8 dấu hiệu vợ chồng bạn sẽ sớm chia tay

 8 dấu hiệu vợ chồng bạn sẽ sớm chia tay

27/12/2017

marblogtin

Khi không minh bạch trong chi tiêu thì các bạn sẽ không thể cùng nhau thiết lập và đạt được các mục tiêu như mua nhà, nuôi dạy con, nghỉ hưu…     

1.Thái độ im lặng

“Đây là một tín hiệu xấu khi các cặp vợ chồng xung đột mà sau đó là thái độ im lặng với nhau. Chắc chắn, đấu tranh giúp cho mối quan hệ lành mạnh nhưng khi vợ chồng thường xuyên cãi nhau thì sẽ trở thành vấn đề nghiêm trọng và kết thúc trong im lặng, bế tắc. Đây không phải là điềm báo tốt cho mối quan hệ thành công trong tương lai”, Jason Levoy , một luật sư về ly hôn ở thành phố New York, (Mỹ) nói.

  1. Đời sống tình dục ảm đạm

“Đây là điều hiển nhiên. Con người có thể không cần sex nhưng mấu chốt chúng ta là những sinh vật sống và tình dục là một nhu cầu tự nhiên. Đúng là có những mối quan hệ không có tình dục nhưng là một luật sư ly hôn, tôi không sốc khi một khách hàng nói với rằng họ đã 5 năm không có ‘chuyện ấy’ với đối tác của họ”, Randall M. Kessler, một luật sư ở Georgia nói.   

  1. Họ có ít điểm chung

“Đừng nghĩ rằng mọi sự đối lập thì thu hút nhau, khi mà bạn cứ giữ những thói quen của riêng mình trong cuộc hôn nhân. Ví dụ, nếu một người hướng ngoại và thích đi đêm, còn người kia thích tắm nước ấm lúc 7h tối, sau đó là một ly sữa, bên cuốn sách hay thì chẳng thể đảm bảo họ sẽ mãi duy trì khoảng cách trong lối sống này được lâu”, Lisa Helfend Meyer, một luật sư ly hôn tại California nói.

  1. Đặt nghề nghiệp trước gia đình

“Sẽ thành vấn đề nghiêm trọng nếu chồng hoặc vợ bạn luôn đặt sự nghiệp của họ lên trên mọi thứ, kể cả mối quan hệ của hai người, dù cho các bạn đã thỏa thuận trước hôn nhân. Đơn cử như công ty của tôi đã đại diện cho một đơn vị trong ngành quân sự mà ban đầu các đối tác của họ phải chấp thuận nhượng bộ và chăm sóc gia đình để người kia có thể thăng tiến. Nhưng trong những năm qua, người vợ hoặc chồng ở nhà bắt đầu bực bội với cam kết này. Thậm chí ngay cả những cặp vợ chồng vốn rất hạnh phúc cũng phai nhạt theo thời gian vì người kia đặt công việc lên trên gia đình”, Christian Denmon, một luật sư ly hôn tại Florida nói.

  1. Khinh miệt nhau

“Không nhìn vào mắt nhau, coi thường và có thái độ khinh miệt nhau là dấu hiệu báo trước mối quan hệ sẽ tan rã. Mặc dù không phải lúc nào các cặp vợ chồng cũng nhìn thẳng vào mắt nhau mới hạnh phúc nhưng họ phải tôn trọng, đánh giá cao sự khác biệt, chứ không phải xem thường sự khác biệt của nhau, không kiêng dè gì khi nói vợ/chồng mình là ngốc, dốt hoặc sai”, Karen Covy, một luật sư tại Illinois nói.

  1. Không tôn trọng ngôn ngữ tình yêu của nhau

“Biết ngôn ngữ tình yêu của vợ/chồng bạn là yếu tố quan trọng để hạnh phúc lâu dài. Thực tế có những cặp vợ chồng yêu nhau nhưng lại không cảm thấy được yêu, bởi vì họ có ngôn ngữ tình yêu khác nhau. Ví dụ, nếu chồng bạn thể hiện tình yêu bằng cách làm những việc có ích giúp vợ hoặc mua quà, còn bạn lại nghĩ chồng không yêu mình, vì anh quá khô cứng, bởi bạn thích yêu qua lời nói, thì rất có thể theo thời gian cảm hứng yêu đương và tình cảm của hai người sẽ bị phai nhạt”, Dennis A. Cohen, một luật sư hòa giải tại California nói.

  1. Không trung thực về chi tiêu

“Hôn nhân là mối quan hệ của hai người và mỗi người đều phải giải thích rõ ràng với người kia trong vấn đề tài chính. Khi tài chính không chung về một mối mà của ai nấy giữ thì rất dễ có chuyện các bạn bị chi tiêu quá nhiều. Nhưng dù cho các bạn tiêu tiền chung hoặc riêng thì cũng cần có sự minh bạch. Khi không minh bạch trong cách tiêu tiền thì các bạn sẽ không thể cùng nhau thiết lập và đạt được các mục tiêu như mua nhà, nuôi dạy con, nghỉ hưu… Việc này là dấu hiệu cảnh báo hôn nhân không thể bền”, Puja A. Sachdev, một luật sư ly hôn tại California nói.

  1. Không bao giờ cãi nhau

“Nhiều vợ chồng có xu hướng tránh những tình huống rắc rối bằng cách che đậy sự thật hoặc bỏ qua, tránh va chạm. Điều này dẫn đến sự oán giận, những mâu thuẫn tích tụ và đây là điềm xấu cho hôn nhân. Vợ hoặc chồng là người bạn, người tâm tình, người mà ta yêu nhất. Bạn sẽ có thể nói bất cứ điều gì với họ, dù nó nghiêm trọng đến đâu”, Douglas S. Kepanis, một luật sư ly hôn tại thành phố New York nói thêm.

Theo VnExpress

HỌC THEO GƯƠNG GIA ĐÌNH THÁNH GIA

HỌC THEO GƯƠNG GIA ĐÌNH THÁNH GIA

“Cười người hôm trước hôm sau người cười”, đây là câu truyền miệng đến với nhân gian mà ở nước nào cũng có, nghĩa là chúng ta đừng có cười chê ai hết bởi hôm trước ta người người thì đến mai người cười lại.   Vâng, thưa nhất là những gì xẩy ra ngay trong gia đình, trong họ hàng của chúng ta.   Thường chúng ta thích chê bai người, nói hành nói xấu người bởi vì chúng ta thiếu tự tin ở chính mình nên đâm ra ghen ghét và tìm cách hạ người ta xuống bằng cách truyền miệng nhau để bêu xấu người mình ghen ghét, có phải?.

Thường con người chúng ta thích sống mầu mè, chuộng vẻ bề ngoài để mọi người thấy rõ tầng lớp đứng trong xã hội của mình như giầu có trong kinh doanh, giầu có trong bằng cấp và giầu có trong sự may mắn mà có được.   Nhưng có mấy ai tỏ ra khiêm nhường trước mặt người đời đâu mà lại không tự khoe về chính mình cùng gia đình mình.   Hay không đủ thì mời mọi người đến để khoe của cải mình mua sắm thật ngay trong nhà để được người ta tấm tắc khen lấy khen để vì mình giầu có thật chớ không phải đứng dựa xe thiên hạ hay vào nhà thiên hạ mà chụp hình rồi bảo là xe và nhà là của mình sắm, có phải?.

Thường con người chúng ta không làm điều gì hay sống theo gương của gia đình Thánh Gia, là một gia đình Thánh thiện, toàn mỹ và luôn kính trọng lẫn nhau; không một ai dẫm chân lên ai hay đi ngược lại với vai vế trong gia đình như trong miền nam chúng ta thấy có rất nhiều người phận làm em nhưng vì giầu có thì lại chễm chệ gọi anh chị của mình là mày xưng tao cách tỉnh bơ như cả nhà cho phép?.   Bởi khi giầu có con người ta đổi từ đen thành trắng, từ trắng thành đen có nghĩa họ đi lột da cho trắng để che đi cái gốc gác nghèo hèn của mình ngày xưa thân ái, có phải?.

Chúng ta có nhớ rằng ngày xửa ngày xưa khi Thiên Chúa có hứa với cha ông chúng ta rằng Người sẽ không luận phạt con cái người bị ngập lụt suốt 40 ngày đêm như trước nữa nhưng thiên tai ở nhiều nơi vẫn cứ còn tiếp diễn từng năm, từng năm là vì sao? Vì có thể, có thể thôi là dân ngày xưa còn ít hơn bây giờ thì quá nhiều.    Và cũng có thể dân ít thì phạm tội ít, dân nhiều thì phạm tội nhiều nên Chúa nổi giận và nói cho cùng thì ai hiểu được Thiên Chúa hay nói trúng được ý Chúa, có phải?.

Thiên Chúa Người luôn yêu thương con người mà Người đã tác tạo ra hình ảnh giống Người nên Người đã cho Chúa Con Giêsu giáng trần để sưởi ấm cho toàn thể nhân loại con người chúng ta … Thấy và hiểu rằng sự giầu có ở trần gian chẳng là gì cả nhưng ơn Cứu Độ của Ngài mới là tất cả và là thiết yếu cho từng con người của chúng ta.    Hẳn ai cũng thấy rằng gia đình Thánh Gia là một gia đình rất ư là nghèo chẳng có gì cả, nhưng cả ba Đấng đều rất hạnh phúc vì sao? Thưa vì ba Đấng đã sống cách tốt đẹp, chu toàn trách nhiệm cùng bổn phận trong gia đình nhỏ bé, chấp nhận tất cả thử thách trong cuộc đời mà Thiên Chúa trao ban trong khả năng, trong thân xác của người phàm, có phải?.

Nên lạy Thiên Chúa là Thiên Chúa càn khôn! Xin thương giúp gia đình của tất cả chúng con cũng cố gắng sống cách tốt đẹp theo gương của ba Đấng để đẹp lòng Chúa và đẹp lòng người.   Tránh cho chúng con sống soi mói, tò mò, nói hành nói xấu người khác rồi thêm mắm thêm muối để mang lại đau khổ cho người mình nói xấu đó … Mà sống chú trọng vào linh hồn sống đời của mình cùng chia sẻ trong gia đình; cho những người khó nghèo với những cảnh đời đau khổ, gánh chịu khác nhau như bị bệnh lạ, bệnh nan y, bệnh AIDS, v.v… Chúng con toàn khắp thế gian cúc cung, bái lạy và hát khen mừng Chúa Giáng Sinh ra đời; Chúa sinh ra đời nằm trong hang đá nơi máng lừa.   Amen.

Y Tá của Chúa,

Tuyết Mai

27 tháng 12, 2017

Bị cáo khủng bố nói sẽ tiếp tục đấu tranh

Bị cáo khủng bố nói sẽ tiếp tục đấu tranh

2017-12-27
 
Bị cáo Đặng Hoàng Thiện bị dẫn ra xe

Bị cáo Đặng Hoàng Thiện bị dẫn ra xe

 Courtesy tintucvietnam.vn
 

Bị cáo cầm đầu nhóm khủng bố mới bị xét xử ở Việt Nam nói rằng sẽ vẫn tiếp tục đấu tranh nhưng chọn phương pháp đấu tranh khác. Một người chứng kiến phiên tòa giấu tên cho đài Á Châu Tự Do biết thông tin này qua thư điện tử (email).

Bị cáo Đặng Hoàng Thiện, 26 tuổi, người được cho là cầm đầu nhóm 15 người bị xét xử tội khủng bố, nói lời cuối cùng trước tòa rằng bị cáo đã chọn sai phương pháp đấu tranh, và bị cáo làm thì bị cáo chịu, không xin giảm nhẹ hình phạt.

Đặng Hoàng Thiện bị tòa án Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh hôm 27 tháng 12 tuyên phạt 16 năm tù và 5 năm quản chế với tội khủng bố. 14 bị cáo khác bị án tù từ 5 năm đến 14 năm. Bạn gái của Thiện là Lê Thị Thu Phương bị 18 tháng tù treo về tội không tố giác tội phạm

Cáo trạng của Viện Kiểm sát Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh cáo buộc các bị cáo này đã cấu kết với tổ chức phản động bên ngoài tiến hành các hoạt động khủng bố, điển hình là vụ là dùng bom xăng tấn công sân bay Tân Sơn Nhất, và phóng hỏa đốt kho xe tang vật ở thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai hồi tháng 4 vừa qua.

Có 4 bị cáo không nhận tội, hoặc phản cung trước tòa. Tất cả những bị cáo này đều bị hình phạt nặng theo đề nghị của Viện Kiểm sát. Người chứng kiến phiên tòa không cho biết tên cụ thể những người này là gì. Tuy nhiên, theo tuyên án của tòa, những người bị án nặng nhất là Đặng Hoàng Thiện 16 năm tù, Thái Hàn Phong 14 năm tù, Nguyễn Thị Chung 12 năm tù, Ngô Thụy Tường Vy và Nguyễn Ngọc Tiền mỗi người 11 năm tù và Nguyễn Đức Sinh 10 năm tù.

Các luật sư bào chữa theo hướng giảm nhẹ hình phạt.

Bằng chứng chống lại các bị cáo được đưa ra trước tòa bao gồm các đoạn chat trên mạng. Một số tài khoản facebook được đưa ra làm bằng chứng đã bị các bị cáo bác bỏ không nhận nhưng không được tòa chấp nhận.

Theo lời khai trước tòa được người chứng kiến thuật lại, có 2 vụ đốt kho xe của nhóm gây tiếng vang là ở sân bay Tân Sơn Nhất và kho xe tang vật ở Biên Hòa, Đồng Nai. Thiệt hại ở vụ phóng hỏa kho xe tang vật ở Biên Hòa được ước tính là khoảng 1,3 tỷ đồng. 6 vụ còn lại được đưa ra trước tòa thực chất chỉ là những ‘chém gió’ trên facebook.

Cáo trạng cũng cáo buộc nhóm đã câu kết với ông Đào Minh Quân, người cầm đầu tổ chức chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời tại Mỹ và Lisa Phạm, cùng nhiều đối tượng khác thông qua mạng xã hội nhằm lôi kéo nhiều người trong nước thành lập các ‘nhóm hành động’ với chủ trương được nêu ra là ‘giết sạch, đốt sạch, phá sạch’.

Bà Lisa Phạm hôm 25/12 đã lên tiếng phủ nhận mọi liên quan của bà với nhóm này. Bà Lisa Phạm nói với Đài ACTD qua điện thoại: ‘Vấn đề là tôi không biết. Nhà cầm quyền cộng sản họ chụp mũ như vậy thôi chứ tôi hoàn toàn không biết mấy người. Tôi không biết họ là ai cả…. Những người này nghe nói là họ chỉ có lên trên mạng coi các thông tin nhưng vấn đề là nhà cầm quyền cộng sản ghép tội như vậy. Họ nói họ khủng bố mà khủng bố gì họ.’

Sau khi tòa tuyên án, một vài bị cáo đã la lớn: phiên tòa bất công. Một bị cáo khi bị áp giải ra xe đã nói với luật sư là mình bị oan.

Vài câu đáng suy ngẫm

  Vài câu đáng suy ngẫm và đem áp dụng:

 

“Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”

                                                                    (Mt 19, 3-12)

 

“Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu”

                                                                                    (1 Gioan 4 câu 8)

Thay thái độ, đổi cuộc đời.

Vụ Vũ Nhôm: Cuộc bán tháo trước ngày bỏ trốn, thu về hàng trăm tỷ

Tăng Bui
vietnamnet.vn

 · 

 

10 000 cán bộ chiến sĩ được nuôi bằng thuế Dân đóng, ăn rồi chỉ có nghe ngóng tình hình xã hội sao lại để Vũ nhôm qua mặt như chốn núi rừng, bán cổ phiếu ôm tiền lặn mất tăm vậy nhỉ.

Doanh nghiệp sở hữu dự án đất vàng tại Sài Gòn cho biết sẽ sớm tiến hành họp để tiến hành bãi nhiễm Phan Văn Anh Vũ (Vũ Nhôm) sau khi cổ đông lớn thoái vốn…
 
VIETNAMNET.VN
 

Cảnh sát viên đập bể mặt ao đóng băng cứu bé trai 8 tuổi ở dưới

 

Cảnh sát viên đập bể mặt ao đóng băng cứu bé trai 8 tuổi ở dưới

Cảnh sát viên Aaron Thompson. (Hình: AP Photos/Alex Cabrero)

NEW HARMONY, Utah (NV) – Một cảnh sát viên bỏ hết súng đạn và áo giáp lặn xuống một cái ao đông đá cứu một bé trai 8 tuổi bị chìm ở dưới trong ngày Giáng Sinh và từ chối nhận mình là anh hùng.

Theo đài truyền hình NBC, cảnh sát viên Aaron Thompson, thuộc Sở Cảnh Sát Washington County, Utah, có mặt tại cái ao ở thành phố New Harmony, sau khi bạn của em bé cầu cứu vào chiều Thứ Hai, các giới chức cho biết.

Đứa bé, mà cảnh sát không cho biết tên, đang chạy theo con chó trên mặt ao đông đá, bất ngờ đá sụp xuống, làm em lọt xuống dưới nước lạnh.

Cảnh sát không cho biết tình trạng của em ra sao.

Trong khi đó, ông Thompson bị trầy, bầm tay, và cơ thể bị giảm nhiệt, nhưng đi làm ngày hôm sau.

“Mình không bao giờ biết chính xác chuyện gì sẽ xảy ra,” cảnh sát viên Thompson, một thợ lặn cấp cứu được huấn luyện và là cựu thành viên nhóm thợ lặn của sở cảnh sát, nói với báo giới hôm Thứ Ba. “Tôi chỉ thấy là tôi phải cứu em bé đó.”

Ông Thompson kể ông bước lên mặt nước đông đá vài bước, và bắt đầu dùng tay đập cho bể một cái lỗ để ông có thể chui xuống, nhưng “đá ngày càng dày thêm và tôi không thể làm gì được với tay và nắm đấm.”

“Thế là tôi nhảy lên nhảy xuống, dùng sức nặng của thân hình” và cuối cùng nó bể, ông kể.

Rồi ông lặn xuống dưới đáy ao xem nó lạnh ra sao, và có nhìn thấy gì không.

Mọi chuyện khả quan, hy vọng tìm được em bé.

“Tôi tìm khắp các chỗ mà băng đá bể, nhưng thực ra em lại nằm ở dưới chỗ chưa bể,” ông kể.

Nước lạnh cao tới cổ, nhưng ông vẫn cố gắng bước, hy vọng đụng vào đứa bé ở dưới.

Ông cho rằng, đứa bé ở trong nước lạnh khoảng 30 phút.

“Nhiệt độ của nước là một yếu tố vô cùng quan trọng,” ông nói. “Chúng tôi thật sự hy vọng cho em bé.”

Khi được hỏi có cảm thấy mình là anh hùng không, ông Thompson nói còn có các nhân viên cấp cứu khác nữa sẵn sàng nhảy xuống nước. Ông chỉ tình cờ là người đầu tiên đến nơi.

“Không phải tôi, mà là chúng tôi,” ông nói, và đề cập đến những người khác như nhân viên y tế, trực thăng, và một nhân chứng chỉ cho ông hướng đứa bé bị lọt xuống ao, cũng như những người khác nhanh chóng có mặt tại hiện trường.

“Đó là câu chuyện thật ở đây,” cảnh sát viên Thompson nói. “Tôi chỉ là người lặn xuống nước.” (Đ.D.)   

Thêm một blogger bị cấm xuất cảnh

Thêm một blogger bị cấm xuất cảnh

 


CTV Danlambao – Vào chiều 26/12, blogger Vũ Sỹ Hoàng (sinh năm 1984, ngụ Sài Gòn) đã bị nhà cầm quyền cộng sản ngăn cấm xuất cảnh khi anh đang làm thủ tục xuất cảnh sang Hoa Kỳ tại sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất.

Theo anh Hoàng cho biết thì anh bị tịch thu passport và được đưa vào một phòng riêng để làm việc với một số nhân viên an ninh sân bay.  Khi anh chất vấn lý do bị cấm xuất cảnh thì những nhân viên này nói: “Họ chỉ làm theo lệnh của Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Bộ Công an”.
Được biết, anh Hoàng đi Hoa Kỳ theo diện đoàn tụ gia đình. Cả gia đình anh đã đến định cư tại Hoa Kỳ từ năm 2009. 
Trao đổi cùng CTV Danlambao, anh Hoàng cho biết, có thể vì anh tham gia trong các hoạt động xã hội, cổ vũ dân chủ – nhân quyền, tranh đấu cho môi sinh, chủ quyền biển đảo nên bị nhà cầm quyền “trả thù” bằng cách ngăn cấm anh đoàn tụ cùng với gia đình. 

Chúa đã bỏ người Việt?

 

Chúa đã bỏ người Việt?

 
 
Nguyễn Xuân Nghĩa (Danlambao) – (Cảm nghĩ ngày Noel) 
Xã hội Việt Nam đang trong thời đại loạn. Các định giá đạo đức xã hội và nhân cách công dân bị đảo ngược. Trong loại xã hội này những người sống tử tế, có lương tri luôn gặp những tai bay vạ gió, gánh chịu bất công. Bạn có nguy cơ biến thành nạn nhân khi tham gia giao thông, dù bạn thuộc lầu làu luật giao thông. Phải nằm viện, bạn cũng có nguy bị cắt oan nội tạng hay một phần cơ thể, bị tiền mất, tật mang dù trước cổng bệnh viện nào cũng có khẩu hiệu “lương y như từ mẫu”. Ngay trong một bữa tiệc vui, bạn cũng có thể bị đâm chết dù bạn không say.
Nếu bạn là thương gia, là nhà sản xuất, phải hùn vốn kinh doanh hay kết hợp cùng đối tác làm ra một sản phẩm có ích cho xã hội bạn cũng có nguy cơ bị đối tác phản bội, bị các Thông tư, Chỉ thị, Quyết định của bộ, ngành, cục… làm bạn phá sản, đi ăn mày, thậm chí ra trước vành móng ngựa. Ở pháp đình bạn có thể từ bị hại thành bị can, tội nhẹ thành tội nặng nếu cái văn bản phán quyết của thẩm phán do cô thư ký trong sở Nội chính gõ trước khi mở tòa cả tháng, hoặc thuê nhầm luật sư tố cáo thân chủ. Bạn sinh hạ được một đứa con kháu khỉnh, thông minh… bạn lo ngay ngáy khi phải gửi cháu đến nhà trẻ với những bữa ăn gây nôn mửa, ỉa chảy, co giật; bạn phải ủy thác con bạn cho các bà, các cô ” bảo mẫu như hổ báo” và bạn không thể yên lòng khi cùng cháu ra đường, hoặc ngay ở trong nhà vì cháu có xác suất là nạn nhân của các vụ buôn người, cướp mổ nội tạng… Bạn đến tuổi yêu đương, quen được một đối tượng bạn cho là lý tưởng, bạn vẫn có nguy cơ bị đánh thuốc mê, mất hết tư trang, tiền bạc thậm chí cả tính mạng sau khi đã hiến thân…
Ai đã gây ra thảm họa này?
Một câu chúc AN LÀNH nhân ngày lễ trong một xã hội như vậy có gì đó thật trục trặc, thật xã giao và thật mỉa mai…
Trịnh Công Sơn vơ đũa cả nắm khi 50 năm trước ông than khóc: “Chúa đã bỏ loài người…”. Không đúng! Một ngàn lần không đúng! Chúa không bỏ người Mỹ, người Đức, người Nhật, người Hàn… Chúa chỉ bỏ những kẻ vô đạo, những kẻ a dua cộng sản, những người cam chịu ách cai trị của cộng sản mà không dám làm gì!

Báo quốc tế nói về ‘Lực lượng 47’

Báo quốc tế nói về ‘Lực lượng 47’

Internet, lực lượng 47
Bản quyền hình ảnh   HOANG DINH NAM/AFP/GETTY IMAGES
Quản lý thông tin trên mạng xã hội được chính phủ VN đề cập nhiều thời gian gần đây

Đội ngũ an ninh mạng ‘hùng hậu’ của Việt Nam mang tên Lực lượng 47 đã được truyền thông nước ngoài đưa tin và bình luận trong vài ngày qua.

Lực lượng 47, gồm 10.000 người, sẽ ‘là hạt nhân đấu tranh trên không gian mạng’, ‘vừa hồng vừa chuyên, kiên định lập trường, có trình độ, kỹ năng sử dụng công nghệ cao’, truyền thông trong nước dẫn lời Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Phó chủ tịch Tổng cục Chính trị hôm 25/12.

Hãng tin Anh Reuters ngày 26/12 có bài bình luận về lực lượng an ninh mạng với nhiệm vụ “chống lại quan điểm ‘sai trái'” trên internet này trong bối cảnh “cuộc đàn áp những người chỉ trích nhà nước độc đảng ngày càng lan rộng”.

“Nhà nước Cộng sản Việt Nam tăng cường nỗ lực kiểm soát Internet, kêu gọi kiểm soát chặt chẽ hơn các mạng xã hội và xóa bỏ nội dung có vẻ mang tính công kích, nhưng có rất ít dấu hiệu cho thấy những nỗ lực này khiến sự chỉ trích lắng xuống trong bối cảnh các công ty cung cấp dịch vụ mạng xã hội là công ty toàn cầu”, bài báo của Reuters viết.

Xem thêm trong BBC

Cậu bé mang chăn tới nghĩa trang ngủ ngon lành bên bia mộ bố

Cậu bé mang chăn tới nghĩa trang ngủ ngon lành bên bia mộ bố

Trong chuyến thăm mộ bố lần đầu tiên, hai cậu bé mang theo một chiếc chăn và ngủ lại vì như thế ‘con có thể cảm nhận được bố bên cạnh’.

Không chỉ là một Thượng sĩ quân đội tận tâm với nghề, anh Alfred David Brazel (37 tuổi) còn là một người chồng, người cha hết mực quan tâm tới gia đình. Anh và vợ là Kait Brazel có với nhau hai đứa con kháu khỉnh là Mason (8 tuổi) và Mylan (5 tuổi).

Gia đình của anh Alfred David Brazel.

Cứ ngỡ rằng cuộc sống gia đình của họ sẽ mãi luôn hạnh phúc như vậy nhưng ông trời lại nhẫn tâm cướp đi mạng sống của ông bố hai con. Ngày 10/2/2017, trong một lần làm nhiệm vụ tại For Campbell, Kentucky (Mỹ), anh Alfred bất ngờ nhận được hung tin anh bị ung thư trực tràng giai đoạn 4 và khối u đã di căn vào gan. Tới ngày 31/7/2017, anh Alfred qua đời trong sự tiếc nuối của mọi người.

Ba mẹ con trong tang lễ của anh Alfred.

Anh được chôn cất tại Nghĩa trang Quốc gia Arlington, Virginia, M��. Ngày 20/11 vừa qua, 2 cậu bé Mason và Mylan lần đầu tiên được viếng mộ bố kể từ sau ngày chôn cất. Họ phải mất 24 tiếng để tới nghĩa trang và trong suốt quãng đường đi, chị Kait khóc không ngừng.

Nó khiến tôi có cảm giác như anh ấy vẫn có thể trở về nhà. Là một gia đình quân đội, chúng tôi phải thường xuyên sống xa nhau, vì vậy chuyến đi lần này mang lại cho tôi cảm xúc như thể anh ấy vẫn sẽ về nhà”, chị Kait nghẹn ngào.

Trong chuyến thăm này, hai cậu bé mang theo một cái chăn. Chị Kait nói: “Mylan nói như thế thì con mới có thể cảm nhận được bố bên cạnh và con muốn được ngủ trưa cùng bố. Trong khi Mylan đánh một giấc ngon lành thì Mason vẫn kiên trì cầu nguyện bên cạnh. Hai đứa trẻ đã dành thời gian cho bố và tôi chỉ đứng phía sau nhìn thôi”.

Lúc tới thăm mộ bố, hai cậu bé còn mang theo một chiếc chăn.

Mylan nằm ngủ ngon lành còn Mason đang cầu nguyện bên cạnh.

Theo lời chị Kait kể, lúc mới tới nơi, hai cậu con trai của chị liên tục chia sẻ những thành tích mà chúng đạt được ở trường với bố. Mylan khoe bố về bộ đồng phục và dây đai trong lớp học võ và chuyện cậu nhóc chiến thắng được ổ bánh kem trong dịp Halloween vừa rồi. Còn Mason lại nói với bố về chiếc cup trong cuộc thi bơi mà cậu đã đạt được. Không chỉ vậy, hai đứa trẻ còn thi nhau kể với bố về mọi chuyện trong cuộc sống thường ngày.

Kết thúc chuyến viếng thăm, chị Kait nói hai con ra xe để trở về nhà nhưng khi đang bước đi Mylan bỗng chạy quay lại, ôm chặt lấy bia mộ của anh Alfred. Cậu bé nói: “Đợi đã, con phải quay lại và ôm bố cái nữa“. Nói rồi cậu bé liền vòng tay ôm thật chặt tấm bia đá lạnh lẽo đó.

Lúc ra vềMylan còn chạy quay lại ôm chặt lấy tấm bia đá mộ phần của bố.

Tôi tin chắc rằng các con sẽ nhớ về anh ấy mãi mãi. Anh ấy đã dạy cho Mason phải tự tin và luôn có mục tiêu nhất định. Và giờ Mason cũng dạy Mylan như vậy, con thường nói: “Đây là cách bố sẽ làm”, chị Kait chia sẻ.

Hà Phương (Theo Abcnews)

From: Do Tan Hung & Nguyễn Kim Bằng

GS Lâm Văn Bé: Người Tị Nạn và Việt Kiều

 

GS Lâm Văn Bé: Người Tị Nạn và Việt Kiều

 

 

Sau năm 1975, người Việt Nam bỏ nước ra đi tị nạn đã bị Cộng Sản gọi bằng những danh từ khác nhau. Những danh từ nầy mang những hậu ý chính trị gian xảo, do đó việc tìm hiểu ý nghĩa chính xác những danh từ nầy thật cần thiết để chúng ta sử dụng chính xác trong từng  trường hợp .


Người tị nạn.

Khi vào cưỡng chiếm đất miền Nam, cưỡng đoạt tài sản dân miền Nam, Cộng Sản đã gọi  tất cả dân miền Nam là bọn Mỹ Ngụy. Đối với người dân có cơ may vượt thoát được bằng những cuộc vựơt biển, vượt biên  để xin tị nạn ở các xứ tự do, cộng sản dùng nhiều danh từ thô tục để điểm mặt người tị nạn.

Trước tiên, trong một hội nghị với các cán bộ tại Hà nội năm 1975, Trần Phương, Chủ nhiệm Ủy Ban Khoa học Xã hội đã ví von một cách tục tĩu dân miền Nam là những con điếm cho Mỹ làm tình để đổi lấy viện trợ. Cùng trong tư tưởng dâm ô ấy, Lê Duẩn mạt sát những người di tản là một bọn ma-cô, đĩ điếm, Phạm văn Đồng chửi người ra đi là bọn phản quốc, và các nhà báo nhà văn cộng sản, kể cả bọn cộng sản 30 cũng chửi hùa theo là  những đồ rác rưởi trôi dạt khắp năm châu bốn bểcặn bả xã hội, trây lười lao động, chạy theo bơ thừa sửa cặn » . Nguyễn Trọng Nhân, nguyên Bộ  trưởng Y tế còn hằn học hơn khi tuyên bố trong một cuộc phỏng vấn năm 1993 tại Amsterdam : Những người di tản đáng bị chặt đầu.

Nhưng chẳng bao lâu, Cộng Sản hiện nguyên hình là bọn gian manh. Năm 1990, khi Cộng Sản bắt đầu nhận tiền của người tị nạn gởi về, bọn đĩ điếm được cộng sản « nâng cấp» lên là Việt kiều, và ân tình hơn, Đỗ Mười tuyên bốViệt Kiều là những  khúc ruột  ở bên ngoài ngàn dặm của dân tộc.

Tưởng cần hiểu từ nguyên chữ Việt kiều để thấy rõ thâm ý của Cộng Sản. «Kiều» chữ Hán có nghĩa là ở nhờ, ở làng khác hay nước khác được dùng làm tỉnh từ cho những danh từ như «kiều dân» là người sống ở ngoài lãnh thổ mà người đó đã được sinh ra, «kiều bào» là đồng bào ở nước ngoài. Dưới thời Việt Nam Cộng Hoà, người Hoa sống ở VN được gọi là Hoa Kiều và chế độ Hà Nội gọi những người Việt sống ở nước ngoài và ủng hộ họ là «Việt kiều yêu nước».

Người Việt bỏ xứ ra đi tị nạn không phải là Việt kiều, kiều bào, vì những người nầy đã không chấp nhận chế độ Cộng Sản, đã sinh cơ lập nghiệp vĩnh viễn trên một quốc gia khác, đã có quốc tịch của một  quốc gia khác. Gọi người tị nạn là Việt kiều, Cộng Sản có gian ý là muốn «tóm thâu» cái khối chất xám nầy là «con dân» của họ, còn đặt dưới quyền sinh sát của họ. Nghị định số 78/2009/NĐ ngày 22/09/2009 về luật quốc tịch xác định rõ quan niệm nầy, theo đó bao giờ người mang quốc tịch VN chưa được chính phủ VN cho phéptừ bỏ quốc tịch, người ấy vẫn còn quốc tịch VN dù rằng người ấy đã có quốc tịch Mỹ, Canada, Úc…Càng lộng ngôn và ngang ngược hơn, với con cháu của người Việt tị nạn, dù sinh ra và lớn lên tại các quốc gia của ông cha họ đã định cư, cộng sản cũng xem những người nầy vẫn có quốc tịch Việt Nam nếu chưa phép làm đơn xin bỏ quốc tịch và chưa được chính phủ VN chấp thuận.
Về điểm nầy, chúng ta thấy rõ chánh sách trơ tráo, đánh lận con đen của Cộng Sản. Theo điều 13, khoản 2, Luật Quốc tịch sửa đổi năm 2008 , «Người VN định cư ở nước ngoài vẫn có quốc tịch VN. Sau 5 năm từ khi luật nầy có hiệu lực, kiều bào phải đến cơ quan đại diện của chính phủ VN tại nước ngoài để đăng ký xin giữ quốc tịch, nếu không, sau ngày 1/7/2014 sẽ mất quốc tịch»

Sau 5 năm,  chỉ có khoảng 6000 người ghi tên xin giữ quốc tịch. Trái với dự tính vì số người xin giữ quốc tịch quá ít, tháng 7/2014, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký luật gia hạn cho người muốn giữ quốc tịch thêm 5 năm nữa, tức là sẽ chấm dứt ngày 1/7/2019.
Ngôn từ Cộng Sản thật lươn lẹo, lật lọng. Cho đến ngày 1/7/2019, người Việt ở hải ngoại mặc nhiên vẫn còn quốc tịch VN, vẫn bị chi phối bởi Luật quốc tịch VN  giải thích «rộng rãi» theo luật rừng. Chính bà Nguyễn Thị Bình, người lãnh tụ của Phong Trào Giải Phóng Miền Nam còn sống sót, đã ví von : Việt Nam có một rừng luật  và áp dụng luật rừng. 

Và cho đến đầu năm 2014, chính phủ VN vẫn còn khư khư giữ quan niệm cha chú nầy với người Việt tị nạn. Trong bài huấn từ của Nguyễn Thanh Sơn, Thứ Trưởng Bộ Ngoại giao đặc trách Cục Người Việt nước ngoài đã nhắn nhủ cho phái đoàn «Việt Kiều yêu nước» về quê ăn Tết, ông nhắc lại lời của Thủ Tướng Võ Văn Kiệt 20 năm trước như sau : «Cộng đồng người Việt ra đi sau chiến tranh và định cư ở nước ngoài rất đặc thù, không giống các cộng đồng ngoại kiều khác. Những thuyền nhân ra đi đa số là vì mục tiêu kinh tế chứ không phải mục đích chính trị. Có bộ phận những người ra đi sau cuộc chiến tranh mang theo tư tưởng hận thù của những người thua trận và được tuyên truyền rất nhiều điều ghê sợ không có thực về chủ nghĩa cộng sản ... Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị đã khẳng định rõ chủ trương, chính sách của đảng, nhà nước, coi cộng đồng người Việt nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của dân tộc Việt Nam, tức là những người máu mủ ruột thịt thực sự, không phân biệt đó là thành phần nào, đó là ai. (Xuân quê hương 2014 – danlambao 3/2/2014).

Đối với những Việt Kiều yêu nước, Cộng Sản muốn gọi tên gì thì cứ gọi và sai bảo điều gì thì cứ làm. Nhưng đối với người Việt tị nạn Cộng Sản, họ không phải là Việt kiều mà là người Mỹ, người Canadiens, người Pháp, người Úc, người Đức gốc Việt… Phải gọi chính danh như vậy và phải tôn trọng quyền chọn lựa của họ là không chấp nhận chế độ cộng sản.

Việt Kiều và Nghị Quyết 36.

Không người Việt tị nạn nào ngu xuẩn tự xưng mình là Việt kiều, nếu có, đó là những Việt kiều yêu nước. Tưởng cần biết  qua lai lịch của những Việt kiều yêu nước nầy.

Đa số những Việt Kiều nầy là những  sinh viên xuất ngoại du học từ thời Việt Nam Cộng Hòa nhờ học bổng của Plan Colombo hay các quốc gia  Âu Mỹ. Từ cuối năm 1970, một số con em của những người có thế lực, nhà giàu cũng được xuất ngoại tự túc. Những sinh viên có học bổng sau khi hết học bổng không chịu về nước vì sợ đi quân dịch, nên tìm cách ở lại tại các quốc gia đã du học một cách bất hợp pháp. Phương thức thông thường là kết hôn với người dân sở tại để có quốc tịch, và để biện minh cho hành động hèn nhát, họ chạy theo các phong trào sinh viên phản chiến ở Pháp, Mỹ, Canada để  chống chiến tranh Việt Nam mà theo họ là do Mỹ và chế độ quân phiệt miền Nam chủ động. Họ được cộng sản lợi dụng để tuyên truyền và được phong danh hiệu là Việt kiều yêu nước. Sau 1975, nhiều đám sinh viên phản chiến phản quốc nầy từ Nhựt, Âu châu, Mỹ chạy sang Canada xin tị nạn cùng lúc với thân nhân của họ vừa di tản đến. Họ trương cờ đỏ sao vàng ở những tụ điểm của họ, một số xin về nước để lấy uy với bạn bè, nhưng chính phủ cộng sản lạnh lùng với họ, có khi còn bắt họ bởi lẽ cộng sản dư biết những Việt kiều yêu nước nầy chỉ là bọn hèn, theo đóm ăn tàn.

Từ cuối thập niên 1990 xuất hiện thêm một số Việt kiều yêu nước già, nguyên gốc là HO, có học và vô học, vì không hội nhập được vào xã hội định cư nên đi đi về về Việt Nam để sống với tiền xã hội của quốc gia định cư, một số  khác thất nghiệp muốn về VN để kiếm việc, làm ăn buôn bán. Để đạt được ý định, họ lập công với cộng sản bằng những mưu chước hèn hạ, phản bội lại đồng hương và đồng đội họ, xâm nhập vào các hội đoàn, cơ quan ngôn luận để quấy phá.  Nghị Quyết 36  nhờ sự tiếp tay của những Việt Kiều trở cờ phản bội nầy.

Nhiều người Việt tị nạn không biết hay xem thường  những  tác hại của Nghị Quyết 36 viện lẽ không làm chính trị.  Ban hành vào tháng 3 năm 2004, Nghị Quyết 36 nhằm mục đích chiêu dụ người Việt ở hải ngoại về nước và đem tài sản về nước để gọi là đầu tư, đồng thời tìm cách khống chế lực lượng người Việt ngoài nước. Nói chung, Nghị

Quyết 36 có thể tóm lược trong 5 điểm :
– Giúp người tị nạn trong việc sinh sống
– Giúp người tị nạn đoàn kết lẫn nhau
-Thu góp tiền bạc và chất xám
– Biện pháp đối với các thành phần chống lại chánh phủ và Đảng ở hải ngoại
– Tổ chức văn hóa vận và tình báo ở hải ngoại

Nhận định từng điểm, NQ 36 mang bản chất  gian xảo, trịch thượng . Làm sao CS có khả năng và uy tín giúp người Việt hải ngoại trong cuộc sinh sống trong khi họ đã đẩy đa số người dân trong nước đến chổ bần cùng và mất cả đạo lý, và càng tệ hại hơn, họ xuất cảng tệ trạng ăn cắp tràn lan tại những nơi mà cán bộ của họ đi qua, làm xấu xa dân tộc. Tại Nhật, Mã Lai, Thụy Điễn, nhiều cửa hàng treo bảng hiệu : Cảnh cáo Ăn cắp vặt,  No dogs, no Vietnamese.

Họ nói giúp người tị nạn đoàn kết với nhau, nhưng thực sự họ đưa công an và Việt kiều yêu nước xâm nhập các đoàn thể để gây đố kỵ, đánh phá nhau. Chuyện thu góp tài sản thì quá rõ, từ việc gởi tiền đến Việt kiều du lịch mang về  nước tiêu xài cung cấp cho cộng sản 12% GDP, duy chỉ có chuyện thu góp chất xám là một cuộc thảm bại .

Một số tác hại của NQ 36 đã thấy rõ trong một số công tác chiến lược như sau :
 Trường dạy tiếng Việt và sinh hoạt tập thể cho thanh thiếu nhi là lò huấn luyện, tuyên truyền

Tại những nơi có đông đảo người Việt, cán bộ cộng sản chủ động hay hợp tác với các đoàn thể, tư nhân  mở trường dạy tiếng Việt, đưa sách báo từ VN sang, hay soạn sách theo quan điểm tuyên truyền cho cộng sản. Những buổi sinh hoạt tập thể là những cơ hội thuận lợi để cán bộ hay thầy cô thân cộng rỉ tai, hướng dẫn những măng non theo tư tưởng cộng sản.  Tùy mức độ ảnh hưởng, chính sách văn hóa vận nầy tạo một tư tưởng chống đối của giới trẻ với ông cha trong công cuộc chống cộng.

Trong đại hội «Tổng kết 10 năm thực hiện NQ36 và công tác đối với người Việt nước ngoài » ngày 22 tháng 5, 2014, Thứ Trưởng Giáo Dục Trần Quang Huy đã có chỉ thị rõ rệt «…Cần sớm có quy chế về việc dạy  tiếng Việt cho người Việt nước ngoài, đặc biệt thế hệ thứ ba, thứ tư để việc kết nối giao lưu được thuận lợi…»

– Xâm nhập các cơ quan truyền thông

Cộng Sản đã tung ra hàng triệu mỹ kim để thành lập, hùn vốn để mua chuộc các cơ sở truyền thông ở hải ngoại, bề mặt chửi bới Cộng Sản linh tinh, nhưng thỉnh thoảng gài vào những bản tin, bài viết vận động chính trị chiến lược có lợi cho cộng sản. Trong bản tổng kết Hội nghị Người Việt nước ngoài lần thứ haitừ ngày 27-29 tháng 09 năm 2012  ở TP Hồ Chí Minh, Thứ Trưởng Nguyễn Thanh Sơn, Chủ nhiệm Ủy Ban Người Việt nước ngoài  đã nói rõ chương trình hành động : «Tăng cường công tác thông tin đối ngoại , tăng cường đầu tư cho các chương trình dành cho người Việt ở nước ngoài như đài phát thanh, TV, báo chí, thông qua tổ chức các buổi giao lưu văn hóa, nghệ thuật, triễn lãm tranh ảnh về đất nước, các hoạt động từ thiện, du lịch, sinh hoạt khoa học, sinh hoạt các nhóm trong cộng đồng người Việt hải ngoại…» 

Khuynh đảo, lừa gạt, xảo trá là sở trường của Cộng Sản. Chúng áp dụng kỹ chiến thuật tuyên truyền của Goebbels (Bộ Trưởng Thông tin Tuyên truyển của Đức Quốc Xã) : Nhắc đi nhắc lại hoài một sự việc không đúng sự thật, ban đầu  người ta không tin, lần lần người ta bán tin bán nghi sau cùng người ta tin là sự thật.  Internet  và báo chí là những phương tiện hữu hiệu  dể chúng bôi lọ những người quốc gia tranh đấu chân chính, làm yếu đi  lực lượng chống cộng. để từ đó chúng đưa người của chúng vào các hội đoàn. Nhiều tổ chức tranh đấu chính trị đã bị chẻ làm đôi, làm ba  và khi các cộng đồng hay tổ chức này bị chúng đánh cho yếu đi hay tan vỡ thì chúng dùng tiền để mua chuộc đám Việt kiều – Việt gian nhảy ra làm bình phong cho chúng hoạt động. Mặc dù chúng dùng mọi mưu chước nhưng cho đến nay, chúng vẫn không thành công lắm trong  công tác vận động quần chúng ở Bắc Mỹ, Úc và vài quốc gia ở Tây Âu.

Nhưng Cộng Sản có hai bộ mặt chồng chéo nhau :  dịu ngọt và bạo lực.
Tạp chí Cộng Sản gần đây đã viết :  «…Tính đến nay, có hơn 100 tổ chức chính trị phản động người VN ở hải ngoại đang nuôi chí phục thù nhằm  thực hiện ý đồ đen tối phục quốc. Cầm đầu các hội, các nhóm trên là những phần tử cực đoan, từng là ngụy quân ngụy quyền cũ, có nhiều nợ máu với cách mạng. Chúng đã, đang móc nối, cấu kết chặt chẻ với nhau và với bọn phản động trong nước để hoạt động chống phá cách mạng nước ta …» (TCCS. Phát huy vai trò của Cộng đồng  http://tapchicongsan.orgvn ngày 28/05/2013)

Chánh sách vừa  chiêu dụ vừa  khủng bố của Cộng Sản đã có tác dụng phần nào  trên các vùng đất có người Việt định cư ở Bắc Âu và Đông Âu, nơi có đông đảo người lao động xuát khẩu, di dân bất hợp pháp  và du sinh.  Trong thập niên qua, các tòa đại sứ hay lãnh sự Cộng sản đã nỗ lực thiết lập 13 cộng đồng người Việt theo chủ trương của NQ 36 : « … Nếu chúng ta phát huy cao độ các lợi thế của các lực lượng người Việt Nam ở nước ngoài để phân hóa, cô lập các lực lượng phản động thì chúng ta có thể hạn chế một cách hiệu quả, thiết thực các thế lực thù địch…». Mười ba cộng đồng cộng sản nầy là : 4 tại các quốc gia trước đây là cộng sản (Ba Lan, Tiệp Khắc, Nga, Đông Đức), 4 tại các quốc gia có nhiều lao động xuất khẩu (Hàn Quốc, Đài Loan, Qatar, Angola), 5 tại các quốc gia ít có người tị nạn (Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan, Thụy Sĩ – ( chú thích : tại Thụy Sĩ còn có một cộng đồng chống Cộng của người Việt tị nạn). Các chủ tịch các cộng đồng nầy là người cộng sản, chỉ làm bù nhìn, việc điều khiển Cộng Đồng do sứ quán hay tòa lãnh sự đảm nhiệm theo quyết định Q12 năm 2008 (Mobiliser les Vietnamiens à l’étranger, p.50).

Ngày 18 tháng 8 , 2014, Trung ương đảng đã tổ chức một cuộc «mạn đàm» tại Praha (Tiệp Khắc) qui tụ những nhân vật cao cấp của Bộ Chính Trị từ trong nước và các đại sứ, đại diện 14 cộng đồng người Việt ở Đông Âu, Bắc Âu , kể cả Thụy Sĩ, Anh, Bỉ để «trao đổi công tác xây dựng tổ chức, vận động quần chúng, lôi cuốn giới trẻ tham gia và phát huy các sinh hoạt cộng đồng »

– Gởi sư quốc doanh ra hải ngoại lập chùa, tu viện

Chùa là nơi gia đình người Việt tị nạn  gặp nhau để lễ Phật, niệm kinh, và còn là nơi sinh hoạt xã hội, văn hóa. Biết như vậy,  Nguyễn Thanh Sơn, Chủ nhiệm Ủy Ban Người Việt nước ngoài đã ký kết với Hòa Thượng Thích Thanh Tứ (Tứ chớ không phải Thích Thanh Từ) Phó Chủ tịch Hội Đồng Trị sự Giáo Hội Phật giáo VN ngày 16 /07/2009 một văn kiện nhằm « phối hợp cộng tác phât sự ở nước ngoài, mở rộng quan hệ, hoạt động của giáo hội sang các nước có đông kiều bào sinh sống ». Từ mươi năm nay, tại hải ngoại có nhiều chùa, tu viện được thành lập, mà sinh hoạt chùa không theo truyền thống tôn nghiêm của  Phật pháp. Những ngôi chùa nầy tổ chức đại nhạc hội, du lịch, thi hoa hậu và nhiều sinh hoạt của đời thường. Một số thầy chùa, sư nữ  gốc là công an, tác phong không phù hợp với người tu hành, làm người phật tử chân chính chán ngán. Ngôi chùa trở nên cơ sở kinh tài cho cá nhân và đảng, sư quốc doanh làm công tác báo cáo, tuyên truyền cho chế độ. Nghị Quyết 36 đã làm tổn hại rất nhiều đời sống tâm linh của người tị nạn.

Người Việt  ở hải ngoại

Ngoài ra, chúng ta thường có thói quen gọi chúng ta thuộc cộng đồng người Việt hải ngoại (diaspora) mà Cộng Sản gọi là người Việt nước ngoài. Nếu từ ngữ nầy đúng với tất cả các sắc tộc khác nhưng đối với người Việt, có khi không đúng hẳn bởi lẽ trong số người Việt hải ngoại lại có thêm những người không phải là người tị nạn. Đó là những người xuất khẩu lao động, di dân kinh tế hợp pháp và bất hợp pháp, các du học sinh thân cộng hay theo Cộng. Hiểu như vậy, sự chính xác của từ ngữ sử dụng cần phân biệt theo nội dung và hoàn cảnh.

Bảng 1-   Tổng số người Việt tị nạn Cộng Sản ở hải ngoại

Quốc gia Số người Nguồn
Hoa Kỳ 1 548 450 US Census 2010
Úc    233 390 Census Explorer 2011
Canada    220 420 Canada Census 2011
Pháp    200 000 Các nhà biên khảo ở Pháp
Đức    125 000 Wikipedia và một số nguồn liệu
Anh      65 000 UK Census 2011& phỏng định
Tây/Bắc Âu    100 000 Các nguồn từ địa phương
Tổng cộng 2 492 260  

Nguồn: Lâm Vĩnh Bình. Giá Tự Do
Bảng 2– Số người Việt xuất khẩu lao động, du sinh, định cư 
hợp pháp  và bất hợp pháp tại hải ngoại (Việt Kiều)

Đông Âu Số người   Á Châu Số người
Nga  46 000   Đài Loan 180 000
Tiệp Khắc  50 000   Hàn Quốc 120 000
Ba Lan  20 000   Mã Lai    85 000
UKraine  10 000   Trung Quốc   30 000
Slovakia    5 000   Nhựt   38 000
Áo    5 000   Cambốt  600 000
Hungary    4 000   Thái Lan  100 000
Azerbeijan  10 000      
Trung Đông  10 000   Lào   20 000
Angola  40 000   Bangladesh   27 000
Cộng 200 000   Cộng 1 200 000
                               Tổng cộng : 1 400 000

 Nguồn :
– Người Việt ờ nước ngoài  www.vietkieu.info;
– Wikipedia,
– Migration Policy Institute.
– World Facts Book

Chú thích :  

Bảng thống kê trên, tuy xuất xứ từ các cơ quan thẩm quyền nhưng chỉ là những con số ước lượng gồm có :
 –  700 000 người Việt ở Cambốt, Thái Lan và Lào là người Việt đã  sống lâu đời nhiều thế hệ tại các quốc gia nầy, đại đa số đã nhập tịch.  Về người Việt ở Cambot, số thống kê chỉ là phỏng định vì quốc gia nầy không có thống kê. TheoWikipedia, và World Facts Book, người Cambốt gốc Việt chiếm 5% dân số tức khoảng 600 000 người. Bertrand Didier trong bài Vietnamiens au Cambodgevà  Annuska Derks trong A picture of the Vietnamese in Cambodia trình bày chi tiết các giai đoạn di cư, định cư, diện mạo của người Việt ở Cambốt  (có thể đọc online).

Migration Policy Institute thiết lập  thống kê người di dân VN (immigrants) vào tháng 9 năm 2013 dựa vào ước lượng của United Nations Population Division công bố một con số thấp hơn chỉ gồm người di cư xuất khẩu lao động : Cambot : 37 000, Lào : 11 000, Thái Lan : 6000.

–  700 000 người ở Đài Loan, Hàn Quốc, Mã Lai, Nhựt, Trung Quốc, Đông Âu , Nga, Bangladesh, Trung Đông và Phi Châu. Dân số VN tại các quốc gia nầy thuộc nhiều diện khác nhau :

– một số là cư dân hợp pháp phần lớn là phụ nữ lấy chồng người Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Mã Lai và những du học sinh tại các quốc gia Đông Âu, Nga, được nhập tịch tại các quốc gia nầy

–  một số là người xuất khẩu lao động và cư dân bất hợp pháp.

Như vậy tổng số người Việt ở hải ngoại là :
       – Người tị nạn Cộng sản : 2.500 000 người (số tròn) Bảng 1
       – Người Việt di cư kinh tế, xuất khẩu lao động, du học sinh, định cư bất hợp pháp :    1 400 000 người  Bảng 2 
Tổng cộng số người Việt ở hải ngoại : 3 900 000 người. 
Một cách dễ nhớ : 4 triệu người.

Nguồn : Lâm Vĩnh Bình, Giá Tự Do

Về tổng số người Việt ở hải ngoại, thống kê của nhiều người viết, ngay cả những nhà nghiên cứu khoa bảng thường có khuynh hướng khuếch đại con số, bởi lẽ thay vì sử dụng thống kê chính thức của các quốc gia sở tại, họ lại sử dụng những thống kê của Cục Người Việt nước ngoài của Cộng Sản mà bản chất là gian dối, thiếu chính xác. Đan kể như luận án tiến sĩ : Mobiliser les Vietnamiens de l’étranger : enjeux, stratégies et effets d’un nationalisme transnational của Christophe Vigne do Institut de recherche sur l’Asie du Sud-Est contemporaine (IRASEC) xuất bản năm 2012 cho biết là người Việt ở hải ngoại là 4.3 triệu người trong đó người Việt ở Mỹ là 2.2 triệu (thay vì 1.5 triệu) và ở Canada là 250 000 (thay vì 220 000).  «Le RSVN estime à environ 4.3 M le nombre de Vietnamiens résidents à l’étranger. La communauté vietnamienne des États-Unis est de loin la plus nombreuse avec 2.2M de personnes. Environ 250 000 Viet Kieu vivent au Canada, 120 000 en Allemagne et 60 000 en Russie…(p. 13).

Kết luận

Chúng tôi vừa phân tích hai từ ngữ người tị nạn và Việt kiều để phân biệt hoàn cảnh lúc ra đi và vị trí chính trị đối với chế độ cộng sản. Tuy nhiên, khi phải nhắc đến một từ ngữ  khác có chữ kiều là kiều hối (mà cộng sản dùng thay cho danh từ ngoại tệ), cái biên giới giữa người tị nạn và Việt Kiều như không còn nữa bởi cả hai đều dùng kiều hối để nuôi dưỡng và củng cố chế độ trong nước.

Thật vậy, kể từ khi Clinton bắt tay với VN năm 1995, người Việt tị nạn về nước ào ạt vì đủ thứ lý do, thăm gia đình, du lịch, du hí… Thật là khó hiểu khi nhiều người đã ra đi tìm cái sống trong cái chết để vượt biển, vượt biên sau những ngày đói rách, khổ nhục hay bị lao tù, và  trên đất mới, sau đó cũng không bao lâu,  họ lại quay trở về để tiếp tục luồn cúi, nịnh bợ  công an, cán bộ phường xã, những người trước đó không lâu là kẻ thù của họ. Vui thú, vinh quang gì ? Cứ mỗi lần Tết đến, có khoảng nửa triệu người về VN ăn Tết, mỗi người mang về VN để chi tiêu trung bình khoảng 4000 mỹ kim, như vậy Cộng sản có được dễ dàng ít nhất 2 tỷ mỹ kim kiều hối chỉ trong hai thángNgoài raviệc gởi tiền về VN triền miên từ 40 năm nay để nói là giúp đỡ thân nhân cũng là hiện tượng cần suy nghĩ, bởi lẽ chính số kiều hối khổng lồ nầy đã nuôi dưỡng, củng cố chế độ và duy trì một lớp thân nhân ỷ lại lười biếng, thỏa hiệp với công an để được dễ dàng trong cuộc sống. Dưới lăng kính nầy, người tị nạn có khác gì những Việt kiều yêu nước hay xuất khẩu lao động thân cộng ?

Theo Viện Nghiên cứu Quản Lý Kinh Tế Trung Ương (Central Institute for Economic Management  CIEM), « tính từ năm 1991 đến 2013, lượng kiều hốigởi về hơn 90 tỷ mỹ kim, là chiếc phao cứu tinh cho nhiều doanh nghiệp và là nguồn tài chính quan trọng cho quốc gia. Số tiền trên không kể đến 28% «kiều hối chui» không qua đường dây chính thức và những khoản tiền tiêu khi Việt kiều về thăm nhà. Chỉ năm 2013, số kiều hối gởi về là 11 tỷ. Mỹ là quốc gia chuyển kiều hối về VN nhiều nhất (57% trong tổng số  kiều hối chính thức), kế đó là Úc (khoảng 9%), Canada (8%), Đức (6%), Pháp (4%) . Kiều hối là nguồn vốn thứ hai tại VN sau FDI (chú thích của người viết : Foreign Direct Investment là tiền ngoại quốc đem vào VN đầu tư) giúp tăng tiết kiệm, đầu tư, giảm nợ, cải tiến bảng xếp hạng tín nhiệm quốc gia, giúp ổn định tỉ giá, cán cân thanh toán và tăng dự trử ngoại hối . Tóm lại, kiều hối dùng để trả sinh hoạt hằng ngày, đầu tư vào sản xuất kinh doanh và trả nợ».    (Cứu tinh của nền kinh tế VN /Alan Phan – ngày 18/12/2014.)

Thông tin trên phát xuất từ một cơ quan kinh tế chiến lược đầu não của cộng sản đã cho thấy không phải là nhóm Việt kiều Đông Âu, hay nói chung những Việt kiều thân Cộng đã gởi tiền về nước để nuôi chế độ mà chính đa số làngười tị nạn. Chỉ tại  5 quốc gia có đông đảo người tị nạn,  đặc biệt là Hoa Kỳ, đã  đóng góp hàng năm cho cộng sản VN 84% ngoại tệ. Có gì phi lý hơn, khi người Việt ở Mỹ, Úc, Canada, Pháp, Tây Đức là thành trì chống Việt Cộng, nhưng đồng thời cũng là đại ngân hàng  tài trợ cho Việt Cộng. Giải quyết cái phi lý nầy phải là chuyện số một phải làm, tuy đã muộn màng lắm rồi, trước khi nói đến những chuyện tranh đấu khác.
 
Lâm Văn Bé
01/2015