httpv://www.youtube.com/watch?v=iGSR0AP7F_k
Bài giảng Cha Toàn – Thiên Đàng Và Địa Giới – Bài giảng hay nhất của Cha Toàn

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
httpv://www.youtube.com/watch?v=iGSR0AP7F_k
Bài giảng Cha Toàn – Thiên Đàng Và Địa Giới – Bài giảng hay nhất của Cha Toàn
“HÃY MỜI NHỮNG NGƯỜI NGHÈO KHÓ, TÀN TẬT, QUÈ QUẶT, ĐUI MÙ…”
Lm. LÊ QUANG UY, DCCT,
Trích EPHATA 708
Hôm nay, đúng vào Chúa Nhật Giáo Hội mở ra Năm Thánh Thể, tôi được dự một bữa tiệc Thánh
Thể nhớ đời ! Hơn hai mươi năm trước, mấy anh em trẻ Nhóm Mai Khôi chúng tôi một hôm chia sẻ Lời Chúa bất ngờ gặp phải đoạn Lc 14, 12 – 14:
“Đức Giêsu nói với kẻ đã mời Người rằng: “Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng kêu bạn bè, anh em, hay bà con, hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi. Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc: vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại”
Hồi đó, chỉ ngồi vòng tròn chia sẻ với nhau được những cảm nghiệm chung chung vậy thôi, chứ đem ra thực hành, sống cụ thể từng câu từng chữ đoạn Lời Chúa này một cách sát sườn theo kiểu thầy Phanxicô nghèo khó đã từng sống mười mấy thế kỷ trước, thì cánh trẻ Giáo Dân chúng tôi xin thú thật là… chịu thua ! Cũng dễ hiểu là vì dạo ấy ai cũng nghèo, giữ được một chân công nhân viên Nhà Nước ăn gạo bao cấp đã là may, lo mà “lao động là vinh quang, lang thang là… chết đói”, còn hơi sức đâu mà nghĩ đến chuyện đãi đằng thù tạc ?!?
Thế rồi thời gian cứ trôi qua vùn vụt, nay bản thân tôi đã là Linh Mục được hơn 6 năm, thi thoảng lại chạnh lòng nhớ chuyện xưa rồi nghiệm với chuyện nay, tự dưng thấy ngường ngượng làm sao ấy. Mình tu DCCT là một Dòng đi với người nghèo, luôn miệng nói về người nghèo mà sao vẫn cứ… chẳng thấy nghèo tí nào ! Lâu lâu có dịp vui trong Dòng, mừng một vị Thánh nào đó, hoặc tạ ơn với các tân khấn, tân chức, kim ngân khánh v.v…, lễ xong thì đương nhiên cũng phải có lạc, dù tiệc tùng chẳng sa hoa tốn kém quá đáng, nhưng ăn uống nhộn nhịp xong, về phòng phải nằm nghỉ cho đỡ mệt vì ăn quá no, cười quá nhiều, ngẫm nghĩ lại thấy canh cánh một trăn trở. Nhìn tới nhìn lui trong bàn tiệc, thấy toàn là các Đức Cha, các Cha, các Soeurs, các Thầy, các ân nhân và những người quen biết gần xa, đạo cao đức trọng, súng sính áo Dòng hoặc veston, soirée, ai cũng đẹp, ai cũng sang ! Đâu rồi người nghèo ? Đâu rồi những người bị dạt sang một bên trong xã hội, chìm vào bóng tối quên lãng ?
Có lần tôi với cha Khởi Phụng và cha Tiến Lộc đem câu Lời Chúa nói trên đề nghị với Bề Trên một Dòng Nữ thuộc vào hàng nổi tiếng sống nghèo. Các chị thấy hay quá, đúng quá, nhưng không biết xoay trở ra sao. Đành cứ phải mời cho đủ các Đức Cha, các Cha, đại diện các Dòng Nam Nữ, và đương nhiên là ân nhân thân hữu, không dám quên sót ai, sợ phật lòng. Mà đã có các Đấng các Bậc cỡ đó thì đương nhiên tiệc tùng phải thịnh soạn linh đình, không thôi người ta cười cho, không đáng mặt một Nhà Dòng tổ chức kỷ niệm bao nhiêu năm hiện diện tại Việt Nam. Bữa tiệc hôm ấy, không hiểu có phải tôi trót chủ quan chăng, thấy các chị lạc lõng lúng túng một cách đáng thương giữa những chuyện dựng rạp ăn uống văn nghệ xôm trò như thế ! Mấy tuần sau có dịp trở lại thăm Nhà Dòng, nói chuyện mới thấy dư âm ngày vui ấy chẳng còn
lại gì, may mà các chị vẫn giữ được cung cách nghèo.
Đang định đợi đến dịp 2005 DCCT kỷ niệm 80 năm có mặt ở Việt Nam, anh em chúng tôi đánh bạo đề nghị với Bề Trên của mình xem sao, thì không ngờ năm nay Nữ Đan Viện Biển Đức ( Bénédictine) lại mừng 50 năm. Mới ngỏ ý sơ qua, chị Bề Trên Tố Hương chịu ngay, lại thấy vui vẻ hăng hái ra mặt, coi bộ còn hào hứng phấn khởi hơn cả bữa tiệc đãi Đức Hồng Y, các Linh Mục, Tu Sĩ đại diện các Dòng Nam Nữ tổ chức vào sáng thứ bảy hôm qua. Cả Dòng Biển Đức hơn 60 chị già trẻ được huy động để chuẩn bị thật chu đáo. Bản thân tôi được các chị ân cần nhờ đứng ra mời… ( xin lỗi, dùng nguyên văn Lời Chúa hơi bị thẳng thừng chói tai một chút ) toàn là những anh chị em “nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù”, còn thêm cả các em câm điếc, mồ côi cơ nhỡ nữa chứ ! Ngày vui ấy đã đến trong sự nao nức của cả đôi bên: người mời lẫn kẻ được mời. Sáng hôm nay, Chúa Nhật 31.10.2004, lũ lượt những Gia Đình, những Nhóm, những Mái Ấm người khuyết tật đổ về một góc nhỏ sát bên cảnh chợ đời Thủ Đức, làm xôn xao khu vườn lâu nay thanh vắng tịch mịch chỉ dành riêng cho khách Tịnh Tâm.
Bàn Thờ thay vì đặt trên bục cao, đã được dời xuống cho gần sát bên những hàng xe lăn xe lắc.
Anh em DCCT được dịp “đổ quân” về đồng tế: cha Hữu Phú, cha Văn Quang, cha Thanh Bích, tôi, thầy sáu Xô Băng, thêm một lô các thầy Học Viện áo Dòng đen cổ trắng thắt chuỗi chỉnh tề. Những chiếc áo dài Biển Đức màu cà-phê sữa hiền hòa nhu mì ngồi hẳn một cánh, còn lại là hàng trăm anh chị em và các cháu khuyết tật. Bài ca nhập lễ được cất lên trong tiếng đàn của một em khiếm thị Mái Ấm Thiên Ân:
“Lạy Chúa, chúng con về từ bốn phương trời…”
Bài đọc sách Khôn Ngoan do Phước, tay organ khiếm thị, đọc bằng những đầu ngón tay lướt nhanh nhẹ nhàng trên những hàng chữ Braille. Câu đáp “Nguồn ánh sáng và Ơn Cứu Độ của tôi chính là Chúa, Halleluia” được chọn hát vào giờ chót, tuy không đúng với Thánh Vịnh hôm nay, nhưng sao lại khớp đến thế với tâm tình, với bầu khí hiện tại, bởi không ai có thể phủ nhận rằng những con người đã mất đôi mắt, đã chẳng còn thấy được ánh sáng cuộc đời này, lại được Chúa âu yếm tặng cho một đôi mắt của tâm linh xem ra tỏ tường hơn nhiều những đôi mắt người bình thường chúng ta ! Bài đọc Thánh Thư Thêxalônica bị chậm lại một chút vì chị Thủy, một Tân Tòng bại liệt của Gia Đình Emmanuel gắng gượng mãi mới chống nạng được tới giảng đài. Giọng chị cất lên lanh lảnh đầy xác tín:
“Danh của Chúa chúng ta là Đức Giêsu, sẽ được tôn vinh nơi anh em, và anh em được tôn vinh nơi Người…” Vâng, hôm nay đã ứng nghiệm lời Thánh Phaolô, Thiên Chúa không chỉ là sẽ, mà là đã và đang được tôn vinh nơi nghị lực vượt thắng số phận nghiệt ngã của những anh chị em khuyết tật. Hóa ra họ bị tật mà không hề bị khuyết, họ tràn đầy “ân sủng của Thiên Chúa chúng ta” ! Sau khi thầy sáu Xô Băng công bố Tin Mừng, lần lượt mỗi cha đồng tế đều ngỏ lời với cộng đoàn, mỗi người một ý, xoay quanh chuyện ông Dakêu được Chúa gọi đích danh mà đổi đời… Không còn là những mẩu bài giảng ngăn ngắn nữa, mà là những lời bộc bạch thật thà… Cha Thanh Bích kết thúc ngắn gọn: “Xin cám ơn anh chị em khuyết tật, hôm nay, chính chúng tôi lại được nhận quá nhiều…”
Nhìn xuống những hàng xe lăn, tôi bắt gặp những ánh mắt rưng rưng, nếu còn thời gian cho anh chị em khuyết tật lên tiếng, không khéo họ lại cũng nói: “Xin cám ơn các cha các thầy, xin cám ơn các soeurs Biển Đức, chúng con đâu có phải là bạn bè, anh em, hay bà con, Lễ càng chẳng phải là ân nhân, là láng giềng giàu có của Nhà Dòng, chúng con cũng đâu có gì để đáp lễ Nhà Dòng, chúng con chỉ là những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù, câm điếc, mồ côi cơ nhỡ… vậy mà sao chúng con lại được mời đến đây như thế này ?”
Đến phần Kinh Lạy Cha, mười lăm chiếc áo xanh các em khiếm thính trường Thuận An, Lái Thiêu, của mẹ Nhiệm, dì Ngọc Lan, Dòng Saint Paul, tiến lên bục cao chếch phía sau bàn thờ.
Đang khi cộng đoàn cố gắng kềm chậm lại tốc độ đọc Kinh Lạy Cha vẫn quen ào ào đều đều trong các Thánh Lễ lâu nay, thì các em bắt đầu… múa ! Vâng, múa Kinh Lạy Cha ! Em nào còn phát âm được thì vừa múa các cử điệu vừa vươn cổ, vận dụng hết độ rung dây thanh quản để ú ớ thật rập ràng: “Lạy Cha chúng con ở trên Trời… Xin Cha cho chúng con hôm nay…”
Không kềm được nữa rồi, tôi trào nước mắt, cha già Hữu Phú run run nghẹn ngào, các soeurs, cả những anh chị em ngồi xe lăn, cả các bạn sinh viên tình nguyện cũng bật khóc ! Chúa ơi ! Chúa nghe rõ tiếng các em đấy chữ ? Chúa hiểu hết lòng các em đấy chứ ? Thế này thì từ nay, chúng con, những người không bị câm, những người vẫn tự hào có tiếng có tiếng, có giọng hay ho, nhất là cánh Tu Sĩ Linh Mục chúng con, sẽ chẳng còn dám khơi khơi đọc Kinh Lạy Cha như một
cái máy vô cảm. Chúng con đã hiểu đây đâu có phải là một câu kinh để đọc rổn rảng qua loa, mà là một lời khẩn nguyện Thiên Chúa là Cha của chúng con hẳn hoi !
Rước Lễ cũng đặc biệt, các cha các thầy phải len lỏi giữa những vòng bánh xe lăn, những chiếc
giường di động, những cặp nạng ngổn ngang, những bàn tay cụt ngón, những đôi mắt đeo kính đen, để trao Mình Thánh Chúa cho từng anh chị em khuyết tật giữa tiếng hát Kinh Hòa Bình: “Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ Bình An của Chúa,… để con rọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu…”
Đi trao Mình Thánh Chúa, các cha các thầy chúng tôi mới khám phá hôm nay có không ít những
anh chị em không phải là Công Giáo. Họ đến đây đâu phải vì tò mò hay để được phát chẩn, họ đến trước hết là vì được ân cần trân trọng, cho dù các Soeurs Biển Đức chẳng tốn một đồng xu để làm các thiệp mời giấy lụa, kế nữa, quan trọng hơn, họ đến vì mang máng đoán biết sẽ có cơ may làm quen với một người Thầy, người Bạn Chân Tình là… Giêsu.
Đến phiên các chị Biển Đức cất lên bài ca Tạ Ơn 50 năm hết sức mộc mạc dung dị. Từng lời hát,
từng nét nhạc không đệm đàn, không hề được luyện thanh điêu luyện cho nó xứng tầm những dịp long trọng thế này, vậy mà cứ vút cao, vút cao, len giữa những mái tranh, đong đưa với những ngọn tre, rồi lại như xà xuống, lay động cả những cánh cỏ xanh và những viên sỏi nhỏ trên lối đi quanh co…
Kết thúc là “Mẹ ơi, đời con dõi bước theo Mẹ…” Ừ nhỉ, sẽ luôn có Mẹ dắt đoàn mù chúng con bám vai nhau rồng rắn vào đời, sẽ luôn có Mẹ cùng bập bẹ ú ớ với chúng con bài ca Magnificat, sẽ có Mẹ đẩy phía sau những chiếc xe lăn chở đầy Tin Vui đến thăm mọi người ! Đúng là sau lễ thì cũng vẫn cứ phải có lạc, nhưng hôm nay, ở đây không có súp măng cua, không có bát bửu, không có bánh hỏi thịt quay, không có những tiếng dzô dzô dị hợm của bia bọt, không có những tiếng đập bao khăn mặt lốp bốp như pháo, không có những lời chúc tụng sáo rỗng đến tội nghiệp ! Chỉ là cơm canh xào nấu đời thường, y như ở nhà, chỉ khác là đông quá, vui quá đi thôi. Văn nghệ dã chiến thì hấp dẫn vô cùng, khiến chẳng ai còn mải nói chuyện riêng ồn ào, quên cả lia đũa để trố mắt dỏng tay nghe các em Mái Ấm Huynh Đệ Như Nghĩa của các dì Phan Sinh hát. Chú “Dakêu” Y Beo người Bahnar đeo kính đen biểu diễn nổ máy xe lam bằng miệng,
nghe thầy Phong, cô Hải cùng đệ tử Thiên Ân giới thiệu: “Ở Mái Ấm của chúng tôi, niềm vui nhân gấp đôi”, nghe Gia Đình Halleluia làm cử điệu hát vang: “Ta chỉ có một Chúa trên Trời là Cha, ta chỉ có một Đức Kitô là Thầy, còn chúng ta là anh em !”
Ở đầu bài viết này, tôi đã có nhắc đến hôm nay Giáo Hội đã mở đầu một Năm Thánh của Bí Tích
Thánh Thể. Và tôi đã tâm sự rằng mình được dự một bữa tiệc Thánh Thể nhớ đời! Tôi không quá lời mà cường điệu đâu. Anh em trẻ trong Học Viện DCCT chúng tôi đã từng được cha già Hữu Phú dạy môn Phụng Vụ truyền cho cái diệu cảm về Thánh Lễ, thì hôm nay đây, chúng tôi
cảm được cái diệu của một bữa tiệc do Chúa thết đãi là thế nào. Với Thánh Lễ, qua Thánh Lễ, Chúa dọn ra cho chúng ta một đại tiệc thịnh soạn với hai món vô giá là Lời và Mình Máu
của Giêsu, con trai yêu dấu của Người. Nói hai chứ chỉ là một, Lời và Mình Máu đều là Sự Sống Thần Linh từ Thiên Chúa đem xuống mời con người chúng ta thưởng thức, nhận lấy làm lương thực nuôi cuộc đời mình, thậm chí, dùng làm toa thuốc chữa trị những căn bệnh tưởng là nan y trầm kha. Nghe no, ăn no, uống no rồi, Chúa Cha không để yên cho đàn con ngồi đó chơi không, Người muốn chúng ta về lại đời, vào lại đời, đến phiên mình cũng phải mở tiệc thết đãi anh chị em của mình bằng chính thực đơn Sự Sống mình đã được hưởng dùng miễn phí. Cái
câu “Ite… Go… Allez… Hãy đi…” ở cuối Thánh Lễ như một lời Sai Đi mới thấm thía quá chừng ! Nhất là trong
bối cảnh Năm Thánh Truyền Giáo của Việt Nam 2004 đã sắp mãn..,
Tạ ơn Chúa Giêsu với lời nhắn gửi sát sườn: “Hãy nhớ mời những người nghèo khó, tàn tật, què
quặt, đui mù…” Cám ơn các chị Biển Đức đã đi tiên phong mở đường để chúng ta có quyền hy vọng sẽ có nhiều Giáo Xứ, nhiều Dòng Tu, trong đó có cả DCCT chúng tôi, nhiều cộng đoàn, nhiều gia đình Kitô hữu cũng biết mở tiệc “mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù…”, không chỉ đến ăn cơm canh xào nấu, mà còn hơn thế nữa, mời dự tiệc Lời và Mình Máu Giêsu. Ngẫm nghĩ thấy lo lo. Bởi năm nay 2004 sắp qua, năm tới 2005 sắp đến, chắc chắn có rất nhiều Giáo Xứ gốc dân di cư, nhiều Dòng Tu sẽ kỷ niệm 50 năm chào đời. Sẽ liên tục tiệc tùng linh đình hai ba ngày liền sau những Thánh Lễ Tạ Ơn. Chẳng ai có quyền ngăn cản cấm đoán chuyện ăn uống, nhưng e rằng tìm mỏi mắt mà không thấy Chúa đâu giữa sơn hào hải vị thơm
phức và bia bọt lênh láng ! Thôi, bài viết đã miên man lê thê lắm rồi, xin được kết bằng lời Kinh Nguyện cùng Thánh Biển Đức mà các chị đã in trên mẫu ảnh kỷ niệm tặng kèm một xâu chuỗi Mai Khôi xinh xinh mười hạt:
“Lạy Thánh Tổ Biển Đức, năm xưa dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Linh, ngài đã đi vào sa mạc Subiaco để chỉ tìm một mình Thiên Chúa. Xin ngài cầu giúp chúng con biết đi vào nội tâm, để nhờ Chúa Thánh Thần và Lòng Tin Cậy Mến, chúng con cảm nếm được sự ngọt ngào của Tình Yêu Thiên Chúa. Ước gì, một khi tâm hồn chúng con trở nên rỗng không, chúng con được đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô: gương mẫu Khiết Tịnh, Khó Nghèo và Vâng Phục.
Nhờ đó, Ơn Gọi Cứu Thế của chúng con làm nảy sinh nhiều hoa quả cho Hội Thánh và cho mọi
người, hầu tất cả đều nhận biết, mến yêu và làm vinh danh Chúa Cha hơn. Amen. Halleluia”.
Lm. LÊ QUANG UY, DCCT,
Chúa Nhật 31.10.2004
httpv://www.youtube.com/watch?v=wPPEhOhyce4
CẦU XIN BÌNH AN CHO QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU
+ Gm. GB Bùi Tuần
Dân tộc tôi trên Đất Nước tôi luôn sống động. Đồng bào tôi mỗi ngày mỗi lên đường. Tất cả đều đi trong lịch sử. Lịch sử là rất phức tạp. Có ánh sáng và cũng có bóng tối. Có leo lên và cũng có trượt xuống. Có nụ cười và cũng có nước mắt. Có xây dựng và cũng có tan vỡ. Chúa cho tôi chút khả năng biết đón nhận vào lòng mình những gì là thảm cảnh của cuộc sống con người hôm nay. Tôi đau cái đau của đồng bào tôi.
Những ngày này, hơn bao giờ hết, Chúa dạy tôi hãy cầu nguyện nhiều hơn cho Quê Hương tôi được sự Bình an.
Tôi nhận biết mình có quá nhiều giới hạn. Nhưng Chúa dạy, thì tôi xin vâng thực thi những gì Chúa muốn nơi tôi.
Ở đây, tôi xin được chia sẻ vắn tắt vài điều quan trọng, mà Chúa dạy tôi làm, để góp phần vào Bình an cho đất nước Việt Nam yêu dấu của tôi.
Tất cả các việc này đều dựa vào gương Đức Mẹ Maria.
Cầu nguyện nói đây là sự gặp gỡ thinh lặng trong trái tim với Chúa.
Khi gặp gỡ thinh lặng trong trái tim với Chúa, tôi cảm thấy một khát vọng được sinh lại, được đổi mới nhờ Chúa Thánh Thần. Và thực sự, Chúa Thánh Thần ngự đến. Người hiện diện. Người sắp xếp nội tâm tôi. Người cho thấy con đường tôi phải đi. Người cho tôi một trái tim như rất mới, để tôi biết yêu thương như Đức Mẹ xưa.
Chúa không dạy tôi là ưu tiên phải rao giảng Lời Chúa. Đức Mẹ xưa đã rất chăm chú lắng nghe Lời Chúa, và suy gẫm Lời Chúa.
Khi tôi chăm chú lắng nghe Lời Chúa, tôi mới thấy rõ ơn gọi của tôi là kho tàng ở cõi đời đời.
Kho tàng đó là Tám Mối Phúc và thánh giá Chúa Giêsu.
Khi tôi dấn thân phục vụ với tâm hồn bình an vui vẻ, tôi thấy gương Đức Mẹ xưa. Mẹ nhận thức mình là thiểu số, và là thiểu số rất nghèo. Nhưng Mẹ coi chính sự nghèo khó của thiểu số đó lại có khả năng đem lại bình an cho những người xung quanh. Nhờ Mẹ có Chúa ở cùng Mẹ. Do vậy, Mẹ không có tham vọng làm những chuyện bành trướng, chinh phục đấu tranh, lôi kéo ồn ào.
7. Ba việc trên đây đòi tôi phảicó sự tập luyện về phấn đấu nội tâm.
Phấn đấu đó được nói lên trong kinh Hoà Bình của thánh Phanxicô: “Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người”.
Có những câu rất đẹp, như:
“Đem yêu thương vào nơi oán thù.
“Đem thứ tha vào nơi lăng nhục.
“Đem an hoà vào nơi tranh chấp.
“Đem chân lý vào chốn lỗi lầm”.
Hãy lấy sự thiện mà đẩy lùi sự ác. Hãy lấy yêu thương mà đẩy lùi ghen ghét. Hãy đề cao lòng thương xót Chúa hơn là nhấn mạnh đến vai trò của tội lỗi.
Thật vậy, sẽ tới những ngày quân thù đắp luỹ chung quanh, bao vây và công hãm ngươi tư bề. Chúng sẽ đè bẹp ngươi và con cái ngươi đang ở giữa ngươi, và sẽ không để hòn đá nào trên hòn đá nào. Vì ngươi đã không nhận biết thời giờ ngươi được Thiên Chúa viếng thăm” (Lc 19,41-44).
Tại Việt Nam, Đức Mẹ cũng đã và đang dùng nhiều cách để kêu gọi sự hoán cải đời sống. Đó là con đường dẫn tới Bình an.
Long Xuyên, ngày 18.8.2016
+ Gm. GB Bùi Tuần
Từ: vongtaysongnguyen
Chuyện bên Mỹ :Bà mẹ 5 con đeo lon Đại tá
Vào truyện:
Suốt bao năm qua, chúng tôi vẫn viết bài và kể truyện hầu quý vị.
Ngày xưa vào thời trung cổ bên Âu châu, khi con người chưa có giấy bút sách vở, những câu chuyện đời thường được truyền tụng ra sao? Có những chàng nghệ sĩ lang thang trên đường du mục. Đi từ nơi này qua nơi khác, chỉ chuyên nghề kể chuyện. Vừa kiếm ăn vừa tìm tài liệu và sắp xếp thành các đề tài kể chuyện giúp vui cho dân gian. Người ta gọi đó là người kể chuyện. Storytelling.
Nếu tôi sống vào thời gian đó và ở không gian đó. Tôi cũng có thể là một Storytelling. Hay dở còn tùy người đối diện…
Colonel MIMI PHAN
Hôm nay tôi kể cho quý vị câu chuyện về một bà mẹ đeo lon Đại tá của Quân đội Hoa Kỳ. Đặc biệt đây lại là bà mẹ Việt Nam. Nói đến Quân đội là thiên hạ ngưỡng mộ các chiến sĩ oai hùng. Nếu là nữ lưu thì phải kể đến cô Đại úy phi công phản lực trên chiến trường Trung Đông. Bà Thiếu tá chỉ huy dàn đại bác trên chiến hạm hay các nữ chiến binh Thủy quân Lục chiến hoặc Nhảy dù.
Nhưng đây là câu chuyện hết sức đời thường của một bà mẹ Việt Nam vừa đeo trên vai hình con chim ưng vĩ đại với cấp bậc Đại tá Quân lực Hoa Kỳ, thuộc một binh chủng có truyền thống lịch sử nhưng lại không phổ biến rộng rãi. Câu chuyện như thế này.
60 năm di cư.
Ngày 20 tháng 7 năm 2014 chúng tôi tổ chức kỷ niệm 60 năm của một triệu người di cư từ Bắc vào Nam. Một phái đoàn rất mới mẻ và oai hùng của các quân nhân Mỹ gốc Việt từ Washington DC về tham dự. Một thiện nguyện viên của IRCC là cô Thanh Nga đã mời các sĩ quan và chiến binh của hội VAUSA, đây là tên gọi tắt của Vietnamese America Uniform Services Association. Hội của những người Mỹ gốc Việt phục vụ với quân phục.
Các Trung tá Công binh Cao Nguyên, Trung tá Hải quân Phạm Tuấn và Trung tá Mimi Phan của ngành Y tế công cộng đã có mặt cùng nhiều chiến binh gồm các binh chủng. Bà con ta ở San Jose lần đầu tiên gặp một phụ nữ trẻ đang mang bầu. Cô tên là Mimi, đã có 2 con ruột và 2 con nuôi. Chuẩn bị sanh thêm một em bé. Rõ r àng đây là một bà mẹ chứ không phải là một chiến binh. Tiếng Việt Cô nói hết sức lưu loát.
Tân đại tá Mimi Phan, Dược sĩ đoàn y tế công cộng Hoa Kỳ, “hình chụp khi còn mang cấp trung tá” (United States Public Health Service Commissioned Corps). Photo: vausa.
Năm tháng sau, chúng tôi có dịp tham dự một chương trình gây quỹ cho IRCC và VAUSA tại NAPA. Lần này cô Mimi đại diện anh chị em chiến binh Hoa Kỳ gốc Việt đã đọc một bài diễn văn tuyệt vời chinh phục toàn thể cử tọa Mỹ. Câu chuyện tạm ngưng vào cuối năm 2014 với hình ảnh bà mẹ Việt Nam trẻ trung của quân đội Mỹ. Chúng tôi thực sự cũng không biết người phụ nữ Việt Nam với 3 con ruột và 2 còn nuôi đã làm công việc gì trong quân đội.
VAUSA.
Đầu năm 2016 lại được tin là Cộng đồng chúng ta có thêm đến 2 vị Chuẩn tướng Hoa Kỳ. Như vậy trước sau chúng ta có 3 vị tướng một sao trong Quân lực. Cả 3 vị đều là Hội viên danh dự của VAUSA. Hội trưởng cũ là Trung tá Công binh Nguyễn Cao Nguyên cho biết đã mãn nhiệm kỳ và Tân hội trường là Trung tá Mimi Phan. Đây chính là bà mẹ trẻ rất Việt Nam mà chúng ta đã gặp ở San Jose hai năm về trước.
VAUSA là một hội đoàn kết nạp các chiến binh tại ngũ và gồm cả các cựu chiến binh gốc Việt trong Quân lực Hoa Kỳ. Hội đã khởi sự thành hình từ năm 2007 trên chiến trường Trung Đông và được chính thức từ 2014 với hàng ngàn hội viên và sẽ mở rộng cho toàn thể các chiến binh gốc Việt. Không ai có thể ngờ rằng hội viên bao gồm các tướng lãnh, nhiều đại tá nam nữ và có cả các chiến sĩ chuyên viên trên 30 năm quân vụ. Hội trưởng ngày nay là bà mẹ Việt Nam, tư gia của cô là nơi liên lạc của các chiến sĩ Hội viên từ bốn phương vẫn ghé lại thường xuyên. Nhưng câu chuyện của cô hội trưởng chưa thể chấm dứt ở đây. Vì tháng 8 vừa qua, danh sách Quốc hội Hoa Kỳ thông qua đã có tên Trung tá Mimi Phan được đặc cách thăng cấp Đại tá. Chúng tôi bèn hỏi chuyện xem cuộc đời binh nghiệp của Mimi ra sao.
Chuyện bà mẹ Việt Nam thăng cấp Đại tá.
Ngày 30 tháng tư 1975, cô bé con của Thiếu tá Hải quân Phan Hữu Niệm chưa được 2 tuổi. Mimi nói, cháu mới có 22 tháng. Câu chuyện của bác Giao Chỉ nói qua máy viễn liên trên đường đại tá Phan lái xe về nhà một buổi chiều. Những kỷ niệm xưa toàn là nghe kể lại. Bố cháu là Sĩ quan Hải quân nên đã có phương tiện đưa cả nhà ra đi.
Mẹ kể lại rằng đi thì được rồi nhưng bố quyết định quay về đón bà nội. Nếu nội không đi thì cũng từ biệt bà lần chót. Nhưng cả nhà chưa gặp bà thì bố cháu đã bị bắt.
Chuyện tiếp theo là bà chết không gặp con trai. Bố đi tù và cả nhà phải về quê nội. Mẹ nói rằng bố con đã có giấy lên Trung tá nhưng chưa đeo lon. Thật là may mắn. Đi tù có 8 năm. Phải đeo lon sớm thì tù trên 10 năm có thể đã qua đời.
Sau khi bố ra tù là cả nhà tìm đường vượt biên. Ra đi miền duyên hải nhiều lần không được, sau cùng đi thoát đường Vĩnh Long. Bố là sĩ quan hải quân nên được nhiều chỗ móc nối. Đã từng chỉ huy chiến hạm nên bố lái tàu vượt biên thẳng qua Nam Dương. Lúc đó cô bé gái chưa được 10 tuổi.
Hỏi cháu có kỷ niệm gì với cộng sản? Kỷ niệm duy nhất là ĐÓI. Con là đứa bé đói. Cả nhà đói. Số con đẻ bọc điều nhưng trong thời thơ ấu bọc điều chứa toàn bo bo. Cô chưa từng hưởng hạnh phúc thực sự của gia đình Sĩ quan Hải quân VNCH. Có lẽ chỉ có được 2 năm uống sữa Hoa Kỳ…
Tạm trú bên đảo được chừng tám tháng là gia đình vào Mỹ. Qua Mỹ mang tên Mimi cô bé họ Phan cố gắng theo chương trình ESL từ lớp 5 đến lớp 10. Sau đó bắt đầu theo kịp chương trình và tốt nghiệp trung học. Qua hết chương trình đại học rất nhẹ nhàng. Trong suốt thời gian học sinh sống trong gia đình, cô luôn luôn có công việc đọc báo Việt cho cha. Việt ngữ có thể xuất sắc nhờ công việc này. Bắt đầu theo y khoa ngành dược. Ra trường trở thành cô dược sĩ trẻ tuổi và lập gia đình. Chồng của Mimi là anh chàng kỹ sư hết sức hiền lành và lịch sự. Câu chuyện đến đây chưa hề liên quan đến cuộc đời binh nghiệp. Cuộc đời của cô bé trong gia đình vượt biên hết sự đơn giản như trăm ngàn hoàn cảnh khác của người Việt trên đất Mỹ.
Binh nghiệp mở đường. Tham dự Commissioned Corps of the US Public Health Service.
Bác hỏi cháu là qua bên ngành Y tế Hải quân Hoa Kỳ bắt đầu ra sao! Trả lời rằng cho đến một hôm, sau nhiều năm làm việc trong ngành Y tế Dược khoa bên dân sự, Mimi quyết định theo truyền thống Hải quân của thân phụ bèn ghi danh xin qua làm việc cho Hải quân Hoa Kỳ. Cô nói rằng vì tham gia vào ngành chuyên môn nên chỉ học căn bản quân sự qua loa có vài tuần rồi được đồng hóa cấp bậc Đại úy. Trong ngành khoa học này, họ tính thâm niên chuyên môn bao gồm công việc dược khoa từ lúc ra trường nên Mimi được coi là có khả năng xuất sắc lâu năm.
– Vậy bao lâu thì được lên Thiếu tá?
– Cô trả lời Sáu tháng.
– Sao nhanh quá vậy. Bộ cháu quen với Obama?
– Không đâu. Chính ra là cháu được giữ chức vụ với bảng cấp số (COD) Thiếu tá. Nhưng họ tạm thời cho lãnh lương cấp bậc Đại úy để thử thách. Thấy có khả năng nên cho chính thức thăng cấp Thiếu tá. Lên đến Thiếu tá mà chào kính còn lúng túng.
Bác nói rằng Quân đội VNCH cũng như vậy. Luật Quốc phòng có trường hợp bổ nhiệm Sĩ quan Đồng hóa. Các nhà khoa học, các tay khoa bảng trình độ đại học hay giáo sư đại học, các đốc phủ sứ được quân đội tuyển dụng vào nhiệm vụ Quốc phòng được hưởng cấp bậc rất cao nhưng không hề được huấn luyện về căn bản quân sự. Đặc biệt các Bác sĩ dân sự vừa ra trường bị động viên đeo ngay lon Trung úy mà không biết giơ tay chào.
Mimi nói rằng cháu cũng ở trong trường hợp như vậy. Các anh cháu trong quân đội khoe vũ khí súng ống nhưng ngành của cháu với cây kim chích còn nguy hiểm hơn súng đạn.
Trở lại với câu chuyện binh nghiệp tôi hỏi rằng thế bao lâu sau cháu lên Trung tá và rồi làm sao lên Đại tá?
Mimi nói rằng kỳ 2014 qua San Jose, cháu đã đeo lon Trung tá được hơn 4 năm. Vì đang giữ chức vụ Đại tá nên có tên trong danh sách đề nghị chuyển qua Quốc hội chấp thuận. Cháu lên lon vì chức vụ theo bản cấp số chứ có phải chiến công oanh liệt hay con ông cháu cha đâu. Căn bản cháu cũng chỉ là mẹ của 5 con và người vợ của một ông chồng.
Hết sức chân thành, Đại tá Phan nói rằng số cháu đẻ bọc điều, sau 10 năm thơ ấu ăn bo bo, bây giờ bo bo hết rồi chỉ còn phần số may mắn bọc điều mà thôi. Tôi hỏi cô có mong ước gì không? Mimi cho biết cô mong có dịp đem phái đoàn lên tàu Bệnh viện Hải quân Mỹ về Việt Nam. Cô sẽ cùng chuyên viên nghiên cứu về môi trường sống của miền duyên hải. Những bí ẩn của vụ Formosa trên đất Hà Tĩnh. Vì sao cá chết và người chết. Hình ảnh những đứa bé bị đuổi nhà không có trường học ở vùng đất khổ như trường hợp Vũng Áng là những thảm cảnh rất liên quan đến lãnh vực khoa học mà Đại tá Phan đang làm việc.
Binh chủng của cô deo huy hiệu mỏ neo của hải quân và 2 con rắn quẩn quanh cây thuyền trượng mang cánh chim, dấu hiệu của y khoa.. Đại tá Phan mong có ngày mang trên vai huy hiệu kết hợp lạ lùng này để về tìm hiểu môi trường của miền duyên hải Việt Nam. Nơi bờ biển Nha Trang cát trắng cô đã sinh trưởng. Nghe chuyện đại tá Mimi và binh chủng lạ lùng của cô, tôi bèn tìm hiểu thêm trên mạng.
Commissioned Corps.
Trong quân đội thiên hạ thường chỉ biết đến hải, lục không quân. Tiếp theo là đến Marine Corps, chẳng ai biết đến các binh chủng lạ lùng nhưCommissioned Corps với cái tên nối dài là of the US Public Health Service.
United States Public Health Service Commissioned Corps
Mới nghe qua chúng ta tưởng là một phần của sở xã hội quân đội chắc lại phát tiền trợ cấp hay phát sữa cho ông già, con trẻ. Xem thật kỹ mới biết đây là binh chủng có toàn sĩ quan chuyên viên. Ngành này bao gồm các bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ, kỹ sư và y tá. Các chuyên viên hóa học, sinh học và vật lý học. Tương lai chiến tranh biến chuyển vô cùng. Sau này khi có chiến tranh nguyên tử hay chiến tranh sinh hóa, chiến binh sẽ là người thuộc binh chủng của đại tá Mimi Phan. Chiến tranh sinh hóa CBR bao gồm Chemical, Biological and Radiological. Các chuyên viên này không phải chỉ chiến đấu trong chiến tranh giữa con người. Họ sẽ chiến đấu để bảo vệ môi trường thiên nhiên. Những bệnh tật lạ lùng giết chết hàng triệu sinh linh kể cả bạn lẫn thù. Đó là nhiệm vụ hết sức đặc biệt của một bà mẹ Việt Nam hiền lành đeo lon đại tá Mỹ.

Bây giờ bạn hỏi tôi kể chuyện cô Mimi này có mục đích gì? Quả thực có hậu ý. Ngày thứ bẩy 10 tháng 9-2016 chúng tôi kỷ niệm 40 năm IRCC và 10 năm Việt Museum, chúng tôi mời bà mẹ Việt Nam đeo lon đại tá của Commissioned Corps Hoa Kỳ về làm khách danh dự. Cô bé Mimi của Nha Trang năm nay mới 43 tuổi, là một trong các đại tá trẻ của nước Mỹ sẽ bế theo đứa con 2 tuổi. Mãi mãi đại tá vẫn chỉ là bà mẹ Việt Nam tự nhận là may mắn đẻ bọc điều, ăn bo bo suốt tuổi thơ và nói tiếng Việt ngon lành. Chúng ta sẽ gặp nhau. Hỏi cô bao giờ lên cấp tướng. Mimi nói, chưa bao giờ nghĩ tới nhưng vì ở tuổi 43 nên cô còn đến 19 năm quân vụ nữa để trở thành bà ngoại đại tá rất già. Năm 2035 cháu vẫn có thể còn đeo lon đại tá vào tuổi 62, lúc đó bác ở đâu ? Bác không trả lời được, nhưng hôm nay có cả trăm đứa trẻ của các trại hè vào thăm Viet Museum. Cháu thích trẻ con bác xin gửi tặng tấm hình. Muốn nuôi thêm vài đứa không?
Giao Chỉ, San Jose
TÌNH YÊU QUAN TRỌNG HƠN PHÉP TẮC
Lữ Khách
Tôi lớn lên trong gia đình có đạo, được giáo dục trong một khuôn khổ, phép tắc “đi thưa, về trình”; nói một câu “dạ, thưa” đến hai ba lần. Tôi giáo dục con cái tôi theo nề nếp này, vì tôi nghĩ đây là phong tục tốt cần phải giữ. Nhưng tôi đã đi quá lố. Tôi coi trọng hình thức lễ nghĩa hơn tình yêu. Tôi thiếu lòng thương xót cho đứa con gầy guộc đang nằm trên giường bệnh, không biết còn đi đứng lại bình thường được hay không…
Ngày đầu vào nhà thương, sau vài giờ truyền nước biển và thuốc, con tôi bị sốt, lạnh run cầm cập, đắp ba bốn cái mềm cũng không đủ ấm. Bác sĩ cho uống Tylenol và chích thêm thuốc cầm đau. Khi cô y tá tiêm thuốc vào cánh tay nhỏ xương xẩu, con tôi la nhói lên vì đau. Mắt con đỏ hoe, rướm nước mắt. Nhìn con lòng tôi quặn đau. Tôi không cầm được nước mắt, để các giòng lệ rơi, tôi cố giữ giọng để trấn an con:
– Con ráng chút nữa, sắp hết thuốc rồi!
Sau gần năm tiếng khi chai thuốc đã cạn, cô y tá mới tháo ống nước biển nơi cánh tay của con ra. Đến lúc này con tôi đã mệt lả người. Khuôn mặt lừ đừ, không thần sắc vì từ khi nhập viện lúc trưa cho đến giờ đã hơn mười giờ đêm, con tôi chưa có gì lót lòng. Chứng bệnh đã làm liệt các dây thần kinh ở đôi chân và đôi tay của con. Người con không khác gì cọng bún mềm, rã rượi. Con tôi chẳng buồn ăn uống và cũng lười trả lời các câu hỏi của tôi. Nếu có trả lời, con chỉ nói cộc lốc một hai câu, quên kềm theo hai tiếng “dạ, thưa”. Khi đó tôi cảm thấy như bị xúc phạm vì con đã thiếu lễ phép. Nhưng khi ý tưởng đó vừa dứt, ý nghĩ khác chợt đến: con bị đau như thế, ăn ngủ không được, làm sao mà nhớ để dạ với thưa. Vô lý! Ngày hôm sau con đã khỏe, ăn uống được chút đỉnh. Mỗi lần nhờ tôi giúp việc gì, con tôi đều lễ phép nói:
– “Dạ thưa Ba…Cám ơn Ba…”
Đêm về tôi mở lại đoạn phim của ngày hôm qua, trở lại cái khúc tự ái bị xâm phạm. Tôi tìm mọi lý lẽ để bênh vực cho lối suy nghĩ “chính đáng” của mình. Nhưng cũng cùng lúc ấy, lòng tôi bị thổn thức, xốn xang. Tôi mất bình an. Tiếng nói của Thần Dữ gợi lên lòng tự ái, tự kiêu, đem cái truyền thống phép tắc đã có từ nghìn xưa, lôi tôi trở về theo phe nó. Trong lúc lòng tôi đang phân vân chưa biết nghe theo tiếng nói của Thần Lành hay Thần Dữ, thì lời Chúa đến với tôi: “Trên hết mọi sự hãy làm vì đức yêu thương.” Tôi nghe những lời này rất nhiều lần, từ tai này sang tai kia. Nhưng chưa bao giờ tôi dừng lại để cảm nghiệm hay để sống những lời này. Tôi thấy mình thật vô lý khi đòi hỏi nơi con một điều qúa đáng. Đã bao lần tôi nằm co quắp ôm bụng, nhăn nhíu mặt mày vì cơn đau bao tử, tôi có được mấy lời nhã nhặn với vợ con của tôi? Mãi đến hôm nay, tôi mới thật sự thấm hiểu Lời Hằng Sống này. Mới biết rằng bao lâu nay tôi đã đặt sai thứ tự trong cuộc sống. Tình yêu quan trọng hơn hết mọi sự, quan trọng hơn phép tắc ngàn lần!
Bạn thân mến!
Những biến cố đau thương: bệnh tật, chia ly, chết chóc xẩy ra trong cuộc sống, trong gia đình, cho mỗi người chúng ta không hẳn là một điều xấu nếu được nhìn bằng con mắt đức tin; khi chúng ta biết lắng đọng tâm hồn để tìm thánh ý Chúa qua từng biến cố.
***
Lạy Chúa, cám ơn Chúa đã mở mắt tâm hồn con, giúp con nhận ra chỉ có Tình Yêu là quan trọng nhất, là cao qúi nhất trên cuộc đời này. Xin Chúa gíup con luôn biết khiêm nhường để nhận và sửa sai những lỗi lầm của con, để mỗi ngày con được trở nên giống Cha trên trời là Đấng hiền lành và khiêm nhường trong lòng. Amen.
Lữ Khách
Ngọc Nga sưu tầm
NHẬN VÀ CHO
Giuse Ngô Văn Chữ, S.J.
Khi Đức Giêsu đón nhận năm chiếc bánh và hai con cá, Ngài dâng lời cảm tạ rồi đưa cho các môn đệ của Ngài. Ngài không trực tiếp đi phát phân bánh và cá cho năm ngàn người đàn ông, mấy ngàn người phụ nữ và các em nhỏ. Thánh Matthêu thuật lại rằng Đức Giêsu đưa bánh và cá cho các môn đệ và dặn họ thay Ngài đi phân phát bánh và cá cho tất cả mọi người được ăn no nê (Mt 14:19b).
Mời anh chị em cùng tôi thử nhìn ngắm thánh Simon Phêrô đi phát bánh. Phêrô nhận bánh tình thương và cá ân sủng nơi Đức Giêsu và đi phân phát. Ngài thấy một cụ già lúc nào cũng chăm chú nghe Thầy mình giảng dạy, chắc cụ là người thèm khát Lời Chúa và là người tốt: “Cụ ăn cho no nghe, cụ cứ dùng thoải mái.” Ngài vui vẻ đi phân phát và thích thú trong công việc này. Phêrô gặp một anh chàng đi theo thầy trò mình để xem phép lạ. Ngài không ưa hắn lắm nhưng cũng đưa bánh và cá cho hắn cho xong việc. Nhưng anh chàng này lại tham lam đòi nhiều bánh mới chịu, Ngài phải cự thì hắn mới thôi. Ngài đang chuẩn bị trao bánh cho một người khác thì phát giác tên này là đầy tớ của ông Thượng tế, “Tao dứt khoát không phát cho mày,” Phêrô nghĩ bụng, “Đừng hòng mà mày có một miếng, cho mày chừa để lần sau đừng đi theo bọn tao để lấy tin tức về báo cáo.” Phêrô thầm nghĩ như vậy và chẳng muốn phát, nhưng Ngài chợt nhớ lời dặn của Thầy mình: “Anh chị em nhớ phân phát cho mọi người ăn no nê nghe.” Nhớ lời Thầy và cuối cùng Phêrô đã phát. Một lần nữa Phêrô gặp một ông Pharisêu, Ngài thầm nghĩ tên này thì không cách nào mà phát được, thầy mình nói câu gì thì nó cũng xuyên tạc, nó nói chặn họng, nó là một tên phá rối. Thầy mình cự với nó không biết bao nhiêu lần, nó là kẻ thù không đội trời chung của mình, thầy mình chưởi nó là đồ cái thứ mồ mả tô vôi thế mà nó cứ chai mặt đi theo để nói xiên nói xẹo, chắc chắn không bao giờ mình phát bánh và cá cho nó. Nhưng khi Phêrô quay lại bắt gặp ánh mắt đầy tình thương của Thầy và nhớ lại lời dặn dò kỹ lưỡng của Thầy khi trao bánh và cá cho mình: “ Phêrô ơi, anh nhớ phát cho tất cả mọi người, đừng chừa một ai, và hãy cho họ được ăn no nê.” Phêrô dù không muốn phát bánh tình thương và cá ân sủng cho những người Ngài không ưa, nhưng rồi cũng đã ban phát như ý Thầy mình mong muốn.
********************************
Chúng ta thử hình dung một môn đệ theo Chúa Giêsu, giả sử tên G. chẳng hạn, cũng nhận bánh và cá từ tay thầy. Nhìn mẩu bánh và cá trên tay, y nghĩ rằng chừng nấy người thì biết phát cho ai, họa may chỉ đủ cho mình dùng, và y cất bánh và cá vào túi. Vì chỉ nhận và cất đi, nên phép lạ không thể xảy ra. Phép lạ xảy ra khi người môn đệ đón nhận và biết phân phát, cho đi. Như biển hồ Galilê và biển chết chẳng hạn, biển hồ Galilê nhận nước từ các đồi núi đổ xuống và nó phân phát nước qua sông Giođan đến biển chết, vì biển hồ Galilê nhận và chuyển nước nên lúc nào cũng có nước mới, và cá mới sống được. Còn biển chết vì nó chỉ nhận nước từ sông Giođan và giữ lại đó nên trở thành nước ao tù và không tạo vật nào có thể sinh tồn.
Theo trình thuật của Thánh Matthêu, khi các môn đệ nhận bánh và cá từ tay Đức Giêsu để đi phân phát, họ chỉ đón nhận bằng hai tay của mình chứ không dùng thúng để hứng. Nhưng khi đang phân phát thì họ mới sững sờ chứng kiến phép lạ xảy ra, họ phát hoài mà không hết và các môn đệ ngỡ ngàng! Phép lạ chỉ xảy ra khi các môn đệ nghe theo lời dặn và hợp tác với thầy để đi phân phát bánh và cá. Đức Giêsu không nói với họ nhận bánh cá để ăn, nhưng là để phân phát. Nếu họ chỉ giữ lại để ăn thì phép lạ không thể xảy ra. Họ đã vâng nghe làm theo Lời Thầy và được cảm nghiệm tình yêu, ân sủng, phép lạ và quyền năng của Thiên Chúa.
Anh chị em thân mến, đâu là những chiếc Bánh Ân Sủng và Cá Tình Thương mà Thiên Chúa đã đưa cho bạn và tôi với lời dặn: “Con nhớ đi phân phát cho tất cả người tốt lẫn kẻ xấu được ăn no nê?” Cái gì cản trở bạn và tôi ban phát Bánh Tình Yêu và Cá Ân Sủng như lòng Chúa mong ước? Đâu là những cảm nghiệm niềm vui thiêng liêng khi bạn và tôi gạt bỏ ý riêng của mình để làm theo Thánh Ý Chúa?
****************************
Lạy Chúa, xin cho chúng con biết đón nhận Tình Yêu và Ân Sủng của Chúa ban nhưng không và biết lên đường phân phát cho tất cả mọi người, kẻ tốt lẫn người xấu, cho người con thương con mến, cũng như cho người con ghét, con không ưa, như Chúa đã dặn dò khi Chúa trao Bánh Tình Yêu và Cá Ân Sủng cho con. Con đã đón nhận tình thương và ân sủng Chúa một cách nhưng không, xin Chúa cũng cho con ơn can đảm để quảng đại cho đi không mà tính toán. Amen!
Giuse Ngô Văn Chữ, S.J.
NỖI BUỒN CỦA BIỂN
Khoảng 7h sáng hôm sau (19/8), chúng tôi tới xã Kỳ Lợi, Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Cảnh tượng ngay lập tức đập vào mắt tất cả mọi người đến nơi đây, là khu kinh tế Vũng Áng rộng mênh mông chạy dọc chân trời, với những ống khói trắng-đỏ đang nhả khói vào mây. Đó là ban ngày, còn xế chiều, khi Vũng Áng lên đèn, bạn sẽ thấy hàng chuỗi hàng chuỗi đèn điện hồng xen lẫn với ráng hồng của bầu trời. Đến đêm tối thì Formosa thật sự trở thành một “vương quốc” sáng rực ánh điện, đèn lấp lánh, chi chít như sao sa, tương phản với bên kia đường là đồng cỏ và khu nhà dân tiêu điều, tối mò. Nếu bạn vào xóm Cũ, nơi 183 hộ dân vẫn cương quyết trụ lại, không chịu di dời, thì sẽ thấy cảnh tượng còn hoang tàn nữa, với những đống gạch vụn, những nhà cửa đã bị đập bỏ chỉ còn trơ cột kèo, khung sắt…
Nói Formosa Vũng Áng đã trở thành một “vương quốc”, một xứ sở tự trị, cũng không sai. Dân địa phương phản ánh, kể từ tháng 5/2014 sau khi xảy ra bạo loạn Vũng Áng (mà cho đến giờ, thủ phạm thực sự – kẻ giật dây tất cả – là ai, vẫn là một bí mật), công nhân viên người Đài Loan, Trung Quốc không ra khỏi khuôn viên Formosa nữa. Họ ở luôn bên trong, nơi có đầy đủ siêu thị, trung tâm mua sắm, khu ăn uống, thể thao, giải trí… và nhà máy nhiệt điện riêng để cung cấp hệ thống điện riêng. Bao xung quanh, ngăn với bên ngoài là dãy tường dài hàng kilomet, trên có gắn mảnh chai, sành, và nhất là một hàng rào điện. Nội bất xuất, ngoại bất nhập, người ra vào Formosa phải có thẻ quẹt, mà sau 15 ngày không tác động gì vào thẻ thì nó sẽ tự hủy.
Nhân viên làm việc bên trong không được phép quay phim, chụp hình. Đó là lý do chúng tôi không có được bức ảnh nào về Formosa nhìn từ phía trong, dù đã gặp một số người từng làm nhân viên cho các nhà thầu của tập đoàn này. Tất nhiên, vẫn luôn tồn tại khả năng cho việc những nhân viên người Việt của Formosa bí mật tuồn dữ liệu ra bên ngoài, tuy rất nguy hiểm cho họ. Nguyên tắc “bảo vệ nguồn tin” cần được các blogger, các nhà báo công dân tuân thủ chặt chẽ.
Trong khuôn viên Formosa, có hàng chục tòa nhà cao tầng, được cho là văn phòng cũng như nhà ở của nhân viên. Tại một tòa nhà như thế, nằm sát tường rào, gần mặt đường, người ta thấy cả dàn radar trên mái. Một chiến sĩ đóng quân trên địa bàn Kỳ Anh, với chuyên môn về tác chiến điện tử, nói với chúng tôi rằng tầm nhìn của radar này có thể vươn tới 80 hải lý (khoảng 145 km). Người lính này cũng bảo, ở trong tầm nhìn của radar, “mình làm bất cứ cái gì, Formosa cũng thấy hết”. Nhưng ngược lại, chẳng một ai biết họ đang làm gì trong cái vương quốc của họ.
Hoàng Thành ngạc nhiên: “Thế là mình phải chịu thế à?”.
Cậu lính trẻ đáp: “Thì phải chịu chứ sao. Không ai được vào trong đó hết. Chắc khi nào có chuyện gì cần giúp đỡ thì Formosa sẽ nhờ, nhưng cũng chỉ công an là được phép vào bên trong thôi, bộ đội thì không”.
Mấy người dân địa phương nhiệt tình cho chúng tôi ngồi vào thuyền thúng, chèo ra nơi đậu ghe, rồi đưa ghe ra sát khu vực cảng Sơn Dương và kè đá chắn sóng của Formosa. Sơn Dương là cảng nước sâu, độ sâu 11m, nước một màu xanh thẫm, không thấy đáy. Chiếc ghe trở nên rất mỏng mảnh. Sóng to, dâng cao cả mét, bọt biển liên tục bắn vào ống kính. Đình Hà và Hoàng Thành cứ phải loay hoay đứa chụp ảnh, quay phim, đứa che chắn nước, và cố để không làm ghe mất thăng bằng. Vẫn theo “tiêu chuẩn Mỹ”, lẽ ra không ai được lên thuyền mà không có áo phao. Nhưng ở đây là Việt Nam; cả ba đứa chúng tôi đều im tiệt, coi như không có chuyện gì xảy ra. Đến chỗ này, vào thời điểm này mà còn hỏi ngư dân về áo phao và trang thiết bị an toàn lao động thì thật là lố bịch.
Công trình cảng Sơn Dương vẫn đang được xây dựng giữa biển, gần đảo Sơn Dương. Còn trên bờ, bãi cát vắng hiu hắt, không một bóng người. Hàng chục con thuyền phủ vải nằm trơ. Cách đây mới nửa năm, nơi đây còn vui lắm. Mỗi chiều khi tàu cá về, bà con ào ra đón, hò nhau kéo ghe lên bờ cát, có trông thấy mới hiểu thế nào là niềm vui “cá bạc đầy khoang”. Trẻ con thì ríu rít chơi đùa, đá bóng.
Bây giờ khác rồi.
Xế chiều, khi ghe của chúng tôi trở về, một vài phụ nữ ở trong xóm trên bờ cũng chạy ra đón, giúp kéo ghe lên bãi. Nhưng trong khoang… trống huếch trống hoác. Không có gì cả. Và chúng tôi cảm thấy đắng ngắt: Vẫn tiếng hò ấy, vẫn những giọng nói chào đón ấy, vẫn những động tác quen thuộc ấy của dân biển ngàn đời nay, song có cái khác hoàn toàn, là không còn niềm vui “thuyền anh mãi về cho cá bạc đầy khoang” (*) nữa. Những nụ cười trở nên vô cùng gượng gạo.
Sao biển buồn đến thế?
Đến lúc này tôi mới phát hiện có một vết rách ở bàn chân phải, và nó đang rỉ máu, sưng lên. Vài tiếng sau thì nó nhiễm trùng, sưng húp, mỗi lần lỡ chạm phải quai dép đều đau điếng người. Không hiểu vì sao chỉ từ một chỗ trầy xước mà nó thành ra như vậy. Đình Hà kết luận chắc nịch: “Hoặc do nước cống Hà Nội, hoặc do nước biển nhiễm chì, bác chọn đi!”.
Lại báo hại người dân địa phương chở tôi ra trạm xá, để y sĩ – soeur Vân – sát trùng và băng vết thương lại. Soeur nói nước biển ở đây rất bẩn, độc, nhiều người lặn về thấy khó thở, nhức đầu, ít nhất cũng thấy mệt mỏi.
“Thôi thì chắc cũng như nước cống Hà Nội” – tôi nghĩ.
Chúng tôi ăn chiều cùng bà con. Mâm cơm có trứng, rau, một đĩa tôm và một bát canh đầu cá. Ai cầm bát đũa lên cũng nói như phân trần: “Không phải tôm, cá Vũng Áng đâu nhé”, ý là bảo chúng tôi đừng lo phải ăn hải sản nhiễm độc. Nhưng làm gì còn tôm cá nào ở vùng này nữa mà lo. Cả hai thứ đều là đồ nhập khẩu. Chỉ biết thở dài khi ở giữa xứ làm nghề biển, ở ngay sát bờ biển, mà phải ăn hải sản nhập từ nước ngoài.
CÒN NỮA
———
(*) Lời bài hát nổi tiếng của dòng nhạc đỏ, “Tình ta biển bạc đồng xanh”, do nhạc sĩ Hoàng Sông Hương (thân sinh ca sĩ Mỹ Lệ) sáng tác năm 1973.



(Có tham khảo tài liệu của ông Đỗ Ngọc Uyển, Morgan Hill, California).
Năm 1949, Trung Hoa Dân Quốc (Tưởng Giới Thạch) rút ra Đài Loan, Đảng CSTQ ở lục địa thành lập nước CHND Trung Hoa, sử dụng tiếp bản đồ hình lưỡi bò 11 đoạn do Trung Hoa QG xuất bản tháng 2/1948. Năm 1953, cắt đi một đoạn trong Vịnh Bắc bộ (còn 10 đoạn), sau cắt thêm đoạn nữa thành 9 đoạn hiện nay.
Trong Đại chiến II, Nhật chiếm một số đảo ở Hoàng Sa, Trường Sa (HS-TS). Tháng 8/1945, Nhật bại trận, quân Nhật rút khỏi VN, ngày 26/8/1945 cũng rút khỏi các đảo chiếm đóng. Lúc này, VN vẫn thuộc quyền Pháp đô hộ, về danh nghĩa Pháp có nhiệm vụ bảo vệ HS-TS. Khi Pháp trả độc lập cho VN, Hiệp ước Élysée ngày 8/3/1949 bàn giao HS-TS cho Chính quyền Quốc gia VN(14/10/1950).
Về phía TQ, với tư cách phe Đồng minh, ngày 27/8/1945, TQ chỉ định Tướng Lư Hán sang giải giới quân Nhật ở Bắc VN và ở lại 3 năm vãn hồi an ninh. Đầu 1946, TQ cử Lâm Tuân và hạm đội đi “tiếp thu” những đảo Nhật bỏ lại ở HS-TS. Không ai biết chính xác những đảo nào Nhật đã chiếm. Một nhân viên thuộc Bộ Địa chất và Khoáng sản TQ tên Bạch Mi Sơ cùng đi đã vẽ một họa đồ tượng trưng bằng hình 11 đoạn, chiếm 80% diện tích biển Đông (cả HS-TS). Khi đoàn về, bản vẽ này được áp dụng in bản đồ đầu tiên, Vụ Biên giới và Lãnh thổ, Bộ Nội vụ TQ xuất bản tháng 2/1948 ghi: “Tác giả: Bạch Mi Sơ (Bộ Địa chất), năm sinh: 1946; nơi sinh: Trung Hoa Dân Quốc; người lập khai sinh “Nam Hải chư đảo vị trí đồ”.
Đường lưỡi bò vẽ tùy tiện, không theo quy ước thiết kế bản đồ, không phóng chiếu hệ thống toạ độ, không chính xác địa lý…, do đó, không có giá trị pháp lý biên giới. Biết điều này, TQ ngụy tạo “giá trị lịch sử”: khẳng định là di sản ngàn đời tổ tiên truyền lại (từ nhà Hán cách hơn hai ngàn năm…), là sự thật lịch sử không thể tranh cãi… Thật ra, bản đồ đó mới chỉ xuất hiện tại TQ cách đây 68 năm.
Ngày 4/9/1958, TQ tuyên bố bề rộng lãnh hải 12 hải lý áp dụng toàn lãnh thổ TQ, gồm bờ biển với đất liền, đảo ngoài khơi, đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, các quần đảo: Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa và các đảo khác thuộc TQ. Trên cơ sở này, TQ xác định đường cơ sở lãnh hải, cấm máy bay, tàu bè nước ngoài xâm nhập nếu TQ chưa cho phép.
Từ 5/9 đến 8/9/1951, Hội nghị San Francisco ký kết Hòa ước với Nhật, có đại diện 51 nước tham dự. Ngoại Trưởng Gromyko (Liên Xô) đề nghị trả chủ quyền HS-TS cho TQ. Kết quả: 48 phiếu bác bỏ, có ba phiếu thuận (Liên Xô, Tiệp Khắc, Ba Lan). Nhật bỏ phiếu trắng. Ngày 7/9/1951, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần Văn Hữu (Quốc gia VN) tuyên bố HS-TS là lãnh thổ VN, không đại diện nào tại hội nghị phản đối. Ngày sau, Hòa ước được ký kết. Điều 2, đoạn 7 ghi rõ: “Nhật Bản từ bỏ chủ quyền, danh nghĩa và tham vọng đối với các quần đảo Paracel và Spratly” (khoản f). Ông Trần Văn Hữu đã ký Hòa ước này.
Ngày 14/9/1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng (VN Dân chủ Cộng hòa) gửi một công hàm điện báo đến Thủ tướng Quốc vụ viện TQ, đến 21/9/1958, Đại sứ VN DCCH tại TQ Nguyễn Khang trình công hàm lên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao TQ Cơ Bàng Phi: “…Chính phủ nước VN DCCH ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4/9/1958, của CP Nước CHND Trung Hoa, quyết định về hải phận 12 hải lý của TQ. CP Nước VN DCCH tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của TQ trong mọi quan hệ với nước CHND Trung Hoa trên mặt biển…”. (Trong lúc chủ quyền hai quần đảo này chính thức do VN Quốc gia ở phía Nam quản lý. Ngày nay, TQ cho rằng công hàm là bằng chứng cho thấy VN đã công nhận chủ quyền của TQ với HS-TS).
Sau khi ký Hiệp định Paris 1973, Hoa Kỳ rút Hạm đội 7 và thiết bị quân sự ra khỏi HS, không liên quan việc tranh chấp tại đây, Bộ Ngoại giao TQ ra tuyên bố HS-TS là lãnh thổ TQ và tố cáo Việt Nam Cộng hòa chiếm đóng trái phép. Phía VNCH ra tuyên bố đáp trả ngược lại. Trận chiến diễn ra. Do không cân sức, hải quân VNCH đã thất bại. Ngày 19/1/1974, TQ chiếm trọn HS. (Theo tiến sĩ Balazs Szalontai – Hungary: TQ quyết định chiếm quần đảo HS trước khi VNCH sụp đổ – nghĩa là trước khi VN DCCH có thể chiếm).
Ngày 14/3/1988; sau khi thuộc sự quản lý của CHXHCN VN, tiếp tục đánh dấu thất bại của Hải quân QĐND VN ở một số đảo thuộc quần đảo TS trong trận đánh với TQ. Gần tháng sau, tại quần đảo TS, Đại tướng Lê Đức Anh thề: …xin hứa trước đồng bào cả nước, xin nhắn nhủ với các thế hệ mai sau: quyết tâm bảo vệ bằng được Tổ quốc thân yêu, bảo vệ bằng được quần đảo TS – một phần lãnh thổ và lãnh hải thiêng liêng…”.
Trên cơ sở UNCLOS, đường lưỡi bò xâm phạm vùng biển đặc quyền kinh tế (Exclusive Economic Zone, EEZ) 4 quốc gia: VN, Brunei, Malaysia và Phillipines. Là quốc gia thành viên UNCLOS, tháng 2/2013, Phillipines nộp đơn kiện TQ tính phi pháp đường lưỡi bò tại Tòa Hòa giải Trọng tài Quốc Tế (thường trực tại The Hague). TQ tuyên bố: bản chất vụ kiện là tranh chấp chủ quyền các thực thể quần đảo TS. Do đó, Tòa án trên không có thẩm quyền xét xử tranh chấp lãnh thổ, TQ không tham gia vụ kiện, không bị ràng buộc quyết định của Tòa. TQ cho rằng họ có đầy đủ chủ quyền lịch sử với các đảo biển Đông và tài nguyên trong đường lưỡi bò.
Sau ba năm thụ lý, ngày 12/7/2016, Tòa án ban hành án lệnh có hai điều luật liên quan sau:
1. TQ không có cơ sở pháp lý đòi chủ quyền lịch sử các nguồn tài nguyên trong đường lưỡi bò, tuyên bố của TQ đi ngược lại Công ước của LHQ về Luật Biển (United Nations Convention On The Law Of The Sea).
2. Cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS cho phép một bên đơn phương khởi kiện bên còn lại ra tòa (Phụ lục VII). Điều này cũng bác bỏ tuyên bố của TQ: “Tòa Trọng tài đượcthành lập theo yêu cầu đơn phương của Manila, không có thẩm quyền xem xét đơn kiện, phán quyết của Tòa này đưa ra là vô giá trị và không có tính chất ràng buộc pháp lý”.
Với phán quyết trên, tranh chấp biển Đông đã được QT hóa, không còn là vấn đề hai bên giải quyết như TQ nói.
Sau án lệnh, TQ bác bỏ phán quyết của Tòa án Hòa giải Thường trực QT (Permanemnt Court of Arbitration), tuyên bố không tuân thủ, trở thành quốc gia ngoài vòng luật pháp QT, không xứng đáng là cường quốc, thành viên của HĐ Thường trực Bảo an LHQ.
Ngày 13/6/2016, TQ ban hành sách trắng bác bỏ phán quyết trên và vẫn khẳng định chủ quyền lịch sử với các đảo ở biển Đông, HS-TS… Bảy hòn đảo mà TQ chiếm là những cồn cát, vỉa đá (rock reef), vỉa san hô (coral reef) nửa nổi nửa chìm hoặc hoàn toàn chìm và chỉ nổi lên khỏi mặt nước khi thủy triều xuống như đảo Gạc-ma (Johnson South Reef). Vì không thể định cư, trồng trọt, chăn nuôi, sinh sống nơi đây, theo UNCLOS, không tính trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.
Là quốc gia thành viên (state member) UNCLOS, nhưng TQ phớt lờ các nguyên tắc, bồi đắp thành đảo nhân tạo, thiết lập tiền đồn quân sự. Tuy biết phi lý, TQ vẫn đòi có vùng đặc quyền KT 200 hải lý và thềm lục địa ngoài 200 hải lý với các đảo nhân tạo, làm chủ tài nguyên cả khu vực.
Hoa Kỳ theo luật pháp QT đã đưa chiến hạm tuần tra thường lệ ở biển Đông bảo vệ quyền tự do hàng hải, cách bờ biển 2 hải lý chứ không phải 12 hải lý. Khi vào quần đảo TS, chiến hạm tuần tra tiến sát đảo nhân tạo, TQ cho là Hoa Kỳ khiêu khích và gây căng thẳng.
Ngày 2/8/2016, Tòa án Tối cao TQ đưa ra phán quyết 4 điều sau:
1/ Những ai bị bắt khi đang đánh bắt cá trái phép trong vùng biển của TQ có thể bị tù tới một năm, và vùng biển này bao gồm cả vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng kinh tế đặc quyền và thềm lục địa.
2/ Phán quyết này dựa trên luật pháp TQ và Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS).
3/ Các tòa án nhân dân sẽ tích cực thực thi quyền tài phán trong vùng biển chủ quyền TQ, hỗ trợ ban ngành hành chính quản lý biển hợp pháp, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và lợi ích TQ.
4/ Phán quyết này bảo đảm về pháp lý cho lực lượng chấp pháp nghề cá.
Mặt khác, TQ vận động một số nước trong Asean và các nước khác hưởng lợi từ TQ ủng hộ tuyên bố của họ.
Tiếp tục chờ xem diễn biến vụ việc.
L.P






Huynh Ngoc Chenh with Nguyễn Thúy Hạnh and Nguyen Kim.
HOÀNH SƠN NHẤT ĐÁI VẠN ĐẠI TAN HOANG
Ngay sau khi bộ trưởng Trần Hồng Hà tắm biển và ăn cá tại Quảng Trị thì chúng tôi đến thăm dải biển miền Trung, nơi Formosa giáng thảm họa kinh hoàng từ mấy tháng nay.
Môi trường cả một dải vùng biển dài 300 km từ Hà Tĩnh xuống đến Thừa Thiên Huế bị hủy hoại nặng nề, kéo theo sự suy sụp kinh tế của hàng triệu cư dân liên quan.
Những hàng quán, chợ búa, khu du lịch, khách sạn…nơi chúng tôi đi qua đều vắng lặng. Nhà hàng ăn trên quốc lộ ngay cạnh khu Formosa, nơi chúng tôi ghé vào ăn trưa, chỉ có duy nhất một nhóm thực khách là chúng tôi. Các hàng quán quanh đó đều im ắng.
Sâu vào vùng dân cư ven biển huyện Kỳ Anh giáp với tường rào Formosa là một vùng xơ xác tiêu điều với hàng ngàn ngôi nhà dân bị đập bỏ tan hoang. Người ta lùa những làng xã ngư dân bám biển đi để lấy đất xây dựng một “trung tâm hủy diệt biển” vĩ đại, và bên trong trung tâm ấy còn chưa biết chứa đựng âm mưu gì.
Vượt qua Hoành Sơn, xuôi về nam, chúng tôi ghé đến ngôi chợ vốn sầm uất của xã Cảnh Dương, một xã toàn dân sống vào nghề cá của huyện Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình, vào buổi sáng trời nắng đẹp. Ngôi chợ im ắng chỉ thấy người bán mà không thấy người mua. Cá bắt lên bán không ai mua đã đành mà các hàng hóa tiêu dùng khác cũng không có người mua. Một chị bán hàng nhựa dân dụng cho biết, nếu trước đây bán mỗi ngày một trăm thì từ 4 tháng nay, bán chỉ còn chưa đến hai mươi. Ngư dân không bán được cá thì lấy tiền đâu mà mua sắm.
Các cửa hàng dịch vụ nghề cá quanh đó cũng đóng cửa im ỉm, vài cửa hàng mở cửa nhưng không thấy ai ra vào.
Chúng tôi ghé vào nhà của một ngư dân gần đó. Người chồng làm nghề đánh cá ven bờ thất nghiệp, ngồi tựa cửa ngắm trông ra biển. Chị vợ làm nghề buôn cá thở dài sườn sượt khi được nghe chúng tôi hỏi về tình hình đời sống của gia đình sau đại thảm họa. Chị cho biết, hiện đang sống dựa vào tiền con cái đi lao động ở xa gởi về. Từ khi cá chết hai vợ chồng ở không như bao người dân khác trong xã: “Mới đây, ngư dân mới rục rịch đi đánh bắt trở lại – chị nói – cá gần bờ, mang về bán dân tại đây không dám ăn, nhưng vẫn có dân buôn mua lại giá rẻ mang đi bán nơi đâu không biết. Biết dân mình ăn cá ấy vào là bị nhiễm độc, nhưng đói quá cũng phải đi đánh bắt, với lại không thấy nhà nước cấm đoán nên cứ làm”. Rồi chị thở dài đầy vẻ bất nhẫn: “Phải chi họ cấm hẳn, chớ để ri thì tội cho dân mình quá!”.
Một ngư dân khác cho biết, 90% ngư dân đã phải vay vốn ngân hàng lên đến bạc tỷ để đầu tư tầu thuyền và ngư cụ đánh cá. Vậy mà nay… thuyền bỏ đó..
Ghé qua một công ty buôn hải sản tọa lạc ngay bên cảng cá, thấy bốn, năm công nhân đang phân loại và đóng gói ghẹ vào thùng xốp, tôi hỏi:
– Ghẹ nầy liệu có ăn được?
Tất cả lặng thinh, rồi một chị nói:
– Cũng được, thi thoảng tui cũng ăn…
– Chừ đóng thùng đưa đi bán ở mô?
Một chị trả lời:
– Bán đi xa…
Một chị khác cướp lời:
– Bán qua Trung Quốc cho chúng nó ăn chết cha hết chúng nó, bọn khốn nạn.
Tôi biết các chị công nhân đã nói dối. Các thùng ghẹ ấy có khi lại trở thành thực đơn trong các nhà hàng đặc sản ở Hà Nội, Đà Nẵng…
Cũng các chị công nhân ấy cho biết, công ty hải sản nầy mỗi ngày thu mua được trên vài tấn cá, nhưng hiện nay không còn con cá nào cả phải chuyển qua mua ghẹ, tuy nhiên mỗi ngày cũng chỉ được vài trăm ký. Một nhà báo uy tín ở địa phương cho tôi biết, ghẹ là một trong những loại hải sản sống ở tầng sâu nên bị nhiễm độc nặng, không ăn được.
Cũng nhà báo ấy, người đã lăn lộn với ngư dân từ những ngày đầu tháng tư đến nay, cho biết, Formosa đặt ở Hà Tỉnh nhưng là huyện cuối tỉnh tiếp giáp với Quảng Bình, mà dòng hải lưu lúc đó chảy vào nên các tỉnh phía nam Vũng Áng hứng trọn thảm họa, trong đó nghiêm trọng nhất là Quảng Bình.
“Hoành Sơn nhất đới vạn đại dung thân”, lời khuyên đắt giá của Trạng Trình cho chàng công tử Nguyễn Hoàng đã trở thành đường lối chiến lược đúng đắn giúp chàng trai trẻ mạnh dạn dẫn dân vượt qua Hoành Sơn tiến vào mở rộng phương Nam, không chỉ dung được bản thân mà còn dung được dân tộc Việt đến tận bây giờ.
Và hình như điều đó sắp sửa chấm dứt.
Buổi chiều đứng trên đỉnh đèo Ngang của dãy Hoành Sơn đâm ngang ra biển, ranh giới phân chia Hà Tỉnh và Quảng Bình, nhìn về phương Nam, lòng tôi không khỏi dâng lên một cảm xúc chua xót…
Ôi Hoành Sơn nhất đái, vạn đại tan hoang.
Tội ác của những tên bán nước nào?
Huỳnh Ngọc Chênh
(Ảnh Nguyễn Thúy Hạnh, Nguyễn Kim)
Trung Quốc lại “xuất khẩu’ ô nhiễm qua sông Hồng?
Tuy nhiên, trạm quan trắc chỉ đo được chỉ số cơ bản và đã xuống cấp nên hiệu quả không cao. Hiện vấn đề ô nhiễm môi trường sông Hồng vẫn chưa được cải thiện đáng kể.
“Đề nghị tăng cường đầu tư thêm trạm quan trắc ô nhiễm xuyên biên giới”- Chủ tịch UBND Đặng Xuân Phong kiến nghị.
Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương (nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) Cao Đức Phát đề nghị cần tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường như vấn đề ô nhiễm sông Hồng, sông ở ĐBSCL.
Kết luận hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu Bộ TN-MT có giải pháp đưa ra kế hoạch cụ thể về bảo vệ môi trường để Thủ tướng ký ban hành chỉ thị vào thứ 3 tuần tới (30/8) để các ngành, địa phương thực hiện.
Thủ tướng nhấn mạnh: “Bộ trưởng, trưởng ngành, chủ tịch các tỉnh, thành phải chịu trách nhiệm về môi trường trong lĩnh vực, địa bàn mình phụ trách. Đã đến lúc, phải có kế hoạch, chiến lược ngắn hạn, dài hạn và ngay lập tức về môi trường. Môi trường có sạch, bền vững góp phần nâng giá trị kinh tế”.
Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ TN-MT từ năm 2017 phải tiến hành khảo sát đánh giá và xếp hạng các tỉnh thành trong cả nước về vấn đề môi trường như bảng xếp hạng chỉ số cạnh tranh.
Trước đó, có nghiên cứu của nhóm nhà khoa học thuộc Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu cho thấy có sự ảnh hưởng ô nhiễm không khí xuyên biên giới từ Trung Quốc đến miền Bắc Việt Nam với mức độ rất đáng lo ngại.
“Vào mùa đông có sự lan truyền ô nhiễm không khí khá lớn từ Trung Quốc tới miền Bắc VN. Sự di chuyển này sang VN chủ yếu đi theo hướng đông bắc, hướng có sự hoạt động mạnh mẽ của gió mùa đông bắc. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy vào mùa đông, 40 – 50% nồng độ các chất ô nhiễm ở miền Bắc VN có nguồn gốc ngoài lãnh thổ từ phía bắc và phía đông bắc nước ta” – kết quả nghiên cứu nêu rõ.
Cụ thể, nhóm nghiên cứu khẳng định vào mùa đông, ô nhiễm không khí từ Trung Quốc ảnh hưởng đến Việt Nam có thể tới 55% đối với SO2, 48% đối với NO2 và 30% đối với CO theo gió mùa Đông Bắc từ Trung Quốc thổi vào Việt Nam. Sự ảnh hưởng này chỉ có một chiều từ Trung Quốc sang Việt Nam mà không có chiều ngược lại.
Nồng độ CO, NO2 tại Quảng Ninh, Lạng Sơn chịu ảnh hưởng xấp xỉ 0,1 ppm và các tỉnh còn lại từ 0,25 – 0,75 ppm (đơn vị tính toán nồng độc chất độc); nồng độ SO2 tại Quảng Ninh, Lạng Sơn xấp xỉ 0,015 ppm và các tỉnh còn lại từ 0,0025 – 0,05 ppm.
Bằng phương pháp quan trắc thực địa chất lượng không khí, phân tích ảnh viễn thám tại 9 tỉnh, thành miền Bắc (Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Bắc Kạn, Yên Bái, Hà Giang, Hà Nội) và ứng dụng mô hình toán.
Tiêu diệt sự sống dễ nhất là sử dụng phương pháp đầu độc nước.
Nước độc sẽ làm cho các cơn gió cũng độc, không sinh vật nào tồn tại được, bị hủy diệt chỉ là vấn đề thời gian.
Nhìn ngắm cuộc sống của Mẹ Tê-rê-sa
Dù chỉ cao 1,52m, nhưng Mẹ Tê-rê-sa là một người nữ đầy sức mạnh và sức bền. Điều này được mẹ thể hiện qua tình yêu dành cho tha nhân, qua lòng can đảm ra đi gặp gỡ người khác trong mọi hoàn cảnh của họ, nơi khu nhà ổ chuột cũng như nơi những tâm hồn đang buồn phiền thất vọng.
Sinh năm 1910 tại Skopje – một vùng đất thuộc Đế quốc Ottoman lúc bấy giờ, mẹ sớm nhận thấy mình được sinh ra để phục vụ người nghèo và người kém may mắn. Khi còn là một nữ tu dòng Loreto, Mẹ Tê-rê-sa đã chăm sóc, dạy dỗ các bé gái nghèo khổ cho tới khi mẹ nghe được “tiếng gọi đời mình trong một lời gọi.”
Soeur Therese Magdala
Dòng Thừa Sai Bác Ái
“Chính khoảnh khắc ấy, khoảnh khắc đầu tiên vang vọng trong năm 1946 khi mẹ thực sự cảm thấy Đức Giê-su mời gọi mẹ xa rời dòng Loreto để khởi sự một sứ mạng mới ở giữa những con người nghèo khổ tại Calcutta.”
Mẹ Tê-rê-sa đã đi ngược lại với xu hướng của rất nhiều dòng tu lúc bấy giờ. Thay vì mong muốn mọi người đến với mình như các dòng tu khác, mẹ ra đi với trái tim của người tôi tớ để gặp gỡ tha nhân tại những nơi họ đang sinh sống.
Soeur Therese Magdala
Dòng Thừa Sai Bác Ái
“Mẹ đi tìm kiếm các linh hồn, đến nơi họ sinh sống, những nơi bị ruồng rẫy nhất và đến với các khu nhà ổ chuột. Trong lời cầu nguyện của mình, mẹ đến với những nơi ấy; và mẹ đã thực sự đến, thực sự bước vào và mang Đức Giê-su đến những nơi đó.”
Tuy nhiên, sự quan tâm chăm sóc mẹ dành cho tha nhân không chỉ giới hạn nơi những con người đường phố, nhưng còn dành cho hết thảy những ai mà mẹ gặp gỡ trong suốt ngày sống. Mẹ nhìn nhận mọi người là con người với phẩm giá cao cả, bất chấp điều kiện thể lý hiện tại của họ, và mẹ khích lệ người khác cùng làm như vậy.
Soeur Therese Magdala
Dòng Thừa Sai Bác Ái
“Mẹ từng nhấn mạnh tới với việc quan tâm dành cho người khác. Bạn có thăm hỏi những người gần bạn hay không? Bạn có giúp đỡ người sống bên bạn, người trong gia đình, hàng xóm láng giềng, những người đang cần sự giúp đỡ bên ngoài đường phố mỗi khi bạn trông thấy họ? Chúng ta cần mở rộng tầm mắt để nhìn thấy thực tại nơi những người khác.”
Mẹ Tê-rê-sa nhấn mạnh rằng chúng ta không được phép phân loại một người là “vô gia cư,” nhưng phải giúp họ nghiệm được tình Chúa yêu thương. Mẹ xác tín mạnh mẽ điều này và đã thực hành trong đời sống hàng ngày của mình. Đó cũng là lý do mẹ được trao tặng Giải Nobel Hòa Bình năm 1979.
Ngày 04 tháng 9 tới đây, đời sống của mẹ sẽ được tôn vinh, khi Đức Thánh Cha Phan-xi-cô nâng mẹ lên bậc Hiển Thánh trong Giáo Hội Công Giáo Rô-ma.
Quang Khanh, S.J.
(Lược dịch từ Rome Report 25-08-2016)
26-8-2016
Mới đây, theo các báo cáo Ủy ban Kiểm tra TW, từ 2011 – 2013 Tổng Công ty CP xây lắp dầu khí Việt Nam (PVC) dưới sự điều hành của chủ tịch Trịnh Xuân Thanh đã để xảy ra thua lỗ hơn 3.200 tỉ đồng. Nhiều cán bộ PVC đã bị kỷ luật và xử lý hình sự!
Tuy nhiên, trong gần 4 năm qua, ông Thanh từ Phó Văn phòng Bộ Công Thương lên Vụ trưởng, Chánh văn phòng ban cán sự Đảng Bộ Công Thương, rồi về làm Phó Chủ tịch tỉnh Hậu Giang. Và còn được giới thiệu để bầu vào Quốc Hội với tỉ lệ trên 75%, cao nhất ở Hậu Giang.
Lùm xùm từ chiếc Lexus 570 biển số xanh chở ông Thanh ở Hậu Giang, đến việc moi ra trách nhiệm thua lỗ hơn 3.200 tỉ đồng. Tổng cục AN và Tổng cục Cảnh sát đã vào cuộc!
Lúc 16:00 hôm nay 26.8, tại Biệt thự Ciputra, Tây Hồ – Hà Nội. Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và tham nhũng (C.46), Bộ Công An tiến hành khám xét nhà ông Trịnh Xuân Thanh.
Hiện xe cảnh sát đậu đầy xung quanh nhà, các phóng viên Hà Nội tập trung về nhiều. Hôm nay VKS và C.46 đã họp, tranh cãi dữ dội về quyết định với ông Thanh.
Cuộc khám xét kéo dài, vợ con ông Thanh không có nhà. Trịnh Xuân Thanh đã bị câu lưu hai ngày nay!
Lúc 11:30, các ĐTV dẫn ông Trịnh Xuân Thanh ra và đưa đi!
…
P/s: Trịnh Xuân Thanh là con ông Trịnh Xuân Giới, cựu hiệu trưởng Trường Đoàn TƯ – thầy anh Đinh La Thăng. Mẹ ông Thanh làm việc ở Châu Phi nhiều năm. Ông Giới sau là phó ban Dân Vận TƯ cho tới khi nghỉ hưu, nhiều người vẫn còn truyền miệng về sự liêm khiết, giản dị của ông Giới khi vẫn đi chiếc cub 82 sau giờ hành chính!
Vụ Trịnh Xuân Thanh do ông Nguyễn Phú Trọng chỉ đạo, nói như bác luật sư Trần Quốc Thuận, nguyên Phó Chủ nhiệm Thường trực Văn phòng Quốc hội, thì: “Xử Trịnh Xuân Thanh mới cứu vãn niềm tin chế độ!”.
Ừ, thì cụ Tổng cứ lâu lâu yêu cầu làm một vụ là dân sướng ngay. Thế là niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng sẽ được tiếp tục cũng cố và tăng lên ngay thôi