Giáo phận Vinh phản đối đàn áp giáo dân kiện Formosa

Giáo phận Vinh phản đối đàn áp giáo dân kiện Formosa

RFA
2017-02-17
Giáo dân Song Ngọc, Nghệ An đi kiện Formosa bị đàn áp, đánh đập hôm 14/2/2017.

Giáo dân Song Ngọc, Nghệ An đi kiện Formosa bị đàn áp, đánh đập hôm 14/2/2017.

Photo courtesy of wordpress.com
Ban Công Lý và Hòa bình Giáo phận Vinh hôm 15 tháng 2 vừa qua ra thông cáo lên án hành động đàn áp người dân biểu tình ôn hòa đi khởi kiện công ty Formosa hôm 14 tháng 2 vừa qua.

Thông cáo của giáo phận Vinh viết rằng chính quyền tỉnh Nghệ An đã vi phạm nghiêm trọng các quyền dân sự của con người đã được Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền 1948 và Công ước Quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị 1966 ghi nhận và Việt Nam đã ký kết tham gia, vi phạm quyền khởi kiện của công dân là quyền đã được Hiến pháp và pháp luật Việt Nam ghi nhận.

Lãnh đạo tôn giáo thuộc giáo phận Vinh trong thông cáo của mình cũng phản đối hành vi sử dụng vũ lực thô bạo đối với những người tuần hành khởi kiện Formosa, lên án việc tấn công gây thương tích cho linh mục Nguyễn Đình Thục, người dẫn đầu đoàn người.

Ngoài ra bản thông cáo cũng lên án nhà cầm quyền Nghệ An sử dụng các phương tiện truyền thông để bóp méo sự thật.

Khoảng gần 1.000 người công giáo thuộc giáo xứ Song Ngọc, giáo phận Vinh hôm 14 tháng 2 vừa qua khởi hành đến tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh để nộp đơn kiện công ty Hưng nghiệp Formosa vì đã xả thải hóa chất gây thẩm họa môi trường biển ở 4 tỉnh miền trung vào tháng 4 năm ngoái. Chính quyền địa phương đã huy động công an và lực lượng an ninh để đàn áp, đánh đập và bắt giữ người tuần hành.

Đây không phải là lần đầu tiên giáo dân Song Ngọc tuần hành phản đối Formosa. Hồi tháng 5 năm ngoái, linh mục Nguyễn Đình Thuc và hàng ngàn giáo dân tại đây cũng đã tuần hành yêu cầu nhà nước phải công bố nguyên nhân ô nhiễm môi trường gây cá chết ở các tỉnh miền trung.

Hơn 50 ngàn người Công giáo tuần hành chống Duterte

Hơn 50 ngàn người Công giáo tuần hành chống Duterte

RFA
2017-02-18

Hơn 50 ngàn người Công giáo tuần hành chống lại biện pháp giết người của Tổng thống Duterte tại thủ đô Manila của Philippines.

Cuộc tập trung mang tên “Tuần hành vì cuộc sống” được Hội Đồng Giám Mục Philippines ủng hộ, chỉ vài ngày sau khi Hội Đồng gửi đi bức thư chung mang thông điệp mạnh mẽ nhất chống lại việc giết người tùy tiện của chính phủ Phi khi mượn danh chống ma túy.

Hơn 7.600 người đã thiệt mạng kể từ khi Duterte phát động chiến dịch chống ma túy của ông cách đây bảy tháng. Hơn 2.500 chết trong các cuộc đấu súng với cảnh sát chống ma túy.

Trong 100 triệu dân Philippines, gần 80% người theo đạo Thiên chúa và cho đến gần đây các nhà thờ đã do dự không chỉ trích cuộc chiến chống ma túy của Duterte.

Em dậy sớm để nghe lời chim hót

Facebook:  Kiều Minh Huệ shared a link.
Em dậy sớm để nghe lời chim hót

Mừng mặt trời trở lại với phương Đông
Đón nắng mai cho má thắm thêm hồng
Và gọi gió mịn màng qua lối cỏ
Em dậy sớm vòm trời xanh chưa tỏ
Sương mù còn mắc võng giữa hàng cây
Bên ô vuông cửa sổ đứng gọi ngày
Vài ánh sáng đến thay vài bóng tối
Em dậy sớm cho niềm vui tiếp nối
Sau đêm dài lạnh lẽo cả không gian
Để nơi em trời lại gởi tơ vàng
Và đất nước long lanh dâng sắc biếc…

Kiều Chí Nhân

Tin nhanh Việt Nam

From facebook:  Lm. Lê Ngọc ThanhFollow

Tin nhanh Việt Nam cho biết sau 30 ngày chiến tranh, từ 17.02.1979 đến 18.03.1979 như sau:

Ngày 18/3, Trung Quốc hoàn thành việc rút quân. Trước khi rút, chúng còn tàn phá một số làng mạc, phá hoại công trình di tích, bệnh viện, trường học, giết hại nhiều người dân vô tội.

Trận chiến kéo dài 30 ngày đã hủy diệt 4/6 thị xã dọc biên giới Việt Nam, hàng chục nghìn dân thường thiệt mạng, trong đó có nhiều phụ nữ và trẻ em. 400.000 gia súc bị giết, hoa màu bị tàn phá, một nửa trong số 3,5 triệu dân 6 tỉnh biên giới mất nhà cửa, tài sản.

Phía Trung Quốc bị diệt 62.500 tên, 550 xe quân sự trong đó có 220 xe tăng, xe bọc thép (hơn một nửa số tham chiến) bị bắn cháy, 115 đại bác và súng cối hạng nặng bị phá hủy…

Giới phân tích nhận định, thay vì dạy cho Việt Nam một bài học, Trung Quốc đã nhận lấy bài học quân sự đắt giá.

“NHỮNG NGƯỜI SẴN SÀNG CHỊU CHẾT”

“NHỮNG NGƯỜI SẴN SÀNG CHỊU CHẾT”

Liên tiếp trong mấy ngày liền, tại Phòng Công Lý và Hòa Bình DCCT, tôi được gặp chị Bùi Thị Minh Hằng vừa được thả tù về, rồi cha Đặng Hữu Nam cùng với một đoàn Giáo Dân ngược chuyến xe vào Nam. Và hôm qua hôm kia xem các clip video “chuyến đi vạn hành” của cha Nguyễn Đình Thục và bà con Song Ngọc từ Nghệ An vào Hà Tĩnh để kiện Formosa. Tất cả những anh chị em ấy đều có chung một tinh thần: không sợ tù tội, không sợ bị tấn công, không sợ bị vu khống xỉ nhục, không sợ cả cái chết !

Công bằng mà nói, họ chỉ là những Linh Mục thấp mập hoặc gầy gò, những bà mẹ, những chị em, những bạn trẻ giản dị bình thường ta có thể gặp ngoài đường,trong khu xóm, ngay bên cạnh nhà của ta. Không có một miếng võ nào để hộ thân, không có một mẩu vũ khí nào để tự vệ. Trên tay một xâu chuỗi Mai Khôi, trên miệng một lời Thánh Ca da diết “Mẹ ơi đoái thương xem nước Việt Nam…” Vậy mà sao họ lại có thể thẳng thắn nói lời cám ơn cán bộ nhà tù đã rèn luyện họ thêm “chân được cứng, đá phải mềm” ? Vậy mà sao họ lại có thể sẵn sàng để cho hàng trăm kẻ hung hăng và trang bị dữ dằn lừa gọn vào bẫy, vây lại như một đàn cừu non, hè nhau xông đến tấn công, họ chỉ í ới gọi bảo nhau “ngồi xuống, ngồi xuống” rồi bật lên tiếng cầu nguyện đau đến chảy máu bên ngoài, xé lòng bên trong ?

Có bài báo nào đó đã viết về họ như là một “hành trình đòi quyền sống trong nỗi chết”. Nghe kinh khủng quá, nhưng đó là sự thật ! Họ làm cho chúng ta rưng rưng kính phục và tự hào, rồi như được khơi lên sâu trong lòng một sự can đảm cần thiết để hiệp thông, để sát cánh với họ chứ không thể tiếp tục tụ thủ bàng quantrong một nỗi e sợ ngấm ngầm âm ỉ được khéo léo che giấu cho đỡ xấu hổ !

Hôm nay, xem lại các video cảnh bà con Song Ngọc quây quần trong sân Nhà Xứ Đông Tháp, tôi thấy nghèn nghẹn trong cổ họng và ứa nước mắt, từ cha xứ đến bà con Giáo Dân đều bảo nhau cúi đầu vâng lời Bề Trên để trở về nhà. Vâng, họ đã đành phải trở về nhà cho dẫu họ tỏ ra không hãi sợ chút nào những gì vừa trải qua, họ bảo nhau sẽ có cách đấu tranh khác với chính quyền, với Formosa, vẫn hoàn toàn bất bạo động, vẫn sẵn sàng chịu bách hại kinh khiếp hơn nữa, chỉ để cho cả nước, cho cả thế giới thấy họ có chính nghĩa, và họ quyết sống chết vì Công Lý và Sự Thật…

Tin mới nhất nhận được từ Tin Mừng cho Người Nghèo, cha già Lê Đăng Niêm của Giáo Xứ Thủ Thiêm báo tin ngày mai nhà nước cho xe đến ủi sập ngôi trường học của Giáo Xứ, cha mời gọi lúc 7g sáng ngày 17 tháng 2, mọi người hãy kéo đến hiệp thông với cha, với các Nữ Tu Mến Thánh Giá và bà con Giáo Dân. Cha già bảo “sẽ mặc áo chùng thâm, ngồi xe lăn ngay tại vị trí mà nhà cầm quyền muốn bình địa”…

Đến đây thì tôi nhớ lại biến cố năm 1975, ngược dòng thời gian đến 42 năm. Mùa Chay năm ấy, một Linh Mục Dòng Đa Minh giảng thuyết nhiều ngày liền thật hùng hồn thu hút tại Nhà Thờ Đức Bà Paris. Rất nhanh, các bài giảng được in ra xuất bản với tựa đề “Contre toute espérance”. Có ai đó cầm được một bản từ Pháp về tới Sàigòn trong những ngày đạn bom không còn ở vùng hỏa tuyến xa xôi, nhưng đã tràn về đến ngoại ô, đến cửa ngõ thủ đô miền Nam.

Cha Jean Marie Trần Văn Phán, Dòng Phanxicô ở Đakao, đã dịch rất nhanh tập sách với tựa đề “Tuyệt vọng mà vẫn một niềm cậy trông”. Câu này lấy từ Thư Rôma chương 4 câu 8, bản dịch tiếng Anh là: “Who in hope believed against hope”, bản dịch tiếng Pháp là:“Espérant contre toute espérance, il crut”, bản dịch tiếng Việt của Nhóm CGKPV là: “Mặc dầu ông Abraham không còn gì để trông cậy, ông vẫn trông cậy và vững tin”. Xem ra cách dịch thoát ý của cha Phán tuy không theo sát các bản dịch Tân Ước nhưng lại lột tả được tinh thần toàn bộ bài giảng của tác giả Bernard Bro.

Tập sách được quay “roneo chui”, phổ biến ngay trong giới Linh Mục Tu Sĩ Sàigòn dạo ấy. Dù vậy, hình như cha Phán chưa hài lòng, ngay sau ngày mất Sàigòn, khi mọi người còn đang ngơ ngác, thậm chí có phần hoảng loạn vì diễn tiến lịch sử quá nhanh, quá bi đát và tàn bạo, cha sang nhà chúng tôi chỉ cách Nhà Thờ khoảng 300m, gặp ba tôi, ông Lê Văn Lộc, để bàn về một bản dịch mới, chu đáo cẩn trọng hơn. Chỉ trong khoảng mấy tháng, ba tôi đã dịch xong, nhanh nhưng rất kỹ lưỡng. Và thật bất ngờ cho tôi là thằng bé út 17 tuổi, học giỏi môn Văn, được ba tôi giao một trách nhiệm hết sức nặng nề mà vinh dự là giúp ông biên tập câu văn lại cho nó ra văn phong tiếng Việt, xuôi chảy mà không phản nghĩa nguyên tác. Ba tôi chọn dịch tựa đề ngắn hơn, mạnh hơn, lúc đầu là “Niềm cậy trông bất chấp tuyệt vọng”, rồi sau ông lại đổi ngắn hơn nữa, mạnh hơn nữa “Niềm cậy trông bất khuất”.

Và tôi đã may mắn được tiếp cận với một bộ bài giảng tuyệt vời, không chỉ về ý nghĩa Thần Học sâu xa độc đáo mà còn về cả những minh họa sống động của cuộc đời cho những giá trị Tin Mừng Chúa Giêsu đem đến cho nhân loại khốn khổ bi thương ở mọi thời và ở mọi nơi, ám hợp ngay cả với hoàn cảnh đất nước quê hương Việt Nam chúng ta vừa lọt vào tay những người CS vô thần.

Bản dịch được chính ba tôi đánh máy lưu giữ trong nhà như một di sản trong khoảng năm 1978. Sau khi ba tôi mất năm 1988, tôi đi TNXP để đủ điều kiện vào Đại Chủng Viện Giuse, nhưng rồi cũng không xong, tôi xin chuyển sang DCCT. Tôi đã mang theo 6 tập sách đánh máy chữ này vào Nhà Tập năm 1991 để dùng như sách thiêng liêng. Đến 1998, làm Phó Tế về phục vụ ở vùng quê Vĩnh Long và Đồng Tháp, tôi bắt đầu mỗi ngày một chút, lọ mọ gõ mổ cò bằng bàn phím computer rồi đem đi photo, đóng bìa như một cuốn sách ấn hành đẹp.

Hôm nay, tôi xin trích một đoạn ngắn trong tập sách dịch tuyệt vời ấy để tỏ lòng biết ơn và để tôn vinh những con người Việt Nam nhỏ bé, gầy gò, hiền hòa, bình dị, đàn ông và đàn bà, còn trẻ hay đã già, còn nhanh nhẹn đi lại hay đã phải ngồi xe lăn, ở khắp mọi miền đất nước quê hương trong nhiều năm qua, và đặc biệt trong những ngày tháng đầu xuân này, đã hầu như “tuyệt vọng mà vẫn một niềm cậy trông”, phải nói họ đã có được một “niềm cậy trông bất khuất” trước mặt Thiên Chúa và trước mặt người đời, để trở thành “những người sẵn sàng chịu chết” cho Lẽ Phải.

.

Xin trích bài giảng của cha Bernard Bro:

Văn hào Nga hiện đại Andrei Siniavski ( 1925 – 1997 ) đã từng mang án khổ sai, phải sống lưu vong và dạy học tại Pháp. Với nhãn quan của một người không có tín ngưỡng, ông đã viết về niềm tin Kitô giáo của các tín hữu xuyên qua các cuộc bách hại mọi thời và mọi nơi trên thế giới như sau:

Trong đội ngũ của họ, hạng người khôn ngoan không có là bao. Tiểu sử của họ là một chuỗi dài những cuộc tuẫn đạo và tử vong nặng nề của một đoàn quân chỉ biết noi gương Thiên Chúa của họ. Đó là những chiến sĩ phô bày trước thế gian những vết sẹo và thương tích như những dấu hiệu hiên ngang, tự hào và vinh quang.

Họ thuộc đủ mọi thành phần trong xã hội, cả giới hạ lưu bần cùng, cả bọn trọng phạm. Thế nhưng, họ đều đã nhận lấy thập giá. Bất cứ ai cũng đều có thể gia nhập đội ngũ của họ, người dốt nát cũng như kẻ đã từng phạm tội, chỉ với một điều kiện là sẵn sàng nhảy vào lửa.

Đó là thứ tôn giáo của một niềm hy vọng lớn nhất phát sinh từ cảnh tuyệt vọng. Không một tôn giáo nào trên thế giới này lại có được sự tiếp cận mật thiết nhất với tử thần nhiều như Kitô giáo. Mà không phải là họ không biết sợ hãi đâu ! Họ không hề chiêm ngưỡng sự vĩnh cửu, nhưng họ chiếm lấy sự vĩnh cửu bằng cách phấn đấu với một thứ vũ khí duy nhất; đó là sẵn sàng chịu chết !”

Lm. QUANG UY, DCCT, đêm 16.2.2017

Dân chúng tưởng niệm chiến tranh biên giới với Trung Quốc, bị công an bắt giữ

Dân chúng tưởng niệm chiến tranh biên giới với Trung Quốc, bị công an bắt giữ

Người dân tham dự buổi tưởng niệm chiến tranh biên giới Việt – Trung năm 1979 dâng hương tại tượng đài Lý Thái Tổ sáng 17/2/2017. (Hình: FB Sơn Văn Lê)

HÀ NỘI 17-2 (NV) – Nhà cầm quyền CSVN đã cản trở, gây rối, và bắt giữ một số người ở Sài Gòn và Hà Nội khi người dân tổ chức tưởng niệm cuộc chiến tranh biên giới Tháng Hai năm 1979 với Trung Quốc.

Rất nhiều tin tức cập nhật kèm theo hình ảnh và video clips phổ biến trên môt số trang mạng xã hội về người dân ở Hà Nội, Sài Gòn tổ chức tưởng niệm cuộc chiến kéo dài một tháng suốt dọc 6 tỉnh Việt Nam giáp giới Trung Quốc mà Đặng Tiểu Bình tuyên bố “dạy cho Việt Nam một bài học”.

Vì có nhiều người bị Công An canh giữ và ngăn chặn ngay tại nhà, nhìn qua các video clip, chỉ có khoảng dưới 100 người tham dự buổi tưởng niệm tại tượng đài Lý Thái Tổ, Hà Nội, trong khi lực lượng công an đông đảo canh chừng.

Một số người đã đặt vòng hoa, thắp hương tưởng nhớ những người lính và người dân đã chết trong cuộc xâm lăng của hàng trăm ngàn quân Trung Quốc nổ ra từ ngày 17/2/1979 suốt dọc 6 tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Cao Bằng, Hà Giang, Lạng Sơn và Quảng Ninh.

Trên một đoạn video clip, người ta thấy mấy công an thường phục xông tới giật một tấm biểu ngữ cầm tay của một người dân. Tiếng loa quấy rối của một cảnh sát sắc phục oang oang từng chập nhưng không làm cho những người tham gia sợ hãi.

“Họ sử dụng loa tuyên truyền giải tán đoàn người, xúi dục và kích động một số phần tử côn đồ phá rối buổi tưởng niệm, một số kẻ nhảy múa trên khu vực sân trước tượng đài Lý Thái Tổ. Có kẻ phá rối các hãng thông tấn nước ngoài săn tin và thách thức họ.” Facebooker Sơn Văn Lê kể trên mạng xã hội. “Đoàn người tưởng niệm vẫn kiên trì, ôn hòa để thành kính dâng lên những bông hoa, nén nhang cho các vị anh hùng dân tộc, ” Facebooker Sơn Văn Lê nói.

Trong những người bị bắt tại Hà Nội có nhà hoạt động Nguyễn Lân Thắng, Nguyễn Xuân Diện nhưng các ông đã được thả ra mấy giờ sau đó.

Tại Sài Gòn, cuộc tưởng niệm được tổ chức tại khu vực tượng đài Trần Hưng Đạo, bến Bạch Đằng, quận Một. Theo tường thuật của trang mạng Tin Mừng cho Người Nghèo thì “từ sáng sớm, rất đông công an, cảnh sát giao thông mặc sắc phục, an ninh chìm nổi vây xung quanh khu vực tượng đài Trần Hưng Đạo, Bến Bạch Đằng, Sài Gòn. Các rào chắn barrier, hàng rào kẽm gai được đặt tại các ngả đường đi vào khu vực nơi tưởng niệm.”

Theo nguồn tin vừa kể, nghệ sĩ Kim Chi, những người có tiếng nói khác nhà cầm quyền và nhiều dân oan các tỉnh đã đến được nơi tưởng niệm. Nhưng chỉ ít phút sau đó, họ đã bị lực lượng công an đưa lên xe buýt, đưa về các đồn. Đến trưa cùng ngày, họ đã được trả tự do.

Ông Kha Lương Ngãi, nguyên phó tổng biên tập tờ Sài Gòn Giải Phóng nay trở thành người đấu tranh dân chủ thông báo trên mạng xã hội là “tôi và hầu hết thành viên chủ chốt của Câu Lạc Bộ Lê Hiếu Đằng đều đã bị an ninh ngăn chận tại nhà từ 13 giờ chiều hôm nay (16/2/2017).”

Các khẩu hiệu ông giao cho người khác chuẩn bị đem tới chỗ tổ chức tưởng niệm đã bị công an tịch thu. Ông Ngãi giận dữ viết trên mạng xã hội là “họ đã cố tình ngăn cản và gây khó cho buổi lễ tưởng niệm. Họ vong ơn, họ sợ kẻ thù, nhưng họ lại quyết liệt không cho chúng ta nhớ ơn đồng bào, chiến sĩ đã hy sinh bảo vệ tổ quốc. Và họ cũng không muốn cho chúng ta lên án kẻ thù Trung Quốc xâm lược.”

Tuy cuộc chiến biên giới Việt- Trung 1979 kéo dài chưa tới một tháng nhưng đã có những tổn thất nặng nề cho cả hai bên. Các con số thật sự về tổn thất hiện còn bị che giấu nhưng thương lên hàng chục ngàn người, gồm cả thường dân.

Cách đây một năm, trong cuộc phỏng vấn với VnExpress, ông Vũ Dương Ninh, đồng chủ biên cuốn sách Lịch sử lớp 12 của Bộ giáo dục CSVN, đã tiết lộ về phần biên soạn lịch sử cuộc chiến biên giới 1979 “đã bị cắt gọt từ thời lượng 4 trang được biên soạn ban đầu xuống còn vỏn vẹn 11 dòng”. (TN)

Nhà chức trách Nghệ An bỏ lửa sang tay người

Nhà chức trách Nghệ An bỏ lửa sang tay người

Blog RFA

Nguyễn Tường Thụy

17-2-2017

Một số nạn nhân trong vụ đàn áp ngày 14/2/2017 ở Nghệ An:

h1

Trong dân gian có nhiều thành ngữ gần nghĩa nhau như “gắp lửa bỏ tay người”, “ngậm máu phun người”, “đổi trắng thay đen”, “vừa ăn cướp vừa la làng” v.v… Nhưng tội của mình nhưng lại đổ vấy cho người khác thì chưa có thành ngữ nào có thể diễn đạt chính xác nên tạm gọi là “bỏ lửa sang tay người” với ý nghĩa là lửa đang trên tay mình lại bỏ sang tay người khác (chứ không phải gắp từ chỗ khác bỏ vào).

Sau khi đánh giáo dân xứ Song Ngọc đi khiếu kiện bầm dập, nhà chức trách Nghệ An cho truyền thông địa phương mở chiến dịch vu cáo Linh mục Nguyễn Đình Thục kích động giáo dân đi khiếu kiện, đẩy giáo dân tới hành vi vi phạm pháp luật. Báo Nghệ An còn kiếm ra đâu được ông Tiến sĩ luật sư quốc doanh Nguyễn Trọng Hải nào đó đe rằng “Nếu không tỉnh táo, lựa chọn cách hành xử như diễu hành tụ tập, gây rối hoặc có những hành vi khác ảnh hưởng đến trật tự chung thì những người tham gia dễ rơi vào những hệ lụy pháp lý như cấu thành “Tội gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại Điều 245 Bộ luật Hình sự (1999) hoặc “Tội chống người thi hành công vụ” theo quy định tại Điều 257 Bộ luật Hình sự (1999) cũng như những tội danh khác được quy định trong Bộ luật Hình sự”.

Truyền hình Nghệ An cho một phát thanh viên nữ trẻ, cáo buộc Linh mục Nguyễn Đình Thục và xuyên tạc việc giáo dân Giáo xứ Song Ngọc đi khiếu kiện với giọng xách mé, rằng “Cuối và chiều nay, Nguyễn Đình Thục cùng một số phần tử cực đoan đã kích động đoàn người đi khiếu kiện tấn công lực lượng chức năng đang làm nhiệm vụ….”

Phụ họa với truyền thông Nghệ An thấy có Vietnamnet. Một số trang báo đưa tin dè dặt hơn. Ngoài ra còn một vài trang mạng khác. Có trang mạng còn đòi “bắt và xử lý linh mục Nguyễn Đình Thục và đồng bọn”.

Không rõ vì sợ công luận lên án hay có âm mưu đối với Linh mục Nguyễn Đình Thục từ trước mà nhà chức trách Nghệ An tìm cách đổi trắng thay đen, xuyên tạc trắng trợn sự việc. Từ tội đàn áp, đánh đập người dân đi khiếu kiện hết sức dã man, họ tìm cách xoay ngược 180 độ, đổ cho linh mục và Giáo dân xứ Song Ngọc.

*

Tội đầu độc biển Miền Trung của tập đoàn formosa bị phát lộ từ tháng 4/2016. Việc xả chất thải một cách bừa bãi, không được kiểm soát làm hủy hoại môi trường biển không chỉ khoanh lại 4 tỉnh nhà cầm quyền thừa nhận mà còn ở nhiều tỉnh ven biển khác trong đó có Nghệ An. Còn với tư duy của nhà cầm quyền thì chỉ 4 tỉnh bị thảm họa thôi. Nếu biển tỉnh khác bị nhiễm độc thì không được kiện.

Ngư dân Nghệ An bị thiệt hại nặng nề vì Formosa là một thực tế. Linh mục Nguyễn Đình Thục chia sẻ:

Là một linh mục, tôi đau xót cho nỗi đau của đồng bào, khi ngư dân phải hứng chịu thiệt hại.

Cả một quãng thời gian dài sau khi Formosa xả chất độc xuống biển hồi tháng 4/2016, cá đánh bắt lên không thể bán được, ngư dân bị mất nghề, cho đến nay, đã có 18/40 con thuyền của ngư dân đã phải bán đi để trang trải nợ nần.

Quyết định 1880 của TTCP lại quy định chỉ đền bù cho bà con ngư dân của 4 tỉnh miền Trung là Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế chứ không có Nghệ An đã đánh mất đi niềm hy vọng cuối cùng của bà con ngư dân, khiến bà con vô cùng phẫn nộ” (FB Dũng Phi Hổ)

Ngày 14/2/2017 nhà chức trách tỉnh Nghệ An đã đàn áp thô bạo những người dân Giáo xứ Song Ngọc (Quỳnh Lưu, Nghệ An) đi khiếu kiện. Chưa rõ là 500 người hay hơn nữa được huy động vào cuộc đàn áp này, gồm cảnh sát các loại, an ninh mật vụ và không thể thiếu hình bóng của họ là côn đồ. Theo thống kê chưa đầy đủ, ít nhất có 22 người bị bắt, bị đánh đập, bị đập vỡ hoặc cướp điện thoại. Người thì bị đánh gãy sống mũi, phải điều trị tại bệnh viện, người gãy đến 4 chiếc răng cửa liên tiếp. Những hình ảnh, lời tố cáo của những nạn nhân này tràn ngập trên những trang mạng. Linh mục Nguyễn Đình Thục bị đánh toạc môi. Ông cầm loa, động viên, khuyên bảo bà con giáo dân trong khi máu miệng ông đang chảy.

Tối ngày 13 và cả ngày 14, tất cả những người yêu Công Lý trong và ngoài nước căng mình lên theo dõi tình hình bà con Giáo xứ Song Ngọc, vừa phẫn nộ, vừa xót xa cho những người dân lương thiện đi tìm công lý bị công an và côn đồ đánh đập. Những người làm truyền thông tại chỗ được chú ý đặc biệt. Họ bị đánh, bị bắt dần nhưng vẫn gan góc đưa những thông tin nóng bỏng từ hiện trường.

Nhà chức trách Nghệ An đã chặn đứng đoàn người đi khiếu kiện khi họ mới đi được 1/10 quãng đường.

Vậy mà truyền thông Nghệ An quay quắt, tìm cách đổ ngược cho Cha Thục và giáo dân. Không ai có lỗi khi khi đi khiếu kiện vì quyền lợi chính đáng bị xâm phạm. Không ai có lỗi khi lưu thông trên đường bằng xe máy hay đi bộ trong trật tự. Mà cứ cho rằng ảnh hưởng đến giao thông đi chăng nữa thì kẻ nào gây nên? Nếu nhà chức trách không gây sức ép đối với nhà xe, yêu cầu nhà xe không được chở người dân đi khiếu kiện thì làm gì có người đi bộ hay xe máy rồi đổ cho dân gây cản trở giao thông. Mục tiêu của họ là không cho dân đi khiếu kiện để bảo vệ Formosa, kẻ đã gây tội ác đối với nhân dân và đất nước Việt Nam.

Họ đổ cho Linh mục Nguyễn Đình Thục kích động giáo dân. Giọng này đã quá quen thuộc. Người dân đâu phải là trẻ con mà bảo là bị kích động, bị mua chuộc. Mỗi công dân đều có năng lực hành vi và phải chịu trách nhiệm trước việc làm của mình. Nói họ bị kích động là coi thường người dân, cho người dân không có suy nghĩ. Sao họ không tự hỏi, mấy tờ báo nói trên bị ai kích động, mua chuộc mà ăn nói tráo trở như vậy?

Có cả một số màn kịch bày đặt ra rồi vu cho Cha Thục và giáo dân khá lộ liễu. Hình ảnh chiếc xe được cho là giáo dân ném đá đã bị nhiều người phân tích và vạch ra sự vô lý của nó, cho rằng công an tự thương để ăn vạ. Ai là người ném đá về phía cảnh sát? Có phải là giáo dân hay là những tên tay sai đóng giả giáo dân, hoặc công an cởi bỏ sắc phục? Những video phát trực tiếp cho thấy vào giờ phút căng thẳng nhất khi bà con bị cảnh sát tấn công, Cha Thục kêu gọi mọi người bảo nhau hãy bình tĩnh, không manh động, không mắc mưu cộng sản. Và tất cả ngồi xuống đọc kinh cầu nguyện. Đấy mới là sự thật về cách hành xử của giáo dân xứ Song Ngọc ngày hôm đó.

Có câu chuyện khá khôi hài. Nghe họ nói Giám đốc công an Nghệ An bị ném trọng thương nhưng không thấy hình ảnh nào. Có trang đưa hình anh Hoàng Đức Hảo bị côn đồ chém trọng thương trước đó, bảo đấy là Giám đốc Công an tỉnh Nghệ An bị giáo dân chém. Báo Nghệ An còn đăng “Tâm thư của giáo dân gửi ông Nguyễn Đình Thục” ký tên “Người anh em cùng đức tin” mà ai đọc cũng cho rằng đó là sản phẩm sáng tác. Ngày hôm nay, 16/7, Đài truyền hình Nghệ An vẫn còn dựng cảnh giáo dân đập phá xe của cảnh sát giao thông từ hai hôm trước, bị người dân phát hiện và ghi hình được. Có tờ báo đưa tin lập lờ rằng “lãnh đạo tỉnh Nghệ An có mặt để giải thích, vận động người dân quay về. Sáng 15.2, người dân đã quay về nhà”. Họ viết thế để người đọc hiểu rằng, người dân do nhẹ dạ cả tin bị kích động nhưng sau khi được lãnh đạo giải thích, vận động họ đã thông và quay trở về. Còn thực tế thì họ nghe lời Cha của họ, chứ đâu phải là do được lãnh đạo vận động, giải thích. Kiểu đưa tin này cũng là cách qui thêm “tội” kích động cho Cha Thục.

Các bài viết qui chụp Linh mục Nguyễn Đình Thục loanh quanh chỉ là kích động giáo dân đi kiện rồi suy diễn ra đủ thứ.  Không có một dòng nào nói đến việc họ  ép nhà xe không cho chở giáo dân. Không có lời hay hình ảnh nào về mấy chục giáo dân bị đánh.

Máu giáo dân Song Ngọc và Cha xứ của họ đổ do công an Nghệ An gây nên, điều này không thể chối cãi. Chính họ mới là kẻ gây bạo loạn.

Hành vi của nhà chức trách Nghệ An vi phạm nhiều điều khoản của pháp luật:

Theo điều Điều 96 của Luật Khiếu nại tố cáo thì:

– Người giải quyết khiếu nại, tố cáo nếu có hành vi “Gây phiền hà, sách nhiễu, cản trở việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo” thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Suy rộng ra thì những ai lợi dụng chức vụ, quyền hạn “Gây phiền hà, sách nhiễu, cản trở việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo” đều bị xử lý theo điều này.

-Theo điều 132 Bộ Luật Hình sự “Tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo” thì Người nào có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc khiếu nại thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

-Điều 104 Bộ Luật Hình sự: “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác”, khoản e “phạm tội có tổ chức”

-Họ còn vi phạm điều 245 Bộ Luật Hình sự “Gây rối trật tự công cộng” và có thể còn nhiều điều khác nữa.

Tuy nhiên, luật thì như vậy nhưng không riêng gì Nghệ An, ở tất cả các địa phương khác trong cả nước, nhà chức trách vẫn chọn cách hành xử theo luật rừng. Họ vẫn chọn cách đối đầu với dân, rạch ròi ranh giới kẻ cai trị và người bị trị. Họ sẵn sàng đàn áp nhân dân nếu không làm theo ý muốn của họ, bất kể có đúng pháp luật và đạo lý hay không chứ không chịu hành xử theo cách của loài người văn minh. Họ không bao giờ thừa nhận, và mỗi lần như vậy, họ lại dùng hệ thống truyền thông khổng lồ tìm cách đổ tội cho người khác.

Cần tôn vinh những con người dũng cảm, không sợ bạo quyền, sẵn sàng dấn thân để bảo vệ giá trị con người, xác định rõ trách nhiệm của mình đối với cộng đồng và đất nước. Giáo dân Giáo xứ Song Ngọc là những người như thế.

Tạ ơn đời – Tạ ơn bạn gần xa thăm hỏi.

Tạ ơn đời – Tạ ơn bạn gần xa thăm hỏi.

Tạ ơn đời hôm nay Tôi còn sống
Mắt còn nhìn, còn đọc được Emails

 Đời còn vui, đâu đến nỗi cô liêu.

 Thêm kiến thức, thêm từ tâm hỷ xả !

 THAM BAN

Tạ ơn các bạn gần xa
Hằng ngày chia sẻ cùng ta đủ điều.
Emails nhận được bao nhiêu
Là bao tình cảm thương yêu nồng nàn. 

 

 

BẠN TA

Thăm hỏi bạn, biết rằng người còn đó

Nỗi mừng vui tràn ngập cõi lòng tôi
Cuộc đời này bao sóng gió, nổi trôi
Vui được biết, Bạn bình an vui sống

Đời trần thế ví như là huyễn mộng

Kiếp nhân sinh là sinh tử, tử sinh
Quý nhau chăng chỉ ở một chữ Tình
Tình cha mẹ, tình vợ chồng, bè bạn


Tình cảm ấy ta không treo giá bán
Khi con tim không đơn vị đo lường
Bàn cân nào, cân được chữ Yêu Thương
Thế mới biết Thương Yêu là vô giá!


Cuộc đời dẫu đảo điên, nhiều dối trá
Nếu chúng ta thực sự mến thương nhau
Thì tiếc chi một lời nói, câu chào
Hãy trao gửi, sưởi ấm tình nhân thế


Có hơn không dù biết rằng chậm trễ
Vì con người ai cũng thích yêu thương
Được thương người và cũng được người thương
Hãy bày tỏ yêu thương dù có chậm


Bạn còn đó! Tôi còn đây! Mừng lắm!
Vì chúng ta còn cơ hội gặp nhau
Để trao nhau lời nói với câu chào
Đầy thân ái, đầy yêu thương, quý mến


Chuyện dĩ vãng, chuyện tương lai sắp đến
Hãy quên đi, xin nhớ hiện tại thôi
Nếu tâm bình trí lạc! Thế đủ rồi!
Người còn đó! Tôi còn đây! Phúc lắm!

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

190,000 người Việt ở Mỹ lậu sẽ bị trục xuất?

190,000 người Việt ở Mỹ lậu sẽ bị trục xuất?

Click image for larger version Name: 1.jpg Views: 0 Size: 15.2 KB ID: 996871

VBF-Thật là một con số khủng khiếp hơn nhiều người nghĩ rất nhiều. Thống kê mới đây đưa ra con số sửng sốt khi có đến 190,000 người Việt ở Mỹ lậu và số phận của họ sẽ ra sao?Di dân bất hợp pháp dưới thời ông Trump được cho là rất khó sống, dễ bị trục xuất.

Trong phạm vi bài bình luận hôm nay, chúng tôi không phân tích những vấn đề chính trị đặc thù của Hoa kỳ. Chúng tôi chỉ nói đến vì sao nhiều người Việt quốc nội đã chú ý đặc biệt đến lệnh cấm nhập cảnh trên.

Đương nhiên, luật này không áp dụng trên những di dân hợp pháp. Còn người tị nạn không có gì phải lo quá đáng, vì chuyện ngừng nhập cảnh các di dân đã qua thanh lọc sẽ chấm dứt khi vượt giới hạn 120 ngày của sắc lệnh tổng thống.

Tuy nhiên, những di dân bất hợp pháp tại Hoa kỳ đều cảm thấy bất an với những tuyên bố đe dọa trục xuất trong thời gian tranh cử của tân tổng thống.

Khi nói đến trục xuất di dân lậu, hầu như, tất cả mọi người đều nghỉ đến những di dân gốc Trung và Nam Mỹ. Ít ai nghĩ đến những con số không nhỏ của những sắc dân khác đang cư ngụ bất hợp pháp tại Hoa Kỳ. Trong số đó có người Việt Nam.

Khi đặt câu hỏi: “Bạn ước tính xem có bao nhiêu người Việt đang ở bất hợp pháp tại Hoa Kỳ?” cho một số người đồng hương, tất cả các câu trả lời mà chúng tôi nhận đều sai với kết quả ước lượng của Bộ Nội An Hoa Kỳ. Con số được đưa ra thấp nhất là vài ngàn và cao nhất là 20 ngàn. Các con sốdự đoán đều rất xa với con số của Bộ Nội An đưa ra.

Bảng báo cáo ước đoán của Bộ Nội An Hoa Kỳ ghi nhận vào đầu năm 2012, số người Việt ở bất hợp pháp tại Hoa kỳ là 160 ngàn. Còn năm 2010 là 190 ngàn. Ước đoán trên thu thập dựa trên con số người được thị thực nhập cảnh vào Hoa Kỳ nhưng không thấy xuất cảnh.

Khi nghe những con số vừa nêu, nhiều người tỏ ra kinh ngạc. Cho đến thời điểm hiện nay, chúng tôi chưa tìm thấy một báo cáo nào mới hơn từ bộ Nội An về vấn đề này. Thực tế, vào thời điểm hiện tại, số người Việt ở Hoa Kỳ bất hợp pháp sẽ tăng hơn hay ít đi chúng ta không rõ.

Theo thống kê Census công bố năm 2010, số người Việt chính thức ở tại Hoa Kỳ là 1.5 triệu người. Nếu chia đều cho 35 năm kể từ ngày mất nước 1975, số người tị nạn gốc Việt xuất hiện tại Hoa Kỳ, vừa di dân, tị nạn cho từng năm là khoảng 43 ngàn người. Ít hơn rất nhiều số người Việt ở lậu tại Hoa Kỳ năm 2010 là 190 ngàn người.

Theo Wikipedia, con số người Việt được Hoa Kỳ nhận vào bằng cách chương trình di dân qua Liên Hiệp Quốc và gia đình cựu quân nhân từ năm 1981 đến 2000, 19 năm, là khoảng 531 ngàn. Chia đều 19 năm, từ 1981 đến 2,000, con số sẽ là 27,000 người. Cũng ít hơn rất nhiều con số 190 ngàn người Việt ở lậu tại Hoa Kỳ 2010.

Thật lạ, làn sóng vượt biên tị nạn đã không còn kể từ khi các trại tị nạn bị đóng cửa cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990.

Còn làn sóng “vượt biên để ở lậu” tại Hoa Kỳ hiện nay của người Việt lại đông hơn gấp bội lần, và đều đi bằng đường hàng không cũng như được nhập cảnh chính thức.

Số người tị nạn vượt biên hàng năm cũng không thể bì với con số người Việt ở lậu tại Hoa Kỳ. Đến nay cũng đã 7 năm trôi qua, con số 190 ngàn kia có lễ đã lên hơn rất nhiều rồi. Người Việt đang liên tục theo dõi về những diễn biến và các sắc lệnh của TT Trump.

Tư Phùng gởi

Liều Thuốc Dành Cho Kẻ Chán Ðời

 
Liều Thuốc Dành Cho Kẻ Chán Ðời

Một người đàn ông chán đời nọ đang đứng nhìn dòng nước từ một chiếc cầu cao. Ông đốt một điếu thuốc cuối cùng trước khi kết liễu cuộc đời.

Ông không còn lối thoát nào khác hơn nữa. Ông đã làm đủ mọi cách để lấp đầy nỗi chán chường trong tâm hồn. Ông đã đi đây đi đó, ông đã tìm lạc thú trong các cuộc vui trác táng, ông đã chạy đến với mọi thứ hơi men và khói thuốc. Nhưng chán chường vẫn cứ chán chường. Ông thử thời vận lần cuối cùng bằng một cuộc hôn nhân, nhưng không có một người đàn bà nào có thể ở bên cạnh ông được vài tháng, bởi vì ông đòi hỏi quá nhiều, nhưng lại không biết nghĩ đến người khác. Ông nhận ra rằng ông đã chán chường mà cũng không ai được hạnh phúc bên cạnh ông. Chỉ có dòng sông may ra mới mang lại cho ông sự thanh thản.

Người đàn ông chưa hút xong điếu thuốc thì cũng có một người hành khất cũng đi qua chiếc cầu. Con người rách rưới đó dừng lại nhìn người đàn ông và chìa tay xin giúp đỡ. Người đàn ông chán chường không ngần ngại rút cả ví tiền và trao cho người hành khất. Ông giải thích rằng bên kia thế giới ông không cần tiền bạc nữa. Người hành khất cầm lấy chiếc ví một lúc rồi trao lại cho khổ chủ. Ông ta nhìn thẳng vào đôi mắt của kẻ chán đời và nói: “Thưa ông, tôi không cần một số tiền lớn như thế. Tuy là một người hành khất, nhưng tôi không là một kẻ hèn nhát. Ông hãy giữ lại tiền của ông và đem qua bên kia thế giới của ông”. Nói xong, người hành khất ném cả ví tiền xuống dòng sông rồi lặng lẽ bước đi, bỏ mặc kẻ chán đời tiếp tục gặm nhấm nỗi đắng cay chua xót của ông.

Ðã hút xong điếu thuốc, nhưng kẻ chán đời vẫn muốn chưa kết liễu cuộc đời. Ông nhìn theo người hành khất đang khuất xa dần. Tự nhiên, ông không muốn chết nữa, mà chỉ muốn nhặt lại chiếc ví để trao tặng cho người hành khất. Chưa một lần trong đời, ông biết mở ví trao tặng cho bất cứ người nào. Giờ phút này. ông muốn mở rộng tâm hồn, mở rộng đôi tay để trao tặng và muốn tiếp tục sống. Nghĩ như thế, kẻ chán đời đứng thẳng lên, rời bỏ cây cầu và tiếp tục đuổi theo cho kỳ được người hành khất.

Không gì buồn chán cho bằng sống không có định hướng, không có lẽ sống. Sống mà không biết tại sao mình sống, mình sẽ đi về đâu là điều làm cho con người chán chường và đau khổ nhất.

Ai cũng khao khát hạnh phúc, ai cũng đi tìm hạnh phúc nhưng lắm khi người ta chỉ chạy theo ảo ảnh của hạnh phúc. Ai cũng biết rằng tiền tài, danh vọng và lạc thú trong cuộc sống tự nó không phải là hạnh phúc và lắm khi chúng cũng không mang lại hạnh phúc cho con người.

Hạnh phúc không phải là một nơi để đi đến, hạnh phúc là một hướng đi. Có đi theo hướng đó, con người mới cảm thấy được hạnh phúc. Vậy hướng đi của chúng ta là gì?

Chúa Giêsu, Ðấng là Ðường, là Sự Thật và là Sự Sống, đã vạch ra cho chúng ta hướng đi ấy. Và hướng đi Ngài đã vạch ra chính là Sống cho tha nhân. Ai càng tích trữ và chiếm giữ cho mình, người đó càng nghèo nàn và khốn khổ. Ai càng đóng kín quả tim và khép chặt bàn tay, người đó sẽ không được nhận lãnh. Hạnh phúc đích thực chính là trao ban, bởi vì như Thánh Phaolô đã ghi lại lời của Chúa Giêsu: “Cho thì có hạnh phúc hơn nhận lãnh”.

Cho là liều thuốc chữa trị được căn bệnh trầm trọng nhất trong tâm hồn chúng ta: đó là sự chán sống. Cho cũng là liều thuốc xoa dịu được mọi khổ đau trong tâm hồn chúng ta. Chúng ta đang đau khổ vì bị phản bội, vì thất chí, vì bệnh tật hay vì bất cứ một nguyên do nào: chúng ta hãy thử mở rộng tâm hồn để trao ban, để san sẻ. Chúng ta sẽ cảm thấy được xoa dịu trong tâm hồn

    Trích sách Lẽ Sống

Anh chị Thụ Mai gởi

ĐỨC MẸ LỘ ĐỨC

ĐỨC MẸ LỘ ĐỨC

Lộ Đức là một thành phố nhỏ thuộc miền tây nam nước Pháp, ngày nay được nhiều người trên thế giới biết đến là nhờ cuộc hiện ra của Đức Mẹ Chúa Trời với một em nhỏ cách đây 150 năm vào năm 1858.

1.  Sự Tích Hiện Ra:

LO DUC

Hôm đó là ngày 11 tháng 2 năm 1858, trời mùa Đông ở miền núi, lạnh kinh khủng.  Bernadette Soubirous cùng với 2 bạn khác ra phía rừng cạnh bờ sông Gave để nhặt củi.  Bernadette lúc đó 15 tuổi mà chưa biết đọc biết viết, vì nhà nghèo, em phải làm việc để phụ vào với gia đình.

Sau khi vào tu Dòng, Benadette được học và cô tả lại trong lá thư trình bề trên như sau: “Hôm ấy tôi đi kiếm củi với hai đứa bạn ở bờ sông Gave.  (Khi ra tới bờ sông, hai em kia đi xa hơn, còn Benađette tìm củi quanh hang Massabiel.)  Bất ngờ tôi nghe có tiếng động.  Tôi ngoái nhìn về phía đồng cỏ.  Không thấy cây cối rung động gì cả.  Tôi ngẩng đầu nhìn lên hang.  Tôi thấy một Bà mặc áo trắng (bà còn trẻ lắm, chừng 16, 17 tuổi, mặc áo dài trắng, thắt dây lưng xanh da trời, hai tay chắp lại, đeo tràng hạt trên cánh tay phải.  Bà đẹp vời Benadette tiến lại gần hơn và mỉm cười với em).  Áo bà trắng nhưng thắt lưng lại xanh, và mỗi bên bàn chân có một bông hồng vàng.  Mầu chuỗi hạt của Bà cũng vàng nữa.

Khi thấy như vậy, tôi vội chùi mắt vì tưởng mình lầm.  Rồi thọc tay vào áo, tôi thấy có chuỗi hạt.  Tôi muốn giơ tay làm dấu thánh giá, nhưng không đưa nổi tay lên trán.  Tay tôi rớt xuống.  Còn hình Bà kia thì lại làm dấu thánh giá.  Tay tôi run quá.  Tôi thử làm dấu lại và làm được.  Tôi bắt đầu lần chuỗi.  Hình kia cũng lần chuỗi của Bà, nhưng không hề máy môi.  Tôi lần chuỗi xong thì hình kia cũng biến mất tức thì.

(Khi gặp lại hai đứa bạn kia ) Tôi hỏi hai đứa không thấy gì sao?  Chúng bảo không.  Và chúng hỏi tôi thấy gì vậy, và buộc tôi phải nói cho chúng nghe.  Tôi kể rằng tôi đã thấy một Bà mặc áo trắng, nhưng tôi không biết Bà đó là ai, và không cho chúng được kể lại với ai.  Chúng bảo tôi không nên trở lại đó nữa.  Tôi bảo không.  Đến ngày Chúa nhật, tôi trở lại đó lần thứ hai vì cảm thấy bị thúc đẩy ở trong lòng.

Đến lần thứ ba, Bà kia mới nói với tôi.  Bà hỏi tôi có bằng lòng trở lại đây trong 15 ngày liên tiếp không.  Tôi bằng lòng.  Bà bảo tôi phải về nói với các linh mục xây một nhà thờ tại chỗ này.  Rồi Bà bảo tôi phải đi uống nước ở suối.  Tôi không thấy có suối nào cả, nên tôi ra đi uống nước ở sông Gave.  Bà bảo tôi không phải ở đó, và Bà lấy ngón tay chỉ cho tôi chỗ suối nước.  Tôi đến, nhưng chỉ thấy một chút nước dơ.  Tôi thò tay xuống nhưng không múc được.  Tôi liền cào đất ra, và tôi đã múc được nước, nhưng tôi lại hất đi ba lần, đến lần thứ bốn tôi mới dám uống.  Thế rồi hình kia biến đi và tôi cũng ra về.

Trong 15 ngày liên tiếp, tôi đã trở lại nơi đó.  Ngày nào tôi cũng thấy hình kia hiện ra, trừ ngày thứ Hai và thứ Sáu.  Bà nói đi nói lại với tôi rằng: “Tôi phải thưa các linh mục xây cho Bà một đền thờ tại đây.  Tôi phải đến rửa ở suối nước, và tôi phải cầu nguyện cho tội nhân trở lại.”

Nhiều lần tôi đã hỏi Bà là ai?  Nhưng Bà chỉ cười.  Rồi bỏ tay thõng xuống, Bà ngước mắt lên trời và bảo tôi Bà là Đấng đầu thai Vô nhiễm.

Trong khoảng thời gian 15 ngày đó, Bà nói với tôi 3 điều bí mật, nhưng bắt tôi giữ kín, không được nói với ai, và cho đến nay tôi vẫn trung thành giữ như vậy.”

2.  Sứ Điêp Đức Mẹ Muốn Nhắn Nhủ Con Cái Người :
“Hãy cầu nguyện cho kẻ có tội”
“Hãy nói với các linh mục xây nhà thờ kính Mẹ ở đây, và để dân chúng đến đây rước kiệu.”

3.  Ta Là Đấng Vô Nhiễm:
Khi linh mục xứ muốn biết tên Bà, Bernadette đã hỏi thì ngày 25 tháng 3 năm 1858, Đức Mẹ xưng mình là: “Ta là Đấng Vô nhiễm Nguyên tội.”  Nhưng Bernadette không hiểu.  Khi cô nói lại với cha xứ ngài mới nhận ra bà lạ đó là Đức Mẹ hiện ra.

Để chứng tỏ Mẹ hiện ra thật, Mẹ bảo Bernadette bới đất chỗ cô qùy để có một giòng nước vọt ra cho cô uống và sau đó chữa mọi thứ bệnh.

Sau này, ĐGM giáo phận đã gửi Bernadette đi tu tại Nevers cách xa Lộ đức cả nửa ngày đường xe.  Bernadette sống rất khiêm tốn ở đây.  Cô bị nhiều xỉ nhục nơi các chị em dòng, bị nhiều bệnh đau đớn cho tới chết, nhưng lúc nào Tràng hạt Mân côi cũng là niềm an ủi của cô.  Chính kinh Mân côi đã là đường lối nên thánh của cô.  (Riêng Bernadette Đức Mẹ đã nói: ” Mẹ không hứa cho con hạnh phúc đời này, nhưng là hạnh phúc đời sau.)

4.  Lộ Đức Ngày Nay:
Đã trở nên một trung tâm hành hương lớn nhất thế giới.  Hàng năm có tới 4 triệu người đến kính viếng và xin ơn Đức Mẹ.  Giáo hội đã đặt lễ kính Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức vào ngày 11 tháng 2 hàng năm.  Từ năm 1992, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã chỉ định ngày lễ Đức Mẹ Lộ Đức là Ngày Thế giới cầu cho các bệnh nhân.

5.  Đức Thánh Cha Với Lộ Đức:
Ngày 14 và 15 tháng 8 năm 2004, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã viếng Đức Mẹ Lộ Đức.  Đây là chuyến đi để kỷ niệm 150 năm Giáo hội Công giáo tuyên bố tín điều Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội, là chuyến đi thứ 104 ra ngoài Vatican của Đức Thánh Cha, là lần thứ 7 Người tới nước Pháp.  Lần trước Người tới Lộ Đức vào tháng 8 năm 1997 để dự Ngày Giới Trẻ Thế Giới.  Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II chủ ý viếng nơi Đức Mẹ đã hiện ra với cô thôn nữ Bernadette, và ngày 25 tháng 3 năm 1858, Đức Mẹ xưng mình: “Ta là Đấng Vô nhiễm Nguyên tội”, bốn năm sau khi Đức Thánh Cha Piô IX công bố tín điều Đức Mẹ Vô nhiễm (1954).  Ngày lễ kính Đức Mẹ Lên Trời, Đức Thánh Cha dâng lễ lúc 10 giờ sáng tại đền thánh.  Sau trưa, Người cầu nguyện âm thầm trước hang đá nơi Đức Mẹ hiện ra.

Sáng 15-9-2008, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã cử hành thánh lễ cho 100 ngàn tín hữu, trong đó có đông đảo các bệnh nhân, tại quảng trường trước Vương cung thánh đường Đức Mẹ Mân Côi ở Lộ Đức.

Đây là thánh lễ lộ thiên thứ 3 và cũng là thánh lễ cuối cùng trong 4 ngày viếng thăm của nước Pháp.

Dưới bầu trời nắng đẹp, các bệnh nhân và người tàn tật, phần lớn ngồi trên xe lăn, ở khu vực trước bàn thờ.  Đồng tế với Đức Thánh Cha còn có hàng trăm Giám mục Pháp và nước ngoài.

Trong bài giảng thánh lễ, Đức Thánh Cha đã giải thích ý nghĩa ngày lễ Đức Mẹ sầu bi, mừng kính ngày 15-9-2009.  Ngài nhận định rằng “ngày nay, Mẹ Maria đang ở trong niềm vui và vinh quang Phục Sinh.  Những giọt lệ của Mẹ dưới chân Thánh Giá đã biến thành một nụ cười mà không gì xóa bỏ được, trong khi lòng từ bi hiền mẫu của Mẹ đối với chúng ta vẫn nguyên vẹn.  Mẹ Maria yêu thương mỗi người con của Mẹ, Mẹ đặc biệt quan tâm đến những người, giống như Con của Mẹ trong giờ Khổ Nạn, đang phải chịu đau khổ; Mẹ yêu thương họ chỉ vì họ là con cái của Mẹ, theo ý muốn của Chúa Kitô trên Thánh Giá.”

Đức Thánh Cha đặc biệt giải thích câu 13 của thánh vịnh 44 trong bài đáp ca của ngày lễ nói tiên tri về Mẹ Maria “Những người giàu có nhất trong dân… sẽ tìm kiếm nụ cười của bà” (TV 44,13).  Ngài nói: “Nụ cười của Mẹ Maria là cho tất cả mọi người chúng ta, và đặc biệt cho những người đau khổ, để họ có thể tìm được qua đó sự an ủi và giảm bớt đau khổ.  Tìm kiếm nụ cười của Mẹ Maria không phải là một điều sùng mộ theo tình cảm hoặc lỗi thời, nhưng đúng hơn đó là một sự diễn tả đúng đắn quan hệ sinh động và có đặc tính nhân bản sâu xa liên kết chúng ta với Đấng mà Chúa Kitô đặt làm Mẹ chúng ta”.

Đức Thánh Cha cũng nhận xét rằng “Mỗi lần đọc kinh Magnificat là chúng ta được trở thành chứng nhân về nụ cười của Mẹ Maria.  Tại Lộ Đức này, trong cuộc hiện ra của Đức Mẹ ngày thứ tư, 3-3-1858, thánh nữ Bernadette đặc biệt chiêm ngắm nụ cười của Mẹ Maria.  Nụ cười này là câu trả lời đầu tiên mà Bà Đẹp gửi tới Bernadette khi cô bé muốn hỏi danh tánh của Bà”.

Cũng trong bài giảng, Đức Thánh Cha nói về sự trợ giúp của Mẹ Maria dành cho các bệnh nhân và những người đau khổ, và nói rằng:

“Có những cuộc chiến đấu mà con người không thể một mình đương đầu được, nếu không có ơn Chúa.  Khi lời nói không tìm được những từ thích hợp, ta cần có một sự hiện diện yêu thương: khi ấy chúng ta tìm kiếm sự gần gũi không những của những người ruột thịt và bạn hữu, nhưng của những người gần gũi chúng ta qua liên hệ đức tin.  Ai có thể gần gũi thiêng liêng với chúng ta hơn là Chúa Kitô và Đức Mẹ Vô Nhiễm, Người Mẹ thánh thiện của Ngài?  Hơn ai hết, các Ngài có thể hiểu chúng ta và thấy rõ cuộc chiến đấu cam go chống lại bất hạnh và đau khổ…  Ngoài ra, nơi Mẹ Maria chúng ta cũng được ơn thánh để chấp nhận rời bỏ trần thế này vào thời điểm Chúa muốn mà không chút sợ hãi hay cay đắng.”

Sau cùng, Đức Thánh Cha giải thích về ý nghĩa bí tích xức dầu bệnh nhân và nói rằng: “Ơn thánh thiêng của bí tích này hệ tại đón nhận vào mình Chúa Kitô Y Sĩ.  Nhưng Chúa Kitô không phải là y sĩ theo kiểu thế gian này.  Để chữa lành chúng ta, Chúa không ở bên ngoài đau khổ người ta phải chịu; để thoa dịu đau khổ, Chúa đến ở trong tâm hồn người bị bệnh tật, để cùng chịu và sống đau khổ ấy với họ.  Con người không còn chịu thử thách một mình, nhưng họ trở nên đồng hình dạng với Chúa Kitô Đấng tự hiến dâng cho Chúa Cha; trong tư cách là chi thể của Chúa Kitô chịu đau khổ, người bệnh tham gia vào việc sinh ra thụ tạo mới trong Chúa Kitô”.

“Nếu không có ơn phù trợ của Chúa, cái ách bệnh tật và đau khổ sẽ nặng nề kinh khủng.  Khi lãnh nhận bí tích bệnh nhân, chúng ta không mong muốn mang ách nào khác ngoài ách của Chúa Kitô, trong niềm tin tưởng mạnh mẽ nơi lời hứa của Ngài cho chúng ta, theo đó ách của ngài dễ mang và gánh của ngài nhẹ nhàng (cf Mt 11,30).  Tôi mời gọi tất cả những người sẽ lãnh nhận bí tích bệnh nhân trong thánh lễ này hãy tiến vào niềm hy vọng như vậy.”

Nguyễn Thế Bài

 Langthangchieutim gởi

Nếu địa đàng, chẳng còn gì để nhớ

Suy Tư Tin Mừng Trong tuần thứ 7 thường niên năm A 19/02/2017

 Tin Mừng: (Mt 5: 17-37)

 Hôm ấy, Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng: “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Mô-sê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn. Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành. Vậy ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những điều răn nhỏ nhất ấy, và dạy người ta làm như thế, thì sẽ bị gọi là kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời. Còn ai tuân hành và dạy làm như thế, thì sẽ được gọi là lớn trong Nước Trời.

 “Vậy, Thầy bảo cho anh em biết, nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pha-ri-sêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời. “Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng: Chớ giết người; ai giết người, thì đáng bị đưa ra toà. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: Ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra toà. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì đáng bị đưa ra trước Thượng Hội Đồng. Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo, thì đáng bị lửa hoả ngục thiêu đốt. Vậy, nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình. Anh hãy mau mau dàn xếp với đối phương, khi còn đang trên đường đi với người ấy tới cửa công, kẻo người ấy nộp anh cho quan toà, quan toà lại giao anh cho thuộc hạ, và anh sẽ bị tống ngục. Thầy bảo thật cho anh biết: anh sẽ không ra khỏi đó, trước khi trả hết đồng xu cuối cùng.

  “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Chớ ngoại tình. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi. Nếu mắt phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy móc mà ném đi; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân bị ném vào hoả ngục. Nếu tay phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy chặt mà ném đi; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân phải sa hoả ngục.

 “Luật còn dạy rằng: Ai rẫy vợ, thì phải cho vợ chứng thư ly dị. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp, ai rẫy vợ là đẩy vợ đến chỗ ngoại tình; và ai cưới người đàn bà bị rẫy, thì cũng phạm tội ngoại tình.

  “Anh em còn nghe Luật dạy người xưa rằng: Chớ bội thề, nhưng hãy trọn lời thề với Đức Chúa. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: đừng thề chi cả. Đừng chỉ trời mà thề, vì trời là ngai Thiên Chúa. Đừng chỉ đất mà thề, vì đất là bệ dưới chân Người. Đừng chỉ Giêrusalem mà thề, vì đó là thành của Đức Vua cao cả. Đừng chỉ lên đầu mà thề, vì anh không thể làm cho một sợi tóc hoá trắng hay đen được. Nhưng hễ “có” thì phải nói “có”, “không” thì phải nói “không”.Thêm thắt điều gì là do ác quỷ.”

                                  &    &   &

Nếu địa đàng, chẳng còn gì để nhớ”

“Hạt bụi rớt xuống đời, xin lẫn vào nhau…”

(dẫn từ thơ Bùi Thanh Tuấn)

 Mt 5: 38-48 

  Mai Tá lược dịch

Địa đàng cuộc sống, là chốn miền để gợi nhớ. Hạt bụi tình người, là chất liệu để yêu thương. Thương yêu, điều Chúa nhắc nhở, ở Tin Mừng, vẫn được thánh sử ghi chú, vẫn lâu nay.

Nhiều người, rất lấy làm lạ khi được bảo: Tin Mừng thánh sử viết, là bản văn viết không vào thời Chúa hoạt động, hoặc ngay sau ngày Chúa sống lại, nhưng được viết vào nhiều thập niên sau, như: “Tin Mừng theo thánh Mátthêu” chẳng hạn, đã chỉ được ghi chép vào giữa thập niên ’80, ở thế kỷ đầu. Và, người ghi chép “Tin Mừng” này không phải là Mát-thêu-thu-thuế thời Chúa sống. Cũng không là một trong số mười hai tông đồ, gần gũi Chúa. Mátthêu đây là học giả Do thái hiểu biết nhiều tiếng Hy Lạp, xuất thân sinh sống tại một quận ở ngoại ô Giêrusalem, mà người thời ấy có thói quen gọi là “thày dạy”, hoặc đấng bậc “tư tế”.

Tác giả “Tin Mừng theo thánh Mátthêu”, là vị thức giả từng hồi hướng về với Đạo Chúa, ngang qua các thừa sai của Chúa.Thánh sử Mát-thêu học được nhiều điều, qua hành động và cuộc sống từ các Đạo hữu theo chân Chúa. Đặc biệt, là các vị có liên hệ mật thiết với thánh Phêrô tông đồ, thời tiên khởi. Khi ghi chép Tin Mừng theo thánh Mát-thêu, tác giả đã ở vào độ tuổi cao niên khá cứng, nhưng ông lại là người có tầm nhìn thông thoáng, thi vị. Ông đề cập nhiều đến những con người và người con có tâm tư chân phương, bình dị nhưng có tư cách.

Sử gia Mátthêu, là cây viết rất sáng giá. Thánh nhân, tuy chung đụng nhiều với người Do thái, nhưng dùng tiếng Hy Lạp để ghi chép Tin Mừng. Và, qua văn phong văn thể cùng lập trường chuyên chính rất Kitô, nên các nhà chú giải cho rằng tác giả là một trong các Kitô-hữu đầu tiên, ở thời ấy.

Tin Mừng do tác giả viết, lại gồm lời lẽ ân cần, gửi đến các đấng bậc khôn ngoan/thông thái ở Israel. Nên, nhờ đó ta học được rất nhiều điều qua các dạng thức, như: lời sấm, dụ ngôn, phương châm, hoặc tư vấn, nhất nhất đều nhấn mạnh đến điều Chúa giảng rao cho mọi người. Bởi thế nên, người đọc nhận ra những 73 lần tác giả lập đi lập lại cụm từ “tông đồ”, ở “Tin Mừng” này.

Và vì thế, người đọc cũng nên hiểu cụm từ “tông đồ” theo nghĩa các “đấng bậc khôn ngoan/uyên bác” chuyên học hỏi những điều hay lẽ phải, do từ Chúa phán ra. Và cũng vậy, người đọc đừng nên hiểu rằng tác giả “Tin Mừng” là nhà thức giả thuộc tầm cỡ đại học, chuyên ngồi trong phòng lạnh để viết. Hãy cứ tưởng tượng rằng: khi ghi chép “Tin Mừng theo thánh Mát-thêu” tác giả đã suy tư dưới ánh đèn dầu leo lét, với tâm tình nguyện cầu trong bầu khí ẩm ướt, nặc mùi khô cháy có lưới cá đang hơ hóng, ở đâu đó…

Nay có người hỏi: thánh sử Mát-thêu muốn chuyển tải điều gì mới mẻ, khi ghi chép Lời Chúa?

Hầu hết các cộng đoàn tin theo Chúa sống ở Giêrusalem, đều mang tính chất rất “Do thái”. Hết thảy đều thấy nơi Đức Giêsu một Môsê rất mới để các vị nghe lời. Vì, xét cho cùng, Ngài còn mới hơn cả chính tiên tri Môsê, bởi Ngài là Đấng luôn chủ trương những điều mới mẻ, nơi Lề Luật. Và, điều mới mẻ khác nữa, là: Ngài không cất bỏ đi yếu tố quan trọng sẵn có từ hậu duệ của Đavít. Và, mọi người còn nhận ra nơi Đức Giêsu, hệt như ở Môsê và Đavít, ảnh hình của Đấng Bậc Hiền Từ, rất đặc biệt. Đặc biệt, là bởi người người đều nhận thấy rằng: qua Ngài và ở nơi Ngài “Ơn Cứu Độ” đã đến, là đến với cả Dân ngoại nữa. Ngài đến, qua trung gian Israel hoặc những người Do thái, tức: những người lúc ấy vẫn ở trong tư thế cách xa và tách rời khỏi dân-được-chọn.

Và, họ coi đó như ân sủng riêng tư, nhận từ Chúa. Bởi thế nên, trở thành người hết lòng tin tưởng vào Đức Giêsu, phải là người Do thái tích cực, phóng khoáng, những người chủ trương tuân giữ Luật Torah rất Đạo. Từ đó, cộng đoàn dân Chúa đã thấy mọi người tập trung nhấn mạnh đến Luật Torah. Quyết tuân giữ Lề Luật cách kiên trì, nhưng thông thoáng. Tuân và giữ, theo tinh thần tự do của người con Đức Chúa, mới đúng.

Vốn đặt nền tảng vững vàng lên truyền thống rao giảng kiểu thánh Phaolô Tông đồ, Hội thánh Chúa khi ấy đã có tầm nhìn rất khác lạ về Lề Luật. Và, Hội thánh đã coi Đức Giêsu là Đấng Bậc rất Do thái, chủ trương giữ Luật Torah thật đúng qui cách nhưng tự do, phóng khoáng, cho đúng nghĩa. Kể từ đó, Hội thánh vốn có sẵn tinh thần giảng rao của thánh Phaolô, lại đã khám phá ra rằng: tự do con cái Chúa là một hiện hữu rất đích thực, khi ta tuân thủ Lề Luật, rất Torah.

Là người Do thái sống ở miền Bắc xứ Palestin thời tiên khởi, thánh sử Mát-thêu xuất xứ từ một quá trình cuộc sống, có lập trường khá bảo thủ. Chí ít, là truyền thống giữ luật đúng qui cách, như Chúa dạy. Thánh sử cũng lo rằng nhiều truyền thống có thể sẽ mai một đi nếu không có người bận tâm lo duy trì nó. Và, thánh sử còn một mối lo ngại nữa, cứ e rằng: rồi ra sứ vụ tông đồ rao giảng kiểu Phaolô thánh nhân, có thể sẽ khiến truyền thống của người Do thái trở thành thứ yếu, mất đi tầm quan trọng. Do đó, thánh sử gia đã cảm thông với tình huống mà cộng đoàn Hội thánh ở Giêrusalem đang sống, dù cho thánh sử không thuộc về cộng đoàn này.

Cũng vì thế, tác giả quyết tâm tái cấu trúc cộng đoàn theo kiểu cộng đoàn dân Chúa ở Giuđêa, nghĩa là: không chỉ rập theo khuôn phép cũ của người Do thái, nhưng còn phổ biến lối sống của cộng đoàn Hội thánh Giêrusalem, hoặc có khuynh hướng mục vụ rao giảng theo kiểu của thánh Phaolô. Bởi thế nên, người đọc nhận ra rằng: “Tin Mừng theo thánh Mát-thêu” cũng mang dáng vẻ bảo thủ qua việc đòi mọi người giữ luật cho đúng qui cách. Chí ít, là cải cách niềm tin của người Do thái theo khuôn khổ “chiên lạc rời khỏi ràn nhà Israel”. Thành thử, tinh thần của thánh sử và của cộng đoàn nơi thánh nhân sinh hoạt vẫn có khả năng duy trì mối liên kết chặt chẽ với đền thờ người Do thái.

Tuy nhiên, thánh sử Mát-thêu không quên rằng: chính Đức Kitô mới là Đấng ta cần tin vào Ngài. Thánh sử diễn tả lập trường này theo lối viết giản đơn, rất thông thường, rằng: thay vì ta áp dụng nguyên tắc đền và bù như: “mắt đền mắt”, “răng đền răng”, tác giả lại khuyên người đọc Tin Mừng của ngài, hãy nên sử dụng đường lối bất-bạo-động. Và, thay vì phòng thủ hoặc trả thù, thánh sử đề nghị ta nên khoan dung, độ lượng.

Thay vì lo cho riêng mình, hãy quan tâm ái ngại đến người khác. Với thánh sử Mát-thêu, đây không phải là lạc quan sáng suốt, cũng chẳng là đường lối tư riêng độc quyền của người Hy Lạp, nghĩa là đường và lối chỉ chú trọng vào cuộc sống tư riêng của người khác, thôi. Nhưng, là: hãy áp dụng luật Torah theo qui cách thương yêu, như Chúa đã khuyên dạy.

Điều cốt thiết mà thánh sử nhận ra nơi lời dạy của Chúa, là: Ngài là người giữ luật Torah, rất đúng cách. Tuy nhiên, Ngài chú trọng đến tinh thần, chứ không phải chữ viết của Luật. Nói cách khác, người đọc “Tin Mừng theo thánh Mát-thêu không thể hiểu Luật Torah cho đúng cách, nếu không thi hành lời dạy của Đức Giêsu cũng như cộng đoàn nhỏ bé của Ngài, là Hội thánh thời tiên khởi. Bởi, cộng đoàn Hội thánh mới là người sống thực Luật Torah theo tinh thần Chúa đề ra. Và, thánh sử lại thêm rằng: dân con thành thánh Giêrusalem không chắc đã nhận ra được điều này. Vì thế nên, người đọc “Tin Mừng” có thể kết luận rằng: tác giả “Tin Mừng theo thánh Mát-thêu” quả là phóng khoáng cũng rất đúng.

Vậy, người đọc hôm nay học hỏi được điều gì qua sự việc này?

So sánh kinh nghiệm của các thừa sai tông đồ thời tiên khởi với kinh nghiệm thời Hậu-Công Đồng Vatican II, dân con Hội thánh nhận ra được điều gì? Ta có nhận ra được năng lực và tự do con cái Chúa nơi cộng đoàn Hội thánh tiên khởi theo kiểu thánh Phaolô không? Phải chăng, so sánh kinh nghiệm về cố gắng ‘tái lập’ di sản được bảo tồn, đáng yêu từ một truyền thống rất đúng đắn? Truyền thống, có là qui cách mà tác giả “Tin Mừng theo thánh Mát-thêu” hằng cảnh báo Hội thánh hãy trở về với tính chất Do thái, ở lai thời không?

Nếu tác giả “Tin Mừng theo thánh Mátthêu” nay còn sống, hẳn ông sẽ yêu cầu các đấng bậc vị vọng trong Hội thánh hôm nay, hãy quan tâm nhiều hơn nữa đến việc tái tục truyền thống đã có từ thời tiên khởi? Và, Hội thánh cũng nên nhìn vào Đức Giêsu hơn là các truyền thống mà các ngài muốn duy trì, bảo vệ. Hẳn rằng thánh sử Mát-thêu cũng sẽ yêu cầu mọi thành viên Hội thánh hôm nay hãy có tầm nhìn phóng khoáng và cởi mở, tốt hơn là ở lại với truyền thống xưa/cũ. Như Đức Giêsu khi xưa, vẫn đứng về phía những người duy trì Luật Torah, bằng tinh thần chứ không theo từng chữ. Và, ảnh hình Chúa chấp nhận dìm mình thanh tẩy nơi sông Giođan, sẽ là bằng chứng điển hình cho việc tuân giữ Luật Torah, rất tự do lại có tinh thần thương yêu đúng qui cách.

Thật khó mà thiết-lập được quân bình cho cơn sóng dồn và sức ép từ Lề Luật, thế mà Ngài vẫn chấp nhận dầm mình dưới giòng sông Giođan để chứng tỏ tinh thần giữ Luật đúng cách. Nhưng, tác giả “Tin Mừng theo thánh Mátthêu” vẫn sẽ là vị học giả cao niên, chín chắn. Là vị thức giả hiểu rõ hơn ai hết tinh thần của người Do thái. Hiểu Đức Kitô và người nghèo, hơn ai hết. Tác giả “Tin Mừng theo thánh Mátthêu” chính là người có được nhận thức mới về sự khôn ngoan, thông suốt cho mỗi người chúng ta.

Lm Kevin O’Shea CSsR biên-soạn

  Mai Tá lược dịch