Nhìn mà rụng rời tay chân.

Nhìn mà rụng rời tay chân.

Hình ảnh rừng người chờ từ 2- 3 giờ sáng để được visa xuất khẩu lao động.
Xã hội Việt Nam đang tiến lên thiên đường CNXH với sự bất công, phân cấp rõ rệt giữa giàu và nghèo.

Xưa, người ta lấy của cải người giàu chia cho thằng nghèo. Đánh tư sản hết đường sống, phải chạy ra biển tìm đường cứu thân. 
Nay, lại lấy của người nghèo nuôi thằng giàu dưới nhiều hình thức, khiến nghèo phải tìm đường nuôi thân.

Thời đại rực rỡ mà trai thanh nữ tú ai cũng đều ước ao ra nước ngoài.
Lớp nghèo thì kiếm việc, làm cu li xứ người.
Lớp giàu thì biểu hiện sang chảnh, xuất ngoại mua sắm vì tiền để làm gì.
Lớp trung thì đi tìm tương lai, không muốn trở về nước.

Trước 1975, đất nước có bao giờ thế này. Sau khi giải phóng mọi sự thay đổi, đạo đức suy đồi, học đường cùng xã hội xuống dốc trầm trọng. Thực phẩm độc hại, môi trường ô nhiễm. Chưa kể bệnh nhân vào bệnh viện nằm chung giường, xếp lớp dưới đất chỉ có Việt Nam.

Nếu là một quốc gia phát triển thì không nên sống ảo, vì bề nổi của tảng băng sẽ bị tan chảy khi đến một giới hạn không cho phép.
Dù cố che đậy hình thức bề ngoài, Việt Nam vẫn bị xếp hạng 128 trong danh sách nước nghèo thế giới vào 2019.

Trẻ thời nay bị ru ngủ nhiều trò vui chơi giải trí, ma túy ngập tràn. Con ông cháu cha lắm tiền hầu hết đã có cái vé ấm thân thẻ xanh hay quốc tịch nước ngoài. Chúng xuất ngoại hưởng thụ hàng hiệu, xe xịn trong khi dân khổ chịu trận. 
Trẻ nghèo vất vả, chấp nhận xuất khẩu sức lao động để mưu sinh, và chấp nhận rủi ro cuộc đời thật là thương.

Vậy mà cứ khẩu hiệu hoa mỹ, hãy sống thực tế.

Thiện nguyện viên Nguyễn Văn Diệu Linh bị mật vụ CS đánh đập tàn nhẫn

Tối ngày 21 tháng 4, anh Linh bị một nhóm người bịt mặt tấn công khi anh trên đường trở về nhà. Anh bị nhiều vết bầm tím khắp người và dập mu bàn tay phải. Anh Linh kể rằng trước khi bỏ đi, những kẻ tấn công hăm doạ sẽ mạnh tay hơn nếu anh còn tham dự các chương trình từ thiện, mà cụ thể là các chương trình hỗ trợ thương phế binh Việt Nam Cộng hoà do Dòng Chúa Cứu thế Kỳ Đồng tổ chức.

Người Việt Nam có thực sự hiếu học?

Image may contain: 1 person, standing and hat
Kimtrong Lam to Lương Văn Can 75.

Người Việt Nam có thực sự hiếu học?

Huỳnh Chí Viễn •Thứ Tư, 24/04/2019 •

Chưa bao giờ thầy cô hoặc người lớn chịu khó giải thích một cách rõ ràng cho các em học sinh hiểu rằng thế nào là hiếu học và cũng chưa ai dám đặt câu hỏi “Nếu dân tộc Việt Nam hiếu học như thế tại sao nước Việt Nam ta mãi luôn nghèo nàn và lạc hậu?”

Khi còn đi học, chúng ta thường dạy rằng dân tộc Việt Nam ta có truyền thống “hiếu học” bên cạnh hàng loạt các đức tính khác như yêu nước nồng nàn, cần cù siêng năng, yêu hòa bình… để rồi lớn lên với niềm tự hào về những đức tính được dạy học thuộc lòng đó. Nhưng điều đáng nói là chưa bao giờ thầy cô hoặc người lớn chịu khó giải thích một cách rõ ràng cho các em học sinh hiểu rằng thế nào là hiếu học và cũng chưa ai dám đặt câu hỏi “Nếu dân tộc Việt Nam hiếu học như thế tại sao nước Việt Nam ta mãi luôn nghèo nàn và lạc hậu?”

Từ trước đến nay, truyền thống hiếu học của chúng ta được xây dựng dựa trên một mô-típ khá kinh điển, những người học trò nghèo không có tiền đi học nhưng vẫn cố gắng học giỏi để đỗ trạng nguyên. Những mẩu truyện mang tính chất truyền kỳ kiểu “bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng để học bài” được kể đi kể lại qua bao nhiêu thế hệ mà không hề nhận được bất cứ một lời phản biện về sự phi lý của nó. Hoang đường không kém là chuyện học ngoại ngữ bằng cách lấy cuốn tự điển ra mỗi ngày học mười từ cứ thế mà giỏi được bao nhiêu thứ tiếng. Dù cứ nhắm mắt tin những chuyện như vậy là thật đi nữa thì chúng cũng chỉ nói lên được sự vượt khó học giỏi và năng lực phi thường của một vài cá nhân mà thôi, không thể từ đó mà suy ra rằng cả dân tộc đều hiếu học.

Có bao giờ chúng ta đặt câu hỏi rằng tại sao một dân tộc hiếu học như Việt Nam lại không có một triết gia, một nhà tư tưởng hay một nhà khoa học nào trong suốt chiều dài lịch sử mấy ngàn năm và cũng không hề có một hệ tư tưởng riêng hay một phát minh khoa học nào đáng kể cống hiến cho nhân loại? Một dân tộc hiếu học tại sao lại không có một công trình kiến trúc hay một tác phẩm văn học, nghệ thuật, hội họa, âm nhạc nào mang tầm vóc thế giới? Một dân tộc hiếu học ham học sao lại có thể có những câu ca dao kiểu: “Tháng giêng là tháng ăn chơi/ Tháng hai cờ bạc, tháng ba rượu chè”?

Một dân tộc hiếu học thì sao lại có thể đến đầu thế kỷ thứ 20 vẫn khư khư ôm giữ cái lối thi cử truyền thống quanh quẩn với Tứ Thư Ngũ Kinh mà bài xích khoa học, triết học phương Tây và kỳ thị những người Tây học trong khi Nhật Bản trước đó rất nhiều năm đã mở toang cánh cửa cho những tư tưởng tiến bộ tràn vào. Hiếu học thì sao các ông nghè ông cống ngày xưa ngoài việc nhai lại những “chi, hồ, dã, giả” trong sách Thánh Hiền để chờ ngày vác lều chõng đi thi vì ít bổng lộc và chức tước để làm rỡ ràng dòng họ và ấm thân chưa ai dám thoát ly ra bên ngoài để nhìn thế giới rộng lớn như thế nào? Ngoài việc uống rượu uống trà, ngâm vịnh “phong, hoa, tuyết, nguyệt”, tìm câu trích chữ để bắt bẻ nhau qua từng câu đối để tự cho mình là tài giỏi thanh cao thì có mấy nhà khoa bảng khi xưa tự vấn bản thân rằng cái học của mình nó vô dụng và lạc hậu lắm rồi.

Trong khi phương Tây thế kỷ thứ 18, các nhà tư tưởng lớn như Voltaire, Montesquieu hay John Locke đã bàn tới “tam quyền phân lập” và “khế ước xã hội”, những nhà khoa học như Faraday hay Newton đã nghiên cứu điện từ trường và lực hút trái đất thì ở Việt Nam, các nhà Nho đầu thế kỷ thứ hai mươi vẫn ôm lấy bút nghiên và đèn dầu để dạy lũ học trò “tấc đất ngọn rau ơn chúa” và “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”. Một dân tộc hiếu học thực sự chắc chắn sẽ không thể nào chấp nhận việc nhai lại và tôn sùng những cuốn sách được viết cách đó mấy nghìn năm mà không hề mảy may có một chút thắc mắc phản biện cũng như không quan tâm đến sự thay đổi của thế giới ở ngoài.

Cách đây hơn 100 năm, chí sĩ Phan Chu Trinh đã viết về “mười điều bi ai của dân tộc” như sau:

1. Trong khi người nước ngoài có chí cao, dám chết vì việc nghĩa, vì lợi dân ích nước; thì người nước mình tham sống sợ chết, chịu kiếp sống nhục nhã đoạ đày.

2. Trong khi người ta dẫu sang hay hèn, nam hay nữ ai cũng lo học lấy một nghề; thì người mình chỉ biết ngồi không ăn bám.

3. Trong khi họ có óc phiêu lưu mạo hiểm, dám đi khắp thế giới mở mang trí óc; thì ta suốt đời chỉ loanh quanh xó bếp, hú hí với vợ con.

4. Trong khi họ có tinh thần đùm bọc, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau; thì ta lại chỉ quen thói giành giật, lừa đảo nhau vì chữ lợi.

5. Trong khi họ biết bỏ vốn lớn, giữ vững chữ tín trong kinh doanh làm cho tiền bạc lưu thông, đất nước ngày càng giàu có; thì ta quen thói bất nhân bất tín, cho vay cắt cổ, ăn quỵt vỗ nợ, để tiền bạc đất đai trở thành vô dụng.

6. Trong khi họ biết tiết kiệm tang lễ, cư xử hợp nghĩa với người chết; thì ta lo làm ma chay cho lớn, đến nỗi nhiều gia đình bán hết ruộng hết trâu.

7. Trong khi họ ra sức cải tiến phát minh, máy móc ngày càng tinh xảo; thì ta đầu óc thủ cựu, ếch ngồi đáy giếng, không có gan đua chen thực nghiệp.

8. Trong khi họ giỏi tổ chức công việc, sắp xếp giờ nghỉ giờ làm hợp lý, thì ta chỉ biết chơi bời, rượu chè cờ bạc, bỏ bê công việc.

9. Trong khi họ biết gắng gỏi tự lực tự cường, tin ở bản thân; thì ta chỉ mê tín nơi mồ mả, tướng số, việc gì cũng cầu trời khấn Phật.

10. Trong khi họ làm việc quan cốt ích nước lợi dân, đúng là “đầy tớ” của dân, được dân tín nhiệm; thì ta lo xoay xở chức quan để no ấm gia đình, vênh vang hoang phí, vơ vét áp bức dân chúng.

Đọc xong mười điều này, có ai còn dám tự hào vỗ ngực nói đây là tính cách của một dân tộc luôn tự cho mình là “hiếu học”?

Có thể cho rằng các vị khoa bảng ngày xưa ở nước ta siêng học, chăm học nhưng không thể cho rằng họ “hiếu học” vì một người hiếu học thực sự học vì niềm say mê kiến thức thực sự và sự khao khát tìm tòi cái hay cái mới chứ không phải học ngày học đêm những kiến thức cũ rich vì công danh và quyền chức. Cái học của các cụ cử ngày xưa chính là nô lệ cho sự học chứ không phải học để giải phóng bản thân. Không phải vô duyên vô cớ mà cụ Phan Chu Trinh lại đặt “khai dân trí” là một trong ba mục tiêu quan trong không kém “chấn dân khí và hậu dân sinh”. Cụ nhắn nhủ: “Đồng bào ta, người nước ta, ai mà ham mến tự do, tôi xin có một vật quý báu xin tặng cho đồng bào là “chi bằng học”. Nếu dân tộc ta thực sự “hiếu học” và biết cách học đúng hướng, cụ Phan chắc không phải tâm tư những điều như thế này.

*

Ngày nay thì sao? Sau hơn một trăm năm vật đổi sao dời, lối thi cử khoa bảng Nho học tuy đã không còn và chữ Hán cũng đã được thay bằng chữ quốc ngữ. Các trường đại học mọc lên như nấm sau mưa, cử nhân, thạc sĩ lên đến con số triệu, còn tiến sĩ cũng phải mấy vạn người. Nhưng đừng tưởng như vậy thì chúng ta đã có thể gọi là có những tiến bộ vượt bậc trong giáo dục để xứng đáng với hai từ “hiếu học”. Trái lại, chúng ta vẫn chăm chỉ học với tư duy “học để làm nô lệ” chứ không phải học để làm chủ và tự hào với sự chăm học đó.

1. Cha mẹ không tiếc tiền của và công sức chạy trường cho con và bắt con đi học thêm từ sáng tới tối để dạt được danh hiệu học sinh giỏi nhưng hiếm có ai chịu học cùng con và dạy con học.

2. Chương trình giáo dục từ phổ thông tới đại học nặng về lý thuyết nhưng lạc hậu và thiếu thực tế. Học sinh được dạy theo kiểu nhồi vịt học thuộc lòng chứ không được khuyến khích tìm tòi khám phá và phản biện.

3. Trình độ và nhân cách giáo viên ngày càng tệ hại, hậu quả tất yếu của việc lấy điểm đầu vào quá thấp của ngành sư phạm. Chưa bao giờ tình trạng giáo viên trù dập, bạo hành và xâm phạm học sinh nhiều như hiện nay.

4. Học sinh sinh viên ngày nay học vì điểm chứ không học vì tri thức. Ngoài những môn học gạo để đi thi, thường thức tự nhiên, thường thức xã hội, và trình độ thưởng thức văn hóa nghệ thuật của đại đa số những người có bằng cấp gần như là một con số không to tướng.

5. Những người “có học” và “có bằng cấp” không hể có sự ham học và lại càng không có khả năng tự học. Tuy ngày nay tài liệu và phương tiện học tập vô cùng phong phú, đa dạng và miễn phí, việc tự học dường như là chuyện không tưởng đối với phần lớn các bạn sinh viên và học sinh.

6. Những người tự coi là trí thức ngoài việc học để có kiếm tiền và dùng học hàm học vị của mình để thăng tiến trong con đường danh lợi hầu như không hề có một nghiên cứu khoa học hay phát minh gì có thể ứng dụng vào đời sống.

7. Những người tự cho mình là trí thức không hề quan tâm đến những vấn đề chính trị-xã hội và cũng không hề có tinh thần phản biện và tiếp nhận thông tin đa chiều. Ngoài giờ làm họ về nhà xem hài nhảm hoặc ra quán lai rai nhậu nhẹt cho tới khuya. Còn lại mọi chuyện liên quan đến vận mệnh dân tộc, họ vẫn yên tâm để cho đảng và nhà nước lo.

8. Lối sống của đại đa số người Việt Nam hiện đại cũng không khác gì lối sống của người Việt thời cụ Phan là mấy: hèn nhát, lười biếng, ích kỷ, tham lam, lọc lừa, thích sĩ diện, gia trưởng, tầm nhìn hạn hẹp…

9. Trình độ ngoại ngữ, trình độ chuyên môn, năng suất lao động và hiệu quả công việc của những “trí thức trẻ” đều yếu kém hơn rất nhiều so với các bạn trẻ cùng độ tuổi và cùng trình độ trên thế giới. Nhưng điều đáng buồn là họ không hề mảy may cảm thấy điều đó là đáng hổ thẹn. Dường như đối với họ, có cái bằng là đủ, còn chuyện cái bằng đó có ý nghĩa gì hay không không hề quan trọng.

10. Cách cư xử của người Việt trong đời sống hằng ngày càng lúc càng trở nên thiếu văn minh lịch sự và hung hăng dữ tợn. Họ không tiếc những lời thô tục nhất bệnh hoạn nhất để rủa xả nhau trên mạng xã hội và sẵn sàng gây án mạng chỉ vì một va chạm nhỏ ngoài đời. Học sinh không những ra tay đánh nhau tàn bạo như kẻ thù mà còn đánh luôn cả thầy cô.

Nếu người nào vẫn còn chưa thấy thực trạng giáo dục của nước nhà hiện tại đến mức báo động mà vẫn còn tin vào câu” người Việt Nam có truyền thống hiếu học” thì hãy nhìn lại sự kiện nâng điểm vào đại học kinh hoàng trong mùa thi năm ngoái ở các tỉnh phía Bắc với những màn phù phép biến điểm liệt thành điểm thủ khoa cho các thí sinh mà phần lớn đều là con ông cháu cha. Hãy tưởng tượng những kẻ không hề có chút kiến thức và nhân cách này sau này sẽ trở thành thẩm phán, chủ tịch, cán bộ cao cấp, bác sĩ, kỹ sư… và hậu quả tồi tệ mà đất nước này phải gánh chịu.

Là một dân tộc có truyền thống hiếu học, chúng ta hãy tự hỏi bản thân mình xem tại sao lại tiếp tục làm ngơ trước một hành động chà đạp giáo dục như thế này? Đã đến lúc chúng ta ngưng huyễn hoặc mình và đối diện với sự thật.

Huỳnh Chí Viễn (Giáo viên, Dịch giả)

NGÔI MỘ TRỐNG

NGÔI MỘ TRỐNG

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Những người tin và người không tin đã tranh luận về sự phục sinh ngay từ ngày Chúa Giêsu sống lại.  Thật sự, chuyện gì đã xảy ra?  Làm sao mà Ngài sống lại từ cõi chết?  Một thi thể thật sự đã chết có thể sống lại và bước ra khỏi mộ, hay phục sinh là một sự kiện biến đổi đời sống trong lương tâm của các môn đệ Chúa Giêsu?  Hay phục sinh là cả hai, một sự kiện vừa thể lý, vừa nội tại trong lương tâm các tín hữu?

Rõ ràng chẳng có ai chứng kiến chuyện thật sự xảy ra.  Những người tuyên xưng Chúa Giêsu đang sống không nhìn thấy Ngài đứng dậy và ra khỏi mộ, họ chỉ gặp Ngài sau khi Ngài đã sống lại, và ngay lập tức những người tin và những người hoài nghi liền chia thành hai phe, những người tuyên bố đã được chạm vào Ngài bằng xương bằng thịt và những người nghi ngờ lời chứng đó.

Có những người tin và những người hoài nghi, và còn có những người tin rằng sự phục sinh của Chúa Giêsu là một sự kiện đức tin chứ không phải về thể lý, họ tin thi thể người chết không thể đứng dậy mà ra khỏi mộ.

Sự phục sinh của Chúa Giêsu là một sự kiện thể lý hay đức tin?  Là cả hai.  Với các Kitô hữu, đây là sự kiện vĩ đại, cả về đức tin lẫn lịch sử.  Không thể giải thích hai ngàn năm lịch sử của đức tin Kitô, bằng cách nào khác ngoài hiện thực phục sinh.  Hiểu sự phục sinh của Chúa Giêsu như một sự việc đơn thuần, rằng thân thể Ngài trỗi dậy từ hầm mộ, là cắt bỏ đi ý nghĩa của sự phục sinh.  Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, với các Kitô hữu, phục sinh cũng phải là một sự kiện mang tính thể lý đến tuyệt đối.  Tại sao lại thế?

Trước hết, là bởi Tin mừng nói khá rõ ràng khi nhấn mạnh ngôi mộ trống và Chúa Giêsu phục sinh không phải là một linh hồn hay hồn ma.  Ví dụ như, chúng ta thấy trong Tin mừng theo thánh Luca, Chúa Giêsu đã mời Tôma kiểm tra thân thể Ngài.  “Hãy coi tay Ta, chân Ta; Chính là Ta đó!  Hãy rờ nắn mà xem, ma nào lại có thịt có xương như các ngươi thấy Ta có.”

Để trọn vẹn ý nghĩa sự phục sinh của Chúa Kitô, thì phải có sự sống lại của thân thể.  Cần phải có ngôi mộ trống và thi thể sống lại.  Tại sao lại thế?

Không phải như một kiểu bằng chứng cho phép lạ, nhưng là vì sự nhập thể.  Tin vào sự nhập thể mà không tin vào tính thể lý của sự phục sinh thì thật là mâu thuẫn.  Chúng ta tin rằng Ngôi Lời đã nhập thể làm người.  Và chính điều này đưa mầu nhiệm Chúa Kitô và hiện thực phục sinh ra khỏi giới hạn thuần tinh thần.  Nhập thể luôn luôn bao hàm một hiện hữu có tính thể lý, sờ mó được, như định nghĩa về vật chất là “một sự gì đó có chiếm hữu không gian và có trọng lượng.”

Tin vào sự nhập thể là tin rằng Thiên Chúa đã sinh ra trong thân xác thật, sống trong một thân xác thật, chết trong thân xác thật, và sống lại trong thân xác thật.  Tin rằng phục sinh chỉ là một sự kiện đức tin trong lương tâm các tông đồ, thì dù có phong phú và thật đến mấy, cũng vẫn tước bỏ ý nghĩa của sự nhập thể, và rơi vào chủ nghĩa nhị nguyên xem trọng tinh thần và khinh thường thể xác.  Một thuyết nhị nguyên như thế hạ giá sự nhập thể và xói mòn ý nghĩa của phục sinh.  Nếu phục sinh chỉ là một sự kiện tinh thần, thì đó chỉ là một sự kiện nhân loại chứ không phải một sự kiện bao hàm cả vũ trụ.  Nói thế là xem đó chỉ là một sự kiện trong lương tâm con người chứ không phải sự biến đổi của vũ trụ.

Nhưng sự phục sinh của Chúa Giêsu không chỉ là một sự mới mẻ tuyệt đối trong lương tâm con người, mà còn là một sự mới mẻ tuyệt đối về bản chất vũ trụ, mới mẻ trong từng nguyên tử.  Phục sinh sắp xếp lại tâm hồn và tâm trí con người, nhưng nó cũng sắp xếp lại các nguyên tử.  Trước khi Chúa Giêsu phục sinh, xác người chết không sống lại, họ vẫn chết, nên khi Ngài sống lại, thì đó là một sự mới mẻ tuyệt đối cả về tinh thần lẫn vật chất.  Chính xác là bởi tính vật chất tuyệt đối đó, nên sự phục sinh của Chúa Giêsu đem lại hy vọng mới cho từng phân tử cũng như cho tất cả mọi người.

Tôi tin rằng Chúa Giêsu đã sống lại từ cõi chết, một cách vật chất, theo nghĩa đen.  Tôi cũng tin rằng sự kiện này thiêng liêng vô cùng, là một sự kiện đức tin, là sự biến đổi lương tâm, là hy vọng mới tăng sức cho lòng mến mới và sự tha thứ mới.  Nhưng phục sinh cũng là một sự kiện biến đổi vật chất đến từng phân tử và biến đổi xác người chết.  Đây là một sự kiện tuyệt đối mang tính thể lý, cũng hệt như mọi sự kiện khác trong công cuộc nhập thể khi Thiên Chúa mang lấy xác phàm thật sự.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: suyniemhangngay1 & ThuNNguyen

Tỷ phú giàu nhất Đan Mạch mất 3 người con vì đánh bom ở Sri Lanka

Tỷ phú giàu nhất Đan Mạch mất 3 người con vì đánh bom ở Sri Lanka

Zing22/04/19 17:32 GMT+74 liên quanGốc

Anders Holch Povlsen, người giàu nhất Đan Mạch, cho biết ba người con của ông thiệt mạng trong vụ đánh bom khủng bố khiến 290 người chết tại Sri Lanka hôm 21/4.

Cả bốn người con của tỷ phú này đang tới thăm Sri Lanka nhân kỳ nghỉ Lễ Phục sinh. Vài ngày trước khi qua đời, con gái Alma của ông đăng một bức ảnh trên mạng xã hội Instagram, cho thấy ba người em ruột của Alma đang ngồi bên bể bơi. Trong chú thích ảnh, cô còn gọi các em là “ba chú gấu nhỏ”.

Bộ Ngoại giao Đan Mạch cho biết ba công dân nước này là nạn nhân của vụ đánh bom. Người phát ngôn của ông Holch Povlsen cũng xác nhận ba trong số bốn đứa trẻ đã thiệt mạng trong cuộc tấn công tại Sri Lanka, tuy nhiên không nêu rõ danh tính, theo Mail Online.

Bức ảnh con gái Alma của ông Holch Povlsen đăng trên Instagram vài ngày trước vụ nổ bom. Ảnh: Chụp màn hình từ Instagram.

Ông Holch Povlsen, 46 tuổi, là người sở hữu nhiều bất động sản nhất tại Scotland, đồng thời là cổ đông lớn nhất của tập đoàn thời trang Asos. Ông là CEO và chủ sở hữu chuỗi cửa hàng bán lẻ Bestseller. Người đàn ông 46 tuổi này được Forbes xếp thứ 252 trong danh sách tỷ phú năm 2019.

Ngày lễ Phục sinh đã trở thành ngày chủ nhật đẫm máu ở Sri Lanka, với tổng cộng 8 vụ nổ khiến 290 người thiệt mạng và hàng trăm người bị thương, trong đó có nhiều người nước ngoài.

Chính phủ Sri Lanka mới đây cho biết tổ chức thực hiện các vụ đánh bom nói trên là nhóm Hồi giáo có tên National Thowheeth Jama’ath (NTJ). Các cuộc điều tra vẫn đang được tiến hành để làm rõ nhóm NTJ có được “hậu thuẫn từ nước ngoài” hay không.

Hương Ly

From: tiennkhuat & thunnguyen

Tin ‘Trọng bệnh’ trên mạng xã hội có khả tín?

Image may contain: 3 people, indoor
Phạm Chí Dũng

Tin ‘Trọng bệnh’ trên mạng xã hội có khả tín?

VOA 23/04/2019

Phạm Chí Dũng

Ảnh: Năm 2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã trao Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng cho Đại tướng, nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh. (Ảnh: TTXVN) (Chụp từ màn hình Dân Việt)

Bất chấp các ‘trang mạng đứng tên lãnh đạo’ như nguyephutrong.orgtolam.orgnguyenxuanphuc.org… tố cáo ‘các thế lực phản động và thù địch xuyên tạc tình hình sức khỏe lãnh tụ kính yêu Nguyễn Phú Trọng’, trong khi toàn bộ hệ thống tuyên giáo, báo đảng và hơn 800 tờ báo nhà nước vẫn im thin thít về vụ việc nổi đình nổi đám và đượm tính bi hài này, những tin tức nóng rẫy về ‘Trọng bệnh’ xuất hiện trên mạng xã hội kể từ ngày 14/4/2019 – khi ‘Tổng tịch’ đi công du Kiên Giang – cho tới nay, thật trớ trêu, lại có cơ sở.

Kịch bản Nguyễn Bá Thanh, Phùng Quang Thanh và Trần Đại Quang

Cơ sở đáng thuyết phục đầu tiên chính là thái độ im hơi lặng tiếng của báo chí nhà nước về vụ ‘Trọng bệnh’ – hiện tượng mà ngay lập tức khiến cho người ta liên tưởng về kịch bản tương tự trong các vụ việc Nguyễn Bá Thanh vào năm 2014, Phùng Quang Thanh vào năm 2015, Trần Đại Quang vào hai năm 2017 và 2018. Khi đó, những tin tức ‘lạ’ đã bất thần hiện ra trên mạng xã hội về số phận được báo trước của những quan chức này. Nếu loại trừ một số tin tức cường điệu thái quá như ‘Nguyễn Bá Thanh đã chết ở bệnh viện Mỹ’, ‘Phùng Quang Thanh bị ám sát ở Paris’, ‘Trần Đại Quang đã chết ở Nhật Bản’, không ít thông tin của mạng xã hội về tình hình bệnh tật, quá trình điều trị và quá trình di chuyển về Việt Nam của những quan chức này đã được xác nhận sau đó.

Trong vụ Trưởng ban nội chính trung ương Nguyễn Bá Thanh, trang mạng Chân Dung Quyền Lực đã làm nên ‘kỳ tích’ khi cuốn hút sự tò mò và quan tâm của cả một đám đông xã hội Việt Nam trong suốt vài tháng trời. Vào cuối năm 2014, trong lúc Ban Bảo vệ và Chăm sóc sức khỏe trung ương cùng các cơ quan đảng lẫn chính phủ Việt Nam vẫn hoặc im thít hoặc cố vớt vát bằng lý lẽ ‘tau khỏe mà, có chi mô’ chẳng cách nào kiểm chứng được, Chân Dung Quyền Lực đã đưa tin rất cụ thể về lịch trình, số chuyến bay, giờ bay và giờ đáp của chuyến máy bay đưa Nguyễn Bá Thanh về Đà Nẵng. Thậm chí còn dự báo cả thời điểm mà ông Thanh sẽ… chết.

Tương tự, một số trang mạng xã hội đã đưa tin về ‘con bệnh’ Bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh sau khi ông ta gặp một sự cố ở Paris và giữa năm 2015, về lịch trình, chuyến bay, giờ bay của Thanh về Việt Nam…, đồng thời dự báo về việc Phùng Quang Thanh sẽ chẳng còn tương lai nào ở đại hội 12. Quả thực, trước và sau đại hội 12, viên cựu bộ trưởng quốc phòng bị quá nhiều dư luận nghi ngờ về thành tích tham nhũng này đã biến mất, không chỉ biến khỏi Bộ Chính trị và Ban chấp hành trung ương mà ngay trong sinh hoạt thường ngày cũng chẳng thấy bóng dáng y đâu.

Còn với hai lần ‘biến mất’ của Trần Đại Quang – chủ tịch nước – vào hai thời điểm tháng 7 – 8 năm 2017 và tháng 3 – 4 năm 2018, một số trang mạng xã hội cũng đã đưa tin khá chi tiết về tình trạng bệnh tật và việc Quang ‘tái xuất’ ở Việt Nam, đặc biệt là việc Trần Đại Quang bay từ Nhật Bản về Việt Nam để dự hội nghị trung ương 7 vào tháng 5 năm 2018 và ngồi bàn chủ tọa sát bên ‘đối thủ’ là Tổng bí thư Trọng.

Vì sao những tin tức trên mạng xã hội về một số quan chức cao cấp, dù chẳng được bất kỳ một cơ quan ‘có trách nhiệm’ nào của đảng hay chính phủ ra mặt xác nhận, lại được thực tế chứng minh là khá chính xác?

‘Tay trong nội bộ’

Cho tới nay, có quá ít bằng chứng về việc giới blogger và Facebooker độc lập có được và đã đăng tải những tin tức nội bộ thuộc loại ‘bí mật nhà nước’. Do vậy, chỉ có thể hiểu là những tin tức này xuất phát từ một số Facebooker ‘không độc lập’.

Mà không độc lập lại có thể hiểu là ‘phe phái’ hay ‘phe cánh chính trị’ – những khái niệm đã tồn tại lâu đời trong chính trường đầy những màn đấu đá và xung đột ở Việt Nam, đặc biệt từ năm 2012 khi bùng nổ của chiến quyền lực giữa hai cánh Trọng – Sang và Nguyễn Tấn Dũng. Càng về sau này, càng hình thành một nghề mới: ngày càng nhiều cây viết, chủ yếu xuất xứ từ khối báo chí nhà nước – hoạt động một cách ‘độc lập’ bằng cách đưa tin bài ẩn chứa nhiều thông tin nội bộ và thông tin mật để phục vụ cho các thế lực chính trị và các nhóm lợi ích, tập đoàn tài phiệt. Vũ khí của những người này là các trang blog và facebook. Một số trong giới viết lách này đã khoác tấm áo ngụy trang mang màu sắc dân chủ nhân quyền.

Hầu như không phải bàn cãi, chính những tin tức được xem là có nguồn gốc từ ‘tay trong nội bộ’ như trên mới chi tiết nhất và mang tính tin cậy cao nhất. Động cơ của sự xuất hiện những tin tức này được cho là chủ yếu xuất phát từ mục đích đấu đá và triệt hạ lẫn nhau của những phe phái chính trị trong nội bộ đảng, tương tự việc trang Chân Dung Quyền Lực đã dùng đòn ‘minh bạch hóa’ về tài sản, sân sau và các thủ đoạn chơi nhau để ‘ám sát’ một số quan chức trong Bộ Chính trị.

Thông tin về ‘Trọng bệnh’ cũng khá tương đồng về kịch bản với những tin tức từng ứng với số mạng của Nguyễn Bá Thanh, Phùng Quang Thanh và Trần Đại Quang.

Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Phú Trọng đã từ lâu trở thành tâm điểm công kích của những đối thủ chính trị và đặc biệt là giới quan tham khi Trọng vận hành tung tóe chiến dịch ‘đốt lò’. Do vậy, bất kỳ tình trạng suy yếu hay nguy biến nào về sức khỏe của Trọng cũng là cơ hội để các nhóm đối thủ tung hê và còn có thể cường điệu tình trạng bệnh tật tồi tệ của ông ta, như một cách khủng bố tâm lý những quan chức thuộc phe Trọng và những người còn ‘tin yêu Minh quân’, làm suy giảm sức mạnh của ‘phe Trọng’ trong cuộc đua tới đại hội 13 và cả mục đích dội nước vào cái lò vẫn còn âm ỉ của Trọng.

Từ phản công chiến thuật đến phản công chiến lược

Chính trường Việt Nam đang hiện ra một đặc trưng như thời năm 2015 trước đại hội 12 của đảng cầm quyền: nếu vào năm 2015 đã hiện hình cuộc chiến công khai trên mạng xã hội bằng các đơn thư tố cáo và các bài viết của hai phe cánh chính trị chính là ‘phe Trọng’ và ‘phe Dũng’, năm 2019 cũng đang trở lại cái không khí xốc nổi, quyết thắng và công khai thách thức lẫn nhau ấy.

2019 lại được xem là ‘năm bản lề’ về cơ cấu ‘cán bộ cấp chiến lược’ cho đại hội 13 – sẽ diễn ra vào năm 2021. Vậy là cùng với biến cố ‘Trọng bệnh’, đã nảy nòi một cuộc sát phạt không tuyên bố giữa các quan chức cấp cao – những người đang nhìn thấy thế độc tôn độc tài của ‘bậc nhân kiệt thế thiên hành đạo’ chẳng còn tồn tại được bao lâu nữa và muốn qua mặt những kẻ khác để giành giật ngay lấy vị trí do khoảng trống quyền lực để lại.

Chẳng có gì khó khăn để dự đoán là Nguyễn Phú Trọng sẽ vấp phải một thách thức khủng khiếp về sức khỏe tự thân của ông ta, đặc biệt là vấn đề tổn thương não bộ, điều có thể kiến ông ta nếu không cẩn trọng sẽ phải sớm từ giã chính trường. Trong bối cảnh đó, ông ta còn phải chịu mũi dùi công kích của các thế lực đối thủ chính trị, ngoài mặt là ‘lo lắng cho sức khỏe của lãnh tụ kính yêu’, nhưng bên trong chỉ muốn Trọng ‘xuôi tay an nghỉ’ càng sớm càng tốt.

Có thể một cách chính thức, phe đối thủ của Nguyễn Phú Trọng đang chuyển sang một giai đoạn mới: phản công chiến thuật để dẫn tới phản công chiến lược.

Tướng Lê Đức Anh, cựu chủ tịch nước CSVN, qua đời

 

Tướng Lê Đức Anh, cựu chủ tịch nước CSVN, qua đời   

Ông Lê Đức Anh, ngồi trên xe lăn, đến dự đám tang cố Thủ tướng CSVN Võ Văn Kiệt hôm 15 Tháng Sáu 2008 tại Sài Gòn. (Hình: Hoang Dinh Nam/Getty Images)

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Tướng Lê Đức Anh, cựu chủ tịch nước CSVN qua đời lúc 8 giờ 10 phút tối 22 Tháng Tư 2019 tại Hà Nội, thọ 99 tuổi, nhiều cơ quan truyền thông tại Việt Nam loan tin.

Trước đó ít giờ mạng xã hội xôn xao với một post trên Facebook của ông Lê Mạnh Hà, cựu phó chủ nhiệm Văn Phòng Chính Phủ CSVN và là con trai cựu Chủ Tịch Nước CSVN Lê Đức Anh, viết có đoạn “… Ông sẽ là người cuối cùng trong bộ chỉ huy chiến dịch năm ấy ra đi mãi mãi.”

Ông Lê Đức Anh là chủ tịch nước thứ tư của CSVN, nhiệm kỳ 1992 đến 1997. Ông cũng từng là Đại tướng, Bộ trưởng Quốc Phòng CSVN từ 1987 đến 1991.

Tuy post của ông Hà không giải thích chi tiết “ra đi mãi mãi” có phải là cách ông ý nhị báo tin cha ông vừa qua đời hay không, nhưng hàng trăm comment phía dưới của cộng đồng mạng là “chia buồn cùng gia quyến”, bên cạnh những comment nguyền rủa ông về vụ Trung Quốc thảm sát lính của quân đội CSVN tại Gạc Ma, Trường Sa, chỉ hiển thị trong chốc lát trước khi bị ông Hà xóa đi.

Ông Lê Đức Anh tròn 98 tuổi hôm 1 Tháng Mười Hai, 2018.

Bức ảnh chụp vào ngày 5 Tháng Chín 1995, ông Lê Đức Anh (giữa), khi đó là đương kim Chủ tịch nước, đón tiếp cựu Tổng thống Mỹ George H.W. Bush và cựu Đệ Nhất Phu Nhân Barbara tại Hà Nội. (Hình: HOANG DINH NAM / AFP / Getty Images)

Các báo nhà nước ở Việt Nam hiếm khi đăng tin về ông Anh trong lúc mạng xã hội từng vài lần rộ lên tin đồn ông qua đời.

Hồi trung tuần Tháng Chín, 2018, thời điểm đương kim Chủ Tịch Nước Trần Đại Quang qua đời, mạng xã hội xôn xao chuyện “quốc tang nối tiếp quốc tang” với tin đồn hai cựu lãnh đạo chóp bu của đảng CSVN là ông Đỗ Mười và ông Lê Đức Anh cũng qua đời.

Ông Đỗ Mười sau đó qua đời hôm 1 tháng 10, 2018 còn ông Anh được cho là vẫn “lây lất, thở máy” đến nay.

Lúc các tin đồn đó đang lan truyền, trang Facebook Truong Huy San của nhà báo Huy Đức, người đầu tiên loan tin ông Trần Đại Quang qua đời, viết: “Tôi muốn nói với các bạn rằng, cụ Đỗ Mười sinh năm 1917, cụ Lê Đức Anh sinh năm 1920, đau yếu đã lâu. Với tôi, Trần Đại Quang chết mới là tin, hai cụ có đi gặp Karl Marx, Lenin [ý nói qua đời] thì cũng là lẽ thường, không phải ‘tin.’”

Theo thông lệ, khi một người thuộc hàng “tứ trụ” qua đời, gia đình không được phép loan tin báo tử ngay, mà phải đợi thông báo từ Bộ Chính Trị về việc sắp đặt người trong ban tang lễ, do liên quan đến việc tổ chức quốc tang.

Ông Lê Đức Anh qua đời trong bối cảnh diễn biến bệnh tình của Tổng Bí Thư, Chủ Tịch Nước CSVN Nguyễn Phú Trọng thế nào vẫn chưa được công khai, ngoài những tin gửi điện mừng, điện chia buồn đến lãnh đạo các nước.

Trước post gần nhất của ông Lê Mạnh Hà, mạng xã hội từng xôn xao nhiều lần về tin ông Lê Đức Anh qua đời các năm trước.

Đáng lưu ý, những năm gần đây, ông Lê Đức Anh được ghi nhận sống ở bệnh viện nhiều hơn ở nhà và các tin tức về ông chỉ được hé lộ trên mạng xã hội.

Hôm 17 Tháng Tư, Facebook Đinh Bá Truyền cho hay: “Ngày 16 Tháng Tư, ông Nguyễn Phú Trọng được cáng lên chuyến bay của hãng Vietnam Airlines tại Sài Gòn, khởi hành đi Hà Nội. Chiều hôm ấy, xe cứu thương chở ông vào Bệnh Viện Trung Ương Quân Đội 108. Hiện ông đang nằm tại tầng 2, mé bên phải, Khoa A11. Cũng ở tầng này, Đại Tướng Lê Đức Anh đang được điều trị tích cực ở căn phòng mé bên trái.”

Quân Y Viện 108 là nơi các lãnh đạo chóp bu của đảng CSVN thường được đưa vào chữa trị hay dưỡng bệnh.

Ông Lê Đức Anh là nhân vật gây tranh cãi và bị nhiều người cáo buộc là nhân vật đã ra lệnh cho binh lính Việt Nam “không nổ súng” trong cuộc hải chiến Gạc Ma, quần đảo Trường Sa, hồi năm 1988, khiến 64 thủy binh Việt Nam thiệt mạng dưới tay quân Trung Quốc.

Tuy vậy, ông vẫn nhận được một số lời tán dương.

Hồi Tháng Giêng, 2019, nhà báo Hoàng Hải Vân, cựu tổng thư ký tòa soạn báo Thanh niên viết trên trang cá nhân: “Ông Lê Đức Anh từng làm bộ trưởng Quốc Phòng [CSVN], rồi làm chủ tịch nước, cuối cùng là làm cố vấn Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng. Nhiều người đề cập đến uy quyền của tướng Lê Đức Anh, một uy quyền còn kéo dài mãi cho đến sau khi ông rời khỏi mọi chức vụ. Người ta đồn rằng, chính ông đã đề cử và hậu thuẫn cho tướng Lê Khả Phiêu lên làm tổng bí thư và cũng chính ông chặn con đường tái cử của ông Phiêu, cùng nhiều chuyện khác nữa. Những chuyện đại loại như vậy tôi không đủ thông tin cũng như tư cách để bàn luận. Tôi chỉ biết chắc một điều: Tướng Lê Đức Anh không phải là người tham quyền cố vị.” (T.K.)

Hospice- Con đường ngắn nhất để đến thiên đường  

Hospice- Con đường ngắn nhất để đến thiên đường  

Ngày 3 tháng 2 nghĩa là cách đây 2 tháng rưỡi, ông ung thư ruột già bỗng dưng nỗi cơn thịnh nộ, ổng hành hạ tôi đến ngất ngư, những cơn đau xé ruột suốt ngày đêm, uống thuốc gì cũng không giảm đau được , nếu lúc đó có thuốc morphine thì họa may , các con của tôi đòi chở tôi lên bệnh viện nhưng tôi từ chối, tôi sợ bệnh viện lắm rồi , ở đó họ lấy máu, scan, súc ruột, rồi cho lên phòng mổ , tôi đã trải qua 2 lần mổ, ngán lắm 

Suốt tháng 3 tôi bỏ ăn, người gầy như con ma đói,tưởng tôi sắp chết anh chị Hai từ Michigan bay qua thăm, Vợ chồng con gái đầu cũng bay qua thăm..

Con gái út gọi bác sĩ, ổng thẩm định bệnh của tôi không thể nào chữa được và yêu cầu tôi theo chương trình Hospice tại nhà , tôi chấp nhận 

Hospice  là nơi săn sóc những người bệnh ở vào giai đoạn cuối cùng của cuộc đời, tức là chỉ còn 6 tháng trở lại. Những người này đã bị các bệnh viện từ chối điều trị. Bệnh viện yêu cầu đưa về nhà để lo việc hậu sự. Khi đem về nhà nếu không có Hospice hay dịch vụ Hospice thì con cái phải thay phiên nhau săn sóc, phải mời bác sĩ tới rồi thành ra có nhiều rắc rối, lại gây ra nhiều công việc cho người nhà. Khi có hậu sự người nhà cũng phải tự lo liệu lấy. Các cơ sở Hospice sẽ săn sóc hết, một cách toàn diện, một cách nhân bản, tức là săn sóc về thể xác bằng cách làm bớt đau đớn, săn sóc về tình cảm, an ủi, săn sóc về tâm linh, có đại diện của các tôn giáo đến để nói chuyện, để an ủi.. Ngoài việc giúp gia đình khỏi phải chăm sóc 24/24 mà còn giúp gia đình lo về hậu sự nữa.”

Hospice không phải là dịch vụ chữa bệnh, mà là một dịch vụ săn sóc, an ủi, và hỗ trợ bệnh nhân cũng như gia đình. Dịch vụ này có thể được cung cấp ở bất cứ nơi nào bệnh nhân gọi là “nhà,” tại tư gia, tại một trung tâm dưỡng bệnh, hay một viện dưỡng lão (nhưng không phải là bệnh viện, nơi bệnh nhân được điều trị cho khỏi bệnh). Mục tiêu của hospice care không phải là để chữa bệnh, mà để làm cho thời gian còn lại của người bệnh được thoải mái hơn.

Hằng tuần chiều thứ 3 một phái đoàn của hospice gồm một y tá,một nhân viên xã hội (giúp đỡ  về việc hậu sự, như nhà quàn v..v), một nhân viên vềdược ( cho thuốc) , một nhân viên về tâm linh (lo về chùa chiền nếu bệnh nhân là phật giáo) và một thông dịch viên người Việt(họ chỉ tin khả năng tiếng Anh của TDV thôi) họ cung cấp cho tôi một chiếc giường có thể điều chỉnh cao thấp, lên xuống, tôi nói tôi đau lưng ,hô cung cấp một nệm mút chống đau lưng  v…v ..

Khi gặp tôi tại nhà, họ tạo bầu không khí vui nhộn, tiếng cười vang lên không ngớt, nhưng có khi họ bàn nhiều về cái chết, về hậu sự , tôi vẫn tỉnh bơ, còn lần tôi hét lên, tại sao các người cứ bàn về chuyện chết…..Tôi không chết đâu

Thật tình tôi không sợ chết , tôi vẫn vui vẻ,yêu cuộc sống, hơn nữa bên cạnh tôi có bà xã tận tình chăm sóc, từ miếng cơm, giấc ngũ , hai cô con gái ở gần hết lòng hiếu thảo, sáng đi làm, tranh thủ ghé qua các nhà hàng ăn nhanh mua  cho bố một cái bánh Croissant Breakfast Sandwich hay một hộp soup gà , tối còn ghé thăm, hàn huyên với bố

Tôi đã trải qua hơn 2 tháng chương trình Hospice care,chỉ còn 3 tháng tôi sẽ bỏ cuộc chơi, lìa bỏ cõi  trần gian đầy nghiệt ngã vì tôi biết cõi trần nầy là giả tạm, không có thật , quả thật nếu tôi mất đi đó là tin vui, vì tôi đã vào được cổng thiên đường

Doanh doanh

From: TU-PHUNG

Ông lão kỳ lạ … 

Ông lão kỳ lạ … 

Tôi muốn viết từ lâu, kể chuyện một ông lão kỳ lạ, ông ta sống giữa đời như tất cả chúng ta, song lại hành động rất khác! Lần đầu tiên tôi nghe về lão là mùa Giáng Sinh 1990. Chiều 24 tháng 12 năm ấy, tôi lên thăm bạn ở thành phố Lausanne. 

Chúng tôi rủ nhau đi phố sắm sửa vài món quà cho bữa tiệc thân hữu gặp nhau. Phố xá lạnh lẽo và vắng lặng lắm vì đa số mọi người đã đều đi về đoàn tụ với gia đình. Trời lất phất đổ tuyết, gợi cho lữ khách, tùy tâm trạng, mà cảm thấy lãng mạn hay cô đơn kinh khiếp… Với tôi, năm ấy thật buồn, vì ba mẹ tôi đi Hoa Kỳ thăm bạn, còn tôi vì phải lo học thi cho học kỳ mùa Đông, nên không đi theo được. Ở lại xứ cao nguyên sương mù, gió lạnh trong mùa Giáng Sinh lê thê quả là một chuyện cô đơn khó chịu. May mà còn có bạn bè dễ thương. Họ làm tiệc mời tôi và qua đó cũng ấm lòng người viễn xứ!

Khi ở phố về, chúng tôi chọn đường tắt nên đi ngang qua một chiếc cầu rất dài, bắc lắt lẻo trên ghềnh đá, đứng trên thành cầu nhìn xuống dưới người yếu bóng vía dễ bị xây xẩm vì chiều sâu hun hút hiểm trở. Người bạn đi chung chợt giật tay tôi chỉ một túp lều vải được dựng ngay bên cạnh đầu cầu. Tôi hơi ngạc nhiên, vì mùa này không phải là mùa để người ta cắm trại nơi đây! Bạn tôi kể rằng từ 20 năm nay, mỗi năm cứ đến mùa Giáng Sinh lại có ông già đến đây cắm trại.
  Tôi ngạc nhiên hỏi lý do. Bạn tôi cho biết chiếc cầu này là nơi quyến rũ nhiều người cứ đến mùa Giáng Sinh ra nhảy cầu tự tử. Vì mùa Giáng Sinh ở Thụy Sĩ buồn quá, những người sống cô đơn thường bị cơn trầm cảm (Depression) hành hạ nên dễ tìm cái chết. 

20 năm qua, người đàn ông đã cắm trại ở đầu cầu, nếu thấy ai một mình đứng trên cầu, lập tức ông bước tới nói chuyện khuyên nhủ… Trong lều của ông thường có rượu chát, chocolat và vài món quà nho nhỏ. Người có ý định tự tử thường được ông mời vào lều cho uống rượu tâm tình, cho đến khi người đó bỏ ý định quyên sinh. Trước khi rời khỏi lều, thể nào họ cũng được ông cho món quà có ý nghĩa, với số điện thoại để sau đó cần người nói chuyện thì tìm ông. Ông làm việc âm thầm và không nhờ bất cứ hội đoàn nào giúp sức. Nghe lời kể của bạn tôi, tôi xúc động lắm, thật không ngờ giữa cuộc sống có quá nhiều bon chen, tranh giật lại có Tâm Bồ Tát hiện hành… Tôi kéo bạn tôi đi về phía lều của ông lão và tỏ ý muốn nói chuyện. Ông lão mở cửa lều, mời chúng tôi vào. Đó là một người đàn ông có dáng người khắc khổ, tuổi khoảng trên dưới 70 tuổi, gương mặt đầy từ ái… 
Trong căn lều thiết trí rất đơn giản, có tấm thảm trải cho ấm và một lò than nho nhỏ bên cạnh để sưởi, nấu trà, cafê và thức ăn.
Ông lão hỏi chúng tôi sao lại đứng trên cầu bàn luận lâu vậy, giữa thời tiết giá lạnh trong buổi chiều Noël? Tôi kể ông nghe về cảm nhận của mình khi biết chuyện và vô cùng tán thán hạnh nguyện của ông. Ông lão mỉm cười: “Thì sống trong đời, ta có thể làm được việc gì tốt cho người khác thì phải cố gắng thôi!” Ông cũng cho biết thêm “có nhiều người oán trách tôi vì tôi bắt họ tiếp tục sống để chịu khổ!” Chúng tôi nói chuyện với nhau khoảng 1 giờ đồng hồ về nhiều đề tài rất tương đắc, ông lão rất thông thái, rất tế nhị và khi nói chuyện có sức thuyết phục rất cao. Sau đó chúng tôi từ giã ông để trở về lo bữa tiệc buổi tối. Từ đó, thỉnh thoảng tôi gọi điện thoại nói chuyện với ông. Tình bạn giữa chúng tôi nảy nở và trở nên thân thiết. 
Ông tên Peter Dupont, tuổi đã 72 và sống một mình cô độc. Tôi cũng ngạc nhiên không hiểu tại sao ông không có gia đình… 
 Ông bảo: “Khi trước tôi cũng có bà mẹ nữa, vì phụng dưỡng mẹ nên tôi chẳng lập gia đình, ngày tháng qua đi, trở thành người già khi nào không biết.” 
Ông làm việc tại ngân hàng X với nhiệm vụ chuyển thư từ tài liệu từ văn phòng này tới văn phòng khác. Ông không bao giờ nghỉ, trong suốt 40 năm làm việc tại đây. Khi mẹ ông qua đời trong đêm, ông đến xin phép ban giám đốc cho ông được nghỉ nửa ngày. Ông giám đốc ngạc nhiên thấy ông xin nghỉ, hỏi lý do mới biết đêm qua mẹ ông qua đời. Ông giám đốc kêu trời và bắt ông nghỉ 1 tuần ở nhà lo mọi chuyện. Sau 3 ngày, ông gọi điện thoại xin cho ông đi làm lại kẻo không ông cũng sẽ “chết” như bà mẹ của ông mất, nếu người ta còn bắt ông ở nhà! 

Quả thật tôi không thể hiểu được tại sao có người ham mê công việc đến thế, ông lão trả lời những thắc mắc của tôi rằng: “Ta được sống trong xã hội đầy đủ thế này, ta nợ biết bao nhiêu người, nếu không làm việc để trả lại những ân nghĩa ta vay, thời ta nợ đến bao giờ mới trả nổi!?”

 Tôi giật mình vì lý luận của ông rất gần với tư tưởng Bồ Tát Đạo của Phật Giáo đại thừa, trong khi ông là Ki Tô Hữu.
Với thời gian, chúng tôi khám phá ra ông Dupont cũng chính là khách hàng ở nhà bank nơi bạn tôi làm việc, mặc dù cũng làm việc cho nhà bank, song nhà bank nơi ông làm việc thuộc ngành quản trị gia tài (asset management bank), trong khi ông chưa giàu có để có trương mục tại ngân hàng đó.
Ông biết bạn tôi và rất tin tưởng khi có chuyện gì có liên quan đến ngân hàng tiền bạc. 
Thời gian trôi đi, đã 14 năm kể từ ngày tôi quen ông Dupont. Hàng năm ông vẫn đến cắm trại bên cầu, dù rằng tuổi ông đã quá cao và yếu nhiều. Rất nhiều người biết về ông, có những bài phóng sự hay chương trình truyền hình nói về ông, song chưa bao giờ những thứ ấy khiến ông để ý! Ông thường tỏ ra khó chịu khi người ta tới quay phim, phỏng vấn ông.
Hôm qua, tôi nhận được điện thoại của bạn tôi, tôi đã lặng người đi khi nghe tin ông đã vừa giã biệt cõi đời! Cảm động nhất là trước ngày ông mất, ông nhờ người đẩy xe lăn cho ông tới ngân hàng gặp bạn tôi (sau cơn bệnh cách đây 3 tháng, ông không đi lại được nữa, mà phải ngồi xe lăn), ông mang tất cả các hoá đơn thuế nhà, thuế đất, bill điện nước theo và yêu cầu bạn tôi thanh toán giúp ông… 
Ông bảo: “Ta biết ta sắp ra đi, nay nhờ anh giúp trang trải hết những nợ nần còn sót lại này, ta không muốn còn phải nợ nần gì khi giả biệt cõi trần.” Ông không có nhiều tiền trong trương mục, nhưng sau khi thanh toán còn lại một chút, bạn tôi hỏi ông muốn làm gì, ông bảo làm gì cũng được, song ông có người cháu họ xa, hiện cũng đã 70 tuổi, nếu số tiền còn lại đó sau khi ông qua đời, được chuyển cho người cháu với lời nhắn nhủ là “Giáng Sinh năm nay, ráng thay ông, một năm cũng được ra cầu Lausanne cắm trại cứu người, thì ông sẽ mỉm cười thanh thản ở bên kia thế giới”
Chỉ vậy, hai ngày sau đó ông ra đi thanh thản tại bệnh viện gần nhà…
Một vị Bồ Tát bằng xương bằng thịt đã âm thầm đến và đi, không để lại dấu vết! Tôi không đi dự tang lễ của ông được, nhưng nghe đâu rất đông người tham dự! 
Có nhiều người được ông cứu từ 30 năm về trước cũng mang gia đình con cháu tới tiễn ông.
Mùa thu … vắng lặng và buồn quá! Chiếc lá vàng rơi để trở về với cát bụi … tăng thêm chất màu mỡ cho đất. Một đóng góp cuối cùng! Ông lão kỳ lạ kia cũng vậy…

From: Lucie 1937

Ngày Nầy, Năm 1975

Ngày Nầy, Năm 1975 –

Năm nay tôi 85 tuổi. Vợ tôi thường nói với mấy con: ”Ông bà mình nói người già hay sanh tật, đúng quá! Bây coi: Ba bây bây giờ sáng nào uống cà phê xong cũng lại đứng trước tấm lịch tháng treo ở phòng khách, nhìn trầm ngâm một chút rồi lấy bút gạch tréo ô vuông đề ngày hôm qua! Chi vậy hổng biết? Hỏi ổng thì ổng nói gạch để nhớ rằng đến ngày nầy tháng nầy mình vẫn còn trôi sông lạc chợ! Trời đất! Định cư ở Pháp từ hơn ba mươi năm chớ phải mới đây đâu mà đi gạch lịch từng ngày ! Ổng còn nói gạch để coi chừng nào mình mới thôi gạch để về lại Việt Nam…“

Câu nói của tôi là sự thật nhưng vì vợ tôi không hiểu nên cho là tôi già sanh tật! Làm sao giải thích được mỗi lần tôi gạch tréo một ngày như vậy tôi có cảm tưởng như là tôi vừa nhích lại gần quê hương một chút – một chút thôi – đủ để nuôi hy vọng thấy một ngày nào đó mình vẫn còn sống mà trở về…

Sáng nay, cũng giống như mọi ngày, tôi cầm bút gạch tréo ô vuông ngày hôm qua. Ô vuông ngày hôm nay đập vào mắt tôi làm tôi giật mình: Ngày nầy, năm 1975 ! Tôi bỗng nhớ ra, nhớ rõ, những gì đã xảy ra ngày đó, nhớ như in. Rồi sợ “cái ngày đó” nó vuột khỏi ký ức vốn đã quá hao mòn của tuổi già, tôi vội vã lấy giấy bút ghi lại…

* * *

…Hồi thời trước 75, tôi làm việc cho một hãng dầu ở Việt Nam, phụ trách nhập cảng xăng dầu từ Tân Gia Ba vào kho dầu Nhà Bè để cung ứng cho thị trường dân sự và quân sự miền Nam Việt Nam. Vì trong xứ có giặc nên thị trường quân sự chiếm 60%, trong đó xăng máy bay dẫn đầu. Các bạn tôi trong quân đội giải thích cho tôi biết rằng ở chiến trường miền Nam sự yểm trợ của không lực là quan trọng nhứt. Do đó, tôi luôn luôn theo dõi sát tình hình dự trữ xăng máy bay ở các kho dầu miền Nam, từ kho Nại Hiên Đà Nẵng dẫn xuống kho Cần Thơ thông qua kho lớn ở Nhà Bè…

Vào cuối tháng 3 năm 1975, sau lịnh triệt thoái cao nguyên, tình hình quân sự trở nên ồ ạt. Sợ trở tay không kịp, tôi “còm-măng” (đặt hàng) Tân Gia Ba một tàu xăng máy bay. Hay tin nầy, hãng bảo hiểm có hợp đồng với hãng dầu tôi làm việc đánh điện phản đối, không cho tàu dầu qua Việt Nam viện cớ tình hình bất ổn. Đánh điện qua, đánh điện lại, cù cưa cả tuần họ mới bằng lòng cho tàu dầu qua, với điều kiện phải có hộ tống của Hải Quân Mỹ họ mới cho tàu vào sông Sài Gòn để cập kho Nhà Bè!

Tôi báo cáo với ban giám đốc vì lúc đó ở kho lớn Nhà Bè trữ lượng xăng máy bay chỉ còn đủ có bảy ngày tác chiến của Không Quân. Ban giám đốc chấp thuận điều kiện của hãng bảo hiểm. Tôi vội vã gọi điện thoại lại cơ quan yểm trợ Mỹ để xin họp khẩn. Ông trưởng sở trả lời: ”Tôi sẽ đến ngay văn phòng ông. Cho tôi mười phút!“. Tôi quen ông nầy – tên W, thường được gọi là ”Xếp” – nhờ hay đi họp chung. Ông ta dễ thương nhã nhặn, biết chút đỉnh tiếng Pháp nên lần nào gặp tôi cũng nói: ”Bonjour! Xà va?” (Chào ông! Mạnh hả?)

Xếp W đến văn phòng tôi với hai người phụ tá. Tôi đã làm sẵn hồ sơ nên sau khi mời ngồi, tôi trao ngay cho họ để họ dễ theo dõi những gì tôi sẽ trình bày. Mười phút sau, tôi kết luận xin can thiệp gấp để tàu dầu xăng máy bay của hãng tôi được hộ tống, không quên nhắc lại điểm chánh yếu là trữ lượng xăng máy bay chỉ còn đủ để chiến đấu trong vòng có bảy bữa!

Nghe xong, Xếp W xin phép bước ra ngoài gọi radio về trung ương. Một lúc sau, ông trở vào, nét mặt và giọng nói vẫn tự nhiên như chẳng có gì quan trọng hết: “Rất tiếc! Chúng tôi không giúp được! Thôi! Chúng tôi về!“. Tôi đang nghe nghẹn ngang ở cổ thì ông W vỗ vai tôi nói nhỏ bằng tiếng Pháp: “Allez vous en!” (Ông hãy đi, đi!). Ra đến cửa phòng, ổng ngừng lại nhìn tôi, gật nhẹ đầu một cái như để chào nhưng tôi nghĩ là ổng muốn nhắc lại câu nói cuối cùng ” Allez vous en!” (Ông hãy đi, đi !)…

Tôi ngồi bất động, nghe tức tràn lên cổ vì thấy mình bất lực quá và cũng nghe thương vô cùng cái quê hương nhỏ bé của mình, nhược tiểu đến mức độ mà khi cần nắm tay để kéo đi theo thì ”họ” dán… đầy đường cái nhãn ”hai bàn tay nắm lấy nhau” để chứng tỏ sự thật tình ”khắn khít“, rồi khi không còn cần nữa thì cứ tự nhiên buông bỏ không ngượng tay giấu mặt, vì biết mười mươi rằng ”thằng nhược tiểu đó không làm gì được mình”!

Tôi ráng kềm xúc động, bước qua phòng họp của ban giám đốc, chỉ nói được có mấy tiếng: ”Chánh quyền Mỹ từ chối!“. Sau đó, tôi đánh điện qua Tân Gia Ba, cũng chỉ bằng một câu: ”Không có hộ tống“. Họ trả lời ngay: ”OK! Good Luck!” (Nhận được! Chúc may mắn!). Hai chữ cuối cùng, trong hoàn cảnh nầy và vào thời điểm nầy, nghe sao thật đầy chua xot!

Thấy mới có ba giờ chiều, nhưng không còn lòng dạ đâu để ngồi lại làm việc nên tôi lái xe về nhà. Tôi lái như cái máy, cứ theo lộ trình quen thuộc mà đi. Về đến trước nhà, tôi bỏ xe ngoài ngỏ, đi bộ vô. Vợ tôi chạy ra, ngạc nhiên: ”Sao về vậy anh?“. Tôi không nói được gì hết, chỉ gục đầu vào vai vợ tôi rồi bật khóc. Vợ tôi chưa biết những gì đã xãy ra nhưng chắc nàng đoán được rằng tôi phải đau khổ lắm mới phát khóc như vậy. Cho nên nàng vừa đưa tay vuốt vuốt lưng tôi vừa nói, giọng đầy cảm xúc: “Ờ… Khóc đi anh! Khóc đi!“.

Ngày đó, tháng Tư năm 1975… Đúng là ngày nầy!

Tiểu Tử

THU PHÍ NGƯỜI NUÔI BỆNH: MỘT KIỂU TẬN THU TÀN NHẪN

THU PHÍ NGƯỜI NUÔI BỆNH: MỘT KIỂU TẬN THU TÀN NHẪN

Ở xứ Việt thời nay, bệnh vào đến bệnh viện đã là một sự khốn khổ, khốn nạn. Đồng tiền phải đi trước, dù cấp cứu gần chết thì phải đóng tiền mới có người hỏi tới, không thì nằm đó chờ. Một người bệnh ít nhất phải có một người đi theo nuôi bệnh bởi lực lượng y tá, điều dưỡng không thể chăm sóc người bệnh. Con nuôi cha mẹ, vợ nuôi chồng, chồng theo nuôi vợ, con cháu nuôi ông bà.. Không thể không có mặt được. Không chỉ để rót miếng nước, đút miếng cháo, đưa viên thuốc mà còn phải có mặt ở đấy để khi bác sĩ, y tá cần thì đáp ứng ngay. Bệnh nhân nếu ở phòng chăm sóc đặc biệt tức là đã có một chân vào cửa tử thì người nhà càng phải cần có mặt để được gọi tên bất cứ lúc nào. Đến các bệnh viện nhà nước mà xem, đa số bệnh nhân đều là người nghèo đến từ các tỉnh, có người không đủ tiền mua thuốc, và người đi nuôi bệnh thường là sống nhờ cơm từ thiện. Chồng vừa nuôi vợ bệnh vừa chạy xe ôm là chuyện thường tình. Họ nghèo lắm, nghèo đến xác xơ. Nhà có người bệnh, nhất là những bệnh nan y kéo dài ngày chữa trị thì từ gia đình khá khá biến thành hộ nghèo và người nghèo trở thành tàn mạt điêu đứng cũng là chuyện thường tình. Bán trâu, bán ruộng, bán vườn rồi bán nhà khăn gói lên thành phố chữa bệnh cho người thân, trắng tay cũng là chuyện thường tình.

Cán bộ lãnh đạo khi bệnh có phòng riêng, có bác sĩ riêng, có y tá, điều dưỡng riêng, có chế độ chăm sóc cũng riêng. Đa số lại chữa trị ở nước ngoài với cả cặp đô la, cả túi hột soàn mang theo để chi tiêu, chưa kể đến ngân sách nhà nước dành cho họ. Họ đâu thấm cảnh chạy vạy từng đồng mua thuốc, bông, băng. Người thân của họ đâu phải nằm ở hành lang, ở sân bệnh viện để nuôi bệnh, họ đâu phải xếp hàng để kiếm miếng cơm từ thiện qua ngày. Cho nên họ mạnh miệng cho răng thu phí người nuôi bệnh là hợp lý. Tuyên bố như thế là chưa thấm được nỗi đau của dân, chưa đồng cảm với nỗi khổ của dân. Dân đã nghèo tận đáy khi trở thành người bệnh mà tận thu như thế là một việc làm tàn nhẫn. Có thể gọi là vô đạo. Đồng ý là bệnh viện hoạt động phải có kinh phí thế nhưng đã gọi là một chế độ vì dân, do dân và lo cho dân mà còn tính với dân miếng nước dội cầu, một chút ánh sáng của bóng đèn thì chính phủ đó có còn nên tồn tại không? Ngân sách hàng năm dành cho y tế cũng không nhỏ, sao lại nghĩ đến chuyện tận thu những người đi nuôi bệnh, những người đã nghèo đến tận cùng khi đến bệnh viện.

Ngày xưa ở miền Nam, các bệnh viện công còn gọi là nhà thương thí, ở đó bệnh nhân được chữa trị không mất tiền, còn được nuôi ăn. Người nuôi bệnh có chỗ còn được cung cấp các bữa ăn do các tổ chức xã hội phân phát. Họ không hô hào vì dân nhưng họ đồng cảm với hoàn cảnh với người bệnh. Đó là cách đối xử nhân văn, nhân đạo giữa con người với nhau. Còn bây giờ chúng ta hành xử với nhau như thế nào? Các ngài cứ nghĩ việc tận thu, càng nhiều càng tốt, sống chết mặc bay với những lý lẽ nghe qua tưởng chừng rất hợp lý.

“Ngày 10-4, trao đổi với báo chí về vấn đề BV có được thu phí người nuôi bệnh hay không, Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế Nguyễn Viết Tiến cho rằng hiện nay các BV đã thực hiện tự chủ tài chính, chủ trương của Bộ Y tế cố gắng tạo điều kiện cho các cơ sở y tế làm chủ về kinh phí để có nguồn trả lương cho nhân viên và thực hiện nhiều công tác khác. Do đó theo Thứ trưởng Nguyễn Viết Tiến, những khoản thu hợp pháp, không sai luật thì BV vẫn được quyền thu.
Trở lại vấn đề thu phí người nuôi bệnh, Thứ trưởng Bộ Y tế nhìn nhận nhiều người không phải là bệnh nhân vào BV nhưng sử dụng điện, nước, vệ sinh, ảnh hưởng môi trường. “BV phải cử nhân viên hoặc thuê người dọn dẹp vệ sinh và trả tiền cho các khoản điện, nước này. Về nguyên tắc, BV là đơn vị tự chủ kinh phí nên người vào sử dụng dịch vụ phải trả tiền là hợp lý”

Cái hợp lý mà các ngài đang đề cập đến là sự hợp lý tàn nhẫn vô nhân đạo. Sự tận thu này đã đẩy người bệnh đã nghèo càng khổ thêm, họ càng túng quẫn hơn khi phải thêm một khoản kinh phí không biết tìm đâu. Họ lại phải nhịn ăn, bán thêm ruộng vườn để đáp ứng việc tận thu của các ngài. Khốn nạn thật!

From: Nguyen Tien Dung & Kim Bang Nguyen