“BẮT TÔI NGÀY HÔM TRƯỚC, HÔM SAU CHẾ ĐỘ SỤP ĐỔ”

Image may contain: 1 person
Ngô Thứ

Nhà báo Nguyễn Vũ Bình

“BẮT TÔI NGÀY HÔM TRƯỚC, HÔM SAU CHẾ ĐỘ SỤP ĐỔ”

Vâng, đó là câu nói của nhà văn, nhà báo Phạm Thành khi được mọi người hỏi việc nhà cầm quyền sẽ có bắt ông hay không? Nhiều người phì cười vì câu nói này, nhẹ nhàng hơn thì lắc đầu, im lặng. Tất nhiên, nếu hiểu nghĩa đen, tức là bắt Phạm Thành ngày 21/5, ngày 22 chế độ sụp đổ thì quả là nực cười. Nhưng nếu hiểu ngày hôm sau là một tương lai gần, rất gần thì sao? Đó chưa chắc là điều đáng buồn cười, vì Phạm Thành đã từng có những quả quyết mà rất nhiều người phản đối, cuối cùng đã thành sự thật. Ít nhất chúng ta được chứng kiến hai sự việc mà Phạm Thành đi ngược lại dư luận, trong lúc cao trào, nhưng cuối cùng đã đúng. Việc đầu tiên về MC Phan Anh trong việc kêu gọi giúp đỡ đồng bào lũ lụt miền Trung năm 2016. Khi đó, mọi người tung hô Phan Anh, Phạm Thành đã cảnh báo về việc người dẫn chương trình này nhiều khả năng là chim mồi và sẽ gây ra Scandal thì quả nhiên sau đó vụ việc Phan Anh đã là cú sốc cho rất nhiều người. Nhưng việc thư hai mới là độc đáo.

Chúng ta biết việc ông Nguyễn Phú Trọng đã có chương trình và kế hoạch thăm Hoa Kỳ vào tháng 10/2019 từ cuối năm 2018. Khi đó, những dấu hiệu lạc quan về quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ xuất phát từ cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ – Triều giữa tổng thống D.Trump và chủ tịch Kim Jong Un được tổ chức tại Việt Nam và những chỉ dấu cho thấy việc xích lại gần nhau giữa Việt Nam và Mỹ. Một số động thái của Việt Nam khi đó cho thấy có thể có sự xoay trục, tức là Việt Nam tìm kiếm đồng minh từ Hoa Kỳ, như vậy có nghĩa là xa rời Trung Quốc, thoát Trung. Không ít người hi vọng vào điều này, và có lẽ đó là mong mỏi chung của người dân Việt Nam không chỉ lúc đó mà cả hiện nay. Tuy nhiên, nhà báo Phạm Thành đã khẳng định chắc nịch, ông Trọng không thể đi Mỹ và không bao giờ đi Mỹ được! Rất nhiều người dã ngạc nhiên.

Tháng 4/2019, ông Nguyễn Phú Trọng vào Kiên Giang và bị đột quỵ. Việc ông Trọng mắc bệnh đột ngột đã là một sự giật mình về dự đoán của nhà báo Phạm Thành. Tuy nhiên, đó chưa phải là điều hay nhất.

Ngay sau một thời gian được chữa trị tích cực, ông Nguyễn Phú Trọng đã hồi phục. Tuy sức khỏe suy giảm, nhưng đã xuất hiện trong các cuộc họp bàn quan trọng của đảng và nhà nước chỉ sau đó mấy tháng. Việc đi Mỹ của ông Nguyễn Phú Trọng lại được hâm nóng trở lại. Cùng với đó là những hi vọng lại được nhen nhóm. Nhưng Phạm Thành lại một lần nữa bác bỏ thẳng cánh việc này. Là người chơi khá thân với nhà báo Phạm Thành, nên tôi đã chứng kiến trong một cuộc gặp, hầu như những người ở đó đều có ý kiến việc ông Trọng đi Mỹ là khả thi, sẽ diễn ra thì Phạm Thành vẫn khăng khăng ông Trọng không thể đi Mỹ! Không ít những vụ cá cược đã xảy ra Phạm Thành một mình một vế.

Cuối cùng như tất cả đều biết, ông Nguyễn Phú Trọng đã không đi Mỹ! Phạm Thành đã đúng! Có thể mọi người cho rằng nhà báo Phạm Thành chỉ đoán mò và may mắn đúng. Nếu như vậy thì sẽ không có gì đáng nói và sẽ không có bài báo này. Anh Phạm Thành giải thích như sau. Ông Trọng muốn đi Mỹ thì bắt buộc phải đồng ý làm đồng minh của Mỹ trước khi đặt chân tới Mỹ. Đối với các đời tổng thống trước, và không phải D.Trump, thì việc ỡm ờ đu dây của Việt Nam có thể được chấp nhận, ông Trọng có thể đi Mỹ thoải mái. Kết quả ra sao không quan trọng lắm đối với một chuyến đi. Nhưng với ông D.Trump thì khác, không bao giờ có chuyện tiếp nguyên thủ quốc gia mà chưa có kết quả rõ ràng. Và như vậy, việc ông Trọng đã không quyết đoán trong việc làm đồng minh với Mỹ thì không thể có chuyện đặt chân tới Mỹ một lần nữa!!!

Qua việc nhận định và dự đoán này, chúng ta thấy sự sắc xảo và chính xác của nhà báo Phạm Thành đối với ông Nguyễn Phú Trọng, đối với tổng thống D.Trump và mối quan hệ Việt – Mỹ. Việc nhìn thấu tâm can tổng bí thư, chủ tịch nước cũng như xuất bản cuốn sách Thế Thiên hành đạo hay đại nghịch bất đạo cũng chính là giọt nước tràn ly dẫn tới việc nhà báo Phạm Thành bị khởi tố, bắt tạm giam ngày 21/5 vừa qua.

Trở lại với tiêu đề bài báo, với tuyên bố của anh Phạm Thành về việc mình bị bắt chưa chắc đã là một tuyên bố ngông cuồng. Vẫn còn dự đoán của anh Trần Huỳnh Duy Thức về mốc 2020, đó là năm tận của chu kỳ 2010 Vong và 2020 Tận theo cách tính số gian Lục Thất và số gian Thập Phân về chế độ cộng sản Việt Nam (trong bài viết: Kỷ Sửu và Vận Hội mới của Việt Nam). Trên thực tế, sự suy giảm của nền kinh tế do đại dịch Covid-19, những đấu đá trước thềm đại hội XIII của đảng cộng sản, cộng với sự phức tạp nảy sinh do thế giới truy cứu trách nhiệm của Trung Quốc về đại dịch sẽ là một thách thức thực sự đối với sự tồn tại của chế độ cộng sản Việt Nam. Cuối cùng, như lời anh Phạm Thành nói, Anh là hồn thiêng sông núi, động vào Anh là động vào hồn thiêng sông núi, sẽ phải trả giá bằng chính sự tồn tại của chế độ này. Chúng ta hãy cùng chờ xem./.

Hà Nội, ngày 25/5/2020

N.V.B

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=2729231453853478&id=100002999510575

Nội chiến nước Mỹ và bài học hành xử văn minh của các nhà lãnh đạo

httpv://www.youtube.com/watch?v=7v_XtbSzJe0

TAPS ACROSS AMERICA The National Moment of Remembrance Memorial Day Taps 2020

Nội chiến nước Mỹ và bài học hành xử văn minh của các nhà lãnh đạo

Tháng 4 là mốc thời gian đáng lưu ý của lịch sử Hoa Kỳ. Cuộc nội chiến Nam – Bắc Hoa Kỳ bắt đầu vào ngày 12/4/1861. Bốn năm sau, ngày 9/4/1865, tướng Lee của miền Nam đầu hàng tướng Grant của miền Bắc, đánh dấu cột mốc lịch sử quan trọng, nhưng đáng chú ý hơn cả là hành xử của lãnh đạo hai miền, để lại bài học hòa hợp dân tộc cho cả quốc gia. 

Tháng 4 là mốc thời gian đáng lưu ý của lịch sử Hoa Kỳ. (Ảnh qua Tri Thức Mở)

See the source image

Ảnh minh họa: Andy Van

See the source image

See the source image

Cách đây 150 năm, Tướng Robert E Lee của quân đội miền Nam đầu hàng Tướng Ulysses Grant của quân đội miền Bắc, đánh dấu kết thúc cuộc nội chiến đẫm máu nhất trong lịch sử Hoa Kỳ,

Sở dĩ gọi là chiến tranh Nam Bắc là vì cuộc chiến diễn ra giữa hai phe: Phe miền Bắc (còn gọi là phe liên bang) đứng đầu là Tổng thống Lincoln chủ trương xóa bỏ buôn bán nô lệ người da đen và phe miền Nam chống lại chủ trương này. Tuy tướng Lee đã nhiều lần tấn công và gây tổn thất khá nặng cho đội quân của tướng Grant, nhưng quân miền Bắc được sự hỗ trợ to lớn từ ngân sách liên bang và chiêu mộ được thêm nhiều quân số từ những người nô lệ da đen vừa được giải phóng nên cuối cùng quân miền Nam của tướng Lee phải chấp nhận thua trận.

Cuộc chiến tranh Nam – Bắc Hoa Kỳ

Nội chiến xảy ra trong hai nhiệm kỳ của Tổng Thống Lincoln từ năm 1861 đến 1865 với hai vị tướng chỉ huy sau cùng là Tướng Ulysses S. Grant của miền Bắc và Tướng Robert E. Lee của miền Nam. Tuy miền Nam với các tiểu bang ly khai bầu ra một Tổng Thống Jefferson Davis nhưng nhân vật anh hùng miền Nam chính là Tướng Lee. Ông Robert Lee nguyên là tướng lãnh của quân đội liên bang Hoa Kỳ nhưng gốc người miền Nam. Ông đã từng là chỉ huy trưởng trường West Point. 

Tháng 4/1861 khởi chiến Nam Bắc, Tướng Lee được đề nghị chỉ huy quân đội miền Bắc nhưng ông không nhận và xin từ nhiệm để về đầu quân miền Nam tại Richmond, tiểu bang Virginia. Ông nói là không thể quay lưng với nơi ông đã sinh ra và trưởng thành. Trong chiến tranh, ông lập được nhiều chiến công và là vị tư lệnh sau cùng của miền Nam nhưng sau khi thủ đô Richmond của miền Nam bị thất thủ, ông đã quyết định đầu hàng. 

Cuộc chiến tranh tương tàn đẫm máu làm tổn hại hàng triệu sinh linh Hoa Kỳ, tan nát các đô thị miền Ðông và vùng Virginia. Tất cả đã thể hiện trong tác phẩm và cuốn phim bất hủ “Cuốn Theo Chiều Gió” mà chúng ta đã đọc cũng như coi nhiều lần suốt thời niên thiếu. Ngay cho đến bây giờ, tác phẩm này vẫn còn là tài liệu được đem dạy ở trường học với sự say mê và hãnh diện của nhiều thế hệ Hoa Kỳ.

Bài học bắt đầu từ việc đầu hàng

Nói về câu chuyện đầu hàng. Sau chiến tranh, nước Mỹ sưu tầm và dựng lên khắp miền Ðông hàng trăm viện bảo tàng. Mỗi tiểu bang ít nhất là một viện bảo tàng. Mỗi trận đánh trên chiến trường xưa cũ với các di tích đều có một viện bảo tàng. Bằng hội họa, nhiếp ảnh, dữ kiện, thêm vào âm thanh ánh sáng, người ta dựng lại lịch sử các cuộc thương thuyết, các cuộc điều binh và các trận chiến ác liệt.

Quân đội hai bên Nam Bắc, quân phục màu xanh, quân phục màu xám, các tướng lãnh, sĩ quan, binh sĩ và dân chúng. Những cái chết đau thương và anh hùng của cả hai bên, những mối tình bất hủ, tràn đầy hình ảnh em hậu phương, còn anh nơi tiền tuyến. Không phải hàng trăm mà có đến hàng nghìn tác phẩm điện ảnh về chiến tranh Nam Bắc. Cả những phim vĩ đại mới ra đời trong vài năm gần đây vẫn còn hình ảnh của cuộc nội chiến ngày xưa. Nhưng có điều lạ là người ta không ca ngợi người chiến thắng là những anh hùng thần thánh để miệt thị người chiến bại miền Nam như những kẻ phản quốc, mà chính những người miền Nam lại ngẩng cao đầu. 

Sự thật là vậy, trong hàng trăm bảo tàng viện về Civil War của Hoa Kỳ, thì viện bảo tàng Appomattox Court House ở Virginia là nơi nổi tiếng nhất, vì dựng lên ngay tại một ngôi nhà mà Tướng Lee đã đến ký văn bản đầu hàng năm 1865. Tại đây, câu chuyện về vị tướng phe bại trận miền Nam lại được viết ra, thậm chí hình ảnh của ông lại được chiêm ngưỡng nhiều hơn cả phe thắng trận.

Lịch sử ghi lại, sáng ngày 9/4/1865, thủ đô miền Nam là Richmond thất thủ, kỵ binh của miền Bắc cùng với 3 quân đoàn bộ binh vây hãm quân miền Nam hết đường tháo lui. Bộ tham mưu của Tướng Lee đề nghị nên chia nhỏ quân của mình ra và tiến hành đánh du kích, nhưng Tướng Lee quyết định đầu hàng, ông nói: “Nếu cứ tiếp tục chiến tranh gây bao chết chóc thì tội của tôi đáng chết gấp ngàn lần”. Vị danh tướng của Hoa Kỳ trải qua bao nhiêu chiến thắng, nhưng sau cùng vì quân số và tiếp vận bị giới hạn nên đành bất lực chấp nhận thua cuộc. Với lá thư riêng, ông gửi cho Tướng Grant của miền Bắc yêu cầu thu xếp buổi họp mặt.

Tướng Grant nhận được thư hết sức vui mừng và nhắn lại, đề nghị tướng Lee có thể chọn địa điểm thương thuyết mà ông muốn. Cuối cùng, căn nhà của một người buôn bán tên là Wilmer Mc. Lean tại làng Appomattox đã được chọn (ngày nay ngôi nhà này trở thành di tích lịch sử quốc gia, và được gọi là Appomattox Court House). Đồng thời, vị tư lệnh miền Bắc ra lệnh nghiêm cấm các sĩ quan và binh sĩ trực thuộc không được tỏ ra bất cứ hành động nào vô lễ với ông tướng tư lệnh miền Nam bại trận.

Tranh vẽ lại theo bức ảnh chụp thời đó- Tướng Grant (áo sậm) bắt tay tướng Lee (áo xanh nhạt). (Ảnh qua Tri Thức Mở)

Trưa ngày lịch sử 9/4/1865, hai người ngồi trong phòng khách của ông Mc. Lean và hàn huyên thân mật về những kỷ niệm quân ngũ trong cuộc chiến tranh Mexico (cả hai vị tư lệnh đã biết nhau trong cuộc chiến tranh với Mễ Tây Cơ). Họ đã nhắc lại một thời bên nhau trong quá khứ, câu chuyện lâu đến nỗi tướng Lee sốt ruột, chủ động đề cập đến “mục đích buổi gặp gỡ của chúng ta ngày hôm nay là bàn về việc đầu hàng”. Tướng Grant bèn lấy cây bút chì và tờ giấy viết vội những điều khoản và trao cho tướng Lee, trong đó có những nội dung nói về binh lính miền Nam:

Những binh lính miền Nam sẽ không bị coi là quân đội phản quốc (treason) 

Những binh lính miền Nam sẽ không bị đi tù (imprisonment)

Chính phủ không được đụng tới hoặc làm họ phiền hà nếu họ chấp hành tốt luật lệ nơi cư ngụ.

Kỵ binh được quyền mang ngựa và lừa về nhà để giúp gia đình họ cày cấy vào mùa xuân. 

Binh lính được quyền giữ lại khí giới cá nhân để giúp họ bảo vệ gia đình (nên nhớ là trong hiến pháp Mỹ, mọi người dân được quyền mang khí giới để tự vệ).

Sau khi xem qua những điều tướng Grant vừa viết, tướng Lee nói: “Những điều này sẽ có tác động tốt đến quân sĩ của tôi. Chúng sẽ góp phần quan trọng trong việc hòa giải dân tộc chúng ta”. Tướng Lee cho biết ông sẽ trao trả những tù binh miền Bắc vì ông không có đủ lương thực cho họ. Tướng Grant đáp lại rằng, ông sẽ gửi ngay cho binh lính miền Nam 25.000 phần lương thực khô. Ông cũng ra lệnh cho in 28.231 giấy phóng thích binh lính miền Nam. 

Theo quy luật chiến tranh thời đó, quân miền Nam phải giải giới, tước bỏ khí giới và quân dụng. Tự do trở về quê cũ như các dân thường. Tướng Lee đồng ý, nhưng chỉ đòi hỏi một điều sau cùng là yêu cầu cho binh sĩ của ông được giữ lại lừa ngựa, vì lính miền Nam đem ngựa từ các nông trại của họ đi chiến đấu. Không phải ngựa của chính phủ cấp như lính miền Bắc. Tướng Grant thỏa hiệp là sẽ không sửa chữa chính thức trên văn bản, nhưng thực tế sẽ cho lệnh để lính miền Nam đem lừa ngựa về nhà mà xây dựng lại nông trại.

Hành xử văn minh của những người quân tử

Ngày 12/4/1865, quân đội của tướng Lee tiến vào ngôi làng Appomattox để giao nộp vũ khí… Tướng Joshua L.Chamberlain của miền Bắc được chỉ định tiếp nhận binh sĩ qui hàng. Trước hàng quân miền Bắc nghiêm chỉnh, ông nhìn những binh sĩ miền Nam bại trận đi vào làng với cảm xúc dâng trào. Sau này ông viết lại: “Giây phút đó làm tôi thực sự xúc động. Tôi quyết định đánh dấu sự kiện này bằng một hành động, không gì khác hơn là giơ tay chào kiểu nhà binh. Tôi biết có người sẽ chỉ trích tôi về cử chỉ này. Tôi đã không xin phép và cũng không yêu cầu sự tha thứ về hành động này. Đối diện với chúng tôi là những chiến binh, bại trận nhưng can trường, là biểu tượng cho tinh thần trượng phu, không rã rời, không đau khổ, bất chấp hy sinh và không có gì khuất phục được họ. Giờ đây, họ là những người ốm yếu và đói khát, nhưng họ hiên ngang nhìn thẳng vào chúng tôi, làm sống dậy những ràng buộc thiêng liêng cao cả hơn bao giờ hết. Không có lý do gì để những đấng nam nhi ấy không được hội nhập vào Hợp Chủng Quốc vững vàng của chúng ta”.

Sau đó tất cả hàng ngũ quân miền Bắc thắng trận từ đơn vị này đến đơn vị khác đều nghiêm chỉnh giơ tay chào kiểu nhà binh. Vị tướng dẫn đầu đoàn quân miền Nam đầu cúi xuống trong buồn bã, chợt nhận ra và ngồi thẳng lại trên lưng ngựa, giơ tay chào đáp lễ. Ông ra lệnh cho các đơn vị theo sau tuân theo nghi lễ quân sự khi đi ngang qua đoàn quân miền Bắc. Không có kèn thắng trận, không có tiếng trống, tiếng hô, tiếng reo hò mừng chiến thắng, không một lời nói hay tiếng xì xầm … Một sự im lặng đến nghẹt thở. Từ sáng sớm đến chiều tối, những người lính miền Nam đều giơ tay chào khi đi ngang qua hàng quân miền Bắc cũng đang giơ tay chào. Họ giao nộp vũ khí, những lá cờ trận rách tơi tả của miền Nam và trở về quê. Gần 100.000 quân miền Nam đã qui hàng ở làng Appomattox. Vài ngày sau tất cả rời khỏi nơi này, ngôi làng trở lại cuộc sống bình thường.

Khi tướng Lee ra về thì tướng Grant và mọi tướng lãnh khác đều đứng nghiêm trang chào. Một điều đáng nói nữa là sau khi chiến thắng, các binh sĩ miền Bắc muốn “ăn mừng chiến thắng”, tướng Grant đã ra lệnh cho mọi người không được ăn mừng (no celebration), ông nói: “Họ bây giờ đã là người dân của mình”. Chính nhờ lời nhắc nhở ấy mà 20 vạn binh miền Nam đã được an lành trở về với gia đình trong sự tôn trọng của những người chiến thắng.

Còn Robert E. Lee, dù đầu hàng nhưng vẫn “ngẩng cao đầu” và không một ai ở phía thắng trận khi nhắc tới ông không tràn đầy thán phục và sự ngưỡng mộ về nhân cách lớn lao trong thất bại của Lee. Ông Ron Wilson, sử gia của Appomattox Court House nói: “Tướng Grant và tướng Lee có một tầm nhìn rất xa. Hai ông nhận thức rằng những nỗ lực hai bên cùng dồn vào cho cuộc chiến đã gây ra sự phân hóa khắc nghiệt trong bao năm qua, giờ đây cần phải được dùng để tái thiết quốc gia. Không cần phải có hận thù”. Tướng Lee và tướng Grant đã đi vào lịch sử như những huyền thoại.

Tướng Ulysses Simpson Grant

Tướng Robert Edward Lee.

Bài học nghĩa trang và mộ phần của các tử sĩ phe chiến bại tại Hoa Kỳ.

Sau cuộc nội chiến, các tiểu bang miền Nam có hàng nghìn nghĩa trang lớn nhỏ chôn cất tử sĩ của phe bại trận và trên đó luôn luôn có lá cờ gạch chéo đã một thời tung hoành trên chiến trường.

Ngay sau khi chiến tranh chấm dứt, hoàn toàn không có tù binh, ai về nhà đó, cùng xây dựng lại quê hương.

Nghĩa trang bên nào bên đó tự lo lấy, xấu đẹp tùy sức. Nhưng điều đáng ngạc nhiên là ngay tại nghĩa trang quốc gia của phe miền Bắc ở thủ đô Hoa Thịnh Ðốn có một khu chôn cất tử sĩ miền Nam với tượng đài gọi là Confederate Memorial. Nơi đó thường dạy chúng ta bài học làm người văn minh.

Vết thương nào rồi cũng phải được hàn gắn. Nước Mỹ đã có những bước ngoạn mục đầy màu sắc văn minh ngay từ khi chiến tranh chấm dứt, họ chấp nhận và tôn trọng người bại trận như những anh hùng. Trong chiến tranh và hậu chiến luôn luôn cần có các nhà lãnh đạo, các tướng lãnh quân tử. Và nhà lãnh đạo phải biết xưng tụng các bậc anh hùng trong hàng ngũ kẻ thù, biết nâng người xuống ngựa và biết tôn trọng các tử sĩ của hàng ngũ đối nghịch, chớ không phải phá tan nghĩa trang và đào mồ cuốc mã của người ta như những kẻ tiểu nhân bỉ ổi ở những nước lạc hậu.

Việt Anh (t/h)

CHIẾN BINH THỜI ĐẠI

Image may contain: 1 person
Hoang Le Thanh

CHIẾN BINH THỜI ĐẠI

Donald J. Trump – Một tổng tư lệnh quân đội Hoa Kỳ – quyết tâm tiêu diệt Xã Hội Chủ Nghĩa.

Khi 100.000 người dân Mỹ chết – sự đau thương đủ làm bùng nổ cơn giận, trở thành tàn bạo – đây là lúc Mỹ phải tiêu diệt cộng sản Tàu.

Ngày 20/5/2020, Thượng viện Hoa Kỳ đã thông qua Đạo luật Trách nhiệm của các công ty nước ngoài (The Holding Foreign Companies Accountable Act – HFCAA).

Thực chất đạo luật này dành quyền Kiểm soát và loại bỏ tất cả các công ty ChinaZi trên thị trường chứng khoán Hoa Kỳ !!!

Rất chóng, đạo luật sẽ được Tổng Thống Donald Trump ký ban hành.

Mục đích tổng thể đạo luật nầy là loại Trung Quốc ra khỏi thị trường vốn, bảo vệ các nhà đầu tư và thị trường việc làm của Hoa Kỳ. Đây cũng được xem là “đòn trừng phạt” dành cho ĐCSTQ vì các chính sách lạm dụng thương mại và nguồn vốn của Hoa Kỳ.

Con số vốn này trị giá 1,2 nghìn tỷ USD (MỘT NGÀN HAI TRĂM TỶ ĐÔ LA).

Bị khóa sổ chứng khoán ở Mỹ, chứng khoán tạị Thượng Hải sẽ không còn tác dụng – 45% tổng số vốn của Trung cộng – nguồn tiếp viện nuôI sống guồng máy kinh tế cho Tàu cộng nhiều thập niên qua bị cắt đứt đồng nghĩa là Trung cộng sẽ trắng tay sẽ khánh kiệt, cái chết “Trung Hoa Mộng” sẽ xảy ra đồng loạt !

Trước khi có hành động quân sự, phải bóp chết đường máu huyết mạch của kẻ thù !

Trung cộng là tác nhân chế tạo vũ khí vi trùng đã giết hại gần 350 ngàn dân lành vô tội của nhân loại.

Tập Cận Bình và bè đảng gian ác sẽ đền tội trước nhân loại

*
Tin Sét Đánh Vào Đầu ChinaZi

Hoan nghênh và ủng hộ Mr. Donald J. Trump – người chiến binh thời đại !

Ông ta chiến đấu cho tất cả chúng ta !

He fights for you !

Công lý không phải diễn viên hài, còn “nhân quả” luôn nằm trong tay ta

Công lý không phải diễn viên hài, còn “nhân quả” luôn nằm trong tay ta

 Chúng ta nợ Hồ Duy Hải và gia đình anh một thứ công lý đúng nghĩa.

By  Y Chan

Gia đình Hồ Duy Hải: cô Hồ Thị Thu Thủy (em gái) và bà Nguyễn Thị Loan (mẹ). Ảnh: Lê Thế Thắng/Báo Sạch.

Khi nghe phán quyết cuối cùng của Hội đồng thẩm phán về vụ án tử tù Hồ Duy Hải, trái tim của hàng triệu người đã bị bóp nghẹn.

Nhưng có nghẹn đến đâu, nó chắc chắn cũng chỉ như một vết kim đâm so với nỗi đau không bút mực nào tả xiết của cô Nguyễn Thị Loan, người mẹ trong suốt 12 năm qua đã lặn lội ngược xuôi Nam Bắc kêu oan cho con.

Và cho dù không nhiều người nhắc đến, nỗi đau của những người nhà nạn nhân cũng thật khó tưởng tượng.

Chừng ấy năm trời, trong khi công lý cho những người thân xấu số của họ chưa thấy đâu, thì một thứ công lý dị dạng, nấp sau vô số lần phẫu thuật thẩm mỹ, bơm mông độn má cho khớp với cái não trạng của những kẻ nắm quyền sinh sát, lại được vô tư chụp lên đầu người khác.

Hàng ngàn năm trước, những người Hy Lạp xưa có lẽ đã biết đến sự tồn tại của những giống sinh vật này.

Procrustes, một nhân vật trong thần thoại Hy Lạp, là chủ nhân một ngôi nhà ở Attica, nằm trên đường đi giữa Athens và Eleusis. Truyện kể rằng Procrustes có một chiếc giường sắt đặc biệt, chuyên dùng tiếp đãi các vị khách ghé thăm. Procrustes muốn khách nằm vừa vặn hoàn toàn trên chiếc giường đó. Vậy nên với người có cơ thể quá ngắn, hắn kéo dài các chi của họ ra cho khớp. Gặp những người cơ thể quá dài, hắn chặt bớt chân để vừa với chiếc giường. Chỉ cần lọt vào tay của Procrustes, ai cũng sẽ “được” cắt gọt để vừa vặn với chiếc giường đó. Tất cả nạn nhân đều chết, còn chiếc giường của Procrustes thì luôn hoàn hảo.

Trong khi Procrustes của Hy Lạp chỉ là một nhân vật tưởng tượng, các “Procrustes xứ Việt” ngày nay lại là những cơn ác mộng hãi hùng rất thực của biết bao người.

Họ là các điều tra viên tài ba, dùng đủ mọi cách dọa dẫm, ép cung, bắt nghi phạm “tập đi tập lại các động tác [giết người] từ trong trại giam để đi thực nghiệm tại hiện trường”, như lời của người tù oan nổi tiếng Nguyễn Thanh Chấn kể lại.

Họ là những cán bộ mẫn cán, “phá án” từ lời nói đùa của một người say xỉn, sau đó còn “dấn thêm bước nữa” đánh đập, mớm cung buộc người đó “nhận luôn” một vụ án giết người nhiều năm trước chưa bị phá, như trường hợp của “người tù thế kỷ” Huỳnh Văn Nén.

Đó chỉ là những trường hợp may mắn, theo đúng nghĩa đen của từ, được minh oan một cách hoàn toàn tình cờ nhờ vào việc nghi phạm thật sự bỗng nhiên xuất hiện. 

Còn biết bao nhiêu trường hợp oan khuất khác vĩnh viễn không được cất tiếng nói?

Và giờ đây chúng ta có vụ án Hồ Duy Hải, nơi mà những người cầm cân nảy mực ở cấp độ cao nhất trong hệ thống tư pháp của đất nước, dù thừa nhận có “sai sót tố tụng” nhưng vẫn khẳng định chắc nịch 100% (hay 17/17) rằng những cái sai đó “không thay đổi bản chất vụ án”, và quyết định giữ nguyên án tử.

Nói cách khác, sau khi xem xét các “chứng cứ” đã được cắt chỗ này gọt chỗ nọ kéo chỗ kia, các Procrustes xứ Việt hài lòng kết luận Hồ Duy Hải nằm vừa khít hoàn hảo với chiếc giường tội phạm.

Hồ Duy Hải có vô tội hay không? 

Nhiều người đã đặt ra câu hỏi như vậy, và đó là cách đặt vấn đề ngược đời, sai hoàn toàn ngay từ đầu.

Hồ Duy Hải hay bất kỳ ai cũng không có nghĩa vụ chứng minh mình vô tội.

Cơ quan điều tra hay bất kỳ ai muốn buộc tội người khác mới là người phải đưa ra bằng chứng để chứng minh cho điều họ nói.

Một khi bằng chứng có vấn đề (hoặc nói chính xác như trong vụ án này, là có rất nhiều vấn đề), thì lời buộc tội đó của họ là vô giá trị.

Họ không thể chỉ dựa vào lời khai “nhận tội” của người khác để xoay đảo các “chứng cứ” cho khớp với “bản chất của vụ án”.

Vì sao vẫn còn quá nhiều người đặt câu hỏi ngược đời như trên?

Đó là vì họ mặc định rằng “chính quyền là cha mẹ”, mà cha mẹ đã nói thì hoặc là “luôn đúng”, hoặc là “phải có lý do nào đó mới vậy chứ”.

Họ không thể tưởng tượng, hay chấp nhận sự thật, rằng chính quyền, cha mẹ, hay bất kỳ ai, cũng chỉ là người, và luôn luôn có thể sai, thậm chí là cố tình nhắm mắt đẩy đưa để tạo ra cái sai phục vụ cho những mục đích cá nhân của mình.

Sự thật là những “chứng cứ” đã được công khai cho tới nay trong vụ án sẽ không thuyết phục được bất kỳ một bồi thẩm đoàn được lựa chọn ngẫu nhiên nào.

Trừ phi còn những “chứng cứ bí mật” khác mà vì lý do nào đó vẫn phải “độc quyền” không công bố, thứ công lý mà chính quyền đang cố chụp lên đầu những người có liên quan trong vụ án chỉ là thứ công lý què quặt của những chuyên gia nằm giường.

Có thể khẳng định vào lúc này, câu hỏi Hồ Duy Hải có tội hay không là vô nghĩa. 

Nếu chấp nhận thứ công lý dị dạng được dùng để buộc tội Hải, thì bất kỳ một Nguyễn Văn A hay Trần Thị B nào đó, chỉ cần xui xẻo lọt vào mắt xanh của các điều tra viên, nhờ vào các “biện pháp nghiệp vụ” tùy tiện vô nhân tính, cũng đều có thể biến thành tử tù.

Có chấp nhận thứ công lý dị hợm đó hay không, hoàn toàn là quyền của chúng ta.

Từ “justice” (công lý) của tiếng Anh có gốc từ chữ iustus của tiếng Latin. Từ này lại có gốc từ chữ ius với nghĩa là “quyền”. Công lý vì vậy là một thứ quyền lựa chọn của mỗi người.

Ngay cả khi những ngả đường pháp lý hạn hẹp cuối cùng còn lại cũng bị đóng sập, vẫn luôn có những lựa chọn khác.

Thể chế luật pháp nếu ngay từ đầu đã biến thái bệnh hoạn như chiếc giường của Procrustes, sớm muộn nó cũng phải bị phá bỏ. Giống như kết cục của Procrustes, sau khi giết hại bao nhiêu người, cuối cùng bị đặt trên chính chiếc giường sắt, và bị người khác chặt đầu để ăn khớp với chiếc giường hoàn hảo của mình. 

Có nhiều người đặt hy vọng vào “nhân quả”, viện dẫn cái chết “kỳ lạ” của những điều tra viên liên quan đến vụ án Hồ Duy Hải. Mỗi người đều có một niềm tin riêng. Nhưng sẽ không có thay đổi nào trên đời nếu ai cũng ngồi chờ “nhân quả” rớt từ trên trời xuống như vậy.

Người thân của Hồ Duy Hải đã dành ra suốt 12 năm qua, bán hết gia sản để tìm công lý cho anh. Người thân của những nạn nhân trong vụ án cũng đã phải mòn mỏi chờ đợi công bằng.

Chúng ta nợ tất cả họ một thứ công lý đúng nghĩa.

Ta không thể trả cho họ bằng một thứ công lý bệnh hoạn ăn khớp với đầu óc biến thái của một nhúm người, càng không thể khoanh tay ngồi chờ phép màu từ trên trời rớt xuống.

Chúng ta nợ họ một thứ công lý thật sự, dựa trên sự thật, và công bằng cho tất cả.

Chúng ta nợ thế hệ tương lai một thứ công lý khác với tên của một diễn viên hài, và một thứ “nhân quả” phải do chính mình tạo ra.

NẶNG VỚI QUÊ HƯƠNG MỘT TẤM LÒNG

No photo description available.
Image may contain: text
Hoang Le Thanh

NẶNG VỚI QUÊ HƯƠNG MỘT TẤM LÒNG

@Trần Trung Đạo

Giới thiệu bút ký Tôi Phải Sống của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ LM Nguyễn Hữu Lễ

Giới thiệu: Dưới đây là bài thu gọn của bài viết khá dài để giới thiệu bút ký Tôi Phải Sống của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ khi Cha đến Boston để ra mắt tác phẩm vào ngày 1 tháng 11, 2004. Nhân dịp Cha đăng lại tác phẩm trên Facebook, tôi tóm tắt bài viết của mình như một cách giới thiệu tác phẩm của Cha một lần nữa sau 16 năm. Trong phần phụ đính tác phẩm, Linh mục Nguyễn Hữu Lễ cũng có thêm toàn văn bài viết. Anh chị em và các cháu sẽ có cơ hội đọc. Trong không gian Facebook tôi chỉ xin thu ngắn.

—————–

Cách đây hơn bốn năm, cũng tại thành phố Boston này, lần đầu tiên tôi có duyên được nghe Linh mục Nguyễn Hữu Lễ nói về những áp bức nhân quyền và đấu tranh tôn giáo đang diễn ra tại Việt Nam. Dựa theo những ý chính trong buổi nói chuyện của Cha, tôi đã viết thành một bài tâm bút có tên “Theo Bước Chân Người Linh Mục”. Trong bài viết, tôi nhiều lần lập lại câu nói ngày nay đã trở thành quen thuộc của Cha Nguyễn Hữu Lễ: “Trước khi trở thành linh mục, tôi là người Việt Nam”.

Câu nói đó thật ra không phải là một khám phá thiên tài mà trái lại rất bình thường. Ai cũng có thể nói được và ai cũng biết đó là sự thật. Tuy nhiên biết đúng và sống đúng với những điều mình biết nhiều khi là hai chuyện khác nhau.

Tôi nghĩ rằng, hơn bao giờ hết, những người Việt Nam yêu thương đất nước mình không chỉ biết nói lớn như Cha Nguyễn Hữu Lễ mà còn phải biết sống vì đất nước như Cha Nguyễn Hữu Lễ, biết quý cái tổ mà chúng ta đã được ấp thành người dù chiếc tổ đó làm bằng rơm rạ Việt Nam chứ không phải bằng chăn êm nệm ấm xứ người.

Tôi nhận rất nhiều điện thư hồi đáp về bài viết Theo Bước Chân Người Linh Mục. Đa số hồi đáp rất tích cực. Bài viết đã dựng nên một nhịp cầu cảm thông, không những chỉ giữa cá nhân tôi và Cha, không những giữa các thế hệ Việt Nam ở hải ngoại, mà cả nhiều tín đồ của hai tôn giáo lớn. Bởi vì chúng ta, trước khi trở thành bất cứ một cương vị nào trong xã hội hay trong tôn giáo, đều là người Việt Nam, và trước hết phải có bổn phận đối với sinh mệnh của dân tộc Việt Nam.

Trong số những hồi đáp tôi cũng nhận được là một câu hỏi của một nữ sinh viên Việt Nam: “Cám ơn anh đã nhắc lại câu nói của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ, trước khi trở thành linh mục ông là người Việt Nam. Thế nhưng tôi thắc mắc là sau khi trở thành linh mục rồi, ông có còn là người Việt Nam nữa hay không?”

Tôi trả lời cô, theo tôi, Linh mục Nguyễn Hữu Lễ chịu đựng gian lao tù tội không phải vì ông là linh mục nhưng là vì cái tội ông đã yêu thương mảnh đất từng nuôi ông lớn, vì cái tội ông kính trọng các truyền thống đạo đức, tôn giáo tốt đẹp mà tổ tiên ông đã để lại, vì cái tội ông đã đeo đuổi cuộc đấu tranh cho một xã hội công bằng bác ái, dân chủ, tự do cho các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau. Tóm lại ông bị tù đày vì ông là người Việt Nam yêu nước.

Dù sao, câu trả lời cũng chỉ dựa theo hiểu biết giới hạn của tôi về những chịu đựng, gian nan mà Linh mục Nguyễn Hữu Lễ đã trải qua trong nhà tù Cộng Sản. Hôm nay, tôi tin rằng cô nữ sinh kia và quý đồng hương quan tâm ở trong cũng như ngoài nước, đã nhận được câu trả lời rõ ràng hơn và đầy đủ chi tiết hơn về hành trình gian khổ của Cha Nguyễn Hữu Lễ, được tích chứa trong bút ký dài 650 trang, Tôi Phải Sống, của ông.

Hồi ký rất cần thiết và rất giá trị. Nhưng có lẽ điều khó khăn và cần thiết nhất của một hồi ký là giữ được đặc tính khách quan, không phải chỉ khi mô tả bối cảnh đất nước, khi viết về người khác mà quan trọng hơn khi viết về chính tác giả. Nếu không, các thế hệ Việt Nam tương lai khi vẽ lại hình ảnh đất nước qua những hồi ký của ông cha, họ sẽ phải bâng khuâng và đặt nhiều nghi vấn.

Linh mục Nguyễn Hữu Lễ đã vượt qua những chướng ngại quá khứ nặng nề đó.

Ngay khi cầm bút viết dòng đầu tiên “Kính dâng lên Mẹ Việt Nam”, ông đã không có ý định viết để đổ thừa, không có ý định viết để khoe khoang thành tích tù đày, và cũng không có ý định về mình hay viết cho mình. Linh mục Nguyễn Hữu Lễ viết cho những người Việt Nam còn biết đau nỗi đau của đất nước dù họ đang ở đâu trên trái đất này. Linh mục Nguyễn Hữu Lễ muốn tặng cho các thế hệ Việt Nam tương lai một cơ hội để nhìn khuôn mặt còm cõi của nhau, để nếm mùi nước mắt cùng mặn đang lăn trên má của nhau. Cuộc đời trầm luân thống khổ của ông từ trước cổng trời cho đến tầng cuối của địa ngục nhân gian, nói cho cùng, không phải là lý do của tác phẩm nhưng đó chỉ là cái cớ cho cuộc hành trình chữ nghĩa của ông mà thôi. Ông đã dùng khổ đau của mình để gióng kêu tiếng kêu trầm thống của dân tộc Việt Nam.

Tập bút ký được chia làm 3 phần. Phần thứ nhất với tiểu đề Cuộc Đời và Bóng Đen.

Trong phần này tác giả mô tả hình ảnh đầu đời của ông, sinh ra từ một gia đình nông dân và lớn lên trong bóng mát của ngôi nhà thờ Bưng Trường nhỏ nhoi xinh xắn, thuộc vùng quê của tỉnh Vĩnh Long. Thời thơ ấu của tác giả giống như các trẻ em miền Tây, gắn liền với đồng ruộng, với những đàn cá tung tăng trên sông rạch và những đàn chim, đàn chuột trên đồng. Cho đến khi 10 tuổi, lần đầu tiên cậu bé Lễ chứng kiến cảnh cốt nhục tương tàn xảy ra cho chính gia đình cậu khi hai người bà con, một đi lính cho Pháp và một đi kháng chiến chống Pháp đã giết nhau trên bờ ruộng. Thảm cảnh như một cơn bão nhỏ, tuy qua đi, nhưng tâm hồn của cậu bé Lễ cũng từ đó không còn vô tư trong trắng nữa. Cậu miên man suy nghĩ về lý do, về chính nghĩa, về Việt Minh, về thực dân Pháp. Họ là ai, họ từ đâu đến, bao giờ chiến tranh sẽ tàn trên quê hương cậu? Một ước muốn hiến dâng và tinh thần phục vụ con người, cũng từ đó, bắt đầu nhen nhúm trong lòng cậu. Tháng 8 năm 1963, cậu xin phép cha mẹ, từ giã đời sống của một thiếu niên trong gia đình nông dân êm ấm để trở thành một chủng sinh với tâm nguyện trở thành Linh Mục Thiên Chúa Giáo.

Khoảng thời gian ba năm, từ khi ông được thụ phong linh mục vào năm 1972 cho đến 1975, linh mục hai mươi bảy tuổi Nguyễn Hữu Lễ đã chứng kiến một thực tế xã hội miền Nam chiến tranh điêu linh với tất cả các phó sản tiêu cực do cuộc chiến tạo ra. Ông đã chứng kiến những bất công xã hội, nạn tham nhũng lộng hành trong các quận huyện hẻo lánh. Ông nhìn thấy cảnh máu Việt Nam đổ trên những cánh đồng lúa Việt Nam. Dù bên này hay bên kia, như ông đã viết trong Tôi Phải Sống, những giọt máu bất hạnh đó “đều có chung một huyết thống đó là Dòng Máu Việt Nam.”

Trên hành trình phục vụ, ông đã chọn đứng về phía những kẻ bị áp bức, những người dân thấp cổ bé miệng, những con người bị ngược đãi không được ai quan tâm chăm sóc. Ông không được ưa chuộng trong hàng linh mục thời bấy giờ, bởi vì ông thẳng thắn chống lại những kẻ gây nên hay bao che cho những bất công sai trái, dù họ là ai.

Biến cố ba mươi tháng Tư năm 1975 đã làm thay đổi khuôn mặt đất nước. Ba mươi tháng Tư như một nhát dao chém xuống cuộc đời đầy hy vọng của tuổi thanh niên. Ba mươi tháng Tư như cơn bão quét ngang qua những ngọn cây xanh vừa mới đâm chồi.

Từ buổi chiều cuối tháng 5 năm 1976 cho đến cuối năm 1988 là thời gian mà tác giả Nguyễn Hữu Lễ gọi là Chiếc Lá Giữa Dòng.

Ông đã dành trên 400 trang trong phần 2 của tập bút ký, để kể lại hơn 12 năm trôi nổi giữa dòng đời, từ trại tạm giam đầu tiên ở Ban Mê Thuộc đến An Ninh Nội Chính, Phan Đăng Lưu, Gia Rây, Nam Hà, Cổng Trời, Thanh Cẩm.

Nếu độc giả nào nói với tôi rằng vị đó có thể đọc một mạch toàn bộ tác phẩm dày 650 trang của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ như đọc một truyện dài đầy ly kỳ gay cấn, tôi sẽ không tin. Mặc dù rất dễ bị cuốn hút vào câu chuyện hồi hộp và đầy bi tráng của ông, tôi đã nhiều lần phải dừng lại, để sách xuống và bước ra vườn. Tôi cần được thở, cần một chút gió và cần lấy lại bình tĩnh trước khi cùng đi với tác giả cho đến bước cuối cùng trong hành trình gian khổ của ông.

Trước mắt tôi, hình ảnh của Linh mục Vũ Đức Khâm đang dọn mình rửa tội trong những lời kinh đọc vội vàng của Cha Lễ. Trước mắt tôi hình ảnh một tù nhân Nguyễn Hữu Lễ ốm yếu trong manh áo rách tả tơi, nằm co ro trong ngục đá của trại Cổng Trời, giữa cái rét căm căm của mùa đông Việt Bắc. Trước mắt tôi thân hình đẫm máu của cố Dân Biểu Đặng Văn Tiếp và tiếng kêu đau xót của ông gởi về miền Nam xa xôi cho người mẹ già đang chờ đợi ông “Chắc con chết mất mẹ ơi” trước khi tắt thở dưới bàn tay độc ác của Bùi Đình Thi. Và bao nhiêu câu chuyện khác, chi tiết khác đã làm trái tim tôi nặng hơn, làm lòng tôi chùng xuống.

Tôi rất thường ca ngợi từ bi, bác ái và kêu gọi lòng nhân bản, bao dung trong những bài thơ, bài viết, bài nói chuyện của mình. Nhưng khi đọc tác phẩm Tôi Phải Sống của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ tôi cảm thấy nghi ngờ sự thành thật và giá trị đạo đức trong lời kêu gọi của chính mình.

Tôi chưa bước vào tù. Tôi chưa hề cầm súng. Tôi chưa ai hề bị ai đánh đập, chửi mắng, lăng mạ, bỏ đói, rẻ khinh. Việc nhân danh những điều tốt đẹp nhất trên đời, vì thế, đối với tôi là một việc dễ dàng. Nhưng liệu tôi có thể tiếp tục ca ngợi từ bi, bác ái sau khi bị biệt giam suốt ba năm trong phòng kỷ luật ở trại tù độc ác nhất thế gian như trại tù Cộng Sản hay không? Liệu tôi còn có thể tiếp tục kêu gọi bao dung tha thứ sau khi bị đánh chết đi sống lại suốt ngày đêm hay không? Tôi không dám hứa.

Nhưng Cha Lễ đã chịu đựng được, đã đứng lên được, không chỉ đứng lên như một linh mục, không chỉ đứng lên như một người Việt Nam, nhưng còn là một Linh Mục trung thành với lý tưởng cao cả của mình và như một người Việt Nam có con tim đầy ắp lòng nhân bản, vẫn ôm chặt vào lòng mảnh quê hương khốn khổ của ông.

Suốt 650 trang trong tác phẩm của một linh mục Công Giáo Việt Nam, Linh mục Nguyễn Hữu Lễ, cũng để mô tả một điều tương tự, rằng, từ trong tầng cuối cùng của địa ngục trần gian đen tối, ông đã tìm thấy một viên kim cương tình thương, bao dung, nhân bản mà dân tộc Việt Nam đang cần có. Từ vết thương đã mọc lên những bông hoa tuyệt mỹ của lòng bác ái và tâm hồn hướng thiện. Linh mục Nguyễn Hữu Lễ bước ra khỏi trại tù không phải như một kẻ được tha nhưng là một người chiến thắng. Đất nước đang lầm than nhưng đất nước vẫn còn đó và tấm thân của tác giả tuy trầy trụa, đau thương nhưng hơi thở chưa tắt và niềm tin chưa chết.

Để kết thúc tác phẩm, Linh mục Nguyễn Hữu Lễ viết: “Những năm tù cũng cho tôi có dịp chia sẻ và sống với nỗi đau thương chung của Dân Tộc, mà nếu không trải qua kinh nghiệm đó, có lẽ tôi không biết hoặc biết rất hời hợt về số phận đau thương của đồng bào Việt Nam. Qua đó, tôi thương và gắn bó với dân tộc tôi nhiều hơn.”

Đúng vậy, tôi rất đồng ý với Cha. Mẫu số chung tinh thần dân tộc vượt lên trên mọi hiệp định, mọi vĩ tuyến, mọi chia cách, mọi tôn giáo, thế hệ, trong hay ngoài nước. Cái chung tinh thần đó, có thể đang sôi sục trong lòng Cha hay tạm ngủ quên trong lòng tôi, lòng anh chị nhưng chắc chắn đã và đang hiện hữu trong mỗi người Việt Nam quan tâm đến vận mệnh đất nước. Nếu chúng ta biết đánh thức cái chung tinh thần đó dậy, sống trọn vẹn với cái chung đó, tôi tin rằng đại gia đình dân tộc Việt Nam sẽ sớm một ngày đoàn viên trong hạnh phúc.

Trong cùng tâm thức đó, tôi xin được trân trọng giới thiệu đến quý vị và độc giả bốn phương tập bút ký Tôi Phải Sống của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ.

Trần Trung Đạo

Link: https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=3276818645675432&id=100000419874304

Hai người thày

Image may contain: 6 people, people standing
Image may contain: one or more people
Lê Vi

Hai người thày

Hôm qua thấy hình ảnh tay thày giáo trưởng phòng khảo thí của Sở Giáo dục Hòa Bình tay giơ dấu chữ V chiến thắng cười tươi bước ra khỏi pháp đình, cho dù gánh án 8 năm tù, tôi chợt nhớ tới một thày giáo khác.

Ông tên là Kang Min-kyu, Hiệu phó trường Trung học Danwon, Korea dẫn đầu đoàn 325 học sinh đi trên chuyến phà Sewol vào tháng 4/2014. Phà chìm do lỗi của nhà vận chuyển, 200 học sinh của ông mất tích và chết. Ông được cứu sống nhưng sau đó tự vẫn. Trong thư tuyệt mệnh dài 2 trang, ông có viết rằng “Sống sót một mình thật quá đau đớn trong khi 200 người vẫn đang mất tích. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự việc này. Một lần nữa, tôi sẽ lại trở thành thầy giáo của những học sinh đã mất tích ở bên kia thế giới”

Một người thày tham gia vào vụ gian lận điểm số thi cử nhục nhã tới mức ghi dấu trong lịch sử giáo dục nước nhà. Một người mà vì hành động của mình cùng đồng nghiệp đã giết chết bao nhiêu niềm tin của học trò, của phụ huynh học sinh, của các thày cô giáo có lương tâm và trung thực. Anh ta phải vào tù, còn sống, nhưng ung dung cười nói và bày tỏ niềm tự hào. Không còn liêm sỉ, không biết phải trái.

Một người thày không thể sống tiếp dù sự việc xảy ra không hề do lỗi của ông. Nhưng trách nhiệm, lương tâm và liêm sỉ của một người thày khiến ông tự chọn cái chết. Ông không thể rời bỏ học sinh bất luận giá nào.

Dù tôi không mong thày Kang Min Kyu phải có lựa chọn đau đớn này. Nhưng tôi kính trọng nhân cách và liêm sỉ của ông. Vì cách hành xử của ông để lại cho mọi người sự kính trọng. Và hiểu rằng trên đời này Liêm sỉ là một điều quan trọng lắm. Nó có thể lớn hơn cả mạng sống. Nên người ta để bảo vệ chữ Liêm sỉ sẵn sàng hy sinh thân mình.

Trong sách giáo khoa giờ đây không thấy có bài nào dạy về Liêm sỉ. Nhưng sách Cổ học tinh hoa của Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc có dạy thế này:

“Liêm, sỉ là tính rất hay của loài người, vì người mà không liêm thì cái gì cũng lấy, không sỉ thì việc gì cũng làm. Người mà đến thế là người bỏ đi, không khác gì giống vật. Nhất những bậc đứng chủ trương việc nhà, việc nước mà vô liêm, sỉ thì nhà phải suy bại, nước phải nguy vong.

Nghĩ cho kĩ, thì sỉ cần hơn liêm: người không liêm làm những việc bất nghĩa, căn nguyên cũng ở vô sỉ mà ra.”

Nhìn vào hành xử của 2 người thày, thì tự hiểu những nguồn cơn bại hoại, suy vong hay thịnh vượng của giáo dục thế nào. Vì dù họ là thày, họ đều là sản phẩm của giáo dục, của xã hội họ đang sống.

Fb Nguyễn Thị Bích Hậu

Tôi viết về cảm xúc của tôi với người tổng thống

Tôi viết về cảm xúc của tôi với người tổng thống 

Tôi đã không ngăn được nước mắt của mình khi đọc bài  viết này từ 1 cô gái trẻ , Ôi ! sao Cô thông minh và hiểu  biết đến như vậy , trong đời tôi , lần đầu tiên khi đặt chân  đến nước ngoài sống và làm việc 39 năm tôi đã vô cùng  kính trọng ngưỡng mộ và bái phục 3 người :  đó là TT Trump , Nữ TT Taiwan Thái vân Anh , và cậu  sinh viên Wong thủ lãnh cờ vàng xuống đường Hongkong  người mà tên Tập Cặn Bã sợ nhất . và hôm nay cô gái trẻ này đã làm tôi bái phục, rất là yêu cô…Vanessa ! Nguyen Liên Hương Toronto Canada

 

 (Tác giả: Vanessa- Nguyễn-Việt Tự Do Munich ) 


… “Sau 3 năm dưới Trump leadership, tôi đã trưởng thành  hơn, tôi hiểu được rằng ai cũng có thể nói hay, nói ngọt,  hứa hẹn đủ điều, dẫn dắt ta vào thế giới ảo của một thiên  đường hạnh phúc,  nhưng chỉ có hành động của một người vượt qua mọi  trở ngại thực tế của cuộc sống, giữ tròn lời hứa, và  dẫn dắt toàn dân đạt được ấm no, tự do mới là  người thật, việc thật,…”

Từ 3 năm qua, khi nói về TT Trump, tôi share từ bài của người khác, hình như chưa bao giờ tôi viết về cảm xúc của tôi với người tổng thống mà có lẽ trong lịch sử của nhân loại chưa ai được báo chí và người dân trên thế giới nhắc nhiều như ông. Nhiều người không biết tưởng tôi crazy about Trump. 

Thật sự, tôi là hard core Trump supporter, đơn giản vì tôi ủng hộ chính sách của ông, một chính sách mang lại sự thịnh vượng về kinh tế, an ninh vững mạnh cho Hoa Kỳ.

 Đặc biệt, ông ta đã làm một việc mà trên thế giới chưa ai dám làm:

   Đứng ra tuyên chiến với China, cứu Mỹ và thế giới ra khỏi sự lệ thuộc vào giấc mộng bá vương của China. Nể ông, có. Tôn trọng ông, có, nhưng nói rằng tôi yêu mến ông với một tình cảm sâu đậm gần như thần tượng thì thật sự tôi không có. 

Với tôi, tổng thống hoặc chính quyền là người mà dân mướn để làm việc, làm được việc thì mình bầu lại, không làm được việc thì lần tới mình chọn người khác. 

TT không phải là người chồng, người yêu, hay bạn thân của mình để mà tôi áp đặt cùng một tiêu chuẩn khi chọn lựa. 

Trên Fb cũng như ngoài đời, tôi biết những bậc linh mục, mục sư, đạo sư Phật giáo, những người tôi kính trọng và thích nghe họ giảng về đạo đức và cách sống,  nhưng tôi sẽ không bao giờ chọn những người này làm TT vì tôi biết dù đạo đức họ rất tốt, họ không đủ khả năng làm TT.

Nói ra hơi mắc cở… Ngày xưa tôi không biết gì về chính trị, tôi thường bầu cho những người nói chuyện hay, văn chương lưu loát, mặt mũi dễ nhìn, họ có vẻ thương người, và hứa hẹn sẽ giúp người nghèo. 

Nhiều người tưởng phụ nữ bầu TT là vì bề ngoài, thật sự là vì cái miệng của chính trị gia đấy nhé. Chính trị gia nói chuyện càng giỏi thì càng thuyết phục được phụ nữ. 

Tôi lúc ấy không có kiến thức và kinh nghiệm, nên trong primary, đã chọn Bernie Sanders, mà mãi sau này tôi mới biết ông ta chính là một tên CS chính gốc.

2016, Đảng DC đã hất Bernie Sanders, chỉ còn lại Hillary Clinton VS Trump. Tôi không thể nào chọn Hillary vì tôi không tin bà và Obama từ vụ Benghazi. 

Theo dõi trên TV, ngay từ đài CNN, tôi đã nhận ra sự gian xảo, và tàn nhẫn của Obama và Hillary. Bàn tay của họ đã nhúng máu người dân Mỹ, nhưng họ hèn nhát đổ cho người làm phim.

 Một người như Hillary không thể làm TT. Nước Mỹ sẽ có đàn bà làm TT, nhưng không thể là một người đàn bà quỷ quyệt, táng tận lương tâm như Hillary. 

Tôi tin rằng tôi và rất nhiều người khác đã bầu cho Trump vì muốn loại Hillary, mặc dù lúc đó mọi người cũng không biết được Trump sẽ handle công việc ra sao.

 Tôi chỉ nhớ rằng lúc đó vào page của ông, tôi thấy có rất nhiều người ủng hộ ông, những người từ đủ mọi tầng lớp, từ các thành phố nhỏ, họ nghèo, và họ chán các chính trị gia ở Washington, những người hứa mà không làm, và họ trông đợi Trump làm TT để thay đổi nước Mỹ. 

Rất nhiều người cầu nguyện cho ông. Dường như đang có một cuộc cách mạng thầm lặng xảy ra nơi nước Mỹ, tôi nghĩ. Lúc đó, dù polls đều nói Hillary sẽ thắng, 3 ngày trước ngày bầu cử, tôi có cảm giác ông sẽ thắng. 

Nếu tất cả những người silent voters này đi bầu cho ông, ông sẽ thắng. Hơn nữa, tôi chưa bao giờ thấy ai được nhiều người cầu nguyện như ông.

Ông đã thắng và trở thành TT của nước Mỹ.  Lạy chúa, tôi chưa bao giờ chứng kiến sự kinh hoàng của một đất nước Mỹ tiếng gọi là tự do, nhưng lại để cho Đảng DC và followers của họ hành động mất dạy điên cuồng như thế.  

Những cuộc biểu tình đốt phá, đốt lá cờ, ỉa đái trên lá cờ của một lũ người vô giáo dục nhưng ngỡ mình là văn minh đang thực hiện quyền tự do ngôn luận. 

Không một ngày nào nước Mỹ được yên thân với Đảng dân chủ. Họ bịa chuyện đánh phá TT hàng ngày trong hơn 3 năm qua, hết bươi móc chỉ trích, hết cuộc điều tra này đến cuộc điều tra khác, mà tôi và nhiều Trump supporters đã viết những stt cảnh báo Trump haters rằng đừng bị Đảng dụ dỗ.  SẼ KHÔNG BAO GIỜ ĐẢNG DÂN CHỦ LẬT ĐỔ ĐƯỢC TRUMP vì tất cả investigations và impeachment là sự giả bộ của Đảng Dân chủ.  Thế mà vẫn có rất nhiều những con lừa tin theo. Xin hỏi những con lừa này cổ đã dài cỡ nào rồi? Một điều mà tôi thán phục TT Trump là trong khi phải đối phó với nội thù là Đảng Dân chủ đánh phá ông hàng ngày, ông vẫn hoàn thành nhiệm vụ của ông với những thành tựu đáng nể.

Ông đã thực hiện mọi lời hứa của mình với his voters. Kinh tế lên mạnh, dân Mỹ mọi người có công ăn việc làm, isis bị tiêu diệt, dân Mỹ không còn có chuyện bị Isis cắt đầu như thời Obama. TT Trump đã vực lại nước Mỹ.

 Điểm nổi bật là ông dám đánh China. Nếu bất cứ ai giờ này mà còn không biết kẻ thù của nước Mỹ và thế giới chính là China thì não của người đó có vấn đề nhé. Trump haters nghe rõ đây:

 Kẻ thù của Mỹ và thế giới là China, chứ không phải là TT Trump. Trong khi cả thế giới và nước Mỹ đang khốn khổ vì con virus china, bạn không hề lên án China, thậm chí còn bênh vực kẻ thù, và ngồi đó lo bươi móc, chỉ trích TT, cầu mong dân Mỹ chết nhiều, kinh tế sụp đổ để TT không thể tái đắc cử.

 Tỉnh dậy đi, kẻ thù là China. Bạn và gia đình bạn sẽ không chết vì Trump, nhưng có thể sẽ chết vì con virus China.  Đừng tiếp tục tiếp tay với kẻ thù đánh phá nước Mỹ

Tôi nói thẳng nhé: Bạn không có một tư cách gì để nói chuyện đạo đức với ai cả. Trước khi phê phán đạo đức của TT Trump, xin mỗi Trump haters cầm cái gương soi lên khuôn mặt mình xem mình có toàn vẹn không?

 Những lời nói chuyện của bạn về đạo đức chỉ làm tôi khinh vì bạn là người đạo đức giả, chỉ có thể qua mặt được các cô gái trẻ em mới lớn mà thôi.

 Trong đất nước tự do này, bạn chỉ chứng tỏ sự man rợ của bạn khi bạn không tôn trọng kết quả của bầu cử, không tôn trọng lá phiếu của người dân. 

Trump supporters don’t have to explain why they support Trump. Who do you think you are, Trump haters, để mà bắt buộc Trump supporters không được quyền support Trump. 

Bạn chẳng là cái thá gì mà chúng tôi phải nghe bạn, và chúng tôi rất hãnh diện là người cuồng Trump, người mang lại lợi ích cho Mỹ, không như những  anti Trump, ghét Trump đến nỗi mong những điều xấu xảy ra cho Mỹ, để TT Trump không thể đắc cử. Bản tính tôi là bênh vực kẻ bị ức hiếp.  Thấy Đảng dân chủ đã quá đáng khi liên tục tấn công một vị TT đã được dân chọn qua lá phiếu, mà trong đó có lá phiếu của tôi và của bạn bè tôi, tôi phải defend ông và defend nước Mỹ. Tôi là một phụ nữ thích nghe lời ngọt và dịu dàng, thì cách nói chuyện thẳng thắn, bộc trực không sugar coat của TT Trump không mê hoặc được tôi, tôi có lẽ sẽ không thích date những người nói chuyện quá thẳng như ông ta,  nhưng tôi sẽ chọn ông làm TT vì tôi thích những điều ông đã làm được cho nước Mỹ.  Sau 3 năm dưới Trump leadership, tôi đã trưởng thành hơn, tôi hiểu được rằng ai cũng có thể nói hay, nói ngọt, hứa hẹn đủ điều, dẫn dắt ta vào thế giới ảo của một thiên đường hạnh phúc, nhưng chỉ có hành động của một người vượt qua mọi trở ngại thực tế của cuộc sống, giữ tròn lời hứa, và dẫn dắt toàn dân đạt được ấm no,  tự do mới là người thật, việc thật , không để cho người dân ăn chiếc bánh vẽ. Người đó chính là TT Trump. Ba năm qua tôi bận rộn viết những chủ đề về nước Mỹ đang bị CS xâm nhập dưới sự đội lốt của Đảng DC, về sự nguy hiểm của trẻ em của nước Mỹ  đã bị nhà trường và truyền thông tẩy não mà bây giờ khoảng gần 60% trẻ em Mỹ thích CNXH, tôi không viết về cảm xúc của riêng tôi đối với TT Trump. Nhưng những ngày này, khi cả nước Mỹ gần như gục ngã vì con Chinese virus, nhìn TT Trump ngày đêm miệt mài lo cho nước Mỹ, mặt mũi ông bơ phờ mà lần đầu tiên trái tim tôi thật sự xúc động.

 Tôi tưởng tượng ông thức khuya dậy sớm, lo chống đại dịch, ông là người TT lo cứu từng người dân Mỹ bị nguy hiểm ở nước ngoài, thì ông chắc chắn phải đau lòng lo sợ khi thấy số tử vong của dân Mỹ lên cả ngàn người. 

Chẳng những ông phải lo chống đại dịch cứu dân, ông phải chống China, phải chống nội thù là Đảng dân chủ thừa cơ hội đánh phá ông ngày đêm ngay trong thời điểm dầu sôi lửa bỏng của đất nước và thế giới. Ông bị kẻ thù vây bủa tứ bề. 

Tôi tin rằng dù ông có cứng rắn, mạnh mẽ, ông vẫn là người, và chắc chắn ông có lúc cảm thấy rất buồn và lo trong tình trạng quá nguy hiểm, thù trong giặc ngoài.

 Càng thương cảm cho ông, tôi càng giận những Trump haters, kẻ ngỡ mình là người đạo đức, nhưng hành động ác độc và vô tâm, đặt cảm xúc ích kỷ của mình trên nỗi đau của nhân loại, hùa vào đánh phá Trump lúc này.

  Những người không còn lương tri này hãy nhớ rằng: Trái cam không bao giờ hái được từ cây Bồ hòn… Niềm vui của mình không được xây dựng trên nước mắt, đớn đau của người khác.  Trước khi quan tâm đến chính trị, xin hãy tập làm người có lương tâm.Trong những  ngày đen tối của nhân loại, tôi cảm thấy rất thương cảm cho TT Trump. Những người tốt đôi khi lại là những người bị misunderstood, và những người bị kẻ thù đánh phá nhiều nhất.” Lạy cha nếu có thể được thì xin cho con khỏi uống chén đắng này.” (lời than thở của Chúa Jesus) Một tỷ phú giàu có, ông có tất cả những gì thiên hạ mong muốn, một cuộc sống an nhàn, nhưng ông đã từ bỏ nó để lãnh lấy một trọng trách đầy gian nan mà kẻ thù trong nước và ngoài nước xâu xé ông từng giờ.

Nguyện xin Thượng đế hãy che chở cho ông để ông có đủ sức mạnh, bình tĩnh và khôn ngoan lèo lái con thuyền nước Mỹ ra khỏi khúc tăm tối và đến nơi an toàn…

Vanessa Nguyen 

NĂM CÁCH VƯỢT QUA ĐAU KHỔ

NĂM CÁCH VƯỢT QUA ĐAU KHỔ

Trầm Thiên Thu 

 Trong lúc đau khổ, người ta khó có thể nghĩ rằng sẽ có điều tốt lành ẩn khuất phía sau.  Cũng như nhiều điều khác trong cuộc sống, đau khổ có sức mạnh phân đôi: sức mạnh để làm nô lệ và sức mạnh để giải thoát; sức mạnh để chán nản và sức mạnh để hưng phấn; sức mạnh để chai cứng và sức mạnh để mềm mại; sức mạnh để hủy diệt và sức mạnh để đổi mới.

 Nếu cứ mặc nó, đau khổ có thể làm cho chúng ta thành người không thể nhận ra – đó là con người cứng cỏi, xa cách và cay đắng.  Tuy nhiên, cùng với Đức Kitô, đau khổ có thể biến đổi chúng ta nên mới, thanh tẩy chúng ta, và làm cho tâm hồn chúng ta mở để mến Chúa và yêu người.  Đôi khi chúng ta tán tỉnh với cả cái tốt và cái xấu, tôi thấy cũng được.  Tôi học cách sao chép cùng với nỗi đau từng phút giây, cố gắng từng ngày với những khó khăn, lúc tiến lúc lùi.  Đây là vài điều trong lúc đau khổ vẫn giữ tôi tiến lên phía trước và giúp tôi vượt qua và biến đổi.

 Cầu nguyện và hành động

Sau khi bác sĩ chẩn đoán con gái tôi bị bệnh nứt đốt sống (spina bifida) và có thể bị rối loạn gen khi siêu âm thai 19 tuần, tôi không biết phải làm gì đến cuối thai kỳ và sau đó.  Làm sao tôi có thể cười với con cái của tôi?  Làm sao tôi không chìm đắm trong đau khổ?  Chồng tôi nói với tôi: “Hãy cầu nguyện và hành động, cứ thế rồi mọi thứ sẽ ổn.”  Tôi khóc lóc và lo lắng, cố gắng làm theo lời chồng: “Hãy cầu nguyện và hành động.”  Đó là điều tôi có thể làm.  Tôi cầu nguyện: “Lạy Chúa, Ngài làm được mọi sự…” Và tôi tiếp tục sống: Hoạch định công việc, giặt giũ, lau nhà, rồi cầu nguyện và hành động…

  1. Mỗi ngày một lần 

Điều này có thể gây nhàm chán, nhưng mặc dù vậy, nó vẫn làm cho tôi dễ chịu.  Tương lai đối với tôi không thể có quá nhiều sợ hãi, thế nên tôi quyết định sống với hiện tại.  Thiên Chúa ban bình an cho tôi hôm nay, và Ngài ở với tôi lúc này, không chỉ trong quá khứ và tương lai.  “Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày…” trở nên bài tập luyện: Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta mọi thứ chúng ta cần để vượt qua hôm nay, và tôi sẽ cố gắng vượt qua chính mình.  Mỗi ngày cứ như thế…

 Thực hành phó dâng

Tôi nói “thực hành” bởi vì nói dễ hơn làm, và tôi phải thực hành cầu nguyện: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Ngài.  Lạy Chúa Giêsu, con phó dâng điều này cho Ngài.”  Nhiều lần, có thể đa số khi bắt đầu, chúng ta cảm thấy miễn cưỡng và không thật lòng, nhưng hãy cứ tiếp tục phó dâng đau khổ cho Chúa.  Cuối cùng, lời cầu nguyện sẽ trở nên chân thật hơn, tâm hồn sẽ bình an và thanh thản, mặc dù niềm vui đó đến từ việc phó dâng đau khổ nhỏ mọn này, tôi lại tiếp tục phó dâng cho Chúa.  Tôi cảm thấy điều thật nhất mà tôi đã làm được là tặng phẩm thực sự, là điều mà tôi muốn duy trì trong tâm hồn tôi.  Tôi dâng cho Chúa, và Ngài thánh hóa điều đó. 

 Đừng hỏi tại sao

Chúng ta có thể chìm đắm trong các lý do và không bao giờ có được câu trả lời cần có, khoảng trống hy vọng có câu trả lời đó vì chúng ta là con người quen lấp đầy bằng sự hoài nghi và thất vọng.  Khi nhìn lên Thiên Chúa, tại sao chúng ta muốn biết cách hoạt động của Thánh Ý Ngài hoặc muốn hiểu sự quan phòng của Ngài?  Linh mục Jacque Phillipe cho chúng ta biết rằng mặc dù có những câu hỏi khó hiểu, chúng ta vẫn phải can đảm mà đừng hỏi “Tại sao?”, nhưng hãy hỏi “Cái gì?”  Lạy Chúa, lúc này Chúa muốn gì nơi con?  Bên trong sẽ lộn ra bên ngoài, và thất vọng sẽ biến thành yêu thương. 

 Hướng về đức mẹ sầu bi

Khi vợ chồng tôi thảo luận về việc bắt đầu một ngày mới bằng việc sùng kính Đức Mẹ Sầu Bi, chúng tôi thắc mắc rằng chúng tôi sẽ được gì trong những nỗi buồn chồng chất, chúng tôi lại cười gượng, và cảm thấy “chẳng có gì xảy ra” khi chúng tôi sống trong nỗi đau buồn của Đức Mẹ, có thể đẩy chúng tôi tới bờ vực thẳm.  Vài tuần trôi qua, chúng tôi ngạc nhiên về sự bình an mà chúng tôi cảm thấy, Đức Mẹ đã nâng đỡ sức nặng nơi tâm hồn chúng tôi.  Khi kết hiệp đau khổ của chúng tôi với đau khổ của Đức Mẹ, Đức Mẹ không làm tăng đau khổ, mà giúp chúng tôi mang đau khổ, chúng tôi thực sự cảm thấy như vậy.  Đức Mẹ không đau khổ sao?  Đức Mẹ là người mẹ nên cũng muốn giúp chúng ta mang gánh nặng của chúng ta.

 Thánh Faustina nói: “Khi tôi thấy gánh nặng vượt quá sức, tôi không cân nhắc, phân tích hoặc thăm dò nó, nhưng tôi bắt chước đứa bé chạy đến bên Thánh Tâm Chúa Giêsu và nói với Ngài: “Ngài làm được mọi sự.”  Rồi tôi giữ im lặng, bởi vì tôi biết rằng chính Chúa Giêsu sẽ can thiệp, và thay vì tự hành hạ mình, tôi dùng thời gian đó để yêu mến Ngài.

 Amber Vanvickle

 Trầm Thiên Thu (chuyển ngữ từ NCRegister.com)

Sử dụng bằng cấp giả: Gian lận trí tuệ!

Sử dụng bằng cấp giả: Gian lận trí tuệ!

Diễm Thi, RFA
2020-05-22

Buổi lễ cấp bằng giáo sư và phó giáo sư tổ chức tại Văn Miếu, Hà Nội ngày 24 tháng 12 năm 2012. Ảnh minh họa.

Trong ba tháng qua, ít nhất ba vụ việc liên quan bằng cấp giả bị truyền thông trong nước phanh phui.

Vụ thứ nhất là 83 giáo viên dạy lái xe tại 5 cơ sở đào tạo tại TP.HCM dùng bằng cấp giả. Vụ thứ hai là bà Đinh Thị Loan dùng bằng dược sĩ, bác sĩ giả để hành nghề bác sĩ tại khoa Cấp cứu Bệnh viện đa khoa Đồng Nai. Vụ thứ ba là khi triệt phá đường dây làm giả con dấu tài liệu, công an Thừa Thiên – Huế phát hiện nhiều cán bộ có đặt hàng làm bằng giả, chứng chỉ giả ở đường dây này.

Tháng 10 năm ngoái, bà Trần Thị Ngọc Thảo – một trưởng phòng Hành chính quản trị thuộc văn phòng tỉnh ủy Đăk Lăk – sử dụng bằng cấp 3 của người khác học liên thông đại học rồi học đến thạc sĩ gây xôn xao dư luận.

Nhà báo, tù nhân nhân quyền Nguyễn Ngọc Già, người từng bị giam chung với tội phạm làm bằng cấp giả ở Chí Hòa, hiểu khá rõ chuyện này và kể với RFA:

Loại thứ hai là học giả, hầu như không đi học, mà bằng thật. Loại này đa số phục vụ cho mục tiêu chính trị, tức là để sắp xếp các loại ghế. Từ trung ương cho tới địa phương; từ thành phố xuống đến quận, phường… – Ông Nguyễn Ngọc Già

“Loại bằng giả thứ nhất là giả hoàn toàn như tiền giả. Loại bằng đó hầu hết lấy ở các trường về chính trị, về kinh tế, về quản lý…một ít thì mua bằng giả về kỹ thuật như ngành xây dựng, điện tử. Còn về chuyên ngành y khoa thì rất ít, phải nói là vô cùng hiếm người dám mua.

Những người tù đó họ nói rằng mục đích của đa số những người mua bằng cấp hoàn toàn giả đó là để tham gia đấu thầu trong các dự án trải dài trên lãnh thổ Việt Nam.

Loại thứ hai là học giả, hầu như không đi học, mà bằng thật. Loại này đa số phục vụ cho mục tiêu chính trị, tức là để sắp xếp các loại ghế. Từ trung ương cho tới địa phương; từ thành phố xuống đến quận, phường…”

Theo ông Nguyễn Ngọc Già, những cán bộ không học mà có bằng cấp, dù chỉ là bằng cấp danh dự, xuất phát từ việc che giấu mặc cảm tự ti của người cộng sản.

Việc sử dụng bằng cấp giả không phải sau này mới có. Tiến sĩ – Bác sĩ Võ Xuân Sơn, từng công tác tại Bệnh viện Chợ Rẫy nêu trường hợp một bác sĩ gây mê tại đây sử dụng bằng cấp giả làm việc đến 10 năm mới bị phanh phui do bệnh viện nhận được đơn tố cáo.

Theo vị bác sĩ này, bằng cấp thì có thể giả nhưng chuyên môn thì không thể giả. Tuy vậy cũng có những trường hợp dùng bằng cấp giả vẫn không bị phát hiện do lầm lẫn với những bác sĩ học thật, bằng cấp thật nhưng trình độ chuyên môn quá kém. Ông giải thích:

“Thường thì bằng giả trong ngành y dễ bị phát hiện vì người bác sĩ đưa ra những cái không đúng bài bản. Nhưng trên thực tế cũng có nhiều trường hợp dù được đạo tạo chính quy nhưng cũng xử lý không bài bản, không chất lượng nên nhiều khi những trường hợp bằng giả mình cũng khó biết, đôi khi không phát hiện ra được.

Ở Việt Nam có chế độ làm việc theo kíp. Bác sĩ trưởng kíp chịu trách nhiệm hết nên nhiều khi bác sĩ trong kíp có thể giấu dốt mà không ai biết. Nếu đứng ở vị trí mà luôn luôn phải bộc lộ trình độ thì lúc đó lộ ra liền.”

Một học sinh cấp 3. AFP

Ông cho biết đã từng có vị bác sĩ tại một bệnh viện lớn ở Sài Gòn xài bằng cấp làm giả, tự nhận tốt nghiệp bên Pháp. Đến khi ông leo đến chức trưởng khoa thì bị lộ vì nhiều sơ sở trong nghiệp vụ. Giám đốc Sở Y tế Thành phố lúc bấy giờ là Bác sĩ Dương Quang Trung phải qua Pháp điều tra vụ này.

Dĩ nhiên bác sĩ xài bằng giả, chẩn đoán và chữa bệnh không theo nguyên tắc, bài bản thì bệnh nhân là người lãnh hậu quả.

Trong lĩnh vực giáo dục, những người không có tri thức mà bằng cách này hay cách khác có được tấm bằng để đứng trên bục giảng sẽ gây hại đến nhiều người, thậm chí cả một thế hệ. Thực trạng này cũng phổ biến lâu nay tại Việt Nam.

Tháng 2 năm 2020, bà Nguyễn Thị Hương – Hiệu trưởng trường mầm non Hoa Pơ Lang – bị buộc thôi việc vì sử dụng bằng cấp 3 giả. Bà Hương đã làm hiệu trưởng hai nhiệm kỳ trước đó.

Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng nhận xét rằng, hàng năm rất nhiều tiến sĩ, cử nhân được “đúc” ra mà không có chuyên môn, trình độ xứng đáng. Đây là thảm họa cho nền giáo dục Việt Nam.

“Bằng chính thức nghĩa là do Bộ Giáo dục – Đào tạo cấp mà các trường đại học phải công nhận nhưng thực tế là học dởm. Có những người bảo vệ luận án tiến sĩ nhưng thiếu cả bằng tiểu học hoặc trung học.

Những người học giả bằng thật họ hành động như những người thiếu não, thiếu suy nghĩ. Vì thế nên nhiều quan chức tuyên bố những câu lộ ra họ không có suy nghĩ và tầm hiểu biết gần như bằng 0. Cái này ngày càng phổ biến và nhờ internet ta thấy cán bộ xài bằng giả nó tai hại như thế nào. Nhưng tai hại nhất chính là những cán bộ tự sỉ nhục mình.”

Những người học giả bằng thật họ hành động như những người thiếu não, thiếu suy nghĩ. Vì thế nên nhiều quan chức tuyên bố những câu lộ ra họ không có suy nghĩ và tầm hiểu biết gần như bằng 0. – GS Nguyễn Đăng Hưng

Nói tới phát ngôn của các quan chức, chắc hẳn nhiều người còn nhớ tại buổi thảo luận về tình hình kinh tế xã hội chiều 22 tháng 10 năm 2019, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam, Tổng biên tập báo Nhân Dân, ông Thuận Hữu lên tiếng rằng “mạng xã hội chửi từ trên xuống dưới, không chừa một ai; chửi tràn lan cơ quan công quyền như hát hay”.

Phát biểu của ông Thuận Hữu lập tức bị cư dân mạng phản ứng và ‘chế’ lại chính câu nói của ông Nguyễn Phú Trọng là “Mình phải có thế nào thì dân mới chửi chứ”…

Hay đầu năm học 2019-2020, ông Bộ trưởng Giáo dục Phùng Xuân Nhạ lên tiếng với truyền thông trong nước rằng, năm nay ngành giáo dục phải xác định việc “dạy người’, dạy đạo đức, lối sống, giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh ưu tiên hàng đầu”.

Tiếp sau đó, ông Bí thư Thành ủy TP.HCM Nguyễn Thiện Nhân lại phát biểu trước các học sinh: “Sau bằng đại học, cao đẳng, các em cần phải có bằng làm con hiếu thảo, làm vợ, làm chồng, làm cha, làm mẹ hạnh phúc”.

Trong một lần trao đổi với RFA về vấn đề bằng cấp giả trong ngành giáo dục, Giáo sư Nguyễn Khắc Mai, Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu – Ban Dân vận Trung ương khẳng định đây là do sự tha hóa từ trên xuống.

Theo ông, bằng cấp giả ở Việt Nam quá nhiều. Ông lý giải nguyên nhân là do một nền chính trị hư danh và một xã hội đề cao sự hư danh nên người ta chạy theo cái hư danh đó và sẵn sàng tìm giải pháp tồi tệ nhất và không chính đáng để cố giành giật, để kiếm chác.

 

RFA.ORG

Sử dụng bằng cấp giả: Gian lận trí tuệ!

Cán bộ sử dụng bằng cấp giả tràn lan là một thực trạng trong xã hội Việt Nam nhiều chục năm qua. Cả hai ngành có yêu cầu cao về mặt năng lực là y khoa và giáo dục vấn nạn này cũng nhức nhối.

CHIM KHÔNG ĐẬU Ở MẢNH ĐẤT ĐẦY RẪY CẶM BẪY (CHU VĨNH HẢI)

CHIM KHÔNG ĐẬU Ở MẢNH ĐẤT ĐẦY RẪY CẶM BẪY (CHU VĨNH HẢI)

 Tháng 5 22, 2020 

 ‘…Không có sáng tạo, người giỏi – người tài không thể hiện được mình, và họ cùn mòn đi. Và dĩ nhiên, khi không có sáng tạo, đất nước sẽ không theo kịp bước tiến thần tốc của kỷ nguyên số, đất nước mãi mãi rơi vào bế tắc và đói nghèo…’

Việc 27 tập đoàn nổi tiếng của Mỹ chuyển các nhà máy của mình ở Trung Quốc đến Indonesia mà không chuyển đến Việt Nam đã khẳng định rằng: Việt Nam không phải là điểm đến của những dự án có công nghệ cao, có hàm lượng chất xám và giá trị gia tăng cao. Sự kiện này cũng tiếp tục xác nhận rằng, nguồn chất lượng nhân lực ở Việt Nam không cao và không có tính sáng tạo. Tại sao Việt Nam nói chung và nguồn nhân lực Việt Nam nói riêng không có tính sáng tạo – tiền đề của phát triển? Sáng tạo là kết quả của tự do, nhưng đất nước Việt Nam lại chồng chất cám đoán. Đó là một lịch sử đau lòng.

Chim không đậu ở mảnh đất đầy rẫy cặm bẫy

Những người đứng đầu nhà nước Việt Nam là những người giàu mơ ước. Họ mơ ước Sài Gòn trở thành Paris, Hà Nội trở thành Singapore, Nha Trang trở thành Hawaii, Cần Thơ trở thành Venise… Và mới đây, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã mơ ước Việt Nam là bạn “của những người giỏi nhất”. Liệu ước mơ này có trở thành sự thật?

“Việt Nam không đặt tham vọng là người giỏi nhất, nhưng muốn là bạn của những người giỏi nhất trong nền kinh tế toàn cầu.”, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã phát biểu như vậy tại Hội nghị thượng đỉnh kinh doanh Việt Nam (VBS) 2018 vào ngày 13/9/2018. Thủ tướng Phúc đã không đưa ra tiêu chí thế nào là người giỏi nhất khi mà người giỏi trộm cắp, người giỏi lừa đảo, người giỏi cờ bạc, người giỏi đâm chém, người giỏi chém gió….đều được hiểu là người tài giỏi. Nếu xác định “người giỏi nhất” theo tiêu chí là người có tài kinh doanh, người có nhiều ý tưởng, nhà quản trị và điều hành giỏi, chuyên gia giỏi, người có khả năng sáng tạo và phát minh…., liệu nhà nước Việt Nam có trở thành người bạn tốt của “những người giỏi nhất”, hay nói cách khác, có thu hút được nhân tài của thế giới? Hãy ngược dòng lịch sử!

Ngay sau khi cướp được chính quyền vào năm 1945, chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã dùng nhiều giải pháp để lôi kéo đội ngũ trí thức đứng vào hàng ngũ của mình. Nhiều trí thức người Việt sống ở nước ngoài vốn không hiểu chủ nghĩa cộng sản đã nhanh chóng gia nhập, trong đó có những trí thức lừng danh như Trần Đại Nghĩa, Trần Đức Thảo. Ngoại trừ kỹ sư chế tạo vũ khí Trần Đại Nghĩa có phần nào phát huy được phẩm chất kỹ thuật, đa phần các trí thức khác đều bị thui chột tài năng, và sống một cuộc sống đầy u uẩn. Triết gia Trần Đức Thảo là một thí dụ điển hình. Nhiều trí thức tài hoa đi theo Việt Minh cũng nhanh chóng bỏ ngũ, mà sự “dinh tê”( về thành phố- về vùng Pháp đóng) của nhạc sĩ Phạm Duy là một ví dụ sinh động. Có thể nói trong giai đoạn 1946-1953, chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa không thất bại nhưng cũng chẳng thành công trong việc thu hút nhân tài.

Mọi chuyện bắt đầu khác đi, hay nói cách khác, chính quyền Hà Nội kể từ ngày trở thành ông chủ của Hà Nội vào năm 1954 đã nhận thất bại trong việc chiêu dụ và giữ chân nhân tài.

Sau khi Hiệp định Geneve được ký kết, đã có khoảng 01 triệu người miền Bắc di cư vào miền Nam, trong đó có gần 310.000 người được đưa đến miền Nam bởi Hải quân Hoa Kỳ, và 500.000 dân được đưa đến miền Nam bởi quân đội Pháp. Trong khi đó 14.000–45.000 cư dân và 100.000 binh sĩ chính quy của Việt Minh từ miền Nam tập kết ra miền Bắc. Sự chênh lệnh về số lượng người lựa chọn di cư chắc chắn phản ánh một điều rằng, có sự chênh lệch về sự lựa chọn di cư của tầng lớp tinh hoa. Theo từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia, vào cuối năm 1954, cả miền Bắc có 1800 sinh viên nhưng đã có 1200 sinh viên lựa chọn di cư vào miền Nam. Đa phần các trí thức miền Bắc vốn yêu thích văn hóa Pháp cũng chọn con đường Nam tiến để tìm đến bến bờ mới. Có thể nói, kể từ năm 1955, miền Bắc chỉ có tầng lớp trí thức xã hội chủ nghĩa có đặc tính tuân theo, thụ động, không phản biện và không có tư duy sáng tạo.

Cũng từ năm 1955 trở đi, trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa đã có hàng trăm trí thức và văn nghệ sĩ đã bị cầm tù, cải tạo không giam giữ do có những tiếng nói khác với tiếng nói của chính quyền. Trước sự đàn áp khốc liệt của chính quyền, giới trí thức và văn nghệ sĩ đành phải chôn mình vào sự cô đơn như những con ốc mượn hồn.

Không có tầng lớp trí thức đúng nghĩa, không có tầng lớp doanh nhân tinh hoa đúng nghĩa, trong suốt hàng chục năm trời miền Bắc đã không cho ra đời một sản phẩm có uy tín.

Còn ở miền Nam Việt Nam thì sao? Có thể nói đó là nơi hội tụ tinh hoa Việt để làm nên những giá trị và thành tựu khá rực rỡ. Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh là minh chứng rõ nét. Vị giáo sư không gian này sinh ra ở Yên Bái nhưng đã lựa chọn miền Nam tự do làm quê hương chính. Ông được cả thế giới khoa học không gian biết đến và ngưỡng mộ khi thực hiện thành công nghiên cứu công trình tính toán quỹ đạo tối ưu cho phi thuyền Apollo của NASA. Những lý thuyết của GS Nguyễn Xuân Vinh đã góp phần quan trọng đưa các phi thuyền Apollo lên được mặt trăng thành công đồng thời được ứng dụng vào việc thu hồi các phi thuyền Con thoi trở về trái đất an toàn.

Có đội ngũ trí thức giỏi, Việt Nam đã sản xuất được những sản phẩm công nghệ cao dù ngập tràn binh lửa. Vào năm 1972, Sài Gòn chế tạo thành công máy bay huấn luyện quân sự hai chỗ ngồi mang tên Tiền Phong 001. Vào năm 1974, Sài Gòn cho xuất xưởng mẫu xe hơi La Dalat. Trước năm 1975, miền Nam có những thương hiệu và nhãn hàng nổi tiếng Châu Á như xà bông Cô Ba, kem đánh răng Hynos (sau đó đổi tên thành P/S và đã bán lại cho một hãng Mỹ), dầu gió Nhị Thiên Đường, sơn Đông Á, dầu khuynh diệp Bác sĩ Tín, dầu gội Lan Hảo, kem đánh răng Dạ Lan…

Sau biến cố 30-4-1975, Việt Nam được thống nhất. Nhưng các chính sách tàn bạo và sai lầm của Hà Nội như chính sách cải tạo (thực chất là tù không án) đối với quân nhân và viên chức Việt Nam cộng hòa, chính sách cải tạo công thương nghiệp (thực chất là quốc hữu hóa), thay thế các chuyên gia giỏi bằng những người tầm thường trưởng thành từ rừng rú… đã nhanh chóng biến miền Nam thịnh vượng thành một miền Nam tan hoang. Từ năm 1976 đến năm 1989, có khoảng 1,5 triệu người Việt Nam, trong đó có tầng lớp tinh hoa nhất, đã bỏ nước ra đi để tìm đến bến bờ mới dù biết có thể phải bỏ mạng trên biển cả. Cuộc di cư đau đớn nhất trong lịch sử nhân loại đã làm nảy sinh một từ vựng mới đau lòng: thuyền nhân. Trong thời gian đó, ở Việt Nam xuất hiện hai câu thơ khuyết danh tác giả nhói lòng: “Người tài thì đã vượt biên- ở lại một lũ vừa điên vừa khùng”.

Sau khi Việt Nam thực hiện cải cách kinh tế vào năm 1986, Việt Nam cũng thất bại trong việc thu hút nhân tài từ nước ngoài và giữ chân người giỏi trong nước. Cho dù được ưu đãi về các loại thuế và giá thuê đất, không có một hãng công nghệ nào đặt đại bản doanh hoặc cơ sở nghiên cứu tại Việt Nam. Khu công nghệ cao Hòa Lạc hay khu công nghệ cao quận 9- Sài Gòn vẫn chỉ là sân chơi của các doanh nghiệp trong nước, và những tay chơi nước ngoài có vị thế làng nhàng. Không có trường đại học danh tiếng nào của thế giới mở cơ sở nghiên cứu và đào tạo tại Việt Nam, và dĩ nhiên là không có một đội ngũ giáo sư người nước ngoài ở sống, nghiên cứu và giảng dạy chuyên nghiệp ở Việt Nam. Các trí thức Việt kiều cũng không chọn Việt Nam là điểm đến để sống, lao động, sáng tạo và cống hiến.

Những giáo sư lừng danh như Ngô Bảo Châu, Đàm Thanh Sơn… cũng chọn con đường định cư ở nước ngoài để có điều kiện cống hiến cho khoa học và cho sự tiến bộ của nhân loại. Hiện tại, mỗi năm có hàng chục ngàn du học sinh Việt Nam vẫn chọn con đường ở lại nước ngoài để có cơ hội tốt hơn. 100% người chiến thắng cuộc thi Đường lên đỉnh Olympia của Đài truyền hình Việt Nam sau khi tốt nghiệp đại học ở Úc đã ở lại Úc để làm việc. Họ hiểu, họ chỉ phát huy được năng lực và trí tuệ của mình ở một môi trường khác hẳn Việt Nam.

Việt Nam chưa bao giờ thu hút được người giỏi – người tài trong tất cả mọi lĩnh vực. Tại sao lại thế? Có thể người giỏi của thế giới sợ hãi một Việt Nam có giao thông lộn xộn? Có thể họ sợ Việt Nam có môi trường ô nhiễm, thực phẩm độc hại? Có thể là thế, nhưng chưa đủ.

Điều quan trọng nhất, những người giỏi – người tài cần có tự do tuyệt đối để thể hiện, để khẳng định mình và để sáng tạo. Nhưng ở Việt Nam, tự do là một món hàng xa xỉ. Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do sáng tạo, tự do học thuật, tự do lập hội, tự do biểu tình, tự do xuất bản, tự do biểu diễn… những tiền đề – nền móng cho sáng tạo. Không có sáng tạo, người giỏi – người tài không thể hiện được mình, và họ cùn mòn đi. Và dĩ nhiên, khi không có sáng tạo, đất nước sẽ không theo kịp bước tiến thần tốc của kỷ nguyên số, đất nước mãi mãi rơi vào bế tắc và đói nghèo.

Người tài giỏi bao giờ cũng tìm đến những xứ sở tự do, hay nói cách khác, môi trường tự do luôn có sức hấp dẫn với những người tài giỏi. Không phải ngẫu nhiên mà các cường quốc như Mỹ, Anh, Đức, Pháp, Canada, Úc, New Zealand….luôn luôn là những đích đến của những người thông minh và tài giỏi.
Nếu “muốn làm bạn với những người giỏi nhất”, Việt Nam phải xây dựng bằng được một thiết chế xã hội thật sự tự do và các khung pháp lý để bảo vệ tự do. Chim bao giờ cũng đến đậu ở những mảnh đất hiền lành, không bao giờ đậu ở những mảnh đất đầy rẫy cạm bẫy và cấm đoán.

Chu Vĩnh Hải

https://ethongluan.org/index.php/doc-bai-luu-tru/4768-chim-khong-d-u-m-nh-d-t-d-y-r-y-c-m-b-y-chu-vinh-h-i

TRẦN ĐỨC THẠCH – PHẠM THÀNH – NGUYỄN TƯỜNG THUỴ TRONG MỘT THÁNG 3 NGƯỜI YÊU NƯỚC ĐÃ BỊ CỘNG SẢN BẮT GIAM

Xuân-Phương Nguyễn is with Van Pham and 11 others.

TRONG MỘT THÁNG 3 NGƯỜI YÊU NƯỚC ĐÃ BỊ CỘNG SẢN BẮT GIAM

Vào ngày 23/4/2020, nhà thơ Trần Đức Thạch bị bắt với cái gọi là “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo điều 109 Bộ luật hình sự.

Vào ngày 21/5/2020, nhà văn Phạm Chí Thành, có bút danh là Phạm Thành, thường biết đến như là chủ trang blog Bà Đầm Xòe đã bị bắt với cái gọi là “Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo điều 117 Bộ luật hình sự.

Vào ngày 23/5/2020, nhà báo tự do Nguyễn Tường Thụy bị bắt với cái gọi là “làm, tàng trữ, phát tán thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước” theo điều 117 Bộ luật hình sự. Ông Nguyễn Tường Thụy là Phó Chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập.

Có một vài điểm chung của 3 nhà yêu nước, các ông đều sinh năm 1952. Ông Thụy, ông Thạch là cựu chiến binh. Ông Phạm Thành từng giữ chức vụ thư ký tòa soạn của Đài phát thanh Việt Nam.

Chính họ là những người hiểu hơn ai hết về chế độ cộng sản. Họ biết rõ ngày nào đất nước còn bị cai trị bởi một chế độ độc tài cộng sản thì người dân sẽ không bao giờ được hưởng các quyền căn bản của con người, và chủ quyền đất nước sẽ bị lâm nguy. Chính vì vậy mà họ đã hành động. Họ đã lớn tuổi, sức khỏe không còn dồi dào, nhưng tại sao nhà cầm quyền cộng sản bắt và tống họ vào lao tù? Vì cộng sản rất sợ những con người dư hiểu về chế độ và lên án những sai trái.

Nhưng Việt Nam không chỉ có một Trần Đức Thạch, một Phạm Thành, một Nguyễn Tường Thụy mà còn hàng triệu người đang lên án những bất công, đang quan tâm đến chủ quyền đất nước.
Đảng Cộng sản Việt Nam không thể tống giam hết được người yêu nước vào tù.

CÒN CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI CỘNG SẢN CÒN NGƯỜI ĐẤU TRANH.

Image may contain: one or more people