ĐỂ THẤT BẠI-Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đức Giêsu lên núi và gọi những kẻ Người muốn”.

“Điều Thiên Chúa chữa lành – khi chúng ta thất vọng – là bảo đảm rằng mục đích của Ngài không thể thất bại!” – A. W. Pink.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay mở đầu khá lặng, “Đức Giêsu lên núi và gọi những kẻ Người muốn”. Không điều kiện, chỉ một lời gọi và các ông bước tới. Ngài biết những con người này – rồi đây – sẽ tan tác, và Ngài sẽ bị họ bỏ rơi. Có thể nói, Ngài gọi họ… ‘để thất bại!’.

Trong đời sống đức tin, chúng ta mong một ơn gọi luôn ổn định, được ghi nhận, được bảo đảm. Muốn trung thành, nhưng chúng ta cũng muốn an toàn; sẵn sàng theo Chúa, miễn là con đường ấy đừng quá chông chênh, đừng đòi trả giá quá nhiều. Nhưng sự thật lại khác! Nhiều lúc, Chúa không gọi chúng ta để thành công, mà gọi bạn và tôi ‘để thất bại’, hầu mọi chỗ dựa quen thuộc lần lượt rơi khỏi tay, và mỗi người đứng trơ trọi trước một chọn lựa: tôi yêu Chúa vì Chúa, hay chỉ vì những gì Ngài từng ban? “Thất bại là một phần môi trường của Thiên Chúa để hình thành nhân cách chúng ta!” – Erwin McManus.

Chính trong những thất bại ấy, Thiên Chúa gỡ từng chiếc mặt nạ, để mỗi người gặp lại sự thật đáng thương của mình – yếu hơn, ít trung tín hơn, và ít quảng đại hơn chúng ta vẫn tưởng. Vậy mà đó cũng là thời điểm ơn gọi được tinh luyện! Không còn dựa vào hình ảnh tốt đẹp bản thân, chúng ta bám vào lòng thương xót Chúa; không còn tự tin vào sức riêng, chúng ta hiểu thế nào là cần đến ân sủng; và không còn đủ kiêu hãnh để đứng một mình, chúng ta học quỳ xuống. Có những lúc, Chúa để chúng ta thất bại trong cả những điều thánh nhất, để hiểu rằng, ơn cứu độ không đi qua sức riêng, mà đi qua sự tự hiến của Đức Kitô trong mỗi người.

Hãy nhìn Chúa Giêsu! Với con mắt thế gian, cuộc đời Ngài kết thúc trong thất bại; nhưng chính ở đó, Chúa Cha hoàn tất công trình cứu độ. Con đường cứu thế không hề dễ, nhưng đi qua lối tự hiến đến cùng. Có thể nói, Chúa Cha đã để Con Một Ngài học bài học đầu tiên – đến ‘để thất bại’ – nhưng từ trong thất bại ấy, sự sống mới được sinh ra. “Nhìn ra ngoài, con xao động; nhìn vào trong, con đau buồn; nhìn lên Chúa Giêsu, con an nghỉ!” – Corrie Ten Boom.

Anh Chị em,

Nhìn lên Chúa Kitô, chúng ta hiểu, những đổ vỡ của mình không nằm ngoài nhịp sóng của Ngài. Khi thấy mình thua cuộc, bất thành, bất lực trước những yếu đuối lặp đi lặp lại, rất có thể, bạn và tôi đang được mời gọi đi vào cùng một mầu nhiệm mà Chúa Kitô đã đi – mầu nhiệm của một tình yêu không bỏ cuộc, cả khi mọi sự xem ra đã mất. Vì thế, điều đáng sợ không phải là thất bại, mà là khép lòng trong thất bại; không phải là ngã, mà là không còn tin mình vẫn được gọi, được yêu, và vẫn được dắt đi cả trên những đoạn đường tối nhất. “Chúa Giêsu không đến để biến người xấu thành tốt; nhưng để biến kẻ chết thành người sống!” – Ravi Zacharias.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giữa những tan tác, cho con tin: chương trình Chúa vẫn lớn lên; giữa bao đổ vỡ, mầm sống Ngài gieo vẫn trổ sinh. Giữ con ở lại trên con đường chưa xong ấy!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***********************************

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần II Thường Niên, Năm Chẵn

Đức Giê-su gọi những kẻ Người muốn, để các ông ở với Người.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô. Mc 3,13-19

13 Khi ấy, Đức Giê-su lên núi và gọi những kẻ Người muốn. Các ông đến với Người. 14 Người lập Nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người, và để Người sai các ông đi rao giảng, 15 với quyền trừ quỷ. 16 Người lập Nhóm Mười Hai gồm có : ông Si-môn -Người đặt tên là Phê-rô-, 17 ông Gia-cô-bê con ông Dê-bê-đê, và ông Gio-an em ông Gia-cô-bê -Người đặt tên cho hai ông là Bô-a-nê-ghê, nghĩa là con của thiên lôi-, 18 rồi đến các ông An-rê, Phi-líp-phê, Ba-tô-lô-mê-ô, Mát-thêu, Tô-ma, Gia-cô-bê con ông An-phê, Ta-đê-ô, Si-môn thuộc nhóm Nhiệt Thành, 19 và Giu-đa Ít-ca-ri-ốt là chính kẻ nộp Người.


 

Cô bé ấy từng bị bán với giá 5 đô la trong một trại tị nạn…

My Lan Pham

Cô bé ấy từng bị bán với giá 5 đô la trong một trại tị nạn, rồi sau đó trở thành người phụ nữ khiến cả thế giới phải dừng lại và lắng nghe.

Trước khi là Waris Dirie, cô chỉ là một bé gái du mục trong sa mạc Somalia, một trong mười hai người con sinh ra trong một gia đình sống nay đây mai đó cùng lạc đà và dê, tồn tại nhờ sữa và sức chịu đựng. Khi mới năm tuổi, mẹ cô giữ chặt cô lại trong khi một người phụ nữ khác dùng dao lam thực hiện cắt xén bộ phận sinh dục nữ. Không có thuốc mê. Không có bệnh viện. Chỉ có nỗi đau không thể tưởng tượng nổi ,  nỗi đau sẽ ám ảnh cơ thể cô suốt cả đời.

Năm mười ba tuổi, cha cô thông báo rằng cô sẽ bị gả cho một người đàn ông sáu mươi tuổi để đổi lấy năm con lạc đà. Waris đã đưa ra một lựa chọn lẽ ra có thể giết chết cô: cô bỏ trốn, một mình, băng qua sa mạc Somalia vào ban đêm. Cô đi bộ suốt nhiều tuần lễ không thức ăn, không nước uống, không bản đồ. Cô bị sư tử rượt đuổi. Suýt chết vì mất nước. Nhưng cô vẫn tiếp tục bước đi, được thúc đẩy bởi thứ mạnh mẽ hơn cả nỗi sợ ,sự từ chối chấp nhận cuộc đời mà người khác đã áp đặt lên mình.

Cuối cùng, cô đến được Mogadishu, rồi sang London, nơi cô sống cùng những người họ hàng xa và làm giúp việc nhà. Cô không biết tiếng Anh. Không có học vấn. Ban ngày cô lau dọn nhà cửa, ban đêm tự học đọc chữ. Và rồi, trong một khoảnh khắc tưởng chừng như không thể có thật, cô được một nhiếp ảnh gia thời trang phát hiện khi đang làm việc tại McDonald’s vào năm 1987.

Chỉ trong vài tháng, Waris Dirie trở thành siêu mẫu quốc tế, xuất hiện trên trang bìa của Vogue, Elle và Glamour. Cô sải bước trên các sàn diễn ở Paris, Milan và New York. Cô xuất hiện trong một bộ phim James Bond. Thế giới thời trang tôn vinh vẻ đẹp lạ lẫm của cô, những đường nét sắc sảo, và sự “lột xác” ngoạn mục từ vô danh thành nổi tiếng toàn cầu.

Nhưng Waris mang trong mình một bí mật mà cô chưa từng kể với bất kỳ ai trong cuộc sống mới ấy. Những vết sẹo thể xác và tinh thần từ nạn cắt xén sinh dục nữ vẫn còn đó. Chấn thương luôn hiện diện, ẩn dưới những bộ váy hàng hiệu và ánh đèn máy ảnh. Và cô không thể ngừng nghĩ đến hàng triệu bé gái khác đang phải chịu đựng điều mà cô đã sống sót.

Năm 1997, ở đỉnh cao sự nghiệp người mẫu, Waris đã làm một việc khiến cả ngành thời trang chấn động: cô công khai nói về nạn cắt xén sinh dục nữ trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí Marie Claire. Cô kể với cả thế giới chính xác những gì đã xảy ra với mình khi mới năm tuổi. Cô mô tả nỗi đau, những biến chứng y tế kéo dài suốt đời, và tổn thương tâm lý. Cô gọi tên một tập tục đã được che giấu trong im lặng văn hóa suốt nhiều thế kỷ.

Phản ứng từ công chúng là cực kỳ dữ dội. Người quản lý của cô cảnh báo rằng sự nghiệp của cô sẽ kết thúc. Một số người trong cộng đồng của cô cáo buộc cô phản bội văn hóa Somalia. Nhưng cũng có một điều khác xảy ra: phụ nữ trên khắp thế giới bắt đầu lên tiếng. Những người sống sót bắt đầu chia sẻ câu chuyện của họ. Tập tục vốn được bảo vệ bởi sự xấu hổ và im lặng bỗng dưng bị đưa vào ánh sáng toàn cầu.

Waris không dừng lại. Năm 1997, cô trở thành Đại sứ Đặc biệt của Liên Hợp Quốc về việc loại bỏ nạn cắt xén bộ phận sinh dục nữ. Cô viết tự truyện Desert Flower, trở thành bestseller quốc tế và sau đó được chuyển thể thành phim. Năm 2002, cô thành lập Quỹ Desert Flower, dành riêng cho việc loại bỏ FGM và giúp những người sống sót tiếp cận chăm sóc y tế và tâm lý.

Hoạt động vận động của cô đã góp phần thay đổi luật pháp. Nhiều quốc gia châu Âu tăng cường luật chống FGM. Các quốc gia châu Phi lâu nay phớt lờ vấn đề bắt đầu ban hành lệnh cấm. Liên Hợp Quốc cũng đã công bố ngày 6 tháng 2 là Ngày Quốc tế “Không khoan nhượng” đối với nạn cắt xén bộ phận sinh dục nữ, một phần nhờ vào chiến dịch không mệt mỏi của cô.

Bạn có thể tưởng tượng đứng trên sàn diễn thời trang, nơi mọi người tôn vinh cơ thể bạn, trong khi bạn mang trong mình nỗi biết rằng thứ gì đó đã bị tước đoạt một cách bạo lực? Bạn có thể tưởng tượng đánh đổi tất cả những gì bạn đã xây dựng để nói ra một sự thật khiến người ta cảm thấy khó chịu?

Những con số chỉ phản ánh một phần câu chuyện: ước tính có khoảng 200 triệu bé gái và phụ nữ hiện đang sống đã trải qua FGM. Nhưng nhờ Waris và phong trào mà cô giúp khởi xướng, tỷ lệ này đang giảm. Ở một số quốc gia, tập tục này đã giảm hơn một nửa chỉ trong một thế hệ.

Waris Dirie không chỉ sống sót qua chấn thương ,cô đã biến nó thành một phong trào toàn cầu. Cô biến nỗi đau vốn định im lặng thành tiếng nói cho hàng triệu người. Cô chứng minh rằng đôi khi điều mạnh mẽ nhất bạn có thể làm là từ chối giữ bí mật xấu hổ của người khác.

Ngày nay, cô tiếp tục công việc vận động, chia thời gian giữa châu Âu và châu Phi. Cô không còn là cô bé mười ba tuổi sợ hãi chạy qua sa mạc. Cô cũng không chỉ là siêu mẫu rời bỏ danh vọng. Cô là người phụ nữ đã nhìn thẳng vào hàng thế kỷ bạo lực được bình thường hóa và nói: “Chuyện này kết thúc ở thế hệ của tôi.”

Cô từng bị bán với giá năm con lạc đà. Rồi cô trở thành vô giá.

Chia sẻ từ trang Virgins

My Lan Phạm


 

CẦN KHOẢNG CÁCH – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Các môn đệ dành cho Người một chiếc thuyền nhỏ, để khỏi bị đám đông chen lấn”.

“Khoảng lặng là lò luyện biến đổi. Không có khoảng lặng, chúng ta vẫn là nạn nhân của xã hội!” – Henri Nouwen.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho biết, giữa biển người náo nhiệt, Chúa Giêsu chọn “một chiếc thuyền nhỏ”; không để tránh con người, nhưng để không đánh mất “hướng đi cứu độ” dành cho con người – nói cách khác, Ngài ‘cần khoảng cách!’.

Đám đông không hề xấu. Đến với Chúa Giêsu, họ mang theo bệnh tật, khổ đau và những mong chờ rất thật và rất người. Nhưng những nhu cầu chính đáng ấy lại có sức cuốn khốc liệt! Nếu để bị dẫn dắt bởi những con sóng của đám đông, Chúa Giêsu sẽ không còn là Đấng được sai đến, mà chỉ còn là người đáp ứng những nhu cầu. Bấy giờ, đường thập giá dễ bị thay bằng con đường của thành công nhanh. “Chiếc thuyền nhỏ”, vì thế, là dấu chỉ của sự “tự do nội tâm”: không sống theo thị hiếu; không bước theo tiếng vỗ tay; nhưng trung thành với điều Chúa Cha muốn, cả khi điều ấy kéo Ngài vào con đường khó chịu nhất – đường thập giá! “Người vĩ đại là người – ngay giữa đám đông – vẫn giữ được sự độc lập của thinh lặng với một sự dịu dàng trọn vẹn!” – Ralph Emerson.

Tin Mừng còn cho thấy một nghịch lý khác: các thần ô uế nói đúng về Chúa Giêsu, nhưng Ngài lại cấm chúng nói. Vì không phải lời đúng nào cũng dẫn người ta đến gặp Chúa; có những lời chỉ làm đám đông sôi sục mà lòng người thì “không đổi!”. “Hãy dè chừng sự cằn cỗi của một cuộc đời bận rộn!” – Socrates. Chúa Giêsu không chọn con đường của bận rộn, nhưng của biến đổi. Ngài chọn con đường chậm, âm thầm – con đường của gặp gỡ và đổi mới từ bên trong. Với chúng ta, nguy cơ lớn không hẳn là làm điều xấu, mà là làm rất nhiều điều tốt nhưng không còn “đi ra từ trung tâm” – Giêsu – của ơn gọi. Chúng ta có thể bị cuốn phăng bởi lịch trình, bởi trách nhiệm, đến mức mọi quyết định chỉ còn là “bị đẩy đi” một cách vô hồn, chứ không còn là bước theo một Ai đó. Khi ấy, dù vẫn phục vụ, bạn và tôi lại dễ đánh mất bình an và niềm vui thuở ban đầu.

Anh Chị em,

Cao điểm của chọn lựa “một chiếc thuyền nhỏ” được Marcô kể ở một chỗ khác, “Sáng sớm, khi trời còn tối, Người đi ra nơi thanh vắng mà cầu nguyện”. Trước khi để cho ngày mới tràn vào bằng bao nhiêu tiếng gọi, Ngài lui về với nguồn mạch – tương quan với Chúa Cha. Từ nơi thinh không ấy, Ngài lại đi ra, tiếp tục chữa lành, tiếp tục giảng dạy, nhưng với một hướng đi không bị áp lực chung quanh chi phối. Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta tự hỏi: điều gì đang quyết định nhịp sống của tôi? Lời Chúa, hay sức ép của hoàn cảnh? Sứ mạng, hay những đòi hỏi không bao giờ vơi? Có thể, để yêu đúng và đi đúng, tôi cũng ‘cần khoảng cách?’. “Không phải sự gia tăng hằng ngày mà là sự giảm bớt hằng ngày. Hãy cắt bỏ những điều không thiết yếu!” – Bruce Lee.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giữa ồn ào, xin cho con ‘còn lặng’; giữa tiếng vỗ tay, xin cho con ‘còn thật’; và giữa thành công, xin cho con ‘còn thuộc về’ Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************************************

Lời Chúa Thứ Năm Tuần II Thường Niên, Năm Chẵn

Các thần ô uế kêu lên : Ông là Con Thiên Chúa. Nhưng Người cấm ngặt chúng không được tiết lộ Người.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô. Mc 3,7-12

7 Khi ấy, Đức Giê-su cùng với các môn đệ lui về phía Biển Hồ. Từ miền Ga-li-lê, người ta lũ lượt đi theo Người. Và từ miền Giu-đê, 8 từ Giê-ru-sa-lem, từ xứ I-đu-mê, từ vùng bên kia sông Gio-đan và vùng phụ cận hai thành Tia và Xi-đôn, người ta lũ lượt đến với Người, vì nghe biết những gì Người đã làm. 9 Người đã bảo các môn đệ dành sẵn cho Người một chiếc thuyền nhỏ, để khỏi bị đám đông chen lấn. 10 Quả thế, Người đã chữa lành nhiều bệnh nhân, khiến tất cả những ai có bệnh cũng đổ xô đến để sờ vào Người. 11 Còn các thần ô uế, hễ thấy Đức Giê-su, thì phủ phục trước mặt Người và kêu lên : “Ông là Con Thiên Chúa !” 12 Nhưng Người cấm ngặt chúng không được tiết lộ Người là ai.


 

Không nóng giận là phẩm chất của người đại trí tuệ – Thiên Cầm

Thiên Cầm

Chỉ những người có tu dưỡng mới có thể tiết chế được cảm xúc của bản thân, không hề nóng giận trước bất kể sự việc gì. Cũng bởi vì không nóng giận nên mọi việc người đó làm đều là lý tính, có thể tỉnh táo đánh giá tình hình và đưa ra phương án sáng suốt. Điều này phải là bậc đại trí tuệ mới có thể làm được.

Trong sách Trang Tử có kể câu chuyện ngụ ngôn sâu sắc như sau:

Tề Tuyên Vương sai Kỷ Sảnh nuôi một con gà chọi. Được mười hôm, vua hỏi: “Gà đã đem chọi được chưa?”

Kỷ Sảnh thưa: “Chưa được, gà hăng lắm, chưa thấy gà khác đã muốn chọi rồi.”

Cách mười hôm, vua lại hỏi: “Gà đã đem chọi được chưa?”

Kỷ Sảnh thưa: “Chưa được. Gà còn hăng, mới thấy bóng gà khác đã muốn chọi rồi.”

Cách mười hôm, vua lại hỏi: “Gà đã đem chọi được chưa?”

Kỷ Sảnh thưa: “Chưa được, gà còn hơi hăng, trông thấy gà khác đã muốn chọi rồi.”

Mười hôm sau, vua lại hỏi: “Gà đã đem chọi được chưa?”

Kỷ Sảnh thưa: “Được rồi. Gà bây giờ nghe thấy tiếng gà khác cũng không cho vào đầu. Trông thì tựa như gà gỗ, mà thực ra thì đủ các ngón hay. Gà khác coi thấy cũng đủ sợ, phải lùi chạy.”

Gà chọi nóng nảy, ham khiêu chiến sẽ thích gây gổ, đấu đá chẳng ngưng. Nhưng con gà chọi thiện chiến thực sự lại trông “tựa như gà gỗ” nhưng có thể trầm tĩnh thi triển “các ngón hay” của mình. Kỳ thực Trang Tử muốn thông qua câu chuyện ngụ ngôn này để nói lên một đạo lý rằng có thể tiết chế được cảm xúc của bản thân thì mới có thể làm việc lớn.

Gia Cát Lượng nói: “Lười nhác thì không thể tinh thâm, nóng nảy mạo hiểm thì không thể lý tính”. Khi lửa giận bốc lên sẽ che mờ lý trí của con người. Khi ấy con người thường sẽ mắc sai lầm mà chuốc lấy bại vong. Chỉ có buông bỏ tư tâm, trong lòng mới không bất bình oán hận, cơn nóng giận mới bị tiêu trừ từ trong trứng nước.

Có một câu chuyện về nhà Nho nổi tiếng Vương Dương Minh thế này. Vào năm Minh Chính Đức, Ninh Vương tạo phản, chỉ trong vòng một tháng Vương Dương Minh đã nhanh chóng bình định quân phiến loạn, giúp quốc gia tránh được tổn thất to lớn.

Nhưng ở triều đình, Vương Dương Minh bị kẻ khác sinh lòng đố kỵ, vu khống ông câu kết với Ninh Vương, vì việc chẳng thành, nên mới bán đứng Ninh Vương để bảo toàn tính mệnh. Chính Đức hoàng đế nghe theo lời dối trá của thuộc hạ, yêu cầu Vương Dương Minh thả Ninh Vương, định rằng sẽ thân chinh ngự giá.

Dẹp yên quân phản loạn là công lao lớn, nhưng Vương Dương Minh không những không được ghi nhận còn bị vu khống hãm hại. Đối mặt với tình cảnh này, Vương Dương Minh không hề nóng giận. Ông tới tìm Trương Vĩnh, giao phó toàn bộ công lao cho ông ta, để ông ta trừ bỏ đám hoạn quan kết bè kết đảng. Sau đó ông tự mình vào triều, bày tỏ tâm nguyện không tranh với đời, hoá giải đại hoạ một cách êm đẹp.

Vậy nên, khi bình phẩm về Vương Dương Minh, hậu thế mới có câu: “Vào lúc nguy cấp, vẫn dự liệu như thần, trí tuệ không hề lay chuyển.”

Có câu, “Nước sâu chảy chậm, người tôn quý ăn nói từ tốn”, người không nóng giận không phải kẻ đần mà là bậc đại trí giả. Một người khi không để tâm tới vật ngoại thân, được mất tuỳ duyên mới có thể giữ được sự an định trong nội tâm, không vui vì vật ngoại thân, không buồn vì được mất cá nhân của mình.

Thiên Cầm biên tập

From: Tu-Phung


 

Giữa ranh giới sinh – tử, đạo đức đã thắng nỗi sợ

Debora Viet Kieu

Khi Titanic chìm xuống lòng đại dương, trên con tàu ấy có mặt John Jacob Astor IV — một trong những người giàu nhất nước Mỹ thời bấy giờ. Khối tài sản trong ngân hàng của ông đủ để xây dựng tới 30 con tàu Titanic.

Thế nhưng, vào khoảnh khắc đối diện với cái chết, ông đã chọn điều mà mình tin là đúng đắn về mặt đạo đức: nhường chỗ trên thuyền cứu hộ cho hai đứa trẻ đang hoảng loạn.

Cũng trên chuyến tàu định mệnh ấy có Isidor Straus, đồng sở hữu chuỗi bách hóa lớn nhất nước Mỹ — Macy’s. Khi được mời lên thuyền cứu sinh, ông bình thản nói:

“Tôi sẽ không bao giờ lên thuyền khi vẫn còn phụ nữ và trẻ em trên tàu.”

Vợ ông, bà Ida Straus, cũng từ chối rời đi. Bà nhường chỗ của mình cho cô hầu gái mới, Ellen Bird, rồi lựa chọn ở lại bên chồng trong những giây phút cuối cùng.

Bà nói khẽ nhưng kiên định:

“Chúng ta đã sống bên nhau suốt bao năm. Nơi nào anh đi, em sẽ đi cùng.”

Những con người ấy — giàu có, quyền lực, có thể mua gần như mọi thứ — đã từ bỏ tài sản, thậm chí cả sinh mạng, để giữ trọn phẩm giá và nguyên tắc sống.

Chính lựa chọn đó đã khiến họ trở nên vĩ đại hơn mọi khối tài sản họ từng sở hữu.

Giữa ranh giới sinh – tử, đạo đức đã thắng nỗi sợ, và đó chính là biểu tượng cao đẹp nhất của văn minh và bản chất con người.


 

Hoan hô Đinh Văn Nơi – Nói được làm được!

Cuộc Sống Hằng Ngày

 Hoan hô Đinh Văn Nơi – Nói được làm được!

95 triệu dân Việt Nam đang chờ đợi vụ án này. Hàng chục năm lặng im, không ai giúp đỡ Hồ Duy Hải…

Bỗng nhiên Đinh Văn Nơi xuất hiện, bằng chứng được gửi tận tay Chủ tịch nước Lương Cường, khiến Nguyên H. Bình đứng ngồi không yên. Đinh Văn Nơi tiếp nhận và đưa ra, khiến dư luận đặc biệt chú ý!

Vụ án kéo dài hàng chục năm nay đang đứng trước những tình tiết có thể thay đổi cục diện.

Người dân kỳ vọng sự thật được soi chiếu đầy đủ, công lý không bị bỏ quên.

Với một con người, 20 năm tuổi xuân đã mất là không gì bù đắp được…

#HoDuyHai #CongLy #KieuOan #DinhVanNoi


 

Nguyễn Quốc Khải: Trump: Không có giải thưởng, không có hòa bình

Tiếng Dân News

Nguyễn Quốc Khải: Trump: Không có giải thưởng, không có hòa bình

Trong bức thư gửi cho Thủ Tướng Jonas Gahr Støre của Na Uy vào cuối tuần vừa qua, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump than phiền rằng, vì Na Uy không cho ông giải thưởng Hòa Bình, nên ông chỉ nghĩ đến quyền lợi của nước Mỹ, không cần phải tranh đấu cho hòa bình nữa. Lập trường của Trump là “No prize, No Peace”.

Ông ta viết nguyên văn trong thư như sau: “Xét thấy đất nước của các vị đã quyết định không trao cho tôi giải Nobel Hòa Bình dù [tôi] đã ngăn chặn hơn 8 cuộc chiến, tôi không còn cảm thấy có nghĩa vụ phải chỉ nghĩ đến hòa bình nữa, mặc dù hòa bình sẽ luôn là ưu tiên hàng đầu, giờ đây tôi có thể nghĩ đến những điều tốt đẹp và phù hợp cho Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ”.

Trump thực sự bị ám ảnh một cách điên cuồng về giải Nobel. Ông ta đã không hiểu được rằng Ủy Ban Nobel Na Uy, chứ không phải chính phủ Na Uy và chắc chắn không phải chính phủ Đan Mạch, mới là những người quyết định ai chiến thắng giải thưởng đó. Tuy nhiên, giờ đây ông không những đổ lỗi cho Na Uy vì đã không trao giải thưởng đó cho ông ta, mà còn sử dụng điều đó như một lý do để biện minh cho việc xâm lược Greenland.

Trump tuyên bố xạo láo rằng ông ta đã ngăn ngừa được hơn 8 cuộc chiến tranh trong nhiệm kỳ II. Tuyên bố của Donald không chính xác dựa trên thông tin từ cuối năm 2025 và đầu năm 2026. Mặc dù chính quyền Trump đã tuyên bố “chấm dứt 8 cuộc chiến tranh trong 8 tháng” (bao gồm Israel-Hamas, Israel-Iran, Rwanda-Cộng hòa Dân chủ Congo, Thái Lan-Campuchia, Pakistan-Ấn Độ, Armenia-Azerbaijan, Ai Cập-Ethiopia và Serbia-Kosovo), nhưng các chuyên gia kiểm chứng thông tin đã phát hiện ra rằng, đây là một sự phóng đại.

Trong một số trường hợp, giao tranh vẫn tiếp diễn bất chấp các thỏa thuận hòa bình. Trong một số cuộc xung đột, chẳng hạn như giữa Ấn Độ và Pakistan, các quan chức địa phương cho biết, mức độ can thiệp của ông Trump rất giới hạn. Một số cuộc xung đột được liệt kê là những tranh chấp kéo dài, cường độ thấp hoặc tranh chấp ngoại giao chứ không phải là những cuộc chiến tranh toàn diện, quy mô lớn. Các cuộc xung đột lớn ở Trung Đông vẫn tiếp diễn, và công việc giải quyết tình hình ở Gaza vẫn đang được tiến hành cho đến năm 2026.

Trong cùng bức thư, Trump xem ra không công nhận Greenland thuộc chủ quyền của Đan Mạch. Ông ta viết nguyên văn như sau:

“Đan Mạch không thể bảo vệ vùng đất đó khỏi Nga hoặc Trung Quốc, và tại sao họ lại có ‘quyền sở hữu’ vùng đất đó? Không có bất kỳ văn bản nào chứng minh điều đó, chỉ có một con thuyền cập bến ở đó cách đây hàng trăm năm, nhưng chúng tôi cũng từng có thuyền cập bến ở đó”.

Về mặt pháp lý, Greenland là một phần của Vương Quốc Đan Mạch nhưng hoạt động như một lãnh thổ tự trị với quyền tự quản rộng rãi, nghĩa là họ quản lý hầu hết các vấn đề nội bộ trong khi Đan Mạch phụ trách chính sách đối ngoại, quốc phòng và tiền tệ. Người dân Greenland là công dân Đan Mạch và có con đường dẫn đến độc lập thông qua Đạo luật Tự trị năm 2009, trong đó nếu có yêu cầu một cuộc trưng cầu dân ý và sự chấp thuận của Quốc Hội Đan Mạch để tách khỏi Đan Mạch hoàn toàn.

Vương Quốc Đan Mạch bao gồm ba phần: Đan Mạch, Quần đảo Faroe và Greenland. Tất cả đều nằm dưới sự cai trị của cùng một vị vua, nhưng hai quốc gia sau được hưởng quyền tự trị rộng rãi trong các vấn đề nội bộ. Liên minh này được gọi là Vương Quốc Đan Mạch (tiếng Đan Mạch: Rigsfællesskabet). Tiếng Đan Mạch là ngôn ngữ chính trên cả ba vùng.

Vương quốc Đan Mạch đã tồn tại hơn 1000 năm, với chế độ quân chủ thống nhất có nguồn gốc từ vua Viking Gorm the Old (mất khoảng năm 958) và Harald Bluetooth (người đã thống nhất Đan Mạch và du nhập Kitô giáo khoảng năm 965 sau Công nguyên). Đây là một trong những chế độ quân chủ liên tục lâu đời nhất châu Âu, mặc dù lãnh thổ và quyền lực của nó đã thay đổi đáng kể thông qua các liên minh (như Liên minh Kalmar) và các cuộc chiến tranh, và cuối cùng phát triển thành chế độ quân chủ lập hiến vào năm 1849.

Một lần nữa, trong bức thư Trump không quên nhắc tới tham vọng chiếm Greenland vì lý do an ninh của Hoa Kỳ và một phần vì Đan Mạch không đủ sức chống lại Nga và Trung Quốc. Ông viết: “Tôi đã làm nhiều hơn cho NATO so với bất kỳ người nào khác kể từ khi tổ chức này được thành lập, và giờ đây, NATO nên làm điều gì đó cho Hoa Kỳ. Thế giới sẽ không an toàn trừ khi chúng tôi kiểm soát hoàn toàn và tuyệt đối Greenland”.

Căng thẳng liên quan đến Greenland đã leo thang mạnh mẽ trong tuần qua, và thư của Trump đã tạo thêm mức độ bất ổn mới trong chiến dịch nhằm giành quyền kiểm soát hòn đảo này.

Trong một cuộc phỏng vấn ngắn qua điện thoại với NBC News, Donald Trump đã không loại trừ khả năng chiếm Greenland bằng vũ lực. Ông nói “Không bình luận”. Ông nhấn mạnh rằng ông sẽ “100%” tiếp tục thực hiện kế hoạch áp thuế đối với các quốc gia châu Âu nếu ông không có được Greenland”.

Chiến tranh nóng liên quan đến Greenland đang chuyển thành chiến tranh thương mại giữa Hoa Kỳ và Liên Âu. Trong khi đó, Trung Quốc kêu gọi Mỹ ngừng sử dụng cái gọi là “mối đe dọa từ Trung Quốc” làm lý do để áp thuế đối với các quốc gia châu Âu, những nước đã phản đối kế hoạch mua lại Greenland của Trump.

Cuối năm 2018, Trump yêu cầu Cố vấn An ninh Quốc gia John Bolton, xem xét một ý tưởng do một doanh nhân nổi tiếng đưa ra: Liệu Hoa Kỳ có nên mua Greenland hay không. Bolton nói, ông không xem xét vấn đề này. Ông nhớ lại mình đã nói: “Chúng ta có những lợi ích chiến lược quan trọng ở đó”.

Theo cựu Cố vấn An ninh Quốc gia John Bolton, doanh nhân đề nghị Donald Trump mua Greenland là Ronald Lauder, người thừa kế tập đoàn Mỹ phẩm Estée Lauder. Ông Lauder đưa ra ý tưởng này cho Trump trong nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên. Lauder là một người bạn lâu năm của Trump và là một nhà tài trợ lớn, đã đề nghị làm trung gian liên lạc với chính phủ Đan Mạch để đàm phán, mặc dù sau đó Trump lại nhận ý tưởng này là của mình.

Khi báo Wall Street Journal đăng tải câu chuyện này hồi tháng 8 năm 2019, “mọi chuyện bắt đầu tệ đi từ đó,” Bolton nhớ lại. Thủ Tướng Đan Mạch Mette Frederiksen gọi ý tưởng mua Greenland của Trump là “vô lý”. Trump gọi tuyên bố của thủ tướng là “xấu xa” và “không phù hợp”. Trump bảo Bolton hủy chuyến thăm Copenhagen.

Tuy nhiên, tám năm sau, việc Trump theo đuổi Greenland đã trở thành trọng tâm trong nhiệm kỳ tổng thống thứ hai của ông. Trong những ngày gần đây, ông đã tăng cường áp lực lên các nhà lãnh đạo châu Âu nhằm giành quyền kiểm soát hòn đảo lớn nhất thế giới này cho Hoa Kỳ.

Trump là một người có mong tham vọng bành trướng lãnh thổ và việc chiếm Greenland nằm trong tham vọng đế quốc này. James Polk, tổng thống thứ 11 của Mỹ, vào giữa thế kỷ 19, đã thực hiện mở rộng lãnh thổ lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Trump đã treo bức chân dung của Polk trong Phòng Bầu Dục.

James Polk đã mở rộng lãnh thổ nước Mỹ một cách đáng kể thông qua việc theo đuổi mạnh mẽ học thuyết “Vận Mệnh Hiển Nhiên” (Manifest Destiny), bằng cách sáp nhập Texas, giải quyết vấn đề biên giới Oregon với Anh và giành chiến thắng trong Chiến Tranh Mỹ-Mexico, dẫn đến việc Mexico nhượng lại California, New Mexico và nhiều vùng lãnh thổ khác, mở rộng lãnh thổ Hoa Kỳ từ Đại Tây Dương đến Thái Bình Dương và thêm vào diện tích hơn một triệu dặm vuông.

Thế kỷ 21 hoàn toàn khác biệt với thế kỷ 19. Điều đáng sợ là Trump không có kiến thức về lịch sử. Các nhà phê bình và các sử gia thấy rõ điều này qua những phát ngôn sai lầm của Trump về các nhân vật như Lincoln (không biết ông ấy là đảng viên Cộng Hòa), hay Nhà Trắng từng bị Canada, không phải Anh, đốt cháy và sự thiếu hiểu biết về các sự kiện phức tạp như nội chiến Mỹ. Ông từng mạnh mẽ bảo vệ các biểu tượng của Liên Minh Miền Nam và tấn công các dự án nghiên cứu lịch sử về vấn đề chủng tộc.

Sau khi thắng cử năm 2024, ngay lập tức Trump hướng sự chú ý đến việc mua lại Greenland của Đan Mạch, theo những người tham gia vào các cuộc thảo luận. Trump ám chỉ rằng nếu Đan Mạch không từ bỏ quyền kiểm soát Greenland, ông có thể sẽ dùng vũ lực để chiếm lấy.

Theo các thỏa thuận của NATO, Hoa Kỳ có thể đóng quân và triển khai các khí tài quân sự ở Greenland tùy thích. Việc chiếm Greenland không dễ và không cần thiết. Trump đang làm cho mối quan hệ của Hoa Kỳ với các đồng minh thân cận nhất trở nên xấu đi và bắt đầu một cuộc chiến thương mại tàn khốc.

Cuối tuần qua, hàng ngàn người tập trung trước Đại sứ quán Mỹ ở thủ đô Copenhagen của Đan Mạch và thủ đô Nuuk của Greenland để biểu tình phản đối tham vọng đế quốc của Trump đối với Greenland. Một số người đội những chiếc mũ đỏ nhại lại khẩu hiệu nổi tiếng MAGA với dòng chữ “Make America Go Away” (Làm cho Mỹ biến đi).

Nếu Trump có chiếm được Greenland (xác suất 0%), an ninh của Mỹ cũng sẽ bị suy yếu vì Mỹ có thể mất các căn cứ ở lục địa Âu châu, mất luôn cả hai nước láng giềng gần, mất cả sự tin cậy của đồng minh. Sau canh bạc này, Trump và Mỹ trắng tay, khó có thể khôi phục lại NATO như xưa. Đó là cái giá phải trả vì dân Mỹ đưa một nhân vật đần độn và điên khùng lên làm tổng thống.

Nếu Trump phải chiếm Greenland vì an ninh của Mỹ, Nga cũng sẽ nêu lý do tương tự để chiếm Ukraine, và Trung Quốc cũng có cớ để chiếm Đài Loan. Ảnh hưởng dây chuyền sẽ tiếp diễn không bao giờ ngừng. Sau Greenland sẽ là Canada và Mexico. Sau Ukraine sẽ là các nước Baltic. Sau Đài Loan sẽ là Việt Nam và Phi Luật Tân. Tóm lại, cá lớn sẽ nuốt cá bé và thế giới sẽ hỗn loạn.

Các dân biểu Cộng Hòa thường không muốn công khai phản đối tổng thống, người đã nhiều lần kêu gọi loại bỏ những người bất đồng chính kiến ​​trong đảng khỏi chức vụ. Sau nhiều cuộc thăm dò dư luận đều cho thấy, hầu hết công chúng Mỹ phản đối việc mua Greenland hay chiếm hòn đảo này bằng võ lực. Các nhà lập pháp Cộng Hòa đã thay nhau chỉ trích ý kiến điên rồ của Trump.

Thượng nghị sĩ Thom Tillis (Cộng Hòa, North Carolina) phát biểu trong bài diễn thuyết trước Thượng viện tuần vừa qua: “Ý nghĩ rằng Hoa Kỳ sẽ chiếm Greenland, một lãnh thổ tự trị thuộc Vương quốc Đan Mạch, là điều vô lý. Ai đó cần phải nói với tổng thống rằng người dân Greenland, cho đến thời điểm hiện tại, thực sự rất ủng hộ Mỹ và rất ủng hộ sự hiện diện của Mỹ”.

Dân biểu Don Bacon (Cộng Hòa, Nebraska) nói với báo Omaha World-Herald: “Nếu ông ta thực hiện những lời đe dọa đó, tôi nghĩ đó sẽ là dấu chấm hết cho nhiệm kỳ tổng thống của ông ta. Và ông ta cần phải biết: Lối thoát duy nhất là nhận ra rằng Đảng Cộng Hòa sẽ không dung thứ cho điều này và ông ta sẽ phải lùi bước. Ông ta ghét bị từ chối, nhưng trong trường hợp này, tôi nghĩ Đảng Cộng Hòa cần phải kiên quyết”.

“Với tư cách là người đứng đầu phái đoàn Hoa Kỳ tại [Hội đồng Nghị viện NATO], tôi không thể nhấn mạnh hết tầm quan trọng của mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương của chúng ta”, dân biểu Mike Turner (Cộng Hòa, Ohio) viết trên X. “Chúng ta phải tôn trọng chủ quyền của người dân Đan Mạch và Greenland”.

Trong một cuộc phỏng vấn với CNN tuần trước, Thượng nghị sĩ John Kennedy (Cộng Hòa, Louisiana) cho biết: “Việc xâm lược Greenland và tấn công chủ quyền của một quốc gia thành viên NATO khác sẽ là hành động cực kỳ ngu ngốc. Tổng thống Trump không phải là người ngu ngốc đến mức đó”.

Ngày nào Trump còn ngồi trong phòng bầu dục, ngày đó dân Mỹ còn khốn khổ với những vấn đề cơm áo gạo tiền, ngoài ra còn phải lo những chuyện biến động trên thế giới do chính Trump gây ra, mặc dù ông hứa không can thiệp vào chuyện của các nước khác để lo cho dân Mỹ. Cử tri Mỹ có cơ hội trục xuất Trump ra khỏi Nhà Trắng vào tháng 11 sắp tới.

__________

Tham khảo:

– Chris Stein, “Republican dissent as key figures warn Trump against Greenland pursuit”. The Guardian, January 17, 2026.

– Meridith McGraw, Alex Leary, Josh Dawsey, “Why an Emboldened Trump Set His Sights on Greenland”. WSJ, January 19, 2026.

– James C. Reynolds, “Trump links Greenland pursuit to Nobel Peace Prize snub in extraordinary letter to Norway’s PM”. The Independent, January 19, 2026.

– Jeffrey Gettleman, Henrik Pryser Libell, “Trump Links His Push for Greenland to Not Winning Nobel Peace Prize”. New York Times, January 19, 2026.

– Ellen Francis, Steve Hendrix, “Trump ties Greenland takeover bid to Nobel Prize in text to Norway leader”. Washington Post, January 20, 2026.

– Anne Applebaum, “Trump’s Letter to Norway Should Be the Last Straw”. The Atlantic, January 19, 2026.

https://baotiengdan.com/…/trump-khong-co-giai-thuong…/

Tiếng Dân News

News & media website


 

Trump đối mặt lời kêu gọi phế truất sau khi gửi thư ‘bắt đền’ thủ tướng Na Uy

Ba’o Nguoi-Viet

January 20, 2026

WASHINGTON, DC (NV) – Thượng Nghị Sĩ Ed Markey (Dân Chủ-Massachussetts), người sẽ phải trải qua kỳ bầu cử sơ bộ trước đối thủ cùng đảng trong năm nay, kêu gọi phế truất Tổng Thống Donald Trump theo Tu Chính Án thứ 25 sau khi ông Trump “bắt đền” thủ tướng Na Uy.

Trong thư, ông Trump thừa nhận rằng ông có lẽ sẽ không gây áp lực buộc Đan Mạch nhượng lại Greenland nếu ông được Ủy Ban Nobel Na Uy trao giải Nobel Hòa Bình năm 2025, theo báo mạng The Hill hôm Thứ Ba, 20 Tháng Giêng.

Thượng Nghị Sĩ Ed Markey phát biểu tại một buổi họp báo tại Quốc Hội hồi Tháng Năm, 2025. (Hình minh họa: Kayla Bartkowski/Getty Images)

“Hãy vận dụng Tu Chính Án thứ 25,” ông Markey viết trên mạng xã hội bên cạnh hình ảnh bài báo của nhật báo The New York Times đưa tin ông Trump liên kết việc ông đòi thâu tóm Greenland với việc không được trao giải Nobel trong một tin nhắn gửi cho lãnh đạo Na Uy, Thủ Tướng Jonas Gahr Store.

NYT đưa tin rằng ông Store nhận được một lá thư từ ông Trump hôm Chủ Nhật, 18 Tháng Giêng, trong đó ông nói thẳng rằng việc ông không được giải Nobel thúc đẩy ông có thái độ quyết liệt đòi chiếm Greenland, vùng lãnh thổ của Đan Mạch.

Trong thư trả lời, Thủ Tướng Store nói rằng chính phủ Na Uy không có quyền hạn gì trong việc trao giải Nobel, và Ủy Ban Nobel Na Uy hoạt động độc lập với chính phủ.

Lời kêu gọi này của ông Markey về việc vận dụng Tu Chính Án 25 để phế truất ông Trump có thể sẽ không đi đến đâu.

Làm như vậy sẽ đòi hỏi Phó Tổng Thống JD Vance và đa số thành viên nội các của ông Trump phải chuyển đến Quốc Hội tuyên bố rằng tổng thống không thể thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ theo chức trách của mình.

Sau đó, ngay lập tức quyền lực sẽ được chuyển giao cho phó tổng thống.

Tu Chính Án 25 yêu cầu Quốc Hội phê chuẩn quyết định phế truất ông Trump trong vòng 21 ngày kể từ ngày nhận được thông báo từ phó tổng thống và nội các.

Quyết định này cần được đa số tuyệt đối, tức hai phần ba lưỡng viện Quốc Hội thông qua. Nếu không, tổng thống sẽ vẫn nắm quyền.

Tuy nhiên, Thượng Nghị Sĩ Ed Markey không phải là thành viên Quốc Hội duy nhất kêu gọi phế truất ông Trump.

 “Tổng thống Mỹ bị tâm thần nghiêm trọng và điều đó đang khiến tất cả tính mạng của chúng ta gặp nguy hiểm. Có Tu Chính Án thứ 25 là có lý do của nó – chúng ta cần vận dụng nó ngay lập tức,” Dân Biểu Yassamin Ansari (Dân Chủ-Arizona) viết trên X trong khi chia sẻ bức thư ông Trump gửi cho Thủ Tướng Store.

Trong một diễn biến khác, Tiến Sĩ Jonathan Reiner, bác sĩ tim của cố phó Tổng Thống Dick Cheney, hôm Thứ Hai kêu Quốc Hội mở điều tra khả năng thực thi chức vụ của ông Trump.

“Bức thư này, và thực tế là tổng thống đã chỉ đạo nó, được gửi đến các nước Châu Âu khác, cần kích hoạt một cuộc điều tra lưỡng đảng của Quốc Hội về khả năng thực thi chức vụ của tổng thống,” ông Reiner viết trên X. (NNL) [đ.d.]


 

Một người đàn ông chỉ học hết lớp 8, đã cầm bút chì trong phòng giam của mình và vô tình thay đổi lịch sử nước Mỹ mãi mãi

Tony Nguyễn

Năm 1961, một người đàn ông chỉ học hết lớp 8 đã cầm bút chì trong phòng giam của mình và vô tình thay đổi lịch sử nước Mỹ mãi mãi.

Clarence Earl Gideon không phải là người đặc biệt. Ở tuổi 51, ông là một người lang thang với mái tóc bạc, làn da sạm nắng và một cuộc đời đầy bất hạnh. Ông lang thang từ thị trấn này sang thị trấn khác, làm những công việc lặt vặt, sống lay lắt qua ngày, thỉnh thoảng lại vào tù vì những tội nhỏ. Ông chưa bao giờ học hết cấp hai. Ông chưa bao giờ có tiền. Và vào ngày 4 tháng 8 năm 1961, khi đứng trước tòa án ở Florida bị buộc tội đột nhập vào một quán bi-a, ông không có luật sư.

Bằng chứng chống lại ông rất mỏng manh – ai đó tuyên bố đã nhìn thấy ông gần quán bi-a Bay Harbor khoảng 5:30 sáng với tiền xu trong túi. Năm đô la tiền lẻ đã bị mất khỏi tòa nhà, cùng với một ít bia và nước ngọt. Chỉ có vậy. Gideon thề rằng mình vô tội, nhưng ai sẽ lắng nghe một người lang thang nghèo khó với tiền án tiền sự?

Khi phiên tòa bắt đầu, Gideon đưa ra một yêu cầu mà ông tin là đơn giản và hợp hiến: “Thưa Thẩm phán, tôi yêu cầu tòa án chỉ định luật sư bào chữa cho tôi trong phiên tòa này.”

Câu trả lời của thẩm phán rất lịch sự nhưng lại vô cùng tàn nhẫn: “Ông Gideon, tôi rất tiếc, nhưng tôi không thể chỉ định luật sư bào chữa cho ông trong trường hợp này. Theo luật của tiểu bang Florida, tòa án chỉ có thể chỉ định luật sư bào chữa cho bị cáo khi người đó bị buộc tội phạm tội nghiêm trọng.”

Hãy suy nghĩ về điều đó một chút. Hệ thống pháp luật Mỹ – với tất cả sự phức tạp, các quy tắc thủ tục, ngôn ngữ chuyên ngành – lại yêu cầu một người chưa học hết cấp hai phải tự bào chữa cho mình trước các công tố viên được đào tạo bài bản. Họ mong đợi ông hiểu luật chứng cứ, thẩm vấn nhân chứng và bảo vệ quyền hiến pháp của chính mình.

Gideon đã cố gắng hết sức. Ông thẩm vấn nhân chứng. Ông tuyên bố mình vô tội. Nhưng làm sao bạn có thể tự bào chữa cho mình khi bạn không hiểu ngôn ngữ của luật pháp? Bồi thẩm đoàn tuyên bố ông có tội. Vào ngày 25 tháng 8 năm 1961, Thẩm phán Robert L. McCrary đã tuyên án ông mức án tối đa: năm năm tù tại nhà tù tiểu bang Florida.

Hầu hết mọi người sẽ bỏ cuộc. Nhưng Clarence Earl Gideon không phải là người bình thường.

Trong thư viện nhà tù, giữa những cuốn sách luật mà ông hầu như không thể hiểu, Gideon bắt đầu đọc. Dần dần, một cách khó nhọc, ông tự học về Hiến pháp. Ông phát hiện ra lời hứa của Tu chính án thứ Sáu về “quyền được trợ giúp pháp lý”. Ông tìm hiểu về sự đảm bảo của Tu chính án thứ Mười bốn về thủ tục tố tụng công bằng. Và ông nhận ra một điều khiến lòng ông đau nhói: hệ thống này về cơ bản đã bị hỏng.

Làm sao công lý có thể tồn tại khi những bị cáo giàu có có luật sư, còn những người nghèo lại phải đối mặt với các công tố viên một mình?

Gideon đã nộp đơn kiến ​​nghị lên Tòa án Tối cao Florida. Họ bác bỏ đơn mà không đưa ra bất kỳ bình luận nào.

Vì vậy, ông lại cầm bút lên. Với nét chữ run rẩy trên giấy viết thư của nhà tù, trên năm trang giấy viết tay với lỗi chính tả không hoàn hảo, ông đã viết một đơn kiến ​​nghị gửi Tòa án Tối cao Hoa Kỳ. Ông ký tên. Ông gấp lại. Và vào ngày 8 tháng 1 năm 1962, tiếng nói của một tù nhân nghèo đã đến được tòa án cao nhất nước Mỹ.

Bất chấp mọi khó khăn có thể tưởng tượng được, họ đã lắng nghe.

Tòa án Tối cao nhận được hàng nghìn đơn kiến ​​nghị mỗi năm. Hầu hết đều bị bác bỏ mà không cần xem xét kỹ lưỡng. Nhưng có điều gì đó trong vụ án của Gideon đã gây ấn tượng mạnh. Vào ngày 4 tháng 6 năm 1962, họ đồng ý xem xét đơn kháng cáo của ông. Và vì ông không đủ khả năng thuê luật sư, họ đã chỉ định cho ông một trong những luật sư giỏi nhất nước: Abe Fortas, người sau này sẽ trở thành Thẩm phán Tòa án Tối cao.

Vào ngày 15 tháng 1 năm 1963, Fortas đã đưa ra một lập luận đơn giản nhưng đầy sức thuyết phục: Nếu Clarence Darrow—có lẽ là luật sư hình sự vĩ đại nhất trong lịch sử nước Mỹ—còn cần thuê luật sư khi bị buộc tội, thì làm sao một người chỉ học hết lớp tám có thể tự bào chữa cho mình?

Câu trả lời rất rõ ràng. Ông ấy không thể. Không ai có thể.

Vào ngày 18 tháng 3 năm 1963, Tòa án Tối cao công bố phán quyết: 9 phiếu thuận, 0 phiếu chống. Nhất trí. Thẩm phán Hugo Black, người đã tranh luận cho kết quả này trong hơn hai mươi năm, đã viết bản án. Tòa án tuyên bố rằng quyền được có luật sư là “cơ bản và thiết yếu cho một phiên tòa công bằng”. Các tiểu bang phải cung cấp luật sư cho các bị cáo nghèo đối mặt với các cáo buộc nghiêm trọng. Tiền lệ cũ đã bị lật ngược. Và vụ án của Gideon được gửi trở lại Florida để xét xử lại.

Lần này, Gideon có luật sư: Fred Turner. Với sự đại diện chuyên nghiệp, mọi thứ đã thay đổi. Turner đã vạch trần những điểm yếu trong vụ án của bên công tố. Ông tiết lộ rằng nhân chứng chủ chốt của tiểu bang có thể chính là người đã thực hiện vụ trộm. Ông ấy đã chứng minh được sự nghi ngờ hợp lý, trong khi trước đó dường như chỉ có tội lỗi.

Vào ngày 5 tháng 8 năm 1963—tại cùng một tòa án, trước cùng một thẩm phán—bồi thẩm đoàn đã đưa ra phán quyết:

Không có tội.

Sau hơn hai năm ngồi tù vì một tội mà ông không phạm phải, Clarence Earl Gideon đã được tự do.

Nhưng di sản của ông vẫn còn mãi. Nhờ đơn kiến ​​nghị viết bằng bút chì của một người đàn ông, hệ thống tư pháp Mỹ đã thay đổi một cách căn bản. Các tiểu bang trên khắp cả nước phải thành lập các văn phòng luật sư công. Hàng nghìn tù nhân bị kết tội mà không có luật sư đã được xét xử lại. Nguyên tắc rằng công lý không nên phụ thuộc vào sự giàu có đã trở thành luật.

Gideon trở lại cuộc sống bình lặng của mình. Ông kết hôn lần thứ năm. Ông phải vật lộn với các vấn đề sức khỏe. Khi ông qua đời vì ung thư vào ngày 18 tháng 1 năm 1972, ở tuổi 61, ông vẫn nghèo khó. Ban đầu, gia đình ông chôn cất ông trong một ngôi mộ không có bia mộ ở Missouri.

Nhưng nhiều năm sau, ACLU đã đặt một bia mộ bằng đá granit trên ngôi mộ đó. Dòng chữ khắc trên bia mộ được trích từ chính lời của Gideon trong một lá thư gửi cho Abe Fortas: “Mỗi thời đại đều tìm thấy sự cải tiến trong luật pháp vì lợi ích của nhân loại.”

Ngày nay, mỗi khi bạn nghe thấy những lời “bạn có quyền được có luật sư, và nếu bạn không đủ khả năng chi trả, một luật sư sẽ được chỉ định cho bạn”—những lời đó tồn tại là nhờ một người đàn ông đã từ chối chấp nhận rằng người nghèo phải đối mặt với công lý một mình.

Clarence Earl Gideon đã chứng minh rằng lực lượng mạnh mẽ nhất để tạo ra sự thay đổi không phải là sự giàu có, địa vị hay học vấn. Đôi khi, đó chỉ đơn giản là lòng dũng cảm để cầm bút lên và viết: “Điều này không đúng.”

Và đôi khi, bất chấp mọi khó khăn, thế giới lại đồng ý.


 

Ở tuổi 70, tôi không cầu sống lâu: chỉ âm thầm giữ 3 “ĐƯỜNG LUI” để thân tâm luôn an hòa

Những câu chuyện Nhân Văn

Ở tuổi 70, tôi không cầu sống lâu: chỉ âm thầm giữ 3 “ĐƯỜNG LUI” để thân tâm luôn an hòa

Cô bác, anh chị thân mến,

Già đi là lẽ thường. Nhưng sống sao cho nhẹ lòng, không làm phiền ai… thì tôi muốn chuẩn bị từ sớm. Bác sĩ Phương không sợ già, chỉ sợ lúc yếu lại khiến người thân lo lắng. Nên nhiều năm nay, tôi âm thầm chuẩn bị cho mình ba “đường lui”, để tuổi 70 được sống bình yên, tự chủ:

  1. Một thân thể đủ khỏe

Tôi không mong sống lâu, chỉ mong tự lo được cho mình. Ăn uống vừa phải, vận động đều, ngủ sớm… để mỗi ngày trôi qua vẫn thấy mình còn là chính mình. Một cơ thể khỏe là nền tảng để đi nhẹ nhàng qua tuổi già.

  1. Một khoản riêng để phòng thân

Tôi không dư dả, nhưng luôn cố gắng dành một khoản tiền riêng – không nhiều nhưng đủ để không bối rối khi đau ốm hay có việc đột xuất. Có tiền phòng thân giúp tâm vững, không phụ thuộc con cháu, không lo lắng khi gặp chuyện bất ngờ.

  1. Một người bên cạnh để nương nhau qua ngày

Tôi vẫn hay nói với chồng: “Hai người già ở với nhau, quan trọng nhất là không làm khổ nhau.” Ở tuổi này, chẳng cần gì lớn lao, chỉ cần có người cùng ăn bữa cơm, cùng nhắc chuyện xưa mà thấy nhẹ lòng. Bạn đời không phải chỗ dựa duy nhất, nhưng là bến đỗ tinh thần cuối cùng.

Cô bác, anh chị à, ba đường lui không phải để trốn tránh tuổi già, mà để đi vào nó nhẹ nhàng, tự chủ, và biết ơn. Tôi không mong sống lâu, chỉ mong sống vui, sống sao cho người bên mình thấy dễ chịu, người nhớ về mình không tiếc nuối.

Cô bác anh chị có đồng tình với tôi không?

TTƯT, Bác sĩ Lê Phương

 


 

LIÊN MINH KỲ LẠ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nhóm Pharisêu lập tức bàn tính với phe Hêrôđê, để tìm cách giết Đức Giêsu”.

“Đoàn kết không có chân lý là âm mưu chống lại chân lý!” – Thomas Merton.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy, khi sự thật trở thành bất tiện, con người dễ đoàn kết và hình thành một ‘liên minh kỳ lạ!’.

Nhóm Pharisêu giữ luật, phe Hêrôđê giữ quyền – không chung đường – nay chung quyết định loại Chúa Giêsu, Đấng đặt sự sống con người trên mọi cơ chế. Thế giới hôm nay không xa lạ với hình ảnh ấy. Những lá phiếu “vì hoà bình” tại Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc đôi khi chỉ vì quyền lợi của vài nước lớn. Công lý được nhắc, nhưng bị treo lơ lửng vì những cái bắt tay sau hậu trường – thậm chí công khai. Có những sự đồng thuận hợp pháp, nhưng không hẳn vì nhân quyền.

Giữa những cơ chế, Chúa Giêsu không chọn thương lượng để an toàn, không chọn im lặng để được chấp nhận. Ngài tiếp tục làm điều lành, dù biết sẽ dẫn tới xung đột. Ở đây, ba cám dỗ sa mạc hiện hình – an toàn thay vì tín thác, quyền lực thay vì phục vụ, thoả hiệp thay vì bị loại trừ. Ngài không để bất cứ liên minh nào làm trệch hướng; Ngài chỉ để ý muốn Chúa Cha và sự sống con người dẫn đường. “Chính trực là làm điều đúng ngay cả khi điều đó khó khăn!” – W. Clement Stone.

Xót xa hơn, điều này cũng có thể hình thành ngay trong đời sống Giáo Hội. Không cần âm mưu, chỉ cần cùng im lặng – né tránh để khỏi rắc rối, lờ đi để giữ yên ổn, chấp nhận những điều chưa đúng để khỏi đối diện phải đổi thay. Không cần đồng ý về điều sai; chỉ cần đừng ai nói đến điều đúng! Và thế là có thể rất trật tự, rất “êm”, nhưng lại bị trói bởi một ‘liên minh kỳ lạ’ – để giữ nguyên trạng, hơn là để trung thành với Tin Mừng.

Trong chính hiện sinh của mỗi người, cũng có những thoả thuận ngầm giữa đức tin và tiện nghi, giữa lương tâm và sợ hãi, giữa sĩ diện và bình an. Không ai chối Chúa, nhưng trì hoãn để ân sủng Ngài chạm tới những vùng tối. Chúng ta tự thương lượng: lần này thôi, để sau, miễn sao cuộc sống vẫn trôi êm. Và như thế, bạn và tôi sống một đức tin đủ để yên tâm, chưa đủ để hoán cải. “Trong khoảnh khắc quyết định, điều tốt nhất bạn có thể làm là làm điều đúng; điều tốt thứ hai là làm sai; và tệ nhất là không làm gì cả!” – Theodore Roosevelt.

Anh Chị em,

Theo Chúa Giêsu không cho phép ai đứng về phía số đông, nhưng dám đứng về phía sự thật, cả khi điều đó khiến chúng ta lạc lõng. Ngài không chọn an toàn, vì lối an toàn thường dẫn tới thoả hiệp; Ngài chọn con đường tình yêu phải trả giá, và đường ấy đưa Ngài lên thập giá – ngai toà đỏ máu của một tình yêu không bị mua chuộc. Mỗi ngày, bạn và tôi đứng trước cùng một chọn lựa: trung thành với Tin Mừng, hay với những thoả thuận giúp mình khỏi đổi thay? “Mỗi khi bạn thấy mình đứng về phía đa số, đó là lúc dừng lại và tự suy nghĩ!” – Mark Twain.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con im lặng cho yên ổn, lay con khỏi thoả hiệp; khi con chọn đường dễ, kéo con về thập giá; khi con giữ chặt an toàn, xin bẻ con cho tình yêu!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

************************

Lời Chúa Thứ Tư Tuần II Thường Niên, Năm Chẵn

Ngày sa-bát, được cứu mạng người hay giết đi ?

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô. Mc 3,1-6

1 Khi ấy, Đức Giê-su lại vào hội đường. Ở đó có một người bị bại tay. 2 Họ rình xem Đức Giê-su có chữa người ấy trong ngày sa-bát không, để tố cáo Người. 3 Đức Giê-su bảo người bại tay : “Anh đứng dậy, ra giữa đây !” 4 Rồi Người nói với họ : “Ngày sa-bát, được phép làm điều lành hay điều dữ, cứu mạng người hay giết người ?” Nhưng họ làm thinh. 5 Đức Giê-su giận dữ rảo mắt nhìn họ, buồn bực vì lòng họ chai đá. Người bảo anh bại tay : “Anh giơ tay ra !” Người ấy giơ ra, và tay liền trở lại bình thường. 6 Ra khỏi đó, nhóm Pha-ri-sêu lập tức bàn tính với phe Hê-rô-đê, để tìm cách giết Đức Giê-su.


 

Năm 1985, các bác sĩ nói với Jane Hawking rằng chồng bà đang hấp hối

My Lan Pham is with Chuyện Nhân Văn.

Năm 1985, các bác sĩ nói với Jane Hawking rằng chồng bà đang hấp hối. Họ khuyên nên ngừng duy trì sự sống. Bà từ chối. Stephen Hawking đã sống lâu hơn mọi dự đoán suốt hai mươi hai năm, và bà không định để câu chuyện của ông kết thúc ở đó.

Geneva, mùa hè năm 1985.

Stephen đến đó để nghiên cứu thì mắc viêm phổi. Với hầu hết mọi người, viêm phổi nguy hiểm nhưng có thể sống sót. Với một người mắc ALS giai đoạn nặng, không thể cử động, ho hay tự làm sạch phổi, đó thường là bản án tử.

Tình trạng của ông xấu đi rất nhanh. Chỉ trong vài ngày, ông rơi vào hôn mê, phải thở máy, phổi dần suy kiệt.

Các bác sĩ nói thẳng với Jane. Stephen sẽ không hồi phục. Cơ thể ông đang ngừng hoạt động. Lựa chọn nhân đạo nhất, theo họ, là tắt máy móc và để ông ra đi trong yên bình.

Jane lúc đó bốn mươi mốt tuổi. Bà đã kết hôn với Stephen hai mươi năm. Bà đã chứng kiến ALS lấy đi của ông từng chút một: dáng đi, sự độc lập, khả năng tự ăn uống, viết lách, đứng thẳng. Đến năm 1985, ông chỉ còn cử động được vài ngón tay và một phần khuôn mặt.

Suốt hai thập kỷ, bà vừa là người chăm sóc ông, vừa nuôi dạy ba đứa con, giữ gìn gia đình, vừa nâng đỡ một người đàn ông mà thế giới nay công nhận là một trong những bộ óc vĩ đại nhất, dù căn bệnh được cho là sẽ giết ông trong vòng hai năm.

Các bác sĩ đang đưa ra một lối thoát.

Chấm dứt sự kiệt quệ.

Chấm dứt gánh nặng trách nhiệm không ngừng nghỉ.

Chấm dứt việc nhìn người mình yêu bị giam cầm trong một cơ thể đang suy tàn.

Bà hoàn toàn có thể đồng ý. Không ai trách bà.

Jane nói không.

Bà yêu cầu họ làm mọi cách để cứu ông. Các bác sĩ giải thích điều đó có nghĩa là gì. Stephen sẽ cần một ca mở khí quản khẩn cấp, đặt ống thở vĩnh viễn qua cổ họng. Ông sẽ không bao giờ nói chuyện tự nhiên được nữa. Ông sẽ không bao giờ tự thở. Ông sẽ còn phụ thuộc nhiều hơn nữa.

Jane không do dự.

Hãy làm đi.

Ca phẫu thuật đã cứu mạng ông. Nhưng nó cũng lấy đi một thứ không thể thay thế.

Suốt hai mươi hai năm, dù ALS tàn phá cơ thể, Stephen vẫn còn nói được. Giọng ông chậm và ngọng, nhưng đó là giọng của ông. Ca mở khí quản đã phá hủy nó hoàn toàn.

Trở về Cambridge, Stephen giao tiếp bằng cách nhướng lông mày khi có người chỉ vào các chữ cái trên bảng. Một lần nhướng là “có”. Hai lần là “không”. Từ ngữ được ghép lại từng chữ một. Đau đớn. Chậm chạp.

Với một con người mà toàn bộ cuộc sống xoay quanh ý tưởng, giải thích và giao tiếp, đó là cú đánh tàn khốc.

Rồi một kỹ sư máy tính tên Walt Woltosz nghe nói về ông. Woltosz đã tạo ra một chương trình gọi là Equalizer, cho phép người dùng tạo câu với rất ít cử động. Ông tặng nó cho Stephen miễn phí.

Stephen học cách sử dụng nó với một công tắc nhỏ ở tay, chọn từ trên màn hình để máy tính đọc lên. Ban đầu, tốc độ vô cùng chậm, khoảng một từ mỗi phút.

Nhưng đó là một giọng nói.

Và Stephen Hawking quay trở lại với công việc.

Điều khiến khoảnh khắc này trở nên phi thường là đến năm 1985, Stephen đã vượt xa mọi dự đoán y khoa.

Được chẩn đoán ALS năm 1963 khi mới hai mươi mốt tuổi, ông được cho là chỉ sống được hai năm. Hai năm.

Ông kết hôn với Jane Wilde năm 1965, hoàn toàn ý thức rằng mình có thể chết sớm. Họ có ba người con trong khi Stephen dần mất toàn bộ chức năng vận động.

Trong thời gian đó, ông làm thay đổi vật lý lý thuyết. Năm 1974, ông chứng minh rằng hố đen phát ra bức xạ, nay được gọi là bức xạ Hawking, làm thay đổi cách chúng ta hiểu về vũ trụ.

Vào lúc nằm trên giường bệnh ở Geneva, ông đã phải ngồi xe lăn, cần được chăm sóc liên tục và phụ thuộc vào người khác trong hầu hết mọi việc.

Và ông vẫn đang tạo ra khoa học làm thay đổi thế giới.

Vì thế, khi các bác sĩ đề nghị kết thúc sự sống của ông, họ không chỉ yêu cầu Jane buông tay chồng mình. Họ đang hỏi liệu thế giới có nên mất đi một trí tuệ vẫn chưa hoàn thành sứ mệnh hay không.

Jane biết ông chưa xong.

Và bà đã đúng.

Sau khi hồi phục và thích nghi với giọng nói điện tử, Stephen hoàn thành dự án mà ông ấp ủ suốt nhiều năm: một cuốn sách nhằm giải thích vũ trụ cho người bình thường.

A Brief History of Time được xuất bản năm 1988.

Nó trở thành điều không ai ngờ tới.

237 tuần trong danh sách bán chạy nhất.

Được dịch ra bốn mươi ngôn ngữ.

Bán hơn hai mươi lăm triệu bản.

Cuốn sách đưa hàng triệu người đến với hố đen, Vụ Nổ Lớn và bản chất của thời gian, không công thức, không hù dọa, với sự hài hước và rõ ràng.

Không điều gì trong số đó tồn tại nếu Jane nói “có” vào năm 1985.

Và Stephen vẫn chưa dừng lại.

Ông sống thêm ba mươi ba năm.

Viết thêm nhiều sách. Xuất hiện trong Star Trek và The Simpsons. Trở thành tiếng nói toàn cầu cho quyền của người khuyết tật. Cho thế giới thấy rằng giới hạn thể chất không giới hạn sức mạnh trí tuệ. Sống đủ lâu để chứng kiến sóng hấp dẫn được phát hiện, xác nhận những ý tưởng mà công trình của ông góp phần định hình.

Ông qua đời năm 2018, ở tuổi bảy mươi sáu.

Năm mươi lăm năm sau tiên lượng ban đầu.

Jane và Stephen ly hôn năm 1995. Áp lực chăm sóc, sự hiện diện thường trực của y tá, và sự tiến triển không ngừng của ALS đã để lại những vết nứt mà không phiên bản lãng mạn nào của câu chuyện thừa nhận. Không ai hiểu công việc chăm sóc lại phán xét bà vì điều đó.

Nhưng vào năm 1985, bà đã đưa ra lựa chọn quan trọng nhất.

Stephen từng nói ca mở khí quản vừa là điều tồi tệ nhất vừa là điều tốt đẹp nhất xảy ra với ông. Tồi tệ vì ông mất giọng nói tự nhiên mãi mãi. Tốt đẹp vì giọng nói tổng hợp cho phép ông giao tiếp rõ ràng hơn nhiều so với những năm trước.

Hãy tưởng tượng một lịch sử khác.

Stephen Hawking qua đời ở tuổi bốn mươi ba.

Một nhà vật lý được kính trọng. Những bài báo quan trọng. Chủ yếu được biết đến trong giới học thuật.

Không có A Brief History of Time.

Không có giọng nói biểu tượng.

Không có cây cầu nối khoa học với công chúng.

Không có hàng thập kỷ truyền cảm hứng cho người khuyết tật.

Không có ba mươi ba năm khám phá thêm.

Tất cả bị xóa bỏ vì một người phụ nữ chọn cái kết dễ dàng hơn.

Jane đã chọn con đường khó hơn.

Bà không chọn vì danh tiếng. Không chọn vì lịch sử. Bà chọn vì bà biết Stephen chưa thôi đặt câu hỏi.

Đó là tình yêu đích thực.

Không điện ảnh. Không nhẹ nhàng.

Là thứ tình yêu nói rằng điều này sẽ tàn khốc, và anh vẫn xứng đáng.

Jane Hawking đã cứu Stephen Hawking hai lần.

Một lần vào năm 1965, khi bà kết hôn với một người đàn ông được cho là chỉ sống hai năm.

Và một lần vào năm 1985, khi bà từ chối để các bác sĩ quyết định rằng câu chuyện của ông đã kết thúc.

Cả hai lần, bà đều chọn con đường khó hơn.

Vũ trụ được hưởng lợi từ cả hai lựa chọn ấy.

Stephen Hawking đã thay đổi cách chúng ta hiểu về thực tại.

Jane Hawking đã trao cho thiên tài ấy thêm ba mươi ba năm tồn tại.

Và tất cả bắt đầu từ một khoảnh khắc trong bệnh viện ở Geneva.

Một lời khuyên.

Một sự từ chối.

Jane Hawking đã nói không với cái chết.

Và Stephen Hawking có thêm ba thập kỷ để khám phá vô hạn.