Trịnh Hữu Long
Đo lòng dân bằng cách gì?
Những thứ không được coi là lòng dân
T.H.L.
Nguồn: https://www.luatkhoa.org/2018/10/long-dan-tram-moi-to-vo/

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
Trịnh Hữu Long
Đo lòng dân bằng cách gì?
Những thứ không được coi là lòng dân
T.H.L.
Nguồn: https://www.luatkhoa.org/2018/10/long-dan-tram-moi-to-vo/

NEW YORK, New York (NV) — Giải Nobel Kinh Tế 2018 hôm Thứ Hai, ngày 8 Tháng Mười, được trao cho hai kinh tế gia Mỹ, các giáo sư William D. Nordhaus và Paul M. Romer, do đã giúp tăng thêm sự hiểu biết về những yếu tố dài hạn làm tăng trưởng kinh tế.
Giáo sư Nordhaus được vinh danh về nghiên cứu liên quan tới các tác động của môi trường vào kinh tế, kể cả sự thay đổi khí hậu. Giáo sư Romer được chọn để trao giải do nghiên cứu của ông về sự quan trọng của thay đổi kỹ thuật.
Loan báo của ủy ban trao giải Nobel Kinh Tế được đưa ra cùng ngày với việc một ủy ban của Liên Hiệp Quốc về thay đổi khí hậu công bố bản báo cáo, theo đó cảnh cáo về các hậu quả tai hại của thay đổi khí hậu và kêu gọi chính quyền thế giới hãy nhanh chóng có biện pháp đối phó.
Giáo sư Romer, đang dạy môn kinh tế tại New York University, được chọn vì các nghiên cứu của ông nhằm giải thích vai trò của các ý tưởng về kỹ thuật góp phần làm tăng trưởng kinh tế.
Cả hai ông từ lâu nay vẫn được coi là có nhiều triển vọng đoạt giải Nobel Kinh Tế, nhưng ít ai nghĩ rằng họ sẽ cùng được trao giải.
Hàn Lâm Viện Khoa Học Thụy Điển, cơ quan trao giải này, nói rằng cả hai ông cho thấy, để giải quyết những trở ngại đối với việc phát triển dài hạn kinh tế thế giới, cần phải có sự hợp tác quốc tế. (V.Giang)
SỨ ĐIỆP CỦA THÁNH TÊRÊSA CHO THỜI NAY
Thánh Nữ Têrêsa Hài Đồng đã khám phá và sống trọn con đường tình yêu, con đường thơ ấu trong Phúc Âm. Chính con đường đó đã dẫn đưa Têrêxa tới đỉnh cao thánh thiện và trở thành “Tiến Sĩ Hội Thánh”, tức là bậc thầy về đàng thiêng liêng. Têrêxa đã ý thức về sự bất toàn và nhỏ bé của mình, nên biết rằng mình không thể nên hoàn thiện với sức riêng. Têrêxa đã tìm thấy trong Phúc Âm chân lý về sự “nhỏ bé”, hoàn toàn tín thác nơi tình yêu Chúa, không cần phải trở nên “cao trọng”, nhưng trở nên bé nhỏ trong vòng tay của Chúa.
Trong bài thuyết trình tại Lisieux hồi cuối tháng 9-1996, ĐHY Paul Poupard, người Pháp, Chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh về Văn hóa, đã nêu những nét nổi bật trong sứ điệp của Thánh Nữ Têrêxa Hài Đồng cho nhân loại ngày nay như sau:
“Thiên Chúa là tình yêu. Ai ở trong tình yêu, thì ở trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở trong người ấy” (1 Jn 4,16). Têrêxa không ngừng suy niệm về những lời trên đây của thánh Gioan và của Tin Mừng, để từ tâm hồn thánh nữ nảy sinh những trang nồng cháy tình yêu đối với Chúa Giêsu, những trang sách này như một tiếng vọng Con Tim của Chúa: “Tôi hiểu rằng Tình Yêu bao gồm mọi ơn gọi. Tình Yêu là tất cả; Tình Yêu tóm gọn mọi thời gian và không gian. Trong con tim của Giáo Hội là Mẹ Tôi, tôi sẽ là tình yêu” (…).
“Vậy ai trở nên bé nhỏ như trẻ em ấy, sẽ là người lớn nhất trong Nước Trời” (…). Tại sao trở nên bé nhỏ? Thưa để chọn con đường thơ ấu được thánh nữ Têrêxa tái khám phá, và thánh nữ đã vẽ lại khi khám phá tình yêu của Thiên Chúa. Quan niệm của thánh nữ về Giáo Hội thật là độc đáo và táo bạo: trong con tim của Giáo Hội là Mẹ tôi, tôi sẽ là Tình Yêu. Khi Têrêxa mô tả viễn tượng lớn lao trên đây cho chị ruột là Maria Thánh Tâm ngày 8 tháng 9 năm 1896, thánh nữ đã 23 tuổi và chỉ còn sống được một năm nữa. Chắc hẳn thánh nữ phải có một nhận thức sâu xa về Thiên Chúa cũng như về Giáo Hội nên mới có thể quả quyết rằng Giáo Hội có một con tim, và trái tim ấy nồng nhiệt tình yêu. Chúng ta hãy đọc lại những lời tuyệt diệu đó, vừa đơn sơ và sâu xa, được sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo (n. 826) lấy lại:
“Tôi hiểu rằng nếu Giáo Hội có một thân mình, gồm những chi thể khác nhau, thì chi thể cần thiết nhất, cao thượng nhất trong tất cả các chi thể mà Giáo Hội không thể thiếu được, tôi hiểu rằng Giáo Hội có một Trái Tim, và Trái Tim ấy nồng cháy Tình Yêu. Tôi hiểu rằng Chỉ có Tình Yêu mới làm cho các chi thể của Giáo Hội hành động, và nếu Tình Yêu ấy tắt lịm đi, thì các Tông Đồ sẽ không còn rao giảng Phúc Âm nữa, các vị Tử Đạo sẽ từ chối không đổ máu đào… Tôi hiểu rằng Tình Yêu bao gồm mọi ơn gọi. Tình Yêu là tất cả; Tình Yêu tóm gọn mọi thời gian và không gian… Nói tắt một lời, Tình Yêu là vĩnh cửu! Lúc ấy tôi kêu lên: Lạy Chúa Giêsu, tình yêu của con, ơn gọi của con, nay con đã tìm được rồi, ơn gọi của con chính là Tình Yêu. Thực vậy, con đã tìm được chỗ của con trong Giáo Hội, và chỗ đó, lạy Chúa, chính Chúa đã cho con. Trong con tim của Giáo Hội là Mẹ con, con sẽ là tình yêu” (…).
“Là Tiến sĩ Tình Yêu, thánh nữ Têrêxa từng biết rõ thử thách của đức tin trong một thế giới bị nghi ngờ và vô tín ngưỡng vây bủa. Về phương diện đó, thánh nữ Têrêxa có tính chất hết sức thời sự, trong một nền văn hóa quá chú trọng đến các phương tiện nhưng ít quan tâm tới mục đích, tạo nên sự bất mãn sâu xa, gây nên sự trống rỗng sâu rộng, gợi lên tiếng kêu lo âu. Nhiều người ngày nay cảm thấy mang máng tiếng gọi của Thiên Chúa Tình Yêu. Chỉ một mình Chúa mới có thể đáp ứng thực sự những mong đợi của con tim và trí tuệ loài người, trong cuộc tìm kiếm tình thương và chân lý, ánh sáng và sự tươi đẹp. Như Đức Gioan Phaolô II đã nói ở Lisieux: “Chúng ta cảm tạ Chúa vì thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu. Cảm tạ vì vẻ đẹp sâu xa, đơn sơ và trong trắng, được biểu lộ nơi thánh nữ cho Giáo Hội và thế giới. Vẻ đẹp này có sức quyến rũ. Và Thánh nữ Têrêxa thành Lisieux có một ơn đặc biệt thu hút bằng vẻ đẹp của tâm hồn ngài” (Lisieux 2-6-1980, trong cuốn Jean-Paul II, que fais-tu de ton baptême?, Le Centurion, Paris, 1980, p. 234).
“Thánh Nữ Têrêxa yêu mến Thiên Chúa với cùng tình yêu mà Chúa Cha yêu mến Chúa Con trong Chúa Thánh Linh. Thánh nữ nhìn tha nhân với cùng cái nhìn như thế, cái nhìn được tình yêu biến đổi hoàn toàn, nhưng nhiều khi bị những tâm hồn nô lệ tội lỗi coi rẻ: “Tôi cảm thấy ước muốn nồng nhiệt hoạt động cho sự hoán cải người tội lỗi.” (…).
“Tình yêu Chúa lớn lên nơi thánh nữ Têrêxa, được nuôi dưỡng bằng cái nhìn hướng về Chúa Giêsu: khi còn nhỏ dù khi đi câu với cha, dù khi ngồi trên lòng đầu gối của mẹ đỡ đầu, hoặc ẩn núp sau chiếc màn che giường, Têrêxa đều nghĩ tới Chúa Giêsu, tới trời cao… Về sau, Têrêxa hiểu rằng mình đã suy gẫm. Thánh nữ nói: “Chúa Nhân Lành đã bí mật dạy tôi.” Têrêxa sống và lớn lên trước nhan Chúa. Ngày thánh nữ rước lễ lần đầu, biết Đấng mà mình tiếp rước: Từ lâu Chúa Giêsu và cô bé Têrêxa hèn mọn này đã nhìn nhau và hiểu nhau… Hôm đó, không còn là cái nhìn bên ngoài nữa, nhưng là một sự kết hiệp thực sự, một sự chìm đắm sâu xa, như giọt nước bé nhỏ giữa lòng đại dương. Được Tình yêu Chúa chiếm hữu, Têrêxa được Tình Yêu Chúa luôn dẫn đưa theo chiều hướng Bonum diffusivum sui (Điều tốt lành tự lan tỏa), như người xưa vẫn nói. Tình yêu chỉ mong ước được trao hiến: Tôi cảm thấy tình bác ái đi vào trong tâm hồn tôi, nhu cầu phải quên mình để làm đẹp lòng, và từ đó tôi cảm thấy hạnh phúc. Đó không phải chỉ là hạnh phúc mà thôi, nhưng còn là niềm vui mừng sâu xa nữa. Têrêxa yêu Chúa bằng chính Tình yêu của Chúa. Nơi Ngài, thánh nữ khám phá cái nhìn của Thiên Chúa về người khác, cái nhìn của Đấng Tạo Hóa say mê tạo vật của mình. Têrêxa sống sâu xa mầu nhiệm Giáo Hội, mầu nhiệm các thánh thông công, trong đó tình yêu còn lớn lao hơn tình yêu gia đình, dù là gia đình lý tưởng nhất trên mặt đất này, như gia đình được triển nở ở Buissonnets.
“Một Chúa nhật kia, khi nhìn ảnh tượng Chúa Giêsu trên Thánh Giá, Têrêxa xúc động như thể máu đang chảy từ vết thương của mình. Têrêxa cảm thấy vang dội trong con tim tiếng kêu của chính Chúa Giêsu trên Thánh Giá: “Ta khát.” Têrêxa kể lại: “Những lời ấy khơi lên trong con một sự nồng nhiệt mãnh liệt chưa từng thấy… Con muốn cho Đấng con yêu mến được giải khát và con cảm thấy chính mình đang bị dằn vặt vì niềm khao khát các linh hồn. Bấy giờ con chưa bị thu hút vì linh hồn của các linh mục, nhưng là linh hồn của những người đại tội lỗi.” Và Têrêxa quyết định vào dòng kín Camêlô, nơi Chúa Giêsu lôi kéo chị. Chính trong nhà dòng kín đó mà chiều kích tông đồ của chị được phát triển đặc biệt. Chị giúp việc đào tạo các tập sinh trong nhà dòng và đồng thời đảm trách việc hỗ trợ tinh thần cho hai thừa sai. Sự cởi mở đó thật phù hợp với sự quan phòng của Chúa: đó là dịp để Têrêxa khám phá và biểu lộ sứ mạng tông đồ của chị trong Giáo Hội. Ngày 18 tháng 8 năm 1890, chị Pauline của Têrêxa hỏi: “Vậy em có muốn lập công không?” Têrêxa mau lẹ đáp: “Có chứ, nhưng không phải cho em, mà là cho những người tội lỗi đáng thương, cho các nhu cầu của Giáo Hội.” Thái độ dâng hiến cho Tình Yêu Từ Bi thật là rõ ràng: “Con không muốn tích trữ công đức cho mình để được lên trời, con muốn làm việc cho Chúa là Tình Yêu duy nhất… Con muốn nhận được từ Tình Yêu Chúa phần thưởng đời đời là chính Chúa” (Sách Giáo Lý Công Giáo, n. 2011).”
Cũng vì đạo lý của Thánh Nữ Têrêxa Hài Đồng rất hợp thời với con người ngày nay như thế, nên 50 HĐGM trên thế giới, trong đó có cả HĐGM Hoa Kỳ, đã ủng hộ đơn xin ĐTC tôn phong thánh nữ Têrêxa Hài Đồng làm Tiến Sĩ Hội Thánh, như chính ĐTC Gioan Phaolô II đã nhắc đến trong công thức phong Tiến Sĩ:
“Đáp ứng mong ước của đông đảo anh em trong hàng Giám Mục và rất nhiều tín hữu trên thế giới, sau khi nghe ý kiến của Bộ Phong Thánh và được ý kiến của Bộ Giáo Lý Đức Tin liên quan tới đạo lý nổi bật, sau khi đã suy nghĩ chín chắn và xác tín đầy đủ và chắc chắn, với trọn quyền Tông Đồ, Tôi tuyên bố thánh nữ đồng trinh Têrêxa Hài Đồng Giêsu và Thánh Nhan là Tiến Sĩ của Giáo Hội hoàn vũ. Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.”
Trong bài giảng ngày lễ phong Thánh Nữ Têrêxa Hài Đồng làm Tiến Sĩ Hội Thánh, ĐTC ghi nhận rằng vị tân Tiến Sĩ là một phụ nữ, một nữ tu chiêm niệm, một người trẻ tuổi, nhưng đã trưởng thành trên con đường thiêng liêng, đáng được liệt kê vào số các bậc thầy tu đức. Trong số những điểm nổi bật trong các tác phẩm của thánh nữ Têrêxa, chúng ta phải nói tới khoa học tình yêu. Thánh nữ đã viết: “Đức ái đã mang lại cho con chìa khóa ơn gọi của con. Con hiểu rằng nếu Giáo Hội là một thân thể, gồm nhiều chi thể, thì không thể nào thiếu được cơ phận quan trọng nhất. Giáo Hội có một trái tim và trái tim ấy được nồng cháy Tình Yêu. Chỉ có Tình yêu mới có thể huy động các chi thể của Hội Thánh. Nếu Tình yêu tắt lịm thì các tông đồ không còn rao giảng Tin Mừng nữa, các vị tử đạo sẽ không còn dám đổ máu đào nữa… Con hiểu rằng Tình Yêu bao gồm tất cả mọi ơn gọi… Lúc đó, trong niềm vui tột đỉnh con thốt lên: Lạy Chúa Giêsu Tình Yêu của con… con đã tìm được ơn gọi của con, ơn gọi của con chính là Tình Yêu!” (Thủ bản B, 3v).
Đề cập đến ý nghĩa việc tôn phong Tiến Sĩ Hội Thánh cho thánh nữ Têrêxa Hài Đồng đối với con người thời nay, ĐTC nói rằng: “Đứng trước sự trống rỗng của bao nhiêu lời nói, Thánh nữ Têrêxa trình bày một giải pháp khác, Lời duy nhất cứu độ, khi được hiểu và sống trong thinh lặng, sẽ trở thành một nguồn mạch cuộc sống được đổi mới. Đứng trước một thứ văn hóa duy lý và quá nhiều khi bị chủ thuyết duy vật thực hành tràn ngập, thánh nữ đơn sơ trình bày “con đường nhỏ”, nói lên cốt yếu của cuộc sống, dẫn tới bí quyết của cuộc đời: Tình yêu Chúa bao trùm và thấm nhập toàn thể cuộc phiêu lưu của con người. Trong thời đại như thời chúng ta, thường bị ảnh hưởng một thứ văn hóa phù du và duy khoái lạc, vị Tiến Sĩ mới tỏ ra đặc biệt hữu hiệu trong việc soi sáng tâm trí những người khao khát sự thật và tình thương.”
Sau cùng, ĐTC khẳng định rằng “Thánh nữ Têrêxa đã đề ra một con đường nên thánh dành cho tất cả mọi người. Đường nên thánh không phải hệ tại thi hành những công trình vĩ đại, nhưng là con đường tín thác và hoàn toàn phó thác cho ơn thánh Chúa. Con đường đơn sơ đó không thiếu những đòi hỏi, vì Phúc âm đề ra nhiều yêu sách; nhưng lòng tin tưởng phó thác nơi lòng từ bi của Chúa khiến cho những cam go trở thành êm ái dịu dàng.”
Quả thực, trong một thế giới bị trào lưu vô thần, lý thuyết và thực hành, tấn công, các tác phẩm của thánh nữ Têrêxa Hài Đồng là một thành trì bảo vệ vững chắc, vì chứng tỏ một niềm tin được sống một cách chân thành, trẻ trung và nồng nhiệt. Cũng thì thế, và dòng tu, nhưng cả trong các nhóm, phong trào và hội đoàn giáo dân, cũng như trong các gia đình. Tác phẩm của thánh nữ thuộc vào loại được đọc nhiều nhất thời nay, và trở thành một vị hướng đạo cho hàng triệu người. Ấn bản đầu tiên của cuốn Truyện một tâm hồn, xuất bản năm 1898 đã được dịch ra, ấn hành và tái bản trong hơn 50 ngôn ngữ với hàng triệu bản.
ĐHY Dionigi Tettamanzi, TGM giáo phận Milano, đã từng nói với các nữ đan sĩ dòng kín Cát Minh ở Genova: “Nơi thánh nữ Têrêxa tôi thấy được sự dịu hiền từ ái vô biên của Thiên Chúa. Lời Chúa phán qua Sứ ngôn Isaia đã trở thành kinh nghiệm hằng ngày của Thánh Nữ: “… Những người con nhỏ của Chúa sẽ được bồng ẵm trên tay, chúng được vuốt ve trên đầu gối của Người. Như một người mẹ an ủi con mình, Ta cũng sẽ an ủi các con như vậy” (Is 66,12-13). Sứ điệp này quả thực có tính chất thời sự dường nào! Con người ngày nay đang cần tình thương, cần được quan tâm, cần có những quan hệ tình người đầy ý nghĩa, cần phải làm sao để họ gặp được những chứng nhân đích thực về sự dịu hiền từ ái của Chúa. Có lẽ cũng vì thế, con đường của thánh Têrêxa cũng là con đường trở về được chuẩn bị cho những người đã rời xa Thiên Chúa.” (Báo Avvenire, 14-10-1997).
Lm Trần Đức Anh, OP
From Langthangchieutim
CẢM TẠ CHÚA ĐI VÌ NGƯỜI THIỆN HẢO
Tuyết Mai
Lạy Thiên Chúa Đấng muôn đời quyền năng và luôn yêu thương con cái của Người! Hết thảy chúng ta hãy luôn mở miệng cao rao dâng lên Thiên Chúa lời chúc tụng, ngợi khen, tôn vinh và kêu lên danh thánh Người. Để tỏ lòng biết ơn và cảm tạ Người luôn ban cho bao nhiêu điều thiện hảo mà Người không ngừng ban phát và không ngừng yêu thương chúng ta.
Nếu kể ra những điều thiện hảo mà Thiên Chúa ban cho từng người chúng ta suốt một năm dài thì xin thưa nó còn nhiều hơn số tóc trên đầu của chúng ta nữa, thật là thế. Nếu không phải thì là vì chúng ta quá ư là bận rộn với công ăn việc làm hay học hành mà không để ý tới thôi nên không cho là đáng kể hay tệ hơn nữa là nghĩ rằng mọi thứ ta có trên đời là do chính khả năng của mình tạo ra mới có!?.
Ở đây chúng tôi chỉ muốn đưa ra những điều rất nhỏ nhưng lại là nỗi lo sợ đến mất ăn, mất ngủ như mất chìa khóa xe, mất chìa khóa hộp thư, mất giấy tờ quan trọng và mất số tiền khá lớn hay gia đình đang có sự xung khắc và hiểu lầm nhau mà chưa giải quyết được, v.v… Nhưng sau khi chúng ta thành khẩn cầu nguyện trong lo lắng với Thiên Chúa (với thánh Anton giúp) thì Người đều cho tìm lại được hay được người tốt lượm và trả lại cho.
Chuyện là từ suốt nguyên ngày hôm qua vợ chồng chúng tôi cũng lo không đến nỗi ăn mất ăn, mất ngủ nhưng trong đầu cả hai không ngừng lo lắng là vì ông nhà tôi đi lấy thư mà bỏ quên luôn 2 chìa khóa quan trọng ngoài thùng thư nhất là trong thời buổi có nhiều người xấu. Họ thường chờ đêm đến thì đi cạy cửa thùng thư để ăn cắp thư về bán hay làm giấy tờ giả mà mãi sau này mình mới khám phá ra thì đã quá trễ … Cũng đủ làm tổn hại lớn cho mình, cho gia đình mà không thể lường trước được.
Điều mà chúng ta cần thiết để luôn dâng lời cảm tạ một Thiên Chúa đầy quyền năng thế mà lại luôn yêu thương con cái của Người cách chịu thua và CHỜ ĐỢI khi chúng ta thì luôn sống trong vô ơn, bội bạc và không ngừng than trách Thiên Chúa đã để cho chúng bị thế nọ hay bị thế kia … Ai làm cha làm mẹ mà có con cái lớn khôn còn độc thân hay đã có gia đình thì đều cảm nhận biết điều này mà thông hiểu cho nỗi lòng rất buồn phiền của Thiên Chúa là Cha của chúng ta ở trên Trời như thế nào?.
Là khi chúng con cái có vấn đề gì không ổn cho bản thân thì chúng không nghĩ đến cha mẹ ở tuổi cũng cần tâm trí được thảnh thơi, nghỉ ngơi mà chúng cứ làm phiền suốt ngày đêm để than thở, khóc lóc ỉ ôi cho những sự việc đáng trách, thiếu suy nghĩ mà chúng đã tự gây ra. NHƯNG khi chúng nó hằng ngày vui vẻ, ăn uống sang trọng, đi chơi đây kia thật tốn kém, mua sắm cho mình đủ thứ phủ phê mà chẳng hề quan tâm hay nghĩ đến cha mẹ GIÀ đang cần những gì dù rất căn bản hoặc dành thời giờ mà đến thăm cha mẹ xem còn khỏe hay đã yếu đi nhiều; nói chi đến sự trả hiếu đúng cho nghĩa.
Thật phải, khi cha mẹ tuổi càng già yếu thì mới hiểu được lòng Thiên Chúa yêu thương con cái của Người như thế nào. Đúng thật là một tình yêu vô bờ bến, một tình yêu luôn trải rộng, không ngừng trao ban và luôn chờ đợi như chuyện của Người con hoang đàng và vòng tay mở rộng của người Cha mừng chạy ra đón thằng con trai hư đốn của mình TRỞ VỀ vì tưởng rằng nó đã chết từ lâu lắm rồi …
Y Tá của Chúa,
Tuyết Mai
2 tháng 10, 2018
——————————————————–
https://www.youtube.com/watch?v=rjQF0sa0yHM
Tâm Tình Với Chúa
Tuyết Mai (1) 10-08-2002

Tàu cộng đứng đầu, Việt cộng quyết đua theo! Buồn! Sao lại có chữ “VIỆT” yêu quý ở đây!???




Hôm nay Hội đồng nhân dân TPHCM thông qua việc xây dựng nhà hát 1500 tỉ ở Thủ Thiêm. Cũng hôm nay trên tờ báo Zing có bài “BỆNH VIỆN NHI Ở SÀI GÒN QUÁ TẢI VÌ DỊCH CHỒNG DỊCH”.
Đây là những hình ảnh mới nhất ở BV Nhi Đồng 1 trên bài báo này.

Chết theo kế hoạch, tử hợp quy trình!
Huy Phương
Chủ tịch nước Trần Đại Quang qua đời vào ngày 21 Tháng Chín, 2018 tại bệnh viện Quân Đội 108. Chưa được chín ngày sau, cũng tại bệnh viện này, cựu Tổng Bí thư Đỗ Mười ra đi. Cờ đỏ sao vàng “sồi sụt” hạ xuống rồi kéo lên. Đó là người dân biết theo thông báo của đảng, còn đảng viên như sống chết ra sao, ngày nào là do chương trình xếp đặt của đảng. Đảng cho khai sinh trễ vài năm để dễ hy sinh thêm vài nhiệm kỳ, cho chết trễ vài ngày để tránh trùng tang. Ngay ngày Hồ Chí Minh “chuyển sang từ trần,” đảng cũng chưa cho phép chết, như theo Thông báo số 151-TB/TW ngày 19 Tháng Tám, 1989 của Bộ Chính Trị, “Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời lúc 9 giờ 47 ngày 2 Tháng Chín, 1969, ngày Quốc Khánh của nước ta nên để ngày Bác mất không trùng với ngày vui lớn của cả dân tộc nên Bộ Chính Trị quyết định công bố Chủ Tịch Hồ Chí Minh mất vào lúc 9 giờ 47 ngày 3 Tháng Chín, 1969!”
“Bác” mà Bộ Chính Trị còn đối xử như vậy, thì Trần Đại Quang, Đỗ Mười, hay Lê Đức Anh cùng chết chùm thì đảng cũng phải chia ra một hai tuần cho thưa thưa, không lại miệng tiếng ở đời độc ác lại cho rằng “trùng tang” hay “điệp tang,” không những “double” mà còn “triple!”
Theo phong tục Việt Nam, ngày xưa khi trong nhà có người chết, quan tài quàn tại nhà thì tất cả tủ kính, cửa kính đều phải dán kín lại, người ta sợ hình ảnh một quan tài phản chiếu trong kính thành hai, ba quan tài.
Không phải chỉ những ở Liên Xô, Trung Cộng, Bắc Hàn, lãnh tụ và đảng viên thường có những cái chết mờ ám vì tranh giành quyền lực, thanh toán phe phái, mà ngay ở Việt Nam, những cái chết như Nguyễn Bá Thanh, Trần Đại Quang hay mất tích như Đinh Thế Huynh, Phùng Quang Thanh cũng đem lại nhiều nghi vấn. Trước đây Phùng Quang Hải, con Phùng Quang Thanh bị cách chức chủ tịch Tổng Công Ty 319, và người được đưa lên thay lại là con trai của Trần Đại Quang. Bây giờ Chủ Tịch Nước Trần Đại Quang chết vì “vi-rus lạ,” còn cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh được cho là thân Trung Cộng, từng bị loan tin là bị đầu độc ở Pháp, có lần tái xuất hiện ở Việt Nam, rồi khi biến mất từ đó đến nay.
Nhưng dù có chết vì tuổi già, bị bệnh hiểm nghèo, bị đầu độc hay bị ám sát đều được đảng thương tiếc, che giấu và cải chính bằng cách ra một loại thông báo đại loại như nhau. Tục ngữ Việt Nam chúng ta đã có câu “có tật giật mình!”
Có gì mờ ám mà khi đồng chí nào chết, đảng cũng phải phân bua, rào đón “… dù được các giáo sư, bác sĩ trong và ngoài nước hết lòng cứu chữa, lãnh đạo đảng, nhà nước hết sức quan tâm, tạo điều kiện nhưng không qua khỏi.”
Xin đan cử một vài ví dụ:
*Chủ Tịch Nước Trần Đại Quang: “Ban Bảo Vệ Chăm Sóc Sức Khỏe Cán Bộ Trung Ương cho hay Chủ Tịch Nước Trần Đại Quang do mắc bệnh hiểm nghèo, dù được các giáo sư, bác sĩ trong và ngoài nước hết lòng cứu chữa, lãnh đạo đảng, nhà nước hết sức quan tâm, tạo điều kiện nhưng không qua khỏi.”
*Cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười: “Ban Bảo Vệ Chăm Sóc Sức Khỏe Cán Bộ Trung Ương thông báo, nguyên Tổng Bí Thư Đỗ Mười trút hơi thở cuối cùng lúc 23 giờ 12 phút ngày 1 Tháng Mười, tại bệnh viện Trung Ương Quân Ðội 108. Thời gian lâm bệnh, ông đã được đảng, nhà nước, tập thể giáo sư, bác sĩ trong và ngoài nước cứu chữa, nhưng không qua khỏi vì tuổi cao sức yếu.”
*Nguyên Thủ Tướng Võ Văn Kiệt: “Thông cáo đặc biệt của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng chiều 12 Tháng Sáu viết, sau một thời gian lâm bệnh nặng, mặc dù được đảng, nhà nước, tập thể các giáo sư, bác sĩ tận tình cứu chữa, gia đình hết lòng chăm sóc, nhưng do tuổi cao, bệnh nặng, nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt đã từ trần hồi 7 giờ 40 phút ngày 11 Tháng Sáu, 2008, thọ 86 tuổi.
*Đại Tướng Võ Nguyên Giáp: “Do tuổi cao, sức yếu, mặc dù đã được đảng, nhà nước, quân ủy trung ương, Bộ Quốc Phòng và tập thể các giáo sư, bác sĩ, nhân viên y tế trong và ngoài quân đội cùng gia đình hết lòng chăm sóc, đồng chí đã từ trần hồi 18 giờ 9 phút, ngày 4 Tháng Mười, 2013 tại bệnh viện Trung Ương Quân Ðội 108; hưởng thọ 103 tuổi.”
Ngoài trường hợp ông Võ Văn Kiệt chết ở Singapore hay ông Phan Văn Khải chết ở quê nhà Củ Chi, còn thì quân đội hay dân sự đều phải qua một ngõ duy nhất: Bệnh viện Trung Ương Quân Đội 108. Lê Đức Anh hiện cũng đang nằm chờ ở đây.
Dù lúc sống hầm hè, ganh ghét, quắc mắt nhìn nhau, thiếu đường muốn ăn tươi nuốt sống nhau, nhân gian gọi là “như sừng với đuôi,” khi chết dù phải bắt ấn vì sợ, cũng vắt nước mắt, tìm chữ nghĩa để ca tụng nhau.
Lẳng lặng mà nghe ông Tổng viết lời phúng điếu:
*Chủ Tịch Nước Trần Đại Quang: “Vô cùng thương tiếc đồng chí Trần Đại Quang, ủy viên Bộ Chính Trị, chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam, nhà lãnh đạo đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của đảng, nhà nước và nhân dân ta, nhất là lực lượng công an nhân dân, xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam XHCN. Đồng chí mất đi là một tổn thất lớn với đảng, nhà nước và nhân dân ta, để lại niềm tiếc thương sâu sắc với tất cả chúng ta.”
*Cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười: “Vô cùng thương tiếc đồng chí Đỗ Mười, nhà lãnh đạo xuất sắc, có uy tín lớn của đảng, nhà nước và nhân dân ta; Người đảng viên cộng sản rất mực kiên trung, suốt đời chiến đấu hy sinh vì lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân; Người có nhiều công lao và cống hiến to lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và trong công cuộc đổi mới, xây dựng, bảo vệ tổ quốc. Đồng chí mất đi là một tổn thất to lớn đối với đảng, nhà nước và nhân dân ta, để lại niềm tiếc thương sâu sắc đối với đồng chí, đồng bào cả nước và bạn bè quốc tế.”
*Đại Tướng Võ Nguyên Giáp: “Đồng chí mất đi là một tổn thất lớn đối với đảng, nhà nước, nhân dân và quân đội ta, để lại niềm tiếc thương sâu sắc đối với đồng chí, đồng bào, chiến sĩ cả nước và bạn bè quốc tế. Nguyện mãi mãi học tập tư tưởng, đạo đức, tác phong và tấm gương hết lòng vì nước, vì dân của đồng chí.”
Tình nghĩa đồng chí Cộng Sản với nhau, có bao nhiêu câu nói, chỉ cần nói đi lặp lại như luận điệu của loại loa phường. Nhưng cứ nhìn cái quắc mắt của Nguyễn Tấn Dũng khi nhìn Nguyễn Phú Trọng bên cạnh quan tài Trần Đại Quang, hay những đôi mắt hằn học của gia đình người bị bức tử ném về phía kẻ sát nhân, thì người ngoài cuộc cũng đã hiểu. Trong thế giới đồng chí với nhau, đã và sẽ có những cái chết theo kế hoạch và tử hợp quy trình của đảng!





GỤC ĐẦU KHÓC TANG?
Những đứa trẻ ngây thơ với tình yêu trong sáng hay là theo chỉ thị của những người có thể điều khiến?
Trong một xã hội mà tình cảm yêu, ghét, thương, mến không còn được tự do, mà trở nên là một mệnh lệnh, nhất là với những thanh niên và trẻ em, thì điều đó thật đáng buồn và đáng lo cho đất nước.
Những đứa trẻ thì cần được sống tự nhiên theo tâm trí của chúng. Những thanh niên thì cần phải hiểu rõ về tình cảm của mình dành cho người khác, nếu không thì mọi sự đều trở nên giả tạo và dần tới sự lừa dối có hệ thống.
Thử hỏi chúng, ở nhà, chúng có cãi cha, cãi mẹ và phải để mẹ cha lo cho từng việc cỏn con hay không?
Nhìn chúng chẳng khác nào đám ma-nơ-canh, vô hồn và trống rỗng.
TRUYỆN NGẮN:
Tình anh thương em ……
Năm cô 6 tuổi, cô mất cả bố lẫn mẹ, họ bị tai nạn ô tô trong lần về quê thắp hương cho ông bà nội.
6 tuổi, cô chưa thể hiểu hết mọi chuyện đang xảy ra trong gia đình, cô chỉ biết khóc suốt ngày vì thấy bố mẹ không quay về.
Cô còn một người anh trai tên là Nam, cậu bé 14 tuổi, dáng người to cao giống bố. Lúc bố mẹ mất, cậu không khóc, không gào thét mà chỉ ôm chặt cô em gái vào lòng cho đến khi ngủ thiếp đi. Suốt ngày cô đều theo sau anh trai đòi bố, đòi mẹ; cô không thích ăn cơm nửa sống nửa chín của anh trai nấu, không thích mặc bộ đồ nhăn rúm anh trai giặt,…
Kể từ ngày hiểu ra rằng bố mẹ mãi mãi không về, cô bắt đầu dựa dẫm vào anh trai vì sợ anh lại bỏ cô mà đi
Đêm hôm đó, trời đã rất muộn, rất muộn nhưng cô không chịu ngủ mà ngồi dậy kéo anh trai và hét to:
– “Em muốn gặp mẹ!”.
Bỗng nhiên, Nam kéo cô từ trong chăn ra, hai tay nắm lấy đôi vai bé nhỏ của cô và nói:
– “Mẹ mất rồi, đừng có tìm mẹ nữa, bố mẹ đều không còn nữa, họ sẽ không quay về nữa đâu!”.
Giọng nói của Nam vang lên rất to khiến cô phải im lặng vì sợ hãi. Sau đó, cô dần dần hiểu được bố mẹ cô mãi mãi không quay về, cô hiểu được trên thế giới này chỉ còn anh trai là người thân duy nhất của mình.
Nam úp mặt xuống giường và khóc thật to, đó là lần đầu tiên cô nhìn thấy anh trai khóc kể từ ngày bố mẹ mất. Cô nhẹ nhàng cúi xuống rồi nằm trên lưng anh trai, cô dùng đôi tay bé nhỏ của mình ôm lấy anh, cảm giác ấm áp như ôm bố mẹ vậy.
Cô bắt đầu dựa dẫm vào anh trai giống như trước kia từng dựa vào bố mẹ, đi học, cô đòi anh chở đi; tan học, anh trai phải đến đón cô.
Trường của cô cách nhà khá xa, mỗi buổi sáng Nam đều chở cô đến trường, đến nơi người Nam ướt đẫm mồ hôi. Ngồi trên xe, cô nắm chặt lấy vạt áo của anh không rời, cô không khóc đòi bố mẹ như trước nữa. Trước giờ cô chưa từng nói với anh, kể từ khi hiểu ra rằng bố mẹ mãi mãi không quay về nữa, trong lòng cô luôn bao trùm một nỗi sợ hãi, cô sợ rằng một ngày nào đó, anh trai cũng sẽ rời xa cô.
Cảm giác sợ hãi đó khiến một đứa bé 6 tuổi trở nên ngoan ngoãn, nghe lời đến lạ. Thế rồi, có mơ cô cũng không tưởng tượng được rằng cuối cùng anh trai vẫn bỏ rơi cô.
Hôm đó là ngày cuối tuần, mới sáng sớm, Nam đã phải mất hơn nửa tiếng đồng hồ chăm chút buộc cho cô hai bím tóc, mặc cho cô bộ váy màu trắng mà cô không biết anh mua cho cô từ khi nào, sau đó cô được anh trai dẫn đi công viên chơi rất nhiều trò, ăn rất nhiều món, cho đến khi mệt, cô ngủ say trên lưng anh.
Sáng hôm sau tỉnh dậy, cô thấy mình nằm trên giường của nhà khác còn anh trai thì không thấy đâu nữa.
Cô hốt hoảng chạy đi tìm anh, sau đó một người hàng xóm mà cô gọi là “thím” nói với cô rằng anh trai cô đi làm thuê rồi, từ nay về sau, cô sẽ sống cùng với gia đình họ. Mặc dù cô biết, chú thím là bạn thân thiết của bố mẹ mình nhưng cảm giác bị anh trai bỏ rơi lúc này còn tuyệt vọng, đau đớn hơn khi bố mẹ rời đi. Là anh trai đã bỏ rơi cô, cô đã bị anh trai bán lấy tiền, anh trai không cần cô nữa.
Sau khi biết anh trai cũng bỏ đi không về như bố mẹ, cô nhanh chóng thích nghi với cuộc sống mới, có nhiều sự thay đổi. Sự thích nghi nhanh chóng đó mãi đến khi lớn lên, cô nhận ra rằng đó chính là một kiểu để quên đi đau thương.
Cô chủ động học làm việc nhà, tự giặt quần áo, cô biết đây không phải là nhà của mình, họ không phải người thân của mình nên cô không dần dần không còn dựa dẫm vào ai nữa. Kể từ khi anh trai bỏ đi, cô hòa toàn mất đi quyền được nũng nịu, đòi được yêu chiều. Cô cũng có một người anh trai nữa, người đó hơn cô một tuổi, rất nghịch ngợm và đôi lúc còn bắt nạt cô.
Cũng may là bố mẹ nuôi rất thương cô, mỗi năm họ đều mua quần áo mới cho cô, có đồ ăn ngon cũng luôn để phần. Tình cảm cô đối với bố mẹ nuôi, có yêu thương, nhưng sự cảm kích, ơn huệ lại là phần nhiều.
Năm cô 11 tuổi, lúc đó cô đang học lớp 4, một buổi tối nọ, cô đang giúp mẹ vá lại chiếc áo, bỗng mẹ nuôi nói:
– “Mấy năm nay, con không nhớ Nam sao? Lúc đó, nó còn bé, sao có thể chăm lo cho con được?”
Cô im lặng không nói, đúng vậy, cô không nhớ anh trai, mới nghĩ đến cô đã thấy hận, vì thế cô không muốn nghĩ. Cô nói với mẹ:
– “Mẹ à, đừng nhắc đến anh con nữa”.
Mẹ nuôi thở dài, hình như trong lòng vẫn còn điều gì đó muốn nói nhưng cô đã đi về phòng mất.
Chính xác, cô hận anh, cô không sợ khổ khi đi theo anh, không được đi học thì có gì đáng sợ đâu, cô sẽ theo anh đi kiếm cơm vậy. Nhưng anh đã đập tan mộng tưởng của cô, đã làm mất đi chỗ dựa của người thân duy nhất, đó chính là sự hủy diệt triệt để, không để lại điều gì cả. Vì thế, cô không thể tha thứ cho anh trai mình.
Năm 16 tuổi, thành tích học tâp đứng đầu toàn trường giúp cô thi đỗ vào trường cấp ba, người anh lớn hơn cô một tuổi đang học lớp 11.
Một năm sau, khi người anh đó đang chuẩn bị tốt nghiệp cấp ba, bố nuôi nghỉ việc, ông thuê một cửa hàng nhỏ ở chợ để bán rau. Tối hôm đó, đang ngồi học cô khát nước nên đi ra phòng khách uống thì tình cờ nghe được cuộc trò chuyện bên phòng của bố mẹ. Anh trai nuôi nói với mẹ rằng: “Mẹ, con không biết, dù thế nào đi nữa con cũng phải học Đại học”.
“Không được, cái Mai học tốt hơn con, nó có khả năng thi đỗ Đại học”. Tiếng nói của bố nuôi nhỏ nhẹ nhưng rất quyết đoán.
“Lấy đâu ra tiền mà nuôi hai đưa ăn học cùng một lúc chứ?” Mẹ nuôi nói.
Nghe đến đó, cô vội quay về phòng, cô không muốn nghe gì nữa. Lúc đó, cô quyết định để cho anh trai học Đại học, còn cô, học xong cấp ba, cô sẽ đi tìm việc. Bởi từ khi anh trai bỏ cô mà đi, bố mẹ nuôi đã cho cô quá nhiều, cô không muốn thêm gánh nặng cho họ nữa.
Đáng tiếc là anh trai nuôi của cô thi không đỗ và bố nuôi cô vẫn kiên quyết rằng cô phải vào Đại học.
Cô vẫn kiên quyết:
– “Con không thi đâu, con quyết định rồi!”.
Tranh luận hồi lâu không được, mẹ nuôi cô từ trong bếp nói vọng ra: “Mai à, con bắt buộc phải thi vào Đại học. Con có biết không, anh trai con đã gửi đủ số tiền học phí cho con rồi nên con nhất định phải học Đại học, đừng phụ lòng nó, nó không dễ dàng gì…”.
Cô ngẩn người. 11 năm sau, lần đầu tiên cô lại tìm về hồi ức của anh trai mình.
Bố mẹ nuôi nói với cô:
– “Năm đó, anh trai con biết một đứa trẻ 14 tuổi như nó không có khả năng để nuôi em gái nên nó mới quyết định ra ngoài đi làm kiếm cơm, còn gửi con lại cho bố mẹ. Nó bán nhà và đưa hết số tiền đó cho bố mẹ bởi nó tin rằng bố mẹ sẽ chăm sóc tốt cho con. Buổi sáng sớm hôm đó, trước khi rời đi, anh con ôm con đang ngủ say trong lòng đưa cho mẹ bế, sau đó nhìn con và hứa rằng: “Thím à, con nhất định sẽ về đón em con, mong thím chăm sóc tốt cho nó…”.
“Từ khi con bắt đầu lên lớp 4, mỗi tháng nó đều gửi tiền về cho mẹ, bố mẹ cũng tích góp lại cho nó. Là bố mẹ vô dụng, nhiều năm qua luôn để con phải chịu ấm ức…” Bố mẹ nuôi nghẹn lòng không nói nên lời, họ cầm lấy tay cô và khóc.
Vậy những năm qua anh ấy đi đâu, sống như thế nào?…Hàng loạt câu hỏi hiện lên trong đầu, thì ra anh trai chưa từng bỏ rơi cô, anh trai vẫn luôn yêu cô nhưng bằng cách mà mấy năm qua cô không thể lý giải được:
– “Thế tại sao anh lại không về thăm mình chứ, không phải anh đã hứa sẽ về thăm mình rồi ư?…”.
Số tiền gửi từ Sài Gòn về, bên ngoài phong bì không ghi địa chỉ cụ thể, cô hạ quyết tâm nhất định phải vào Sài Gòn tìm anh.
Một năm sau, cô thi đỗ và vào Sài Gòn học tập, cô vẫn không thôi nghĩ đến việc tìm anh trai, thế nhưng giữa đất Sài Gòn rộng lớn như thế, đi tìm một người quả như là mò kim đáy bể.
Tốt nghiệp xong, cô ở lại Sài Gòn và làm việc ở đó, cũng là để tìm anh trai luôn. Vào lúc cô gần như tuyệt vọng, bỗng nhiên cô nhìn thấy một bức ảnh trên mạng: “Trước một quầy báo nhỏ, có một chàng trai người gầy gò ốm yếu miệng, bị mất một tay đang sửa xe đạp…” Khi nhìn thấy dòng chữ ghi tên Nam, cô hoa mắt, người đó chẳng phải là anh trai mình sao? Đúng rồi, là anh ấy.
Cô xem tiếp: “Năm 19 tuổi, người thanh niên làm việc ở một công trường xây dựng, trong lúc đang làm việc thì do gặp sự cố về máy móc nên anh ta đã bị mất đi một cánh tay, từ đó anh lang thang phiêu bạt khắp nơi, làm đủ nghề để mưu sinh: nhặt phế thải, đi bán báo, phát tờ rơi,…Và 3 năm trước, anh ta mở một quầy báo nhỏ vừa bán báo vừa sửa xe đạp. Động lực duy nhất để anh sống lạc quan như thế chính là cô em gái…”.
Khi cô xuất hiện trước quầy báo, anh trai cô đang bận rộn với công việc sửa xe đạp, mặc dù mất một tay nhưng động tác của anh vô cùng nhanh nhẹn và điêu luyện. Cô nhẹ nhàng bước lại gần, nước mắt cô rơi xuống lã chã, trước mắt cô chính là người anh mà cô từng hận vì đã bỏ rơi cô, chính là người yêu thương cô nhất, bất chấp tất cả để lo cho cô một cuộc sống đầy đủ.
“Cô gái, cô…” Anh ngạc nhiên khi nhìn thấy cô, cô khóc nức nở và ngồi xuống nhẹ nhàng lấy khăn lau mồ hôi cho anh.
– “Anh à, em là Mai đây!…”
Cô vội vàng ôm lấy anh, đã lâu lắm rồi cô không được ôm anh như vậy, cảm giác đó vẫn ấm áp như hồi bé, cảm giác được an toàn, được yêu chiều…
Tình cảm gia đình luôn thiêng liêng như vậy, nó luôn là chỗ dựa để ta lớn lên, luôn là động lực để ta bước tiếp, dù người thân có làm gì thì hãy luôn nhớ rằng, tất cả đều vì những người mà họ thương yêu mà thôi!.





Khổng Tử có học trò tên Mỗ, người nước Đằng. Mỗ học vào loại trung bình, song luôn luôn tự cho mình là giỏi nhất. Học được vài năm, Mỗ xin về nước vì tưởng rằng đã học hết đạo của thầy. Tử Cống thấy vậy hỏi:
– Người ấy về nước rồi làm quan có sao không?
Khổng Tử rung đùi đáp:
– Không sao.
Lại hỏi tiếp:
– Làm tướng có được không?
Khổng Tử vuốt râu đáp:
– Được.
Lại hỏi tiếp:
– Thế nhỡ về làm giặc?
Khổng Tử vừa ngáp vừa trả lời:
– Cũng không hại gì.
Bấy giờ Tử Cống mới yên tâm mà thủng thẳng:
– Nghe nói Mỗ xin về nước chỉ để làm thầy!
Khổng Tử vừa nghe câu đó, bỗng giật bắn mình. Thế là chân không kịp xỏ giày, áo không kịp cài khuy, vội vàng lao ra cổng chạy như hớt hơ hớt hải. Học trò đuổi theo hỏi: “thầy chạy đi đâu?”. Khổng Tử vừa chạy vừa đáp:
– Sang ngay nước Đằng.
Học trò lại hỏi: “sang nước Đằng làm gì?”.
Khổng Tử vẫn vừa chạy vừa trả lời:
– Sang ngăn không cho tên Mỗ làm thầy. Hắn có làm quan thì cùng lắm chỉ hại đến một ấp. Làm tướng cũng chỉ hại đến một thành. Thậm chí có làm giặc cũng chưa chắc đã hại nổi ai. Nhưng nếu hắn làm thầy thì sẽ hại đến muôn đời. Ngay cả ta cũng khó mà tránh khỏi liên luỵ…”.
…………..
Sâm từu

Đỗ Mười là thủ phạm bán đất nhượng biển
Di sản của ông Đỗ Mười còn là còn là lãnh thổ VN bị mất cho TQ sau khi phân định lại biên giới theo Hiệp định phân đinh biên giới tháng 12 năm 1999; là hải phận Vịnh Bắc Việt bị mất 11.000 cây số vuông biển cho TQ theo Hiệp định phân định Vịnh Bắc việt (tháng 12 năm 2000); là việc nhìn nhận chủ quyền của TQ ở quần đảo HS và các đảo ở TS…
Theo bài viết của TS Trần Công Trục mới đây trên Giáo dục, ta biết rằng ông Đỗ Mười đã can thiệp (sổ sàng) vào việc phân định biên giới, lý ra thuộc thẩm quyền Bộ Ngoại giao. Chính ông Đỗ Mười đã chủ trương “statu quo”, tức là nhìn nhận hiện trạng lãnh thổ sau các cuộc biến động, đất ai chiếm ở đâu thì đất đó thuộc về bên đó.
Về biên giới trên đất liền, TS Trần Công Trục có nhắc một điểm trọng yếu là khu vực Nam Quan (khu vực 149C) do Đỗ Mười trực tiếp quyết định. Những vùng đất bị TQ lấn như ở điểm nối ray (250 mét), cột mốc số 18…. Tất cả những vùng đất này đều thuộc về TQ.
Quyết định “statu quo – giữ nguyên trạng” của Đỗ Mười đã trở thành “kim chỉ nam” cho những người có trách nhiệm phân định biên giới như quí ông Lê Minh Nghĩa, Trần Công Trục…
Theo chỉ đạo này VN đã nhượng 1/2 thác Bản giốc, xã Trình tường, các cao điểm chiến lược Lão sơn, Giải âm sơn, núi Cao may (Khấu mai)… các cửa ải trọng yếu Nam Quan, Chí Mã, Thủy khẩu, Bình Di v.v…
Cũng theo chỉ đạo đó VN đã phân định lại ranh giới biển trong vịnh Bắc việt, làm VN thiệt hại 11.000 cây số vuông biển.
Từ hơn 20 năm nay người viết cố gắng truy tìm ai là người chủ trương nhượng đất ở vùng biên giới, nhượng biển trong vịnh Bắc việt. Nhờ sự công tâm của TS Trần Công Trục mà việc này hôm nay được lộ ra ánh sáng. Thủ phạm bán đất nhượng biển là ông Đỗ Mười.
Nhưng vấn đề không giới hạn ở đó. Khi Đỗ Mười nhìn nhận “statu quo” thì mặc nhiên nhìn nhận Hoàng Sa (TQ chiếm năm 1974) và một số đảo ở Trường Sa (TQ chiếm năm 1988) đều thuộc về Trung quốc. Hệ lụy của việc này là TQ tuyên bố chủ quyền toàn bộ 80% Biển Đông.
Đỗ Mười tội trạng nặng nề. Nhượng đất nhượng biển của tổ quốc là tội nặng nhứt chiếu theo hình luật VN ở mọi thời kỳ.