấu hổ. Hôm tôi dọn sang nhà mới, ông ấy và mẹ tôi đã đến nung đáy nồi (một tập tục khi dọn nhà) cho chúng tôi. Ông đã làm theo tập tục nung đáy nồi một cách cẩn thận kỹ càng đâu vào đấy. Nhưng mà, đợi đến lúc ăn cơm, ông lại không xuất hiện trên ghế dành cho bề trên, tìm khắp nơi đều không thấy ông ấy, gọi điện thoại cho ông, cũng là ở trong tình trạng khóa máy.

Dường như đã tính toán kỹ thời gian, khi khách khứa đi hết cả, ông đã quay trở lại, cẩn thận dọn dẹp đống bát đĩa bừa bộn đó, đem những đồ ăn còn thừa lại đựng trong hộp cơm mà ông đã chuẩn bị sẵn, để đem về nhà ăn.

Mẹ không mong ông làm như vậy, cảm thấy tủi thân cho ông, ông nhỏ tiếng nói thầm với bà rằng:

-Buổi tối anh sẽ nấu cơm mới cho em, những cái này anh sẽ tự ăn hết.

Mẹ nói:

-Làm gì mà ngày nào cũng phải ăn cơm thừa rau thừa như vậy chứ? Anh có biết rằng em thấy anh làm như vậy, trong lòng rất khó chịu hay không?

Ông ấy đã an ủi mẹ tôi rằng:

-Em tuyệt đối đừng có thấy khó chịu, để anh nhìn thấy lãng phí như vậy, trong lòng anh mới không dễ chịu. Tiền của Thụ Tán (tên của tôi) đều rất vất vả mà đánh đổi lấy, chúng ta không giúp con nó được gì cả, vậy thì hãy gắng sức tiết kiệm thay cho nó.

Lời của ông khiến cho mẹ tôi day dứt, sau đó bà ấy quyết định nói với tôi. Nghe thấy mẹ nói thay cho ông ấy trong điện thoại, lúc đó cảm giác trong lòng tôi rất phức tạp, đồng thời cũng vì phần phức tạp này của mình mà cảm thấy rất xấu hổ.

Dần dần, thiện cảm đối với ông ấy mỗi lúc một nhiều hơn. Có những lúc, thậm chí có phần ỷ lại, ông ấy vẫn luôn âm thầm làm rất nhiều chuyện cho chúng tôi, thay ống nước bị hư trong nhà, mỗi ngày đưa cháu đến nhà trẻ và rước cháu về nhà, khi mẹ nằm viện ông ấy đã không ngủ không nghỉ mà chăm sóc bà, mãi đến sau khi xuất viện mới nói với chúng tôi.

Chỉ là không ngờ rằng có một ngày, ông cũng ngã bệnh, hơn nữa bệnh còn nghiêm trọng đến thế. Trên đường ông ấy đưa con của tôi đến nhà trẻ đã đột nhiên ngã xuống – bệnh tai biến mạch máu não, bán thân bất toại mà nằm trên giường.

Tôi, còn có con trai của ông ấy, ban đầu đều rất tích cực đối với việc trị liệu của ông, chúng tôi mong ông mau chóng khỏe lại, vẫn có thể chịu mệt nhọc vất vả mà phục vụ cho chúng tôi giống như trước đây. Nhưng mà, ông đã không bao giờ đứng dậy được nữa. Trước đây ông chỉ biết mỉm cười, không ngờ giờ đây đã biến thành yếu ớt như vậy, lúc nào cũng chảy nước mắt.

Mẹ chăm sóc cho ông, ông khóc; chúng tôi đẩy xe lăn dẫn ông đi chơi vùng ngoại ô, ông khóc; nhiều lần nằm viện, nhìn thấy tiền bị tiêu đi như nước, ông khóc. Cuối cùng có một ngày, ông đã dùng con dao cạo râu ra sức cắt cổ tay của mình. Cấp cứu trong suốt 5 giờ đồng hồ, ông mới giằng co từ trong cõi chết trở về, rất mệt mỏi, cũng rất tuyệt vọng.

Điều thật sự không ngờ rằng, người đầu tiên bỏ ông ấy đi lại chính là con trai của ông. Con trai của ông rất ít khi đến thăm ông, sau này còn không chịu ló mặt ra một lần. Mỗi lần gọi điện thoại anh ta đều nói rằng mình đã đi công tác, trở về sẽ ghé thăm ông.

Điều khiến tôi không ngờ hơn nữa, mẹ tôi vào lúc này cũng nói rằng bà muốn chia tay với ông. Hai người vốn dĩ cũng chưa có chính thức, chỉ là chuyện vỗ mạnh một cái mỗi người mỗi ngả. Mẹ nói với tôi rằng: “Mẹ đã già rồi, không lo nổi cho ông ấy nữa. Mẹ không giúp được gì cho con cả, nhưng cũng không thể lượm một người cha tàn phế về, làm liên lụy con được”.

Đây chính là hiện thực tàn nhẫn. Tôi không muốn để mẹ tôi làm người ác, thế là tôi đành phải nhẫn tâm đóng vai kẻ ác, quyết định tự mình đến nói ra chuyện chia tay này. Tôi nói với ông, người vốn đang nằm trong bệnh viện rằng:

-Chú Đường, mẹ con bệnh rồi.

Nước mắt của ông lại tuôn trào ra như mưa, tôi gắng sức nói ra những lời tàn nhẫn:

-Chú biết đấy, mẹ con cũng đã có tuổi rồi. Những ngày này, bà ấy đối với chú như thế nào, chú cũng đã thấy rồi. Chú tiếp tục chảy nước mắt gật đầu. Tôi lại nói tiếp:

-Chú Đường, chúng con còn phải đi làm nữa, mẹ con sức khỏe lại không được tốt. Chú xem như vậy có được không, sau khi xuất viện, chú hãy về nhà của chú, con sẽ thuê một người đến săn sóc cho chú. Đương nhiên, tiền sẽ do con trả, con cũng sẽ thường xuyên đến thăm chú. Khi nói đến đây, chú không khóc nữa. Chú gật đầu liên hồi, nói một cách cảm kích:

-Nếu được như vậy thì tốt quá, nếu được như vậy thật đúng là tốt quá. Không cần người giúp đỡ, thật sự không cần…

Tôi bước ra đến khuôn viên của bệnh viện lại chảy nước mắt, không rõ đó là cảm giác nhẹ nhõm sau khi được giải thoát, hay là trong lòng có nỗi day dứt không nói thành lời. Tôi đã mời một người giúp việc cho ông ấy, trả trước chi phí trong một năm. Sau đó, tôi lại đến nhà ông ấy, thuê công nhân tu sửa lại nhà của ông một chút, tôi đã cố gắng làm đến trọn nhân trọn nghĩa. Không phải vì ông, chỉ vì an ủi nỗi bất an trong lòng. Cái ngày ông ấy xuất viện trở về nhà, tôi không có đi, mà là bảo tài xế trong đơn vị đến đón ông.

Sau khi tài xế trở về đã nói với tôi rằng:

-Chú Đường nhờ tôi nói tiếng cảm ơn với anh, còn bảo rằng ngay cả con trai ruột của chú, cũng không làm được như vậy.

Những lời này, đã an ủi tôi ít nhiều, khiến tôi cảm thấy nhẹ nhõm phần nào, nhưng loại an ủi này vốn không có duy trì được bao lâu. Ngày xuân lạnh buốt. Ngày tết không có ông ấy ở nhà, chúng tôi thấy có chút buồn tẻ, không còn có một người bằng lòng vùi đầu vào trong nhà bếp, làm đủ các loại món ăn cho chúng tôi.

Chúng tôi ngồi ăn cơm tất niên trong khách sạn năm sao, nhưng lại không cảm nhận được cái hương vị nồng ấm của ngày tết nữa. Con trai trên đường về nhà nói:

-Con muốn ăn món cá chép do ông nội làm.

Vợ tôi nháy mắt ra hiệu cho con trai đừng có nói nữa, nhưng mà, con trai trái lại quậy càng dữ dội hơn:

-Tại sao mọi người lại không để cho ông nội về nhà đón tết, mọi người thật đúng là xấu xa mà!.

Vợ tôi tức giận giáng cho con trai một cái bạt tai thật mạnh. Nhưng cái bạt tai đó giống như là đang đánh vào mặt vậy, khắp mặt sưng lên đau đớn. Một câu nói của con trai, khiến cho điều chúng tôi tự thấy an ủi đều đã sụp đổ tan tành.

Tôi từ trong kính chiếu hậu, nhìn thấy đôi mắt của mẹ cũng đang đỏ hoe. Không nghĩ cũng hiểu, đó là ngày 30 tết buồn tẻ biết mấy. Tôi thấy rất nhớ năm ngoái, cái năm mà ông ấy vẫn còn ở nhà chúng tôi, một gia đình ấm cúng hạnh phúc, luôn được xây dựng trong sự phó xuất lặng lẽ của một người.

Không biết giờ này, chú Đường đang đón tết với ai? Liệu có nhớ đến chúng tôi chăng? Liệu có vì sự vô tâm của chúng tôi mà trong lòng cảm thấy tủi thân?

Về nhà. Sau khi tiếng trống đầu xuân vang lên, tôi lái xe đi đến chỗ của chú Đường. Ông ấy bước những bước chân tập tễnh ra mở cửa cho tôi, nhìn thấy tôi, miệng đang nở nụ cười, trong mắt lại đẫm lệ.

Đi vào ngôi nhà lạnh lẽo của ông, nước mắt của tôi cũng không thể ngăn lại được nữa. Tôi cầm điện thoại lên gọi cho con trai của ông ấy, sau khi mắng chửi cho anh ta một trận, bắt đầu gói sủi cảo cho ông.

Người giúp việc đã về nhà đón tết rồi, trên đầu giường đã chuẩn bị sẵn điểm tâm đủ cho ông ấy dùng đến ngày 15, trong lòng tôi cũng thầm trách mẹ. Những chiếc sủi cảo nóng hổi cuối cùng đã khiến trong nhà ông ấy có được một chút không khí ấm cúng của ngày tết. Chúng tôi cứ ăn một miếng sủi cảo, nước mắt của cả lại lã chã tuôn rơi.Buổi sáng tinh mơ của ngày mùng một, tôi lảo đảo rời khỏi căn nhà của ông, tôi đã uống rượu, đậu xe ngay dưới lầu của nhà ông ấy, một mình đi trên con đường lạnh tanh, trong lòng đầy rẫy thê lương. Điện thoại reo lên, là vợ gọi đến:

-Anh ở đâu vậy hả?

Tôi phát hỏa lần nữa:

-Tôi đang ở trong nhà của một ông lão cô độc, nghe rõ chưa hả? Chúng ta là loại người gì vậy hả?

Khi ông ấy có thể đi lại được, chúng ta lợi dụng người ta; bây giờ ông không cử động được nữa, chúng ta lại gửi trả về. Lương tâm của chúng ta phải chăng đã bị chó ăn mất rồi, vậy mà còn đòi học theo người ta nói nhân nghĩa đạo đức, tôi khinh!

Ở trên đường cái, tôi mắng chửi bản thân mình thật tệ hại, mắng đủ rồi, mắng mệt rồi, tôi không chút do dự mà chạy trở lại, cõng ông ấy trên lưng rồi đi ra bên ngoài. Ông giãy giụa, hỏi tôi:

-Con làm vậy là sao?.

Tôi lấy giọng điệu chắc nịch mà nói với ông rằng:

-Về nhà.

Ông nội mà, chính là để chúng ta yêu thương

Ông ấy đã trở về. Người cảm thấy vui nhất là con trai tôi. Nó vừa ôm vừa hôn ông, luôn miệng đòi ăn món cá chép, đòi ăn món bánh quai chèo, muốn làm thẻ siêu nhân.

Vợ lôi tôi vào trong phòng, hỏi tôi:

-Anh điên rồi sao? Ngay đến cả con trai ông ta còn không lo cho ông ta, anh dẫn ông ta về nhà làm gì vậy?

Tôi không còn nổi nóng nữa, ôn hòa nhã nhặn nói với cô ấy:

-Con trai ông ấy làm chuyện không đúng, đó là chuyện của anh ta, không nên lấy đó làm cái cớ để chúng ta bỏ rơi ông ấy. Anh không yêu cầu em phải xem ông ấy như bố chồng của mình, nhưng mà, nếu như em yêu anh, nếu như em biết nghĩ cho anh, thì hãy xem ông ấy như người nhà, bởi trong lòng của anh, ông ấy chính là người nhà, chính là người thân, bỏ rơi ông ấy thì rất dễ dàng, nhưng không giấu được nỗi day dứt trong tâm. Anh muốn tâm mình được thanh thản một chút, chỉ đơn giản vậy thôi.

Cùng một lời này, khi nói với mẹ, bà nước mắt như mưa, nắm chặt lấy tay tôi nói rằng: Con trai à, mẹ thật không ngờ con lại có tình có nghĩa như vậy.

Tôi nói: Mẹ, mẹ yên tâm đi. Nói hơi khó nghe một chút, cho dù sau này có một ngày, mẹ mà đi trước chú ấy, con cũng sẽ phụng dưỡng chú ấy đến cuối đời, với thu nhập của con hiện giờ, nuôi chú ấy nào là chuyện khó gì? Thêm một người thân, thì có gì không tốt chứ?

Một lúc sau, con trai tôi đi vào xin tôi: Bố ơi, đừng có gửi ông nội về nữa. Sau này, con sẽ chăm sóc ông ấy. Sau này bố già rồi, con cũng chăm sóc bố mà!

Tôi ôm con trai vào trong lòng, trống ngực đập thình thịch, thật may là vẫn chưa quá muộn, còn may chưa để lại một ý nghĩ bất hiếu trong lòng của con.

“Ông nội mà, chính là để cho chúng ta yêu thương, sao lại gửi đi được nữa!”. Tôi mở miệng nói đùa với con trai, để củng cố niềm tin vững chắc cho nó…

Đọc xong, bạn có lĩnh ngộ được đạo lý giản dị trong đó hay không? Thật ra cha mẹ vốn đòi hỏi không nhiều, chỉ là một lời chào hỏi: “Cha, mẹ hôm nay có khỏe không?”, chỉ cần mua một ít thức ăn khuya, nấu một bữa tối đơn giản, trước khi ngủ đắp chăn cho họ, trời lạnh thêm áo ấm, đeo găng tay giúp họ, chỉ những cử chỉ rất nhỏ thôi cũng sẽ khiến họ thấy ấm áp vui vẻ rất lâu.

Có những lúc, tôi thường hay nghĩ: “Tôi mong con cái của tôi sau này sẽ đối xử với tôi thế nào đây?”. Tôi tin rằng, đời người là một vòng tuần hoàn; bây giờ bạn đối đãi với cha mẹ như thế nào, sau này con cái của bạn cũng sẽ đối xử với bạn như vậy.

Bạn thân mến, trên đời này ân tình khó trả nhất chính là ân tình của cha mẹ, mong chúng ta đều có thể lấy tâm hiếu thuận mà chăm sóc cho cha mẹ, lấy tâm cảm ân mà hiếu thuận với cha mẹ!

Sinh mệnh không đòi hỏi chúng ta phải trở thành người tốt nhất, mà chỉ đòi hỏi chúng ta cố gắng hết sức mà thôi! Cây muôn lặng mà gió chẳng ngừng, con muốn tận hiếu nhưng song thân không còn nữa. Chuyện khó chờ đợi nhất trên đời này, chính là hiếu kính cha mẹ, đừng đợi đến khi mất đi rồi mới hối tiếc rằng bản thân ngày trước không biết trân quý…” (Tiểu Thiện chuyển dịch từ Cmoney.tw)

Vâng. Phiếm luận đường dài bao giờ cũng gồm đầy những truyện kể để kể cho nhau nghe. Không cần biết, nhà Đạo mình có thích nghe đọc truyện ấy hay không. Kể truyện ở đây, là để hợp giọng với Đức Phanxicô hôm ấy đã có lời khích-lệ giới trẻ ở Krakow, Ba lan nhân dịp Đại Hội Trẻ ở đây, rằng:

“Hôm ấy, Đức Giáo Hoàng Phanxicô kể cho giới trẻ biết rằng các em được mời gọi không phải để trở thành những củ khoai nằm dài nơi ghế nệm ở phòng khách, sống cuộc sống nhàm chán/tẻ nhạt mà là để lại dấu vết tinh-hoa của mình với lịch-sử và không để ai khác định-đoạt tương-lai của chính mình.

 Tựa hồ trận đấu túc-ầu, cuộc sống “chỉ đưa người chơi bóng vào với lối chơi chủ-động chứ không phải ngả dài trên dãy ghế thưởng-thức, thật êm ấm”. Thế-giới hôm nay đòi hỏi các em đây giữ vững vai-trò chủ-đạo trong lịch-sử, bởi lẽ cuộc sống bao giờ cũng rất đẹp khi ta chọn sống cuộc sống của ta một cách trọn-vẹn và chọn để lại dấu-tích của mình ở trong đó…”

 Nói thế rồi, Đức Giáo Hoàng còn mời gọi mọi người có mặt ngày hôm đó, hãy nắm chặt tay nhau  mà nguyện-cầu trong thinh-lặng, trao về cho Thiên-Chúa cuộc phấn-đấu nội-tâm của chính mình, một phấn-đấu mà mỗi người trong ta vẫn mang nặng trong tâm can của chính mình. Đức Giáo-Hoàng còn cảnh-giác các bạn trẻ thuộc nhóm hành-hương hôm ấy là đừng để mình rơi vào cảnh bại-liệt rút từ sự lẫn-lộn giữa mối phúc-hạnh với “ghế nệm êm-ả”.

 Bởi như ngài nói: ghế nệm vẫn luôn hứa-hẹn sự êm-ả, thoải-mái và an-toàn trong khi nó chỉ là hình-thức âm-thầm của bại-liệt khiến cho các người trẻ, nam cũng như nữ, cứ trở-thành những người “đờ-đẫn”, đến chóng mặt…

 Đức Giáo-hoàng đã khích-lệ đám người hành-hương nhớ rằng mình không được gọi mời để sống “tẻ-nhạt” với đời và trong đời, nhưng để lại dấu-tích độc-đáo trong cuộc đời. Bởi, khi ta chọn lối sống êm-ả và thoải-mái, là ta sẽ phải trả giá rất cao là mất đi sự tự-do dành cho mình.

 Thay vào đó, ta được mời gọi dấn bước vào con đường đầy tính “khùng-điên” của Thiên-Chúa là đường hối-thúc mọi tín-hữu Đức Ki-tô thực-hiện việc từ-bi/bác-ái bằng cả thân-xác và thần-tính của chính mình. Thiên-Chúa muốn tất cả mọi người chúng ta thấy được rằng: cùng với ta, thế-giới này phải trở nên khác-biệt. Bởi, nếu ta không cống-hiến những gì tốt/đẹp nhất của chính mình, thì thế-giới này sẽ chẳng bao giờ trở nên khác-biệt hết.

 Và, Đức Phanxicô lại cũng kêu mời những người đã trưởng-thành hãy dạy-dỗ cho thế-hệ trẻ biết cách “sống có khác-biệt trong tương-quan đối-thoại, biết trải-nghiệm cuộc sống đa văn-hoá, đừng trở-thành mối đe-doạ cho ai hết nhưng là cơ-hội để mọi người vươn lên.

 Vì thế nên, người trẻ hôm nay sẽ là những người lên án chúng ta nếu ta chọn-lựa cuộc sống như bức tường/thành cứng-ngắc, thứ cuộc sống đầy hận-thù, một cuộc sống chiến-tranh, rất lạnh nhạt. Hãy có can-đảm mà bảo với chúng tôi rằng: xây nhiều cầu nối bao giờ cũng dễ hơn xây tường thành kiên-cố.” (X. Junno Arocho Estevez, Francis Urges Youth: Follow the ‘Path of Craziness’ of our God, The Catholic Weekly 07/8/2016, tr. 28)

Còn nhớ, thánh Phao-lô tông-đồ cũng từng gọi công cuộc giảng-rao tình thương-yêu của Thiên-Chúa như sự điên rồ đối với những người đang hư-đốn, như sau:

“Quả vậy,

Đức Kitô đã chẳng sai tôi đi làm phép rửa,

nhưng sai tôi đi rao giảng Tin Mừng,

và rao giảng không phải bằng lời lẽ khôn khéo,

để thập giá Đức Kitô khỏi trở nên vô hiệu.

Thật thế,

lời rao giảng về thập giá là một sự điên rồ

đối với những kẻ đang trên đà hư mất,

nhưng đối với chúng ta là những người được cứu độ,

thì đó lại là sức mạnh của Thiên Chúa.”

(1 Côrinthô 1: 17-18)

Điều nghịch-lý/nghịch-thường ở cuộc sống hôm nay, là: rất nhiều người cứ trùm chăn êm ả ngả dài trên ghế dựa phòng khách, chứ không hăng-say lao mình vào công-cuộc giảng-rao như ngây như dại theo kiểu bậc thánh-hiền của Đức Chúa.

Thế nên, các đấng bậc nhà Đạo lại vẫn luôn kêu gọi hết mọi người già/trẻ, lớn/bé gái/trai hãy hăng say sống cuộc sống rất điên rồ trong rao-giảng tình-thương-yêu của Thiên Chúa với con người.

Hăng-say/rồ-dại như mô-tả của bậc thánh-hiền chốn nhà Đạo, còn là ảnh/hình về một động-thái phải có trong cuộc sống thường-nhật của mỗi người và mọi người. Hăng-say/rồ-dại, còn là mục-tiêu ta nhắm tới mỗi khi làm việc gì đó cho thế-giời cuộc-đời đang hăng-say/rồ-dại với những chuyện viển-vông, không tưởng chẳng mang lợi ích cho ai hết.

Hăng-say/rồ-dại còn là và phải là thái-độ sống rất “Tri-Thiên-Mệnh” như đề-nghị của một đấng bậc khác Đạo, khác văn-minh, văn-hoá ở trời Đông, là Đức Đạt Lai Lạt Ma, như sau:

“Khi trong tay anh nắm chặt vật gì mà không buông xuống, thì anh chỉ có được mỗi thứ ấy, vật ấy mà thôi. Nhưng, nếu anh chịu buông nó xuống, thì anh mới có cơ-hội chọn-lựa những thứ khác. Thế nên, Tri-Thiên-Mệnh là:

Sức mạnh của trẻ thơ là tiếng khóc. 

Sức mạnh của đàn bà là phẩn nộ. 

Sức mạnh của người ăn trộm là vũ khí. 

Sức mạnh của vua chúa là quyền uy. 

Sức mạnh của kẻ ngu là áp đảo. 

Sức mạnh của bậc hiền trí là cảm hóa. 

Sức mạnh của người đa văn là thẩm sát. 

Sức mạnh của sa môn là nhẫn nhục .”

Bởi chúng ta không thể thay đổi được thế giới xung quanh, nên chúng ta đành phải sửa đổi chính mình, đối diện với tất cả bằng lòng từ bi và tâm trí huệ.

 Ra đời hai tay trắng. 

Lìa đời trắng hai tay. 

Sao mãi nhặt cho đầy. 

Túi đời như mây bay.”

 Thành thật đối diện với mâu thuẫn và khuyết điểm trong tâm mình, đừng lừa dối chính mình. Sự khác biệt giữa con người là do mức tiến hóa khác nhau qua các kiếp sống. Có khi nào ta thù ghét một kẻ kém ta đâu? Suy luận rằng: “vạn vật đồng nhất”, ta sẵn sàng tha thứ cho kẻ khác, vì họ không hiểu biết, không ý thức hành động của mình, vả lại họ và ta nào có khác nhau đâu.

Khi ta hiểu rằng: “nhất bổn tám vạn thù”, ta nhìn vạn vật như chính mình, từ loài người qua loài thú, thảo mộc, kim thạch, và ý thức rằng mọi vật đều có sự sống, đều có Thượng đế ngự ở trong,  ta sẽ cởi bỏ thành kiến, mở rộng lòng thươngđến muôn loài”.

Là con Phật, nếu không nói được những gì Phật nói, hãy im lặng như chánh pháp, đừng nói những lời ác, xuyên tạc, bịa đặt, vu khống, làm tổn hại kẻ khác. Nếu không làm được những gì Phật làm, hãy im lặng và lắng nghe, quán sát, học hỏi những thiện tri thức, đừng vọng động làm những điều thương tổn đến tha nhân”.

Ác khẩu, mãi mãi đừng để nó thốt ra từ miệng chúng ta, cho dù người ta có xấu bao nhiêu, có ác bao nhiêu. Anh càng nguyền rủa họ, tâm anh càng bị nhiễm ô, anh hãy nghĩ, họ chính là thiện tri thức của anh.

Người mà trong tâm chứa đầy cách nghĩ và cách nhìn của mình thì sẽ không bao giờ nghe được tiếng lòng người khác. Khi trong tay anh nắm chặt một vật gì mà không buông xuống, thì anh chỉ có mỗi thứ ấy, nếu anh chịu buông xuống, thì anh mới có cơ hội chọn lựa những thứ khác. 

Nếu một người luôn khư khư với quan niệm của mình, không chịu buông xuống thì trí huệ chỉ có thể đạt đến ở một mức độ nào đó mà thôi.” (Đức Đạt Lai Lạt Ma phát-biểu trong một bài pháp ngắn, nhưng thâm sâu)

 Ngắn, nhưng thâm-sâu, còn là ý-lực của bài hát ta đã trích. Nay, lại sẽ mời bạn và mời tôi, ta sẽ hát thêm và hát mãi lời bài hát “Chiều Về Trên Sông”, có nỗi buồn như sau:

“Chiều buông trên giòng sông Cửu Long”
Như một cơn ước mong, ơi chiều.
Về đâu ơi hàng cây gỗ rong,
Nghiêng mình trên sóng sông yêu kiều.

Buồn tôi không vì sao bỗng dưng.
Theo đò ngang quá giang thương chiều.

Bởi vì thương nhiều nên nhớ (ơ) tình yêu.
Bởi vì đời còn nhiều khi là mơ.
Bởi vì đời còn nhiều khi thành thơ.
Có khi vui lững lờ.
Có khi tuôn sầu u.
Bởi vì chiều buồn chiều về giòng sông.
Bởi vì tình đời nào chỉ thù oán.

Hãy cất tiếng ca cho đời thêm (ý) buồn.
Hãy cất tiếng ca cho lòng thôi khô héo.
Chiều buông trên giòng sông cuốn mau.
Thương đời thương lẫn nhau trong chiều.”

(Phạm Duy – bđd)

 Buồn, nhưng vẫn “thương đời thương lẫn nhau trong chiều”. Thế đó là lời kết đẹp, xin được gửi đến bạn, đến tôi và mọi người, ở trong đời.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn suy nghĩ rất lung

về lời kêu gọi của Đức Giáo Tông hay ai đó

rất an-toàn, cụ-thể, đầy thương mến.

“Trời có mây cao với gió thanh,

Suy Tư Tin Mừng Tuần thứ 22 thường niên năm C 28/8/2016

                                                Tin Mừng: (Lc 14: 1, 7-14)

Một ngày Sabát kia, Đức Giêsu đến nhà một ông thủ lãnh nhóm Pharisêu để dùng bữa: họ cố dò xét Ngài.

Ngài nhận thấy khách dự tiệc cứ chọn cỗ nhất mà ngồi, nên nói với họ dụ ngôn này:

“Khi anh được mời đi ăn cưới, thì đừng ngồi vào cỗ nhất, kẻo lỡ có nhân vật nào quan trọng hơn anh cũng được mời, và rồi người đã mời cả anh lẫn nhân vật kia phải đến nói với anh rằng: “Xin ông nhường chỗ cho vị này. Bấy giờ anh sẽ phải xấu hổ mà xuống ngồi chỗ cuối. Trái lại, khi anh được mời, thì hãy vào ngồi chỗ cuối, để cho người đã mời anh phải đến nói: “Xin mời ông bạn lên trên cho. Thế là anh sẽ được vinh dự trước mặt mọi người đồng bàn.Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên.

Rồi Đức Giêsu nói với kẻ đã mời Ngài rằng:

Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng mời bạn bè, anh em, hay bà con, hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi. Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc: vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại.

 

“Trời có mây cao với gió thanh,

Đất đầy sự nghiệp những tay lành.

Cũng như phơi phới đi vào tiệc,

Bữa tiệc đôi ta, một tâm-tình.”

(Dẫn từ thơ Xuân Diệu)

 Trình thuật hôm nay, thánh Luca không cũng có kể nhưng không chỉ mỗi tiệc về tiệc, về tình mà còn về Vương Quốc Nước Trời. Chính đó, là mục tiêu mà mọi con dân nhà Đạo đều nhắm tới. Về tiệc hôm nay, nhóm Pharisêu vẫn muốn xem Đức Chúa làm những gì, vào ngày Sabát. Và, Chúa có lẽ đã bị chỉ trích, vào lúc Ngài mở lời.

Lời Ngài mở, không nhằm đối đáp với bọn người xấu chỉ muốn hỏi xem Ngài có những hành vi chống lại lề luật không. Lời Ngài, là về dụ ngôn với những ảnh hình, rất thực tế. Thực tế như sự thực đang diễn ra trước mắt gồm các thực khách đến dự. Và một thực tế khác, là: Đức Chúa vẫn ngồi cùng bàn với đủ mọi hạng người: từ kẻ giàu sang quyền thế, đến người nghèo hèn, tội phạm. Ngài đến với hết mọi người. Ngài đến như giọt nắng giọt mưa đổ tưới trên đầu mọi thần dân.

Lời Ngài nói bằng dụ ngôn, nhằm đáp ứng lề lối mà thực khách thời đó vẫn hành xử, khi vào tiệc. “Họ chỉ muốn chọn chỗ nhất mà ngồi.”(Lc 14: 7)  Vào thời buổi này, các buổi tiệc do quan “lớn” khoản đãi, đều có định chỗ trước cho khách ngồi vẫn là chuyện thực tế, rất ý nhị. Các đấng bậc có vai vế quan trọng được xếp chỗ gần chủ nhà. Có tiệc, chủ nhà còn định chỗ bằng cách để thẻ bìa có đề tên.

Lời Ngài tỏ bày hôm nay, đảo lộn mọi trật tự của đời thường. Đức Chúa vẫn thường khuyên dạy: “khi được mời đi ăn, thì đừng ngồi vào chỗ nhất”. Làm theo như thế, kẻ bon chen cạy cục sẽ không tránh khỏi tình trạng khó xử.Và, đôi lúc cảm thấy phẩm giá con người bị xuống thấp. Nếu làm theo đề nghị của Ngài, chắc cũng có người sẽ coi đó như hành động dưới cơ, thiếu tự tin. Tình cảnh này được coi như một tai ương giao tế đến bất ngờ. Nhưng ở đây, khi Đức Giê-su kể dụ ngôn, Ngài không cố ý khuyên ta nên hành xử hoàn toàn từng chữ theo nghĩa đen.

Điều Ngài muốn nhủ, là: ở nơi Vương Quốc Nước Trời, việc chọn chỗ nhất nơi bàn tiệc là chuyện không nên, dễ ngộ nhận. Bởi, ý nghĩa và tinh thần của Vương Quốc Nước Trời không qui vào vị thế xã hội mà thứ đời phàm lúc nào cũng đổi thay. Với nhà Đạo, chuyện quan trọng chỉ nằm ở chỗ: làm sao duy trì được tương quan giữa chúng ta với Chúa, và với mọi người cho tốt đẹp.

Đừng quá bận tâm đến vị thế chỗ ngồi. Hoặc, thứ bậc, địa vị, sắc tộc, tôn giáo, nghề nghiệp hoặc giai cấp. Vị thế đích thực trong tương quan với Chúa, không thể cân đo đong đếm bằng nghề nghiệp, chức tước hoặc danh xưng. Nhưng, bằng độ sâu độ dài của tình yêu. Bằng  quyết tâm phục vụ Chúa qua giao tế với người đời, sống quanh ta.

Điều quan trọng khác, không phải là: hỏi xem mọi người nghĩ thế nào về mình, coi mình là ai hoặc đối xử với mình như thế nào. Nhưng, là dựa vào mức độ chăm sóc tỏ bày tình thương yêu của ta đến người khác. Đến cả những người dưng khác họ, nữa.

Thái độ và lối hành xử mà Đức Chúa vẫn khuyên mọi người nên có, lại được củng cố thêm bằng lời thư thánh Phaolô gửi cho giáo đoàn Do Thái, rất rõ ràng: “Anh chị em đã lên núi Sion, tới thành đô Thiên Chúa” (Dt 12: 22).

Đoạn cuối truyện kể hôm nay, Chúa hướng thẳng về phía người thủ lãnh nhóm Pharisêu. và bảo họ: “Khi các ông đãi khách ăn trưa ăn tối, thì đừng mời bạn bè, hay bà con láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại các ông”. (Lc 14: 12)

Thời buổi này, lời nhủ của Chúa có thể áp dụng cho các vị có chức, có tiền. Cả trong Đạo, lẫn ngoài đời ta chỉ nên mời những người nghèo khó, thân cô thế cô, những người không có khả năng tham dự bất cứ bữa tiệc nào. Dù linh đình hay thanh bạch hoặc chỉ nên mời mọc những người không có khả năng mời trở lại. Hoặc, những người không có ý định mua chuộc, hay tham ô, nhũng lạm. Tức, họ chẳng làm gì có sức có quyền để ta nhờ vả, thăng tiến bản thân trong thang cấp cầm quyền.

Điều mà trình thuật nay muốn nói, là: hãy hoạt động để kiến tạo một xã hội tốt đẹp hơn. Xã hội mang hình vòng cung, hay quả cầu. Trong vòng cung trái cầu ấy, không ai ở quá cao. Cũng chẳng có người ở nơi rốt hết. Tức là, mọi người đều có quyền lợi đồng đều, như nhau. Mọi người đều ở vị thế tương đối khá, để có thể san bớt cho những người còn thiếu thốn, nợ nần. Và, nếu đặt một bàn tròn ở giữa, thì mọi người đều có thể với tay chung phần, dự tiệc vui không thua kém ai. Bữa tiệc mà trong đó mọi người đều ngang phần. Đó là Nước Trời ở trần gian.

Có lẽ, sẽ có người cho đây là chuyện viển vông, không tưởng. Chỉ là chuyện viển vông, nếu nghĩ rằng chuyện ấy sẽ xảy đến ngày một ngày hai. Hoặc, vào thế hệ kế tiếp. Thế nhưng, xã hội như thế là Nước trời đích thực, ta có thể bắt đầu trước nhất với mái ấm gia đình mình. Sau đó, lan tỏa ra từng nhóm nhỏ mà ta đang sinh hoạt, chung sống. Cộng đoàn giáo xứ tại địa phương là ví dụ rất cụ thể cho xã hội ấy. Một Nước Trời ở trần gian. Một xã hội có thể thực hiện được.

Vào Tiệc Thánh, ta vẫn thực hiện điều này khi san sẻ bánh và rượu đã thành Mình Máu Chúa. San sẻ thực phẩm nuôi sống linh hồn và cũng san sẻ chuyện trò tâm giao với nhau bên bàn tiệc của lòng mến, agapè.

Vào thời tiên khởi, cộng đoàn các thánh vẫn làm thế. Và ngày nay, nhiều nơi trong các giáo xứ, người đồng Đạo vẫn sống như thế. Đó là điều Chúa muốn mọi người thực hiện. Ai làm rồi, thì cứ tiếp tục. Đó là thực trạng của Hội thánh hôm nay. Đó là Nước Trời ở đây. Bây giờ. Là, tình huống rất Đạo. Là, bữa tiệc rất phải lẽ hợp với Đạo. Đạo của Chúa. Đạo làm người.

 Lm Richard Leonard sj biên-soạn  –

Mai Tá lược dịch.

Tuyên bố của Đại sứ quán: Quyết định của Tòa án Việt Nam Kết án các Nhà hoạt động Nguyễn Hữu Thiên An và Nguyễn Hữu Quốc Duy

Tuyên bố của Đại sứ quán: Quyết định của Tòa án Việt Nam Kết án các Nhà hoạt động Nguyễn Hữu Thiên An và Nguyễn Hữu Quốc Duy

Thông cáo báo chí

Chúng tôi quan ngại sâu sắc về việc Tòa án Việt Nam kết tội các nhà hoạt động Nguyễn Hữu Thiên An và Nguyễn Hữu Quốc Duy, và kết án hai người này lần lượt hai và ba năm tù giam, theo Điều 88 Bộ luật Hình sự Việt Nam. Việc các nhà chức trách Việt Nam sử dụng các điều khoản hình sự để trừng phạt các cá nhân thực hiện quyền tự do biểu đạt và hội họp ôn hòa là điều đáng lo ngại.

Việc kết án như vậy không phù hợp với quyền tự do biểu đạt và tự do hội họp ôn hòa được quy định trong Hiến pháp của Việt Nam, và với các nghĩa vụ của Việt Nam theo Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị, cũng như với các cam kết quốc tế khác. Chúng tôi kêu gọi Chính phủ thả tự do vô điều kiện hai cá nhân này, cũng như tất cả các tù nhân lương tâm khác, và cho phép tất cả người Việt Nam bày tỏ quan điểm của họ mà không sợ bị trả thù.

‘Dồn dập báo mất tiền’ ở ngân hàng VN

  ‘Dồn dập báo mất tiền’ ở ngân hàng VN

BBC

GETTYCác vụ khiếu kiện mất tiền trong tài khoản ngân hàng thường có thời gian giải quyết kéo dài

Một chuyên gia tài chính bình luận với BBC về những điều cần lưu ý sau hàng loạt vụ báo mất tiền trong tài khoản ngân hàng gần đây tại Việt Nam.

Sau vụ một khách hàng Vietcombank khiếu nại việc mất 500 triệu đồng trong tài khoản thẻ ATM chỉ sau một đêm, các báo Việt Nam tiếp tục ghi nhận một loạt vụ ‘bốc hơi’ khác xảy ra tại ngân hàng này và VPBank, SCB.

Hôm 25/8, trả lời BBC, chuyên gia tài chính – ngân hàng Nguyễn Trí Hiếu nói: “Các vụ mất tiền trong tài khoản ngân hàng thì ở nước nào cũng xảy ra, kể cả Mỹ, nhưng dồn dập như những vụ vừa qua tại Việt Nam thì khiến tôi ngạc nhiên”.

“Tuy vậy, tôi loại trừ đấy là dấu hiệu các ngân hàng đối thủ chơi xấu để hạ uy tín lẫn nhau”.

‘Chưa có kinh nghiệm’

Tiến sĩ Hiếu cho biết thêm: “Qua những vụ khách hàng mất tiền, các ngân hàng cần có thái độ tích cực hơn mỗi khi tiếp nhận khiếu nại”.

“Họ không thể đẩy hết trách nhiệm cho khách hàng mà nên khẩn trương tiến hành điều tra vụ việc”.

AFP    Vietcombank là một trong các ngân hàng bị khách hàng khiếu kiện mất tiền trong tài khoản gần đây

“Một số ngân hàng không phản hồi kịp thời với khách hàng về các vụ khiếu nại mất tiền có thể là do họ chưa có kinh nghiệm xử lý tình huống khủng hoảng như vậy”, ông lý giải.

“Mặt khác, có thể thấy lãnh đạo, ban giám đốc các chi nhánh ngân hàng sợ trách nhiệm, do ở Việt Nam, các vụ thất thoát tiền thường bị hình sự hóa nên họ vội vàng quy lỗi cho khách hàng”.

“Theo tôi, cần có những giải pháp đồng bộ cho các vụ mất tiền trong tài khoản. Về phía ngân hàng, họ cần tăng cường đầu tư công nghệ thông tin, bảo mật thông tin và hệ thống phòng thủ”.

“Về phía khách hàng, cần cẩn thận hơn trong việc dùng thẻ và thanh toán online, cảnh giác khi đưa thông tin thẻ cho bên thứ ba”.

“Về phía cơ quan chức năng, cần điều tra rốt ráo các vụ mất tiền trong tài khoản ngân hàng, tiến hành những vụ xử công khai và có hình phạt thích đáng cho tội phạm lấy cắp thông tin hoặc gian lận”.

Cũng liên quan đến vụ việc, cựu Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Cao Sỹ Kiêm được báo Thanh Niên hôm 25/8 dẫn lời: “Nếu tiền bốc hơi mà không có chữ ký của khách hàng, ngân hàng phải trích từ quỹ rủi ro bồi thường trước, lỗi của ai sẽ làm rõ sau đó”.

Trong diễn biến mới nhất, một khách hàng tố bị mất 26 tỷ đồng trong tài khoản mở tại Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank).

“Vạ miệng”, sử gia trứ danh TQ Tư Mã Thiên bị thiến như hoạn qua

“Vạ miệng”, sử gia trứ danh TQ Tư Mã Thiên bị thiến như hoạn quan

 Trần Quỳnh

Tiếng thơm vang mãi đến ngàn đời sau nhưng sử gia trứ danh của Trung Quốc Tư Mã Thiên đã phải trải qua những năm cuối đời trong bi kịch khó tin.

"Vạ miệng", sử gia trứ danh TQ Tư Mã Thiên bị thiến như hoạn quan

Cách đây hơn 2000 năm, dưới thời nhà Tây Hán, Trung Hoa có một vị quan chép sử vô cùng lỗi lạc. Đó không ai khác chính là Tư Mã Thiên – tác giả của “Sử ký”.

Nhờ những đóng góp to lớn của mình, Tư Mã Thiên từng được mệnh danh là “ông tổ của nghề chép sử”, thậm chí còn được ví von là “sử gia sải bước qua nhiều thời đại”.

Nhưng ít ai biết rằng, vị sử gia lừng danh ấy lại là cái gai trong mắt Hoàng đế lúc bấy giờ, thậm chí bị biến thành thái giám chỉ vì… “vạ miệng”.

“Ông tổ” của nghề chép sử Trung Hoa

Tư Mã Thiên tự là Tử Thường (145 – 87 TCN), vốn là người huyện Long Môn (Hán Thành – Thiểm Tây – Trung Quốc) vào đời Hán Vũ Đế. Phụ thân ông là nhà văn nổi danh Tư Mã Đàm – người từng giữ chức Thái sử trong triều đình nhà Hán.

Tư Mã Thiên từ sớm đã bộc lộ vẻ thông minh trời phú, lại chuyên cần, chăm chỉ. Năm lên 10 tuổi, ông đã tinh thông cổ văn, tới năm 20 tuổi liền đi chu du khắp nước để nghiên cứu văn hóa, phong tục, địa lý, mở mang kiến thức về vùng miền.

Vạ miệng, sử gia trứ danh TQ Tư Mã Thiên bị thiến như hoạn quan - Ảnh 1.

Tư Mã Thiên từ sớm đã bộc lộ tài năng hơn người. (Tranh minh họa).

Năm 108 TCN, Tư Mã Đàm qua đời. Người cha này trước khi mất có để lại di huấn cho Tư Mã Thiên:

“Nếu cha có qua đời, con hãy nối tiếp chí cha để tâm vào việc soạn sử. Cái đạo hiếu của con người là phải thờ vua, thờ cha nhưng việc trọng yếu lớn hơn là phải làm một việc gì có ích cho đời, sau để cho cha mẹ được tiếng thơm lây …”

Trước đó, Tư Mã Thiên từng giữ chức Lang trung (hầu cận của vua). Sau này, ông nối chức Thái sử của cha mình, bắt đầu sắp xếp tài liệu và chuẩn bị cho công việc biên soạn “Sử ký”.

Tai họa bắt nguồn từ… “vạ miệng”

Sinh thời, Tư Mã Thiên không mấy thân thiết với Tướng quân Lý Lăng. Theo như lời của ông, thì mối quan hệ với Lý Lăng chỉ đơn giản là “đều ở dưới môn hạ chúa thượng, vốn cũng không quen thân nhau, chí hướng khác nhau, chưa từng nâng chén rượu, vui vẻ ân cần.”

Vậy nhưng, vị tướng quân này lại trở thành nguyên nhân chủ yếu khiến Tư Mã Thiên phải trở thành thái giám và sống trong khuất nhục tới lúc cuối đời.

Vạ miệng, sử gia trứ danh TQ Tư Mã Thiên bị thiến như hoạn quan - Ảnh 2.

Chân dung Hán Vũ Đế – ngươi coi Tư Mã Thiên như cái gai trong mắt. (Tranh minh họa).

Lúc bấy giờ, Hán triều đối mặt với sự xâm lấn của tộc Hung Nô ở vùng biên cương. Hán Vũ Đế trước tiên sai anh rể là Lý Quảng Lợi dẫn đầu đoàn quân chủ lực tiến đánh Hung Nô.

Tiếc thay thế địch quá mạnh, Lý Quảng Lợi bị bao vây, phải gửi viện binh về cầu cứu. Vũ Đế lại sai Lý Lăng dẫn đầu 5000 quân chi viện để giải cứu anh rể.

Con số 5000 này so với 8 vạn binh của Hung Nô chẳng khác nào lấy trứng chọi đá. Sau khi giải cứu thành công Lý Quảng Lợi, tới lượt Lý Lăng rơi vào tay địch.

Để bảo toàn lực lượng và chờ thời cơ, Lý Lăng thực hiện kế hoãn binh, vờ quy hàng Hung Nô. Chủ tướng của quân địch thấy vị tướng này khí chất hơn người, liền ngỏ ý muốn gả con gái cho Lý Lăng.

Tin này vừa về tới triều đình, Lý Lăng lập tức bị vu vạ trở thành phản đồ. Hán Vũ Đế hạ lệnh tru di cửu tộc nhà họ Lý. Quan lại trong triều ai ai cũng hùa theo ý Thiên tử, chẳng xét đúng sai, đổ mọi tội lỗi cho Lý Lăng, phủ sạch mọi công lao của Lý gia từ khi lập quốc.

Lúc bấy giờ, chỉ có mình Thái sử Tư Mã Thiên là lên thanh minh cho nỗi oan của vị tướng họ Lý.

Theo Tư Mã Thiên, “thân Lăng (chỉ Lý Lăng) tuy hãm vào cảnh thất bại nhưng xem ý ông ta là muốn lập công để báo ơn nhà Hán. Việc đã đành như thế rồi nhưng kể công đánh bại quân địch của ông ta, cũng đủ tỏ với thiên hạ.”

Hán Vũ Đế thấy vậy, cho rằng Tư Mã Thiên biện hộ cho Lý Lăng là có ý chê trách Lý Quảng Lợi (Lý Quảng Lợi là em sủng phi của Hán Vũ Đế), liền nổi giận : “Nhà ngươi dám bao che cho kẻ đã đầu hàng kẻ địch, chẳng phải là có ý chống lại triều đình?”

Vạ miệng, sử gia trứ danh TQ Tư Mã Thiên bị thiến như hoạn quan - Ảnh 3.

Chỉ vì một lời nói bênh vực Lý Lăng, Tư Mã Thiên bị Hán Vũ Đế tống ngục, giao cho đình úy thẩm vấn.

Thân là một quan chép sử trung thành với sự thật, bản thân Tư Mã Thiên từng nhiều lần thẳng tay vung bút ghi lại những tật xấu của nhà vua, khiến Vũ Đế từ sớm đã không vừa mắt. Bởi vậy, vụ việc của Lý Lăng trở thành một cái cớ hoàn hảo để Vũ Đế “xử đẹp” vị quan này.

Bị khép vào tội “coi thường nhà vua”, Tư Mã Thiên vốn phải nhận án tử hình. Ông chỉ có đường sống nếu như đủ tiền chuộc mạng hoặc chịu án cung hình (thiến).

Chưa hoàn thành di huấn của người cha năm xưa, Tư Mã Thiên không đành lòng chịu chết. Nhưng tiền bạc trong nhà xoay sở thế nào cũng không đủ, ông đành phải chịu án cung hình.

Chết thảm trong ngục vì “đụng chạm” Hoàng đế

Vì di huấn của cha và cũng vì khát khao lưu lại thành tựu cho hậu thế, vị quan chép sử này can đảm nhận lấy hình phạt, kiên nhẫn nằm trong ngục tù, dùng những ngày tháng sau đó để hoàn thành tác phẩm để đời là “Sử ký”.

Nhưng ngay cả khi đã bị tước đi quyền lợi của một người đàn ông, sử gia tài ba này vẫn bị Hán Vũ Đế tìm cách hạch sách.

Vạ miệng, sử gia trứ danh TQ Tư Mã Thiên bị thiến như hoạn quan - Ảnh 4.

Trở thành một thái giám là điều sỉ nhục ghê gớm đối với tài năng và lòng tự trọng của Tư Mã Thiên. (Ảnh minh họa).

Trong “thư trả lời Nhâm An”, Tư Mã Thiên từng đề cập tới “chúa thượng” – tức Hán Vũ Đế:

“Ông cha tôi không có công được chẻ phù phong tước, viết chữ son để lại, nghề viết văn, viết sử, xem sao, xem lịch thì cũng gần với bọn thầy bói thầy cúng. Chúa thượng vẫn đùa bỡn, nuôi như bọn con hát, còn thế lực thì vẫn coi thường .”

Hán Vũ Đế vin vào bức thư này, cho rằng Tư Mã Thiên có ý hạ thấp Thiên tử, cố ý khép ông vào tội đại nghịch bất đạo. Tư Mã Thiên bị nhà vua bỏ ngục lần thứ hai, chịu đủ mọi nhục hình rồi qua đời trong lao tù.

Cho tới nay, người ta vẫn không rõ Tư Mã Thiên qua đời năm nào. Chỉ biết rằng, bút tích cuối của ông là “thư trả lời Nhâm An” được viết vào năm sử gia này 53 tuổi.

Theo Vương Quốc Duy trong “Thái sử công hành niên khảo”, Tư Mã Thiên qua đời ở độ tuổi 60.

Là một nhân tài lỗi lạc với những cống hiến để đời cho hậu thế, nhưng Tư Mã Thiên cuối cùng vẫn phải nhận một kết cục bi thảm chỉ vì “không vừa mắt Hoàng đế”.

Căn bệnh hiểm nghèo

Căn bệnh hiểm nghèo

Có một vị phú ông giàu có mặc dù tuổi chưa cao nhưng lại mắc phải một căn bệnh hiểm nghèo. Ông cảm nhậnđược rằng bản thân mình không còn ở lại nhân gian được bao lâu nữa nên trong lòng vô cùng thống khổ, sợ hãi.

Một thời gian sau, ông tìm đến một vị đạo sĩ cao tuổi sống ẩn cư trên một ngôi chùa cổ. Vị đạo sĩ sau khi nghe phú ông giãi bày, liền nói: “Bệnh này của thí chủ, ngoại trừ một phương pháp này ra thì không thuốc nào có thể chữa trị được. Ta sẽ cho thí chủ ba phong thư, bên trong là ba thang thuốc. Thí chủ về nhà mở từng thang thuốc ra và làm theo, làm xong thang thứ nhất thì mở tiếp thang thứ hai và làm theo lời chỉ dẫn trong đó.”

Phú ông giàu có vui vẻ cảm tạ vị sư già rồi ra về.

Về đến nhà, phú ông liền mở phong thư đựng thang thuốc thứ nhất ra. Ông bất ngờ, bởi bên trong chỉ vẻn vẹn là một dòng chữ: “Thí chủ hãy đến bờ biển trong 21 ngày và mỗi ngày nằm trên bãi cát đó 30 phút!”

Phú ông đọc xong, trong lòng nửa tin nửa ngờ, nhưng vì không còn cách nào khác nên đành làm theo lời chỉ dẫn. Kết quả là mỗi ngày ông đều nằm trên bãi biển đó hơn hai giờ đồng hồ. Lúc này, ông chợt hiểu ra rằng, mỗi ngày trước đây của ông đều trôi qua trong bộn bề công việc, tìm kiếm tiền bạc và danh vọng. Ông nào có thời gian nằm nghe sóng vỗ, nghe tiếng chim hải âu như thế này. Trong lòng ông cảm thấy vô cùng khoan khoái và thoải mái.

Sang ngày thứ 22, phú ông lại mở tiếp thang thuốc thứ hai ra và thấy trên đó viết: “Thí chủ hãy tìm 5 con cá hoặc con sò trên bãi cát và thả chúng về biển, liên tục trong 21 ngày.” Vị phú ông trong lòng tràn đầy hoài nghi nhưng vẫn kiên trì làm theo lời chỉ dạy. Hàng ngày ông đều tìm được những chú cá con hay tôm nhỏ bị dạt vào bờ và thả chúng về với biển. Mặc dù không hiểu lý do của việc làm này nhưng trong lòng ông không khỏi cảm động khi nhìn chúng quẫy đuôi bơi vào biển sâu.

Ngày 43 vừa tới, phú ông mở thang thuốc thứ ba ra và chăm chú đọc dòng chữ viết trên đó: “Thí chủ hãy tìm một cành cây, rồi viết lên cát những oán hận và bất mãn của mình lên đó!” Phú ông mỗi ngày đều viết những oán hận và bất mãn của mình lên bờ

cát, nhưng chẳng bao lâu thì sóng biển lại dâng cao và cuốn những dòng chữ mà ông viết trên cát ấy đi. Vị phú ông đột nhiên hiểu ra một điều gì đó và ông bật khóc.

Chẳng bao lâu sau, phú ông trở về nhà với cảm nhận toàn thân khoan khoái, thực sự nhẹ nhàng và tự tại, thậm chí lúc này ông còn quên hết nỗi sợ hãi về cái chết như trước đây.

Phú ông lại tìm đến vị đạo sĩ để tạ ơn. Vị đạo sĩ mỉm cười và nói: “Thí chủ có biết không? Nguyên lai, con người ta bởi vì không học được ba việc cho nên luôn cảm thấy không khoái hoạt, hạnh phúc!”

Phú ông hỏi lại vị đạo sĩ: “Thỉnh ngài chỉ rõ, đó là ba việc gì?”

Vị đạo sĩ nhìn vào khoảng không trước mặt và nói:

“Đó chính là người ta bị cuốn vào vòng xoáy danh lợi, tiền bạc mà quên mất nghỉ ngơi. 

Thứ hai, phải biết cho đi, phó xuất đi thì người ta mới nhận lại được hạnh phúc. 

Thứ ba, sống trên đời phải biết buông bỏ, đừng giữ khăng khăng những điều không nên giữ như tâm oán hận, bất mãn…”

Tham lam chính là một loại độc dược, dục vọng, ham muốn của con người luôn là không có điểm dừng. Khi người ta có cuộc sống ổn định rồi, lại có tâm muốn truy cầu sự nhàn nhã, có cuộc sống nhàn nhã rồi lại muốn được hưởng thụ những vật phẩm xa xỉ. Chỉ cần lòng tham, ham muốn của con ngời không có điểm dừng là con người mãi mãi không thể thực sự vui vẻ, hạnh phúc. Chúng ta thường nghe câu triết lý nhân sinh rằng, người biết đủ, biết hài lòng thường vui vẻ khoái hoạt.

Quý trọng hết thảy những điều mà bạn đang có trong hiện tại, bạn sẽ phát hiện ra rằng, mình đang là người giàu có nhất!

Mai Trà biên dịch ( ĐKN )

 Chị Helen Hương Nguyễn gởi