André Rieu – La Paloma (Live in Mexico)
httpv://youtu.be/R5L1UAGow3k?list=RDWPBhivGINqQ
Andre Rieu – Old Comrades
André Rieu – Emperor Waltz (Kaiser-Walzer)
ANDRÉ RIEU & JSO / MASTREECHTER CHORUS – MARCHAS
Thánh Phanxicô Xaviê
3 Tháng Mười Hai
Thánh Phanxicô Xaviê
(1506-1552)
Đức Kitô hỏi, “Có lợi ích gì nếu được cả thế gian mà mất sự sống?” (Mt. 16:26a). Câu hỏi trên đã trở thành lời tâm niệm của một giáo sư triết trẻ tuổi, với một tương lai đầy hứa hẹn trong giới kinh viện mà sự thành công, uy tín và vinh dự đang chờ đón.
Vào lúc đó, Phanxicô Xaviê mới 24 tuổi, đang sinh sống và giảng dạy ở kinh thành Balê. Ngài không thay đổi ngay lập tức khi nghe những lời ấy, nhưng tất cả là nhờ ở người bạn tốt, Cha Ignatius ở Loyola, đã liên lỉ thuyết phục và sau cùng đã chiếm được người thanh niên ấy cho Ðức Kitô. Sau đó, Phanxicô tập luyện đời sống tâm linh dưới sự hướng dẫn của Cha Ignatius, và năm 1534 ngài gia nhập cộng đoàn nhỏ bé của Cha Ignatius (là Dòng Tên thời tiên khởi). Tại Montmartre, các ngài khấn sống khó nghèo, khiết tịnh và hoạt động tông đồ dưới sự hướng dẫn của đức giáo hoàng.
Từ Venice, là nơi ngài thụ phong linh mục năm 1537, Cha Phanxicô Xaviê đến Lisbon và từ đó ngài dong buồm đến Ấn Ðộ, cập bến làng Goa ở bờ biển phía tây nước Ấn. Trong vòng 10 năm tiếp đó, ngài đã tích cực hoạt động để đem đức tin đến cho rất nhiều dân tộc, trong đó có người Ấn Ðộ, Mã Lai và Nhật Bản.
Bất cứ chỗ nào ngài đến, ngài đều sống với người nghèo, chia sẻ thức ăn và các phương tiện thô sơ với họ. Ngài dành rất nhiều thời giờ để chăm sóc người đau yếu, nghèo khổ, nhất là người cùi. Rất nhiều khi ngài không có thời giờ để ngủ hoặc ngay cả để đọc kinh nhật tụng, nhưng, qua các thư từ ngài để lại chúng ta được biết, ngài luôn luôn tràn ngập niềm vui.
Cha Phanxicô đến các quần đảo ở Mã Lai, và Nhật Bản. Ngài học tiếng Nhật và rao giảng cho các người dân chất phác, dạy giáo lý và rửa tội cho họ, cũng như thành lập các trụ sở truyền giáo cho những người muốn giúp đỡ công cuộc của ngài. Từ Nhật Bản, ngài mơ ước đến Trung Hoa, nhưng dự tính này không bao giờ thực hiện được. Ngài đã từ trần trước khi đặt chân đến phần đất này.
Năm 1622, ngài được Ðức Giáo Hoàng Piô X phong thánh và đặt làm quan thầy các công cuộc truyền giáo nước ngoài.
Lời Bàn
Tất cả mọi người chúng ta đều được mời gọi để “ra đi và rao giảng cho muôn dân” (x. Mátthêu 28:19). Chúng ta không nhất thiết phải đi đến những nơi xa xôi để rao giảng, mà hãy rao giảng ngay trong gia đình, cho con cái, vợ chồng, và những người cùng làm việc với chúng ta. Và sự rao giảng không chỉ bằng lời nói, nhưng còn qua đời sống hàng ngày. Chính nhờ sự hy sinh, từ bỏ tất cả những gì của riêng mình, mà Thánh Phanxicô mới có tự do để đem Tin Mừng đến cho người khác. Hy sinh là quên đi cái tôi của mình vì lợi ích cao cả hơn, lợi ích của sự cầu nguyện, lợi ích khi giúp đỡ người có nhu cầu, lợi ích khi lắng nghe người khác. Món quà lớn nhất của chúng ta là thời giờ, và Thánh Phanxicô đã hy sinh thời giờ của ngài cho người khác.
Trích từ NguoiTinHuu
Anh chị Thụ & Mai gởi
Chuyện một người nóng nảy tìm được an bình qua thư pháp
Chuyện một người nóng nảy tìm được an bình qua thư pháp

Thư pháp gia Hà Trọng Đức tại tư gia. (Hình: Hà Trọng Đức cung cấp.)
Đằng-Giao/Người Việt
RESEDA, California (NV) – “Năm tháng sau ngày mất nước 30 Tháng Tư, 1975, cuộc đời tôi bắt đầu có những cơn nóng giận đột phát dữ dội đến nỗi tôi không thể kềm hãm kịp,” ông Hà Trọng Đức nói. Nhờ học viết thư pháp, sự nóng giận kinh khủng này mất hẳn, để lại cho ông một sự thanh thản yên bình.
Sau ngày đó, từ một người hiền lành, ông Đức trở thành một người nóng nảy, liều lĩnh, bất chấp tất cả. Ông sẵn sàng lao vào những trận đánh nhau đổ máu bất cứ lúc nào bị khiêu khích.
Đây là câu chuyện của ông.
Tháng Tư, 1975, khi Sài Gòn vừa sụp đổ thì gia đình ông cũng có những thay đổi lớn lao.
Ông kể: “Vừa từ trường nội trú Duy Tân ở Nhà Bè về nhà trên đường Tô Hiến Thành, Quận 10, Sài Gòn, thì mới hay là mẹ tôi đã đi Mỹ cùng với chín người con, để lại tôi và người chị. Ba tôi lúc đó ở chỗ khác để giữ nhà vì ông có rất nhiều nhà.”
Sóng gió ụp xuống đời ông vào Tháng Chín, 1975.
“Đùng một cái, cả bọn quan chức phường khóm kéo nhau ập vô nhà tôi, hoạnh họe là tại sao tôi trên 18 tuổi mà không có công ăn, việc làm. Vừa học xong lớp 12, lại vừa mất nước thì công ăn, việc làm ở đâu mà có,” ông phân trần.
Thế là họ bắt ông phải đi “cải tạo.” Họ bắt “học” ở nhiều trại khác nhau, nhiều đến nỗi ông không thể nhớ hết nổi.
“Tôi biết là tôi bị giam ở 13 trại khác nhau nhưng không thể ra rõ ràng là ở đâu. Có vài trại lớn mà tôi nhớ được là Long Khánh, Long Giao, và Phước Long,” ông nói.
Ông Đức hồi tưởng: “Tôi không thể quên được. Năm 1975, gia đình tôi tan tác. Tôi mất tất cả và hậu quả của những năm tháng bị đánh đập, hành hạ trong trại tù này là một sự căm hận, tức giận lúc nào cũng hừng hực trong lòng tôi.”
Trong tù, vì bản năng sinh tồn, ông trở nên hung hăng và lúc nào cũng sẵn sàng dùng nắm đấm để giải quyết tranh chấp. Chẳng mấy chốc, thói quen này trở nên cách “thu xếp mọi việc” một cách gọn gàng, nhanh chóng.
Bốn năm sau, năm 1979, ông ra tù với cái hỗn danh “Đức Rồng,” vì hình con rồng xâm trên cánh tay phải của ông.
“Không tiền, tôi làm nghề bảo vệ bạn hàng đi buôn hàng chuyến trên xe lửa Thống Nhất. Lúc đó, rất nhiều người sợ phải đến ga Mường Mán vì cả làng này hay kéo nhau lên xe lửa đánh cướp. Từ bảo vệ đến công an đều sợ làng này. Gần tới đây, cả đám kéo nhau vô phòng đóng cửa để tránh mặt. Cả nước, ai ai cũng sợ khi phải qua ga này,” ông nói.
Ông và vài người khác nhận đi theo một nhóm gồm năm bạn hàng từ Sài Gòn cho đến khi qua khỏi ga Mường Mán với giá là một chỉ vàng.
“Tôi rất thích công việc này vì vừa có tiền vừa có dịp ‘vận động tay chân,’” ông nói.
Nhưng khi chạm trán với nhóm cướp thì người thủ lãnh bên kia lại có ý thích ông nên tìm cách hòa giải.
Ông kể: “Từ đó về sau, cứ mỗi lần thấy chúng tôi, họ bỏ đi qua toa khác.”
Sau đó, phần vì Tổng Cục Đường Sắt bỏ ga Lê Lai và thay vào đó là ga Bình Triệu, phần vì ông vừa quen người vợ tương lai nên ông không làm việc này nữa.
Giải nghệ rồi, tưởng mọi việc sẽ bình lặng cho ông kể từ nay. Không dè, một đêm khuya năm 1981, một nhóm phường đội ngồi đàn hát ở trước nhà ông. Chẳng hiểu từ đâu, ông đùng đùng nổi giận chạy ra rượt đánh cả bọn.
“Đây là lần hiếm hoi mà tôi đánh người ta khi không bị khiêu khích. Chắc đây là lúc tôi bộc lộ thái độ căm thù chế độ,” ông nói.
Cũng may, cả đám kéo nhau chạy kịp nên không ai bị thương tích gì. Nhưng lòng căm giận những đại diện của chế độ cộng sản không hề suy xuyển trong ông.
Sau đó, ông bị bắt vào trại tù Phương Lâm trong rừng mật khu Hố Bò. Không chịu đựng sự bất công, phi lý trong tù, ba tháng sau, ông vượt ngục.
Ông đạp xe đạp, cứ nhắm hướng Tây mà đạp.
Ông kể: “Dọc đường, tôi vừa làm nghề vá dép nhựa, vừa bán bong bóng vẽ hình bằng màu nước, vừa khuân vác tạp lục để kiếm ăn.”
Lúc ngủ đường, ngủ chợ, lúc ngủ chùa, ngủ miếu, ông đội nắng, đội mưa mà đạp miết. Sáu tháng sau, ông đến Cambodia.
Ở gần Chợ Cũ Nam Vang được hai năm, thấy tình hình ở nhà có vẻ êm dịu, ông quay về.

Năm 1985, trong lúc băng qua đường ở ngã ba Hòa Hưng, ông bị một đại úy công an lái xe Honda vô tình đụng phải.
“Không kịp suy nghĩ, tôi tấn công hắn ta tới tấp. Hắn móc súng ra, tự khoe rằng mình là công an thành phố, tôi càng đánh dữ hơn,” ông kể.
Thấy ông quá nóng giận, không ai dám can thiệp. Ông Đức thì như trong cơn say, cứ nhắm vào kẻ thù mà đánh tới tấp. Đánh bằng tay chán, ông chụp đồ bơm xe dọc đường đánh tiếp. Cho đến khi đại úy công an thành phố quay lại với một xe vận tải chở đầy công an, ông mới biết người bị đánh bị chảy máu đầu, rách tay và mất luôn khẩu súng.
Vừa bị lệnh truy nã vụ vượt ngục, vừa bị đại úy công an săn lùng, ông trốn vào Chợ Lớn.
Lúc này, con gái lớn của ông vừa lên năm tuổi.
Ở Chợ Lớn đến năm 1986, con ông không được đi học vì ông bị nhiều lệnh truy nã.
Ông quyết định ra đầu thú vì tương lai con mình. Lần này, ông bị tuyên án ba năm tại trại tù Duyên Hải.
Năm 1987, ông được gọi phỏng vấn đi Mỹ đoàn tụ gia đình nên vợ ông thu gom tất cả tiền bạc trong nhà lo đút lót để ông được trả tự do sớm.
Rồi ông cùng đứa con gái bảy tuổi đi Mỹ trước, và sẽ lo liệu cho vợ và con gái nhỏ đi sau.
Đến Mỹ, ông ở với cha mẹ ở Texas. Nhưng vì tính nóng nảy vẫn còn trong người, hai tuần sau, ông bỏ về Reseda, California, và ở đến nay.
“Tới Mỹ rồi, tưởng tôi bớt nóng nảy. Không ngờ tôi vẫn như xưa. Vừa gặp chuyện gì phật ý là tôi đánh liền, không chần chờ gì hết,” ông Đức nói.
Ông Henry Phan, cư dân El Monte, nói: “Tôi chưa thấy ai nóng tính và bất chấp như ông ‘Đức Rồng’ hết. Có lần, ông xích mích gì đó với ông chủ đất ở Reseda, không thèm nói gì, ông Đức nhảy vô đánh tới tấp làm ông chủ đất không kịp trở tay, phải bỏ chạy. Mà ông này người Do Thái, to như con trâu nước, nặng trên 200 pound trong lúc ông Đức thì nhỏ con hơn nhiều.”
Ông Henry tiếp: “Cảnh sát tới làm biên bản nhưng không tin là ông đánh ông Do Thái vì ông Đức quá nhỏ con.”
Dù không cố tình gây lộn để đánh nhau, quá khứ tại Mỹ của ông cũng vẫn là những trận ấu đả liên tục.
Năm 2011, tất cả mọi điều tốt đẹp trong đời ông bỗng thành mây khói.
Năm ấy, người vợ mà ông hết lòng thương yêu bị định bệnh ung thư bứu cổ. Chưa hết, toàn bộ tài sản trên $2 triệu do ông gầy dựng chợt tiêu tan.
Cuộc đời ông bỗng là một một sự dồn nén tột cùng.
“Lúc đó, tôi tưởng là mình sắp chết rồi. Tôi không nghĩ tới chuyện tự tử nhưng tôi không hề sợ chết. Ngược lại, tôi sẵn sàng ‘chơi xả láng’ nếu cần,” ông nói.
Mãi cho đến khi, do một sự tình cờ, ông thấy thích thư pháp.

Ông Hà Trọng Đức (trái) và một người bạn. (Hình: Hà Trọng Đức cung cấp)
Ông hồi tưởng: “Tôi không được ai dạy dỗ cả. Chỉ tự nhiên thấy thích môn này vô cùng. Rồi tôi tự học. Càng học, càng thấy bớt suy nghĩ lung tung. Dần dà, tôi thấy lòng mình thanh thản một cách lạ lùng.”
Ông Trí Trần, cư dân Reseda, nói: “Lúc trước, anh ‘Đức Rồng’ là người rất cọc tính. Anh không cố tình gây sự với ai, nhưng bất kể Việt Nam, Mỹ, Mễ gì, ai mà đụng tới anh là anh ‘phang’ liền. Tôi chưa được chính mắt chứng kiến cảnh anh đánh lộn. Nhưng ai ai ở vùng Reseda này mà không biết anh.”
Ông Henry nói: “Càng biết ông Đức hồi xưa thì càng thấy ông thay đổi. Ông không hề giống gì với lúc trước. Bây giờ cung cách nói chuyện và sự tử tế trong lòng anh làm tôi ngạc nhiên lắm.”
Ông Trí nói: “Phải nói là anh Đức thay đổi 180 độ so với ngày xưa. Anh có đạo đức rõ ràng. Tôi mừng cho anh.”
Ông Đức nói: “Khi xưa, tưởng đánh lộn là để giải tỏa nỗi hận thù trong lòng. Ai dè, càng đánh người ta, tôi càng thấy nóng giận hơn. Bây giờ nhờ thư pháp, tôi có một cái gì đó vô cùng bình an trong tâm hồn.”
Bắt đầu học thư pháp năm 2011, ông dùi mài học hỏi và thực tập cho đến năm 2015 thì mới thực sự hài lòng với khả năng của mình.
“Tôi cứ viết đi, viết lại, xé không biết bao nhiêu bản thảo, tốn không biết bao nhiêu giấy mực rồi mới thấy vừa ý,” ông nói.
Là người không tin vào tôn giáo, nhưng lúc bắt đầu học viết thư pháp, ông Đức bắt đầu cảm thấy có những suy tư đến một đấng thiêng liêng mà ông gọi là “Đấng Vô Hình.”
Ông nói: “Có những lúc, không hiểu vì sao, tôi cầu xin ‘Đấng Vô Hình’ cho mình mau có khả năng viết thư pháp thật giỏi để phục vụ những người chung quanh.”
Nhờ thư pháp, ông Đức, từ một người luôn nóng giận và hung hăng, dần dà trở nên một người hoàn toàn khác.
“Tôi tin là mọi chuyện không hay xảy đến cho tôi năm 2011 đều do một sắp xếp nào đó để tôi có dịp thành người tốt hơn,” ông nói.
Ông càng tin tưởng vào “Đấng Vô Hình” hơn khi sau những tái khám mới nhất, bác sĩ rất ngạc nhiên khi thấy những dấu hiệu ung thư của vợ ông hoàn toàn không còn nữa.
Bắt đầu viết thư pháp cho cộng đồng từ Tết năm 2015 ở hội chợ Mile Square Regional Park, Fountain Valley, ông Đức cảm thấy một cái gì đó rất huyền bí trong thư pháp của mình.
Ông nói: “Tôi không dám nói với ai vì sợ người ta không tin. Tôi còn không tin mà. Có lần, một người nhờ tôi viết bất cứ chữ gì để cầu tài. Tôi định viết chữ ‘tài lộc dồi dào,’ nhưng tới khi cầm giấy đưa cho người ta, tôi mới thấy mình vừa viết chữ ‘thiện tâm.’ Đang ngạc nhiên, nhưng khi người ta hỏi tại sao, tự nhiên tôi giải thích là ‘phải làm điều lành mới có tài lộc’ mà lòng mình thì không hiểu lý do.”
“Mấy tháng sau, người đó tình cờ gặp tôi và cám ơn rối rít vì lời khuyên vô giá đó,” ông nói.
Ông nhớ thêm: “Lần khác, bà này nhờ tôi viết chữ ‘phúc lộc,’ tôi định viết theo ý bà thì tay tôi lại viết thành chữ ‘hỷ xả.’ Bà chưa kịp hỏi thì tôi, vẫn không biết sao, giải thích là ‘nên tha thứ, đừng oán ghét ai thì sẽ có tài lộc.’”
Gặp lại bà trong một lần đi chợ, bà cho ông Đức hay là lời khuyên ấy quả là có hiệu ứng và xin gởi tiền nhưng ông không nhận.
“Tôi viết thư pháp vì thích. Ai muốn cho vài ba đồng mua giấy mực thì tôi nhận. Nhiều hơn nữa, tôi không dám lấy,” ông dứt khoát.
–
Liên lạc tác giả: ngo.giao@nguoi-viet.com
Vừa nhận tiền đền bù đất, dân bị cán bộ thu lại một nửa
Vừa nhận tiền đền bù đất, dân bị cán bộ thu lại một nửa
Nhiều hộ dân ở phường Đông Cương, TP Thanh Hóa thuộc diện nhận tiền đền bù đất đai của dự án. Tuy nhiên, họ chưa kịp đưa số tiền về nhà thì bị cán bộ phường thu lại 50%.
Nhiều hộ dân trú tại phố 7 và phố 8, phường Đông Cương (TP Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa) có đất sản xuất nông nghiệp thuộc diện đền bù khi Công ty cổ phần Xây dựng thương mại Tuấn Minh lấy đất triển khai dự án Văn phòng thương mại.
Sau khi nhận được tiền đền bù, một số hộ dân bị cán bộ phường Đông Cương thu lại khoảng 50% nhưng không rõ lý do.
Bà Lũy sống trong căn nhà cấp 4 xập xệ, bị cán bộ thu lại tiền đền bù đất đai không rõ lý do. Ảnh: Nguyễn Dương.
Cụ Lũy (73 tuổi) sống ở phố 7, phường Đông Cương (TP Thanh Hóa) cũng vừa bị cán bộ phường thu lại 11 triệu đồng trong tổng số 21 triệu đồng đền bù đất ruộng ở cánh đồng Hà Đá.
“Họ nói thu lại tiền để đóng vào ủy ban, nhưng không nói dùng vào việc gì. Sau khi thu, cán bộ bảo ký vào giấy gì đó, nhưng tôi không biết nội dung”, bà Lũy kể.
Bà Lũy chia sẻ cũng tính sửa sang lại căn nhà sau khi nhận tiền đền bù đất ruộng nhưng vì số tiền bị thu lại một phần và bà tuổi đã cao, không sống được bao lâu nên thôi.
Tương tự, gia đình ông Nguyễn Quan Trung (63 tuổi, ở thôn 8), nhận tiền đền bù hơn 30 triệu đồng cho khoảng 1 sào đất. Thế nhưng, gia đình ông bị cán bộ của phường thu lại hơn 20 triệu đồng.
“Tôi thắc mắc tại sao thu tiền thì họ nói thu để làm giấy tờ này, giấy tờ nọ. Tôi không rõ họ thu vào mục đích gì”, ông Trung bức xúc nói.
Nhiều hộ dân ở phố 7 và phố 8 phản ánh, họ cũng rơi vào hoàn cảnh như gia đình bà Lũy và ông Trung.
Trong số các hộ bị thu lại tiền, gia đình bà Nguyễn Thị Phượng (giáo viên về nghỉ hưu, ở phố 8) là hộ duy nhất được cán bộ phường trả lại số tiền đền bù đất đai bị phường thu. Bà Phượng cho hay nhận hơn 100 triệu đồng thì bị thu 65 triệu.
“Tôi thắc mắc ai cấp quyết định cho phường thu lại? Tại sao thu không biên lai, hóa đơn thì họ không trả lời được. Vì có chút hiểu biết pháp luật, tôi nhiều lần khiếu nại nên họ thỏa thuận trả lại”, bà Phượng nói.
UBND phường Đông Cương, TP Thanh Hóa. Ảnh: Nguyễn Dương.
Sáng 1/12, trao đổi với Zing.vn, ông Lê Đình Mão, Chủ tịch UBND phường Đông Cương, thừa nhận có sự việc trên. Tuy nhiên, ông Mão lý giải đây không phải là “thu” lại tiền của dân mà phường “kêu gọi” các hộ dân đóng góp xây dựng địa phương trên tinh thần tự nguyện.
Theo Chủ tịch UBND phường Đông Cương, việc này do cấp dưới của ông triển khai. Khi triển khai, các cán bộ phường có tổ chức họp dân và khi thu có hóa đơn.
Về câu hỏi tại sao đóng góp địa phương lại thu của các hộ một số tiền lớn như vậy? Ông Mão không giải thích được.
“Hôm trả tiền đền bù cho dân, tôi đi công tác. Không hiểu cấp dưới triển khai thế nào mà họ thắc mắc, khiếu nại. Tôi sẽ chỉ đạo rà soát, trả lại tiền cho người dân”, ông Mão nói.
Ông Đào Trọng Quy, Chủ tịch UBND TP Thanh Hóa, cho biết sẽ yêu cầu lãnh đạo phường Đông Cương báo cáo sự việc.N.D.
Nguồn: http://news.zing.vn/vua-nhan-tien-den-bu-dat-dan-bi-can-bo-thu-lai-mot-nua-post702241.html
MẤT CHỨC VÌ….ÔNG FIDEL!
MẤT CHỨC VÌ….ÔNG FIDEL!
2-12-2016
Ngày 26.11, lãnh tụ cách mạng của Cuba ông Fidel Castro qua đời. Tối ngày 27, sau khi đi… nhậu về, anh Phùng Hiệu – Quyền đại diện báo Nhà báo & Công luận (Cơ quan TW Hội nhà báo Việt Nam), đã viết trên FB cá nhân vầy nha:
“Xin thắp cho ông Fidel Castro một nén nhang, chúc cho dân tộc của ông bước sang một trang sử mới. Sau gần 50 năm cai trị đất nước Cuba với sự độc tài, bảo thủ và tôn thờ chủ nghĩa Marx một cách mê muội, ông Fidel Castro đã để lại một Cuba nghèo nàn, lạc hậu với những chiếc xe Lada cũ kỹ thời Xô Viết và những chiếc tivi màn hình đen trắng.
Mấy hôm nay báo chí và nguời dân nuớc tôi cứ ngây thơ ca ngợi, tiếc thuơng ông mà không xót xa cho một đất nước hơn nửa thế kỷ chìm đắm, ngủ quên trong lạc hậu và bị cô lập, cấm vận; mất cả quyền tự do, bình đẳng. Rất may nguời em của ông đã nhìn thấy và kịp vực dậy, đưa dân tộc thoát dần ra khỏi tối tăm. Hy vọng sau khi ông mất nguời dân Cuba sẽ hòa nhập vào thế giới tiến bộ của con nguời.”
…
Ngày 29.11, tòa soạn đã bảo Phùng Hiệu xóa stt và cho hay, BTG Trung Ương đang làm căng. Đến sáng 1.12, trong buổi giao ban báo chí với Bộ 4T, Phùng Hiệu bị đưa ra giữa cuộc họp, và cho rằng đã có lời lẽ phỉ báng, châm biếm, thiếu nhạy cảm chính trị và sai về lập trường quan điểm với lãnh tụ Fidel trên facebook. Chủ tịch Hội Nhà Báo và Thứ trưởng Bộ 4T đã yêu cầu cơ quan chủ quản của Phùng Hiệu xử lý nghiêm về mọi mặt.
Hôm nay 2.12, Phùng Hiệu đã nhận được quyết định cắt… cu (Quyền) Đại diện báo Nhà Báo & Công Luận ở Tp.HCM, đồng thời đình chỉ công tác và mất …chiến sĩ thi đua. Như vậy, sau nhà báo Đỗ Hùng – Thanh Niên, thì đây là trường hợp tiếp theo của giới báo chí được Ban Tuyên Giáo cho là phỉ báng và châm biếm các lãnh tụ Cộng Sản trên mạng xã hội!
Anh Phùng Hiệu cho biết: “Năm nay tam tai mà, nhưng tôi chỉ nói đúng sự thật thôi. Với lại 10 năm làm báo là quá đủ rồi. Báo tôi bán đâu ai mua, làm thằng đại diên phía Nam phải chạy vạy làm ra tiền nuôi cả chục anh em, rồi phải chạy chỉ tiêu cả tỉ bạc hàng năm cho cơ quan. Mỗi lần đi xin quảng cáo các doanh nghiệp tôi thấy quá xá nhục. Thôi, sẵn dịp này bỏ nghề luôn!”.
P/s: Trên thực tế, nhiều cơ quan báo chí đã đặt ra một số tiêu chí cho nhà báo và CB-CNV về việc xài facebook, thậm chí có tòa soạn còn cấm cả phóng viên… like/comment các stt bàn về những vấn đề chính trị – xã hội.
_____
Viết tên anh em nhà Castro lên 2 con lợn, họa sĩ Cuba lãnh án tù
1-12-2016
Họa sĩ graffiti người Cuba, anh Danilo Maldonado là người đã vẽ chữ Fidel và Raul lên 2 con lợn để chuẩn bị cho cuộc triển lãm tác phẩm “Trại Súc Vật” của George Orwell hồi năm ngoái. Anh đã phải trả giá bằng 10 tháng tù ở.
Mới đây, anh Danilo Maldonado lại bị bắt lần nữa sau khi đăng lên Facebook những hình ảnh về cái chết của Fidel Castro, cũng như cùng mọi người xuống đường reo hò khi nghe tin “lãnh tụ kính yêu” chết.
Hiện tại anh Maldonado vẫn còn ở trong tù, không rõ cái án sắp tới sẽ là bao nhiêu tháng.
Đây là Facebook của anh Danilo Maldonado. Những hình ảnh về cái chết của Fidel Castro đã không còn trên đó: https://www.facebook.com/danilo.maldonadomachado
Còn đây là Facebook của nhóm nghệ thuật graffiti, có ảnh 2 con lợn có tên Fidel và Raul: https://www.facebook.com/Graffitis-Cuba-651451214895280
Anh Danilo Maldonado, họa sĩ graffitis người Cuba, hiện đang ở trong tù vì vui mừng trước cái chết của Fidel Castro. Ảnh: internet
FIDEL CASTRO, HỒ CHÍ MINH VÀ VẤN ĐỀ “TÍNH CHÍNH DANH”
FIDEL CASTRO, HỒ CHÍ MINH VÀ VẤN ĐỀ “TÍNH CHÍNH DANH”
2-12-2016
Gửi những bạn yêu mến Fidel Castro, “cha già dân tộc” của nhân dân Cuba: Bài viết dưới đây đặc biệt dành cho các bạn. Nếu có bình luận gì, xin các bạn lưu ý: Mình chưa từng nói bất cứ ai ủng hộ quốc tang Fidel là ngu dốt, thần kinh…, nên mong các bạn cũng đừng dùng lập luận “chỉ có lũ vô ơn, vong ân bội nghĩa mới không tán thành quốc tang”. Ngoài ra, để kể về tình cảm và ân nghĩa giữa đảng và nhà nước Cuba với đảng và nhà nước Bắc Việt thì mình kể hay hơn dư luận viên nhiều, cho nên cũng không cần phải nhắc mình về điều đó.
Bài viết sẽ giải thích vì sao ở Việt Nam, yêu mến lãnh tụ cộng sản lại được xem là một phẩm chất tốt đẹp. Nó liên quan đến vấn đề “tính chính danh của nhà cầm quyền”.
* * *
Tính chính danh là niềm tin phổ biến của các thành viên trong một xã hội rằng quyền lực của chính quyền hay đảng cầm quyền là đúng, chính đáng, hợp lý, hợp pháp, và vì thế dân chúng phải phục tùng.
Tóm lại, chính quyền có chính danh tức là việc cầm quyền của họ là phù hợp, thích đáng trong suy nghĩ của người dân, và (vì thế) người dân chấp nhận phục tùng chính quyền ấy.
Làm thế nào để một tổ chức có được tính chính danh để trở thành chính quyền? Theo nhà xã hội học người Đức Max Weber (1864-1920), có ba cách:
1. Nhờ truyền thống (cha truyền con nối);
2. Nhờ có sức hấp dẫn của lãnh tụ, lãnh đạo;
3. Nhờ được thành lập và vận hành hợp pháp và hợp lý.
Trong đó, cách 2, chính danh nhờ có lãnh tụ kiệt xuất, là cách phổ biến ở các nhà nước độc tài. Các chính thể ở đó được công nhận là chính danh nhờ sự hấp dẫn của một cá nhân nào đó được công chúng sùng bái, và cá nhân đó đóng vai trò lãnh tụ, lãnh đạo. Ví dụ như các chính quyền Napoleon (Pháp), Mussolini (phát xít Ý), Hitler (Đức quốc xã), Fidel Castro (Cuba cộng sản), Khomeini (Hồi giáo Iran), Lenin, Staline (Liên Xô), Mao Trạch Đông (Trung Quốc cộng sản), dòng họ Kim Nhật Thành (Bắc Triều Tiên), và Hồ Chí Minh (Việt Nam cộng sản), v.v.
Nói cách khác, những chính quyền đó có được tính chính danh nhờ việc họ có một gương mặt cá nhân nào đó có sức hấp dẫn to lớn đối với dân chúng, được ngợi ca bởi công đức trời biển, được tôn vinh như “tiên đế”, “cha già dân tộc”, “khai quốc công thần”. Chừng nào nhân vật ấy còn được sùng bái, chừng đó chính thể còn có tính chính danh, và ngược lại, khi sự sùng bái của người dân đối với lãnh tụ kiệt xuất bị suy giảm thì khi ấy, tính chính danh của chính thể bắt đầu lung lay. Đến khi lòng kính trọng, tin yêu của dân chúng đối với lãnh tụ hoàn toàn chấm hết, thì chế độ không còn lý do để tồn tại.
Đó là lý do vì sao các chính quyền cộng sản như Liên Xô, Bắc Triều Tiên, Cuba, Trung Quốc, Việt Nam… phải sống chết bảo vệ hình ảnh vị “cha già dân tộc” của mình, kể cả hàng chục năm sau khi ông ta mất. Ở những xã hội này, sự kính trọng, tin yêu đối với lãnh tụ được xem như đạo đức. Nói xấu, phỉ báng lãnh tụ bị coi là trọng tội và bị pháp luật trừng phạt.
Đến đây xin kể lại với các bạn về một chuyện xảy ra vào tháng 10 năm ngoái.
Vào ngày 12/10/2015, Đỗ Đăng Dư, 17 tuổi, chết lúc 7h tối tại bệnh viện Bạch Mai sau hai tháng bị công an huyện Chương Mỹ tạm giam ở Trại tạm giam số 3 (Công an TP. Hà Nội) để điều tra về hành vi trộm cắp tài sản. Trước đó, ngày 11/10, Cơ quan Cảnh sát Điều tra cho biết, Đỗ Đăng Dư bị bạn tù là Vũ Văn Bình đánh vì “rửa bát bẩn”.
Đêm 12/10 sau khi Dư chết và thi thể được đưa vào nhà xác, hàng chục nhà hoạt động nhân quyền ở Hà Nội đã đến bệnh viện Bạch Mai an ủi, giúp đỡ gia đình và lên án công an bạo hành dân.
Ngày hôm sau, 13/10, facebooker Nguyễn Lân Thắng đăng tải trên trang cá nhân một bức hình chụp ông cầm chiếc đĩa sứ có in chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, kèm bình luận: “Ngày xưa ông ấy rửa bát bẩn trên tàu thì Việt Nam đâu đến nỗi”. Bức hình được gần 5000 người “like” và hơn 300 người chia sẻ, nhưng nó cũng gây phẫn nộ lớn trong cộng đồng những người “yêu Đảng yêu Bác”. Vào ngày 17/10, ông Trần Nhật Quang, một nhân vật trong đội ngũ dư luận viên Hà Nội, tuyên bố thành lập nhóm phản ứng nhanh để “săn lùng” và “hỏi tội” “những tên phản động” mà trước mắt là Nguyễn Lân Thắng vì tội “xúc phạm Bác Hồ”.
Nhiều độc giả của ông Nguyễn Lân Thắng, tuy ủng hộ ông hoạt động xã hội, đấu tranh dân chủ, nhưng cũng không tán thành việc ông “đem Bác Hồ ra làm trò cười”.
Tuy vậy, cũng không ai giải thích được tại sao kính trọng lãnh tụ lại là một thứ đạo đức.
Nhưng chắc đến lúc này thì các bạn có câu trả lời rồi: Đó chính là bởi vì tâm lý sùng bái lãnh tụ trong dân chúng Việt Nam còn rất nặng, mà tâm lý ấy là kết quả của sự tuyên truyền không ngừng nghỉ của đảng Cộng sản về ông Hồ Chí Minh như vị cha già dân tộc.
VẶN CỔ DÂN MÌNH ĐỂ ĐI GIÚP NGƯỜI
Câu chuyện Fidel Castro với Cuba cũng vậy, và rộng ra là với người dân Việt Nam cũng vậy. Đảng Cộng sản Việt Nam chắc chắn phải ép toàn dân chịu quốc tang Fidel Castro, mặc dù nước Cuba của Fidel thực chất chỉ giúp một nửa nước Việt Nam; và cũng chẳng phải là nhân dân Cuba tự nguyện giúp. Để làm được việc đó, Fidel đã bóp cổ, bóp hầu bóp họng chính người dân của mình. Cũng giống như Trung Quốc giúp Việt Nam trong chiến tranh – cung cấp lương khô, quân trang, quân dụng, vũ khí – trong khi chính thời gian đó, đất nước này điêu linh vì cách mạng văn hóa, đại nhảy vọt v.v.
Bạn sẽ bảo là “giúp người trong lúc chính mình khó khăn mới là nhân nghĩa”. Vâng, cứ cho là việc họ bóp cổ dân, bắt dân ăn đói mặc rách để họ làm nghĩa vụ quốc tế, là điều tốt, là nhân nghĩa đi. Nhưng các bạn cũng chớ quên, chính cái chính quyền Trung Quốc ấy, khi trở mặt (hoặc bị Việt Nam trở mặt, theo cách hiểu của họ), đã đem cả bát mẻ, bát sứt ra mời cơm Đại tướng Võ Nguyên Giáp của các bạn, nhân chuyến thăm Trung Quốc của ông Giáp vào năm 1976. Ba năm sau, họ kéo quân sang “dạy cho Việt Nam một bài học”, giết chóc, tàn sát…
Sự cực đoan không bao giờ là điều tốt. Sự cực đoan của lãnh đạo càng kinh khủng hơn.
Chính quyền ở cả Trung Quốc, Việt Nam, Cuba lẫn Bắc Hàn đều cố dạy cho dân rằng kính trọng lãnh tụ là một thứ đạo đức. Từ lâu, chắc bạn cũng đã tin như thế.
Nhưng trên thực tế, sùng bái cá nhân đã chỉ đưa đến và củng cố chế độ độc tài và nô lệ. Không xã hội nào tiến bộ về đạo đức và văn hóa chính trị nhờ việc dân chúng sùng bái lãnh tụ.
____
2-12-2016
Từ chiều qua, tôi đã biết tin một anh nhà báo (Phùng Hiệu – quyền phụ trách cơ quan phía Nam của Nhà báo & Công luận) bị rút thẻ vì một stt về Fidel. Vài ngày trước đó, tôi cũng đã biết có một nhóm nhà báo (ăn lương “nhà nước”) lập loạt nick giả để tấn công một stt của tôi về Fidel.
Họ thực hiện bài bản, ào ạt, và chuyên nghiệp. Đại loại họ nói tôi viết “một chiều”, “phiếm diện”. Khi bị block, họ kiên nhẫn lập nick khác để tấn công tiếp, với một sự hằn học và cay cú không bình thường. Cái sự “một chiều” của tôi thật ra là chỉ khác với chiều của họ.
Họ tức tối và nổi giận khi bạn hạ bệ thần tượng của họ. Họ phẫn nộ khi bạn không “yêu mến” người mà họ “kính yêu”. Họ muốn “mặc đồng phục” không chỉ đối với quan điểm chính trị mà cả với cảm xúc cá nhân. Phải giống tớ, không thì tớ đập cậu thẳng tay. Đồ phản động, nghe chửa!
Dù thế nào, tôi cũng “nể” họ quá. Nỗ lực của họ, dù bất thành và bế tắc, cũng nên đáng “ghi nhận”. Họ thật sự là những nhà “cách mạng báo chí triệt để”.
____
Fidel Castro chết, Cách chức nhà báo Phùng Hiệu.
Facebook: Phan Thị Hồng added 2 new photos.
Cấp trên của nhà báo Phùng Hiệu cũng bị kỷ luật.
Sau khi viết stt trên trang FB cá nhân Phùng Hiệu về nhân vật Fidel Castro: độc tài, bảo thủ và mê muội:
– “… Sau gần 50 năm cai trị đất nước Cuba với sự độc tài, bảo thủ và tôn thờ chủ nghĩa Marx một cách mê muội, ông Fidel Castro đã để lại một Cuba nghèo nàn, lạc hậu với những chiếc xe Lada cũ kỹ thời Xô Viết và những chiếc tivi màn hình đen trắng.
– “Mấy hôm nay báo chí và nguời dân nuớc tôi cứ ngây thơ ca ngợi, tiếc thuơng ông mà không xót xa cho một đất nước hơn nửa thế kỷ chìm đắm, ngủ quên trong lạc hậu và bị cô lập, cấm vận; mất cả quyền tự do, bình đẳng. …”
Nhà báo Phùng Hiệu bị yêu cầu gỡ bỏ bài viết và bị buộc thôi việc.
Cách chức, đuổi việc nhà báo Phùng Hiệu, Ban Tuyên giáo vẫn chưa hết tức nên buộc Hội Nhà Báo Việt Nam kỷ luật luôn ông Nguyễn Ngọc Niên Tổng biên tập báo Nhà Báo & Công Luận là người lãnh đạo trực tiếp của nhà báo Phùng Hiệu.
Đình chỉ công tác 01 tháng đối với Tổng Biên tập báo Nhà báo và Công luận
(02/12/2016 16:22)
Ngày 01/12/2016, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam Thuận Hữu thay mặt Thường trực Thường vụ Hội đã ký Quyết định số 477/QĐ-HNBVN, về việc
“Đình chỉ công tác 01 tháng đối với ông Nguyễn Ngọc Niên, Tổng Biên tập báo Nhà báo và Công luận vì có nhiều sai phạm về quản lý, điều hành báo Nhà báo và Công luận trong thời gian qua, kể từ ngày 01/12/2006”.
Quyết định cũng nêu rõ: “Giao bà Trần Lan Anh, Phó Tổng Biên tập báo Nhà báo và Công luận thay ông Nguyễn Ngọc Niên quản lí, điều hành tờ báo trong thời gian 01 tháng, kể từ ngày 01/12/2006 đến ngày 31/12/2016;
Ban Biên tập báo Nhà báo và Công luận và cá nhân ông Nguyễn Ngọc Niên nghiêm khắc kiểm điểm về những sai phạm của Báo trong thời gian qua, đề ra giải pháp khắc phục và báo cáo Thường trực Thường vụ bằng văn bản trước ngày 20/12/2016.
Giao Ban Kiểm tra của Hội Nhà báo Việt Nam giám sát việc kiểm điểm của báo và cá nhân ông Nguyễn Ngọc Niên”.


Đêm về trên bánh xe lăn
Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ 2 mùa Vọng Năm A 04/12/2016
“Đêm về trên bánh xe lăn “
Tôi trăng viễn xứ, hồn thanh niên vàng
Tìm tôi đèn thắp hai hàng
Lạc nhau cuối phố, sương quàng cổ cây
Ngỡ hồn tu xứ mưa bay
Tôi chiêng trống gọi, mỗi ngày mỗi xa.”
(Thơ: Du Tử Lê/Nhạc: Phạm Đình Chương – Đêm Nhớ Trăng Sàigòn)
(2Cor 7: 10)
Trần Ngọc Mười Hai
Chao ôi! Rõ thật là âm nhạc rất “về đêm” và đêm về! Về đâu không về, sao cứ về “trên bánh xe lăn” lại rất đêm? Về thế rồi, bạn lại hát: “tìm tôi đèn thắp hai hàng”, “Lạc nhau cuối phố”, “mỗi ngày mỗi xa”. Ối chà! là nhạc buồn. Buồn thấm-thía biết chừng nào! Khiến bạn và bầy tôi đây vẫn hát những câu tiếp sau đây:
“Đời tan, tan nát chiêm bao.
Tôi trăng viễn xứ, sầu em bến nào.
Đêm về trên chiếc xe qua.
Nhớ tôi xa lộ, nhớ nhà Hàng Xanh.
Nhớ em, kim chỉ khứu tình.
Trưa ngoan lớp học chiều lành khóm tre.
Nhớ mưa, ôi nhớ mưa !
Nhớ mưa buồn khắp Thị Nghè.
Nắng Trương Minh Giảng, lá hè Tự Do.
Nhớ nghĩa trang xưa, quê hương bạn bè.
Nhớ pho tượng lính, buồn se bụi đường.”
(Du Tử Lê/Phạm Đình Chương – bđd)
Lại một nhạc bản đến là buồn nghe được ở buổi “Hát Cho Nhau Nghe” vào đêm ấy, tối mồng 5 tháng 11 năm 2016 ở Sydney một ngày cũng khá nóng. Cái nóng về đêm cộng thêm bài hát cũng khá sầu/buồn phổ trên thơ Du Tử Lê, ôi thôi là da diết. Vâng. Dù không muốn thế, cũng vẫn có thêm một thứ tình buồn rất “về đêm”.
Buồn hơn nữa, là khi bạn bè truyền cho nhau đọc một đoạn ngắn cuốn sách được tờ New York Times đánh giá là sách bán chạy nhất trong năm 2005 có đầu đề là: “Misquoting Jesus, the Story Behind Who Changed the Bible and Why?” của Bart D. Ehrman.
Và, chuyện Thánh Kinh được tóm gọn ở phần dẫn nhập vào cuốn sách, có lời buồn sau đây:
“Sách thánh xuất hiện trước mắt tôi như một cuốn sách rất ư từ con người. Chỉ như là do các vị kinh-sư/thông luật người phàm từng ghi chép và biến-đổi rất nhiều điều từ Kinh Sách, nên cũng thế: các tác-giả là phàm-nhân, tự ban đầu, cũng viết lên những điều như thế. Đây là cuốn sách hoàn-toàn mang tính nhân-loại từ đấu chữ đến cuối giòng. Sách này được các tác-giả là con người từng ghi chép vào thời khắc và nơi chốn khác nhau đề-cập đến những nhu-cầu khác nhau.
Dĩ nhiên, nhiều tác-giả trong đó đã được Thiên-Chúa tạo hứng-khởi để nói những gì các ngài làm, nhưng họ vẫn có tầm nhìn tư riêng, niềm tin riêng rẽ, lập-trường riêng, nhu-cầu riêng, ao-ước riêng, hiểu biết cũng rất riêng về nền thần-học của riêng họ. Và những tầm nhìn, cũng như niềm tin, quan-điểm, nhu-cầu, ước-ao, hiểu-biết và nền thần-học này đã cho họ biết những gì họ nói ra. Khi viết những điều này, các tác-giả đều khác nhau rõ rệt.
Điều đáng buồn là: ngày nay, vẫn còn rất nhiều tín-hữu đến triệu triệu người cứ nghĩ rằng ta có thể hiểu Kinh thánh từng chữ, nghĩa đen theo kiểu tác-giả được thần-hứng viết lên những lời tiên-đoán sẽ xảy đến rất mau chóng hệt như lịch-sử từng diễn-tiến giống hệt thế…” (X. Bart D. Ehrman, Misquoting Jesus, the Story Behind Who Changed the Bible and Why, HarperOne 2005, tr. 11-13)
Thế đó, là nỗi buồn của một số người nhà Đạo, không chỉ “về đêm” hay “đêm về”, mà thôi. Nhưng, đây còn là nỗi buồn nhiều thuở của người đọc, khi khám-phá ra nhiều thứ khá “lộn xộn” ở chốn miền êm-ấm, rất Thánh Kinh.
Hệt như giai-điệu trầm/buồn ở trên mang nhiều từ-vựng không vui, như: “Nhớ pho tượng lính, buồn xe bụi đường”, hôm nay, nhân lục tìm đống sách/báo lấm bụi, trong đó có bức thư của nhà mô-phạm nọ ở Melbourne, có thư cho Nữ Hoàng Êlizabeth, như sau:
“Trong kính Nữ Hoàng của thần dân tôi,
Viết thư này, thần dân đây muốn dâng lên ngài đôi lời chúc mừng nhiệt-nồng không phải về chuyện ngài đã trị-vì triều-đại dài lâu nhất nước Anh, nhưng vì một lý-do riêng-tư, thâm trầm hơn. Bởi, năm tới đây 2017, ngài sẽ được chúng-dân long-trọng tổ-chức buổi kỷ-niệm 70 năm ngài thành-lập gia-thất với Quận Công Phillip, tức Đức lang-quân yêu-dấu của ngài.
Dĩ nhiên là, thần dân đây cũng đính kèm các lời chúc tốt lành cho những ngày sắp tới của ngài. Trong bảy thập-niên vừa qua, ngài đã an-táng Hoàng-thái-hậu và Thái-thượng-hoàng của ngài và cũng đã mục-kích ba trong số bốn người con của ngài phải trải qua cơn chấn-động và buồn đau đi đến quyết-định phải ly-dị người bạn đời. Thần dân chúng tôi, vốn dĩ tưởng-tượng rằng các cháu của ngài, giống như hàng triệu người khác, đã học được bài học về cuộc sống gia-đình luôn vô cùng phức-tạp.
Người xưa có câu ngạn-ngữ bảo rằng: cuộc sống con người càng phô-trương ra ngoài công-chúng bao nhiêu thì người sống cuộc sống ấy càng phải trở-thành tư-riêng, kín-đáo bấy nhiêu. Điều này chắc chắn áp-dụng cho ngài. Thần dân chúng tôi không thể nhìn vào đồng tiền kẽm mà không thấy hình-ảnh của ngài.
Thế nhưng, bất kỳ một ai từng lập gia-đình đều biết rằng hình-ảnh bên ngoài ít giống thực sự thật bên trong. Hôn-nhân là bí-tích của một thực-tại. Tất cả mọi hôn-nhân đều là chuyện bí-nhiệm đối với người đứng ở ngoài và đôi lúc còn bí-hiểm cả với chính vợ chồng nữa. Hôn-nhân không được thiết-lập để sống ở trên trời, nhưng được làm thành từ hạnh-phúc vô-vàn không kể xiết, ở dưới đất.
Cách đây vài năm, thần dân tôi có gặp một mục-sư thuộc Giáo hội Tô-Cách-Lan được yêu cầu hướng-dẫn nghi-lễ ngày Chúa Nhật mà hôm ấy đáng lý ngài đến dự, ở Balmoral. Điều này có nghĩa là ông ta đã được mời lưu lại tại căn-hộ của ngài vào tối Thứ Bẩy và san sẻ dạ yến với ngài và Quận công Phillíp. Mục-sư Gioan đã ngần-ngại trong đôi chốc vì thấy không thoải-mái với các bộ lễ-phục của hoàng-gia. Ông không tin vào các vương-triều của người phàm dưới thế này. Nhưng cuối cùng, rồi thì ông cũng đã chấp-nhận một phần vì tò-mò, phần kia vì ông cũng đoán trước được là dạ-tiệc ấy sẽ rất ngon.
Mục-sư Gioan đã sững-sờ khi khám-phá ra rằng căn-hộ riêng-tư của ngài ở Balmoral thật ra là thứ gì đó giống hệt như căn phòng dành riêng ở sau nhà gồm đầy đủ phòng khách trải nhựa dẻo đã hết thời. Khi giờ tiệc đã tới, Quận công Phillíp đã bồn-chồn bước vào nhà bếp nhỏ, lấy nước cho vào nồi rồi mở gói mì ống kiểu Ý “spaghetti” bỏ vào nấu. Khi món mì lục bục sôi, ngài quận công đã phải lúng túng mở nắp lọ nước chấm ăn mì, là loại gia-vị ta có thể mua tại bất cứ siêu-thị nào khác. Đó là bữa ăn tối khá giản-dị
Thần dân đây tin rằng ngài và quận công Phillíp đã tự rửa chén/dĩa và hỏi mục-sư Gioan xem ông ta có muốn xem truyền-hình, thì ông này bảo: ông đang phải soạn bài chia sẻ, nên thật sự ông thấy cũng nên đưa chuyện này vào bài giảng. Mặt ngoài thì ngài và quận công Phillíp hôm ấy cũng đã cằn nhằn nhau về tình-trạng muỗng/nĩa ở nơi đó.
Thần dân bề tôi đây cảm thấy thích-thú được nghe chuyện này vì nó cho thấy ngài và quận-công đã có mối tương-quan thực-thụ. Những người được ta thương mến nhiều nhất lại là những người thường hay làm phiền ta không ít. Tình thương luôn năng-động, lúc nào cũng di-động và tiến-triển giữa việc giữ lại để ghi tỷ-số và để cho đi, giữa việc giữ lại cho mình mọi điều tốt đẹp và cho đi. Quyền lực cứ hỏi: “Có gì trong đó để cho tôi không?’ Tình thương, là hỏi rằng: “Có ai ở đó với tôi không?” Hôn-nhân nào cũng thế, vẫn luôn có lúc hai vợ chồng đều xào-xáo nhau.
Trong thông-điệp Giáng sinh mới đây nhất của mình, ngài có nói đến thông-điệp Đức Giêsu nói về tình-yêu và lòng xót thương, khi bảo rằng:
“Dù cứ di-chuyển và bị bách-hại suốt cuộc đời ngắn-ngủi của Ngài, thông-điệp Đức Giêsu vẫn không thay-đổi là ta không được phép trả-đũa hoặc gây bạo-lực cho ai hết, mà Ngài chỉ khuyên ta có mỗi điều là hãy yêu thương lẫn nhau. Dù đây không là thông-điệp dễ thực-thi, chúng ta cũng không nên tỏ ra chán-nản; đúng hơn, điều Ngài nói tạo hứng để ta cố-gắng nhiều hơn. Sống biết cảm-kích những người đem tình-yêu và hạnh-phúc đến với cuộc sống của chính chúng ta, và tìm cách phổ-biến tình-yêu ấy đến với mọi người, bất cứ khi nào và ở bất cứ chỗ nào ta làm được.
Tôi nắm chắc rằng việc ta đáp trả mọi vấn-đề lớn của thế-giới đều chịu ảnh-hưởng thật sâu đậm từ tình-yêu ta trải-nghiệm trong tương-quan mật thiết nhất của ta với người khác. Thần dân đây cảm-kích thật đậm sâu về tình thương-yêu trìu mến của những người thương yêu chúng tôi. Chúng tôi hy vọng rằng tầm nhìn của ngài về niềm tin-yêu và sự công-chính cũng sẽ được thể-hiện bằng tình-yêu, giống hệt thế.
Trọng kính ngài,
Michael McGirr
(X. Michael McGirr, A Letter to the Queen, The Australian Catholics số Phục Sinh 2016, tr. 12)
Ôi chao! Là thư-từ viết rất hay và cũng thực-tế. Thực-tế/hấp-dẫn hơn cả bài giảng-thuyết ở nhà thờ nhà thánh của các đấng “lờ mờ” không kết-đoạn, cũng khá buồn!
Vậy thì, chuyện sầu/buồn ở đời, đôi lúc cũng chỉ là chuyện cỏn con/chóng vánh, rất mau qua. Bởi, theo quan-niệm của nhà Phật thì “tứ diệu-đế” vẫn là thứ “cơ-duyên tạo buồn/vui nơi đời người. Có vùng-vẫy cho lắm con người càng lún sâu trong “Vũng Lầy Của Chúng Ta” như ca nhạc sĩ Lê Uyên và Phương từng nghĩ đến.
Muốn sống vui, sống mạnh sống vững chãi trong chốn ngày buồn là cuộc đời người, chi bằng ta cứ đi vào vùng trời truyện kể để quên đi những nét chấm phá sầu buồn, mà vui sống. Vậy thì, mời bạn/mời tôi, ta cứ kể cho nhau truyện vui/buồn lẫn lộn ở đời, dù đã hơn một lần được kể, như sau:
“Có một chàng trai bị bệnh ung thư. Chàng mới 19 tuổi, nhưng có thể chết bất kỳ lúc nào vì căn bệnh quái ác này. Suốt ngày, chàng trai phải nằm trong nhà, được sự chăm sóc cẩn thận đến nghiêm ngặt của bố mẹ. Do đó, chàng trai luôn mong ước được ra ngoài chơi, dù chỉ một lúc cũng được.
Sau rất nhiều lần năn nỉ, bố mẹ cậu cũng đồng ý. Chàng trai đi dọc theo con phố- con phố nhà mình mà vô cùng mới mẻ- từ cửa hàng này sang cửa hàng khác. Khi đi qua một cưả hàng bán CD nhạc, chàng trai nhìn qua cửa kính và thấy một cô gái. Cô gái rất xinh đẹp với một nụ cười hiền lành – và chàng trai biết đó là “tình yêu từ ánh mắt đầu tiên”. Chàng trai vào cửa hàng và lại gần bàn cô gái đang ngồi. Cô gái ngẩng lên hỏi:
-Tôi có thể giúp gì được cho anh?
Cô gái mỉm cười, và đó là nụ cười đẹp nhất mà chàng trai từng thấy.
-Ơ…chàng trai lúng túng.
-Tôi muốn mua một CD…
Chàng chỉ bừa một cái CD trên giá rồi trả tiền.
-Anh có cần tôi gói lại không ? Cô gái hỏi, và lại mỉm cười.
Khi chàng gật đầu, cô gái đem chiếc CD vào trong.
Khi cô gái quay lại với chiếc CD đã được gói cẩn thận, chàng trai tần ngần cầm lấy và đi về.
Từ hôm đó, ngày nào chàng trai cũng tới cửa hàng, mua một chiếc CD và cô gái bán hàng lại gói cho anh.
Các dĩa CD đó, cháng đem về nhà và cất ngay vào tủ.
Anh rất ngại, không dám hỏi tên hay làm quen với cô gái.
Nhưng cuối cùng, mẹ anh cũng phát hiện ra việc này và khuyên anh cứ nên làm quen với cô gái xinh đẹp kia.
Ngày hôm sau, lấy hết can đảm, chàng trai lại đến cửa hàng bán CD, rồi khi cô gái đem chiếc CD vào trong để gói, anh đã để một mảnh giấy ghi tên và số điện thoại của mình lên bàn. Rồi anh cầm chiếc CD đã được gói- như tất cả mọi ngày- đem về.
Vài ngày sau…
Reeeeeeeeeeeeeeng !!!.
Mẹ chàng trai nhấc điện thoại:
-Allô?
Đầu dây bên kia là cô gái ở cưả hàng bán CD. Cô xin gặp chàng trai nhưng bà mẹ òa lên khóc:
-Cháu không biết sao? Nó đã mất rồi…hôm qua…
Im lặng một lúc. Cô gái xin lỗi, chia buồn rồi đặt máy. Chiều hôm ấy, bà mẹ vào phòng cậu con trai. Bà muốn sắp xếp lại quần áo cuả cậu, nên đã mở cửa tủ. Bà sững người khi nhìn thấy hàng chồng, hàng chồng CD được gói bọc cẩn thận, chưa hề được mở. Bà mẹ rất ngạc nhiên, cầm một cái lên, mở ra xem. Bên trong lớp giấy bọc là một chiếc CD cùng với một mảnh giấy ghi: “chào anh, anh dễ thương lắm.
Jacelyn”
Bà mẹ mở thêm một cái nữa. Lại thêm một mảnh giấy ghi: “Chào anh, anh khoẻ không? Mình làm bạn với nhau nhé?
Jacelyn”
Một cái nữa, thêm nữa… trong mỗi cái CD là một mảnh giấy…..” (Câu truyện kể đi kể lại cũng nhiều lần)
Và, một truyện khác vui/buồn tuỳ người đọc đánh giá và nhận-định, như sau:
“Người ta thường nói “có mà không giữ, mất đừng tìm”, vậy nên đừng bao giờ làm những điều khiến chúng ta phải hối hận. Hãy nhớ rằng hạnh phúc luôn dành cho những người biết nâng niu và hiểu được giá trị của tình yêu!
Có một chàng trai chia tay bạn gái đã lâu, mặc dù đã thử quen người mới nhưng vì tính cách không hợp nên sau cùng anh vẫn cô đơn. Một ngày nọ, trong lúc sửa soạn đồ đạc để chuyển nhà, anh tìm thấy lọ sao giấy – món quà kỷ niệm 1000 ngày yêu của người bạn gái cũ. Chàng trai bỗng nhớ lại lời nhắn của cô gái trước khi chia tay:
“Nếu có một ngày chúng mình không còn bên nhau nữa, anh hãy tháo những ngôi sao giấy mà em gấp tặng anh ra nhé!”
Khi ấy, chàng trai cho rằng đó chỉ là lời nói vu vơ của cô người yêu hay giận dỗi nên chẳng mấy để tâm. Vả lại, “ai mà đủ kiên nhẫn để tháo 1000 ngôi sao ra cơ chứ!” – chàng trai tự nhủ. Thế nên hôm đó anh cất lọ sao giấy vào một góc và không bận tâm về nó nữa.
Chàng trai suy nghĩ một lúc rồi lấy một ngôi sao giấy trong lọ và tháo nó ra. Một ngôi sao, hai ngôi sao, ba ngôi sao… Anh tháo đến ngôi sao thứ hai mươi rồi mà chẳng thấy có gì bên trong. Anh không còn đủ kiên nhẫn nữa. “Sao mình lại làm điều ngớ ngẩn này chứ!”, anh nghĩ và quyết định sẽ chỉ tháo thêm một ngôi sao nữa thôi.
Anh tháo từng nếp gấp của ngôi sao và lần này anh thấy trên mảnh giấy dùng để gấp sao hiện lên dòng chữ nắn nót:
“Anh thương yêu! Em hy vọng anh chẳng bao giờ đọc được những dòng này, vì như thế nghĩa là mình vẫn còn yêu nhau”.
Chàng trai lặng người, rồi anh tiếp tục tháo những ngôi sao còn lại. Anh nhận thấy quá nửa trong số chúng chẳng được viết gì. Mỗi lần thấy ngôi sao có chữ là anh lại hồi hộp như trẻ con mở quà.
Chàng trai rất kiên trì mới tháo được hết 1000 ngôi sao, nhưng anh cũng biết khi cô gái viết lời nhắn rồi gấp sao thì còn phải kiên trì gấp nhiều lần hơn thế. Chàng trai hết sức cảm động, những dòng chữ trên giấy gấp sao khiến tim anh đau nhói, anh ngỡ mình có thể khóc ngay được nhưng vẫn cố kìm nén, không để nước mắt rơi.
Cô gái viết rất nhiều. Tất cả giống như một cuốn nhật-ký-tình-yêu thu nhỏ. Trong đó có những lời nhắn nhủ yêu thương, những câu nói hỏi han quan tâm, đôi khi chỉ là vài câu kể lể hay nhắc nhớ về ngày kỷ niệm tình yêu, cũng có những câu hờn giận vu vơ…
“Anh thương yêu! Em ước gì mình được ở bên anh lâu hơn một chút. Xa anh buồn lắm!”
“Anh ơi! Mình đã yêu nhau được 821 ngày rồi đó. Có anh em hạnh phúc biết bao!”
“Anh của em hãy kiên cường lên nhé, vì có em luôn ở bên ủng hộ anh mà!”
“Anh đừng buồn nha anh, mọi chuyện rồi sẽ ổn thôi mà. Anh sẽ vượt qua tất cả, hãy tin em!”
“Em bỏ trống những ngày mình giận nhau vì những điều không vui tốt nhất nên quên đi, em sẽ không nhắc lại”.
“Hôm nay là sinh nhật em, điều em mong nhất là nhận được lời chúc của anh, nhưng chắc anh bận mất rồi…”
“Hôm nay anh lại làm em khóc, nhưng em đã hứa rồi nên sẽ không giận anh đâu”.
“Anh này, dạo này anh có vẻ lạnh nhạt với em quá… Em thì nhớ anh lắm lắm, anh biết không!”.
Cứ thế cứ thế, những hồi ức ngày yêu ùa về khiến chàng trai không khỏi bồi hồi, nhớ tiếc. Chàng trai nghĩ lại, quả thực trong thời gian yêu nhau anh đã rất vô tâm, nhiều lần khiến người yêubuồn và khóc. Anh thậm chí còn chẳng an ủi dỗ dành, vì anh biết cô bạn gái của mình sẽ chẳng giận được lâu. Và thế là anh để mất cô từ lúc nào chẳng hay. Giờ đây anh vô cùng hối hận, anh tháo từng ngôi sao mà tay cứ run run.
Ngôi sao cuối cùng to hơn hẳn các ngôi sao khác, chàng trai đoán ngôi sao này được gấp sau cùng, bởi loại giấy hoàn toàn khác những ngôi sao còn lại. Trong đó, cô gái viết:
“Anh thương yêu! Em chỉ có thể chờ anh ba năm thôi, nên nếu còn thương em thì hãy sớm tìm em anh nhé. Yêu anh!”
Chàng trai xem lịch, đã ba năm hai tháng kể từ ngày hai người chia tay. Anh vội vàng tìm đến nhà người yêu cũ vì anh hiểu ra rằng mình vẫn còn thương cô ấy rất nhiều, chỉ là anh không dám thừa nhận mà thôi.
Nhưng cô gái vừa chuyển đến một nơi rất xa, bên người chồng mà cha mẹ mối mai. Cô kết hôn để làm vui lòng cha mẹ, cũng bởi chờ đợi quá lâu khiến cô mệt mỏi và cô đã thôi hy vọng. Chàng trai lặng lẽ ra về, âm thầm trách móc bản thân nhưng mọi thứ giờ đây đã quá muộn, chẳng thể thay đổi được nữa.
Bạn thấy đấy, trong cuộc sống, đôi khi chúng ta cứ mải mê kiếm tìm điều gì đó xa xôi, mà chẳng mấy để tâm hay trân trọng những điều mình đang có. Chỉ đến khi mất đi rồi, chúng ta mới hiểu được những điều ấy có ý nghĩa và quan trọng với chúng ta đến nhường nào.
Có những khi hạnh phúc ở thật gần nhưng chúng ta không tự mình nắm giữ mà cứ theo đuổi mãi những giấc mộng viển vông. Có khi hạnh phúc ở ngay trước mắt mà chúng ta không mảy may trân trọng, để rồi khi hạnh phúc ra đi mới ngậm ngùi nuối tiếc, tự trách móc và dằn vặt bản thân. Nhưng khi ta nhận ra thì mọi thứ đã quá muộn màng bởi hạnh phúc không còn bên ta nữa.
Hạnh phúc thật ra chẳng quá đỗi xa xôi như người ta vẫn nghĩ, chỉ bởi vì chúng ta không biết cách trân trọng mà thôi. Người ta thường nói “có không giữ, mất đừng tìm”, vậy nên đừng bao giờ làm những điều khiến chúng ta phải hối hận về sau. Hãy nhớ rằng hạnh phúc luôn dành cho những người biết nâng niu và hiểu được giá trị của tình yêu! (Theo TTT)
Có âu sầu/buồn bã mấy đi nữa, bạn và tôi, ta cũng hãy trở về với khu vườn gồm lời khuyên-răn từ các bậc thánh-hiền, những bảo rằng:
“Quả vậy,
nỗi ưu phiền theo ý Thiên Chúa
làm cho chúng ta hối cải để được cứu độ:
đó là điều không bao giờ phải hối tiếc;
còn nỗi ưu phiền theo kiểu thế gian thì gây ra sự chết.
Hãy xem nỗi ưu phiền theo ý Thiên Chúa
đã đem lại cho anh em những gì:
bao nồng nhiệt,
và hơn thế nữa, bao lời xin lỗi, ân hận, sợ hãi,
bao ước mong, nhiệt tình, hình phạt…”
(2 Côrinthô 7: 10)
Trong mối tương-quan với mọi người, ở đời, rất nhiều nơi toàn thấy những người hang say độ-lượng, từng cho đi chính con người của họ. Rộng-lượng, cả vào tư-thế biết thứ-tha những người từng làm cho họ sầu/buồn nữa.
Tương-quan với mọi người ở trong đời, còn dạy ta những kinh-nghiệm quí-giá lại cũng là quà tặng ta dành sẵn cho người khác. Gửi đến người khác. Bởi lẽ, bao lâu bạn và tôi quên mất mục-đích chính của cuộc sống là “cho đi” chứ không phải “thu thập” vào mình tấ cả mọi thứ. Thì, khi đó ắt hẳn ta sẽ vui lên mà sống những tháng ngày còn lại trong đời mình.
Trong nhận-thức như thế, vẫn mời bạn và tôi, ta cứ hát lên những ca-từ “tưởng-rằng-buồn” nhưng lại vui hơn bao giờ hết, như sau:
“Đêm về trên chiếc xe qua
Nhớ tôi xa lộ, nhớ nhà Hàng Xanh
Nhớ em, kim chỉ khứu tình
Trưa ngoan lớp học chiều lành khóm tre
Nhớ mưa, ôi nhớ mưa !
Nhớ mưa buồn khắp Thị Nghè
Nắng Trương Minh Giảng, lá hè Tự Do
Nhớ nghĩa trang xưa, quê hương bạn bè
Nhớ pho tượng lính, buồn se bụi đường.”
(Du Tử Lê/Phạm Đình Chương – bđd)
Vâng. Đúng thế. Có nhớ gì thì nhớ, dù “pho tượng lính” , “Mưa buồn khắp Thị Nghè” hoặc “Nắng Trương Minh Giảng” hay “Lá hè Tự Do” đi chăng nữa, vẫn cứ thế mà sống cho vui, cho mạnh, cho phấn-chấn mãi không thôi.
Trần Ngọc Mười Hai
Chẳng dám nói hay hơn người
Vẫn cứ cảm-nghiệm nhiều ngày buồn,
rất khôn nguôi.
Ta thấy mùa đông chưa tuyết trắng
ĐÊM NHỚ TRĂNG SÀI GÒN – Phạm Đình Chương – Vũ Khanh – NNS
httpv://www.youtube.com/watch?v=NRGCw13eQb8
Suy Tư Tin Mừng Tuần thứ 2 mùa Vọng năm A 04/12/2016
Tin Mừng (Mt 3: 1-12)
Hồi ấy, ông Gioan Tẩy Giả đến rao giảng trong hoang địa miền Giu-đê rằng: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.” Ông chính là người đã được ngôn sứ Ysaya nói tới: Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi.
Ông Gioan mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, lấy châu chấu và mật ong rừng làm thức ăn. Bấy giờ, người ta từ Giêrusalem và khắp miền Giuđê, cùng khắp vùng ven sông Giođan, kéo đến với ông. Họ thú tội, và ông làm phép rửa cho họ trong sông Giođan. Thấy nhiều người thuộc phái Pharisêu và phái Xađốc đến chịu phép rửa, ông nói với họ rằng: “Nòi rắn độc kia, ai đã chỉ cho các anh cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống vậy? Các anh hãy sinh hoa quả để chứng tỏ lòng sám hối. Đừng tưởng có thể bảo mình rằng: “Chúng ta đã có tổ phụ Abraham.” Vì, tôi nói cho các anh hay, Thiên Chúa có thể làm cho những hòn đá này trở nên con cháu ông Abraham. Cái rìu đã đặt sát gốc cây: bất cứ cây nào không sinh quả tốt đều bị chặt đi và quăng vào lửa. Tôi, tôi làm phép rửa cho các anh trong nước để giục lòng các anh sám hối. Còn Đấng đến sau tôi thì quyền thế hơn tôi, tôi không đáng xách dép cho Ngài. Ngài sẽ làm phép rửa cho các anh trong Thánh Thần và lửa. Tay Ngài cầm nia, Ngài sẽ rê sạch lúa trong sân: thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi.”
“Ta thấy mùa đông chưa tuyết trắng
sao người về như sợi tóc phai sương?”
(dẫn từ thơ Nguyễn Tất Nhiên)
Mai Tá lược dịch.
Chúa đã về. Ngài về, như sự kiện rất thật. Nhưng, nào ai thấy phai sương, vương sợi tóc? Rất đợi chờ? Ngài về, để mọi người đợi trông. Ngóng chờ, Ngài Giáng hạ làm người phàm.
Tin Mừng, nay loan báo thuở đầu đời Chúa đi vào hoạt động. Với sử gia Hy Lạp, ngày mà Ngài hoạt động, khởi từ niên biểu 15, theo niên lịch César Tiberius. Lúc, mà Pontiô Philatô làm Tổng trấn xứ Giuđêa. Hêrôđê làm vua xứ Galilê. Anna và Caipha làm thượng tế. Như thế là, thánh sử định vị được niên biểu 27-28 cho là năm Chúa xuất hiện lần đầu trước chúng dân. Lúc, Ngài trưởng thành. Để rồi, theo lịch Do thái, Ngài tử nạn vào năm 30. Và như thế, các sử gia Công giáo đã đồng ý: năm sinh của Chúa là niên biểu thứ 4 hoặc 3, trước Công nguyên.
Tuy nhiên, điều quan trọng không là ngày tháng năm sinh, của chính Ngài. Mà là, cung cách Ngài hạ sinh giống hệt như ta. Và, Ngài hạ sinh không chỉ một lần, với mọi người. Mà, là mỗi năm, Ngài sinh hạ, nơi tâm can mọi người và mỗi người.
Phụng vụ Chúa Giáng hạ vào mùa dân con đợi chờ, lại đã trích Tin Mừng trong đó ghi rõ một truyện kể về thánh Gioan. Trích và ghi, là để xác chứng sự kiện Thanh tẩy ở khu Qumran. Tại đó, thánh Gioan lập phép thanh tẩy để Chúa đến với mình. Và, coi đó như nghi thức giải hoà, chứ không là cung cách của nghi lễ ở Đền Thờ. Và, chuyện thánh Gioan tẩy rửa Chúa được sử dụng để nối kết con người bình thường với nhận thức rất chuyên sâu về Đạo. Nhận thức, theo đúng truyền thống Do-thái-giáo.
Phương-cách mà thánh Gioan sử-dụng, lại đã thu hút chúng dân quyết bước theo chân thánh nhân để đi vào chốn sa mạc nắng cháy, ở đó khi xưa Jôshua cũng thực hiện việc khuyến khích dân được chọn biết mà theo Chúa ngang qua giòng sông Giođan, mà đến đất hứa. Thánh Gioan làm thế, để phản đối giới cầm quyền La Mã đương thời đã chiếm đoạt quyền sở hữu đất đai, của Do thái. Tức, một hành xử tuy thuộc Đạo giáo, nhưng cũng mang tính chất chính trị.
Với tham vọng như thế, thánh Gioan đã dấy lên một khí thế bất đồng, quyết nghịch chống các hoạt động của vị thượng tế, ở Đền Thờ. Kế hoạch của thánh nhân, tuy không nhằm đổi thay thể chế chính trị, mà chỉ nhằm thánh hoá dân tình theo phương cách mà người Do thái tìm cách thực hiện, nhưng không được. Thánh Gioan chẳng hề đổi thay một thể chế nào hết. Nhưng, thánh nhân chỉ muốn dân con mọi người hãy làm điều mà lẽ đáng ra mọi người đều phải làm cho tốt, chứ không chỉ chăm chú vào việc mình đang làm, vì bổn phận.
Thánh Gioan làm thế, chẳng để nghịch chống lối sống theo gia đình, hoặc định chế nào khác mà người Do thái đã tạo ra. Sự thật, thì động lực thúc đẩy thánh nhân thực hiện đời sống mục vụ nơi sa mạc, là để thăng tiến sự thánh thiêng đích thực mà dân Do thái cần có. Thánh nhân không làm theo kiểu của thành viên nhóm Pharisêu chuyên trập trung áp đặt Luật Torah trong đời sống hằng ngày. Trái lại, thánh nhân chủ trương cung cách tĩnh lặng của cuộc sống nơi sa mạc ngõ hầu cải hoá cuộc đời mình, như Chúa muốn.
Công việc thánh nhân làm, là động thái cốt thực hiện một cuộc xuất hành về đất hứa, ngang qua sa mạc của mọi trắc trở khổ đau. Đó, là động thái đòi chế ngự phần đất do người La Mã tạm thời chiếm lĩnh. Thánh nhân khuyến khích mọi người hãy theo ngài về nơi hoang dã, để sống xứng hợp với Đất Lành Chúa hứa ban. Rõ ràng là, những người theo chân thánh nhân vẫn sẵn sàng đón nhận sứ điệp ngài gửi đến. Rõ ràng là, nhiều người không chỉ là cư dân sống gần Qumran, mà hầu hết những từ người khắp đất miền/thị trấn đã đến thành từng đoàn. Những người từng nắm bắt lập trường sống của thánh nhân.
Chừng như, lúc ấy Đức Giêsu cũng đang ở đó. Ngài hành xử theo cung cách của Đấng Bậc được thanh tẩy, như thánh Gioan. Cũng giảng rao Nườc Trời như sứ vụ Ngài nhận lãnh. Có điều lạ, là: Chúa nhận lĩnh ơn thanh tẩy từ thánh Gioan, là để cho mọi người thấy: đây là một cải tân, không chỉ xảy ra duy một lần, rồi thôi. Và, nhìn từ góc độ nào đó, ơn thanh tẩy từ thánh Gioan, còn nói lên sự kiện “Chúa khởi đầu đời hoạt động của Ngài theo tư cách của Ngôn sứ Đấng Cứu Độ”.
Trình thuật thánh Mát-thêu hôm nay, không chỉ diễn lại tiến trình gặp gỡ giữa thánh Gioan Tẩy Giả và Đức Chúa, thôi. Đây cũng không là dịp để thánh nhân nói lên công trình cứu độ đã thành hiện thực nơi Đức Chúa. Nhưng, còn là sự kiện cho thấy có cả những tương đồng cũng như khác biệt giữa thánh Gioan và chính Ngài.
Tương đồng thấy rõ nhất, là ở điểm: cả Đức Chúa lẫn thánh Gioan đều đề cập đến Vương Quốc Nước Trời, có hẹn ước. Cả Chúa và thánh nhân, đều là Đấng Công Chính. Và, đất lành người Do thái muốn thủ giữ, nay thuộc về Đấng Công Chính. Đất lành Ngài hứa ban, buổi đầu là cho các bộ tộc, rất chính đáng. Luật Torah và các ngôn sứ đều kình chống nỗ lực của một số người vẫn muốn sở hữu thật nhiều đất đai và quyền lực.
Kình chống, là bởi: càng ngày người ta càng thấy có người cứ cậy vào quyền mình có để giành quyền sở hữu đất đai/tài sản của người nghèo, mà con số những người này đang gia tăng một cách đáng kể. Theo luật, thì đất đai do Chúa sở hữu, con người không có quyền bán chác, đổi trao. Thế nên, hoạt động của Chúa ở đây, là để tái tạo sự công bình/chính trực, ở khắp nơi.
Công bình, hiểu theo nghĩa giảm bớt những chuyện đổi chác/bán buôn, rất lố lăng. Công bình, hiểu theo ý thức trách nhiệm qua việc “xoá tẩy” đói nghèo, sầu khổ để rồi, cuối cùng, Nước Trời rồi sẽ đến. Không phải vào ngày cánh chung. Nhưng, Vương Quốc Nước Trời đến rất sớm ngay lúc này.
Cuộc gặp gỡ giữa Chúa và thánh Gioan xảy đến vào lúc Chúa vừa tròn độ tuổi 30. Đó là lúc Chúa quyết định rời gia đình. Bỏ chốn thị thành cùng mọi người, để tiến tới thực hiện ý định Cha giao phó. Ngài quyết định, là để định ra một động thái hợp lực với thánh Gioan. Để, sau một thời gian, Ngài sẽ lại tự mình theo con đường Cha dọn sẵn, muốn Ngài thực thi.
Một điểm khác biệt nữa, giữa động thái của thánh Gioan và Đức Giêsu, là ở chủ trương đặt nặng lên nghi thức rất thánh thiêng, về Đấng Mêsia. Đức Giêsu quyết định về với những người con bé bỏng, nghèo hèn. Sống, hoà lẫn với họ, mà không sợ một rào cản, cách ngăn nào hết. Ngài về với họ trong tương quan rất trọn vẹn. Tương quan Ngài tạo nên, là kết quả rút từ kinh nghiệm có cuộc sống linh thiêng, sau khi chấp nhận thanh tẩy dành cho Ngài, từ thánh Gioan. Nhờ thanh tẩy, Ngài phát hiện ra ý định của Cha, vẫn dành cho Ngài. Và, khi dân con mọi người sống trong công lý và bình an như Cha đã định, thì Vương Quốc Nước Trời, được Cha hứa ban, đã thành hiện thực. Một hiện thực thấy rõ qua hình thức chữa lành mọi tật bệnh qua phép lạ nhân rộng những cá và bánh.
Và, qua các dụ ngôn Ngài kể cho mọi người được biết. Tất cả, nay được tái thành lập trong sinh động cả nơi triền đồi cả ở Biển hồ Tibêriát. Hoặc, thôn làng hẻo lánh có truyền thống sẻ san ơn lành mình nhận lãnh sẻ và san, để rồi sẽ dẫn đến cuộc sống lành thánh, như ước hẹn. Ước hẹn với Cha. Ước hẹn với mọi người.
Điểm tương đồng giữa Đức Chúa và thánh Gioan còn thấy rõ ở điểm: cả hai đều kình chống lối nhận thức về Đấng Mêsia theo nhãn quan chính trị. Cả hai Đấng đều kình chống lối giữ Đạo nặng hình thức nhiều lễ nghi quan cách. Cả hai Đấng đều cho thấy cung cách rất khác biệt ngõ hầu giúp sống như người Do thái được dạy phải sống như thế. Và rồi, sẽ sống Đạo đúng như Giao Ước mình ký kết với Chúa. Với tha nhân.
Nói cho cùng, trình thuật hôm nay kể nhiều về thánh Gioan Tẩy Giả, là để minh xác về thuở đầu cuộc đời hoạt động của Đức Giêsu. Giai đoạn ấy, không chỉ hiện rõ qua nghi thức có tẩy và có rửa, mà thôi. Nhưng là giai đoạn tuyên dương tín điều đích thực, rằng: Đức Giêsu chính là Đấng Mêsia mà người người đợi trông. Đấng Mêsia, do Cha gửi đến, cốt không để ta thống lĩnh ba quân mà chống lại người La Mã, đang thống trị. Mà, Đức Mêsia đây, chính là Đấng Cứu Độ mà đường đường một thánh nhân rất trổi bật như Gioan Tẩy Giả cũng “không xứng đáng để cài dép, hoặc xách giày cho Ngài”.
Tin Mừng kể nhiều về thánh Gioan Tẩy Giả, là để nói rằng: Đấng Mêsia tuy đến sau thánh nhân, nhưng Ngài lại quyền thế hơn. Ngài đến, để tẩy rửa hết mọi người trong Thánh Thần. Bởi, như bài đọc 1, lại đã viết: “Thần Khí Chúa sẽ ngự trên vị này: Thần Khí khôn ngoan và minh mẫn, Thần Khí mưu lược và dũng mãnh, Thần Khí hiểu biết và kính sợ Chúa.” (Is 11: 2) Để, “các dân tộc sẽ tìm kiếm Người, và nơi Người ngự, sẽ rực rỡ vinh quang.” (Is 11: 10)
Và, cùng một ý tưởng tương tự, thánh Phaolô cũng nói: “Quả thế, mọi lời xưa đã chép trong Kinh Thánh, đều được chép để dạy dỗ chúng ta.”(Rm 15: 4) Bởi thế nên, “Anh em hãy đón nhận nhau, như Đức Kitô đã đón nhận anh em, để làm rạng Danh Thiên Chúa.” (Rm 15: 7)
Cuối cùng thì, phụng vụ thánh năm nay trích dẫn lời kinh hay trình thuật về thánh Gioan Tẩy Giả, cũng để mọi người xác tín rằng: “Tất cả chúng ta đều là anh em. Anh em, cùng một Cha. Cùng được Đấng Mêsia cứu độ. Ngài, đang đến với mọi người lâu nay hằng chờ Ngài, suốt nhiều năm.
Lm Kevin O’Shea, CSsR biên-soạn –
Mai Tá lược dịch.
Tổng hợp những ‘bí quyết’ giúp bạn an tâm đi hết cuộc đời
Tổng hợp những ‘bí quyết’ giúp bạn an tâm đi hết cuộc đời
Cuộc đời không ngắn chẳng dài, ai may mắn có được những ‘bí kíp’ này thì có thể tạm an tâm bình thản đi hết quãng đường nhân sinh dặm trường sương gió.
Trước tiên, chúng ta hãy làm quen với khái niệm về ‘năm cái phúc’ của đời người, sau đó chúng ta sẽ học cách để an tâm vững bước trong suốt hành trình:
5 cái phúc lớn nhất của một đời người
Đời người, phúc họa tương y, trong họa tất đã có phúc. Vậy nên, suy nghĩ một chút, khi gặp khó khăn thống khổ chẳng phải chính là lúc để rèn luyện cho mình một ý chí kiên cường, một tinh thần vững chãi.
Đời người có năm cái phúc
Bình an là phúc: Suy nghĩ một chút, trên đời có bao nhiêu người đang phải chịu cảnh chiến tranh loạn lạc, đang sống trong tranh đấu, hiểm nguy. Chúng ta được sống trong bình an thì nhất định là đại phúc.
Khỏe mạnh là phúc: Suy nghĩ một chút, mỗi ngày trên thế gian có biết bao nhiêu người đã khuất, bao nhiêu người bị thương, bao nhiêu người nằm viện. Chúng ta khỏe mạnh, tráng kiệt, vậy không phải đã là có phúc rồi sao?
Khờ khạo là phúc: Suy nghĩ một chút, xưa nay có bao nhiêu người thông minh quá lại bị thông minh hại, vậy nên có lúc chỉ muốn làm kẻ khờ. Thông minh khó, khờ khạo khó, từ thông minh chuyển sang khờ khạo càng khó, buông tay ra, lùi một bước, lòng yên ổn.
Chịu thiệt là phúc: Suy nghĩ một chút, trên đời có bao nhiêu người khôn lanh, rốt cuộc có mấy người là khôn thực sự. Có rất nhiều người cam chịu thiệt thòi, luôn phải gánh chịu nhiều hơn, nhưng từ xưa đến nay, người cam chịu thiệt thòi so với người khôn lanh thì luôn hạnh phúc hơn.
Kính dâng là phúc: Suy nghĩ một chút, trời đất tại vì sao có thể lâu dài vậy? Bởi vì trời đất không phải vì chính mình mà tồn tại, cho nên mới lâu dài. Ánh nắng mặt trời, không khí tại sao có thể dài lâu vậy? Bởi vì mặt trời, không khí bằng lòng giao hết cho muôn loài, cho nên mới lâu dài.
Đại Vũ, Ngu Công tại sao lại được mọi người ghi nhớ mãi? Bởi vì họ vô tư vô ngã, chỉ muốn làm điều tốt cho muôn dân, người ta mới có thể khắc ghi họ. Từ xưa đến nay, kính dâng chính là phúc.
Đời người có 10 thứ cần phải tu dưỡng
Thiện dưỡng đức: Mỗi ngày hành thiện, tích thiện thành đức.
Cười dưỡng thọ: Cười một cái, trẻ hơn mười tuổi; cười mỗi năm, trẻ mãi không già.
Họa dưỡng phúc: Phúc họa tương y, tránh họa đắc phúc.
Xả dưỡng đắc: Xả không tiếc nuối, có xả tất có được.
Thành dưỡng bạn: Đối xử với mọi người thành tâm thành ý, tình bạn ắt sẽ dài lâu.
Tĩnh dưỡng tâm: Tùy kỳ tự nhiên, thanh tĩnh dưỡng tâm.
Động dưỡng thân: Tập luyện điều độ, thân thể khỏe mạnh.
Học dưỡng thức: Học hỏi nhiều sẽ biết kiến thức, đọc sách nhiều giúp hiểu lý lẽ.
Cần dưỡng tài: Người biết cần cù, siêng năng ắt giàu có.
Ái dưỡng gia: Gia đình hòa hợp vạn sự hưng thịnh, gia đình yêu thương nhau vạn sự tất thành.
Đời người có ba việc cần phải biết
1) Đầu tiên là biết người, cũng là việc quan trọng bậc nhất
Biết người rồi, làm việc sẽ thuận lợi, sẽ thành công. Hiểu sai người, làm việc sẽ có nhiều ngăn trở, sẽ thất bại. Vậy nên, trong cuộc sống cần phải tìm đúng người.

Mỗi ngày hành thiện, tích thiện thành đức. (Ảnh: Internet)
Phải tìm quý nhân ủng hộ: Có quý nhân phù trợ, giống như lưng tựa đại thụ, hóng gió mát, sự nghiệp như diều gặp gió mà phất lên cao.
Phải tìm người thân yêu trợ giúp: Phía sau sự thành công của một người đều có một bàn tay của người thân tài giỏi. Có người thân yêu trợ giúp, chẳng khác nào làm chơi ăn thật.
Phải tìm bạn bè trợ lực: Đi thuyền cần có mái chèo tốt, có bạn bè trợ lực, chắc chắn sẽ xuôi gió xuôi thuyền.
Phải tránh âm mưu của tiểu nhân: Thà cãi nhau với quân tử còn hơn nói chuyện với tiểu nhân. Gặp phải kẻ tiểu nhân, 36 kế, chuồn là thượng sách.
(2) Thứ hai là phán đoán sự việc
Con người miễn là còn sống, thì luôn phải làm việc hay nghĩ tới công việc. Có thể nói việc bất ly thân, thân không rời việc. Sự khác biệt giữa người với người chính là khả năng phán đoán.
Phán đoán chuẩn xác trong thương lượng buôn bán, thì sẽ kiếm được lời. Phán đoán chuẩn xác chính sự quốc gia, thì liền có thể làm quan.
Trong cuộc sống sẽ gặp phải những việc lớn, việc nhỏ, chuyện tốt, chuyện xấu, việc gấp, việc khó. Khi đối với chuyện phức tạp rắc rối, điều đầu tiên bạn nhất định phải làm là phán đoán tốt xấu, phân rõ chuyện lớn nhỏ, khó dễ, chuyện cần làm gấp, chuyện có thể rời lại. Nhất định phải phán đoán được việc mình sẽ làm, phán đoán chuẩn rồi mới làm.
(3) Thứ ba là dưỡng sinh
Sức khỏe là tài sản quan trọng nhất của đời người. Bởi vậy, nhất thiết phải biết dưỡng sinh. Muốn dưỡng sinh tốt cần làm được hai dưỡng, mười phải.
Muốn dưỡng sinh tốt cần bồi dường tâm. (Ảnh: Internet)
Hai dưỡng
Dưỡng sinh đầu tiên phải bồi dưỡng tâm: Bệnh tùy tâm sinh, có nhiều bệnh nguyên nhân chủ yếu là do tâm lý bản thân không tốt. Tâm trạng vui vẻ, khoan khoái, dễ chịu là cái gốc cho một thân thể tráng kiệt. Dù sao cũng không nên vì cớ gì mà suy tư, sinh hờn dỗi, mù quáng lo lắng, dày vò bản thân mình.
Dưỡng sinh cần coi trọng việc dưỡng dạ dày: Bệnh từ miệng mà vào, không ít loại bệnh là vì ăn mà gây ra họa. Lúc chuẩn bị ăn cái gì, nhất định phải chú ý quan sát và suy nghĩ một chút, xem xem mình có nên ăn hay không, nên ăn nhiều hay ít. Ăn vào rồi thì khó nhả ra, nhất định không được thích gì ăn nấy, đừng để cái miệng làm tổn hại sức khỏe của bạn.
Mười phải
Tâm phải tĩnh, thần phải định, đầu phải tỉnh, bụng phải rỗng không, chân phải nóng, cẳng phải động, ăn phải đa dạng, ham muốn phải tiết chế, uống thuốc phải thận trọng, thân thể phải kiểm tra.
Hoàng Sâm, dịch từ Watchinese
Theo tinhhoa.net
André Rieu – The Beautiful Blue Danube
httpv://www.youtube.com/watch?v=IDaJ7rFg66A
André Rieu – The Beautiful Blue Danube
Dòng Sông Xanh, lời Việt Phạm Duy (The Blue Danube), là bản waltz cực kỳ nổi tiếng của ông vua nhạc waltz Johann Strauss II. Tác phẩm được sáng tác vào năm 1866. Nó là một trong những bản waltz hay nhất và là khuôn mẫu tiêu biểu cho kiểu waltz của triều đại waltz nhà Strauss.
Kính mời quý vị thưởng thức nhạc phẩm này với tiếng hát điêu luyện của Ngọc Hạ, kèm phần hình ảnh Super HD 2016P của Trần Ngọc.
httpv://www.youtube.com/watch?v=l_EMCGixDa4
Cám ơn quý vị
Trần Ngọc
………………………………………………………………………..
Hoàn cảnh ra đời của The Blue Danube = Le Beau Danube Bleu.
(Trích theo Wikipedia tiếng Việt ).
….Câu chuyện có vẻ tiểu thuyết quá, không biết thật hay hư cấu. Xin quý vị tùy nghi….
Bản nhạc waltz có xuất phát từ mối tình không thể nào quên của chính Johann Strauss II, nhạc sĩ người Áo (1825-1899).
Tác phẩm này ra đời khi Johann Strauss II đã có vợ. Vợ của nhà soạn nhạc dành cho ông một tình yêu vô bờ bến, tận tụy. Rồi một ngày, bà phát hiện ra chồng mình có một nhân tình trẻ trung.
Một buổi sáng, bà đến tìm cô nàng này. Trước khi mở cửa, cô nàng háo hức vì tưởng nhân tình John Strauss đến. Nhưng chợt cô cảm thấy lo lắng vì trước mặt cô là vợ của Strauss . Cô cứ nghĩ đến một cuộc đánh ghen khủng khiếp, ghê gớm sẽ đến với mình. Nhưng không, bà vợ chỉ đến để cảm ơn người nhân tình của chồng mình đã chăm sóc chu đáo ông. Cô gái từ chỗ lo lắng đã bàng hoàng trước những lời nói đó. Cô gái ấy đã bật khóc, rồi chợt tỉnh ra, cố gắng đuổi theo bà Strauss, người đàn bà cao thượng ấy. Nhưng bà Strauss đã ra khỏi khách sạn, rồi bà không thể trụ được nữa. Bà ngã quỵ xuống. Nhìn thấy sự gục ngã ấy, cô nhân tình biết rằng không thể làm tổn thương trái tim người phụ nữ đó nữa,nên quyết định xách vali ra đi.
Đúng lúc đó, Strauss đến khách sạn tìm cô nhân tình. Ông gặp vợ mình ngất xỉu, lo lắng đưa bà tới bệnh viện. Bà vợ, khi tỉnh lại, đã nói lời xin lỗiông vì bà đã tìm gặp cô gái kia. Strauss lại tức tốc đến khách sạn , nhưng cô gái đã đi rồi. Ông đuổi theo thì tàu đã rời bến sông Danube. Strauss ngẩn ngơ vì mọi thứ xảy ra, nhưng cũng cảm thấy rất hạnh phúc vì hai người phụ nữ ông yêu đều cao thượng và biết hy sinh.
Trong cảm xúc ấy, “Dòng Danube xanh” xuất hiện giữa dòng ngất ngây của tình yêu. (Theo Wikipedia)
Cái chết của Fidel Castro thúc đẩy tiến trình cải cách
Cái chết của Fidel Castro thúc đẩy tiến trình cải cách
Ánh Hiền chuyển ngữ
Dịch giả gửi tới Dân Luận
Thông báo về Chủ tịch Hội đồng Nhà nước – Fidel Castro- qua đời không phải là sản phẩm của sự mơ tưởng, mà là sự thật. Đồng chí, nhà cách mạng Cuba qua đời vào ngày 25. Cái mà đồng chí ấy để lại (di sản) có lẽ sẽ trở thành chuyện được bàn cãi sau này. Nhưng, trớ trêu thay, cái chết của đồng chí phần lớn lại mang tính tượng trưng. Có lẽ đất nước Cuba đã sẵn sàng chào đón khoảng khắc này từ nhiều năm trước. Và sau khi Castrol bị bệnh đe dọa đến tính mạng từ 10 năm trước, em trai của ông Raul Castro (85 tuổi) đã lên nắm thực quyền.
Điều đó nói lên rằng, tượng trưng rất là quan trọng. Khi kinh tế Venezuela – đồng minh thân cận nhất của Cuba – sụp đổ, ông Raul đã chủ trương đưa ra các chính sách cải cách một cách ôn hòa nền kinh tế đang mang mô hình của nước Xô Viết cũ. Và, cũng là người tiếp nhận cuộc viếng thăm của Tổng thống Obama vào đầu năm. Chỉ riêng ông Fidel là phản đối tất cả. Mặc dù đã về hưu, nhưng được coi là nhân vật cực kì bảo thù có vai trò như Tòa án phúc thẩm khi phản đối chính sách cải cảch trong nước. Ngay cả khi đang là bệnh nhân còn đang mặc áo nịt len mới không đứng vững trên mặt đất, Fidel Castro vẫn tồn tại như là nhân vật mang tính tượng trưng đối với tất cả người dân Hoa Kỳ phản đối việc cải thiện mối quan hệ Cuba. Vì thế, qua cái chết của Fidel, khả năng cao là việc cải cách của Cuba sẽ được tiến triển. Và có lẽ dó cũng là dịp để ông Raul tự do xúc tiến việc cải cách ở Cuba. Ngoài ra, còn làm giảm khả năng kháng cự về mặt tình cảm khi thúc đẩy mối quan hệ với Hoa Kỳ.

Chân dung Fidel Castro được đặt trước một tòa nhà thành phố Havana – Ảnh Nikkei
Đối với quốc gia theo Chủ nghĩa cộng sản như Cuba, Tổng thống Donand Trump đang thực hiện chính sách một là hợp tác, hai là đối đầu. Tất cả các phát ngôn xoay quanh Cuba trong thời gian tranh cử của Donand Trump đều không mấy tốt đẹp. Donand Trump đã từng tuyên bố là sẽ kế tục và đưa ra những điều kiện tốt hơn về sự hòa hoãn những hạn chế qua lại bằng đường biển và việc khôi phục lại mối quan hệ mà Obama đã thực hiện, mặt khác lại phát ngôn rằng sẽ vô hiệu hóa các chính sách của ông Obama. Chính sách của Obama được đưa ra dưới dạng nghị định của Tổng tổng, nên chỉ cần một cú chấp bút của Tổng thống là dễ dàng đưa nó về trạng thái ban đầu. Hơn nữa, bây giờ quyết định hủy toàn bộ chứ không phải là hòa hoãn một phần lệnh cấm vận Cuba lại đang được giao phó cho nghị viện.
Ông Trump không thể hiện rõ sẽ chọn con đường nào, và hầu như ông ta không tỏ ra là đang mang ân huệ các nghị sẽ gốc Cuba như Thượng nghị sĩ Marco Rubio – ứng cử viên đối lập trong cuộc bầu cử đảng Cộng hòa. Nhưng có khả năng ông Trump sẽ theo đuổi chính sách nhượng bộ chẳng hạn như ưu tiên tiếp cận thị trường Cuba cho các sản phẩm Hoa Kỳ, hay giải phóng các tù nhân chính trị cho chính quyền Cuba để biểu lộ mình là người lãnh đạo mạnh mẽ.
Không có lí do gì Cuba phải vội vàng cải tiến mối quan hệ với Hoa Kỳ hơn một bậc. Trong bối cảnh chưa biết tình hình sắp tới thế nào, việc tự phòng vệ là phản ứng thông thường của Cuba. Cũng có thể sẽ đàn áp các nhà bất đồng chính kiến. Trong khi đang tổ chức lễ truy điệu cấp quốc gia trong vòng một tuần, chính phủ đã bắt đầu vận động hàng triệu dân chúng kí tên để thề sẽ trung thành với chủ nghĩa xã hội của Cuba, với tư tưởng của ông Fidel. Hơn nữa, về bản chất bộ máy quan liêu của các nước chủ nghĩa xã hội lại ghét sự thay đổi. Dù cho ông Raul về hưu vào năm 2018 theo như cam kết, thì con ruột của ông và các con rể của ông sẽ tiếp tục duy trì quyền lực.
Nếu ông Trump tin vào “chủ nghĩa Hoa Kỳ là trên hết” thì sẽ thúc đẩy mối quan hệ
Thế nhưng, sau khi mất đi sự hỗ trợ tài chính từ Venezuela, Cuba giờ đã suy yếu. Nếu ông Trump tin thật sự vào “chủ nghĩa Hoa Kỳ là trên hết”, có thể ông ấy sẽ lựa chọn việc tiến triển chứ không phải là một bước lùi trong mối quan hệ với Cuba. Việc để cho các công ty Mỹ dịch chuyển đầu tư sang Cuba cạnh tranh tại vùng biển Caribbean với Nga, Trung Quốc sẽ mang lại lợi ích cho Hoa Kỳ. Đối mặt với một lập trường cứng rắn về nạn buôn bán ma túy, Cuba đã đóng một vai trò quan trọng trong việc khiến cho lực lượng vũ trang cách mạng Colombia theo chủ nghĩa Mác chấp nhận một thỏa thuận ngừng bắn, tất nhiên, là trở thành đồng minh trong cuộc chiến chống khủng bố sau đó. Không nhất thiết phải đảm bảo rằng việc duy trì mối quan hệ hòa hảo sẽ dẫn đến một kết quả tốt đẹp là sự kết thúc sự thống trị theo công thức Fidel, nhưng khả năng cao sẽ hạ cánh nhẹ nhàng.
Ngoài ra cũng có một sự lựa chọn khác là đóng cửa ra vào cái rầm. Nếu làm vậy, sẽ hạn chế bước tiến của Cuba, cải cách quan trọng chưa thấy được đẩy mạnh mà đã bị cản trở rồi. Trong cuộc cải cách này, cuộc sống của nhiều người dân Cuba sẽ được nâng cao, sự kiểm soát cuộc sống người dân đã được nới lỏng bởi chính phủ. Và biết đâu, ở thế giới bên kia, Fidel sẽ can thiệp vào tiến trình này và đưa nó về trạng thái ban đầu, rồi được cho là thắng lợi cuối cùng của đồng chí ấy.
Theo tạp chí The Financial Times, Nikkei, 28/11/206
Ánh Hiền chuyển ngữ từ tiếng Nhật








