Đỗ Mười có hỗn danh là Hoạn lợn, một phần vì ông làm nghể thiến heo trước khi tham gia cách mạng, một phần vì đầu óc ông không vượt được giới hạn của nghể nghiệp nên người dân nhớ tên ông kèm theo cái nghề rất ít người làm.
Cuộc tấn công đánh tư sản Miền Nam do Đỗ Mười chỉ đạo từ trên xuống dưới không cấp nào được vượt quyền ông, cho thấy một tay thất phu khi có quyền hành sẽ trở nên nguy hiểm đến mức nào. Nó làm cả Miền Nam kiệt sức vì mọi công ty xương sống của quốc gia, mọi nhà máy công nghiệp nặng nhẹ, mọi cơ sở thủ công nhỏ lẻ của người dân có chút máy móc trợ lực đều bị phá bỏ.
Gần 30 ngàn chủ nhân những cơ sở ấy hoặc tự tử vì uất ức, hoặc trốn chạy bằng đường vượt biển hay bị áp giải lên rừng sâu nước độc được gọi là kinh tế mới. Lòng người than oán còn hơn trong thời kỳ chiến tranh. Sự hận thù ấy bồi đắp lên cái tên Đỗ Mười như ông bình vôi, mỗi ngày ruột một đặc lại vì sự oán ghét của dân chúng như vôi nhét vào bình, chiếc bình vôi Đỗ Mười đang nằm chỏng gọng chờ ngày phán xét trong sự phấn khởi ngày càng lớn của người dân.
Nếu Đỗ Mười tàn bạo vì tin vào sự tích Xã hội Chủ nghĩa, mông muội và xem thường xương máu nhân dân thì Lê Đức Anh lại xem trọng vai trò đàn anh của Đảng cộng sản Trung Quốc bất kể người đàn anh ấy giết dân chúng, bộ đội Việt Nam như giết ngóe.
Sau sự sụp đổ của Liên sô và khối Đông Âu, Lê Đức Anh trong cương vị Bộ trưởng Quốc Phòng đã tham mưu cho BCT bằng mọi giá phải lập lại quan hệ hữu nghị với Trung Quốc nếu không muốn bị xóa sổ như Liên sô. Là Bộ trường Quốc phòng, Lê Đức Anh đưa ra những con số âm về sức chiến đấu của bộ đội, về vũ khí quân dụng, về địa thế của Việt Nam đối với Trung Quốc và nhất là đồng minh đầy tiềm năng là Liên sô đã không còn nữa.
Bộ Chính Trị bị ông ta dắt mũi vì nỗi ám ảnh Trung Quốc để từ đó Hội Nghị Thành Đô ra đời kéo theo hệ lụy cho đến ngày nay khi Trung Quốc nghiễm nhiên trở thành ông chủ thực sự của BCT Đảng Cộng sản Việt Nam hết đời TBT này sang đời TBT khác.
Lê Đức Anh còn một tội ác khó dung tha nữa là ra lệnh bộ đội binh chủng công binh không được nổ súng vào lính Trung Quốc trong trận chiến Gạc Ma năm 1988 để kết quả là 64 chiến sĩ làm bia sống cho bọn côn đồ phương Bắc. Nỗi oan ức của họ vẫn chưa được bạch hóa cho tới ngày nay sau khi cuốn sách “Gạc Ma, vòng tròn bất tử” ra đời chỉ rõ những sai trái của Lê Đức Anh nhưng không ai trong chính quyền này làm tới nơi tới chốn một tội đồ dân tộc với tội danh không thể nào rõ ràng hơn: Phản quốc.
Tội ác của Lê Đức Anh không phải vì tin vào Chủ nghĩa Xã hội mù quáng như Đỗ Mười mà vì hèn nhát sợ chiến đấu với Trung Quốc.
Trong cương vị Bộ trưởng Quốc phòng, Lê Đức Anh đã rất sợ hãi khi nghĩ lại cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 và những trận chiến dai dẳng trên khắp biên giới phía Bắc sau đó. Ông ta biết chống Trung Quốc thì sẽ mất ghế và mất cả Đảng, mà mất Đảng thì rất nhiều kẻ như ông ta lo sợ, vì thế những đồng chí sát sườn ông ta đã không ngần ngại ủng hộ cho giải pháp đem con bỏ chợ nhằm lấy lòng bọn bất lương miễn sao giữ được Đảng, mà Đảng là nồi cơm là vinh hoa, quyền lực của họ.
Bất kể có sự trừng phạt ở bên kia thế giới cho những kẻ ác ôn hay không, thì Đỗ Mười và Lê Đức Anh đã và đang bị trừng phạt ở cõi này bằng hằng hà phỉ nhổ, nguyển rủa của gia đình nạn nhân chết dưới tay họ. Làm sao kẻ thủ ác thoát được lưới trời cho dù cái lưới ấy chỉ là nước bọt ngày ngày bắn vào hai ngôi mộ hoành tráng được hai dòng họ cố công xây dựng?
Trung Thu em chẳng đèn lồng Chỉ mong hạt gạo cho lòng thêm no Trăng rằm trăng sáng thật to Em cầu tấm áo thêm cho ấm người Đau cho số kiếp cuộc đời
Kẻ nơi cung ấm kẻ ngồi thiếu chăn
Dân đen thèm miếng bánh ăn
Quan to bánh lớn ruột lăn sợi vàng
Xã hội nay đã tan hoang
Thằng ăn không hết người mang nỗi thèm !
Tìm mọi cách để ngụy biện, lấp liếm, sau khi rút ruột công trình khẳm!!!
*************
Chia nhau ‘ăn,’ đường xây tốn hàng triệu đô, xe chưa chạy đã bong tróc…. !!!
ĐẮK LẮK, Việt Nam (NV) – Chỉ làm con đường vành đai phía Tây thành phố Buôn Ma Thuột nhưng do “chia phần” cho nhiều nhà thầu cùng làm, khiến con đường làm hoài không xong, xe chưa chạy đã hư.
Dự án đường vành đai phía Tây thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, có tổng vốn đầu tư gần 680 tỷ đồng (hơn $29.1 triệu) bằng ngân sách nhà nước, do Ban Quản Lý Dự Án Đầu Tư Xây Dựng thành phố Buôn Ma Thuột làm chủ đầu tư.
Theo báo Tiền Phong, dự án bị chia nhỏ thành bảy gói thầu, được khởi công từ năm 2009, đến cuối năm 2015 hoàn thành, nhưng đến nay vẫn chưa xong. Trong khi đó, những phần đường đã tất trước bắt đầu bị hư hỏng.
Báo này cho hay, đến giữa Tháng Chín, 2018, nhiều vị trí đường đã và đang hỏng nặng. Cụ thể, tại vị trí đầu tuyến đường hướng thành phố Buôn Ma Thuột đi Đắk Nông xuất hiện nhiều vị trí sụp lún, đường nứt nẻ hình thành các hố nhỏ, mặt đường bị bong tróc. Điển hình như tại vị trí vòng xoay giao với đường Hà Huy Tập xuất hiện hố lớn rộng hàng mét, nứt nẻ kéo theo nhiều điểm khác.
Chưa hết, thời điểm này đang là mùa mưa Tây Nguyên, khiến nhiều đoạn đường tiếp tục bị ngập do nước không thoát được; vỉa hè không có người phát dọn nên cỏ mọc lấn ra mép đường; cống thoát nước bị sụp lún, lưới đan bị mất gây nguy hiểm cho người đi đường…
Thế nhưng, giải thích về việc trên, lãnh đạo ủy ban thành phố Buôn Ma Thuột, cho biết “dự án đến nay đã hoàn thành và bàn giao sử dụng. Sở dĩ chưa tổ chức cho xe chạy chính thức do đang chờ bổ sung khối lượng biển báo và vạch sơn kẻ đường nhằm bảo đảm an toàn giao thông. Dự kiến mọi việc hoàn thành vào cuối năm 2018.”
Trong khi đó, lãnh đạo Sở Xây Dựng tỉnh Đắk Lắk cho biết, do dự án có nhiều gói thầu thi công không đồng bộ khác nhau, thời gian thi công kéo dài… nên tuy bảo đảm theo thiết kế, nhưng công tác hoàn thiện chưa được tốt như phần sơn dải phân cách không đều kích thước, mặt đường không êm thuận…
Tin cho biết, liên quan đến làm tuyến vành đai phía Tây thành phố Buôn Ma Thuột, ông Võ Kỳ, cựu trưởng Ban Quản Lý Các Dự Án thành phố Buôn Ma Thuột, đã bị kỷ luật “khiển trách” vì để đoạn đường qua xã Cư Êbua lúc vừa mới khởi công đã bị sụp lún.
Chỉ làm con đường vành đai phía Tây thành phố Buôn Ma Thuột nhưng do “chia phần” cho nhiều nhà thầu cùng làm, khiến con đường làm hoài không xong, xe chưa chạy đã hư.…
Tàu cộng sẽ đồng loạt dùng chính sách đồng hóa & diệt chủng dân Việt, giống như các sắc dân Duy Ngô Nhĩ… một khi chúng chiếm toàn bộ đất nước Việt!!! ************
Trung Cộng chia cắt trẻ em người Duy Ngô Nhĩ khỏi gia đình
Bắc Kinh, Trung Cộng. – Chính quyền Trung Cộng đã biến bốn đứa con của bà Meripet thành trẻ mồ côi, mặc dù vợ chồng bà vẫn còn sống.
Cặp vợ chồng này để bốn đứa trẻ lại với bà nội khi đi thăm người cha bị bệnh của Meripet ở Thổ Nhĩ Kỳ. Nhưng khi các nhà chức trách Trung Cộng bắt đầu bắt giam hàng ngàn người Duy Ngô Nhĩ vì những cáo buộc phản quốc như du lịch nước ngoài, thì chuyến thăm của họ lại bị biến thành chuyến lưu vong. Sau đó, mẹ chồng của bà đã bị bỏ tù. Meripet đã được một người bạn báo tin rằng bốn đứa con từ 3 đến 8 tuổi của bà đã bị đưa vào một trại trẻ mồ côi ở khu vực Tân Cương.
Gia đình của bà Meripet nằm trong số hàng chục ngàn người bị cuốn vào chiến dịch của Tập Cận Bình, nhằm đàn áp một khu vực khó kiểm soát, bao gồm cả việc giam giữ hơn một triệu người Duy Ngô Nhĩ và các dân tộc thiểu số Hồi giáo khác.
Giờ đây, đã có bằng chứng cho thấy chính quyền nước này đang đưa con cái của các tù nhân và người lưu vong vào hàng chục trại trẻ mồ côi trên khắp Tân Cương. Thông qua các cuộc phỏng vấn với hơn một chục người Hồi giáo và sau khi xem xét các tài liệu, hãng thông tấn AP đã phát hiện ra rằng các trại trẻ mồ côi này, là ví dụ mới nhất về cách Trung Cộng chia cắt một cách có hệ thống những trẻ em Hồi giáo ở Tân Cương khỏi gia đình và nền văn hóa của họ. Chính phủ đã xây dựng hàng ngàn ngôi trường được gọi là “song ngữ”, nơi trẻ em thiểu số bị phạt vì sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ thay vì tiếng Phổ Thông. Trong đó có một số trường là trường nội trú, là những ngôi trường mà người Duy Ngô Nhĩ cho biết rằng họ bị bắt buộc học, và con những gia đình người Kazakh bị bắt theo học ở những trường này từ khi mới 5 tuổi.
Bắc Kinh, Trung Cộng. – Chính quyền Trung Cộng đã biến bốn đứa con của bà Meripet thành trẻ mồ côi, mặc dù vợ chồng bà vẫn còn sống. Cặp vợ chồng này để bốn đứa trẻ lại với bà nội khi đi thăm…
Martin Pistouris, người Nam Phi, 43 tuổi, đã chịu một hội chứng đóng băng trong suốt 12 năm. Phần lớn thời gian anh có ý thức, nhưng không có khả năng giao tiếp. Anh kể lại một chứng từ đau xót mà anh đã trải qua trong suốt những năm đau khổ này.
Martin Pistouris, người Nam Phi, 43 tuổi, đã chịu một hội chứng đóng băng trong suốt 12 năm. Phần lớn thời gian anh có ý thức, nhưng không có khả năng giao tiếp. Anh kể lại một chứng từ đau xót mà anh đã trải qua trong suốt những năm đau khổ này: được nhìn thấy, được nghe, được yêu.
Tình yêu đã cứu sống Martin Pistorius
Lúc 12 tuổi Martin bắt đầu thường xuyên than đau họng và chứng mệt mỏi mãn tính. Cha anh là ông Rodney và mẹ anh là bà Joan đưa anh đi tới nhiều bác sĩ, nhưng các bác sĩ không chuẩn đoán được bệnh. Sau đó anh không thể cử động và nói chuyện, không thể nhận ra những người xung quanh. Anh rơi vào hôn mê. Theo cha mẹ anh thì anh có thể chết bởi vì não không còn hoạt động nữa. Anh ở trong tình trạng đời sống thực vật, không còn hy vọng nào.
Ông Rodney và bà Joan sắp xếp nhà cửa để đón Martin về nhà. Họ muốn anh có một cuộc sống tiện nghi hơn có thể trong thời gian chờ chết. Đó là một thử thách rất khó khăn đối với cha mẹ anh. Thỉnh thoảng bà Joan trải qua những lúc khủng hoảng chán nản; vì thế vào một ngày, bà thì thầm vào tai con trai: «Mẹ hy vọng con mau ra đi». Bà tưởng rằng con trai không thể nghe được điều đó. Nhưng Martin càng ngày càng hiểu những gì cha mẹ làm cho anh: cử chỉ chăm sóc, âu yếm, lời nói yêu thương hay mệt mõi, chán nản…Anh chia sẻ sau khi được phục hồi: «ba năm sống đời sống thực vật, tôi bắt đầu tỉnh dậy. Tôi ý thức được mọi thứ như người bình thường”.
Anh thật sốc, khi nhận thức rằng mình bị đóng băng trong một thân xác cứng đơ cho đến hết cuộc đời. Anh nhận thấy mình không thể giao tiếp với người khác. Vậy là anh không được để ý và được yêu mến. Anh nói: “Tôi không thể cử động và cũng không nói được. Tôi không thể làm được dấu hiệu nào, âm thanh nào để mọi người hiểu rằng tôi đã ý thức được”.
Để chiến đấu sự trầm cảm, người thanh niên quyết định dồn tất cả nghị lực tinh thần. Anh xây dựng một thế giới riêng, thế giới của những giấc mơ. Anh cảm tưởng mình là một cậu con trai-ma. Không ai để ý đến anh, không ai nhìn thấy anh. Anh trải qua thời kỳ vừa phải điều chỉnh lại giờ giấc vừa quan sát những chuyển động của những bóng tối xuyên qua các bộ phận. Anh xác định vị trí những tiếng ồn, đọc lại nhịp sống của một ngày. Anh cũng thử phục hồi sự kiểm soát của não bộ.
Anh thay đổi suy nghĩ một cách tích cực, cố gắng để đem lại niềm vui cho cha mẹ, người đã phải vất vả đau khổ vì anh. Từng bước một, anh bắt đầu giao tiếp với sự giúp đỡ của một nhân viên y tế và sự hỗ trợ yêu thương không ngừng của người mẹ. Cuộc sống của anh lại một lần nữa ở bước ngoặt. Anh bắt đầu cảm thấy hữu ích. Cuối cùng, anh có thể chứng tỏ cho gia đình và những người thân thấy anh đang hiện diện, anh đang sống. Anh có thể giao tiếp được với gia đình. Mẹ của Martin đã được tái sinh với anh, bà đi từ tuyệt vọng đến việc đồng hành liên tục với con trai. Anh bắt đầu phục hồi chức năng và sớm tỏ lộ tài năng về tin học và đề nghị làm việc tại trung tâm mà anh đã lui tới trong 12 năm hôn mê, anh bày tỏ: «trở nên hữu ích là điều quan trọng nhất đối với tôi»
Nguồn hỗ trợ thực sự trong giai đoạn bị đóng băng, như anh chia sẻ: “người duy nhất tôi thực sự có thể nói chuyện là Chúa. Ngài không phải là một phần của thế giới tưởng tượng của tôi, Ngài là thật, một sự hiện diện bên trong và bên ngoài tôi”. Chính điều này đã cho anh sức mạnh, đến nỗi trong nỗi đau khổ mà anh được yêu cầu chết, luôn xãy ra một điều gì đó đẹp bất ngờ: một người lạ đến gặp anh và coi anh ta là một người có ý thức, một tiếng kêu đau đớn nhờ đó Martin cảm nhận “rằng có một nơi trên thế giới dành cho mình”.
Đối với Martin tình yêu lớn hơn tất cả. Anh đã gặp được tình yêu với Chelsea, người đã luôn động viên khuyến khích anh. Anh thấy trước cuộc sống đối với anh thất khó khăn, «nhưng tình yêu lớn hơn tất cả» vị hôn thê của anh trả lời anh như thế. Họ đã cưới nhau vài tháng sau đó. Trong lễ cưới Martin xin đọc bài ca về Đức ái của Thánh Phaolô: «Hiện nay đức tin, đức cậy và đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến». (1Cr 13, 1-13)
Anh chia sẻ với một sự xác tín: “Cuộc sống của tôi tràn ngập ba điều này, nhưng hôm nay, tôi biết rằng tình yêu thật sự cao trọng nhất. Tôi đã từng trải với tư cách là một đứa con trai, một thanh niên trưởng thành, một người đàn ông. Với tư cách là con trai, anh trai, cháu trai và người bạn. Tôi đã thấy sợi dây liên hệ giữa con người. Tôi biết rằng chính tình yêu đã cho phép tôi vượt qua những bóng tối của cuộc sống «đời sống thực vật của tôi».
Khi được mời làm chứng cho sự “tái sinh” của mình, anh chia sẻ rằng chúng ta phải thường xuyên nhớ rằng vấn đề khuyết tật thực sự không phải là vấn đề chính, chúng chỉ là rào cản thể lý nhưng tinh thần là quan trọng vì “nếu bạn không mong đợi để thành công, sau đó bạn sẽ không bao giờ làm gì được. Đây là bí mật liên tục của mỗi bước. Đó là một mối quan hệ, một tình yêu luôn cứu rỗi tôi”. (Aleteia13-4- 2018)
Khi thông tin chính thức ông Chủ tịch nước Trần Đại Quang qua đời lúc 10:05 phút ngày 21.09 được công bố, có lẽ chỉ trừ báo chí truyền thông nhà nước phải làm nhiệm vụ tuyên truyền, viết những bài “thương vay khóc mướn” về một trong “tứ trụ triều đình Hà Nội” vừa mới ra đi này, còn lại cả ngày hôm đó và hôm sau, trên mạng xã hội facebook chỉ tràn ngập những status biểu lộ sự vui mừng, hả hê, châm biếm, diễu cợt. Và ở ngoài đời, nhiều người Việt Nam kể rằng thái độ của dân chúng cũng rất thờ ơ, thậm chí có những người cũng không ngần ngại nói huỵch toẹt kiểu như “Mong sao cả đám quan chức ăn tàn phá hại chết hết cho rảnh”!!
Ông Trần Đại Quang không phải là trường hợp duy nhất bị người dân bày tỏ sự thờ ơ hay hả hê khi qua đời. Trước cái chết của một nhân viên công an/cảnh sát cho tới nhiều quan chức, lãnh đạo khác ở nước này, người dân đều có những phản ứng như vậy.
Khác với một số chế độ độc tài, quyền lực tập trung vào tay một nhân vật duy nhất, kể cả ở Nga hay Trung Cộng bây giờ, quyền lực của Putin hay Tập Cận Bình cũng hết sức lớn, ở VN quyền lực lẫn trách nhiệm chia cho “tứ trụ”, rộng hơn là 19 người trong Bộ Chính trị. Trong nhiều năm qua VN không có một khuôn mặt nào thật sự nổi trội và nắm hết mọi quyền lực trong tay, như thời Hồ Chí Minh hay Lê Duẩn. Thi thoảng, trong từng giai đoạn, một người nào đó khuynh loát được nội bộ, nắm được nhiều quyền lực hơn do phe cánh mạnh hơn, như ông Cựu Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng có một thời “làm mưa làm gió” và bây giờ, theo như nhiều người nhận xét, quyền lực đang nằm chủ yếu trong tay ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Chính vì vậy, người dân không thật sự biết được ai có năng lực hơn ai, ai phải chịu trách nhiệm trực tiếp về từng chủ trương, chính sách hại dân hại nước nào. Mọi bức bối, phẫn nộ đành chia đều!Nên có thể nói, bây giờ ai trong “tứ trụ” hay Bộ Chính trị hay các “Thái thượng hoàng” Lê Đức Anh, Đỗ Mười ra đi thì dân cũng phản ứng như nhau. Lòng dân đã quá chán ngán cái chế độ này.
Đừng bảo dân ác mồm ác miệng. Đừng bảo nghĩa tử là nghĩa tận v.v và v.v…Phải hỏi tại sao lãnh đạo chết mà dân lại mừng, lại hả hê? Vả lại đối với dân đen bây giờ, vũ khí duy nhất của họ chỉ là tiếng cười và sự châm biếm, khi nào họ không cười, không châm biếm nữa mà họ đùng đùng nổi giận, đứng lên xuống đường thì lúc đó mới là lúc cái chế độ này tắt thở!
Nhưng nói thật, với tất cả tội ác mà đảng cộng sản đã gây ra cho đất nước này, dân tộc này thì nhân vật nào còn được chết trên giường bệnh hay chết vì tuổi già là còn phúc! Sau này lại đến lúc những nhân vật còn sống phải ra tòa trả lời về những tội ác đã làm nữa kia! Còn những ai chết rồi cũng chưa xong đâu, mai mốt lịch sử sẽ ghi lại từng người, ai cam tâm làm lính đánh thuê cho ngoại bang, ai đẩy đất nước vào mấy cuộc chiến tranh rồ dại, ai bán nước, ai dâng đất cho Tàu…rành rành còn đó, sách sử nghìn đời ghi chép lại.
Quan chức, chính khách cộng sản đối với nhau
Ở VN, từ đời riêng cho tới tình trạng sức khỏe, lý do bệnh tật của các quan chức lãnh đạo cấp cao luôn luôn là một bí mật đối với dân chúng. Người dân chỉ được biết những gì mà nhà nước cho biết. Ngay cả ngày chết cũng nhiều khi bị ém lại chờ ý kiến, quyết định của Bộ Chính trị rồi mới công bố, như trường hợp ông Hồ Chí Minh, ông Võ Văn Kiệt hay ông Nguyễn Bá Thanh…Nhưng từ khi có mạng internet, có báo chí “lề trái”, dù nhà nước đã ra sức bưng bít nhưng những thông tin rò rỉ, những câu chuyện “thâm cung bí sử” phía sau hậu trường chính trị, trong đó có cả chuyện sức khỏe, bệnh tật của các quan lớn cứ bị rò rỉ, lan truyền trên các trang mạng xã hội và trong dân chúng.
Như ông Nguyễn Bá Thanh, Trưởng Ban Nội chính Trung ương từ năm 2012-2015, trước đó là Bí thư thành ủy Đà Nẵng, Chỉ tịch Hội đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng từ năm 2003-2013, toàn bộ quá trình bệnh tật, lý do bệnh tật cho tới thực sự chết khi nào đều bị nhà nước này giấu diếm, quanh co. Trong lúc trên mạng xã hội những hình ảnh ông nằm trên giường bệnh điều trị ở nước ngoài với cái đầu cạo trọc, làn da xám ngoét, dấu hiệu của người đang xạ trị bệnh ung thư, hình ảnh chuyến bay từ Mỹ được cho là đưa ông về VN (nhưng không ai thấy mặt ông) cùng với những “tin đồn” về chuyện ông bị các đồng chí đầu độc bằng chất phóng xạ cứ lan truyền không kiểm soát nổi.
Thậm chí dân tình còn đồn rằng ông Nguyễn Bá Thanh đã bị bệnh viện Mỹ trả về vì không còn có thể cứu chữa được, nhưng báo chí nhà nước thì vẫn tiếp tục đưa tin ông về và đang điều trị tại Đà Nẵng, các quan chức vẫn vào thăm, ông còn nói “Tau khỏe mà, có chi mô”, nhưng cũng không có một hình ảnh nào của ông, kéo dài hàng tháng, trước khi nhà nước chính thức công bố ông Nguyễn Bá Thanh qua đời!
Trường hợp ông Trần Đại Quang cũng vậy. Từ năm ngoái dân tình đã đồn đãi về tình trạng sức khỏe của ông. Khi ông phải đi Nhật chữa bệnh lần 1, lần 2, nhà báo Huy Đức đã thông báo trên facebook của mình trong lúc báo chí nhà nước vẫn im lặng. Trong những ngày cuối đời, khi thần sắc ông đã rất kém, ông vẫn phải đóng tròn vai trò của mình là xuất hiện chỗ này chỗ kia, lịch làm việc dày đặc. Một ngày trước khi ông mất, ngày 20.9, nhà báo Huy Đức nhận xét trên facebook:
“Sức khỏe của Chủ tịch nước
Với hình ảnh của Chủ tịch nước xuất hiện trên VTV tối qua và diễn biến chiều nay (20-9-2018), tôi nghĩ, TTX nên bắt đầu phát đi những bản tin đầu tiên về sức khỏe cảu Đại tướng Trần Đại Quang. Lãnh đạo cũng không tránh khỏi quy luật sinh – lão – bệnh… Người dân có quyền được biết và ông cũng nên được đối xử như một con người, ốm thì phải được nghỉ ngơi chữa bệnh.”
Và hôm sau thì ông Trần Đại Quang qua đời. Có lẽ chuyện phải làm việc cho đến tận phút cuối cùng là một trong những lý do khiến ông phải đi sớm như tác giả Đinh Ngọc Thu viết trong bài “Vì sao Chủ tịch nước Trần Đại Quang qua đời?” đăng trên trang Tiếng Dân.
Trong một chế độ dối trá, cả đến cái chết cũng phải được đảng, được các đồng chí của mình cho phép. Đó là chưa nói nguyên nhân, lý do thực sự vì sao một số ông lại phải ra đi, có phải do bị các đồng chí của mình hãm hại trong cuộc tranh giành quyền lực như dân tình đồn đãi hay không. Chỉ khi nào có một thể chế minh bạch, được vận hành bởi luật pháp, cộng thêm sự giám sát của báo chí và tiếng nói của nhân dân thật sự có trọng lượng, thì lúc đó những cuộc tranh giành đấu đá hãm hại nhau trong bóng tối mới khó có cơ may xảy ra…
Cọp chết để da, người ta chết để tiếng
Nhớ lại gần đây khi Thượng nghị sĩ John McCain, ứng cử viên tổng thống Mỹ năm 2008, người từng bị giam cầm ở Hà Nội thời Chiến tranh Việt Nam, đã qua đời sau một thời gian dài điều trị chứng ung thư não ác tính, không chỉ người Mỹ, mà rất nhiều lãnh đạo, chính khách trên thế giới đã bày tỏ niềm thương tiếc, kính trọng. Đặc biệt nhiều người Việt đang sống tại VN, tại Mỹ và nhiều nơi khác cũng bày tỏ sự thương tiếc khi ông qua đời, vì những nỗ lực của ông trong quá trình gác bỏ hận thù, bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, cũng như chương trình HO mà ông là tác giả, đã giúp đưa hơn 500 000 sĩ quan quân lực VNCH và thân nhân của họ được định cư trên đất Mỹ.
Còn đối với người dân Mỹ, ông không chỉ là một anh hùng chiến tranh mà còn là một con người yêu nước thực sự, đã cống hiến cả cuộc đời để bảo vệ những giá trị của nước Mỹ, dù trên chiến trường hay trong lòng nước Mỹ. Một chính khách trung thực, có lương tri, có đạo đức, luôn luôn đặt lợi ích của quốc gia lên trên đảng phái, sẵn sàng lên tiếng bào vệ đối thủ chính trị hay chỉ trích những việc làm, sai trái của Tổng thống đương nhiệm cho dù là người cùng đảng Cộng Hòa. Nói về ông, người ta nói về một nhân cách lớn, một con người quân tử, cao thượng, một người yêu nước. Những tính từ đẹp nhất để nói về một con người-một quân nhân và một chính khách.
Không biết khi thấy những phản ứng đối nghịch rất rõ của người VN dành cho một “cựu thù” và cho một quan chức lãnh đạo của chính nước mình như vậy, những con người đang ngồi trên những vị trí cao nhất của đảng và nhà nước cộng sản VN có suy nghĩ gì hay không?
Có lẽ họ cũng biết, nhưng họ vẫn chọn con đường coi như không thấy không biết, một phần vì vẫn còn quá ảo tưởng vào sức mạnh của chế độ, tưởng như chế độ này cứ thế tồn tại mãi nhờ vào bạo lực và sự sợ hãi, một phần do không ai trong số họ đủ tâm, đủ tầm, đủ sức để làm bất cứ một sự thay đổi nào. Họ sợ hãi mọi sự thay đổi. Họ chọn lựa cách dễ dàng là bảo vệ đến cùng những gì đang có.
Cũng như từ trước đến nay, đảng và nhà nước cộng sản luôn luôn lựa chọn con đường dễ dàng nhất, có lợi nhất cho mình, bất chấp lợi ích của đất nước, dân tộc, bất chấp những xoay chuyển của thời cuộc khách quan, dòng chảy của lịch sử…Hậu quả là cả đất nước này, dân tộc này phải đi trên con đường khó khăn nhất, chậm chạp nhất và tổn thất nhất để giành lại Tự Do, Dân Chủ, Hạnh Phúc.
Nhưng hậu quả ấy còn đến với chính đảng và nhà nước cộng sản chọn lựa đàn áp nhân dân để bảo vệ chế độ đến cùng thay vì tự thức tỉnh và thay đổi, đó là chính họ đã đóng cửa con đường quay về trong hòa bình với nhân dân. Bạo lực, thù hận do đó khó mà tránh khỏi.
Chỉ vẽ lại bản đồ Thủ Thiêm các quan chức đã chia nhau 12 tỷ USD
Đăng bởi: Tiểu Nhi on Thứ Bảy, 22 tháng 9, 2018 | 22.9.18
Hiến đất
Một người Pháp kể chuyện gặp một ông VN ở Thụy sĩ. Ông này quê mùa, ăn uống nhồm nhoàm, nói lớn như giữa chợ, trong một khách sạn sang trọng khiến mọi người khó chịu, nhưng khách sạn hết sức chiều chuộng. Vì là khách sộp, uống rượu đắt tiền như uống nước lã. Mua sắm loạn cào cào, thí dụ mua một cái đồng hồ Philippe Patek gần 200 ngàn dollars, như ta mua một ký khoai tây. Anh bạn hỏi: nghe nói VN là một xứ nghèo, tiền bạc đâu ra khủng khiếp như vậy? Rất khó giải thích cho những người bình thường chuyện VN.
Chỉ vẽ lại bản đồ, Thủ Thiêm các quan chức đã chia nhau 12 tỷ USD Hồi Eltsine nắm quyền, tư hữu hoá nước Nga, bán đổ bán tháo các cơ sở quốc doanh cho bè đảng, người ta kể chuyện một ông mafia đỏ, mua được một khu thương mại, băng qua đường, bán lại cho người khác đang chờ sẵn, với giá gấp 100 lần giá mua. Và mua bằng tiền lèo, do ngân hàng… nhân dân, cũng là phe cánh ký giấy, hứa cho vay. Nghe chuyện, bán tín bán nghi, nghĩ chắc người ta cũng phóng đại đôi chút. Ngày nay, thấy VN còn bỏ xa chuyện làm ăn vặt ở Nga. Đúng là “top” thế giới, như các quan chức vẫn khoe khoang.
Lấy thí dụ Thủ Thiêm. Chỉ cần quen thằng vẽ bản đồ, mua vài mảnh đất (bà Ngân nói dân… hiến đất), hôm trước hôm sau có thể mua vài cái Philippe Patek tặng bạn bè.
Một thước vuông đất xây cất, gọi là đất đô thị, bồi thường 2 triệu đồng, bán giá thị trường 70 triệu, gấp 35 lần giá vốn. Một thước vuông đất nông nghiệp, mua 200 ngàn, bán 28 triệu, gần 150 lần giá vốn. Ngon nhất là được dân thương, “hiến” với giá nông nghiệp, bán với giá đô thị, 350 lần giá vốn.
Để so sánh, bạn để tiền trong quỹ tiết kiệm, mỗi năm lời trên dưới 1%. Đầu tư có thể lời hơn, 5 hay 6,7 % nhưng cũng có thể mất cả chì lẫn chài.
Một tờ báo tính chỉ cần vẽ lại bản đồ, các quan chức Thủ Thiêm đã chia nhau 12.000.000.000 (12 tỷ) dollars. Bạn có tưởng tượng nổi 12 tỷ dollars mặt mũi nó như thế nào không? Chỉ tưởng tượng, chúng ta cũng không làm nổi, trong khi họ thực sự chia nhau. Có những người sống ở một thế giới khác với thế giới của người thường. Một xã hội thiên đường như vậy, quả thực rất đáng hy sinh hàng triệu sinh mạng để xây dựng và bảo vệ.
Một cuộc thăm dò cho biết đa số người Pháp không hình dung nổi một triệu Euros nó như thế nào. Nếu thăm dò ở VN, chắc con số đó rút xuống, còn 100 ngàn hay 10 ngàn dollars. Mười hai tỷ…
Tôi loay hoay tính mãi chưa ra: 12 tỷ dollars mua được bao nhiêu cái đồng hồ Philippe Patek. Chưa nói tới sửa được bao nhiêu cái trường học chuồng bò, mua được bao nhiêu sợi dây cho các cháu lội qua sông đi học.
Cuộc đánh tư sản sắt máu của Đỗ Mười đã “tạo ra” loại con cái đấu tố cha mẹ ruột mình. Lý Mỹ (điển hình) là con gái một gia đình kinh doanh buôn bán, có một cửa hàng ở đường Cách mạng Tháng Tám, quận 10. Khi X-3 (cuộc đánh tư sản do Đỗ Mười chỉ huy) nổ ra, Lý Mỹ mới 17 tuổi, được tổ chức đoàn tuyên truyền giáo dục lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, được kết nạp đoàn khóa 26-3, được nghe đích thân ông Đỗ Mười nói chuyện về chính sách cải tạo công thương nghiệp. Trái tim non trẻ của cô học sinh mười bảy tuổi như sôi sục bầu máu nóng đấu tranh giai cấp, cô đã chọn đối tượng để đấu tranh, đó chính là cha mẹ mình…
X-3, với “công lao to lớn” của Đỗ Mười, thu được khoảng hơn 4.000 kg vàng, gần 1.200.000 đô la, và một khối lượng hàng hóa không thống kê hết. Từ chiếc xe hơi, TiVi, tủ lạnh, đến bịch bột giặt, quả trứng gà đều khê khai và tịch thu chất trong các kho, để rồi không cánh mà bay, hoặc biến thảnh phế thải…
X-3, cú đòn trời giáng cuối cùng, biến “Hòn ngọc Viễn Đông” thành “Thành phố chết”, đẩy thêm dòng người bỏ đất nước ra đi bất chấp hiểm nguy, bao nhiêu số phận đã rã rời trên biển sâu…
Chiều 21-3-1978, Hội trường của trường đảng Nguyễn Ái Quốc II, Thủ Đức, như nghẹt thở. Mấy trăm cán bộ cơ quan trung ương và các tỉnh, thành phố phía Nam được triệu tập về đây từ hai, ba ngày trước. Ăn, ngủ ngay tại đây, nội bất xuất, ngoại bất nhập, công an giám sát chặt chẽ. Tôi là phóng viên báo Tiền Phong, Trung ương Đoàn trưng dụng làm “nhiệm vụ đặc biệt” cũng nằm trong số đó.
Nhiệm vụ đặc biệt gì không ai được biết. Qua vài thông tin rò rỉ, các “quân sư quạt mo” nhận định chuẩn bị đánh tư sản thương nghiệp, mật danh X-3, dưới sự chỉ huy của “Bàn tay sắt” Đỗ Mười và giờ G đã điểm! Khi đó, ông Đỗ Mười là Phó Thủ tướng kiêm nhiệm Trưởng ban Cải tạo Công thương nghiệp Xã hội chủ nghĩa, phụ trách vấn đề cải tạo Công thương nghiệp XHCN tại miền Nam.
Hôm đó, Đỗ Mười mặc chiếc quần Kaki màu cà phê đậm, chiếc áo sơ mi ngắn tay cùng màu, chân đi dép, khổ người khệnh khạng, mặt chữ “nãi”, trán ngắn đầy nếp nhăn, miệng cá trê, bờm tóc dựng trông rất dữ. Tôi đã được nghe nói nhiều về tính bốc đồng, nóng nảy của Đỗ Mười, hôm đó được giáp mặt, quả đúng vậy.
Đúng như mọi người dự đoán, chiến dịch X-3 đã bắt đầu.
Đỗ Mười đọc Quyết định của Thủ tướng, đọc Chỉ thị 100-CP, và triển khai kế hoạch cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam.
Đỗ Mười nói: “Từ sau giải phóng chúng ta đã thực hiện X-1, tập trung bọn ngụy quân, ngụy quyền học tập cải tạo. (Rất cần phải nhắc lại cái kế hoạch X-1 do hung thần Đỗ Mười đề xuất: Sĩ Quan Ngụy tù Trung Úy trở lên, Công chức từ cấp Chánh Sự Vụ trở lên: “Tử hình”. May mà tuị Pol Pot làm quá nên bị cả Thế Giới nguyền rủa và lên án nên CSVN mới chùn tay). Đã thực hiện X-2 đánh bọn tư sản mại bản. Bây giờ chiến dịch X-3, quyết liệt nhất, nhằm tiêu diệt tận gốc rễ chủ nghĩa tư bản, tay sai đế quốc Mỹ, diệt triệt để, diệt không nương tay…ông vừa nói vừa chém tay vào không khí.
“Đánh rắn phải đánh dập đầu, ta đã đánh dập đầu rồi, nhưng con rắn tư bản đánh dập đầu nó chưa chết, cái đuôi nó còn nguy hiểm hơn cái đầu. Không giần cho nát cái đuôi của nó, thì nó vẫn tác oai tác quái phá chúng ta. Vừa qua kẻ nào vơ vét mì chính (bột ngọt), vải vóc, đường, sữa đầu cơ trục lợi, rồi lại đổ tội cho nhà nước ta chuyển ra Bắc nên thị trường khan hiếm (đúng là nhà nước vét hết để chở ra bắc vì dân bắc sống sung sướng trong thiên đường XHCN nên các cửa hàng trống rỗng, thực phẩm phải mua bằng tem phiếu, vải được phân phối mỗi năm 4 mét/người). Chính là bọn tư sản thương nghiệp! Kẻ nào tích trữ thóc gạo để dân ta đói? Chính là bọn đầu nậu lúa gạo. (thực ra chính CS đã đầu nậu). Tôi hỏi các đồng chí, kẻ nào cung cấp lương thực, thực phẩm cho tổ chức phản động trên Lâm Đồng chống phá cách mạng? Kẻ nào? Chính là bọn tư sản đấy! Bọn gian thương đầu cơ, phá hoại, bọn ngồi mát ăn bát vàng, rút rỉa máu xương đồng bào ta, ngăn cản con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa của đảng ta…”
Đỗ Mười nói say sưa, hùng hồn, quyết liệt. Mép sủi bọt. Tay vung vẩy. Mồ hôi trán đầm đìa. Lúc đầu mặc quần áo nghiêm chỉnh, sau một hồi diễn thuyết khoa chân múa tay, Đỗ Mười bật nút áo sơ mi phanh ngực ra. Cuối cùng cởi phăng cái áo sơ mi ướt đẫm mồ hôi, trên người ông chỉ còn mỗi chiếc áo may ô ba lỗ.
Đỗ Mười vẫn hăng nói: “Cho nên chúng ta phải róc thịt chúng ra. Bắt chúng lao động sản xuất, tự làm lấy mà ăn. Phải biết cày ruộng, cấy lúa, trồng ngô. Đất hoang còn nhiều, bắt chúng đổ mồ hôi sôi nước mắt kiếm miếng ăn…”
Bầu không khí ngột ngạt và kích động muốn nổ tung hội trường. Sức nóng từ Đỗ Mười truyền đến từng người. Tiếng vỗ tay rào rào, tiếng cười tiếng nói hả hê. Những gương mặt hừng hực khí thế “xung trận”.
Xin đừng ở vị trí hôm nay phán xét những người trong cuộc ba mươi lăm năm trước, thời điểm đó tư duy của mọi người khác bây giờ, nhất là tư duy của những cán bộ đảng viên vốn tin tưởng tuyệt đối vào đường lối chính sách của đảng. Những người mà đảng bảo sao cứ làm đúng phắc như vậy. Hãy bình tĩnh nhìn lại một cách trung thực, khách quan, để thấy một phần nỗi đau của mình, bạn bè mình, dân tộc mình, nỗi đau từ sự ấu trĩ, nóng vội, làm ào ào, đặt trái tim không đúng chỗ ngay từ khởi đầu!
Đỗ Mười kết thúc buổi triển khai chiến dịch X-3, bằng mấy cái chém tay như có ‘thượng phương bảo kiếm’: “Anh nào, chị nào nhụt ít chí thì lui ra một bên. Kẻ nào tỏ ra nhân nhượng với bọn tư sản là phản bội giai cấp, không phải Bôn-sê-vích, có tội với đảng với dân, sẽ bị trừng trị!”
Chúng tôi ra về với một tâm trạng nặng nề, mang theo lời cảnh tỉnh “Tuyệt đối bí mật”.
Nhưng hình như linh tính đã báo điềm chẳng lành cho thành phố Sài Gòn. Đó là cảm giác của tôi khi chạy xe máy từ cầu Công Lý lên cảng Bạch Đằng vòng qua Chợ Lớn. Người dân đổ ra đường nhiều hơn, vội vã, tất tưởi, gương mặt thất thần, nhiều tốp người tụm nhau bàn tán. Người ta nháo nhào đi mua từng cân muối ký gạo, như sắp chạy càn. Người dân thành phố vốn nhạy cảm và đó lại là cảm giác đúng: Thủ tướng nào thì chưa biết, nhưng trước hết phải lo thủ lấy miếng ăn!
Bảy giờ sáng hôm sau, ngày 23-3-1978, tất cả các cửa hàng kinh doanh to nhỏ, đủ mọi ngành nghề, ngóc ngách, đóng cửa, án binh bất động theo lệnh của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Một bản thông báo ngắn gọn do ông Vũ Đình Liệu thay mặt UBND thành phố ký được ban hành ngay sau đó, xác nhận “Chiến dịch X-3”, bắt đầu ở thành phố mang tên Bác.
Bên cạnh các chiến dịch đánh tư sản, Hà Nội còn áp dụng thêm một số biện pháp có tính toán nhằm triệt tiêu mầm mống tư sản ở miền Nam thông qua cái gọi là “kinh tế mới”
Tất cả các cơ sở kinh doanh, buôn bán, nhà hàng, cửa hàng, kho tàng, trung tâm dịch vụ bị niêm phong. Danh sách đã được lên từ trước. Họ làm bí mật lâu rồi. Như một trận đánh giặc đã được trinh sát, điều nghiên tỉ mỉ, chính xác. Các tổ công tác ập vào từng điểm bất ngờ, nhanh chóng niêm phong tài sản, khống chế mọi người trong gia đình nội bất xuất, ngoại bất nhập. Mỗi điểm niêm phong có tối thiểu một tổ ba người, không cùng cơ quan, không quen biết nhau. Họ là thanh niên xung phong, thanh niên công nhân các nhà máy, sinh viên các trường đại học, cả những thanh niên các phường được huy động vào chiến dịch.
Ngay buổi chiều hôm ấy một cuộc mít tinh tuần hành từ Nhà văn hóa thanh niên do Thành đoàn tổ chức. Hàng ngàn học sinh, sinh viên rầm rộ xuống đường, diễu hành khắp các phố chính Sài gòn, Chợ Lớn, hoan nghênh chính sách cải tạo công thương nghiệp của đảng, đả đảo bọn gian thương. Suốt đêm Câu lạc bộ thanh niên vang lên bài ca “Tình nguyện”, “Dậy mà đi”. Khi chống Mỹ sinh viên học sinh hát những bài hát ấy, giờ cũng hát những bài hát ấy để tăng bầu nhiệt huyết đánh tư sản!
Ngày 26-3-1978, cô công nhân Nguyễn Thị Bé B. ở nhà máy dệt Phong Phú được kết nạp đoàn vì từ chối nhận một món quà của một cơ sở kinh doanh mà cô canh giữ. Tiếp theo một trường hợp tương tự, anh thanh niên Vũ Ngọc Ch. ở nhà máy dệt Thắng Lợi.
Mấy ngày sau tiếng trống ở trường Trần Khai Nguyên quận 5, vang lên, như trống trận. Đó là nơi tập trung của 1.200 thanh niên học sinh người Hoa xuống đường ủng hộ chính sách cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, người dẫn đầu là cô học sinh lớp 11, có gương mặt búp bê, mái tóc cắt ngắn: Lý Mỹ.
Lý Mỹ là con gái một gia đình kinh doanh buôn bán, có một cửa hàng ở đường Cách mạng Tháng Tám, quận 10. Khi X-3 nổ ra, Lý Mỹ mới 17 tuổi, được tổ chức đoàn tuyên truyền giáo dục lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, được kết nạp đoàn khóa 26-3, được nghe đích thân Đỗ Mười nói chuyện về chính sách cải tạo công thương nghiệp. Trái tim non trẻ của cô học sinh mười bảy tuổi như sôi sục bầu máu nóng đấu tranh giai cấp, cô đã chọn đối tượng để đấu tranh, đó chính là cha mẹ mình.
Lý Mỹ vận động thuyết phục cha mẹ kê khai tài sản, cha mẹ chần chừ, cô trực tiếp đứng ra kê khai. Cô theo dõi bố mẹ cất giấu vàng bạc, của cải, báo cho tổ kê khai moi móc ra bằng hết. Lý Mỹ phát biểu trên báo: “Tinh thần Pavel Corsaghin sáng chói trong trái tim tôi! Tôi không cần vàng bạc, của cải, cha mẹ tôi bóc lột của nhân dân. Từ hôm nay tôi từ bỏ giai cấp bóc lột, bước sang cuộc sống mới, hòa vào dòng người lao động vinh quang xây dựng xã hội chủ nghĩa” (Báo Tiền Phong số 40,1978).
Khi cha mẹ vật vã than khóc, và dọa ra nước ngoài, Lý Mỹ tuyên bố nếu cha mẹ xuất cảnh, cô sẽ ở lại một mình, chấp nhận cuộc sống cô đơn để cống hiến cho lý tưởng cộng sản!
Không phải chỉ có một Lý Mỹ, mà hàng trăm “Lý Mỹ” như vậy. Những “Lý Mỹ” được sinh ra nóng hổi dưới lá cờ Đoàn thanh niên cộng sản Hổ Chí Minh, và qua sự khích động của Đỗ Mười.
Trong cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc có con tố cha mẹ, vợ tố chồng, bạn bè tố nhau. Những cán bộ từng hoạt động bí mật trong chiến tranh, được những gia đình buôn bán, giàu có bao bọc, giờ quay ngoắt lại tịch thu tài sản ân nhân của mình. Những tính từ bọn, đồng bọn, “tên tư sản”, “con buôn” thay danh từ ông, bà, anh, chị. Gần ba chục năm trước, người bị quy là địa chủ, phú nông xấu xa thế nào, thì 1978, người bị gọi là tư sản, con buôn xấu xa như vậy. Người ta, vỉ ngu dốt như Đỗ Mưởi, đã phủ nhận một tầng lớp tiên tiến của xã hội, nhục mạ tầng lớp đó, đào hố ngăn cách giữa các tầng lớp nhân dân, và kéo lùi sự phát triển của đất nước, đó là một sự thật lịch sử cần ghi nhận.
Chiến dịch X-3 thành phố Hồ Chí Minh, đã đánh gục 28.787 nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, hộ buôn bán.
Ông Nguyễn Văn Linh nói: “Khi tôi làm Trưởng ban cải tạo trung ương, tìm hiểu và dự kiến Sài Gòn, Chợ Lớn có khoảng 6.000 hộ kinh doanh buôn bán lớn. Khi Đỗ Mười thay tôi, anh ấy áp dụng theo quy chuẩn cuộc cải tạo tư sản Hà Nội từ năm 1955, nên con số mới phồng to lên như vậy” (Nguyễn Văn Linh, Những trăn trở trước đổi mới).
Đỗ Mười đưa hàng ngàn hộ tiểu thương, trung lưu vào diện cài tạo, gộp luôn những hộ sản xuất vào đối tượng đó.
Ông Nguyễn Văn Linh nói: “Anh Mười không trao đổi với chúng tôi. Anh ấy có ‘thượng phương bảo kiếm’ trong tay, toàn quyền quyết định” (Nguyễn Văn Linh trăn trở cuộc đổi mới).
Đỗ Mười thay Nguyễn Văn Linh làm Trưởng ban cải tạo ngày 16-2-1978. Trong chiến dịch X-3, Đỗ Mười không sử dụng người của Nguyễn Văn Linh, mà đưa hầu hết cán bộ từ miền Bắc vào nắm giữ những vị trí quan trọng. Đồng thời Đỗ Mười bố trí cán bộ các ngành thương nghiệp, giao thông vận tải, công nghiệp nhẹ, kho hàng vào tiếp quản. Đỗ Mười đóng đại bản doanh ở Thủ Đức, trực tiếp chỉ đạo, không tham khảo bất cứ ý kiến ai trong cơ quan lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh.
Kết quả X-3, với “công lao to lớn” của Đỗ Mười, thu được khoảng hơn 4.000 kg vàng, gần 1.200.000 đô la, và một khối lượng hàng hóa không thống kê hết. Từ chiếc xe hơi, TiVi, tủ lạnh, đến bịch bột giặt, quả trứng gà đều khê khai và tịch thu chất trong các kho, để rồi không cánh mà bay, hoặc biến thành phế thải.
X-3, cú đòn trời giáng cuối cùng, biến “Hòn ngọc Viễn Đông” thành “Thành phố chết”, đẩy thêm dòng người bỏ đất nước ra đi bất chấp hiểm nguy, bao nhiêu số phận đã rã rời trên biển sâu. Năm 2005, nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt nhìn nhận: “Trong các chiến dịch cải cách ruộng đất và cải tạo công thương nghiệp, nhiều nhân sĩ yêu nước, nhiều nhà kinh doanh có công với cách mạng đã không được coi như bạn nữa, gây những tổn thất lớn về chính trị và kinh tế”.
Có lần chúng tôi hỏi nhà báo Trần Bạch Đằng: “Hình như trong 63 năm tham gia cách mạng và làm lãnh đạo, Đỗ Mười không để lại một tác phẩm nào?”. Ông Trần Bạch Đằng chớp mắt nhếch cái miệng méo xẹo: “Cha ấy để lại cho đời tác phẩm cải tạo công thương nghiệp, biến Sàigòn và miền Nam thành những vùng đất chết!” .
Ông Đoàn Duy Thành, nguyên Phó Thủ tướng chính phủ kể: “Một lần anh Mười xuống Hải Phòng, tôi và anh Nguyễn Dần dẫn anh ấy đi thăm nhà máy đóng tàu. Đi ngang Quán Toan thấy cái nhà hai tầng, anh Mười hỏi: “Nhà ai đây?” tôi trả lời: “Dạ nhà anh Bút lái xe”, anh Mười nói: “Nếu tôi mà là bí thư, chủ tịch thành phố tôi sẽ tịch thu ngay cái nhà này làm nhà mẫu giáo!”. Đỗ Mười là người đố kỵ với Võ Nguyên Giáp, không biết vì ghen ghét tài năng hay nguyên nhân gì. Ông Đoàn Duy Thành kể: “Chuẩn bị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, anh Mười gọi tôi tới, nêu vấn đề anh Văn năm 16 tuổi được thực dân Pháp cho sang Pháp học 6 tháng. Rồi anh Mười bảo, về nói cho đoàn đại biểu Hải Phòng biết, và những ai quen biết ở các đoàn khác cũng nói cho các đồng chí ấy biết. Tôi hỏi anh Trường Chinh, anh Trường Chinh bảo: “Võ Nguyên Giáp năm 1941-1942, kể cả việc làm con nuôi Martin trùm mật thám Đông Dương là chuyện bịa hết!… Anh Mười, anh ấy rất võ biền. Các cuộc họp tôi nói, anh ta thường chặn lời tôi…” (Làm người là khó).
Ông Nguyễn Văn Linh trong một lần hội nghị ở T78 đã nói thẳng với Đỗ Mười: “Anh Mười tưởng rằng làm Ủy viên Bộ chính trị là to lắm, muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm, muốn phê bình ai cũng được… Anh Mười đứng dậy nói: “Tôi nói đó là tinh thần Bôn-sê-vich” (Làm người là khó).
Ông Đoàn Duy Thành kể tiếp: “Có lần tôi hỏi anh Tô (Phạm Văn Đồng): “Còn Đỗ Mười thì sao?”. Anh Tô suy nghĩ hai ba phút rồi nói: “Chỉ có phá !”.
Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói rất đúng với trường hợp cải tạo công thương nghiệp. Cũng đúng thôi, vì ông Mười xuất thân từ nghề hoạn lợn thiến heo sau đi theo cách mạng. Ông đâu có được học hành gì, bởi thế những suy tư và hành động của ông là suy tư và hành động của những tên lưu manh, vô lại, khi bỗng nhiên có chức, có quyền.
Năm nay Đỗ Mười hơn chín chục tuổi rồi. Nghe nói vẫn phải nuôi con mọn do cô hộ lý sinh ra và nói là con của ông??? Không biết có đúng không, và nếu đúng, tương lai nó sẽ ra sao? Cầu trời, nó đừng như những “đứa con” sinh ra từ cuộc cải tạo công thương nghiệp 1978 như Lý Mỹ!
Tôi biết anh từ sau 1975 chừng vài tháng, khi mà mấy ông Thầy bị sàng lọc và đuổi ra khỏi trường mà không cần biết lý do, để đưa những tên cán bộ chính trị của Đại học Pắc Pó từ miền Bắc vào giảng dạy. Cộng Sản là thảm họa của cả miền Nam kể từ dạo ấy và đối với riêng anh việc bị đuổi ra khỏi trường Văn Khoa là một biến cố đau buồn nhất trong đời, nó thường xuyên ám ảnh đến cả giấc mơ đầy ác mộng của anh sau này. Anh là bạn thân của ông Thầy dạy tôi thời Trung học, hai người bạn thất nghiệp đi lang thang và ghé vào căn phòng trọ của cô học trò nhỏ, cả Thầy trò đều xác xơ đến tội nghiệp, tôi loay hoay nấu cơm bằng cái nồi nhỏ xíu với chút rau luộc và cái trứng vịt dầm nước mắm, buổi cơm đạm bạc nhưng chân tình. Tôi ấm ức kể cho Thầy nghe những bực bội trong cuộc sống mới mà tôi phải chịu đựng, những bất mãn hậm hực trong chế độ XHCN nói một đàng làm một nẻo này, tức mà không biết nói với ai..Tôi viết nhật ký và in roneo cả xấp, không biết để làm gì nữa nhưng chắc cũng đở buồn đôi chút. Thời buổi này biết tin ai bây giờ ngoài Thầy, tôi không có dịp học với anh dù nửa chữ, nhưng tôi kính anh như thầy mình. Tôi đưa bản nháp cuốn nhật ký cho hai ông, coi như có người để chia sẻ tâm sự..Năm 1978 Cuốn nhật ký được một người thân lén chuyển qua Mỹ, và được in làm nhiều kỳ trong bán nguyệt san Việt Nam Hải Ngoại tại San Diego. Và đầu năm 1979 tôi vào tù, tôi nghĩ chuyện tới đó là chấm hết. Thời gian như cuồng phong phẩn nộ cuốn phăng mọi thứ, mất hút trong mưa giông là những dề lục bình tuổi thơ mơ mộng của bạn bè tôi, dật dờ rác rưởi trong chế độ mà “đôi dép râu làm sầu tuổi trẻ, nón tai bèo dẫm nát mộng đời trai”, gió đưa gió đẩy không về rẫy Kinh Tế Mới thì cũng ra khơi vượt biển tìm Tự Do. Thời điểm sôi bỏng lúc đó ai cũng muốn đi, dù biết chắc rủi ro phía trước. Cuộc sống bức bách trong thời gian đầu khiến anh không thể chịu đựng nổi, Anh dẫn vợ con ra khơi trên chiếc ghe chông chênh túm húm phó thác tánh mạng cho Trời. Tôi chọn sự ở lại để cùng chồng mưu toan “bẻ gậy chống trời”, mọi việc không thành, cả nhà bị bắt, chồng tôi bị tuyên án Tử Hình, tôi chôn tuổi trẻ của mình hơn 10 trong lao tù Cộng Sản, thằng con trai mới hơn một tuổi cũng bị vạ lây vướng vòng lao lý đến độ tật nguyền. Câu chuyện đau thương và trãi dài biết bao khốn khổ bất hạnh trong suốt những năm tháng buồn hiu đó. Cuối cùng thì tôi cũng ra tù, con trai tôi được một tổ chức nhân đạo bên Thụy Sĩ mang ra khỏi trại giam trước đó vài năm, sự giải thoát chậm trể đã khiến nó tàn tật suốt đời, chính điều này đã làm tôi đau đớn ân hận mãi không nguôi. Phần anh sau chuyến vượt biển thành công, chiếc ghe mong manh tấp vô một đảo nào đó bên Indo chờ ngày qua Mỹ định cư, giống như định mệnh được báo trước, những ngày trong trại tỵ nạn, tạp chí VNHN tình cờ lọt vào tay anh và những đoạn nhật ký rời rạc trong đó khiến anh thảng thốt vì anh đã biết tác giả là ai, anh đã từng đọc nó bằng bản roneo nhòe mực, và anh đã đốt nó trước khi xuống tàu ra đi, anh chọn sự bỏ cuộc và cô học trò chọn sự ở lại để đối đầu với cả một chế độ. Tuổi trẻ của cô ta thật dũng cảm, anh đã không làm được điều đó. Có cái gì như ân hận ray rức khiến anh bồn chồn trong bụng. Vài năm sau, khi cuộc sống tạm ổn định anh gọi về Sài gòn gặp người bạn cũ để hỏi thăm tin tức về con nhỏ năm xưa, Thầy tôi cũng nghe loáng thoáng trong đám học trò “..hình như nó bị bắt và chết trong tù..” Anh thực sự đau buồn thương tiếc một người con gái trẻ sớm lìa đời… Những bầm dập trong tù đã không làm tôi gục ngã, tôi sống sót để trở về với bao tang thương mất mát không cách gì bù đắp nổi Ra trại, trở lại cuộc sống bình thường nhưng không yên ổn, cơm áo mưu sinh vất vả, thường xuyên đối mặt với những kỳ thị hoạnh họe của chính quyền địa phương, với cái lý lịch tăm tối tù tội trong quá khứ khiến tôi thật sự mệt mỏi. Trong một lần đi họp trường xưa bạn cũ, tôi đến chào Thầy, ông ngỡ ngàng nhận ra “con nhỏ học trò”thuở nào và buột miệng “ em còn sống hả Ánh? Em còn nhớ Thầy S không? nó cũng hay về thăm tôi, có lần nó hỏi thăm em, tôi nói em chết rồi , nó buồn xo..” Mấy chục năm qua rồi, gặp anh một lần như thoáng gió, có yêu thương hò hẹn gì đâu mà nhung nhớ, tôi lúc đó hừng hực lửa hai mươi, còn anh có vợ 4 con bộn bề trăm nỗi. Cái buồn xo nếu có chắc cũng chỉ là tội nghiệp đứa học trò lận đận mà thôi!. Trong mùa hè nào đó, tôi nhận được cú phone lạ “ Thầy S đây, con có nhớ thầy không?” Phản ứng rất tự nhiên tôi “dạ – không” gọn lỏn, bên kia đầu dây ngập ngừng một chút “ Ờ hôm nào Thầy trò mình gặp nhau nhe”. Cũng không có gì bất ngờ luống cuống, hai ông thầy lại đến thăm cô học trò đã già hơn xưa sau hai mươi mấy năm không liên lạc, lại có bữa cơm thân tình nhưng tươm tất hơn trước, lại những câu chuyện kể đứt khúc như cuốn phim buồn, thật tình tôi muốn quên đi quá khứ đau thương. Ra về anh ghi vội cho tôi email để Thầy trò liên lạc nhau, và tôi vẫn kính cẩn “Thưa Thầy” mặc dù tới bấy giờ Thầy vẫn chưa dạy tôi cách dùng email để viết ..thư tình. Thời đó có Computer trong nhà là một mơ ước của tôi, anh đâu biết mỗi lần trả lời email tôi phải chạy hàng mấy cây số mới tới chỗ dịch vụ Internet, loay hoay tự học mổ cò từng chữ.
Rồi thư qua thư lại, lúc đầu chỉ là những chia sẻ trong cuộc sống ở hai bờ đại dương xa lắc, anh còn đi dạy, lũ học trò tiểu học dễ thương, các con đã lớn có cuộc sống riêng, vợ anh ly dị đã lâu, anh ở một mình trong căn nhà rộng vắng vào ra cô đơn lặng lẽ, cơm nước tự nấu bữa sống bữa chín. Còn tôi làm công nhân trong một xưởng gỗ tư nhân, mỗi ngày đạp xe hì hục trên xa lộ nắng cháy mà không biết tai nạn chết chóc xảy ra lúc nào, không có bằng Đại Học thì chỉ làm công nhân suốt đời, tôi nghĩ vậy mà cố gắng ghi tên học lại, rồi mấy năm đèn sách vất vả cũng qua đi.Khi anh gặp tôi thì mọi việc có vẽ như ổn định, tôi tự đứng dậy được trên đôi chân của mình. Email qua lại cả hai năm trời, anh gọi phone cho tôi thường xuyên hơn, thân thiết hơn và không biết từ chữ “Thầy” chuyển qua chữ “Anh” lúc nào mà tự nhiên chúng tôi không còn thấy khoảng cách hàng mươi ngàn cây số giữa Mỹ và Sàigòn xa xôi mút chỉ nữa, những lá thư tình chất đầy ngăn kéo đã kết nối đôi bờ.
Mùa hè 2004 Anh quyết định bay về nói chuyện kết hôn, Má tôi im lặng một hồi mới nói “ Già rồi ở vậy cho rảnh” nhưng nói là nói vậy thôi, Má sợ tôi bước thêm bước nữa rồi khổ. Nhưng Má ơi, tử vi nói con hết cơn bỉ cực rồi Tôi chợt nhìn xuống chân”ông rể” tương lai của Má, ai đời buổi ra mắt nhà vợ đầu tiên mà anh mang vớ chiếc xanh chiếc xám bê bối thấy mà thương, mới biết anh chàng đã làm mềm lòng trái tim tưởng đã hóa thạch của tôi từ những điều nhỏ nhặt.
Vậy đó, tôi làm cô dâu ở tuổi 50, trong chiếc áo dài đơn sơ giản dị, bạn bè hai bên chừng vài bàn, buổi tiệc nhỏ đầy ấm cúng, ai cũng chúc mừng cho hạnh phúc muộn màng nhưng rạng rở của tôi, lối xóm bàn tán “cô ta hên ghê có chồng Việt kiều về cưới”. Anh nắm tay tôi ấm áp dỗ dành, tôi nghĩ mình thật hạnh phúc và bình yên khi có anh bên cạnh. Sau ngày cưới, thấy không thể nấn ná trong cái xã hội đầy rẫy sự bất an ngang ngược từng ngày này, anh quyết định mang tôi đi xa hơn về miền đất hứa… Ngày tôi lên máy bay rời Sài gòn cũng vào mùa hè, tháng 5 và những chùm phượng đỏ rưng rưng ướt đẫm trong cơn mưa đầu mùa, tôi biết mình đã mất Quê Hương từ cái ngày 30/4/1975 đáng nguyền rủa ấy, nhưng lần ra đi này mới thật sự thấy thấm nỗi chia ly, biết bao người đã bỏ nước ra đi và chết tức tưởi trên biển cả, còn tôi đã may mắn hơn triệu triệu người khi vượt biển trên chuyến bay American Airlines, để đến một nơi mà mình biết chắc là có Tự Do Hạnh Phúc thật sự chứ không phải thứ Tự do được rêu rao bịp bợm gian trá trong cái gọi là CNXH. Qua rồi những bão tố gian nan, những cay nghiệt khốn khổ trong cuộc sống tù đày của ba mươi năm trước, tôi khép lại quá khứ nhọc nhằn, lau khô những giọt nước mắt bi thãm để nắm tay anh đứng dậy. Cuộc sống vốn ngắn ngủi cho những ai bi quan, tôi nghĩ mình đang hướng về phía mặt trời. Như cuốn tiểu thuyết có hậu ở trang cuối, tôi cám ơn anh đã viết Tình Yêu bằng chữ hoa trân trọng cho những năm tháng còn lại của chúng tôi. Hạnh Phúc thật sự chỉ có trong trái tim rộng lượng, chân tình.
Cám ơn anh, cám ơn nước Mỹ đã dung chứa thêm một người tị nạn khốn khổ như tôi. Chào một ngày mới bắt đầu trên quê hương mà bao người mơ ước được đặt chân tới. “America Dream” Ngọc Ánh (Tháng 8/2018)
Khi Việt Nam Và Tàu “Một Tổ Quốc, Một Văn Hóa” – Nguyễn Thị Cỏ May
Trong gần đây, nhiều người nói tới năm 2020, Việt Nam sẽ lệ thuộc Tàu (1) vì sẽ trở thành “một vùng tự trị” hay “một tỉnh lẻ” của Tàu. Khi nói về ngày mai này, người ta nhắc lại “Hội nghị Thành Đô” tuy văn bản qui định việc này, không biết có ai thấy không?. Nhưng nói về “ảnh hưởng đậm” hay “lệ thuộc” Tàu thì trong nhiều sách vở và báo chí của chế độ, không thiếu những lời như “Việt Nam và Trung quốc sông liền sông, núi liền núi” hoặc “môi hở răng lạnh” và, nhất là “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”, hay lời của Trường Chinh kêu gọi người Việt Nam hảy bỏ chữ quốc ngữ vì chữ này là của thực dân đem tới, không phải chữ của ta, hãy trở về học chữ Hán (2), còn trong sách vở xưa, thì “Việt Nam và Trung Quốc đồng văn, đồng chủng”. Thực tế sẽ ra sao, chúng ta hãy chờ trả lời. Chỉ còn 2 năm nữa mà thôi.
Ngày nay, có điều chắc chắn, rõ ràng, ai cũng có thể ghi nhận không cần bàn cãi là hướng đi của Việt Nam do đảng cộng sản lèo lái vẫn lấy Tàu làm khuôn vàng thước ngọc. Việt Nam phải giống Tàu, phải bám theo sát Tàu. Tập Cận Bình là chuẩn mực. Qua 2 lần tuyên bố của Nguyễn Phú Trọng, vào tháng 1-2018, trước Quốc Hội và đông đảo các nhà báo: “những đảng viên đòi đa nguyên đa đảng, từ bỏ xã hội chủ nghĩa, đòi thực hiện Tam quyền phân lập là bị tác động bởi bọn phản động, phải bị khai trừ ra khỏi đảng”, và tiếp theo, trong tháng 7, nặng lời hơn: “Những kẻ đòi đa nguyên đa đảng, từ bỏ CNXH, đòi Tam quyền phân lập, đều là bọn bất hảo” (chớ không phải kẻ có lý luận như Trọng), ai cũng nhận thấy đường lối lệ thuộc Tàu của Trọng thể hiện rất rõ: “Việt Nam với Tàu là một. Một chế độ, một văn hóa”.
Giờ đây, chúng ta thử hình dung cái “một” đó là gì, như thế nào, qua chính sách của Tập Cận Bình?
Không thể dân chủ hóa chế độ
Theo Giáo sư Jean-Pierre Cabestan, chuyên viên về Tàu, nhận xét mang tính kết luận “Ở Tàu, cá nhân làm giàu và tiêu thụ là ưu tiên, trước sự cần nới rộng tự do và những quyền chính trị”.
Trong quyển sách mới xuất bản (Demain la Chine: Démocratie ou Dictature?, Gallimard, Paris, 3/2018), ông Cabestan cho rằng khả năng của dân chúng Tàu thích nghi và sự đồng thuận trong nội bộ đảng cộng sản để duy trì quyền lực là sẽ không cần phải thay đổi chế độ hiện tại. Mặc dầu như vậy là không phù hợp v ới xu thế thời đại, xung đột mạnh với nền dân chủ Tây phương. Nhiều học giả Tàu cũng lo ngại nghĩ rằng chính trị và xã hội được tự do để lần lần sẽ dân chủ hóa chế độ là điều khó tránh làm cho đất nước bị xáo trộn, mất ổn định.
Sau Đại hội đảng cộng sản Tàu thứ XIX đưa Tập Cận Bình lên làm Hoàng đế Tàu suốt đời, phân tách những khả năng thích nghi và đổi mới của một chế độ, ông Cabestan quả quyết Tàu “không thể dân chủ hóa” được. Chẳng những “dân chủ hóa không thể được”, mà ông còn cho đó, đúng hơn, là một “chế độ độc tài”.
Nói đó là một chế độ độc tài vì quyền lực thật sự được thể hiện ở con người Tập Cận Bình, đứng đầu một đảng duy nhất cai trị nước Tàu theo một mô hình đổi mới độc đoán.
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, nhiều nước cộng sản đã lần lược thay đổi theo dân chủ. Nhưng Tàu là trường hợp khá đặc biệt. Ngoại lệ chăng? Liệu Tàu sẽ đứng vững được bao lâu khi Tàu hoàn toàn không nghĩ tới từng bước tiến lên theo hướng dân chủ trong lúc thế giới tranh chấp nhau với những ý hệ ngày càng công khai?
Tập Cận Bình chủ trương mở cửa ra thế giới, tiếp xúc với những nước dân chủ nhưng vẫn chống lại những nước này, tìm cách áp đặt tương quan lực lượng có lợi cho mình. Tập tìm cách xuất cảng mô hình Tàu ra thế giới, nhất là nhắm những nước kém mở mang. Không phải chỉ để bảo vệ chế độ hay củng cố tính chính thống của chế độ, mà đó chính là tham vọng bá chủ thế giới của Tập Cận Bình.
Khi nói dân chủ, người Tàu cũng nói họ có dân chủ. Chế độ ở Tàu của họ là chế độ dân chủ. Thứ dân chủ tốt hơn dân chủ tư bản cả vạn lần. Nhưng thứ gọi là dân chủ ở Tàu đó lại từ chối nhân quyền, từ chối những quyền căn bản như quyền bầu cử tự do, quyền lập đảng, tự do thông tin, tự do phát biểu, công khai ngân sách của đảng cộng sản…
Đừng quên mô hình độc tài của Liên Sô. Chế độ Tàu là một copie lénino-staliniste: 1 đảng duy nhất lãnh đạo toàn diện và triệt để, chọn đảng viên “uu tú” (cốt cán) cầm quyền, đàn áp mọi chống đối, nhất là không tha những người có ý muốn thay đổi chế độ theo dân chủ tự do thật sự.
Kinh tế phát triển, Tàu sẽ thay đổi theo dân chủ?
Tuy ngày nay, chế độ độc tài ở Tàu không còn như trước khi bức tường Bá Linh sụp đổ nhưng đó vẫn là một chế độ cực kỳ phản động. Thật ra chế độ cộng sản là phản động. Nhiều nhà phân tích cho rằng tham nhũng và khủng hoảng kinh tế như tăng trưởng xuống, công nợ tăng, thất nghiệp đông, sẽ làm cho chế độ sụp đổ. Thật ra khả năng thích nghi của dân chúng sẽ giúp chế độ tồn tại – nhất là giới dân chúng biết dựa vào chế độ làm giàu vẫn là lực lượng bảo vệ chế độ vững mạnh. Đồng thời Tập quan tâm thực hiện những thay đổi kinh tế nhưng vẫn lo sợ những nhà đầu tư tư nhân sẽ gây ra nhiều rủi ro cho chế độ nên Tập càng kiểm soát đảng chặc chẽ hơn.
Ngày nay, Tập biết mình có nhiều kẻ thù nên Tập phải tìm cách nắm trọn quyền lãnh đạo trong tay suốt đời. Buông đảng ra là chết. Chỉ yên tâm khi nào Tập loại được hết kẻ thù, đào tạo một thế hệ nối tiếp biết trung thành với Tập. Nhưng liệu toan tính này có vượt quá tầm tay một cá nhân hay không?
Tóm lại, nhìn vào thực tế ở Tàu, người ta thấy rõ đó là chế độ độc tài nhưng sẽ bền vững nhờ ở khả năng biết thích ứng của đảng CS, kiểm soát được xã hội, và dân chúng thấy yên lòng, sống được, còn có lắm kẻ làm giàu. Điều này trước đây, mơ cũng không có. Và hơn hết, dân Tàu không biết dân chủ, văn hóa Tàu không có dân chủ. Người Tàu chỉ biết mong đợi ở một minh quân nên ở Tàu không có sự đòi hỏi dân chủ, tự do quan trọng trong dân chúng.
Tàu và Việt Nam là “một”, do đó chế độ ở Việt Nam chỉ sẽ thay đổi chỉ khi nào dân chúng Việt Nam hiểu dân chủ, cần đòi hỏi dân chủ, để tự mình cai trị chính mình, tự mình giữ gìn và bảo vệ đất nước nguyên vẹn cho mình.
Về văn hóa, tuy ngày xưa, học chữ Nho, học văn hóa Tàu nhưng cái học đã được Việt hóa rất căn bản nên giữa 2 nền văn hóa vẫn có nhiều khác biệt.
Một Văn hóa
Những người học chữ Nho thời xưa theo lối nhồi sọ của Tống Nho, không kịp suy nghĩ, đều nằm lòng Việt Nam và Tàu “đồng văn, đồng chủng”. Trân trọng chữ Tàu vì đó là chữ của thánh hiền. Thấy một miếng giấy chữ Tàu lăn lốc trên mặt đất vội lượm lên đem đốt. Không dám bỏ bậy.
Ngày nay, dưới sự cai trị của đảng CSVN, chữ Tàu, tiếng Tàu bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam rộng rãi với một ưu thế mới. Học tiếng Tàu như một ngoại ngữ là bình thường, không mang ý nghĩa lệ thuộc văn hóa. Nhưng nếu người Việt Nam tiếp thu văn hóa Tàu theo tinh thần Tống Nho thì sự lệ thuộc này mới kinh khủng hơn mất đất do dời cột mốc biên giới, mất đảo, mất biển… Mất văn hóa là mất chính người Việt Nam!
Thật ra văn hóa Tàu có mặt đẹp của nó nên nó mới tồn tại tới ngày nay. Nhưng về chính trị, Tàu có những tấm gương tuân phục vua/tôi vô cùng rùng rợn. Khi lệ thuộc văn hóa thì dĩ nhiên Việt Nam sẽ phải được học thứ văn hóa chính trị này để thể hiện ý nghĩa “một văn hóa” theo chính sách xâm lược cố hũu của Tàu.
Đây, Cỏ May tôi xin kể một câu chuyện lịch sử tàu để minh họa thứ văn hóa chính trị ghê rợn của Tàu.
Chuyện kể:
“Vua Tề hoàn Công nhờ có Quản Trọng, Bảo thúc Nha và nhiều trung thần hào kiệt giúp sức nên đã dựng lên cơ nghiệp bá vương, xứ sở cường thịnh, dân chúng ấm no. Quản Trọng được mọi người kính trọng và biết ơn, Tề Hoàn Công đã coi ông như một người cha và luôn gọi ông là Trọng Phụ, và không cho phép mọi người gọi tên huý hoặc tên thật của Quản Trọng. Cùng làm việc trong cung đình, còn có nịnh thần như Thụ Điêu, Dịch Nha và Khai Phương.
Thụ Điêu thì tự thiến mình để xin vào cung hầu hạ, vì thế vua rất cảm động và thương yêu cách đặc biệt.
Dịch Nha có tài nấu ăn và là người nấu ăn riêng của vua. Một hôm vua nói, các món sơn hào hải vị và trân châu bát bửu ta đều đã dùng qua, có món đã làm ta thật chán. Chỉ duy có món thịt người là ta chưa được nếm thử bao giờ.
Ngay ngày hôm sau, Dịch Nha liền dâng lên vua một món thịt chế biến rất hấp dẫn. Ăn xong, nhà vua hết lời khen ngon và hỏi thịt gì. Dịch Nha nói, đó là thịt đứa con 3 tuổi của hạ thần”.
Thứ văn hóa chính trị tuân phục vì quyền lợi riêng tư này thật kinh khủng. Ngày xưa, để làm vui lòng nhà vua muu cầu quyền lợi cho mình, Dịch Nha đã không ngần ngại làm thịt con dâng cho nhà vua đổi món ăn. Điều này, về ý nghĩa chính trị, không khác gì lắm khi trước đây Hồ Chí Minh đã long trọng “sông liền sông, núi liền núi” và “môi hở răng lạnh”, trước sau chỉ nhằm thực hiện tham vọng lãnh tụ, phục hận quá khứ gia đình. Tới Lê Duẩn xua mười triệu thanh niên Việt Nam vào lửa đạn (3) cũng chỉ để “phục vụ Liên Sô và Trung Quốc”. Ngày nay, Nguyễn Phú Trọng và đảng cộng sản sẵn sàng đem đất nước dâng cho vua tàu Tập Cận Bình để đổi lấy sự giàu có.
Bắt đầu từng bước thực hiện thứ văn hóa chính trị tuân phục, Trọng đã mở rộng cửa cho Tàu tràn ngập qua Việt Nam, cho thiết lập khắp nơi nhà máy Tàu xả thải phá hủy môi trường đất nước, bán những vùng đất quan trọng về chiến lược cho Tàu cộng khai thác đời đời.
So sánh với giết con, tự thiến của thời xưa để được làm quan thì tội ác của Hồ Chí Minh, của Lê Duẩn, của Nguyễn Phú Trọng sau này mới thật là tày trời hơn cả vạn lần. Đặc tính của thứ văn hóa chính trị Tàu xưa nay là ác. Nhìn lại chế độ Mao để đừng quên có 80 triệu người Tàu chết, từ Vạn Lý Trường Chinh, những bước Đại Nhảy Vọt đến Cách Mạng Văn Hóa. Vậy khi Việt Nam lệ thuộc Tàu cộng, cái ác đó sẽ đem áp dụng ở Việt Nam, đời sống dân chúng sẽ lầm than đến đâu? Như dân Tây Tạng, dân Ngô Duy Nhỉ?
* Ghi chú:
(1) Khi nói Việt Nam sẽ bị lệ thuộc Tàu, rất nhiều tác giả Việt Nam dẫn chứng “lời ” của Hồ Chí Minh nói với Đại diện của Mao Trạch Đông là 2 tướng Trần Canh và Vị Quốc Thanh năm 1926 và bốn năm sau, năm 1930, nhân lúc thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam, đươc Hồ Chí Minh lập lại một lần nữa với Tổng Lý Chu Ân Lai: “Việt Nam và Trung Quốc tuy hai mà một. Một dân tộc. Một Nền văn hóa. Một phong tục. Một tổ quốc. Nếu giúp chúng tôi thắng Pháp, thắng Nhật, thắng tất cả bọn tư bản vùng Đông Nam Á, nắm được chính quyền, thì nợ viện trợ sẽ hoàn trả dưới mọi hình thức, kể cả cắt đất, cắt đảo, lùi biên giới nhượng lại cho Trung Quốc, chúng tôi cũng làm, để đền ơn đáp nghĩa.”.
Rất tiếc xuất xứ của lời này không được rõ ràng lắm. Hơn nữa, năm 1926, chỉ có chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam.
(2) Trường Chinh, Tổng Bí thư đảng Lao Động, Văn thư số 284/LĐ đang trên Nhật báo Tiếng Dội, 5/1951, Sài gòn.
(3) Duẩn vâng lệnh Mao làm chiến tranh biển người. Lý thuyết chiến tranh biển người của Mao là “Càng nhiều người bị giết, cách mạng càng thành công” (D.Acemoglu và J.A.Robinson, “Tại sao các quốc gia thất bại”, NXB Trẻ, 2013, trang 545).
Về mười triệu người chết trong chiến tranh do Lê Duẩn được bà Bảy Vân xác nhận trong cuộc phỏng vấn của nhà báo Xuân Hồng (BBC). Bà Bảy Vân nói thêm nếu Tàu không giúp, Lê Duân sẽ phải hy sinh người dân thêm nữa, để giải phóng cho được Miền nam.
Lòng dân là yếu tố quyết định tính bền lâu của một thể chế. Xã hội đang chuyển hướng từ tin tưởng ĐCS sang tin tưởng lực lượng dân chủ, đó là điều không thể phủ nhận. Điều đó cho thấy sự kết thúc một triều đại sẽ tới, không sớm hay muộn. Triều đại mà được đặt nền tảng trên sự ngu muội của dân tộc thì triều đại đó phải đổ. Bởi vì sự ngu muội không thể ở mãi với dân tộc được, dân phải vứt nó vào lúc nào đó.
CS có thấy được điều này không? Họ thấy và đang điên cuồng chống lại sự chuyển hướng đó. Nhưng khổ nỗi, tầm của họ không tới và giờ họ đang bế tắc trong vấn đề lôi kéo lòng tin nhân dân về phía mình. Dùng công an đe doạ làm dân sợ không được phép nói sự thật chỉ là giải pháp tình thế để ngăn chặn sự chuyển biến tư tưởng thành bùng phát sức mạnh mà thôi. Bức tường sợ hãi là một bức tường không bền vững, rồi cũng tới lúc dân xô đổ nó và kết liễu độc tài CS, chắc chắn là vậy.
Bản chất của sự chuyển biến trong dân là sự khai thông nhận thức. Khi con người đã hiểu biết, nếu kéo họ lại con đường ngu muội bằng tuyên truyền giả dối là điều không thể. Anh nông dân thất học khi đã được học hành thành trí thức thực thụ thì không ai có thể biến anh ta thành kẻ ngu dốt như trước đó được nữa. Tương tự vậy, khi dân đã biết sự thật, biết suy xét đúng sai thì ĐCS dùng tuyên truyền dối trá để kéo họ về với ngu muội là không thể. Nếu Hồ Chí Minh mà chết trong thời này thì dân cũng ăn mừng chứ chẳng riêng gì cái chết của Trần Đại Quang. Thời 1969 dân miền Bắc ngu muội, nhưng nay không phải thế. Đấy là điều tất yếu, ĐCS nên thẳng thắn nhìn nhận. Nhưng khổ nỗi, Ban Tuyên Giáo ĐCS chỉ toàn là những bộ óc ngu muội nên không thấy được xu hướng tất yếu này mà kiên trì nhồi sọ bằng giả dối nên đã thất bại và nhờ đến công an và nhà tù để hỗ trợ.
Thế thì ĐCS phải làm gì là thích hợp trong trường hợp này? Chỉ có thể lượn theo nó mà tồn tại. Nghĩa là ĐCS sẽ phải thay đổi mình cho cuộc chơi chung toàn cầu và cuộc chơi chung bình đẳng trong nước. Hãy làm như Liên Xô thì đó là con đường vẹn toàn cho ĐCS và nó cũng đảm bảo quyền lợi cho cựu đảng viên ĐCS. Như ta biết, Boris Yelsin hay Vladimir Putin đều là cựu quang chức CS. Nếu cố chấp đi ngược dòng lịch sử thì cái kết sẽ là Nicolae Ceaucescu của Romani mà thôi. Cái hậu thế nào đó là do CS lựa chọn hôm nay.
Nếu Trung cộng bị suy tàn, tan rã do thất bại trên chiến trường thương mại thì công lớn nhất chính là giám đốc của Hội đồng Thương mại Quốc gia Nhà trắng – giáo sư kinh tế và chính sách ông Peter Navaro, tác giả của cuốn sách “Death by China: Confronting the Dragon – A Global Call to Action” tạm dịch là “Chết bởi Trung cộng – Ðương đầu với con Rồng – Lời kêu gọi Hành Ðộng Toàn Cầu”. Cuốn sách này có sự đóng góp của Greg Autry,
Điều đặc biệt hơn chính là “nghệ thuật dùng người” của Donald Trump, sau khi thắng cử, ngày 21/12/2016 ông Trump đã bổ nhiệm ông Navaro, một đảng viên của Đảng Dân chủ vào vị trí làm giám đốc của Hội đồng Thương mại Quốc gia Nhà trắng, một vị trí mới được tạo ra trong ngành hành pháp của chính phủ liên bang Hoa Kỳ để “cố vấn” cho Trump phá thế “chết bởi Trung cộng”. Xin điểm lại các nội dung chính trong cuốn sách Chết bởi Trung cộng – Ðương đầu với con Rồng – Lời kêu gọi Hành Ðộng Toàn Cầu” như sau:
Trung cộng đang tấn công trên mọi mặt trận bằng mọi thứ vũ khí sẵn có, từ chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch và thao túng tiền tệ đến tình báo và tấn công tin tặc. Khắp nơi trên thế giới, Trung cộng cũng đang làm bất cứ mọi giá để chiếm đoạt nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng, thậm chí điều đó có nghĩa khuyến khích các chế độ nguy hiểm nhất thế giới truyền bá vũ khí hạt nhân.
Ngay trong lòng nước Mỹ, người Mỹ bị hàng nhập cảng độc hại của “chú Rồng” giết chết hay gây tổn thương. Những loại hàng nhập cảng này là thực phẩm có chất độc, đồ chơi nhiễm độc, thuốc có độc.
Các công ty khổng lồ của Mỹ đã và đang hợp tác với các công ty quốc doanh Trung cộng để hủy diệt ngành sản xuất Mỹ và cuối cùng thì thật mỉa mai là chính họ đang hủy diệt họ.
Hình thức “chủ nghĩa tư bản ươn ngạnh” của Trung cộng kết hợp với vũ khí bảo hộ mậu dịch và vũ khí mậu dịch trái luật để đẩy lùi từng việc làm một của các ngành công nghiệp Mỹ. Sự phát triển quân sự táo bạo của Trung cộng đang chạy đua về hướng đối đầu với Mỹ. Trong khi đó, giới hành chính, chính trị và thậm chí giới khoa bảng của Mỹ vẫn yên lặng về mối đe dọa đang tới gần.
Hàng ngàn nhà bất đồng chính kiến mạng thông tin của Trung cộng đang bị giam cầm trong các trại “Google Gulags”. (Gulags là tên gọi tắt của Tổng cục Lao động cải tạo Liên Xô thời độc tài khát máu Stalin).
Tin tặc Trung cộng đang gia tăng các hoạt động tấn công tin tặc vào nền quốc phòng Mỹ và các công ty chủ chốt của Mỹ.
Tiền bị giảm giá của Trung cộng đang gây thiệt hại cho Mỹ, châu Âu và sự phục hồi kinh tế toàn cầu.
Vạch mặt giới truyền thông Mỹ trong đó có những siêu sao như Tom Friedman và Nicholas Kristof của tờ New York Times, James Fallows của The Atlantic Monthly, và Fareed Zakaria của Newsweek đã bóp méo câu chuyện về Trung cộng.
Trước hiểm họa “Chết bởi Trung cộng” mà ông Navaro và Greg Autry đã phát hành vào ngày 15/5/2011, tức vào thời điểm “giữa nhiệm kỳ đầu” của tổng thống Obama, tuy nhiên những lời “cảnh báo” của cuốn “Death by China” vẫn không được chính quyền Obama quan tâm mặc dù tác giả của nó là ông Navaro, một đảng viên của Đảng Dân chủ.
Chỉ đến khi ông Trump lên làm tổng thống Mỹ thì Navaro cùng với học thuyết “Chết bởi Trung cộng – Ðương đầu với con Rồng – Lời kêu gọi Hành Ðộng Toàn Cầu” mới được Trump trọng dụng, thực thi. Không chỉ riêng ông Trump, riêng nước Mỹ mới cảm nhận những gì mà ông Navaro đã tiên liệu mà cả thế giới giờ đây cũng đã “sáng mắt – sáng lòng” khi chứng kiến các “đối tác – bạn vàng” của Trung cộng rơi sâu vào suy thoái kinh tế, chảy máu tài nguyên,… và trên hết là sự xâm lược mềm thông qua việc truyền bá văn hóa Đại Hán.
Thật phúc cho nhân loại khi nước Mỹ đã lựa chọn ông Trump làm tổng thống và ông Trump đã biết trọng dụng Peter Navaro làm “mưu thần” dù hai ông không cùng một đảng. Khi sách lược của Navaro được Trump thực thi hiệu quả, nó sẽ tạo ra hiệu ứng domino trên toàn cầu, các nước đã và đang giao dịch kinh tế – quân sự với Trung cộng sẽ xa lánh, ghẻ lạnh với Trung cộng, điều này sẽ giúp cho Mỹ nhanh chóng “giết chết chú Rồng” quái vật, đốt cháy đại công xưởng “Made in China 2025”, xóa sổ ảo vọng “Nhất đái nhất lộ” của tặc tử Tập Cận Bình.
Xin gửi lời cảm ơn đến Peter Navaro và Donald Trump, những chiến binh nước Trời đã vung kiếm chém bay đầu con “Rồng quái vật” Trung cộng.