Người Ăn Mày

Người Ăn Mày

 

Một người ăn mày đến trước một trang viên, gặp nữ chủ nhân để ăn xin. Người ăn mày này rất tội nghiệp, cánh tay bị cụt, tay áo trống trải đung đưa, người nào trông thấy cũng đều khẳng khái bố thí cho. Tuy nhiên, vị chủ nhân này lại không hề khách khí, chỉ ra đống gạch trước cửa nói với người ăn mày: “Ngươi giúp ta chuyển đống gạch này ra nhà sau đi”.

Người ăn mày giận dữ nói: “Tôi chỉ có một tay, bà còn nhẫn tâm bảo vác gạch. Không muốn cho thì thôi vậy, cần chi phải trêu ghẹo người khác?”

Vị chủ nhân không chút nổi giận, cúi người xuống bắt đầu dọn gạch. Bà ta cố ý chỉ dùng một tay để chuyển, sau đó bà nói: “Ngươi thấy đấy, không phải chỉ dùng hai tay mới có thể sống được. Ngươi có thể làm, vậy tại sao lại không làm chứ?”

Người ăn mày lặng người đi, hắn ta nhìn vị nữ chủ nhân với ánh mắt kỳ dị, trái cổ nhô nhọn giống như một quả trám chuyển động lên xuống 2 lượt. Cuối cùng, hắn cúi người xuống, dùng cánh tay còn lại bắt đầu chuyển gạch. Một lần chỉ có thể chuyển đi hai viên gạch. Hắn chuyển như thế đúng hai tiếng đồng hồ thì hết đống gạch. Mệt, hắn thở như bò kéo xe, trên mặt dính đầy bụi, mấy chòm tóc rối bị mồ hôi ướt dính xéo trên góc trán.

Nữ chủ nhân đưa cho người ăn mày một cái khăn lông trắng như tuyết. Người ăn mày đón lấy lau mặt và cổ một lượt rất kỹ; chiếc khăn lông trắng đã biến thành chiếc khăn lông đen. Người phụ nữ lại đưa cho hắn 20 đô-la, người ăn mày cảm kích nói: “Cảm ơn bà” – “Ngươi không cần cảm ơn ta, đây là tiền công ngươi kiếm được dựa vào sức lực của mình”.

Người ăn mày nói: “Tôi sẽ không quên bà, để cho tôi giữ làm kỷ niệm vậy”.

Nói xong, hắn cúi người chào thật thấp và sau đó lên đường.

Qua nhiều ngày sau lại có một người ăn mày khác đến trang viên này. Người phụ nữ đó lại dẫn người ăn mày vào nhà sau, chỉ đống gạch, và nói: “Chuyển đống gạch này ra trước nhà, ta sẽ trả cho ngươi hai mươi đô-la”.

Người ăn mày với hai tay còn nguyên vẹn này bỏ đi, không biết là do không thèm 20 đô-la hay do điều gì khác.

Người con của người phụ nữ không hiểu, liền hỏi mẹ: “Lần trước mẹ kêu ăn mày chuyển đống gạch này từ trước nhà ra sau nhà. Lần này mẹ lại kêu ăn mày chuyển gạch từ sau nhà ra trước nhà. Rốt cuộc mẹ muốn đống gạch ở sau nhà hay là ở trước nhà?”.

Người mẹ nói với con rằng: “Gạch đặt trước nhà hay sau nhà đều như nhau, nhưng chuyển hay không chuyển, đối với người ăn mày mà nói, thì lại không giống nhau”.

Sau này cũng có mấy người ăn mày đến xin ăn, đống gạch đó được chuyển đi mấy lượt.

Nhiều năm sau, có một người rất chỉnh tề đến trang viện này. Ông ta mặc veston, mang giày da, trông chững chạc hiên ngang như những người thành công với sự tự tin và tự trọng, chỉ có điều là người này chỉ có một cánh tay trái. Ông ta cúi người xuống, nói với vị nữ chủ nhân nay đã có phần già đi: “Nếu không có bà, tôi vẫn chỉ là một kẻ ăn mày. Thế nhưng bây giờ tôi là Chủ tịch Hội đồng Quản trị của một công ty”.

Người phụ nữ đã không còn nhớ ra ông là ai, bà hờ hững nói: “Đấy là do chính bản thân ông làm ra mà thôi”.

Người Chủ tịch Hội đồng Quản trị một tay mời người phụ nữ cùng cả nhà bà dọn đến thành phố để sống những ngày thoải mái. Người phụ nữ nói: “Chúng tôi không thể nhận sự chăm sóc của ông được” – “Tại sao?” – “Bởi vì cả nhà chúng tôi ai cũng có hai tay”.

Người chủ tịch tuy đau lòng nhưng vẫn kiên trì: “Thưa bà, bà giúp tôi hiểu được thế nào là Nhânthế nào là Cách.  Căn nhà đó là tiền công mà bà đã dạy cho tôi”.

Người phụ nữ nói: “Vậy thì ông đem căn nhà ấy tặng cho người nào không còn cánh tay nào cả!”.

Lời hiền triết  

Lời hiền triết

Có một vị hiền triết đã hỏi các đệ tử rằng:

“Tại sao trong cơn giận dữ người ta thường phải thét thật to vào mặt nhau?”
Sau một lúc suy nghĩ, một trong những đệ tử ấy đã trả lời:
“Bởi vì người ta mất bình tỉnh, mất tự chủ!”

Vị hiền triết không đồng ý với câu trả lời, ngài bảo:
“Nhưng tại sao phải hét lên trong khi cả hai đang ở cạnh nhau, tại sao không thể nói với một âm thanh vừa phải đủ nghe?”
Các đệ tử lại phải ngẫm nghĩ để trả lời nhưng không có câu giải thích nào khiến vị thầy của họ hài lòng. Sau cùng ông bảo:
“Khi hai người đang giận nhau thì trái tim của họ đã không còn ở gần nhau nữa. Từ trong thâm tâm họ cảm thấy giữa họ và người kia có một khoảng cách rất xa, nên muốn nói cho nhau nghe thì họ phải dùng hết sức bình sinh để nói thật to. Sự giận dữ càng lớn thì khoảng cách càng xa, họ càng phải nói to hơn để tiếng nói của họ bao trùm khoảng cách ấy.”

Ngưng một chút, ngài lại hỏi:
“Còn khi hai người bắt đầu yêu nhau thì thế nào? Họ không bao giờ hét to mà chỉ nói nhỏ nhẹ, tại sao? Bởi vì trái tim của họ cận kề nhau. Khoảng cách giữa họ rất nhỏ…”

Rồi ngài lại tiếp tục:
“Khi hai người ấy đã yêu nhau thật đậm đà thì họ không nói nữa, họ chỉ thì thầm, họ đã đến rất gần nhau bằng tình yêu của họ. Cuối cùng ngay cả thì thầm cũng không cần thiết nữa, họ chỉ cần đưa mắt nhìn nhau, thế thôi! Vì qua ánh mắt đó họ đã biết đối phương nghĩ gì, muốn gì..”

Ngài kết luận:

“Khi các con bàn cãi với nhau về một vấn đề, phải giữ trái tim của các con lúc nào cũng cận kề. Đừng bao giờ thốt ra điều gì khiến các con cảm thấy xa cách nhau… Nếu không thì có một ngày khoảng cách ấy càng lúc càng rộng, càng xa thì các con sẽ không còn tìm ra được đường quay trở về !”

CÔ GIÁO VÀ CẬU HỌC TRÒ LỚP NĂM

CÔ GIÁO VÀ CẬU HỌC TRÒ LỚP NĂM

Câu chuyện đã xảy ra từ nhiều năm trước. Lúc đó, cô Thompson đang dạy tại trường tiểu học của một thị trấn nhỏ tại Hoa Kỳ.
Vào ngày khai giảng năm học mới, cô đứng trước những em học sinh lớp 5, nhìn cả lớp và nói cô sẽ yêu thương tất cả các học sinh như nhau. Nhưng thực ra cô biết mình sẽ không làm được điều đó bởi cô đã nhìn thấy cậu học sinh Teddy Stoddard ngồi lù lù ngay bàn đầu. Năm ngoái cô đã từng biết Teddy và thấy cậu bé chơi không đẹp với bạn bè, quần áo thì lôi thôi lếch thếch, còn người ngợm thì lại quá bẩn thỉu. “Teddy trông thật khó ưa”.
Chẳng những thế, cô Thompson còn dùng cây bút đỏ vạch một chữ thập rõ đậm vào hồ sơ cá nhân của Teddy và ghi chữ F đỏ chói ngay phía ngoài (chữ F là hạng kém).
Ở trường này, vào đầu năm học mỗi giáo viên đều phải xem thành tích học tập của từng học sinh trong lớp mình chủ nhiệm. Cô Thompson đã nhét hồ sơ cá nhân của Teddy đến cuối cùng mới mở ra xem, và cô rất ngạc nhiên vềnhững điều đọc được.

Cô giáo phụ trách lớp 1 đã nhận xét Teddy như sau:”Teddy là một đứa trẻ thông minh và luôn vui vẻ. Học giỏi và chăm ngoan… Em là nguồn vui cho người chung quanh”.

Cô giáo lớp 2 nhận xét:”Teddy là một học sinh xuất sắc, được bạn bè yêu quý nhưng có chút vấn đề vì mẹ em ốm nặng và cuộc sống gia đình thật sựlà một cuộc chiến đấu”.

Giáo viên lớp 3 ghi: “Cái chết của người mẹ đã tác động mạnh đến Teddy. Em đã cố gắng học, nhưng cha em không mấy quan tâm đến con cái và đời sống gia đình sẽ ảnh hưởng đến em nếu em không được giúp đỡ”.

Giáo viên chủ nhiệm lớp 5 nhận xét: “Teddy tỏ ra lãnh đạm và không tỏ ra thích thú trong học tập. Em không có nhiều bạn và thỉnh thoảng ngủ gục trong lớp”.
Đọc đến đây, cô Thompson chợt hiểu ra vấn đề và cảm thấy tự hổ thẹn.
Cô còn thấy áy náy hơn khi đến lễ Giáng sinh, tất cả học sinh trong lớp đem tặng cô những món quà gói giấy màu và gắn nơ thật đẹp, ngoại trừ món quà của Teddy. Em đem tặng cô một gói quà bọc vụng về bằng loại giấy gói hàng nâu xạm màu mà em tận dụng lại từ loại túi giấy gói hàng của tiệm tạp hóa. Cô Thompson cảm thấy đau lòng khi mở gói quà ấy ra trước mặt cả lớp. Một vài học sinh đã bật cười khi thấy cô giơ lên chiếc vòng giả kim cương cũ đã sút mất vài hột đá và một chai nước hoa chỉ còn lại một ít. Nhưng cô đã dập tắt những tiếng cười nhạo kia khi cô khen chiếc vòng đẹp, đeo nó vào tay và xịt một ít nước hoa trong chai lên cổ tay. Hôm đó Teddy đã nán lại cho đến cuối giờ để nói với cô: “Thưa cô, hôm nay cô thơm như mẹ em ngày xưa”.
Sau khi đứa bé ra về, cô Thompson đã ngồi khóc cả giờ đồng hồ. Và chính từ hôm đó, ngoài dạy học cô còn lưu tâm chăm sóc cho Teddy hơn trước. Mỗi khi cô đến bàn em để hướng dẫn thêm, tinh thần Teddy dường như phấn chấn hẳn lên. Cô càng động viên em càng tiến bộ nhanh. Vào cuối năm học, Teddy đã trở thành học sinh giỏi nhất lớp. Và trái với phát biểu của mình vào đầu năm học, đã không yêu thương mọi học sinh như nhau. Teddy là học trò cưng nhất của cô.
Một năm sau, cô tìm thấy một mẩu giấy nhét qua khe cửa. Teddy viết: “Cô là cô giáo tuyệt vời nhất trong đời em”.
Sáu năm sau, cô lại nhận được một bức thư ngắn từ Teddy. Cậu cho biết đã tốt nghiệp trung học, đứng hạng ba trong lớp và “Cô vẫn là người thầy tuyệt vời nhất trong đời em”.
Bốn năm sau, cô lại nhận được một lá thư nữa. Teddy cho biết dù hoàn cảnh rất khó khăn khiến cho cậu có lúc cảm thấy bế tắc, cậu vẫn quyết tốt nghiệp đại học với hạng xuất sắc nhất, nhưng “Cô vẫn luôn là cô giáo tuyệt vời mà em yêu quý nhất trong đời”.
Rồi bốn năm sau nữa cô nhận được bức thư trong đó Teddy báo tin cho biết cậu đã đậu tiến sĩ và quyết định học thêm lên. “Cô vẫn là người thầy tuyệt nhất của đời em”, nhưng lúc này tên cậu đã dài hơn. Bức thư ký tên Theodore F. Stoddard – giáo sư tiến sĩ.
Câu chuyện vẫn chưa kết thúc tại đây. Một bức thư nữa được gửi đến nhà cô Thompson. Teddy kể cậu đã gặp một cô gái và cậu sẽ cưới cô ta. Cậu giải thích vì cha cậu đã mất cách đây vài năm nên cậu mong cô Thompson sẽ đến dự lễ cưới và ngồi ở vị trí vốn thường được dành cho mẹ chú rể.
Và bạn thử đoán xem việc gì đã xảy ra? Ngày đó, cô đeo chiếc vòng kim cương giả bị rớt hột mà Teddy đã tặng cô năm xưa, xức thứ nước hoa mà Teddy nói mẹ cậu đã dùng vào kỳ Giáng sinh cuối cùng trước lúc bà mất.
Họ ôm nhau mừng rỡ và giáo sư Stoddard thì thầm vào tai cô Thompson: “Cám ơn cô đã tin tưởng em. Cám ơn cô rất nhiều vì đã làm cho em cảm thấy mình quan trọng và cho em niềm tin rằng mình sẽ tiến bộ”.
Cô Thompson vừa khóc vừa nói nhỏ với cậu:
“Teddy, em nói sai rồi.Chính em mới là người đã dạy cô rằng cô có thể sống khác đi. Cô chỉ biết thế nào là dạy học kể từ khi cô được gặp em”.

From Vuisongtrendoi gởi

Luật không được ly dị là Luật bất khả phân ly của Thiên Chúa ngay từ đầu.

V Phung Phung
Trong Phúc Âm, những người Pharisees muốn thử xem Chúa Giêsu có dạy khác với luật của Moses về vấn đề ly dị. Chúa thẳng thắn trả lời họ Luật không được ly dị là Luật bất khả phân ly của Thiên Chúa ngay từ đầu. Lý do ông Moses cho phép ly dị là vì lòng chai dạ đá của con người, chứ không phải trong ý định của Thiên Chúa. Nếu con người biết kính sợ Thiên Chúa, họ không bao giờ dám làm chuyện này.

Thầy Bạch gởi

Đừng làm 3 điều ngu ngốc này khi về già

Đừng làm 3 điều ngu ngốc này khi về già

  1. Tuổi già đừng quá cô đơn

Người sống trong thế giới này cần phải nhộn nhịp, cuộc sống sau 60 tuổi phải sống vui vẻ và thú vị hơn. Đi ra ngoài nhiều hơn, đừng để mình ở nhà, đừng để mình cảm thấy quá cô đơn. Hãy nói chuyện với bạn bè, chơi bài, tụ tập đám bạn học cũ để nhớ lại quá khứ, hoặc chơi với các cháu, tất cả những hoạt động này đều rất tốt.

  1. Già rồi đừng can thiệp vào cuộc sống của con cháu

Con cháu tự do con cháu sẽ có phúc, con cái lớn rồi phải cho chúng có không gian riêng, phải tin rằng chúng ưu tú, và có khả năng để xử lý tốt cuộc sống của mình.

Đặc biệt là sau khi con cháu kết hôn, càng cần phải ít can thiệp vào công việc của chúng, như vậy có thể làm cho gia đình hài hòa hơn, và mối quan hệ của con cháu sẽ càng thân thiết hơn.

  1. Già rồi đừng quá tiết kiệm

Sau 60 tuổi còn không tốt với bản thân một chút, bạn còn có ý định khi nào mới đối tốt với bản thân?

Cơm canh thừa hãy đổ đi, nấu một số rau tươi ăn sẽ tốt cho sức khỏe hơn, quần áo mười năm trước đừng mặc nữa, mua một vài quần áo mới cho bản thân đi. Cũng đừng ở nhà cả ngày, hãy đi du lịch để ngắm nhìn vẻ đẹp thế giới bên ngoài, làm cho cuộc sống thêm phần tươi đẹp hơn

S.T.

Cả trời bỗng tiêu diêu như báu vỡ

Suy Tư Tin Mừng Chúa nhật Lễ CHÚA BA NGÔI 27/5/2018

(Mt 28: 16-20) Hôm ấy, Mười một môn đệ đi tới miền Galilê, đến ngọn núi Đức Giêsu đã truyền cho các ông đến. Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. Đức Giêsu đến gần, nói với các ông:

“Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.”

&  &  &

 “Cả trời bỗng tiêu diêu như báu vỡ:

“Nên tiếng vang thầm dội đến thâm tâm.”

(Dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

Mai Tá lược dịch

Tiêu diêu như báu vỡ, vẫn cứ là bầu trời huyền nhiệm chốn không gian. Thầm dội đến thâm tâm, nay lại là nhiệm tích Chúa tỏ bày với nhân trần. Như trình thuật lâu nay, rày ghi chép.

Trình thuật, nay ghi chép về huyền nhiệm Chúa Ba Ngôi linh thiêng, khó diễn giải. Huyền nhiệm, là nhiệm tích cao cả tỏ cho dân con nào không cảm nghiệm được để rồi sống. Thế nên, thánh sử Mát-thêu phải dùng ảnh hình chiếc thang của thế giới hầu đạt tới huyền nhiệm, mà cảm kích.

Buổi đầu, vũ trụ ở độ tuổi 13 tỷ năm, vẫn đắm chìm trong tăm tối, kịp đến khi Chúa sờ chạm, nguồn sáng đã trỗi dậy toả ánh thiều quang, rộn sức sống. Thiều quang, là tập hợp các phân tử ánh sáng cứ lăn tăn dội sóng, không phương hướng.

Vào lúc ấy, Chúa bèn định hướng để tạo thành có được năng lượng tràn đầy, mà hướng về đằng trước phía có nhân gian vũ trụ vạn vật. Và từ đó, vũ trụ tuân thủ đường hướng Chúa định đoạt rất phân minh, thành đạt. Trong khoảnh khắc rất nhanh, vũ trụ đã kịp hoà tan/chan hoà vào với nhau phản ảnh phương hướng Chúa đề bạt. Rồi từ đó, sản sinh nên sự sống mới ở đó có sự sống con người, rất trổi bật.

Sự sống Chúa tặng cho vũ trụ, là những “sự” rất sống và rất động, luôn rực chiếu ánh lung linh về hướng trước, nơi có Chúa ngự trị theo phương cách rất Ba Ngôi, vẫn rạng ngời.

Ở với vũ trụ, con người là tạo vật gây nhiều thích thú. Con người không là loài vật chỉ đặc biệt mỗi trí khôn mà thôi, nhưng còn có khả năng mơ ước đặc trưng/biểu tượng để kết chặt với nhau bằng truyện kể đượm mầu thần linh rất kinh ngạc, đáng sợ. Thần linh nhiệm mầu cần “la-bàn định-hướng” hầu dẫn dắt con dân loài người kinh qua chốn miền đầy tâm tưởng. Và thọ tạo “người” cứ hỏi: không biết mình có nên thần phục thần linh, hay không? Không biết mình có tự do chọn quan hệ chỉ với một số vị thần, mà thôi không?

Thiên Chúa lại ban cho con người “la-bàn” ấy. Bằng vào “la-bàn định hướng”, Ngài thiết lập “Giao ước” với con người. Điều đó có nghĩa: Chúa quan hệ với con người không theo cung cách khuynh loát/thống trị, huyễn hoặc hay không tưởng. Ngài chẳng cần ai thần phục Ngài. Nhưng điều Ngài cần hơn cả, là con người nên thực thi tương quan hai chiều. Có được tương quan ấy, con người sẽ tin tưởng vào Chúa là Đấng giúp cho con người có được tự do. Về với lịch sử, con người hiểu biết nhiều sự việc, và từ đó biết tỏ lòng cảm kích, ghi ơn Ngài.

Khám phá ra điều này, có người vẫn chưa biết cách chan hoà/nhào quyện với những người không được như mình, dù họ có tìm mọi cách để tìm hiểu khám phá ấy. Họ đành chọn một trong hai phương cách: hoặc tách riêng sống chỉ một mình, hoặc hợp lực/cộng tác với người khác. Thật ra, thì họ rất cần “la-bàn định-hướng” Chúa ban tặng. Và, Chúa lại tặng ban “la-bàn định hướng” ấy, thêm lần nữa.

La-bàn Chúa tặng, là quà “hiệp thông”/tương quan giúp con người sống hài hoà với người khác mình, nhưng không làm mất đi bản chất tư-riêng của chính mình. Nhờ “Hiệp thông”, con người học được cách yêu thương sống hài hoà với người khác, ngõ hầu trở nên giống mình hơn. Nhờ vào hiệp thông, con người còn có trách nhiệm với thế giới rộng lớn hơn, tức: có trách nhiệm với những người chưa biết hoà mình/trộn lẫn với ai khác. Thế nên, ta cũng hãy nên bắt đầu sử dụng quà “Hiệp thông” Chúa đã ban.

Khi xử sự, con người bắt đầu biết kinh ngạc và tự hỏi: không biết mình có nên kéo dài tương quan hài hoà ấy mãi lâu ngày, hay không? Hoặc, ta chỉ nên kiến tạo thêm cung cách mới cho đời mình? Cung cách mới, tức không phải của người thụ động cứ ngồi đó đợi chờ hoặc nhận lãnh ơn huệ đính hướng?

Nhưng, cũng nên bắt đầu kiến tạo mọi việc chung cùng Chúa? Kiến tạo, là diễn lại những gì xảy ra trong quá khứ, hoặc đem lại những gì mới mẻ cho tương lai của chính mình? Muốn được thế, con người cần đến “la-bàn định hướng” Chúa tặng ban, một lần nữa. Và, Chúa lại đã tặng thêm cho con người thứ “la-bàn định hưóng” mới là “Thần Khí” của Ngài, để con người biết mà chan hoà quá khứ với tương lai, hầu biến nó thành hiện tại. Một hiện tại mang ý nghĩa rất “quà tặng”.

Quà tặng Thần-Khí-Chúa, là quà hiếm quí rất hiện tại nhưng khó diễn bày hoặc nói đến. Bởi, Thần Khí Chúa vượt quá mọi ngôn ngữ. Thần-Khí-Chúa là Hơi Thở đẩy lùi mọi ngọn gió của ngôn ngữ được con người sử dụng để diễn tả mọi chuyện. Ngược lại, Thần Khí vẫn nâng nhấc con người lên, để họ đạt chốn an lành, mà định hướng bước tới về phía trước.

Quà tặng Chúa gửi đến với con người, không đơn thuần chỉ mỗi giống giòng Israel dân Chúa chọn. Cũng không thuần khiết chỉ mỗi Đức Giêsu và/hoặc Hội thánh. Nhưng, “Giao ước” Chúa gửi đến với ta qua dân Do thái, chính là sự “Hiệp thông” Ngài đặt để qua Đức Giêsu, Con Ngài. Và Thần-Khí-Chúa đến với ta ngang qua Thánh Hội, Chúa gửi gắm. Quà Ngài gửi, là để dân con của Ngài có thể đến với người khác, nhóm khác có văn hoá, sắc tộc và đạo giáo rất khác biệt. Quà Chúa gửi, là để con người tạo được ý nghĩa nhân bản cho luồng sáng, thời gian và năng lượng toàn vũ trụ. Quà Chúa tặng, khiến cho con người có được tự do, biết ứng đáp cách sáng tạo, nhạy bén và đổi mới.

Quà Chúa gửi tặng, là cách để Thiên-Chúa-là-Cha trao ban chính Mình Ngài là Đức Chúa cho con người như Giao ước, Hiệp thông và Thần Khí. Chính đó là Chúa Ba Ngôi, vẫn rất thực.

May cho ta, là con người đã nhận ra rằng quà tặng Chúa gửi là do Ngài tặng ban chính Mình Ngài vẫn còn tiếp tục được như thế. Quà-tặng-là-Thần-Khí-Chúa, vẫn hiện diện bên ta, ở đây. Ngay lúc này. Điều không may khác, đó là: con người lâu nay hay gặp rắc rối về những khuynh loát/áp đặt và về sự tự do Chúa ban cho nữa. Con người gặp rắc rối, vì ý tưởng nảy sinh khiến họ phải đi đến quyết định: hoặc xa cách/tách rời “Quà-Tặng-là-Thần-Khí-Chúa hoặc hợp lực/cộng tác với “Quà” của Chúa. Đó, là ý tưởng về việc duy trì quá khứ và kiến tạo tương lai, để rồi mỗi khi ta nhận thức được rằng: Thiên-Chúa-là-Cha, Chúa Con là Lời và Thần-Khí-là-Tình-Yêu đang sờ chạm vào ta cốt để tỏ cho ta biết phương cách mà đến được với Ngài.

Không phải chỉ bây giờ, ta mới về lại với lịch sử để có được cảm giác về Huyền Nhiệm. Nhưng từ đầu, có người lại được thần hứng sử dụng ngôn ngữ trần gian để tỏ bày về Huyền Nhiệm này, dù trước đó họ chẳng bao giờ biết đến Huyền Nhiệm ấy. Và, họ cũng đã tìm hiểu lịch sử vũ trụ xem có gì được đặt thêm vào đó không. Họ tỏ bày về “Danh” Chúa. Về, “Huyền Nhiệm” Chúa Ba Ngôi. Và, về “Tình yêu” của Chúa. Họ gọi Chúa là Cha. Gọi Đức Giêsu là “Con”-của-Chúa-Cha, Đấng gần gũi mật thiết với Cha; và gọi Ngài là “Lời” của Cha.

Họ gọi Tình-Yêu-Thiên-Chúa là Thần-Khí vẫn thổi đầy sinh lực ở nơi Chúa, vào ta và tạo nguồn thần hứng cho ta. Kể từ đó, nhiều vị thức giả trong cộng đoàn dân Chúa lại tìm cách diễn tả Huyền Nhiệm Chúa Ba Ngôi cho những ai tìm hiểu triết lý Hy Lạp, đều biết rằng: ở nơi Chúa, chỉ có một Bản chất duy nhất nhưng nơi Ngài bao gồm ba Nhân Vật: một là Chúa Cha, một là Chúa Con hoặc Ngôi Lời, và một là Thần-Khí-Chúa. Các ngài đều quả quyết rằng Ba Ngôi/tức Nhân Vật vẫn chỉ là Một, có quan hệ hỗ tương. Và, Thiên-Chúa-là-Cha đã gửi đến với ta Con Một của Ngài để ta có thể liên hệ cách mật thiết với Ngài. Để, Ngài hướng dẫn cuộc sống của ta ở thế trần, rồi đem ta về với Cha.

Nhưng vấn đề là: không biết Thiên Chúa có thực sự giống thế không? Kitô hữu thời xưa không hiểu rõ điều đó và cũng chẳng chứng mình được gì, nhưng tư tưởng này đáp ứng ý nghĩa của Thiên Chúa mà mọi người dựa vào đó để sống. Vì thế nên, công thức này cũng thánh thiêng/linh đao, vẫn đan kết với truyền thống Giáo hội.

Ngày nay, nếu hỏi rằng ta làm được gì khá hơn không để diễn tả Huyền Nhiệm Chúa Ba Ngôi? Có thể không. Không bao giờ. Nhưng, có thể có. Có, qua cung cách nhận thức phát hiện được những điều Chúa Ba Ngôi vẫn thực hiện trong trần thế. Có thể, ta cũng nghĩ là mình có nhiều nhu cầu hiểu biết và diễn nghĩa hơn đồng đạo thời xưa trước. Có thể là, trong tương lai, ta lại có được cảm nghĩ và cảm nghiệm nhiều hơn về công việc của Chúa Ba Ngôi. Đó cũng là điều hay, để hy vọng.

Và rồi, ai ai cũng sẽ ra đi rời bỏ thế giới nhân trần này, để về với Ba Ngôi Thiên Chúa. Và khi đó, mọi người đều sẽ trực diện Chúa biết Ngài là ai? Đấng nào? Và mọi sự có ý nghĩa gì? Trong thời gian chờ đợi đến ngày đó, ta vẫn phải sống với niềm tin mình đang có. Sống chung và cùng với nhóm người đang sử dụng ngôn ngữ Chúa tặng ban. Những người có kinh nghiệm về những ân huệ Chúa gửi đến hầu thúc giục ta cùng với Chúa hướng về phía trước để ta càng nhân bản hơn; càng cùng chung với Chúa, trong mọi việc. Cuối cùng, có lẽ đó là những gì Chúa thực lòng muốn có khi Ngài tỏ rõ cho ta biết Chúa là Cha của ta. Đức Giêsu là Con Một của Thiên-Chúa-Là-Cha, và Thần-Khí-là-Tình-Yêu Ngài hằng ban cho ta.

Để cảm nhận điều này, cũng nên ngâm tiếp lời thơ trên từng diễn tả:

            “Cả trời bỗng tiêu diêu như báu vỡ;

Nên tiếng vang thầm dội đến thâm tâm,

Mà ta ngỡ Đấng Tiên Tri muôn thuở

Giữa đêm nay còn đứng giảng Phúc Âm.”

(Hàn Mặc Tử – Nguồn Thơm)

Đấng Tiên Tri, nay vẫn đứng giảng Phúc Âm Lời Chúa đấy chứ. Giảng, để biết rằng tất cả không là “tiếng vang thầm dội đến thâm tâm”; mà là, tiếng Chúa/tiếng người qua ngôn ngữ diễn bày một huyền nhiệm rất Ba Ngôi. Theo cung cách rất thiêng, và cũng rất người.

Lm Kevin O’Shea DCCT biên-soạn

 Mai Tá lược dịch

Tôi viết tên anh trên lá trên hoa,

Chuyện phiếm đọc trong tuần sau lễ Chúa Ba Ngôi 27-5-2018

 “Tôi viết tên anh trên lá trên hoa,”

Tôi viết tên anh trong trái tim tôi

Tôi viết tên anh trên đá, trên vôi.

Tôi viết tên em ngập nẻo đường đi ngàn lối.”

(Hoàng Thi Thơ – Tôi Nhớ Tên Anh)

(Mc 15: 40-41)

Trần Ngọc Mười Hai

Nhớ tên anh, tên em hay tên người nào khác cũng vẫn là nỗi nhớ nhung hoài, nhiều vương vấn. Nhớ tên anh, đến độ viết cả “trên gấm, trên nhung”, cũng là điều ít thấy ở nhạc bản, có những lời ca thêm thắt rất như sau:

“Tôi viết tên anh trên gấm, trên nhung.

Tôi viết tên anh trên trán, trên tay.

Tôi viết tên anh trong gió, trong mây.

Tôi viết tên anh vào lòng biển lớn sông dài.”

(Hoàng Thi Thơ – bđd)

Vâng. Có thể là như thế. Cứ viết tên anh/tên em cho thật nhiều ở đây đó, rồi cũng có lúc nhớ đến tên ấy với tên này cả vào khi mưa gió , lúc “trăng thanh”, “có tiếng tơ ngàn” để rồi “đi vào lòng thời gian đầy sắc tím” như câu ca còn hát tiếp:

 “Tôi nhớ tên anh khi gió khi mưa. 
Tôi nhớ tên anh khi nắng lưa thưa.
Tôi nhớ tên anh qua ánh trăng thanh.
Khi tiếng tơ ngân vào lòng thời gian màu tím.
Tôi nhớ tên anh như nhớ tương lai.
Tôi nhớ tên anh như nhớ trông ai.
Tôi nhớ tên anh muôn kiếp không phai.
Tôi chắc trong tôi đời đời còn nhớ nhung hoài.”

(Hoàng Thi Thơ – bđd)

Thế đó, là tên của người mà anh hoặc em những thương và nhớ suốt đường dài cuộc đời người. Thế đây, lại là nhà Đạo, người người còn nhớ đến tên ai chăng? Tên, của Đấng thánh hiền đạo-hạnh một thời được mọi người nhắc nhớ, tựa hồ để đề-cao/vinh-danh như câu truyện kể ngăn ngắn có ý-nghĩa.

“Truyện rằng:

 Có phóng viên đài truyền-hình nọ bất chợt đến phỏng-vấn cặp vợ chồng nổi tiếng là hòa-thuận, vì chòm xó/láng giềng chả thấy hai người to tiếng với nhau bao giờ hết.

Phóng viên bắt đầu hỏi:

-Xin anh chị cho biết bí kíp nào từng giúp anh chị có cuộc sống gia thất hạnh phúc đến như vậy?

Ông chồng nghe hỏi bèn đáp vội:

-Có gì đâu. Chẳng qua là, mỗi lần vợ chồng chúng tôi có chuyện hục hặc, cơm chẳng lành/canh chẳng ngọt là cứ đưa nhau ra công viên xa vắng ở đó giải-quyết cho xong, mới về nhà. Thú thật với quí vị là: bọn tôi e ngại chòm xóm biết chuyện riêng tư gia đình mình thật không tiện.” (Truyện kể lại cũng trích từ mạng vi tính, rất lền khên).

Vâng. Mạng vi-tính hay vi-sinh đều thấy rất nhiều. Cả đến các chuyện riêng-tư/đạo đời cũng không thiếu. Chẳng hạn như, câu truyện riêng tư của một thừa-tác-viên/tông-đồ thời tiên-khởi cũng được truyền-thông đưa lên mạng hoặ làm thành phim.

Đây, cũng là trường-hợp của đấng bậc tông-đồ phái nữ có tên là Maria Magđalêna được đề-cao, đưa lên báo điện có tên là MercatorNet hôm 26/3/2018 đã kể rằng:

“Cuốn phim mới, có nói bà là vị “Tông-đồ của các tông-đồ”, tức một thần-tượng thuộc phái nữ.

 Đây, là Tin Mừng về nhân-vật Maria Magđala theo tầm nhìn của đạo-diễn phim-ảnh người Úc có tên là Garth Davi. Phim bản này, trình-bày về một nữ-phụ trổi-bật của Tin Mừng xuất-hiện trên màn hình lớn, cũng rất sớm.

 Maria Magđala, là một nữ-phụ quả cảm từng thách-thức nam-nhân trong gia đình bà được coi là “thày tư-tế” duy-nhất và được phép tháp-tùng các tông-đồ. Đức Giêsu và Maria Mẹ Ngài đã có hiểu biết và tình thương-yêu theo cách đặc-biệt, Mẹ hiểu biết Tin Vui An Bình và tình thương yêu rất mực, trong khi Nhóm Mười Hai chỉ nghĩ về chuyện đánh đổ đám người La Mã mà thôi.

 Đức Giêsu đã ban cho bà ơn trổi-bật, kể cả chỗ ngồi bên phải trong bữa Tiệc Tạ Từ (như cuốn The Da Vinci Code từng nói đến) và cũng công-khai để cho bà làm nhân-chứng đầu tiên cho Ngài. Thế nhưng, sau ngày Phục Sinh, ông Phêrô và các người khác đều coi nhẹ vị-thế cũng như quà tặng của bà. Và ngay khi đó, bà đã vượt qua khỏi mọi sự để tham-gia một thứ “lên-đường” của phụ-nữ bằng quyết tâm như thể bảo: “Tôi sẽ không giữ im lặng, nhưng sẽ loan-báo cho mọi người biết.”

 Phim trên còn ghi-chú, bảo rằng: dù hồi năm 591 Đức Grêgôriô Cả lại diễn-giải trong một bài giảng bảo rằng: Bà là cô gái điếm, được đề-cập ở Tin Mừng. Nhưng vào năm 2016, Đức Giáo Hoàng Phanxicô lại khẳng-định rằng: Bà là vị “Tông đồ của các tông-đồ”, tức có nghĩa: Bà ngang hàng với các tông-đồ của Chúa…

 Thật tình mà nói, phim ảnh về Bà Maria Magđalêna do Đạo-diễn Davis dàn dựng, đã khẳng-định vai trò của phụ nữ trong Giáo-hội khiến ta đi xa hơn các bằng chứng có được từ Tin Mừng. Những gì ta biết về Bà qua Tin Mừng cũng đánh động đủ. Bà là một trong các nữ-phụ được chữa lành “khỏi các thần dữ và các bệnh-tình khác nhau” rồi quyết-định theo chân Đức Giê su và nhóm 12 tông đồ cung-cấp đủ mọi thứ giúp các vị thực-hiện sứ-vụ cao cả ấy. (Lc 8: 1-3; Mc 16: 9)

 Bà là một trong ba nữ-phụ được ghi chép là đã đứng dưới chân khổ-giá treo mình Đức Giê su trên cqao trên đồi Calvariô, và hai vị kia là Maria Mẹ Ngài và Maria vợ của Clopas (Gioan 19: 25). Bà Maria Magđala và các nữ-phụ kia vội chôn cất Đức Giêsu vào buổi chiều ngày Sabát rồi sớm trở lại sáng hôm sau dự định thoa thoa dầu thơm lên xác Ngài, thì mộ phần trống vắng, ngay lúc ấy sứ thần Chúa báo cho các bà biết Đức Giêsu đã trỗi dậy, các ngài phải ra đi kể cho đồ đệ Ngài biết. Nhưng họ vẫn chẳng tin…

 Đó là những gì ta biết về bà Maria Magđala được nêu cao cùng với nữ-phụ khác và thân-mẫu Đức Giêsu ở Tin Mừng. Và, đó cũng là điều mà nhiều bậc hiển-thánh nay vẫn coi thánh-nữ Maria Magđala là mẫu-mã/thần-tượng để nói về vai-trò của các nữ-phụ trong Giáo hội.” (X. Carolyn Moynihan, MercatorNet 26/3/2018)                 

Nói cho cùng, đề-cao vai-trò người nữ tên Maria Magđala từng xuất-hiện trên Tin Mừng như một tông-đồ năng-nổ, có nghĩa là: từ nay, Giáo-hội sẽ không còn coi thường vai-trò của phụ-nữ, dù trên lãnh-vực nào đi nữa; nhưng ngược lại, đã đặt cùng hàng với các tông-đồ nổi-bật xưa nay.

Cuối cùng ra, bằng vào công-cuộc thừa-tác đắc-lực của các tông-đồ nữ như Maria Magđala, Giáo hội nay cũng sẽ cất cao lời hát vang vọng của người đời mà rằng: 

  “Anh, lớp trai ngày nay 
Đắp xây ngày mai.
Đem tự do cho người
Mang niềm vui cho đời.

Và, cũng từ đó, sẽ lại ghi nhớ tên anh/tên em, tên các đấng-bậc năng nổ, cả nam lẫn nữ, rằng:

“Tôi nhớ tên anh khi gió khi mưa. 
Tôi nhớ tên anh khi nắng lưa thưa.
Tôi nhớ tên anh qua ánh trăng thanh.
Khi tiếng tơ ngân vào lòng thời gian màu tím.
Tôi nhớ tên anh như nhớ tương lai.
Tôi nhớ tên anh như nhớ trông ai.
Tôi nhớ tên anh muôn kiếp không phai.
Tôi chắc trong tôi đời đời còn nhớ nhung hoài.”

 Vâng. “Đời đời còn nhớ nhung hoài”, vẫn cứ là câu hát nhắc nhở mọi người hãy “nhớ nhung hoài” về nhiều chuyện. Những chuyện, được Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhắc con dân đi Đạo bằng một động-thái hơi khang-khác nhưng cũng vẫn là nhắc nhở, như tin-tức trên báo/đài ở Úc cũng đã ghi:

 “Mới đây ĐTC Phanxicô đã cập nhật hoá vị thế của Thánh Bộ Giáo Dân, Gia Đình và Sự Sống, ngoài những trách nhiệm đã có được bổ túc thêm vai trò cổ xuý việc suy nghĩ sâu xa hơn về vị trí của phụ nữ trong giáo hội và xã hội, đặc biệt nhấn mạnh đến “tính chất thiên tài” của phụ nữ để kêu gọi sự đóng góp của họ.

 Vai trò mới được ĐTC phê chuẩn trên căn bản thử nghiệm và đượng Toà Thánh phổ biến hôm 8 tháng 5 và sẽ bắt đầu có hiệu lực kể tử chủ nhật 13 tháng 5, ngày Hiền Mẫu. Thánh Bộ hiện do Đức Hồng Y người Mỹ là Kevin J Farrell cầm đầu. Quy chế mới, đòi Thánh Bộ phải có ít nhất hai thứ trưởng là giáo dân, mới được.

 Thánh Bộ cần duy trì các mối dây liên lạc với các Hội Đồng Giám Mục Đia Phương, với các giáo phận và các tổ chức khác trong giáo hội để khuyến khích sự hợp tác giữa họ. Quy chế mới cũng kêu gọi Thánh Bộ đưa ra những chỉ dẫn trong các chương trình đào tạo hôn nhân và cho các đôi vợ chồng mới cưới.

 Ngoài ra Thánh Bộ còn có trách nhiệm khác cho thấy “việc chăm sóc mục vụ cho các trường hợp hôn nhân bất thường, kể cả trường hợp sống chung chưa có giấy chính thức, hoặc trường hợp ly dị, tái-giá theo luật đời, thánh Bộ cũng có trách nhiệm chăm sóc giới trẻ, khuyến khích họ tham gia các sinh-hoạt của giáo hội cũng như xã hội.” (X. Cindy Wooden,Pope asks Vatican group to examine role of women in the Church, catholicherald 8/5/2018 Vũ Nhuận chuyển ngữ)

 Về vai-trò của nữ-phụ trong cơ-chế Giáo-hội, là chuyện không thể kể cho hết trong đời người đi Đạo. Nói và nhắc nhớ nhiều lần, còn là khẳng định của đấng bậc vị vọng nọ từng viết về phong-trào phụng thờ Mẹ và Con của Ralph Woodrow, như sau:

“Một trong các ví-dụ thấy rõ nhất về đạo ngoại-thần của văn minh Babylon đã xâm-nhập vào với Giáo-hội La Mã đến nỗi Đạo Chúa ở đây đã sáng-chế ra lối phụng thờ Đức Nữ Trinh Maria thay thế cho việc thờ-phụng các nữ-thần làm mẹ.

 Chính vào lúc, chúng dân người Babylon tản mát khắp nơi trên trái đất, họ họ đem theo đủ mọi chuyện về nữ-phụ trong đó có việc thờ thánh mẫu và người con nhỏ của Bà. Điều này cắt nghĩa tại sao nhiều quốc gia trên thế-giới lâu nay đã thờ kính Mẫu-thần và Con của Bà theo cách này hay cách khác suốt nhiều thế-kỷ trước khi Đấng Cứu Thế đích-thực là Đức Giêsu sinh ra đời!

 Tại nhiều nước trên thế-giới, việc sùng kính “Mẫu thân và Con của Bà” được lan rộng  và được đặt theo tên gọi của mỗi quốc-gia, mỗi phong-tục/tập-quán của địa phương, do bởi ngôn-ngữ của con người phàm đã thay-đổi xảy từ sự kiện ngọn tháp Babel. Người Hoa gọi Mẫu-thần của họ là “Shingmoo” hoặc “Đức Thánh Mẫu”.

 Người Đức cổ lại cũng tôn-thờ Nữ Trinh Hertha bồng trẻ bé trên tay Bà. Người Scanđinavia cũng tôn-thờ thần Disa của họ theo hình thù bà mẹ bế con. Người Êtruscan gọi vị ấy là Nutria và người Druids gọi Nữ Trinh Patitura của họ là “Mẹ của Đức Chúa”… (X. Ralph Woodrow, Babylon Mystery Religion, Ralph Woodrow 1981 tr. 13)    

     Nói về người nữ, luôn có nhiều điều để nói và để kể. Nói, là nói về triết-lý, thần-học và pháp-lý, ôi thôi chẳng bao giờ hết. Cũng hệt thế, kể các truyện có liên-quan đến sự khéo léo/tế-nhị hoặc cá-tính riêng biệt của phụ-nữ, sẽ không bao giờ cạn.

Thôi thì, hôm nay, bần đạo bầy tôi đây chỉ xin nói và ghi lại một truyện đã được kể từ nhiều tháng ngày vào buổi trước rất nhiều lần để minh-họa cho bài viết, như sau:

“Một người đàn ông hôm ấy đến gặp bác sĩ tâm-lý than-phiền về những khó khăn mình gặp, rằng:

-Thưa bác sĩ, không biết tại sao đêm nào tôi cũng mơ chuyện vớ vẩn như quái vật mang hình đàn bà ngồi cạnh giường khiến tôi không ngủ được, cả tháng nay.

Bác sĩ suy nghĩ một hồi, rồi từ tốn nói:

-Được rồi. Tôi nghĩ bệnh của anh có thể trị dứt ngay lập tức. Nhưng có điều là chí phí điều-trị sẽ khá cao và dao-động khoảng từ 20 đến 30 ngàn đô, chứ chẳng chơi.

Người bệnh bèn kêu thất thanh lên rằng:

-Ấy chết Làm gì dữ vậy bác sĩ, 30 ngàn đô sao mắc dữ vậy? Tự dưng, tôi thấy không cần-thiết phải xua đuổi quái vật đội lốt đàn bà nữa. Suy cho kỹ, thì: gọi là quái vật chứ nó cũng có điểm đáng yêu, đấy chứ. Thôi, để tôi về nhà và cố gắng làm bạn với quái-vật ấy, là xong ngay. Có điều, hơi lấn cấn với bà vợ ở nhà một chút, bác sĩ nhỉ?

Bác sĩ nghe vậy, chẳng biết nói sao cho người bệnh an lòng.” (Lại một truyện kể rút trên mạng)

 Kể truyện vui vui hoặc nói với nhau nhiều điều, cũng chỉ để nhắc nhau nhiều điều bằng ca-từ ở trên, cứ hát tiếp:

“Tôi viết tên anh trên lá trên hoa,

Tôi viết tên anh trong trái tim tôi.

Tôi viết tên anh trên đá, trên vôi.

Tôi viết tên em ngập nẻo đường đi ngàn lối.

Tôi nhớ tên anh khi gió khi mưa. 
Tôi nhớ tên anh khi nắng lưa thưa.
Tôi nhớ tên anh qua ánh trăng thanh.
Khi tiếng tơ ngân vào lòng thời gian màu tím.
Tôi nhớ tên anh như nhớ tương lai.
Tôi nhớ tên anh như nhớ trông ai.
Tôi nhớ tên anh muôn kiếp không phai.
Tôi chắc trong tôi đời đời còn nhớ nhung hoài.”

(Hoàng Thi Thơ – bđd)

Tôi nhớ tên anh/tên em” và/hoặc tên các nữ-tông đồ ở Tin Mừng, tức: vẫn còn nhớ lời đấng thánh hiền từng nói ở Kinh/Sách như sau:

“Có mấy phụ nữ đứng xa xa mà nhìn,

trong đó có bà Maria Magđala,

bà Maria mẹ các ông Giacôbê Thứ và Giôxết,

cùng bà Salômê.

Các bà này đã đi theo

và giúp đỡ Đức Giêsu khi Ngài còn ở Galilê.

Lại có nhiều bà khác

đã cùng với Ngài lên Giêrusalem,

cũng có mặt tại đó.”

(Mc 15: 40-41)

Các đấng tông-đồ vị vọng phái nữ có mặt nhiều lần, nhiều nơi bên cạnh Chúa. Các bà có mặt ở đó, không chỉ để chiêm-ngắm những việc Chúa làm bằng mắt thịt người phàm mà thôi, nhưng vẫn là công-việc thừa-tác các bà từng làm còn đắc-lực hơn các tông đồ phái nam, nữa.

Thế đó, là chuyện không chỉ để phiếm đại cho xong mà thôi; nhưng, còn là niềm vui nhắc nhớ để ta lại sẽ viết tên nhau trên lá/trên hoa, trên tất cả mọi thứ ở đời, khiến người người cứ viết hoài viết mãi, rất không ngơi.

Trần Ngọc Mười Hai

vẫn cứ viết nhiều điều để phiếm.

Phiếm rất nhiều.

Phiếm lai rai, dài dài

Không biết chán.     

TRƯỢT CHÂN, TÉ NGÃ TRONG TUỔI VÀNG

TRƯỢT CHÂN, TÉ NGÃ TRONG TUỔI VÀNG


Nguồn: Internet
Chỉ một cú vấp ngã là cuộc sống con người có thể thay đổi hoàn toàn, cuộc thay đổi không thể kềm hãm xoay chuyển. Sự đau đớn thể xác đi kèm với nỗi vật vã tâm thần. Đây là mối ưu tư, ám ảnh của tuổi vàng khắp chốn.

Con người sống lâu hơn, ít bệnh tật hơn nhưng tuổi thọ lâu dài kia có những khúc quanh không như ý. Cơ thể trải qua những biến chuyển cần sự thích nghi và chấp nhận từ mỗi cá nhân. Ôi chao, biết bao nhiêu là biến chuyển trong cái thân thể mong manh kia sau 70 – 80 năm dãi dầu với thời gian?

Mắt nhìn không còn tinh anh. Tai nghe không còn tỏ tường, có vị còn chịu chứng ù tai, tinnitus, những âm thanh tai quái u u trong đầu suốt ngày đêm. Khứu giác chẳng còn “cảm” được một mùi hương nhẹ nên vị giác hầu như mòn mỏi. Khoảng 70% khả năng “nếm” đến từ khả năng “ngửi”. Rượu [ngon] không còn giữ được hương vị cũ dù vẫn mang lại cảm giác lâng lâng và đôi khi còn gây chuếnh choáng nhanh chóng không ngờ. Bắp thịt không mạnh mẽ như trước, khuân vác một món gì cũng khó khăn. Khớp xương ê ẩm khiến việc xê dịch chậm chạp… Chưa kể sự thăng bằng, balance, kết hợp từ khả năng nhìn thấy, sức mạnh của bắp thịt, và khả năng cảm nhận vị trí của thân thể (proprioception) trong môi trường chung quanh, cũng sút giảm qua thời gian. Và cuộc sống có thể đến khúc ngoặt không ngờ khi trượt chân, vấp ngã.

Năm 2012, trên 2.4 triệu người té ngã, NGUỒN: CONSOLEANDHOLLAWELL.COM

Tại Huê Kỳ, số người cao niên (65+ tuổi) té ngã và chịu biến chứng nặng nề mỗi ngày một gia tăng. Nha Thống Kê của cơ quan Kiểm Soát và Phòng Ngừa Bệnh Tật (CDC) công bố một con số đáng ngại, chỉ trong năm 2012, trên 2.4 triệu người té ngã, trong số ấy trên 200 ngàn người tử vong vì biến chứng trong cùng năm.

Theo Hội Chuyên khoa về Tuổi vàng, Geriatrics, tai nạn gia tăng khi con người quá lạc quan quá tự tin, không lượng sức mình; người có tuổi cũng không ngoại lệ nhưng chịu ảnh hưởng của tai nạn nặng nề hơn. Những thứ bình thường trước đây bỗng dưng trở thành chướng ngại vật trong một phút không ngờ: các bậc thang, tấm thảm trên sàn nhà, bồn tắm trắng bóng, vồng u trong chỗ đậu xe, rễ cây ngoài vườn…, và ngay cả con chó con mèo quanh quẩn bên chân hằng ngày. Những món thuốc trị chứng cao huyết áp, chữa trầm cảm…có thể gây chóng mặt, choáng váng khiến việc vấp té, trượt chân xảy ra dễ dàng hơn.

Trong số các cụ cao niên té ngã và gãy xương chậu xương đùi, 20% tử vong trong cùng năm, 80% còn lại chịu ảnh hưởng nặng nề. Họ không còn tự di chuyển nên việc nhàn tản trên một quãng đường ngắn trở nên bất khả. Nhiều người mất luôn khả năng lái xe vì chân ga chân thắng không còn nhậm lẹ nên dễ gây tai nạn.

Không thể tự di chuyển, các cụ này trở nên phụ thuộc vào người chung quanh, từ bạn bè, hàng xóm láng giềng đến con cái. Tuổi vàng sợ đau đớn thể xác thì ít nhưng họ lại hãi hùng trước viễn ảnh mất hết khả năng độc lập.

Một sự thật khó chấp nhận là việc càng cao tuổi, càng dễ té ngã. Theo Tiến Sĩ Judy A. Stevens, chuyên viên Dịch Tễ, epidemiologist, tại CDC, té ngã xem ra giản dị nhưng lại là nỗi ám ảnh kinh hoàng cho tuổi vàng, không mấy ai muốn nhắc đến và ngay cả người bị té cũng không muốn đề cập đến. Lý do? Các cụ ngượng ngùng, bạn ạ, ngại bạn bè chê cười mình vụng về, nhưng lý do sâu thẳm nhất, các cụ sợ con cháu lo lắng quá lại khênh họ vào nhà dưỡng lão hầu được (bị) chăm sóc kỹ lưỡng hơn, và từ đó mất luôn cuộc sống độc lập riêng tư. Họ sợ hung thần té ngã còn hơn các trận đau ốm. Đau ốm khi hết bệnh còn có thể độc lập chứ té ngã thì lôi thôi lắm!

Phục hồi sau khi té ngã là một hành trình gian nan, chậm chạp. Với các ca gãy xương “bình thường”, sau khi bó xương, nối xương và vết thương tạm lành, bệnh nhân trải qua thời gian tập luyện để có thể tự di chuyển. Chương trình phục hồi kéo dài vài tháng, từ việc dùng xe lăn, khung cân bằng đến cách dùng gậy để chống đỡ thân mình và giúp thăng bằng. Nhiều cụ không còn leo thang được nữa vì cần dùng khung sắt để di chuyển, và từ đó phải lìa bỏ tổ ấm nơi có các bậc thang thân quen, gần gũi. Thay đổi chỗ ở là cả một cú sốc trong tuổi vàng. Cụ nào chấp nhận và chịu thích nghi thì vết thương “lìa tổ ấm” sớm lành, cụ nào rầu rĩ vật vã với chỗ ở mới thì nhanh chóng rơi vào nỗi trầm cảm u uất và không thiết sống!

alt
Emergency button trên dây đeo cổ – NGUỒNVOLTUM.COM

Ngược lại, được sinh sống trong khung cảnh quen thuộc là nỗi ấm áp, thoải mái trong tuổi vàng ngay cả khi các cụ không còn có thể tự chăm sóc thân thể.

Như mọi loại bệnh tật, phòng ngừa là phương cách tốt nhất. Té ngã cũng thế. Phòng ngừa té ngã để tránh thương tật và các biến chứng thay đổi đời sống của bệnh nhân.

Để phòng ngừa té ngã, bà Judy Stevens cho rằng thể dục là yếu tố quan trọng nhất. Khi thân thể khỏe mạnh, bắp thịt cứng cáp, thì ít bị té ngã; và nếu bị té ngã thì ảnh hưởng cũng bớt trầm trọng so với các cụ ít động đậy, đi lại.

Các lớp thể dục, nhất là các buổi dạy về thăng bằng, như tập đứng một chân, lăn trái banh Bosu cho quen với sự chông chênh. Môn Thái Cực với các động tác co duỗi thong thả, chậm chạp giúp thân thể phối hợp hoạt động của bắp thịt và hai lá phổi thở hít nhịp nhàng. Sự phối hợp này cần thiết cho việc hô hấp, thăng bằng và dáng đi đứng của thân thể.

Hiệu quả cụ thể nhất của sự tập luyện thân thể là việc có thể tự đứng dậy từ ghế ngồi mà không cần vịn tay: bắp thịt hai chân và bắp thịt bụng, lưng cứng cáp đủ để chống đỡ và thăng bằng thân thể khi thay đổi vị thế.

Những yếu tố khác không kém quan trọng là việc dùng các món thuốc. Thuốc trị cao huyết áp, khoảng 70% các cụ tuổi thất thập dùng món thuốc này, gây chóng mặt khi huyết áp xuống nhanh và dễ té ngã nếu không cẩn thận. Chưa kể các thứ dược thảo lợi tiểu, giảm đường giảm mỡ (?) hầm bà lằng khác bán tự do trên thị trường mà các cụ Á Đông dùng thường xuyên như uống trà.

Xin mở ngoặc để nhắc đến dược thảo một chút: Dược thảo là con dao hai lưỡi rất sắc, có thể vô cùng hiệu quả trong việc chữa trị một bệnh tật nào đó, nhưng dược chất trong dược thảo có liều lượng bao nhiêu lại là một điều bí mật. Bí mật thứ nhì là món dược thảo tuy có cùng tên nhưng mức khác biệt về dược chất [và dược tính] lại là khoảng cách mênh mông… chưa kể các phụ chất có dược tính khác.

Các cụ dùng thuốc trị cao huyết áp có tỷ lệ té ngã cao gấp đôi những người không dùng. Đặc biệt là loại thuốc lợi tiểu, diuretic, [dùng để giảm cao huyết áp và suy tim]. Nếu cần dùng, các cụ nên uống thuốc ban ngày để tránh những chuyến vào nhà vệ sinh trong đêm tối. Món thuốc khác, món thuốc trị mất ngủ, có thể gây mất thăng bằng, và nếu có thể, nên thay thế bằng một ly sữa ấm, một cuốn sách dễ đọc hoặc một vài bản nhạc êm dịu.

Cách phòng ngừa té ngã khác là cách xếp đặt vật dụng trong nhà, loại bỏ tấm thảm đặt hờ hững trên sàn nhà, bàn ghế nằm gọn ghẽ trong một góc khuất, dẹp giày dép, đồ chơi… trên lối đi.

Các cụ trong tuổi vàng cần đi khám mắt hàng năm và đeo kính để duy trì thị lực. Dùng kính đơn tròng khi đi bộ và chỉ dùng kính hai tròng, ba tròng (bifocal, progressive lenses) khi đọc sách, ngồi tại chỗ vì loại kính này có thể gây vấp té.

Trong nhà cần có đèn đủ sáng để thắp rõ vật dụng chung quanh. Và món vật dụng cần thiết nhất, với các cụ sống đơn chiếc, có lẽ là món “gọi cấp cứu”, emergency button, electronic alert, có thể trong dạng vòng đeo trên cổ tay có nút bấm, có thể là dây đeo trên cổ.

Mùa thu của cuộc đời không nhất thiết chỉ là mùa tàn úa, mùa lá vàng; với sự chấp nhận, sửa soạn và sẵn sàng cho tinh thần, mùa thu có thể trở thành…vàng lá, vàng ròng với các chuyến du ngoạn thong thả để tận hưởng sự thanh nhàn khi tâm tư không còn vướng bận với sinh kế nhọc nhằn và bổn phận dưỡng dục khó khăn?

Tập với trái banh Bosu – NGUỒN DIRECTORSBLOG
From: Anh chi Thu & Mai

BỨC TRANH MIÊU TẢ MẦU NHIỆM CHÚA BA NGÔI CỦA CHÍNH THỐNG GIÁO NGA

BỨC TRANH MIÊU TẢ MẦU NHIỆM CHÚA BA NGÔI CỦA CHÍNH THỐNG GIÁO NGA

 “Đó là điều vô lý nhất và không thích hợp khi miêu tả Chúa Cha với hình tượng người đàn ông có bộ râu màu xám, và Người con duy nhất của Ngài có hình ảnh chim bồ câu ở giữa, bởi vì không ai đã nhìn thấy Chúa Cha vì thiên tính của Ngài, và Chúa Cha không có xương có thịt […] và Chúa Thánh Thần bản chất không phải là chim bồ câu, nhưng bản chất là Thiên Chúa.”  (Đại Thượng Hội Đồng Moscow, 1667)

 Đối với Giáo Hội Chính Thống Nga, việc miêu tả Thiên Chúa Ba Ngôi trong nghệ thuật là một vấn đề gây tranh cãi trong hàng ngàn năm qua.  Mặc dù Công Đồng Nicaea năm 787 cho phép các họa sĩ vẽ về Thiên Chúa, tuy nhiên Giáo Hội Chính Thống Nga vẫn không hài lòng với những bức họa phổ biến về Chúa Cha và Chúa Thánh Thần.

Họ cảm thấy hình tượng người đàn ông với bộ râu màu xám và chim bồ câu (thường được dùng để mô tả Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong hội họa) không thể xứng với mầu nhiệm khôn thấu về về Thiên Chúa Ba Ngôi.  Thay vì sử dụng những hình ảnh phổ biến này, họ đã chọn bức tranh (icon) Chúa Ba ngôi của Andrei Rublew như cách diễn tả thích hợp về Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. 

Rất khó để những người bên ngoài Chính thống giáo hiểu được những bức tranh icon của Chính thống giáo Nga, và với cái nhìn đầu tiên, bức tranh có vẻ không diễn tả hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi.  Bối cảnh trung tâm của bức ảnh xuất phát từ sách Sáng Thế, khi ông Abraham tiếp đón ba vị khách lạ vào lều của mình, “Và Đức Chúa hiện ra với Abraham tại cụm sồi Mamre … Ông ngước mắt lên và … kìa, ba người đàn ông đứng gần ông.  Vừa thấy, ông liền từ cửa lều chạy ra đón khách, sụp xuống đất và nói … [Ông Abraham] đã lấy [bánh, sữa chua, sữa tươi, và thịt bê đã làm] mà đãi khách; và ông đứng hầu dưới gốc cây trong khi họ dùng bữa” (Sáng thế ký 18: 1-8).

Bức ảnh của Rublev miêu tả cảnh tượng trên với hình ảnh ba thiên thần, có giáng vẻ giống nhau, ngồi quanh một chiếc bàn.  Phía sau là ngôi nhà của Abraham và một cây sồi phía sau ba vị khách.  Trong khi bức ảnh này mô tả một sự kiện trong Cựu Ước, thì Rublev đã sử dụng đoạn Kinh Thánh này để phác họa hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi, phù hợp với các nguyên tắc nghiêm ngặt của Giáo Hội Chính Thống Nga. 

Các biểu tượng của hình ảnh phức tạp và có ý nghĩa tổng quát niềm tin thần học của Giáo Hội trong Thiên Chúa Ba Ngôi.  Trước hết, ba thiên thần giống hệt nhau về hình dạng tương ứng với tín điều Ba Ngôi tuy riêng biệt, nhưng cùng một bản thể duy nhất.  Tuy nhiên, mỗi thiên thần trong bức trang mặc một trang phục khác nhau, diễn tả sự riêng biệt của mỗi ngôi vị.  Trên thực tế, việc Rublev mô tả Thiên Chúa Ba Ngôi trong hình ảnh thiên thần cũng là một lời nhắc nhở về bản tính của Thiên Chúa, Đấng là thần linh thuần túy.

 Các thiên thần được sắp xếp từ trái sang phải theo thứ tự như khi chúng ta tuyên xưng đức tin trong Kinh Tin Kính: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

 Thiên thần đầu tiên mặc áo màu xanh, tượng trưng cho bản tính thần linh của Thiên Chúa và áo choàng màu tím, chỉ vương quyền của Chúa Cha.

Thiên thần thứ hai và là vị quen thuộc nhất, là người mặc loại quần loại đặc trưng của Chúa Giêsu trong truyền thống icon.  Màu đỏ tượng trưng cho nhân tính của Chúa Kitô, trong khi màu xanh là biểu hiện thiên tính của Người.  Cây sồi phía sau nhắc nhở chúng ta về cây sự sống trong Vườn Eden cũng như thập giá mà trên đó Chúa Kitô đã cứu thế giới khỏi tội lỗi của Adam. 

Thiên thần thứ ba mặc một chiếc áo màu xanh (thiên tính), và áo choàng xanh lá cây.  Màu xanh lá chỉ trái đất và nhiệm vụ đổi mới địa cầu của Chúa Thánh Thần.  Xanh lá cũng là màu phụng vụ trong lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, theo truyền thống Chính thống giáo và Byzantine.  Hai thiên thần bên phải bức tranh đầu hơi cúi, diễn tả một thực tế là Chúa Con và Chúa Thánh Thần xuất phát từ Chúa Cha. 

Trung tâm của bức tranh là chiếc bàn, tượng trưng cho một bàn thờ.  Đặt trên bàn là một chiếc bát hoặc chén bằng vàng, có chứa thịt bê mà Abraham đã chuẩn bị cho khách.  Thiên thần ở giữa có lẽ đang làm phép bữa ăn.  Tổng hợp các điều đó nhắc nhở chúng ta về bí tích Thánh Thể. 

Tuy bức tranh không minh họa trực tiếp mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, nhưng đây là một trong những bức tranh uyên thâm nhất từng được vẽ.  Truyền thống Chính thống giáo và Byzantine vẫn dùng nó như cách miêu tả chính về Thiên Chúa Ba Ngôi.  Bức tranh thậm chí được đánh giá cao trong Giáo hội Công giáo La Mã, và thường xuyên được các giáo lý viên sử dụng để dạy người khác về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. 

Thiên Chúa Ba Ngôi là một mầu nhiệm, và sẽ luôn là như vậy khi chúng ta đang còn hiện diện trên trái đất.  Tuy nhiên, đôi khi chúng ta thấy được cái nhìn thoáng qua về sự sống thần linh của Thiên Chúa, và bức tranh của Rublev đã giúp chúng ta có được giây phút ngắn ngủi để nhìn vào phía sau bức màn mầu nhiệm.

 Cát Trắng

The Russian Icon that Reveals the Mystery of the Trinity

Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly

Phúc Âm: Mc 10, 1-12

9 Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly.”

Lạy Cha nhân ái, từ trời cao,
xin Cha nhìn xuống
những gia đình sống trên mặt đất
trong những khu ổ chuột tồi tàn
hay biệt thự sang trọng.
Xin thương nhìn đến
những gia đình thiếu vắng tình yêu
hay thiếu những điều kiện vật chất tối thiểu,
những gia đình buồn bã vì vắng tiếng cười trẻ thơ
hay vất vả âu lo vì đàn con nheo nhóc.
Xin Cha nâng đỡ những gia đình đã thành hỏa ngục
vì chứa đầy dối trá, ích kỷ, dửng dưng.

Lạy Cha, xin nhìn đến những trẻ em trên thế giới,
những trẻ em cần sự chăm sóc và tình thương
những trẻ em bị lạm dụng, bóc lột, buôn bán,
những trẻ em lạc lõng bơ vơ, không được đến trường,
những trẻ em bị đánh cắp tuổi thơ và trở nên hư hỏng
Xin Cha thương bảo vệ gìn giữ
từng gia đình là hình ảnh của thánh Gia Thất,
từng trẻ em là hình ảnh của Con Cha thuở ấu thơ.
Xin Cha sai Thánh Thần Tình Yêu
đem đến hạnh phúc cho mỗi gia đình ;
nhưng xin cũng nhắc cho chúng con nhớ
hạnh phúc luôn ở trong tầm tay
của từng người chúng con. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

Hoa Kỳ yêu cầu Việt Nam trả tự do cho Mẹ Nấm và thành viên Hội Anh Em Dân Chủ

Hoa Kỳ yêu cầu Việt Nam trả tự do cho Mẹ Nấm và thành viên Hội Anh Em Dân Chủ

RFA
2018-05-25

Đối thoại nhân quyền Việt Nam và Hoa Kỳ lần thứ 22 tại Washington DC

Đối thoại nhân quyền Việt Nam và Hoa Kỳ lần thứ 22 tại Washington DC

State Department

Trong đối thoại nhân quyền thường niên lần thứ 22 giữa Việt Nam và Hoa Kỳ vừa diễn ra hôm 17/5 tại Washington DC, Bộ Ngoại giao Mỹ tiếp tục nêu quan ngại về tình trạng nhân quyền Việt Nam và nêu một số trường hợp đặc biệt, yêu cầu phía Việt Nam phải trả tự do ngay lập tức. Nhân dịp này, Đài Á Châu Tự Do có cuộc phỏng vấn với ông Scott Busby, Phó Trợ lý Ngoại Trưởng Mỹ thuộc văn phòng phụ trách vấn đề dân chủ, nhân quyền, và lao động, về đối thoại lần này.

———————————

Scott Busby: đây là đối thoại nhân quyền thứ 22 mà chúng tôi có với Việt Nam, một trong những đối thoại dài nhất so với bất cứ nước nào khác trên thế giới. Trong đối thoại, chúng tôi tái khẳng định cam kết của chúng tôi là thắt chặt hơn mối quan hệ đối tác toàn diện với Việt Nam. Nói vậy, nhưng chúng tôi vẫn có nhiều quan ngại về tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Chúng tôi đã nói với họ như đã nói trước kia rằng nếu không có sự tiến bộ và hợp tác trong vấn đề nhân quyền, bao gồm tự do tôn giáo và quyền của người lao động, mối quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam không thể đạt được triển vọng toàn bộ. Chúng tôi có nêu ra một số trường hợp cụ thể. Chúng tôi có chia sẻ với họ danh sách các cá nhân này. Có hai trường hợp đặc biệt mà chúng tôi nhấn mạnh là Nguyễn Ngọc Như Quỳnh hay còn được biết là blogger Mẹ Nấm, người đã nhận giải Phụ Nữ Quả Cảm từ Bộ Ngoại giao năm ngoái. Chúng tôi cũng nêu trường hợp luật sư Nguyễn Văn Đài và những người cùng cộng tác trong Hội Anh Em Dân Chủ. Họ vừa bị nhận những án tù nặng nề. Chúng tôi nói với đại diện Việt Nam là những bản án này không công bằng và đòi hỏi Việt Nam phải trả tự do cho họ và Mẹ Nấm. Trên thực tế, chúng tôi đòi hỏi họ phải trả tự do cho tất cả các tù nhân lương tâm mà chúng tôi chia sẻ danh sách với họ.

RFA: Hoa Kỳ đã nhiều lần yêu cầu Việt Nam phải trả tự do cho các tù nhân lương tâm nhưng phía Việt Nam đã không thực hiện. Những tù nhân lương tâm được trả tự do, trong một số trường hợp là được yêu cầu phải sang Mỹ. Vậy ông có thể cho biết đây có phải là những gì đang xảy ra đối với danh sách các cá nhân phía Mỹ đưa ra không? Phía Việt Nam có hứa hẹn gì?

Scott Busby: Tôi không thể đi vào chi tiết cụ thể những gì mà chúng tôi bàn với phía Việt Nam nhưng tôi có thể nói là chúng tôi đã đàm phán với họ và yêu cầu họ phải trả tự do cho những tù nhân lương tâm. Không có một lời hứa nào (của Việt Nam) được đưa ra trong đối thoại.

Chúng tôi nói với đại diện Việt Nam là những bản án này không công bằng và đòi hỏi Việt Nam phải trả tự do cho họ và Mẹ Nấm. Trên thực tế, chúng tôi đòi hỏi họ phải trả tự do cho tất cả các tù nhân lương tâm mà chúng tôi chia sẻ danh sách với họ. – Scott Busby

RFA: Trước đối thoại, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã có báo cáo về tình hình nhân quyền ở Việt Nam, Ủy Hội tự do tôn giáo quốc tế trước đó cũng có báo cáo về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. Ông đánh giá thế nào về tình hình nhân quyền Việt nam trong năm qua so với năm trước đó và khi phía Mỹ đưa ra đánh giá như vậy thì phía Việt Nam nhìn nhận thế nào?

Scott Busby: Chúng tôi cho rằng đã có sự gia tăng bắt bớ và đàn áp đối với những người thực hiện các quyền cơ bản. Chúng tôi đã nêu ra quan ngại về vấn đề này. Chúng tôi cũng nêu quan ngại về những bản án nặng nề mà những người này phải chịu. Phía Việt nam giải thích rằng những người này đã vi phạm luật pháp và đó là lý do họ bị bắt và bỏ tù.

RFA: Các tổ chức nhân quyền quốc tế vừa qua đã có những chỉ trích chính phủ Mỹ hiện nay đã không cứng rắn trong vấn đề nhân quyền với Việt Nam và đó là lý do khiến Việt Nam gia tăng đàn áp nhân quyền. Ông có nhận xét gì về điều này.

Scott Busby: Chúng tôi thường xuyên nêu quan ngại của chúng tôi về vấn đề nhân quyền với phía Việt Nam bất cứ khi nào có cơ hội. Tôi gần đây có gặp Đại sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam là ông Daniel Kristenbrink và ông ấy thừa nhận là vấn đề nhân quyền nằm trong phần lớn các đối thoại giữa ông ấy với phía Việt Nam. Tôi cũng lưu ý là trong thảo luận của Hội đồng Nhân quyền ở Geneva (UN Human Right Council), chúng tôi đã nêu quan ngại về tình trạng đàn áp đối với những người Việt Nam thực hiện các quyền căn bản của họ.

RFAHoa Kỳ có những mặc cả nào cụ thể để gây sức ép lên Việt Nam?

Scott Busby: Việt Nam muốn có quan hệ gần gũi hơn với Mỹ. Họ có lo ngại về bạn láng giềng phương Bắc như bạn đã biết. Việt Nam muốn có quan hệ tốt hơn với Mỹ. Chúng tôi nói với họ rằng là nếu họ muốn có quan hệ tốt hơn với Mỹ thì họ cần phải cải thiện tình trạng nhân quyền.

RFAMới đây, Phó Đại diện Thương Mại Mỹ Jeffrey Gerrish có gặp Phó Thủ tướng Việt Nam Vương Đình Huệ và nêu quan ngại về luật an ninh mạng mà Việt Nam đang đề xuất. Ông đánh giá luật này nếu được thông qua sẽ ảnh hưởng thế nào tới quan hệ hai nước?

Scott Busby: Chúng tôi rất lo ngại về luật này. Chúng tôi có cùng mối quan ngại như Phó Đại diện Thương Mại Mỹ Jeffrey Gerrish đã nói đến khi ông ấy ở Việt Nam. Chúng tôi nghĩ là luật này được viết để hạn chế hơn nữa quyền tự do bày tỏ ý kiến, tự do tụ tập, và cũng cản trở sự phát triển và sáng tạo của nền kinh tế số trong nước. Trong suốt đối thoại, chúng tôi cũng thúc giục Việt Nam hoãn lại việc thông qua luật này để có thêm thời gian cho quá trình tư vấn để xem xét những quan ngại của những bên sẽ bị ảnh hưởng bởi luật này.

RFA: Xin cảm ơn ông đã dành cho chúng tôi buổi phỏng vấn này