Phân tích pháp lý về tuyên bố của Bộ Công an Việt Nam về Việt Tân

Phân tích pháp lý về tuyên bố của Bộ Công an Việt Nam về Việt Tân

Lê Công Định
Trên phương diện pháp lý, chỉ Tòa án mới được trao thẩm quyền tuyên một phán quyết xác định bản chất pháp lý của một tổ chức chính trị hoặc xã hội nào trên lãnh thổ Việt Nam, từ đó xem tổ chức ấy có hoạt động khủng bố hay không. Một cơ quan hành pháp như Bộ Công an hoàn toàn không có thẩm quyền đó.

Giả định nếu Bộ Công an có thẩm quyền, thì chẳng lẽ khi áp dụng Bộ luật Hình sự, các Tòa án – vốn thuộc ngành tư pháp – buộc phải chấp hành tuyên bố hay quy định riêng của một cơ quan thuộc ngành hành pháp chăng? Nếu thế thì Bộ Công an trở thành cơ quan siêu quyền lực, đuợc quyền sinh sát đối với toàn dân, tự đặt ra luật và buộc Tòa án xét xử dân theo luật do mình tuyên bố. Quốc hội và Tòa án càng trở nên bù nhìn và thủ giữ vai trò hình thức.
Động thái này của Bộ Công an cho thấy thể chế nhà nước pháp quyền của Việt Nam đang suy thoái nghiêm trọng theo hướng độc đoán tuyệt đối, bất chấp mọi chuẩn mực pháp lý tối thiểu mà các quốc gia thành viên Liên hiệp quốc công nhận. Đề nghị các Đại biểu Quốc hội hãy lên tiếng phản đối tuyên bố chuyên quyền và vượt quyền này của Bộ Công an.
Do đuợc ban hành sai thẩm quyền, nên tuyên bố và quy định dưới đây của Bộ Công an là vô giá trị và vô hiệu, người dân không cần tuân thủ:
“Việt tân” là tổ chức khủng bố, do đó, người nào có hành vi tham gia, tuyên truyền, lôi kéo, xúi giục người khác tham gia, tài trợ, nhận tài trợ của “Việt tân”; tham gia các khóa đào tạo, huấn luyện do “Việt tân” tổ chức; hoạt động theo sự chỉ đạo của “Việt tân”… sẽ đồng phạm tội khủng bố, tài trợ khủng bố và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam.”
FB Lê Công Định

Bao La Tình Chúa – Mai Thiên Vân & Tâm tình hiến dâng – Ngọc Lan

httpv://www.youtube.com/watch?v=44gg82j0dI4

Bao La Tình Chúa – Mai Thiên Vân

httpv://www.youtube.com/watch?v=syZAhNBOKIo

Tâm tình hiến dâng – Ngọc Lan

ÐK: Biết lấy gì cảm mến, biết lấy chi báo đền, hồng ân Chúa cao vời, Chúa đã làm cho con.
1. Thương con từ ngàn xưa, một tình yêu chan chứa, và chọn con đi làm đuốc sáng chiếu soi trần gian. Cho con say tình mến, và này con xin đến, một đời trung trinh làm muối đất ướp cho mặn đời.
2. Trao cho con Lời Chúa, dù đời con hoen úa, nguyện đời con đem lời chân lý đến cho mọi nơi. Ra đi đầy nguyện ước, và này con gieo bước, nguyện đời con đem nguồn yêu mến đến cho mọi người.
3. Chân đi đạp đồi non, biển đời bao sóng gió, Người đỡ nâng con dù nguy biến vẫn ở cùng con. Yêu thương làm hành trang, ngọn đèn tim thắp sáng, một đời vui như đàn chim hót suối reo đầu ngàn.
4. Xin cho con bình an, và đầu cao mắt sáng, cuộc đời con đi làm chứng tá Chúa trên trần gian. Xin cho con nghèo khó, dù đời bao nguy biến, vì hạnh phúc con là chính Chúa gia nghiệp trọn đời.

Cựu chủ tịch OceanBank bị đề nghị truy tố

Cựu chủ tịch OceanBank bị đề nghị truy tố

 BBC

 

OCEAN BANK

Ông Hà Văn Thắm 10 năm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản trị ngân hàng OceanBank

Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an Việt Nam vừa ra kết luận điều tra, đề nghị truy tố cựu chủ tịch OceanBank Hà Văn Thắm.

Ông Hà Văn Thắm, 44 tuổi, bị đề nghị truy tố cùng 16 người khác trong vụ án kinh tế xảy ra tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đại Dương (OceanBank).

Ông Thắm bị bắt hồi tháng 10/2014.

Ông bị đề nghị truy tố ba tội: Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng; Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ; Cố ý làm trái quy định của Nhà nước gây hậu quả nghiêm trọng.

Báo Việt Nam dẫn nguồn cơ quan điều tra tường thuật “ông Thắm cho doanh nghiệp vay 500 tỷ đồng mà không có tài sản đảm bảo”.

“Sau khi bị bắt, ông Hà Văn Thắm đã khai báo thành khẩn, có ý thức hợp tác với cơ quan điều tra để làm rõ sự thật vụ án xảy ra tại OceanBank”, báo Zing hôm 7/10 viết.

Nếu bị truy tố, phiên xử sơ thẩm ông Thắm có thể sẽ diễn ra vào năm sau.

Bình luận về việc này, chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành nói với BBC từ Hà Nội: “Tôi trông đợi phiên tòa xử ông Thắm sẽ diễn ra minh bạch và công minh, làm gương cho những nhà quản lý ngân hàng khác.”

“Hệ thống ngân hàng tại Việt Nam đến nay hãy còn thô sơ, nhiều ngân hàng không hoạt động đúng quy tắc tín dụng.”

“Ngoài ra, một số ngân hàng còn trở thành sân sau cho những quan chức và triền miên trong vấn đề nợ xấu, gây nhiều tổn hại cho nền kinh tế và tài chính Việt Nam.”

Vụ OceanBank là một trong sáu “đại án” mà Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ đạo “cần tiếp tục đẩy nhanh tiến độ xử lý”.

Hà Nội: CA câu lưu LM Đặng Hữu Nam vì đấu tranh bảo vệ môi trường

Hà Nội: CA câu lưu LM Đặng Hữu Nam vì đấu tranh bảo vệ môi trường

 
CTV Danlambao – Linh mục Anton Đặng Hữu Nam, quản xứ Phú Yên thuộc giáo phận Vinh đã bị công an mặc thường phục chặn giữa đường và “mời” đến công an phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy-Hà Nội để “làm việc”.
Linh mục Đặng Hữu Nam cho biết, sự việc xảy ra vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 04/8/2016, khi cha Nam vừa rời khỏi trụ sở ĐSQ Đài Loan.
Người trực tiếp làm việc với linh mục Đặng Hữu Nam là đại úy Phạm Văn Trung, đội phó đội điều tra quận Cầu Giấy. Ông này nói rằng, có một người tên là Lê Văn Kiên, ngụ tại xóm 4, xã An Hòa, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An viết đơn tố cáo linh mục Đặng Hữu Nam nhận 50.000 USD của đảng Việt Tân để “phát cho giáo dân đi biểu tình chống phá nhà nước”. Tuy nhiên, cơ quan công an này đã không trình được đơn tố cáo theo yêu cầu của Linh mục Đặng Hữu Nam. Thậm chí, khi được hỏi về số Chứng minh nhân dân của người tố cáo để xác định thông tin, công an cũng không chứng minh được.
Cha Đặng Hữu Nam khẳng định đơn tố cáo chỉ là thư nặc danh và việc này là “trò bịa đặt”. Vì thế ông không thừa nhận tính pháp lý của “đơn tố cáo” này. Không chứng minh được việc có đơn tố cáo cha Nam nhận 50.000 USD của Việt Tân, công an Hà Nội buộc tội cha tổ chức biểu tình để chống phá nhà nước và viết bài đưa lên mạng. Linh mục Nam khẳng định việc thể hiện quan điểm là quyền tự do ngôn luận. Linh mục Đặng Hữu Nam cũng khẳng định mình không tổ chức biểu tình chống nhà nước mà là dâng Thánh lễ, kêu gọi giáo dân nói riêng, và người Việt Nam nói chung phải bảo vệ Tổ quốc. Trong các buổi thánh lễ, linh mục Nam đều cầu nguyện cho công lý và hòa bình, cho quốc thái dân an, cầu cho chính những người lãnh đạo cộng sản phải biết yêu nước và có trách nhiệm với người dân. Việc tuần hành bảo vệ môi trường và kêu gọi tình yêu thương không phải là biểu tình. Trước khi tổ chức các cuộc tuần hành, linh mục Đặng Hữu Nam đều thông báo với trưởng công an huyện để đề nghị cơ quan này bảo vệ người dân khi tham gia tuần hành.
Trao đổi với CTV Danlambao, linh mục Đặng Hữu Nam cho biết ông đi Hà Nội để chữa bệnh và giải quyết một số công việc. Trong đó có việc xin visa để sang Đài Loan theo lời mời của Linh mục Phero Nguyễn Văn Hùng để bàn thảo một số công việc về Tôn giáo.
Linh mục Anton Đặng Hữu Nam là một trong những người đấu tranh mạnh mẽ trong vấn đề bảo vệ môi trường. Từ khi thảm họa môi trường xảy ra, cha Nam thường xuyên tổ chức các cuộc tuần hành, thánh lễ cầu nguyện cho công lý và hòa bình, bênh vực ngư dân. Có những cuộc tuần hành thu hút vài ngàn giáo dân tham dự.
Đây không phải lần đầu tiên linh mục Đặng Hữu Nam bị sách nhiễu, bị bắt vô cớ và bị câu lưu tại đồn công an.
Tháng 12 năm 2015, cha Nam đã bị đánh đập, hành hung khi ông đang trên đường đi chữa bệnh.
Linh mục Đặng Hữu Nam cho biết, dù mang trong người hai căn bệnh hiểm nghèo là ung thư não và ung thư máu, nhưng cha luôn hết mình phụng sự Chúa, làm chứng cho sự thật và dấn thân cho công lý và hòa bình.

Nạn Lạm Thu & Thói Cửa Quyền

Nạn Lạm Thu & Thói Cửa Quyền

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Ảnh của tuongnangtien

tuongnangtien

Viết về sự nghiệp của Tô Hoài, có nhà phê bình văn học đã đưa ra một nhận xét rất đáng quan tâm:

“Từ sau 1945, ngoài làm báo, làm xuất bản hoặc làm công tác đối ngoại, ông còn tham gia sinh hoạt tổ dân phố, các hoạt động của mặt trận, của tổ chức người già… nói chung là trăm thứ bà rằn linh tinh khác… Ở nước nào kia, còn có thể có hạng nghệ sĩ thu mình lại trong tháp ngà, ở ta, cái bàn viết của nhà văn nằm giữa cuộc đời.” (Vương Trí Nhàn. Cánh Bướm & Hoa Hướng Dương, NXB Phụ Nữ, Hà Nội: 2006).

Nhờ kinh nghiệm “linh tinh bà rằn” của một người cầm bút “từng tham gia sinh hoạt tổ dân phố” nên độc giả của Tô Hoài được biết thêm (ít/nhiều) về sinh hoạt của lực lượng dân phòng ở miền Bắc, Việt Nam:

“Tôi đi tuần tra. Một tốp hai người đeo băng đỏ, tay cầm cái đèn hai pin của đội dân phòng … Phó ban Đại hay đi tuần với tôi, có khi tôi rủ, có khi Đại đợi. Chẳng phải đến lượt đi đôi với Đại, mà Đại thích đi với tôi. Đêm nằm khàn, Đại nhớ bia. Nửa đêm chúng tôi vào quán Gió hàng bia nhà mậu, uống thả cửa, trả tiền không lấy…”

Ngoài bia “uống thả cửa” ra, anh em dân phòng (thỉnh thoảng) cũng được những người dân thấp cổ bé miệng xì ra cho “vài đồng” tiền lẻ để bôi trơn mấy việc linh tinh. Đôi khi, món “quà lót tay” đơn giản chỉ là “một củ khoai còn nóng” từ mấy mẹt quà rong. (Tô Hoài. Chiều Chiều, NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội: 1999).

-Thế thôi á?

Vâng, chỉ có thế thôi nhưng đây là một phát kiến tuyệt vời của nước CSVN. Chính phủ gần như không phải chi một xu nào ráo, cũng khỏi phải sắm sửa đồng phục, giầy/dép, hay mũ/nón gì sốt cả – kể cả nón tai bèo – nhưng vẫn duy trì được một lực lượng “trị an” hữu hiệu chưa từng thấy.

Chỉ cần đeo cái băng đỏ vào tay là trở thành ngay đám dân phòng, tháo ra đút túi thì biến ra … quần chúng tự phát. Biến hoá cứ ma nên người dân còn gọi đây là là đám … âm binh hay cô hồn sống!

Dân phòng tác nghiệp. Ảnh: infonet

Sau ngày 30 tháng 4, cùng với ông công an phường, bà tổ trưởng dân phố, anh công an khu vực, chị hội trưởng phụ nữ, đám dân phòng cũng (“nối vòng tay lớn”) vô tới trong Nam. Cung cách sinh hoạt thì vẫn y như ở Hà Nội thôi. Cứ đeo cái băng đỏ vào rồi đi loanh quanh “la liếm” kiếm ăn khắp hang cùng, ngõ hẹp.

Chỉ khác có điều là lực lượng dân phòng ở thành phố Hồ Chí Minh (quang vinh) không chịu ăn khoai, hay sắn luộc. Họ quen với món “cơm tấm bì sườn” truyền thống ở vùng đất trù phú này rồi, theo như tường thuật của nhà báo Thụy Du:

Nhân dịp ông Bí thư thành ủy – Đinh La Thăng vi hành xuống địa phương. Du tôi có bài phỏng vấn bỏ túi với bà con lối xóm:

     – Chào chú Năm hưu trí, đón nhận tin này chú thấy thế nào?

     – Tao đang lo vụ này nè! Trên phường họ có cho biết là đầu tuần này là ông ấy xuống kiểm tra. Đề nghị một vài cán bộ lão thành chuẩn bị tinh thần, nếu ông Thăng có hỏi thì lựa lời nói tốt cho địa phương.

     – Vậy chú lo cái gì?

     …

Anh Tư taxi đang ngồi cà phê gần bên liền lên tiếng:

     – Thế mà cũng gọi là nhà báo. Mày có thuộc câu này chưa: “Cướp đêm là giặc. Cướp ngày là … vừa nói anh Tư vừa chỉ tay về hướng một nam thanh niên mặc quân phục cảnh sát đi cùng ba chú dân phòng lớn tuổi đang gom bàn ghế của quán cháo vỉa hè”. Ở đâu cũng vậy, với đám này thì không có hụi sống, chỉ toàn hụi chết mà thôi. Khốn nạn là bà con vừa đóng tiền mà còn phải năn nỉ để được chúng nó nhận.

Em Hai cơm tấm xen vào:

     – Đâu phải chỉ có vậy. Có hôm bán ế quá, vậy mà mấy ông dân phòng chạy xe máy ra lấy gần chục hộp cơm sườn, nói là phường họp đột xuất, kêu mình ủng hộ miễn phí. Anh nhà báo thấy có tức không? Có muốn từ chối cũng không được.

Với kiểu ủng hộ (“muốn từ chối cũng không được”) này thì những đĩa cơm sườn đến tay người mua, tất nhiên, sẽ đều phải xén đi chút xíu. Thu nhập của người bán, đương nhiên, cũng bị bớt lại đôi phần.

Tuy nhiên, theo tôi, em Hai cơm tấm không nên vì thế mà bực tức (hay “bức xúc”) làm chi, cho má nó khi. Cứ coi như là một kiểu đóng thuế đi,  thuế gián thu. Hay nói cách khác là “khéo thu” hay “thu khéo.” Nhà Nước móc túi thiên hạ – một cách khéo léo – bằng tay của đám dân phòng để duy trì một lực lượng hùng hậu nhưng không cần phải trả đồng tiền lương nào cả.

Mà lương tháng ở Việt Nam, nếu có, cũng chỉ đủ cho công nhân viên sống cỡ 10 ngày là hết. Bởi vậy, việc “thu khéo” (hay “thu thêm”) không chỉ xẩy ra ở vỉa hè Sài Gòn hay Hà Nội.

Thuế gián thâu được thâu khắp chốn, bằng nhiều tên gọi khác nhau (bôi trơn, hối lộ, tham nhũng) tùy theo từng chuyện. Riêng chuyện chung chi lặt vặt xẩy ra ở phi trường, hay trên đường phố (khi bị các anh hùng núp tuýt còi) thì được coi như là tiền mãi lộ, chớ không phải hối lộ – như Thiếu tướng Nguyễn Văn Tuyên, Cục Trưởng Cục CSGT, đã xác nhận.

Cái nước mình nó thế nên toàn dân cứ thế mà chi. Không (nghe) ai phàn nàn hay la lối gì ráo trọi, trừ những kẻ sống ở nước ngoài – theo như tin loan của BBC:

“Một nhóm những người gốc Việt Nam đang sống ở Đức và châu Âu đã tổ chức biểu tình trước Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Frankfurt am Main, Đức chiều ngày 25/9 yêu cầu chấm dứt lạm thu và thói cửa quyền.”

Sự việc vô cùng đáng tiếc này lẽ ra đã không xẩy ra nếu người dân có chút thông hiểu (và thông cảm) hơn với đời sống của giới nhân viên sứ quán.

Như đã thưa, không có chuyện “lạm thu” ở bất cứ cơ quan công quyền nào thuộc nhà nước Việt Nam. Đây chỉ là một thứ thuế gián thu, và cũng là chuyện chẳng đặng đừng, theo lời của ông Đặng Xương Hùng – cựu lãnh sự Việt Nam tại Geneve – trong một cuộc phỏng vấn dành cho blogger Nguyễn Thị Từ Huy (RFA) vào hôm 26 tháng 7 năm 2016:

Câu chuyện visa cụ thể là thế nào, thưa ông?

Chuyện visa, khi tôi tiết lộ những chi tiết cụ thể, tôi biết những người bạn tôi ở Bộ ngoại giao chắc sẽ trách tôi nhiều lắm. Vì rằng chỉ mới ba, bốn năm nay thôi, tôi vẫn còn sống vì nó và kiếm ra đồng tiền vì nó. Nhưng cái lòng tôi muốn nói ra vì rằng tôi có một người bạn còn trẻ ở Bộ mới lần đầu ra nước ngoài và khi tiếp xúc với câu chuyện visa, đã thốt lên rằng“Thu tiền lệ phí visa như thế làm mất uy tín của Bộ Ngoại giao quá anh nhỉ”. Tôi đã trả lời: Đi công tác ở sứ quán, không có tiền chia từ visa, mình không còn thừa ra đồng nào để mà tiết kiệm đâu em ạ. Rồi em sẽ quen dần thôi”.

Và vì rằng cả hai chúng tôi đều cùng một ý nghĩ là thà nếu nhà nước cho chúng tôi hưởng một chế độ tiền lương chính đáng tương đương nào đó, còn hơn là dành cho chúng tôi một “chế độ mập mờ” để chúng tôi phải “gian dối”” trong lệ phí visa.

Cũng theo ông Đặng Xương Hùng thì công chức bộ của Bộ Ngoại Giao “chỉ có lương cơ bản chừng khoảng 500 USD/ tháng.” Với số tiền nhỏ nhoi này mà một nhân viên thuộc Toà Tổng Lãnh Sự ở Houston dùng để ăn sáng thì có thể dư nhưng ở San Francisco thì chắc thiếu, còn ở Washington (D.C) thì thiếu chắc!

Bởi vậy, “mập mờ và gian dối” là chuyện tất nhiên. Và hống hách là hệ quả tất yếu. Cái thái độ thường bị “hiểu lầm” là “cửa quyền” của các ông/bà quan sứ của nước ta, chả qua, chỉ để khoả lấp cái mặc cảm do những việc làm khuất tất của họ mà thôi.

Biểu tình chống lạm thu, đòi minh bạch hóa các thủ tục lãnh sự tại Frankfurt – CHLB Đức. Ảnh & chú thích: Dân Luận

Có cậu dân phòng nào mà muốn hạnh hoẹ mấy cô hàng rong chỉ để được ăn (không) một củ khoai luộc hay một đĩa cơm sườn đâu, nếu họ nhận được đồng lương tử tế đủ chi cho thực phẩm hàng ngày. Những viên chức của Bộ Ngoại Giao cũng thế. Họ cũng muốn làm việc một cách đàng hoàng, công chính chứ, nếu được trả lương đủ sống.

Tôi nói chẻ hoe ra như thế với hy vọng có sự thông hiểu (và thông cảm) hơn giữa người dân và giới nhân viên sứ quán để chúng ta khỏi mất thời giờ vào việc biểu tình nữa. Vô ích!

Đối với nhà đương cuộc Hà Nội thì lạm thu không phải là quốc nạn mà là quốc sách. Nạn “lạm thu và cửa quyền” sẽ không thể nào chấm dứt, nếu cái chế độ (khốn nạn) hiện hành vẫn còn tồn tại.

Cá chết Hồ Tây là ‘bài học sau Formosa’

Cá chết Hồ Tây là ‘bài học sau Formosa’

BBC

6-10-2016

Các lực lượng thu gom cá chết trên Hồ Tây ngày 3/10. Ảnh: AFP.

Hiện tượng cá chết Hồ Tây là một “bài học sau Formosa” đắt giá cho Việt Nam, nhà nghiên cứu thủy sản nói.

Cá chết bắt đầu nổi lên từ tối ngày 1/10 trên Hồ Tây ở Hà Nội, với mô tả cá chết nổi đầy mặt nước, trôi dạt trắng ven bờ.

Hôm 2/10, thành phố Hà Nội ra cảnh báo người dân không vớt, sử dụng cá chết tại Hồ Tây.

Kết quả kiểm tra ban đầu nói rằng toàn bộ nước mặt của Hồ Tây không có oxy, chỉ số oxy = 0.

Hơn 200 tấn cá đã được thu gom sau sự việc. Nhiều hình ảnh cho thấy cá nổi trắng một khu vực hồ.

‘Không ai biết’

Nói với BBC Tiếng Việt từ Hà Nội, Tiến sỹ Bùi Quang Tề, chuyên viên về bệnh thủy sản, nguyên trưởng phòng sinh học thực nghiệm, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I nhận định: “Mỗi một hồ có sức tải nhất định. Hồ Tây đến 500 ha mà tải không nổi thì hồ nhỏ chả là gì cả. Chúng tôi biết chắc chắn nguyên nhân là nước thải xả vào hồ Tây, mà sức tải Hồ Tây không chịu nổi thì bung ra làm cho cá chết.”

“Nếu cá không chết thì chẳng ai biết, cứ nghĩ là nước hồ sạch.”

Ông Bùi Quang Tề được biết đến với nhiều công trình nghiên cứu và viết sách về thủy sản tại Việt Nam.

“Lẽ ra thiết kế phải có khu hồ điều hòa, hồ nước thải, làm sạch lại rồi mới đổ ra, như các khu hồ điều hòa trong khu công nghiệp.

“Nhưng Hồ Tây không thể làm hồ điều hòa được, không chịu tải được. Chắc người ta cũng nghĩ là Hồ Tây quá lớn nên không làm hồ điều hòa, nhưng đến mức ô nhiễm như thế thì không thể chấp nhận được nữa.

“Cá chết do thiếu oxy thì rõ ràng nước hồ đã bị ô nhiễm hữu cơ cực mạnh. Để oxy hóa các chất ô nhiễm đó, nó lấy sạch oxy thì tất cả sinh vật dưới hồ chết.”

h1Cá chết nổi trắng Hồ Tây vì hiện tượng thiếu oxy. Ảnh: AFP

‘Bài học sau Formosa’

Nói về hệ thống xử l‎ý nước thải, BBC hỏi Giáo sư – Tiến sỹ khoa học Trần Hữu Uyển, chuyên gia về nước của Đại học Xây dựng Hà Nội.

Ông nói: “Nguyên tắc là nước thải thì phải thu gom, xử lý đủ tiêu chuẩn mới xả vào hồ. Trong phát triển đô thị của mình, luật môi trường có đề ra nhưng không được chấp hành đầy đủ.

“Theo luật môi trường khi xây dựng nhà cửa phải có những thiết bị xừ lý nước thải bảo vệ môi trường. Nếu không có các thiết bị đó thì không được duyệt cho xây dựng.

“Nhưng chắc là các ông cũng để xây dựng tràn lan. Hồ Tây hiện nay có một cống bao để thu gom nước thải về trạm xử lý nước thải Hồ Tây rồi nhưng xây dựng không quy củ, đấu nối không tuân thủ, sinh ra nước thải chảy thẳng vào hồ Tây.”

Ông Uyển cũng giải thích về mạng thu gom nước thải là “đã có thiết kế” nhưng có thể “không hoàn chỉnh”. Ông nói: “Tôi không rõ quá trình xây dựng các cống nối với nhau có đảm bảo hay không, hay có đúng quy phạm hay không.

“Nếu không đảm bảo, nước trong cống lại thấm xuống đất, chảy vào hồ, đó cũng là điều có thể xảy ra.

“Một số vùng lại không thể đấu nối vào được mạng cống thoát nước thì nước lại chảy thẳng vào hồ,” ông nói về những khả năng khiến Hồ Tây bị ô nhiễm nặng.

BBC hỏi về góc độ quản lý và xử lý nước thải trong đô thị của Hà Nội, tiến sỹ Tề nói: “Tôi không dám phê bình thành phố, nhưng thành phố có bao giờ nghĩ ra nước thải là phải đổ đi đâu không? Hay tất cả các vị cứ nghĩ Hồ Tây là cái hồ lớn, cứ đổ thẳng vào?

h1Hình ảnh độc giả gửi BBC trong một ngày trên hồ. Ảnh: Trinh Van Xep

“Đây là một bài học sau Formosa, trước là thủ tướng, giờ là chủ tịch thành phố phải rút ra bài học, một bài học đắt giá cho Việt Nam. Formosa nước biển còn làm như thế được thì hồ Tây đâu là gì. Trong khi đó đây là một trong những hồ làm lá phổi xanh của Hà Nội.”

“Lỗi nặng ở đây là của Ủy ban nhân dân thành phố, của Sở tài nguyên – môi trường, Sở khoa học – công nghệ, Sở Thương nghiệp… tất cả đều dính vào hết.

“Sở thương nghiệp là gì, là các nhà hàng ở hồ Tây, hàng ngày có hơn 4.000 khối nước thải đổ vào, chưa kể khu dân sinh đổ ra, có thể khu công nghiệp, khu nhà cao tầng đổ ra kinh khủng.

“Với một hồ rộng 500ha, bao nhiêu nghìn khối nước vậy mà vẫn bị ô nhiễm,” ông nói.

‘Hồ chết’?

Nhà khoa học này gọi sự việc 200 tấn cá chết nổi trên hồ là “bài học đắt giá” và để thay đổi “mất nhiều thời gian”.

Ông cũng nói với BBC về giải pháp mà thành phố Hà Nội có thể thực hiện:

“Đầu tiên, phải ngăn chặn nguồn không cho nước thải vào trong hồ nữa. Tất cả nhà hàng, khách sạn nổi Hồ Tây giờ đang xả thải trực tiếp ra hồ. Sở nào quản lý các khách sạn này? Có ngăn chặn được không? Nghĩa là chỉ có nước sinh hoạt của bà con sống bám xung quanh hồ được xả vào. Chứ cả một cái đô thị lớn như thế xả thẳng vào hồ làm sao chịu được.”

“Thứ hai, là vài trăm tấn cá đã nổi lên. Nhưng cá nổi lên một thì ở dưới đáy chết cả trăm. Phải hút và vớt tất cả chất thải, và cả cá chết đó lên. Nó sẽ nổi dần từ từ lên. Trong nghề cá, cứ nhìn thấy một con nổi lên thì dưới đáy đã có cả trăm con chết. Vi sinh vật và các loại phù du, sinh vật đáy cũng ảnh hưởng và chết.”

h1Nhiều sự cố môi trường xảy ra ở Việt Nam thời gian qua, cùng với thảm họa cá chết do Formosa xả thải, khiến người dân đặt câu hỏi về môi trường đô thị. Ảnh: CHAM

“Thứ ba là thành phố cũng làm nhanh được rồi. Do ô nhiễm nặng nguồn hữu cơ, gây thiếu oxy, phải bơm oxy xuống thì đã lắp đặt hệ thống bơm oxy xuống rồi.”

“Sau đó là dùng hóa chất, chế phẩm vi sinh làm sạch hồ,” tiến sỹ Tề nói nhưng ông thừa nhận cách này “không biết thành phố có đủ tiền không” vì đắt giá.

“Quy hoạch đô thị là lỗi của ủy ban nhân dân thành phố,” nhà khoa học này so sánh vụ việc với thảm họa cá chết do Formosa ở miền Trung Việt Nam và nhận định “nói to lên đó là cái tội, chứ chẳng còn là lỗi nữa”.

Ông nói nếu không có hành động, “Hồ Tây sẽ là hồ chết”.

“Hồ Tây có cả nghìn năm nay rồi. Ngày xưa chỉ có những người sống bám quanh hồ xả ra là ít. Nhưng giờ cả thành phố Hà Nội xả ra, càng phát triển mạnh thì nước hồ càng phải nhận các chất thải quá lớn.”

Câu chuyện về cuộc đời.

Xin giữ gìn tình bạn.

Câu chuyện về cuộc đời.

Đời người ngắn ngủi, quá khứ rồi cũng trở thành kỷ niệm. Nếu như có thể, mỗi dịp năm mới đừng quên họp mặt lớp, gặp mặt bạn học, ôn lại tình bạn xưa.

Có lẽ bạn đang bận rộn với gia đình, sự nghiệp. Hay có lẽ bạn cảm thấy mệt mỏi trước áp lực dòng đời. Cũng có lẽ hoàn cảnh xã hội của chúng ta không như nhau. Và có lẽ tính tình chúng ta có đôi chỗ khác biệt. Nhưng cho dù thế nào, hãy tin tưởng dù xã hội có thay đổi, dòng đời có trôi mau, thì tình bạn mãi mãi không phai mờ, và cũng không bao giờ thay đổi.

tinh-ban-1

 

 

 

 

 

 

 

Không chăm vào lợi ích vật chất, không lợi dụng lẫn nhau, đó là viên ngọc quý mà  bạn tặng cho nhau. Vậy còn chần chừ gì nữa mà không đến với nhau  để ôn lại thời kỳ vàng son?

10 năm, 20 năm, 30 năm, hay thậm chí 40 năm, 50 năm, họp mặt sẽ trở thành bữa tiệc của cuộc sống, để chúng ta chợt nhận ra rằng, dẫu cuộc đời trôi qua như mây khói, nhưng tình bạn là  cao quý.

tinh-ban-2
Người xưa có câu: “Tu trăm năm mới ngồi cùng thuyền, tu nghìn năm mới ngủ chung gối, tu năm đời mới học cùng  lớp.”

Các bạn học của tôi, giữa biển người mênh mông, chúng ta không sớm gặp nhau, biết đâu khi chúng ta muốn lại khôngđược. Đừng đánh mất cơ hội trùng phùng, hạnh ngộ bạn nhé.

tinh-ban-3

 

 

 

 

 

 

 

 

Thời gian dần trôi qua, sân trường xưa đã trở thành dĩ vãng, nhưng mỗi lần nhớ lại thời đi học, ta lại xao xuyến, bồi hồi, xúc động.

Tình bạn là thuần khiết nhất, mộc mạc nhất, cao quý nhất, xúc động nhất, lãng mạn nhất, kiên cố nhất, vĩnh bền nhất. Cùng học chung lớp, vui thì cười, giận thì mắng, dỗi hờn thì quay mặt lặng thinh.. Hôm nay ngồi nhớ lại chuyện xưa, có lẽ bạn và tôi đều mỉm cười mãn nguyện.

tinh-ban-4

Các bạn học cũ của tôi, cảm ơn các bạn đã làm bạn với tôi những năm tháng ấy, để cho tôi học cách yêu thương và trân trọng. Trân trọng một thời thanh xuân, rạng rỡi. Cầu mong các bạn mạnh khỏe,  chân cứng đá mềm, cầu mong chúng ta  cùng biết quý trọng tình bạn mãi mãi cho đến trọn đời!

Nguồn internet.

Đạo tại Tâm

Đạo tại Tâm

Dongten.net

dao-tai-tam

“Đạo Tại Tâm” là câu nói cửa miệng của nhiều người xưa nay, nó đã trở nên một thành ngữ phổ biến trong dân gian, từ người bình dân cho đến người có học. Nó quá quen thuộc đến nỗi người ta đã hiểu sai cái ý nghĩa đích thực của nó, rồi mỗi người hiểu theo ý riêng của mình, sinh nhiều lạm dụng và tranh cãi, cho cả người ủng hộ lẫn người phản đối.

CÁCH HIỂU ĐẠO TẠI TÂM NƠI MỘT SỐ NGƯỜI

Người ta hiểu “đạo tại tâm” nhiều cách khác nhau, đôi khi trái ngược nhau. Có người hiểu Đạo là giữ trong lòng chứ không cần thiết phải phô trương bên ngoài. Người khác lại hiểu giữ đạo cốt ở tâm hồn, còn cái bề ngoài chỉ là phụ thuộc, có cũng được, không có cũng chẳng quan trọng. Lại có cách hiểu Đạo là cái lõi, kiểu giữ đạo là vỏ, chỉ là phụ, nên cái vỏ chỉ có giá trị nhất thời. Cũng có người hiểu Đạo Tại Tâm là cách ngụy biện của kẻ “vô đạo”, cho rằng giáo lý tôn giáo của họ không có chuyện Đạo Tại Tâm. Một cách hiểu dung hòa cho rằng Đạo (tại tâm) là nội dung, còn giữ đạo là hình thức, đạo chú trọng về nội dung nên nói vậy, nhưng cần có cả nội dung lẫn hình thức mới được hoàn hảo. Và còn nhiều cách hiểu khác nhau, tùy theo ý niệm hoặc thành kiến để hiểu Đạo và Tâm theo nhãn quan của mỗi người .

Người đả phá việc theo “đạo tại tâm” cũng tìm những lý lẽ, viện những câu chuyện ví dụ làm luận cứ cho cái tiền đề khá mơ hồ theo cách hiểu của họ. Khái niệm hoặc định nghĩa về Đạo Tại Tâm không được đề ra một cách thỏa đáng, không dựa trên nguồn gốc có cơ sở trên lãnh vực đạo học và văn hóa tư tưởng, nên cách giải thích và phản bác của mỗi người khác nhau, cái lý đưa ra khiến người nghe không thỏa mãn, dù họ khó phản biện được.

Như vậy nếu hiểu Đạo, hiểu Tâm theo ý mỗi người thì không còn biết chân lý nằm ở chỗ nào, cũng chẳng nhận ra bản thể của Đạo, và cũng không tìm thấy cái Tâm Nguyên Bản của nó.

Vậy Đạo và Tâm từ đâu và bản chất của nó như thế nào?

ĐẠO VÀ TÂM

Ngoài Ấn Độ theo Ấn giáo, Do Thái giáo của Israel và một số quốc gia theo Hồi giáo, hầu hết các nước Á châu đều thấm nhiễm triết lý, tư tưởng và luân lý của Khổng, Lão và Phật. Vì vậy muốn hiểu Đạo và Tâm theo nghĩa “đạo tại tâm”, không gì hơn là tìm đến Đạo học Đông phương, nơi xuất xứ ra thành ngữ này. Nơi đây, cái gốc được căn cứ trên cơ sở của “Tam giáo Đồng nguyên”, tức Khổng, Lão và Phật.

– Nho Giáo:

Đức Khổng Tử nói: “Thiên mệnh vị chi Tánh, suất tánh vị chi Đạo, tu Đạo vị chi Giáo” (Cái mệnh Trời phú cho gọi là Tánh, theo Tánh gọi là Đạo, sửa mình cho đúng Đạo gọi là Giáo –  sách Trung Dung).

Nho giáo cho rằng theo Đạo là tuân thủ theo Thiên lý, mà Thiên lý với bản tánh con người là một, cho nên theo Đạo là cốt để sửa cái tính con người cho hợp với Thiên lý. Nên Đạo với con ngưòi là một.

Đức Khổng nói rằng: “Đạo bất viễn nhân, nhân chi vi Đạo nhi viễn nhân, bất khả dĩ vi Đạo” (Đạo không xa rời bản tánh con người, nếu theo Đạo mà để xa cái bản tánh con người, thì không phải là Đạo –  sách Trung dung).

Cũng như: “Đạo tại nhĩ nhi cầu chư viễn, sự tại dị nhi cầu chư nan” (Đạo ở gần sao lại đi tìm ở xa, sự việc dễ sao lại làm cho nó khó – Mạnh tử). Ở gần là ở trong ta (tâm), việc dễ vậy mà lại tự gây (khi hành đạo) cho nó phức tạp.

Do đó Đạo luôn gắn bó với con người, nằm trong con người, đó chính là lương tâm, thiện tánh.

Cho nên:  “Đạo bất khả tu du ly dã, khả ly phi Đạo dã” (đã là Đạo thì không giây phút nào xa lìa được, nếu xa lìa được thì không phải là đạo – sách Trung dung).

Theo Nho giáo thì Tâm và Tánh là thần minh, là linh giác của con người, cũng còn gọi là linh tâm, giác tánh.

Nho giáo xem Tâm và Tánh ban đầu vốn lành, nhưng sở dĩ con người có tâm tánh độc ác, là do càng ngày càng tập nhiễm những điều xấu, mà xa dần cái tánh bổn thiện. Nên bài học vỡ lòng của đạo Nho là: “Nhơn chi sơ, tánh bổn thiện; Tánh tương cận, tập tương viễn ” (Tánh thuở ban đầu của con người vốn lương thiện, luôn gần gũi với điều lành, nhưng vì tập nhiễm tánh xấu, nên xa dần điều lương thiện – Tam Tự Kinh).

Cũng như thuyết “Tri Hành Hợp Nhất” của Vương Dương Minh  (14721528), một nho gia nổi tiếng đời nhà Minh, Trung Quốc, nói cái Tâm là cái “Trí lương tri” của con người đã được phú bẩm, cần quay về mình (tâm) để tìm lại nó, nhờ sự soi sáng và dẫn dắt của nó mà thi hành đạo.

Vì vậy phương châm tu hành của Nho giáo dạy phải: “Tồn Tâm Dưỡng Tánh”, tức là giữ cái thiện tâm luôn tồn tại, và nuôi dưỡng cái tánh vốn lành của mình, đừng cho tiêm nhiễm những điều xấu. Nó được căn cứ trên LÒNG NHÂN (cái tâm), thể hiện qua TAM CƯƠNG và NGŨ THƯỜNG (thực hành đạo).

– Lão Giáo:

Đức Lão Tử cho Đạo là tinh thần, là Bản Nguyên của trời đất, vạn vật, nên trời đất vạn vật là bản thể của đạo, vì thế Đạo lưu hành trong vũ trụ, tàng ẩn trong muôn vật, cho nên vật nào cũng có phần linh diệu của Đạo bên trong để điều hòa, trưởng dưỡng cho nó. Đạo không có hình tướng, rất khó diễn tả, nên con người chỉ lấy Tâm để cảm nhận và hình dung Đạo mà thôi.

Còn Tâm Tánh là Thiên lương (Tâm nguyên thủy), có sẵn trong con người, còn gọi là Lương tâm và Thiện tánh, cứ nhìn thẳng trở vào Tâm Tánh của chính mình thì sẽ thấy Đạo.

Tâm Tánh có sẵn trong mỗi người ban đầu, nó hồn nhiên, vô tư vô dục, lương thiện như tâm hồn của đứa trẻ con mới sinh ra, nên Lão Tử so sánh cái Thiên lương của con người như là tâm của đứa con đỏ, gọi là “Xích tử chi tâm”. Cái Tâm phát sinh ra các tư tưởng, làm chủ cái thân, là cái hồn của con người. Nhưng trong tâm lại có động, có tịnh. Ý động thì khí hành, ý tịnh thì khí lặng, cho nên khí hành hay lặng đều từ cái Ý của Tâm mà ra.

Nhưng sở dĩ có sự biến dạng thành hung ác, là do tập nhiễm vật dục làm thay đổi từ tốt trở nên xấu. Vì vậy con người trở thành thánh nhân cũng do bởi Tâm, mà sống như thú vật cũng do cái Tâm sai khiến. Nên đường hướng tu hành của Lão giáo lấy sự hư tĩnh để tu luyện đó là: “Tu tâm luyện tánh” (sửa tâm và trau dồi tánh).

Tu Tâm là sửa lòng cho trong sạch, cốt làm cho tâm con người luôn thanh tịnh, làm chủ được bản thân mình, không để thất tình lục dục dẫn dắt. Luyện Tánh là tập cái tánh trở thành không không, đừng để ảnh hưởng bởi thất tình (hỉ, nộ, ái ố, ai, cụ, dục), lúc đó con người sẽ được cái Tâm sáng tỏ soi dẫn, hành động sẽ theo sự tự nhiên của cái lý Vô Vi, có nghĩa là không làm, tức là không can thiệp vào quy luật tự nhiên, để con người sống theo tự nhiên, để cùng với tự nhiên mà tiến hóa (vô cầu, vô tranh, vô đoạt, vô chấp).

– Phật Giáo:

Đạo đối với Đức Phật rất đơn giản, đó là “Không được bám víu vào bất cứ gì cả”, nghĩa là để cho cái Tâm trở nên hư không. Trong quá trình tu tập, Phật tử phải quay về tìm cái “Tâm Phật” của mình. Nhà Phật gọi Tâm và Tánh là Chân như, Chân tâm, Phật tánh… Trong mỗi chúng sanh đều có Chân tâm và Phật tánh. Cái Tâm Chân bất sanh bất diệt, nên cũng gọi là Thường trụ Chân tâm. Vì vậy phương hướng tu hành của Phật giáo dạy phải: “Minh Tâm Kiến Tánh”, nghĩa là làm cho sáng cái Tâm thì sẽ thấy rõ cái Tánh.

Về cái Tâm, Ðức Phật khuyên dạy chúng sinh hãy lo tu tập “Tứ Vô Lượng Tâm”, tức là “bốn thứ tâm rộng lớn không đo lường được”. Đó là các Tâm: “Từ, Bi, Hỷ, Xả”. Phật dạy hãy mở rộng bốn Tâm này, không hạn chế, cho tất cả các loài hữu sinh ở khắp bốn phương. Đây là những đặc tính giúp con người trở nên tốt đẹp, hoàn thiện, là lối sống của bậc thánh. Nếu mỗi người tự cố gắng thực hành “Tứ Vô Lượng Tâm”, không phân biệt tôn giáo, chủng tộc, thành phần, đẳng cấp trong xã hội thì mỗi người sẽ trở thành một “thánh nhân” trong một thế giới hòa bình, an lạc.

Người Phật tử lấy Từ, Bi, Hỷ, Xả làm nền tảng cho sự phát triển thánh hạnh. Tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác. Tâm “Bi” là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm “Hỷ” là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Tâm “Xả” là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị.

Người phật tử thực hành giáo lý nhà Phật gọi là “hành giả”, dù niệm Phật để thanh tịnh hư không – gỡ khỏi mọi ràng buộc – dù  hành giả ra đi để cứu nhân độ thế, cũng đều là thực hành tâm linh tìm về Chân tánh để gặp Đạo. Như vậy Đạo với đời sống tâm linh cũng chỉ là một chứ không có sự tách biệt.

– Hệ kết:

Tóm lại các pháp môn tu luyện để ngộ đạo và đắc đạo của Tam giáo tuy danh xưng và phương tiện thể hiện có khác nhau, nhưng tựu trung cũng khuyên người thực hành đạo phải:

– “Tồn tâm dưỡng tánh” đối với Nho giáo

– “Tu tâm luyện tánh” đối với Lão giáo

–  “Minh tâm kiến tánh” đối với Phật giáo

Đạo chẳng phải nơi lời nói, mà nơi kết quả sự thật mình làm, chẳng phải nơi câu kệ câu kinh mà phải thể hiện ra. Nếu chỉ nghiên cứu suông kinh điển để làm một kẻ trí đạo “năng thuyết bất năng hành” thì cũng chẳng khác gì người ngồi đó chỉ biết diễn tả phân tích đủ thứ món ăn tuyệt diệu trên đời, nhưng rốt cuộc bụng họ vẫn đói meo, hoặc như con lạc đà trên lưng mang nặng trĩu gỗ trầm hương, nhưng chẳng bao giờ nó thưởng thức được hương thơm của trầm cả. Phải biến nhận thức của mình thành hành động cụ thể. Có như vậy mới đi đúng đường và mang lại lợi ích thực sự.

Để đi vào đạo, con người chỉ cần biết thức tỉnh quay vào chính mình thì sẽ nhận ra “Chân tánh”, được “Tính bản thiện”, được cái “Thiên lương”, lúc đó sẽ được nó soi tỏ và dẫn dắt, đồng thời sẽ gặp được Đạo.

Như vậy Đạo với đời sống tâm linh là một, mà hoạt động tâm linh không hề tách biệt với đời sống thực tại, cũng như tâm linh luôn gắn liền với thể chất như bóng với hình, vì Tâm và Vật không thể phân chia. Nói cách khác, hoạt động tâm linh luôn hiện hữu trong đời sống con người, tức là đạo không lìa xa cuộc sống. Vì thế người theo đạo không có nghĩa là phải từ bỏ các hoạt động hằng ngày, để theo đuổi một cái gì xa vời ngoài cái thực tại. Sống theo đạo là sống một cuộc sống cho ra sống, đáng sống với cuộc đời, sống một cách có ý thức và chủ động trong mọi sinh hoạt, chứ không phải sống một cách máy móc thụ động.

Muốn được vậy thì con người phải lấy Tâm làm gốc, Đạo làm nền, là trung tâm trong đời sống tâm linh, mà cũng là trung tâm của tất cả hoạt động của đạo được thể hiện ra bên ngoài. Nên Đạo Nho mới nói: “Đạo bất khả tu du ly dã” (đạo không giây phút nào xa lìa được), và “Đạo tại nhĩ nhi cầu chư viễn” (đạo ở gần đừng tìm nơi xa).

“Tam giáo đồng nguyên” chính là vậy.

CÔNG GIÁO VỚI ĐẠO TẠI TÂM

Căn cứ trên Kinh Thánh và Giáo lý Hội thánh Công giáo (GLHTCG), “Thuở ban đầu con người đơn sơ trong trắng như trẻ thơ vô tội, chưa bị rối loạn vì tội lỗi. Con người sống an bình hoà hợp với Thiên Chúa, với mọi người, và với bản thân mình” (St 2).

Cũng như: “Con người đầu tiên không những được tạo dựng là tốt lành, mà còn được sống trong tình thân nghĩa với Đấng Tạo Hóa của mình, trong sự hài hòa với chính mình và với vạn vật xung quanh. Tình thân nghĩa và sự hài hòa này chỉ thua kém vinh quang của công trình tạo dựng mới trong Đức Kitô” (GLHTCG số 374).

Và: “Hội Thánh, khi giải thích một cách chính thống ngôn ngữ biểu tượng của Thánh Kinh dưới ánh sáng của Tân Ước và Truyền Thống, dạy rằng: nguyên tổ chúng ta, ông Ađam và bà Evà, đã được tạo dựng trong tình trạng thánh thiện và công chính nguyên thủy. Ân sủng của sự thánh thiện nguyên thủy đó là được tham dự vào sự sống của Thiên Chúa” (GLHTCG số 375).

Đặc biệt hơn, Sách Sáng Thế 1, 26 – 27 nói: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa. Trong các loài Chúa đã dựng nên, chỉ có con người được Thiên Chúa ban cho linh hồn thiêng liêng, bất  tử.  Nhờ đó, con người có khả năng hiểu biết, chọn lựa điều hay lẽ phải và quyết tâm loại trừ điều xấu để hướng đến hạnh phúc đích thực và trọn vẹn”. Vì linh hồn thiêng liêng, có trí tuệ, ý chí và tự do, nên con người có khả năng hướng về sự thiện đích thực và hạnh phúc muôn đời.

Cái Tâm của con người được hiểu là toàn thể cõi lòng, đó là lương tâm ngay lành, là ý chí (ý muốn), là sự tự do, trong đó có cả sự nhận thức thông qua trí tuệ của con người – vì không thể tách trí tuệ ra khỏi cái Tâm được – đã được Thiên Chúa phú bẩm trong linh hồn. Đó là hình ảnh của Thiên Chúa, dù một thai nhi hay trẻ sơ sinh cũng hội đủ tố chất của cái Tâm này.

Kinh Thánh và GLHTCG nêu trên cho biết, cái Tâm nguyên thủy của con người hoàn toàn tốt lành, thiện hảo chứ không yếu đuối, mê muội, nhiều dục vọng xấu xa… Nó được hòa nhập vào thân xác không thể phân chia, trở thành một bản tính, như GLHTCG số 365 nói: “Sự thống nhất xác hồn thâm sâu đến độ linh hồn phải được coi là “mô thể” của thân xác; nghĩa là, nhờ linh hồn thiêng liêng mà thân xác, vốn được cấu tạo bằng vật chất, là một thân xác nhân linh (corpus humanum) và sống động; tinh thần và vật chất nơi con người không phải là hai bản tính được nối kết lại, nhưng sự kết hợp của chúng tạo thành một bản tính duy nhất”.

Tình trạng ban đầu của vạn vật là tốt lành, không có đau khổ và sự dữ. Chính tội lỗi của con người đã làm hỏng sự tốt lành nguyên thuỷ và làm con người mất hạnh phúc. Tuy nhiên tình trạng đau khổ của con người không đến nỗi tuyệt vọng như người ta đáng phải chịu, bởi vì Thiên Chúa nhân từ sẽ tìm cách cứu vớt. (St 1)

Công giáo là đạo được Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa Làm Người mạc khải, gọi là Đạo Từ Trời. Thiên Chúa Là Tình yêu (Ga 4, 16), Người đã hoàn tất trong lề luật “Mến Chúa yêu Người”, nên cũng được gọi là Đạo Yêu Thương, Bác Ái. Vì vậy Đức Ái là trung tâm điểm của đạo, xuất phát từ cái Tâm yêu thương, thể hiện qua hành vi bác ái. “Nếu tôi nói được các tiếng của loài người và thiên thần, mà tôi không có bác ái, thì tôi chỉ là tiếng đồng la vang dội hoặc não bạt vang động. Và nếu tôi được nói tiên tri, thông biết mọi mầu nhiệm và mọi khôn ngoan; nếu tôi có đầy lòng tin, đến nỗi chuyển dời được núi non, mà không có bác ái, thì tôi vẫn là không. Nếu tôi phân phát mọi của cải tôi có để nuôi kẻ nghèo khó, nếu tôi nộp mình để chịu thiêu đốt, mà tôi không có bác ái, thì không làm ích gì cho tôi” (1 Cr 13, 1-3).

Cũng như, “Nước Thiên Chúa đang ở giữa các ông” (Lc 17, 21), ngoài ý nghĩa cho mọi người, còn nói lên ở trong lòng, trong tâm mỗi người nữa, nơi đó tình yêu ngự trị  trong tâm hồn mỗi người. Nước Thiên Chúa chính là mọi người yêu thương và sống bác ái với nhau, trong Đức Kitô.

Bác ái được căn cứ và xuất phát từ cái Tâm, nên câu nói “Đạo tại tâm” xuất phát từ Đạo học Đông Phương không những không mâu thuẫn hay trái với đạo Công giáo, mà nó còn am hợp một cách diệu kỳ, khá thú vị.

KẾT LUẬN

Có thể nói trong suốt dòng thời gian xưa nay, vấn đề “đạo tại tâm” luôn được nhiều người nhắc tới  như một sự “cảnh tỉnh” về đạo, với nỗi suy tư khác nhau, tùy theo góc độ nhìn nhận và hiểu biết nơi mỗi người, nhiều khi vô tình đi đến sự lệch lạc mà không biết. Chính vì vậy mới có tình trạng tự mâu thuẫn trong lý do của những người ủng hộ “đạo tại tâm”, cũng như nơi những người đả phá nó. Nếu sự nhận thức về đạo mà thiếu thành tâm thiện chí thì dễ dẫn đến cực đoan, đưa đến những ngõ ngách, sinh ra sự cố chấp vô lối, như “bốn người mù xem voi” vậy.

Như đã trình bày, Đạo và Tâm gắn liền với nhau như hình với bóng, như xác với hồn chứ không thể tách biệt. Bởi vì cái Tâm (心) mới là nơi ở (tại – 在 ) của cái Đạo (道). Mà đạo là sống, là hành, là thi thố ra bên ngoài, gọi là hành đạo (hành giả).

Còn theo sự nhận thức bình dị nhất, đạo là việc đạo đức, còn tâm là lòng dạ, nó được thể hiện trong cuộc sống. Nó cũng đúng, vẫn thuận hợp và có ý nghĩa với cụm từ “đạo tại tâm”, vì phải có lòng mới làm việc đạo đức được.

Con người theo đạo dễ lâm vào một số trường hợp, như giữ đạo theo kiểu giả hình, kiêu kỳ, vụ lợi, hình thức, lập dị, đồng bóng… Vì vậy dễ bị người khác chống đối, mà cách lên án thông thường nhất là nại vào câu nói “đạo tại tâm” để phản kháng. Cũng có những người lợi dụng câu này để che lấp, bào chữa cho những cái vô tâm và bê bối trong việc sống và giữ đạo.

Thực ra ít có người xuyên tạc hay hiểu lầm câu “đạo tại tâm” một cách thành tâm, thành thật với bản thân. Vì một khi có sự thành tâm thành ý tìm Đạo thì tự nhiên trong Tâm của con người sẽ thấy cái Đạo ló dạng, và họ sẽ không ngần ngại thi hành đạo đã chiếu soi trong tâm hồn của họ.

Như vậy, ĐẠO TẠI TÂM  (道 在 心) đã được trình bày khái quát trên cơ sở từ nguồn gốc của nó (tam giáo), cũng như xem xét qua mạc khải trong Thánh Kinh của Kytô giáo. Vấn đề đã tạm ổn trong sự nhận thức và hiểu biết hạn hẹp về Đạo và Tâm. Đây là vấn đề mà con người khó thấu triệt, dành cho các vị đã “đắc đạo” và những thánh nhân mới có thể quán thông được nó. Tuy vậy ai cũng có thể dùng cái Tâm của mình để gặp được Đạo, tùy theo cơ duyên tu dưỡng nơi mỗi người để được nhiều hay ít. Như trong Công giáo là tùy thuộc vào ân ban của Thiên Chúa, nhờ Đức Kitô, với điều kiện là phải thành tâm với chính mình để tìm đạo, sẽ gặp được hình ảnh củaThiên Chúa trong chính mình và nơi tha nhân.

Hàn Cư Sĩ

(Bài viết được tác giả gửi đến dongten.net)

Sách tham khảo:

-Tứ Thư trọn bộ (Dịch giả: Đoàn Trung Còn)

– Đạo Đức Kinh (Dịch giả: Nguyễn Hiến Lê)

– Phật Học Tinh Hoa (Nguyễn Duy Cần)

– Sách Giáo Lý Công Giáo và nguồn internet.

NGƯỜI VIỆT NAM MỚI QUA MỸ, DỄ BỊ GHÉT.

From:    Nguyet Tran and Peter Nguyen shared Tiger Bear‘s post.
Image may contain: 3 people
Tiger Bear

NGƯỜI VIỆT NAM MỚI QUA MỸ, DỄ BỊ GHÉT.

Thật ra, người Việt mình mới qua Mỹ, dễ bị ghét, không phải bởi những người đồng hương qua lâu, mà chính bản thân người mới qua, đã tự làm cho mình bị ghét. Chứ chẳng phải ai hết cả.

Không phải ai muốn qua Mỹ là được. Đó là phước đức mấy đời của ông bà để lại, bạn mới có cơ hội đến Mỹ. Đáng lý ra, bạn nên biết trân quý sự may mắn này, thay vì bạn tỏ ra bất cần và chán nản. Nếu như nước Mỹ không như ý bạn muốn, thì bạn cứ việc mua vé máy bay mà quay về lại xứ thiên đường chủ nghĩa của bạn. Bạn không cần phải nói ra, tôi muốn về Việt Nam quá. Hay tôi rất hối hận khi đi Mỹ. Những câu nói này, đã vừa khó nghe, lại vừa chà đạp lên tinh thần yêu mến tự do, dân chủ của đồng hương ở đây. Không thích thì về, chứ cứ nói hoài mà vẫn ở đây, thì nhục lắm. Nếu bạn không thấy nhục, chúng tôi thấy nhục dùm cho bạn.

Đừng bao giờ, nói về những cái tôi của mình khi còn ở Việt Nam. Tôi là ông này bà nọ. Tôi giàu có và danh vọng, qua đây không hợp, làm cu ly, thấy tủi nhục. Ở đây ai cũng như ai. Bạn không có quyền, và cơ hội, ép bức người cô thế và nghèo hèn, để làm giàu cho mình. Hãy cố gắng học hỏi cách sống và làm giàu bằng chính công sức và tài đức của mình. Chứ đừng quen thói lấy mạnh hiếp yếu, bóc lột, chèn ép kẻ nghèo như còn ở quê nhà. Nếu bạn có giàu có và danh vọng thật đi nữa, bạn dám cho bớt kẻ nghèo khổ không. Nếu không thì bạn khoe để làm gì, có ích gì cho bạn, hay sẽ làm tăng thêm sự hiểu lầm của những người chung quanh bạn.

Đừng đánh giá những người qua lâu là ngu, không giỏi, và khinh họ nghèo. Ra đường, thấy họ chạy xe cũ, chưa chắc là họ nghèo. Họ đi share phòng, chưa chắc là họ không có nhà. Họ không đeo vòng vàng, đồng hồ, không mặc quần áo hàng hiệu, chưa chắc là họ không có tiền trong nhà bank. Ở đây sống không cần cái vẻ bề ngoài, và không cần phải phô trương ra như vậy. Cái hơn thua là cách họ sống, và tâm họ có bình an hay không. Chứ không phải hơn thua chi mấy cái để ý tầm thường thấp hèn như vậy. Họ như thế đó, mà hàng năm, họ gởi về mấy chục tỉ đô la để giúp người thân ở quê nhà. Có thể, trong đó cũng có bạn, cũng đã từng ngửa tay ra nhận những đồng tiền mồ hôi đó nữa. Nên đừng vội chê họ nhé.

Đừng nên chảnh chẹ, ra vẻ ta đây là hơn người. Bạn có hơn hay không, từ từ bạn sẽ biết. Cho dù bạn có chuẩn bị tâm lý trước, hay tìm hiểu cuộc sống Mỹ qua báo đài, hoặc qua internet, thì bạn vẫn bị bỡ ngỡ và không hiểu hết được đời sống thật ở xứ này. Chỉ đến khi nào, bạn va chạm với nó, bạn mới hiểu sâu sắc hết được cuộc sống ở đây. Bạn chảnh, bạn kiêu hãnh bao nhiêu, nếu bạn không hội nhập được cuộc sống mới, bạn sẽ nhận lấy sự khinh bỉ, cười chê và ghét bỏ bấy nhiêu.

Đừng đem theo những ngôn từ, từ thiên đường chủ nghĩa, để nói chuyện ở xứ Mỹ này. Ngày giải phóng vào, chế độ ngụy quân, ngụy quyền được đi học tập cải tạo hết. Thành phố Hồ Chí Mén bây giờ cực kỳ hoành trán. ( Nếu tình trạng này tiếp tục diễn ra và không được khắc phục thì chẳng bao lâu nữa, Sài Gòn có thể sẽ trở thành sông thúi). Lễ quốc khánh 2-9, hay lễ thống nhất đất nước 30-4,… Nói thiệt hen, nghe xong, chói tai dễ sợ. Máu tăng xông trào lên tới đầu. Hỏi vậy sao không bị ghét. Rồi người ta, chỉ vẽ cho nói lại, thì tự ái ào ào. Mặt nặng mặt nhẹ, không thèm nói chuyện người này, không thèm ngó ngàng người kia. ơ hay, người ta không ai cười mình khi mình chưa hiểu biết, mà người ta sẽ không ưa mình, nếu mình cứng đầu không chịu học hỏi và tiếp thu.

Đừng có cái tật, cái gì cũng nghĩ đến quyền lợi, và tính toán thiệt hơn cho mình trước cái đã. Còn người ta mặc kệ người ta. Bạn đang bắt đầu chập chững bước những bước đầu tiên vào cuộc sống mới, đầy nhân văn và bình đẳng. Sao bạn không bỏ đi cái cách sống mặc kệ nó đó. Bạn rất cần sự giúp đỡ của nhiều người. Nếu bạn cứ như vậy, thì chẳng còn ai dám gần bạn nữa. Kể cả người thân hay người bảo lãnh của bạn cũng không ngoại lệ.

Bất cứ một sự thay đổi nào cũng có rất nhiều khó khăn hết. Học hỏi, khiêm nhường, kiên nhẫn, chịu khó, chịu thương, và bình đẳng, thì sợ gì bạn sẽ không thành công nơi đất khách quê người chứ.

Chúc bạn vượt qua.

Bài viết FB Khánh Đặng

TẠ ƠN CHÚA TRONG MỌI HOÀN CẢNH

TẠ ƠN CHÚA TRONG MỌI HOÀN CẢNH

cam-on-doi

Có một câu thơ mà dường như ta vẫn hay nhìn thấy ở đâu đó.  Một câu thơ cho ta ý thức về những niềm vui không do mình tạo ra mà do cuộc sống ban tặng cho chúng ta.  Câu thơ ấy viết rằng:

“Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy, ta có thêm ngày nữa để yêu thương”.

Thật đẹp cho tâm hồn con người biết cám ơn.  Biết cám ơn là biểu lộ một tấm lòng lạc quan yêu đời.  Biết cám ơn biểu lộ một cung cách khiêm nhường để đón nhận mọi sự trong yêu thương và kính trọng.

Người không biết cám ơn sẽ luôn bất mãn vì những gì đang xảy ra.  Người không biết cảm ơn sẽ thiếu tôn trọng người làm ơn và món quà được đón nhận.

Ngược lại, người biết cám ơn sẽ cảm thấy vui và hạnh phúc trong mọi hoàn cảnh cuộc đời.

Họ biết cám ơn Chúa khi mỗi sáng mai thức dậy đang khi đó có hàng vạn người không còn thức dậy.

Họ biết cám ơn cha mẹ đã cho họ góp mặt vào trần thế.  Cám ơn thầy cô cho họ kiến thức.  Cám ơn bạn bè đã dìu họ đi qua những khúc quanh của dòng đời.  Cám ơn cuộc đời đã cho họ kinh nghiệm để sống hạnh phúc hơn.

Cám ơn làm cho tâm hồn con người an vui hạnh phúc.  Không biết cám ơn sẽ làm cho tâm hồn bi quan, thất vọng và chán chường.

Trong tích truyện kể về ông Matthew Henry là một học giả Kinh Thánh lừng danh vào đầu thế kỷ 18.  Một ngày kia, ông bị bọn cướp trấn lột và đêm hôm đó, Henry đã ghi xuống cuốn nhật ký của ông như sau: Hãy để cho lòng ta cảm tạ Thượng Đế.

Thứ nhất, bởi vì cho đến bây giờ ta mới bị ăn cướp; trước đây ta chưa bao giờ bị bọn cướp đón đường cả.

Thứ nhì, bởi vì mặc dầu bọn chúng cướp cái ví tiền, nhưng chúng nó không cướp mất mạng sống của ta.

Thứ ba, bởi vì mặc dầu chúng nó cướp sạch những gì ta có trên người lúc đó, nhưng cũng chẳng đáng giá là bao.

Thứ tư, ta là người bị cướp, chứ ta không phải là quân đi ăn cướp.

Một con người biết cám ơn luôn nhìn mọi sự trong nhãn quan tích cực.  Họ luôn thấy ánh bình minh xuyên qua màn đêm tăm tối của cuộc đời.  Họ không bi quan khi cánh cửa khép lại nhưng luôn tìm kiếm những lối đi khác cho bản thân.

Nhưng tiếc thay, người biết cám ơn lại quá ít!  Rất nhiều người đã không nhận ra cuộc đời họ là một chuỗi hồng ân của Chúa để cám ơn.  Họ không nhận ra tình thương của gia đình, bè bạn và cuộc đời dành cho họ để tri ân.  Họ vẫn sống trong bi quan để oán trời – oán đất về những gì đã – đang xảy ra trong cuộc đời của họ.

Dầu vậy giữa cuộc đời vẫn còn đó những lời cám ơn chân thành.  Dầu chỉ là số 1 so với số 9 quên cám ơn.  Ở giữa cuộc sống phồn hoa vẫn còn đó những gia đình cùng nhau đọc kinh, dâng lễ để tạ ơn Chúa đã phù hộ bình an.  Ở giữa cuộc sống bon chen hối hả vẫn còn đó những người con thảo hiếu mẹ cha qua việc chăm sóc cha mẹ già yếu.  Ở giữa chợ đời thị phi vẫn còn đó những người thiện nguyện phục vụ vô vị lợi để trả ơn cuộc đời.

Lời Chúa hôm nay cho ta thấy thái độ thật khiêm cung của người phong hủi được chữa lành.  Anh cám ơn Chúa với một thái độ khiêm tốn thẳm sâu.  Anh sấp mình trước vị ân nhân đã cứu anh.  Một thái độ cho thấy từ nay anh sẽ làm nô bộc cho người thi ân.  Một thái độ tôn kính dành cho Đấng có quyền năng xua trừ sự dữ trên cuộc đời anh.  Nhưng tiếc thay, con số biết cám ơn lại là con số nhỏ.  Chỉ một trong 10 người biết cám ơn, còn lại vẫn cho mình được quyền sống, quyền hưởng lộc mà không cần cám ơn.

Cuộc sống sẽ đẹp hơn nếu chúng ta biết cám ơn.  Cám ơn Chúa và cám ơn nhau sẽ làm cho con người thân thiện với nhau hơn.  Cám ơn Chúa mỗi sáng mai thức dậy vì đang khi đó có thể nhiều người sẽ không còn khả năng thức dậy.  Cám ơn Chúa mỗi khi chúng ta có dịp làm một việc thiện, một việc nghĩa đầy yêu thương đang khi đó có nhiều người không có khả năng để làm điều đó.  Cám ơn đời vì trên dòng đời hối hả vẫn còn có những người bạn cầm lấy tay ta để cảm thông, để nâng đỡ và dìu dắt chúng ta.

Xin cho chúng ta đủ khiêm tốn để cám ơn trong mọi sự, vì tất cả là hồng ân. Tất cả đều do Chúa mà có. Con người chỉ là thụ tạo nhưng được Chúa yêu thương và ban cho mọi sự trên trần gian.  Xin cho lời tạ ơn của chúng ta luôn vang dội không gian, hòa vào vạn vật để tôn vinh chúc tụng và ngợi khen tình thương Chúa vẫn ấp ủ đời ta và gìn giữ chở che chúng ta.  Amen!

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

langtghangchieutim gởi

Hỡi người biểu tình, hãy luôn cảnh giác…

  Hỡi người biểu tình, hãy luôn cảnh giác…

Mai Tú Ân (Danlambao)  Cuộc biểu dương lực lượng của bà con giáo dân ở trước cửa công ty Formosa đã thành công tốt đẹp bởi sự thắng lợi trong tầm mức của một cuộc đấu tranh ôn hòa bất bạo động. Nhưng vẫn có những bài học mà chúng ta phải rút ra từ trong thắng lợi này và làm nền tảng cho những cuộc xuống đường khác trong tương lai…

Trong cuộc biểu dương lực lượng ngày 2/10/2016 thì hẳn các cha xứ cùng giáo dân không hề có ý định tấn công các lực lượng CSCĐ đang đứng thành một hàng rào để bảo vệ bức tường rào của Formosa ở đằng sau. Có lẽ cuộc biểu dương lực lượng của bà con giáo dân và lương dân đã đến đúng điểm cần đến, cho một cuộc mitinh rầm rộ khí thế nhưng hoàn toàn ôn hòa trên tinh thần bất bạo động Thiên Chúa Giáo. Và đấy cũng là một chiến thắng không có gì phải bàn cãi cho những người biểu tình khi họ đến được nơi cần đến, và thể hiện khí thế ở nơi cần thể hiện khí thế.

Nhưng trong diễn tiến thì có một nhóm người nhỏ, có Trời biết họ là ai nhưng chắc chắn không phải là những giáo dân trật tự được dẫn dắt bởi linh mục Phe rô Trần Đình Lai, đã tấn công hàng rào CSCĐ bằng ném đá. Trong số người tấn công nhỏ này, có thể là những ngư dân phẫn uất, hay những người bị thản họa Formosa gây khốn đốn, mà cũng có thể lại chính là người của chính quyền, CA cài cắm vào hàng ngũ của người biểu tình để tìm cách gây bạo lực, bạo loạn, cũng như gây mọi cớ để đổ thừa cho người biểu tình, để chính quyền ra tay đàn áp. Chẳng có gì là quá đáng khi ta nói đây là một chiêu bài quen thuộc của những người CS trong suốt sự nghiệp “dựng nước và giữ nước” của họ. Và cái cái cách cho người của họ vào cài cắm và tấn công cảnh sát của họ để kích động bạo lực là chuyện họ sẵn sàng làm ngay, nếu cần.

Trở lại cuộc biểu tình ở Formosa thì ta thấy làm lạ là lịch xuống đường đã công khai trước đó mấy ngày nhưng lực lượng đối phó thì lèo tèo vài chục đến hơn 100 người và lọt thỏm giữa hàng ngũ đông đảo của người biểu tình. Không biết ý đồ của những người thực thi pháp luật hôm đó nhưng vẫn có dư luận cho rằng họ định ‘thí” số CSCĐ ít ỏi đó hoặc “thí” ngay cả Formosa để mưu việc lớn. Ngay cả hàng rào có lớp CSCĐ của họ cũng đứng dàn hàng ngang chỉ có một lớp người mỏng manh trước số rất đông người biểu tình. Điều này ngược lại hoàn toàn với qui tắc chống biểu tình đông người là phải có nhiều lớp CSCĐ, mỗi lớp phải có nhiều hàng người gắn kết và hỗ trợ chặt chẽ cho nhau để bảo vệ hàng rào. Nên khi bị ném vài hòn sỏi, vì cũng chẳng có đá để mà ném thì hàng ngũ CSCD này co cụm rồi chạy biến mất. Formosa thất thủ. Dân tràn lên, leo lên rào và hò reo. Nhưng các cha xứ đã ban hành lệnh rút quân sau khi đạt thắng lợi, và đương nhiên làm thất bại thảm hại âm mưu nào đó, nếu có của chính quyền.

Tôi tin rằng các cha xứ dẫn dắt không bao giờ ra cái lệnh ném đá và đa phần, nếu không phải là tuyệt đối số giáo dân đều không làm chuyện đó. Chắc chắn không ai lại tấn công lực lượng công an chỉ để tiến chiếm lấy cái hàng rào cả. Ta có thể nghe tiếng các người lãnh đạo cuộc biểu tình luôn la thét coi chừng những kẻ lạ mặt ném đá vào CS. Giáo dân phải ngồi xuống để phát giác những kẻ trà trộn.

Ta hãy xem một đoạn trích trên đài BBC tường thuật vụ này:

Linh mục Phê đô Trần Đình Lai nói người dân “Không được ném chai lọ, không được ném đất”, …”không được bạo động, tất cả ôn hòa”.

“Cảnh sát không được đánh dân, dân và cảnh sát không được xô xát,” ông Lai nói khi cuộc xô xát ngắn dừng lại.

Vị linh mục này phát biểu cuộc biểu tình là để “đòi hỏi những người đã gây ra thảm họa này phải bồi thường công bằng, trả lại môi trường xanh sạch cho dân tộc”.

“Người dân đứng ở cổng chính Formosa, trèo lên tường treo các băng-rôn khẩu hiệu, nhưng không có cuộc đập phá nào, không ai đập phá,” BBC

Và cũng gần như ngay sau đó, lực lượng giáo dân đã có lệnh rút lui, và các thành phần khác trong đoàn biểu tình cũng rút theo giáo dân. Như vậy rõ ràng là đã lệnh ôn hòa từ người biểu tình để đáp trả xứng đáng thái độ ôn hòa của các lực lượng an ninh trong ngày 2/10/2016 đó. Nói một cách văn vẻ thì không ai đã vượt qua lằn ranh Đỏ của ngày hôm đó, và cuộc biểu tình đã thành công tốt đẹp.

Biểu tình, xuống đường là sự thể hiện quyền lợi không thể bàn cãi của đông đảo người dân, hành động để phản đối, hay ủng hộ một việc nào đấy thiết thực với họ. Nếu không gặp phải sự trấn áp, phá hoại của chính quyền thì nó cũng không bao giờ biến thành bạo động hay mất kiểm soát mà mãi chỉ là các cuộc xuống đường hòa bình của lòng dân. Người dân tham gia xuống đường để thể hiện tiếng nói của mình, và vì những điều thiết yếu đến cuộc sống của họ chứ không phải do ai hay cái gì kích động cả. Đa phần họ đều là những công dân tôn trọng pháp luật, và nếu là giáo dân thì đều là những người kính Chúa, yêu nước… Họ xuống đường để đề đạt nguyện vọng với chính quyền và cũng như thể hiện sự phản đối hòa bình với chính quyền và tất cả đều muốn mọi sự diễn ra trong bình an, yên ổn. Chính quyền nên xem mỗi lần có đông đảo người dân xuống đường như là một “dịp may” để nhìn lại mình, để xem lại cách hành xử của mình chứ đừng vì nỗi sợ hãi nào đó mà hành động ngược lại với ý chí của người dân.

Bởi nâng thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân…

5.10.2016
Mai Tú Ân
danlambaovn.blogspot.com

“Sấm Trạng Trình” nói gì về sự sụp đổ của nhà Sản?

“Sấm Trạng Trình” nói gì về sự sụp đổ của nhà Sản?

Nguyễn Tiến Dân

6-10-2016

Sự sụp đổ của chế độ cộng sản ở Đông Âu trước đây. Nguồn: internet

1- Phụ nữ, mỗi tháng, họ hành kinh 1 lần. Cộng sản, cứ 5 năm, Đại hội Đảng 1 đận. Đận sau, bao giờ cũng hoành tráng hơn, so với đận trước. Kể cả, cái bánh vẽ. Chỉ có mỗi 1 thứ, không bao giờ thay đổi. Đó là, “Báo cáo Chính trị của Đại hội”. Báo cáo nào, rồi cũng vẫn “kiên định chủ nghĩa Mác – Lê”. Kèm theo tí dưa góp, “Tư tưởng Hồ Chí Minh”. Xem lắm, thấy nhàm. Nhàm đến mức, Báo cáo Chính trị của Đại hội này, chỉ cần sửa vài từ, là có thể, dùng cho Đại hội sau. Đến kì hành kinh, à quên, đến kì Đại hội Đảng các cấp, chỉ có mỗi một vấn đề khiến người ta tò mò: Dân Việt, sẽ bị kẻ nào cai trị trong 5 năm tới. Và, sau bao lâu nữa, chúng sẽ giúp Việt nam, soán được cái ngôi đội sổ của thiên hạ.

Đại hội lần thứ 12 vừa rồi, chẳng phải là ngoại lệ. Phần lớn thời gian của nó, được dùng cho việc đấu đá và tranh giành ngôi vị. Đó là kì Đại hội, chỉ của riêng 2 ông: Phú Trọng và Tấn Dũng. Trước khi bước vào Đại hội, nhiều người bán nhà, để đặt cửa Tấn Dũng. Chẳng phải, họ yêu quí ông ta. Chỉ vì, thế và lực của ông ta, quá mạnh. Chỉ những kẻ xổng chuồng ở trại “Tâm thần Trâu quỳ” ra, mới cổ vũ cho Phú Trọng. Một cái anh chàng, văn dốt – võ nhát. Cả đời, chỉ biết đánh võ mồm. Nói gì, cũng sai – làm gì, cũng hỏng. Sức thì yếu – tuổi lại phá khung.

Kết cục, đảo lộn hoàn toàn. Phi lí, đến mức cùng cực. Sau Đại hội, ối kẻ bị vỡ tim mà chết.

Giải thích cho cái sự thành công của Phú Trọng, thiên hạ, đưa ra 3 giả thuyết: Một là, mả bố nhà Phú Trọng, táng được vào Hàm Rồng – Hai là, Phú Trọng giả “”. Nhưng thật ra, ông ta thông minh tuyệt đỉnh – Ba là, Trung cộng chống lưng và thổi đít ông lên.

Ai cũng cố sống – cố chết, bảo vệ cho bằng được, cái quan điểm riêng của mình. Thế nên, những cuộc tranh luận về đề tài đó, không bao giờ chấm dứt và bất phân thắng bại.

Cho đến 1 ngày đẹp trời, hiền triết Nguyễn Khắc Mai, đưa ra 1 đôi câu đối (đồn rằng, đó là sấm của Trạng Trình). Bấy giờ, thiên hạ mới ngã ngửa người: Tất cả, là mệnh Trời và sự sụp đổ của nhà Sản, không những chỉ là tất yếu, mà nó còn xảy ra trong 1 tương lai hết sức gần. Nguyên văn, đôi câu đối:

                 

      

Bỉnh chúc vô minh quang tự diệt.

Trọng ngân bạc phúc sản tất vong.

Dịch đôi câu đối này, theo cái nghĩa thông thường, nhiều người đã làm. Mình không dám, “vẽ rắn – thêm chân”. Chỉ xin, được nói đôi ba điều, về cái ẩn ý đằng sau của nó:

– Vế thứ nhất: Ai cũng biết, khi dầu hết – bấc sẽ tàn. Ngọn đèn nào, cũng tắt. Bóng đêm, sẽ ập tới.

CNCS, cũng vậy. Giờ đây, nó đã phá sản hoàn toàn, về mặt Lý luận. “Kinh tế thị trường”, thì được pha với “định hướng XHCN”. Để, làm thành 1 nồi lẩu thập cẩm. Mà mùi vị của nó, khắm vô cùng. Đổ đi, thì tiếc. Còn ăn vào, bụng sẽ trương phềnh lên. Chế độ “người bóc lột người” của cái bon Thực dân – Phong kiến thối nát, đã bị đập tan. Thế vào đó, cũng vẫn chỉ là chế độ “người bóc lột người”. Có điều, tỉ lần, độc ác và man rợ hơn. Một ông Vua, bị đánh đổ. Thế vào đó, là cả 1 lũ ngợm người. Chúng làm “Vua tập thể”… Nói tất cả những thứ đó, chỉ để minh chứng 1 điều: Nguồn nhiên liệu, để giúp thắp sáng lên cái lí tưởng CS, đã không còn.

Lãnh đạo CS, toàn những kẻ không có Tâm – chẳng đủ Tầm. Bởi thế, chẳng thể đưa được cái mớ Lí thuyết ma mọi CS vào thực tiễn: Bấc, đã bị thối.

Bấc thối, không thể dẫn dầu. Đã thế, dầu cặn lại còn bị pha trôn với rất nhiều nước lã. Ngọn đèn CS, vẫn còn cháy, đã là 1 kì công của Tạo hóa. Nhưng cái sự leo lét của nó, chắc cũng chẳng còn kéo dài được bao lâu. Bởi, ở phía chân trời, cơn báo táp Dân chủ đã xuất hiện và đang sầm sập kéo về. Sinh khí tràn trề, sẽ quét sạch bầu không khí ô nhiễm và hắc ám. Ngày tàn của Đảng CS, đã đến.

– Vế thứ 2: Những người Cộng sản, sinh ra trong nghèo khó và thất học. Do đó, không hiểu Đạo lý. Chúng luôn tối mắt – tối mũi trước đồng tiền. Chỉ cần có tiền, dẫu có phải hủy diệt môi trường – dẫu có phải hủy hoại giống nòi – dẫu có phải thiêu rụi cả non sông gấm vóc Việt nam, chúng cũng chẳng từ. Ngày đêm, chúng chỉ ngồi nghĩ ra những mưu ma – chước quỷ. Cốt sao, cướp sạch được mọi thứ của thiên hạ. Từ Chính quyền – của nổi – của chìm – thuế má, cho tới quyền của con người. Tàn ác và man dại, còn hơn cả bầy cầm thú.

Của phi nghĩa, chẳng bền – Bọn bạc phúc, sao có thể ổn cố được. Bởi thế, tương lai của nhà Sản, đã được Trạng Trình đóng đinh trong có mỗi 1 chữ. Đó là, “vong”.

2- Có lần, một độc giả hỏi mình: “Bác nói, chế độ CS, nhất định sẽ sụp đổ. Nhưng liệu bác có nói được, khi nào thì nó sụp đổ hay không?”. Mình thưa với bác ấy: “Chế độ CS, chúng hoàn toàn đi ngược với tất cả những qui luật của Tự nhiên và Xã hội. Bởi vậy, sự sụp đổ của nó, là 1 điều chắc chắn. Tôi không phải là nhà Tiên tri. Bởi thế, không thể biết được chính xác, bao giờ thì nó sẽ sụp đổ. Nhưng có một vĩ nhân, sống cách đây trên 5 trăm năm, đã đưa ra dự đoán về sự kiện này. Mời bác, tìm đọc đôi câu đối của Trạng Trình. Nó đang được lan truyền rất nhanh, trong các tầng lớp Nhân dân. Khảo cổ – nghiệm kim, người ta đều thấy: Trạng Trình, liệu việc như Thần. Nếu lần này cũng ứng nghiệm, thì nhà Sản, không sống sót được qua khóa 12”. Bác ấy hỏi: “Tại sao?”. Xin thưa:

Câu sấm này của Trạng Trình, chứa ẩn 1 điều hết sức kì diệu: Có đủ mặt, cả tứ trụ Triều đình nhà Sản: Quang – Trọng – Ngân – Phúc. Ở đó, không có 1 chữ nào, có tên là Dũng cả. Từ cái chi tiết này, có thể khẳng định: Kì vừa rồi, Dũng trượt. Chẳng phải, vì ông ta kém cạnh Phú Trọng. Dũng trượt, là do mệnh Trời.

Còn cái câu “sản tất vong”, có thể hiểu là: Khi lãnh đạo chủ chốt của nhà Sản, hội tụ đủ cả 4 nhân vật có tên trong đôi vế đó, thời khắc cáo chung của nó, đã đến. Sợ thiên hạ chưa tin, Trạng Trình, còn nhấn kép vào cái sự kiện này. Bằng cách, hai chữ cuối của 2 vế: bên này, ông để chữ “diệt” – bên kia, ông để chữ “vong”. Ngụ ý, chạy đằng nào, chúng mày cũng phải chết.

Bác ấy, chẳng chịu: “Đó chỉ là sự suy diễn, sao có thể đáng tin. Thực tế, Đảng CS, đang ở trong thời kì mạnh nhất. Nó không thể đổ sập, trong một vài năm tới được”. Mình thưa lại:

– Tất cả mọi triệu chứng, đều cho thấy: Ngày mà Đảng CS Việt nam, sẽ nằm đúng vị trí của nó, ở trong cái đống rác của Lịch sử, đã kề cận lắm rồi. Thiên ương và Nhân tai, đang diễn ra hết sức dồn dập và hết sức nghiêm trọng. Kinh tế, suy thoái – Dân chúng, bất an – Cán bộ, biến chất. Giữa thanh thiên – bạch nhật, chúng thản nhiên vác dao – vác súng, xông vào tận trụ sở làm việc, để thanh toán lẫn nhau. Cái độc ác và cái giả dối, đang trắng trợn lên ngôi. Trong khi, Đảng CS cầm quyền, vô kế khả thi, để dẫn dắt Đất nước, thoát ra ngoài những cuộc khủng hoảng đó. Không những thế, họ còn cố tình làm cho nó trầm trọng thêm. Cùng 1 lúc, họ gây thù – chuốc oán với dân chúng, thông qua việc bóp nghẹt Tự do – Dân chủ và mưu sinh của họ. Đồng thời, gây thù – chuốc oán với chính những cộng sự của mình, thông qua chiêu bài “chống tham nhũng”. Mà thực tế, chỉ là tranh quyền – đoạt vị và thâu tóm tiền bạc của nhau. Cả Xã hội, đã đến lúc loạn hết cả lên. Mọi thứ, đã nằm ngoài tầm kiểm soát của Đảng.

Đảng CS Việt nam, đã vỡ trận.

Thiên – Địa – Nhân, đã cùng đặt thời gian. Để, đếm ngược.

3- Đến đây, lại xuất hiện 1 câu hỏi nan giải. Nếu, Trạng Trình đã biết trước, sẽ có 1 thế lực đủ mạnh, để lật nhào được chế độ CS. Thì, ông dự đoán: ai sẽ là “người cầm cái”, trong cái gọi là cuộc Cách mạng ấy?

– Chế độ CS, đã dùng bạo lực, để cướp Chính quyền. Đó là 1 sự thực, không thể chối cãi. “Sinh nghề – tử nghiệp”. Chúng sẽ chết, trong bạo lực. Điều đó, vô nghi. Bạo lực này, có thể, xuất phát từ quần chúng. Cũng có thể, được sinh ra, ngay trong nội bộ của chúng. Hoặc, đồng thời cả hai nhân tố đó. Không có chuyện, chúng chết, do quân đội nước ngoài đổ bộ vào và tiêu diệt chúng. Như, sự việc đã từng xảy ra, ở Campuchia hoặc Iraq.

Suốt bảy chục năm có dư, phải sống dưới ách cai trị tàn bạo của CS. Người dân Việt nam, đã quá hiểu bộ mặt thật của chúng. Chúng đàn áp người dân, khiến họ không thể mở miệng – không thể ngóc đầu. Chúng bóc lột họ, đến tận xương – tận tủy. Ai cũng căm ghét chúng và ai cũng muốn tiễn chúng, về với cái Tổ tiên Mác – Lê nhà chúng nó. Tuy vậy, họ vẫn chưa tập hợp được, trong một cái Mặt trận rộng rãi, có tổ chức chặt chẽ và có sự chỉ huy thống nhất. Do đó, dẫu có đông, cũng không mạnh. Họ, lại chưa được luyện tập, một cách thường xuyên. Quan trọng nhất, họ vẫn sợ CS. Họ biết, chúng rất tàn bạo. Nói theo cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng sẵn sàng, “tắm tất cả những cuộc xuống đường của Nhân dân ta, trong bể máu”. Do đó, sẽ là ảo tưởng, nếu nghĩ rằng: những cuộc xuống đường một cách ôn hòa và lẻ tẻ như hiện nay, có thể lật đổ được chế độ CS.

Nguyễn Phú Trọng, quá hiểu điều đó. Ông biết, cái Đảng đểu của ông, rồi sẽ bị đổ. Bởi chính những thế lực, nằm ngay trong nội bộ của nó. Chính vì vậy, ông phải nhanh chóng thâu tóm quyền lực. Để tự mình, giữ được cái thể chế thối nát này, ít nhất, cho đến hết cái thế kỉ thứ 21. Hệ quả, tất cả những thế lực trong Đảng, dám cả gan ngáng chân ông, đều phải bị tiêu diệt. Nhưng, đó chỉ là sự giãy giụa trong cơn tuyệt vọng của 1 kẻ cuồng tín và giáo điều.

Xưa – nay, có ai “bẻ nạng – chống Trời” mà đã thành công?

a- Binh pháp Tôn tử, có câu: 主孰有道. Chủ thục hữu Đạo. Nghĩa là, bên nào có chính nghĩa, bên đó có nhiều cơ hội để giành phần thắng.

Trong cuộc đấu đá nội bộ lần này, tất cả các phe phái, đều không vì quyền lợi của Nhân dân và của Đất nước. Do đó, chúng không được sự ủng hộ của Nhân dân. Tuy nhiên, cái phe bảo thủ của Phú Trọng, luôn kiên định chủ nghĩa Mác – Lê, cộng với xu thế ngả Tàu, sẽ làm mất lòng dân nhiều hơn. Chỉ cần, phe kia tung ra được bằng chứng khả tín. Phe bảo thủ, khó lòng mà chống đỡ. Chuyện đó, nào có khó gì. Bằng chứng, đầy. Mật ước Thành đô, chẳng hạn.

Đó là lí do thứ nhất, khiến phe Trọng tất bại.

b- Muốn “đội đá – vá trời”, trước hết. phải kiểm đếm lực lượng. Chí ít, trong tay phải có đủ cả 2 thứ, đó là quân và tiền. Đây toàn là những thứ, mà Trọng không có.

Thân, là Bí thư Quân ủy Trung ương, cộng thêm, tay đàn em thân tín nắm Bộ Quốc phòng. Điều đó, hoàn toàn không đồng nghĩa với việc, đã nắm chắc Quân cán. Ai “lương tướng” – ai “bẩn tướng”, Trọng sao biết được. Mảng kinh tế, xưa nay, cũng lại do Dũng nắm. Những tử huyệt của nó, nằm ở đâu, Dũng biết. Muốn phá Trong, dễ ợt. “Trong tay sẵn có đồng tiền/ Nói quấy nói quá, chúng nghe rầm rầm”.

Trong cái cuộc chiến sinh – tử này, Trọng chỉ nắm chắc trong tay, có đúng 1 thứ. Đó là, bọn Tuyên giáo. Bọn này, mồm cá ngão. Cả đời, chỉ biết ăn tục và nói phét. “Tiếng hát” của chúng, dẫu có hay, cũng chẳng thể “làm cho giặc điếc tai”. Có thực, mới vực được Đạo.

Đó là lí do thứ hai, khiến phe Trọng nhất định bại.

c- Sách Lục thao, thiên Quân thế chép rằng: 无恐惧,无犹豫。用兵之害,犹豫最大. Vô khủng cụ, vô do dự. Dụng binh chi hại, do dự tối đại. Tạm dịch: Không được sợ sệt, không được do dự. Trong tất cả những tai hại của việc dụng binh, do dự đứng đầu.

Khốn nỗi, đây lại là sở trường của Trọng. Muốn diệt chuột, nhưng ông ta lại sợ vỡ bình. Chống tham nhũng, lúc thế yếu, chỉ muốn dùng vũ khí phê bình và tự phê bình. Khi đã “lên hương”, lại ti toe, muốn dùng đại bác và hỏa tiễn xuyên lục địa. Kế hay – mẹo hiểm, dẫu có bày ra với những thằng cha ba phải và nhút nhát, phỏng có ích gì. Viên Thiệu, há chẳng phải tấm gương tày liếp đó sao? Tầm như Trọng, diệt ruồi cũng khó. Sao dám uống thuốc liều, để cưỡi lên lưng cọp.

Đó là lí do thứ 3 khiến phe Trọng tất bại.

d- “Yếu, đừng đứng ra trước gió”. Vừa mới ốm dây, đang còn phải ăn trả bữa. Thế mà, Trọng dám cả gan vác đinh ba, bổ cùng 1 lúc vào cả ba bốn con cọp. Ông muốn: loại Quang – sờ đít Thăng – xách tai Hoàng và mục tiêu cuối cùng, tóm gáy cừu thù Tấn Dũng.

Trong câu Sấm của Trạng Trình, xin độc giả, hãy để ý kĩ đến 1 điểm khác thường: Tứ trụ, được chia ra làm 2 mảng và cho vào cả 2 vế. Có điều, 2 mảng ấy, không quân bình. Quang được tách ra, để đứng riêng ở 1 vế. Ba tay còn lại, chung nhau 1 cái chuồng. Trong cái chuồng ấy, Trọng và Ngân dính với nhau, làm thành 1 cặp đôi hoàn chỉnh. Bỏ chữ Trọng, chữ Ngân ở đây, chẳng có ý nghĩa gì và ngược lại. Riêng Phúc, hình như, chưa được sự tín nhiệm tuyết đối. Do đó, tuy là đồng bọn và được đồng sàng. Nhưng quan hệ với đôi kia, vẫn bị lép vế và chỉ được đứng ở hạng chầu rìa.

Một khi, đã là câu đối, 2 cái vế của nó, phải đối nhau chan chat. Từ cái logic hình thức đó, mà suy ra rằng: Quang, hoàn toàn đối nghịch với 3 tay kia. Thực tế diễn ra, cũng gần đúng như vậy. Chỉ cần, xét trên vài luận điểm:

– Trong phiên tòa xét xử Dương Chí Dũng, ông ta khai ra những chi tiết, có liên quan tới Trần Đại Quang. Những chi tiết này, hoàn toàn bất lợi cho ngài Chủ tịch. Bởi thế, ngay lập tức, Chí Dũng đã bị quan tòa bịt miệng. Tuy vậy, không hiểu sao, cái Video clip ấy, lại bị rò rỉ ra bên ngoài. Phiên tòa ấy, chỉ có 2 loại người được vào: Công an và Tuyên giáo. Lộ ra ngoài, chẳng có loại thứ 3. Công an, dẫu cho ăn gan hùm, cũng không dám tố Thủ trưởng của mình. Do đó, có thể kết luận, 1 cách hết sức chắc chắn: Chính bọn Tuyên giáo lẻo mép, đã cố tình tiết lộ chi tiết này. Tuyên giáo, là con đẻ của đứa nào và tại sao, chúng lại làm như thế? Câu trả lời, xin nhường cho độc giả.

– Cái màn kia, tuy đê hèn và hiểm độc. Nhưng chưa đủ sức, đánh gục được Đại Quang. Lý do, tướng Phạm Quý Ngọ, nhân chứng duy nhất trong vụ này, “đang sống, bỗng đột ngột, chuyển sang từ trần”. Người chết, hết chuyện. Nghi án, đã được đóng lại vĩnh viễn. Cay cú, Trọng bày keo khác. Ông cho ban hành riêng, cái Thông báo số 13- TB/TW. Thông báo này, xác quyết: “Tuổi của đảng viên, xác định theo tuổi khai trong hồ sơ lý lịch gốc”. Đến nước này, Đại Quang hết đỡ. Quá lứa – nhỡ thì. Chỉ một hai năm nữa, Quang sẽ phải “ô tô ma tích”, cắp đít về hưu. Cùng với vết nhơ, khai man Lí lịch. Trong khi, Trọng lại có “miễn chiến bài”, về cái chuyện tuổi tác. Chưa kể đến chuyện, Trọng còn lần mò, để chen chân ngồi vào Đảng ủy Công an Trung ương. Chút quyền lực cuối cùng của Quang, cũng chẳng còn. Ông ta, trở thành dạng “hữu danh – vô thực”. Phú Trọng, quá giỏi. Ép Quang, hơn ép giò. Quang đã về rồi, khác gì, con rắn mới lột. Đánh kiểu gì, chẳng chết. Hai tay còn lại, không ai đủ trình và chẳng ai dám mơ, tới cái chân Tổng Bí thư. Trọng, “đành” phải lỗi hẹn, để ôm trọng trách hết khóa. Đó là lí do cơ bản nhất, khiến Trọng phải loại cho bằng được Đại Quang. Để, giữ vững ngôi vị, “tay tham nhũng quyền lực số một của Việt nam”.

– Tất nhiên, Đại Quang có thể khoanh tay, ngồi chờ người ta nện mình hay không, lại là chuyện khác. Xét về trình độ và bản lĩnh, ông ta, đều vượt trội, so với cái tay gà mờ Phú Trọng. Con người kín đáo và chuyên làm nghề An ninh như ông ta, một khi đã hành động, ít khi, để lại dấu vết. Trịnh Xuân Thanh, chỉ là khúc nhạc dạo đầu. Kịch hay, đang còn ở phía trước.

Nguyễn Tấn Dũng, cũng là tay sừng sỏ có tiếng. Ông ta, đã từng, làm cho Trọng phải nức nở trước bàn dân thiên hạ. Bây giờ, mất sạch quyền hành. “Hổ xuống đồng bằng, bị chó khinh”. Đòn thù, nếu có giáng xuống ông ta, cũng là điều dễ hiểu. Nhưng còn Đinh La Thăng, ông ta có tội tình gì, khiến cho Phú Trọng phải lao tâm – khổ tứ? Câu trả lời, hết sức đơn giản: Đây là tay tham nhũng và làm thất thoát rất nhiều tiền bạc của Nhân dân và Đất nước. Quan trọng hơn, y rất giàu. “Đánh con – kể tội”. Dân, thì được hả lòng. Còn phe bảo thủ, thu tiền về cả mớ. “Nhất tiễn – song điểu”. Ngu gì, mà không làm.

Xưa, Võ Tòng ở bên Tàu, là 1 dũng sĩ. Cùng bất đắc dĩ, mới phải đánh nhau tay không, với chỉ 1 con hổ. Nay, thư sinh Phú Trọng, dám tay không, xông vào giữa đàn hổ. Ngưỡng mộ, vô cùng.

Đó là lí do thứ 4, khiến phe Trọng tất bại.

Chừng ấy thứ, cũng thừa đủ, để Phú Trọng thân bại – danh liệt. Kể thêm nữa, làm gì. Chỉ biết rằng, cuộc giải phẫu mới bắt đầu. Nhưng mọi thứ, đã rối tinh – rối mù. Còn nội bộ, đã hoảng loạn hết cả lên. Bởi, đố tìm thấy ông cán bộ CS nào, liêm khiết. Các phe phái, đã buộc phải phân hóa – đã buộc phải co cụm – đã buộc phải sắm sửa khí giới và tất cả nín thở, đợi Trọng, sờ đến phao câu của mình.

Long tranh – hổ đấu” lần này, sẽ phơi bày tất cả những cái thối tha của cái Đảng CS đểu. Kết thúc cuộc chiến, ngôi nhà CS, sẽ bị phá tan hoang. Kẻ thắng cuộc, không thể dựng lại thể chế CS được nữa. “Đắm đò – giặt mẹt”. Họ sẽ phải lưu tên mình trong Lịch sử, bằng cách khác. Tỷ như, cách mà Yeltsin đã làm ở nước Nga, hoặc cách mà Thein Sein vĩ đại đã làm ở Miến điện. Bởi, chỉ có dùng cách đó, sự mất mát của họ, mới không nhiều. Nếu không muốn nói, là ngược lại. Người đó, không thể là Phú Trọng, Vậy, Trạng Trình nhắm ai?

4- Đọc đến câu “Quang tự diệt”, chắc chẳng có ai hiểu 1 cách thô thiển rằng: Nếu bị Trọng ép, Quang sẽ “học tập và làm theo tấm gương” của xạ thủ Đỗ Cường Minh. Không, ngàn vạn lần, không có chuyện đó.

Con tắc kè hoa, khi gặp nạn. Giữa cái sống và cái chết đang cận kề, nó chọn cách làm rụng đuôi của mình và tháo chạy. Những đối thủ của Trọng, cũng thế. Khi bị dồn vào tử địa, họ chỉ có 2 cách lựa chọn: Một là, bị Trọng khai trừ ra khỏi Đảng và bị điệu ra Tòa án của Trọng. Hai là, tự đoạn tuyệt với cái Lý tưởng CS đểu của mình và quay về với Nhân dân. Khôn ngoan, không ai chọn phương án một.

Do đó, lời Sấm của Trạng Trình, phải hiểu là: Nếu bị ép vào tử địa, Đại Quang, sẽ chọn phương án 2. Sau đó, tập hợp lực lượng, để dọn dẹp sạch sẽ cái bãi rác, có tên là CS. Mở đường và đảm bảo cho cái lộ trình Dân chủ hóa ở Việt nam, được diễn ra trong Hòa bình. Máu của con dân Đất Việt, sẽ bị đổ ra 1 cách ít nhất. Còn ông, sẽ ghi tên mình vào Lịch sử, như một “Thein Sein của Việt nam”.

5- Đến đây, bác độc giả cười rũ rượi: “Đó là câu chuyện hoang đường và nhảm nhí nhất, mà trong đời, tôi đã nghe được”. Mình thản nhiên:

– Lịch sử, đã ghi nhận những chuyện hoang đường và nhảm nhí, còn hơn thế nhiều. Chỉ xin, nêu vài dẫn chứng:

Cho đến cuối những năm 80 của thế kỉ trước, ai nói rằng: “Liên xô, thành trì của phe XHCN, sẽ sụp đổ hoàn toàn vào năm 1991”, người đó, chắc chắn, bị coi là kẻ hoang tưởng. Trước Đại hội lần thứ 12 của Đảng CS, ai nói rẳng: “Nguyễn Phú Trọng trúng Tổng Bí thư”, người đó, chắc chắn, bị coi là kẻ thần kinh. Euro 2004, ai nói rằng: “Hy lạp, sẽ là đội vô địch”, kẻ đó, chắc chắn, sẽ bị coi là người ngoài hành tinh.

Bác ấy đờ đẫn, như vừa bị trúng phong. Lát sau, lắp bắp hỏi: “Này, cái lão Dân già. Thiên cơ, bất khả lậu. Sao, lão cứ phèng phèng nói ra, như thế? Đã dám nói thế, sao không nói nốt: Bao giờ, thì thiên hạ thái bình?”. Mình cười: “Tôi chỉ là người hát rong. Bác và bà con, chấp làm gì. Trong bài Thử luận Sấm Trạng Trình (Trang Bùi Văn Bồng Ngày 25 – 9 – 2016), tác giả Minh Lê, đưa ra dự đoán: Thân – Dậu niên lai, kiến thái bình. Nghĩa là, nhà Sản sẽ ngắc ngoải vào năm Bính Thân (2016) và không sống được quá năm Đinh Dậu (2017) đâu. Tôi và bác, hãy ráng chờ”.

Nguyễn Tiến Dân

Tạm trú tại: 544 đường Láng – quận Đống đa – Hà nội.

Tel: 0168 – 50 – 56 – 430