Florida: Cộng đồng Việt Nam biểu tình chống Tập Cận Bình ‘rất khí thế’

Florida: Cộng đồng Việt Nam biểu tình chống Tập Cận Bình ‘rất khí thế’

Đỗ Dzũng/Người Việt

Đồng hương Việt Nam biểu tình dọc đường Southern Boulevard, nơi đoàn xe chở ông Tập Cận Bình đi qua. (Hình: Lưu Văn Tươi cung cấp)

PALM BEACH, California (NV) – Nhiều cộng đồng người Việt khắp Hoa Kỳ hôm Thứ Năm, 6 Tháng Tư, có mặt tại Palm Beach, Florida, biểu tình “rất khí thế” chống Chủ Tịch Tập Cận Bình của Trung Quốc, đến khu nghỉ mát Mar-a-Lago gặp Tổng Thống Donald Trump.

Trả lời phỏng vấn nhật báo Người Việt, ông Lưu Văn Tươi, chủ tịch Hội Đồng Giám Sát Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ, người có mặt tại chỗ biểu tình, cho biết: “Phải nói là đồng hương mình biểu tình rất khí thế. Có nhiều đồng hương từ nơi xa về như California, Georgia, Texas, New York, Pennsylvania, Arizona, và dĩ nhiên rất nhiều người ở Florida.”

“Chúng tôi bắt đầu đúng giờ, và có được một khoảng trống rất thuận lợi. Trước khi bắt đầu, chúng tôi làm lễ chào cờ, ai ai cũng vẫy cờ vàng ba sọ đỏ trên tay. Chúng tôi hát nhạc đấu tranh, chúng tôi có một dàn loa phóng thanh rất lớn, phát đi các bản nhạc, nâng cao tinh thần của mọi người, sau đó, tất cả đi dọc đường Southern Boulevard đi về hướng Mar-a-Lago,” ông Tươi nói tiếp.

Ông cho biết, có khoảng 600 người Việt Nam tham gia biểu tình, cùng với khoảng 200 người của nhóm Pháp Luân Công.

Ông kể: “Vì đường chật hẹp, nhóm Pháp Luân Công đứng bên kia đường, chúng tôi đứng bên này đường. Vì cảnh sát không cho băng qua đường, hai nhóm chúng tôi đành đứng hai bên.”

“Có lúc, chúng tôi thấy khoảng 50 sinh viên Trung Quốc cầm cờ đi vào để ủng hộ ông Tập Cậnh Bình, chúng tôi đồng lòng đưa cờ lên cao và hô các khẩu hiệu chống Trung Quốc. Chúng tôi đứng các Mar-a-Lago khoảng 400 mét,” ông Tươi kể tiếp.

Florida: Cộng đồng Việt Nam biểu tình chống Tập Cận Bình 'rất khí thế'
Mọi người đồng lòng giơ cao ngọn cờ khi thấy du sinh Trung Quốc đi qua. (Hình: Lưu Văn Tươi cung cấp)

Ông chia sẻ: “Mặc dù chỉ có khoảng 600 người, nhưng tất cả đều rất đồng lòng, như là một khối thống nhất, nhất quyết chống Tàu Cộng.”

Cuộc biểu tình do Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ đứng ra kêu gọi và tổ chức.

Hôm 3 Tháng Tư, tổ chức này cũng đăng một thư ngỏ trên nhật báo The Washington Times gởi Tổng Thống Donald Trump, cho biết một số quan điểm của người Việt Nam liên quan đến chủ quyền biển đảo và chính quyền CSVN.

Thư ngỏ nêu lên những điểm mà chính quyền Trung Quốc đã vi phạm các nguyên tắc và luật pháp quốc tế như sau:

Vi phạm trầm trọng nhân quyền, tước đoạt các quyền tự do căn bản của người dân Trung Hoa, đàn áp giáo phái Pháp Luân Công, khủng bố nhân dân
Hồng Kông, thống trị hà khắc các dân tộc Tây Tạng, Duy Ngô Nhĩ, và Nội Mông.

Về an ninh và lãnh thổ, Bắc Kinh (1) Dung dưỡng chế độ cộng sản Bắc Hàn sỡ hữu vũ khí hạt nhân đe dọa an ninh trong vùng kể cả Hoa Kỳ; (2) Xâm chiếm và thống trị Tây Tạng; (3) Lấn chiếm từng phần lãnh thổ Việt Nam với sự tiếp tay của đảng Cộng Sản Việt Nam; (4) Tuyên bố chủ quyền đường lưỡi bò bất hợp pháp trên 80% diện tích Biển Đông bất chấp phán quyết của Tòa Trọng Tài Quốc Tế La Haye ngày 12 Tháng Bảy, 2016; (5) Chiếm đóng bằng vũ lực các hải đảo và hải phận Biển Đông trong đó có Hoàng sa và Trường Sa của Việt Nam, Scarborough của Philippines; (6) Xây các đảo nhân tạo, tàn phá các rặng san hô, phá hủy môi sinh biển; (7) Thiết lập các căn cứ quân sự trên toàn Biển Đông; (8) Uy hiếp đảo Senkaku và hải phận của Nhật; (9) Tạo bất ổn cho vùng
Á Châu-Thái Bình Dương trong đó có Hoa kỳ.

Về kinh tế và môi trường, (1) Đánh cắp các dữ kiện bí mật cá nhân, an ninh quốc phòng, khoa học và thương mại của Hoa Kỳ và thế giới; (2) Không tuân thủ luật lệ quốc tế WTO về thương mại mậu dịch, sản xuất hàng giả, hàng bắt chước gây tổn thất nghiêm trọng cho kinh tế Hoa Kỳ và thế giới; (3) Gây ô nhiễm môi trường trầm trọng tại nội địa và trên biển, sản xuất các hàng hóa và thực phẩm độc hại.

Vì thế, người Việt Nam tại quốc nội và trên toàn thế giới long trọng tuyên cáo:

1-Cực lực lên án và tố cáo trước công luận quốc tế những vi phạm và hành động nói trên của Trung Cộng;
2-Thỉnh cầu Tổng Thống Donald Trump và nguyên thủ các quốc gia tự do cần có chính sách và thái độ cương quyết để bảo vệ nhân quyền cho nhân dân Trung Hoa, bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ của các quốc gia trong vùng cũng như quyền lợi, nền an ninh của Hoa Kỳ và toàn thế giới;
3. Yêu cầu quốc tế can thiệp để nhà cầm quyền cộng sản Bắc Kinh tuân thủ phán quyết của Tòa Trọng Tài Quốc Tế La Haye ngày 12 Tháng Bảy, 2016, trả lại chủ quyền tại Biển Đông cho các quốc gia Đông Nam Á trong đó có Việt Nam.

(Nhật báo Người Việt sẽ tiếp tục cập nhật)

Cậu bé 12 tuổi lên án nhà báo, truyền thông lề đảng

 Cậu bé 12 tuổi lên án nhà báo, truyền thông lề đảng

…Các anh đang sống ở đâu? Các anh là con dân của nước nào? Các anh đang làm gì? Các anh đang sống vì ai? Đang sống vì mục đích nào? Tôi thấy mỗi người các anh đưa tin tào lao! Những tin hay, những tin người dân miền Trung các anh có ngon thì đưa tin đi. Các anh đưa vì đất nước đi… Mỗi ngày tôi mở TV tôi nghe những xàm xí… Ngày xưa ở giảng đường đại học các anh ước mơ sau này làm gì cho đẹp cho đời, làm gì để phục vụ cho dân…

Các anh sống làm sao để con cháu và tổ tông các anh không cảm thấy hỗ thẹn. Báo đài đưa tin tào lao! Kích động! Thế lực thù địch! Dân chết đói ngoài đấy! Biết không?… Các anh có ăn học đầy đủ mà tôi thấy nhục cho các anh! Sống làm người! Một lần chết, không bao giờ có lần thứ hai. Chết như thế nào? Chết nhục hay là chết vinh!? Mở mắt ra, mở cái não ra mà suy nghĩ…

httpv://www.youtube.com/watch?v=64XA3HddxZQ

TIN TỨC VIỆT NAM: CHẤN ĐỘNG CẬU BÉ 12 TUỔI LÊN TIẾNG VTV VÀ NHÀ BÁO BỊP BỢM GÂY BÃO CỘNG ĐỒNG MẠNG

Đừng Trở Lại Sài Gòn

httpv://www.youtube.com/watch?v=b5wLy92mx2s&feature=youtu.be

Đừng Trở Lại Sài Gòn (Trần Trung Đạo-Phạm Anh Dũng-Lâm Dung)

  Đừng Trở Lại Sài Gòn 
Thơ: Trần Trung Đạo
Nhạc: Phạm Anh Dũng
Tiếng hát: Lâm Dung

Anh ra đi Sài Gòn xưa đã chết
Cây me già cô độc đứng nghe mưa
Ðừng trở lại chẳng còn gì nữa hết
Em đã tàn hương sắc của năm xưa

Anh ra đi phố phường xưa đổi khác
Ngọn đèn xanh le lói bóng ga chiều
Những kỷ niệm vàng hoe trên mái tóc
Tóc em buồn từng sợi rối đêm khuya

Anh ra đi cửa lòng em đã đóng
Với đau thương chồng chất thuở xuân thì
Ðừng trở lại chẳng còn ai mong ngóng
Xuân đã tàn từ độ én bay đi

Anh ra đi em một mình lầm lũi
Con đường câm trong những tối không đèn
Ðừng trở lại em quen rồi cực khổ
Anh cũng quen rồi cuộc sống ấm êm

Anh ra đi mùa đông buồn ghê lắm
Mùa mưa dài thăm thẳm ở nơi đây
Ðừng trở lại chẳng cần ai đưa đón
Ðể em ngồi nghe lá khóc trên cây

Anh ra đi mẹ bao lần đã nhắc
Ðứa con yêu lưu lạc ở phương nào
Anh có đọc nỗi buồn sâu trong mắt
Mắt mẹ già năm tháng đã hư hao

Anh ra đi đàn em thơ đã lớn
Nhìn hình anh ngơ ngác hỏi là ai
Bầy chim nhỏ giữa trời đầy giông tố
Chim đầu đàn vẫn biệt dưới chân mây

Anh ra đi quê hương nghèo hơn trước
Những lầm than vẫn nối tiếp nhau về
Bài thơ cũ mơ làm người yêu nước
Ðến bây giờ anh còn nhớ hay quên.

Trần Trung Ðạo

Tưởng niệm ngày Quốc Hận: Những ngày cuối cùng ở Đà Nẵng và Cam Ranh

 Tưởng niệm ngày Quốc Hận: Những ngày cuối cùng ở Đà Nẵng và Cam Ranh

BS Phạm Anh Dũng

 

 Buổi sáng 29 tháng 3, tôi vẫn còn ở Tiểu Đoàn 3 Quân Y Sư Đoàn 3 Bộ Binh. Tìm Vũ Quốc Cường, cùng lớp Y Khoa Sài Gòn 1974 và cùng khóa Quân Y Hiện Dịch 21 (QYHD-21) thì được biết Cường được anh ruột Vũ Quốc Cương,  bác sĩ quân y chuyên khoa Gây Mê ở Tổng Y Viện Duy Tân, đón đi từ hôm qua, khi Tổng Y Viện Duy Tân “tan hàng”.

Tôi thật tình cũng không biết phải làm gì, vì không phương tiện di chuyển và cũng không biết đi đâu bây giờ! Tôi hoàn toàn không biết đường lối vì mới ra trường và đáo nhậm đơn vị mới có hai  tuần lễ!

Tình cờ gặp xe Jeep của Nguyễn Hữu Mãn (QYHD-20), lúc đó là y sĩ trưởng Thiết Kỵ của Sư Đoàn 3. Trên xe có 3 dược sĩ, Lê Văn Khoa (QYHD-18), Lê Tử Ý và Trần Văn Quang (QYHD-20). Họ rủ tôi cùng chạy ra Đà Nẵng. Đoán chừng là đến lúc phải đi, tôi vội vớ lấy cái đàn guitar và bốn quyển sách nhạc chép tay mà tôi rất quý, theo các bạn lên xe.

Thành phố Đà Nẵng lúc đó coi như thành phố chết, thỉnh thoảng có bóng người và tiếng súng nổ. Nhưng ra đến bến tàu sông Hàn thì đầy người. Lê Văn Khoa nhẩy xuống được và đứng ở mũi một chiếc ca nô. Khoa cầm súng M16 “giữ trật tự”, vì dân chúng muốn ùn vào ca nô có thể làm chìm. Lê Văn Khoa dục tôi nhẩy theo, nhưng không rõ vì lý do gì không nhớ được, tôi ở lại bến tàu! Tôi lại chạy ngược về Sư Đoàn 3, hình như cùng xe Jeep với Nguyễn Hữu Mãn. Trước khi chia tay, tôi có thẩy xuống ca nô cái đàn guitar và bốn quyển nhạc nhờ Khoa giữ.

Về đến Sư Đoàn 3, tôi gặp Lê Văn Thu, QYHD-20, đang chạy ra. Thu hỏi: “Cậu còn quay về lại đây làm gì? Đâu còn ai, còn gì nữa đâu!” Thu có hai xe gắn máy, Thu chạy bằng chiếc Honda do vợ để lại (vợ con Thu đã bay về Saigon trước đó một tuần), và đưa tôi cái xe Bridgestone bảo tôi chạy… ngược lại bến tàu. Thật là luẩn quẩn!

Đào Tư Huyền (y sĩ trưng tập, vừa được bổ nhiệm ra Thiết đoàn Kỵ Binh của SĐ3BB, chuẩn bị thay Nguyễn Hữu Mãn) lái cái xe gắn máy Yamaha chạy cùng lúc. Tôi lại chạy qua thành phố Đà Nẵng, tiện ghé phòng mạch Nha Khoa của anh Nha sĩ Nguyễn Nhật Thăng (QYHD-19) rủ cùng đi. Anh Thăng đã đi rồi, nhưng lại bất ngờ găp bạn thân Nguyễn Tiến Dũng, Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) QYHD-21, em ruột anh Thăng.

Đào Tư Huyền biết đường phóng Yamaha chạy đi trước dẫn đường, hai thằng Dũng chở nhau theo sau để ra bến tàu. Giữa đường xe Bridgestone chết máy. May sao Đào Tư Huyền quay lại tìm và thế là cả ba đèo nhau trên xe Yamaha ra được bãi biển Tiên Sa, ở bán đảo Sơn Trà.

Lúc đó coi như tuyệt vọng: Cả ngàn người chen nhau đứng trên xà lan thành không còn hy vọng gì. Ba thằng bèn đứng ở bến tàu nhìn …người.

Khoảng 3 giờ rưỡi chiều, sao tự nhiên có cái thuyền nhỏ xáp vào. Người chủ thuyền mời ai muốn đi ra khơi. Không ai dám theo, nhưng tôi bảo Dũng và Huyền: “Đằng nào mình cũng hết đường”.

Cả ba móc túi có bao nhiêu tiền đưa gần hết cho chủ thuyền. Thuyền ra sau một rặng núi bên bờ biển thì chúng tôi thấy một số tàu nhỏ há mồm (tàu đổ bộ-Landing craft LCU) đậu đợi đón đám quân Lôi Hổ. Một thiếu uý Lôi Hổ trên một tàu dơ tay, bàn tay chiến hữu, kéo chúng tôi từng người vào tàu.

Và vì vậy sau đó cả ba về được Cam Ranh.

Lê Văn Khoa rồi cũng về được Cam Ranh nhưng đàn và sách nhạc thất lạc hết trơn.

Xe tăng của Việt Cộng vào Đà Nẵng cũng buổi chiều cùng ngày 29 tháng 3 năm 1975.

 Ngày 2 Tháng Tư 1975 ở Cam Ranh.

Sau mấy ngày đêm lênh đênh trên chiếc tàu đổ bộ nhỏ đi chậm từ Đà Nẵng đến được Cam Ranh. Nguyễn Tiến Dũng, Đào Tư Huyền và tôi được tầu cập bờ cho xuống. Ba thằng mệt nhoài sau những ngày đêm đói và khát, vì chỉ được cho chút nước uống cầm hơi.

Vừa lên bờ cả bọn tìm một quán ăn uống cho đỡ đói lòng. Ăn xong ra khỏi quán thì gặp một đám lính Thủy Quân Lục Chiến. Đó lại là quân của TĐ-TQLC 1 cũng thoát về đến Cam Ranh. Nguyễn Tiến Dũng, y sĩ trưởng TĐ1-TQLC, gia nhập lại đám lính của mình và theo họ đi với Tiểu Đoàn.

Tôi và Huyền đi loanh quanh.

Bến tàu đầy lính: Đa số là TQLC, rồi Nhảy Dù, Biệt Động Quân, Bộ Binh…. Đủ mọi binh chủng Hải Lục Không quân từ vùng 1 và một số vùng 2 chiến thuật đã mất đổ về. Tôi và Huyền, hai y sĩ của Sư Đoàn 3, chỉ tìm được vài người lính ở Sư Đoàn 3. Hai đứa không biết phải làm gì bây giờ!

Tôi chợt nhớ ra đến Hải Quân Đại tá Bùi Cửu Viên. Anh Viên là chồng chị Hồng Thủy, bạn thân chị Nga, chị ruột tôi. Tìm gõ cửa và được anh cho vào nhà, “để anh sẽ tính sau”. Anh Viên lúc đó là Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân ở Cam Ranh.  Anh cho biết tình thế rất nghiêm trọng và anh đang tìm cách đưa “cả trường” về Nam. Huyền mệt lăn ra ngủ. Tôi không yên tâm, lại lẻn bỏ ra phố đi luẩn quẩn một mình.

Tình cờ có một xe đầy lính TQLC đậu trên đường. Trên xe, thấy có hai bạn QYHD-20 là Bùi Ngọc Bảng và Phạm Ngọc Trâm cùng vài Y Sĩ TQLC đàn anh khác. Tôi có vẫy tay chào để hỏi tin tức, nhưng cả hai đều không kịp nhìn ra tôi vì xe họ lại chạy ngay lúc đó.

Chỉ độ ba giờ đồng hồ quay lại mà thành phố đã đổi hẳn: Đông lính hơn và trật tự không còn nữa. Lai rai đã có súng nổ và lính cầm súng chạy vừa bắn mà không rõ bắn ai! Một người bị trúng đạn xuyên qua cánh tay chảy máu. Tôi phải xé tay áo rách của anh ta để chặn vết thương cầm máu. Ngồi cột vải cho vết thương mà thấy …lạnh ở lưng, vì súng vẫn nổ!

Tôi  gõ cửa một quán ăn, không phải để vào ăn mà để tìm chỗ … tránh đạn! Khi tiếng súng vừa ngưng tôi vội trở về nhà anh Viên. Anh Viên nổi giận “la” cho một trận bảo không được ra khỏi nhà nữa.

Ngày 3 tháng Tư 1975 ở Cam Ranh.  

Sáng sớm, anh Viên đánh thức hai đứa dậy, cho biết Nha Trang đã mất ngày hôm trước. Anh không cho thì giờ đánh răng và rửa mặt. Anh chở thẳng hai đứa ra bến tàu, dẫn lên tàu HQ-802.Trên tàu gặp lại Nguyễn Tiến Dũng và thêm Nguyễn Bá Linh (TQLC, QYHD-21). Linh kể khi ở Đà Nẵng, suýt chết đuối trên biển khi ráng bơi ra tầu. Tôi cũng được kể bạn  thân Vũ Đức Giang (TQLC, QYHD-21) bị kẹt và bị bắt ở bãi biển Thuận An, Huế.

Hai đứa, Huyền và tôi, theo tàu HQ-802 chở đám còn lại của sư đoànTQLC (chắc chỉ hơn 1000 quân) về đến Vũng Tàu.

Anh Bùi Cửu Viên ở lại Cam Ranh lo cho các khóa sinh của Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân.

Ngày 4 tháng Tư 1975: mất Cam Ranh.

Bến tàu Sông Hàn, Đà Nẵng khi dân chúng ùa nhau lên thuyền để ra khơi ngày 29 tháng 3 năm 1975

Bến tàu bãi biển Tiên Sa, Sơn Trà, Đà Nẵng khi các xà lan đã đầy nghẹt người chiều ngày 29 tháng 3 năm 1975

BS Phạm Anh Dũng

Lucie 1937 gởi

Nét Đẹp Của Người Ngồi Xuống…!

 Nét Đẹp Của Người Ngồi Xuống…!

            Tôi lặng lẽ bước theo các Ngài vì tôi biết họ sẽ đến với người nghèo. Trời trưa nắng gay, nắng gắt len lỏi qua cái lùm cây đi vào sâu trong khu vườn rậm. Những bước chân dài vững chãi vừa đi vừa liến thoắng những câu chuyện mà không phải ai nghe cũng hiểu vì phải cần người phiên dịch.

            Kế hoạch sẽ thăm ba căn nhà gần nhà thờ mà được cho là nghèo khó đau khổ nhất.           

Ghé căn nhà đầu tiên vì không được báo trước nên chủ nhà cứ lúng ta lúng túng vì cái nghèo, vì sợ bất kính. Ngay cả ghế để mời khách ngồi cũng không có. Gia đình có 5 đứa con, hai đứa con gái phải bỏ học ở độ tuổi 15, 17 để đi Sài Gòn tìm việc làm. Thử hỏi cái độ tuổi ấy thì làm được việc gì ngoài việc ở đợ. Vì nghèo quá họ đành nhắm mắt xuôi tay để con bôn ba nơi xứ lạ đất khách quê người mưu sinh. Đứa thứ thì bị nhiễm chất độc màu da cam lơ ngơ lẩn ngẩn. Hai đứa con trai nhỏ một 10 tuổi, một 13 tuổi mắt sáng quắc được cho là thông minh, học hành tốt. Hai vợ chồng làm thuê làm mướn. Cuộc sống lắm đắng nhiều cay.

            Đức Tổng loay hoay, các cha lựng sựng một lúc cũng mượn được vài cái ghế để ngồi. Ngài ân cần hỏi thăm từng thành viên trong gia đình, tên, tuổi, tên thánh. Sâu trong đáy mắt Ngài có sự đồng cảm xót thương khi nghe chuyện của con bé bị nhiễm chất độc màu da cam. Hai cậu bé nhỏ thì Ngài mời đến hỏi chuyện thân tình. Ngài khuyên đi học tiếng anh. Chạm vào đứa bé Ngài nói sau này học tốt làm linh mục; xoa đầu đứa lớn Ngài nói còn con làm Giám Mục.

Hai đứa nhỏ có đôi mắt sáng long lanh. Ngài đã để lại cho họ hình ảnh và tấm lòng Mục tử. Người chủ lặn lội đi tìm chiên. Người Cha đi tìm kiếm thăm viếng những đứa con cù bất cù bơ nghèo khổ. Ngài đã ngồi xuống để họ được đụng chạm vào một Đức Ki-tô giữa đời thường. Họ được bám víu vào lòng thương xót của của đấng chuyển thông từ Ngài. Tâm điểm của cuộc viếng thăm là tất cả hiệp ý trong lời kinh để dâng lên Chúa gia đình đau khổ này là hiện thân của gia đình thánh tâm ngày xưa. Nhờ sự cầu bầu của Đức trinh nữ Maria và sự bảo trợ của thánh Giuse họ sẽ tiếp tục dìu dắt nhau trên đường lữ thứ.        

Lội qua thêm một quãng đồng để thăm gia đình thứ hai. Không cái nghèo nào giống cái nghèo nào. Không cái khổ nào được đặt rõ tên họ để xưng. Họ chìm nghỉm trong bế tắc. Hai vợ chồng độ tuổi ngoài 50. Nhà mười đứa con. Sáu người lớn đã có gia đình ra riêng cũng không khá giả để giúp đỡ. Còn bốn đứa nhỏ thì một đứa 15 tuổi tôi đoán chắc do sốt bại liệt. Không đi được chỉ bò, không biết nói. Lúc Đức Tổng và các Cha bước vào nhà thì mọi thứ chăn màn bừa bộn trên chiếc giường , căn nhà nhỏ xíu đủ cái bàn thờ Chúa và cái gường nằm chắn ngang lối. Không có ghế ngồi Đức Tổng tươi cười vén ngay chiếc áo dòng ngồi xuống nền gạch rồi vời đứa bé bị tật đến. Thoạt đầu nó phản kháng không muốn bò ra. Nhưng với ánh nhìn yêu thương  và nụ cười thân thiện thằng bé bò ra ngoài cửa sát bên Ngài vỗ tay mừng. Đức Tổng hỏi chuyện và người mẹ kể. Nó kêu mẹ không biết bị sao từ nhỏ đến giờ năm nay 15 tuổi rồi. Nó ra dấu kêu đi kéo hai cái chân nó ra giống mẹ nó để nó được đứng lên đi. Mẹ em bảo không có tiền nó chỉ vào túi. Người mẹ ngậm ngùi. Ai cũng cảm thương.

Càng cảm thương hơn khi nhìn thấy người cha với cái chân sưng to vù. Ngài chỉ vào hỏi có đi bệnh viện chăm sóc không? Câu chuyện của họ là anh té từ nốc nhà xuống và bị thương phải nằm viện nhưng vì không tiền nên về. Đức Tổng  ngồi lại bên thềm nhà nghèo khó này rất lâu. Tôi tin rằng Ngài đang tận hưởng cuộc gặp gỡ một Đức Ki-tô không lành lặn với đầy thương tích. Ngài đang rất sung sướng vì được đụng chạm vào gia đình Nazaret khó nghèo. Ngài đang lắng đọng tâm hồn để chiêm ngưỡng và đang chìm ngập trong biển lòng thương xót của Chúa Cha. Tôi đọc được từ trái tim Mẹ Giáo Hội niềm cảm thông sâu sắc với đứa con ngụp lặn trong biển đời đau khổ. Tôi thấy họ run lên vì sung sướng khi đã được đụng chạm vào nhau, nỗi đau đang được vơi đi niềm hạnh phúc dạt dào đang được lan tỏa. Thánh giá nào rồi cũng dẫn đến vinh quang. Phía trước là vầng hào quang của nến phục sinh đang tỏa rạng. Rồi đây tình thương sẽ được phủ đầy trên nóc nhà này, bao trùm những con người khốn khổ hôm nay. Giọt sữa mẹ Giáo Hội đang chắt chiu cho họ nguồn sống. Tôi tin vậy!           

Căn nhà thứ ba chúng tôi đến. Thực ra nó chỉ là một túp lều. Một người Mẹ già đơn độc, thân hình còm cõi bệnh tật. Đang ngồi lặng buồn trên chiếc võng. Nhìn theo nấm mộ sát bên nhà. Khi bước đến Đức Tổng đã khòm xuống để hỏi chuyện rất gần và rất gần. Tôi đã nuốt cảm được tấm tình Người cha qua cuộc thắm viếng này. Căn lều nhỏ bé rách nát là một chứng tích cho tình người te tua tan nát trong cách sống và cách hành xử của gia đình và những con người trong gia đình thời nay. Đang sống trong năm thánh gia đình làm cho tôi liên tưởng đến một điều thân phận của người phụ nữ sao mà buồn thảm thế. Bà lão có chồng và sinh mười đứa con, sinh họ ra và nuôi lớn, họ lập gia đình, ông qua đời. Tuổi già lủi thủi trong túp lều lộng gió. Lâu lâu đứa A ở xa về ghé cho cho trăm ngàn. Cô đơn quá, quạnh quẽ quá, tuổi già lay lắt, buồn hắt buồn hiu. Một bộ mặt khác của Đức Ki-tô. Bộ mặt này hằn lên những nếp nhăn lởn vởn phía trước chút màu khói buồn tênh.

Đức Tổng cúi xuống để nâng bà lên, để trò chuyện. Ngài hỏi tên thánh như để khắc sâu vào lòng. Ngài nói thánh Maria đẹp lắm vì hôm nay là Lễ Truyền Tin. Cầu nguyện cùng Đức Maria cho bà có được bình an trong tâm hồn. Ngài hỏi và nhắc nhở bà thường xuyên lần chuỗi, chạy đến với Đức Mẹ để Mẹ sẽ bầu cử cùng Chúa và cùng đích là được hưởng hạnh phúc bất tận đời sau. Mọi người hòa mình vào lời kinh để cùng cầu xin ơn an lành. Ra đi Đức Tổng đã để lại chút lòng thương xót của Thiên Chúa giàu lòng xót thương. Tôi thấy giọt nước mắt lăn dài trên má người đàn bà đau khổ này. Giọt nước mắt sung sướng vì được mẹ Giáo Hội ôm vào lòng xoa dịu. Bà đang tận hưởng khi Đức Tổng nói “Hẹn gặp lại”. Tôi tin chắc rằng mọi người sẽ gặp lại nhau trong lòng Cha từ ái.

            Chúng tôi một đoàn gồm có cả người lớn và trẻ con đã tận mắt nhìn thấy “Nét đẹp của Người ngồi xuống”: Ngồi xuống để đụng chạm vào nỗi thống khổ của người khác; Ngồi xuống để được gần gũi hơn; Ngồi xuống để cảm nhận một lần thân phận của người khác để cảm thông và chia sớt; Ngồi xuống để cái tôi bé nhỏ lại và hình ảnh Đức Ki-tô được vươn lên cao và đi xa vào giữa lòng thế giới.

            Xin cho mọi người luôn biết ngồi xuống và ngồi xuống để nét đẹp rạng tỏa cho đời, để tình yêu thương được lên ngôi giữa cái thế giới còn quá khác biệt hôm nay.

            Tiểu Hổ – Gp Cần Thơ

——-

VÒNG TAY SONG NGUYỀN gởi

Lời hay ý đẹp

Một cũng chấp mà hai cũng chấp
Chất chứa trong lòng chi mà khổ
Trăm điều bỏ, ngàn điều cũng bỏ
Thong dong tự tại thế mà vui

Anh chị Thụ & Mai gởi

Hai linh mục đệ đơn phản bác truyền thông Nhà nước

Hai linh mục đệ đơn phản bác truyền thông Nhà nước

RFA
2017-04-06
 

Linh mục Đặng Hữu Nam (trái) và linh mục Nguyễn Đình Thục hướng dẫn giáo dân đi kiện Formosa.

Linh mục Đặng Hữu Nam (trái) và linh mục Nguyễn Đình Thục hướng dẫn giáo dân đi kiện Formosa.

Courtesy of fvpoc.org
 
 
 Vào ngày 6 tháng tư đã diễn ra buổi họp phản hồi công văn 333-UBND giữa hai Linh mục Đặng Hữu Nam và Linh mục Nguyễn Đình Thục, đại diện cho các linh mục hoạt động trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu diễn ra tại UBND huyện Quỳnh Lưu.

Công văn phản hồi với chữ ký của 19 linh mục đại diện cho hơn 30 ngàn giáo dân huyện Quỳnh Lưu dẫn chứng điều 11 của pháp lệnh nêu rõ quyền thực hiện nghi lễ tôn giáo, giảng và truyền đạo.

Công văn 333-UBND do UBND huyện Quỳnh Lưu gửi đến các linh mục ngày 17 tháng 3 vừa qua đòi hỏi các linh mục phải xin phép chính quyền và các cơ quan chức năng khi làm lễ ngoài phạm vi giáo xứ. Công văn này còn nhấn mạnh việc bà con ngư dân phản đối công ty Formosa gây ô nhiễm, không đảm bảo an toàn giao thông và ảnh hưởng đến các vấn đề khác.

Linh mục Đặng Hữu Nam thuật lại qua thông tin gửi cho các cơ quan truyền thông cho biết phía UBND huyện gồm Chủ tịch Trần Danh Lai, phó chủ tịch Hồ Ngọc Dũng và ba cán bộ thuộc các ban ngành. Cũng trong bản tin gửi đi, linh mục Đặng Hữu Nam cho biết Chủ tịch Trần Danh Lai có hứa sẽ có công văn cải chính trong vài ngày tới.

Người phụ nữ gốc Việt sẽ là Đại sứ Pháp ở Campuchia?

Người phụ nữ gốc Việt sẽ là Đại sứ Pháp ở Campuchia?

pháp
Bản quyền hình ảnhFB EVA NGUYEN BINH
Bà Eva Nguyễn Bình (trái) và ca sĩ Đồng Lan trong một sự kiện tại Hà Nội

Người được chính phủ Pháp chọn làm tân đại sứ tại Campuchia “có liên hệ với Việt Nam, cha là người Việt”.

Tờ Cambodia Daily hôm 5/4 cho hay, Tổng thống Pháp Francois Hollande chọn bà Eva Nguyễn Bình, phu nhân Đại sứ Pháp tại Việt Nam [ông Jean-Noel Poirier], là tân đại sứ Pháp tại Campuchia.

Theo trang Le Petit Journal, Tổng thống Hollande bổ nhiệm bà Nguyễn Bình từ hôm 8/2, cùng với 27 đại sứ Pháp tại các nước khác.

Trước khi được bổ nhiệm vào vai trò mới, bà từng là Tham tán Hợp tác và Văn hóa của Đại sứ quán Pháp và là Giám đốc Viện Pháp tại Việt Nam.

Trả lời một báo Việt Nam hồi 2016 bà cho hay tên của bà là Nguyễn Bình Thanh Hương do cha bà, một người Việt Nam sang Pháp du học, đặt cho.

Nhưng vì tên Thanh Hương khó đọc nên mẹ bà là người Pháp đã đặt thêm tên châu Âu cho bà.

Bà cũng cho hay bà có (chị) em gái là Thanh Nga.

Bà Eva Nguyễn Bình cho hay bà từng học tiếng Việt hơn 10 năm trước nhưng nay chỉ có cố gắng để nói một chút và không hiểu tiếng Việt nhiều, theo bài trên vietnamnews.vn tháng 3/2016.

 

Nếu chính phủ Campuchia xác nhận việc bổ nhiệm, bà Nguyễn Bình sẽ trở thành người phụ nữ đầu tiên nhận vai trò đại sứ Pháp tại Campuchia.

“Mây vẫn chưa về gom bớt nắng,

Suy Tư Tin Mừng Chúa nhật Lễ Lá năm A 09/4/2017

“Mây vẫn chưa về gom bớt nắng,
Trần ai đông lắm kẻ si tình.”

(dẫn từ thơ Nguyễn Tất Nhiên)

Mai Tá lược dịch.

Kẻ si tình, còn đông lắm ở đâu đó, vẫn chưa về gom bớt nắng thành mây. Mây oan khiên. Mây hận thù. Như, tâm tình diễn lộ ở trình thuật rất thương khó, luôn có Chúa.

Trình thuật nay, tuy mang tựa đề Bài Thương Khó của Đức Giêsu, nhưng vẫn không là chuyện khó thương với con người. Chí ít, là thương tình Chúa chấp nhận một khổ nạn. Thương tình người sầu não suốt canh thâu. Khổ nạn Chúa lĩnh nhận cả một đời, nhờ Ngài mặc lấy thân phận con người, ở trên đời. Khổ nạn một đời, không chỉ kéo dài mỗi 33 năm, tựa giây phút rất chóng qua.

Khổ nạn Chúa chịu, khởi sự từ thôn làng nhỏ bé rất heo hút vùng Galilê, đi qua Capharnaum chốn địa bàn làm nền và trải rộng khắp quê nghèo hẻo lánh, để rồi Ngài lại về Giêrusalem dự lễ Vượt Qua, chóp đỉnh một đại cuộc hùng tráng, rất Kitô.

Trình thuật Vượt Qua, ta quen gọi là Lễ Lá, đưa dẫn người nghe đi vào truyện kể rất thương tâm và kết cục bằng nỗi chết nhục trên thập tự. Là trình thuật, nên bao giờ cũng có trình và có thuật về những sự kiện lớn xảy đến với Chúa. Sự kiện lớn, là trình thuật cứu độ Chúa vượt qua nỗi chết rất hoàn tất để rồi Ngài sẽ trở về với Sống Lại vinh quang, rộn rã. Rất Mêsia.

Vượt Qua, là lễ hội đình đám có tới 400,000 người đến từ miền Đông đất nước, vượt qua thung lũng khô cằn, tay họ cầm cành lá vừa đi vừa múa hát để còn nhớ lại biến cố gian khổ ở sa mạc. Vượt, để rồi sẽ qua một khổ nhục cũng rất “người”, hầu khắc phục và đến với vinh quang toàn thắng bằng lễ hội, rất Giêrusalem. Lễ hội Vượt Qua kéo dài những hai tuần lễ với các nghi thức uy nghiêm, khởi sắc mà đón chào Đức Chúa quang lâm, hiển thánh.

Tham dự Vượt Qua, người người đều hiểu Đức Giêsu đem đến cho họ Vương Quốc Nước Trời, có muôn người. Vương Quốc của Ngài, khác mọi vương quốc ở trần gian, hơn cả vương triều Hêrôđê, Xêda hay tất cả vua quan/lãnh chúa, rất độc đoán. Vương Quốc Ngài đem đến, là lời hứa đưa họ thoát khỏi xiềng xích nô lệ, khó nghèo, tật bệnh, tức trái nghịch với mọi vương quốc chốn gian trần.

Vương Quốc Nước Trời, là “Lời” quyền phép, có sức thuyết phục người La Mã phải lắng tai nghe. Họ vốn nghĩ, chỉ có vương quốc của họ với 25 đạo quân hùng dũng mới là vương quốc thực thụ. Để rồi, khi nghe Chúa nói về Vương Quốc Nước trời, mọi người mới vỡ lẽ ra là quyền bính ở dưới thế, chỉ là phó bản của hệ thống tham tàn, độc ác, nhiều chết chóc. Đại diện cho hệ thống này, xuất phát từ trời Tây rất lẫy lừng, theo sau là đám công hầu khanh tướng rất kênh kiệu, ngạo mạn. Tên của họ là những Cai-Pha, Philatô hoặc gì gì đi nữa được nhấc nâng để bách hại đám dân hiền phải đóng thuế cho ngoại bang, rất La Mã.

Hệ thống vương quyền tạm bợ chỉ muốn tìm chứng cứ để thuyết phục kẻ nắm quyền mà ra lệnh hành quyết Đấng Nhân Hiền dám chỉ trích tính xấu của chế độ. Và, chỉ cần một vài tố giác của chúng dân hoặc của tư tế đoàn nhũng lạm cũng đủ để vị thống đốc tàn ác như Philatô sử dụng nó mà kết án Chúa. Kết án rồi, còn giao cho lý hình hành quyết Ngài bằng giải pháp êm thắm như y vẫn từng làm, là: bỏ đói phạm nhân trên thập tự bằng gỗ giá, ở Gôlgôta.

Treo phạm nhân trên thập tự, là trò chơi do những người phò Philatô lâu này từng nghĩ ra, là để hạ nhục và cảnh cáo những ai muốn nhân cơ hội mà chống đối, hoặc bất đồng. Đó là khổ nhục kế rất dễ nể mà ngành kịch nghệ La/Hy chưa kịp nghĩ đến.

Treo phạm nhân trên thập tự, là trò đời để làm nhục phạm nhân ngay từ đầu, như luật Torah Do thái từng ghi chép. Là, phương cách bách hại/hành hình rất hữu hiệu được kể trong sách Đệ Nhị Luật. Và, là qui cách mà toàn dân cùng dư luận quần chúng vẫn chấp nhận, từ thời đó.

Trường hợp của phạm nhân Giêsu, kẻ chủ mưu cuộc bách hại rất công khai còn sử dụng để hành hạ Ngài đến mức độ siêu đẳng, bằng cách đưa đem Ngài ra khỏi môi trường thánh thiêng, quen thuộc ở trong thành. Treo thân xác Ngài ở ngoài thành rồi đóng đinh, rồi còn nhục mạ danh tánh Ngài ở trên đó bằng các tiếng Latinh, Hy Lạp và Do thái, là cách nhục mạ và xoá tên Ngài khỏi sổ bộ đời. Tức, một hình thức trừ khử rất khốn khổ mọi hậu hoạ, để mọi người không ai còn biết đến nữa. Làm như thế chính Ngài lại đã tự giải thoát theo cách mà kẻ chủ mưu bách không nghĩ ra.

Chính vì thế, hôm nay, dân con/đồ đệ Ngài đã có lý để nguyện cầu mà nói lên sự thật còn tiềm ẩn qua tuyên tín: “Tôi tin Đức Kitô chịu nạn chịu chết trên thánh giá.” tức bảo là: tôi tin vào Đấng đã bị người đời hạ nhục và làm khổ. Nhưng Ngài hoàn toàn tự do, không còn bị quần chúng hoặc đám người “tự tung tự tác”, “xưng hùng xưng bá” của thể chế chính trị nào đó vẫn muốn hạ nhục Ngài.

Nói lời tuyên tín rất chắc nịch, cũng là nói lên sự tin tưởng vào Đấng tìm ra được sự tự do giải thoát chính Ngài khỏi mọi hệ lụy của đời người. Tìm ra tự do, để lại trở thành chính con người Ngài. Nói lời tuyên tín rất chân thật, là tuyên bố với tất cả sự xác tín mà rằng: chính tôi đây vẫn muốn sẻ san nỗi khổ nhục Ngài từng chịu. San và sẻ sự tự do qua kinh nghiệm đầy tràn về khổ hình nhục nhã trên thập giá. Và, đó chính là niềm tin của chúng ta nơi Đức Giêsu Kitô.

Cũng vì thế, thánh Phaolô mới nói với dân con đạo hữu ở Galát, rằng: “Tôi sống đấy, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi. Hiện tôi sống kiếp phàm nhân (khổ nhục) Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng sống vì tôi.” (Gal 2: 20).

Với giáo đoàn ở Corintô, thánh nhân còn nói:“Chúng tôi luôn mang nơi thân mình sự khổ nhục của Đức Giêsu, để sự sống của Ngài được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi. Thật vậy, tuy sống, chúng tôi hằng bị cái chết đe doạ vì Đức Giêsu, để sự sống của Ngài cũng được biểu lộ nơi thân xác phải chết của chúng tôi.” (2Cr 4: 10-11)

Nói thế, thánh nhân có ý bảo: chúng ta đều bị khổ hình hạ nhục vì dư luận quần chúng, như Đức Kitô từng trải nghiệm. Đã bị hành hạ rất khổ nhục, rồi còn bị coi là đồ vô dụng. Nhưng, ta có tự do như Đức Chúa của ta từng có. Ta tự do như Ngài, và với Ngài, để được Ngài kết hợp ta vào với Cha Ngài là Đấng rất tự do. Đấng Chúa tể của tự do, mọi người biết đến. Điều thánh Phaolô muốn nói, là: ta được san sẻ cùng một khổ hình nhục nhã của Đức Kitô để sự tự do của Ngài mới đích thực ở với ta, và trong ta. Ta sẽ không còn sống theo kiểu quần chúng a dua nhưng sẽ sống theo đường lối Chúa đã sống.

Có thể là ngôn từ ta sử dụng không nói hết được sự thật, nhưng ta cũng hiểu được những sự rất thật ấy. Sự rất thật, là: trong cuộc sống của mỗi người và mọi người, thường vẫn có những khổ giá, nhục hình và đóng đinh. Cuộc sống bị dư luận quần chúng là cho khô cằn, theo kiểu cách rất cằn khô của họ. Tất cả những thứ đó đều gọi là nỗi khổ nhục. Và, ngay trong khổ nhục, mọi người chúng ta đã tìm ra được tự do. Tự do, ta có là do khổ nhục của thập giá. Có được tự do ấy rồi, ta sẽ thong thả lĩnh hội ơn Sống lại, như Đức Kitô đã sống lại từ nỗi chết. Bởi lẽ, chấp nhận thanh tẩy là ta tự dìm mình trong khổ nhục của Đức Kitô. Và từ đó, cùng trỗi dậy và sống lại với Ngài, trong tự do.

Theo chân Chúa để “vượt qua” nỗi khổ nhục Ngài chịu trên thập giá, ta cũng mặc vào người mình niềm hy vọng bao la. Hy vọng, là thu tất cả dân con/đồ đệ của Ngài vào một mối. Mối ấy là hy vọng và tin chắc rằng mình cũng sẽ sống lại, cùng với Chúa. Bởi, mọi khổ nhục của khổ giá cuộc đời đều sẽ kết cuộc bằng sự sống lại rất vinh hiển, Chúa đã hứa.

Trong hy vọng sống lại với Chúa, ta hân hoan ngâm tiếp câu thơ trích dẫn ở trên, rằng:

“Chiều em vui quá, thuở vàng son

Ta bỗng lang thang khắp ngả đường

Ta đi cho hết thời oanh liệt

cho thấu một trời đau đớn riêng!”

(Nguyễn Tất Nhiên – Thục Nữ)

Trời đau đớn, nay đã hết. Thay vào đó, là “thuở vàng son vui quá”, đã sống lại bằng tình thân Chúa hướng dẫn suốt cuộc đời, để người người được vui ngày Chúa “gom mây về cho bớt nắng”. Nắng khổ nhục. Nắng Đau thương. Cả một đời.

Lm Kevin O’Shea CSsR biên-soạn

 Mai Tá lược dịch.

Từ một giấc mơ

httpv://www.youtube.com/watch?v=P6221NQ9M00

 Từ Một Giấc Mơ-Mai Anh Việt-Duy Trác

Chuyện Phi ếm Đọc Trong Tuần thánh năm A 09/4/2017

“Từ một giấc mơ

tôi gặp em niềm vui vỡ bờ”

“Từ một giấc mơ, tôi về trên ngõ cũ ngày nào

Trông vời em dáng áo nhạt màu

Cho lòng thấy đời tôi còn em như giấc mơ.

(Anh Việt Thu – Từ Một Giấc Mơ)

(Mt 21: 28-32)

 Trần Ngọc Mười Hai

Giấc mơ ấy. Ước vọng này. Hôm nay, vẫn quay về với người trong cuộc ở ngoài đời và trong Đạo. “Giấc Mơ” nào đây, hỡi nghững người “về trên ngõ cũ ngày nào” trong đời sống. Để thấy “đời tôi còn em như giấc mơ.” Giấc mơ hay mộng ước, cũng đều là những mộng và những ước mọi sự trở thành hiện thực. Giấc mơ, của người nghệ-sĩ thì thế này:

“Em như trái cấm đậu vườn thiên thai

Ngập ngừng chân ai quên chiều nay đời du tử

Em như tiếng suối dạt dào khôn nguôi

Tràn ngập tim tôi một trời xa xôi

Khi bờ môi còn khô tiếng cười

Tôi như nắng cháy ngoài đồng khô khan

Cỏ buồn hoang mang mong giọt mưa về thăm hỏi

Tôi như cánh lá rụng vàng quanh sân

Chiều nào gió đến một mình bâng khuâng

Bao giờ mang tình tôi tới người.

(Anh Việt Thu – bđd)

Còn, giấc mơ của đấng bậc vị vọng trong chốn chóp bu của Giáo-hội, lại được diễn-tả như sau:

“Hôm ấy, đọc xong Tin Mừng theo thánh Mátthêu đoạn 21 câu 28-32, Đức Phanxicô đã diễn-giải về thiên-chức linh-mục với lời căn-dặn, bảo rằng: Linh-mục nào thấy chỉ mỗi mình làm đúng lẽ phải, rồi tìm cách tri-thức-hoá tôn-giáo, thì các vị ấy rồi ra cũng sẽ kết-thúc đời mình bằng những sự/việc gây tổn-thương và khai-trừ người phạm tội, khi họ thực-sự hối-lỗi. Đức Giáo-hoàng cũng nói: các linh-mục/tư-tế như thế chỉ biết chống-đỡ cho các luật do mình tạo, nhưng lại xoá sạch lề-lối Thiên-Chúa lập ra khi Ngài truyền cho Abraham: hãy ra đi khi Ta đang hiện-diện và sống không chút tì-vết nào hết.” (X. Carol Glatz, Priestly Vanity Ruins Mission: Warns Francis, The Catholic Weekly 25/12/2016 tr. 20)

“Từ một giấc mơ” hay từ một ước vọng là mình sẽ đi đến hiện-thực, là cả một quãng đường dài cũng rất khó. Khó đo đạc hoặc cân đong cả với thời-gian và không-gian, lẫn ý-chí rất đường dài. Đo hay đếm, vẫn là những thứ cần thực-hiện bằng lời nguyện cầu, khá thâm sâu.

Và hôm nay, đi vào thực-hiện “một giấc mơ” nhờ nguyện-cầu là thực-trạng tâm-linh có nguyện và có cầu thật, nhưng không âu-sầu, ủ-rũ. Trái lại, vẫn quyết-tâm đeo đuổi một “giấc mơ” hoặc “ước vọng” rất mong chờ. Mong và chờ, sự thể mình vẫn ước-nguyện được trở-thành hiện-thực.

Nguyện-cầu cho ước vọng “từ một giấc mơ” của mình thành hiện-thực, lại có đấng bậc khác cũng rất tên tuổi trong Đạo Chúa từng có lời nhận-định như sau:

“Thế nào là nguyện cầu cho ước vọng của mình ư?

Nguyện cầu bao giờ cũng mang khía-cạnh thần-thoại, bí-ẩn hết. Nói cách khác, thì đó là trải-nghiệm về sự hiện-diện của Thiên-Chúa. Như thế, tức là: công-nhận Thiên-Chúa đích-thực hiện hữu. Như thế đã là nguyện cầu. Thế nhưng, nguyện cầu lại cũng có khía cạnh của một thỉnh-nguyện, như ta thấy rõ ở “Kinh Lạy Cha”.

Khi ta khẩn cầu và nguyện-ước Thied6n-Chúa cho Nước Trời của Ngài mau đến; ta lại mong ước Ngài thực-hiện ý-định của Ngài; rồi ta yêu-cầu Ngài thứ-tha mọi lội tội và cầu mong cho có đủ thức ăn bổ dưỡng hằng ngày, thì đó là yêu cầu, là mộng ước. Nguyện cầu ở các đạo độc-thần luôn mang đặc-trưng của những yêu-cầu và đòi hỏi. Ta thường đòi hỏi nhiều điều và nhiều thứ cho chính mình khi ta yêu cầu Nước Trời mau đến, tức những phúc hạnh của con người và cho con người, nhưng hoàn toàn bỏ mặc sự hiện-diện tuyệt-đối của Thiên-Chúa. Trong nguyện cầu, có hai khía-cạnh luôn có ở đó: một, là ngợi ca Thiên-Chúa bằng việc chấp-nhận Ngài hiện-diện cách tuyệt-đối, và khía-cạnh kia là đòi hỏi thứ gì đó cho mình và cho người.”  (X. Edward Schillebeeckx, I am a Happy Theologian, SCM Press Ltd 1993, thì đó là sự trải-nghiệm r. 60)

Thế đó là nguyện và cầu, xuất “từ một giấc mơ”. Thế đó là sự thật về những nguyện và cầu rất ước và rất mơ. Thật ra thì, mỗi khi nguyện và cầu, ít co ai để ý đến vế trước, tức: chuyên chăm ngợi ca Thiên-Chúa mà chấp-nhận Ngài hiện-diện cái đã, rồi mới đi vào hiện-thực việc gì đó cho người đời.

Lại có một sư thật khác nữa, là: khi nguyện cầu, người người thường có thói quen chạy đến với Mẹ Hiền là Đức Maria. Người người lại cứ coi Mẹ Hiền nhiều quyền-thế hơn cả Người Con, tức Đức GIêsu rất Con Người. Và, đấng bậc vị vọng nói ở trên, lại đã định-nghĩa Đức Maria rất thương mến như Chị Cả của tín-hữu, như sau:

“Sau khi Công Đồng Vatican II kết thúc, Giáo-hội ta cũng ít bàn về Maria-học. Nay, thì Giáo hội nhấn mạnh nhiều vào tương-quan giữa Đức Maria và Chúa Thánh Linh. Đức Maria đây, là Đức Maria ở Tin Mừng qua các câu truyện về thời thơ-ấu của Đức GIêsu. Từ các truyện ấy, ta có nền-tảng của ngành Maria-học, đặc biệt là Tin Mừng thánh Gioan đề-cập nhiều về mối tương-quan giữa Đức Maria và Thánh Thần Chúa. Đây lại là mẫu số chung thấy được ở các giáo-hội khác nữa. Sự thật thì các danh-xưng chỉ về Đức Maria đều là tên gọi của Giáo-hội. Mọi tước hiệu trong các kinh cầu lâu nay cũng qui về Giáo-hội của Chúa. Đối với riêng tôi, thì danh-xưng của Giáo-hội đều xuất từ danh-xưng có từ thuyết thần-linh, mà thôi. (X. Edward Schillebeeckx, sđd, tr. 61-62)

Kể cũng lạ. Nghệ-sĩ nhà mình đã đoán già/đoán non về một tình-huống thân quen của người đời đi Đạo, cũng xục-xạo khắp chốn để tỏ-bày về “một Giấc Mơ” đối với Mẹ Hiền hoặc Người-Cha-Trên-Trời, bằng lời thi-ca đậm-đà tình-tiết, rất như sau:

“Em nhung với gấm về từ xa xăm.

Làm đẹp nhân gian, nên vườn tôi còn xanh mãi.

Tôi ôm phiến đá ngồi chờ trăm năm.

Ngày ngày khắc dấu thành từng câu ca.

Trên đồi son tình tôi đã già.

Tôi mơ thấy dáng người về trong tranh.

Huyền hoặc mong manh, hương từ hoa là hơi thở.

Yêu em đã hoá thành tù chung thân.

Từng chiều vui chân đợi chờ không lâu.

Tôi và em tình yêu bắt đầu.”

(Anh Việt Thu – bđd)

“Từ Một Giấc Mơ”, có thể là ước vọng nói chung của toàn thể nhóm/hội Đạo Chúa. Giấc mơ hay ước vọng, có được các đấng bậc vị vọng trên cao trong nhà Đạo biết xin lỗi người khác, dù người ấy có là người đen-đủi/thấp hèn mãi tận châu Phi hay đâu đó, như sự việc mới xảy ra trong Giáo hội của Chúa, sau đây:

“Đức Thánh Cha xin tha thứ vì những lỗi lầm của Giáo hội 

ĐTC Phanxicô kêu gọi sự tha thứ đối với ‘những lỗi lầm cũng như thất bại’ của Giáo hội trong suốt cuộc diệt chủng Rwanda. 

Tòa Thánh đã công bố báo cáo sau cuộc gặp gỡ của ĐTC Phanxicô với Tổng thống Paul Kagame. 

Hôm nay, thứ Hai 20/3, ĐTC Phanxicô đã kêu gọi sự tha thứ đối với “những lỗi lầm cũng như thất bại của Giáo Hội và các thành viên của mình” trong cuộc diệt chủng năm 1994 của Rwanda đồng thời phát biểu với tổng thống Rwanda rằng Ngài hy vọng lời xin lỗi của Ngài sẽ giúp đất nước này có thể được chữa lành. 

Trong một tuyên bố ngoại thường sau cuộc gặp gỡ của ĐTC Phanxicô với Tổng thống, ông Rwanda Paul Kagame, Tòa Thánh thừa nhận rằng một số linh mục và nữ tu Công giáo “đã bị đè bẹp bởi hận thù và bạo lực, để rồi phản bội lại sứ mệnh Phúc Âm của mình” bằng cách tham gia vào cuộc diệt chủng. 

Trong cuộc diệt chủng kéo dài 100 ngày, hơn 800.000 người thuộc dân tộc Tutsis và Hutus ôn hòa đã bị các phần tử cực đoan người Hutu giết hại. 

Nhiều người trong số các nạn nhân đã bị sát hại dưới bàn tay của các linh mục, tu sĩ và nữ tu, theo tường thuật của những người sống sót, và chính phủ Rwanda cho biết nhiều người đã phải thiệt mạng trong các nhà thờ nơi họ tìm kiếm nơi ẩn náu. 

Tòa Thánh cho biết ĐTC Phanxicô “đã bày tỏ ước muốn rằng sự thừa nhận khiêm tốn về những lỗi lầm cũng như những thất bại của thời kỳ đó – vốn chẳng may đã làm biến dạng diện mạo của Giáo hội – có thể góp phần làm ‘thanh lọc những kí ức đau buồn’ đồng thời có thể thúc đẩy – bằng niềm hy vọng và canh tân sự tin tưởng – một tương lai Hòa bình”. 

Tuyên bố của Tòa Thánh đã được chính các Giám mục Công giáo Rwanda đưa ra trong năm qua sau lời xin lỗi chính thức năm ngoái vì “tất cả những sai lầm mà Giáo hội đã mắc phải”. 

Trong những năm sau đó, Giáo Hội Công giáo địa phương đã phản đối những nỗ lực của chính phủ và các nhóm nạn nhân nhằm thừa nhận sự đồng lõa của Giáo hội trong các vụ giết người hàng loạt, đồng thời cho biết các quan chức Giáo hội – những người gây ra các tội ác trên – đã hành động một cách riêng lẻ. 

Tòa Thánh cho biết ĐTC Phanxicô đã bày tỏ nỗi buồn sâu sắc của Tòa Thánh và Giáo hội đối với tội diệt chủng đồng thời bày tỏ sự liên đới với các nạn nhân. 

“Gợi nhớ cử chỉ của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong suốt Đại Năm Thánh 2000, một lần nữa ĐTC Phanxicô đã nài xin sự tha thứ của Thiên Chúa đối với những lỗi lầm cũng như những thất bại của Giáo Hội và các thành viên của Giáo Hội”.  (Minh Tuệ – theo Catholic Herald)

“Từ Một Giấc Mơ”, là những giấc mộng khá lơ-mơ/lờ mờ không ra đâu vào đâu. Nhưng đó vẫn là những giấc “mộng/mơ” của nhiều người. Có thể là những người chỉ biết mộng và biết mơ, mà thôi. Mộng, là ước mộng những sự tốt đẹp trở thành hiện thực. Và, mơ là mơ một trời mới/đất mới trong đó mọi người sống gần nhau, bên nhau trong cõi mộng nhưng lại rất mơ về cuộc đời thực-tế ở chốn gian trần.

“Từ Một Giấc Mơ” đây, cũng có thể là nội-dung/ý-nghĩa rất thực của truyện kể nhẹ ở bên dưới:

“Truyện rằng:

Có hai anh chàng thanh niên sống ở nhà quê cùng rủ nhau lên tỉnh thành lập nghiệp vì họ thấy rằng cuộc sống ở quê nhà chỉ vừa đủ ăn, không dư giả, Sau thời-gian dài phấn đấu hơn 30 năm ở tỉnh thành, hai người đã tạo lập được một cuộc sống sung-túc về vật chất. Anh A trở-thành chủ một hang xe đò, anh B có hơn 2/3 cổ-phần trong một nhà máy dệt. 

Vì là bạn nối khố từ nhỏ nên sau khi thành-công trên đường sự nghiệp, hai người vẫn tiếp-tục chơi thân với nhau. 

Một hôm, hai người bỗng này ra ý-định trở về quê nhà nơi họ chôn nhau cắt rốn, trước là để thăm lại đình làng bé nhỏ trước kia, sau là để thực-hiện giấc mơ hồi hương áo gấm về làng như những quan Trạng ngày xưa. 

Khi xe hơi chở họ về đến đầu làng, cả hai cùng rủ nhau xuống đi bộ vừa ngắm cảnh vừa chuyện trò. Đến trước đình làng, hai người gặp một ông lão mặc áo trắng, tay cầm chiếc phèng la. Anh A cất tiếng hỏi:

-Ông lão ơi, ông đang làm gì vậy?

Ông lãi điềm nhiên trả lời:

-Ta là Thành hoàng giữ phúc phần cho làng này, ngoài việc giữ yên ổn cho dân làng, ta cũng cai quản vấn đề sinh tử của mọi người nữa. Ta đến báo cho hai người biết là mạng sống của các người chỉ còn ba ngày. Ba ngày sau ta sẽ đến đón hai người về cõi âm. Khi ta nổi một hồi phèng la thì hai người phải đi theo ta để về trình-diện ngài Diêm-vương mà không được chậm trễ. 

Nói xong, ông lão biến mất để lại hai anh chàng đứng ngẩn người như ngây như dại. Thử tưởng-tượng ngày áo gấm về làng cũng là ngày biết được cuộc đời chỉ còn ba ngày cuối cùng thì ai không đâm ra hoảng-hốt. 

Anh A thấy rằng cuộc đời nhạt-nhẽo không còn gì gọi là thú vị, 30 năm phấn đấu để cuối cùng đổi lấy cái chết cận kề trong khoảnh khắc. 

Về đến nhà, anh ta ăn không ngon ngủ không yên, mà cũng chẳng lo sắp xếp được gì cả. Đến lúc bấy giờ anh mới nghiệm ra rằng dù tiền bạc có nhiều ức vạn đi nữa cũng không thể nào đánh đổi được sinh mạng đáng quý. 

Chưa đến ba ngày, thần sắc của anh bơ-phờ như một thây ma, mặt anh đầy những vết nhăn, râu ria mọc lún phún, cặp mắt thì đờ đẫn, thất thần. Ngày thứ ba, anh thức dậy thật sớm, lựa ra bộ đồ sang trọng đắt tiền nhất mặc vào người và đứng trước cửa đợi lão tử thần đến trước. 

Chiều tối hôm đó, quả thật anh thấy ông lãi mặc áo trắng, tay cầm phèng la ngày hyo6m trước xuất-hiện. Ông lão chưa kịp going lên hồi phèng là thì anh A đã lăn đùng ra chết. Vì quá khẩn trương nên ba ngày cuối cùng của anh đã mỏi mòn trong sự chờ đợi, do đó khi thấy thần chết xuất-hiện là anh xuất hồn đi theo ngay lập tức. 

Trở lại phần anh B, sau khi nghe vị thần chết tuyên bố bản án tử-hình, anh cũng thấy mủi lòng. Thế nhưng, tánh tình của anh B vốn rất an-phận, anh nghĩ rằng nếu như số mạng của anh có đi đến chỗ chấm dứt thì không có cách nào thoát được. Vì nghĩ như vậy, nên anh mang tất cả tiền bạc đã tạo dựng trong 30 năm ra làm của bố thí. Trước hết, anh cất một trường học ở quew6 nhà để giúp cho trẻ em nghèo khổ có nơi học hành. Sau đó, anh giao tiền cho quí vị hội-đồng xã xây-dựng một bệnh-xá nhằm giúp những người dân quê không có tiền lên tỉnh thành trị bệnh. 

Của cải còn lại, anh mang ra phụ giúp việc xây đường, dựng cầu mang lại tiện-ích cho cuộc sống của người dân thôn-dã. Anh cũng trích ra một phần để giúp đỡ những gia-đình đông con không đủ sống đang cần sự trợ giúp tức thời. 

Những công việc này đã tốn hết thời gian của anh. Anh B không còn thì giờ để nghĩ đến cái chết sắp sửa xảy ra cho anh nữa. Những người dân nghèo khổ trong làng đột nhiên nhận được bố thí lơn láo nên họ rấy lấy làm cảm kích. Những người được giúp đỡ, đã tỏ lòng biết ơn họ bằng cách tổ-chức buổi hát ngoài trời, trước là để tạ ơn thần, sau là để tri-ân nhà mạnh-thường-quân tốt bụng. Đoàn múa lân của trẻ trong làng đã đến trước nhà anh B tưng bừng múa giúp vui. Khi mọi người đang hoan hỉ đứng xem thì ông lão tử-thần xuất-hiện vì đã đến giờ ông ta đến đón anh B về âm-phủ.  

Thế nhưng, không hí trước nhà anh B lúc đó quá vui nhộn cho nên mọi người, kể cả anh B cũng không chú ý đế sự xuất-hiện của người lạ mặt này. Thậm chí có một chàng trai trong làng thấy ông lão tay cầm phèng la đã tưởng nhầm ông là một thành-viên của đoàn múa lân nên kéo ông ta sắp vào hang ngũ những người đánh trống thổi kèn.  

Ông già tử-thần gióng thêm một hồi phèng la gọi hồn, thế nhưng vì không khí đang huyên-náo cho nên tiếng phèng la của ông bị tiếng trống múa lân át mất. Ông già tử-thần cố gắng thử thêm ba lần nữa cũng chẳng ai them chú ý đến. Vì đã đến giờ nên ông buộc lòng phải ra đi. Anh B suốt đêm hôm đó được dân làng đãi đằng ăn uống thật thịnh-soạn.  

Dân chúng trong làng lâu nay mới có một dịp cùng nhau vui vẻ cho nên ai ai cũng liên-hoan cho đến sáng. Sáng ngày hôm sau, anh B cứ tiếp-tục thực-hiện những công việc dở-dang mà anh sắp xếp để phục-vụ cho dân trong làng. Công việc bận rộn liên-tục đã khiến anh quên khuấy mất cái hẹn ba ngày của ông Thành hoàng. Mãi hai ba hôm sau, khi sực nhớ lại, anh lấy làm lạ tại sao đã quá hạn-kỳ mà không thấy thần-chết xuất-hiện. 

Anh đâu biết rằng ông lão có đến nhưng không ai them nghe hồi phèng la của ông nên đã buộc lòng phải bỏ đi. Nhờ vậy mà anh B mới còn tiếp-tục sống dài dài ra đó.” (Người viết truyện: Lâm Thanh Tuyền- Đài Loan)  

Và tiếp theo, là lời bàn của người kể: “Đây là câu chuyện ngụ ngôn rất có ý-nghiã, nói lên chân-lý cuộc sống của con người là phải phấn-đấu từng giây mãi cho đến phút cuối của cuộc đời. Xu-hướng tiến lên sẽ đưa ta đi về đâu? Dĩ nhiên là ta sẽ đi đến chỗ ta hằng mong muốn. Phật-giáo đồ sẽ đi đến thế-giới Cực lạc, còn con chiên Thiên-CHúa giáo sẽ lên Thiên-đàng… 
Thật ra thì, triết-lý cuộc đời không hẳn chỉ như thế. Nhưng, truyện kẻ ở đây cũng nói lên được thái-độ của mỗi người là “Từ Một Giấc Mơ” nào đó, cho đời mình. Thế đó, là ý-nghĩa của câu hát thời thượng “Từ Một Giấc Mơ”… rất hôm nay. Và suốt mọi ngày trong cuộc đời, của bạn và tôi.

Trần Ngọc Mười Hai

Và những ý-tưởng cũng xuất phát    

Từ Một Giấc Mơ

Như bao giờ.

ĐỊNH MỆNH AN BÀI!

 ĐỊNH MỆNH AN BÀI!  

Thời gian nào cũng là thời gian.  Nhưng không phải thời gian nào cũng giống thời gian nào.  Mỗi người sẽ trải qua những giây phút cực kỳ quan trọng. Đức Giêsu đã biết trước những giây phút đó. Cuối đời Người là một chuỗi vinh nhục.

TÌM MỘT CON ĐƯỜNG.

Dù khi vinh quang vào thành Giêrusalem hay tơi tả dưới làn mưa rơi, Đức Giêsu chỉ biết vâng theo thánh ý Chúa Cha mà thôi.  Đó là con đường dẫn tới vinh quang.  Con đường phục vụ luôn sáng chói giữa những tương quan chằng chịt và biến cố bất ngờ.  Tương quan trần gian thật mỏng manh.  Có ai đáng tin cậy hơn các môn đệ?  Thế mà ông Phêrô “chối Chúa trước mặt mọi người” (Mt 26,71).  Giuđa “nộp Đức Giêsu.” (Mt 26,16.48)  “Các môn đệ bỏ Người mà chạy trốn hết” (Mt 26,56).  Cháy nhà mới ra mặt chuột!  Nhưng Đức Giêsu không lệ thuộc vào con người mỏng dòn.  Chỗ dựa không phải là con người.  Sức mạnh cũng không phải là gươm giáo gậy gộc, nhưng là “Cha Thầy” với “mười hai đạo binh thiên thần” (Mt 26,53).  Bởi vậy, Người mới có thể đứng vững trước bao thử thách.  Qua bao đoạn đường gập ghềnh, Người vẫn thẳng bước, vì mục tiêu đã được xác định dứt khoát.

Mục tiêu đó chính là vinh quang Thiên Chúa.  Có lúc vinh danh Chúa Cha và Chúa Con không tách lìa.  Chính lúc vào thành Giêrusalem, Đức Giêsu tưởng như đã lên chín tầng mây với Chúa Cha khi dân chúng tung hô: “Hoan Hô Con vua Đavít!  Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa!  Hoan hô trên các tầng trời.” (Mt 21,9)  Nhưng Người cũng thấy vinh quang Chúa Cha tràn ngập ngay cả lúc nghe những lời nhục mạ: “Ông Kitô ơi, hãy nói tiên tri cho chúng tôi nghe đi: ai đánh ông đó?” (Mt 26,68), hay khi “lính của tổng trấn quì gối trước mặt Người mà nhạo rằng: Vạn tuế Đức Vua dân Do Thái!” (Mt 26,29).  Một nguồn bình an khôn tả khỏa lấp con tim ngay giữa cảnh “kẻ qua người lại đều nhục mạ Người” (Mt 27,39).  Vinh quang vẫn lóe lên ngay trong đêm đen hận thù: “Nếu mi là Con Thiên Chúa… Hắn là Vua Israel!  Hắn đã nói: Ta là Con Thiên Chúa!” (Mt 27,40.42.43).  Đã đến lúc Cha làm vinh danh Con.  Đứng trước các thượng tế và toàn thể Thượng Hội Đồng, Người vẫn khẳng quyết mình “là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa” (Mt 26,65), và trước mặt tổng trấn Philatô, Người xác nhận mình là “vua dân Do Thái” (Mt 27,11).  Đứng giữa đám đông khát máu đang gào thét: “Đóng đinh nó vào thập giá!” (Mt 27,23.25.26), Đức Giêsu vẫn nghiễm nhiên vươn lên như Đấng “Kitô” (Mt 27,22)

Tất cả xảy ra không ngoài “ý cha” (Mt 26,39).  Những lúc “làm thinh” (Mt 26,63) hay “không trả lời một tiếng” (Mt 27,12) là những lúc Đức Giêsu kiên cường bất khuất trước cường lực đối phương.  Người như chìm sâu trong tình yêu Thiên Chúa để tìm một lối thoát cho những bế tắc hiện tại.  Càng nhìn lên cao, Người càng không thấy lý do phải đối đầu với những toan tính thấp hèn như thế.  Chấp nhận cái chết nhục nhã để thi hành thánh ý Cha, chứ không chịu uốn cong ba tấc lưỡi để tìm đường chạy trốn khỏi định mệnh.  Nếu chối bỏ sự thật về mình, chắc chắn Người đã không khơi bùng ngọn lửa căm hờn trong lòng các thượng tế và dân chúng.  Nhưng Đức Giêsu đã không hèn nhát đi tìm một con đường dễ dãi như thế.  Ngay cả khi giang tay trên thập giá, Người cũng không chấp nhận những thách thức rẻ tiền để chứng minh mình là “Con Thiên Chúa” (Mt 27,43).  Không thể tìm thấy chân lý nơi những ồn ào phức tạp đó.  Chính trong thinh lặng và cầu nguyện, Đức Giêsu đã khám phá được tất cả nét hào hùng và dịu ngọt của tình yêu Thiên Chúa.

Tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa, Đức Giêsu đã có thể mạc khải mầu nhiệm Thiên Chúa tình yêu ngay giữa lúc tâm hồn đang cay đắng vì cảnh Giuđa “nộp Người” (Mt 26,48) và “tất cả anh em sẽ vấp ngã vì Thầy” (Mt 26,31).  Chính khi mọi tương giao nhân loại bị bứt tung, Đức Giêsu lại mạc khải “đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26,28).  Máu Thầy đem lại sự giải thoát cho toàn thể nhân loại.  Tất cả kế hoạch thâm hiểm của con người vô tình đã làm cho máu Thầy đổ ra theo đúng chương trình tình yêu của Thiên Chúa.

Khám phá và chấp nhận tất cả chương trình tình yêu Thiên Chúa đòi nhiều sáng suốt và can đảm.  Chính vì vậy, trước khi nộp mình vào tay các quân lính thượng tế và kỳ mục, Đức Giêsu đã cầu nguyện ba lần trong vườn Ghếtsêmani.  Trước giờ phút cực kỳ quan trọng đó, các môn đệ vẫn vô tình như đã vô tình từ trước đến nay.  Lúc nào họ cũng chỉ quan tâm đến quyền lợi riêng.  Họ có thể dùng chính những mỹ từ thân thương và cử chỉ âu yếm để che giấu sự phản bội (x. Mt 26,49).  Những dấu chỉ tình yêu đó và những lời khẳng quyết “không chối Thầy” (Mt 26,35) đều mất hết ý nghĩa.  Có nhiều lúc ngôn từ không mang nổi nội dung diễn đạt.  Nhưng nếu cố tình phản bội nội dung ngôn từ, con người sẽ phải trả giá.  Sau khi nuốt lời hứa, ông Phêrô “ra ngoài, khóc lóc thảm thiết” (Mt 26,75).  Giuđa cũng hối hận không kém: “Tôi đã phạm tội nộp người vô tội, khiến Người phải chết oan.” (Mt 27,4), rồi “Giuđa ném số bạc vào Đền Thờ và ra đi thắt cổ” (Mt 27,5).  Hối hận đến thế vẫn chưa đủ sao?  Tại sao phải thắt cổ mới xứng với việc đền bù?  Thật là một mầu nhiệm.  Giuđa đã trả giá quá mắc!  Chúa có đòi vậy đâu!

NGƯỜI MÔN ĐỆ CHÂN CHÍNH.

Điều Chúa đòi là người môn đệ phải chân thành với chính mình.  Sau khi chối Chúa, ông Phêrô đã “khóc lóc thảm thiết” vì thấy mình quá yếu đuối.  Còn ông Giuđa không hề khóc lóc, chỉ giận dữ lên án chính mình và tự xử cho mình, không kiên nhẫn đợi giây phút trở về với Cha nhân lành.  Từ chỗ ồn ào hăm hở trả giá Thầy, ông đã đụng đầu một cái tôi rối loạn đến nỗi không còn nhận ra sự thật về mình.  Muốn tránh được tai họa thảm khốc đó, “trên hết trong xã hội tục hóa ngày nay, cần phải có một mục tiêu rõ ràng và một ý chí kiên vững, trực tiếp phát sinh từ những nguồn mạch Phúc âm chân chính” (ĐGH Gioan Phaolô II, Zenit: 18.03.2002).  Sống với Thầy suốt một quãng đường dài, nhưng ông Giuđa không hề một lần kinh ngạc về thực tại trước mắt.  Thói quen và lối sống hằng ngày đã bưng mắt không cho người môn đệ thấy sự thật về Thầy.  Mọi sự đương nhiên phải như thế!

Thực tế mọi sự chẳng sẵn sàng như ta tưởng.  Chính Thầy cũng không hiện diện đấy như một thực thể nằm sẵn trong tầm tay.  Không coi Thầy như một giá trị tuyệt đối, không thể khám phá Thầy như một chân lý giải thoát.  Nhất là trong thế giới ngày càng xa lạ với Thiên Chúa hôm nay, con người không biết mình là ai và tại sao mình sống.  Triết lý sẽ giúp con người khám phá ra chiều kích sâu xa đó.  Nhưng chỉ “khi triết lý gặp gỡ Đức Kitô trong Tin Mừng, thì Tin Mừng thực sự mới bắt đầu lan tỏa khắp thế giới.” (ĐGH Gioan Phaolô II, Zenit: 19.03.2002).  Hiện nay, công bố Phúc âm ngày càng gặp nhiều khó khăn vì hoàn cảnh văn hóa phức tạp (ĐGH Gioan Phaolô II, Zenit: 19.03.2002).  Trong thế giới quá ồn ào hôm nay con người không còn thời giờ khám phá những giá trị vô cùng quan trọng và cần thiết cho cuộc sống.  Nếu không thấy mình có “bổn phận nặng nề phải chuyển đạt những giá trị nhân bản, tinh thần và thiêng liêng cho các thế hệ trẻ,” (ĐGH Gioan Phaolô II, Zenit: 19.03.2002) cha mẹ và nhà giáo sẽ không thể cung cấp cho xã hội tương lai những con người chân chính và đầy trách nhiệm đối với xã hội.

Chỉ trong xã hội đầy những con người như thế mới có thể loan báo Tin Mừng về Đức Giêsu như Đấng cứu độ duy nhất cho toàn thể nhân loại.

Sưu tầm

Langthangchieutim gởi

THẾ GIỚI BÀNG HOÀNG SAU CUỘC TẤN CÔNG BẰNG HÓA CHẤT GIẾT CHẾT 100 NGƯỜI

From facebook:  Hoa Kim Ngo shared Tin Mừng Cho Người Nghèo‘s post.
 
Image may contain: 3 people, people sitting and baby
Image may contain: one or more people
Image may contain: 3 people, people sleeping and child
Image may contain: one or more people
Tin Mừng Cho Người Nghèo added 4 new photos.

 

THẾ GIỚI BÀNG HOÀNG SAU CUỘC TẤN CÔNG BẰNG HÓA CHẤT GIẾT CHẾT 100 NGƯỜI

#GNsP – Một người cha đau khổ đã ẵm lấy hai con sinh đôi 9 tháng tuổi của mình, Aya và Ahmed, mỗi cháu một bên tay. Khóc nghẹn ngào trên làn tóc của các cháu, anh ta nghẹn ngào phía sau tai của các cháu run run nói, “Tạm biệt các con, tạm biệt” trước thi thể không còn sự sống của các cháu.

Rồi Abdel Hammed Alyousef đưa các cháu đến một ngôi mộ tập thể nơi 22 thành viên của gia đình anh được chôn cất. Mỗi nhánh trong dòng họ có một hố chôn của mình.

Cuộc tấn công bằng hóa chất đã giết chết 72 người, gồm ít nhất 30 trẻ em và 20 phụ nữ, tại thị trấn Khan Sheikhoun của Syria vào hôm Thứ Ba 04.04 vừa qua. Nhưng số người chết lên đến 100, theo báo cáo cho biết. Hơn 400 người khác đã bị thương.

Gia đình của Alyousef, một trong những tộc chính của thị xã, bị thiệt hại nặng nề nhất.

Một thành viên khác của gia đình, Aya Fadl, đã gợi nhớ lại chuyện chạy ra khỏi nhà mình với đứa con trai 20 tháng tuổi trên tay, nghĩ rằng cô có thể sẽ tìm thấy một nơi an toàn khỏi khí độc trên đường. Thay vào đó, một giáo viên tiếng Anh 25 tuổi đã bị đối diện trực tiếp với nổi kinh hoàng đó: Một chiếc xe tải chất đầy người chết, gồm nhiều người họ hàng và học sinh của cô.

“Ammar, Aya, Mohammed, Ahmad, cô yêu các con những con chim bé nhỏ của cô. Thực sự chúng như những chú chim. Dì Sana, Bác Yasser, Abdul-Kareem, xin nghe con”, Fadle nói, nghẹn ngào trong nước mắt khi cô nhắc lại cách mà cô nói lời vĩnh biệt với người thân của cô trong đống người.

“Tôi đã thấy họ. Tất cả họ đều chết. Tất cả đều đã chết rồi”.
Bi kịch đã tàn phá thị trấn nhỏ. Nó cũng đào sâu sự uất hận mà nhiều người Syria cảm thấy trong những khư vực do phe đối lập chiếm đóng như những cảnh tượng chết hàng loạt, vốn đã trở thành thường lệ ở một đất nước có 6 năm nội chiến, không mang lại sự trả thù hay thậm chí là sự cam kết trách nhiệm nào.

Các nước Hoa Kỳ và Phương Tây đã tố cáo Tổng Thống Bashar Assad về việc đứng phía sau cuộc tấn công, trong khi Syria và người trợ thủ của nó, Nga, đã bác bỏ cuộc tấn công. Bất chấp thế giới lên án, thì việc thực thi công lý là thật khó ở một nơi thiếu vắng sự điều tra độc lập về khu vực có hoá chất của Syria, mà chính phủ khẳng định là nó đã huỷ diệt.

Cả thế giới đang lên án cuộc tấn công. Đức Thánh Cha Phanxicô gọi cuộc tấn công kinh khủng: “Chúng ta chứng kiến những biến cố kinh khủng mới đây tại Siria. Tôi quyết liệt lên án thảm họa không thể chấp nhận được, nơi mà hàng chục người vô tội, trong đó có nhiều trẻ em bị giết. Tôi cầu nguyện cho các nạn nhân và thân nhân của họ, và kêu gọi lương tâm của những người có trách nhiệm chính trị, trên bình diện địa phương và quốc tế, để thảm trạng này được chấm dứt và mang lại sự thoa dịu cho dân chúng yêu quí đã bị kiệt lực từ quá lâu vì chiến tranh. Ngoài ra, tôi cũng khuyến khích nỗ lực của những người đang cố gắng chuyển sự trợ giúp cho dân chúng tại vùng này, mặc dù có tình trạng bất an và khó khăn.”

Fadl nói với AP vào Thứ Tư “Tâm hồn tôi tan nát. Mọi thứ thật khủng khiếp. Mọi người đều khóc và không thể thở”. “Chúng tôi có nhiều hoàn cảnh tại Syria và chúng tôi có nhiều hoàn cảnh khó. Đây là hoàn cảnh khó nhấn và huỷ hoại nhất mà tôi từng thấy”.

Một đội ngũ y tế Bác Sĩ Không Biên Giới đã giám định nhiều nạn nhân trong một bệnh viện gần biên giới với Thổ Nhĩ Kỳ cho biết các triệu chứng là nhất quán với sự thể hiện của tác nhân gây độc thần kinh – ít nhất hai loại hoá chất khác nhau. Sự đánh giá ban đầu của Hoa Kỳ cho biết có hai chất được sử dụng là chlorine và sarin, theo hai quan chức Hoa Kỳ đã không có thẩm quyền bàn về vấn đề công khai và đề nghị giấu tên cho biết.

Các nhân chứng cho biết bốn quả tên lửa đã bắn vào khoảng 6g30 sáng hôm thứ Ba 04.04, tạo ra một hố như miệng núi lửa trên mặt đất.

Alaa Alyousef cho biết gia đình anh đang ngủ và thức giấc trước âm thanh của tác động chỉ cách đó vài trăm mét. Điều đầu tiên họ thấy là khói. Cha của anh đi ra ngoài rồi chạy vội trở vào. Ông đã thấy một phụ nữ đi gần khu vực đã bị bắn ngã quị. Gia đình đã hoảng sợ đóng hết các cửa sổ và làm ướt hết mùng mền và nước dấm táo để đắp lên mặt.

Họ may mắn vì gió đã đổi hướng, Alyousef cho biết.

GNsP (tổng hợp)